Monthly Archives: March 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Image

Trên đây là lá cờ của nước Cộng Hòa Texas còn gọi là lá cờ Burnet từng bay phất phới trên bầu trời Texas từ năm 1836 đến năm 1839.

Sau khi đăng bài Nước Mỹ Bất Hạnh trên blog này và trên blog đồng hành ở worldpress.com với nội dung nêu những tai ương khủng khiếp chắc chắn một tỷ phần trăm tức 1,000,000,000% sẽ đến với nước Mỹ từ thiên nhiên làm vỡ toang nước Mỹ về địa tầng địa mạo , và những thất bại thê thảm từ nguồn nhân lực nhập cư do chính sách tệ tồi, tôi viết tiếp bài này về một bất hạnh khác sẽ làm nước Mỹ vỡ vụn về địa lý địa dư địa chính trị: phong trào ly khai rầm rộ đòi độc lập tách khỏi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Lá cờ của Cộng Hòa Texas (cờ xanh, sao vàng) ở trên về hình thức rất giống với lá cờ của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (cờ đỏ, sao vàng), nhưng chứa đựng một lịch sử bi tráng kiên trì của vùng đất luôn nấu nung sôi sục khát vọng ly khai khỏi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ qua những biến loạn trong những mốc thời gian mà gần đây nhất là vào các năm từ 1997 đến nay. Texas kiêu hãnh ngạo mạn luôn treo lá cờ của mình trên cột cờ Texas đứng riêng song song ngang hàng bên cạnh cột cờ Hoa Kỳ, trong khi tại tất cả các tiểu bang khác thì theo đúng quy định phải treo trên cùng một cột cờ với lá cờ Mỹ ở trên và cờ tiểu bang ở dưới. Và chỉ 16 năm sau khi sáp nhập vào Hoa Kỳ, người dân Texas đã bắt đầu tiến trình gian khổ hàng trăm năm cho đến tận ngày nay để mong thoát khỏi chiếc thòng lọng nô dịch liên bang.

Image

Không chỉ có Texas muốn trở lại tư thế và phẩm giá một quốc gia độc lập, mà sự bất mãn của người dân của tất cả các tiểu bang khác đối với nhà nước liên bang Hoa Kỳ cũng đã luôn khiến nước Mỹ buộc phải đương đầu với nguy cơ ngày càng rõ nét và dứt khoát của sự đồng loạt ly khai. Trang web WND ngày 11-12-2012 đã từng viết rằng phong trào ly khai đã lan nhanh như trận cháy rừng đến 34 tiểu bang Louisiana, Alaska, Utah, Wyoming, California, Delaware, Nevada, Kansas, Ohio, South Dakota, West Virginia, Nebraska, Pennsylvania, Arizona, Oklahoma, Arkansas, South Carolina, Georgia, Missouri, Tennessee, Michigan, New York, Colorado, Oregon, New Jersey, North Dakota, Montana, Indiana, Mississippi, Kentucky, Florida, North Carolina, Alabama và Texas. Trong khi đó, trang chuyên đề chính trị Huffington Post ngày 14-11-2012 đã từng chạy tít rằng dân chúng tại tất cả 50 tiểu bang đều đã nộp đơn xin tách khỏi Hoa Kỳ.

Trong một diễn biến mới nhất sau sự việc Crimea tách khỏi Ukraine qua cuộc trưng cầu dân ý để tái sáp nhập vào Nga, Đài Tiếng Nói Nước Nga ngày 20-3-2014 đưa tin nói rằng 29 tiểu bang Mỹ như chịu tác động dây chuyền đã tích cực sôi động đẩy mạnh việc tách khỏi Hoa Kỳ. Và trong khi tờ Thời Báo Washington ngày 25-3-2014 xem việc tiểu bang Alaska quyết liệt đòi tách ra khỏi Hoa Kỳ để tái sáp nhập vào Nga với khẩu hiệu “Alaska back to Russia” là sự kiện phải quan tâm thì giới truyền thông Âu Mỹ lại xem việc Disunited States of America (cách chơi chữ: United States of America tức Liên Minh Các Nhà Nước Mỹ, tức Liên Hợp Các Tiểu Quốc Hoa Kỳ, tức cái mà người Việt hay gọi sai theo tiếng Tàu là Hợp Chủng Quốc hay Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; và Disunited States of America sẽ có nghĩa là Các Nhà Nước Mỹ Phân Ly hoặc nói theo tiếng Tàu sẽ là…Tách Chủng Quốc Hoa Kỳ còn tiếng bình dân Việt có thể là Liên Bứt Nước để khỏi lộn với…Liên Hợp Quốc) dẫn đến việc trang web của tổ chức Hồi Giáo Hamas ghi rằng ngay cả dân toàn Dãi Gaza cũng muốn thành quốc gia độc lập thuộc Liên Bang Nga là tin chấn động, dù biết rằng hiện có 50.000 phụ nữ Nga lập gia đình với người Palestine trong khi Nga luôn tuyên bố sẽ bảo vệ người Nga ở bất kỳ nơi nào trên toàn thế giới mà những người dân Nga ở Palestine này đang bị Israel đe dọa, hù dọa, lấn chiếm, lấn xâm.

Nổi bật tương tự như Texas là phong trào đòi ly khai khỏi Hoa Kỳ của Vermont để lập Nền Đệ Nhị Cộng Hòa Vermont độc lập như thời 1777-1791 vì từ sau khi nước Cộng Hòa Vermont Đệ Nhất năm 1791 đồng ý gia nhập liên bang Hoa Kỳ cho đến nay người dân đã không còn có thể chịu đựng lâu hơn sự suy đồi suy yếu suy tàn của chính phủ liên bang Mỹ. Thông tin về Vermont có thể được kiểm chứng dễ dàng với công cụ tìm kiếm Google.

Nước Mỹ rồi sẽ bị chia tách thành nhiều hơn 1 quốc gia:

Image

Những điều lợi và hại từ sự việc trên có thể được nêu lên ở các điểm chính sau:

Điều lợi:

1) Các “quốc gia độc lập” sẽ có được sự công bằng trong thụ hưởng từ các nguồn lợi và nguồn lực của riêng mình. Thí dụ như trường hợp của Texas đã luôn hứng chịu những thiệt thòi: là tiểu bang có phúc lợi y tế tồi tệ nhất Hoa Kỳ với 22,5% người dân không có bảo hiểm y tế, và đồng thời có tỷ lệ cao nhất nước về số trẻ em, người thất nghiệp, người già không có bảo hiểm y tế, do ngân sách chu cấp bất công và nhỏ giọt theo cơ chế xin-không-cho của liên bang (kém hơn cơ chế xin-cho của Việt Nam).

2) Các tiểu bang thực thi được quyền tự quyết hiến định để tách khỏi liên bang trong hòa bình (không cần mời các nhà tư vấn Việt Nam sang giúp thành lập các Mặt Trận Giải Phóng) mà chính quyền liên bang đã luôn trước đây sử dụng vũ lực đề trấn áp còn nay lại luôn sử dụng biện pháp tu từ hùng biện để bác bỏ. Việc Mỹ hù dọa mạnh tay với Nga trong vấn đề Crimea vừa qua tách khỏi Ukraine để tái sáp nhập vào Nga là nhằm răn đe các mầm mống ly khai từ trong chính nội tình Hoa Kỳ cũng như từ nội tình nước Anh trước phong trào rầm rộ đòi ly khai của Tô Cách Lan tức Scotland khỏi Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan mà cuộc tổ chức trưng cầu dân ý sẽ xảy ra vào tháng 9-2014 tới đây, hay nội tình của Tây Ban Nha với vấn đề Xứ Basque và tại khắp các quốc gia Âu Châu đang có nguy cơ xé toang Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (nói theo ngôn ngữ Việt Nam Cộng Hòa, chứ còn theo tiếng Việt hiện đại thì gọi là Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương) chứ không phải Crimea sai hay Nga không đúng; và sự cứng rắn bản lĩnh của Nga chính là sự động viên cực kỳ cần thiết cho dân chúng 50 tiểu bang của Hoa Kỳ đòi hỏi quyền tự quyết ly khai theo Hiến Pháp Hoa Kỳ.

3) Các “quốc gia” mới từ sự tan rã của đế chế Hoa Kỳ sẽ phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh mạnh mẽ, làm thay đổi tận gốc rể diện mạo địa chính trị trên toàn thế giới với hàng chục “tân quốc gia” , hàng chục “tân chính phủ” tác động đến cán cân lực lượng khu vực, châu lục, và quốc tế.

4) Dân chúng ở các “tân quốc gia” sẽ có nhiều “tân đảng” thay vì bị khống chế bởi chế độ lưỡng đảng của Hoa Kỳ, nhờ vậy nhiều người Mỹ gốc khác có cơ hội trở thành lãnh đạo tối cao (tổng thống) các đất nước mới của họ thay vì là dân quèn của 50 tiểu quốc dưới quyền một tổng thống liên bang chẳng ra gì ngồi mát ăn bát vàng trọn đời.

5) Sự thành công – nếu đạt được – của 50 tiểu bang Hoa Kỳ trong việc hình thành 50 quốc gia độc lập sẽ giúp xóa sổ tên đế quốc cao-bồi chăn bò sen-đầm quốc tế Mỹ, đồng thời giúp làm lung lay nền móng có thể dẫn đến sự tan rã của một tên đế quốc khác vốn là hậu duệ của Tần Thủy Hoàng đang xưng hùng xưng bá đòi chiếm Đông Hải và Biển Đông (đã, đang, và sẽ phải đương đầu với các phong trào ly khai đòi thành lập các tân quốc gia như Cộng Hòa Liên Bang Uyghurstan, Cộng Hòa Nam Mông Cổ, Vương Quốc Tây Tạng, Cộng Hòa Hong Kong, Mãn Châu, Taiwan Gaoshan, Attaccia Korea, và Cộng Hòa Macau), để thế giới chỉ còn ba nhóm quyền lực là một liên bang Nga hòa hợp hùng cường dũng mãnh mang tính khu vực, một liên minh Châu Âu thiếu tài nguyên nhất là khí đốt nhưng dồi dào sự gấu ó và mất đoàn kết mang tính châu lục, và một liên minh Việt Nam trí tuệ gồm Việt Nam và các quốc gia có tổng thống là người gốc Việt mang tính toàn cầu phi châu lục. Và đương nhiên cả hai nhóm quyền lực khu vực lại ở xa Việt Nam nên khó trực tiếp đe dọa sự sinh tồn của dân tộc và đất nước Việt Nam trong khi liên minh Việt trải dài khắp châu lục khiến sự sử dụng quân đội trấn áp, răn đe, hoặc tổng lực tiểu trừ được thực hiện ở thế thượng phong.

6) Toàn Châu Âu khiếp đảm trước sự vùng lên của Crimea ly khai khỏi Ukraine để tái sáp nhập vào Nga, đơn giản vì Châu Âu sẽ phải đương đầu với nội tình của chính họ khi từng quốc gia một đã, đang, và sẽ phải vất vả đối phó với sự ly khai, đòi độc lập của các phong trào thành lập các tân quốc gia, như Ý (đòi thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sardinia, Nhà Nước Tự Do Nam Tyrol, và Đệ Tam Cộng Hòa Veneto), Áo Quốc (Carinthia và Nam Tyrol), Bỉ (Flanders và Wallonia), Đan Mạch (Bornholm và Đảo Quốc Faroe), Phần Lan (Aland, Sápmi, và Cộng Hòa Tây Karelia), Pháp (Brittany, Cộng Hòa Liên Bang Occitania, Alsace, Catalonia, Nice, Savoy, Normandy, Vùng lãnh thổ hải ngoại như French Polynesia, Moorea và Tân Caledonia), Đức (Bavaria, Sorbia, Đông Frisia, Nam Schleswig và Bắc Frisia), Hà Lan (Frisia), Na Uy (Sápmi, Svalbards & Jan Mayen, và Dzan Mayensky thuộc Nga), Ba Lan (Thượng Silesia), Bồ Đào Nha (Azores), Tây Ban Nha (Đảo Quốc Canary, Andalusia, Aragon, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Asturias, Đảo Quốc Balearic, Xứ Basque, Cộng Hòa Catalonia, Castile & León, và Cộng Hòa Galicia), Thụy Điển (Sami và Scania), Ukraine (Carpathian Ruthenia), Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan (Anh Quốc, Tô Cách Lan, Cornwall, Mercia, Yorkshire, Ulster, Orkney, Shetland, Ngoại Hebrides, Monmouthshire, Wales, Đảo Quốc Channel, Bailiwick of Guernsey, Jersey, Isle of Man, các vùng lãnh thổ hải ngoại như Gibraltar, Anguilla, Bermuda, Montserrat, và Turks & Caicos Islands), v.v.. Trong khi đó tại vùng Bắc Mỹ, Canada cũng có các vùng đòi ly khai thành lập các nhà nước như Alberta, Cascadia, Quebec, Saskatchewan, Tây Canada, Nunavut, Nunavik, Nunatsiavut, và Inuvik Region. Riêng Hoa Kỳ ngoài việc nhiều chục tiểu bang đòi tách ra thành các quốc gia độc lập còn có các phong trào đòi thành lập nước Cộng Hòa Lakotah, Cộng Hòa Tân Afrika (các bang tập trung dân Mỹ gốc Phi), Liên Quốc Aztlán, Guam, Northern Mariana Islands, và Samoa. Tất cả sẽ như sự thấu thị của Lăng Tần trong một bài viết trước đây rằng Liên Hợp Quốc sẽ bị xóa sổ và thay vào đó là một liên minh mới với sự tham dự của hàng trăm tân quốc gia và theo một trật tự thế giới mới. Điều thú vị nhất là đã và đang có các đấu tranh đòi thành lập các nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” như đã liệt kê ở trên (trong nội tình nước Ý và Tây Ban Nha).

Image

7) Nếu như sự ngu-xuẩn-không-bút-mực-nào-tả-xiết của Mỹ và NATO khi tìm cách lật đỗ tổng thống dân cử của Ukraine để cô lập Nga theo chủ trương bài Nga đã tạo điều kiện bằng vàng cho vùng Crimea chiến lược tiến hành trưng cầu dân ý, tuyên bố độc lập khỏi Ukraine và xin tái sáp nhập vào Nga, thì sự ngu-xuẩn-không-bút-mực-nào-tả-xiết tiếp theo của Mỹ và Châu Âu là đã tiến hành cấm vận kinh tế Nga để trừng phạt Nga và không công nhận giá trị cuộc ly khai của Crimea lại đã tạo điều kiện bằng vàng khác cho Nga vì bản thân Nga sẽ nương vào đó mà xử lý mạnh tay đối với khu vực Bắc Caucasus đang đòi ly khai khỏi Nga để thành lập “Các Tiểu Vương Quốc Caucasus” (gồm Chechnya, Dagestan, và Ingushetia) và nước Circassia (gồm Adygea và phần lớn các vùng Kabardino-Balkaria, Karachey-Cherkessia, Krasnodar Krai, và Stavropol Krai).

Điều bất lợi:

1) Hoa Kỳ có quân đội hùng mạnh làm đối trọng với các thế lực quân sự khác trên phạm vi toàn cầu, nhưng hàng chục “tân quốc gia” sẽ không có uy lực quân sự đó, khiến sự đa cực kiểu chân vạc trở thành lưỡng cực rất dễ bị tổn thương hay bị triệt tiêu bởi một “tân bá chủ”.

2) Cạnh tranh thúc đẩy phát triển, nhưng cạnh tranh cũng dẫn đến sự tàn diệt do là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Các “tân quốc gia” có thể sẽ gây chiến với nhau, và dư âm cuộc nội chiến tàn khốc trong lịch sử Mỹ luôn là bài học nhắc nhở rằng tư tưởng cát cứ sứ quân luôn là dấu ấn hằn trong tâm trí của loài người nói chung chứ không phải chỉ nơi con cháu Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Nhật Khánh, Kiều Công Hãn, Phạm Bạch Hổ và tám vị khác đã bị Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp vào Thế kỷ X.

Lời khuyên dành riêng cho người Mỹ gốc Việt:

Người Việt rất không thích làm nhân tài hay hiền tài, vì đã là bậc hiền tài thì chỉ có duy nhất một cái tâm, một cái trí, một thứ tư duy: được theo minh quân, được phò thánh chúa, được đem tài kinh tế và tiết tháo trung trinh để lao lung lao lực lao tâm giúp nước, giúp dân.

Người Việt rất thích làm lãnh đạo, vì vậy trẻ nít thì muốn lớn lên sẽ thành Bill Gates, lúc lớn lên học vi tính tốt nghiệp xong chỉ muốn mở công ty buôn bán laptop chứ không chịu làm kỹ sư sửa máy khiến người Việt học aitee tức công nghệ thông tin thì nhiều vô số mà mấy đại gia điện tử Nhật-Hàn lại cứ luôn than thở không tuyển được kỹ thuật viên tức…“thợ” ở Việt Nam; sống ở Việt Nam thì mua quan bán chức lính kiểng lính ma buôn lậu ma túy từ Tam Giác Vàng để leo lên thật cao chứ chẳng biết đánh đấm gì sất để rồi khi đại bại ném súng cởi áo tuột quần bỏ chạy tán loạn hơn vịt vượt biên qua Mỹ theo kiểu tự sợ (không tự sướng) chẳng dính gì đến ý nghĩa “tỵ nạn” mà chỉ là bỏ đi sang Mỹ kiếm dưỡng đường trị các bệnh khiếp sợ gọi là mania và phobia tức về tâm lý tâm thần, thì lập ra mấy thứ khôi hài tự phong là bộ trưởng này tướng tá nọ lãnh tụ kia để mỗi khi đến ngày “quốc hận” thì “duyệt binh” và đọc “hiệu triệu với quốc dân” rồi nhóm này mắng chửi nhóm kia là dỏm; còn không vượt biên được phải ở lại với Cộng sản thì tụ năm tụ ba đặt bí danh Chị này Chị nọ, lập hội nghiên cứu Chấn nghiên cứu Cấn nghiên cứu Đoài, phong trước bộ trưởng này bộ trưởng nọ, v.v. và v.v., mong có ngày làm…tổng thống.

Vì các đặc điểm trên, người Mỹ gốc Việt không thể còn bậc hiền tài – vì nếu có đã về Việt Nam giúp Đảng Cộng Sản hết rồi hoặc đã xuất hiện để luôn lên tiếng bảo vệ Việt Nam từ trong lòng nước Mỹ – nhưng ai cũng muốn làm lãnh đạo dù làm hầu bàn hay cắt móng. Do đó, việc Hoa Kỳ Vỡ Vụn là thời cơ quý hơn vàng để những người Mỹ gốc Việt có thể có vài người trở thành tổng thống thật sự của các “tân quốc gia”. Anh không bao giờ có thể làm tổng thống Hoa Kỳ vì cách chi mà anh trở thành tay trùm của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa cả về tài chính, học thức, khả năng hùng biện, và quá trình lãnh đạo thành công lâu dài ở cấp tiểu bang để được giới thiệu ra ứng cử! Anh muôn đời muôn kiếp không bao giờ có thể làm tổng thống Việt Nam vì anh cách chi dám mò về Việt Nam xắn tay áo và xắn ống quần xông tới đánh nhau với và đánh thắng cộng sản Việt Nam! Thế nên, anh chỉ còn cách khôn ngoan nhất là vừa tích cực chống lại sự liên kết của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ để thúc đẩy nhanh tiến trình tan rã thành Tách Chủng Quốc, vừa tích cực xử sự tốt đẹp với Việt Nam, lấy lòng Cộng sản Việt Nam để được Việt Nam hậu thuẫn cả về tình cảm và quyền lợi kinh thương vì rằng với hàng chục “tân quốc gia” thì Việt Nam sẽ lựa chọn vài quốc gia nào có những vị tổng thống “biết điều” để dành cho các “tân quốc gia” này quy chế tối huệ quốc MFN. Không theo cách đề xuất này, các vị rồi sẽ ân hận vì nước Mỹ vẫn cứ vỡ vụn disunited do các vị cách chi mà giúp nó liên kết united mạnh hùng (bài viết: Nước Mỹ Bất Hạnh), và khi nó vỡ vụn rồi thì các vị tổng thống ngồi trên đầu các vị toàn là người Mỹ gốc Tàu, gốc Ý, gốc Mễ, gốc Nga, gốc Ấn, và gốc Cu, mà các vị thuộc những gốc này thì rất ham làm bạn tốt với Việt Nam đấy.

[Các nhu cầu tư vấn quốc gia khởi nghiệp (không phải Start-up Nation của Dan Senor và Saul Singer chỉ biết nhận xét về Nước Israel đã hiện hữu mà là The Start-up of New Post-US Countries của Tannhauser Beowulf Thor và Lăng Tần về cách tạo nên những quốc gia từ đống đổ nát của Nước Mỹ Vỡ Vụn trên vùng lãnh thổ còn đang được tạm gọi là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, xin liên hệ tác giả bài viết này để nhận bảng báo giá và chi tiết hợp đồng song ngữ Anh-Việt. Có discount giảm giá cho người hay nhóm người cam kết không chống Việt Nam Cộng sản.]

“Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Image

Advertisements

Mít-xtơ Xương Xẩu

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tại kỳ họp Thứ II, Quốc Hội Khóa XIII, tuân theo mệnh lệnh của nhân dân (qua việc nhân dân chấm điểm cao lời hứa lúc tranh cử của tôi “biết lo trước cái lo của người dân” và đã dồn phiếu cho tôi đắc cử trở thành đại biểu quốc hội Việt Nam) tôi đã phát biểu có liên quan đến Luật Biểu Tình. Thế mà một số tên vô lại đã len chân được vào trong các tờ báo lớn ra tay ngụy tạo tin tức sai lệch về cái gọi là “dân trí thấp” để dẫn dắt và khích động đám côn đồ ẩn danh trên internet tấn công tôi. Ngay cả một tên tiến sĩ quèn (do tôi chưa hề nghe biết đến tên y và “công trình” nào của y trong giới hàn lâm) của một trường đại học ở một tỉnh Miền Tây (qua địa chỉ email của y tại trường đại học chứ không phải email “chùa”) cũng dám cả gan “khuyên bảo” tôi rằng “biểu tình là tự do, dân chủ” mà tôi biết nội dung qua câu đề mục của bức email, chứ không hề mở email đó ra xem, đơn giản vì (1) khi đã tuyên bố một điều gì, tôi không cho bất kỳ ai có bất kỳ cơ hội nào tìm ra bất kỳ sơ hở trong lập luận hùng biện của tôi; (2) tôi biết tất tần tật tất cả các kiểu lập luận của bất kỳ ai trên toàn thế giới chống đối bất kỳ chủ đề nào tôi viết hay nói về; và (3) tôi không bao giờ phí thời gian đọc hay nghe những gì do những kẻ thuộc đẳng cấp thấp kém hơn tôi lại tập tành tranh luận chống lại tôi.

Cũng vì lý do mang bản tính thuần Việt trời sinh như trên, tôi chả đọc tin và chả biết tên của cái thằng vừa rời – không phải “trốn” khỏi – Việt Nam để xin “tỵ nạn chính trị” ở Thụy Sĩ. Nhưng viết bài mà không cung cấp thông tin chính xác lại cũng không là bản tính trời sinh của tôi nên tôi buộc lòng hạ mình hỏi một cô nhân viên, vì vậy mới biết tên của hắn có chữ lót là Xương. Do không thể “tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, tôi không hơi đâu mà hỏi lại cô nhân viên để nhớ tên đầy đủ của cái thằng mất dạy ấy mà tạm gọi gã tỵ nạn là Xương Xẩu, và do y tỵ nạn nghĩa là ra sống ở nước ngoài nên tôi phải gọi y là Mít-xtơ Xương Xẩu vậy, do tiếng Anh không có đại từ “thằng”.

Nhớ khi xưa, Khổng Minh Gia Cát Lượng thấy hàng tướng Ngụy Diên có cái xương ở sau gáy to chè bè như …tấm phản nên biết y có cái cốt…phản, nhưng vẫn rất khôn khi “xài” y vì cái sức vóc vai u thịt bắp của y. Nhưng Ông họ Khổng vẫn ghi sẵn mật thư giao thẻ nhớ cho một vị tùy tướng và cho vị này biết mật khẩu tức password để đúng ngày đúng giờ mở file ra xem trong laptop mà thực hiện. Thế là sau bao năm làm thân khuyển mã tức chó sủa vang trời bảo vệ chủ, nai lưng cho chủ cưỡi và chìa bụng ra cho chủ thúc, đến lúc tuổi già ập đến thành tên vô dụng, Ngụy Diên ta quyết làm phản, bỏ sang đầu hàng đối phương, dè đâu gặp ngay vị tướng đang ngồi chồm hổm trên nắp cống ven đường chờ đợi sẵn, vung một đại đao vớt bay cái đầu tên phản phúc có cái xương ở sau gáy to chè bè như tấm phản.

Luận lúc này vào thời hiện đại, “mấy ông cộng sản” Việt Nam tất nhiên phải ở cấp bậc sư tổ của Gia Cát Khổng Minh, do Gia Cát Lượng nào có ra chi, đâu phải người chiến thắng của Tam Quốc, trong khi Cộng sản Việt Nam chiến thắng tất tần tật, thu giang sơn Tam Miền về một mối. Vì là sư tổ nên mấy ông cộng sản Việt Nam tất biết Mít-xtơ Xương Xẩu có cái bộ vó y chang Ngụy Diên, nhưng vẫn nín thin vì cần chó giữ nhà và cần ngựa để cưỡi bởi y có cái miệng khuyển và cái thân mã sủa vang trời Tây bảo vệ chủ nhân và nai lưng (hay đưa đầu?) cõng chủ nhân ngồi êm đít phó hội đất Âu. Vì là tổ sư nên mấy ông cộng sản chơi trên cơ, chẳng cần có mật thư mật khẩu đón bắt giữa đường (ra sân bay) gì ráo trọi, chẳng thèm cất vó khi y tẩu tán bán sạch tài sản và treo ấn từ quan (tức là…ra khỏi Đảng) làm chi, vì bốn lý do sau:

1- Xương Xẩu ta đã vừa hết xí quách thịt dai nhách vừa có cái cốt phản nên nhất thiết cứ tỉnh bơ làm ngơ để y ra khỏi Việt Nam để Nhà Nước được lợi to vì khỏi phải tốn tiền chu cấp hưu trí cho y hàng chục năm, khỏi phải bắt các y bác sĩ “tận tình cứu chữa” khi y lên cơn, và khỏi cần lo chí phí hậu sự cao khi buộc phải thành lập Ban Lễ Tang ở tất cả các thành phố lớn trong cả nước và sắm các vòng hoa viếng, v.v., cho kẻ mà mấy ông đã biết là thuộc hạng tép riu bất trí vô mưu vô dụng và vô hại.

2- Xờ-Nâu-Đen tức Snowden bỏ Mỹ qua Nga “tỵ nạn” với ba thứ vũ khí lợi hại là sức trẻ, tài năng về kỹ thuật vi tính, và kho tàng thông tin tuyệt mật liên quan đến sự sinh tồn của nhà nước Hoa Kỳ, nên được Nga đón tiếp nồng hậu, giúp Nga chiếm thế thượng phong. Còn Xương Xẩu bỏ Việt Nam qua Thụy Sĩ “tỵ nạn” chỉ với cái mồm ăn bậy nói bạ y như lão khuyển trong cơn cẩu cuồng phong, mà Thụy Sĩ thì chả có nhu cầu mua cái mồm ấy vì làm gì có việc Thụy Sĩ sẽ chiếm thế thượng phong đối với Việt Nam khi…bán được nhiều đồng hồ Rolex hơn cho đại gia Việt Nam nhờ vào cái mồm khuyển của y sủa ăng ẳng về nhân quyền, dân chủ của Việt Nam.

3- Xương Xẩu ta xin “tỵ nạn” mà không hiểu ý nghĩa của “tỵ nạn” vì y đã trốn biệt không dám là … “tù nhân lương tâm”, đã trốn biệt không dám sủa “xã hội dân sự”, đã trốn biệt không có đấu tranh đòi “đa đảng” bao giờ, đã trốn biệt không hề gào to đòi giải tán Đảng Cộng Sản Việt Nam, và đã trốn biệt cái gọi là mạng xã hội chẳng viết bất kỳ điều gì chống Đảng để mà “sợ” bị truy bắt, truy sát, nên làm quái gì mà có “tư cách” dùng hai chữ “tỵ nạn”. Thậm chí nếu Thụy Sĩ có làm cái việc mà Việt Nam rất bực bội bực dọc bực tức và bức bối đó là tống trả y về Việt Nam thì y cũng bình an vô sự chả hề hấn gì vì người Việt khôn ngoan rất sợ rớ vô chó dại, trừ phi y bị người dân thưa kiện y sang đoạt tài sản hay phá trinh con gái của người ta trước khi “rời” – không phải “trốn” khỏi – Việt Nam.

4- Xương Xẩu ta sẽ luôn bị chính phủ và người dân Âu Tây khinh miệt vì y ra đi với đầy đủ vợ con, đầy đủ tài sản, đầy đủ quá khứ oai hùng đã cúc cung hầu hạ để Cộng Sản Việt Nam thoải mái tung hoành chiếm lĩnh trận địa ngoại giao, đè bẹp ý chí đế quốc thực dân tư bản, nhưng lại không đem theo được ngay cả đến một vết trầy xước nhỏ xíu xìu xiu nào để chính phủ nước họ có cớ mắng Việt Nam tàn ác rồi xét cấp quy chế tỵ nạn cho Xẩu ta.

Nghe đâu có tên nhà báo nhà biếc không có tên cha sinh cha siếc mẹ đẻ mẹ điếc (mà nếu có chắc là xấu ghê xấu gớm tủi hổ muôn phần) nên chỉ luôn xài tên gọi là Huy Đức Huy Điếc, do không bao giờ có thể chôm chỉa được bất kỳ bửu bối nào của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam nên phải rặn đẻ ra “bửu bối” dỏm gọi là những ghi chép nội dung các bàn luận tối mật giữa các nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản mà y đã nhờ có pháp thuật thần thông của loài khỉ đỏ đít ở Hoa Quả Sơn bên Tàu mà biến thành ruổi nghe lóm được, với ao ước Mỹ sẽ chụp lấy tác phẩm của y rồi mở rộng vòng tay âu yếm đón y vào tỵ nạn rồi cho làm công dân Huê Kỳ, nhưng dường như Mỹ do là nhà phát minh ra thuật nói phét nên vừa nhìn trang bìa của y đã biết ngay là đồ dỏm và không mặn mà đón tiếp nên y đã muối mặt trở về Việt Nam, ưu sầu vì ước ao cháy bỏng của đời y được làm thân khuyển mã tức chó ngựa cho Mỹ đã không được toại nguyện.

Như vậy, việc Xương Xẩu “xin tỵ nạn” một lần nữa cho thấy mấy ông Cộng sản Việt Nam đúng là sư tổ về kế mưu sách lược: tất cả những kẻ thuộc giống loài linh trưởng có cái ót chè bè như tấm phản, từ Hoàng Văn Hoan đến Xương Văn Xẩu, đều chỉ có cái mồm khuyển và cái thân mã chứ không tên nào đem được bất kỳ thứ bửu bối cụ thể nào ra khỏi Việt Nam để gây hại được cho Nhà Nước Việt Nam.

Nói một cách đời thường thông tục tức mundanely speaking thì Mít-xtơ Xương Xẩu chỉ là tên điếm già bất tài, vô dụng, chỉ còn biết sủa để mong tìm gặm vài khúc xương với xẩu chứ làm gì cắn hại được chủ nhân.

Còn nói một cách Hollywood tức Hollywoodly speaking thì sự “ra đi trót lọt” quá dễ dàng của Mít-xtơ Xương Xẩu ắt là gợi ý không tồi cho một bộ phim hoành tráng của thể loại gián điệp – vì anh Tom Cruise luôn được cung cấp tất cả các tiện nghi hiện đại, tiền bạc dồi dào, giấy tờ hợp pháp, thời gian thuận tiện, và phương tiện tối ưu mờ! Để thực hiện nhiệm vụ bất khả thi trong lòng địch mờ!

Và nói một cách nhà-sử-học tức historianically speaking thì ngay cả khi anh lính 19 tuổi Hans Conrad Schumann của cộng sản Đông Đức ngày 15-8-1961 phi thân nhảy qua hàng rào kẽm gai trong quá trình xây dựng Bức Tường Berlin đào thoát tìm đến “tự do”qua bức hình mà “thế giới tự do” hí hửng loan truyền tung hô toàn thế giới, thì số phận tủi nhục khổ nghèo bi đát như thế nào của Conrad Schumann sau đó trong thế giới tự do và trong sự khinh miệt khinh bỉ khinh khi khinh thường khinh khỉnh của chính người dân Đức mà kết cuộc như mọi người đều biết rất rõ qua thông tin do Mít-xtơ Google cung cấp miễn phí trên trang “sợt”: y đã treo cổ tự vẫn năm 1998 vì ưu uất và trầm cảm.

Image

Hans Conrad Schumann không tuyên bố gì về nhân quyền, tự do, dân chủ, vậy mà còn bị xem như chó như thế.

Xương Xẩu loạn ngôn lung tung về nhân quyền, tự do, dân chủ, ắt sẽ tệ hơn cả chó ghẻ, chó lở, chó điên, chó dại, nghĩa là không có được vinh dự hiện diện trên móc treo ở quán thịt cầy.

Hans Conrad Schumann vượt hàng rào kẻm gai trong hoàn cảnh tính mạng như chỉ mành treo chuông vì rất có thể bị những tràng tiểu liên của các chiến binh Đông Đức bắn hạ. Xương Văn Xẩu không vượt hàng rào kẻm gai, không vượt ngục, không vượt biên, không vượt biển, lại công khai nộp đơn xin ra khỏi Đảng, công khai mua vé máy bay ra khỏi Việt Nam, xét ra còn thua cả cái tên Hans Conrad Schumann mà người dân nước Đức thống nhất khinh bỉ.

Hans Conrad Schumann vượt hàng rào kẻm gai trong bí mật, đơn độc và chấp nhận hy sinh sự an nguy của toàn bộ gia đình gia tộc trước khả năng trừng trị của Nhà nước Cộng sản. Xương Văn Xẩu không như vậy vì y chẳng hy sinh gì ráo, xét ra còn thua cả cái tên Hans Conrad Schumann mà người dân nước Đức thống nhất khinh bỉ.

Hans Conrad Schumann mà người dân nước Đức thống nhất khinh bỉ phải thắt cổ tự tử trong bần hàn, tủi nhục, rẻ khinh. Xương Văn Xẩu không bị người dân Việt khinh bỉ vì người dân Việt có tính khinh người chứ không có tính khinh chó ghẻ, và vì vậy Xương Văn Xẩu sẽ không phải thắt cổ tự tử trong bần hàn, tủi nhục, rẻ khinh, và do đó con cháu của y sẽ tiếp tục học đại học ở nước ngoài, tiếp tục sủa nhặng lên những lời trăn trở cùng với bầy chống cộng hải ngoại.

Cái đại công của Xương Xẩu là ở chỗ qua việc xin tỵ nạn của y, y đã giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam được vinh danh trên toàn thế giới như một đảng chính trị cực kỳ nhân văn, cực kỳ nhân đạo, cực kỳ nhân từ, cực kỳ độc đáo và độc nhất vậy.

Nhân thấy mấy nhúm chống Cộng mừng như bắt được vàng trong toilet (kiểu trong bài Những Lập Luận Kỳ Quái Của TS Trần Minh Hoàng) khi thấy có vụ “xin tỵ nạn” của Me-xừ Xương Văn Xẩu, tôi viết bài này để tỏ lòng thương hại cho tổ tiên giòng họ của hắn và những con tương cận với hắn mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế
Các bài viết sắp đăng:
1) Báo Tuổi Trẻ: Nhiệm Vụ Bất Khả Thi
2) Nước Mỹ Vỡ Vụn
3) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Ủng Hộ Tổng Thống Nga Putin Đối Với Vấn Đề Crimea
4) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đệ Trình Quốc Hội Dự Thảo Dự Án Luật Biểu Tình
5) Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ
6) Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)
7) Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
8) Quyền Lực Lê Như Tiến
9) Công Trạng Nguyễn Minh Thuyết
10) Kiến Thức Trương Trọng Nghĩa
11) Khẩu Khí Đặng Ngọc Tùng
12) Nhà Tư Vấn Chính Sách Hoàng Hữu Phước Phân Tích Về Sự Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Của Thành Phố Hồ Chí Minh
13) Báo Người Lao Động: Trân Trọng Nhân Tài
14) Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa
15) Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ
16) Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga
17) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University
18) Thế Nào Là Nhân Quyền
19) “Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước
20) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ
21) Thế Nào Là Thời Trang
22) Sức Mạnh Lạ Lùng Của Khách Hàng Việt Đối Với Thế Giới Công Nghệ
23) Giới Thiệu Blog Mới: Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước và Thế Giới Kinh Doanh
24) Giới Thiệu Blog Mới: Giáo Sư Hoàng Hữu Phước và Tiếng Anh
25) Báo Sài Gòn Tiếp Thị: Con Đường Định Hướng
26) Con Nít Và Tổng Thống
27) Thần Uy Trong Đối Ngoại
28) Thế Nào Là Khởi Nghiệp
Trân trọng kính mong được độc giả đến tìm đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.
Các bài viết có thể sẽ không theo thứ tự trước-sau hoặc sẽ có thêm các bài viết khác ngoài danh mục chen vào mà không được thông báo trước.

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi có bài viết mang tựa đề “Tự Do – Dân Chủ” đăng trên Emotino trưa ngày 18-5-2010. Nay thấy có vài người vẫn chưa hiểu thế nào là “dân chủ”, thế nào là “tự do”, từ đứa học trò thơ dại ngây ngô ngây thơ hay cậu (hay cô) sinh viên đầu óc còn bấn loạn vì tuổi teen còn lo cắm đầu mãi nhìn ngón chân cái, cho đến đảng viên kỳ cựu của Đảng Cộng Sản Việt Nam hay các quan chức Chính phủ đã về hưu hay sắp về hưu do không biết bơi sợ bị chìm nghỉm vào đại dương quên lãng của thế giới quyền lực đã từng giúp họ có nhà cao cửa rộng, dẫn đến các hành vi hành động điên rồ và các phát biểu phát kiến điên khùng điên dại về những vấn đề mà bản thân họ phải học thêm khoảng ít nhất 60 năm mới may ra hiểu được điều cơ bản, tôi thấy mình nên đăng lại bài cũ này để rộng đường dư luận.

Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước, MIB

12:29  18-05-2010

 Image

Tình hình biến động chính trị – xã hội ở Thái Lan liên tục từ 2008 đến nay khiến tôi nhớ lại cuộc nói chuyện về “tự do – dân chủ” bên lề Hội Nghị ACMECS III và CLMV IV tại Hà Nội, ngày 4-7 tháng 11 năm 2008, với một viên chức An Ninh Thái Lan. Anh này có vẻ như tổ tiên là người Ấn Độ di dân đến Thái Lan hàng trăm năm trước, người cao gầy, mảnh khảnh, thư sinh – đúng dáng dấp của những ai thuộc “công tác đặc biệt – mật vụ” –  nói tiếng Anh thật nhỏ nhẹ. Anh xin lỗi tôi vì anh không thể cho biết tên và quân hàm, không bao giờ có “danh thiếp”, và chỉ cần nhìn hai chiếc bộ đàm lớn và nhỏ ngay tầm tay anh cùng hai nữ nhân viên Thái đeo bộ đàm nhỏ trên ve áo khoác đen, đứng sau anh chờ lệnh “sếp” là tôi có thể đoán anh nếu không là chức sắc an ninh cao cấp thì chí ít cũng phụ trách an ninh chung cho Thủ Tướng Thái Lan cho chuyến hội nghị này. Chỉ tình cờ mà tôi gặp anh, khi nhìn quanh thấy có đoàn … “thương nhân” Thái đa số là “nữ doanh nhân” trẻ đẹp nên đến định trao đổi danh thiếp trò chuyện kết thân, không ngờ đã tiếp cận số cán bộ đặc vụ Thái trang bị bộ đàm và ắt hẳn có cả … Muoy Thái hay Kick-boxing để thay cho vũ khí hỏa lực cá nhân!

Lỡ phóng lao phải theo lao, tôi định giả lả nói vài câu rồi qua khu vực doanh nhân “thực thụ” Thái khác, nên ngỏ ý thông cảm cho công việc căng thẳng của anh và các cô đội lốt doanh nhân, trong thời điểm tại Thái Lan có những xáo trộn chính trị-xã hội như biểu tình, chiếm sân bay, v.v., do xung đột giữa các đảng phái của một nước “đa đảng” gây ra, từ cuộc khủng hoảng 2005-2006 khi PAD (Đảng Liên Minh Nhân Dân Vì Dân Chủ) tức “phe áo vàng” chống lại chính phủ của Đảng Thai Rak Thai của Thủ Tướng Thaksin Shinawatra, đến lúc bùng nổ sự đối đầu 2008-2010 giữa PAD và Đảng PPP (Quyền Lực Nhân Dân) của các Thủ Tướng Samak Sundaravej và Somchai Wongsawat, và sau này là với Thủ tướng Abhisit Vejjajiva của Đảng Dân Chủ và UDD tức Mặt Trận Dân Chủ Quốc Gia Thống Nhất Chống Độc Tài tức “phe áo đỏ” ủng hộ Thủ tướng bị lật đổ là Ông Thaksin Shinawatra. Không ngờ sự nắm thông tin khá tường tận của tôi đã khiến viên chức này phạm phải một lỗi cấm kỵ đối với “mật vụ” là … nói nhiều trong lúc thi hành nhiệm vụ bảo vệ yếu nhân. Anh đã lập tức nói say sưa như một chuyên gia PR về thương hiệu quốc gia, rằng anh tự hào vì Thái Lan đã liên tục có những biến động chính trị-xã hội như thế, rằng đó mới chính là thể hiện mạnh mẽ nhất về “tự do và dân chủ” ở Thái Lan, rằng “tự do và dân chủ” Thái mới là khuôn mẫu l‎ý tưởng cho một thực thể quốc gia hùng mạnh lãnh đạo khu vực, rằng Thái Lan nhờ vậy sẽ trở thành một cường quốc với một nền “dân chủ” thực thụ và “tự do” thực thụ. Một tràng tiếng Thái vang lên từ bộ đàm của một “nữ doanh nhân” và cô gái trẻ đẹp miệng cười nhưng mắt không cười này nghiêng người nói nhỏ vào tai nhà hùng biện, khiến anh học trò của Cicero này đứng bật dậy như có sức thôi tống từ hỏa tiển đẩy tàu con thoi rời bệ phóng, song vẫn có đủ sự lịch lãm chuyên nghiệp của một mật vụ cao cấp khi thốt lời xin lỗi tôi cùng lúc với lúc anh rời bệ phóng bay mất hút vào đám đông.

Tôi nghĩ anh cũng như nhiều người Thái đã có định kiến hẹp về từ “freedom and democracy” – và nhiều người Việt đã có định kiến hẹp về “tự do và dân chủ”. Tôi muốn nói với anh rằng democracy là một thể chế chính trị do người dân tham gia cai trị thông qua các đại biểu do họ bỏ phiếu bầu lên, tuân theo ý kiến đa số, và ý kiến từng cá nhân được tôn trọng. Vì vậy, hầu như bất kỳ quốc gia nào cũng là democracy, và sự khác biệt chỉ là ở mức độ (chẳng hạn Thụy Điển là quốc gia có mức độ democracy cao nhất, và thấp nhất là Triều Tiên – theo Chỉ Số 2008 về democracy), hoặc ở hình thức tự xưng hay không tự xưng (thí dụ trên toàn thế giới chỉ có Vatican, Saudi Arabia, Myanmar, và Brunei là 4 thực thể công khai không dùng danh xưng democracy). Điều chính yếu tạo ra sự khác biệt, do đó, là ý thức công dân về các cụm không thể tách rời gồm (a) quyền lợi công dân  & nghĩa vụ đối với quốc gia, (b) ‎ý kiến cá nhân được lắng nghe & ý kiến thiểu số chỉ có giá trị tham khảo – nếu thực sự có giá trị, (c) ý kiến cá nhân, ý kiến thiểu số, kể cả ý kiến đa số cũng không được đặt trên sự an nguy và sinh tồn của quốc gia-dân tộc, (d) ý kiến liên quan đến sự an nguy và sinh tồn của quốc gia đều nhất thiết phải do những công dân đoan chính và liêm chính có học thức và được đa số dân chúng biết đến và kính trọng đề đạt theo đúng khuôn khổ luật định hay mặc định xã hội và bằng các phương tiện văn minh như truyền thông đại chúng,, và (e) quốc gia là một thực thể tồn tại song hành cùng các thực thể quốc gia khác.

Diễn giải thêm cho 5 điểm căn cơ của “tự do và dân chủ” nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng

(a) Quyền lợi công dân  & nghĩa vụ đối với quốc gia là hai thành tố của một quyền duy nhất vì không thể dựa vào những “quyền” được ghi trong Hiến Pháp hay quy định bởi pháp luật mà người dân có “quyền” thực hiện “quyền” ấy khi bất chấp nghĩa vụ phải góp phần ổn định tình hình chung của quốc gia;

 (b) Ý kiến cá nhân được lắng nghe & ý kiến thiểu số chỉ có giá trị tham khảo – nếu thực sự có giá trị, vì nếu không, sẽ chỉ có bất ổn và bạo loạn;

(c) Ý kiến cá nhân, ý kiến thiểu số, kể cả ý kiến đa số cũng không được đặt trên sự an nguy và sinh tồn của quốc gia-dân tộc, nghĩa là ngay cả trường hợp các bô lão toàn quốc tại Hội Nghị Diên Hồng không ủng hộ “chiến” thì vương triều phong kiến độc tài Nhà Trần vẫn phải tự quyết vì vận mệnh cả quốc gia không bao giờ nằm trong duy chỉ các “ý kiến” của người dân;

(d) Ý kiến liên quan đến sự an nguy và sinh tồn của quốc gia đều nhất thiết phải do những công dân đoan chính và liêm chính có học thức và được đa số dân chúng biết đến và kính trọng đề đạt theo đúng khuôn khổ luật định hay mặc định xã hội và bằng các phương tiện văn minh như truyền thông đại chúng, vì rằng không thể phủ nhận có những nhóm người nhận tiền để rước voi về giày mả tổ, gây rối – bằng biểu tình ôn hòa hay bằng bạo loạn – phục vụ ý đồ của hoặc ngoại bang hoặc một cá nhân hay một nhóm cá nhân; và

(e) Quốc gia là một thực thể tồn tại song hành cùng các thực thể quốc gia khác, nên bất kỳ những hành vi tương tự như việc dân Thái theo PAD triển khai Chiến Dịch Hiroshima chiếm đóng phong tỏa sân bay Suvamabhumi ngày 25/11/2008, gây họa cho bao du khách nước ngoài, là việc không thể chấp nhận được, tỷ như văn hóa văn minh không cho phép một gia đình gấu ó nhau được làm phiền hàng xóm chung quanh, thậm chí bằng quát tháo to tiếng hay ngăn chặn lối đi trong ngõ ngách.

Tự do-dân chủ, do đó, là quyền lợi và môi trường văn minh mà những công dân văn minh có văn hóa cao tại một quốc gia văn minh có văn hóa cao và có quyền lực trấn áp bảo vệ tính văn minh văn hóa cao của nước nhà được hưởng trong những hoàn cảnh thuận lợi của quốc gia.

Không có sự suy nghĩ thấu đáo về tự do-dân chủ, không có cái chánh tâm về tự do-dân chủ, không có cái chánh đạo về tự do-dân chủ, thì những cái loa kêu gào về tự do-dân chủ chỉ thuần xách động bạo loạn với tà tâm và tà đạo.

Quyền lợi và hy sinh quyền lợi là hai mặt của chỉ một vấn đề duy nhất: tư cách công dân thực thụ của bất kỳ quốc gia nào tự xưng có tổ tiên cao đẹp và lịch sử hào hùng. Nếu không có bao vạn người con trai duy nhất của bao vạn giòng họ Việt Nam hy sinh quyền lợi được miễn nghĩa vụ quân sự thì đất nước này có tồn tại được trước sự xâm lược của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và tay sai của chúng là Khmer Đỏ trên toàn tuyến biên giới Tây Nam để ngày nay Việt Nam có cảnh thanh bình, phát triển kinh tế đẹp giàu, để những người còn sống và con cháu của họ ngày đêm tìm hiểu về quyền lợi công dân?

Đó là suy nghĩ của tôi, một công dân bình thường, không đảng tịch, của Việt Nam, mà rất tiếc anh đã không có thời gian nán lại để nghe tôi nói.

Thôi thì biến loạn của Thái Lan có kéo dài đến đâu cũng không thể nào gọi là miên viễn. Tôi chỉ mong sao anh khỏe mạnh, bình an, làm tốt công tác cận vệ cho các đời Thủ Tướng nước anh, để may ra có ngày chúng ta còn gặp lại, không phải để tôi tranh luận tiếp về “freedom và democracy”, không phải để nhìn trán của anh xem anh trẻ hơn tôi nhưng có ít nếp nhăn như tôi không, và cũng để lặng im nhìn lại xem ngần ấy thời gian đã qua, những gì đã xảy ra ở Thái Lan đã có làm cho anh trở nên ngang hàng với bậc thầy hùng biện Marcus Tullius Cicero của Cổ La-Hy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết sắp đăng:

1)      Báo Tuổi Trẻ

2)      Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đệ Trình Quốc Hội Dự Thảo Dự Án Luật Biểu Tình

3)      Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ

4)      Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)

5)      Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

6)      Quyền Lực Lê Như Tiến

7)      Công Trạng Nguyễn Minh Thuyết

8)      Kiến Thức Trương Trọng Nghĩa

9)      Khẩu Khí Đặng Ngọc Tùng

10)  Nhà Tư Vấn Chính Sách Hoàng Hữu Phước Phân Tích Về Sự Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Của Thành Phố Hồ Chí Minh

11)  Báo Người Lao Động

12)  Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

13)  Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ

14)  Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga

15)  Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University

16)  Thế Nào Là Nhân Quyền

17)  “Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước

18)  Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ

19)  Thế Nào Là Thời Trang

20)  Sức Mạnh Lạ Lùng Của Khách Hàng Việt Đối Với Thế Giới Công Nghệ

21)  Giới Thiệu Blog Mới: Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước và Thế Giới Kinh Doanh

22)  Giới Thiệu Blog Mới: Giáo Sư Hoàng Hữu Phước và Tiếng Anh

23)  Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Trân trọng kính mong được độc giả đến tìm đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.

Các bài viết có thể sẽ không theo thứ tự trước-sau hoặc sẽ có thêm các bài viết khác ngoài danh mục chen vào mà không được thông báo trước.

Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên

Vào ngày Quốc tế Phụ nữ năm 2012 tôi có đăng trên Emotino một bài về phụ nữ Việt Nam. Hai năm đã trôi qua, và trong tháng 3 này của năm 2014 tôi nghĩ sẽ không phải là điều không thích hợp nếu chép lại nguyên văn bài viết ấy trên chính blog này.

Kính mời các bạn đọc qua và hãy nghĩ nhiều hơn, chính đáng hơn, và đúng hơn về người phụ nữ mà chúng ta cũng như xã hội cứ hay dùng lễ lộc kèm các lời nói quen thuộc đơn thuần lập đi lập lại xưng tụng hàng năm. Xin hãy nghĩ khác đi một chút, để làm khác đi một chút, để cuộc sống được tốt đẹp nhiều hơn.

Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

08-3-2012

Image

Tôi Và “Phụ Nữ Việt Nam”

Tôi được mấy đấng mày râu Âu Mỹ thuộc giới lãnh đạo các công ty nước ngoài kính nể vì mỗi khi có dịp trò chuyện là tôi thể hiện một cách gián tiếp mềm mỏng cái cá tính dân tộc chủ nghĩa tích cực cứng rắn (không phải “cực đoan”) và bài ngoại tích cực cứng rắn (không phải “cực đoan”). Không dễ đâu các bạn ạ vì thể hiện dân tộc chủ nghĩa cứng rắn một cách mềm mỏng không phải đơn giản như nhiều người cho rằng chỉ cần la toáng lên các khẩu hiệu chống đối vô nghĩa lý và gào thét các câu thóa mạ mà nội dung cùng chủng loại từ ngữ không có trong từ điển sử dụng của những người trên trước là chứng tỏ được ngay rằng mình ái quốc hay bài ngoại. Chỉ có sự hùng biện áp đảo và thắng thế mang tính phân tích, phê phán thật đúng đắn không chút thiên vị, thật đầy đủ dẫn chứng thông tin chính xác, gây được cơn địa chấn đối với những thành trì lý luận vững chắc của ngoại nhân về đất nước của họ, chính sách chính kiến chính phủ của họ đối với chính sách chính kiến chính phủ của mình, khiến niềm tin đầy tự hào của họ phải hoặc đổ sụp, hoặc chao đảo, hoặc lung lay nền móng không còn vững chãi, mới đúng là sự thể hiện khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa tích cực và bài ngoại tích cực nơi ta. Phải nêu bật được cái hay trỗi vượt của đất nước mình, dân tộc mình, văn hóa mình, nói chung là mọi thứ của mình, thuyết phục đến nỗi ngoại nhân phải công nhận là hóa ra cái “hay” của họ chẳng bằng mình, thì đó mới chính là bài ngoại tích cực của thời đại mới, thời đại của văn hóa toàn cầu hóa đòi hỏi văn hóa tri thức cao hơn để vươn lên ấn cái văn hóa Âu Mỹ xuống vị trí lẽ ra nó đã phải ở đấy từ rất lâu. Một trong rất nhiều điều tôi nói với mấy “ông Tây” ấy là về Phụ Nữ Việt Nam.

Trong lần ăn trưa riêng với Ông Bill Clow, người Canada, Phó Tổng Giám Đốc Manulife phụ trách Kinh Doanh (tức Agency Operations), tại Nhà Hàng An Nam năm 2002, tôi có mang theo hồ sơ đất đai mới công chứng xong, định trước khi về Diamond Plaza sẽ ghé nhà đưa bà xã. Bill nhìn thấy và tò mò hỏi xem tên người lạ bên cạnh tên tôi trên bìa hồ sơ là của ai. Khi nghe nói đó là tên của vợ tôi, người đàn ông da trắng cao 1m85, nặng 86 k‎ý 40, không ria mép, hiền hậu, có 20 năm thâm niên tại tập đoàn Manulife Financial và rất được lòng của 7.000 đại lý Việt Nam ấy tròn xoe đôi mắt xanh ngạc nhiên hỏi tôi “how is it posible” (“sao lại thế được”) vì tên vợ tôi sao không có chữ Hoàng. Tôi lập tức giải thích rất nhiều cho Bill, rằng Vietnamese women retain their own maiden names, rằng for the wedding the bridegroom must come to the bride’s home to humbly request her family to allow him to take their daughter to the church or to his house for the solemn ritual, rằng these have been like this throughout the history of the country, rằng the flowers, the gifts, the well-wishing, and the flirtation we reserve for Vietnamese ladies on 08 March are just to make their favours accumulated now, then, and ever, rằng vv. và vv. Nghĩa là người phụ nữ Việt Nam lập gia đình vẫn giữ nguyên tên thời con gái của mình trên giấy tờ cá nhân chứ không mất tiêu giòng họ của cha như phụ nữ lấy chồng Âu Mỹ, thậm chí phụ nữ Âu Mỹ lấy chồng mấy lần là đổi họ mấy lần, có khi ghép họ chồng mới vào tên mà không bỏ họ của chồng trước. Nghĩa là phụ nữ Việt rất “có giá”, rất được tôn trọng, khi làm đám cưới thì chú rể phải đến tận nhà cô dâu mà đón dâu, rước dâu, chứ không bị đối xử “dưới cơ” như ở Âu Mỹ nơi mà chú rể trịch thượng đứng chờ bên trong nhà thờ, chờ bố hay chú hay cậu hay anh hay một người đàn ông trong thân tộc cô dâu đưa cô dâu đến nhà thờ, vào trong nhà thờ, dẫn đến tận bàn thờ “dâng” cho chú rể. Nghĩa là phụ nữ Việt Nam “độc lập” trong đám cưới khi đàng gái in thiệp cưới Vu Quy riêng và đàng trai in thiệp cưới Tân Hôn riêng, trong khi phụ nữ Âu Mỹ bị đối xử trịch thượng vì đám cưới thì chỉ có bên đàng gái in thiệp cưới mời chung hai họ và tất nhiên đài thọ chi phí in ấn (và…đãi tiệc). Nghĩa là phụ nữ Việt Nam sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa thật bình đẳng và cao thượng vì bên đàng trai tuy trên nguyên tắc sẽ lo trọn hoặc phần lớn chi phí nhưng nếu bên đàng trai khó khăn về tài chính thì bên đàng gái sẽ giúp lo toan, không như phụ nữ Ấn Độ luôn luôn là gánh nặng của mẹ cha và không thể có chồng nếu không có của hồi môn, chưa kể giá trị của hồi môn phải tương xứng với nghề nghiệp của người mà mình muốn…cưới về làm chồng. Nghĩa là phụ nữ luôn được người đàn ông của mình gánh vác các việc đòi hỏi cơ bắp như xách va-li nặng, v.v., không “độc lập trái khoáy” như phụ nữ Tây phải mang ba-lô cồng kềnh nặng nề đẩy xe nôi trong khi ông chồng mặc quần đùi đeo ba-lô nhỏ xíu lửng thửng vừa đi vừa nhàn hạ đọc quyển Vietnam khi cùng gia đình du lịch thành phố Hồ Chí Minh theo kiểu sòng phẳng độc lập ai ăn gì thì trả tiền nấy và đồ ai nấy mang nấy vác. Nghĩa là ở Việt Nam có ngày Phụ Nữ Quốc Tế và ngày Phụ Nữ Việt Nam, và nhiều ngày khác để phụ nữ được vinh danh. Nghĩa là…và nghĩa là…

Tôi đã làm Bill choáng ngợp, không thể nói nên lời vì lượng thông tin ngồn ngộn mà tôi cung cấp. Ông nói quả thật Ông chưa từng biết các chi tiết ấy. Ông đã cho rằng phụ nữ của các chế độ phi tư bản rất cần được… “giải phóng” để được tự do, được tôn trọng, được bình đẳng như phụ nữ Âu Mỹ, chứ Ông đâu có ngờ phụ nữ Việt Nam có nhiều hơn cả sự bình đẳng. Ông cũng chưa từng biết về cái  gọi là dowry issue tức vấn nạn nhức nhối về của hồi môn ở Ấn Độ. Chỉ có một điều Bill vẫn không hiểu nổi là nếu vợ mình không đổi sang họ của mình thì làm sao người ta biết đó là vợ của mình. Ông kết luận rất trẻ thơ làm tôi bật cười (may mà lo nói chẳng ăn uống gì được nên chẳng có gì trong miệng để phải mắc cổ do nuốt trọng hay mắc cở do phun ra) rằng Ông không mong ở Canada sẽ giống như ở Việt Nam vì nếu thế thì đàn ông bên ấy hết làm chồng do vợ mang họ của bố vợ. Tôi có thể nói rằng phụ nữ Việt Nam khi vẫn giữ nguyên tên họ của mình lúc trở thành vợ đã chứng minh ngay từ xa xưa đến nay chưa bao giờ là tài sản hay vật sở hữu của người chồng, vì nếu thay tên theo họ chồng ắt khiến biết đâu có vài ba người nào đó trong số bao tỷ con người trên hành tinh này liên tưởng đến Miền Viễn Tây Hoa Kỳ nơi bò phải được đóng dấu vào mông để xác định chủ quyền của một trang chủ…

Tôi Và “Phụ Nữ Việt Nam Thành Đạt”

Vài năm trở lại đây tôi rất dị ứng với mấy chương trình Tivi về “Phụ Nữ Thành Đạt”, nào là phỏng vấn Phụ Nữ Thành Đạt, nào là giới thiệu y phục dành cho Phụ Nữ Thành Đạt, nào là giới thiệu nữ trang dành cho Phụ Nữ Thành Đạt, v.v., mà đối tượng được các phóng sự nhắm đến tất nhiên toàn là các nữ doanh nhân. Nếu mỗi đài truyền hình lớn của nhà nước đều có phòng tuyên giáo (tuyên truyền và giáo dục) thì ắt phòng này đã không cho rằng nội dung của các phóng sự do phòng khác thực hiện không cần phải mang nội hàm tuyên truyền giáo dục chăng?  Các nữ sinh bị định hướng lệch lạc rằng chỉ có là nữ doanh nhân mới có hy vọng thành Phụ Nữ Thành Đạt, và như thế thì sẽ không còn những nữ giáo viên, những nhà hóa học nữ, những nhà vật lý nữ, những nữ y tá, những nữ cảnh sát, những nữ kế toán, v.v. Đó là chẳng ai còn nghĩ đến một sự thật mang tính chân lý của muôn đời là bà-mẹ-nội-trợ-buôn-gánh-bán-bưng-nuôi-đàn-con-thành-nhân-chi-mỹ-trở-thành-nhân-tài-đất-nước mới là người phụ nữ đáng tôn kính hơn gấp vạn lần người phụ nữ được tôn vinh thành đạt chỉ vì làm tổng giám đốc một tổng công ty lớn của Việt Nam. Giải phóng phụ nữ lẽ ra phải là: trao cho người phụ nữ quyền quyết định đi làm việc hay làm nội trợ, thay vì chỉ có vế trước. Người phụ nữ chỉ có thể thực thi quyền tự do làm nội trợ chăm sóc con cái, nuôi dạy con cái nên người, nếu người chồng nhận được phụ cấp cho người vợ nội trợ (trước 1975 các công ty ở Sài Gòn thực hiện chế độ lương và phụ cấp như thế). Người phụ nữ sẽ buộc chấp nhận một quyền tự do duy nhất là phải đi làm để có thể cùng chồng nuôi ăn con hay đàn con, đóng học phí cho con hay đàn con chứ không chăm sóc và nuôi dạy con cái nên người, chưa kể trực tiếp gây ra gánh nặng thất nghiệp, vấn nạn việc làm cho chính phủ khi người phụ nữ phải tự do làm việc nhưng lại không có việc làm. Tế bào gia đình không còn vững chắc khi con cái được giao cho nhà trẻ hay người giúp việc. Gánh nặng tổ chức nhà trẻ trở thành vấn nạn quốc gia. Và con cái nhà nghèo lớn lên với tính nết của các bà chủ nhà giữ trẻ, còn con cái nhà giàu lớn lên với tính nết của các bà giúp việc. Còn xã hội ngày càng có nhiều lời than vãn về giới trẻ.

Sẽ là điều kỳ diệu tuyệt vời nếu những Phụ Nữ Thành Đạt (và những doanh nhân thành đạt là đấng lang quân của các phụ nữ thành đạt) đang quản lý doanh nghiệp đồ sộ với nhiều trăm nhiều ngàn nữ công nhân bớt giờ làm việc của các công nhân này để họ có thêm một ít thời gian cho hạnh phúc lứa đôi, một ít thời gian cho những chăm sóc yêu thương dành cho những đứa con quý như báu vật của họ, vì chỉ cần một ít thời gian như thế thôi, xã hội Việt Nam có cơ may có được những công dân hạnh phúc vì lớn lên từ sự gần gũi nhiều hơn với cha mẹ. Và người Phụ Nữ Thành Đạt sẽ mang ý nghĩa mới: người thành công trong đem lại cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn cho nhiều người phụ nữ hơn.

Công-Dung-Ngôn-Hạnh là bốn nội dung trụ cột tự nhiên trong vô số điều tự nhiên, bình thường trong vô số điều bình thường, ngày xưa người nữ trau giồi, và người nam dùng đặt chuẩn, với chữ Công trước đây hàm chứa nghĩa của sự quán xuyến nội trợ và nuôi dạy con thơ còn ngày nay mang luôn ý nghĩa giỏi việc nước (tức việc…công ty) đồng thời đảm việc nhà.

Phụ Nữ Thành Đạt là một nội dung bộc phát ngoài khuôn khổ tự nhiên, tự dưng thành điều liên quan duy nhất đến thương trường ngày nay được tung hê ồ ạt trên các phương tiện truyền thông đại chúng và phim ảnh, tách khỏi nội dung ngày càng dày đặc của chữ Công, lấn át chữ Công, che khuất mất chữ Công.

Giá như có Tân Cổ Giao Duyên để người Phụ Nữ Thành Đạt đồng thời là người xem trọng Công-Dung-Ngôn-Hạnh để trở thành tấm gương thực sự của mọi người.

Một Phụ Nữ Thành Đạt của sản phẩm Collagen kỳ lạ đã vắng mặt lạ kỳ trong ngày Phụ Nữ 08 tháng 3 kỳ vĩ này. Mong sao Bà sẽ khỏe trở lại và quay trở lại để duy trì trở lại sự quảng cáo kỳ lạ về Collagen lạ kỳ, duy trì cái lý do tốt đẹp nào đó mà Bà đã vin vào đấy để tổ chức đám cưới cực kỳ đẹp tốt đến độ trên cả xa xỉ xa hoa cho con trai, và duy trì được danh vị vinh dự một Phụ Nữ Thành Đạt đang được nhiều trăm công nhân và nông dân mòn mõi ngóng trông ở miền Tây Đô một thời vang bóng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Image

Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Image

Như cái cố tật luôn tồn tại ở bất kỳ người Việt Nam nào có phẩm hạnh phẩm giá phẩm chất cao, tôi tự hào đứng trong hàng ngũ rất đông những người Việt có may mắn sở hữu đức tính cao ngạo của các nhà nho hiện đại thuần Việt. Đó là lý do tôi không đọc những email hay thư tín được gởi đến từ bọn chống Cộng, lũ bị Phạm Công Thiện [1] của Việt Nam Cộng Hòa giận dữ gọi mắng mỏ là “trí thức ba xu” còn bị các nhà ái quốc chính đạo chính nghĩa chính danh của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hí hước gọi kiểu tát yêu là “chấy thức” hay chấy rận gì đấy trên thế giới mạng, và đám “tù nhân lương tâm”.  Song, bạn hữu khắp nơi có tâm Phật với lòng từ bi hỉ xả hơn tôi vạn lần đã lại rộng lượng ban cho bọn trong danh sách kể trên một đặc ân là bỏ chút thời gian đọc qua cho biết, và do đó thỉnh thoảng phát hiện có chi tiết nào có thể cho tôi biết để viết bài giáo dục làm phước cho bá tánh là họ báo ngay. Đó là lý do tôi biết có vụ nhóc sinh viên nào đó tên gọi Ngô Di Lân đã viết cái gọi là thư trăn trở gởi Bộ Trưởng Giáo Dục Phạm Vũ Luận, và trước sự trăn qua trở lại của nhóc ấy, tôi thấy mình nên viết bức thư trở trăn của tôi như sau:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 3 năm 2014

Thân gởi cháu Ngô Di Lân:

Xin tự giới thiệu với cháu Ta là Hoàng Hữu Phước, công dân trưởng thành trưởng thượng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thuộc các quốc gia khu vực Đông Nam của Châu Á gọi là nhóm ASEAN. Do cha mẹ cháu ắt là rất lớn tuổi (qua việc họ mệt mõi và lú lẩn không thể dạy bảo cháu đúng được điều gì) hoặc ắt rất trẻ tuổi (qua việc chẳng biết gì về sự thật liên quan đến giáo dục Việt Nam để cung cấp thông tin đúng cho cháu) nên Ta phải xưng là “Ta” với cháu chứ không biết nên xưng là Chú hay Bác cho thích hợp, còn xưng là Thầy cũng không xong vì Ta không bao giờ công nhận kẻ kém cỏi là học trò, lại nhân thấy phim bộ Hàn Quốc bộ nào bộ nấy dài lê thê hàng trăm tập ở Việt Nam thì nhân vật nào là bậc trưởng thượng từ ông/bà Chủ tịch công ty đến ông bố/ông nội/ông ngoại/bà mẹ/bà nội/bà ngoại giàu sang của các diễn viên chính luôn xưng “Ta”, nên Ta nghĩ ắt từ “Ta” là cách xưng hô thích hợp cho bức thư này.

Trước hết, Ta xin nói về phép tắc của người dưới đối với bậc trưởng thượng, vì con nít luôn được dạy điều này trước tiên, mà nếu lớn già đầu rồi mà vẫn vô tư vô phép tắc thì người đời nói là “mất dạy.”  Từ khi cháu còn oe oe trong nôi Ta đã viết rất nhiều thư [2] kiến nghị (góp ý, chê bai, phàn nàn, xây dựng, cáo giác, v.v.) gởi bằng nhiều phương tiện khác nhau đến các lãnh đạo Nhà Nước, gần đây nhất là đến các Ông/Bà Trương Tấn Sang, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng, cùng các vị lãnh đạo khác của Quốc hội và các Bộ – trong đó có cả Bộ trưởng Giáo dục, v.v. Nhưng phép tắc dạy Ta rằng họ phải là người nhận trước tiên, rằng họ phải là người có quyền công bố hay không công bố các thư ấy của Ta, rằng Ta không được tung lên mạng nội dung nguyên văn các bức thư ấy trong khi thiên hạ chớ biết những quan chức ấy có đã thực sự nhận được trước các bức thư ấy chưa, và rằng nếu muốn “tung” thì phải sau một thời gian không ngắn và trong đa số các trường hợp thì tác giả hay chọn đăng các trích đoạn có trọng tâm nhằm cung cấp thêm kiến thức mang tính làm sáng tỏ vấn đề nào đó cho độc giả tham khảo. Cái chính đạo chính nghĩa chính danh ở đây là: Ta là công dân, Ta có quyền gởi các kiến nghị ấy đến các lãnh đạo để họ tham khảo, và Ta không phải là Ông Trời hay Ông Kẹ Ông Trùm Ông Thánh để bắt buộc họ phải là theo ý Ta vì Ta biết rõ mười mươi rằng Ta không có một tí cỏn con gì về kinh nghiệm trị quốc để mà dẫy nẩy làm loạn lung tung khi thấy các ý kiến của mình không được đem ra áp dụng dù từ thiện ý của Ta luôn vì nước vì dân. Ta không rõ cháu có đã gởi trước đến đúng Bộ Trưởng Giáo Dục hay không, chỉ biết vnexpress đăng thư của cháu. Và Ta có đủ trình độ tiên tri thấu thị cùng kinh nghiệm nhìn người biết người hiểu người của một tay tổ về nhân sự để có thể phán cháu vô phép tắc và đây là điều cho biết cháu sẽ thất bại nếu không nghe lời Ta chấn chỉnh lại ngay bằng cách gởi thư hay email xin lỗi Bộ Trưởng Giáo Dục và từ nay không phạm lỗi sơ đẳng như thế, nhất là vì nó động đến phép lịch sự ở trời Âu. Công việc quan trọng có thể được giao cho người trẻ tuổi chứ không bao giờ được trao cho đứa con nít. Cháu chắc đủ lượng từ tiếng Việt để hiểu sự khác biệt giữa “trẻ tuổi” và “con nít”, nghĩa là người ta quý cháu hơn vàng nếu cháu là “ông trẻ già dặn kinh nghiệm” chứ không dại gì giao việc lớn cho cháu nếu cháu là “ông già ngây ngô như trẻ nít.”

Thứ đến, Ta xin nói về những sự thật, trong đó có sự thật về lịch sử Việt Nam, sự thật về thế mạnh con người Việt Nam, và sự thật về sự kém cỏi của cháu cùng mưu đồ của cháu.

Theo sự thật lịch sử thì những cái mà cháu cho là rất hay về giáo dục của Âu Tây đã luôn ưu việt, luôn tiến triển, luôn phát triển, và luôn tốt từ nhiều trăm năm nay chứ không phải đợi cháu qua “bển” du học rồi mới “phát hiện”, mừng quá cởi truồng chạy bay ra ngòai đường hét toáng lên “Eureka! Eureka!” như nhà toán học kiêm nhà vật lý học kiêm kỹ sư cơ khí kiêm nhà phát minh kiêm nhà thiên văn học Hy Lạp Archimedes của những năm 200 trước Công Nguyên. Rất nhiều người Việt Nam du học và tất nhiên họ biết thế nào là cái hay của nền giáo dục ở Âu Mỹ. Ở Việt Nam Cộng Hòa (là nước mà chưa chắc cha mẹ cháu đã được sinh ra tại đó), thiên hạ hàng hàng lớp lớp du học (ở Mỹ và Anh là chủ yếu) và trở thành các nhà quản lý quốc gia, các giảng sư đại học, các giáo sư trung học, v.v., tập trung nhiều nhất ở Sài Gòn, tức là nơi mà nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Thế mà chẳng ai trong số họ từng ra sức truyền bá cái hay ho đó để đòi áp dụng tại Việt Nam Cộng Hòa cả. Phải chăng những nội các dưới quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đứa bầy tôi cúc cung tận tụy của Mỹ, lại muốn chống Mỹ nên đã ra sức chống lại các cải cách giáo dục theo hướng Mỹ hóa?  Sự thật là: họ biết cái ưu thế của người Việt và muốn duy trì phát huy cái ưu thế đó. Ta vốn là người Việt duy nhất biết những sự thật về có hay không có cái gọi là “đa đảng” của Việt Nam Cộng Hòa [3] nên nay Ta tiết lộ luôn cho cháu và những cháu du học sinh hay chuẩn (bị) du học sinh rõ thế mạnh ấy, tức điều đơn giản kiểu quả trứng của Columbus mà chưa người Việt nào trên thế gian này từng nghĩ đến, đó là: người Việt mạnh về suy nghĩ tường tận, thấu đáo, chi tiết rất sâu và rất sắc; còn người Âu Mỹ mạnh về nhận biết và xử lý trên quy mô rất bao quát và rất nhanh. Hai thế mạnh khác nhau nhất thiết cần đến hai phương pháp học tập khác nhau. Kiểu đề thi trắc nghiệm mà đem áp dụng ở Việt Nam thì chỉ là tai họa vì người Việt không có khả năng thiên phú để học thật rộng cộng với thi thật tốc độ ở bậc tiểu học và trung học. Kiểu đề thi viết lập luận dông dài sâu sắc ngập tràn ý tứ mà đem áp dụng ở Mỹ thì chỉ là tai họa vì người Mỹ chỉ phải rèn cho có khả năng này ở bậc thạc sĩ trở lên mà thôi. Đây là lý do vì sao du học sinh Việt Nam luôn học giỏi hơn thiên hạ vì nhờ kiểu học ở Việt Nam họ đã tôi luyện và trau giồi biến khả năng tự nhiên của dân tộc tính trở thành siêu tuyệt ngay từ tiểu học và trung học, thích ứng với các yêu cầu của bậc thạc sĩ và tiến sĩ, tức là cái kỹ năng mà học sinh-sinh viên Âu Mỹ chưa hề có ở bậc tiểu học và trung học. Làm gì có chuyện “nhờ học bên Tây với phương pháp Tây mà học sinh Việt trở nên giỏi giang ở lớp cao cấp” mà tưởng bở! Đây cũng là lý do vì sao cách nay 20 năm, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã phải yêu cầu Bộ Giáo Dục Mỹ phải cải cách thi cử, gia tăng phần viết sau khi phải mãi đích thân đứng phát phần thường hoài cho toàn học sinh gốc Việt, dẫn đến các thay đổi sâu sắc ngay trong các kỳ TOEFL trên thế giới vốn trước đó chỉ tập trung cho nghe và nói. Khi cháu ca cẩm về kiểu giáo dục ở Việt Nam và ra vẻ như Chính phủ Việt Nam là thủ phạm đã làm cho nền giáo dục Việt Nam trì trệ, Ta cần cho cháu biết một sự thật khác là trong khi Nhà Nước Việt Nam luôn đầu tư lớn vào giáo dục, luôn tha thiết hiện đại hóa giáo dục, luôn nổ lực khuyến khích cải cách giáo dục theo gương các cường quốc Âu Tây, thì chính Ta mới là người đơn độc lẻ loi muốn duy trì cái “thế mạnh đặc trưng ưu việt” của người Việt chẳng hạn qua việc Ta phủ nhận giá trị của cách ra đề thi trắc nghiệm và khinh miệt gọi nó là cách ra đề của những trường học biếng lười, kém cỏi, và không năng lực; cũng như Ta khai sinh định đề “muốn giỏi tiếng Anh (tức ngoại ngữ), trước hết phải thật giỏi tiếng Việt” từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước để các sinh viên của Ta lấy đó làm kim chỉ nam, và để ta đả phá kiểu phát ngôn hoàn toàn sai của những kẻ không biết gì và chẳng có trình độ đủ cao về tiếng Anh luôn mồm rêu rao rằng muốn giỏi tiếng Anh phải học từ lúc lên năm lên sáu, v.v.[4]

Nói đến sự thật về cái sai ngây ngô kém cỏi của cháu, Ta xin nêu năm vấn đề sau:

1- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về Khổng Giáo vì cháu chỉ là sinh viên đại học và chưa biết thế nào là trình độ còn rất thấp của một cử nhân [5] trong khi cháu vẫn còn xa mới đến ngày đội mão nhận bằng cử nhân. Khi học leo được đến bậc thạc sĩ thí dụ về ngành kinh doanh quốc tế, rất có thể cháu mới sẽ được biết rằng Việt Nam và tất cả các siêu cường kinh tế Âu Mỹ đều có chung một quan điểm kinh doanh về “nhập gia tùy tục”. Bất kỳ du khách Âu Mỹ nào đến thăm các đền thờ Hồi Giáo đều không dám mang giày dép bước vào. Bất kỳ người đàn ông nào trên thế giới đến các điểm công cộng như sân bay, bến cảng các nước Hồi giáo đều không dám ngồi vào các băng ghế, vì đó là nơi dành riêng cho phụ nữ là giới mà đàn ông Hồi giáo cực kỳ tôn kính tôn trọng tôn vinh. Bất kỳ doanh nhân Âu Mỹ nào đến thị trường khổng lồ Trung Quốc đều phải học, biết, và phải thực hiện các việc như “quà cáp”, “lì xì”, “Mianzi”, “Guanxi”, quỳ lạy khấu đầu, chọn cho mình một tên tiếng Hoa thay vì dịch nghĩa tên tiếng Anh của mình, và … Confucianism tức Đạo Khổng để biết thế mạnh kinh doanh của đối tác Trung Quốc là từ đâu để theo đó mà đáp ứng để tồn tại trong cạnh tranh, thậm chí Confucianism tồn tại luôn trong hoạt động kinh doanh của siêu cường Nhật Bản và Hàn Quốc. Là một chú nhóc chưa học xong đại học, cháu đừng ngu dại mở miệng nói bất kỳ điều gì mang tính công kích những điều vĩ đại thuộc trí tuệ miên viễn của nhân loại. Cháu đã sai vì ở Việt Nam, Ta là người duy nhất dám nói (trong phần tự giới thiệu chính kiến trên các trang xã hội như LinkedIn) rằng Ta theo khuynh hướng chính trị cộng sản chủ nghĩa thiên Khổng, thậm chí còn viết blog rằng giá như Đảng Cộng Sản Việt Nam trọng Khổng thì đất nước đã tốt hơn – nghĩa là ta biết sức mạnh tinh thần khủng khiếp của tư tưởng Khổng giáo và tiếc ở Việt Nam nó đã trở thành quá khứ. Cháu thấy đó, ở một xứ sở có tự do ngôn luận tuyệt vời chính danh chính đạo chính đáng như Việt Nam thì ý kiến cá nhân của Ta là của thiểu số nhưng vẫn được nêu lên bình thường và được tôn trọng.

2- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về tư duy phê phán và về sách giáo khoa. Cháu chỉ cần đọc bài Ta viết về các vị Thầy Cô của Ta (như Cô Trương Tuyết Anh [6]) sẽ hiểu cái tư duy phê phán của Ta ở đại học năm 1977 cao vời vợi và bùng nổ hơn hỏa sơn như thế nào dưới sự ủng hộ của các nhà giáo tài hoa đó. Nhà Nước Việt Nam không ngăn cản tư duy phê phán (xin nhấn mạnh: năm 1977 là thời gian mới thống nhất đất nước, không là thời gian của cái gọi là “mở cửa”, vậy mà Ta đã được đánh giá cao về các bùng nổ ấy). Như Ta đã nói trong nhiều bài viết khác [7], chính những nhà-giáo-không-thích-hợp-với-nghề-giáo đã làm cho chất lượng giáo dục không ra làm sao cả vì họ không có trình độ cao như Cô Trương Tuyết Anh của Ta, không dám bùng nổ như Ta, không dám có tư-duy-phê-phán-trong-giáo-dục-và-sư-phạm như Ta và các nhà giáo chân chính khác, và do đó không có cái tinh thần trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp như Ta và các nhà giáo chân chính khác. Những kẻ không thích hợp như thế luôn đổ lỗi cho đồng lương thù lao thấp. Còn bọn chống chế độ thì luôn đổ lỗi cho Nhà Nước. Cháu hãy đọc hết mấy bài viết của Ta ở http://hoanghuuphuocteachers.blog.com để biết rằng đối tượng cháu nên gởi lời khuyên về giáo dục không phải là Ông Bộ Trưởng Giáo Dục, và hãy tự hỏi rằng liệu cháu khi học “thành tài” ở nước ngoài có dám tình nguyện về Việt Nam làm nhà giáo, chấp nhận đồng lương ít ỏi, dành tất cả cho sự nghiệp giáo dục của nước Việt Nam hay không. Nếu không dám, thì cháu lại ngu đến độ nghĩ rằng cháu có quyền nói về lĩnh vực giáo dục à? Hay là cháu giống như bọn con nít [8] sẵn sàng làm ngành giáo dục chỉ trong trường hợp được thỉnh về làm Bộ trưởng Giáo dục để vinh thân phì gia cho xứng với bằng cấp hải ngoại của cháu? Khi đã không thể có một lý tưởng cỏn con hay tâm huyết tí tẹo nào về giáo dục, cháu đừng làm trò cười cho thiên hạ với những trăn trở của cháu nữa.

3- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về Steve Jobs vì cháu lẫn lộn giữa chính sách giáo dục quốc gia với quyết định thuần túy cá nhân của bất kỳ ai muốn quyết định con đường sự nghiệp riêng của mình. Steve Jobs quyết định, và Steve Jobs thành công. Hàng trăm triệu người Mỹ khác quyết định, và hàng trăm triệu người Mỹ ấy thất bại. Chỉ khi nào có hàng trăm triệu người Mỹ thành công như Bill Gates và hàng trăm triệu người Mỹ khác thành công y như Steve Jobs, cháu mới có thể quy chụp rằng đó là nhờ vào nền giáo dục Mỹ. Nhờ sao được mà nhờ đối với kẻ như Bill Gates đã từ bỏ con đường đại học? Nếu cháu cũng từ bỏ việc học đại học thì hãy nói đến tinh thần tự do của cháu và cái tinh túy giáo dục của Âu Mỹ – nhưng hãy nhớ rằng ngay cả khi cháu quá khôn để không theo Bill Gates và chỉ dám nêu tên Steve Jobs thì kiểu lập luận của cháu chỉ dẫn đến nội hàm rằng cái tinh túy giáo dục của Âu Mỹ là…đừng đi học làm gì!

4- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về Trung Quốc vì việc họ có cái “thế kỷ ô nhục” gì đó là chuyện của họ, và chỉ có kẻ ngu mới la toáng lên rằng Trung Quốc nó có cái thế kỷ ô nhục như thế nên Việt Nam phải học mà tránh cái thế kỷ ô nhục ấy. Mỹ có cái chiến bại ô nhục ở Việt Nam thì đó là chuyện của họ, và chỉ có kẻ đần mới la toáng lên rằng Mỹ nó có cái chiến bại ô nhục như thế nên Việt Nam phải học mà tránh cái chiến bại ô nhục ấy. Đừng nên lập luận chuyện đại sự vì nó đòi hỏi (a) thuật hùng biện, (b) kiến thức, (c) tri thức, (d) kinh nghiệm sống, (e) sự khôn ngoan, (f) sự tinh thông tâm lý và phân tâm, và (g) nền tảng vững chãi của hành trạng tư duy nghiêm túc. Cháu chưa có bất kỳ thành tố nào trong bảy thành tố phải có này của nhà biện thuyết. Ta đã nhờ may mắn mà có những thành tố này từ nhỏ nhờ làm lãnh đạo lớp liên tục tử năm đầu tiên bậc tiểu học, nhưng ta vì “khiêm nhường nội tại”[9] mà chờ đến khi gần 60 mới bắt đầu “phát biểu chính kiến”về giáo dục[10] , và ta ngạc nhiên khi cháu chả có gì sất mà lại cả gan lập luận với lãnh đạo nhà nước kiểu nhơi lại đồ phế thải của kẻ cùng đinh mạt hạng thất học ở hải ngoại.

5- Cháu nói tầm bậy tầm bạ để tự tôn vinh cháu: đây là chân lý, là sự thật toát lên từ bài viết trăn qua trở lại trên giường của cháu. Nhiều người thân trong gia đình Ta ở Mỹ, nhiều người tốt (người Mỹ gốc Việt) mà Ta quen bên Mỹ, và nhiều phụ nữ người yêu của Ta mà số phận đã đưa họ rời xa Việt Nam, đều nói với Ta rằng hãy cho thân nhân nhỏ tuổi qua Mỹ du học vì giáo dục tốt lắm, ai qua “bển” học cũng giỏi cả. Ta luôn hỏi họ một câu, và tất nhiên tất cả đều không trả lời được. Câu hỏi của Ta là: xin hãy cho Ta những cái tên người Việt nào học ở Mỹ đã trở thành danh nhân, vĩ nhân. Không bất kỳ ai cho Ta được ngay cả một cái tên. Song, Ta lại cho họ một cái tên: Trần Chung Ngọc. Cháu hãy hỏi Ông Google sẽ biết vị tiến sĩ Trần Chung Ngọc ấy đã là gì ở Việt Nam Cộng Hòa, đã là gì ở Mỹ, đã là gì ở Singapore, v.v. Và con người lớn lao này trong hàng ngàn bài viết blog của mình đã luôn bảo vệ Việt Nam, chưa bao giờ lên tiếng phê phán hệ thống giáo dục Việt Nam, chẳng bao giờ chê bai chính phủ cộng sản Việt Nam. Cháu là một sinh viên, chưa biết có lấy được bằng cử nhân không, chưa biết có sức học lên thạc sĩ không, chưa biết có lấy được cái bằng tiến sĩ hay không, và suy ra, cháu hoàn toàn không có đủ trình độ tri thức, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc, kinh nghiệm nghiên cứu, để có quyền cho bất kỳ lời khuyên nào về giáo dục của đất nước Việt Nam với giọng điệu kẻ cả mà nghe ra thì rất quen thuộc, cứ như của loài nhai lại từ bã ọe ra của bọn chống Cộng, và cứ như để thế giới biết hai điều rằng (1) Chính phủ Việt Nam dỡ ẹc nên một nhóc tì học chưa đến nơi đến chốn cũng phải ra tay dạy cho Chính phủ ấy biết thế nào là giáo dục, và rằng (2) tôi, Ngô Di Lân, là ngôi sao sáng vì đang đi du học mà đã có khả năng dạy một Chính phủ về chính sách giáo dục, ca ngợi Âu Mỹ để bảo đảm lấy điểm cao từ nay cho đến lúc tốt nghiệp.

Lời khuyên của Ta dành cho cháu là hãy cố gắng ngậm miệng lại, dành thời gian nghiên cứu học thuật thâm sâu để tận dụng năng lực trời sinh dành cho đa số người Việt để mà có cái thâm thúy trong cạnh tranh học tập với lớp để luôn đứng đầu lớp; và hãy cố gắng ghi nhớ một điều rằng ngay cả khi cháu có mười hai bằng cấp tiến sĩ thì cháu vẫn là con số zero to tướng với mọi người, vì rằng dự một khóa gì đó ở Liên Hợp Quốc, đứng chụp hình trước tòa nhà Liên Hợp Quốc, thì có ra chi, so với người có khả năng trở thành vị đại sứ Việt Nam đứng uy nghi dõng dạc đường bệ trong tòa nhà Liên Hợp Quốc để đanh thép và hùng biện với nắm đấm vung lên bảo vệ thành công danh dự Việt Nam, quyền lợi Việt Nam, chính phủ Việt Nam, chính sách Việt Nam, đập tan nát bất kỳ sự xúc xiểm xúc phạm xảo biện nào của bất kỳ đại siêu cường nào đối với Việt Nam. Hãy ngậm miệng lại và dành thêm hai mươi nhăm năm để trở thành con người như vậy cho đất nước này. Còn đi ra nước ngoài học rồi khen ngợi cái hay của người thì chỉ giống như tất cả mọi người nghèo hèn ở tất cả các nước nghèo khổ đói khát khi nhìn thấy cái hotdog hay hamburger rồi nước bọt nhểu xuống ướt cả cằm và ngực áo mà thôi. Trước cháu đã có vô số người đi du học và đã biết quá rõ về cái hay, cái đẹp của hệ thống giáo dục ở các nơi đó rồi. Còn nếu cháu biết mình sẽ vì kiếm job mà xin nhập quốc tịch nước ngoài thì bây giờ đừng lên mặt dạy Chính phủ Việt Nam điều cũ rích nữa vì cháu sẽ đâu được xem là người Việt [11] và e là người nước ngoài có học thức cao hơn cháu sẽ đánh giá thấp về cháu.

Nếu bức thư trăn trở đó là do chính cháu viết chứ không phải do một tên chống Cộng hèn hạ nào mớm ý cho, thì cháu hãy viết lại nguyên văn bằng tiếng Anh rồi gởi lại cho Ta để Ta sẽ cho cháu biết cháu cần phải học lại tiếng Anh như thế nào để có thể với lên bằng được Ta, để Ta tin là cháu sẽ có bằng cử nhân và sẽ đủ giỏi để kiếm được một giốp (job) ở hải ngoại, và nhờ vậy may ra với lên được cái bằng cấp giống như của danh nhân Trần Chung Ngọc, để rồi chính phủ Singapore cũng sẽ mời cháu làm cố vấn như họ đã từng mời danh nhân Trần Chung Ngọc vậy.

Hãy làm cho toàn thế giới biết rõ rằng nhờ có cái gốc Việt vững chãi và cái gốc gia đình vững chãi mà cháu đã phát huy được cái sở trường dân tộc tính, tiến ra hải ngoại tiếp thu cao nhất học thuật nước ngoài để đứng trên đầu của họ để họ biết kowtow lễ độ trước cháu và trước Việt Nam.

Còn la toáng lên để thế giới biết cháu lớn lên từ một đất nước có nền giáo dục chả ra chi,  trong một gia đình yếu (do không có học vấn để cung cấp thông tin đúng, thông tin đủ, thông tin sâu, thông tin sắc về thế mạnh người Việt), dẫn đến nghi vấn về những lỗ khuyết tri thức nhận thức nơi cháu – vì những gì thu nhận được lúc tuổi còn thơ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hình thành nhân cách và bản lĩnh sau này của một con người – thì e đó là việc làm của kẻ đại ngu, cháu ạ.

8 năm ở Việt Nam.

Ngay cả một đứa con nít cũng biết nếu cháu ở Việt Nam lúc còn bé tí tẹo, với thời gian chỉ có 8 năm mà đa số các năm trong tổng số 8 năm này còn phải nhờ cha mẹ quấn tã, mặc quần, xi tiểu xi tiêu, lau chùi mông đít, ở truồng tồ bậy trước cửa chưa biết mắc cở, thì không bao giờ cho cháu có đủ tư cách và đủ hiểu biết để nhận ra đâu là cái dở ẹc của nền giáo dục Việt Nam để phán dạy phán bảo Việt Nam.

10 năm ở nước ngoài.

Ngay cả một đứa con nít cũng biết cháu ra nước ngoài lúc còn bé tí teo, và thờì gian 10 năm không bao giờ cho cháu có đủ tư cách và đủ hiểu biết để nhận ra cái hay của hải ngoại để đem truyền bá cái hay ấy cho Việt Nam.

Không có first-hand knowledge nào về Việt Nam: cháu đừng dại dột nói về Việt Nam, vì đó không bao giờ là hành động đúng đắn của người đi học, vì cung cách học có văn hóa luôn là “nói có sách, mách có chứng”.

Chưa có đủ first-hand knowledge về Âu Mỹ: cháu đừng dại dột đem cái chưa biết rõ để khuyên Việt Nam noi theo [11], vì đó không bao giờ là hành động đúng đắn của người đi học, vì cung cách học có văn hóa luôn là “nói có sách, mách có chứng”.

Hãy coi chừng không lấy được cái bằng sơ đẳng cử nhân đấy cháu ạ.

Thư bất tận ngôn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 2011. Bút Chiến Luận với Phạm Công Thiện. Bài sắp được đăng lại.

[2] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. http://hhphuoc.blog.com/?p=182

[3] Hoàng Hữu Phước. 16-5-2013. Mỹ Có Đa Đảng Không? Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? http://hhphuoc.blog.com/?p=173

[4] Hoàng Hữu Phước. Các bài viết về học tiếng Anh và bài viết bằng tiếng Anh. Sắp được tập hợp để đăng lại trên Blog mới.

[5] Hoàng Hữu Phước. 07-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức. http://hhphuoc.blog.com/?p=290

[6] Hoàng Hữu Phước. 22-3-2012. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. Bài đăng trên Emotino, đăng lại tại http://hoanghuuphuocteachers.blog.com

[7] Hoàng Hữu Phước. 07-9-2012. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai. http://hhphuoc.blog.com/?p=81

[8] Hoàng Hữu Phước. Con Nít Và Tổng Thống. Bài sắp được đăng.

[9] Hoàng Hữu Phước. 12-3-2013. Khiêm Tốn. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/khiem-t%e1%bb%91n/

[10] Hoàng Hữu Phước. 04-8-2013. Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại học Và Các Biện Pháp Cách Tân. http://hhphuoc.blog.com/?p=195

[11Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Nước Mỹ Bất Hạnh. http://hhphuoc.blog.com/?p=292

Các bài viết sắp đăng:

1) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đệ Trình Quốc Hội Dự Thảo Dự Án Luật Biểu Tình

2) Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)

3) Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

4) Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ

5) Lê Như Tiến

6) Nguyễn Minh Thuyết

7) Trương Trọng Nghĩa

8) Nhà Tư Vấn Chính Sách Hoàng Hữu Phước Phân Tích Về Sự Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Của Thành Phố Hồ Chí Minh

9) Báo Người Lao Động

10) Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

11) Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ

12) Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga

13) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University

14) Thế Nào Là Nhân Quyền

15) “Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước

16) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ

17) Thế Nào Là Thời Trang

18) Sức Mạnh Lạ Lùng Của Khách Hàng Việt Đối Với Thế Giới Công Nghệ

19) Giới Thiệu Blog Mới: Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước và Thế Giới Kinh Doanh

20) Giới Thiệu Blog Mới: Giáo Sư Hoàng Hữu Phước và Tiếng Anh

21) Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn, Bảo Tàng

Hoàng Hữu Phước

Nhân sự việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cấm động đến Cầu Long Biên, tôi nhớ đến bài Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng tôi viết trên Emotino lúc 23g58 ngày 11-5-2010 (để tặng Anh Barrie Đỗ, Giám đốc Westox Vietnam), có nêu vài nhận định về cách nhìn của người Việt đối với bảo tồn; và nay xin đăng lại nguyên văn trên blog này.

Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-5-2010

Mục Lục

1) Dẫn Nhập: Gốc

2) Phân Tích Những Nét Đặc Thù Việt Nam

a- Lịch Sử

b- Con Người

c- Di Tích Lịch Sử Việt Nam

d- Kiến Trúc Cổ & Kiến Trúc Tân

e- Triết Lý Sống Việt Nam

3) Kết Luận: Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương

1) Dẫn Nhập: Gốc

 Image

Trong bài A Phòng Cung Phú, Đỗ Mục viết rằng Cung A Phòng là công trình nguy nga xây bằng gỗ quý và trang trí nội thất toàn gấm vóc, ngọc châu, cao như thể không còn cách trời là mấy, cách năm bước có một lầu, cách mười bước có một tòa gác, lâu đài tiếp nối lâu đài liền nhau một dãy từ phía Bắc núi Ly Sơn cho đến Hàm Dương dài hơn 300 dặm; rằng Hạng Vũ khi xua quân đánh Tần đã làm cỏ thành Hàm Dương, giết vua Tần đã đầu hàng là Tử Anh, đốt cung A Phòng cháy liền ba tháng lửa vẫn còn ngùn ngụt. Có thể cái đại ngu của Hạng Võ là chỉ biết kết tội Doanh Chính Tần Thủy Hoàng Đế đại ác xa xỉ nên đốt bỏ cái xa xỉ xây trên xương máu nhân dân các nước chư hầu ấy, chứ không đủ trình độ ý thức rằng hành động phóng hỏa còn xa xỉ vạn tỷ lần bản thân công trình xa xỉ; song, nhờ Cung A Phòng thành tro bụi nên người Tàu mới hể hả nêu uy danh của Đỗ Mục phối hợp cùng những công trình kiến trúc vĩ đại, hoành tráng, khác đang thi gan cùng tuế nguyệt như Vạn L‎ý Trường Thành, Đằng Vương Các, hay Tử Cấm Thành, v.v., để khuếch trương thương hiệu quốc gia, khiến người ta khó thể hồ nghi tính thậm xưng, phóng đại về quy mô thực tế của Cung A Phòng – vì chỉ nghe không thôi cũng thấy nó quá kỳ vĩ, ví bằng tất cả các kỳ quan thế giới cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại gộp lại rồi nhân cho mười lũy thừa bảy trăm tám mươi chín – đồng thời tin tưởng vào sự vĩ đại của đất nước, tổ tiên, con người Trung Quốc. Tỷ như sự trưng bày hình ảnh tổ tiên chứng minh một cây đại thụ gia đình thực sự trường tồn, các vật thể đối tượng của bảo tồn-bảo tàng cho thấy cái gốc của một dân tộc ra sao: có thật sâu, có thật rộng, có thật to, có thật vững, có thật lành – hay chỉ lèo tèo vài nhánh rễ ruỗng mục, èo uột, nông cạn, co rúm, không thể là gốc của một dân tộc chủ nhân của một niềm kiêu hãnh lớn. Bảo tồn & bảo tàng không là công việc khảo cổ. Bảo tồn & bảo tàng không là giữ gìn những vật thể của quá khứ để học hỏi và/hay khai thác cho hiện tại và/hay tương lai. Bảo tồn & bảo tàng là công việc nghiêm túc của hiện tại nhằm tích lũy những miếng chắp nối cho bức tranh hoành tráng của tương lai. Bảo tồn & bảo tàng là công việc vì cái gốc, cái nền móng quyết định quy mô kiến trúc tương lai trong hiện tại.

2) Phân Tích Những Nét Đặc Thù Việt Nam

Bảo tồn luôn phải gắn bó với bảo tàng, với đặc điểm (a) cả hai đều chăm chút cho những tài sản hiện có trong tay, (b) cái trước bảo-vệ-phát-triển gốc vật thể và phi vật thể cho tương lai, còn (c) cái sau giữ gìn vật thể mang dấu ấn chứng tích. Bảo tồn và bảo tàng quan trọng là vậy, song Việt Nam có rất nhiều những yếu tố cản trở rất đặc thù, và các phân tích sau nhằm l‎ý giải vì sao có những nghịch lý và thậm chí cực kỳ phi l‎ý khi một dân tộc vĩ đại có một lịch sử vĩ đại nhưng thiếu các vật thể minh chứng những nền gốc vĩ đại đã từng có thật.

 Image

a- Lịch Sử

Người Việt trên đường truân chuyên khổ ải nhưng anh dũng để sinh tồn đã không thể lưu các gốc khởi thủy. Lãnh thổ của các tộc người Việt rộng lớn mênh mông từ Động Đình Hồ vùng Đông Bắc tỉnh Hồ Nam trải xuống các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu‎, đến tận Chiêm Thành. Bị Tần Thủy Hoàng xâm chiếm, dân Lạc Việt đã kháng chiến lâu dài từ năm 214 đến 208 trước Công Nguyên, gây thiệt hại to lớn cho Nhà Tần, khiến Tần Nhị Thế phải rút quân khỏi Văn Lang (Quýnh et al. 2002). Song, những biến động lịch sử to lớn sau đó kéo dài hơn một ngàn năm với sự xâm lược đánh chiếm và đô hộ của các triều đại Triệu, Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường, từ năm 179 trước Công Nguyên khi Triệu Đà tiêu diệt An Dương Vương, chiếm nước Âu Lạc, cho đến năm 905 sau Công Nguyên khi Khúc Thừa Dụ đánh đuổi quân Nhà Đường giành lại độc lập, đã khiến người Việt ngày càng rời xa lãnh thổ khởi thủy, lánh nạn lùi dần về phương Nam. Đây là là l‎ý do người Việt đã không có những di tích hay di chỉ hoặc di vật lịch sử Văn Lang, Lĩnh Nam, Âu Lạc, v.v. của tổ tiên để bảo tồn. Ngay cả khi đã thoát ách đô hộ của Tàu, các vua Việt vẫn phải vơ vét kho tàng và tài nguyên quốc gia để hàng năm triều cống vua Tàu với vàng ngọc, lụa là, sừng tê, kỳ nam, trầm hương, nghệ nhân bậc thầy trong mỹ thuật, điêu khắc, xây dựng, v.v. Đây là việc khôn ngoan, hoàn toàn đúng đắn, y như các vua Hàn, nhờ vậy Việt Nam trường tồn, Hàn Quốc trường tồn. Việt Nam có đủ thời gian thắt lưng buộc bụng ém sức ém quân để trừng trị và trừng trị có hiệu quả những lần thiên triều Trung Hoa nổi cơn điên dại xua quân tràn xuống phương Nam. Việt Nam ngăn chặn vĩnh viễn sự bành trướng lảnh thổ Trung Quốc xuyên qua Việt Nam xuống tận Kubang để nhìn qua Darwin cho kế hoạch tiếp theo nuốt chửng lục địa Úc Châu. Hàn Quốc ngăn chặn “thiên triều” vĩnh viễn không sao làm chủ được Thái Bình Dương. Đó là sự khôn khéo của tất cả các vị minh quân tự cổ chí kim. Nhưng cũng chính vì thế, sự phòng thủ – tuy không đến thái cực như tiêu thổ kháng chiến – trở thành triết l‎ý sống chủ đạo xuyên suốt quá trình lập quốc Việt Nam, khiến việc xây dựng thành quách nguy nga đồ sộ không những không đủ sức thực hiện do quốc khố không thể còn đủ dồi dào, mà còn không thực tế trước vấn đề thiên triều xâm lược trở nên thường lệ, thường xuyên, và thường trực, như một chủ đề thường đàm thường nhật. Phòng thủ và đầu tư di dân xa hơn về phương Nam để an toàn hơn trước các sự tấn công của thiên triều, các triều đại và con người Việt Nam thiên nhiều hơn về lý trí và ý chí – không phải kiểu Wille zur Macht của Friedrich Wilhelm Nietzsche – và từ đó hình thành một ý thức không đặt lên hàng đầu những chứng tích lịch sử cần phải bảo tồn cho bảo tàng, vốn chỉ thích hợp hơn cho một dân tộc trong tình trạng ổn cư ổn canh thường xuyên. Trong cuộc phòng thủ hàng trăm thế kỷ phối hợp với vạn lý trường di, người Việt chỉ mang theo mình vũ khí, thực phẩm, hồi ức tổ tiên, và ký ức lịch sử dân tộc – những gì đoàn quân xâm lược bá quyền nước lớn không thể cướp đi. Lịch sử Việt Nam, vì vậy, là những gì được thể hiện nhiều hơn trong sử sách đầy bi tráng – dù sử liệu có nhiều dị biệt và bất nhất – và qua sự tồn tại vững vàng đương nhiên hiện nay của người Việt – dù bản thân người Việt có nhiều bất tương thích, bất tương đồng và bất tương hợp trong chính cộng đồng của họ – thay vì qua số lượng đồ sộ những di tích hoành tráng, nguy nga, những di chỉ, di vật tràn ngập bảo tàng.

b- Con Người

Vết tích của Hoàng Thành Thăng Long được phát hiện ở Hà Nội trong quá trình đào đường đã cho thấy một sự thật khủng khiếp: ở vùng đất thiên nhiên ưu đãi đến độ “thiên triều” Trung Quốc nhiều ngàn năm nay thèm muốn ngay cả trong chiêm bao mộng mị, không có vụ nổ núi lửa tương tự như Vesus chôn vùi Pompei tráng lệ dưới cả trăm mét tro bụi dung nham, không có trận đại hồng thủy nào nhấn chìm châu thổ Hồng Hà để cư dân Việt lánh nạn trên chiếc tàu Ark như của Noah vướng đỉnh Hoàng Liên Sơn, và cũng chẳng có trận động đất nào xé toang áo đá địa cầu như ở Tân Cương, mà chính đôi bàn tay trần của người Việt đã chôn vùi Thăng Long dưới ba thước đất thịt. Sau khi có quyết định của triều đình – thuộc loại thiếu sáng suốt nhất trong tất cả các vương triều Việt từ thời lập quốc – dời đô về miền Trung Việt Nam, và cũng tương tự như đối với bất kỳ “thành quách” nào bất kỳ đâu suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, người dân đã làm biến mất hoàng thành – có lẽ qua việc tháo dỡ, chuyển tải về nhà đến từng viên đá tảng, từng phiến gạch lát, từ nóc đến sàn, và thậm chí những kẻ chậm chân còn đào sâu xuống nền móng để tận thu gạch đá, xóa sạch dấu tích Hoàng Thành Thăng Long một thời sừng sững, đến độ gần đây chỉ nhờ máy xúc máy cào bóc tách mới thấy được vài chân móng của cái hoàng thành một thời là biểu tượng của sự kiêu hùng kiêu dũng làm run sợ thiên binh.

c- Di Tích Lịch Sử Việt Nam

 Image

Những cổ vật thời tiền sử được phát hiện tại Ban Chiang, tỉnh Udon Thani, Thái lan, một phần được đưa về viện bảo tàng quốc gia, một phần lưu lại nơi hang động để bảo tồn thành bảo tàng để dựa vào đó hất mặt cao đầu khẳng định văn hóa tổ tiên Thái đã có từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên, sánh ngang với thời đại các di chỉ Trung Hoa và Ấn Độ. Con số 4000 năm văn hiến của Việt Nam trở nên nhỏ nhoi trên thực tế số liệu không chính xác, tài liệu thiếu đủ đầy, và vật liệu minh chứng đa số bị hủy hoại bởi chính người Việt chứ không hoàn toàn do thiên tai hay địch họa.

 ImageImage

Trong khi các di tích ở các nước khác trở thành những thánh tích kỳ vĩ hay những điểm tham quan du lịch choáng ngợp hoành tráng, ở Việt Nam chúng hoặc biến mất (như Hoàng Thành Thăng Long, Loa Thành, v.v.), hoặc thành phế tích – như các Tháp Chàm – không toát được khí thế hùng thiêng như Đền Angkor Vat mà chỉ vừa nhỏ bé đến vô nghĩa về hình thể vật chất, vừa minh họa cho ý nghĩa của cụm từ ngẫu lục tang thương. Chính sự chăm chút bảo tồn của con người đối với một di sản mới có thể biến nó thành bảo vật quốc gia, một bảo tàng sống vốn nói lên rất nhiều điều về con người và văn hóa dân tộc của con người ấy.

 Image

Hầu như do đặc điểm lịch sử và con người của người Việt mà lòng tự hào dân tộc trở nên phổ quát nhưng thiếu đặc trưng. Bạch Đằng Giang là cái tên lừng lẫy; song, khúc sông – hay những khúc sông – nào của Bạch Đằng Giang gắn liền với những trận thủy chiến tang thương nhất lịch sử Trung Hoa vĩ đại mà trận Xích Bích ở Trường Giang tuy quan trọng sống còn trong hình thành hai nhà nước Thục Hán và Đông Ngô vẫn không phải là nỗi niềm nhục nhã đớn đau thiên cổ cho tỷ tỷ dân Trung Quốc cho đến ngày tận thế, thì đa số người Việt không hề biết được, thậm chí thời thiên hạ thái bình cũng chưa từng có công trình quy mô hoành tráng nào được dựng xây chốn cũ Bạch Đằng Giang. Trong khi đó, công trình Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến lại là một công trình dành cho các thế hệ Việt Nam của vài thế kỷ sắp đến, khi Lạc Cảnh sinh nhật kỷ niệm 200 hay 300 năm, như một minh chứng người Việt đã có công trình vĩ đại đến dường ấy, đã làm tốt công tác bảo tồn trong ngần ấy thế kỷ, để hậu thế Việt Nam tự hào có một bảo tàng 200 tuổi cấp quốc gia.

 Image

Trong khi đó, Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương vẫn khiêm nhường tĩnh lặng, còn Chùa Hương ngay cuối thế kỷ 20 đã không còn là nơi mà đa số người Việt ở phía Nam cho là xứng đáng để tham quan vì những tạp nhạp phơi bày trên các phóng sự truyền hình đã cho mọi người thấy đó chỉ là một nơi chốn nhỏ bé, không thanh tịnh, mất vệ sinh, hỗn loạn, đầy uế tạp, và do đó không thể nào còn là nơi chốn linh thiêng.

 Image

d- Kiến Trúc Cổ & Kiến Trúc Tân

Do những đặc điểm hoàn cảnh lịch sử và con người, đa số các công trình di tích lịch sử đều nhỏ bé và không có tính sử dụng thực tiễn. Chùa Một Cột – phiên bản nhỏ bé hiện nay tại Hà Nội – khó thể là nơi các sư trụ lại tu hành để được gọi là “chùa”, còn hình ảnh Chùa Thiên Mụ ở Huế thật ra chỉ là tòa tháp không lớn, trống trơn, không phải thực chỗ tu hành tụng niệm của bất kỳ ai của ngôi chùa thấp nhỏ, cách hơn 50 mét phía sau. Niên đại của các kiến trúc như Chùa Một Cột, Lăng Lê Văn Duyệt, Cổ Thành Quảng Trị, hay Chùa Thiên Mụ, v.v., có thể gắn kết bản thân kiến trúc vào một hay những thời khắc lịch sử nước nhà, khiến các công trình ấy trở thành di tích. Song, đặc điểm tiêu cực của các di tích ở Việt Nam là đa số không là thành phần của danh thắng, như Lăng Lê Văn Duyệt và nhiều chùa cổ được xếp hạng di tích ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lại bị vây chặt giữa chốn thị tứ cửa nhà san sát hay bị vây chặt lấn chiếm bởi nhà dân, cho thấy sự nghiệp bảo tồn di sản lịch sử vừa chưa được đầu tư đúng, đủ, vừa không bao gồm khái niệm bảo tồn không gian chung quanh các di sản được bảo tồn ấy; cũng như vừa không có các quy định pháp l‎ý chặt chẽ, nghiêm minh và nghiêm khắc về bảo vệ di sản văn hóa và di tích lịch sử, khiến hầu như những di tích có khoảng không gian thích hợp lại tập trung ở Kinh Thành Huế, nơi may nhờ những yếu tố lịch sử khách quan mà bàn tay người dân không thể chạm tay vào được để xây dựng lấn chiếm.

Image ImageImageImage

Tư duy thực dụng còn thể hiện ngay trong giới tu sĩ khi ngày càng nhiều những ngôi chùa “cũ” có nét đẹp “cổ” bị phá bỏ để xây mới, thậm chí nhiều ngôi chùa như Kỳ Viên Tự ở góc Nguyễn Đình Chiểu – Bàn Cờ, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh, lâm vào tình cảnh giống y nhau khi (a) đập xong chùa là thông báo nhiều tỷ đồng của chùa bị mất cắp sạch, dù ai cũng biết không l‎ý gì chùa lại giữ số tiền mặt quá lớn mà không gởi ngân hàng lấy lãi cứu giúp bá tánh, (b) không trình báo với cơ quan công an, (c) xuất hiện quầy bàn kêu gọi quyên góp của thiện nam tín nữ giúp xây chùa tiếp, và (d) chùa vẫn nằm ngổn ngang, lấy vải bạt che nắng che mưa qua nhiều năm tháng. Số phận các ngôi chùa cũ như vậy đã không còn cơ hội thành chùa cổ để thêm số lượng di sản văn hóa và lịch sử nước nhà.

e- Triết Lý Sống Việt Nam

Nghĩa tử là nghĩa tận. Người Việt không oán thù dai. Người Việt hướng về phía trước, tích cực, như tổ tiên đã nhiều ngàn năm thiên thiên bách vạn lý trường di. Di tích: nếu còn, rất tốt; đã mất, không xấu bằng ngày tận thế. Đoàn quân xâm lược tàn ác bị đánh bại, nhưng những tướng giặc rơi đầu tử trận được chôn cất tử tế, được lập đền khói hương không ngớt. Một cách hành sử đặc thù phong cách Việt: thương hại cấp lương thực thuốc men cho tù hàng binh trả về bên kia Ải Nam Quan, và thương hại cấp khói hương cho tướng sĩ giặc trận vong hồn phải ngàn thu lưu lạc nơi này không thể về cố quốc với người thân. Không ai muốn lưu giữ hiện trạng của một khu phố Hà Nội bị bom B52 Mỹ san thành bình địa, vì việc xây dựng những tòa nhà mới, cao hơn, to hơn, đẹp hơn, trên vị trí cũ mới là sự thể hiện tư thế chủ nhân thật sự, sức mạnh đích thực, thành công vượt bậc, và chiến thắng vẹn toàn.

 Image

Người Việt không bảo tồn những bình pha lê hứng đựng nước mắt của khổ đau. Người Việt, có chăng, là lưu giữ những chứng tích đủ để hậu thế nhận thức về những tàn khốc của chiến tranh cùng các tội ác nó đem lại, chỉ để người ta yêu quý cuộc sống này hơn, biết trọng hòa bình, và biết cần phải làm gì để bảo vệ một cuộc sống trong hòa bình của chính mình, và hiểu ước muốn tương tự của các dân tộc khác.

Image

Người Việt không xem việc phô bày nhục thể nơi công cộng là thích hợp với sự trang nghiêm, nên không có những di sản tương tự tượng Bahubali vạch lá nhú chìa dương vật tự nhiên để khẳng định mình.

Image

Trong hoàn cảnh lịch sử bị xâm lược và bị đe dọa xâm lược thường xuyên, người Việt không có nhiều các di sản và di tích lịch sử để bảo tồn, nhưng đang nâng niu các di-tích-lịch-sử-cho-tương-lai như Hang Pắc Pó, địa đạo Củ Chi, địa đạo Vĩnh Mốc, Dinh Độc Lập, v.v. Điều quan trọng mang ý tư duy cần được nêu bật là bảo tồn môi trường và bảo tồn thiên nhiên cũng phải được hòa quyện vào trong nội dung bảo tồn văn hóa và lịch sử, vì rằng không gian sống lành và mạnh mới giúp các di tích, di chỉ, di vật văn hóa và lịch sử thành bảo vật mà chính thời thái bình thịnh trị như ngày nay mới là thời cơ tuyệt diệu để hậu thế Việt Nam không phải chịu cảnh thiếu thốn các minh chứng cho một gốc tích Việt vinh diệu, tự hào.

Image

3) Kết Luận: Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương

Do những tác nhân mang tính đặc thù riêng biệt kể trên, Việt Nam là xứ sở của những nghịch lý người ngoại quốc khó thể hiểu tường tận. Một đất nước có lịch sử quá đỗi hào hùng gần như độc nhất vô nhị tự cổ chí kim: bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm vẫn còn nguyên vẹn tinh thần dân tộc riêng biệt, không trộn lẫn, chẳng lẫn lộn, khó bị đồng hóa với tác nhân ngoại lai, theo phong cách sống dĩ hòa vi quý nhưng lại quật khởi, thậm chí còn chặn đứng vĩnh viễn sự bành trướng của Nguyên Mông xuống vùng Đông Nam Á khiến vó ngựa đã từng ngạo nghễ chinh phục suốt chiều ngang kỳ vĩ của toàn lục địa Á-Âu phải khuỵu gối muôn đời trước cửa Ải Nam Quan. Một đất nước có lịch sử quá đỗi hào hùng gần như độc nhất vô nhị tự cổ chí kim như thế, làm chủ bản thân mãnh liệt như thế, với tinh thần dân tộc cao vời như thế, luôn nêu gương ngay cả trong tôn sư trọng đạo và thiên về tình cảm tâm linh nhiều như thế, lại gần như thực dụng đến độ chẳng để lại gì nhiều những vật chất cụ thể để chứng minh cái hào hùng, mãnh liệt, cao vời, tình cảm, tâm linh ấy không chỉ là truyền khẩu, dệt thêu.

Thôi thì “Thời lai: phong tống Đằng Vương Các”(Nếu gặp thời thì dẫu Lầu Đằng Vương có cao đến thế gió cũng sẽ đưa ta lên tận nơi, chứ còn không gặp vận thì dẫu có vững vàng như Bia Tấn Phúc sét cũng đánh ngã nhào), nước Tàu kia tuy vẫn còn lầu Đằng Vương nhờ làm tốt “bảo tồn” cả bằng biện pháp vật thể (xây năm 653, trùng tu lần thứ 28 năm 1870 và lần thứ 29 vào năm 1989) và phi vật thể (văn học, thơ ca), vẫn chịu mất di tích lịch sử bia Tấn Phúc vì thiên tai; nhưng nhờ vậy người ta khi đến thăm Đằng Vương Các, đọc bài thơ của Tử An Vương Bột đương nhiên tin Bia Tấn Phúc đã từng tồn tại. Hoặc như xứ sở Afghanistan kia có hai tượng Phật Bamyan mỗi tượng cao 53 mét cực kỳ vĩ đại, do các sư sãi tạc khắc vào hai núi đá những 700 năm trước khi Jesus Christ của Ki-tô Giáo giáng sinh, cũng bị…nhân tai khi thủ lĩnh tối cao của Taliban là Mullah Mohammad Omar vào ngày 26/02/2001 đầy nắng gắt đã hạ lịnh cho các khẩu đại bác trên các tháp pháo xe tăng nã đạn liên hồi trong hơn một tuần, biến kỳ quan thiên cổ thành đá vụn, và nhân loại nhờ có hình ảnh lưu trữ mà biết được ở thung lũng Bamyan mênh mông A Phú Hãn ấy đã từng có hai tượng Phật sừng sững kỳ quan.

Image

Do đó, người Việt vẫn có thể tự an ủi một cách đầy triết lý rằng vạn vật sắc sắc không không, thương hải biến vi tang điền (biển cả hóa ruộng dâu), di tích hoành tráng nếu có cũng phải chịu tác động ngày nay của sự ấm lên toàn cầu đang đe dọa nhấn chìm nhiều đảo quốc, thu hẹp diện tích lắm quốc gia, và chỉ có sự sinh tồn của người dân Việt mới là quan trọng hơn cả. Song, khi lâu đài không còn tồn tại, người ta vẫn có thể nâng niu nền cũ vững chải như một chứng tích của thời hoàng kim một lâu đài từng sừng sững – và thậm chí khi cả cái nền cũng bị xâm thực thì người Việt vẫn có thể “bảo tồn” cái “bóng tịch dương” trừu tượng đã từng soi rọi nơi chốn ấy, nghĩa là “bảo tồn, bảo tàng” ngay cả cái nguyên khí, văn hóa, văn học, nghi lễ, tập tục, phong hóa của nước nhà. Bảo tồn di chỉ, di tích, muông thú, thực vật, nếp sống, phong hóa cũng là để chứng minh Người Việt thực sự Tổ Tiên, Nòi Giống, Lịch Sử. Có tổ tiên nên ắt được dạy bảo về tình đoàn kết. Có nòi giống nên ắt nhận thức được trên thế gian này chỉ có một dân tộc Việt Nam. Có lịch sử nên ý thức được rằng trên thế gian này chỉ có một đất nước Việt Nam.

Image

Người Tàu khắp thế giới tự hào về đất nước Trung Quốc vĩ đại của các kỳ quan và kỳ tích, bất kể họ là người Trung Hoa Lục Địa của Cộng Sản Đảng, Đài Loan của Quốc Dân Đảng, hay tại các China Town toàn cầu.

Người Hàn trên toàn thế giới kiêu hãnh về dân tộc Hàn duy nhất, hùng mạnh, có ý chí kiên cường, của đất nước có các kỳ quan và kỳ tích, bất kể họ là người Triều Tiên, người Hàn Quốc, hay Hàn Kiều.

Khi người Việt trên toàn thế giới đoàn kết vì một dân tộc Việt Nam duy nhất, một đất nước Việt Nam duy nhất, khi ấy người Việt mới có thể chứng minh được với phần còn lại của nhân loại rằng họ có chung một cội nguồn lịch sử thật sự vĩ đại, một gốc thật sự vững chắc do một tổ tiên thật sự đáng kính vun đắp dựng xây thành công và giáo huấn thành công về tinh thần bảo tồn những giá trị bản sắc Việt thật sự tinh túy đặc thù, những giá trị mà thiếu hoặc không có những giá trị ấy, mọi lời nói có sử dụng các cụm từ như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tổ quốc, đồng bào, hay vì màu cờ sắc áo sẽ chỉ là sáo ngữ, thiếu nghiêm túc, đưa Người Việt ra làm đối tượng để kính cẩn mời gọi ngoại nhân cười cợt và nhạo báng.

Bảo tồn văn hóa Việt và xây dựng văn hóa Việt chính là sự bổ sung đầy thuyết phục lịch sử vàng son có thật của nước Việt ta.

Image

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

A) Hình ảnh:

Deutschland Germany Allemagne. nd. Schaffmann & Kluge

Finlay, H., T. Wheeler, B. Thomas, M. Coxall, L. Logan, G. Cole, and P.A. Raj. 1996. India: a Lonely Planet Travel Survival Kit. 6th ed. Victoria: Lonely Planet Publication.

Hebberd, L. and M. Kamdar. 1998. Cultural Portraits of India. New Delhi: Cultural Portraits Production, Inc.

Hechenblaikner, L. and F. Schwarzenauer. nd. Vietnam. München: Verlag C.J. Bucher.

Mehra, S. 1993. Rajasthan: an Enduring Romance. New Delhi: Lustre Press Pvt. Ltd.

Sharma, J.C. 1997. Hindu Temples in Vietnam. New Delhi: Rakesh Taneja

Thailand in the 90s. 1995. Bangkok: Amarin Printing and Publishing Public Co. Ltd.

Tường, Võ Văn. 1992. Việt Nam Danh Lam Cổ Tự. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội

B) Chi tiết về các niên đại:

Hưu, Lê Văn, Phan Phù Tiên và Ngô Sỹ Liên. 1697. Đại Việt Sử K‎ý Toàn Thư. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội (1993).

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. 1881. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục (1998).

Khuyết Danh. nd. Đại Việt Sử Lược. TP HCM: Nhà Xuất Bản TP HCM (1993).

Quýnh, Trương Hữu, Đinh Xuân Lãm, và Lê Mậu Hân. 2002. Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – Toàn Tập. Tái bản lần 5. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục.