Tôi và Lê Hiếu Đằng

Hoang Huu Phuoc, MIB

Image

Trong bài Hội Chứng Bầy Đàn đăng trên blog này (blog.com) và blog đồng hành (worldpress.com) ngày 20-8 vừa qua tôi có ghi sẽ viết tiếp các bài Tôi và Lê Hiếu ĐằngTôi và Trần Huỳnh Duy Thức. Thật ra, tôi có nguyên một sê-ri những bài viết thuộc mẫu câu “Tôi và…” với những bài đã đăng trên emotino.com trong nhiều năm qua, thí dụ một vài bài như:

Tôi và Tổng Thống Saddam Husein (*): kể về liên lạc điện tín của tôi tư vấn tổng thống Saddam

Tôi và Ngành An Ninh Tình Báo (*) kể về lúc tôi tốt nghiệp đại học được Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh dự tuyển vào ngành an ninh tình báo

Tôi và Cô Trương Tuyết Anh (**) kể về vị giáo sư đại học đã trân trọng tài văn học của tôi

Tôi và Thầy Nguyễn Quang Tô (**) kể về vị giáo sư tài hoa dưới chế độ Sài Gòn đã rộng lượng hào phóng ban cho tôi hai chữ đức tài khi tôi học lớp 10

Tôi và Thầy Lê Văn Diệm (**) kể về vị giáo sư đại học đã ban tôi danh dự làm vua luận văn Anh

Tôi và Lê Công Định (*) kể về tên luật sư trẻ người non dạ kém cỏi tiếng Anh đã cùng Lê Đình Bửu Trí ngỏ lời nhờ tôi giúp soạn thảo các quy định bằng tiếng Anh cho văn phòng luật của họ nhưng đã bị tôi từ chối do cảm nhận được cái ý đồ tiêu cực của y.

Tôi và Cu Huy Ha Vu (*) kể về tên luật sư tôi không quen biết và chưa từng gặp mặt nhưng vẫn viết về y vì sự rống sủa của y quấy rầy không gian sạch sẽ của cộng đồng thạc sĩ Đại học Curtin Úc.

Tôi và Huy Đức (*) kể về tên nhà báo vớ vẩn sang Mỹ kiếm sống bằng cách viết bá láp về Việt Nam, về Đảng Cộng Sản, về lãnh đạo, làm ô uế không gian sạch sẽ của cộng đồng dân Việt.

Tôi và Hai Anh Bộ Đội (*)

Tôi và Các Quân Nhân Cộng Hòa (**)

Nay tôi viết về Lê Hiếu Đằng giống như khi tôi viết về Cu Huy Ha Vu, nghĩa là tôi chưa từng biết đến sự tồn tại của Lê Hiếu Đằng từ trước 1975 cho đến khi gần đây tôi nghe thiên hạ nói về tiếng rống sủa của hắn, chứ tôi vẫn không cho rằng tôi nên phí thời gian đọc tác phẩm của y mà thay vào đó y nên tìm đọc các tác phẩm của tôi để thoát khỏi sự tăm tối u mê.

Để cẩn trọng – tôi luôn là người cẩn trọng – tôi nhất thiết phải nói rõ rằng tôi được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ, Quận 2, Sài Gòn theo bằng chứng sau đây:

Image

năm 15 tuổi trở thành công dân nước Việt Nam Cộng Hòa với bằng chứng là Thẻ Căn Cước do Chỉ huy phó Cảnh Sát Quốc Gia Quận 3 Sài Gòn Đỗ Kiến Nâu cấp ngày 28-4-1972:

Image

và sau đó 4 tháng đã quy y tam bảo tại Chùa Phước Trường với bằng chứng là:

Image

chưa kể “truyền đơn” dầy 16 trang về  “Lễ Tưởng Niệm Trần Văn Ơn” (hình minh họa ở đầu bài viết này) do Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn biên soạn và tôi là trưởng lớp 12C1 trường Tân Việt (Quận 3) đã đồng ý giúp một học sinh lớp khác dấu xấp truyền đơn trên quạt trần trong lớp tôi để khi có chuông vào học, chờ mọi người vào lớp tôi bật điện và truyền đơn văng ra khắp phòng (giờ triết học môn Luận Lý Học của Thầy Vĩnh Để) khiến thầy tổng giám thị Nguyễn Văn Phương nổi giận đùng đùng xách roi mây vào lớp kêu tôi phụ thu lượm đem hết lên văn phòng mà tất nhiên tôi vẫn giấu một bộ, còn làm ngơ cho vài bạn khác – nhất là nữ – giữ lại dưới vạt áo dài vài bộ.

Tôi buộc phải tự giới thiệu đầy đủ về mình như trên để khẳng định những lời tôi viết dưới đây là tuyệt đối chính xác, với sự công tâm, với lòng rộng lượng, với tâm từ bi, vì nước, vì dân, của một người đã thực sự là dân Sài Gòn, đã thực sự là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa, và đã thực sự là một người đã quy y tam bảo nguyện làm phật tử chơn chánh giữ thân tâm thanh tịnh bỏ các điều ác chỉ làm những việc lành, giữ tròn lời hứa với cử tri là “luôn biết lo trước cái lo của người dân” và “bảo vệ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Đồng thời, tôi cần nói rõ thêm rằng tôi đã không nhờ “anh học sinh ấy” giới thiệu tôi “có công với cách mạng” sau giải phóng nên Ba của tôi mất việc ở Hàng Không Việt Nam phải cùng với Má tôi vấn thuốc lá điếu bán nuôi con cái, chị tôi phải bỏ Đại học Văn Khoa và Đại học Sư Phạm vì bị sinh viên cách mạng của Ủy ban Quân quản miệt thị là phong thái “tiểu tư sản” do khăng khăng mặc áo dài trắng đi học chứ không chịu mặc sơ mi vải xanh và quần sa-tanh đen, tôi vào đại học thì bị ganh tài vu vạ càng phấn đấu gánh vác việc nặng nhọc thì càng bì “đì” triệt tất cả đường vào Đoàn để đừng được phân công, khi đi dạy học thì càng phấn đấu gánh vác việc nặng nhọc thì càng bì “đì” triệt tất cả đường vào Đảng đến độ các học trò trở thành nhà giáo phải xúm lại viết thư động viên, khi buộc phải bỏ trường mà đi làm cho nước ngoài đến khi thấy họ gây thiệt hại cho nông dân bèn đơn thương độc mã viết thư cho báo Tuổi Trẻ tố cáo và chịu bị mất “job” phải quay trở lại làm cho công ty nhà nước để tiếp tục bị “đì” triệt tất cả đường vào Đảng, đến nỗi phải bỏ ra khu vực ngoài quốc doanh, cho đến nay vẫn là người ngoài Đảng. Nên hy vọng rằng Lê Hiếu Đằng – hoặc một phật tử chơn chánh nào đó làm phước in gởi Lê Hiếu Đằng bài này nếu y không tự tìm đọc – sẽ biết một người bị Đảng viên Đảng Cộng Sản “đì” suốt tuổi thanh xuân sẽ nói gì về Đảng một khi có lòng yêu nước thương dân trọng nghĩa quý tình và sự thông tuệ trong cơ mưu trí lược của tế thế an bang vượt qua cõi ta bà, so với một người ngu muội, phản quốc, vong ân, bội nghĩa, ác tâm, giả trá đã luôn được Đảng ưu ái, đùm bọc, thứ tha từ lúc đầu xanh cho đến khi bạc tóc giả bệnh để rắp tâm trở cờ tự nhổ toẹt vào “quá trình theo Đảng” của y.

 Image

Tôi là dân Sài Gòn. Tôi là học sinh Sài Gòn. Tôi quan tâm đến chính trị và thời cuộc như mọi thanh niên gia giáo gia phong khác thời ấy. Tôi xác định chưa từng nghe đến cái tên Lê Hiếu Đằng, và ngay cả tài liệu truyền đơn của Tổng Hội Học Sinh Sài Gòn nêu ở đầu bài viết này chỉ thấy những cái tên như Lê Văn Nuôi, Lê Văn Nghĩa, Lê Văn Triều, Lê Hoàng, Tăng Thị Mỹ Liên, Nguyễn Vĩnh Thiện – tất nhiên cái tên Huỳnh Tấn Mẫm luôn đi đầu trên các trang báo Sài Gòn thời ấy. Vậy Lê Hiếu Đằng trốn chui trốn nhũi ở đâu?

Image

Khi học tại Đại học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1978 đổi thành Đại Học Tổng Hợp khi sáp nhập với Đại Học Khoa Học) tôi có biết Võ Anh Dũng là sinh viên cùng khóa với tôi nhưng học Khoa Pháp Văn. Dũng khoe nhờ mấy tuần trước giải phóng có nhận lời giúp “rải truyền đơn chống chế độ tay sai Mỹ” trước Đại học Kiến Trúc nên bị cảnh sát bắt nhốt ở Tổng Nha Cảnh Sát, và được quân giải phóng đến “giải phóng”, trở thành “có công với cách mạng” bằng tờ giấy chứng nhận của anh sinh viên kia, được cộng điểm “đậu” vô Đại học Văn Khoa, nhưng Dũng thường xuyên đeo bám tôi vì tác phong tiểu tư sản của tôi làm y ngỡ tôi vẫn còn là công tử Sài Thành thế gia vọng tộc – vì nếu chị tôi luôn mặc áo dài đi học thì tôi luôn ăn mặc tề chỉnh với áo sơ mi bỏ trong và đi giày bốt chứ không bao giờ đi dép hay sandal, thỉnh thoảng còn mặc sơ-mi viền tua ren trước ngực hoặc sơ mi tay áo dài rộng bó ở khuỷu tay vả cổ tay như của nhà quý tộc Aramis của Ba Chàng Ngự Lâm theo style của tạp chí thời trang nam Eleganza của Mỹ một thời danh tiếng mà ở Việt Nam Cộng Hòa tôi là nam sinh duy nhất à-la-mode – để cố rủ rê tôi bao đi ăn uống hoặc giảng giúp các bài bộ môn tiếng Việt do y đi học thì ít mà đi “cua” gái thì nhiều, về sau vượt biên trốn mất trước ngày tốt nghiệp. Võ Anh Dũng nếu đừng bỏ Việt Nam, ắt hẳn đã ngồi vào chỗ của Lê Hiếu Đằng, nhưng còn đáng trân trọng hơn Lê Hiếu Đằng. Khi sinh viên Nguyễn Thái Bình chống Mỹ, Mỹ đã hạ sát Nguyễn Thái Bình khi máy bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc Nguyễn Thái Bình “bái tổ vinh quy” du học Mỹ trở về. Lê Hiếu Đằng chống Mỹ, vậy mà ngu xuẩn khoe rằng lúc ở tù đã được cai tù cho ra ngoài để thi tú tài, chứng tỏ sự ưu việt nhân bản nhân đạo nhân văn cao vời cao vợi của chế độ Mỹ-Thiệu. Thời nào cũng có nhóm “nằm vùng”, “cài cắm”. Vậy Lê Hiếu Đằng là kẻ mà Mỹ-Thiệu đã cài cắm vào nội bộ phong trào sinh viên-học sinh để báo cáo nội tình và hy vọng trèo cao lèn sâu vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – gọi tắt là Việt Cộng mà lính Mỹ gọi kiêng tên cúng cơm thành “Charlie”. Lê Hiếu Đằng đã không bị hạ sát như Nguyễn Thái Bình. Lê Hiếu Đằng được nhốt vào tù để tung hỏa mù với Việt Cộng, nhưng được cho ra đi thi tú tài để khi “chiến thắng” được lên chức cao quyền trọng phục vụ Mỹ-Thiệu, nghĩa là không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng đã không ăn ngon mặc sướng ở trong tù, không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng không được Mỹ-Thiệu cung cấp món đặc sản gái ghiếc mà Mỹ-Thiệu sử dụng cực kỳ thiện nghệ, và không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng đã không đằng đằng nổi giận, không đằng đằng sát khí khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, những người bảo trợ cho Lê Hiếu Đằng không những bỏ chạy nhanh hơn tên lửa hành trình Tô-ma-hốc Mỹ sắp lấy mớ tồn kho đang rỉ sét ra xài thanh lý ở Syria, mà còn bảo Lê Hiếu Đằng cố ở lại “nằm vùng” chờ họ quay lại “phục quốc”. “Nằm vùng” quá lâu, tuổi già ập đến, tức vì bị chơi xỏ, thấy mấy thằng nhóc hậu sinh khả ố sinh sau đẻ muộn chơi nổi vừa hưởng thụ xả láng, vừa la hét đòi dân chủ tự do để nhận tài trợ của cái bọn trước đây đã vừa bỏ rơi vừa lừa bịp mình, Lê Hiếu Đằng lập tức “đứng vùng” – tức là đứng lên vùng dậy – rống họng chưởi bới Đảng Cộng Sản vừa để hả giận sao đến giờ Đằng sắp đằng vân về với tiên tổ mà đằng ấy (tức Đảng Cộng Sản) vẫn không cho Đằng làm Chủ Tịch Nước hay Chủ Tịch Quốc Hội trong khi đằng kia giá như đừng đầu hàng bỏ chạy tồng ngồng như vịt 30-4-1975 thì biết đâu Đằng đã là Tổng Thống rồi – có khi làm tổng thống những 40 năm từ ấy đến nay giống các vị tổng thống con cưng của Mỹ như Mu-ba-rắc và Su-hác-tô ấy chứ lị, vừa để phía hải ngoại biết Đằng vừa lập đại công độc đáo chửi cha cộng sản từ trong nội bộ cộng sản (trong khi phe chống Cộng chỉ dám chưởi sau khi chạy qua Mỹ thở phào không thấy Việt Cộng dí theo) nên phải biết điều tài trợ cho Đằng y như hoặc nhiều hơn cái đám “tù nhân lương tâm” sinh sau đẻ muộn ấy, vì đằng nào cũng phải chi, chi ai cũng vậy, chi Đằng cho xong.

Ngoài ra, việc Lê Hiếu Đằng – cùng tất cả những chức sắc/trí thức/nhân sĩ đột nhiên đột biến biến chất biến thái chống đối chống phá khác – đã hoàn toàn là con số không đối với người dân vì đã không có bất kỳ công trạng nào, công trình nào về chuyên môn lúc còn tại vị trên ngôi cao vinh diệu chỉ cho thấy bốn điều sau:

1) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường hèn nhát hèn yếu hèn hạ vì đã không dám mở miệng nói bất kỳ điều gì có thể khiến họ mất ghế, mất bổng lộc, mất lương hưu; dửng dưng chứng kiến nền kinh tế nước nhà chao đảo – nếu như nó có chao đảo, người dân đối mặt với oan sai – nếu như thật sự có các oan sai nào đó, tiền đồ tổ quốc lận đận – nếu như có cái lận cái đận nào đó, chờ đến khi về hưu hay bị tì vết tiêu cực mà mất chức mới đột nhiên đột biến vì nước vì dân, thương nước thương dân, nêu ra ngất ngút vô thiên lủng bao điều có dán nhãn mác “tại Đảng Cộng Sản”, “tại không đa đảng, đa nguyên”, “tại không nghe lời…ta” cứ như thể là thông tuệ lắm, trí hóa lắm, trí thức lắm, hiểu biết lắm, có tài kinh bang tế thế lắm, vậy mà Đảng nỡ lòng nào “đì” bắt ra nước ngoài du học không cho được cầm súng giết giặc Mỹ-Thiệu, Đảng tàn nhẫn bắt phải ở nơi sung sướng ăn toàn bơ sữa thịt bò chờ đến sau 30-4-1975 mới cho về nước, Đảng ác nhân thất đức bắt làm lãnh đạo ở viện này viện nọ chứ không cho làm lãnh đạo nước hay lãnh đạo quốc hội, và Đảng đã quá dở khi chẳng biết trọng dụng nhân tài vì đã không chịu kêu mấy Bộ trưởng mỗi khi cần tư vấn phải tắm gội trai tịnh không được gần phụ nữ mấy tuần trăng rồi đích thân đến Viện thỉnh mời kiểu “tam cố thảo lư” như Lưu Bị ba lần đến mời Khổng Minh Gia Cát Lượng hay như lúc Khương Tử Nha được vua nhà Chu đến lạy thỉnh vậy.

2) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường thua cả loài cầm thú vì sử sách muôn đời từ khi con người trở nên có trí hóa sáng tạo ra chữ viết đã luôn miệt thị bọn “ăn cháo, đái bát” (phường mọi rợ được chủ nhân mời ăn cháo nóng, ăn xong vén quần lôi của quý ra tồ vào đầy bát rồi bưng trả lại chủ nhân), bội nghĩa, vong ân, trời không dung, đất không tha, điếm nhục gia phong, hổ thẹn tổ tiên giòng họ, không biết chính mình dù có cống hiến hiệu quả trọn kiếp trọn đời cũng không sao trả hết nợ cho triệu triệu người đã lấy máu thịt thấm lầy mảnh đất này giữ cho màu mỡ vẹn toàn, và trả nợ ngay cả bao nạn dân đã để lại xương núi đầu lâu ở những tỉnh Miền Tây khi trở thành tiền phương hứng chịu sự tấn công điên cuồng của bọn diệt chủng bạo tàn.

3) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường bất lương, vô trí, vô trách nhiệm, không đáng sánh bằng với kẻ thất phu. Đã bất tài vô dụng không giúp ích được gì cho tổ quốc, cho dân tộc, thay vì ngồi yên hưởng thụ lại khuấy loạn nội tình, làm ngơ trước sự tồn vong của đất nước bao đời luôn phải đối phó với nguy cơ giặc ngoại xâm tiềm tàng, cứ như quân thất học vô giáo dục vô tổ vô tông sẵn sàng mãi quốc cầu vinh, rắp tâm lập “đại công” với giặc để được phì gia, hoặc chí ít cũng được tiếp nhận nơi hải ngoại thâm thù khi nước (của người Việt) mất nhà (của người Việt khác) tan.

4) Và cuối cùng song không kém phần quan trọng là Lăng Tần đã đúng khi nói về “trí thức” trong bài “Tôi và Huy Đức”.

******

Viết đến đây tôi lại muốn chuyển hướng có đôi lời kính gởi những công dân Mỹ gốc Việt (mà trước nay hay bị gọi nhầm là Việt Kiều), và cần nói rõ với các tính từ kèm theo nhằm bổ nghĩa và cụ thể hóa đối tượng của “đôi lời”, đó là những công dân Mỹ gốc Việt chống Việt Nam (mà trước nay hay tự gọi nhầm là chống cộng, vì “cộng” là một chủ thuyết tức communism, mà đã là chủ thuyết hay học thuyết thì đó là tự do tư tưởng mà chỉ có thể được một chủ thuyết khác tranh luận ngược lại gọi là bút chiến luận, và trên cơ sở tương quan trí tuệ, nghĩa là nếu những người cộng sản tức communist có đại tác phẩm Tư Bản Luận để “đẻ ra” chủ nghĩa cộng sản bán chạy nhiều thập kỷ nay, thì phía tranh luận ngược lại cũng phải có tác
phẩm…Cộng Sản Luận có độ dày mấy chục pho tương tự, để “đẻ ra” chủ nghĩa xyz nào đó chứ không lẽ đẻ ra chủ nghĩa tư bản vì hóa ra chủ nghĩa ấy do cộng sản đẻ ra à?; đã vậy, chống cộng sai vì vi phạm tự do tư tưởng của người khác, chống Việt Nam lại càng sai vì Việt Nam xâm lược Mỹ, đô hộ Mỹ, diệt chủng Mỹ, tàn phá Mỹ, cạo đầu gióc tóc Mỹ nam và bắt Mỹ nữ làm nô lệ tình dục hồi nào vậy?) rằng:

1) Xin quý vị xem kỹ nội dung truyền đơn của phong trào đấu tranh của Lê Hiếu Đằng, có ghi rõ ràng là Ủy Ban Tổng Hội Sinh Viên Học Sinh kêu gọi “hướng tới tương lai tươi sáng của dân tộc”, nghĩa là chế độ Cộng Hòa đen tối, lầm than, và tương lai tươi sáng của dân tộc chính là Cộng Sản như thực tế chứng minh từ 1975 đến nay. Như vậy phải chăng Lê Hiếu Đằng đã từng tích cực nguyền rủa Việt Nam Cộng Hòa của quý vị.

2) Cũng trong truyền đơn còn có bài thơ với các câu cú như sau: “Nước mắt mồ hôi pha máu tươi, Tháng tháng năm năm một kiếp người, Chén cơm giữa chợ còn chan máu, Có ai hay đang sống kiếp ngục tù” nghĩa là chế độ Cộng Hòa là chế độ ngục tù tàn bạo giam hãm công dân với nước mắt và máu mà quý vị đã là những tù nhân trong ấy. Như vậy Lê Hiếu Đằng đã nói đúng hay là y đã thóa mạ và bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa của quý vị, đồng thời ám chỉ rằng cộng sản sẽ giải thoát quý vị khỏi chốn đọa đày và quý vị sẽ đời đời nhớ ơn cộng sản?

3) Tương tự từ nguồn trên, các dòng chữ “nhân dân nổi lên quyết liệt đòi hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hòa hợp dân tộc” nghĩa là quý vị đã nổi lên quyết liệt, vì không lẽ quý vị không muốn hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hòa hợp dân tộc? Mà nếu đã vậy, ắt Lê Hiếu Đằng đã nói đúng vì cộng sản đã đáp ứng đòi hỏi quyết liệt của quý vị bằng cách giải phóng Miền Nam, tạo nên nước Việt Nam hòa bình (không còn chiến tranh), thống nhất (không còn chia cắt Bắc-Nam), độc lập (mất hút bóng dáng thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, đế quốc Mỹ, bành trướng Tàu), tự do (theo văn hóa văn minh văn hiến thuần Việt), dân chủ (theo thể chế hiến định như bất kỳ quốc gia nào), ấm no (mà điển hình là sự giàu có của người Việt đã khiến nhiều người Mỹ gốc Việt chống Việt trong quý vị ganh tỵ gọi là “tư bản đỏ”, và cũng không phải không là điển hình khi Lê Hiếu Đằng đã “no cơm ấm cật” nên “quậy thật khí thế thật tưng bừng”), và hòa hợp dân tộc khi ngày càng có nhiều người Mỹ gốc Việt không chống Việt, người Mỹ gốc Việt thân thiện với nước Việt, và Việt Kiều đã về Việt Nam, vì Việt Nam, với lòng đoan chính vốn luôn có nơi giòng dõi Việt thế phiệt trâm anh gia giáo gia phong. Mà khi sự thật đã và đang là như thế, Lê Hiếu Đằng phải chăng đã bất hạnh vì vướng phải căn bệnh thường gặp ở tuổi già khi xảy ra sự lẫn lộn giữa thực và hư?

Nói tóm lại, dù có chống Việt đến đâu chăng nữa, lẽ nào quý vị lại ủng hộ Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận, bất kể đó là kẻ “hèn nhát hèn yếu hèn hạ”, “ăn cháo, đái bát”, và “bất lương, vô trí, vô trách nhiệm”, đặc biệt nghiêm trọng khi chính y đã từng to mồm mắng quý vị ra sao để được đứng vào hàng ngũ sinh viên học sinh đấu tranh hòng được lọt vào mắt xanh của những người cộng sản.

Không ai dùng thứ vất đi. Tiếng Anh có câu tục ngữ “chẳng ai đá một con chó chết”. Ý nghĩa sâu xa là đã là thứ vất đi thì ngay cả một cái đá cũng là sự phí phạm. Văn học Việt Nam có câu tương tự “giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi”. Song, cái sự đời không phải lúc nào cũng phải theo tục ngữ hay văn học. Một vị võ tướng siêu quần bạt tụy đang ăn cơm với đôi đũa vàng chạm ngọc vẫn có thể xuất chiêu dùng đũa kẹp dính một con ruồi bay ngang. Nhà tỷ phú tốt bụng thấy miểng chai lềnh khênh ngoài đường vẫn có thể hy sinh dùng đôi găng tay da hải ly nhặt hết cho vào túi ném vào thùng để không gây họa cho người đi đường. Trong cuộc sống có bao điều phải nghiên cứu để mở mang kiến thức, phải làm để phụng sự quốc gia dân tộc, nhưng không phải vì vậy mà làm ngơ trước những chuyện của ruồi nhặng vốn tiềm tàng hiểm họa của bịnh dịch tả kinh hoàng. Ắt đấy là lý do biết bao con người đoan chính có công tâm đáng kính đã vì lòng bác ái từ bi mà lượm nhặt rác rến miểng chai khi viết về Lê Hiếu Đằng, để bảo vệ các bạn trẻ và những người dân yếu thế không bị nhiễm khuẩn bởi dịch tả Hiếu Đằng.

Nam mô A-di-đà Phật.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Pháp danh An Thiện

Bút hiệu Lăng Tần

Ghi chú:

(*) đã đăng lại trên các blog:

http://hoanghuuphuocteachers.blog.com: các bài: Tôi và Cô Trương Tuyết Anh, Tôi và Thầy Nguyễn Quang Tô, Tôi và Thầy Lê Văn Diệm

http://hhphuoc.blog.com: các bài Tôi và Huy Đức (tít trong blog là Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt: Nhân Nghe Về Huy Đức), Tôi và Lê Công Định (tít trong blog lấy theo tít của báo Nhân Dân là: “Là Công Dân, Phải Tuân Thủ Luật Pháp Quốc Gia”)

http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com : các bài Tôi và Các Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa, Tôi và Huy Đức (tít trong blog là Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt: Nhân Nghe Về Huy Đức)

(**) sẽ sớm được đăng lại nguyên văn trên wordpress.com từ nguyên văn của emotino.com:

Tôi và Tổng Thống Saddam Husein

Tôi và Ngành An Ninh Tình Báo

Tôi và Lê Công Định

Tôi và Cu Huy Ha Vu

Tôi và Hai Anh Bộ Đội

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.