Hội Chứng Bầy Đàn

Hoang Huu Phuoc, MIB

20-8-2013

Nhân đọc báo Kiểm Toán số 30(56) ra ngày 25-7-2013 có bài “Ta đang ở đâu trên thế giới này?” của Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan đăng ở trang 1 trong mục Chuyện Trong Tuần, tôi thấy cực kỳ thất vọng. Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan đã dựa vào hai báo cáo của Ngân hàng Thế giới gồm bản Cập nhật kinh tế Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2013 và dự báo triển vọng cả năm; còn báo cáo kia là bảng xếp hạng 177 nền kinh tế thế giới trong đó Việt Nam đứng thứ 42 trên thế giới và thứ 6 trong khối ASEAN, để nêu ra vài chi tiết mang tính so sánh xem Việt Nam thua những ai và những ai đã vượt qua Việt Nam để rồi kết luận như một kẻ chưa-bao-giờ-làm-chuyên-gia bằng câu hỏi: “làm thế nào đây để không phải nhìn con tầu kinh tế khu vực và thế giới chạy vun vút, bỏ ta lại sân ga?”

HCBD (1)

Cách phát biểu này rất tăm tối mơ hồ và an toàn một cách khôn ngoan vì Bà Lan không nêu cụ thể bất kỳ một giải pháp nào để hiến kế với nhà nước hoặc chí ít cũng phân tích vấn đề một cách đầy đủ trên cương vị một chuyên gia đã từng được nhà nước đào tạo và giao trọng trách làm lãnh đạo cao cấp của VCCI trong suốt nhiều năm.

Làm “chuyên gia” hưởng lương nhà nước kể cả lương hưu – tức sống bằng tiền thuế của người dân – thì có bốn việc phải hoàn thành đối với một chuyên gia, đó là (a) làm tròn trọng trách chuyên môn vì là chuyên gia, (b) làm tròn trọng trách chuyên môn ở mức độ chất lượng cao nhất và hiệu quả cao nhất vì đó là thể hiện tính chuyên nghiệp vốn luôn đòi hỏi tinh thần trách nhiệm, (c) chuyên tâm với công việc chuyên môn của đẳng cấp chuyên gia, và (d) chuyên chú vào việc đem chuyên môn ra phục vụ quốc gia, dân tộc. Nhiều chuyên gia kinh tế đã không làm tròn trọng trách chuyên môn, không tuân thủ tính chuyên nghiệp, không chuyên tâm vào nhiệm vụ được giao, và không chuyên chú đem chuyên môn ra phục vụ đất nước, trả món nợ với nhân dân. Không giúp ích gì được cho đất nước này, đề xuất toàn những sách lược kinh tế vô trách nhiệm, đẩy đất nước không vào vị thế tối ưu, không đủ khả năng viết lách bất cứ công trình công trình nào cho hậu thế như các nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel, mà chỉ dựa vào cái bằng tiến sĩ, thạc sĩ, hay cái tước hiệu chuyên gia, để núp trong chiếc áo trí thức mà không biết thế nào mới được gọi là nhà trí thức, và cái ô nhân sĩ mà chớ hiểu phải ra sao mới được gọi là nhân sĩ. Rồi cứ như để chữa thẹn bản thân không làm gì nên thân, chả viết gì được nên hồn, hễ ai rủ rê là cứ ký tên vào kiến nghị hay thỉnh nguyện thư hay cái vớ vẩn gì đấy theo bầy đàn để được công chúng hiểu lầm là có đóng góp công sức tạo nên cái công trình kiến nghị tâm huyết ấy, và để được gọi là nhân sĩ, là trí thức.  Điều này làm tôi nhớ lại khi thấy các vị nhân sĩ-trí thức hè nhau ký tên vào một bức thư chung gởi chính phủ về vấn đề  bô-xít, tôi đã đăng một bài viết trên Emotino dài 17 trang vào lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày 26-10-2010 với tiêu đề “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước”, nhằm cho quý vị “ký tên chung” ấy biết một “chuyên gia” thực thụ thực sự hàn lâm và có trách nhiệm đối với không những chính kiến của mình mà còn với các đề xuất cho một sự sửa đổi hay thay thế, sẽ độc lập ra sao trong nghiên cứu, phản biện, và đề đạt ý kiến hay nguyện vọng. Nguyên văn bài Bô-xít được lập lại như dưới đây trước khi đi đến phần kết luận của bài viết này.

*********

Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam

– Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước –

(http://www.emotino.com/bai-viet/18859/van-de-boxit-o-viet-nam)

Hoang Huu Phuoc, MIB

26-10-2010

 HCBD (3)

Dẫn Nhập: Sự Yếu Ớt Của Số Đông & Giải Thích Thuật Ngữ

Từ năm 2008 đã có nhiều tranh luận (thường được gọi sai là phản biện) trên báo chí Việt Nam về dự án khai thác bauxite (bô-xít) ở vùng Tây Nguyên, kể cả bọn Việt Kiều chống Cộng cũng mừng vui nhao nhao nói nhặng lên như thể rất quan tâm xót xa đến tiền đồ Việt Nam mà Nhà Nước Cộng Sản đang đan tâm phá hỏng, được cộng hưởng hòa âm điền dã với phản ứng điên dại của một gã cơ hội gởi đơn kiện Thủ Tướng Việt Nam vì đã thông qua dự án này. Gần đây nhất là sự cố vỡ đập bên Hungary khiến tuôn trào ra môi trường bao triệu mét khối bùn đỏ – thứ chất thải loại sau quá trình khai thác bauxite – khiến dấy lên mối quan ngại sâu sắc trong một bộ phận dân chúng Việt Nam, được làm trầm trọng thêm từ hai thái cực giữa một bên là số đông yếu ớt những người phát biểu miệng trước báo giới về những lo ngại rồi cùng nhau viết nên kiến nghị để cùng k‎ý tên gởi Đảng và Chính Phủ Việt Nam mà không trên cơ sở nghiên cứu chỉnh chu cùng nhận thức đầy đủ bao trùm nên bao gồm những lo lắng và kiến nghị, với một bên là các quan chức Nhà Nước bình tĩnh khẳng định mức độ an toàn cao của dự án cùng ngụ ý sự việc không thể đảo dời mà không trên cơ sở dẫn chứng nghiên cứu chỉnh chu cùng nhận thức đầy đủ bao trùm mang tính thuyết phục cao hơn. Bài viết này do đó nhằm cung cấp những lập luận thấu tình đạt lý, với các dẫn chứng thực tế mang tính khẳng định khai thác bauxite là việc cực kỳ bình thường, và thực chất vấn đề nằm ở nội dung nghiêm trọng hoàn toàn khác theo kết luận của phân tích.

Để phục vụ cho bài viết này, phần định nghĩa sau cung cấp ý nghĩa các thuật ngữ đúng như mong muốn của người viết cả trong diễn đạt ngữ nghĩa và biểu đạt tu từ của định hướng hàn lâm:

Bauxite: dùng theo tiếng Anh, không theo kiểu Việt hóa phiên âm tiếng Việt bô-xít vốn nên chấm dứt sử dụng tại Việt Nam trong thời đại cách tân.

Cyanide: dùng theo tiếng Anh, không theo kiểu Việt hóa phiên âm tiếng Việt xi-a-nuya vốn nên chấm dứt sử dụng tại Việt Nam trong thời đại cách tân.

Phản Biện: hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống thứ yếu có thể cản trở để tìm lời giải đáp thuyết phục, giúp sự việc chính yếu trở nên có tính thuyết phục cao nhất có thể được. Người Việt hay dùng lẫn Phản Biện với Tranh Luận, nhầm nghĩa Phản Biện với Phản Bác hay Phản Đối, và chưa nhận định rõ ý nghĩa của Phản trong Phản Biện không hàm nghĩa chống lại như trong Phản Bác hay Phản Đối. Phản BiệnỦng Hộ là hai hình thức khác nhau của sự đồng tình.

Ủng Hộ: hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách bổ sung những tình huống thứ yếu mang tính giá trị cộng thêm mà không cần có những bổ sung ấy bản thân sự việc cũng đã có sức thuyết phục cao nhất. Ủng HộPhản Biện là hai hình thức khác nhau của sự đồng tình.

Tranh Luận: hình thức bày tỏ sự chưa đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống chính yếu hoặc thứ yếu để đối đáp hoặc đối thoại tìm lời giải đáp mà kết quả là sự thắng thế của một bên, hoặc hậu quả là sự gãy đổ của một lập luận, hay hệ quả là tiến trình bảo lưu các nội dung đối kháng cho đến khi có tư liệu mới trong một thời điểm thích hợp mới. Theo ý nghĩa duy nhất đúng đắn này, tranh luận sẽ được dùng xuyên suốt bài viết này.

 

II- Tài Nguyên Thiên Nhiên & Thảm Họa Môi Trường

 A- Vấn Đề Muôn Thủa

Đã là tài nguyên thiên nhiên thì mọi hình thức khai thác dù sơ khai thô thiển thủ công quy mô nhỏ hay hiện đại tự động hóa quy mô lớn thì vẫn gây tác động xấu đến môi trường sống và cuộc sống con người. Bauxite chỉ là một thứ khoáng chất mà sự bình tĩnh của dư luận rất cần thiết, nhất là bauxite chưa bao giờ được liệt kê vào danh mục 10 tai họa nhãn tiền – tác động nguy hiểm ngay lập tức – đối với môi trường mà không thể ngăn chặn được ngay cả khi đã từng xảy ra nhiều thảm họa. Bauxite có thể tiềm tàng một nguy cơ cực kỳ hiếm khi xảy ra và dễ đề ra các biện pháp ngăn chặn một khi đã có sự cố thực sự xảy ra ở một nơi nào đó trên thế giới.

Do đó, trước khi bàn đến bauxite, các phân tích sau mời gọi sự quan tâm của cộng đồng đến những vấn đề khủng khiếp để có sự điềm tĩnh cần thiết trong tranh luận về bauxite.

B- Mười Tai Họa Nhãn Tiền Đối Với Môi Trường

Những tai họa sau xảy ra nhãn tiền đối với môi trường sống và cuộc sống của cư dân trên hành tinh này.

1) Khai Thác Vàng với Sáu Điều Tàn Độc

Khai thác vàng thường đi đôi với việc sử dụng các hóa chất độc hại để trích xuất hay bóc tách qu‎ý kim và bảo thạch. Tai họa nhãn tiền xảy đến trước tiên với những thợ mỏ trực tiếp tham gia khai thác vàng khi làm việc tiếp xúc thường xuyên với độc chất, tuôn các chất độc như thủy ngân và cyanide vào nguồn nước và không khí, gây hại dây chuyền cho gia đình thợ mỏ cùng cộng đồng dân cư xung quanh. Đặc biệt nghiêm trọng khi thủy ngân phát tán rộng xa khu vực mỏ dưới dạng methyl thủy ngân, một trong số những độc tố nguy hiểm nhất đối với hệ thần kinh các sinh vật sống trong đó có con người và gây nhiễm bẩn đến chuỗi thức ăn qua hiện tượng tích tụ sinh học. Số liệu của Tổ Chức Phát Triển Công Nghiệp Liên Hợp Quốc UNIDO cung cấp những thông tin đầy quan ngại như trên thế giới có khoảng 15 triệu thợ mỏ vàng, trong đó có gần 5 triệu phụ nữ và hơn nửa triệu trẻ em, và mỗi năm có 1000 tấn thủy ngân tức 95% tổng lượng thủy ngân sử dụng trong khai thác vàng đã được thải ra tự nhiên, chiếm đến 30% tổng lượng thủy ngân do con người thải ra thiên nhiên mỗi năm trên toàn thế giới, gây tác hại mọi mặt về kinh tế, môi trường, và sức khỏe giống nòi. Một nghiên cứu khác ở Peru còn cho thấy cứ mỗi gram vàng thu được, người ta đã thải vào khí quyển ít nhất 2 gram thủy ngân, chất có thể gây ra các chứng bệnh thận, viêm khớp, sẩy thai, mất trí nhớ, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, hô hấp, bại não, và tử vong. Thế giới đã nêu nhiều điều tàn hại nhãn tiền của khai thác mỏ vàng đối với môi trường, trong đó có sáu nội dung nghiêm trọng nhất như sau:

a- Diệt Chủng

Lịch sử loài người đã ghi lại rằng mỗi một cuộc đổ xô tìm vàng đều đồng nghĩa với sự giết chóc, tiêu diệt, và tàn phá. Những cư dân bản địa vùng California (Hoa Kỳ) chỉ còn lại 10% dân số, còn thổ dân Galamsey (Tây Phi), Igorot (Philippines), và Macuxi cùng Yanomami (lưu vực sông Amazon, Brazil) đều bên bờ tuyệt diệt. Điển hình là thổ dân Yanomami từ 20.000 người nay chỉ còn 8.000 người sống sót sau khi 40.000 thợ mỏ đổ xô đến đãi vàng năm 1989 gây ô nhiễm các dòng sông, đem bệnh tật đến dân bản địa và muông thú.

b- Hủy Nước

Tàn hại nước và nguồn nước được xem như hậu quả khủng khiếp nhất mà ngành khai thác mỏ vàng gây ra cho môi trường sinh thái. Từ vùng Sierra Nevada ở Bang California Hoa Kỳ trong những năm 1850 đến lãnh địa tộc người Pemon của dân Amerindian tại Venezuela hiện nay, thợ mỏ đã hủy hoại các dòng sông bằng cách cày nát bờ sông đãi khoáng vàng, tiêu diệt thực vật và các giống thủy sinh. Thậm chí công nghệ kỹ thuật cao sử dụng trong khai thác vàng như tại mỏ Nevada – chiếm phần lớn sản lượng vàng của Hoa Kỳ – lại thậm chí hủy phá nguồn nước ghê gớm hơn vì sử dụng lượng nước nhiều hơn lượng tiêu thụ của dân cư toàn tiểu bang. Kết quả điều tra địa chất Hoa Kỳ US Geological Survey cho thấy tình hình nghiêm trọng của mực nước tụt xuống đến 300 mét tại một số mỏ ở Nevada, và một mỏ tiêu thụ mỗi ngày hết 380 triệu lít nước, bằng tổng lượng nước sử dụng cho dân cư thủ phủ Austin của tiểu bang Texas. Tồi tệ hơn nữa là hệ thống thủy lợi và nguồn nước quanh vùng chưa sử dụng đến cũng trở nên không thể sử dụng được do bị nhiễm độc bởi các hóa chất trong đó có cyanide.

c- Hủy Đá

Để có một dây chuyền vàng bình thường cho một cô dâu, ít nhất gần 3 tấn đất đá đã bị đào xới, đập vụn. Viện Worldwatch điều tra với kết quả sản lượng 2.402 tấn vàng khai thác được trong năm 1997, đã có 725 triệu tấn đất đá bị hủy hoại, thậm chí không thể sử dụng được do nhiễm kim loại, acid, và hóa chất dung môi. Tỷ lệ tiêu chuẩn của kỹ nghệ khai thác mỏ vàng ở Hoa Kỳ là 1/3.000.000, nghĩa là cứ mỗi tấn vàng thu được sẽ có 3 triệu tấn đá phế thải. Những gì còn lại sau khi một mỏ vàng đã được khai thác hết sẽ là địa hình đá nham nhở bị bóc thịt trần, môi trường hủy hoại và với một giá sinh thái cực đắt.

d- Độc Chất Cyanide

Cyanide là hóa chất chủ lực trong tách vàng ra từ quặng. Vào năm 1998, một vụ tràn cyanide tại một mỏ vàng thuộc sở hữu của một công ty Canada ở nước Kyrgyzstan đã làm bốn người chết và hàng ngàn người phải sơ tán khỏi vùng hạ lưu. Còn dân chúng tiểu bang Colorado đã phải mất 100 triệu USD chi cho Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường EPA chỉ để khoanh vùng nhiễm độc của các con sông chứ chưa thể tẩy độc chúng sau sự cố ở mỏ vàng Summitville.

e- Độc Chất Thủy Ngân

Nhiều trăm năm nay, thủy ngân được dùng để tách vàng khỏi quặng, và đã gây ra bao bệnh tật cho thợ mỏ và cộng đồng dân cư quanh mỏ. Trong thời đổ xô tìm vàng ở Bang California đã có gần 8.000 tấn thủy ngân bị thải vào sông ngòi, ao hồ, gây ra nhiều bệnh tật về thần kinh và tử vong của dân cư. Thậm chí hơn 50% lượng thủy ngân hiện nay còn đang treo lơ lửng ám áng vùng Vịnh San Francisco là phần còn sót lại của cuộc đổ xô tìm vàng năm 1849, tức cách nay những 200 năm.

f- Gây Hại Hệ Sinh Thái

Tình trạng nhiễm độc nước, tàn hại môi trường sống và hủy phá đa dạng sinh học, công nghiệp hóa vùng nguyên sơ, xây dựng cầu đường, và vấn nạn núi rác thải ở những vùng khai thác mỏ vàng đã gây những tác động tiêu cực đến môi trường khu vực. Ngành đánh bắt thủy sản đặc biệt bị ảnh hưởng do tình trạng bùn đất và độc chất từ mỏ vàng chảy vào sông ngòi, còn động vật hoang dã thì chết vô số. Năm 1990 người ta đã đếm được 7.000 chim muông chết cạnh các hồ nhiễm cyanide tại các mỏ vàng ở các bang California, Nevada, và Arizona. Chỉ riêng việc khai thác vàng đã bóc tách khỏi vỏ trái đất và đẩy đi một lớp đất đá nhiều hơn lượng đất đá bị các sông ngòi trên toàn thế giới xói mòn theo quy trình tự nhiên.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: TRƯỚC CÁC DỮ LIỆU NGUY HẠI NHÃN TIỀN NÊU TRÊN MÀ MỨC ĐỘ TÀN KHỐC VƯỢT XA TAI NẠN BAUXITE, LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ SẼ ĐỀ NGHỊ CẤM KHAI THÁC VÀNG KHÔNG NẾU VIỆT NAM CÓ NHỮNG MỎ VÀNG LỚN THIÊN NHIÊN BAN TẶNG?

2)   Nhiễm Bẩn Nước Ngầm

Nhiễm bẩn nước ngầm là đại họa môi trường thứ hai mà loài người và dân chúng ở từng quốc gia phải quan ngại ưu tiên. Nước ngầm được hình thành từ nước dưới lớp đất thịt tích tụ trong những khoang trống dưới lòng đất theo cấu tạo địa chất hoặc từ sự thẩm thấu từ mặt đất của nước mưa hay tuyết tan, hoặc từ các khe nứt dưới đáy các sông hồ; hoặc từ nước bị lưu giữa các địa tầng hóa thạch thời khai thiên lập địa. Đây là nguồn nước ngọt cực kỳ quan trọng, chiếm 97% trữ lượng nước ngọt mà nhân loại có thể tiếp cận được cho sự sống, nhất là khi chỉ có 6% nước ngọt trên tổng lượng nước của địa cầu, và 0.3% có thể uống được. Song, vấn nạn thời đại là đã không có những biện pháp hữu hiệu mang tính chiến lược cấp quốc gia trong bảo vệ nước ngầm cho các thế hệ mai sau, khiến việc đào xới đất đai vô tổ chức, xây dựng hạ tầng thiếu nghiên cứu khoa học bảo vệ địa tầng nước ngầm, khai thác nước ngầm tùy tiện, đã làm nước ngầm bị nhiễm bẩn, nhiễm độc, và thậm chí không thể sử dụng được cho sự sinh tồn của con người dưới sức nặng tàn phá của đô thị hóa, kỹ nghệ hóa, tưới tiêu canh nông tùy tiện, và tiêu dùng cá nhân sai mục đích. Tác động đến nước ngầm còn đến từ hóa chất độc hại trong quá trình khai khoáng, sự lạm dụng hóa mỹ phẩm trong đời sống hàng ngày như chất tẩy rửa và tắm gội, sự chôn lấp tùy tiện rác kỹ nghệ và chất thải công nghiệp cũng như sự lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, có thể gây ra bệnh tật như ung thư, mất khả năng sinh sản hoặc sinh quái thai, tiêu chảy cấp, v.v., cho dân cư.

Nhiễm bẩn nước ngầm do đó là một đòi hỏi bức thiết phải giải quyết ngay vì sự sống hiện nay và sự tồn tại của thế hệ mai sau của mỗi dân tộc.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: SAO CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CHỈ ĐỀ NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE VÌ LO SỢ SỰ CỐ HÃN HỮU CÓ THỂ XẢY RA THAY VÌ NGƯNG KHAI THÁC NƯỚC NGẦM VÔ TỘI VẠ MÀ THẾ GIỚI ĐÃ CẢNH BÁO TỪ LÂU ĐỂ LO CHO THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT MAI SAU?

3)   Kỹ Nghệ Khai Khoáng (Khai Thác Khoáng Sản)

Kỹ nghệ khai khoáng bao gồm các hoạt động khai thác kim loại và khoáng chất nói chung, từ vô hại đến cực độc, và từ bình thường đến có giá trị cao. Những vấn nạn ô nhiễm thường gặp từ hoạt động khai khoáng bao gồm việc vứt bỏ hay xử lý chất thải loại và phế loại. Chất thải loại chủ yếu là những loại bùn và đất đá còn lại sau khi đã trích ly hay bóc tách để thu những phần quặng có giá trị, kèm theo những dư chất độc hại của các loại hóa chất sử dụng trong quy trình khai thác, khi được thải tuôn ra các hệ thống sông ngòi sẽ gây tác động tiêu cực đến hệ thủy sinh và thực vật của cả khu vực hạ lưu, gây hại cho các nông trang và thảm thực vật đáy sông, chưa kể làm hẹp lòng sông gây ra lũ lụt nghiêm trọng và thường xuyên chứ không chỉ nạn phá rừng là nguyên nhân của lụt lội.

Tác hại đến sức khỏe dân cư từ các hoạt động khai khoáng bất kỳ đều bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các bệnh l‎ý kinh niên ở mắt, cổ họng, mũi, da, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, suy thận, hư gan, các chứng ung thư, hủy hoại hệ thần kinh, bộ phận sinh dục, và sinh quái thai.

Gần đây đã xảy ra một sự cố đặc biệt nghiêm trọng chưa từng được biết đến trong toàn bộ lịch sử cận đại của nhân loại khi nổ dàn khoan và khai thác dầu khí của tập đoàn BP Anh Quốc ở Vịnh Mexico trên thềm lục địa Hoa Kỳ gần vùng châu thổ sông Mississippi từ ngày 20-4-2010 đến ngày 19-9-2010, làm thoát ra đại dương 791 triệu lít dầu thô (640.000 mét khối) tạo vết loang rộng 128.000 km2, gây ra thảm họa sinh thái khủng khiếp cho môi trường sống sinh vật hoang dã và sinh vật biển, ngành đánh bắt hải sản và du lịch.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TIẾP THEO SAU KIẾN NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE CÓ LẠI SẼ CỰC ĐOAN ĐỀ NGHỊ HỦY BỎ TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI KHOÁNG, CHẤM DỨT TẤT CẢ CÁC VIỆC THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU HỎA DO THẤY CÓ SỰ CỐ BP Ở VỊNH MEXICO, BIẾN VIỆT NAM THÀNH QUỐC GIA DUY NHÁT TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGÀNH KHAI KHOÁNG ?

4)   Kỹ Nghệ Luyện Kim

Khi nói đến kỹ nghệ luyện kim không thể không nhắc đến những kim loại được “luyện” như đồng, chì, kẽm, bạc, cobalt, cadmium, v.v. , chứ không chỉ là cán kéo sắt thép xây dựng. Quy trình luyện kim có qua sử dụng nguồn nhiệt từ than cốc hay than củi hay một nguồn nhiệt khác. Các chất cực kỳ độc hại thải vào khí quyển với khối lượng thể tích khổng lồ gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – hydrogen fluoride (HF), sulfur dioxide (SO2), nitric oxide (NO), nitrogen dioxide (NO2), khói bụi đậm đặc độc hại, khí độc và các chất độc, chưa kể khối lượng kim loại nặng như chì, thạch tín, chromium, cadmium, nickel, đồng và kẽm cũng bị phát tán. Thêm vào đó, việc sử dụng khối lượng lớn các acid trong một số quy trình luyện kim cũng khiến phát tán sulfuric acid (H2SO4) và carbon dioxide (CO2 ). Những ống khói cao mọc lên như nấm với những cột khói khổng lồ của thời kỳ phát triển công nghiệp đã gây ra hiện tượng sương khói nguy hiểm, chứa khí bẩn ozone (O3), carbon monoxide (CO) và các khí độc khác; chưa kể các phân tử bụi kim loại theo gió bay xa có thể làm ô nhiễm đất canh tác và mặt nước.

Những tác hại nhãn tiền đến với sức khỏe con người trước hết là những nhân lực phục vụ ngành luyện kim luôn trực tiếp tiếp xúc với chất gây ô nhiễm, sau đó là đến những cư dân quanh vùng hoặc sử dụng thực phẩm nuôi trồng hay đánh bắt từ mặt đất và mặt nước bị nhiễm độc, dẫn đến những bệnh kinh niên nghiêm trọng như bệnh tim, phổi, thai chết lưu, sinh quái thai, đau thận, suy gan, đau mắt/mũi/họng, hệ tiêu hóa, đau khớp, hô hấp, và hệ sinh dục.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN NƠI CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ THẬM CHÍ VỚI HỆ QUẢ NGHIÊM TRỌNG CỦA HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH ĐANG ĐE DỌA TRỰC TIẾP NHIỀU TRIỆU NGƯỜI DÂN VIỆT NAM TIẾP THEO SAU KIẾN NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE CÓ LẠI SẼ CỰC ĐOAN ĐỀ NGHỊ HỦY BỎ TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG LUYỆN KIM, BIẾN VIỆT NAM THÀNH QUỐC GIA DUY NHÁT TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGÀNH CÔNG NGHIỆP NẶNG?

5)   Mỏ Uranium và Chất Thải Phóng Xạ

Các chất phóng xạ và chất thải phóng xạ là những nguồn phát tán phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người. Nguyên liệu phóng xạ được dùng cho ngành điện lực, phục vụ các mục đích quân sự, và trong chữa trị hay phân tích y tế. Có bốn loại phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người như phân rã Alpha, Beta, và Gammy cùng phóng xạ Neutron. Việc khai thác mỏ Uranium trên thế giới đặt ra mối quan ngại sâu sắc do mười nước sản xuất uranium nhiều nhất thế giới lại toàn là những quốc gia có thu nhập thấp và không phải luôn đáp ứng được các yêu cầu kỹ nghệ tốt nhất, như Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraine và Trung Quốc.

Do hàm lượng uranium trong quặng cực thấp, vấn đề trở nên nghiêm trọng do lượng bùn đất thải loại vừa rất cao lại vừa chứa lượng phóng xạ cao, đến 85% lượng phóng xạ ban đầu của quặng khi chưa tách xuất. Độ đậm đặc phóng xạ càng cao khi bãi chứa chất thải tập trung tại một khu vực, và sự phát tán còn làm nhiễm xạ sông suối ao hồ do hoạt động bơm nước ra khỏi mỏ trong quá trình khai khoáng.

Hoạt động phóng xạ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể sống của con người bằng nhiều cách mang tính bi kịch, tấn công toàn bộ hệ chức năng cơ thể, gây ra nhiều chứng ung thư di truyền cho nhiều thế hệ sau đó. Không có mức độ an toàn bất kỳ trong việc bị nhiễm phóng xạ vì độ nhiễm cao có thể dẫn đến tử vong sau vài giờ, trong khi mức độ không chết người của phóng xạ lại gây ra thay đổi về huyết học, nôn mửa, kiệt sức, và biến đổi gen di truyền, hệ quả là thị lực giảm, bộ não teo nhỏ, phát triển chậm hoặc bất thường, và thiểu năng trí tuệ.

Việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và viện hạt nhân ở mỗi quốc gia đều tiềm tàng những nguy cơ nhiễm xạ đối với các nhân viên làm việc tại đó, gia đình họ, và dân cư quanh vùng, chưa kể vấn đề an ninh yếu kém có thể dẫn đến sự cố mất trộm các thanh uranium ra ngoài hay việc phá hoại hoặc tai nạn ngẫu nhiên như vụ nổ nhà máy điện Chernobyl của Ukraine ngày 26-4-1986 gây thảm họa cho dân cư tại chỗ và nhiều quốc gia lân cận mà di chứng còn đến tận ngày nay.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN CỦA PHÓNG XẠ NGUYÊN TỬ KHÔNG NHỮNG ĐẾN MẠNG SỐNG NGƯỜI DÂN MÀ CÒN ĐẾN HỆ DI TRUYỀN NÒI GIỐNG VIỆT, CÓ SẼ VẪN KHÔNG CHO ĐÂY LÀ VIỆC QUAN TRỌNG HOẶC SẼ ĐỀ NGHỊ KHÔNG XÂY DỰNG BẤT KỲ NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN HAY BẤT KỲ VIỆN NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN NÀO TẠI VIỆT NAM SAU KHI TRANH LUẬN XONG VỀ DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

6)   Nước Cống Rãnh Không Qua Xử Lý

Nước cống rãnh gồm các loại chất thải dạng lỏng từ chất thải của con người và chất thải phi công nghiệp từ sinh hoạt tắm gội giặt giũ của con người. Tại các vùng nghèo trên thế giới, cống rãnh được cho chảy vào sông rạch tại chỗ. Nước cống không qua xử lý có thể gây bệnh tật nghiêm trọng cho con người vì có chứa các mầm bệnh lây lan qua nước uống, hủy phá hệ sinh thái thủy, đe dọa môi trường sống con người khi mức ô-xy sinh học đồng hành và các dưỡng chất trong nước ở mức thấp hơn mức có thể duy trì sự sống.

Tổ chức World Health Organization (WHO) năm 2008 ước tính có 2,6 tỷ người không tiếp cận được các điều kiện vệ sinh tốt hơn, theo đó 37% thuộc khu vực Hạ Sahara Châu Phi, 38% Nam Á, và 45% Đông Á, và mỗi năm có 1,5 triệu ca tử vong do nước không an toàn mà lẽ ra đã có thể cứu sống được. Việt Nam hiện đang phải đương đầu với vấn đề nước cống kể cả ngay tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Nước cống có thể tràn lan theo triều cường, xâm nhập vào hệ thống nước ngầm hoặc hệ thống nước máy sinh hoạt, dẫn đến lan truyền các dịch bệnh do người dân vô tình uống phải hoặc tắm gội từ nước máy bị nhiễm, dẫn đến các bịnh về da, mắt, tai, hoặc các bịnh truyền nhiễm hiểm nghèo như dịch tả, thương hàn, kiết lỵ, giun, sán sơ mít, viêm gan siêu vi A, và vô số các bịnh khác.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN CỦA NƯỚC CỐNG ĐANG GÂY HỌA CHO SINH MẠNG NGƯỜI DÂN VÀ LÀM XẤU HÌNH ẢNH MỘT DÂN TỘC MẤT VỆ SINH TRƯỚC MẮT THẾ GIỚI CÓ SẼ TIẾP TỤC ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

7)   Ô Nhiễm Không Khí Chốn Thị Thành

Có hai tác nhân gây ra ô nhiễm không khí chốn thị thành là (a) chính cấp như khói từ việc đốt cháy nguyên liệu hóa thạch như từ xe cộ, nhà máy, hoạt động sản xuất công nghiệp, chất thải nông nghiệp làm biogas, gió bụi tự nhiên, kể cả sự hô hấp của thực vật; và (b) thứ cấp gồm các phản ứng hóa học khi các tác nhân chính cấp tương tác với ánh nắng, khí ô-xy, nước và các hóa chất khác có sẵn trong không khí. Các chất chính gây ô nhiễm không khí thường gặp là PM, O3, NO2, và SO2.

Tổ chức WHO ước tính mỗi năm trên thế giới có gần một triệu người tử vong do những bịnh lý từ ô nhiễm không khí ngoài trời ở thành thị. Dân cư sống gần nhà máy điện, các nhà máy sản xuất, xa lộ hay các tuyến giao thông chính thường chịu phơi nhiễm với lượng khí bẩn độc hại nhiều hơn và lâu dài hơn, dẫn đến nguy cơ mắc phải các chứng bệnh kinh niên nghiêm trọng như bệnh phổi, tim mạch, hô hấp, các bệnh ung thư như ung thư phổi, hen suyễn trầm trọng, viêm phế quản mãn tính, đặc biệt đối với trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, và người già, làm gia tăng số lượng tử vong hàng năm. Những nỗ lực nhằm gia giảm ô nhiễm không khí ngoài trời nơi thành thị bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – loại hẳn xăng pha chì khỏi thị trường, quy định chặt chẽ về lượng khí thải của xe, và phát triển hệ thống giao thông công cộng như xe bus và xe điện.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ ĐANG SỐNG TẠI THÀNH THỊ VÀ CÓ NHẬN THỨC ĐẦY ĐỦ VỀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ NGOÀI TRỜI TẠI THÀNH THỊ HAY KHÔNG, CÓ XEM MỌI ĐẦU TƯ VÀ NỖ LỰC TRƯỚC MẮT VÀ DÀI HẠN NÊN DÀNH VÀO VIỆC LÀM GIA GIẢM SỰ XUỐNG CẤP NGHIÊM TRỌNG CỦA KHÔNG KHÍ CÁC THÀNH PHỐ, HAY VẪN XEM MỌI ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

 8)   Tái Chế Pin-Ắc Quy Chì

Chì được dùng trong bình ắc-quy ô-tô trên toàn thế giới, và khi bình ắc-quy không còn sử dụng được, nó trở thành ULAB tức bình ắc-quy chì đã qua sử dụng và bị Công Ước Basel liệt vào hàng phế thải độc hại. Chì tái chế là thứ hàng hóa có giá trị và mua ULAB từ các nước công nghiệp để tái chế thu hồi chì là thứ công việc sinh lợi đối với nhiều dân cư các nước đang phát triển, thậm chí tiến hành nấu chảy thu hồi chì tại nhà trong khu dân cư khiến gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinh thái. Hàng năm 6 triệu tấn chì được sử dụng trên thế giới và ¾ dành cho sản xuất bình ắc-quy dành cho xe ô-tô, hệ quả là làm gia tăng các hoạt động tái chế thu hồi chì, gây nhiễm độc cho người trực tiếp tái chế, cả cộng đồng dân cư, nguồn nước, không khí, và đất trồng trọt. Sự nhiễm độc nặng xảy ra khi hít thở phải bụi chì, khói chì hay hơi chì, và trong thời gian dài. Đặc biệt nghiêm trọng do chì có thể thâm nhập vào cơ thể người qua phổi và miệng, tích tụ ở các mô xương, gây còi cọc chậm phát triển, hư thận, chậm phát triển trí não, thậm chí tử vong. Dấu hiệu của nhiễm độc chì gồm kiệt sức, đau đầu, nhức xương, đau cơ bắp, nghểnh ngãng, biếng ăn, ngủ chập chờn, đau bụng; tình trạng nặng hơn còn gây ra co giật, hôn mê, sốt cao. Trẻ em bị nặng hơn, với biến chứng bại não; còn phụ nữ mang thai bị nhiễm độc chì có nguy cơ chết lưu thai hoặc sinh quái thai.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ NHẬN RA ĐIỀU ĐANG ĐE DỌA CUỘC SỐNG CỦA DÂN NGHÈO TỪ VIỆC TÁI CHẾ THU HỒI CÁC LOẠI KIM LOẠI ĐỘC HẠI CHÍNH LÀ ĐIỀU CẦN ƯU TIÊN GIẢI QUYẾT TỪ NHỮNG ĐẦU TƯ HUẤN NGHIỆP, HỖ TRỢ MUA SẮM TRANG THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ THÍCH HƠP ĐỂ GIA GIẢM NGUY CƠ NHIỄM ĐỘC VÀ GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, MÀ VIỆC ĐẦU TƯ NÀY CẦN ĐẾN NHIỀU NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CÓ THỂ CÓ ĐƯỢC TỪ KHAI THÁC BAUXITE, THAY VÌ VẪN XEM MỌI ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

9)   Nhiễm Bẩn Nước Sông

Mỗi người hàng ngày cần 20 lít nước sạch để sinh tồn. Song, sự gia tăng dân số, sự phát triển mạnh công kỹ nghệ, cùng tình trạng gây nhiễm bẩn cho nguồn nước khiến nguồn nước hiện có trở nên ngày càng có tỷ lệ không dùng được cao hơn. Nhiều dòng sông không còn sự sống sinh học và trở nên độc hại, khiến con người phải sử dụng đến nguồn nước ngầm dưới lòng đất dù thậm chí ngày nay ngay cả nước ngầm cũng bị ô nhiễm nặng. Vấn đề hàng triệu cư dân sống ở lưu vực một con sông cũng đủ khiến việc kiểm soát ô nhiễm nước sông trở nên bất khả thi: lượng mầm bệnh từ chất thải của con người đổ ra sông ngòi và nước từ sông được đưa vào sử dụng dù qua hệ thống lọc vẫn không bảo đảm có tính an toàn vệ sinh cao nếu thiết bị và quy trình công nghệ không hiện đại, chưa kể nước sông nhiễm bẩn dùng tưới tiêu canh nông sẽ cho ra những sản phẩm nông nghiệp chứa mầm bệnh, gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng , chẳng hạn các chứng bệnh đường ruột, tiêu hóa, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ nhỏ. Việc đun sôi nước nhiễm độc và nhiễm bẩn chỉ có thể giết một số mầm bệnh, song không thể loại trừ các tạp chất độc hại. Các loại thủy cầm cũng bị tiêu diệt do môi trường nước bị nhiểm bẩn và nhiễm độc, khiến đời sống dân chài càng gặp khó khăn. Sự việc nghiêm trọng do Vedan và nhiều nhà máy sản xuất khác gây ra đã làm chết những con sông, tức triệt mất nguồn nước của sự sống của cư dân Việt Nam vùng châu thổ các dòng sông này, chứ không chỉ giản đơn là đoạt mất nguồn thu nhập từ đánh bắt thủy sản của dân chài.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: PHẢI CHĂNG CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM DO VẪN CHƯA CÓ NHẬN THỨC ĐÚNG VÀ ĐỦ VỀ SỰ CỐ VEDAN VÀ CÁC SỰ CỐ TƯƠNG TỰ ĐANG LÀM CHẾT CÁC DÒNG SÔNG, TRIỆT MẤT NGUỒN NƯỚC TỨC SỰ SỐNG CỦA HÀNG TRIỆU CON NGƯỜI, NÊN THAY VÌ SỬ DỤNG CHẤT XÁM CỦA NHỮNG NHÀ KHOA HỌC TÌM CÁCH CỨU SỐNG CÁC DÒNG SÔNG, ĐÃ TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

 10)   Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà

Ô nhiễm không khí nội thất tức IAP là vấn nạn tình hình chất lượng không khí trong nhà, tại trường, nơi làm việc, và ở những chốn tập trung đông người như nhà hàng, nhà thi đấu, rạp hát, v.v. Hầu hết nguyên nhân gia giảm nghiêm trọng chất lượng không khí nội thất đến từ việc hút thuốc, sử dụng bếp lò, máy móc thiết bị, hoặc nhiên liệu sinh học thô như trấu, phân chuồng, hoặc gỗ, để nấu nướng, v.v, đặc biệt nghiêm trọng nếu không có hoặc chỉ có hệ thống thông gió không hiệu quả, mà phụ nữ – do thường xuyên nấu ăn ở bếp – và trẻ em chưa đến tuổi đi học thường gánh chịu hậu quả nặng nề hơn.

Ô nhiễm không khí nội thất gây ra cái chết cho 3 triệu người mỗi năm trên thế giới, chiếm 4% tổng số các nguyên nhân. Các tác động đến sức khỏe bao gồm, song không chỉ giới hạn bởi:

a- ARI tức nhiễm đường hô hấp cấp: chiếm 1/8 tổng số các bệnh, và là loại có nhiều bệnh nhân nhất ở Ấn Độ

b- COPD tức nghẽn phổi mạn tính, bao gồm viêm phổi, chiếm 16% số tử vong nữ tại Trung Quốc

c- Ung thư phổi: 2/3 phụ nữ Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico mắc bệnh này dù họ không hút thuốc

d- Đục thủy tinh thể: các nghiên cứu cho thấy phụ nữ dùng nhiên liệu sinh học nấu ăn có nguy cơ mù lòa cao hơn gấp 2,4 lần

e- Ho lao: các nghiên cứu cho kết quả phụ nữ Ấn Độ dùng củi nấu ăn có nguy cơ bệnh lao cao gấp 2,7 lần so với người khác

f- Sinh non: phụ nữ vùng quê Guatemala nấu ăn bằng củi sinh con non hơn các phụ nữ dùng gas và điện nấu ăn.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ NHÌN NHẬN RẰNG HÀNG CHỤC TRIỆU PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐANG HÀNG NGÀY TIẾP CẬN VỚI BAO NGUY CƠ TỪ VIỆC NỘI TRỢ BẾP NÚC, RẤT CẦN ĐƯỢC CHĂM SÓC Y TẾ, HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN CHO BẢN THÂN TỪ NHỮNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC NHÂN SĨ, HAY HỌ VẪN XEM NHƯ ĐÓ LÀ THÂN PHẬN MÀ PHỤ NỮ VIỆT NAM PHẢI TIẾP TỤC GÁNH CHỊU, NGÕ HẦU CÁC NHÂN SĨ CÓ THỂ TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

III- Bô-xít

Các phân tích dưới đây làm rõ thêm về vấn đề của bauxite Việt Nam.

A- Tìm Hiểu Sự Thật Về Bô-xít

Ở Việt Nam, bauxite được phân bổ tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La, Bắc Giang, Nghệ An, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên, và Quảng Ngãi. Sau khi khai thác, bauxite được tinh chế thành alumina theo quy trình Bayer, sau đó alumina trở thành aluminium qua quá trình điện phân Hall/Heroult. Thường thì từ 2 đến 3 tấn bauxite sẽ sản xuất được 1 tấn alumina, và cần đến từ 4 đến 6 tấn bauxite đế chế ra 1 tấn nhôm.

Những nguyên liệu khác cũng có thể dùng để chế tạo alumina như alunite, anorthosite, coal wastes, và oil shales. Dù theo quy trình và công nghệ khác, những nguyên liệu phi-bauxite này vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất gạch chịu nhiệt, hóa chất nhôm và chất mài mòn.

Vấn đề đáng quan ngại đối với bauxite là điện năng. Khai thác bauxite không tốn nhiều năng lượng nhưng công đoạn tinh chế và điện phân cần tiêu tốn nhiều điện hơn.

1) Giá Trị và Trị Giá

Bauxite là một trong những thứ nguyên liệu dùng chế tạo alumina. Nhiều tài liệu ước tính trữ lượng của bauxite trên thế giới là khoảng từ 55 đến 75 tỷ tấn; trong khi thống kê của cơ quan địa chất hoa Kỳ nêu con số 38 tỷ tấn (Bảng 1)

 HCBD (2)

Thường thì giá bán buôn của alumina loại tốt vào đầu mỗi năm dao động từ 210 đến 240 USđ/tấn theo giá tải đăng trên tạp chí Metal Bulletin. Từ tháng 2 đến tháng 4, giá ở mức 170-200USD/tấn, sau đó lên lên USD230/tấn đến cuối tháng 6. Giá tăng nhanh và đến cuối tháng 9 sẽ ở khoảng 300-310USD/tấn. Đây là chu kỳ giá bình thường đối với alumina.

2) Vị Trí Của Bô-xít Trong Tác Hại Với Môi Trường

Mười loại tai họa nhãn tiền kể trên là đối với các cơ sở sản xuất bình thường nên thế giới không liệt kê thêm loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường.

B- Vấn Nạn Thật Sự Của Vấn Đề Bô-xít Việt Nam

Không như báo chí hay nêu nguy cơ vỡ đập tràn bùn đỏ là vấn nạn của dự án khai thác bauxite,  những vấn nạn nghiêm trọng theo phân tích của bài nghiên cứu này lại chỉ nằm trong phạm vi “phần cứng” tức những vấn đề kỹ thuật thuần túy của dự án mà thôi, do các tai nạn đều hoặc có thể giảm thiểu hay ngăn chặn được từ kinh nghiệm những sự cố trước đó trên thế giới, hoặc mang tính rủi ro luôn được tính đến trong tất cả các dự án khai thác tài nguyên.

1) Những Khiếm Khuyết Của Dự Án

Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite.

Các điểm thiếu sót của dự án có thể bao gồm:

a- Nhà Máy Phải Đạt Chuẩn ISO 14001 về Quản Lý Môi Trường

b- Công Tác Bảo Lưu Lớp Bóc Tách Thảm Thực Vật:

Đối với các dự án bauxite, phần lớp đất bề mặt được bóc tách chuyển đến nơi tập kết khác, và sẽ được chuyển trở về nơi cũ khi đã xong giai đoạn khai thác và qua công đoạn hoàn thổ tái lập môi trường. Thảm thực vật được duy trì sự sống và phát triển bình thường tại nơi tập kết, bảo đảm sự tái lập môi trường gần với hiện trạng tự nhiên trước khai thác.

c- Các Biện Pháp Gia Giảm Tác Hại Môi Trường

d- Các Biện Pháp Bảo Vệ Quần Thể Động – Thực Vật

e- Chi Tiết Công Tác Hoàn Thổ

f- Công Tác Nghiên Cứu và Phát Triển

Đối với dự án khai thác bauxite thường có những công trình điều nghiên đi kèm phục vụ chu trình khai thác – chế biến – hoàn thổ – tái lập môi trường, chẳng hạn các nghiên cứu về:

– Thủy Văn

– Gia Tăng Đa Dạng Sinh Học Tại Những Khu Vực Hoàn Thổ Bao Gồm Cả Khu Bảo Tồn Gien

– Rút Ngắn Chu Trình Hoàn Thổ Với Công Đoạn Trồng Cỏ, Rau và Cây Mọc Nhanh

– Tạo Tính Hấp Dẫn Muông Thú Nơi Hoàn Thổ

– Hoàn Thiện Quản Lý Đất Canh Tác và Kỹ Thuật Làm Đất

– Trồng Rau Luân Canh

– Chu Kỳ Dinh Dưỡng và Tái Cư Đối Với Quần Thể Sinh Vật Đất và Cộng Sinh Nấm và Cây

– Các Chỉ Số Thích Hợp Đánh Giá Mức Độ Tái Cư Thành Công và Bền Vững

2) Chủ Quan Về Yếu Tố Nhân Lực

Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý.

Dự án khai thác bauxite của Brazil có hiệu quả kinh tế tốt đẹp do có lực lượng biên chế chính thức của rất đông chuyên gia đẳng cấp cao cho mỗi nhà máy. Chẳng hạn chỉ riêng cho nội dung hoàn thổ, một nhà máy bauxite có 21 chuyên gia bao gồm 15 chức danh chuyên môn nghiệp vụ sau:

a- khoa học gia nông nghiệp

b- chuyên viên vườn tược

c- khoa học gia thổ nhưỡng

d- khoa học gia đất trồng trọt

e- nhà động vật học

f- nhà sinh học

g- nhân viên kiểm lâm

h- nhà khí tượng thủy văn

i- nhà địa mạo học

j- nhà quản lý môi trường

k- nhà sinh học bảo tồn biến dị gien động-thực vật

l- khoa học gia phát triển nông thôn

m- nhà thực vật học

n- khoa học gia môi trường

o- nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên

Cơ cấu tổ chức mới chỉ cho một bộ phận cũng cho thấy nhận thức đúng đắn của chính phủ đối với tài nguyên và khai thác tài nguyên quốc gia, trách nhiệm cao của các nhà khoa học đối với bảo tồn môi trường sống, đưa đến sự hài lòng và đồng thuận của toàn dân dối với dự án khai thác bauxite ở nước họ, dễ dàng nhận ra một điều là ngay cả khi thiên tai có gây ra thảm họa cho khu vực khai thác bauxite thì chính phủ cũng không bị kết tội bởi người dân.

Trong khi đó, dự án bauxite cực kỳ quan trọng của Việt Nam đã không được tổ chức quy mô tương tự. Một nhà máy bauxite dứt khoát không giống như một nhà máy chè hay nhà máy dệt vì quy mô xử lý bùn đỏ trên một diện tích khổng lồ là cả một đại công trình kinh tế, chính trị, môi trường, quân sự, an ninh, đòi hỏi ngay cả khoa học công nghệ thám sát viễn sát cao để quản lý dự án qua vệ tinh, và quản lý hoàn thổ cực kỳ tinh vi, tinh tế, và dài hạn. Xây dựng nhà máy bauxite và chỉ bổ nhiệm ban giám đốc cùng tuyển mộ công nhân chứng tỏ khâu tổ chức và thái độ đối với ý nghĩa dự án đã bị xem thường, tất sẽ dẫn đến những sự cố tắc trách gây phương hại đến an ninh trật tự quốc gia.

Song, điều khó khăn nhất vẫn là: Việt Nam không sẵn có những nhà khoa học thực thụ cho những đại công trình thực thụ, và đây là hậu quả của các cải cách giáo dục không đúng tầm, lệch trọng tâm, sai định hướng, do những quan chức thiếu kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, và thiếu năng lực quán xuyến chiến lược giáo dục và đào tạo quy mô quốc gia. Song, ngày nào chưa thể công bố danh sách các nhà khoa học, thì việc thực hiện dự án bauxite Tây Nguyên hay hoạch định tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam vẫn là việc làm đầy nguy hiểm, lắm rủi ro, không thể tiến hành cho đến khi đã đào tạo xong đội ngũ kỹ sưvà nhà khoa học cần thiết.

3) Giá Trị Thực Tiễn Của Dự Án Bô-xít

Do trữ lượng bauxite lớn trên thế giới và do có nhiều nguyên liệu khác có thể dùng chế alumina, cũng như công nghiệp bao bì có nhiều sự lựa chọn ngoài nhôm, nên tài nguyên bauxite hiện vẫn chưa thể giữ vị trí quan trọng trong công nghiệp khai khoáng của Việt Nam. Sự cố bùn đỏ ở Hungary giúp Việt Nam xem xét lại tính vững chắc của các hồ chứa cùng các biện pháp xử lý tình huống thích hợp.

Song, vùng bauxite nếu để các thế hệ sau này khai thác sẽ có nhiều thuận lợi hơn do có thể có công nghệ mới và giá bán sẽ cao hơn do giảm sút trữ lượng bauxite trên thế giới và do có thể có những sử dụng và ứng dụng khoa học mới cho nhôm. Tương tự, Hoa Kỳ gia giảm mức khai thác dầu hỏa nội địa, tăng cường nhập khẩu dầu và hệ thống kho trữ, để bảo đảm nguồn cung ứng cho các thế hệ sau này, hoặc Trung Quốc giảm khai thác bauxite nội địa, tăng cường khai thác mua của Việt Nam để hạn chế nguy cơ sự cố trong nước và đồng thời bảo vệ nguồn nguyên liệu bauxite nội địa.

IV- Công Dân Hoàng Hữu Phước Tư Vấn Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Chính Phủ Việt Nam

Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam nhất thiết phải cẩn trọng trong mọi hành sử với Trung Quốc về kinh tế vì không thể có bất kỳ cách lập luận hay thuyết phục nào có thể làm thay đổi định kiến luôn đúng của người dân Việt Nam trong cảnh giác cao độ và sự phản kháng mang đậm tính hận thù không thể chối cãi hay che dấu được đã khắc sâu vào ý thức và vô thức người Việt Nam đối với Trung Quốc. Những nhân nhượng hay ưu ái trong mậu dịch với hay đầu tư từ Trung Quốc sẽ khiến Đảng và Chính Phủ đối diện với sự bất mãn của nhân dân và sự công kích bôi nhọ của bọn chống cộng hải ngoại. Những hành động bá quyền nước lớn của Trung Quốc tại Biển Đông không là việc riêng của Đảng và Chính Phủ Việt Nam mà là vấn đề quan ngại của tất cả công dân Việt Nam. Lắng nghe, hiểu biết, tôn trọng, và đáp ứng hay thỏa mãn các mong muốn của nhân dân chính là tạo sự bền vững trường tồn của vị thế của Đảng và Chính Phủ với nhân dân, mà một trong những điều mong muốn đó là không chấp nhận sự nhân nhượng hạ mình của Đảng và Chính Phủ trong các hoạt động kinh tế, đầu tư.

Chất lượng tồi tệ cùng sự thất bại trong tiến độ thi công các dự án do các công ty Trung Quốc thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh không thể không là sự yếu kém hạ đẳng của chất lượng công nghệ của Trung Quốc hoặc không thể không là ý đồ phá hoại kinh tế Việt Nam. Do đó việc Đảng và Chính Phủ thông qua chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bauxite vùng Tây Nguyên khó được người dân đồng thuận, dẫn đến các tranh luận gây phức tạp nội tình đất nước và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài nói chung.

Đối với người Việt, Trung Quốc luôn là kẻ thù, chưa bao giờ là đồng chí, kể cả trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đó là sự thật hiển nhiên. Không cố gắng phủ nhận sự thật đó của tư duy người Việt bằng những lời nói chính trị ngoại giao, Đảng và Chính Phủ mới có thể không vướng vào những phức tạp không cần thiết như trong chủ trương dành sự ưu ái cho Trung Quốc khai thác bauxite Tây Nguyên.

V- Công Dân Hoàng Hữu Phước Tư Vấn Công Dân Việt Nam

 Qua các thông tin và phân tích ở trên, việc khai thác bauxite là việc cực kỳ bình thường, có mức độ gây hại cho môi trường không nghiêm trọng như tất cả các hoạt động khai thác hay sản xuất khác, và tai họa nếu xảy ra cũng là phần rủi ro luôn có trong bất kỳ hoạt động khai thác nào chứ không chỉ riêng bauxite. Việc một nhà văn mãi phát biểu đặt vấn đề môi trường văn hóa sinh tồn của dân sắc tộc là kiểu lập luận phiến diện vì ở bất kỳ đâu trên thế giới, việc đầu tư khai thác hay xây đập thủy điện đều dẫn đến hệ quả tương tự với cư dân, chứ không chỉ riêng dự án bauxite.

Điềm tĩnh đóng góp ý kiến kịp thời – nếu có ý kiến xác đáng, khả thi, khả dụng, mang tính thuyết phục cao – cho đúng quan chức hay cơ quan hữu trách là hành động duy nhất đúng, có tinh thần trách nhiệm cao, và có vị thế trang trọng của một công dân, đồng thời triệt bỏ thói quen bầy đàn cố hữu của người Việt khi nương theo ý kiến mời gọi của một nhóm công dân khác. Không phát tán những mẫu tin dè bỉu của bọn chống Cộng đối với dự án bauxite cũng là hành vi đúng đắn của những công dân nghiêm túc, có trách nhiệm và có trình độ nhận thức cao.

Ngoài ra các công dân nguyên là quan chức cao cấp đã nghỉ hưu nên nêu gương nghiêm túc trong đóng góp ý kiến cá nhân kịp thời điểm, gởi đúng cơ quan hữu trách, để chứng tỏ bản thân có trách nhiệm cao, luôn lo cho vận nước và quan tâm đến các vấn đề của xã hội nước nhà, thay vì nêu vấn đề quan ngại quá chậm khiến có nghi vấn bản thân đã chưa từng thực sự quan tâm đến một vấn đề hay dự án nào, hoặc thể hiện phong cách bầy đàn khi có thu thập chữ ký cho một kiến nghị dễ khiến bản thân mất đi uy thế một người tự chủ, có trách nhiệm, biết suy xét, và có khả năng nhận xét hiểu biết riêng.

VI- Kết Luận: Phản Biện của Phản Biện

Như đã nói ở phần định nghĩa thuật ngữ, phản biện là một hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống thứ yếu có thể cản trở để tìm lời giải đáp thuyết phục, giúp sự việc chính yếu trở nên có tính thuyết phục cao nhất có thể được. Đối với các phản biện như vậy từ các quan chức chính phủ, nhất thiết cần có các phản biện của phản biện ấy, nhằm làm rõ hơn sự phân định mang tính thực tế chiến lược quốc gia mà các quan chức đã chưa hoặc không thể có đủ đẳng cấp, tầm cỡ, hay uy thế và uy tín để nói về trước công chúng.

Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có những vấn đề riêng của nó và không thuộc các lý do mà dư luận bấy lâu nay hay tập trung nói đến. Việc khai thác bauxite – hay bất kỳ tài nguyên nào, kể cả sức nước của thủy điện hay sức mạnh của nguyên tử lực – là việc cực kỳ bình thường ở mọi quốc gia. Vấn đề là phải chăng Việt Nam còn quá nhiều tài nguyên để có thể cứ tiến hành khai thác, hay đất nước đã lâm cảnh cùng đường phải vơ vét tài nguyên cứu nguy xã tắc, hoặc quê hương đã cạn kiệt tài nguyên nên nhất thiết chúng ta phải hy sinh chịu thắt lưng buộc bụng sống dè xẻn để dành tài nguyên bauxite cuối cùng lại cho con cháu Việt Nam ngày sau khai thác để tiếp tục sống còn, như một tập tục mang tính đạo lý truyền thống của người Việt luôn chăm lo cho hậu thế.

Điều cuối cùng song có phần quan trọng nhất là mọi kế sách quốc gia đều phải được đặt trên cơ sở vì sự an nguy và sinh tồn của dân tộc, điều mà bất kỳ dự án nào thực hiện với Trung Quốc, dù lớn hay nhỏ, cũng sẽ vĩnh viễn không bao giờ mang lại. Công tác đối ngoại khéo léo, sự chủ động ngoại giao, việc đề ra các quyết sách an dân cùng những định hướng kinh tế chiến lược của Đảng và Chính Phủ luôn được toàn dân tộc cậy tin phó thác toàn quyền; song, các thực hiện cụ thể những dự án kinh tế không thể là phạm trù Đảng và Chính Phủ gánh vác thực hiện trực tiếp như một pháp nhân, mà nhất thiết phải qua tư vấn độc lập với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ ngay giai đoạn phát triển ý tưởng của cơ quan chức năng hay của lãnh đạo Đảng và Chính Phủ, và do các doanh nghiệp thực hiện qua đấu thầu công khai. Nếu đã có khâu tư vấn độc lập, lẽ ra đã không thể phát sinh các kiến nghị không còn thời gian tính, không trên cơ sở hiểu biết đủ đầy, và không đồng thuận.

Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền. Đất nước Việt Nam là của công dân Việt Nam. Bọn chống cộng ở hải ngoại không là công dân Việt Nam nên mọi công kích dự án bauxite đều là hành vi vô văn hóa, trái với văn minh của nhân loại tiên tiến khi tự tiện phê phán khi không là người dân có đóng thuế cho Việt Nam.

Bauxite là tài nguyên của Việt Nam, và việc khai thác khoáng sản là việc nội bộ của Việt Nam, mà người Việt Nam tự giải quyết với nhau, không cần nghe sự kêu gào của những kẻ bại trận.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Cầm, Bảo. 2010. Còn Ý Kiến Về Bauxite, Còn T iếp Tục Lắng Nghe. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101023141847.aspx

Buckles, D. 2003. Cultivating Peace – Conflict and Collaboration in Natural Resource Management. Ottawa: IDRC

De Koninck, R. 1999. Deforestation in Vietnam. IDRC

Environment and Sustainability.Bauxite Resources Limited http://www.bauxiteresources.com.au/content/environment_and_sustainability/

Environmental Aspects of Bauxite, Alumina and Aluminium Production in Brazil. 1995. UNCTAD Secretariat.

Fourth Sustainable Bauxite Mining Report . 2008. International Aluminium Institute.

Fred, P. 1998. Arsenic in the Water. The Guardian. http://www.lifewater.ca/887805655-arsenic.htm

Global Mercury Project. 2006.UNIDO. GMP News. http://www.globalmercuryproject.org/documents/gmp_news/GMP_News_January_2006.pdf

Kình, CầmVăn. 2010. Dự Án Bô-xít: Tiếp Hay Dừng?  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/407262/Du-an-boxit-tiep-hay-dung.html

Klauber, C., M. Grafe and G. Power. 2009. Review of Bauxite Residue “Re-use” Options. DRET – Department of Resources, Energy and Tourism of Australia

Lan, Hoàng and Khánh Linh. 2010. Kiến Nghị Dừng Dự Án Bô-Xít. http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/10/3BA21F73/

Mol, J.H. 2009. Environmental impacts of bauxite and gold mining in Nassau Mountains, Suriname.

Nguyễn, Tuệ. 2010. Bauxite ở Việt Nam, Về Lý Thuyết Là An Toàn. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101023003500.aspx

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài http://www.emotino.com/m.php?p=17900

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam. http://www.emotino.com/m.php?p=18663

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Phản Biện. http://www.emotino.com/m.php?p=18392

Pound, B, S. Snapp, C. McDougall and A. Braun. 2003. Managing Natural Resources for Sustainable Livelihoods. London: Earthscan Publications Ltd.

Slum at the Summit. Earth Report. Television Trust for the Environment. http://www.tve.org/earthreport/archive/doc.cfm?aid=1623

Sustainable Development at Risk. New Delhi: Cambridge University Press India Pvt. Ltd.

Ten Problems with Gold Mining. 2001. Project Underground. Dollars and Sense Magazine. http://www.thirdworldtraveler.com/Transnational_corps/Fools_Gold.html\Joseph H. Hulse. 2007.

Tyler, S. 2006. Communities, Livelihoods, and Natural Resources. Warwickshire: Intermediate Technology Publications Ltd

Tyler, S. R. 2006. Comanagement of Natural Resources. Ottawa: International Development Research Centre.

Veiga, M.M. 2005. Pilot Project for the Reduction of Mercury Contamination Resulting from Artisanal Gold Mining Fieldsin the Manica District of Mozambique.

*********

Nói tóm lại, nhiều “nhân sĩ, trí thức” tự phong đã đặt câu hỏi ra vẻ xót xa cho tình hình kinh tế Việt Nam như thể họ chả có lỗi gì sất mà bởi tại bị vì bởi cái chủ nghĩa cộng sản nên kinh tế nó mới như thế; rằng việc ký tên vào kiến nghị bầy đàn đã chứng minh quá rõ là  các vị ấy có biết viết hẳn hoi chứ không phải chẳng có trình độ hàn lâm không tự mình viết nên cái gì cả dù ở cấp chuyên gia; rằng có công lấy số liệu của các báo cáo của Ngân hàng Thế giới chứ nào phải ở không; và rằng tham gia đòi hỏi cải tổ chính trị vì có lòng yêu nước để người dân quên phéng đi rằng các vị đã không làm được bất kỳ việc gì cụ thể phục vụ cho sự phát triển kinh tế nước nhà. Đó là chưa kể khi ccác vị còn tại nhiệm trên ngôi cao ở viện này viện nọ, các vị vừa yếu chuyên môn (điển hình là chẳng có kế sách gì để giúp chính phủ phát triển kinh tế, hoặc có nhưng sức yếu tài hèn đã không thể hiện được bằng công trình nghiên cứu hàn lâm rồi thất bại trong bảo vệ “luận án”), vừa yếu bóng vía (không dám nói gì, không dám kiến nghị gì, không dám tố cáo ai tiêu cực, để giữ cho được cái ghế của mình cho đến khi về hưu hưởng lương hưu trọn đời).

Người đời chỉ cần tỉnh táo và nhớ sử nước nhà là đã có thể nhận ra sự khác biệt rõ nét giữa  trí-thức-nhân-sĩ  với trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn. Trí-thức-nhân-sĩ luôn có cái tôi rất lớn, vì đó là từ giòng dõi hoặc thế gia vọng tộc trâm anh, hoặc tứ thân phụ mẫu đạo cao đức trọng; từ thành quả cao thật sự của kết quả học tập cao thực sự; từ quá trình miệt mài thật sự cho chuyên môn cao với kết quả cao thực sự; có được sự tôn kính thực sự từ những người đoan chính thực sự; và được thực sự biết đến qua những kỳ tích thực sự về chuyên môn thực sự của cá nhân mình; và sự “hợp tác” nếu có sẽ là tổng công trình của một tác phẩm cụ thể để xuất bản hoặc để cùng nhau chia sẻ giải thưởng Nobel. Trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn dứt khoát không thể nào là trí thức hay nhân sĩ vì hoàn toàn không cùng đẳng cấp với trí-thức-nhân-sĩ, vì trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn chỉ đóng góp mỗi chữ ký của mình để được hưởng danh.

Ngoài ra, lịch sử nước này nước nọ còn cho thấy có một tư duy lệch lạc của tầng lớp “sĩ phu” luôn cho rằng chỉ có mình mới có đặc quyền nắm quyền “trị quốc” và xem thường những tầng lớp yếu thế trong “thứ dân”. Trong khi các tay “võ biền” xông pha trận mạc, giữ vững biên cương, thì các “sĩ phu” choảng nhau ở triều đình, bên này gọi bên kia là “nịnh thần” và tự phong cho mình là “trung thần” để rồi có khi làm các võ tướng phải chịu án oan tru di cửu tộc, kéo theo sự sụp đổ của cả vương triều. Đối với cuộc chiến tranh chống Pháp, chỉ đến khi đảng cộng sản dựa vào sức mạnh toàn dân với sự công nhận sức mạnh của giai cấp công nhân phi-sĩ-phu thì mới có chiến thắng. Còn nội tình Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ có việc nghị sĩ quốc hội không thuộc tầng lớp “trên” – theo nghĩa có sức mạnh của hoặc “thế gia vọng tộc” hoặc “thế lực quân đội”.  Sự hình thành những vụ “bầy đàn” ký tên kiến nghị lung tung của những người nêu học vị lung tung là minh chứng rõ ràng rằng họ muốn tách bạch họ ra khỏi hàng ngũ “thứ dân” thấp kém, như thể chỉ có họ mới xứng đáng có vị trí lãnh đạo đất nước, như thể việc họ phải chịu ở dưới những người cộng sản gốc gác nhân dân lao động không có học vị cao đã làm họ thù hận rồi hoang tưởng mình đang gặm mối căm hờn trong cũi sắt , nhất thiết phải “đứng lên”, phải “vùng dậy” chiếm lại quyền trị quốc, đồng nghĩa với việc đẩy “thứ dân” xuống trở lại kiếp “dân đen.”

Hỡi người dân Việt thông tuệ, hãy lưu ý một điều rằng một nhân sĩ/trí thức thực thụ không bao giờ hạ mình ký tên cho một cái chung đụng chung chạ chung chung. Vì rằng nhà trí thức và bậc nhân sĩ luôn là những vì sao độc lập sáng vằng vặc giữa trời cao, và vì rằng có thể có nhiều ngôi sao tạo nên chòm Bắc Đẩu, nhưng mỗi vì sao là một thực thể riêng, mà tạo hóa đã xếp đặt và định vị, như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v.v. Các ngôi sao không dính chùm nhau. Chỉ có mấy cục kẹo dẻo rơi rớt trên đất ẩm mới dính vào nhau. Các ngôi sao không cùng ký tên vào một bài viết nếu đó không phải là một công trình nghiên cứu hàn lâm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài mới tiếp theo:

–  Tôi và Lê Hiếu Đằng

–  Tôi và Trần Huỳnh Duy Thức

Các bài sẽ đăng lại:

– Tôi và Cu Huy Ha Vu

– Tôi và Lê Công Định

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.