Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn, Bảo Tàng

Hoàng Hữu Phước

Nhân sự việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cấm động đến Cầu Long Biên, tôi nhớ đến bài Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng tôi viết trên Emotino lúc 23g58 ngày 11-5-2010 (để tặng Anh Barrie Đỗ, Giám đốc Westox Vietnam), có nêu vài nhận định về cách nhìn của người Việt đối với bảo tồn; và nay xin đăng lại nguyên văn trên blog này.

Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-5-2010

Mục Lục

1) Dẫn Nhập: Gốc

2) Phân Tích Những Nét Đặc Thù Việt Nam

a- Lịch Sử

b- Con Người

c- Di Tích Lịch Sử Việt Nam

d- Kiến Trúc Cổ & Kiến Trúc Tân

e- Triết Lý Sống Việt Nam

3) Kết Luận: Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương

1) Dẫn Nhập: Gốc

 Image

Trong bài A Phòng Cung Phú, Đỗ Mục viết rằng Cung A Phòng là công trình nguy nga xây bằng gỗ quý và trang trí nội thất toàn gấm vóc, ngọc châu, cao như thể không còn cách trời là mấy, cách năm bước có một lầu, cách mười bước có một tòa gác, lâu đài tiếp nối lâu đài liền nhau một dãy từ phía Bắc núi Ly Sơn cho đến Hàm Dương dài hơn 300 dặm; rằng Hạng Vũ khi xua quân đánh Tần đã làm cỏ thành Hàm Dương, giết vua Tần đã đầu hàng là Tử Anh, đốt cung A Phòng cháy liền ba tháng lửa vẫn còn ngùn ngụt. Có thể cái đại ngu của Hạng Võ là chỉ biết kết tội Doanh Chính Tần Thủy Hoàng Đế đại ác xa xỉ nên đốt bỏ cái xa xỉ xây trên xương máu nhân dân các nước chư hầu ấy, chứ không đủ trình độ ý thức rằng hành động phóng hỏa còn xa xỉ vạn tỷ lần bản thân công trình xa xỉ; song, nhờ Cung A Phòng thành tro bụi nên người Tàu mới hể hả nêu uy danh của Đỗ Mục phối hợp cùng những công trình kiến trúc vĩ đại, hoành tráng, khác đang thi gan cùng tuế nguyệt như Vạn L‎ý Trường Thành, Đằng Vương Các, hay Tử Cấm Thành, v.v., để khuếch trương thương hiệu quốc gia, khiến người ta khó thể hồ nghi tính thậm xưng, phóng đại về quy mô thực tế của Cung A Phòng – vì chỉ nghe không thôi cũng thấy nó quá kỳ vĩ, ví bằng tất cả các kỳ quan thế giới cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại gộp lại rồi nhân cho mười lũy thừa bảy trăm tám mươi chín – đồng thời tin tưởng vào sự vĩ đại của đất nước, tổ tiên, con người Trung Quốc. Tỷ như sự trưng bày hình ảnh tổ tiên chứng minh một cây đại thụ gia đình thực sự trường tồn, các vật thể đối tượng của bảo tồn-bảo tàng cho thấy cái gốc của một dân tộc ra sao: có thật sâu, có thật rộng, có thật to, có thật vững, có thật lành – hay chỉ lèo tèo vài nhánh rễ ruỗng mục, èo uột, nông cạn, co rúm, không thể là gốc của một dân tộc chủ nhân của một niềm kiêu hãnh lớn. Bảo tồn & bảo tàng không là công việc khảo cổ. Bảo tồn & bảo tàng không là giữ gìn những vật thể của quá khứ để học hỏi và/hay khai thác cho hiện tại và/hay tương lai. Bảo tồn & bảo tàng là công việc nghiêm túc của hiện tại nhằm tích lũy những miếng chắp nối cho bức tranh hoành tráng của tương lai. Bảo tồn & bảo tàng là công việc vì cái gốc, cái nền móng quyết định quy mô kiến trúc tương lai trong hiện tại.

2) Phân Tích Những Nét Đặc Thù Việt Nam

Bảo tồn luôn phải gắn bó với bảo tàng, với đặc điểm (a) cả hai đều chăm chút cho những tài sản hiện có trong tay, (b) cái trước bảo-vệ-phát-triển gốc vật thể và phi vật thể cho tương lai, còn (c) cái sau giữ gìn vật thể mang dấu ấn chứng tích. Bảo tồn và bảo tàng quan trọng là vậy, song Việt Nam có rất nhiều những yếu tố cản trở rất đặc thù, và các phân tích sau nhằm l‎ý giải vì sao có những nghịch lý và thậm chí cực kỳ phi l‎ý khi một dân tộc vĩ đại có một lịch sử vĩ đại nhưng thiếu các vật thể minh chứng những nền gốc vĩ đại đã từng có thật.

 Image

a- Lịch Sử

Người Việt trên đường truân chuyên khổ ải nhưng anh dũng để sinh tồn đã không thể lưu các gốc khởi thủy. Lãnh thổ của các tộc người Việt rộng lớn mênh mông từ Động Đình Hồ vùng Đông Bắc tỉnh Hồ Nam trải xuống các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu‎, đến tận Chiêm Thành. Bị Tần Thủy Hoàng xâm chiếm, dân Lạc Việt đã kháng chiến lâu dài từ năm 214 đến 208 trước Công Nguyên, gây thiệt hại to lớn cho Nhà Tần, khiến Tần Nhị Thế phải rút quân khỏi Văn Lang (Quýnh et al. 2002). Song, những biến động lịch sử to lớn sau đó kéo dài hơn một ngàn năm với sự xâm lược đánh chiếm và đô hộ của các triều đại Triệu, Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường, từ năm 179 trước Công Nguyên khi Triệu Đà tiêu diệt An Dương Vương, chiếm nước Âu Lạc, cho đến năm 905 sau Công Nguyên khi Khúc Thừa Dụ đánh đuổi quân Nhà Đường giành lại độc lập, đã khiến người Việt ngày càng rời xa lãnh thổ khởi thủy, lánh nạn lùi dần về phương Nam. Đây là là l‎ý do người Việt đã không có những di tích hay di chỉ hoặc di vật lịch sử Văn Lang, Lĩnh Nam, Âu Lạc, v.v. của tổ tiên để bảo tồn. Ngay cả khi đã thoát ách đô hộ của Tàu, các vua Việt vẫn phải vơ vét kho tàng và tài nguyên quốc gia để hàng năm triều cống vua Tàu với vàng ngọc, lụa là, sừng tê, kỳ nam, trầm hương, nghệ nhân bậc thầy trong mỹ thuật, điêu khắc, xây dựng, v.v. Đây là việc khôn ngoan, hoàn toàn đúng đắn, y như các vua Hàn, nhờ vậy Việt Nam trường tồn, Hàn Quốc trường tồn. Việt Nam có đủ thời gian thắt lưng buộc bụng ém sức ém quân để trừng trị và trừng trị có hiệu quả những lần thiên triều Trung Hoa nổi cơn điên dại xua quân tràn xuống phương Nam. Việt Nam ngăn chặn vĩnh viễn sự bành trướng lảnh thổ Trung Quốc xuyên qua Việt Nam xuống tận Kubang để nhìn qua Darwin cho kế hoạch tiếp theo nuốt chửng lục địa Úc Châu. Hàn Quốc ngăn chặn “thiên triều” vĩnh viễn không sao làm chủ được Thái Bình Dương. Đó là sự khôn khéo của tất cả các vị minh quân tự cổ chí kim. Nhưng cũng chính vì thế, sự phòng thủ – tuy không đến thái cực như tiêu thổ kháng chiến – trở thành triết l‎ý sống chủ đạo xuyên suốt quá trình lập quốc Việt Nam, khiến việc xây dựng thành quách nguy nga đồ sộ không những không đủ sức thực hiện do quốc khố không thể còn đủ dồi dào, mà còn không thực tế trước vấn đề thiên triều xâm lược trở nên thường lệ, thường xuyên, và thường trực, như một chủ đề thường đàm thường nhật. Phòng thủ và đầu tư di dân xa hơn về phương Nam để an toàn hơn trước các sự tấn công của thiên triều, các triều đại và con người Việt Nam thiên nhiều hơn về lý trí và ý chí – không phải kiểu Wille zur Macht của Friedrich Wilhelm Nietzsche – và từ đó hình thành một ý thức không đặt lên hàng đầu những chứng tích lịch sử cần phải bảo tồn cho bảo tàng, vốn chỉ thích hợp hơn cho một dân tộc trong tình trạng ổn cư ổn canh thường xuyên. Trong cuộc phòng thủ hàng trăm thế kỷ phối hợp với vạn lý trường di, người Việt chỉ mang theo mình vũ khí, thực phẩm, hồi ức tổ tiên, và ký ức lịch sử dân tộc – những gì đoàn quân xâm lược bá quyền nước lớn không thể cướp đi. Lịch sử Việt Nam, vì vậy, là những gì được thể hiện nhiều hơn trong sử sách đầy bi tráng – dù sử liệu có nhiều dị biệt và bất nhất – và qua sự tồn tại vững vàng đương nhiên hiện nay của người Việt – dù bản thân người Việt có nhiều bất tương thích, bất tương đồng và bất tương hợp trong chính cộng đồng của họ – thay vì qua số lượng đồ sộ những di tích hoành tráng, nguy nga, những di chỉ, di vật tràn ngập bảo tàng.

b- Con Người

Vết tích của Hoàng Thành Thăng Long được phát hiện ở Hà Nội trong quá trình đào đường đã cho thấy một sự thật khủng khiếp: ở vùng đất thiên nhiên ưu đãi đến độ “thiên triều” Trung Quốc nhiều ngàn năm nay thèm muốn ngay cả trong chiêm bao mộng mị, không có vụ nổ núi lửa tương tự như Vesus chôn vùi Pompei tráng lệ dưới cả trăm mét tro bụi dung nham, không có trận đại hồng thủy nào nhấn chìm châu thổ Hồng Hà để cư dân Việt lánh nạn trên chiếc tàu Ark như của Noah vướng đỉnh Hoàng Liên Sơn, và cũng chẳng có trận động đất nào xé toang áo đá địa cầu như ở Tân Cương, mà chính đôi bàn tay trần của người Việt đã chôn vùi Thăng Long dưới ba thước đất thịt. Sau khi có quyết định của triều đình – thuộc loại thiếu sáng suốt nhất trong tất cả các vương triều Việt từ thời lập quốc – dời đô về miền Trung Việt Nam, và cũng tương tự như đối với bất kỳ “thành quách” nào bất kỳ đâu suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, người dân đã làm biến mất hoàng thành – có lẽ qua việc tháo dỡ, chuyển tải về nhà đến từng viên đá tảng, từng phiến gạch lát, từ nóc đến sàn, và thậm chí những kẻ chậm chân còn đào sâu xuống nền móng để tận thu gạch đá, xóa sạch dấu tích Hoàng Thành Thăng Long một thời sừng sững, đến độ gần đây chỉ nhờ máy xúc máy cào bóc tách mới thấy được vài chân móng của cái hoàng thành một thời là biểu tượng của sự kiêu hùng kiêu dũng làm run sợ thiên binh.

c- Di Tích Lịch Sử Việt Nam

 Image

Những cổ vật thời tiền sử được phát hiện tại Ban Chiang, tỉnh Udon Thani, Thái lan, một phần được đưa về viện bảo tàng quốc gia, một phần lưu lại nơi hang động để bảo tồn thành bảo tàng để dựa vào đó hất mặt cao đầu khẳng định văn hóa tổ tiên Thái đã có từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên, sánh ngang với thời đại các di chỉ Trung Hoa và Ấn Độ. Con số 4000 năm văn hiến của Việt Nam trở nên nhỏ nhoi trên thực tế số liệu không chính xác, tài liệu thiếu đủ đầy, và vật liệu minh chứng đa số bị hủy hoại bởi chính người Việt chứ không hoàn toàn do thiên tai hay địch họa.

 ImageImage

Trong khi các di tích ở các nước khác trở thành những thánh tích kỳ vĩ hay những điểm tham quan du lịch choáng ngợp hoành tráng, ở Việt Nam chúng hoặc biến mất (như Hoàng Thành Thăng Long, Loa Thành, v.v.), hoặc thành phế tích – như các Tháp Chàm – không toát được khí thế hùng thiêng như Đền Angkor Vat mà chỉ vừa nhỏ bé đến vô nghĩa về hình thể vật chất, vừa minh họa cho ý nghĩa của cụm từ ngẫu lục tang thương. Chính sự chăm chút bảo tồn của con người đối với một di sản mới có thể biến nó thành bảo vật quốc gia, một bảo tàng sống vốn nói lên rất nhiều điều về con người và văn hóa dân tộc của con người ấy.

 Image

Hầu như do đặc điểm lịch sử và con người của người Việt mà lòng tự hào dân tộc trở nên phổ quát nhưng thiếu đặc trưng. Bạch Đằng Giang là cái tên lừng lẫy; song, khúc sông – hay những khúc sông – nào của Bạch Đằng Giang gắn liền với những trận thủy chiến tang thương nhất lịch sử Trung Hoa vĩ đại mà trận Xích Bích ở Trường Giang tuy quan trọng sống còn trong hình thành hai nhà nước Thục Hán và Đông Ngô vẫn không phải là nỗi niềm nhục nhã đớn đau thiên cổ cho tỷ tỷ dân Trung Quốc cho đến ngày tận thế, thì đa số người Việt không hề biết được, thậm chí thời thiên hạ thái bình cũng chưa từng có công trình quy mô hoành tráng nào được dựng xây chốn cũ Bạch Đằng Giang. Trong khi đó, công trình Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến lại là một công trình dành cho các thế hệ Việt Nam của vài thế kỷ sắp đến, khi Lạc Cảnh sinh nhật kỷ niệm 200 hay 300 năm, như một minh chứng người Việt đã có công trình vĩ đại đến dường ấy, đã làm tốt công tác bảo tồn trong ngần ấy thế kỷ, để hậu thế Việt Nam tự hào có một bảo tàng 200 tuổi cấp quốc gia.

 Image

Trong khi đó, Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương vẫn khiêm nhường tĩnh lặng, còn Chùa Hương ngay cuối thế kỷ 20 đã không còn là nơi mà đa số người Việt ở phía Nam cho là xứng đáng để tham quan vì những tạp nhạp phơi bày trên các phóng sự truyền hình đã cho mọi người thấy đó chỉ là một nơi chốn nhỏ bé, không thanh tịnh, mất vệ sinh, hỗn loạn, đầy uế tạp, và do đó không thể nào còn là nơi chốn linh thiêng.

 Image

d- Kiến Trúc Cổ & Kiến Trúc Tân

Do những đặc điểm hoàn cảnh lịch sử và con người, đa số các công trình di tích lịch sử đều nhỏ bé và không có tính sử dụng thực tiễn. Chùa Một Cột – phiên bản nhỏ bé hiện nay tại Hà Nội – khó thể là nơi các sư trụ lại tu hành để được gọi là “chùa”, còn hình ảnh Chùa Thiên Mụ ở Huế thật ra chỉ là tòa tháp không lớn, trống trơn, không phải thực chỗ tu hành tụng niệm của bất kỳ ai của ngôi chùa thấp nhỏ, cách hơn 50 mét phía sau. Niên đại của các kiến trúc như Chùa Một Cột, Lăng Lê Văn Duyệt, Cổ Thành Quảng Trị, hay Chùa Thiên Mụ, v.v., có thể gắn kết bản thân kiến trúc vào một hay những thời khắc lịch sử nước nhà, khiến các công trình ấy trở thành di tích. Song, đặc điểm tiêu cực của các di tích ở Việt Nam là đa số không là thành phần của danh thắng, như Lăng Lê Văn Duyệt và nhiều chùa cổ được xếp hạng di tích ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lại bị vây chặt giữa chốn thị tứ cửa nhà san sát hay bị vây chặt lấn chiếm bởi nhà dân, cho thấy sự nghiệp bảo tồn di sản lịch sử vừa chưa được đầu tư đúng, đủ, vừa không bao gồm khái niệm bảo tồn không gian chung quanh các di sản được bảo tồn ấy; cũng như vừa không có các quy định pháp l‎ý chặt chẽ, nghiêm minh và nghiêm khắc về bảo vệ di sản văn hóa và di tích lịch sử, khiến hầu như những di tích có khoảng không gian thích hợp lại tập trung ở Kinh Thành Huế, nơi may nhờ những yếu tố lịch sử khách quan mà bàn tay người dân không thể chạm tay vào được để xây dựng lấn chiếm.

Image ImageImageImage

Tư duy thực dụng còn thể hiện ngay trong giới tu sĩ khi ngày càng nhiều những ngôi chùa “cũ” có nét đẹp “cổ” bị phá bỏ để xây mới, thậm chí nhiều ngôi chùa như Kỳ Viên Tự ở góc Nguyễn Đình Chiểu – Bàn Cờ, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh, lâm vào tình cảnh giống y nhau khi (a) đập xong chùa là thông báo nhiều tỷ đồng của chùa bị mất cắp sạch, dù ai cũng biết không l‎ý gì chùa lại giữ số tiền mặt quá lớn mà không gởi ngân hàng lấy lãi cứu giúp bá tánh, (b) không trình báo với cơ quan công an, (c) xuất hiện quầy bàn kêu gọi quyên góp của thiện nam tín nữ giúp xây chùa tiếp, và (d) chùa vẫn nằm ngổn ngang, lấy vải bạt che nắng che mưa qua nhiều năm tháng. Số phận các ngôi chùa cũ như vậy đã không còn cơ hội thành chùa cổ để thêm số lượng di sản văn hóa và lịch sử nước nhà.

e- Triết Lý Sống Việt Nam

Nghĩa tử là nghĩa tận. Người Việt không oán thù dai. Người Việt hướng về phía trước, tích cực, như tổ tiên đã nhiều ngàn năm thiên thiên bách vạn lý trường di. Di tích: nếu còn, rất tốt; đã mất, không xấu bằng ngày tận thế. Đoàn quân xâm lược tàn ác bị đánh bại, nhưng những tướng giặc rơi đầu tử trận được chôn cất tử tế, được lập đền khói hương không ngớt. Một cách hành sử đặc thù phong cách Việt: thương hại cấp lương thực thuốc men cho tù hàng binh trả về bên kia Ải Nam Quan, và thương hại cấp khói hương cho tướng sĩ giặc trận vong hồn phải ngàn thu lưu lạc nơi này không thể về cố quốc với người thân. Không ai muốn lưu giữ hiện trạng của một khu phố Hà Nội bị bom B52 Mỹ san thành bình địa, vì việc xây dựng những tòa nhà mới, cao hơn, to hơn, đẹp hơn, trên vị trí cũ mới là sự thể hiện tư thế chủ nhân thật sự, sức mạnh đích thực, thành công vượt bậc, và chiến thắng vẹn toàn.

 Image

Người Việt không bảo tồn những bình pha lê hứng đựng nước mắt của khổ đau. Người Việt, có chăng, là lưu giữ những chứng tích đủ để hậu thế nhận thức về những tàn khốc của chiến tranh cùng các tội ác nó đem lại, chỉ để người ta yêu quý cuộc sống này hơn, biết trọng hòa bình, và biết cần phải làm gì để bảo vệ một cuộc sống trong hòa bình của chính mình, và hiểu ước muốn tương tự của các dân tộc khác.

Image

Người Việt không xem việc phô bày nhục thể nơi công cộng là thích hợp với sự trang nghiêm, nên không có những di sản tương tự tượng Bahubali vạch lá nhú chìa dương vật tự nhiên để khẳng định mình.

Image

Trong hoàn cảnh lịch sử bị xâm lược và bị đe dọa xâm lược thường xuyên, người Việt không có nhiều các di sản và di tích lịch sử để bảo tồn, nhưng đang nâng niu các di-tích-lịch-sử-cho-tương-lai như Hang Pắc Pó, địa đạo Củ Chi, địa đạo Vĩnh Mốc, Dinh Độc Lập, v.v. Điều quan trọng mang ý tư duy cần được nêu bật là bảo tồn môi trường và bảo tồn thiên nhiên cũng phải được hòa quyện vào trong nội dung bảo tồn văn hóa và lịch sử, vì rằng không gian sống lành và mạnh mới giúp các di tích, di chỉ, di vật văn hóa và lịch sử thành bảo vật mà chính thời thái bình thịnh trị như ngày nay mới là thời cơ tuyệt diệu để hậu thế Việt Nam không phải chịu cảnh thiếu thốn các minh chứng cho một gốc tích Việt vinh diệu, tự hào.

Image

3) Kết Luận: Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương

Do những tác nhân mang tính đặc thù riêng biệt kể trên, Việt Nam là xứ sở của những nghịch lý người ngoại quốc khó thể hiểu tường tận. Một đất nước có lịch sử quá đỗi hào hùng gần như độc nhất vô nhị tự cổ chí kim: bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm vẫn còn nguyên vẹn tinh thần dân tộc riêng biệt, không trộn lẫn, chẳng lẫn lộn, khó bị đồng hóa với tác nhân ngoại lai, theo phong cách sống dĩ hòa vi quý nhưng lại quật khởi, thậm chí còn chặn đứng vĩnh viễn sự bành trướng của Nguyên Mông xuống vùng Đông Nam Á khiến vó ngựa đã từng ngạo nghễ chinh phục suốt chiều ngang kỳ vĩ của toàn lục địa Á-Âu phải khuỵu gối muôn đời trước cửa Ải Nam Quan. Một đất nước có lịch sử quá đỗi hào hùng gần như độc nhất vô nhị tự cổ chí kim như thế, làm chủ bản thân mãnh liệt như thế, với tinh thần dân tộc cao vời như thế, luôn nêu gương ngay cả trong tôn sư trọng đạo và thiên về tình cảm tâm linh nhiều như thế, lại gần như thực dụng đến độ chẳng để lại gì nhiều những vật chất cụ thể để chứng minh cái hào hùng, mãnh liệt, cao vời, tình cảm, tâm linh ấy không chỉ là truyền khẩu, dệt thêu.

Thôi thì “Thời lai: phong tống Đằng Vương Các”(Nếu gặp thời thì dẫu Lầu Đằng Vương có cao đến thế gió cũng sẽ đưa ta lên tận nơi, chứ còn không gặp vận thì dẫu có vững vàng như Bia Tấn Phúc sét cũng đánh ngã nhào), nước Tàu kia tuy vẫn còn lầu Đằng Vương nhờ làm tốt “bảo tồn” cả bằng biện pháp vật thể (xây năm 653, trùng tu lần thứ 28 năm 1870 và lần thứ 29 vào năm 1989) và phi vật thể (văn học, thơ ca), vẫn chịu mất di tích lịch sử bia Tấn Phúc vì thiên tai; nhưng nhờ vậy người ta khi đến thăm Đằng Vương Các, đọc bài thơ của Tử An Vương Bột đương nhiên tin Bia Tấn Phúc đã từng tồn tại. Hoặc như xứ sở Afghanistan kia có hai tượng Phật Bamyan mỗi tượng cao 53 mét cực kỳ vĩ đại, do các sư sãi tạc khắc vào hai núi đá những 700 năm trước khi Jesus Christ của Ki-tô Giáo giáng sinh, cũng bị…nhân tai khi thủ lĩnh tối cao của Taliban là Mullah Mohammad Omar vào ngày 26/02/2001 đầy nắng gắt đã hạ lịnh cho các khẩu đại bác trên các tháp pháo xe tăng nã đạn liên hồi trong hơn một tuần, biến kỳ quan thiên cổ thành đá vụn, và nhân loại nhờ có hình ảnh lưu trữ mà biết được ở thung lũng Bamyan mênh mông A Phú Hãn ấy đã từng có hai tượng Phật sừng sững kỳ quan.

Image

Do đó, người Việt vẫn có thể tự an ủi một cách đầy triết lý rằng vạn vật sắc sắc không không, thương hải biến vi tang điền (biển cả hóa ruộng dâu), di tích hoành tráng nếu có cũng phải chịu tác động ngày nay của sự ấm lên toàn cầu đang đe dọa nhấn chìm nhiều đảo quốc, thu hẹp diện tích lắm quốc gia, và chỉ có sự sinh tồn của người dân Việt mới là quan trọng hơn cả. Song, khi lâu đài không còn tồn tại, người ta vẫn có thể nâng niu nền cũ vững chải như một chứng tích của thời hoàng kim một lâu đài từng sừng sững – và thậm chí khi cả cái nền cũng bị xâm thực thì người Việt vẫn có thể “bảo tồn” cái “bóng tịch dương” trừu tượng đã từng soi rọi nơi chốn ấy, nghĩa là “bảo tồn, bảo tàng” ngay cả cái nguyên khí, văn hóa, văn học, nghi lễ, tập tục, phong hóa của nước nhà. Bảo tồn di chỉ, di tích, muông thú, thực vật, nếp sống, phong hóa cũng là để chứng minh Người Việt thực sự Tổ Tiên, Nòi Giống, Lịch Sử. Có tổ tiên nên ắt được dạy bảo về tình đoàn kết. Có nòi giống nên ắt nhận thức được trên thế gian này chỉ có một dân tộc Việt Nam. Có lịch sử nên ý thức được rằng trên thế gian này chỉ có một đất nước Việt Nam.

Image

Người Tàu khắp thế giới tự hào về đất nước Trung Quốc vĩ đại của các kỳ quan và kỳ tích, bất kể họ là người Trung Hoa Lục Địa của Cộng Sản Đảng, Đài Loan của Quốc Dân Đảng, hay tại các China Town toàn cầu.

Người Hàn trên toàn thế giới kiêu hãnh về dân tộc Hàn duy nhất, hùng mạnh, có ý chí kiên cường, của đất nước có các kỳ quan và kỳ tích, bất kể họ là người Triều Tiên, người Hàn Quốc, hay Hàn Kiều.

Khi người Việt trên toàn thế giới đoàn kết vì một dân tộc Việt Nam duy nhất, một đất nước Việt Nam duy nhất, khi ấy người Việt mới có thể chứng minh được với phần còn lại của nhân loại rằng họ có chung một cội nguồn lịch sử thật sự vĩ đại, một gốc thật sự vững chắc do một tổ tiên thật sự đáng kính vun đắp dựng xây thành công và giáo huấn thành công về tinh thần bảo tồn những giá trị bản sắc Việt thật sự tinh túy đặc thù, những giá trị mà thiếu hoặc không có những giá trị ấy, mọi lời nói có sử dụng các cụm từ như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tổ quốc, đồng bào, hay vì màu cờ sắc áo sẽ chỉ là sáo ngữ, thiếu nghiêm túc, đưa Người Việt ra làm đối tượng để kính cẩn mời gọi ngoại nhân cười cợt và nhạo báng.

Bảo tồn văn hóa Việt và xây dựng văn hóa Việt chính là sự bổ sung đầy thuyết phục lịch sử vàng son có thật của nước Việt ta.

Image

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

A) Hình ảnh:

Deutschland Germany Allemagne. nd. Schaffmann & Kluge

Finlay, H., T. Wheeler, B. Thomas, M. Coxall, L. Logan, G. Cole, and P.A. Raj. 1996. India: a Lonely Planet Travel Survival Kit. 6th ed. Victoria: Lonely Planet Publication.

Hebberd, L. and M. Kamdar. 1998. Cultural Portraits of India. New Delhi: Cultural Portraits Production, Inc.

Hechenblaikner, L. and F. Schwarzenauer. nd. Vietnam. München: Verlag C.J. Bucher.

Mehra, S. 1993. Rajasthan: an Enduring Romance. New Delhi: Lustre Press Pvt. Ltd.

Sharma, J.C. 1997. Hindu Temples in Vietnam. New Delhi: Rakesh Taneja

Thailand in the 90s. 1995. Bangkok: Amarin Printing and Publishing Public Co. Ltd.

Tường, Võ Văn. 1992. Việt Nam Danh Lam Cổ Tự. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội

B) Chi tiết về các niên đại:

Hưu, Lê Văn, Phan Phù Tiên và Ngô Sỹ Liên. 1697. Đại Việt Sử K‎ý Toàn Thư. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội (1993).

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. 1881. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục (1998).

Khuyết Danh. nd. Đại Việt Sử Lược. TP HCM: Nhà Xuất Bản TP HCM (1993).

Quýnh, Trương Hữu, Đinh Xuân Lãm, và Lê Mậu Hân. 2002. Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – Toàn Tập. Tái bản lần 5. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục.

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.