Monthly Archives: August 2013

Amari TX – Anh là ai?

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi quen nhiều anh và một chị Việt Kiều Mỹ. Các anh thuộc hai nhóm chính là doanh nhân và báo giới truyền thông. Mấy doanh nhân thì chí thú làm ăn với Việt Nam, với đặc điểm trùng hợp ở chỗ ai cũng ngoan đạo và luôn làm từ thiện mỗi khi về Việt Nam, và tất nhiên chủ yếu gặp tôi trực tiếp và rất ít khi qua email trừ phi nhờ tư vấn về độ tin cậy của một khách hàng cụ thể nào đó hoặc thông báo ngày giờ về đến Thành phố Hồ Chí Minh. Các anh nhóm truyền thông thì liên lạc rất thường xuyên chủ yếu qua email, nói về sự tâm đắc đối với bài viết này bài viết kia của nhau; đặc biệt anh nào cũng nói mong có ngày đón tiếp tôi tại Mỹ và thi nhau trấn an tôi rằng các anh sẽ tổ chức bảo vệ tôi nghiêm nhặt hơn cả yếu nhân vì các anh có thế mạnh vượt trội về mặt chính quyền bên Mỹ cũng như về hiệu quả tập hợp lực lượng đoàn kết gắn bó “vì Việt Nam” cao hơn rất nhiều so với cung cách quấy rối của những người Mỹ gốc Việt chống cộng. Và AmariTx là anh bạn thuộc nhóm thứ hai này.

Tôi hầu như không cho nhiều người biết danh sách đầy đủ những blog mà tôi thường đến thăm, tìm đọc, và học hỏi. Số blog cực kỳ quan trọng mà tôi có thể nêu lên vì lợi ích đối với những công dân trẻ khôn ngoan của Việt Nam, bao gồm – song không chỉ giới hạn ở bản liệt kê chưa đầy đủ sau đây:

Blog của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc: nơi những công dân trẻ Việt Nam nên chuyên cần một cách hối hả mỗi ngày tải đọc các bài viết của Ông để luyện trí, luyện thần, luyện hùng biện, luyện tư cách đoan chính, luyện tiếng Anh (vì các bài viết của một đại trí thức như Tiến sĩ Trần Chung Ngọc luôn trên nền hàn lâm của thế giới, tức là có các trích đoạn dẫn chứng, mà do để phục vụ người đọc vốn đa số là người gốc Việt, Tiến sĩ Trần Chung Ngọc đính kèm phần dịch tiếng Việt của các trích đoạn ấy), và học hiểu thế nào là tư thế một bậc đạt nhân quân tử hiếm hoi có thật trong cuộc đời này, người mà tiếc thay không thể thấy có người thứ hai sánh bằng nơi bất kỳ người Việt nào ở Việt Nam hay gốc Việt nào khác trên toàn thế giới.

Blog của Amari Tx: nơi những vấn đề rất Việt được chuyển tải theo một phong cách mà người đọc có thể cảm nhận được từ Anh – người viết chính – cùng lúc văn tài, khả năng hùng biện, tư duy phản biện nghiêm túc, sự tự hào cao vời vợi được thuộc dòng giống Việt, cùng nỗi lòng đau đáu đối với cõi trời Nam quốc vì chân lý.

và vài blog khác như Đôi Mắt, v.v.

Gần đây, vài bạn độc giả trung thành của Amari Tx Blog do tôi giới thiệu từ năm ngoái, đã cho tôi biết có sự xuất hiện của một bài viết của ai đó bóc tách sự việc bằng cách so đọ từ ngữ câu văn rồi khẳng định Amari Tx không là Việt Kiều Mỹ mà là một vị Tiến sĩ Việt Nam. Tôi bật cười nhớ lại hai trong số vô thiên lủng chuyện của bản thân mình:

 Image

Việc thứ nhất là tôi sáng tác thơ ca Anh ngữ từ năm lớp 7 hay 8 gì đấy. Khi một nữ sinh viên học chung với tôi ở đại học do mến đức trọng tài đã về thuyết phục mẹ cha cho phép được làm vợ của tôi, chúng tôi đã cùng tạo nên những thi tập tiếng Anh, và khi thấy em trai của ông anh cột chèo tức chồng bà chị cả là giảng viên Anh văn từ thời chế độ Sài Gòn, chúng tôi kính cẩn trình ông xem qua mấy bài thơ, và bị ông “tươm” ngay cho một câu rằng thì là mà “mấy bài này đọc thấy quen quen”. Vợ tôi ức lắm, về nguyền rủa lão “ganh tài”. Còn tôi là con nhà Phật, nên mới bảo nội tướng của tôi rằng: “Không phải đâu em, nghĩ xấu cho người ta thì tội nghiệp người ta. Em nhớ Cô Trương Tuyết Anh ngay trong lớp đã phán anh đạo văn chỉ vì Cô không thể tưởng tượng lại có học trò Việt Nam trẻ tuổi lại làm thơ sonnet mà ngôn phong sánh tựa Spencer hoặc Shakespeare, bằng chứng là sau đó Cô đặc biệt ưu ái quý trọng anh như người học trò duy nhất giỏi trong trường, và nhờ vậy mà em mới chịu làm vợ anh, … Mà ổng đâu chỉ có nói thơ anh quen quen mà nói luôn thơ em cũng quen quen, vậy là anh đạt tầm cỡ Edmund Spencer do sáng tác sonnet theo khổ thơ Spencerian Stanza để chê bai khổ thơ Shakesperean Stanza và hay viết trường thi như Faerie Queen của Spencer; còn em chẳng ở đẳng cấp Elizabeth Barett Browning là gì, vì em viết sonnet theo kiểu gieo vần của If thou must love me, let it be for naught! của bả mờ! Giỏi quá thì phải chịu bị ganh ghét thôi. Người Việt mờ!” Sau đó, cả hai vợ chông tôi đều có vài bài thơ sonnet đoạt giải thưởng của ở những năm khác nhau đăng ở những tuyển tập khác nhau, thậm chí số giải thưởng vợ tôi đoạt được nhiều hơn cả tôi (thơ tôi trong thi tập Devotion of the Mind – tức Tâm Tình Hiến Dâng – năm 2001, vợ tôi trong thi tập The Harvest of Dreams – tức Vụ Mùa Những Ước Mơ – năm 2002 và The Best Poems & Poets of 2002 – tức Tuyển Tập Các Bài Thơ và Nhà Thơ Hay Nhất Năm 2002 –  cùng xuất bản tại Hoa Kỳ cùng có lưu chiểu  tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ), và thậm chí nàng tốt nghiệp với văn bằng đỏ (giỏi xuất sắc). Chi tiết và hình ảnh chụp các quyển thi tập và những … “chứng thư” được cung cấp trong bài Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Hoa Kỳ – Mở Hướng Kinh Doanh Từ Giải Thưởng Poetry.com đăng trên Emotino.com ngày 23-12-2011 (sẽ được đăng lại trên blog “kinh doanh” tôi sắp mở trên wordpress.com)

Việc thứ hai là khi tôi bật cười trước cái việc cất công so sánh của những tay hành nghề kỳ quái gọi là sosanher hay lucloiist ấy (sosanher là…người so sánh, còn lucloiist là kẻ tôn thờ ông tổ nghề lục lọi). Nghề này là nghề mới xuất hiện từ khi tôi phát biểu trước quốc hội về Luật Biểu Tình. Lúc ấy đột biến đột nhiên xuất hiện đám người ngợm tung nghiên cứu thâm sâu lên internet rằng tôi là thạc sĩ Liên Xô (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã học ở Mỹ thì luôn luôn bị Mỹ hoặc giết như Nguyễn Thái Bình hoặc cho uống bùa mê thuốc lú để về nước Việt Nam chống cộng sản chớ làm gì có thạc sĩ Mỹ mà binh vực cộng sản bao giờ), rằng tôi quậy trời thần bị công an bắt hồi còn đi học (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã theo Mỹ thì tên lưu manh sẽ được xịt sơn tô vẽ thành người hùng, còn theo cộng sản thì người đạo hạnh sẽ bị tưới nước bẩn lên để thành tên quậy), rằng tôi tham nhũng nên có mấy biệt thự ở Phú Mỹ Hưng (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã là doanh nhân thì ai mà chẳng có biệt thự ở Phú Mỹ Hưng), rằng tôi hay đến hớt tóc thanh nữ ở chỗ ấy chỗ ấy để mua dâm (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã là doanh nhân thì ai mà lại không dính với vũ nữ mại dâm), rằng tôi từng bị nhốt ở Nhà Thương Điên Biên Hòa (ắt vì bọn ngu có công thức rằng chỉ có điên mới theo cộng sản), rằng rằng  và rằng rằng…. Chúng sai be sai bét vì cái kiểu áp dụng công thức tào lao để so sánh ấy, vì rằng tôi là thạc sĩ Úc mà Úc thì không dã man tàn bạo phi nhân ngu xuẩn như Mỹ đã trút bom hòng đánh sập Miền Bắc và rải chất độc da cam xuống Miền Nam, đã vậy Úc còn nhanh chóng kết thân với Việt Nam cộng sản thống nhất nên làm gì có cái chuyện vi phạm nhân quyền như Mỹ; rằng vợ tôi là sinh viên cùng lớp với tôi nên là bằng chứng mạnh mẽ chứng minh tôi đã được mến mộ vì hai chữ đức tài mà nàng đã biết tất tần tật về tôi và kể cả những bạn gái của tôi suốt thời gian học đại học và giảng dạy (do trở thành đồng nghiệp cùng làm giáo viên dạy chung trường), chưa kể tôi còn được dự tuyển vào ngành an ninh tình báo khi tốt nghiệp; rằng tôi kiếm được bao nhiêu tiền là giúp thân nhân, học trò, người hoạn nạn, và nhân viên, làm vài người trong số họ trở thành tỷ phú có nhà ở … Phú Mỹ Hưng, cũng như giúp người lạ hoạn nạn có thông tin trên các báo, nên bản thân cứ ở ngôi nhà bé đơn sơ trong hẻm nhỏ; rằng mấy chục năm nay vợ tôi cắt tóc cho chồng và con, làm gì có chuyện tôi đến thanh nữ, đã vậy tôi còn là người được vô số phụ nữ đoan chính là sinh viên, nhân viên, đối tác của tôi ban tặng cho tôi nhóm từ “nghiêm nghị nghiêm túc nghiêm trang nghiêm khắc như cha xứ” vì chẳng bao giờ màng đến hoa hậu hay người mẫu hay xe-le-bờ-ri-ti ngôi sao ca nhạc nên luôn luôn vứt bỏ tất cả các giấy mời tham dự các buổi biểu diễn thời trang hay ca nhạc của siêu mẫu hay siêu sao; và rằng chỉ có kẻ điên thoát khỏi nhà thương điên mới vẫn còn chống cộng và vẫn còn mơ màng mơ mộng mơ cuồng sẽ chiến thắng cộng sản bằng võ mồm, bằng … Sấm Trạng Trình, bằng chửi tục, bằng viết bậy, bằng nói láo, và bằng đoàn quân…sosanhers và lucloiists.

Để các bạn hình dung được cái ngợm của bọn người gọi là sosanhers/locloiists kể trên, bạn hãy nghĩ như thế này nhé: chúng phân tích ca sĩ A của Việt mặc đồ giống y như ca sĩ B Hàn Quốc để kết luận ca sĩ A là ca sĩ B hoặc ca sĩ B đột nhập Việt Nam dưới tên gọi A; hoặc như giảng viên D nói về chủ nghĩa cộng sản bằng cách lập lại nội dung các tuyên bố tiên tri thấu thị của Karl Marx, và chúng la toáng lên phát hiện của chúng rằng giảng viên D chính là Karl Marx hoặc Kark Marx đột nhập Việt Nam dưới cái tên D; hoặc blogger Lăng Tần cái gì cũng lấy từ kinh Phật (Lăng Tần là lấy từ Kinh Lăng Nghiêm có tên tiếng Phạn Ca-lăng-tần-già của chú chim ngậm xâu chuỗi bay quanh hầu hạ Phật Bà Quan Âm) nên chúng sẽ một cách bịnh hoạn suy ra Lăng Tần là Phật hoặc Phật giáng hạ xuống Việt Nam lấy tên là Lăng Tần; hoặc cũng chính blogger Lăng Tần hay ngâm nga mấy lời của Khổng Phu Tử nên chúng sẽ la toáng lên sự phát hiện thần kỳ của chúng rằng tên thật của Lăng Tần là Trọng Ni hoặc Khổng Khâu tức Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử lẻn vào Việt Nam lấy tên là Lăng Tần, v.v và v.v. Như vậy các bạn sẽ thấy rõ bọn chúng là đám bất tài không thể viết gì cho ra hồn để cống hiến cho cư dân mạng hiếu học mà chỉ giới thiệu phát hiện chẳng ra làm sao cả của chúng. Đối với bậc có học thức như Cô Trương Tuyết Anh ở Đại học Văn Khoa khi thấy sinh viên Hoàng Hữu Phước sáng tác thơ văn Anh ngữ thì chỉ có hai lựa chọn: hoặc (a) quát lên khinh miệt rằng “em là kẻ đạo văn!” hoặc (b) nhỏ nhẹ trìu mến rằng “Cô thấy không vị giáo sư nào của Đại học Sorbonne từ năm 1257 đến nay lại phê phán Shakespeare quá hay như em, và cũng chưa có người Việt nào làm thơ sonnet Anh hơn cả người Anh như em”. Tương tự, một người có học thức và có tư cách đáng kính sẽ có hai lựa chọn: hoặc (a) quát lên khinh miệt rằng “Này Amari Tx, mi là kẻ đạo văn!” hoặc (b) nhỏ nhẹ trìu mến rằng “Tôi thấy không người Mỹ gốc Việt có học vị tiến sĩ nào ngay cả từ trước 1975 đến nay lại phân tích chính trị thâm thúy cao siêu uyên bác như anh,  và cũng chưa có người Mỹ gốc Việt nào đạt trình độ viết văn chính luận tiếng Việt bằng anh, thậm chí còn Việt hơn cả các tay blogger người Việt ở xứ Việt”.

 Image

Nếu các bạn thấy biện luận trên là hợp lý thì đừng nên quan tâm đến câu hỏi AmariTx là ai. Mấy năm nay chả có người Mỹ gốc Việt chống cộng nào ở hải ngoại “lột mặt nạ” của Amari Tx cả, mà chỉ thấy chúng hoặc đe dọa James Du và các đồng nghiệp báo chí truyền thông nào thân cộng, hoặc né tránh các cuộc đụng độ mà – như các anh “thân cộng” đã nói rất trông chờ ngày tôi sang thăm Mỹ – chúng rất yếu cơ, không uy tín, chẳng có tài lực, và không được cơ quan an ninh cảnh sát Hoa Kỳ dành cho bất kỳ chút thiện cảm nào.

Tuy nhiên, cái sự cho là “phát hiện” của gã sosanher/lucloiist nói trên vẫn có thể khiến tôi cảm thấy thú vị, vì nếu Amari Tx không là vị tiến sĩ nọ ở Việt Nam thì toàn bộ hàng triệu người ngoại quốc gốc Việt có vinh dự thêm anh vào danh sách cực kỳ ít ỏi ít ỏi những vị có trình độ tư duy cao, hùng biện tuyệt vời, tâm đức chính đạo, thông minh trí tuệ, giởi tiếng Việt chính luận, có thể khiến cộng đồng gốc Việt ở hải ngoại tự hào khoe khoang về dòng giống Việt vẫn đang châu lưu trong huyết quản của họ; còn nếu Amari Tx là vị tiến sĩ nọ ở Việt Nam thì xem như đất nước Việt Nam này có thêm một nhà trí thức thực sự có trình độ tư duy cao, hùng biện tuyệt vời, tâm đức chính đạo, thông minh trí tuệ, vốn rất hiếm hoi cực kỳ ít ỏi trên mảnh đất hình cong chữ S này có thể khiến cộng đồng dân Việt tự hào về dòng giống Việt đang châu lưu trong huyết quản – vì Việt Nam có hằng hà sa số thạc sĩ và tiến sĩ nhưng số trí thức thì chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón (còn những trí thức/nhân sĩ “bầy đàn” như nói đến trong bài “Hội Chứng Bầy Đàn” thì chỉ là những ngụy trí thức/ngụy nhân sĩ, người ỷ có cái văn bằng thạc sĩ/tiến sĩ nhưng bất tài vô hạnh, rồi tự phong, tự sướng, tự động tự tung tự tác gọi bầy đàn của họ là nhân sĩ/trí thức để che nỗi nhục bản thân vẫn là con số zero to tổ bố của xã hội nhân quần quốc gia quốc thể).

Anh AmariTx là ai? Đối với tôi, anh ấy là anh ấy. Cái tên Amari Tx xuất hiện mấy năm nay, mà chẳng người Mỹ gốc Việt chống cộng nào dám động đến, phải ngậm đắng nuốt cay, ngậm bồ hòn làm ngọt, chịu trận thua trên sân Mỹ vì mình chống cộng bằng vũ khí quyển từ điển các từ tục tĩu tiếng Việt và sách công nghệ bôi nhọ, còn “ảnh” chống chống cộng bằng trí tuệ, sự thông thái, cơ mưu quyền biến, và tài hùng biện, lôi cuốn gần hết con cháu các người Mỹ gốc Việt chống cộng, thật không sao chống đỡ được, phải ngó lơ thôi. Thế mà cái tên vô công rỗi nghề kia lại cố gắng điều tra nghiên cứu so sánh để gõ cửa  cộng đồng người Mỹ gốc Việt chống cộng ở Mỹ hầu báo tin rằng: “quý vị ơi, quý vị hỡi, cái anh Amari Tx ở nhà bên cạnh quý vị tại đường này phố này hạt này tiểu bang này là người Việt Nam đang ở Việt Nam đấy, hổng phải là ở đường này phố này hạt này tiểu bang này đâu!”

Tôi là người Việt, từ lúc sinh ra đến nay vẫn ở Sài Gòn, chưa hề dọn nhà đi tỉnh nào khác, nói gì dọn ra nước ngoài, ấy vậy mà mấy chục năm nay doanh nhân sang trọng nước ngoài Âu-Mỹ-Á nào gặp tôi cũng tỏ vẻ hoài nghi, khăng khăng bảo rằng tôi chí ít là đã học nhiều năm ở Anh Quốc vì cách dùng từ tiếng Anh quý phái và phong thái quý tộc Ăng-lê của tôi.

Amari Tx là người gì, bấy lâu nay ở đâu, sao mà anh sử dụng tiếng Việt cao siêu đến vậy, ắt các bậc trọng sang cũng khăng khăng bảo anh chí ít là đã học nhiều năm ở Việt Nam hoặc là môn sinh của …Thầy Trần Chung Ngọc, vì cách dùng từ tiếng Việt chính luận của anh.

Tôi không bao giờ thắc mắc AmariTx là ai. Giống như Batman, Superman, hay Spiderman, hoặc một con người trong bất kỳ môi trường xã hội có văn minh cao, trí hóa cao, anh có quyền giữ bí mật và ấn định thời khắc tuyên bố bí mật cũng như đối tượng đón nhận bí mật. Tôi cũng có quyền như anh, nhưng sự lựa chọn của tôi không giống anh vì tôi không phải Batman, Superman hay Spiderman. Tôi chỉ là môt nhà giáo sống đời giản dị giản đơn để viết lách phức hợp phức tạp, là người của công chúng từ hơn 20 năm nay nên nhất thiết phải phơi bày chi tiết nhân thân cùng hình ảnh để học trò, nhân viên, người quen, người ái mộ nhận diện, nhận ra, nhận biết, mà noi theo.

Sẽ là điều tuyệt vời khi trang web sau là của Việt Kiều Mỹ Amari Tx, vì sự góp mặt của nó giúp Hoa Kỳ nở mày nở mặt với hai chữ “tự do”, thứ mà người dân Mỹ gốc Việt chống cộng đã chà đạp khi tấn công những người Mỹ gốc Việt thân cộng, tấn công những đoàn văn hóa văn nghệ từ Việt Nam, tụ tập phản đối các vị thượng khách Việt Nam của chủ nhân Tòa Bạch Ốc làm muối mặt Hoa Kỳ:

 Image

Là con nhà Phật, tôi có thể nói rằng Amari Tx đã làm một điều phước thiện lớn lao, và nếu The International Library of Poetry của Hoa Kỳ trong dĩa CD 33 bài thơ của 33 tác giả được tuyển chọn trong số 300 nhà thơ, đã đánh giá như sau, trước khi ngâm bài thơ sonnet đoạt giải của tôi How to Overwhelm the Un-overwhelmed trên nền nhạc baroque: “This poem is more than a music of language. It’s a variable painting of imagination. Any further description would only fail to do a justice” (Bài thơ này còn hơn cả một khúc nhạc của ngôn từ, một bức họa muôn sắc màu của trí tưởng mà bất kỳ sự miêu tả thêm nào cũng vẫn không sao nêu đủ hết được giá trị của nó), thì tôi vẫn có thể kính tặng anh đôi dòng thơ tản văn trên chính trang web của anh mà bất kỳ một sự trân trọng thêm nào cũng vẫn không sao nêu đủ hết được cái kỳ vĩ mà anh đã tạo ra được bằng các bài viết của mình:

 Image

Tôi biết anh AmariTx sẽ cười khoái trá về bài viết này của tôi, cũng như tôi cười khoái trá khi thấy cái tên sosanher/lucloiist ấy viết tấn công anh. Tôi khoái trá vì biết rằng bọn chống cộng chỉ ra sức chống ai mà chúng chịu thua không thể đấu khẩu tranh luận gì được. Anh khoái trá vì biết rõ mười mươi rằng tôi sẽ phải gọi anh là “Thầy” nếu anh đột nhiên trở thành …vị tiến sĩ Việt Nam nọ.

Tôi từng viết trên emtino rằng tôi luôn gọi một người là Thầy nếu người đó có học vị tiến sĩ. Và để thuyết phục mấy cậu mấy cô học trò của mình phải để tôi gọi các cô các cậu ấy là Thầy, tôi đã bảo rằng: “Em gọi Thầy là Thầy vì Thầy đã dạy học tại lớp của em. Thầy gọi em là Thầy khi ở chỗ đông người vì đó là danh xưng dành cho một vị tiến sĩ. Thầy phải gọi em như thế vì 5 lý do gồm (a) như Thầy vừa nói, (b) giúp em được trọng vọng giữa đám đông, (c) giúp mọi người nhận ra rằng việc học hành phải không bao giờ được ngừng nghỉ, (d) để em vì danh dự này mà thi thố tài năng giúp nước giúp dân, không phụ lòng Thầy, và (e) để Thầy tự nhắc mình là vẫn chưa thu xếp được thời gian để lấy học vị tiến sĩ giáo dục học cho chính mình.”

Nếu anh Amari Tx là vị tiến sĩ Việt Nam nọ, thì có ngày tôi sẽ nói với anh ấy rằng: “Anh hãy để tôi đổi cách xưng hô gọi anh là Thầy vì 5 lý do gồm (a) đó luôn là từ đúng nhất để gọi một vị tiến sĩ, (b) giúp tôi được trọng vọng giữa đám đông vì thiên hạ thấy tôi biết giữ đạo thánh hiền khi hạ mình trân trọng người có học thức cao, (c) giúp mọi người nhận ra rằng việc học hành phải không bao giờ được ngừng nghỉ, (d) để anh nhớ rằng đã có học vị này thì việc thi thố tài năng giúp nước hùng mạnh, giúp dân thêm trí hóa cao, giúp Đảng thêm vững mạnh, là điều duy nhất phải luôn thực hiện, và (e) để tôi tự nhắc mình là vẫn chưa thu xếp được thời gian để lấy học vị tiến sĩ giáo dục học cho chính mình để sẽ khoái trá khi được người có hùng tâm và tài giỏi như anh gọi là Thầy tương tự.”

Còn nếu anh AmariTx không là vị tiến sĩ Việt Nam nọ, thì có ngày tôi sẽ nói với anh ấy rằng: “Anh biết không, chả biết thằng bá vơ nào đó vì bất tài và thất học không thể bút chiến luận với anh nên đã gán ghép anh vô một ông tiến sĩ ở Việt Nam đấy.”

Nói tóm lại, các bạn cần nhớ câu mang tính chân lý này: “Đừng tin những gì bọn chống cộng nói, và cũng đừng nhìn những gì bọn chống cộng làm.” Chúng chỉ nói tục, nói bậy, nói phét, và chúng chỉ làm bậy, làm bạ, làm điều vô bổ đầy xấu hổ cho nòi giống mà thôi.

Nam mô A-di-đà Phật.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Pháp danh: An Thiện

Bút danh: Lăng Tần

Advertisements

Tôi và Lê Hiếu Đằng

Hoang Huu Phuoc, MIB

Image

Trong bài Hội Chứng Bầy Đàn đăng trên blog này (blog.com) và blog đồng hành (worldpress.com) ngày 20-8 vừa qua tôi có ghi sẽ viết tiếp các bài Tôi và Lê Hiếu ĐằngTôi và Trần Huỳnh Duy Thức. Thật ra, tôi có nguyên một sê-ri những bài viết thuộc mẫu câu “Tôi và…” với những bài đã đăng trên emotino.com trong nhiều năm qua, thí dụ một vài bài như:

Tôi và Tổng Thống Saddam Husein (*): kể về liên lạc điện tín của tôi tư vấn tổng thống Saddam

Tôi và Ngành An Ninh Tình Báo (*) kể về lúc tôi tốt nghiệp đại học được Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh dự tuyển vào ngành an ninh tình báo

Tôi và Cô Trương Tuyết Anh (**) kể về vị giáo sư đại học đã trân trọng tài văn học của tôi

Tôi và Thầy Nguyễn Quang Tô (**) kể về vị giáo sư tài hoa dưới chế độ Sài Gòn đã rộng lượng hào phóng ban cho tôi hai chữ đức tài khi tôi học lớp 10

Tôi và Thầy Lê Văn Diệm (**) kể về vị giáo sư đại học đã ban tôi danh dự làm vua luận văn Anh

Tôi và Lê Công Định (*) kể về tên luật sư trẻ người non dạ kém cỏi tiếng Anh đã cùng Lê Đình Bửu Trí ngỏ lời nhờ tôi giúp soạn thảo các quy định bằng tiếng Anh cho văn phòng luật của họ nhưng đã bị tôi từ chối do cảm nhận được cái ý đồ tiêu cực của y.

Tôi và Cu Huy Ha Vu (*) kể về tên luật sư tôi không quen biết và chưa từng gặp mặt nhưng vẫn viết về y vì sự rống sủa của y quấy rầy không gian sạch sẽ của cộng đồng thạc sĩ Đại học Curtin Úc.

Tôi và Huy Đức (*) kể về tên nhà báo vớ vẩn sang Mỹ kiếm sống bằng cách viết bá láp về Việt Nam, về Đảng Cộng Sản, về lãnh đạo, làm ô uế không gian sạch sẽ của cộng đồng dân Việt.

Tôi và Hai Anh Bộ Đội (*)

Tôi và Các Quân Nhân Cộng Hòa (**)

Nay tôi viết về Lê Hiếu Đằng giống như khi tôi viết về Cu Huy Ha Vu, nghĩa là tôi chưa từng biết đến sự tồn tại của Lê Hiếu Đằng từ trước 1975 cho đến khi gần đây tôi nghe thiên hạ nói về tiếng rống sủa của hắn, chứ tôi vẫn không cho rằng tôi nên phí thời gian đọc tác phẩm của y mà thay vào đó y nên tìm đọc các tác phẩm của tôi để thoát khỏi sự tăm tối u mê.

Để cẩn trọng – tôi luôn là người cẩn trọng – tôi nhất thiết phải nói rõ rằng tôi được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ, Quận 2, Sài Gòn theo bằng chứng sau đây:

Image

năm 15 tuổi trở thành công dân nước Việt Nam Cộng Hòa với bằng chứng là Thẻ Căn Cước do Chỉ huy phó Cảnh Sát Quốc Gia Quận 3 Sài Gòn Đỗ Kiến Nâu cấp ngày 28-4-1972:

Image

và sau đó 4 tháng đã quy y tam bảo tại Chùa Phước Trường với bằng chứng là:

Image

chưa kể “truyền đơn” dầy 16 trang về  “Lễ Tưởng Niệm Trần Văn Ơn” (hình minh họa ở đầu bài viết này) do Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn biên soạn và tôi là trưởng lớp 12C1 trường Tân Việt (Quận 3) đã đồng ý giúp một học sinh lớp khác dấu xấp truyền đơn trên quạt trần trong lớp tôi để khi có chuông vào học, chờ mọi người vào lớp tôi bật điện và truyền đơn văng ra khắp phòng (giờ triết học môn Luận Lý Học của Thầy Vĩnh Để) khiến thầy tổng giám thị Nguyễn Văn Phương nổi giận đùng đùng xách roi mây vào lớp kêu tôi phụ thu lượm đem hết lên văn phòng mà tất nhiên tôi vẫn giấu một bộ, còn làm ngơ cho vài bạn khác – nhất là nữ – giữ lại dưới vạt áo dài vài bộ.

Tôi buộc phải tự giới thiệu đầy đủ về mình như trên để khẳng định những lời tôi viết dưới đây là tuyệt đối chính xác, với sự công tâm, với lòng rộng lượng, với tâm từ bi, vì nước, vì dân, của một người đã thực sự là dân Sài Gòn, đã thực sự là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa, và đã thực sự là một người đã quy y tam bảo nguyện làm phật tử chơn chánh giữ thân tâm thanh tịnh bỏ các điều ác chỉ làm những việc lành, giữ tròn lời hứa với cử tri là “luôn biết lo trước cái lo của người dân” và “bảo vệ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Đồng thời, tôi cần nói rõ thêm rằng tôi đã không nhờ “anh học sinh ấy” giới thiệu tôi “có công với cách mạng” sau giải phóng nên Ba của tôi mất việc ở Hàng Không Việt Nam phải cùng với Má tôi vấn thuốc lá điếu bán nuôi con cái, chị tôi phải bỏ Đại học Văn Khoa và Đại học Sư Phạm vì bị sinh viên cách mạng của Ủy ban Quân quản miệt thị là phong thái “tiểu tư sản” do khăng khăng mặc áo dài trắng đi học chứ không chịu mặc sơ mi vải xanh và quần sa-tanh đen, tôi vào đại học thì bị ganh tài vu vạ càng phấn đấu gánh vác việc nặng nhọc thì càng bì “đì” triệt tất cả đường vào Đoàn để đừng được phân công, khi đi dạy học thì càng phấn đấu gánh vác việc nặng nhọc thì càng bì “đì” triệt tất cả đường vào Đảng đến độ các học trò trở thành nhà giáo phải xúm lại viết thư động viên, khi buộc phải bỏ trường mà đi làm cho nước ngoài đến khi thấy họ gây thiệt hại cho nông dân bèn đơn thương độc mã viết thư cho báo Tuổi Trẻ tố cáo và chịu bị mất “job” phải quay trở lại làm cho công ty nhà nước để tiếp tục bị “đì” triệt tất cả đường vào Đảng, đến nỗi phải bỏ ra khu vực ngoài quốc doanh, cho đến nay vẫn là người ngoài Đảng. Nên hy vọng rằng Lê Hiếu Đằng – hoặc một phật tử chơn chánh nào đó làm phước in gởi Lê Hiếu Đằng bài này nếu y không tự tìm đọc – sẽ biết một người bị Đảng viên Đảng Cộng Sản “đì” suốt tuổi thanh xuân sẽ nói gì về Đảng một khi có lòng yêu nước thương dân trọng nghĩa quý tình và sự thông tuệ trong cơ mưu trí lược của tế thế an bang vượt qua cõi ta bà, so với một người ngu muội, phản quốc, vong ân, bội nghĩa, ác tâm, giả trá đã luôn được Đảng ưu ái, đùm bọc, thứ tha từ lúc đầu xanh cho đến khi bạc tóc giả bệnh để rắp tâm trở cờ tự nhổ toẹt vào “quá trình theo Đảng” của y.

 Image

Tôi là dân Sài Gòn. Tôi là học sinh Sài Gòn. Tôi quan tâm đến chính trị và thời cuộc như mọi thanh niên gia giáo gia phong khác thời ấy. Tôi xác định chưa từng nghe đến cái tên Lê Hiếu Đằng, và ngay cả tài liệu truyền đơn của Tổng Hội Học Sinh Sài Gòn nêu ở đầu bài viết này chỉ thấy những cái tên như Lê Văn Nuôi, Lê Văn Nghĩa, Lê Văn Triều, Lê Hoàng, Tăng Thị Mỹ Liên, Nguyễn Vĩnh Thiện – tất nhiên cái tên Huỳnh Tấn Mẫm luôn đi đầu trên các trang báo Sài Gòn thời ấy. Vậy Lê Hiếu Đằng trốn chui trốn nhũi ở đâu?

Image

Khi học tại Đại học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1978 đổi thành Đại Học Tổng Hợp khi sáp nhập với Đại Học Khoa Học) tôi có biết Võ Anh Dũng là sinh viên cùng khóa với tôi nhưng học Khoa Pháp Văn. Dũng khoe nhờ mấy tuần trước giải phóng có nhận lời giúp “rải truyền đơn chống chế độ tay sai Mỹ” trước Đại học Kiến Trúc nên bị cảnh sát bắt nhốt ở Tổng Nha Cảnh Sát, và được quân giải phóng đến “giải phóng”, trở thành “có công với cách mạng” bằng tờ giấy chứng nhận của anh sinh viên kia, được cộng điểm “đậu” vô Đại học Văn Khoa, nhưng Dũng thường xuyên đeo bám tôi vì tác phong tiểu tư sản của tôi làm y ngỡ tôi vẫn còn là công tử Sài Thành thế gia vọng tộc – vì nếu chị tôi luôn mặc áo dài đi học thì tôi luôn ăn mặc tề chỉnh với áo sơ mi bỏ trong và đi giày bốt chứ không bao giờ đi dép hay sandal, thỉnh thoảng còn mặc sơ-mi viền tua ren trước ngực hoặc sơ mi tay áo dài rộng bó ở khuỷu tay vả cổ tay như của nhà quý tộc Aramis của Ba Chàng Ngự Lâm theo style của tạp chí thời trang nam Eleganza của Mỹ một thời danh tiếng mà ở Việt Nam Cộng Hòa tôi là nam sinh duy nhất à-la-mode – để cố rủ rê tôi bao đi ăn uống hoặc giảng giúp các bài bộ môn tiếng Việt do y đi học thì ít mà đi “cua” gái thì nhiều, về sau vượt biên trốn mất trước ngày tốt nghiệp. Võ Anh Dũng nếu đừng bỏ Việt Nam, ắt hẳn đã ngồi vào chỗ của Lê Hiếu Đằng, nhưng còn đáng trân trọng hơn Lê Hiếu Đằng. Khi sinh viên Nguyễn Thái Bình chống Mỹ, Mỹ đã hạ sát Nguyễn Thái Bình khi máy bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc Nguyễn Thái Bình “bái tổ vinh quy” du học Mỹ trở về. Lê Hiếu Đằng chống Mỹ, vậy mà ngu xuẩn khoe rằng lúc ở tù đã được cai tù cho ra ngoài để thi tú tài, chứng tỏ sự ưu việt nhân bản nhân đạo nhân văn cao vời cao vợi của chế độ Mỹ-Thiệu. Thời nào cũng có nhóm “nằm vùng”, “cài cắm”. Vậy Lê Hiếu Đằng là kẻ mà Mỹ-Thiệu đã cài cắm vào nội bộ phong trào sinh viên-học sinh để báo cáo nội tình và hy vọng trèo cao lèn sâu vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – gọi tắt là Việt Cộng mà lính Mỹ gọi kiêng tên cúng cơm thành “Charlie”. Lê Hiếu Đằng đã không bị hạ sát như Nguyễn Thái Bình. Lê Hiếu Đằng được nhốt vào tù để tung hỏa mù với Việt Cộng, nhưng được cho ra đi thi tú tài để khi “chiến thắng” được lên chức cao quyền trọng phục vụ Mỹ-Thiệu, nghĩa là không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng đã không ăn ngon mặc sướng ở trong tù, không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng không được Mỹ-Thiệu cung cấp món đặc sản gái ghiếc mà Mỹ-Thiệu sử dụng cực kỳ thiện nghệ, và không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng đã không đằng đằng nổi giận, không đằng đằng sát khí khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, những người bảo trợ cho Lê Hiếu Đằng không những bỏ chạy nhanh hơn tên lửa hành trình Tô-ma-hốc Mỹ sắp lấy mớ tồn kho đang rỉ sét ra xài thanh lý ở Syria, mà còn bảo Lê Hiếu Đằng cố ở lại “nằm vùng” chờ họ quay lại “phục quốc”. “Nằm vùng” quá lâu, tuổi già ập đến, tức vì bị chơi xỏ, thấy mấy thằng nhóc hậu sinh khả ố sinh sau đẻ muộn chơi nổi vừa hưởng thụ xả láng, vừa la hét đòi dân chủ tự do để nhận tài trợ của cái bọn trước đây đã vừa bỏ rơi vừa lừa bịp mình, Lê Hiếu Đằng lập tức “đứng vùng” – tức là đứng lên vùng dậy – rống họng chưởi bới Đảng Cộng Sản vừa để hả giận sao đến giờ Đằng sắp đằng vân về với tiên tổ mà đằng ấy (tức Đảng Cộng Sản) vẫn không cho Đằng làm Chủ Tịch Nước hay Chủ Tịch Quốc Hội trong khi đằng kia giá như đừng đầu hàng bỏ chạy tồng ngồng như vịt 30-4-1975 thì biết đâu Đằng đã là Tổng Thống rồi – có khi làm tổng thống những 40 năm từ ấy đến nay giống các vị tổng thống con cưng của Mỹ như Mu-ba-rắc và Su-hác-tô ấy chứ lị, vừa để phía hải ngoại biết Đằng vừa lập đại công độc đáo chửi cha cộng sản từ trong nội bộ cộng sản (trong khi phe chống Cộng chỉ dám chưởi sau khi chạy qua Mỹ thở phào không thấy Việt Cộng dí theo) nên phải biết điều tài trợ cho Đằng y như hoặc nhiều hơn cái đám “tù nhân lương tâm” sinh sau đẻ muộn ấy, vì đằng nào cũng phải chi, chi ai cũng vậy, chi Đằng cho xong.

Ngoài ra, việc Lê Hiếu Đằng – cùng tất cả những chức sắc/trí thức/nhân sĩ đột nhiên đột biến biến chất biến thái chống đối chống phá khác – đã hoàn toàn là con số không đối với người dân vì đã không có bất kỳ công trạng nào, công trình nào về chuyên môn lúc còn tại vị trên ngôi cao vinh diệu chỉ cho thấy bốn điều sau:

1) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường hèn nhát hèn yếu hèn hạ vì đã không dám mở miệng nói bất kỳ điều gì có thể khiến họ mất ghế, mất bổng lộc, mất lương hưu; dửng dưng chứng kiến nền kinh tế nước nhà chao đảo – nếu như nó có chao đảo, người dân đối mặt với oan sai – nếu như thật sự có các oan sai nào đó, tiền đồ tổ quốc lận đận – nếu như có cái lận cái đận nào đó, chờ đến khi về hưu hay bị tì vết tiêu cực mà mất chức mới đột nhiên đột biến vì nước vì dân, thương nước thương dân, nêu ra ngất ngút vô thiên lủng bao điều có dán nhãn mác “tại Đảng Cộng Sản”, “tại không đa đảng, đa nguyên”, “tại không nghe lời…ta” cứ như thể là thông tuệ lắm, trí hóa lắm, trí thức lắm, hiểu biết lắm, có tài kinh bang tế thế lắm, vậy mà Đảng nỡ lòng nào “đì” bắt ra nước ngoài du học không cho được cầm súng giết giặc Mỹ-Thiệu, Đảng tàn nhẫn bắt phải ở nơi sung sướng ăn toàn bơ sữa thịt bò chờ đến sau 30-4-1975 mới cho về nước, Đảng ác nhân thất đức bắt làm lãnh đạo ở viện này viện nọ chứ không cho làm lãnh đạo nước hay lãnh đạo quốc hội, và Đảng đã quá dở khi chẳng biết trọng dụng nhân tài vì đã không chịu kêu mấy Bộ trưởng mỗi khi cần tư vấn phải tắm gội trai tịnh không được gần phụ nữ mấy tuần trăng rồi đích thân đến Viện thỉnh mời kiểu “tam cố thảo lư” như Lưu Bị ba lần đến mời Khổng Minh Gia Cát Lượng hay như lúc Khương Tử Nha được vua nhà Chu đến lạy thỉnh vậy.

2) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường thua cả loài cầm thú vì sử sách muôn đời từ khi con người trở nên có trí hóa sáng tạo ra chữ viết đã luôn miệt thị bọn “ăn cháo, đái bát” (phường mọi rợ được chủ nhân mời ăn cháo nóng, ăn xong vén quần lôi của quý ra tồ vào đầy bát rồi bưng trả lại chủ nhân), bội nghĩa, vong ân, trời không dung, đất không tha, điếm nhục gia phong, hổ thẹn tổ tiên giòng họ, không biết chính mình dù có cống hiến hiệu quả trọn kiếp trọn đời cũng không sao trả hết nợ cho triệu triệu người đã lấy máu thịt thấm lầy mảnh đất này giữ cho màu mỡ vẹn toàn, và trả nợ ngay cả bao nạn dân đã để lại xương núi đầu lâu ở những tỉnh Miền Tây khi trở thành tiền phương hứng chịu sự tấn công điên cuồng của bọn diệt chủng bạo tàn.

3) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường bất lương, vô trí, vô trách nhiệm, không đáng sánh bằng với kẻ thất phu. Đã bất tài vô dụng không giúp ích được gì cho tổ quốc, cho dân tộc, thay vì ngồi yên hưởng thụ lại khuấy loạn nội tình, làm ngơ trước sự tồn vong của đất nước bao đời luôn phải đối phó với nguy cơ giặc ngoại xâm tiềm tàng, cứ như quân thất học vô giáo dục vô tổ vô tông sẵn sàng mãi quốc cầu vinh, rắp tâm lập “đại công” với giặc để được phì gia, hoặc chí ít cũng được tiếp nhận nơi hải ngoại thâm thù khi nước (của người Việt) mất nhà (của người Việt khác) tan.

4) Và cuối cùng song không kém phần quan trọng là Lăng Tần đã đúng khi nói về “trí thức” trong bài “Tôi và Huy Đức”.

******

Viết đến đây tôi lại muốn chuyển hướng có đôi lời kính gởi những công dân Mỹ gốc Việt (mà trước nay hay bị gọi nhầm là Việt Kiều), và cần nói rõ với các tính từ kèm theo nhằm bổ nghĩa và cụ thể hóa đối tượng của “đôi lời”, đó là những công dân Mỹ gốc Việt chống Việt Nam (mà trước nay hay tự gọi nhầm là chống cộng, vì “cộng” là một chủ thuyết tức communism, mà đã là chủ thuyết hay học thuyết thì đó là tự do tư tưởng mà chỉ có thể được một chủ thuyết khác tranh luận ngược lại gọi là bút chiến luận, và trên cơ sở tương quan trí tuệ, nghĩa là nếu những người cộng sản tức communist có đại tác phẩm Tư Bản Luận để “đẻ ra” chủ nghĩa cộng sản bán chạy nhiều thập kỷ nay, thì phía tranh luận ngược lại cũng phải có tác
phẩm…Cộng Sản Luận có độ dày mấy chục pho tương tự, để “đẻ ra” chủ nghĩa xyz nào đó chứ không lẽ đẻ ra chủ nghĩa tư bản vì hóa ra chủ nghĩa ấy do cộng sản đẻ ra à?; đã vậy, chống cộng sai vì vi phạm tự do tư tưởng của người khác, chống Việt Nam lại càng sai vì Việt Nam xâm lược Mỹ, đô hộ Mỹ, diệt chủng Mỹ, tàn phá Mỹ, cạo đầu gióc tóc Mỹ nam và bắt Mỹ nữ làm nô lệ tình dục hồi nào vậy?) rằng:

1) Xin quý vị xem kỹ nội dung truyền đơn của phong trào đấu tranh của Lê Hiếu Đằng, có ghi rõ ràng là Ủy Ban Tổng Hội Sinh Viên Học Sinh kêu gọi “hướng tới tương lai tươi sáng của dân tộc”, nghĩa là chế độ Cộng Hòa đen tối, lầm than, và tương lai tươi sáng của dân tộc chính là Cộng Sản như thực tế chứng minh từ 1975 đến nay. Như vậy phải chăng Lê Hiếu Đằng đã từng tích cực nguyền rủa Việt Nam Cộng Hòa của quý vị.

2) Cũng trong truyền đơn còn có bài thơ với các câu cú như sau: “Nước mắt mồ hôi pha máu tươi, Tháng tháng năm năm một kiếp người, Chén cơm giữa chợ còn chan máu, Có ai hay đang sống kiếp ngục tù” nghĩa là chế độ Cộng Hòa là chế độ ngục tù tàn bạo giam hãm công dân với nước mắt và máu mà quý vị đã là những tù nhân trong ấy. Như vậy Lê Hiếu Đằng đã nói đúng hay là y đã thóa mạ và bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa của quý vị, đồng thời ám chỉ rằng cộng sản sẽ giải thoát quý vị khỏi chốn đọa đày và quý vị sẽ đời đời nhớ ơn cộng sản?

3) Tương tự từ nguồn trên, các dòng chữ “nhân dân nổi lên quyết liệt đòi hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hòa hợp dân tộc” nghĩa là quý vị đã nổi lên quyết liệt, vì không lẽ quý vị không muốn hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hòa hợp dân tộc? Mà nếu đã vậy, ắt Lê Hiếu Đằng đã nói đúng vì cộng sản đã đáp ứng đòi hỏi quyết liệt của quý vị bằng cách giải phóng Miền Nam, tạo nên nước Việt Nam hòa bình (không còn chiến tranh), thống nhất (không còn chia cắt Bắc-Nam), độc lập (mất hút bóng dáng thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, đế quốc Mỹ, bành trướng Tàu), tự do (theo văn hóa văn minh văn hiến thuần Việt), dân chủ (theo thể chế hiến định như bất kỳ quốc gia nào), ấm no (mà điển hình là sự giàu có của người Việt đã khiến nhiều người Mỹ gốc Việt chống Việt trong quý vị ganh tỵ gọi là “tư bản đỏ”, và cũng không phải không là điển hình khi Lê Hiếu Đằng đã “no cơm ấm cật” nên “quậy thật khí thế thật tưng bừng”), và hòa hợp dân tộc khi ngày càng có nhiều người Mỹ gốc Việt không chống Việt, người Mỹ gốc Việt thân thiện với nước Việt, và Việt Kiều đã về Việt Nam, vì Việt Nam, với lòng đoan chính vốn luôn có nơi giòng dõi Việt thế phiệt trâm anh gia giáo gia phong. Mà khi sự thật đã và đang là như thế, Lê Hiếu Đằng phải chăng đã bất hạnh vì vướng phải căn bệnh thường gặp ở tuổi già khi xảy ra sự lẫn lộn giữa thực và hư?

Nói tóm lại, dù có chống Việt đến đâu chăng nữa, lẽ nào quý vị lại ủng hộ Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận, bất kể đó là kẻ “hèn nhát hèn yếu hèn hạ”, “ăn cháo, đái bát”, và “bất lương, vô trí, vô trách nhiệm”, đặc biệt nghiêm trọng khi chính y đã từng to mồm mắng quý vị ra sao để được đứng vào hàng ngũ sinh viên học sinh đấu tranh hòng được lọt vào mắt xanh của những người cộng sản.

Không ai dùng thứ vất đi. Tiếng Anh có câu tục ngữ “chẳng ai đá một con chó chết”. Ý nghĩa sâu xa là đã là thứ vất đi thì ngay cả một cái đá cũng là sự phí phạm. Văn học Việt Nam có câu tương tự “giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi”. Song, cái sự đời không phải lúc nào cũng phải theo tục ngữ hay văn học. Một vị võ tướng siêu quần bạt tụy đang ăn cơm với đôi đũa vàng chạm ngọc vẫn có thể xuất chiêu dùng đũa kẹp dính một con ruồi bay ngang. Nhà tỷ phú tốt bụng thấy miểng chai lềnh khênh ngoài đường vẫn có thể hy sinh dùng đôi găng tay da hải ly nhặt hết cho vào túi ném vào thùng để không gây họa cho người đi đường. Trong cuộc sống có bao điều phải nghiên cứu để mở mang kiến thức, phải làm để phụng sự quốc gia dân tộc, nhưng không phải vì vậy mà làm ngơ trước những chuyện của ruồi nhặng vốn tiềm tàng hiểm họa của bịnh dịch tả kinh hoàng. Ắt đấy là lý do biết bao con người đoan chính có công tâm đáng kính đã vì lòng bác ái từ bi mà lượm nhặt rác rến miểng chai khi viết về Lê Hiếu Đằng, để bảo vệ các bạn trẻ và những người dân yếu thế không bị nhiễm khuẩn bởi dịch tả Hiếu Đằng.

Nam mô A-di-đà Phật.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Pháp danh An Thiện

Bút hiệu Lăng Tần

Ghi chú:

(*) đã đăng lại trên các blog:

http://hoanghuuphuocteachers.blog.com: các bài: Tôi và Cô Trương Tuyết Anh, Tôi và Thầy Nguyễn Quang Tô, Tôi và Thầy Lê Văn Diệm

http://hhphuoc.blog.com: các bài Tôi và Huy Đức (tít trong blog là Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt: Nhân Nghe Về Huy Đức), Tôi và Lê Công Định (tít trong blog lấy theo tít của báo Nhân Dân là: “Là Công Dân, Phải Tuân Thủ Luật Pháp Quốc Gia”)

http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com : các bài Tôi và Các Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa, Tôi và Huy Đức (tít trong blog là Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt: Nhân Nghe Về Huy Đức)

(**) sẽ sớm được đăng lại nguyên văn trên wordpress.com từ nguyên văn của emotino.com:

Tôi và Tổng Thống Saddam Husein

Tôi và Ngành An Ninh Tình Báo

Tôi và Lê Công Định

Tôi và Cu Huy Ha Vu

Tôi và Hai Anh Bộ Đội

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nhân thấy đang có sự “bầy hầy” trong ngành y tế, từ sự sinh sản vô tính vô tư vô tâm vô đạo đức vô giáo dục của kết quả xét nghiệm, sự bất lực bất tài đối với vấn đề liên hoàn giá thuốc và đấu thầu thuốc, sự bó tay đối với vấn nạn chữa trị không với tay nghề bác sĩ và kê toa với tay nghề bán lẻ thuốc ngoại và thực phẩm chức năng ngoại, cho đến những sự thật mang tính thời sự thời thượng thời nay đang được phơi bày trên báo chí truyền thống chính quy cũng như về cái gọi là “y đức”;

Nhận thấy bài viết Lời Khuyên Dành Cho Các Nhà Giáo (tức bài Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai, post ngày 07-9-2012 trên Emotino, đăng lại tại  http://hhphuoc.blog.com/?p=81 và trên http://hoanghuuphuocteachers.blog.com) đã được nhiều học trò cũ của tôi đang phục vụ trong ngành giáo dục gởi email ủng hộ;

Tôi xin đăng lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ mà tôi đã post lên Emotino ngày 13-9-2011, và vừa in gởi vài lãnh đạo ngành y tế trong tháng 7 năm 2013 vừa qua. Mong rằng khoảng  cách thời gian 2 năm đã không khiến bài viết dưới đây mất thời gian tính và giá trị cảnh báo của nó; đồng thời sẽ giúp xã hội có thêm một vài vị bác sĩ biết vì nước, vì dân. Vì nước, có nghĩa là tác nghiệp với ý thức đầy đủ rằng bản thân không được dính vào các “bầy hầy” của tay nghề và tiêu cực tài chính làm hoen ố, bôi tro trát trấu vào ngành y tế Việt Nam và nền y học nước nhà; qua đó giữ gìn quốc thể đối với quốc tế. Vì dân, có nghĩa là tác nghiệp tận tâm, tận tụy, tận tình, nhiệt tâm, nhiệt thành, nhiệt huyết, với tay nghề cao nhất từ kiến thức cao nhất, để tỏ rõ tính nhân đạo, nhân văn, nhằm phục vụ bịnh nhân hiệu quả nhất, đầy đủ nhất.

Image

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

(Bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino ngày 13-9-2011)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi đã rất rất nhiều năm nay muốn ngỏ đôi lời kính gửi quý bác sĩ Việt Nam (ở đây, như trong bài viết khác tôi đã lập luận rằng ở Việt Nam nhất thiết nên dùng thuật ngữ “bác sĩ Tây Y” và “bác sĩ Đông Y”, gọi chung là “bác sĩ” để nâng cao tầm chất lượng chuyên môn của các y sĩ, vì “lương y” nghĩa là thầy thuốc có lương tâm chứ khó thể chấp nhận cách dùng hạn hẹp gán ép cho thầy thuốc Đông Y), do thật không dễ dàng gì khi phải nêu sự thật khó nghe cho người Việt vốn có tính cách dân tộc đặc thù là luôn dị ứng khủng khiếp với những gì không là lời khen tặng. Nhưng sự cố thân nhân bệnh nhân sát hại một bác sĩ vừa qua đã làm tôi băn khoăn, quyết định nói lên một sự thật, dù sự thật này rất có thể chỉ là cá biệt, hiếm hoi, và tất nhiên không ám chỉ hay liên quan gì đến vụ sát hại vị bác sĩ ấy, thủ phạm hay nạn nhân.

Năm 1993 khi con tôi lên ba tuổi, cháu bị sốt, và vợ chồng tôi đưa cháu vào Bịnh Viện Nhiệt Đới. Do tôi là người tôn trọng vợ, ngay từ đêm động phòng đã tuyên bố với vợ tôi rằng từ nay tất cả sản nghiệp, lương tiền, bổng lộc của tôi đều phải do nàng làm chủ, đứng tên tất tần tật. Tôi chỉ xin nàng mỗi ba việc gồm (a) tuyệt đối không được động đến những núi sách vở tài liệu bản thảo của tôi mà trong đó có cả những quyển nhật ký tôi viết về những người tôi yêu và yêu tôi, (b)  tuyệt đối không được mua sắm bếp gas mà chỉ được xài bếp điện, và (c) tuyệt đối không được cho con uống thuốc mới lạ mà phải chờ tôi kiểm tra dược điển. Tôi phải kiểm tra dược điển vì đó là điều bình thường, vì kiểm tra là công đoạn luôn áp dụng mọi lúc mọi nơi đối với mọi việc quan trọng trong bất kỳ ngành nào, việc nào. Ai đó bảo giám sát kiểm tra không cần thiết, dứt khoát đó là người cẩu thả chây lười sợ bị phát hiện tiêu cực; tương tự, bác sĩ kê toa mà giận dỗi khi bị kiểm tra dược điển thì đích thị đó là bác sĩ được đào tạo với kết quả học tập khả nghi.

Trở lại việc con tôi bị sốt lúc lên ba tuổi năm 1993. Khi nhận được toa của bác sĩ, thấy ghi viêm họng, và thuốc có loại Zinnat rất lạ, tôi mua hết các loại trong toa tại nhà thuốc bịnh viện rồi lên xe Toyota Crown ra về. Lúc kiểm tra dược điển, tôi tá hỏa tam tinh vì Zinnat là loại kháng sinh mới xuất hiện, mà lời khuyên của sách vở y học là đừng bao giờ sử dụng các thuốc kháng sinh mới, dễ sinh ra lờn thuốc trong khi phải nhiều năm mới có chủng loại thuốc mới. Tôi quyết định đi bộ ra nhà thuốc gần đấy mua Amoxicilline là thứ trụ sinh quen thuộc bấy lâu nay Bịnh Viện Nhi Đồng hay cho con tôi uống mỗi khi bịnh viêm họng. Và con tôi bình phục sau đó ít ngày. Tôi vất các vỉ thuốc Zinnat to đùng vào sọt rác, và 16 năm sau, tôi được bác sĩ cho uống…Zinnat vì tôi bị thương không nhẹ ở chân có dấu hiệu nhiễm trùng. Tất nhiên, tôi uống ngay, khỏi cần tra dược điển vì đã biết Zinnat là gì hồi…thế kỷ trước.

Một sự cố khác là năm con tôi lên sáu năm 1996, cháu bị dị ứng, sau lưng nổi những lằn đỏ dưới da. Vợ chồng chúng tôi đưa cháu đến nhà (đường Sư Vạn Hạnh nối dài) một bác sĩ khoa trưởng da liễu nổi tiếng hay lên tivi phát biểu về bịnh ngoài da. Tôi ngạc nhiên thấy ông dùng tay trần khám bịnh cho nhiều bịnh nhân, hết người này đến người khác, mà không hề rửa tay. Tôi định tháo chạy thì đã muộn. Ông chả hiểu con tôi bịnh gì, và ông phán rằng con tôi không bị dị ứng gì sất mà do vải jean “cào da” (trong khi hai cha con tôi chúa ghét vải jean nóng nực nên làm gì có chuyện mua mặc quần áo jean), và ông chứng minh bằng cách dùng móng tay cào lên lưng con tôi để so sánh sắc màu của các lằn đỏ. Sau khi trả tiền công khám, suốt đường về nhà tôi đã làm một việc khiến anh tài xế tên Kha ngạc nhiên vì nhiều năm thấy tôi như cha xứ nay lại không ngớt nguyền rủa dữ dội thóa mạ cay độc tên bác sĩ khoa trưởng bất tài, rất có thể sẽ lây bịnh gì đó cho con tôi từ móng tay dơ bẩn của y.

Một sự cố khác (kể đủ 3 sự cố vì …“sự bất quá tam”) xảy ra năm 2004 khi con tôi 14 tuổi bị ho nhiều. Tôi và vợ tôi đưa cháu đến Trung Tâm Tai-Mũi-Họng (bịnh viện “công”) trên đường Trần Quốc Thảo, Quận 3. Thế kỷ XXI có khác! Toa được in vi tính (tránh việc bác sĩ viết chữ quái đản như cua bò hay lò xo xoắn không ai đọc được dù lẽ ra bác sĩ phải là người có đôi bàn tay mềm mại dịu dàng khi không thuộc ngành nha khoa). Lại có tên thuốc lạ là Donase của nhà sản xuất Hanbul (Hàn Quốc), dù chẩn đoán của bác sĩ…trưởng khoa (khám dịch vụ ngoài giờ ngay tại trung tâm) lại ghi là….viêm họng! Về đến nhà, tôi tra dược điển, dựa theo hai dược chất ghi trên vỉ thuốc Donase gồm  Streptokinase và Streptodornase. Thông tin khủng khiếp tra được là:

1- Streptokinase thuộc danh mục Thuốc Độc Bảng B, dùng cho nhồi máu cơ tim cấp, huyết khối động mạch vành, nghẽn mạch phổi, chứng huyết khối tĩnh mạch sâu nghẽn cầu nối động tĩnh mạch, tắc động mạch mạn tính, huyết khối mạch võng mạc, v.v., ở người lớn, có tính kháng nguyên mạnh nên khi bịnh nhân dùng thì bịnh viện phải sẵn sàng túc trực các phương tiện để cấp cứu kịp thời nếu xảy ra dị ứng. Tác dụng không mong muốn rất có thể là xuất huyết nội tạng nặng ở đường tiêu hóa, sinh dục, tiết niệu, sau màng bụng hoặc các vị trí trong não và dẫn đến tử vong, rét run, sốt, hạ huyết áp nặng, loạn nhịp tim, dị ứng, buồn nôn, phát ban ở da, mày đay hoặc ngứa, khó thở hoặc thở khò khè, sưng mắt, sốc phản vệ, v.v., thậm chí tử vong. Nói chung: đây không phải là thuốc cho trẻ em, và không bao giờ là thứ được dùng cho viêm họng!

2- Streptodornase là một thứ enzyme dùng kháng dị ứng.

Tuy nhiều viện bào chế trên thế giới đã phối hợp streptokinase và streptodornase thành thứ dược phẩm chuyên trị chống viêm sưng sau phẫu thuật, giảm phù nề do bịnh trĩ, giảm đau do viêm,  chấn thương hàm mặt, áp-xe sau nhổ răng, viêm nha chu, hen, lao, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm mào tinh hoàn, sau chấn thương mắt, v.v., trong đó có tăng cường phân hủy và bài tiết đàm nhớt, viêm xoang, viêm mũi cấp và mãn tính, polyp mũi, viêm tai giữa cấp và mãn tính, viêm hầu họng, sau phẫu thuật cắt amidan, sau nạo xoang, thì cũng không vì vậy mà bác sĩ lại kê toa cho một trẻ em uống trị viêm họng. Tôi cất các vỉ thuốc và toa thuốc có tên vị bác sĩ trưởng khoa kia, định dùng làm bằng chứng gởi Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh tố giác việc bất cẩn của vị bác sĩ này. Vợ tôi phải can ngăn tôi lại vì sợ ông trưởng khoa mang nhục mất chức trong khi tôi sợ con cái người khác bị cho uống thuốc dành cấp cứu trụy tim khi mang bịnh cảm sổ mũi. Rốt cuộc, tôi thở dài ngao ngán, hậm hực đi bộ ra hiệu thuốc gần nhà mua hai vỉ… Amoxicilline. Tất nhiên, sau ba ngày con tôi khỏe cho đến khi thành một thanh niên mới có lần bị cảm ho trở lại năm 2010 mà tôi trị bằng cách ra hiệu thuốc Tây lựa chọn mua nhiều thứ thuốc thảo dược Việt Nam (của các xí nghiệp dược phẩm lớn) cho con tôi uống, cho ngậm kẹo thảo dược (với sự tích cực tham gia ngậm kẹo suốt ngày của tôi, một mình một ngày hết một hộp trăm viên loại không đường), xoa dầu khuynh diệp, đánh gió (bằng dầu khuynh diệp), xông dung dịch nước muối sinh lý (bằng máy xông khí dung), bổ sung viên đa sinh tố, thức uống dinh dưỡng (trà Dr Thanh), thức uống dân gian…Mỹ (hai quả chanh vắt nước vào một lon Coke hay Pepsi), và… Amoxicilline.

Kể tất cả các việc trên, tôi mong các bác sĩ hãy thay đổi tư duy rằng Ngày Thầy Thuốc Việt Nam là ngày các bác sĩ (a) tỏ lòng biết ơn bịnh nhân tức khách hàng vì mọi nghề nghiệp đều hướng đến một công việc duy nhất là “phục vụ” chứ không phải “ban ơn”, nhằm đến một đối tượng cụ thể, để nhận thù lao cụ thể từ đối tượng ấy từ cơ quan chi trả theo luật định, và (b) sinh hoạt sẻ chia rút kinh nghiệm nội bộ về nghiệp vụ, tay nghề, tính chuyên nghiệp, và công trình nghiên cứu khoa học y dược, v.v. chứ không là ngày cực kỳ bất công để các vị chờ đón những lời xưng tụng, tôn vinh và quà cáp từ nhà nước hay thân nhân bịnh nhân.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng tính chuyên nghiệp buộc bác sĩ luôn tận tâm tận tụy khi cứu chữa bịnh nhân mà mình phục vụ, dịu dàng lễ độ với bịnh nhân mà mình phục vụ, cảm thông ngọt ngào với thân nhân của bịnh nhân mà mình phục vụ. Khi thực hiện một công việc và hàng tháng nhận lương, người có học, có hiểu biết, có đào tạo thực thụ về chuyên môn nghiệp vụ cao cấp không ai cho rằng mình đang ban ơn, đang làm phúc, đang cứu nguy, mà chỉ đơn giản là đang làm tròn phần việc của một nhà chuyên môn cao cấp khi phục vụ khách hàng. “Phục vụ” không phải là từ ngữ mặc định quy về nhiệm vụ của những người cấp dưới như y tá, y công. Đối với ngành y, bịnh nhân là khách hàng mà bác sĩ phải phục vụ đến nơi đến chốn, không vì lý do mệt mỏi, quan liêu do thứ bậc, mà quên thân phận người phục vụ của bản thân mình. Tính chuyên nghiệp cao độ còn đòi hỏi sự thể hiện phù hợp của ngôn ngữ cử chỉ mà nét mặt và ánh mắt đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Hết lòng phục vụ bịnh nhân: đó là tôn chỉ duy nhất đúng của một bác sĩ thực thụ, được đào tạo bài bản, hiểu rõ thế nào là đạo đức nghề nghiệp, và thành công ở phương Tây.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng tính chuyên nghiệp buộc bác sĩ phải không ngừng nghiên cứu y dược, không vì khoản tiền hoa hồng của các công ty dược mà dại dột kê đơn vô tội vạ, xâm hại sức khỏe và tính mạng bịnh nhân.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng bổn phận của mình không những luôn nêu gương sáng bản thân mà còn không ngừng răn đe, giám sát, giáo dục tập thể nhân viên y tế dưới quyền tại đơn vị phải luôn đặc biệt chăm sóc tất cả các bịnh nhân, lễ độ với thân nhân bịnh nhân, và thể hiện tính chuyên nghiệp cao nhất trong sự phục vụ của mình.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng việc nêu “đồng lương không đủ sống” hay thiếu kinh phí gì gì đó để rồi sự phục vụ trở nên bầy hầy, yếu kém, làm xấu hổ ngành y chỉ là cái cớ của những kẻ không có lòng tự trọng hay danh dự vì nếu không chấp nhận hoàn cảnh hãy nghĩ việc để nhường chỗ lại cho những bác sĩ, y sĩ, y tá, mới ra trường.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng những bộ phim Hollywood không chỉ đơn thuần là giải trí khi nêu những cốt truyện trả thù đẫm máu và khủng khiếp kinh hoàng của thân nhân người bịnh đối với y bác sĩ nào đã tắc trách trong chữa trị dẫn đến tử vong hay tàn phế của người thân yêu của họ, mà là lời cảnh báo về tinh thần trách nhiệm, sự cẩn trọng trong tác nghiệp của những người làm công việc đầy khó khăn và nhạy cảm của ngành y.

Kính mong quý bác sĩ hãy vì sự an nguy của bản thân và gia đình mà hết lòng chăm lo cho sự an nguy của bịnh nhân và gia đình bịnh nhân, để ngay cả khi kết quả của sự tận tâm là sự bó tay của y học thì vị-bác-sĩ-tận-tâm-với-đôi-dòng-nước-mắt vẫn được gia định bịnh nhân quá cố nể trọng, gần gũi, kính phục, vinh danh.

Tham khảo những bài viết cùng chủ để y tế:

– Hoàng Hữu Phước. 28-3-2010. Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi. http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

– Hoàng Hữu Phước. 04-4-2010. Hỡi ơi những thiên thần áo trắnghttp://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hội Chứng Bầy Đàn

Hoang Huu Phuoc, MIB

20-8-2013

Nhân đọc báo Kiểm Toán số 30(56) ra ngày 25-7-2013 có bài “Ta đang ở đâu trên thế giới này?” của Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan đăng ở trang 1 trong mục Chuyện Trong Tuần, tôi thấy cực kỳ thất vọng. Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan đã dựa vào hai báo cáo của Ngân hàng Thế giới gồm bản Cập nhật kinh tế Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2013 và dự báo triển vọng cả năm; còn báo cáo kia là bảng xếp hạng 177 nền kinh tế thế giới trong đó Việt Nam đứng thứ 42 trên thế giới và thứ 6 trong khối ASEAN, để nêu ra vài chi tiết mang tính so sánh xem Việt Nam thua những ai và những ai đã vượt qua Việt Nam để rồi kết luận như một kẻ chưa-bao-giờ-làm-chuyên-gia bằng câu hỏi: “làm thế nào đây để không phải nhìn con tầu kinh tế khu vực và thế giới chạy vun vút, bỏ ta lại sân ga?”

HCBD (1)

Cách phát biểu này rất tăm tối mơ hồ và an toàn một cách khôn ngoan vì Bà Lan không nêu cụ thể bất kỳ một giải pháp nào để hiến kế với nhà nước hoặc chí ít cũng phân tích vấn đề một cách đầy đủ trên cương vị một chuyên gia đã từng được nhà nước đào tạo và giao trọng trách làm lãnh đạo cao cấp của VCCI trong suốt nhiều năm.

Làm “chuyên gia” hưởng lương nhà nước kể cả lương hưu – tức sống bằng tiền thuế của người dân – thì có bốn việc phải hoàn thành đối với một chuyên gia, đó là (a) làm tròn trọng trách chuyên môn vì là chuyên gia, (b) làm tròn trọng trách chuyên môn ở mức độ chất lượng cao nhất và hiệu quả cao nhất vì đó là thể hiện tính chuyên nghiệp vốn luôn đòi hỏi tinh thần trách nhiệm, (c) chuyên tâm với công việc chuyên môn của đẳng cấp chuyên gia, và (d) chuyên chú vào việc đem chuyên môn ra phục vụ quốc gia, dân tộc. Nhiều chuyên gia kinh tế đã không làm tròn trọng trách chuyên môn, không tuân thủ tính chuyên nghiệp, không chuyên tâm vào nhiệm vụ được giao, và không chuyên chú đem chuyên môn ra phục vụ đất nước, trả món nợ với nhân dân. Không giúp ích gì được cho đất nước này, đề xuất toàn những sách lược kinh tế vô trách nhiệm, đẩy đất nước không vào vị thế tối ưu, không đủ khả năng viết lách bất cứ công trình công trình nào cho hậu thế như các nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel, mà chỉ dựa vào cái bằng tiến sĩ, thạc sĩ, hay cái tước hiệu chuyên gia, để núp trong chiếc áo trí thức mà không biết thế nào mới được gọi là nhà trí thức, và cái ô nhân sĩ mà chớ hiểu phải ra sao mới được gọi là nhân sĩ. Rồi cứ như để chữa thẹn bản thân không làm gì nên thân, chả viết gì được nên hồn, hễ ai rủ rê là cứ ký tên vào kiến nghị hay thỉnh nguyện thư hay cái vớ vẩn gì đấy theo bầy đàn để được công chúng hiểu lầm là có đóng góp công sức tạo nên cái công trình kiến nghị tâm huyết ấy, và để được gọi là nhân sĩ, là trí thức.  Điều này làm tôi nhớ lại khi thấy các vị nhân sĩ-trí thức hè nhau ký tên vào một bức thư chung gởi chính phủ về vấn đề  bô-xít, tôi đã đăng một bài viết trên Emotino dài 17 trang vào lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày 26-10-2010 với tiêu đề “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước”, nhằm cho quý vị “ký tên chung” ấy biết một “chuyên gia” thực thụ thực sự hàn lâm và có trách nhiệm đối với không những chính kiến của mình mà còn với các đề xuất cho một sự sửa đổi hay thay thế, sẽ độc lập ra sao trong nghiên cứu, phản biện, và đề đạt ý kiến hay nguyện vọng. Nguyên văn bài Bô-xít được lập lại như dưới đây trước khi đi đến phần kết luận của bài viết này.

*********

Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam

– Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước –

(http://www.emotino.com/bai-viet/18859/van-de-boxit-o-viet-nam)

Hoang Huu Phuoc, MIB

26-10-2010

 HCBD (3)

Dẫn Nhập: Sự Yếu Ớt Của Số Đông & Giải Thích Thuật Ngữ

Từ năm 2008 đã có nhiều tranh luận (thường được gọi sai là phản biện) trên báo chí Việt Nam về dự án khai thác bauxite (bô-xít) ở vùng Tây Nguyên, kể cả bọn Việt Kiều chống Cộng cũng mừng vui nhao nhao nói nhặng lên như thể rất quan tâm xót xa đến tiền đồ Việt Nam mà Nhà Nước Cộng Sản đang đan tâm phá hỏng, được cộng hưởng hòa âm điền dã với phản ứng điên dại của một gã cơ hội gởi đơn kiện Thủ Tướng Việt Nam vì đã thông qua dự án này. Gần đây nhất là sự cố vỡ đập bên Hungary khiến tuôn trào ra môi trường bao triệu mét khối bùn đỏ – thứ chất thải loại sau quá trình khai thác bauxite – khiến dấy lên mối quan ngại sâu sắc trong một bộ phận dân chúng Việt Nam, được làm trầm trọng thêm từ hai thái cực giữa một bên là số đông yếu ớt những người phát biểu miệng trước báo giới về những lo ngại rồi cùng nhau viết nên kiến nghị để cùng k‎ý tên gởi Đảng và Chính Phủ Việt Nam mà không trên cơ sở nghiên cứu chỉnh chu cùng nhận thức đầy đủ bao trùm nên bao gồm những lo lắng và kiến nghị, với một bên là các quan chức Nhà Nước bình tĩnh khẳng định mức độ an toàn cao của dự án cùng ngụ ý sự việc không thể đảo dời mà không trên cơ sở dẫn chứng nghiên cứu chỉnh chu cùng nhận thức đầy đủ bao trùm mang tính thuyết phục cao hơn. Bài viết này do đó nhằm cung cấp những lập luận thấu tình đạt lý, với các dẫn chứng thực tế mang tính khẳng định khai thác bauxite là việc cực kỳ bình thường, và thực chất vấn đề nằm ở nội dung nghiêm trọng hoàn toàn khác theo kết luận của phân tích.

Để phục vụ cho bài viết này, phần định nghĩa sau cung cấp ý nghĩa các thuật ngữ đúng như mong muốn của người viết cả trong diễn đạt ngữ nghĩa và biểu đạt tu từ của định hướng hàn lâm:

Bauxite: dùng theo tiếng Anh, không theo kiểu Việt hóa phiên âm tiếng Việt bô-xít vốn nên chấm dứt sử dụng tại Việt Nam trong thời đại cách tân.

Cyanide: dùng theo tiếng Anh, không theo kiểu Việt hóa phiên âm tiếng Việt xi-a-nuya vốn nên chấm dứt sử dụng tại Việt Nam trong thời đại cách tân.

Phản Biện: hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống thứ yếu có thể cản trở để tìm lời giải đáp thuyết phục, giúp sự việc chính yếu trở nên có tính thuyết phục cao nhất có thể được. Người Việt hay dùng lẫn Phản Biện với Tranh Luận, nhầm nghĩa Phản Biện với Phản Bác hay Phản Đối, và chưa nhận định rõ ý nghĩa của Phản trong Phản Biện không hàm nghĩa chống lại như trong Phản Bác hay Phản Đối. Phản BiệnỦng Hộ là hai hình thức khác nhau của sự đồng tình.

Ủng Hộ: hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách bổ sung những tình huống thứ yếu mang tính giá trị cộng thêm mà không cần có những bổ sung ấy bản thân sự việc cũng đã có sức thuyết phục cao nhất. Ủng HộPhản Biện là hai hình thức khác nhau của sự đồng tình.

Tranh Luận: hình thức bày tỏ sự chưa đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống chính yếu hoặc thứ yếu để đối đáp hoặc đối thoại tìm lời giải đáp mà kết quả là sự thắng thế của một bên, hoặc hậu quả là sự gãy đổ của một lập luận, hay hệ quả là tiến trình bảo lưu các nội dung đối kháng cho đến khi có tư liệu mới trong một thời điểm thích hợp mới. Theo ý nghĩa duy nhất đúng đắn này, tranh luận sẽ được dùng xuyên suốt bài viết này.

 

II- Tài Nguyên Thiên Nhiên & Thảm Họa Môi Trường

 A- Vấn Đề Muôn Thủa

Đã là tài nguyên thiên nhiên thì mọi hình thức khai thác dù sơ khai thô thiển thủ công quy mô nhỏ hay hiện đại tự động hóa quy mô lớn thì vẫn gây tác động xấu đến môi trường sống và cuộc sống con người. Bauxite chỉ là một thứ khoáng chất mà sự bình tĩnh của dư luận rất cần thiết, nhất là bauxite chưa bao giờ được liệt kê vào danh mục 10 tai họa nhãn tiền – tác động nguy hiểm ngay lập tức – đối với môi trường mà không thể ngăn chặn được ngay cả khi đã từng xảy ra nhiều thảm họa. Bauxite có thể tiềm tàng một nguy cơ cực kỳ hiếm khi xảy ra và dễ đề ra các biện pháp ngăn chặn một khi đã có sự cố thực sự xảy ra ở một nơi nào đó trên thế giới.

Do đó, trước khi bàn đến bauxite, các phân tích sau mời gọi sự quan tâm của cộng đồng đến những vấn đề khủng khiếp để có sự điềm tĩnh cần thiết trong tranh luận về bauxite.

B- Mười Tai Họa Nhãn Tiền Đối Với Môi Trường

Những tai họa sau xảy ra nhãn tiền đối với môi trường sống và cuộc sống của cư dân trên hành tinh này.

1) Khai Thác Vàng với Sáu Điều Tàn Độc

Khai thác vàng thường đi đôi với việc sử dụng các hóa chất độc hại để trích xuất hay bóc tách qu‎ý kim và bảo thạch. Tai họa nhãn tiền xảy đến trước tiên với những thợ mỏ trực tiếp tham gia khai thác vàng khi làm việc tiếp xúc thường xuyên với độc chất, tuôn các chất độc như thủy ngân và cyanide vào nguồn nước và không khí, gây hại dây chuyền cho gia đình thợ mỏ cùng cộng đồng dân cư xung quanh. Đặc biệt nghiêm trọng khi thủy ngân phát tán rộng xa khu vực mỏ dưới dạng methyl thủy ngân, một trong số những độc tố nguy hiểm nhất đối với hệ thần kinh các sinh vật sống trong đó có con người và gây nhiễm bẩn đến chuỗi thức ăn qua hiện tượng tích tụ sinh học. Số liệu của Tổ Chức Phát Triển Công Nghiệp Liên Hợp Quốc UNIDO cung cấp những thông tin đầy quan ngại như trên thế giới có khoảng 15 triệu thợ mỏ vàng, trong đó có gần 5 triệu phụ nữ và hơn nửa triệu trẻ em, và mỗi năm có 1000 tấn thủy ngân tức 95% tổng lượng thủy ngân sử dụng trong khai thác vàng đã được thải ra tự nhiên, chiếm đến 30% tổng lượng thủy ngân do con người thải ra thiên nhiên mỗi năm trên toàn thế giới, gây tác hại mọi mặt về kinh tế, môi trường, và sức khỏe giống nòi. Một nghiên cứu khác ở Peru còn cho thấy cứ mỗi gram vàng thu được, người ta đã thải vào khí quyển ít nhất 2 gram thủy ngân, chất có thể gây ra các chứng bệnh thận, viêm khớp, sẩy thai, mất trí nhớ, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, hô hấp, bại não, và tử vong. Thế giới đã nêu nhiều điều tàn hại nhãn tiền của khai thác mỏ vàng đối với môi trường, trong đó có sáu nội dung nghiêm trọng nhất như sau:

a- Diệt Chủng

Lịch sử loài người đã ghi lại rằng mỗi một cuộc đổ xô tìm vàng đều đồng nghĩa với sự giết chóc, tiêu diệt, và tàn phá. Những cư dân bản địa vùng California (Hoa Kỳ) chỉ còn lại 10% dân số, còn thổ dân Galamsey (Tây Phi), Igorot (Philippines), và Macuxi cùng Yanomami (lưu vực sông Amazon, Brazil) đều bên bờ tuyệt diệt. Điển hình là thổ dân Yanomami từ 20.000 người nay chỉ còn 8.000 người sống sót sau khi 40.000 thợ mỏ đổ xô đến đãi vàng năm 1989 gây ô nhiễm các dòng sông, đem bệnh tật đến dân bản địa và muông thú.

b- Hủy Nước

Tàn hại nước và nguồn nước được xem như hậu quả khủng khiếp nhất mà ngành khai thác mỏ vàng gây ra cho môi trường sinh thái. Từ vùng Sierra Nevada ở Bang California Hoa Kỳ trong những năm 1850 đến lãnh địa tộc người Pemon của dân Amerindian tại Venezuela hiện nay, thợ mỏ đã hủy hoại các dòng sông bằng cách cày nát bờ sông đãi khoáng vàng, tiêu diệt thực vật và các giống thủy sinh. Thậm chí công nghệ kỹ thuật cao sử dụng trong khai thác vàng như tại mỏ Nevada – chiếm phần lớn sản lượng vàng của Hoa Kỳ – lại thậm chí hủy phá nguồn nước ghê gớm hơn vì sử dụng lượng nước nhiều hơn lượng tiêu thụ của dân cư toàn tiểu bang. Kết quả điều tra địa chất Hoa Kỳ US Geological Survey cho thấy tình hình nghiêm trọng của mực nước tụt xuống đến 300 mét tại một số mỏ ở Nevada, và một mỏ tiêu thụ mỗi ngày hết 380 triệu lít nước, bằng tổng lượng nước sử dụng cho dân cư thủ phủ Austin của tiểu bang Texas. Tồi tệ hơn nữa là hệ thống thủy lợi và nguồn nước quanh vùng chưa sử dụng đến cũng trở nên không thể sử dụng được do bị nhiễm độc bởi các hóa chất trong đó có cyanide.

c- Hủy Đá

Để có một dây chuyền vàng bình thường cho một cô dâu, ít nhất gần 3 tấn đất đá đã bị đào xới, đập vụn. Viện Worldwatch điều tra với kết quả sản lượng 2.402 tấn vàng khai thác được trong năm 1997, đã có 725 triệu tấn đất đá bị hủy hoại, thậm chí không thể sử dụng được do nhiễm kim loại, acid, và hóa chất dung môi. Tỷ lệ tiêu chuẩn của kỹ nghệ khai thác mỏ vàng ở Hoa Kỳ là 1/3.000.000, nghĩa là cứ mỗi tấn vàng thu được sẽ có 3 triệu tấn đá phế thải. Những gì còn lại sau khi một mỏ vàng đã được khai thác hết sẽ là địa hình đá nham nhở bị bóc thịt trần, môi trường hủy hoại và với một giá sinh thái cực đắt.

d- Độc Chất Cyanide

Cyanide là hóa chất chủ lực trong tách vàng ra từ quặng. Vào năm 1998, một vụ tràn cyanide tại một mỏ vàng thuộc sở hữu của một công ty Canada ở nước Kyrgyzstan đã làm bốn người chết và hàng ngàn người phải sơ tán khỏi vùng hạ lưu. Còn dân chúng tiểu bang Colorado đã phải mất 100 triệu USD chi cho Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường EPA chỉ để khoanh vùng nhiễm độc của các con sông chứ chưa thể tẩy độc chúng sau sự cố ở mỏ vàng Summitville.

e- Độc Chất Thủy Ngân

Nhiều trăm năm nay, thủy ngân được dùng để tách vàng khỏi quặng, và đã gây ra bao bệnh tật cho thợ mỏ và cộng đồng dân cư quanh mỏ. Trong thời đổ xô tìm vàng ở Bang California đã có gần 8.000 tấn thủy ngân bị thải vào sông ngòi, ao hồ, gây ra nhiều bệnh tật về thần kinh và tử vong của dân cư. Thậm chí hơn 50% lượng thủy ngân hiện nay còn đang treo lơ lửng ám áng vùng Vịnh San Francisco là phần còn sót lại của cuộc đổ xô tìm vàng năm 1849, tức cách nay những 200 năm.

f- Gây Hại Hệ Sinh Thái

Tình trạng nhiễm độc nước, tàn hại môi trường sống và hủy phá đa dạng sinh học, công nghiệp hóa vùng nguyên sơ, xây dựng cầu đường, và vấn nạn núi rác thải ở những vùng khai thác mỏ vàng đã gây những tác động tiêu cực đến môi trường khu vực. Ngành đánh bắt thủy sản đặc biệt bị ảnh hưởng do tình trạng bùn đất và độc chất từ mỏ vàng chảy vào sông ngòi, còn động vật hoang dã thì chết vô số. Năm 1990 người ta đã đếm được 7.000 chim muông chết cạnh các hồ nhiễm cyanide tại các mỏ vàng ở các bang California, Nevada, và Arizona. Chỉ riêng việc khai thác vàng đã bóc tách khỏi vỏ trái đất và đẩy đi một lớp đất đá nhiều hơn lượng đất đá bị các sông ngòi trên toàn thế giới xói mòn theo quy trình tự nhiên.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: TRƯỚC CÁC DỮ LIỆU NGUY HẠI NHÃN TIỀN NÊU TRÊN MÀ MỨC ĐỘ TÀN KHỐC VƯỢT XA TAI NẠN BAUXITE, LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ SẼ ĐỀ NGHỊ CẤM KHAI THÁC VÀNG KHÔNG NẾU VIỆT NAM CÓ NHỮNG MỎ VÀNG LỚN THIÊN NHIÊN BAN TẶNG?

2)   Nhiễm Bẩn Nước Ngầm

Nhiễm bẩn nước ngầm là đại họa môi trường thứ hai mà loài người và dân chúng ở từng quốc gia phải quan ngại ưu tiên. Nước ngầm được hình thành từ nước dưới lớp đất thịt tích tụ trong những khoang trống dưới lòng đất theo cấu tạo địa chất hoặc từ sự thẩm thấu từ mặt đất của nước mưa hay tuyết tan, hoặc từ các khe nứt dưới đáy các sông hồ; hoặc từ nước bị lưu giữa các địa tầng hóa thạch thời khai thiên lập địa. Đây là nguồn nước ngọt cực kỳ quan trọng, chiếm 97% trữ lượng nước ngọt mà nhân loại có thể tiếp cận được cho sự sống, nhất là khi chỉ có 6% nước ngọt trên tổng lượng nước của địa cầu, và 0.3% có thể uống được. Song, vấn nạn thời đại là đã không có những biện pháp hữu hiệu mang tính chiến lược cấp quốc gia trong bảo vệ nước ngầm cho các thế hệ mai sau, khiến việc đào xới đất đai vô tổ chức, xây dựng hạ tầng thiếu nghiên cứu khoa học bảo vệ địa tầng nước ngầm, khai thác nước ngầm tùy tiện, đã làm nước ngầm bị nhiễm bẩn, nhiễm độc, và thậm chí không thể sử dụng được cho sự sinh tồn của con người dưới sức nặng tàn phá của đô thị hóa, kỹ nghệ hóa, tưới tiêu canh nông tùy tiện, và tiêu dùng cá nhân sai mục đích. Tác động đến nước ngầm còn đến từ hóa chất độc hại trong quá trình khai khoáng, sự lạm dụng hóa mỹ phẩm trong đời sống hàng ngày như chất tẩy rửa và tắm gội, sự chôn lấp tùy tiện rác kỹ nghệ và chất thải công nghiệp cũng như sự lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, có thể gây ra bệnh tật như ung thư, mất khả năng sinh sản hoặc sinh quái thai, tiêu chảy cấp, v.v., cho dân cư.

Nhiễm bẩn nước ngầm do đó là một đòi hỏi bức thiết phải giải quyết ngay vì sự sống hiện nay và sự tồn tại của thế hệ mai sau của mỗi dân tộc.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: SAO CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CHỈ ĐỀ NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE VÌ LO SỢ SỰ CỐ HÃN HỮU CÓ THỂ XẢY RA THAY VÌ NGƯNG KHAI THÁC NƯỚC NGẦM VÔ TỘI VẠ MÀ THẾ GIỚI ĐÃ CẢNH BÁO TỪ LÂU ĐỂ LO CHO THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT MAI SAU?

3)   Kỹ Nghệ Khai Khoáng (Khai Thác Khoáng Sản)

Kỹ nghệ khai khoáng bao gồm các hoạt động khai thác kim loại và khoáng chất nói chung, từ vô hại đến cực độc, và từ bình thường đến có giá trị cao. Những vấn nạn ô nhiễm thường gặp từ hoạt động khai khoáng bao gồm việc vứt bỏ hay xử lý chất thải loại và phế loại. Chất thải loại chủ yếu là những loại bùn và đất đá còn lại sau khi đã trích ly hay bóc tách để thu những phần quặng có giá trị, kèm theo những dư chất độc hại của các loại hóa chất sử dụng trong quy trình khai thác, khi được thải tuôn ra các hệ thống sông ngòi sẽ gây tác động tiêu cực đến hệ thủy sinh và thực vật của cả khu vực hạ lưu, gây hại cho các nông trang và thảm thực vật đáy sông, chưa kể làm hẹp lòng sông gây ra lũ lụt nghiêm trọng và thường xuyên chứ không chỉ nạn phá rừng là nguyên nhân của lụt lội.

Tác hại đến sức khỏe dân cư từ các hoạt động khai khoáng bất kỳ đều bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các bệnh l‎ý kinh niên ở mắt, cổ họng, mũi, da, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, suy thận, hư gan, các chứng ung thư, hủy hoại hệ thần kinh, bộ phận sinh dục, và sinh quái thai.

Gần đây đã xảy ra một sự cố đặc biệt nghiêm trọng chưa từng được biết đến trong toàn bộ lịch sử cận đại của nhân loại khi nổ dàn khoan và khai thác dầu khí của tập đoàn BP Anh Quốc ở Vịnh Mexico trên thềm lục địa Hoa Kỳ gần vùng châu thổ sông Mississippi từ ngày 20-4-2010 đến ngày 19-9-2010, làm thoát ra đại dương 791 triệu lít dầu thô (640.000 mét khối) tạo vết loang rộng 128.000 km2, gây ra thảm họa sinh thái khủng khiếp cho môi trường sống sinh vật hoang dã và sinh vật biển, ngành đánh bắt hải sản và du lịch.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TIẾP THEO SAU KIẾN NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE CÓ LẠI SẼ CỰC ĐOAN ĐỀ NGHỊ HỦY BỎ TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI KHOÁNG, CHẤM DỨT TẤT CẢ CÁC VIỆC THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU HỎA DO THẤY CÓ SỰ CỐ BP Ở VỊNH MEXICO, BIẾN VIỆT NAM THÀNH QUỐC GIA DUY NHÁT TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGÀNH KHAI KHOÁNG ?

4)   Kỹ Nghệ Luyện Kim

Khi nói đến kỹ nghệ luyện kim không thể không nhắc đến những kim loại được “luyện” như đồng, chì, kẽm, bạc, cobalt, cadmium, v.v. , chứ không chỉ là cán kéo sắt thép xây dựng. Quy trình luyện kim có qua sử dụng nguồn nhiệt từ than cốc hay than củi hay một nguồn nhiệt khác. Các chất cực kỳ độc hại thải vào khí quyển với khối lượng thể tích khổng lồ gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – hydrogen fluoride (HF), sulfur dioxide (SO2), nitric oxide (NO), nitrogen dioxide (NO2), khói bụi đậm đặc độc hại, khí độc và các chất độc, chưa kể khối lượng kim loại nặng như chì, thạch tín, chromium, cadmium, nickel, đồng và kẽm cũng bị phát tán. Thêm vào đó, việc sử dụng khối lượng lớn các acid trong một số quy trình luyện kim cũng khiến phát tán sulfuric acid (H2SO4) và carbon dioxide (CO2 ). Những ống khói cao mọc lên như nấm với những cột khói khổng lồ của thời kỳ phát triển công nghiệp đã gây ra hiện tượng sương khói nguy hiểm, chứa khí bẩn ozone (O3), carbon monoxide (CO) và các khí độc khác; chưa kể các phân tử bụi kim loại theo gió bay xa có thể làm ô nhiễm đất canh tác và mặt nước.

Những tác hại nhãn tiền đến với sức khỏe con người trước hết là những nhân lực phục vụ ngành luyện kim luôn trực tiếp tiếp xúc với chất gây ô nhiễm, sau đó là đến những cư dân quanh vùng hoặc sử dụng thực phẩm nuôi trồng hay đánh bắt từ mặt đất và mặt nước bị nhiễm độc, dẫn đến những bệnh kinh niên nghiêm trọng như bệnh tim, phổi, thai chết lưu, sinh quái thai, đau thận, suy gan, đau mắt/mũi/họng, hệ tiêu hóa, đau khớp, hô hấp, và hệ sinh dục.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN NƠI CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ THẬM CHÍ VỚI HỆ QUẢ NGHIÊM TRỌNG CỦA HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH ĐANG ĐE DỌA TRỰC TIẾP NHIỀU TRIỆU NGƯỜI DÂN VIỆT NAM TIẾP THEO SAU KIẾN NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE CÓ LẠI SẼ CỰC ĐOAN ĐỀ NGHỊ HỦY BỎ TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG LUYỆN KIM, BIẾN VIỆT NAM THÀNH QUỐC GIA DUY NHÁT TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGÀNH CÔNG NGHIỆP NẶNG?

5)   Mỏ Uranium và Chất Thải Phóng Xạ

Các chất phóng xạ và chất thải phóng xạ là những nguồn phát tán phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người. Nguyên liệu phóng xạ được dùng cho ngành điện lực, phục vụ các mục đích quân sự, và trong chữa trị hay phân tích y tế. Có bốn loại phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người như phân rã Alpha, Beta, và Gammy cùng phóng xạ Neutron. Việc khai thác mỏ Uranium trên thế giới đặt ra mối quan ngại sâu sắc do mười nước sản xuất uranium nhiều nhất thế giới lại toàn là những quốc gia có thu nhập thấp và không phải luôn đáp ứng được các yêu cầu kỹ nghệ tốt nhất, như Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraine và Trung Quốc.

Do hàm lượng uranium trong quặng cực thấp, vấn đề trở nên nghiêm trọng do lượng bùn đất thải loại vừa rất cao lại vừa chứa lượng phóng xạ cao, đến 85% lượng phóng xạ ban đầu của quặng khi chưa tách xuất. Độ đậm đặc phóng xạ càng cao khi bãi chứa chất thải tập trung tại một khu vực, và sự phát tán còn làm nhiễm xạ sông suối ao hồ do hoạt động bơm nước ra khỏi mỏ trong quá trình khai khoáng.

Hoạt động phóng xạ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể sống của con người bằng nhiều cách mang tính bi kịch, tấn công toàn bộ hệ chức năng cơ thể, gây ra nhiều chứng ung thư di truyền cho nhiều thế hệ sau đó. Không có mức độ an toàn bất kỳ trong việc bị nhiễm phóng xạ vì độ nhiễm cao có thể dẫn đến tử vong sau vài giờ, trong khi mức độ không chết người của phóng xạ lại gây ra thay đổi về huyết học, nôn mửa, kiệt sức, và biến đổi gen di truyền, hệ quả là thị lực giảm, bộ não teo nhỏ, phát triển chậm hoặc bất thường, và thiểu năng trí tuệ.

Việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và viện hạt nhân ở mỗi quốc gia đều tiềm tàng những nguy cơ nhiễm xạ đối với các nhân viên làm việc tại đó, gia đình họ, và dân cư quanh vùng, chưa kể vấn đề an ninh yếu kém có thể dẫn đến sự cố mất trộm các thanh uranium ra ngoài hay việc phá hoại hoặc tai nạn ngẫu nhiên như vụ nổ nhà máy điện Chernobyl của Ukraine ngày 26-4-1986 gây thảm họa cho dân cư tại chỗ và nhiều quốc gia lân cận mà di chứng còn đến tận ngày nay.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN CỦA PHÓNG XẠ NGUYÊN TỬ KHÔNG NHỮNG ĐẾN MẠNG SỐNG NGƯỜI DÂN MÀ CÒN ĐẾN HỆ DI TRUYỀN NÒI GIỐNG VIỆT, CÓ SẼ VẪN KHÔNG CHO ĐÂY LÀ VIỆC QUAN TRỌNG HOẶC SẼ ĐỀ NGHỊ KHÔNG XÂY DỰNG BẤT KỲ NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN HAY BẤT KỲ VIỆN NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN NÀO TẠI VIỆT NAM SAU KHI TRANH LUẬN XONG VỀ DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

6)   Nước Cống Rãnh Không Qua Xử Lý

Nước cống rãnh gồm các loại chất thải dạng lỏng từ chất thải của con người và chất thải phi công nghiệp từ sinh hoạt tắm gội giặt giũ của con người. Tại các vùng nghèo trên thế giới, cống rãnh được cho chảy vào sông rạch tại chỗ. Nước cống không qua xử lý có thể gây bệnh tật nghiêm trọng cho con người vì có chứa các mầm bệnh lây lan qua nước uống, hủy phá hệ sinh thái thủy, đe dọa môi trường sống con người khi mức ô-xy sinh học đồng hành và các dưỡng chất trong nước ở mức thấp hơn mức có thể duy trì sự sống.

Tổ chức World Health Organization (WHO) năm 2008 ước tính có 2,6 tỷ người không tiếp cận được các điều kiện vệ sinh tốt hơn, theo đó 37% thuộc khu vực Hạ Sahara Châu Phi, 38% Nam Á, và 45% Đông Á, và mỗi năm có 1,5 triệu ca tử vong do nước không an toàn mà lẽ ra đã có thể cứu sống được. Việt Nam hiện đang phải đương đầu với vấn đề nước cống kể cả ngay tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Nước cống có thể tràn lan theo triều cường, xâm nhập vào hệ thống nước ngầm hoặc hệ thống nước máy sinh hoạt, dẫn đến lan truyền các dịch bệnh do người dân vô tình uống phải hoặc tắm gội từ nước máy bị nhiễm, dẫn đến các bịnh về da, mắt, tai, hoặc các bịnh truyền nhiễm hiểm nghèo như dịch tả, thương hàn, kiết lỵ, giun, sán sơ mít, viêm gan siêu vi A, và vô số các bịnh khác.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN CỦA NƯỚC CỐNG ĐANG GÂY HỌA CHO SINH MẠNG NGƯỜI DÂN VÀ LÀM XẤU HÌNH ẢNH MỘT DÂN TỘC MẤT VỆ SINH TRƯỚC MẮT THẾ GIỚI CÓ SẼ TIẾP TỤC ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

7)   Ô Nhiễm Không Khí Chốn Thị Thành

Có hai tác nhân gây ra ô nhiễm không khí chốn thị thành là (a) chính cấp như khói từ việc đốt cháy nguyên liệu hóa thạch như từ xe cộ, nhà máy, hoạt động sản xuất công nghiệp, chất thải nông nghiệp làm biogas, gió bụi tự nhiên, kể cả sự hô hấp của thực vật; và (b) thứ cấp gồm các phản ứng hóa học khi các tác nhân chính cấp tương tác với ánh nắng, khí ô-xy, nước và các hóa chất khác có sẵn trong không khí. Các chất chính gây ô nhiễm không khí thường gặp là PM, O3, NO2, và SO2.

Tổ chức WHO ước tính mỗi năm trên thế giới có gần một triệu người tử vong do những bịnh lý từ ô nhiễm không khí ngoài trời ở thành thị. Dân cư sống gần nhà máy điện, các nhà máy sản xuất, xa lộ hay các tuyến giao thông chính thường chịu phơi nhiễm với lượng khí bẩn độc hại nhiều hơn và lâu dài hơn, dẫn đến nguy cơ mắc phải các chứng bệnh kinh niên nghiêm trọng như bệnh phổi, tim mạch, hô hấp, các bệnh ung thư như ung thư phổi, hen suyễn trầm trọng, viêm phế quản mãn tính, đặc biệt đối với trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, và người già, làm gia tăng số lượng tử vong hàng năm. Những nỗ lực nhằm gia giảm ô nhiễm không khí ngoài trời nơi thành thị bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – loại hẳn xăng pha chì khỏi thị trường, quy định chặt chẽ về lượng khí thải của xe, và phát triển hệ thống giao thông công cộng như xe bus và xe điện.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ ĐANG SỐNG TẠI THÀNH THỊ VÀ CÓ NHẬN THỨC ĐẦY ĐỦ VỀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ NGOÀI TRỜI TẠI THÀNH THỊ HAY KHÔNG, CÓ XEM MỌI ĐẦU TƯ VÀ NỖ LỰC TRƯỚC MẮT VÀ DÀI HẠN NÊN DÀNH VÀO VIỆC LÀM GIA GIẢM SỰ XUỐNG CẤP NGHIÊM TRỌNG CỦA KHÔNG KHÍ CÁC THÀNH PHỐ, HAY VẪN XEM MỌI ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

 8)   Tái Chế Pin-Ắc Quy Chì

Chì được dùng trong bình ắc-quy ô-tô trên toàn thế giới, và khi bình ắc-quy không còn sử dụng được, nó trở thành ULAB tức bình ắc-quy chì đã qua sử dụng và bị Công Ước Basel liệt vào hàng phế thải độc hại. Chì tái chế là thứ hàng hóa có giá trị và mua ULAB từ các nước công nghiệp để tái chế thu hồi chì là thứ công việc sinh lợi đối với nhiều dân cư các nước đang phát triển, thậm chí tiến hành nấu chảy thu hồi chì tại nhà trong khu dân cư khiến gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinh thái. Hàng năm 6 triệu tấn chì được sử dụng trên thế giới và ¾ dành cho sản xuất bình ắc-quy dành cho xe ô-tô, hệ quả là làm gia tăng các hoạt động tái chế thu hồi chì, gây nhiễm độc cho người trực tiếp tái chế, cả cộng đồng dân cư, nguồn nước, không khí, và đất trồng trọt. Sự nhiễm độc nặng xảy ra khi hít thở phải bụi chì, khói chì hay hơi chì, và trong thời gian dài. Đặc biệt nghiêm trọng do chì có thể thâm nhập vào cơ thể người qua phổi và miệng, tích tụ ở các mô xương, gây còi cọc chậm phát triển, hư thận, chậm phát triển trí não, thậm chí tử vong. Dấu hiệu của nhiễm độc chì gồm kiệt sức, đau đầu, nhức xương, đau cơ bắp, nghểnh ngãng, biếng ăn, ngủ chập chờn, đau bụng; tình trạng nặng hơn còn gây ra co giật, hôn mê, sốt cao. Trẻ em bị nặng hơn, với biến chứng bại não; còn phụ nữ mang thai bị nhiễm độc chì có nguy cơ chết lưu thai hoặc sinh quái thai.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ NHẬN RA ĐIỀU ĐANG ĐE DỌA CUỘC SỐNG CỦA DÂN NGHÈO TỪ VIỆC TÁI CHẾ THU HỒI CÁC LOẠI KIM LOẠI ĐỘC HẠI CHÍNH LÀ ĐIỀU CẦN ƯU TIÊN GIẢI QUYẾT TỪ NHỮNG ĐẦU TƯ HUẤN NGHIỆP, HỖ TRỢ MUA SẮM TRANG THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ THÍCH HƠP ĐỂ GIA GIẢM NGUY CƠ NHIỄM ĐỘC VÀ GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, MÀ VIỆC ĐẦU TƯ NÀY CẦN ĐẾN NHIỀU NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CÓ THỂ CÓ ĐƯỢC TỪ KHAI THÁC BAUXITE, THAY VÌ VẪN XEM MỌI ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

9)   Nhiễm Bẩn Nước Sông

Mỗi người hàng ngày cần 20 lít nước sạch để sinh tồn. Song, sự gia tăng dân số, sự phát triển mạnh công kỹ nghệ, cùng tình trạng gây nhiễm bẩn cho nguồn nước khiến nguồn nước hiện có trở nên ngày càng có tỷ lệ không dùng được cao hơn. Nhiều dòng sông không còn sự sống sinh học và trở nên độc hại, khiến con người phải sử dụng đến nguồn nước ngầm dưới lòng đất dù thậm chí ngày nay ngay cả nước ngầm cũng bị ô nhiễm nặng. Vấn đề hàng triệu cư dân sống ở lưu vực một con sông cũng đủ khiến việc kiểm soát ô nhiễm nước sông trở nên bất khả thi: lượng mầm bệnh từ chất thải của con người đổ ra sông ngòi và nước từ sông được đưa vào sử dụng dù qua hệ thống lọc vẫn không bảo đảm có tính an toàn vệ sinh cao nếu thiết bị và quy trình công nghệ không hiện đại, chưa kể nước sông nhiễm bẩn dùng tưới tiêu canh nông sẽ cho ra những sản phẩm nông nghiệp chứa mầm bệnh, gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng , chẳng hạn các chứng bệnh đường ruột, tiêu hóa, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ nhỏ. Việc đun sôi nước nhiễm độc và nhiễm bẩn chỉ có thể giết một số mầm bệnh, song không thể loại trừ các tạp chất độc hại. Các loại thủy cầm cũng bị tiêu diệt do môi trường nước bị nhiểm bẩn và nhiễm độc, khiến đời sống dân chài càng gặp khó khăn. Sự việc nghiêm trọng do Vedan và nhiều nhà máy sản xuất khác gây ra đã làm chết những con sông, tức triệt mất nguồn nước của sự sống của cư dân Việt Nam vùng châu thổ các dòng sông này, chứ không chỉ giản đơn là đoạt mất nguồn thu nhập từ đánh bắt thủy sản của dân chài.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: PHẢI CHĂNG CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM DO VẪN CHƯA CÓ NHẬN THỨC ĐÚNG VÀ ĐỦ VỀ SỰ CỐ VEDAN VÀ CÁC SỰ CỐ TƯƠNG TỰ ĐANG LÀM CHẾT CÁC DÒNG SÔNG, TRIỆT MẤT NGUỒN NƯỚC TỨC SỰ SỐNG CỦA HÀNG TRIỆU CON NGƯỜI, NÊN THAY VÌ SỬ DỤNG CHẤT XÁM CỦA NHỮNG NHÀ KHOA HỌC TÌM CÁCH CỨU SỐNG CÁC DÒNG SÔNG, ĐÃ TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

 10)   Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà

Ô nhiễm không khí nội thất tức IAP là vấn nạn tình hình chất lượng không khí trong nhà, tại trường, nơi làm việc, và ở những chốn tập trung đông người như nhà hàng, nhà thi đấu, rạp hát, v.v. Hầu hết nguyên nhân gia giảm nghiêm trọng chất lượng không khí nội thất đến từ việc hút thuốc, sử dụng bếp lò, máy móc thiết bị, hoặc nhiên liệu sinh học thô như trấu, phân chuồng, hoặc gỗ, để nấu nướng, v.v, đặc biệt nghiêm trọng nếu không có hoặc chỉ có hệ thống thông gió không hiệu quả, mà phụ nữ – do thường xuyên nấu ăn ở bếp – và trẻ em chưa đến tuổi đi học thường gánh chịu hậu quả nặng nề hơn.

Ô nhiễm không khí nội thất gây ra cái chết cho 3 triệu người mỗi năm trên thế giới, chiếm 4% tổng số các nguyên nhân. Các tác động đến sức khỏe bao gồm, song không chỉ giới hạn bởi:

a- ARI tức nhiễm đường hô hấp cấp: chiếm 1/8 tổng số các bệnh, và là loại có nhiều bệnh nhân nhất ở Ấn Độ

b- COPD tức nghẽn phổi mạn tính, bao gồm viêm phổi, chiếm 16% số tử vong nữ tại Trung Quốc

c- Ung thư phổi: 2/3 phụ nữ Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico mắc bệnh này dù họ không hút thuốc

d- Đục thủy tinh thể: các nghiên cứu cho thấy phụ nữ dùng nhiên liệu sinh học nấu ăn có nguy cơ mù lòa cao hơn gấp 2,4 lần

e- Ho lao: các nghiên cứu cho kết quả phụ nữ Ấn Độ dùng củi nấu ăn có nguy cơ bệnh lao cao gấp 2,7 lần so với người khác

f- Sinh non: phụ nữ vùng quê Guatemala nấu ăn bằng củi sinh con non hơn các phụ nữ dùng gas và điện nấu ăn.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ NHÌN NHẬN RẰNG HÀNG CHỤC TRIỆU PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐANG HÀNG NGÀY TIẾP CẬN VỚI BAO NGUY CƠ TỪ VIỆC NỘI TRỢ BẾP NÚC, RẤT CẦN ĐƯỢC CHĂM SÓC Y TẾ, HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN CHO BẢN THÂN TỪ NHỮNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC NHÂN SĨ, HAY HỌ VẪN XEM NHƯ ĐÓ LÀ THÂN PHẬN MÀ PHỤ NỮ VIỆT NAM PHẢI TIẾP TỤC GÁNH CHỊU, NGÕ HẦU CÁC NHÂN SĨ CÓ THỂ TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

III- Bô-xít

Các phân tích dưới đây làm rõ thêm về vấn đề của bauxite Việt Nam.

A- Tìm Hiểu Sự Thật Về Bô-xít

Ở Việt Nam, bauxite được phân bổ tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La, Bắc Giang, Nghệ An, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên, và Quảng Ngãi. Sau khi khai thác, bauxite được tinh chế thành alumina theo quy trình Bayer, sau đó alumina trở thành aluminium qua quá trình điện phân Hall/Heroult. Thường thì từ 2 đến 3 tấn bauxite sẽ sản xuất được 1 tấn alumina, và cần đến từ 4 đến 6 tấn bauxite đế chế ra 1 tấn nhôm.

Những nguyên liệu khác cũng có thể dùng để chế tạo alumina như alunite, anorthosite, coal wastes, và oil shales. Dù theo quy trình và công nghệ khác, những nguyên liệu phi-bauxite này vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất gạch chịu nhiệt, hóa chất nhôm và chất mài mòn.

Vấn đề đáng quan ngại đối với bauxite là điện năng. Khai thác bauxite không tốn nhiều năng lượng nhưng công đoạn tinh chế và điện phân cần tiêu tốn nhiều điện hơn.

1) Giá Trị và Trị Giá

Bauxite là một trong những thứ nguyên liệu dùng chế tạo alumina. Nhiều tài liệu ước tính trữ lượng của bauxite trên thế giới là khoảng từ 55 đến 75 tỷ tấn; trong khi thống kê của cơ quan địa chất hoa Kỳ nêu con số 38 tỷ tấn (Bảng 1)

 HCBD (2)

Thường thì giá bán buôn của alumina loại tốt vào đầu mỗi năm dao động từ 210 đến 240 USđ/tấn theo giá tải đăng trên tạp chí Metal Bulletin. Từ tháng 2 đến tháng 4, giá ở mức 170-200USD/tấn, sau đó lên lên USD230/tấn đến cuối tháng 6. Giá tăng nhanh và đến cuối tháng 9 sẽ ở khoảng 300-310USD/tấn. Đây là chu kỳ giá bình thường đối với alumina.

2) Vị Trí Của Bô-xít Trong Tác Hại Với Môi Trường

Mười loại tai họa nhãn tiền kể trên là đối với các cơ sở sản xuất bình thường nên thế giới không liệt kê thêm loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường.

B- Vấn Nạn Thật Sự Của Vấn Đề Bô-xít Việt Nam

Không như báo chí hay nêu nguy cơ vỡ đập tràn bùn đỏ là vấn nạn của dự án khai thác bauxite,  những vấn nạn nghiêm trọng theo phân tích của bài nghiên cứu này lại chỉ nằm trong phạm vi “phần cứng” tức những vấn đề kỹ thuật thuần túy của dự án mà thôi, do các tai nạn đều hoặc có thể giảm thiểu hay ngăn chặn được từ kinh nghiệm những sự cố trước đó trên thế giới, hoặc mang tính rủi ro luôn được tính đến trong tất cả các dự án khai thác tài nguyên.

1) Những Khiếm Khuyết Của Dự Án

Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite.

Các điểm thiếu sót của dự án có thể bao gồm:

a- Nhà Máy Phải Đạt Chuẩn ISO 14001 về Quản Lý Môi Trường

b- Công Tác Bảo Lưu Lớp Bóc Tách Thảm Thực Vật:

Đối với các dự án bauxite, phần lớp đất bề mặt được bóc tách chuyển đến nơi tập kết khác, và sẽ được chuyển trở về nơi cũ khi đã xong giai đoạn khai thác và qua công đoạn hoàn thổ tái lập môi trường. Thảm thực vật được duy trì sự sống và phát triển bình thường tại nơi tập kết, bảo đảm sự tái lập môi trường gần với hiện trạng tự nhiên trước khai thác.

c- Các Biện Pháp Gia Giảm Tác Hại Môi Trường

d- Các Biện Pháp Bảo Vệ Quần Thể Động – Thực Vật

e- Chi Tiết Công Tác Hoàn Thổ

f- Công Tác Nghiên Cứu và Phát Triển

Đối với dự án khai thác bauxite thường có những công trình điều nghiên đi kèm phục vụ chu trình khai thác – chế biến – hoàn thổ – tái lập môi trường, chẳng hạn các nghiên cứu về:

– Thủy Văn

– Gia Tăng Đa Dạng Sinh Học Tại Những Khu Vực Hoàn Thổ Bao Gồm Cả Khu Bảo Tồn Gien

– Rút Ngắn Chu Trình Hoàn Thổ Với Công Đoạn Trồng Cỏ, Rau và Cây Mọc Nhanh

– Tạo Tính Hấp Dẫn Muông Thú Nơi Hoàn Thổ

– Hoàn Thiện Quản Lý Đất Canh Tác và Kỹ Thuật Làm Đất

– Trồng Rau Luân Canh

– Chu Kỳ Dinh Dưỡng và Tái Cư Đối Với Quần Thể Sinh Vật Đất và Cộng Sinh Nấm và Cây

– Các Chỉ Số Thích Hợp Đánh Giá Mức Độ Tái Cư Thành Công và Bền Vững

2) Chủ Quan Về Yếu Tố Nhân Lực

Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý.

Dự án khai thác bauxite của Brazil có hiệu quả kinh tế tốt đẹp do có lực lượng biên chế chính thức của rất đông chuyên gia đẳng cấp cao cho mỗi nhà máy. Chẳng hạn chỉ riêng cho nội dung hoàn thổ, một nhà máy bauxite có 21 chuyên gia bao gồm 15 chức danh chuyên môn nghiệp vụ sau:

a- khoa học gia nông nghiệp

b- chuyên viên vườn tược

c- khoa học gia thổ nhưỡng

d- khoa học gia đất trồng trọt

e- nhà động vật học

f- nhà sinh học

g- nhân viên kiểm lâm

h- nhà khí tượng thủy văn

i- nhà địa mạo học

j- nhà quản lý môi trường

k- nhà sinh học bảo tồn biến dị gien động-thực vật

l- khoa học gia phát triển nông thôn

m- nhà thực vật học

n- khoa học gia môi trường

o- nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên

Cơ cấu tổ chức mới chỉ cho một bộ phận cũng cho thấy nhận thức đúng đắn của chính phủ đối với tài nguyên và khai thác tài nguyên quốc gia, trách nhiệm cao của các nhà khoa học đối với bảo tồn môi trường sống, đưa đến sự hài lòng và đồng thuận của toàn dân dối với dự án khai thác bauxite ở nước họ, dễ dàng nhận ra một điều là ngay cả khi thiên tai có gây ra thảm họa cho khu vực khai thác bauxite thì chính phủ cũng không bị kết tội bởi người dân.

Trong khi đó, dự án bauxite cực kỳ quan trọng của Việt Nam đã không được tổ chức quy mô tương tự. Một nhà máy bauxite dứt khoát không giống như một nhà máy chè hay nhà máy dệt vì quy mô xử lý bùn đỏ trên một diện tích khổng lồ là cả một đại công trình kinh tế, chính trị, môi trường, quân sự, an ninh, đòi hỏi ngay cả khoa học công nghệ thám sát viễn sát cao để quản lý dự án qua vệ tinh, và quản lý hoàn thổ cực kỳ tinh vi, tinh tế, và dài hạn. Xây dựng nhà máy bauxite và chỉ bổ nhiệm ban giám đốc cùng tuyển mộ công nhân chứng tỏ khâu tổ chức và thái độ đối với ý nghĩa dự án đã bị xem thường, tất sẽ dẫn đến những sự cố tắc trách gây phương hại đến an ninh trật tự quốc gia.

Song, điều khó khăn nhất vẫn là: Việt Nam không sẵn có những nhà khoa học thực thụ cho những đại công trình thực thụ, và đây là hậu quả của các cải cách giáo dục không đúng tầm, lệch trọng tâm, sai định hướng, do những quan chức thiếu kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, và thiếu năng lực quán xuyến chiến lược giáo dục và đào tạo quy mô quốc gia. Song, ngày nào chưa thể công bố danh sách các nhà khoa học, thì việc thực hiện dự án bauxite Tây Nguyên hay hoạch định tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam vẫn là việc làm đầy nguy hiểm, lắm rủi ro, không thể tiến hành cho đến khi đã đào tạo xong đội ngũ kỹ sưvà nhà khoa học cần thiết.

3) Giá Trị Thực Tiễn Của Dự Án Bô-xít

Do trữ lượng bauxite lớn trên thế giới và do có nhiều nguyên liệu khác có thể dùng chế alumina, cũng như công nghiệp bao bì có nhiều sự lựa chọn ngoài nhôm, nên tài nguyên bauxite hiện vẫn chưa thể giữ vị trí quan trọng trong công nghiệp khai khoáng của Việt Nam. Sự cố bùn đỏ ở Hungary giúp Việt Nam xem xét lại tính vững chắc của các hồ chứa cùng các biện pháp xử lý tình huống thích hợp.

Song, vùng bauxite nếu để các thế hệ sau này khai thác sẽ có nhiều thuận lợi hơn do có thể có công nghệ mới và giá bán sẽ cao hơn do giảm sút trữ lượng bauxite trên thế giới và do có thể có những sử dụng và ứng dụng khoa học mới cho nhôm. Tương tự, Hoa Kỳ gia giảm mức khai thác dầu hỏa nội địa, tăng cường nhập khẩu dầu và hệ thống kho trữ, để bảo đảm nguồn cung ứng cho các thế hệ sau này, hoặc Trung Quốc giảm khai thác bauxite nội địa, tăng cường khai thác mua của Việt Nam để hạn chế nguy cơ sự cố trong nước và đồng thời bảo vệ nguồn nguyên liệu bauxite nội địa.

IV- Công Dân Hoàng Hữu Phước Tư Vấn Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Chính Phủ Việt Nam

Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam nhất thiết phải cẩn trọng trong mọi hành sử với Trung Quốc về kinh tế vì không thể có bất kỳ cách lập luận hay thuyết phục nào có thể làm thay đổi định kiến luôn đúng của người dân Việt Nam trong cảnh giác cao độ và sự phản kháng mang đậm tính hận thù không thể chối cãi hay che dấu được đã khắc sâu vào ý thức và vô thức người Việt Nam đối với Trung Quốc. Những nhân nhượng hay ưu ái trong mậu dịch với hay đầu tư từ Trung Quốc sẽ khiến Đảng và Chính Phủ đối diện với sự bất mãn của nhân dân và sự công kích bôi nhọ của bọn chống cộng hải ngoại. Những hành động bá quyền nước lớn của Trung Quốc tại Biển Đông không là việc riêng của Đảng và Chính Phủ Việt Nam mà là vấn đề quan ngại của tất cả công dân Việt Nam. Lắng nghe, hiểu biết, tôn trọng, và đáp ứng hay thỏa mãn các mong muốn của nhân dân chính là tạo sự bền vững trường tồn của vị thế của Đảng và Chính Phủ với nhân dân, mà một trong những điều mong muốn đó là không chấp nhận sự nhân nhượng hạ mình của Đảng và Chính Phủ trong các hoạt động kinh tế, đầu tư.

Chất lượng tồi tệ cùng sự thất bại trong tiến độ thi công các dự án do các công ty Trung Quốc thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh không thể không là sự yếu kém hạ đẳng của chất lượng công nghệ của Trung Quốc hoặc không thể không là ý đồ phá hoại kinh tế Việt Nam. Do đó việc Đảng và Chính Phủ thông qua chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bauxite vùng Tây Nguyên khó được người dân đồng thuận, dẫn đến các tranh luận gây phức tạp nội tình đất nước và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài nói chung.

Đối với người Việt, Trung Quốc luôn là kẻ thù, chưa bao giờ là đồng chí, kể cả trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đó là sự thật hiển nhiên. Không cố gắng phủ nhận sự thật đó của tư duy người Việt bằng những lời nói chính trị ngoại giao, Đảng và Chính Phủ mới có thể không vướng vào những phức tạp không cần thiết như trong chủ trương dành sự ưu ái cho Trung Quốc khai thác bauxite Tây Nguyên.

V- Công Dân Hoàng Hữu Phước Tư Vấn Công Dân Việt Nam

 Qua các thông tin và phân tích ở trên, việc khai thác bauxite là việc cực kỳ bình thường, có mức độ gây hại cho môi trường không nghiêm trọng như tất cả các hoạt động khai thác hay sản xuất khác, và tai họa nếu xảy ra cũng là phần rủi ro luôn có trong bất kỳ hoạt động khai thác nào chứ không chỉ riêng bauxite. Việc một nhà văn mãi phát biểu đặt vấn đề môi trường văn hóa sinh tồn của dân sắc tộc là kiểu lập luận phiến diện vì ở bất kỳ đâu trên thế giới, việc đầu tư khai thác hay xây đập thủy điện đều dẫn đến hệ quả tương tự với cư dân, chứ không chỉ riêng dự án bauxite.

Điềm tĩnh đóng góp ý kiến kịp thời – nếu có ý kiến xác đáng, khả thi, khả dụng, mang tính thuyết phục cao – cho đúng quan chức hay cơ quan hữu trách là hành động duy nhất đúng, có tinh thần trách nhiệm cao, và có vị thế trang trọng của một công dân, đồng thời triệt bỏ thói quen bầy đàn cố hữu của người Việt khi nương theo ý kiến mời gọi của một nhóm công dân khác. Không phát tán những mẫu tin dè bỉu của bọn chống Cộng đối với dự án bauxite cũng là hành vi đúng đắn của những công dân nghiêm túc, có trách nhiệm và có trình độ nhận thức cao.

Ngoài ra các công dân nguyên là quan chức cao cấp đã nghỉ hưu nên nêu gương nghiêm túc trong đóng góp ý kiến cá nhân kịp thời điểm, gởi đúng cơ quan hữu trách, để chứng tỏ bản thân có trách nhiệm cao, luôn lo cho vận nước và quan tâm đến các vấn đề của xã hội nước nhà, thay vì nêu vấn đề quan ngại quá chậm khiến có nghi vấn bản thân đã chưa từng thực sự quan tâm đến một vấn đề hay dự án nào, hoặc thể hiện phong cách bầy đàn khi có thu thập chữ ký cho một kiến nghị dễ khiến bản thân mất đi uy thế một người tự chủ, có trách nhiệm, biết suy xét, và có khả năng nhận xét hiểu biết riêng.

VI- Kết Luận: Phản Biện của Phản Biện

Như đã nói ở phần định nghĩa thuật ngữ, phản biện là một hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống thứ yếu có thể cản trở để tìm lời giải đáp thuyết phục, giúp sự việc chính yếu trở nên có tính thuyết phục cao nhất có thể được. Đối với các phản biện như vậy từ các quan chức chính phủ, nhất thiết cần có các phản biện của phản biện ấy, nhằm làm rõ hơn sự phân định mang tính thực tế chiến lược quốc gia mà các quan chức đã chưa hoặc không thể có đủ đẳng cấp, tầm cỡ, hay uy thế và uy tín để nói về trước công chúng.

Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có những vấn đề riêng của nó và không thuộc các lý do mà dư luận bấy lâu nay hay tập trung nói đến. Việc khai thác bauxite – hay bất kỳ tài nguyên nào, kể cả sức nước của thủy điện hay sức mạnh của nguyên tử lực – là việc cực kỳ bình thường ở mọi quốc gia. Vấn đề là phải chăng Việt Nam còn quá nhiều tài nguyên để có thể cứ tiến hành khai thác, hay đất nước đã lâm cảnh cùng đường phải vơ vét tài nguyên cứu nguy xã tắc, hoặc quê hương đã cạn kiệt tài nguyên nên nhất thiết chúng ta phải hy sinh chịu thắt lưng buộc bụng sống dè xẻn để dành tài nguyên bauxite cuối cùng lại cho con cháu Việt Nam ngày sau khai thác để tiếp tục sống còn, như một tập tục mang tính đạo lý truyền thống của người Việt luôn chăm lo cho hậu thế.

Điều cuối cùng song có phần quan trọng nhất là mọi kế sách quốc gia đều phải được đặt trên cơ sở vì sự an nguy và sinh tồn của dân tộc, điều mà bất kỳ dự án nào thực hiện với Trung Quốc, dù lớn hay nhỏ, cũng sẽ vĩnh viễn không bao giờ mang lại. Công tác đối ngoại khéo léo, sự chủ động ngoại giao, việc đề ra các quyết sách an dân cùng những định hướng kinh tế chiến lược của Đảng và Chính Phủ luôn được toàn dân tộc cậy tin phó thác toàn quyền; song, các thực hiện cụ thể những dự án kinh tế không thể là phạm trù Đảng và Chính Phủ gánh vác thực hiện trực tiếp như một pháp nhân, mà nhất thiết phải qua tư vấn độc lập với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ ngay giai đoạn phát triển ý tưởng của cơ quan chức năng hay của lãnh đạo Đảng và Chính Phủ, và do các doanh nghiệp thực hiện qua đấu thầu công khai. Nếu đã có khâu tư vấn độc lập, lẽ ra đã không thể phát sinh các kiến nghị không còn thời gian tính, không trên cơ sở hiểu biết đủ đầy, và không đồng thuận.

Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền. Đất nước Việt Nam là của công dân Việt Nam. Bọn chống cộng ở hải ngoại không là công dân Việt Nam nên mọi công kích dự án bauxite đều là hành vi vô văn hóa, trái với văn minh của nhân loại tiên tiến khi tự tiện phê phán khi không là người dân có đóng thuế cho Việt Nam.

Bauxite là tài nguyên của Việt Nam, và việc khai thác khoáng sản là việc nội bộ của Việt Nam, mà người Việt Nam tự giải quyết với nhau, không cần nghe sự kêu gào của những kẻ bại trận.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Cầm, Bảo. 2010. Còn Ý Kiến Về Bauxite, Còn T iếp Tục Lắng Nghe. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101023141847.aspx

Buckles, D. 2003. Cultivating Peace – Conflict and Collaboration in Natural Resource Management. Ottawa: IDRC

De Koninck, R. 1999. Deforestation in Vietnam. IDRC

Environment and Sustainability.Bauxite Resources Limited http://www.bauxiteresources.com.au/content/environment_and_sustainability/

Environmental Aspects of Bauxite, Alumina and Aluminium Production in Brazil. 1995. UNCTAD Secretariat.

Fourth Sustainable Bauxite Mining Report . 2008. International Aluminium Institute.

Fred, P. 1998. Arsenic in the Water. The Guardian. http://www.lifewater.ca/887805655-arsenic.htm

Global Mercury Project. 2006.UNIDO. GMP News. http://www.globalmercuryproject.org/documents/gmp_news/GMP_News_January_2006.pdf

Kình, CầmVăn. 2010. Dự Án Bô-xít: Tiếp Hay Dừng?  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/407262/Du-an-boxit-tiep-hay-dung.html

Klauber, C., M. Grafe and G. Power. 2009. Review of Bauxite Residue “Re-use” Options. DRET – Department of Resources, Energy and Tourism of Australia

Lan, Hoàng and Khánh Linh. 2010. Kiến Nghị Dừng Dự Án Bô-Xít. http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/10/3BA21F73/

Mol, J.H. 2009. Environmental impacts of bauxite and gold mining in Nassau Mountains, Suriname.

Nguyễn, Tuệ. 2010. Bauxite ở Việt Nam, Về Lý Thuyết Là An Toàn. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101023003500.aspx

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài http://www.emotino.com/m.php?p=17900

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam. http://www.emotino.com/m.php?p=18663

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Phản Biện. http://www.emotino.com/m.php?p=18392

Pound, B, S. Snapp, C. McDougall and A. Braun. 2003. Managing Natural Resources for Sustainable Livelihoods. London: Earthscan Publications Ltd.

Slum at the Summit. Earth Report. Television Trust for the Environment. http://www.tve.org/earthreport/archive/doc.cfm?aid=1623

Sustainable Development at Risk. New Delhi: Cambridge University Press India Pvt. Ltd.

Ten Problems with Gold Mining. 2001. Project Underground. Dollars and Sense Magazine. http://www.thirdworldtraveler.com/Transnational_corps/Fools_Gold.html\Joseph H. Hulse. 2007.

Tyler, S. 2006. Communities, Livelihoods, and Natural Resources. Warwickshire: Intermediate Technology Publications Ltd

Tyler, S. R. 2006. Comanagement of Natural Resources. Ottawa: International Development Research Centre.

Veiga, M.M. 2005. Pilot Project for the Reduction of Mercury Contamination Resulting from Artisanal Gold Mining Fieldsin the Manica District of Mozambique.

*********

Nói tóm lại, nhiều “nhân sĩ, trí thức” tự phong đã đặt câu hỏi ra vẻ xót xa cho tình hình kinh tế Việt Nam như thể họ chả có lỗi gì sất mà bởi tại bị vì bởi cái chủ nghĩa cộng sản nên kinh tế nó mới như thế; rằng việc ký tên vào kiến nghị bầy đàn đã chứng minh quá rõ là  các vị ấy có biết viết hẳn hoi chứ không phải chẳng có trình độ hàn lâm không tự mình viết nên cái gì cả dù ở cấp chuyên gia; rằng có công lấy số liệu của các báo cáo của Ngân hàng Thế giới chứ nào phải ở không; và rằng tham gia đòi hỏi cải tổ chính trị vì có lòng yêu nước để người dân quên phéng đi rằng các vị đã không làm được bất kỳ việc gì cụ thể phục vụ cho sự phát triển kinh tế nước nhà. Đó là chưa kể khi ccác vị còn tại nhiệm trên ngôi cao ở viện này viện nọ, các vị vừa yếu chuyên môn (điển hình là chẳng có kế sách gì để giúp chính phủ phát triển kinh tế, hoặc có nhưng sức yếu tài hèn đã không thể hiện được bằng công trình nghiên cứu hàn lâm rồi thất bại trong bảo vệ “luận án”), vừa yếu bóng vía (không dám nói gì, không dám kiến nghị gì, không dám tố cáo ai tiêu cực, để giữ cho được cái ghế của mình cho đến khi về hưu hưởng lương hưu trọn đời).

Người đời chỉ cần tỉnh táo và nhớ sử nước nhà là đã có thể nhận ra sự khác biệt rõ nét giữa  trí-thức-nhân-sĩ  với trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn. Trí-thức-nhân-sĩ luôn có cái tôi rất lớn, vì đó là từ giòng dõi hoặc thế gia vọng tộc trâm anh, hoặc tứ thân phụ mẫu đạo cao đức trọng; từ thành quả cao thật sự của kết quả học tập cao thực sự; từ quá trình miệt mài thật sự cho chuyên môn cao với kết quả cao thực sự; có được sự tôn kính thực sự từ những người đoan chính thực sự; và được thực sự biết đến qua những kỳ tích thực sự về chuyên môn thực sự của cá nhân mình; và sự “hợp tác” nếu có sẽ là tổng công trình của một tác phẩm cụ thể để xuất bản hoặc để cùng nhau chia sẻ giải thưởng Nobel. Trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn dứt khoát không thể nào là trí thức hay nhân sĩ vì hoàn toàn không cùng đẳng cấp với trí-thức-nhân-sĩ, vì trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn chỉ đóng góp mỗi chữ ký của mình để được hưởng danh.

Ngoài ra, lịch sử nước này nước nọ còn cho thấy có một tư duy lệch lạc của tầng lớp “sĩ phu” luôn cho rằng chỉ có mình mới có đặc quyền nắm quyền “trị quốc” và xem thường những tầng lớp yếu thế trong “thứ dân”. Trong khi các tay “võ biền” xông pha trận mạc, giữ vững biên cương, thì các “sĩ phu” choảng nhau ở triều đình, bên này gọi bên kia là “nịnh thần” và tự phong cho mình là “trung thần” để rồi có khi làm các võ tướng phải chịu án oan tru di cửu tộc, kéo theo sự sụp đổ của cả vương triều. Đối với cuộc chiến tranh chống Pháp, chỉ đến khi đảng cộng sản dựa vào sức mạnh toàn dân với sự công nhận sức mạnh của giai cấp công nhân phi-sĩ-phu thì mới có chiến thắng. Còn nội tình Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ có việc nghị sĩ quốc hội không thuộc tầng lớp “trên” – theo nghĩa có sức mạnh của hoặc “thế gia vọng tộc” hoặc “thế lực quân đội”.  Sự hình thành những vụ “bầy đàn” ký tên kiến nghị lung tung của những người nêu học vị lung tung là minh chứng rõ ràng rằng họ muốn tách bạch họ ra khỏi hàng ngũ “thứ dân” thấp kém, như thể chỉ có họ mới xứng đáng có vị trí lãnh đạo đất nước, như thể việc họ phải chịu ở dưới những người cộng sản gốc gác nhân dân lao động không có học vị cao đã làm họ thù hận rồi hoang tưởng mình đang gặm mối căm hờn trong cũi sắt , nhất thiết phải “đứng lên”, phải “vùng dậy” chiếm lại quyền trị quốc, đồng nghĩa với việc đẩy “thứ dân” xuống trở lại kiếp “dân đen.”

Hỡi người dân Việt thông tuệ, hãy lưu ý một điều rằng một nhân sĩ/trí thức thực thụ không bao giờ hạ mình ký tên cho một cái chung đụng chung chạ chung chung. Vì rằng nhà trí thức và bậc nhân sĩ luôn là những vì sao độc lập sáng vằng vặc giữa trời cao, và vì rằng có thể có nhiều ngôi sao tạo nên chòm Bắc Đẩu, nhưng mỗi vì sao là một thực thể riêng, mà tạo hóa đã xếp đặt và định vị, như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v.v. Các ngôi sao không dính chùm nhau. Chỉ có mấy cục kẹo dẻo rơi rớt trên đất ẩm mới dính vào nhau. Các ngôi sao không cùng ký tên vào một bài viết nếu đó không phải là một công trình nghiên cứu hàn lâm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài mới tiếp theo:

–  Tôi và Lê Hiếu Đằng

–  Tôi và Trần Huỳnh Duy Thức

Các bài sẽ đăng lại:

– Tôi và Cu Huy Ha Vu

– Tôi và Lê Công Định

Mạng Xã Hội

Hoang Huu Phuoc, MIB

 Image

Nhận được thông điệp trên của Ban Quản Trị LinkedIn, một mạng xã hội của Mỹ dành cho giới doanh nhân toàn cầu đã có từ năm 2003 và hiện nay có hơn 225 triệu người đăng ký sử dụng, thông báo “Chúc Mừng Phước Hữu! Trang tin của Ông trên LinkedIn là một trong số 5% hồ sơ được bạn đọc vào xem nhiều nhất năm 2012. LinkedIn hiện có 200 triệu thành viên. Cảm ơn Ông đã giữ một vai trò đặc sắc trong cộng đồng của chúng ta! ” kèm một bức thư điện tử của Ông Deep Nishar, Phó Chủ Tịch Cấp Cao của LinkedIn, nhân danh cá nhân để cảm ơn tôi vì đã là một thành viên tích cực của cộng đồng, tôi chợt nhớ đến đề mục “mạng xã hội” mà tôi đã bao lần bình luận và tiên tri thấu thị về cái tiền đồ tăm tối của nó qua những bài viết trong đó có vài bài tiêu biểu trên Emotino như:

Blogging (đăng ngày 01-10-2008)

Mạng Xã Hội: Ảo Tưởng Hoang Đường (đăng ngày 09-4-2010)

Sự Cáo Chung Của Facebook (đăng ngày 21-6-2011)

Mạng Xã Hội Đe Dọa Xã Hội (đăng ngày 19-8-2011)

Ngày Tàn Của Mạng Xã Hội (đăng ngày 21-8-2011)

Trong khi thiên hạ phấn khích phấn khởi về sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin và của các mạng xã hội, tôi ngay từ thời của Yahoo! 360 đã khẳng định rằng công nghệ thông tin sẽ không bao giờ phát triển được ở Việt Nam dù nó có được quy hoạch làm ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước hay không, và rằng Facebook và những thứ tương cận sẽ bị diệt vong bởi vì chưa gì hết mà bao người – có cả người nước ngoài – đã coi cái mạng xã hội miễn phí ấy (mà tiếng lóng Việt Nam gọi là “của chùa”) là của báu rồi vì cái thứ miễn phí dành cho con nít ấy nheo nhéo mắng mỏ Chính phủ Việt Nam ngăn cản truy cập, đàn áp tự do ngôn luận. Tôi cũng đã viết retort  (không phải report) bằng tiếng Anh trên một “mạng xã hội” để mắng một doanh nhân ngoại quốc khi y viết nhăng viết cuội trên “mạng xã hội” về cái gọi là “ngăn cản truy cập” của Chính phủ Việt Nam vì tôi quyết không tha bất kỳ ai dù ở bất kỳ quốc gia nào và thuộc giống dân nào nếu kẻ đó dám phát huy cái “tự do ngôn luận” để láo xược xúc xiểm Việt Nam.

Trong khi chờ đợi truy xuất các bài viết của tôi theo từng chủ đề trong suốt thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đến nay để đăng lại trên các blog cá nhân tôi vừa xây dựng, tôi muốn chia sẻ cùng những vị khách ghé uống nước tại Thùng Nước Đá các thông tin, ý kiến và nhận định sau:

1) Từ lâu tôi đã không tiếp tục dùng Facebook (và những mạng xã hội khác tôi từng có account như MySpace, v.v.) vì tôi là người khó tính, không bao giờ muốn gắn kết với bất kỳ cộng đồng mạng nào hỗn tạp pha trộn chung đụng với mọi hạng người như Facebook. Nhiều người đã muốn liên kết với tôi trên Facebook (tính đến 27-7-2013 đang có 151 yêu cầu) và nhiều năm nay vẫn nhắc nhở tôi đáp ứng yêu cầu kết nối của họ, nhưng tôi buộc phải im lặng, không phản hồi, đơn giản vì nếu tôi trả lời họ và cho biết lý do vì sao tôi nhún vai đối với Facebook thì sợ làm buồn lòng họ chăng.

 Image

2) Hiện tôi vẫn duy trì sinh hoạt trên một số mạng xã hội “đẳng cấp cao” như LinkedIn (mạng xã hội của Mỹ dành cho doanh giới toàn cầu như đã kể trên) và Anphabe (mạng xã hội của Việt Nam dành cho doanh giới tại Việt Nam).

 Image

3) Điểm đặc biệt là tại các mạng xã hội tôi tham gia, tôi đều nêu rõ chính kiến của mình chẳng hạn:

Image

Thí dụ tại hai trong số những mạng xã hội tôi tham gia như trong ảnh trên, tôi đã nêu rõ: về Quan điểm về tôn giáo, tôi “OK” với bất kỳ tôn giáo nào không can dự vào bất kỳ hành vi hành động nào chống lại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; cũng như về Quan điểm chính trị thì tôi theo Chủ nghĩa cộng sản dân tộc với khuynh hướng trọng Khổng (Nationalist Confucianist Communism).

Còn trong Lời khuyên cho ai muốn liên hệ với Phước Hữu trên một mạng xã hội khác tôi tham gia như trong ảnh dưới đây, tôi đã nêu rõ: Tôi là nhà chuyên nghiệp chân chính; do đó, tất cả các ý kiến hoặc tài liệu nào có nội dung chống Cộng, chống Việt Nam, và/hoặc bài xích tôn giáo sẽ không bao giờ được chào đón, nghĩa là đừng bao giờ gởi đến tôi những ý kiến hoặc các tài liệu nào có nội dung chống Cộng, chống Việt Nam, và/hoặc bài xích tôn giáo, vì tôi sẽ xóa ngay chứ không bao giờ đọc những gì tôi xếp vào loại có giá trị không cao.

Image

4)  Tại các mạng xã hội tôi còn tham gia, tôi sử dụng chúng không như những “diễn đàn” vì tôi đã có các “thùng nước đá” riêng, mà như nơi để tôi (a) giúp ý kiến tư vấn miễn phí cho các doanh nhân trong cộng đồng, (b) đáp lại các lời mời liên kết với tôi của các doanh nhân trong và ngoài nước, (c) gặp lại học trò và người thân cũ, và (d) đánh đổ tất cả những lập luận chống lại chính phủ, chính sách, chính đạo, và thể chế chính trị của Việt Nam. Chẳng hạn để phản bác mạnh mẽ ý kiến một người nheo nhéo nói Facebook bị chính phủ Việt Nam ngăn chặn đường truy cập, tôi đã viết dồn dập tràn ngập tổng lực bằng tiếng Anh như sau mà tất cả các doanh nhân nước ngoài trong cộng đồng sau đó không bao giờ có thể viết chỏi lại được, đơn giản vì họ không bao giờ có thể viết tranh luận sâu sắc bằng tiếng Anh và không bao giờ có thể viết đủ dài bằng tiếng Anh dù họ là dân Anh hay dân Mỹ, và dù để ủng hộ kẻ ủng hộ Facebook hay kẻ chống Facebook (như lời của ông Steven Roelandts: “bạn nói thế về việc chính phủ Việt Nam ngăn chặn Facebook chứ tôi thấy vô Google mới hay gặp trục trặc”), đơn giản vì chỉ có kẻ thất học mới chống Việt Nam nên cách chi mà có đủ sức viết lách gì được cho ra hồn, và đơn giản vì đã là doanh nhân thì rất yếu trong biện luận ngôn ngữ hàn lâm:

Image

Gần đây nhất, vào tháng 8 này doanh nhân Matthew Collier đã đăng lại bài của Jon Russell có dòng tít ”Việt Nam ra quy định cấm người sử dụng internet được chia sẻ thông tin…”

 Image

và tôi đã bảo vệ đất nước bằng lời đanh thép – vẫn với vũ khí cố hữu khiến 100% bọn Âu Mỹ phải chào thua: đó là hùng biện thật dài bằng Anh ngữ – như sau:

 ImageImage

Nội dung nghĩa tiếng Việt:

Kẻ viết bài trên dứt khoát là tên vô lại hoặc ngu đần không rõ ý nghĩa thật sự của nguyên bản nghị định, hoặc cố tình chống lại Việt Nam, hoặc dị ứng trầm kha với chủ nghĩa cộng sản. Bộ việc sao y bài viết thuộc bản quyền và chủ quyền của người khác rồi dán vô blog của ai đó để ra vẻ như blog mình chuyên nghiệp lắm, sâu sắc lắm, phong phú thông tin lắm, là việc sạch sẽ, đúng đắn, và đoan chính hay sao? Nếu có kẻ muốn “chia sẻ thông tin” sao không cung cấp đường link để may ra nếu có ai quan tâm thì cứ lựa lúc nhàn cư mà truy cập tự xem lấy?

Vào thời khắc Hoa Kỳ đang muối mặt điếm nhục gia phong với vụ việc PRISM, chính quyền Mỹ đã ra sức dàn dựng vở kịch bịp lừa thế giới với lời la toáng hoang đường về nguy cơ khủng bố chống nhân dân Mỹ dẫn đến việc đóng cửa nhiều văn phòng ngoại giao của Mỹ đó đây trên toàn thế giới, cùng lúc đó rống họng về nhân quyền đó đây trên toàn thế giới, chỉ để người dân đó đây trên toàn thế giới bị bịt mắt trùm đầu trong mớ hỗn độn mù mịt khói mây mà quên phức vụ PRISM..  

Nếu ông cho rằng có một bó những luật lệ áp dụng chung cho hết thảy các dân tộc thì ý ông là ông ở cùng một giuộc với cái bọn vô lại viết những thứ vớ vẩn ấy ư. Nếu ông đăng lại bài vớ  vẩn ấy là để người đọc nhận ra đó là bài rác rưởi thì ông đích thị là bậc quân tử hiền nhân thông tuệ. Còn nếu ông đăng lại bài ấy vì ông bất tài chả viết được cái quái gì ra hồn, chỉ để khoe mẽ là ông sâu sắc, chuyên nghiệp, và dồi dào thông tin, thì tôi chắc chắn sẽ chứng minh cho ông thấy rằng so với mức độ sâu sắc, chuyên nghiệp, và phong phú thông tin của tôi thì ông chỉ đáng là quân tép riu chiếu dưới.

Chính quyền Mỹ có PRISM (để vi hiến, xâm phạm tự do dân chủ của nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới). Chính phủ Việt Nam có những quy định rõ ràng để tôn trọng tác quyền, và tôn trọng người dân qua việc khuyên họ cung cấp đường link chứ đừng ăn cắp bài của người khác. Tôi là người Việt Nam. Và thật là thương hại người dân Âu Mỹ bị bịt mắt trùm đầu mà vẫn cứ ngỡ mình thông tuệ có quyền lực tối thượng để sủa nhặng lên về nhân quyền và  quyền tự do ngôn luận. Tôi đang sử dụng quyền tự do ngôn luận để gọi tác giả bài viết đó là tên vô lại vất đi trời đánh thánh vật. Liệu ông nghe có lọt lỗ tai không? Vì vậy, đừng bao giờ nói động đến Việt Nam.

Xin cảm ơn ông rất nhiều về lòng tử tế và lịch sự của ông.

Hoàng Hữu Phước

 

Hoặc để tranh luận, chẳng hạn như khi doanh nhân Áo Quốc tên Rick Yvanovich nêu lên chủ đề  ”Những quyết định chậm có thể làm triệt tiêu đà tiến của công ty bạn”, tôi đã góp ý như sau: ”Đúng là những quyết định chậm có thể làm triệt tiêu đà tiến của công ty bạn, nhưng những quyết định chóng vánh có khi lại đẩy công ty bạn đổ nhào qua bờ vực thẳm của hư mất. Tôi cho rằng mọi sự dựa trên 4 khía cạnh của sự đúng đắn, sự thông tuệ, sự chuẩn bị kỹ càng, và sự kịp thời, rồi sau đó là cái mà chúng ta gọi là sự may mắn. Việc kinh doanh nào phải như cuộc thi điền kinh chung chung; nó tùy thuộc vào việc cái cơ hội kinh doanh ấy có thể lớn đến cỡ nào. Chạy đua tốc độ 60 mét rất khác với chạy đường trường cự ly 10.000 mét. Đối với cơ hội kinh doanh lớn, sẽ cần khoản đầu tư khổng lồ, và điều này cần đến một quyết định đúng đắn, khôn ngoan, cẩn trọng, và kịp thời, chứ nào phải là vấn đề của cái sự chậm hay nhanh” 

 

 Image

5) Điều đáng tiếc là có nhiều người không thuộc doanh giới vẫn gia nhập để đưa lên bản lý lịch tìm kiếm việc làm, với hy vọng trong cộng đồng doanh nhân ấy sẽ có vị quan tâm tuyển dụng mình. Có nhiều bạn trẻ vừa tốt nghiệp đại học, làm nhân viên kinh doanh của công ty nào đó, đã lẹ làng gia nhập và xin liên kết với các doanh nhân, ắt do muốn tìm kiếm khách hàng để chào bán hàng hóa của công ty mình. Có nhiều người dường như chỉ muốn gia nhập để xin liên kết với mọi doanh nhân ngõ hầu có được số lượng liên kết “khủng”. Và có nhiều người thậm chí đưa “nick name” thay vì tên thật, còn hình ảnh bản thân thì hoặc đưa hình diễu cợt, hình của hài nhi, hình con thú cưng, hoặc chẳng có hình ảnh tự giới thiệu gì cả. Tất cả những cái hoặc vội vàng, hoặc nhí nhố, hoặc vô tâm vô tư trẻ con như thế ắt đã làm doanh nhân nước ngoại ngạc nhiên trước sự “vào lộn sân” và “múa tá lả” của những người kiếm tìm cơ hội việc làm và rao bán hàng chứ không có khả năng sẻ chia kinh nghiệm, kiến thức, ý tưởng kinh doanh, thông tin thương trường, v.v.; vì rằng chỉ có doanh nhân tay mơ mới gia nhập cộng đồng để tìm khách hàng và đối tác, vì những đại gia đều đã có thị trường phát triển riêng cùng những khách hàng riêng hoặc đã biết rõ ai là khách hàng tiềm năng hoặc ai cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp đẳng cấp cao nên sinh hoạt trong cộng đồng tất nhiên nhằm vào mục đích khác của “thượng tầng”.  Những thí dụ sau minh họa cho sự thiếu chuyên nghiệp khi dùng hình trái tim, tên doanh nghiệp chứ không phải tên doanh nhân, hoặc không có hình ảnh tự giới thiệu và không có chi tiết bất kỳ về bản thân trong phần “profile” nhưng lại muốn liên kết với những doanh nhân như tôi vốn đã có profile cực kỳ hoàn chỉnh và nghiêm túc y như hàng trăm triệu doanh nhân khác..

 Image

Nói tóm lại:

– khi cái gọi là mạng xã hội dù bản thân, xuất thân, tự thân, chỉ là một thứ sân được bao vây kín mít với hàng chục lớp hàng rào kẻm gai điện tử để không ai thoát ra được, để mọi người vào đó rồi tùy theo tính cách cá nhân mà dạo chơi, nghỉ ngơi, nghĩ ngợi, chuyện trò, quậy phá, nhậu nhẹt, bài bạc, hút xách, xả rác, khạc nhổ, phóng uế, v.v., để nhân vật chủ nhân từ bi bác ái có cơ hội vừa thu tiền quảng cáo vừa quay phim chụp hình cung cấp cho CIA và chính phủ Mỹ trong chương trinh PRISM vi hiến vốn đã làm chuyên viên tin học của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIA và Cơ Quan An Ninh Quốc Gia NSA Edward Joseph Snowden đào thoát sang Nga tháng 5 vừa qua;

– khi điều đáng tiếc luôn tồn tại ở tất cả mọi ngóc ngách của đời sống con người trên chiếc hành tinh đơn độc này là chỉ có một số cực kỳ ít ỏi hiếm hoi xem internet như nguồn tư liệu để tra cứu mở mang tri thức và kiến thức hàn lâm của tất cả các ngành học nhằm phục vụ nghề nghiệp, phục vụ công ty, phục vụ gia đình, phục vụ xã hội, phục vụ đất nước, phục vụ nhân loại; và

– khi đời sống xã hội xoay vòng như trốt xoáy cuốn hút vào đó bất kỳ ai có đôi tay không đủ mạnh để bấu víu vào một vật thể mà bản thân vật thể ấy như quyển kinh kệ bằng giấy bồi cũ kỹ mong manh mỏng manh tiêu biểu cho chân lý tinh thần;

thì mạng xã hội vẫn làm được điều mà không bất kỳ một mạng-có-trả-tiền nào có thể làm được, đó là sức quy tụ của số đông, và do đó lời khuyên sau vẫn cứ là lời khuyên dành cho người không cố chấp:

– rằng bạn chí ít cũng đừng nên buông xuôi để cơn trốt xoáy của mạng xã hội muốn nuốt bạn đến đâu thì cứ nuốt và muốn ném hất đâu thì cứ mà hất ném;

– rằng bạn chí ít cũng công nhận một điều là trốt xoáy cuốn vào nó từ những chiếc ô-tô Buick đắt tiền, những tác phẩm nghệ thuật vô giá thời Phục Hưng văng ra từ bảo tàng mỹ thuật, đến những rác rến cùng bụi bẩn chuột bọ kinh tởm từ miệng cống;

– rằng bạn chí ít cũng công nhận một điều là trong trận cháy kinh hoàng vẫn có kẻ cơ hội rình rập hôi của, huống gì tại một sân chơi miễn phí nơi mà người ta không có cớ gì để luôn phải cảnh giác như lúc đang trong địch họa thiên tai; và

– rằng nếu muốn liên kết với tôi, bạn (a) đừng mãi gởi tin qua Facebook để chẳng nhận được trả lời vì tôi đã từ bỏ nó từ lâu vì cái tội của nó là đã thành cái ổ chứa chấp quá nhiều kẻ chống lại Việt Nam, (b) hãy gia nhập đúng sân, đúng cộng đồng mà bạn trong lĩnh vực hoạt động có liên quan; (c) hãy chuẩn bị cho trang profile của bạn thật đầy đủ chi tiết và nghiêm túc với hình ảnh và thông tin để phần tự giới thiệu tương xứng công bằng với profile của tôi hay của những người như tôi mà bạn đã đọc kỹ và biết rõ, vì rằng việc bạn có dùng ảnh chụp của người khác và dùng tên giả với chi tiết giả chí ít còn cho thấy bạn tôn trọng chủ nhân mạng cộng đồng doanh nghiệp cùng thành viên của nó, vì ngay cả vận động viên xe đạp cùng quốc tịch với Tổng thống Obama nhiều năm đoạt chức vô địch Tour de France vẫn sẽ bị đội bảo vệ điệu ra ngoài ngay lập tức nếu  vận áo pull quần short đạp xe vào một câu lạc bộ polo dành riêng cho quý ông quý bà Anh Quốc “trang bị tận răng”: mặc áo chẽn quần bó hàng hiệu, đội mũ Casablanca giá 500 bảng, đi ủng Fagliano cao đến gối giá 650 bảng gắn thêm bộ đinh thúc ngựa hiệu Prince of Wales 20 bảng và bộ bảo hộ đầu gối Casablanca 200 bảng, đeo kính Oakley, găng tay Neumann, cầm roi có tay cầm bọc bạc, và gậy đánh bóng Gold Bands bằng gỗ manau-cane được chế tác thủ công từ New Zealand chỉ khi có đơn đặt hàng cá nhân, cùng danh sách dài bao thứ lỉnh ca lỉnh kỉnh khác, chưa kể thẻ hội viên vài chục ngàn bảng y như thẻ sân golf; và (d) hãy công bằng vì khi bạn gia nhập để tìm những mối lợi cho bạn thì bạn cũng phải cho người xem xét yêu cầu làm quen của bạn biết họ có thể học hỏi được gì từ bạn nếu chấp thuận yêu cầu được liên kết của bạn.

Đó là tất cả những gì người thận trọng, tự trọng, nghiêm túc, nghiêm trang, đáng kính, đáng nể, và yêu nước, yêu thân, nên tính đến trước khi tham gia một mạng xã hội nói chung và một mạng cộng đồng doanh nghiệp nói riêng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

Tham Luận của ThS Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức tại Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10/2010

(Note: all images as attached hereunder throughout the text are by Hoang Huu Phuoc)

Image

 Image

Tóm Tắt Nội Dung

Từ bấy lâu nay việc phát triển mạnh các trường đại học ở Việt Nam dường như càng tạo nên sự cách biệt ngày càng lớn hơn giữa kết quả đào tạo số lượng cao với nhu cầu lao động chất lượng cao của thị trường, dẫn đến các nhận định và đánh giá tuy chưa đúng nhưng có tác động nhất định đến uy tín về chất lượng đào tạo của hệ thống cao đẳng – đại học Việt Nam đối với các doanh nghiệp có nhu cầu nhân sự và đối với các trường đồng cấp nước ngoài.

Từ sự thật là đã chưa từng có các phân tích đúng và thích hợp về hiện trạng hay vấn nạn trên,  tham luận này đưa ra những điểm mấu chốt mang tính thực tiễn trong nhận định thẳng thắn, thực tế trong đánh giá trực diện để làm cơ sở có so sánh và nhận diện các vấn nạn nhất thiết cần đến những biện pháp cách tân cả về tư duy lẫn tổ chức nơi bản thân trường đại học và sinh viên, theo đó nội dung hướng nghiệp không chỉ là sự tư vấn ban đầu cho và xuyên suốt quá trình học tập của sinh viên mà còn là chương trình cụ thể và chi tiết được thực hiện ngay nơi trường đại học, song song với nội dung hàn lâm truyền thống luôn có tại bất kỳ trường đại học nào trên thế giới.

Cuối cùng, những lý giải giúp giải thích và giải quyết căn cơ vấn nạn bất tương thích nêu trên để việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ đại học ở Việt Nam thực sự đáp ứng hiệu quả nhu cầu việc làm của sinh viên tốt nghiệp và tuyển dụng của doanh nghiệp, góp phần tạo nên giá trị cộng thêm thật sự với nguồn nhân lực Việt Nam và trường đại học Việt Nam.

A- Dẫn Nhập & Giải Thích Thuật Ngữ

Đáp ứng hiệu quả nhu cầu lao động trong nền kinh tế quốc dân luôn là mối quan tâm của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là cường quốc kinh tế truyền thống như Anh, Đức, Nhật, hay cường quốc kinh tế cơ hội như Trung Quốc, và tùy theo thực tế và văn hóa riêng của mỗi nước, những hệ thống và phương pháp giáo dục – đào tạo thích hợp đã được dựng xây, áp dụng, bổ sung, điều chỉnh, hoàn chỉnh, và phát triển. Song, quy trình đã kinh qua thực tế áp dụng hiệu quả trên thế giới này dường như đã không được Việt Nam – đất nước của một dân tộc thường được phong tặng và thường tự hào tự tặng phong là ham học hỏi – quan tâm học tập, mô phỏng, khiến chất lượng đào tạo của các trường đại học Việt Nam vừa không cao so với hệ hàn lâm truyền thống cổ điển bảo thủ của nước ngoài vừa thấp so với hệ thực dụng hiện đại cấp tiến cũng của nước ngoài, mà tác nhân gây ra hiện trạng bất tương thích, bất tương hợp này chính là cách tư duy nghịch với văn hóa xã hội đặc thù cùng với các kế sách không khả thi, không khả dụng.

Để phục vụ yêu cầu ngữ nghĩa dùng cho những biện pháp cách tân khả dĩ khắc phục những vấn nạn trên, những thuật ngữ sau (xếp theo thứ tự mức độ liên quan) được sử dụng theo ý nghĩa đặc biệt trong tham luận này:

1) Trường Đại Học: gồm trường đại học và trường cao đẳng.

Trước 1975 tại Việt Nam Cộng Hòa có nhiều trường đại học, song khi viết tiếng Anh thì chỉ có Viện Đại Học Sài Gòn và Viện Đại Học Huế được sử dụng từ “University”. Tất cả các trường đại học khác đều có tên tiếng Anh là “Faculty” (đồng nghĩa với “College”) tức đại học chuyên ngành trực thuộc hệ thống đại học đa ngành (tương đương “đại học tổng hợp”) tức viện đại học (“University”), thí dụ:

a- Đại Học Văn Khoa: Faculty of Letters

b- Đại Học Khoa Học: Faculty of Science

c- Đại Học Luật Khoa: Faculty of Law

Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa có hai hệ Đệ Nhất Cấp 3 năm và Đệ Nhị Cấp 4 năm để đào tạo “giáo sư” trung học cấp 2 và cấp 3. Ngay sau ngày Giải Phóng Miền Nam, Ủy Ban Quân Quản Thành phố Hồ Chí Minh tách bộ phận Đệ Nhất Cấp sang tiếp thu cơ sở vật chất trường Thiên Phước của người Hoa, lập thành trường Cao Đẳng Sư Phạm, dùng từ University cho Đại Học Sư Phạm, và từ College cho Cao Đẳng Sư Phạm, trong khi cả hai theo cách gọi truyền thống ở tiếng Việt đều là “đại học”, và cả hai đều phải dùng chung từ tiếng Anh là Faculty hay College hoặc School do cả hai cùng chung chỉ một ngành duy nhất là đào tạo giáo viên.

Việc tước bỏ danh xưng “đại học” của “college” vừa sai ý nghĩa tiếng Anh vừa gây mất lợi thế tâm lý nơi sinh viên, gây tác hại nhãn tiền đến tất cả các kế sách đào tạo nguồn nhân lực quốc gia. Do đó, bài tham luận này gọi tất cả sinh viên tốt nghiệp cao đẳng 3 năm hay đại học 4 năm đều là nhân lực trình độ đại học, và các biện pháp cách tân đại học đều áp dụng cho universitycollege ở Việt Nam.

2) Đại Học/Cao Đẳng Nghiệp Vụ:tương đương từ tiếng Anh Career College hay Vocational School, thay thế danh từ không thích hợp “Cao Đẳng Nghề”.

3) Nghiệp Vụ: từ trang trọng dùng thay thế từ bình dân “Nghề” vốn không bao giờ thích hợp trong hệ thống giáo dục Việt Nam do gây phản tác dụng về tâm lý nơi học sinh và phụ huynh học sinh. Trong nội dung tham luận này, nghiệp vụ theo thực tế tổ chức hướng nghiệphuấn nghiệp ở các cường quốc nên bao trùm cả những ngành mà Việt Nam gán ghép vào chỉ hệ đại học (Phụ Lục 1).

4) Giáo Dục: chức năng không thuộc phạm vi trách nhiệm của tất cả các trường đại học trên toàn thế giới.

5) Giảng Dạy: là từ tiếng Việt dùng trong rất nhiều trường hợp nhưng có ý nghĩa khác nhau và thường không được người Việt phân định rõ.

Giảng dạy với nghĩa teaching trong tiếng Anh sẽ chỉ thích hợp cho các cấp tiểu học và trung học, nơi giáo viên cung cấp kiến thức phổ thông và bao quát mà mỗi công dân tương lai phải có để là người trưởng thành có hiểu biết về bổn phận công dân, thích nghi với các yêu cầu xã hội trong cuộc sống, và khả năng nhận định để có quyết định thích hợp trong lựa chọn một ngành nghề theo đuổi vì mục đích chính: kế sinh nhai tự lập cho bản thân.

Ở tất cả các trường đại học, giảng dạy được hiểu như lecturetrain trong tiếng Anh tức thuyết trình huấn luyện , là công việc hướng dẫn thực hiện những phần việc chuyên môn cho một nghề nghiệp đặc thù mà sinh viên sẽ lập lại tại nơi cung cấp kế sinh nhai tự lập cho bản thân nên không thể không găn liền với huấn nghiệp.

6) Đào Tạo: chức năng liên quan đến huấn nghiệp; chức năng này là duy nhất đúng ở tất cả các trường đại học Việt Nam.

7) Huấn Nghiệp: dùng thay thế từ Dạy Nghề vì lý do bất lợi tâm lý do tên gọi bình dân bình thường và vì ở Việt Nam đã tầm thường hóa Dạy Nghề khi thiên nhiều hơn về các ngành nghề lao động chân tay và kỹ thuật cơ bản mà cao nhất là hệ trung cấp.

Huấn Nghiệp chức năng chính của tất cả các trường đại học.

8)Hướng Nghiệp: công tác tư vấn của hội đồng tư vấn ở mỗi trường đại học gồm các giáo viên có kinh nghiệm thực tiễn đối với công tác doanh nghiệp, thị trường lao động, liên kết doanh nghiệp bảo đảm thực hiện đầy đủ nội dung không thể thiếu của thực tập thực tế tại doanh nghiệp cũng như bảo đảm nơi đến cho “đầu ra” output của lực lượng nhân lực đã hoàn tất chương trình đào tạo trình độ đại học.

Công tác hướng nghiệp với đầy đủ các yêu cầu công việc nêu trên cũng có thể được thực hiện bởi đơn vị dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài hợp đồng hợp tác liên kết với mỗi trường đại học (Phụ Lục 2).

Hướng nghiệp không là nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục hay bất kỳ cơ quan nào của Nhà Nước tại địa phương hay ở cấp trung ương.

Công tác hướng nghiệp chuyên nghiệp được tiến hành dưới các dạng:

a- Hội thảo tuyển sinh

b- Tư vấn giai đoạn đầu với sinh viên năm thứ nhất. Mục đích: cung cấp thông tin như nêu ở Phần B, giải đáp thắc mắc.

c- Tư vấn giai đoạn giữa chương trình đào tạo. Mục đích: cập nhật thông tin Phần B, giải đáp thắc mắc, tư vấn lựa chọn phân ban chuyên môn chủ lực.

d- Tư vấn giai đoạn cuối với sinh viên năm chót. Mục đích: cập nhật thông tin  Phần B, giải đáp thắc mắc, tư vấn việc làm / hồ sơ việc làm / nhà tuyển dụng tiềm năng / thực tập các kỹ năng tìm việc và làm việc.

e- Tư vấn doanh nghiệp trong phát triển kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực, đào tạo và bồi dưỡng, nâng cấp trình độ cho nhân lực đã đào tạo, nhằm xây dựng các mối liên kết chiến lược giữa trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.

B- Khái Quát Các Chuẩn Mực Hiện Đại Trong Tuyển Dụng Nhân Lực

Để chuẩn bị nội dung huấn nghiệp thích hợp nơi trường đại học, đồng thời sinh viên cần hiểu biết để tự đầu tư, tự tập trung rèn luyện, và tự tìm tòi học hỏi qua các phương tiện truyền thông đại chúng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm tự trang bị tạo thế cạnh tranh cao trên đường tìm việc và lập nghiệp sau tốt nghiệp, các chuẩn mực sau được nêu như nguồn tham khảo khái quát.

1) Đặc Điểm Con Người

Doanh nghiệp thời hiện đại trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu đều nhận thức rõ về tầm quan trọng của đội ngũ nhân lực tài giỏi trong tạo sức cạnh tranh tốt hơn của doanh nghiệp trong thị trường. Dù có những khác biệt trong cách nhìn nhận thế nào là nhân lực tài giỏi, nội dung văn hóa doanh nghiệp được thực thi, các chủ trương kinh doanh và cách xác lập chiến lược cùng chiến thuật kinh doanh, đa số vẫn quan tâm đến những điểm chung nơi tính cách người nhân viên, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – sự tận tụy, không có quá trình công tác có quá nhiều thay đổi ngành nghề trong ngắn hạn, có kiến thức nghề nghiệp và nghiệp vụ chuyên môn vững, có tính chuyên nghiệp, đạo đức kinh doanh, trung tín, có văn hóa, k‎ỹ luật, tự trọng, có đồng thời khả năng làm việc chủ động độc lập và làm việc trong đội ngũ, và có sức khỏe tốt.

Trong những tính cách trên, người sinh viên cần đến các chương trình đào tạo của nhà trường về nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, đạo đức kinh doanh, và các kỹ năng mềm cần thiết cho làm việc trong tập thể cũng như quản lý công việc nơi doanh nghiệp.

Nhân cách không tách rời con người nghiệp vụ, nên đối với những “đức tính” khác như tận tụy, trung tín, có văn hóa, k‎ỹ luật, tự trọng, chủ động, sáng tạo, tích cực, lạc quan, cầu tiến, và có sức khỏe tốt, v.v., người sinh viên bắt buộc phải tự dựng xây trang bị cho chính mình vì đó là những điểm cộng thêm giữ vai trò quyết định trong tìm việc, làm việc, và thăng tiến trong công việc. Không có những đức tính nhân cách này, nhân lực dù được đào tạo có trình độ đại học nghiệp vụ cao thực sự vẫn khó được sử dụng.

Đáp ứng yêu cầu đẳng cấp qua thể hiện bốn vai trò sau tại doanh nghiệp thường là mục đích đào tạo của các trường đại học nghiệp vụ cung cấp nhân lực có chất lượng cho thị trường lao động:

  ImageImage

2) Đặc Điểm Tính Chuyên Nghiệp                     

Tính chuyên nghiệp là một trong những kỹ năng không thể thiếu nơi nhân lực trong doanh nghiệp, và thường bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – những thể hiện như:

a- Hiểu biết mục tiêu, giá trị, sứ mệnh của doanh nghiệp

b- Hiểu biết trách nhiệm của bản thân đối với công việc được giao, vị trí công tác, vai trò đối với doanh nghiệp, tập thể, và đội ngũ

c- Hiểu biết cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, hệ thống báo cáo và nội dung phân công phân nhiệm trong doanh nghiệp

d- Hiểu biết sự kỳ vọng của doanh nghiệp với bản thân

e- Nắm vững nghiệp vụ, kiến thức chuyên ngành, và các mối quan hệ nghề nghiệp khi tác nghiệp

f- Hiểu biết các yêu cầu luật định đối với ngành nghề kinh doanh và nghiệp vụ chuyên môn đảm trách

g- Tự giác làm việc tận tụy và có tinh thần kỷ luật tự giác

h- Không ngừng hoàn thiện phương pháp làm việc và nâng cao hiệu quả việc làm

i- Luôn có định hướng phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp

j- Không ngừng học hỏi để nâng cao tính cạnh tranh của bản thân

3) Đặc Điểm Công Việc

Ngay cả khi tình hình kinh tế thế giới không có suy thoái hay khủng hoảng thì yêu cầu tuyển dụng vẫn theo các chuẩn mực tuyển dụng cao như phương cách tạo thế cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia đối với sự cạnh tranh cao trong thị trường. Do đó, nhân lực có trình độ đại học cao về chuyên môn nhất thiết vẫn phải có các kỹ năng khác để thích nghi và phát triển trong môi trường doanh nghiệp, nơi nhân lực có trình độ đại học cao ấy thực hiện chuyên môn vì kế sinh nhai tự lập cho bản thân. Chuyên môn hóa cực cao và riêng lẻ là yêu cầu chỉ còn tồn tại trong vài ngành đặc thù liên quan đến công nghiệp vũ trụ, hàng không, quân sự, hóa học và hóa dầu, v.v., trong khi tuyệt đại đa số sinh viên tốt nghiệp lại nhắm đến các cơ sở kinh doanh, nơi quan tâm tuyển dụng nhân lực đa năng mà chuyên môn đã qua đào tạo được xem như thành tố đương nhiên phải có, doanh nghiệp không phải ưu tiên đòi hỏi, kiếm tìm.

Nhân lực tốt nghiệp Cử Nhân Anh Văn sẽ phải cạnh tranh với rất nhiều ứng viên khác cho một vị trí thư ký văn phòng, chức danh đòi hỏi nhiều kỹ năng quan trọng hơn là trình độ Anh Văn Đại Học, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi –  kỹ năng quản lý văn phòng, quản lý hành chánh, dịch vụ khách hàng, quan hệ công chúng, giao tiếp, xử lý tình huống, truyền thông nội bộ, đánh máy vi tính, xử lý dữ liệu thông tin, tốc ký và kế toán doanh nghiệp, kể cả phiên dịch là nghiệp vụ không có trong nội dung đào tạo một Cử Nhân Anh Văn. Thêm vào đó, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng cùng kỹ thuật trả lời phỏng vấn tuyển dụng, và kiến thức sâu rộng thực tế về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp còn làm gia tăng số lượng những yêu cầu phải có nơi ứng viên có tính cạnh tranh cao hơn số còn lại.

Trong khi đó, nhân lực tốt nghiệp Đại Học Y Dược, hay một kỹ sư từ Đại Học Bách Khoa sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt để có một việc làm tại một dưỡng đường hay một nhà máy đòi hỏi ứng viên phải vừa có trình độ ngoại ngữ cao vừa có kỹ năng lãnh đạo nhóm, kể cả có mối quan hệ rộng với danh mục riêng những khách hàng tiềm năng.

Không nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, sự quan tâm của doanh nghiệp, trường đại học khó đào tạo nhân lực tương thích.

Không nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, sự quan tâm của doanh nghiệp, nhân lực có trình độ đại học khó đáp ứng các yêu cầu tuyển dụng, làm trầm trọng thêm số liệu thống kê nhân lực chưa có việc làm sau đào tạo.

C-   Các Biện Pháp Cách Tân

Từ những khái quát được nêu ở Phần B, các biện pháp cách tân sau cần được xem xét bởi các trường đại học Việt Nam: 

1)  Tái Phân Định Giữa Hàn Lâm Và Nghiệp Vụ

Trường đại học ở Việt Nam dường như đã thiên về khuynh hướng hàn lâm khiến chức năng đào tạo bị khiếm khuyết. Nhất thiết phải có các phân định sau cả về ngữ nghĩa và chức năng thực tế: 

a- Đào Tạo Hàn Lâm:

Đào tạo hàn lâm là chức năng hẹp khi trường đại học cung cấp kiến thức và tạo môi trường nghiên cứu cho sinh viên theo các phân môn mà họ theo đuổi nhằm thỏa mãn sở thích hay mối quan tâm cá nhân, không liên quan đến yêu cầu cho một kế sinh nhai tự lập cho bản thân, hoặc có liên quan đến một kế sinh nhai tự lập cho bản thân họ chủ động tự lo liệu lấy với tư thế một doanh chủ entrepreneur, hoặc đơn giản vì họ có thiên hướng một nhà nghiên cứu hay trở thành giáo sư đại học hàn lâm. Nắm bắt được nguyện vọng của sinh viên như nêu ở phần C.2, trường đại học cung cấp chương trình đào tạo hàn lâm, tập trung duy chỉ vào kiến thức của và phương pháp nghiên cứu cho các vấn đề hàn lâm của những phân môn có liên quan. Những học bổng tiến sĩ Phật Học do các trường đại học danh tiếng Hoa Kỳ cấp cho sinh viên nước ngoài – kể cả sinh viên Việt Nam – tất nhiên không nhằm cung ứng lao động hay các nhà sư cho các cơ sở tôn giáo, mà chỉ đáp ứng nhu cầu nghiên cứu mang tính cá nhân của sinh viên và bổ sung vào kho tàng kiến thức chung của nhân loại các bản luận án tiến sĩ có nội dung mới. 

b- Đào Tạo Nghiệp Vụ:

Đào tạo nghiệp vụ là chức năng chính của bất kỳ trường đại học nào trên thế giới vì đáp ứng ba nhu cầu lớn: nhu cầu tìm việc của sinh viên, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, và nhu cầu giải quyết công ăn việc làm của quốc gia và xã hội. Chuẩn bị “đầu ra” output nguồn nhân lực thích hợp sẽ hoàn toàn khác với đào tạo hàn lâm, đòi hỏi giáo viên và giáo trình không chỉ là những tổng hợp và phân tích mang tính liệt kê sử học những tồn tại hay diễn biến của các chủ đề hàn lâm, mà là những nêu bật và phân tích những vấn đề hay những ngành liên quan mật thiết đến thực tế đời sống, liên quan đến các ngành học của sinh viên mà họ có thể tự kiểm chứng giá trị qua thực tế, tự học hỏi từ thực tế, tự nghiên cứu qua đối tượng cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của các case study và lập lại trong tác nghiệp thực tế cho một kế sinh nhai tự lập cho bản thân.  Xa rời chức năng này đồng nghĩa với việc bản thân trường đại học không có chương trình đào tạo đúng và dủ, đồng thời sai lệch trong định vị thương hiệu.

Từ sự tái phân định nêu trên, có thể nói nhất thiết một số lượng hạn chế trường đại học có cả hai hệ đào tạo hàn lâm và đào tạo nghiệp vụ, và đa số các trường đại học thực hiện chức năng đào tạo nghiệp vụ, thay vì tuyệt đại đa số các trường đại học hiện nay đào tạo nghiệp vụ (dựa vào tên mỗi trường và danh mục tuyển sinh mỗi trường) theo bài bản giảng dạy hàn lâm. 

2) Xác Định Vai Trò Quyết Định Duy Nhất Của Sinh Viên

Trong điều kiện giả định rằng các trường đại học ở Việt Nam đã hoàn tất việc tái phân định như đã nêu ở Phần C.1, sinh viên sẽ phải chịu trách nhiệm tuyệt đối và duy nhất đối với quyết định lựa chọn phân ban cụ thể, chuẩn hàn lâm hay nghiệp vụ, và trường đại học cung cấp hình thức và nội dung đào tạo thích hợp.

Tình trạng sinh viên cố gắng thi cho bằng được vào một trường đại học chỉ với ý nghĩ đơn giản và duy nhất rằng mình cần tự trang bị một bằng đại học để thuận lợi hơn cho mục đích tìm kế sinh nhai tự lập cho bản thân, mà không có hiểu biết phân định giữa hàn lâm và nghiệp vụ, thì đó không là lỗi của bất kỳ trường đại học nào đã thực hiện chương trình đào tạo theo định hướng huấn nghiệp của tái phân định giữa hàn lâmnghiệp vụ. 

3) Vai Trò Phụ Trợ Tư Vấn Hướng Nghiệp Của Đại Học

Từ phân tích tầm quan trọng của tái phân định và khẳng định sự quyết định trong trách nhiệm và nhận thức đầy đủ của mỗi cá nhân sinh viên đối với tương lai công việc và sự nghiệp của chính họ, trường đại học đóng góp một vai trò thứ yếu trong bằng cách thực hiện chức năng chủ lực của mình đối với nội dung hướng nghiệp chuyên nghiệp (Phần A.8) vốn không thể thiếu vì đó là trách nhiệm đương nhiên của bất kỳ cơ sở đào tạo nào và cũng vì đó là sự thể hiện đẳng cấp chuyên nghiệp cao của bất kỳ trường đại học nào.

Tư vấn hướng nghiệp còn để phục vụ việc thiết kế chương trình giảng dạy phù hợp của mỗi trường đại học, tránh được các phương hại đến uy tín của trường trước vấn nạn nhân lực do trường đào tạo không thích hợp với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Tư vấn hướng nghiệp do đó là biện pháp chủ động một cách thực sự hàn lâm (academically) của mỗi trường đại học nhằm bảo đảm “đầu ra” output của nguồn nhân lực có trình độ đại học do mình đào tạo luôn thích ứng và đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng tinh tế và thực tế của doanh nghiệp và thị trường một cách thực sự thực tiễn của nghiệp vụ (practically feasibly and viably). 

4) Đáp Ứng Tâm Lý Người Việt – Giải Pháp Thích Ứng

Các đề xuất nhằm thay đổi nhận thức về huấn nghiệp dù đến từ lãnh đạo Chính Phủ, Bộ Giáo Dục hay Hiệu Trưởng các trường đại học đều hoặc không có tính khả thi, hoặc viễn vông không thực tế, không chuyên nghiệp, hoặc cục bộ khi đề nghị giao hẳn “công tác đào tạo nghề nghiệp” cho hệ thống chung gộp của hệ trung cấp và cao đẳng một cách phi kiến thức về vai trò huấn nghiệp của trường đại học, hay đơn giản nói theo mô hình nước ngoài hoặc nêu cả khó khăn của cường quốc kinh tế như Nhật Bản trong vấn nạn đào tạo hướng nghiệp ở nước họ để làm lá chắn biện minh cho những vấn nạn vẫn còn nan giải của Việt Nam.

Giải pháp thích ứng Customization phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, tâm lý người Việt, và văn hóa tập tục gia đình Việt, nên là các tái cơ cấu như sau:

a- Đổi tên tất cả các trường đại học và cao đẳng thành “đại học” theo đúng ý nghĩa như trong tiếng Anh; cho phép các trường cao đẳng “được đổi tên” này sử dụng chung từ tiếng AnhUniversity với các trường đại học khác, dù ý nghĩa của University có khác biệt (Phần A.1).

b- Đổi tên các trường Trung Cấp Nghề thành Cao Đẳng Nghiệp Vụ.

 Image

Ghi chú:

(*) Tính hấp dẫn 1:

– Thời gian học: mỗi tuần từ 2 đến 5 ngày, thích hợp với đa số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn

– Ưu tiên về tài trợ Nhà Nước

– Có thu nhập trong thời gian học nếu có thực tập thực tế tại xí nghiệp, cơ quan, doanh nghiệp

– Thỏa mãn tâm lý: Trường Nghề luôn tạo mặc cảm tự ti do mặc định dành cho học sinh yếu văn hóa, yếu tài chính. Trường Cao Đẳng Nghiệp Vụ có danh xưng Hán Việt trang trọng, tạo mặc cảm tự tôn do mặc định dành cho học sinh có năng khiếu kỹ thuật.

– Có “danh dự” đạt cấp Cao Đẳng về văn hóa và nghiệp vụ khi kết thúc chương trình trung học nghiệp vụ, có thể kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp, so với bạn học đồng cấp ở hệ phổ thông thi Tú Tài chưa thể có việc làm.

(**) Tính hấp dẫn 2:

Học sinh có bằng cán sự diploma được ưu tiên vào học Đại Học Bách Khoa hay Đại Học Kỹ Thuật, bảo đảm chất lượng “đầu vào” input hoàn toàn phù hợp với các đại học này, giúp chất lượng “đầu ra” gồm những kỹ sư có thực tài đã kinh qua 8 năm được đào tạo và thực tập thực tế về kỹ thuật, so với việc tuyển sinh từ học sinh phổ thông có bằng tú tài vào đào tạo từ đầu các ngành kỹ thuật, khó thể bảo đảm chất lượng “đầu ra” của những kỹ sư chỉ có 4 năm được đào tạo về kỹ thuật.

Việc tái cơ cấu và tái tổ chức trên sẽ giúp hóa giải vấn nạn các đầu tư cực kỳ tốn kém vào lĩnh vực huấn nghiệp đã chưa bao giờ đạt được kết quả như ý do không lưu ý đến các vấn đề nhạy cảm của tâm lý Việt và tư duy Việt đặc thù “chuộng danh”.

Đồng thời, số lượng cao của học sinh tham gia học tập hệ “cao đẳng” – một danh xưng mới thay thế cho trung học nghề hay trung học chuyên nghiệp – chắc chắn giúp cải thiện đáng kể công cuộc xóa đói giảm nghèo khi gia đình nghèo không cố gắng bằng mọi giá để con chỉ học chữ để vào đại học, vì học sinh học chữ tại trường cao đẳng vừa có thể tự tạo công ăn việc làm khi tốt nghiệp vừa có thể nếu muốn sẽ học tiếp lên đại học ở các trường đại học danh giá không phải dự tuyển sinh.

Điều cuối cùng song không kém phần quan trọng là xã hội có nguồn cung ứng cán sự (chuyên viên) kỹ thuật và kỹ sư đáp ứng được nhu cầu gia tăng trong xây dựng phát triển công nghiệp của nền kinh tế quốc dân, thay vì cứ mãi trở trăn than thở về sự bất túc nghiêm trọng mang tính trầm kha của nguồn cung ứng lao động kỹ thuật đối với nhu cầu to lớn của thị trường công nghệ và công nghiệp nước nhà. 

5) Đổi Mới Nội Dung Giảng Dạy Theo Phân Định

Việc đổi mới theo phân định hệ hàn lâm và hệ nghiệp vụ của cùng một phân môn tại cùng một trường đại học theo phân định là việc tất nhiên, theo đó, giả dụ như một học sinh có bằng tú tài muốn thi vào Khoa Anh văn trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn sẽ được tư vấn đễ lựa chọn hướng theo đuổi để được giảng dạy phù hợp với nguyện vọng và kế hoạch sự nghiệp cá nhân theo mẫu giả định sau của tư vấn hướng nghiệp:

 Image

Các chi tiết về những tín chỉ cần cho mỗi phân môn có thể tham khảo ở Phụ Lục 1 để thiết kế phong phú hơn, thực tế hơn, và đẳng cấp đại học  hơn so với nội dung chất lượng của chương trình tín chỉ huấn nghiệp trung học nước ngoài. 

6) Đổi Mới Tổ Chức Đại Học Theo Phân Định 

a- Sự Cần Thiết Phải Đào Tạo Nghiệp Vụ Huấn Nghiệp Cho Giáo Viên Cơ Hữu

Do kiểu tư duy mặc định không xem trọng tính áp dụng và hữu dụng của các chương trình đào tạo, chưa phân định được sự khác biệt giữa giảng dạy và đào tạo, không hoặc chưa có liên kết hữu hiệu giữa đào tạo và tính tương thích tương hợp của kết quả đào tạo với yêu cầu tuyển dụng cụ thể của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của thị trường lao động, đa số các giáo viên đại họcdễ phát huy hiệu quả giảng dạy đối với nội dung hàn lâm, nhưng lại không có kinh nghiệm công việc cụ thể và trực tiếp trong từng ngành kỹ nghệ, chưa kinh qua quá trình đào tạo dựa trên cơ sở các kỹ năng cũng như áp dụng lý thuyết vào thực hành trong môi trường doanh nghiệp nên vai trò tư vấn hướng nghiệp hoặc không thể thể hiện hoặc thể hiện rất mờ nhạt và vô hiệu, dẫn đến tình trạng không thể biên soạn giáo trình phù hợp và định ra được phương pháp đào tạo thích hợp nếu chức năng huấn nghiệp được bắt đầu hay được tái khởi động ở trường đại học/cao đẳng. 

b- Xây Dựng Cơ Chế Theo Định Hướng Lấy Sinh Viên Làm Trung Tâm

Từ bỏ lối tư duy không còn thích hợp của sự đặt các hoạt động giáo dục và đào tạo ra ngoài ý niệm kinh doanh, các trường đại học phải là những doanh nghiệp thành công trong cung cấp dịch vụ đào tạo cho đối tượng khách hàng là sinh viên, thay vì ở tháp ngà giảng dạy như ban phát ân huệ cho sinh viên như người cấp thấp của kiểu cũ (“không Thầy đố mày làm nên”, hay “một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy). Cơ chế tổ chức lấy sinh viên là trung tâm là thể hiện chuyên nghiệp của dịch vụ khách hàng đẳng cấp cao, đáp ứng nhu cầu học tập hàn lâm hay nghiệp vụ của sinh viên bằng dịch vụ cao cấp được thực hiện bởi những giáo viên cao cấp với giáo trình cao cấp trong môi trường tiện nghi vật chất cao cấp. Việc xây dựng này tương tự như hoạt động của các đại học nước ngoài vốn luôn quan tâm đầu tư cao vào giáo dục huấn nghiệp hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, mà còn ở các định hướng nghề nghiệp chuyên nghiệp, xác lập mục tiêu và mục đích đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo trên cơ sở tương thích tương hợp năng lực nhằm đạt hiệu quả chuyển giao bí quyết và phát triển năng lực sinh viên đáp ứng yêu cầu của các ngành kỹ nghệ trong nền kinh tế quốc dân.

D- Kết Luận 

Từ những phân tích trên, việc tái phân định là nhu cầu cấp bách của hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, không những phù hợp với quy mô các trường đại học nước ngoài trong công cuộc phát triển huấn nghiệp tại quốc gia của họ, mà còn nhằm hiện đại hóa tư duy của ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Một khi lấy con người làm trung tâm – trong phạm vi tham luận này là sinh viên – thì việc tìm hiểu tâm tư nguyên vọng và tâm lý của sinh viên cũng như các quan tâm của gia đình sinh viên và cộng đồng doanh nghiệp cũng là điều nhất thiết phải tính đến không những trong hoạch định các kế sách chiến lược quốc gia mà còn trong tổ chức hiệu quả các chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp, phát huy các giá trị cộng thêm nơi những sản phẩm của các trường đại học nước nhà.

Phụ Lục 1:

Tham Khảo Danh Mục Huấn Nghiệp Nước Ngoài

 ImageImage

Image

Image

Phụ Lục 2:

Doanh Thương Mỹ Á

Doanh Thương Mỹ Á (MYA BizCorp – www.myabiz.biz) cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp và giải pháp hàn lâm cũng như nghiệp vụ sau cho các trường Đại Học và Cao Đẳng Việt Nam:

1) Tư vấn xây dựng chương trình đại học nghiệp vụ (career college) lồng ghép trong tổ chức hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng khối kỹ thuật.

2) Tư vấn xây dựng và hợp tác thực hiện chương trình đại học nghiệp vụ (career college) lồng ghép trong tổ chức hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng khối ngoại ngữ Anh

3) Tư vấn xây dựng và hợp tác thực hiện chương trình ngoại khóa hay chính khóa về tất cả các kỹ năng mềm trong quản trị kinh doanh và quản trị doanh nghiệp lồng ghép trong chương trình chính quy hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng tất cả các khối, các ngành, các ban, theo hình thức

a- Chìa Khóa Trao Tay (Turn Key Project): huấn luyện giáo viên cơ hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng, tư vấn kỹ năng, tư vấn kiến thức thực tiễn kinh doanh, cung cấp tài liệu in ấn và PowerPoint slideshow kèm các chuyên đề trên.

   b- Cộng Tác Giảng Dạy: thực hiện các lớp ngoại khóa trên cho sinh viên, giảng dạy bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh.

   c- Dịch Vụ Tư Vấn Kỹ Năng: thực hiện tất cả các yêu cầu của trường Đại Học và Cao Đẳng đối với bất kỳ chủ đề kỹ năng nào trong danh mục, ngoài danh mục, mới xuất hiện hay chưa có trên thế giới, hoặc phát sinh từ thực tiễn hoạt động của trường Đại Học và Cao Đẳng.

   d- Dịch Vụ Biên Soạn Giáo Trình, Hiệu Đính Giáo Trình, Dịch Thuật Giáo Trình Anh-Việt Việt-Anh: đặc biệt để trường Đại Học và Cao Đẳng tự tiến hành giảng dạy sinh viên.

   e- Tư Vấn Hướng Nghiệp: hợp đồng với trường Đại Học và Cao Đẳng làm việc với sinh viên năm đầu và sinh viên năm cuối.

4) Tư vấn xây dựng chương trình đại học nghiệp vụ (career college) riêng biệt hoặc lồng ghép trong tổ chức các dự án thành lập mới trường Đại Học và Cao Đẳng.

5) Tư vấn xây dựng chương trình và cùng thực hiện chương trình đại học nghiệp vụ (career college) trên cơ sở nâng đẳng cấp các Trường Trung Cấp Nghề hiện hữu. 

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

A Curriculum for Excellence, the Scottish Executive. 2004. The Curriculum Review Group.

Casey, Helen, Olga Cara, Jan Eldred, Sue Grief, Rachel Hodge, Roz Ivanicv, Tom Jupp, Desiree Lopez and Bethia McNeil. 2006. Embedding Literacy, Language and Numeracy in Post-16 Vocational Programmes – the Impact on Learning and Achievement. London: NRDC, Institute of Education.

Decennial Census Program. 2010. US Census Bureau, US Department of Commerce.

Dự Báo Cả Cung Và Cầu Để Lập Quy Hoạch Nhân Lực 2011-2015-2020. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/DU-BAO-NHU-CAU-NHAN-LUC/Du-bao-ca-cung-va-cau-de-lap-quy-hoach-nhan-luc-.aspx#neo_content

Importance of Vocational Skills and Careers. 2010. EngineeringUK.

Initial Teacher Training in Vocational Subject.  2007. Crown. www.ofsted.gov.uk

Institute of Technology. 2010. http://en.wikipedia.org/wiki/Institute_of_technology

Learning and Teaching in Vocational Subjects MA / Postgraduate Certificate. 2010

Minh Nhật. 2010. Phát Triển Giáo Dục Dạy Nghề: Cần Một Cuộc Cách Mạng Về Nhân Thức. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/DU-B

Ghi chú:

Bài trên là tham luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức tại Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10/2010. Được đăng lại trên emotino.com ngày 25-10-2010 (http://www.emotino.com/bai-viet/18856/nhung-phan-tich-moi-ly-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan)

Chất Lượng Giáo Dục ở Việt Nam

Hoang Huu Phuoc, MIB

Theo tin tức báo chí, tại hội nghị lấy ý kiến nâng cao chất lượng giáo dục do Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tổ chức ngày hôm qua 31-7-2013 tại Hà Nội, Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan đã cho rằng khâu quản lý thi cử và quản lý chất lượng người thầy đã bị buông lỏng. Đây là một nội dung quan trọng mà tôi lâu nay cũng đã thường hay nhận định. Tiếc là phát biểu của các vị giáo sư tiến sĩ được báo chọn để kể cho người đọc báo biết thì chỉ toàn là những ý kiến mà chắc chắn sẽ có những hậu quả nhãn tiền – y như rất nhiều chục năm qua việc cải cách giáo dục đã luôn dựa trên những ý kiến được chọn lọc từ những đề xuất của các vị giáo sư tiến sĩ khác, hóa ra cùng trên cơ sở thăng hoa chủ quan cực kỳ quen thuộc đến nhàm chán nhằm phủ lớp sơn mới lên bề nặt tượng gỗ mục ruỗng thay vì gia cố vững chắc từ bên trong, nên đã theo cái cách gở rối bằng hành động vò thêm để cuộn rối trông tròn trịa hơn may ra thiên hạ quên đi thực chất đó vẫn là cuộn chỉ rối, hoặc như rải hắc ín lên bề mặt đường giao thông mà không xới đào nện chắc đất nền khiến ai cũng thấy đường sá đẹp hơn, mới hơn, cao hơn để đổ nước mưa dạt ra hai bên xuống ngập khu dân cư ở vị trí ngày càng thấp hơn mặt đường, nhưng sau đó nhanh chóng hư hỏng và lún sụp thành ổ gà, ổ trâu, ổ voi như tấm da beo, y như cái sự nghiệp giáo dục nhiều chục năm qua vẫn cứ tuột dốc do được điều hành và vấn kế bởi những người không trình độ, không trách nhiệm, và không phù hợp.

Như đã giới thiệu trên blog hhphuoc.blog.com, tôi đã lập trang http://hoanghuuphuocteachers.blog.com tập trung đăng các bài tôi viết về các Thầy Cô của tôi cùng các ý kiến, phê bình, nhận định của tôi về giáo dục, chẳng hạn như:

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại và Tương Lai

Phong Cách Người Thầy

Lời Ngỏ Cùng Học Sinh

Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Lịch Sử

Khiêm Tốn

Bí Quyết Thành Công

Cảm Ơn Học Trò

Lời Động Viên Luôn Cần Thiết Cho Đời

Nay nhân có hội nghị nói trên, tôi chọn đăng lại trên blog này những bài viết sau bắt đầu từ ngày mai để một lần nữa khẳng định việc cách tân giáo dục phải đi vào thực chất chứ không dựa vào sự thăng hoa của trí tưởng tượng:

1- Tham luận của Hoàng Hữu Phước: “Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân” tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức ngày 23-10-2010 tại Đại Học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh.

2) Bài “Lời Khuyên Dành Cho Các Giáo Viên Sử” của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino ngày 18-9-2012.

Những bài viết khác của tôi về chuyên đề cách học để thật sự giỏi tiếng Anh cũng sẽ được tập hợp trong một blog khác và được giới thiệu trong thời gian sớm nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế