Monthly Archives: November 2013

Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992

(Nội dung bài phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước soạn cho phiên thảo luận ở Hội trường Quốc hội trong khuôn viên Bộ Quốc Phòng sáng Thứ Hai 18-11-2013 về việc chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Do thời gian chỉ có thể dành cho từ 10 đến 20 đại biểu phát biểu cho mỗi phiên thảo luận nên Quốc hội đã đổi thành góp ý trực tiếp vào Dự thảo để hơn 450 đại biểu có cơ hội cùng nêu được chính kiến của mình và đóng góp thêm ý kiến cho những nội dung chính còn có những điểm khác biệt.)

Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

 Image

Nghị quyết số 38 của Quốc hội về tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 đã được triển khai sâu rộng, nghiêm túc, thu hút được sự tham gia tích cực, tâm huyết của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong thời gian từ 02-01-2013 đến 30-4-2013 và từ 01-5-2013 đến 30-9-2013. Ngoài báo cáo tổng hợp ý kiến của nhân dân nói trên, Ban Biên Tập của Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 còn có báo cáo tổng hợp ý kiến của Đại biểu Quốc hội trong các phiên thảo luận tại Tổ ngày 23-10-2012 đóng góp nhiều ý kiến cụ thể xác đáng để hoàn thiện bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp.

Khi nêu những ý kiến khác nhau về Lời nói đầu, Chế độ chính trị, Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Kinh tế  – xã hội – văn hóa – giáo dục – khoa học – công nghệ – môi trường, chính quyền địa phương, v.v., cử tri đã có cơ hội được nghe Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp giải trình sâu sắc, thực tế, đầy sức thuyết phục cho từng vấn đề một, từ đó cơ bản tán thành với Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đồng thời nắm bắt những nội dung đã được Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp tiếp thu và chỉnh lý một cách hợp lý, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào trong Dự thảo. Đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trên phạm vi toàn quốc này, do đó đã trở thành cơ hội tuyệt diệu để người dân góp ý dựa trên sự hiểu biết và trí tuệ của mình về những “best practice” tức những cách thức tốt nhất khả thi khả dụng từ sách vở cũng như thực tế đời sống chính trị thuần túy nước ngoài mà thông tin điện tử có thể cung cấp dồi dào phong phú, và sau đó được nghe các giải trình từ những người có trách nhiệm cao với tiền đồ tổ quốc để biết rõ hơn về những cách thức tốt nhất khả thi khả dụng được minh chứng thành công trong quá trình xây dựng đất nước thống nhất, độc lập, xã hội chủ nghĩa, phát triển, và có uy thế lớn mạnh trên trường quốc tế từ kinh nghiệm trị quốc và bảo vệ đất nước của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cùng những thành tựu nổi bật về ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xuất sắc vượt qua cấm vận kinh tế và vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu mà cả hai đều do các siêu cường quốc kinh tế gây ra, nâng cao uy thế ngoại giao, thi thố năng lực đối ngoại có thực và đứng vào vị trí lãnh đạo các tổ chức lớn quốc tế, đặc biệt thích hợp với đất nước Việt Nam cũng như hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Sự hiểu biết và trí tuệ của nhân dân cùng với sự hiểu biết và trí tuệ của các đại biểu quốc hội và sự hiểu biết và trí tuệ của những người đã kinh qua thành công thực tế lãnh đạo đấu tranh lập quốc thành công, vệ quốc thành công, kiến quốc thành công, và trị quốc thành công, giúp bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có được sự hoàn hảo thích hợp.

Đợt sinh hoạt chính trị sửa đổi Hiến pháp 1992 của Việt Nam còn là một trường hợp đầu tiên chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại khi cả thế giới không phân biệt chánh – tà đều ra sức “đóng góp” ý kiến cho Quốc hội Việt Nam, từ những tổ chức quốc tế thí dụ như Cơ Quan Chương Trình Phát Triển Liên Hợp Quốc UNDP được Việt Nam mời góp ý về kinh tế, chính quyền địa phương và thiết chế hiến định độc lập trong Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 để Việt Nam dùng làm tư liệu tham khảo, cho đến những người mang quốc tịch nước ngoài chống Việt Nam nhưng rất kém tiếng nước ngoài vì chỉ sử dụng những cái tên Việt không thể kiểm chứng mà Việt Nam không bao giờ quan tâm mời mọc, để dùng các trang mạng miễn phí tập trung rao giảng bằng tiếng Việt hòng đem những điều cũ rích mà Việt Nam đã biết quá rõ là đã và đang làm cho thế giới Âu Mỹ đảo điên ngập ngụa trong suy thoái khủng hoảng suy tàn để đòi Việt Nam áp dụng y hệt. Thậm chí cái nhóm èo uột bá láp có tên HRW còn đăng thư gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam với lời lẽ trịch thượng nhằm răn đe dạy bảo Quốc hội Việt Nam phải sửa Hiến pháp 1992 ra sao và ra sao.

Việt Nam đã bao phen sửa đổi hiến pháp vào những thời kỳ thích hợp, sau những thời gian áp dụng, ứng dụng, chiêm nghiệm, điều chỉnh, đúc-rút kinh nghiệm, nhờ đó đã tạo nên những chiến thắng kỳ vĩ trong thống nhất đất nước, xây dựng đất nước, và bảo vệ đất nước, hấp thu có chọn lọc cao nhất những tinh hoa tối ưu của nước ngoài để hòa quyện vào kho tàng thực tiến nước nhà tạo nên sức mạnh tạo biến chuyển về kinh tế từ đó đạt được những vị trí cao trên trường quốc tế, danh vang bốn bể năm châu. Mỗi lần sửa đổi hiến pháp là mỗi lần Quốc hội Việt Nam đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển mới thích hợp nhất với  điều kiện thực tiễn nước nhà cùng không gian địa-chính trị sinh tồn hiện có, trên nền tảng chính trị cộng sản chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh vững chắc mang tính chân lý, bất di bất dịch, đã, đang, và sẽ tiếp tục chứng minh thành công, chiến thắng. Kinh nghiệm lập quốc, kinh nghiệm vệ quốc, kinh nghiệm kiến quốc, và kinh nghiệm trị quốc đã khiến Nhà nước Việt Nam và những người cộng sản Việt Nam có vị trí nổi bật trong lập hiến và lập pháp so với phần còn lại của thế giới.

Tất cả những điều nêu trên khiến Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 của Việt Nam trở nên kỳ vĩ, có giá trị cao, chắc chắn là cơ sở vững chắc để Việt Nam phát triển hùng mạnh trong những thập niên sắp đến. Việc thông qua bản Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 trên nền tư tưởng Hồ Chí Minhý chí Võ Nguyên Giáp chính là sự tự hào đầy vinh dự trong trách nhiệm lớn lao của Quốc Hội Khóa XIII đối với toàn dân tộc Việt Nam. Sự tích cực ra tay hô hào cản ngăn việc thông qua Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992  tại Kỳ họp thứ 6 này chính là dấu hiệu cho thấy sự run sợ khiếp đảm của các phe nhóm phản động dù không có bất kỳ kinh nghiệm cỏn con hay kiến thức tí tẹo nào về lập quốc, vệ quốc, kiến quốc, trị quốc, lập hiến và lập pháp, vẫn muối mặt ra sức hét hò chỉ vì không bao giờ muốn chứng kiến Việt Nam thêm một lần nữa sửa đổi hiến pháp thành công, trở thành cường quốc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ kinh doanh Quốc tế

ĐBQH Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Advertisements

Về thực quyền, thực uy

ImageBài viết của Hoàng Hữu Phước trên báo Đại Biểu Nhân Dân số ra ngày 26/11/2013

Kỳ họp thứ Sáu của Quốc hội Khóa XIII sắp đến ngày bế mạc. Rất nhiều việc trọng đại trong chương trình nghị sự đã được hoàn tất và đang được tiếp tục hoàn tất, mà nhiều trong số đó đã làm Quốc hội Khóa XIII có một vị thế quan trọng trong lịch sử lập pháp nước nhà. Song, vẫn còn đó những việc cần phải đổi mới để cơ quan được hiến định là có quyền lực cao nhất của đất nước thực sự thể hiện được cái thực quyềnthực uy của chính mình.

Ngay trước ngày khai mạc Kỳ họp thứ Sáu này, ngành tư pháp đã bị một vết nhơ với vụ án oan, mà vị chủ tọa phiên xét xử sơ thẩm đối với tù nhân chung thân này khi vụ oan án được đưa ra ánh sáng đã hỗn láo nói với báo chí rằng nếu bị cáo có oan sai thì trách nhiệm là do Quốc hội. Phải chăng chính Quốc hội phải chịu trách nhiệm vì đã tắc trách trong các khâu giáo dục, đào tạo, phân công, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, dẫn đến việc có những quan chức tư pháp chễm chệ ngồi cao ban phát án tử oan sai cho lương dân vô tội. Cơ quan quyền lực nhất của quốc gia lại trở thành nơi được vị chánh án tắc trách ấy phân công đứng ra chịu trách nhiệm tập thể cho cái tắc trách của cá nhân y. Sao chúng ta thậm chí không dám có đến một lời chấn chỉnh sự phạm thượng của y.

Cái thực uy, thực quyền của Quốc hội được thể hiện qua cái thực quyền, thực uy của từng ĐBQH, người theo hiến định đại diện cho cử tri ở đơn vị bầu cử và trên phạm vi toàn quốc, chứ không chỉ hiện hữu nơi Chủ tịch Quốc hội và các Phó chủ tịch Quốc hội. Chỉ khi các ĐBQH được trao cho thực quyền và được tạo điều kiện có được thực uy, việc phục vụ nhân dân và phụng sự đất nước mới có hiệu quả, góp phần vào sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, và sự trường tồn của chế độ. ĐBQH không thể có thực quyền và không bao giờ có thực uy nếu công văn của ĐBQH không được cá nhân quan chức chính phủ hay chính quyền địa phương trực tiếp trả lời đúng thời hạn luật định, yêu cầu của ĐBQH đối với khiếu nại, tố cáo của cử tri không được cá nhân quan chức chính phủ hay chính quyền địa phương trực tiếp hay chỉ đạo ưu tiên đáp ứng, và đề nghị tiếp xúc của ĐBQH để giải quyết khiếu nại, tố cáo hay bức xúc chính đáng của cử tri không được cá nhân quan chức chính phủ hay chính quyền địa phương nhanh chóng đáp ứng. Một khi lãnh đạo cơ quan dân cử nghiêm khắc ra uy và tỏ quyền lực với những người lãnh đạo hành pháp cũng như buộc toàn hệ thống công quyền phải phục vụ ĐBQH ngay lập tức và chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm cho sự phục vụ này thay vì xem ĐBQH như những người dân phải chờ đợi sự ban ơn theo thứ tự xếp hàng trước sau, thì lãnh đạo Quốc hội đã giúp các ĐBQH có thực uy, thực quyền để thi thố trong giúp dân, giúp nước, giúp Đảng; phòng – chống – trị tham nhũng, quan liêu, tiêu cực; phục vụ tốt cho dân, tích cực chuyển biến dân sinh, an được dân tình…

Để sử dụng được cái quyền và thể hiện tốt cái uy của người thuộc cơ quan quyền lực nhất quốc gia, ĐBQH tất nhiên phải tự thân có được cái tâm và cái thế của người có thể gánh được trách nhiệm nặng nề không thể tách rời khỏi hai chữ quyền, uy. Việc rất dễ làm tốt của ĐBQH là chuyển đơn của cử tri đến nơi cần nhận, và – khi được thư ký có trách nhiệm nhắc nhở lúc quá hạn – gửi tiếp thư đôn đốc nơi đã nhận, đề nghị “xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, và trả lời cho công dân.” Nhưng với thực quyền, thực uy, ĐBQH có thể (a) đề nghị giải pháp giải quyết gửi người có trách nhiệm xử lý ở cơ quan chức năng, (b) yêu cầu người có trách nhiệm xử lý ở cơ quan chức năng đề xuất giải pháp giải quyết, (c) yêu cầu người có trách nhiệm xử lý ở cơ quan chức năng xác nhận thời gian cụ thể để ĐBQH cùng dân đến gặp trực tiếp đối thoại giải quyết vụ việc, và (d) yêu cầu người có trách nhiệm ở cơ quan quản lý người có trách nhiệm xử lý ở địa phương can thiệp ngay khi có sự không tích cực của vị này trong đáp ứng các yêu cầu của ĐBQH. Không trao thực quyền và giúp tạo thực uy cho ĐBQH, lãnh đạo QH và Nhà nước không bao giờ có thể biết ai là ĐBQH thực sự vì nước, thực sự vì dân, thực sự đáp ứng những thang điểm đánh giá cụ thể của QH, của Nhà nước, của Đảng đối với việc họ có xứng đáng cho những tôn vinh hay phần thưởng – nếu có theo luật định – hay không; cũng như cử tri không thể biết được tầm vóc và tâm thế của ĐBQH mà họ đã bỏ phiếu bầu và có thể bỏ phiếu bầu cho nhiệm kỳ kế tiếp. Kỳ bầu cử cho ra danh sách những người được dân bầu, nhưng những khiếu tố kéo dài kiểu tự phát mà không tìm đến ĐBQH hay Đoàn ĐBQH chỉ chứng minh cử tri đã bầu chọn những người họ chưa rõ về tâm thế và tầm vóc, và cũng không tin cậy để bày tỏ tâm tư.

Hoàng Hữu Phước
ĐBQH TP Hồ Chí Minh

Nguồn::

1) http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=299444

2) Báo Dại Biểu Nhân Dân số ra ngày 26-11-2013, Trang 3

Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi)

Bài phát biểu tại Hội trường Quốc hội sáng Thứ Hai 25-11-2013

 Image

Kính thưa Quốc hội:

Tôi xin có các ý kiến sau về Dự Án Luật Xây Dựng (sửa đổi):

1)      Về Các Loại Hợp Đồng Xây Dựng:

Điều 135.2.c: Hợp Đồng Cung Cấp Thiết Bị Công Nghệ:

Xin Ban Soạn Thảo xem lại vì do hợp đồng xây dựng là giữa Bên Giao Thầu và Bên Nhận Thầu, hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ không thể được liệt kê như một trong những loại hợp đồng xây dựng, mà là hợp đồng mua bán đơn thuần giữa Bên Mua thiết bị công nghệ và Bên Bán thiết bị công nghệ ấy. Trong trường hợp này, Bên Nhận Thầu thường là Bên Mua, khác với công trình xây dựng gia dụng của cá nhân mà chủ nhà hay giành lấy phần mua sắm. Bên Bán thiết bị công nghệ do đó chỉ có nghĩa vụ thực hiện và chịu trách nhiệm thực hiện phần việc của Bên Bán như ghi trong hợp đồng mua bán giữa họ với nhau chứ không chịu trách nhiệm bất kỳ đối với Bên Giao Thầu; đồng thời Bên Giao Thầu không có nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán cho Bên Bán thiết bị công nghệ.

2)      Về Xây Dựng Công Trình Đặc Thù

a- Điều 123.1 Công trình bí mật nhà nước cần ghi vài chi tiết nhằm cho thấy mức độ cao cấp đòi hỏi công nghệ cao như hầm trú ẩn khi có sự cố vụ nổ hạt nhân trong hoặc không trong chiến tranh, v.v.

b- Điều 123 còn cần có thêm Điều 123.4 mới, chuyển Điều 123.4 hiện có thành Điều 123.5, cụ thể điều mới liệt kê ít nhất vài công trình xây dựng đặc thù như

–          Công trình thủy lợi, thủy điện, phong điện, điện nguyên tử, điện nhật quang, kể cả nhiệt điện

–          Công trình xây dựng sân bay, bến cảng, cầu qua sông vượt biển

–          Công trình giao thông đường hầm xuyên núi, dưới lòng đất, trên cao xuyên phố thị

–          Công trình xây dựng các khu vui chơi giải trí hiện đại kiểu theme parks, các tòa nhà siêu cao tầng, siêu rộng, siêu sâu.

Mục đích của việc liệt kê này là để diễn giải ý nghĩa của “đặc thù” vốn luôn đòi hỏi công nghệ cao không những nơi đội ngũ chuyên viên đảm trách các phần việc mà còn trong việc xây dựng, kể cả công tác quản lý thi công, giám sát thi công, và nghiệm thu, v.v., luôn đi kèm theo đó là trách nhiệm trước pháp luật kể cả đối với luật hình.

3)      Về Giám Sát Thi Công Xây Dựng Công Trình:

Do giám sát thi công là khâu quan trọng dễ phát sinh tiêu cực góp phần trầm trọng hóa vấn nạn tham nhũng, nhưng thường bị hoặc xem thường, hoặc lợi dụng, hoặc chỉ là hình thức cho vui, dẫn đến việc đã có những cột mốc công nghệ bê tông cốt tre dọc tuyến quốc lộ, hay công trình xây nhà máy thủy điện bị xe tải hạng trung chạm vỡ như bánh biscuit hoặc nước chảy lờ đờ xô sập, để đảm bảo các Điều 116.3.c quy định việc giám sát thi công xây dựng phải trung thực, khách quan, không vụ lợi; Điều 117.2.đ quy định chủ đầu tư xây dựng có nghĩa vụ không được thông đồng hoặc dùng ảnh hưởng của mình để áp đặt làm sai lệch kết quả giám sát; và Điều 118.2.e quy định nhà thầu giám sát thi công có nghĩa vụ không được thông đồng với nhà thầu thi công xây dựng, với chủ đầu tư và có các hành vi vi phạm khác làm sai lệch kết quả giám sát; không chỉ là những nội dung điểm trang cho dự án Luật này thêm xinh đẹp vẻ văn, Dự thảo Nghị định về Quản lý Chất lượng Công trình Xây dựng do đó cần được biên tập lại nơi các điều 27 và 31 theo hướng thêm các chi tiết nghiêm nhặt hơn, có nhiều những giá trị cộng thêm hơn, chẳng hạn Điều 27 nên có quy định số lượng nhân sự phải đông cho mỗi nội dung giám sát vì sẽ khiến kẻ muốn kết quả giám sát sai lệch phải suy nghĩ lại do tiêu cực phí bôi trơn tăng cao; và thêm Điều 31.5 về Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng, theo đó nhất thiết phải có các phần bảo vệ môi trường, tôn tạo cảnh quang, và chất lượng các công trình phụ trợ như hệ thống thoát nước, v.v., do thực tế cho thấy mỗi khi một công trình xây dựng hoàn tất là phải có cảnh nhếch nhác của xà bần, rác rến, bụi bẩn; còn công trình cầu vượt sông ở nhiều nơi thành chỗ tập kết rác và vật liệu xây dựng ngỗn ngang ở các gầm cầu trong khi phim ảnh Hàn Quốc cho thấy dạ cầu chính là nơi tuyệt đẹp về đêm mà các nhân vật trong phim hay lái xe đến đấy để hoặc nói chuyện tâm tình nghiêm túc sang trọng quý phái hoặc gào to hét lớn giải tỏa uẩn ức nỗi lòng.

Phải ấn định việc tạo cảnh quang cho công trình là trách nhiệm đương nhiên của Bên Nhận Thầu đối với môi trường, không được tính chi phí trong giá trị thi công trong hợp đồng. Anh bán phở mà đòi thêm tiền treo tranh ảnh hoa hòe, quét rác, và lau sạch bàn ghế sau mỗi lần phục vụ thực khách thì không phải là chuyện không đùa.

Ngoài ra, do đây là bộ luật được sự quan tâm của các nhà thầu và các nhà đầu tư nước ngoài, xin ban biên soạn dự thảo vui lòng dùng bảng chữ cái tiếng Anh trong đánh số các điều khoản, vì cách dùng a b c d đ e g … rất kỳ lạ do đã không dùng các chữ cái tiếng Việt khác như ă â ê…, còn chữ đ thì không thể ghi trong bản dịch tiếng Anh của luật này, và người nước ngoài cùng luật sư của họ thì không hiểu đ là ký hiệu gì, phải phát âm ra sao, và gõ thế nào trong văn bản họ gửi cơ quan chức năng của ta. Nội dung này tôi đã gởi lãnh đạo Quốc hội để mong được áp dụng trong tất cả các bộ luật của Việt Nam.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn

Phiên chất vấn tại Hội trường Quốc hội ngày Thứ Ba 19-11-2013

 Image

Kính chào Bộ trưởng

Tôi xin có các câu hỏi sau:

1) Về chính sách thu mua tạm trữ lúa, gạo, cà phê.

Nghị định 109 năm 2010 của Chính phủ quy định các doanh nghiệp xuất khẩu gạo kể từ năm 2011 phải có kho chứa ít nhất 5.000 tấn gạo, phải có nhà máy xay xát công suất tối thiểu 10 tấn gạo/giờ, phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo mà doanh nghiệp đã xuất trong 6 tháng liền kề trước đó, đồng thời có sẵn lượng gạo ít nhất bằng 50% số lượng gạo trong hợp đồng xuất khẩu đăng ký. Đây là cột mốc quan trọng mang tính chuyên nghiệp đầu tiên cho ngành kỹ nghệ gạo. Rất tiếc là khi nói về “kho chứa”, ai cũng biết ngay đó là dạng nhà đơn giản gồm các bức vách gạch xi măng, mái kho lợp tôn tráng kẽm, với các cửa ra vào và nhiều  ống thông khí trên nóc, còn gạo đóng bao đay được để chất chồng trên các “pallet” gỗ tạp, dễ bị nóng ẩm làm hư hỏng, bị côn trùng chuột bọ làm hao hụt, làm xấu thêm tình trạng thất thoát sau thu hoạch. Xin Bộ trưởng cho biết việc giám sát các kho của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo có đã thường xuyên được tiến hành; việc đầu tư xây dựng hệ thống silo đã có trong chương trình bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phục vụ xuất khẩu gạo hay chưa; và gần đây việc yêu cầu nhà nước mua tạm trữ nhiều trăm ngàn tấn cà phê – trong khi đó là việc lẽ ra phải là của các “đại gia” cà phê – có sẽ dẫn đến việc có nghị định tương tự, quy định nhà xuất khẩu cà phê cũng phải có “nhà kho” “duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu” hay không.

2) Về đào tạo kỹ năng cho nông dân:

Theo các điều nghiên của Tổ Chức Lương Nông Liên Hợp Quốc thì tác động của sự ấm lên toàn cầu và sự dâng lên của nước biển sẽ khiến Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm nữa sẽ mất từ 20% đến 30% ruộng lúa vùng Châu Thổ Sông Cửu Long do tình trạng bị ngập mặn. Thiên tai lũ lụt khiến tình hình càng xấu thêm trên phạm vi toàn quốc.

Xin Bộ trưởng cho biết các kỹ năng sau cho nông hộ ngành nông lâm trong đối phó với các khắc nghiệt của môi trường có đã và đang được thực hiện và có hiệu quả hay không: kỹ thuật gieo trồng canh tác tương tác nông lâm như nông-lâm-chăn nuôi, nuôi trồng dưới tán rừng, trồng cây chống lụt, trồng cây bảo vệ môi trường sinh thái, trồng cây chống gió, trồng cây chống chuồi lở đất vùng sườn đồi, và trồng cây tăng màu cho đất, v.v.

Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.

Kính chúc Bộ trưởng sức khỏe, hạnh phúc, và thành công.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

Bài phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước trên báo Văn Nghệ Trẻ, số ra ngày Chủ nhật 24-11-2013, trang 22 (phụ trương của Tuần báo Văn Nghệ – Hội Nhà Văn Việt Nam)

 Image

Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

(Phỏng vấn ông Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH Tp. HCM)

Phóng viên (PV): Thưa ông, công dân Hoàng Hữu Hiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh có 5 vụ khiếu tố được gọi là “kỳ án” về tranh chấp nhà đất kéo dài hơn 15 năm qua mà hàng chục tờ báo phản ánh, hàng trăm kiến nghị của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội…đề nghị chính quyền Thành phố xem xét giải quyết. Được biết ông cũng giành nhiều thời gian tiếp xúc, lắng nghe về những vụ việc trên?

Đại biểu Hoàng Hữu Phước: Ngay sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII năm 2011, tôi đã nhận bộ hồ sơ có 5 nội dung khiếu tố của công dân Hoàng Hữu Hiệp về tranh chấp nhà đất, với rất nhiều những tư liệu đính kèm, bao gồm các công văn của các lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và các bài báo viết về các nội dung khiếu tố này. Tôi đã nhiều lần tiếp công dân Hoàng Hữu Hiệp tại Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh để lắng nghe ông trình bày thêm vì vụ việc có nhiều nội dung, tính phức tạp cao, và đã kéo dài quá lâu; nhờ vậy tôi hiểu được các bức xúc của ông Hiệp và tôi biết mình nên làm gì để có hướng giải quyết thích hợp.

PV: Chúng tôi được biết ngày 24/7/2013 ông đã có 3 công văn kiến nghị gửi Chánh án TANDTC, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội, Giám đốc Công an Tp. Hồ Chí Minh đề nghị cho ông Hiệp được trực tiếp trình bày về các vụ khiếu tố đã kéo dài nhiều năm, ông đã nhận được công văn trả lời của các cơ quan trên chưa?

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tôi nhận thấy các vị Đại biểu Quốc hội đoàn Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều khóa qua đã tích cực chuyển đơn của công dân Hoàng Hữu Hiệp đến các cơ quan chức năng yêu cầu xem xét giải quyết, nhưng sự phản hồi hoặc chậm (khiến có những thư đôn đốc), hoặc thờ ơ (như yêu cầu liên hệ cơ quan khác để biết kết quả, hoặc từ chối giải quyết với lý do đơn khiếu nại không có tình tiết gì mới), hoặc không trả lời (có thể do đơn giản cho rằng đã trả lời rồi trước đó). Tôi không chấp nhận việc trong thời gian dài mà sự “tích cực” của Đại biểu Quốc hội lại chỉ lập đi lập lại dưới dạng chuyển đơn, nên đã có các công văn nêu trên, đề nghị các vị lãnh đạo cho ông Hiệp được gặp để trực tiếp trình bày bức xúc của mình. Cụ thể đối với Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao: tháng 01-2013 tôi gởi chuyển đơn khiếu tố của ông Hiệp, đến tháng 3-2013 tôi gởi tiếp một thư đôn đốc, và tháng 7-2013 tôi gởi thư đề nghị Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao dành thời gian bất kỳ vào ngày nào trong hai tháng còn lại của quý III năm 2013 cho đến trước ngày khai mạc Kỳ họp 6 của Quốc hội, tại bất kỳ địa phương nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam thuận tiện cho lịch công tác của Ông Chánh án, để công dân Hoàng Hữu Hiệp được gặp trực tiếp để trình bày các bức xúc đối với các nội dung có liên quan khiếu tố, đồng thời tôi sẽ cùng có mặt với công dân Hoàng Hữu Hiệp trong buổi tiếp xúc này. Nội dung tương tự cũng được gởi đến Giám đốc Công an Tp Hồ Chí Minh. Còn bức thứ ba gởi Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội, chỉ yêu cầu ông Chủ nhiệm xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, trả lời công dân, và thông báo kết quả cho tôi. Đến nay kỳ họp thứ 6 của Quốc hội đã sắp đến ngày bế mạc, tôi vẫn chưa nhận được công văn trả lời của các vị trên.

PV: Những kiến nghị trên là làm đúng nhiệm vụ, chức năng của một đại biểu Quốc hội mà các cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn im lặng, huống hồ một công dân bình thường như ông Hoàng Hữu Hiệp phải lao đao khiếu kiện hơn 15 năm qua. Ông có quan điểm gì về vấn đề này?

Tôi hiểu các bức xúc của người dân và tôi hiểu các cơ quan chức năng đã thực hiện công việc của họ. Tuy nhiên, cái đúng theo luật định mà cơ quan chức năng hành xử khi giải quyết các khiếu tố của người dân lại thiếu một điều quan trọng: cái tâm, cái tầm của người trực tiếp xử lý. Anh làm đúng quy định bằng cách ra văn bản trả lời ngắn gọn rằng “vụ việc này không thuộc thẩm quyền xử lý của chúng tôi”, hoặc rằng “không xử lý tiếp vì đơn của ông/bà không cung cấp thêm các tình tiết mới nào”; thay vì nên là “đề nghị ông/bà liên hệ đồng chí … ở Phòng/Ban…, tại cơ quan…..địa chỉ …….., là nơi có thẩm quyền xử lý việc ông/bà phản ảnh”, và “do không có thêm tình tiết mới, kính mời ông/bà vui lòng đến gặp tôi/đồng chí…, ở Phòng/Ban…, vào lúc…ngày….để tôi/đồng chí… giải thích và có tư vấn thích hợp”. Làm việc theo bài bản với trách nhiệm và có tâm có tầm là phong cách người cán bộ/công chức/viên chức mà Đảng và Nhà nước trông đợi, và là chuẩn mực cho những đề bạt. Đạo đức phục vụ nhân dân phải bao gồm làm tròn bổn phận của “đầy tớ” và không được gây họa cho thủ trưởng cấp trên. Không tiếp người khiếu tố, khiến họ đưa vụ việc lên cấp cao hơn, thậm chí lên Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Nước, thì đã là vô đạo đức rồi.

PV:. Vụ khiếu tố nhà 181 Đề Thám, Tòa án ND Tp. HCM tuyên buộc UBND Tp. HCM xem xét trả lại nhà cho gia đình liệt sĩ từ năm 2000, vụ nhà 128 B Nguyễn Đình Chính đã được Tòa phúc thẩm TANDTC giao Tòa án NDTP. HCM xét xử lại từ 13/5/2011, vụ nhà 6B Trần Cao Vân đã được UBND Tp. HCM giao Chánh Thanh tra Thành phố thanh tra lại từ ngày 26/12/2012, nhưng đến nay cả 3 vụ vẫn không có kết quả trả lời. Theo ông, có điều gì bất thường trong các vụ khiếu tố trên?

Bất kỳ ai khi đọc các tài liệu và các bài báo về những vụ khiếu tố ấy đều có cùng nghi vấn về những “điều bất thường”. Chỉ có một cách duy nhất đúng và hiệu quả để giải quyết tất cả các vụ việc này: đáp ứng nguyện vọng nhiều năm nay của Ông Hiệp là được gặp trực tiếp các lãnh đạo. Tại buổi tiếp xúc “trong mơ” ấy, ông Hiệp trình bày các thắc mắc của ông, và thủ trưởng cơ quan chức năng đưa ra các dẫn chứng pháp luật và bằng chứng chứng minh cơ quan đã có quyết định xử lý đúng luật, đúng lý, đúng tình. Nếu ông Hiệp không tự bảo vệ mình được với các dẫn chứng pháp luật và bằng chứng chứng minh ông đúng, ông sẽ phải chấp nhận cách xử lý của cơ quan này; nếu ngược lại, cơ quan có trách nhiệm phải thay đổi các quyết định đã ban hành và xem xét những thiệt hại đã gây ra cho ông Hiệp.

PV: Vụ án tù oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang làm chấn động dư luận và 5 vụ “kỳ án” kéo dài, hành khổ công dân Hoàng Hữu Hiệp là những bằng chứng về xâm phạm hoạt động tư pháp. Ông nhìn nhận thế nào về những hiện trạng này?

Trước khi ra Hà Nội dự Kỳ họp thứ 6,  tôi có nhận được thư của một luật sư ở Bắc Giang “cầu cứu” vì một thân chủ là sĩ quan công an được cho là bị xử oan khiến từ người có công phá nhiều vụ án ma túy trở thành kẻ tội đồ về ma túy, còn kẻ được cho là “trùm ma túy” thoát án tử hình vì có công “khai ra” việc đòi hối lộ của vị sĩ quan ấy. Theo bài bản chuyên nghiệp, tôi có khuyên người viết hãy trực tiếp gởi đến Đoàn ĐBQH Tỉnh Bắc Giang. Nay với vụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn và các vụ khiếu tố của Ông Hoàng Hữu Hiệp, tôi cho rằng đã có hai khâu còn yếu trong hoạt động tư pháp, đó là thực thi các quyền của tư pháp và giám sát việc thực thi các quyền đó.

PV: Gần đây, nhiều ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt vấn đề, có hay không việc tham nhũng, bảo kê ngay chính các cơ quan chống tham nhũng và sự mất niềm tin của dân vào chính quyền dẫn đến manh động, tự xử. Cá nhân ông nhìn nhận về những vấn đề này?

Tôi đồng tình với ý kiến nơi nào có chính quyền, nơi ấy tất có tham nhũng. Song, tôi không bao giờ cho rằng không bao giờ có cách hữu hiệu để phòngtrị tham nhũng. Tham nhũng luôn là quốc nạn, do đó “chống” là việc bình thường của mọi chính phủ ở mọi quốc gia. Cái cần thiết ở đây là “trị” tức “trừng trị”, và đây là công cụ giúp phân biệt được một chính quyền vững mạnh với một chính quyền tự hủy hoại mình. Tôi tin tưởng vào luật pháp nên không thể nói có hay không có tham nhũng trong nội bộ các cơ quan chống tham nhũng vì phải có chứng cớ và nhân chứng để không oan sai, tránh tội vu khống và vu cáo, và để trừng trị hiệu quả, thích đáng. Người dân, dù bất kỳ trong trường hợp nào, cũng không được “manh động, tự xử” vì rằng họ từ bỏ khả năng có công lớn trong phòng-chống tham nhũng và rước lấy trọng án vào thân. “Mất niềm tin” là hành vi chủ động, chứ không là bị động; do đó, không thể đổ cho hoàn cảnh. Luôn có niềm tin vào “công lý” và “luật pháp quốc gia”, nghĩa là sự oan sai, oan ức, đòi hỏi người đang chịu oan sai, oan ức phải kiên trì tìm cách đưa cái oan sai oan ức ấy đến đúng người, đúng nơi, đúng chỗ, kèm với những chứng cớ có thể giúp người đúng, nơi đúng, và chỗ đúng ấy xóa được ức, giải được oan. Bọn tham nhũng xem thường luật pháp, cần phải bị trừng trị. Người “manh động tự xử” vừa xem thường luật pháp, vừa gây hại cho an ninh trật tự xã hội, vừa giúp bọn tham nhũng thoát khỏi lưới trời pháp luật. Bao Công chỉ là một chức quan nhỏ tại một địa phương của một đất nước rộng lớn, mà người bị oan ức oan sai phải tự thân lặn lội tìm đến gióng trống kêu oan.

PV: Trong những đăng đàn gần đây, lãnh đạo Đảng, Chính quyền Tp. HCM thường nói chính quyền phải gần dân, trọng dân, tăng cường đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân một cách cầu thị…Ông đánh giá thế nào về những phát biểu trên? Theo ông, để giải quyết triệt để những vụ việc khiếu tố kéo dài, như các vụ của ông Hiệp, chính quyền và các cơ quan pháp luật ở Thành phố phải làm gì?

Đó là hành động rất đúng đắn, kịp thời, và thức thời. Đúng đắn vì khi đã là một thể chế của dân, do dân, và vì dân, nhất thiết phải “gần dân” để hiểu dân và được dân hiểu; phải “trọng dân” để biết phải phụng sự dân tộc ra sao, chăm lo cho dân chúng thế nào; “tăng cường đối thoại” là biện pháp thực hành nội hàm của “gần dân”; “lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân” để từ đó có được những chính sách phù hợp với dân sinh, hoặc giải thích cho dân hiểu hoàn cảnh của chính phủ, từ đó an được dân tình; và “cầu thị” vì đó là bản chất ưu việt không tách rời của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần hiện thực hóa các phát biểu này, cùng với yêu cầu phái có được các viên chức có đạo đức công vụ, có cái tâm và cái tầm như đã nói, đồng nghĩa với việc loại ra khỏi hệ thống “công bộc của dân” những người đứng ngoài các yêu cầu chuẫn mực trên là có thể giải quyết được những việc khiếu tố kéo dài đang tồn đọng, và không để phát sinh những vụ khiếu tố kéo dài khác trong tương lai. Ngoài ra, luật hình sự cần được sửa đổi theo chiều hướng tăng thật cao và thật nặng các hình thức trừng trị nạn tham nhũng mới hạn chế được sự nhũng nhiễu dân lành vốn luôn dẫn đến hoặc án oan, hoặc khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định, trật tự xã hội.

PV: Xin cảm ơn ông.

Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ

Bài viết ngày 21-11-2013 của Lại Thu Trúc trên mạng emotino.com: http://www.emotino.com/bai-viet/19854/chat-van-thanh-vien-chinh-phu

Lại Thu Trúc

Hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ tại nghị trường Quốc hội Việt Nam ngày càng sôi nổi và có chất lượng cao. Đáp ứng sự quan tâm theo dõi của cử tri trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài, các cơ quan truyền thông đã tích cực đưa tin kịp thời và tạo mọi điều kiện thuận tiện để người dân quan tâm có thể xem lại toàn bộ nội dung các phiên chất vấn tại nghị trường Quốc hội.

Các video về các phiên chất vấn các thành viên Chính phủ tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII có thể được truy cập qua các đường link sau:

1.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ ba 19-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50265/Chieu-19-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

2.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ sáng thứ tư 20-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50392/Ngay-20-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

3.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ tư 20-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50459/Chieu-20-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

4.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ sáng thứ năm 21-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50535/Ngay-21-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

5.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ năm 21-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50592/Chieu-21-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

Lại Thu Trúc

Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện

Trưa ngày 13-11-2013, tại Hội trường Quốc hội trong khuôn viên Bộ Quốc Phòng, thời gian 80 phút đã được dành cho các đại biểu quốc hội thảo luận cho đề tài Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện, với quy định tối đa 7 phút dành cho mỗi bài phát biểu, tức khoảng 11 đại biểu có thể trình bày được chính kiến của mình về đề tài trên. Do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân muốn dành thời gian ưu tiên cho những đại biểu từ những tỉnh có các nhà máy thủy điện hoặc dự án xây dựng nhà máy thủy điện phát biều, những đại biểu khác có thể gởi văn bản ý kiến cho Lãnh đạo Quốc hội, và dưới đây là bài phát biểu của Đại biểu Hoàng Hữu Phước đã gởi đến Lãnh đạo Quốc hội.

Image

Bài phát biểu tại Kỳ họp Thứ 6, Quốc Hội Khóa XIII, ngày 13-11-2013

của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước

về báo cáo Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ,  Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường, và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội

Kính thưa Quốc hội,

Theo tôi, báo cáo “Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường, đã có vài điểm không khách quan, không mới, và không chủ động

1) Không khách quan: vì ngày nay không một quốc gia tiên tiến nào xem hệ thống sông suối của họ là tài nguyên quý giá về tiềm năng khai thác thủy điện; thay vào đó là tiềm năng du lịch môi trường phải bảo tồn.

Khi cố dành những dự án thủy điện ở Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ nước nào trên thế giới đều là vô giá, và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải dành cho hậu thế. Nhu cầu năng lượng tất nhiên rất lớn và mang tính cấp bách, nhưng không thể vì thế mà xem nhẹ nhu cầu sống, sinh tồn của bao triệu con người của toàn khu vực hai bên cũng như hạ du của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tự hào về tài sản thiên nhiên của người dân hiện nay và mai sau.

Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ vĩnh viễn xóa sạch rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi địa hình cảnh quang cả khu vực rộng lớn, xóa sổ môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số cùng nền văn hóa của họ; còn khi một đập thủy điện vỡ sẽ tước đi sinh mạng của đông đúc dân cư phố thị hạ du, xóa sạch vĩnh viễn môi trường sống cùng nền văn hóa và tài sản hữu hình trị giá đầu tư khổng lồ, làm kiệt quệ nền kinh tế quốc gia từ tổn thất nhân-tài-vật lực.

Cảnh trí thiên nhiên hoang sơ vùng thượng du và đô thị nguy nga hiện đại vùng hạ du đều là nguồn thu du lịch tiềm năng to lớn. Đập thủy điện tàn phá ngay lập tức cái trước, và tiềm tàng lưỡi gươm Damocles đe dọa tàn phá cái sau.

2) Không mới: vì ngày nay với sự bình tĩnh trong khoa học dựa trên kinh nghiệm thực tế, nghiên cứu thực sự, và đúc rút từ các bài học thực tiễn, thủy điện đã không còn được cho là nguồn năng lượng sạch có khả năng tái tạo.

Các nhà máy thủy điện cung ứng năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng lại có những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ cặn lắng tụ kết tủa ở các turbin đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của hàng triệu con người, thậm chí khí methane CH4 và carbon dioxide CO2 từ lòng hồ các đập thủy điện còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn gấp 3,5 lần những nhà máy nhiệt điện.

Việc đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không thể giao cho những nhà đầu tư không tài, không tiền, không tình, thậm chí không cả tù tội dù đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu tác động môi trường vớ vẩn, hoặc xây chưa xong thì đập đã bị nước ngấm phun xịt xuyên qua, bị xe tải húc đổ, và bị nước tràn về xô sập. Khi một đập thủy điện bị vỡ, toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên, cảnh quang, v.v.), và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.), xem như đổ sông đổ biển. Xây dựng nhà máy thủy điện, do đó, chỉ nên để giải quyết nhu cầu năng lượng khi cái nghèo khó còn bó lấy cái khôn.

C- Không chủ động vì các báo cáo đã không bao gồm “an ninh” trong nội hàm “bảo vệ an toàn” các đập thủy điện. Việt Nam luôn là đích ngắm của kẻ thù điên cuồng chống phá. Thế giới sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử do gây ra hậu quả tàn khốc khi có xung đột vũ trang hoặc chiến tranh, tuyên bố hay không tuyên bố, vẫn xảy ra những cuộc tấn công như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943; trước đó, các tàu ngầm U-202 và U-584 của Đức Quốc Xã đưa điệp viên xâm nhập vào Mỹ với Chiến Dịch Pastorius nhằm phá sập các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là quân  khủng bố tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Báo Sài Gòn Giải Phóng đã từng ghi lời chuyên gia Liên Xô trả lời phỏng vấn rằng sẽ cẩn trọng tuyệt đối về chất lượng khi xây thủy điện Trị An, vì nếu vỡ đập, biển nước cao ngất sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh và hàng chục triệu cư dân ra biển. Tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở Việt Nam, vì vậy, nhất thiết phải có sự tham gia của Bộ Quốc Phòng trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và với quy định “Cấm vượt qua. Nếu không, binh sĩ sẽ nổ súng bắn hạ”.

Tôi kính đề nghị Quốc hội xem xét lại nội dung dự thảo Nghị Quyết về Quy Hoạch, Đầu Tư Xây Dựng, Vận Hành Khai Thác Công Trình Thủy Điện, trong đó, Điều 2.5.b bỏ cụm từ “kiên quyết ngăn chặn, xử lý vi phạm hành vi lợi dụng hạ tầng kỹ thuật công trình thủy điện để chặt phá rừng đầu nguồn, khai thác gỗ trái phép” vì Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn không có thực lực để thực hiện (chưa kể trên thực tế không chỉ có “gỗ” mà còn có “khoáng sản” cùng muông thú; và lẽ ra Luật Hình Sự đã phải đủ làm run sợ kẻ có cái “hành vi” ấy); đồng thời thêm Điều 2.5.e về Bộ Quốc Phòng vì an ninh năng lượng không thể đứng bên ngoài an ninh quốc phòng, và việc quân đội bảo vệ nhà máy thủy điện, điện nguyên tử, phong điện, và điện nhật quang là theo lẽ thường ở các cường quốc.

Ở Việt Nam, thủy điện đã và đang góp phần cung cấp điện năng, điều tiết lưu lượng về mùa kiệt,  tham gia cắt giảm lũ cho hạ du. Song, thủy điện không còn là nguồn năng lượng sạch, tái tạo, và  rẻ, khi chi phí cho việc vận hành tạo nên một KW điện đã chưa bao gồm toàn bộ cái giá phải chi rất cao cho việc xây dựng, tái định cư dân chúng, và thiết lập đường dây truyền tải điện (do đập luôn ở vị trí hẻo lánh cách xa vùng phố thị), cùng cái giá quá đắt phải trả cho những tác hại nó gây ra dài lâu và trên quy mô rộng lớn cho môi trường sinh thái, cho đời sống con người, và sinh vật. Thủy điện đã hoàn thành sứ mạng của nó đối với đất nước Việt Nam đói nghèo bị chiến tranh tàn phá và cô lập về kinh tế. Tôi kính đề nghị Chính phủ loại bỏ thêm thật nhiều dự án thủy điện vì Việt Nam đã không còn là đất nước đói nghèo ấy, cũng như Việt Nam còn có lòng tự trọng và sự tự tôn dân tộc.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng

Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 trong buổi thảo luận ở hội trường về “Công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm; về công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; về công tác thi hành án; Kết quả thực hiện Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội; Công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013”, do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì, và Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu điều khiển phiên họp.

 

Kính thưa Quốc hội,

Tôi xin có các ý kiến sau về nội dung phòng, chống tham nhũng.

Tham nhũng là quốc nạn của từ siêu cường quốc đến tiểu lãnh thổ và lời lẽ triết lý thường nghe là “hễ nơi nào có chính quyền, nơi đó tất có tham nhũng”. Tại Việt Nam, chống tham nhũng trở thành đề tài quan tâm của Chính phủ và người dân. Hiện ta có các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; cùng với nỗ lực xây dựng hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng như Luật Sửa đổi, Bổ sung một số Điều của Luật Phòng, Chống Tham Nhũng và với sự thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư làm trưởng Ban.

Tuy nhiên, Báo cáo về Công tác Phòng ngừa, Chống Vi phạm Pháp luật và Tội phạm năm 2013 của Chính phủ cho số liệu tội phạm tham nhũng so với năm 2012 gia tăng 12,90% về số vụ và 15,56% số bị can, trong đó tội phạm tham ô, tội phạm môi giới, hối lộ và tội phạm nhận hối lộ được phát hiện ở nhiều lĩnh vực tập trung trong lĩnh vực quản lý tài sản công, đầu tư công, quản lý và sử dụng đất đai, và đầu tư xây dựng cơ bản. Cần lưu ý là Báo cáo đã không có tội phạm “đưa hối lộ”, kết quả phát hiện điều tra tội phạm tham nhũng còn hạn chế, chưa tương xứng với thực trạng tình hình, việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt còn ít, tiến độ điều tra một số vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng còn chậm. Báo cáo đã nêu ra 6 nguyên nhân tác động đến 3 hạn chế này.

Tuy nhiên, theo tôi còn một nguyên nhân quan trọng khác, đó là sự vắng bóng của những người tích cực từ trong nội bộ kịp thời tố giác tham nhũng, vì nếu người trong cuộc tố giác chỉ khi quyền lợi bản thân bị thiệt hại thì sự việc đã trở nên quá muộn, nghiêm trọng, vô phương cứu chữa. Chống tham nhũng không chỉ đơn giản là việc hùng hồn tuyên bố rằng “tham nhũng là quốc nạn”, “phải tiêu diệt tham nhũng”, vì có rất nhiều việc phải làm để chống tham nhũng: buộc phải có đối tượng cụ thể với bằng chứng cụ thể, nhất là con người cụ thể lôi được đối tượng tham nhũng ấy ra trước vành móng ngựa. Nhất thiết phải có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt người tố giác tham nhũng và những chính sách ân thưởng vật chất thật cao, chẳng hạn như từ 20-50% tổng trị giá thiệt hại gây ra bởi kẻ bị toà án kết án phạm tội tham nhũng và do chính kẻ ấy phải đài thọ để nhà nước dùng tặng thưởng, vinh danh người tố giác tham nhũng. Các quy định trong luật hiện hành cần được điều chỉnh tăng thật nặng, kể cả tịch thu tài sản do gia đình kẻ tham nhũng đứng tên sở hữu nhưng không chứng minh hợp lý được là có khả năng tự tạo lên tài sản này.

Ngoài ra, việc công khai tài sản tất cả các viên chức, quan chức nhà nước và thành viên Chính phủ là việc cần thiết để bảo đảm “phòng” được tham nhũng, giúp họ giữ được đức liêm chính. Việc nêu gương người tốt việc tốt nhiều thập niên qua ở Việt Nam chỉ giới thiệu gương liêm khiết toàn người lao động nghèo như tài xế tiết kiệm xăng để trả lại cơ quan, nhân viên thu ngân trả lại tiền để quên của khách hàng, người tạp vụ dọn phòng trả lại cho khách một chiếc nhẫn kim cương v.v… Song, chưa bao giờ có bất kỳ thông tin nào đúng nghĩa về đức thanh liêm, tức là thứ đức của quan chức cấp cao. Đảng và Chính phủ cần tạo được làn sóng nêu gương từ những cán bộ cao cấp mới thu phục được nhân tâm đối với nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ. Các cơ sở Đảng “trong sạch vững mạnh” phải đồng nghĩa với việc cơ sở ấy phải có danh sách cụ thể Đảng viên nào liêm khiết do có hành động cụ thể nào để được gọi là liêm khiết; đảng viên nào đã thực thi đúng chủ trương của Đảng trong phòng, chống tham nhũng qua thành tích đưa ra ánh sáng những vụ việc tham nhũng cụ thể nào, được nhân dân tin tưởng cung cấp thông tin đến đâu và bảo vệ thành công người dân tố giác tham nhũng ra sao.

Giáo dục luôn được nêu lên như lĩnh vực quan trọng trong trồng người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa của đất nước. Song, “đạo đức cách mạng” đã mặc nhiên từ lâu trở thành chuẩn mực duy nhất còn “đạo đức hướng thiện” của con người đã không được quan tâm, dẫn đến việc có nhiều thanh niên phạm pháp dù quá khứ tuổi thơ ắt có lúc đã là “Cháu ngoan Bác Hồ”, còn quan chức phạm tội dù có nhiều tuổi Đảng. Điều cần thiết trong cách tân giáo dục, do đó, nhất thiết phải theo tuần tự các bước từ cấp tiểu học trở lên như: gia đình giáo dục học sinh có đạo đức con người theo đạo lý truyền thống; nhà trường tiểu học và trung học có môn giáo dục công dân để tạo những công dân có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, đất nước; còn đại học giáo dục lý tưởng chính trị như một định hướng đúng đắn phục vụ cho sự phát triển trường tồn của đất nước và chế độ. Thiếu nội dung giáo dục đạo đức con người theo đạo lý truyền thống và lệch tâm nội dung giáo dục công dân sẽ thiếu cơ sở vững chắc để có được những công dân luôn dị ứng với các tiêu cực, trong đó tham nhũng vốn là điều khó trừ diệt nhất.

Tham nhũng là quốc nạn vì nó xói mòn niềm tin của dân vào Đảng, vào Chính phủ về chính trị, phá hoại thành quả xây dựng đất nước về kinh tế, làm suy yếu uy tín quốc gia trên trường quốc tế, triệt tiêu ý chí của người dân đối với tiền đồ Tổ quốc, và là tội lỗi với tổ tiên, tội ác với dân tộc.

Ta hay nói “nghiêm minh”, tránh né “nghiêm khắc”, trong khi chính “nghiêm khắc” mới mang tính răn đe, giáo dục, và chính “nghiêm khắc” mới khiến ai cũng “nghiêm túc”, “nghiêm chỉnh”, từ đó có được “nghiêm minh”.

Cải cách hành chính chính là khắc tinh của tham nhũng. Chỉ cần nhìn vào sinh hoạt và nề nếp phục vụ dân chúng của một cơ quan công quyền để xem sự nghiêm túc ra sao, nghiêm minh thế nào và nghiêm khắc đến đâu, người ta có thể biết ngay đấy có phải là nơi tham nhũng có thể bắt rễ phát triển nằm bên trên luật pháp hay không.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

(Đăng trên web Quốc hội Việt Nam tại: http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1396/C2094/C2265/default.asp?Newid=68981#Kx5slqgOvLGP)