Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

Tham Luận của ThS Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức tại Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10/2010

(Note: all images as attached hereunder throughout the text are by Hoang Huu Phuoc)

Image

 Image

Tóm Tắt Nội Dung

Từ bấy lâu nay việc phát triển mạnh các trường đại học ở Việt Nam dường như càng tạo nên sự cách biệt ngày càng lớn hơn giữa kết quả đào tạo số lượng cao với nhu cầu lao động chất lượng cao của thị trường, dẫn đến các nhận định và đánh giá tuy chưa đúng nhưng có tác động nhất định đến uy tín về chất lượng đào tạo của hệ thống cao đẳng – đại học Việt Nam đối với các doanh nghiệp có nhu cầu nhân sự và đối với các trường đồng cấp nước ngoài.

Từ sự thật là đã chưa từng có các phân tích đúng và thích hợp về hiện trạng hay vấn nạn trên,  tham luận này đưa ra những điểm mấu chốt mang tính thực tiễn trong nhận định thẳng thắn, thực tế trong đánh giá trực diện để làm cơ sở có so sánh và nhận diện các vấn nạn nhất thiết cần đến những biện pháp cách tân cả về tư duy lẫn tổ chức nơi bản thân trường đại học và sinh viên, theo đó nội dung hướng nghiệp không chỉ là sự tư vấn ban đầu cho và xuyên suốt quá trình học tập của sinh viên mà còn là chương trình cụ thể và chi tiết được thực hiện ngay nơi trường đại học, song song với nội dung hàn lâm truyền thống luôn có tại bất kỳ trường đại học nào trên thế giới.

Cuối cùng, những lý giải giúp giải thích và giải quyết căn cơ vấn nạn bất tương thích nêu trên để việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ đại học ở Việt Nam thực sự đáp ứng hiệu quả nhu cầu việc làm của sinh viên tốt nghiệp và tuyển dụng của doanh nghiệp, góp phần tạo nên giá trị cộng thêm thật sự với nguồn nhân lực Việt Nam và trường đại học Việt Nam.

A- Dẫn Nhập & Giải Thích Thuật Ngữ

Đáp ứng hiệu quả nhu cầu lao động trong nền kinh tế quốc dân luôn là mối quan tâm của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là cường quốc kinh tế truyền thống như Anh, Đức, Nhật, hay cường quốc kinh tế cơ hội như Trung Quốc, và tùy theo thực tế và văn hóa riêng của mỗi nước, những hệ thống và phương pháp giáo dục – đào tạo thích hợp đã được dựng xây, áp dụng, bổ sung, điều chỉnh, hoàn chỉnh, và phát triển. Song, quy trình đã kinh qua thực tế áp dụng hiệu quả trên thế giới này dường như đã không được Việt Nam – đất nước của một dân tộc thường được phong tặng và thường tự hào tự tặng phong là ham học hỏi – quan tâm học tập, mô phỏng, khiến chất lượng đào tạo của các trường đại học Việt Nam vừa không cao so với hệ hàn lâm truyền thống cổ điển bảo thủ của nước ngoài vừa thấp so với hệ thực dụng hiện đại cấp tiến cũng của nước ngoài, mà tác nhân gây ra hiện trạng bất tương thích, bất tương hợp này chính là cách tư duy nghịch với văn hóa xã hội đặc thù cùng với các kế sách không khả thi, không khả dụng.

Để phục vụ yêu cầu ngữ nghĩa dùng cho những biện pháp cách tân khả dĩ khắc phục những vấn nạn trên, những thuật ngữ sau (xếp theo thứ tự mức độ liên quan) được sử dụng theo ý nghĩa đặc biệt trong tham luận này:

1) Trường Đại Học: gồm trường đại học và trường cao đẳng.

Trước 1975 tại Việt Nam Cộng Hòa có nhiều trường đại học, song khi viết tiếng Anh thì chỉ có Viện Đại Học Sài Gòn và Viện Đại Học Huế được sử dụng từ “University”. Tất cả các trường đại học khác đều có tên tiếng Anh là “Faculty” (đồng nghĩa với “College”) tức đại học chuyên ngành trực thuộc hệ thống đại học đa ngành (tương đương “đại học tổng hợp”) tức viện đại học (“University”), thí dụ:

a- Đại Học Văn Khoa: Faculty of Letters

b- Đại Học Khoa Học: Faculty of Science

c- Đại Học Luật Khoa: Faculty of Law

Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa có hai hệ Đệ Nhất Cấp 3 năm và Đệ Nhị Cấp 4 năm để đào tạo “giáo sư” trung học cấp 2 và cấp 3. Ngay sau ngày Giải Phóng Miền Nam, Ủy Ban Quân Quản Thành phố Hồ Chí Minh tách bộ phận Đệ Nhất Cấp sang tiếp thu cơ sở vật chất trường Thiên Phước của người Hoa, lập thành trường Cao Đẳng Sư Phạm, dùng từ University cho Đại Học Sư Phạm, và từ College cho Cao Đẳng Sư Phạm, trong khi cả hai theo cách gọi truyền thống ở tiếng Việt đều là “đại học”, và cả hai đều phải dùng chung từ tiếng Anh là Faculty hay College hoặc School do cả hai cùng chung chỉ một ngành duy nhất là đào tạo giáo viên.

Việc tước bỏ danh xưng “đại học” của “college” vừa sai ý nghĩa tiếng Anh vừa gây mất lợi thế tâm lý nơi sinh viên, gây tác hại nhãn tiền đến tất cả các kế sách đào tạo nguồn nhân lực quốc gia. Do đó, bài tham luận này gọi tất cả sinh viên tốt nghiệp cao đẳng 3 năm hay đại học 4 năm đều là nhân lực trình độ đại học, và các biện pháp cách tân đại học đều áp dụng cho universitycollege ở Việt Nam.

2) Đại Học/Cao Đẳng Nghiệp Vụ:tương đương từ tiếng Anh Career College hay Vocational School, thay thế danh từ không thích hợp “Cao Đẳng Nghề”.

3) Nghiệp Vụ: từ trang trọng dùng thay thế từ bình dân “Nghề” vốn không bao giờ thích hợp trong hệ thống giáo dục Việt Nam do gây phản tác dụng về tâm lý nơi học sinh và phụ huynh học sinh. Trong nội dung tham luận này, nghiệp vụ theo thực tế tổ chức hướng nghiệphuấn nghiệp ở các cường quốc nên bao trùm cả những ngành mà Việt Nam gán ghép vào chỉ hệ đại học (Phụ Lục 1).

4) Giáo Dục: chức năng không thuộc phạm vi trách nhiệm của tất cả các trường đại học trên toàn thế giới.

5) Giảng Dạy: là từ tiếng Việt dùng trong rất nhiều trường hợp nhưng có ý nghĩa khác nhau và thường không được người Việt phân định rõ.

Giảng dạy với nghĩa teaching trong tiếng Anh sẽ chỉ thích hợp cho các cấp tiểu học và trung học, nơi giáo viên cung cấp kiến thức phổ thông và bao quát mà mỗi công dân tương lai phải có để là người trưởng thành có hiểu biết về bổn phận công dân, thích nghi với các yêu cầu xã hội trong cuộc sống, và khả năng nhận định để có quyết định thích hợp trong lựa chọn một ngành nghề theo đuổi vì mục đích chính: kế sinh nhai tự lập cho bản thân.

Ở tất cả các trường đại học, giảng dạy được hiểu như lecturetrain trong tiếng Anh tức thuyết trình huấn luyện , là công việc hướng dẫn thực hiện những phần việc chuyên môn cho một nghề nghiệp đặc thù mà sinh viên sẽ lập lại tại nơi cung cấp kế sinh nhai tự lập cho bản thân nên không thể không găn liền với huấn nghiệp.

6) Đào Tạo: chức năng liên quan đến huấn nghiệp; chức năng này là duy nhất đúng ở tất cả các trường đại học Việt Nam.

7) Huấn Nghiệp: dùng thay thế từ Dạy Nghề vì lý do bất lợi tâm lý do tên gọi bình dân bình thường và vì ở Việt Nam đã tầm thường hóa Dạy Nghề khi thiên nhiều hơn về các ngành nghề lao động chân tay và kỹ thuật cơ bản mà cao nhất là hệ trung cấp.

Huấn Nghiệp chức năng chính của tất cả các trường đại học.

8)Hướng Nghiệp: công tác tư vấn của hội đồng tư vấn ở mỗi trường đại học gồm các giáo viên có kinh nghiệm thực tiễn đối với công tác doanh nghiệp, thị trường lao động, liên kết doanh nghiệp bảo đảm thực hiện đầy đủ nội dung không thể thiếu của thực tập thực tế tại doanh nghiệp cũng như bảo đảm nơi đến cho “đầu ra” output của lực lượng nhân lực đã hoàn tất chương trình đào tạo trình độ đại học.

Công tác hướng nghiệp với đầy đủ các yêu cầu công việc nêu trên cũng có thể được thực hiện bởi đơn vị dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài hợp đồng hợp tác liên kết với mỗi trường đại học (Phụ Lục 2).

Hướng nghiệp không là nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục hay bất kỳ cơ quan nào của Nhà Nước tại địa phương hay ở cấp trung ương.

Công tác hướng nghiệp chuyên nghiệp được tiến hành dưới các dạng:

a- Hội thảo tuyển sinh

b- Tư vấn giai đoạn đầu với sinh viên năm thứ nhất. Mục đích: cung cấp thông tin như nêu ở Phần B, giải đáp thắc mắc.

c- Tư vấn giai đoạn giữa chương trình đào tạo. Mục đích: cập nhật thông tin Phần B, giải đáp thắc mắc, tư vấn lựa chọn phân ban chuyên môn chủ lực.

d- Tư vấn giai đoạn cuối với sinh viên năm chót. Mục đích: cập nhật thông tin  Phần B, giải đáp thắc mắc, tư vấn việc làm / hồ sơ việc làm / nhà tuyển dụng tiềm năng / thực tập các kỹ năng tìm việc và làm việc.

e- Tư vấn doanh nghiệp trong phát triển kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực, đào tạo và bồi dưỡng, nâng cấp trình độ cho nhân lực đã đào tạo, nhằm xây dựng các mối liên kết chiến lược giữa trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.

B- Khái Quát Các Chuẩn Mực Hiện Đại Trong Tuyển Dụng Nhân Lực

Để chuẩn bị nội dung huấn nghiệp thích hợp nơi trường đại học, đồng thời sinh viên cần hiểu biết để tự đầu tư, tự tập trung rèn luyện, và tự tìm tòi học hỏi qua các phương tiện truyền thông đại chúng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm tự trang bị tạo thế cạnh tranh cao trên đường tìm việc và lập nghiệp sau tốt nghiệp, các chuẩn mực sau được nêu như nguồn tham khảo khái quát.

1) Đặc Điểm Con Người

Doanh nghiệp thời hiện đại trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu đều nhận thức rõ về tầm quan trọng của đội ngũ nhân lực tài giỏi trong tạo sức cạnh tranh tốt hơn của doanh nghiệp trong thị trường. Dù có những khác biệt trong cách nhìn nhận thế nào là nhân lực tài giỏi, nội dung văn hóa doanh nghiệp được thực thi, các chủ trương kinh doanh và cách xác lập chiến lược cùng chiến thuật kinh doanh, đa số vẫn quan tâm đến những điểm chung nơi tính cách người nhân viên, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – sự tận tụy, không có quá trình công tác có quá nhiều thay đổi ngành nghề trong ngắn hạn, có kiến thức nghề nghiệp và nghiệp vụ chuyên môn vững, có tính chuyên nghiệp, đạo đức kinh doanh, trung tín, có văn hóa, k‎ỹ luật, tự trọng, có đồng thời khả năng làm việc chủ động độc lập và làm việc trong đội ngũ, và có sức khỏe tốt.

Trong những tính cách trên, người sinh viên cần đến các chương trình đào tạo của nhà trường về nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, đạo đức kinh doanh, và các kỹ năng mềm cần thiết cho làm việc trong tập thể cũng như quản lý công việc nơi doanh nghiệp.

Nhân cách không tách rời con người nghiệp vụ, nên đối với những “đức tính” khác như tận tụy, trung tín, có văn hóa, k‎ỹ luật, tự trọng, chủ động, sáng tạo, tích cực, lạc quan, cầu tiến, và có sức khỏe tốt, v.v., người sinh viên bắt buộc phải tự dựng xây trang bị cho chính mình vì đó là những điểm cộng thêm giữ vai trò quyết định trong tìm việc, làm việc, và thăng tiến trong công việc. Không có những đức tính nhân cách này, nhân lực dù được đào tạo có trình độ đại học nghiệp vụ cao thực sự vẫn khó được sử dụng.

Đáp ứng yêu cầu đẳng cấp qua thể hiện bốn vai trò sau tại doanh nghiệp thường là mục đích đào tạo của các trường đại học nghiệp vụ cung cấp nhân lực có chất lượng cho thị trường lao động:

  ImageImage

2) Đặc Điểm Tính Chuyên Nghiệp                     

Tính chuyên nghiệp là một trong những kỹ năng không thể thiếu nơi nhân lực trong doanh nghiệp, và thường bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – những thể hiện như:

a- Hiểu biết mục tiêu, giá trị, sứ mệnh của doanh nghiệp

b- Hiểu biết trách nhiệm của bản thân đối với công việc được giao, vị trí công tác, vai trò đối với doanh nghiệp, tập thể, và đội ngũ

c- Hiểu biết cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, hệ thống báo cáo và nội dung phân công phân nhiệm trong doanh nghiệp

d- Hiểu biết sự kỳ vọng của doanh nghiệp với bản thân

e- Nắm vững nghiệp vụ, kiến thức chuyên ngành, và các mối quan hệ nghề nghiệp khi tác nghiệp

f- Hiểu biết các yêu cầu luật định đối với ngành nghề kinh doanh và nghiệp vụ chuyên môn đảm trách

g- Tự giác làm việc tận tụy và có tinh thần kỷ luật tự giác

h- Không ngừng hoàn thiện phương pháp làm việc và nâng cao hiệu quả việc làm

i- Luôn có định hướng phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp

j- Không ngừng học hỏi để nâng cao tính cạnh tranh của bản thân

3) Đặc Điểm Công Việc

Ngay cả khi tình hình kinh tế thế giới không có suy thoái hay khủng hoảng thì yêu cầu tuyển dụng vẫn theo các chuẩn mực tuyển dụng cao như phương cách tạo thế cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia đối với sự cạnh tranh cao trong thị trường. Do đó, nhân lực có trình độ đại học cao về chuyên môn nhất thiết vẫn phải có các kỹ năng khác để thích nghi và phát triển trong môi trường doanh nghiệp, nơi nhân lực có trình độ đại học cao ấy thực hiện chuyên môn vì kế sinh nhai tự lập cho bản thân. Chuyên môn hóa cực cao và riêng lẻ là yêu cầu chỉ còn tồn tại trong vài ngành đặc thù liên quan đến công nghiệp vũ trụ, hàng không, quân sự, hóa học và hóa dầu, v.v., trong khi tuyệt đại đa số sinh viên tốt nghiệp lại nhắm đến các cơ sở kinh doanh, nơi quan tâm tuyển dụng nhân lực đa năng mà chuyên môn đã qua đào tạo được xem như thành tố đương nhiên phải có, doanh nghiệp không phải ưu tiên đòi hỏi, kiếm tìm.

Nhân lực tốt nghiệp Cử Nhân Anh Văn sẽ phải cạnh tranh với rất nhiều ứng viên khác cho một vị trí thư ký văn phòng, chức danh đòi hỏi nhiều kỹ năng quan trọng hơn là trình độ Anh Văn Đại Học, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi –  kỹ năng quản lý văn phòng, quản lý hành chánh, dịch vụ khách hàng, quan hệ công chúng, giao tiếp, xử lý tình huống, truyền thông nội bộ, đánh máy vi tính, xử lý dữ liệu thông tin, tốc ký và kế toán doanh nghiệp, kể cả phiên dịch là nghiệp vụ không có trong nội dung đào tạo một Cử Nhân Anh Văn. Thêm vào đó, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng cùng kỹ thuật trả lời phỏng vấn tuyển dụng, và kiến thức sâu rộng thực tế về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp còn làm gia tăng số lượng những yêu cầu phải có nơi ứng viên có tính cạnh tranh cao hơn số còn lại.

Trong khi đó, nhân lực tốt nghiệp Đại Học Y Dược, hay một kỹ sư từ Đại Học Bách Khoa sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt để có một việc làm tại một dưỡng đường hay một nhà máy đòi hỏi ứng viên phải vừa có trình độ ngoại ngữ cao vừa có kỹ năng lãnh đạo nhóm, kể cả có mối quan hệ rộng với danh mục riêng những khách hàng tiềm năng.

Không nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, sự quan tâm của doanh nghiệp, trường đại học khó đào tạo nhân lực tương thích.

Không nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, sự quan tâm của doanh nghiệp, nhân lực có trình độ đại học khó đáp ứng các yêu cầu tuyển dụng, làm trầm trọng thêm số liệu thống kê nhân lực chưa có việc làm sau đào tạo.

C-   Các Biện Pháp Cách Tân

Từ những khái quát được nêu ở Phần B, các biện pháp cách tân sau cần được xem xét bởi các trường đại học Việt Nam: 

1)  Tái Phân Định Giữa Hàn Lâm Và Nghiệp Vụ

Trường đại học ở Việt Nam dường như đã thiên về khuynh hướng hàn lâm khiến chức năng đào tạo bị khiếm khuyết. Nhất thiết phải có các phân định sau cả về ngữ nghĩa và chức năng thực tế: 

a- Đào Tạo Hàn Lâm:

Đào tạo hàn lâm là chức năng hẹp khi trường đại học cung cấp kiến thức và tạo môi trường nghiên cứu cho sinh viên theo các phân môn mà họ theo đuổi nhằm thỏa mãn sở thích hay mối quan tâm cá nhân, không liên quan đến yêu cầu cho một kế sinh nhai tự lập cho bản thân, hoặc có liên quan đến một kế sinh nhai tự lập cho bản thân họ chủ động tự lo liệu lấy với tư thế một doanh chủ entrepreneur, hoặc đơn giản vì họ có thiên hướng một nhà nghiên cứu hay trở thành giáo sư đại học hàn lâm. Nắm bắt được nguyện vọng của sinh viên như nêu ở phần C.2, trường đại học cung cấp chương trình đào tạo hàn lâm, tập trung duy chỉ vào kiến thức của và phương pháp nghiên cứu cho các vấn đề hàn lâm của những phân môn có liên quan. Những học bổng tiến sĩ Phật Học do các trường đại học danh tiếng Hoa Kỳ cấp cho sinh viên nước ngoài – kể cả sinh viên Việt Nam – tất nhiên không nhằm cung ứng lao động hay các nhà sư cho các cơ sở tôn giáo, mà chỉ đáp ứng nhu cầu nghiên cứu mang tính cá nhân của sinh viên và bổ sung vào kho tàng kiến thức chung của nhân loại các bản luận án tiến sĩ có nội dung mới. 

b- Đào Tạo Nghiệp Vụ:

Đào tạo nghiệp vụ là chức năng chính của bất kỳ trường đại học nào trên thế giới vì đáp ứng ba nhu cầu lớn: nhu cầu tìm việc của sinh viên, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, và nhu cầu giải quyết công ăn việc làm của quốc gia và xã hội. Chuẩn bị “đầu ra” output nguồn nhân lực thích hợp sẽ hoàn toàn khác với đào tạo hàn lâm, đòi hỏi giáo viên và giáo trình không chỉ là những tổng hợp và phân tích mang tính liệt kê sử học những tồn tại hay diễn biến của các chủ đề hàn lâm, mà là những nêu bật và phân tích những vấn đề hay những ngành liên quan mật thiết đến thực tế đời sống, liên quan đến các ngành học của sinh viên mà họ có thể tự kiểm chứng giá trị qua thực tế, tự học hỏi từ thực tế, tự nghiên cứu qua đối tượng cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của các case study và lập lại trong tác nghiệp thực tế cho một kế sinh nhai tự lập cho bản thân.  Xa rời chức năng này đồng nghĩa với việc bản thân trường đại học không có chương trình đào tạo đúng và dủ, đồng thời sai lệch trong định vị thương hiệu.

Từ sự tái phân định nêu trên, có thể nói nhất thiết một số lượng hạn chế trường đại học có cả hai hệ đào tạo hàn lâm và đào tạo nghiệp vụ, và đa số các trường đại học thực hiện chức năng đào tạo nghiệp vụ, thay vì tuyệt đại đa số các trường đại học hiện nay đào tạo nghiệp vụ (dựa vào tên mỗi trường và danh mục tuyển sinh mỗi trường) theo bài bản giảng dạy hàn lâm. 

2) Xác Định Vai Trò Quyết Định Duy Nhất Của Sinh Viên

Trong điều kiện giả định rằng các trường đại học ở Việt Nam đã hoàn tất việc tái phân định như đã nêu ở Phần C.1, sinh viên sẽ phải chịu trách nhiệm tuyệt đối và duy nhất đối với quyết định lựa chọn phân ban cụ thể, chuẩn hàn lâm hay nghiệp vụ, và trường đại học cung cấp hình thức và nội dung đào tạo thích hợp.

Tình trạng sinh viên cố gắng thi cho bằng được vào một trường đại học chỉ với ý nghĩ đơn giản và duy nhất rằng mình cần tự trang bị một bằng đại học để thuận lợi hơn cho mục đích tìm kế sinh nhai tự lập cho bản thân, mà không có hiểu biết phân định giữa hàn lâm và nghiệp vụ, thì đó không là lỗi của bất kỳ trường đại học nào đã thực hiện chương trình đào tạo theo định hướng huấn nghiệp của tái phân định giữa hàn lâmnghiệp vụ. 

3) Vai Trò Phụ Trợ Tư Vấn Hướng Nghiệp Của Đại Học

Từ phân tích tầm quan trọng của tái phân định và khẳng định sự quyết định trong trách nhiệm và nhận thức đầy đủ của mỗi cá nhân sinh viên đối với tương lai công việc và sự nghiệp của chính họ, trường đại học đóng góp một vai trò thứ yếu trong bằng cách thực hiện chức năng chủ lực của mình đối với nội dung hướng nghiệp chuyên nghiệp (Phần A.8) vốn không thể thiếu vì đó là trách nhiệm đương nhiên của bất kỳ cơ sở đào tạo nào và cũng vì đó là sự thể hiện đẳng cấp chuyên nghiệp cao của bất kỳ trường đại học nào.

Tư vấn hướng nghiệp còn để phục vụ việc thiết kế chương trình giảng dạy phù hợp của mỗi trường đại học, tránh được các phương hại đến uy tín của trường trước vấn nạn nhân lực do trường đào tạo không thích hợp với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Tư vấn hướng nghiệp do đó là biện pháp chủ động một cách thực sự hàn lâm (academically) của mỗi trường đại học nhằm bảo đảm “đầu ra” output của nguồn nhân lực có trình độ đại học do mình đào tạo luôn thích ứng và đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng tinh tế và thực tế của doanh nghiệp và thị trường một cách thực sự thực tiễn của nghiệp vụ (practically feasibly and viably). 

4) Đáp Ứng Tâm Lý Người Việt – Giải Pháp Thích Ứng

Các đề xuất nhằm thay đổi nhận thức về huấn nghiệp dù đến từ lãnh đạo Chính Phủ, Bộ Giáo Dục hay Hiệu Trưởng các trường đại học đều hoặc không có tính khả thi, hoặc viễn vông không thực tế, không chuyên nghiệp, hoặc cục bộ khi đề nghị giao hẳn “công tác đào tạo nghề nghiệp” cho hệ thống chung gộp của hệ trung cấp và cao đẳng một cách phi kiến thức về vai trò huấn nghiệp của trường đại học, hay đơn giản nói theo mô hình nước ngoài hoặc nêu cả khó khăn của cường quốc kinh tế như Nhật Bản trong vấn nạn đào tạo hướng nghiệp ở nước họ để làm lá chắn biện minh cho những vấn nạn vẫn còn nan giải của Việt Nam.

Giải pháp thích ứng Customization phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, tâm lý người Việt, và văn hóa tập tục gia đình Việt, nên là các tái cơ cấu như sau:

a- Đổi tên tất cả các trường đại học và cao đẳng thành “đại học” theo đúng ý nghĩa như trong tiếng Anh; cho phép các trường cao đẳng “được đổi tên” này sử dụng chung từ tiếng AnhUniversity với các trường đại học khác, dù ý nghĩa của University có khác biệt (Phần A.1).

b- Đổi tên các trường Trung Cấp Nghề thành Cao Đẳng Nghiệp Vụ.

 Image

Ghi chú:

(*) Tính hấp dẫn 1:

– Thời gian học: mỗi tuần từ 2 đến 5 ngày, thích hợp với đa số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn

– Ưu tiên về tài trợ Nhà Nước

– Có thu nhập trong thời gian học nếu có thực tập thực tế tại xí nghiệp, cơ quan, doanh nghiệp

– Thỏa mãn tâm lý: Trường Nghề luôn tạo mặc cảm tự ti do mặc định dành cho học sinh yếu văn hóa, yếu tài chính. Trường Cao Đẳng Nghiệp Vụ có danh xưng Hán Việt trang trọng, tạo mặc cảm tự tôn do mặc định dành cho học sinh có năng khiếu kỹ thuật.

– Có “danh dự” đạt cấp Cao Đẳng về văn hóa và nghiệp vụ khi kết thúc chương trình trung học nghiệp vụ, có thể kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp, so với bạn học đồng cấp ở hệ phổ thông thi Tú Tài chưa thể có việc làm.

(**) Tính hấp dẫn 2:

Học sinh có bằng cán sự diploma được ưu tiên vào học Đại Học Bách Khoa hay Đại Học Kỹ Thuật, bảo đảm chất lượng “đầu vào” input hoàn toàn phù hợp với các đại học này, giúp chất lượng “đầu ra” gồm những kỹ sư có thực tài đã kinh qua 8 năm được đào tạo và thực tập thực tế về kỹ thuật, so với việc tuyển sinh từ học sinh phổ thông có bằng tú tài vào đào tạo từ đầu các ngành kỹ thuật, khó thể bảo đảm chất lượng “đầu ra” của những kỹ sư chỉ có 4 năm được đào tạo về kỹ thuật.

Việc tái cơ cấu và tái tổ chức trên sẽ giúp hóa giải vấn nạn các đầu tư cực kỳ tốn kém vào lĩnh vực huấn nghiệp đã chưa bao giờ đạt được kết quả như ý do không lưu ý đến các vấn đề nhạy cảm của tâm lý Việt và tư duy Việt đặc thù “chuộng danh”.

Đồng thời, số lượng cao của học sinh tham gia học tập hệ “cao đẳng” – một danh xưng mới thay thế cho trung học nghề hay trung học chuyên nghiệp – chắc chắn giúp cải thiện đáng kể công cuộc xóa đói giảm nghèo khi gia đình nghèo không cố gắng bằng mọi giá để con chỉ học chữ để vào đại học, vì học sinh học chữ tại trường cao đẳng vừa có thể tự tạo công ăn việc làm khi tốt nghiệp vừa có thể nếu muốn sẽ học tiếp lên đại học ở các trường đại học danh giá không phải dự tuyển sinh.

Điều cuối cùng song không kém phần quan trọng là xã hội có nguồn cung ứng cán sự (chuyên viên) kỹ thuật và kỹ sư đáp ứng được nhu cầu gia tăng trong xây dựng phát triển công nghiệp của nền kinh tế quốc dân, thay vì cứ mãi trở trăn than thở về sự bất túc nghiêm trọng mang tính trầm kha của nguồn cung ứng lao động kỹ thuật đối với nhu cầu to lớn của thị trường công nghệ và công nghiệp nước nhà. 

5) Đổi Mới Nội Dung Giảng Dạy Theo Phân Định

Việc đổi mới theo phân định hệ hàn lâm và hệ nghiệp vụ của cùng một phân môn tại cùng một trường đại học theo phân định là việc tất nhiên, theo đó, giả dụ như một học sinh có bằng tú tài muốn thi vào Khoa Anh văn trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn sẽ được tư vấn đễ lựa chọn hướng theo đuổi để được giảng dạy phù hợp với nguyện vọng và kế hoạch sự nghiệp cá nhân theo mẫu giả định sau của tư vấn hướng nghiệp:

 Image

Các chi tiết về những tín chỉ cần cho mỗi phân môn có thể tham khảo ở Phụ Lục 1 để thiết kế phong phú hơn, thực tế hơn, và đẳng cấp đại học  hơn so với nội dung chất lượng của chương trình tín chỉ huấn nghiệp trung học nước ngoài. 

6) Đổi Mới Tổ Chức Đại Học Theo Phân Định 

a- Sự Cần Thiết Phải Đào Tạo Nghiệp Vụ Huấn Nghiệp Cho Giáo Viên Cơ Hữu

Do kiểu tư duy mặc định không xem trọng tính áp dụng và hữu dụng của các chương trình đào tạo, chưa phân định được sự khác biệt giữa giảng dạy và đào tạo, không hoặc chưa có liên kết hữu hiệu giữa đào tạo và tính tương thích tương hợp của kết quả đào tạo với yêu cầu tuyển dụng cụ thể của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của thị trường lao động, đa số các giáo viên đại họcdễ phát huy hiệu quả giảng dạy đối với nội dung hàn lâm, nhưng lại không có kinh nghiệm công việc cụ thể và trực tiếp trong từng ngành kỹ nghệ, chưa kinh qua quá trình đào tạo dựa trên cơ sở các kỹ năng cũng như áp dụng lý thuyết vào thực hành trong môi trường doanh nghiệp nên vai trò tư vấn hướng nghiệp hoặc không thể thể hiện hoặc thể hiện rất mờ nhạt và vô hiệu, dẫn đến tình trạng không thể biên soạn giáo trình phù hợp và định ra được phương pháp đào tạo thích hợp nếu chức năng huấn nghiệp được bắt đầu hay được tái khởi động ở trường đại học/cao đẳng. 

b- Xây Dựng Cơ Chế Theo Định Hướng Lấy Sinh Viên Làm Trung Tâm

Từ bỏ lối tư duy không còn thích hợp của sự đặt các hoạt động giáo dục và đào tạo ra ngoài ý niệm kinh doanh, các trường đại học phải là những doanh nghiệp thành công trong cung cấp dịch vụ đào tạo cho đối tượng khách hàng là sinh viên, thay vì ở tháp ngà giảng dạy như ban phát ân huệ cho sinh viên như người cấp thấp của kiểu cũ (“không Thầy đố mày làm nên”, hay “một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy). Cơ chế tổ chức lấy sinh viên là trung tâm là thể hiện chuyên nghiệp của dịch vụ khách hàng đẳng cấp cao, đáp ứng nhu cầu học tập hàn lâm hay nghiệp vụ của sinh viên bằng dịch vụ cao cấp được thực hiện bởi những giáo viên cao cấp với giáo trình cao cấp trong môi trường tiện nghi vật chất cao cấp. Việc xây dựng này tương tự như hoạt động của các đại học nước ngoài vốn luôn quan tâm đầu tư cao vào giáo dục huấn nghiệp hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, mà còn ở các định hướng nghề nghiệp chuyên nghiệp, xác lập mục tiêu và mục đích đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo trên cơ sở tương thích tương hợp năng lực nhằm đạt hiệu quả chuyển giao bí quyết và phát triển năng lực sinh viên đáp ứng yêu cầu của các ngành kỹ nghệ trong nền kinh tế quốc dân.

D- Kết Luận 

Từ những phân tích trên, việc tái phân định là nhu cầu cấp bách của hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, không những phù hợp với quy mô các trường đại học nước ngoài trong công cuộc phát triển huấn nghiệp tại quốc gia của họ, mà còn nhằm hiện đại hóa tư duy của ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Một khi lấy con người làm trung tâm – trong phạm vi tham luận này là sinh viên – thì việc tìm hiểu tâm tư nguyên vọng và tâm lý của sinh viên cũng như các quan tâm của gia đình sinh viên và cộng đồng doanh nghiệp cũng là điều nhất thiết phải tính đến không những trong hoạch định các kế sách chiến lược quốc gia mà còn trong tổ chức hiệu quả các chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp, phát huy các giá trị cộng thêm nơi những sản phẩm của các trường đại học nước nhà.

Phụ Lục 1:

Tham Khảo Danh Mục Huấn Nghiệp Nước Ngoài

 ImageImage

Image

Image

Phụ Lục 2:

Doanh Thương Mỹ Á

Doanh Thương Mỹ Á (MYA BizCorp – www.myabiz.biz) cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp và giải pháp hàn lâm cũng như nghiệp vụ sau cho các trường Đại Học và Cao Đẳng Việt Nam:

1) Tư vấn xây dựng chương trình đại học nghiệp vụ (career college) lồng ghép trong tổ chức hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng khối kỹ thuật.

2) Tư vấn xây dựng và hợp tác thực hiện chương trình đại học nghiệp vụ (career college) lồng ghép trong tổ chức hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng khối ngoại ngữ Anh

3) Tư vấn xây dựng và hợp tác thực hiện chương trình ngoại khóa hay chính khóa về tất cả các kỹ năng mềm trong quản trị kinh doanh và quản trị doanh nghiệp lồng ghép trong chương trình chính quy hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng tất cả các khối, các ngành, các ban, theo hình thức

a- Chìa Khóa Trao Tay (Turn Key Project): huấn luyện giáo viên cơ hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng, tư vấn kỹ năng, tư vấn kiến thức thực tiễn kinh doanh, cung cấp tài liệu in ấn và PowerPoint slideshow kèm các chuyên đề trên.

   b- Cộng Tác Giảng Dạy: thực hiện các lớp ngoại khóa trên cho sinh viên, giảng dạy bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh.

   c- Dịch Vụ Tư Vấn Kỹ Năng: thực hiện tất cả các yêu cầu của trường Đại Học và Cao Đẳng đối với bất kỳ chủ đề kỹ năng nào trong danh mục, ngoài danh mục, mới xuất hiện hay chưa có trên thế giới, hoặc phát sinh từ thực tiễn hoạt động của trường Đại Học và Cao Đẳng.

   d- Dịch Vụ Biên Soạn Giáo Trình, Hiệu Đính Giáo Trình, Dịch Thuật Giáo Trình Anh-Việt Việt-Anh: đặc biệt để trường Đại Học và Cao Đẳng tự tiến hành giảng dạy sinh viên.

   e- Tư Vấn Hướng Nghiệp: hợp đồng với trường Đại Học và Cao Đẳng làm việc với sinh viên năm đầu và sinh viên năm cuối.

4) Tư vấn xây dựng chương trình đại học nghiệp vụ (career college) riêng biệt hoặc lồng ghép trong tổ chức các dự án thành lập mới trường Đại Học và Cao Đẳng.

5) Tư vấn xây dựng chương trình và cùng thực hiện chương trình đại học nghiệp vụ (career college) trên cơ sở nâng đẳng cấp các Trường Trung Cấp Nghề hiện hữu. 

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

A Curriculum for Excellence, the Scottish Executive. 2004. The Curriculum Review Group.

Casey, Helen, Olga Cara, Jan Eldred, Sue Grief, Rachel Hodge, Roz Ivanicv, Tom Jupp, Desiree Lopez and Bethia McNeil. 2006. Embedding Literacy, Language and Numeracy in Post-16 Vocational Programmes – the Impact on Learning and Achievement. London: NRDC, Institute of Education.

Decennial Census Program. 2010. US Census Bureau, US Department of Commerce.

Dự Báo Cả Cung Và Cầu Để Lập Quy Hoạch Nhân Lực 2011-2015-2020. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/DU-BAO-NHU-CAU-NHAN-LUC/Du-bao-ca-cung-va-cau-de-lap-quy-hoach-nhan-luc-.aspx#neo_content

Importance of Vocational Skills and Careers. 2010. EngineeringUK.

Initial Teacher Training in Vocational Subject.  2007. Crown. www.ofsted.gov.uk

Institute of Technology. 2010. http://en.wikipedia.org/wiki/Institute_of_technology

Learning and Teaching in Vocational Subjects MA / Postgraduate Certificate. 2010

Minh Nhật. 2010. Phát Triển Giáo Dục Dạy Nghề: Cần Một Cuộc Cách Mạng Về Nhân Thức. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/DU-B

Ghi chú:

Bài trên là tham luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức tại Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10/2010. Được đăng lại trên emotino.com ngày 25-10-2010 (http://www.emotino.com/bai-viet/18856/nhung-phan-tich-moi-ly-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan)

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.