Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện

Trưa ngày 13-11-2013, tại Hội trường Quốc hội trong khuôn viên Bộ Quốc Phòng, thời gian 80 phút đã được dành cho các đại biểu quốc hội thảo luận cho đề tài Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện, với quy định tối đa 7 phút dành cho mỗi bài phát biểu, tức khoảng 11 đại biểu có thể trình bày được chính kiến của mình về đề tài trên. Do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân muốn dành thời gian ưu tiên cho những đại biểu từ những tỉnh có các nhà máy thủy điện hoặc dự án xây dựng nhà máy thủy điện phát biều, những đại biểu khác có thể gởi văn bản ý kiến cho Lãnh đạo Quốc hội, và dưới đây là bài phát biểu của Đại biểu Hoàng Hữu Phước đã gởi đến Lãnh đạo Quốc hội.

Image

Bài phát biểu tại Kỳ họp Thứ 6, Quốc Hội Khóa XIII, ngày 13-11-2013

của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước

về báo cáo Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ,  Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường, và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội

Kính thưa Quốc hội,

Theo tôi, báo cáo “Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường, đã có vài điểm không khách quan, không mới, và không chủ động

1) Không khách quan: vì ngày nay không một quốc gia tiên tiến nào xem hệ thống sông suối của họ là tài nguyên quý giá về tiềm năng khai thác thủy điện; thay vào đó là tiềm năng du lịch môi trường phải bảo tồn.

Khi cố dành những dự án thủy điện ở Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ nước nào trên thế giới đều là vô giá, và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải dành cho hậu thế. Nhu cầu năng lượng tất nhiên rất lớn và mang tính cấp bách, nhưng không thể vì thế mà xem nhẹ nhu cầu sống, sinh tồn của bao triệu con người của toàn khu vực hai bên cũng như hạ du của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tự hào về tài sản thiên nhiên của người dân hiện nay và mai sau.

Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ vĩnh viễn xóa sạch rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi địa hình cảnh quang cả khu vực rộng lớn, xóa sổ môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số cùng nền văn hóa của họ; còn khi một đập thủy điện vỡ sẽ tước đi sinh mạng của đông đúc dân cư phố thị hạ du, xóa sạch vĩnh viễn môi trường sống cùng nền văn hóa và tài sản hữu hình trị giá đầu tư khổng lồ, làm kiệt quệ nền kinh tế quốc gia từ tổn thất nhân-tài-vật lực.

Cảnh trí thiên nhiên hoang sơ vùng thượng du và đô thị nguy nga hiện đại vùng hạ du đều là nguồn thu du lịch tiềm năng to lớn. Đập thủy điện tàn phá ngay lập tức cái trước, và tiềm tàng lưỡi gươm Damocles đe dọa tàn phá cái sau.

2) Không mới: vì ngày nay với sự bình tĩnh trong khoa học dựa trên kinh nghiệm thực tế, nghiên cứu thực sự, và đúc rút từ các bài học thực tiễn, thủy điện đã không còn được cho là nguồn năng lượng sạch có khả năng tái tạo.

Các nhà máy thủy điện cung ứng năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng lại có những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ cặn lắng tụ kết tủa ở các turbin đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của hàng triệu con người, thậm chí khí methane CH4 và carbon dioxide CO2 từ lòng hồ các đập thủy điện còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn gấp 3,5 lần những nhà máy nhiệt điện.

Việc đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không thể giao cho những nhà đầu tư không tài, không tiền, không tình, thậm chí không cả tù tội dù đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu tác động môi trường vớ vẩn, hoặc xây chưa xong thì đập đã bị nước ngấm phun xịt xuyên qua, bị xe tải húc đổ, và bị nước tràn về xô sập. Khi một đập thủy điện bị vỡ, toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên, cảnh quang, v.v.), và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.), xem như đổ sông đổ biển. Xây dựng nhà máy thủy điện, do đó, chỉ nên để giải quyết nhu cầu năng lượng khi cái nghèo khó còn bó lấy cái khôn.

C- Không chủ động vì các báo cáo đã không bao gồm “an ninh” trong nội hàm “bảo vệ an toàn” các đập thủy điện. Việt Nam luôn là đích ngắm của kẻ thù điên cuồng chống phá. Thế giới sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử do gây ra hậu quả tàn khốc khi có xung đột vũ trang hoặc chiến tranh, tuyên bố hay không tuyên bố, vẫn xảy ra những cuộc tấn công như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943; trước đó, các tàu ngầm U-202 và U-584 của Đức Quốc Xã đưa điệp viên xâm nhập vào Mỹ với Chiến Dịch Pastorius nhằm phá sập các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là quân  khủng bố tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Báo Sài Gòn Giải Phóng đã từng ghi lời chuyên gia Liên Xô trả lời phỏng vấn rằng sẽ cẩn trọng tuyệt đối về chất lượng khi xây thủy điện Trị An, vì nếu vỡ đập, biển nước cao ngất sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh và hàng chục triệu cư dân ra biển. Tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở Việt Nam, vì vậy, nhất thiết phải có sự tham gia của Bộ Quốc Phòng trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và với quy định “Cấm vượt qua. Nếu không, binh sĩ sẽ nổ súng bắn hạ”.

Tôi kính đề nghị Quốc hội xem xét lại nội dung dự thảo Nghị Quyết về Quy Hoạch, Đầu Tư Xây Dựng, Vận Hành Khai Thác Công Trình Thủy Điện, trong đó, Điều 2.5.b bỏ cụm từ “kiên quyết ngăn chặn, xử lý vi phạm hành vi lợi dụng hạ tầng kỹ thuật công trình thủy điện để chặt phá rừng đầu nguồn, khai thác gỗ trái phép” vì Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn không có thực lực để thực hiện (chưa kể trên thực tế không chỉ có “gỗ” mà còn có “khoáng sản” cùng muông thú; và lẽ ra Luật Hình Sự đã phải đủ làm run sợ kẻ có cái “hành vi” ấy); đồng thời thêm Điều 2.5.e về Bộ Quốc Phòng vì an ninh năng lượng không thể đứng bên ngoài an ninh quốc phòng, và việc quân đội bảo vệ nhà máy thủy điện, điện nguyên tử, phong điện, và điện nhật quang là theo lẽ thường ở các cường quốc.

Ở Việt Nam, thủy điện đã và đang góp phần cung cấp điện năng, điều tiết lưu lượng về mùa kiệt,  tham gia cắt giảm lũ cho hạ du. Song, thủy điện không còn là nguồn năng lượng sạch, tái tạo, và  rẻ, khi chi phí cho việc vận hành tạo nên một KW điện đã chưa bao gồm toàn bộ cái giá phải chi rất cao cho việc xây dựng, tái định cư dân chúng, và thiết lập đường dây truyền tải điện (do đập luôn ở vị trí hẻo lánh cách xa vùng phố thị), cùng cái giá quá đắt phải trả cho những tác hại nó gây ra dài lâu và trên quy mô rộng lớn cho môi trường sinh thái, cho đời sống con người, và sinh vật. Thủy điện đã hoàn thành sứ mạng của nó đối với đất nước Việt Nam đói nghèo bị chiến tranh tàn phá và cô lập về kinh tế. Tôi kính đề nghị Chính phủ loại bỏ thêm thật nhiều dự án thủy điện vì Việt Nam đã không còn là đất nước đói nghèo ấy, cũng như Việt Nam còn có lòng tự trọng và sự tự tôn dân tộc.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.