Vấn Đề Yêu Cầu Quốc Hội Ra Nghị Quyết Về Biển Đồng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trước khi đi Hà Nội dự Kỳ họp Thứ 7, ngày 11-5-2014 tôi đăng blog bài Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc­ [5] , tuyên bố tôi sẽ yêu cầu Quốc hội phải có Nghị Quyết thật mạnh mẽ về Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông. Với trách nhiệm cá nhân trước tổ quốc và nhân dân, tôi nghiên cứu kỹ các quy định, và nhận thức 5 điều rằng

1) Chương trình dày đặc xây dựng luật và pháp lệnh Khóa XIII và năm 2014 của Quốc hội đã được quyết tại Kỳ 6 tháng 11 năm 2013 nên các thay đổi nếu cần sẽ chủ yếu tùy tình hình thực tế của quốc gia;

2) Các đề xuất điều chỉnh thay đổi chương trình trên nếu có chỉ được thực hiện theo quy trình chuyên nghiệp cẩn trọng pháp định (như thực tế chứng minh đã phải qua thảo luận tại Tổ chiều 21-5-2014 và sau đó là thảo luận tại Hội trường chiều 26-5-2014 rồi tiến hành biểu quyết thông qua chiều 30-5-2014);

3) Việc ra Nghị Quyết luôn theo quy trình: dự thảo Nghị quyết, in phát dự thảo cho Đại biểu Quốc hội nghiên cứu, họp Tổ thảo luận đề đạt ý kiến, Thường vụ Quốc hội tiếp thu để giải trình, họp toàn thể tại hội trường để thảo luận, Thường vụ Quốc hội tiếp tục tiếp thu, họp toàn thể để nghe Thường vụ Quốc hội giải trình rồi tiến hành biểu quyết thông qua – và quy trình như vậy có thể kéo dài đến hai tuần trong khi chương trình nghị sự đã rất chặt chẽ, sát sao, (và nhất là phải theo Chương trình chung đã được toàn thể biểu quyết thông qua, thí dụ như diễn tiến buổi biểu quyết ngày 30-5-2014 đã không hề có nội dung nào liên quan đến vấn đề “Nghị Quyết”);

4) Nghị quyết là một trong những gì gọi là “pháp luật” (bao gồm: luật, nghị định, thông tư, nghị quyết, quyết định, v.v.) nên có giá trị buộc toàn dân tuân thủ, thi hành, với cơ chế chế tài, trừng phạt; trong khi cái gọi là “nghị quyết về Biển Đông” nếu có lại không mang tính buộc Trung Quốc phải thi hành và càng không có cơ chế “chế tài”, “trừng phạt”; và

5) Bất kỳ điều nghiêm túc và đặc biệt là mang tính “khẩn cấp” đều có thể được nghị sĩ viết ra thành văn bản và gởi hoặc trực tiếp hoặc bằng email đến Lãnh đạo Quốc hội, chứ không phải đợi chờ đến Kỳ họp và đến buổi họp toàn thể nào có sự tham dự của báo chí mới nhấn nút phát biểu.

Thực tế sau đó còn cho thấy:

1) Ngay hôm khai mạc Kỳ họp 7 ngày 20-5-2014, Quốc hội đã nghe chính phủ (Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh) báo cáo về tình hình Biển Đông với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chủ trương, và giải pháp của Việt Nam – chứng tỏ Quốc hội cực kỳ quan tâm đến tình hình nghiêm trọng này; sau đó các tổ Đại biểu Quốc hội họp thảo luận về nội dung này vào sáng hôm sau tức 21-5-2014, trên cơ sở đó Quốc hội nhanh chóng phát hành thông cáo công bố mạnh mẽ lên án việc sai quấy của Trung Quốc – cần ghi nhớ rằng “thông cáo” là công cụ thích hợp nhất đáp ứng nhanh nhất và hiệu quả nhất đối với yêu cầu phải nêu chính kiến của Quốc hội, đồng thời bảo vệ được uy danh và uy thế của đất nước nếu “nghị quyết” bị Trung Quốc phớt lờ, không “thực hiện” và chà đạp; và rằng

2) Cơ quan của Quốc hội là Ủy ban Đối ngoại đã cực kỳ nhanh chóng, cực kỳ tích cực, cực kỳ hiệu quả khi gởi công hàm đến Liên Nghị Viện Thế Giới, tất cả quốc hội các nước, tất cả các tổ chức quốc tế, v.v., và ngay lập tức nhận được phản hồi ủng hộ của các nơi này, tạo nên thế trận ngoại giao có lợi cho Việt Nam, nhất là khi Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị Liên Nghị Viện Thế Giới của hằng trăm quốc gia vào năm 2015.

Đó là lý do tôi đã quyết định không phát biểu đề nghị Quốc hội ra Nghị quyết về Biển Đông.

Tại buổi thảo luận ở Hội trường ngày 19-6-2014 về dự án Luật Căn Cước Công Dân, ông Trương Trọng Nghĩa “xin lỗi” Quốc hội cho ông phát biểu yêu cầu Quốc hội ra Nghị quyết về Biển Đông. Nhưng mọi sự đã rất muộn màng. Quy trình ban hành một nghị quyết ở Quốc hội rất nghiêm nhặt và “lê thê”. Chưa kể hai ngày 21 và 26-5-2014 được Quốc Hội dành ra để điều chỉnh Chương trình nghị sự của Kỳ họp 7, và khi toàn thể Quốc hội thông qua chương trình ngày 30-5-2014 trong đó không có khoản nào ghi rằng Kỳ họp 7 sẽ có nghị quyết về Biển Đông thì có nghĩa rằng bất kỳ đề xuất nào sau đó dù liên quan đến Biển Đông hay không thì hoàn toàn không thể chấp nhận được. Khi vấn đề được nêu ra vào ngày Thứ Sáu 19-6-2014, thì  sáng Thứ Ba 24-6-2014 là Lễ Bế Mạc kỳ họp 7, trong khi Thứ Bảy 20-6 và Chủ Nhật 21-6 không phải là ngày làm việc, như vậy thời gian chỉ còn mỗi một ngày Thứ Hai 23-6-2014 dành cho việc thảo luận hai dự án luật quan trọng về đầu tư và thi hành án dân sự cũng như biểu quyết thông qua Luật Hải Quan và Luật Bảo Vệ Môi Trường, không bao giờ có dù chỉ một giây cho cái gọi là Nghị quyết về Biển Đông.

Cần phải hiểu ý nghĩa của nghị quyết, yêu cầu của việc ban hành nghị quyết, và tính phải chấp hành của nghị quyết. Nếu Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam, ban hành Nghị quyết về Biển Đông nhưng Tàu không “chấp hành” thì đó là cái nhục quốc thể.

Sự việc ở Biển Đông là nguy biến của quốc gia nên rất cần đến những ý kiến đúng lúc, đúng nội dung ưu thế để phát huy sức mạnh của toàn dân mà Quốc Hội là cơ quan dân cử đại diện cho dân tộc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Quy Chế Thượng Viện Nhật Bản. Thư Viện Quốc Hội, Văn Phòng Quốc Hội Việt Nam. http://thuvien.vpqh.gov.vn

[2] Hoàng Hữu Phước. 07-11-2011. Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[4] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. http://hhphuoc.blog.com/?p=342

[5] Hoàng Hữu Phước. 11-5-2014. Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=359

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.