Monthly Archives: August 2014

Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải

Hoàng Hữu Phước, MIB

Qua bức ảnh này của Thông Tấn Xã Việt Nam về cuộc hội kiến của Đại Tướng Lê Hồng Anh với Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiêm Chủ Tịch Nước Trung Quốc Xi Jinping [1] ngày 27-8-2014 ở Bắc Kinh

 1-22861

chúng ta có thể nhận thấy những chi tiết sau:

1) Về trang phục: Đại tướng Lê Hồng Anh với chức vụ Thường Trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam và dưới vai trò Đặc Phái Viên của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, đã vận bộ com-plê đen (black suit) của bậc thượng khách và chiếc cravat đỏ của ý chí quyền lực quyền uy cùng sự hào nhoáng hào hùng quyết tâm quyết liệt quyết thắng; trong khi Xi Jinping mặc bộ com-plê đen của vị chủ nhà chứng tỏ biết thế nào là cách ăn vận duy nhất đúng khi tiếp đón một thượng khách cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của đất nước Trung Hoa và chiếc cravat xanh tươi tắn vốn luôn là màu của yêu chuộng hòa bình hòa hoản hòa khí nhun nhủn nhún nhường. Phải chăng vì thất bại trong thôn tính Biển Đông nên Trung Quốc buộc phải chọn màu xanh như thường lệ thường xuyên từ thời thượng cổ tức là hễ thua trận là ngay lập tức nhá nhá màu xanh theo kiểu snake camouflage tức là cách ngụy trang của bất kỳ loài nào trong số 81 loài rắn độc mạnh nhất của 534 giống thuộc 9 giòng họ mãng xà mỗi khi rình mồi và mỗi khi sợ gặp thú săn mồi being a predator and being a prey?

2) Về tư thế của thượng khách: Đại tướng Lê Hồng Anh chứng tỏ bản thân là người am tường nghi lễ ngoại giao của đẳng cấp lãnh đạo quốc gia giữ gìn quốc thể khi ngồi với áo veston đã cởi hết khuy [2] tỏ rõ sự đường bệ của người trên kẻ trước, hoặc chí ít cũng là đấng ngang hàng ngang cơ. Ngoài ra một vị Đại tướng “thân chinh” Bắc tiến ắt không để nhấm nháp Mao Đài mà là dùng thần uy để diệu võ giương oai trấn áp đối phương, triệt tiêu ý chí đối thủ, và hiên ngang thể hiện khí phách Việt Nam. Một vị Đại tướng làm chính trị luôn ở chiếu trên so với một chính khách xuất thân thuần hành chính công quyền chưa từng trận mạc xông pha.

3) Về đặc điểm cá nhân: Đại tướng Lê Hồng Anh

 ScreenShot202

có đôi mày … “cấp tướng” rất phù hợp cho mục đích tỏ trí thần uy và sự nghiêm trang nghiêm nghị kiểu “đừng hòng giởn mặt với ta” rất tương phản với gương mặt lồ lộ sự giả lả cầu tài của Xi Jinping vốn là chiêu thức của kẻ vừa mới làm quấy làm càn làm bậy.

4) Về uy thế Việt Nam: Trung Quốc cực kỳ trung thành trung hiếu với bài bản đối ngoại trịch thượng. Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc quang vinh vĩ đại kiêm Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vĩ đại quang vinh không tiếp vị thượng khách nào không cùng đẳng cấp với y. Kỳ này Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không “ngự giá” đến Bắc Kinh, thay vào đó, Ông cử “đặc phái viên” buộc Xi Jinping phải trực tiếp hội đàm, ký kết. Mà vị “đặc phái viên” này không phải là một văn quan như theo thông lệ nhiều ngàn năm của toàn bộ các vương triều nước Việt, mà là một võ tướng, cứ như thể tuy cử đặc phái viên sang kết giao hữu hảo nhưng lại ngầm ý dọa nạt, dọa dẩm, dọa đe. Thần uy này đến nay mới thấy và sẽ là sử liệu độc đáo tuyệt vời của Việt Nam.

Xi Jinping, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc quang vinh vĩ đại kiêm Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vĩ đại quang vinh, và Lê Hồng Anh, Thường Trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam kiêm Đặc Phái Viên của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam: một tương quan lực lượng mới, đó là sự lép vế của Trung Quốc.

Trung quốc xuống nước với Việt Nam.

Sức mạnh Việt Nam muôn năm [3].

Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm!

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muôn năm!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 25-7-2014. Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/25/ai-de-ra-tap-can-binh/

[2] Hoàng Hữu Phước. 22-6-2014. Dương Khiết Trì Run Sợ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/06/22/duong-khiet-tri-run-so/

[3] Hoàng Hữu Phước. 07-7-2014. Sát Tàu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/07/sat-tau-5/

Advertisements

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự

Thế Nào Là Trung Thực

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot004

Rất ít người trong giới CEO sừng sỏ tại các công ty nước ngoài lớn (chỉ có lớn và rất lớn mới có Giám Đốc Nhân Sự quyền uy tột đỉnh) hoạt động tại Việt Nam cũng như các nhân viên chức sắc Việt Nam xuất sắc dưới quyền các CEO ấy và những người quan tâm học hỏi để theo đuổi “nghề nhân sự” không biết tôi đã là chuyên gia thực sự đầy thực tế giàu thực tiển có thực quyền về HR (tức Human Resources, thứ được nâng cấp thành Human Capital mà tiếng Việt bình dân gọi chung là Nhân Sự còn tiếng Việt quyền lực gọi là Tổ Chức Cán Bộ thuộc Tổ Chức Chính Quyền). Hôm nay tôi nói về HR vì LinkedIn vừa gởi thư mời tôi viết bài theo thể loại perspectives. Do  tôi đang quá bận rộn, mà nếu không đáp ứng thì có khi LinkedIn sẽ thất vọng sau thời gian thấy tôi viết comments phê phán bằng tiếng Anh đối với các ý kiến ngắn của các doanh nhân nước ngoài trên LinkedIn, hoặc các câu danh ngôn mà họ tâm đắc và đăng tải cho cộng đồng, tôi đành phải nhanh chóng suy diễn rồi chọn chủ đề HR vốn luôn không thiếu trong danh mục các quan tâm chính của giới kinh doanh. Tôi nhớ khi xưa trong số hàng ngàn bài viết của tôi bằng tiếng Anh đăng từ năm 2005 trên Yahoo!360° có bài về HR nên lục tìm và điều chỉnh lại (để không những thành loại perspectives mà phải là perspective đẳng cấp cao nhất tức đáp úng các chuẩn mực của Formal English) rồi đăng ngay. Do có chỉnh sửa các chủ ngữ nên có bỏ sót vài chỗ, và bài đăng lại dưới đây đã khắc phục hai hay ba chỗ sót đó.

Cũng xin bày tỏ rằng tôi không thích dịch ra tiếng Việt những tác phẩm thơ-văn tiếng Anh của chính mình, và rằng tôi luôn có nhận định tuyệt đối đúng rằng dịch Việt-Anh luôn khó hơn dịch Anh-Việt và chỉ có bậc kiệt xuất mới giỏi dịch Việt-Anh, còn không bất kỳ “nhà dịch thuật” Anh-Việt nào có tên trong danh sách những tay kiệt xuất về tiếng Anh cả.

Kính mời các bạn quan tâm đọc phần nghĩa tiếng Việt bên dưới bài tiếng Anh sau đây.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

To Lie or Not to Lie, It’s an HR Question

Hoang Huu Phuoc

For decades the Western theoreticians and experts of Human Resources have wasted millions of metric tons of wood logs, the materials for paper pulp for the paper manufacturing industry, to write huge books to offer advice from the sages that whenever a person applies for a job elsewhere then is invited for an interview, he/she should not say anything bad about his/her current or previous employers. And actually this advice makes practical people both feel surprised and laugh to a critical suffocation! The intelligentsia of Europe and America are advising people worldwide to tell lie, violating the very basic ethics of business conduct that to tell lies to the management of a company right from the interviewing days will never be an honest approach for getting a job there. To be (a liar) or not to be (a liar): this is a human resources issue which haunts particularly those in Asia having long years of human-resources-related responsible undertaking.

First of all, it need clarify the difference between (a) telling the truth of the bad things of a current or previous employer,  and (b) bad-mouthing, with the latter never being a proper and righteous conduct. If an employer is really good, why that staff leaves the company? Is he/she leading a commonplace money-chasing life then? Or living an irresponsibly adventurous life, hopping from job to job every single day all the time? Or simply being dismissed again and again because of problems of ethics or conflicts of interests or disciplinary reasons? People of proper mind may  feel like dozing off at hearing such rhetorically nice phrases of heartfelt reasons for a festival-like resignation, e.g. wishing to take a more challenging work, or to join a multinational with fabulous opportunities for self-development, or the like, even though the current or previous bosses and their companies are said by candidates as so uniquely excellent.

To prove that he/she is a confident ego, the person need tell the truth in a very calm and self-possessed manner, as if such truth “were” an as-a-matter-of-factly obvious thing so popularly known by many people in this market. If job seekers follow such advice to falsely tell imaginarily good things on every not-so-good thing, this means (a) basically they are not of an ethical type, (b) they insult the interviewer by assuming that this HR expert prefers set or fixed lies, and (c) they volunteeringly encourage or grant an absolute right to the interviewer or employer to do bad or dirty things against them in future basing on their implied assurance that such humiliating secrets-to-be will never be revealed to the next employer or whomsoever it may be.  They use a negative approach to negatively hand to the potential employer a negative belief that his/her negative conducts are willingly accepted and he/she will be safe to manage a business with negative modus operandi without any fear for even a legal dispute or punishment to such negative conducts.

Whilst sages of the civilization of the West spread their lengthy speeches in hard-cover books or curricula much blindly applied and followed by most of HR generalists, experts in Vietnam should set their own practice for recruitment and selection of staff through interviewing with encouraging candidates to confidently and openly talk about their so-called suffering, if any, with current or previous employers, and the following surprisingly excellent results may become obvious:

1) Psychologically, the candidates can talk about the suppression, if any, hence relieving themselves from negative hindrance to a higher morale and healthier attitude within the new environment in case they are offered jobs herein;

2) From the above, interviewers can learn at least something about each candidate’s personality and weakness or strength against factual tough conditions, facilitating the decision for a selection;

3) From the above, the interviewers understand what conducts of a boss-in-general to be most loathed by employees leading to terrible turnover and serious retention, thus improving their own expertise and profession of an independent consultant;

4) And last but not least, the interviewers can select the right person for the right “boss” to ensure a harmonious and supportive working-togetherness.

Those staff interviewed by such experienced interviewers then selected are of the most qualified, talented, co-operative, committed, resourceful, loyal, and particularly harmoniously strong, simply because from the beginning their problems are listened to with sincere respect, all psychological leftovers relieved, and the employment offer if handed to them making them believe that such negative things they suffered in the past will not be met in the new company under the responsible control of human resources.

The above is against the not-positive concept which has for ages dominated the behavioral aspect of humankind in this regards.

Nghĩa tiếng Việt:

Nói Dối Hay Không Nói Dối: Vấn Đề Hóc Búa Của Nhân Sự

Hoàng Hữu Phước

Bao thập niên nay các nhà biện thuyết và chuyên gia trong lĩnh vực Nhân Sự đã làm tiêu tốn hàng triệu mét khối gỗ súc, thứ nguyên liệu để tạo ra bột giấy cho ngành kỹ nghệ sản xuất giấy, để viết những quyển sách dày cộm ban phát những lời khuyên của những đấng thông tuệ rằng thì là mà bất cứ khi nào ai đó nộp đơn xin việc ở nơi nọ nơi kia chốn đó chốn này và được mời đến phỏng vấn thì chớ có mà dại dột nói bất kỳ điều gì xấu về sếp hiện nay hay trước đây của mình. Thật ra thì kiểu khuyên bảo như thế chỉ tổ làm những ai có kinh nghiệm thực tế đầy mình vừa ngạc nhiên vừa phá ra cười lăn đến chết mất! Giới trí thức Âu Mỹ khuyên thiên hạ toàn thế giới phải nói dối ư? Vi phạm những nguyên tắc đạo đức rất cơ bản liên quan đến cung cách tư thế của người đi làm, đó là: nói dối trước giới lãnh đạo công ty ngay tại thời điểm phỏng vấn không bao giờ là cách lương thiện để dành lấy một việc làm! Do vậy, việc có là kẻ nói dối hay không đã trở thành một vấn nạn về nhân sự bao năm qua đặc biệt ám áng những nhà tuyển dụng Á Châu khi thực thi trách nhiệm có liên quan.

Trước tiên, cần làm rõ ý nghĩa khác biệt giữa (a) kể sự thật về những điều tồi tệ của người sếp hiện nay hoặc trước đây, và (b) độc mồm độc miệng nói xấu vị ấy, mà cái thứ hai này không bao giờ là cách đàng hoàng đúng đắn! Nếu người sếp thật sự tốt, sao tay ứng viên này lại bỏ ra đi? Hóa ra anh ta hay chị ta là kẻ sống cuộc đời tầm thường chạy theo tiếng gọi của kim tiền sao? Hay anh ta/chị ta vô trách nhiệm thích vi vu nên nhảy loi choi từ công ty này qua công ty kia quanh năm suốt tháng? Hay anh ta/chị ta bị đuổi việc hoài đuổi việc hủy vì có vấn đề về đạo đức, xung đột quyền lợi hay những lý do kỹ luật? Những ai có đầu óc nghiêm túc có thể sẽ ngủ gục khi nghe những ngôn từ tốt đẹp hoa mỹ từ miệng người xin việc nêu những lý do đầy xúc cảm cho sự nghĩ việc đầy hân hoan của người ấy, chẳng hạn như nào là tôi nghĩ việc ở đó vì muốn tìm việc mới có tính thử thách cao hơn, nào là tôi muốn phục vụ một công ty đa quốc gia đầy ắp những cơ hội để tôi tự phát triển bản thân, nào là…, nào là…, cho dù sếp hiện nay hoặc trước đây của tôi và công ty của ổng rất tốt, rất ư là tốt, tốt hết xảy luôn.

Để chứng tỏ mình là một chủ thể tự tin, người xin việc nên nói lên sự thật với phong thái điềm tĩnh và tự chủ, cứ như thể thông tin về những sự thật ấy là điều rành rành ra đó mà trong thị trường lao động này chẳng mấy ai mà không biết. Còn nếu đi xin việc mà lại nghe theo mấy lời khuyên bá láp của các học giả Âu Mỹ rồi nói xạo về những điều tốt đẹp hoang đường đối với mọi sự tệ hại có thật thì chỉ tổ cho thấy người nói  (a) không có đạo đức, (b) nhục mạ người phỏng vấn vì trong đầu cho rằng vị chuyên gia HR đó thích nghe những lời dối trá định sẵn, và (c) tình nguyện khuyến khích  hoặc trao cho người phỏng vấn hoặc sếp của công ty mới cái quyền lực tuyệt đối  được phép dỡ trò xấu xa ti tiện trong tương lai với người đang xin việc dựa trên sự bảo đảm mặc định của y rằng những bí mật đó sẽ không bao giờ bị y tiết lộ cho người sếp kế tiếp ở công ty kế tiếp. Những người xin việc kiểu này đã dùng cách tiêu cực, trao cho vị có-thể-thành-sếp-của-mình sự tin tưởng tiêu cực rằng những hành vi tiêu cực của sếp được hân hoan chấp nhận nên sếp sẽ an toàn vận hành công ty với phương cách tiêu cực mà chẳng mảy mai e sợ gì đối với ngay cả kiện tụng chốn pháp đình hoặc sự trừng phạt đối với các hành vi tiêu cực ấy.

Trong khi những nhà hiền triết chốn trời Âu quảng bá những tuyên bố dài thườn thượt trong những quyển sách đóng bìa da cứng hoặc những giáo trình được mù quáng tuân theo và áp dụng bởi hầu hết các chuyên viên nhân sự, thì các chuyên gia HR ở Việt Nam nên thiết kế riêng cho mình những phương pháp tuyển chọn và tuyển dụng nhân sự thông qua việc phỏng vấn có nội hàm khuyến khích ứng viên tự tin thoải mái nói về những cái gọi là sự chịu đựng khổ ải – nếu có – về các sếp tại các công ty hiện nay hay trước đó, qua đó sẽ nhận ra những hiệu quả đáng ngạc nhiên sau:

1) Về mặt tâm lý, ứng viên có thể nêu ra những điều đã phải chịu đựng – nếu quả thực đã trải qua – và nhờ đó thoát được gánh nặng tiêu cực để có tinh thần tốt hơn, lành mạnh hơn trong môi trường làm việc mới trong trường hợp được tuyển dụng vào công ty này;

2) Từ kết quả trên, các chuyên viên phỏng vấn có thể học hỏi được chí ít một điều gì đó nơi mỗi ứng viên về tính cách, điểm mạnh cũng như điểm yếu của người ấy khi đối mặt với những điều kiện gay go thực tế, từ đó sẽ có quyết định tuyển chọn dễ dàng hơn;

3) Cũng từ kết quả trên, các chuyên viên phỏng vấn có thể hiểu biết những hành sử nào nơi một vị sếp nói chung bị nhân viên ghét nhất, khiến dẫn đến sự sa sút thảm hại cả về doanh số và tỷ lệ duy trì nhân lực ở công ty, từ đó các chuyên viên phỏng vấn hoàn thiện tay nghề và nghiệp vụ tư vấn nhân sự độc lập của chính mình;

4) Điều cuối cùng song không kém phần quan trọng ở đây là các chuyên viên phỏng vấn có thể tuyển chọn được đúng nhân sự cho đúng người quản lý hầu bảo đảm sự phối hợp làm việc nhịp nhàng tương tác cùng nhau giữa họ với nhau.

Những nhân viên được chính những chuyên viên phỏng vấn dày dạn kinh nghiệm như thế phỏng vấn và tuyển dụng sẽ là lực lượng nhân sự có năng lực nhất, tài năng nhất, có tinh thần hỗ tương nhất, tận tụy nhất, đa năng nhất, trung tín nhất, và đặc biệt hài hòa mạnh mẽ nhất, đơn giản vì ngay từ đầu tiên đến công ty xin việc, những vấn nạn của họ đã được lắng nghe với sự trân trọng chân tình, khiến các lấn cấn tâm lý được giải tỏa, và nếu quyết định tuyển dụng được trao vào tay họ sẽ khiến họ tin tưởng rằng những tiêu cực họ đã phải trải qua sẽ không bao giờ bị lập lại nơi công ty mới dưới quyền năng đầy trách nhiệm của Phòng Nhân Sự.

Ý trên nhằm chống lại kiểu tư duy không tích cực bao đời nay đã khống chế cách hành sử của nhân loại trong lĩnh vực nhân sự này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Thư Gởi Thủ Tướng

Về Dự Toán Chi Trong Lĩnh Vực Giáo Dục

Hoàng Hữu Phước, MIB

bb

Trong Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 [1] tôi có liệt kê những thư kiến nghị tôi đã viết gởi các lãnh đạo Nhà Nước (và Thành phố Hồ Chí Minh [2]) và có ghi chú rằng sẽ dần tải đăng cho công chúng tham khảo một số thư có nội dung thuộc những vấn đề đáng được quan tâm hoặc có nhiều quan ngại, nhưng không thuộc loại cần bảo mật. Sau đây là bức thư tôi đã gởi đến Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII, liên quan đến vấn đề giáo dục.

*********

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Thủ Tướng Chính Phủ

Bản sao kính gởi:

              Chủ tịch Quốc hội

              Các Phó Chủ tịch Quốc hội

              Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

              Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

              Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

              Bộ trưởng Bộ Giáo Dục

              Bộ Trưởng Bộ Tài Chính

Kính thưa Thủ Tướng:

V/v :  Góp ý về Dự Toán Chi Lĩnh Vực Giáo Dục – Đào Tạo – Dạy Nghề trong  Báo Cáo Phân Bổ Ngân Sách Trung Ương Năm 2014 của Chính Phủ

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Sau khi nghiên cứu Báo cáo Phân bổ Dự toán Ngân sách Trung ương năm 2014 của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thay mặt Chính phủ trình bày tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy và đào tạo từ những năm 1980 đến nay;

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân đối với nội dung II.1.d trong Báo cáo Phân bổ Dự toán Ngân sách Trung ương năm 2014 liên quan đến phần dự toán chi lĩnh vực giáo dục – đào tạo – dạy nghề như sau:

1) Nội dung dự toán:

Theo Báo cáo, trong số dự toán 30.360 tỷ đồng là tổng chi ngân sách cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề, sẽ có 1.004 tỷ đồng dành cho các khoản sau:

– 409 tỷ đồng cho đề án đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nước ngoài

– 210 tỷ đồng cho đề án đào tạo bồi dưỡng ở nước ngoài cho cán bộ lãnh đạo, quản lý

– 425 tỷ đồng cho đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng

 

2) Ý kiến tiền đề:

Tuy các khoản đầu tư cho lĩnh vực giáo dục – đào tạo – dạy nghề không bao giờ là đủ nhưng sự phí phạm dù nhỏ trong lĩnh vực này sẽ hủy phá nghiêm trọng ý nghĩa  của đầu tư; vì vậy, trước khi nêu các kiến nghị, tôi xin được làm rõ một số vấn đề như sau:

a- Ý nghĩa của các học vị: Người Việt Nam thường ít quan tâm đến ý nghĩa thực chất của các học vị nên thường mặc định rằng thạc sĩ cao hơn cử nhân, và tiến sĩ cao hơn thạc sĩ. Thực chất là:

– Tú tài: cho biết một người đã được “dạy” tức “giáo dục” đầy đủ để làm một công dân có hiểu biết về mọi tri thức căn bản cho một cuộc sống có trách nhiệm. Do đó, trung học thuộc phạm vi của “giáo dục” tức “education”.

– Cử nhân: cho biết một người được “đào tạo” xong cho một nghề chuyên môn thuộc một lĩnh vực cơ bản có kèm theo một số những kiến thức phụ trợ có liên quan và không liên quan đến chuyên môn ấy, để có thể làm việc với chuyên môn đó một cách hiệu quả hơn cho cuộc sinh nhai. Do đó, đại học (gồm cả cao đẳng) thuộc phạm vi “đào tạo” tức “training”.

– Thạc sĩ: cho biết một người đã học xong những kiến thức chính và phụ trợ theo diện rộng nhưng tập trung sâu hơn và có liên quan đến một lĩnh vực chuyên môn mà người ấy đã được đào tạo trước đó để đạt bằng cử nhân và sau khi đã làm việc cho chuyên môn đó để có kinh nghiệm thực tế hầu đáp ứng các yêu cầu mà chương trình thạc sĩ đặt ra.

– Tiến sĩ: cho biết một người đã có một luận án đạt yêu cầu về một chủ đề nhỏ trong một chuyên môn sâu của một lĩnh vực thường liên quan đến chuyên môn người ấy theo học ở thạc sĩ. Thí dụ tiến sĩ y khoa với luận án về tâm thất trái, hay tiến sĩ thần học với luận án về Thượng Tọa Bộ, hay tiến sĩ văn học sử ở Liên Xô trước đây với luận án chứng minh ngày sinh chính xác của Pushkin để chấm dứt một tranh cải lịch sử, hoặc Việt kiều yêu nước Trần Thế Độ ở Nhật Bản là tiến sĩ với luận án về một chủng sinh vật  thuộc ngành giáp xác, v.v.

b- Từ các ý nghĩa trên, việc đầu tư cho đề án đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nước ngoài nhất thiết phải cho nhu cầu riêng của nhà nước và cần nhấn mạnh vào nội dung “khoa học kỹ thuật” vì “khoa học xã hội” có thể đào tạo trong nước để tiết kiệm ngân sách.

c- Đối với đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng, vì cần xem nhà nước muốn đặt hàng đào tạo một vị tiến sĩ cho công việc gì, vì thạc sĩ có thể dạy một môn chuyên ở đại học, còn tiến sĩ là nhà nghiên cứu chuyên  sâu chỉ có thể dạy những gì người đó nắm được lúc là thạc sĩ và dạy những gì liên quan đến đề tài luận án tiến sĩ chuyên biệt của người đó, hoặc hướng dẫn sinh viên cách làm luận án, hoặc chấm điểm luận án tiến sĩ của người khác có cùng chủ đề nghiên cứu, v.v., chứ không phải bằng cấp tiến sĩ chứng nhận họ dạy tất cả những gì cao sâu của cả một bộ môn. Do đó, khi tuyển chọn người cho dự án này, cần phải thẩm định đề tài mà người ấy định theo đuổi để trình luận án để xem có cần thiết hay không, có sẽ góp phần vào trình độ của người ấy để phục vụ cho đất nước hay không, vì không thể cử người đi học chỉ để sao cho có học vị tiến sĩ để đại học có đầy đủ số lượng cơ hữu, khiến phí phạm ngân sách, còn trình độ các trường đại học vẫn luôn thấp, và người dân vẫn phải ra nước ngoài du học.

d- Ngoài ra, khi ngân sách đã phải chi cho việc đào tạo giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng, phải chăng nhà nước không sử dụng lực lượng thạc sĩ và tiến sĩ sẵn có từ những người dân tự túc, tự đầu tư cho việc học và đạt được những trình độ và học vị ấy. Cần phải tôn vinh và sử dụng những người tự túc này để khuyến khích sự tự đầu tư cho việc học nơi người dân, vì không thể mặc định rằng chỉ khi sự đầu tư đó từ ngân sách nhà nước thì người đi học mới thành tài và mới phục vụ đất nước hiệu quả hơn.

 

3) Kiến nghị:

Để sự đầu tư ngân sách vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo – dạy nghề được bảo đảm phát huy hiệu quả, tôi kính đề nghị:

a- Tôi được tiếp cận nội dung chi tiết và đầy đủ của cả ba dự án trên.

Mục đích: yên tâm về chất lượng của đề án; nghiên cứu và góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, và hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

b- Tôi được cấp tài liệu chi tiết về hai nội dung “đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nước ngoài” và “đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng”, trong đó có các nội dung như: danh sách người thụ hưởng tức tên họ những ai đã được gởi đi đào tạo, họ đi từ đơn vị nào, đến học tại nước nào, tại trường nào, học ngành gì, thời gian học, văn bằng đã đạt được, công tác hiện nay tại đâu, và trình độ thực chất hiện nay của họ cùng thành tích hiện nay của họ (nếu nơi đào tạo và ngành đào tạo thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia thì không ghi vào tài liệu).

Mục đích: giám sát sự giám sát của cơ quan chủ quản đối với vấn đề mục tiêu, chất lượng, hiệu quả, v.v.; có bằng chứng chứng minh các cơ quan chủ quản đã thực sự có trách nhiệm cao trong sử dụng ngân sách nhà nước thật đúng đắn qua theo dõi và sử dụng cũng như đánh giá thường xuyên nguồn nhân lực đã qua đào tạo này; từ đó góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, và hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

c- Tôi được cấp bảng liệt kê các môn học bồi dưỡng ở nước ngoài mà các cán bộ lãnh đạo và quản lý (chỉ tập trung vào số lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp nhà nước và các viện, trường) đã được cử đi tham dự theo dự toán ngân sách trung ương các năm trước.

Mục đích: giám sát sự giám sát của cơ quan chủ quản đối với vấn đề mục tiêu, chất lượng, hiệu quả, v.v., từ đó góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, và hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

d- Tôi được cấp bảng liệt kê các môn học bồi dưỡng ở nước ngoài mà các cán bộ lãnh đạo và quản lý được cử đi tham dự theo dự toán ngân sách trung ương 2014, và các tiêu chuẩn áp dụng trong lựa chọn người được hưởng suất học bồi dưỡng ở nước ngoài.

Mục đích: tìm hiểu xem ngân sách có gồm  khoản chi phí cho phiên dịch viên và có nội dung môn học bồi dưỡng nào có thể được đào tạo trong nước hay không, v.v.; từ đó góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Thủ Tướng đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Thủ Tướng.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2] Hoàng Hữu Phước. 09-12-2013. Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh Về Tên Đường. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/18/nghi-si-hoang-huu-phuoc-gop-y-voi-hoi-dong-nhan-dan-tp-hcm-ve-ten-duong/

Quyền Lực Thứ Sáu

Hoàng Hữu Phước. MIB

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Từ thời trung cổ đã hình thành ba loại tập đoàn quyền lực gồm Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp, tất nhiên dưới những tên gọi khác nhau tùy thời kỳ và khu vực, và cả ba nhóm này đều thuộc lĩnh vực trị quốc tức dưới quyền năng của chính quyền cai trị cai quản quốc gia hay lãnh thổ.

Đến khi thế kỷ XX nâng cao vị thế của báo chí và truyền thông trong cả ba vai trò (a) tiếng nói chính quy của tập đoàn quyền lực trị quốc trong đối nội và đối ngoại để là các thông tin được đăng tải lại trên các phương tiện truyền thông của nước khác; (b) công cụ phục vụ chỉ riêng cho quyền lợi hay sách lược của tập đoàn quyền lực trị quốc để dẫn dắt lèo lái dư luận trong nước tiến đến hoặc chủ động đồng thuận hoặc thụ động đồng tình để bị ‘xỏ mũi” hay “che mắt” đối với các vấn đề nội trị hay đối ngoại; và (c) phương tiện phát triển hoặc ru ngủ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống dân sự từ văn hóa đến giải trí, từ giáo dục đến thể thao, v.v. và v.v., như một ngõ rẽ khác để hướng sự quan tâm của người đọc nào không dành thời gian cho các nội dung mà vai trò ở điểm a và điểm b xoay xoáy vào; người ta mới “phong cho” báo chí và truyền thông danh xưng quyền lực thứ tư tức là thứ quyền lực “cộng thêm” cho ba thứ quyền lực trên, dưới hai tấm áo khoác choàng che đậy ngụy trang trên đó có in chữ bằng mực highlight chớp chớp chói lòa của nào là “tự do ngôn luận” và nào là “giám sát phản ảnh các hoạt động công quyền” đối với các cơ quan báo chí – truyền thông nhất là ở khu vực tư nhân cho tăng độ đậm nét của gam màu “độc lập – tự do – dân chủ”[1].

Thế kỷ XXI trong bao điều kỳ vĩ của nó đã bao gồm sự trỗi vươn quá mạnh mẽ của internet, những tưởng tạo thêm cánh, đẩy thêm đà cho báo chí – truyền thông, nhưng không ngờ đã vượt khỏi tầm khống chế của cả báo chí – truyền thông lẫn tập đoàn trị quốc, khiến cả 4 thế lực này vào giai đoạn đầu của Thế Kỷ XXI đã chưa có biện pháp không chế hữu hiệu, và phải thụ động chứng kiến sự xuất hiện của “quyền lực thứ năm” thoát thai từ hoạt động năng nổ của “quyền lực thứ tư” của thế kỷ trước đó (khi truyền thông được biến thành vũ khí “chọt” và “chọc” vào các nước có thể chế chính trị nào hoặc giống mình như các nước Nam Mỹ hoặc không giống mình như Việt Nam mà mình ghét lồng ghét lộn hòng tạo nên được lực lượng chọt chọc tại chỗ tự phá hoại sự ổn định của các nước này).  Các tác giả như Eric Schmidt và Jared Cohen qua tác phẩm The New Digital Age – Transforming Nations, Businesses, and Our Lives tức Tân Kỷ Nguyên Kỹ thuật Số – Chuyển Hóa Các Quốc Gia, Các Doanh Nghiệp và Cuộc Sống Của Chúng Ta, được cho rằng đã nói đến thứ quyền lực hình thành từ nhiều tỷ người kết nối qua không gian mạng xã hội [2] thuộc những cá nhân ẩn danh hoặc không ẩn danh, đơn lẻ hoặc bầy đàn [3], có học hoặc chỉ ở cấp vừa xóa mù chữ, ở cá thể hoặc cá-thể-tự-sản tức một mình tạo hàng trăm hàng ngàn địa chỉ ảo mang tên ảo khác, ở ngay tại địa phương lô-can hay ở rừng rậm hải ngoại ô-vơ-xi giả danh nội địa hay ngược lại, do lực lượng chọt chọc tại chỗ tác động tâm lý người khác để đám đông phá hoại ổn định chính trị tại một quốc gia hoặc tự thân tiến hành chiến tranh từ mạng hay khủng bố từ mạng để tự phá hoại tiềm lực một quốc gia hay gây ra thảm họa hầu gia tăng xung đột vũ trang tại quốc gia khác.

Từ vị trí chủ động khai sinh ra quyền lực thứ tư (y như việc Mỹ đã tạo ra Al-Qaeda binh hùng tướng mạnh vũ khí cực kỳ tối tân tiền của cực kỳ dồi dào để đánh thắng Liên Xô, và sau đó Mỹ xâm lược đánh bại Iraq chỉ vì Iraq là đại thù của Al-Qaeda, để rồi Mỹ bị Al-Qaeda lực lượng khủng bố hùng mạnh toàn cầu gây đại họa cho chính nước Mỹ), các tập đoàn trị quốc bó tay trước sự biến thể thoát thai của quyền lực thứ năm đến độ vẫn còn đang vùng vẩy trong chiếc gông cùm “tự do ngôn luận” và “tự do dân chủ” cũng như “nhân quyền” chính họ đã thêu dệt nên trên chiếc cẩm bào. Sự xuất hiện của những quy định kiểm tra nghiêm ngặt hơn của các chính quyền nước lớn đối với internet và mạng xã hội để khống chế quyền lực thứ năm đã ngay lập tức phải đối mặt với sự bùng nổ giận dữ của những người dân đã thành những giáo dân tuyệt đối tôn sùng đạo tự do ngôn luận. Và trong khối hỗn mang ấy đột nhiên có sự giống nhau đến kỳ lạ trong các quốc gia khác nhau về thể chế chính trị, các quốc gia đồng minh với nhau, các quốc gia đối đầu nhau, trong các phương án siết chặc đối phó với hai đại họa từ không gian mạng: (a) sự đột nhập của khủng bố vào các mạng an ninh quốc phòng nhằm khống chế các kho vũ khí hạt nhân chiến lược để phá hoại cơ sở vật chất tiêu diệt một quốc gia, và (b) sự sử dụng phương tiện truyền thông “chùa” của những kẻ thù của chế độ để kích động bạo loạn nhằm xô ngã một chính quyền. Và cũng trong khối hỗn mang ấy đột nhiên có sự xuất hiện của quyền lực thứ sáu [4] do những cư dân mạng ái quốc mà sự bất bình trước sự bá đạo của quyền lực thứ tư ngày càng hai mang tệ hại cũng như sự bá đạo của quyền lực thứ năm ngày càng nguy hiểm đối với sự tồn vong của đất nước.

Cụ thể hơn, quyền lực thứ sáu nằm trong tay những người đoan chính thuộc nhiều thành phần xuất thân khác nhau, kể cả nhà tu hành, nhà trí thức [5], nhà ái quốc [6] nói chung tức bao gồm bất kỳ những cư dân mạng có nghĩa khí, với nghĩa dũng, chuộng nghĩa lý, sở hữu sự sáng suốt, lòng dạ công minh, sống theo lẽ công bằng, và hành sử thuận công tâm. Những thí dụ về những người đang thực hiện quyền năng của quyền lực thứ sáu ngày càng có rất nhiều và hình thành lực lượng hùng mạnh của chính tâm chính đạo [7]. Gần đây nhất, bài viết Mất Niềm Tin – Bản Án Xứng Đáng Nhất Dành Cho RFA của John Lee [8], đại diện chính tâm cho quyền lực thứ sáu phán phê mạnh mẽ cái mụn nhọt điển hình của quyền lực thứ năm.

Nói một cách khác, khi có những nhóm bị gán cho cái tên “thân Cộng” thì tất nhiên có những bầy đàn tự nhận mình thuộc phe “chống Cộng” (thật ra thì theo như tôi đã nhiều lần viết trên các blog, nếu chính xác hàn lâm danh chính ngôn thuận thì phải gọi là “thân Việt” và “chống Việt” vì “Cộng” là một chủ thuyết mà theo khuynh hướng tự do ngôn luận thì đe dọa ai theo chủ thuyết “Cộng” nghĩa là chà đạp tự do ngôn luận, chà đạp nhân quyền, mà chỉ có bọn mọi rợ mới hành xử như thế trong thời đại văn minh này) và khi bầy đàn “chống Cộng” sa đà quá lố (chẳng hạn trước đây bọn này léo nhéo láo xược gọi Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ duy nhất của toàn bộ nòi giống Việt Nam thời cận đại và hiện đại được cả loài người và tất cả các chính phủ các nước kính trọng kính nể kính yêu, là “cẩu tặc”) khiến  hình thành lực lượng hùng mạnh ghê gớm đầy thịnh nộ của những người “chống chống-Cộng” bao gồm cả những người trước đó không quan tâm đến chính trị, không quan tâm đến “Đảng Cộng Sản Việt Nam”, chẳng quan tâm đến “Cộng Hòa”, chỉ có một điều duy nhất trong tâm khảm của sự công tâm rằng Hồ Chí Minh là vĩ nhân đầy tự hào của dân tộc Việt Nam, đã bắt đầu đăng đàn từ đầu Thế kỷ XXI (năm 2000) đấu khẩu mắng lại bầy đàn “chống Cộng” ban đầu theo kiểu bình dân (chẳng hạn xuất hiện kiểu phản ứng dữ dội rằng các lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hòa không được bất kỳ chính phủ nào của bất kỳ nước ngoài nào kính trọng kính nể kính yêu nên thân phận chỉ là “phân của cẩu”) về sau hoàn toàn trí tuệ, hùng biện, và có cả giá trị sử liệu và nghiên cứu thâm thúy. Chính sự đồi bại, lộng hành, vô chính phủ, dễ bị tổn thương, và dễ bị lợi dụng, dễ bị lạm dụng bởi tập thể kẻ xấu, kẻ gian, kẻ ác, kẻ tội phạm, và kẻ khủng bố của quyền lực thứ năm hình thành từ mạng xã hội của Tân Kỷ Nguyên Kỹ Thuật Số, đã dẫn đến sự vươn lên của quyền lực thứ sáu sử dụng cùng những thành tựu của cái gọi là Tân Kỷ Nguyên Kỹ Thuật Số để khẳng định tính chất hiệp sĩ vệ quốc chính đạo của mình, cái tính chất thuần Việt đã luôn khiến người Việt đoan chính giúp được các vương triều nước Việt đánh bại bất kỳ đoàn quân xâm lược nào và đến từ bất kỳ đâu.

Quyền lực thứ sáu do đó là tên gọi của Cộng đồng những bloggers ái quốc chân chính bắt đầu từ Việt Nam và ắt sẽ thành khuôn mẫu quyền lực mới ở các nước khác trong một thời gian rất không xa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 14-8-2013. Mạng Xã Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=210

[2] Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn. http://hhphuoc.blog.com/?p=222 hoặc https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/20/hoi-chung-bay-dan/

[3] Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

[4] Tên gọi do Hoàng Hữu Phước khai sinh.

[5] Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/14/the-nao-la-nha-tri-thuc/

[6] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. (Đăng lại từ emotino.com) http://hhphuoc.blog.com/?p=93

[7] Hoàng Hữu Phước. 27-7-2014. Nguồn Sáng Cho Tinh Thần. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/27/nguon-sang-cho-tinh-than/

[8] John Lee. 6-2014. Mất Niềm Tin – Bản Án Xứng Đáng Nhất Dành Cho RFA. http://www.viethaingoai.net/mat-niem-tin-ban-an-xung-dang-nhat-danh-cho-rfa.1.html

Tứ Đại Ngu

Tứ Đại Ngu

Hoang Huu Phuoc, MIB

05-8-2014

Vào Tết Quý Tỵ tôi có đăng bài “Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)” trên Emotino.com (sau đó là đăng song hành trên blog hhphuoc.blog.com) là trang web của giới doanh nhân Việt Nam, nơi tôi đã đăng cả ngàn bài viết bằng tiếng Việt từ năm 2008, sau khi cả ngàn bài viết bằng tiếng Anh của tôi phải ngưng lại do Yahoo! 3600 đã ngu xuẩn đóng cửa. Do đa số các bài viết của tôi là ca ngợi đất nước Việt Nam và mắng mỏ toàn bộ bất kỳ kẻ nào xúc xiểm Việt Nam (tức xúc phạm chính phủ Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam, chế độ chính trị Việt Nam, v.v.), bọn chống Cộng và bè lũ hai mang tất bực tức bực bội bực dọc nên ngay khi thấy xuất hiện bài viết trên, chúng (thật ra tôi đã biết ngay rất rõ đích thị là ai) lập tức chui lỗ thú nuôi vào Emotino xóa ngay bài…Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt [1] rồi mới gắn hình bỡn cợt vào bài Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu). Với cung cách bậc trưởng thượng, không màng đến bọn bất tài vô dụng chỉ giỏi chui lỗ thú nuôi chứ bó tay run rẩy tiểu són không thể tấn công các trang web của giặc Tàu, tôi không hề yêu cầu chủ nhân của Emotino.com phải làm gì; trái lại, bình tĩnh xây dựng nhiều blog cá nhân khác cho riêng mình. Ngay sau đó, thế giới của bọn chống Cộng và bọn hai mang hèn hạ ẩn danh dấu biệt tên cha sinh mẹ đẻ thi nhau làm cái việc mà từ ngữ tiếng lóng bần hàn bần tiện bần cùng của chúng gọi là “ném đá”, và tất nhiên bọn hai mang của giới báo chí cũng rình rập cơ hội từ dạo tôi phát biểu về Luật Biểu Tình thắng lợi quá lớn ở nghị trường để thơ ngây ra sức đẩy tôi ra khỏi Quốc hội. Tôi đã xuất chiêu làm tiu nghỉu và làm thất bại hoàn toàn ý đồ ý chí ý định của bọn hai mang đã bu đến văn phòng tôi để “phỏng vấn” mà thực chất là mong moi móc được thêm thông tin nào đó hoặc sự lỡ lời nào đó của tôi. Chiêu của tôi là tuyên bố sẽ viết thư xin lỗi Ông Dương Trung Quốc, và cho đến tận hôm nay nội dung khẳng định sẽ xin lỗi ấy vẫn còn ngạo nghễ tồn tại trên blog của tôi [2]. Thời gian rất dài đã trôi qua, và nay tôi tiết lộ lý do vì sao tôi cố tình để có sự tồn tại vĩnh viễn của bài “xin lỗi”: đã có bài xin lỗi, vậy sẽ thật là kỳ dị, sẽ thật là phản quy trình sử học hàn lâm, sẽ thật là vô duyên vô lý vô đạo, nếu như không có sự tồn tại của bài viết vốn là lý do nguyên do có bài “xin lỗi” ấy. Do đó, hôm nay tôi đường đường chính chính đăng lại toàn văn bài viết đã được mọi người gọi là bài “Tứ Đại Ngu” và bài này sẽ không bao giờ được tôi gỡ bỏ, do – như đã nói – bài này không thể thiếu khi có sự tồn tại của bài “xin lỗi” đã nói ở trên. Việc đăng tải lập lại này vừa để phục vụ yêu cầu cung cấp sử liệu đủ đầy cho hậu thế, vừa để khẳng định hai điều rằng (a) tôi hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp pháp, và hoàn toàn phù hợp văn hóa cao nhất của Việt Nam; và (b) tất cả những gì bọn hai mang của báo chí viết về tôi, cho rằng là nội dung tôi đã trả lời phỏng vấn, đều là ngụy tạo và giả dối.

****

Dương Trung Quốc

Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Phàm ở đời, cứ luận cổ suy kim thì các nhận định của Thầy Khổng cùng môn đồ ắt không phải không có phần đúng và có thể trên nền đúng cổ đó mà phát triển xum xuê kim thêm rằng (a) người nào khi mẹ cha sinh ra đời đã tự mình biết tất tần tật lẽ phải điều hay ấy là đấng thánh nhân; (b) người nào sinh ra đời biết tự mình tìm đến bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo chí thú học hành tới nơi tới chốn để biết lẽ phải điều hay là đấng đạt nhân; (c) người nào sinh ra đời nhờ mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy mà trở nên biết lẽ phải điều hay là đấng hiền nhân; (d) người nào vừa không được – hoặc không có – mẹ cha biết chọn bậc thầy thiên hạ, vừa bản thân cũng chẳng biết ai là bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo học tập để biết lẽ phải điều hay là người không có phúc phận; (e) người nào đã được mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy nhưng dù cố gắng học hành kết quả học tập cũng không khá hơn được, khiến chẳng thể phân biệt lẽ phải điều hay, là người ngu; (f) còn người nào dù có điều kiện hơn thiên hạ vẫn vừa không biết ai là bậc thầy trong thiên hạ để tìm đến quỳ lạy người ấy xin theo học, vừa bê tha bê bối bê trễ việc học tập học hỏi học hành nên không thể biết lẽ phải điều hay, lại hay to mồm phát ngôn toàn điều càn quấy là kẻ đại ngu. Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp, Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng.

Giới Thiệu Đôi Nét Về Dương Trung Quốc:

Dương Trung Quốc quê quán tỉnh Bến Tre, sống ở Hà Nội, trình độ học vấn: tốt nghiệp đại học môn Sử, tự dưng có danh xưng “Nhà Sử Học” trên trời rơi xuống, không rõ do tự xưng hay do thuộc hạ tung hê, ắt do ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” mới được gắn học vị vào tên, chứ “tốt nghiệp đại học” (tức “Cử nhân”) hay “tốt nghiệp phổ thông” (tức “Tú tài”) thì theo quy định bất thành văn của thời hiện đại không được nêu ra kèm theo tên họ, nên tức mình đau mẩy phải áp cụm từ “nhà sử học” vào tên để cho có với người ta chăng. Tuy nhiên, việc Dương Trung Quốc không chọn danh xưng “Sử Gia” cũng là một điều khá khen là khôn ngoan, vì đã là “sử gia” thì phải là giáo sư tiến sĩ Sử, dù trong tiếng Hán Việt thì “gia” cũng là “nhà”, nhưng “gia” thì … to lắm, thế nên mới có chuyện các nhà tài phiệt chỉ được gọi là “đại gia” chứ đố ai dám vặn vẹo kiểu “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà nói đó là…“nhà lớn

Nhất Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đĩ

Cái đại ngu thứ nhất của Dương Trung Quốc là lập lại lời thiên hạ thế gian này hay nói khi tuyên bố danh chính ngôn thuận giữa nghị trường quốc hội rằng mại dâm là nghề cổ xưa nhất của nhân loại, rằng các nước luật hóa mại dâm nên Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa đối với nghề mại dâm mà phải công nhận nghề này, và rằng nhất thiết phải đưa mại dâm lên bàn nghị sự của quốc hội. Ba điểm Dương Trung Quốc nêu lên cho thấy những bảy điều xằng bậy như sau:

1) Mại dâm không là nghề cổ xưa nhất của nhân loại mà là nghề…đạo chích, tức trộm cắp. Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có cho biết thủa hồng hoang mới có một nam tên Adam và một nữ tên Eva, tất nhiên chưa thể phát sinh nhu cầu giải quyết sinh lý với người nữ khác nên chưa thể có mại dâm. Song, Eva và Adam đã đồng lõa ăn trộm trái táo xơi để khai sinh ra ngành công nghiệp thời trang cho nhân loại. Việc to mồm nói mại dâm là nghề cổ xưa nhất chỉ có thể là lời khẳng định sự bó tay của nhân loại trước thân phận bọt bèo của nữ giới và tệ nạn của ma cô đàng điếm, của “nô lệ tình dục”, và của “sex trade” chứ sao lại vin vào đó để đòi “công nhận” là một “nghề” chính danh chính thức?

2) Cũng trong chương Sáng Thế Ký Genesis của Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có ghi việc Chúa Trời sai các thiên sứ bay đến hai thành phố Sodom và Gomorrah vung gươm tàn sát giết sạch nam (đàn ông), phụ (phụ nữ), lão (bô lão), ấu (trẻ em, hài nhi) để trị tội dâm ô đồi trụy. Tuy Genesis không có nêu đặc biệt vấn đề đĩ điếm mại dâm nữ, song trong các chương khác của Thánh Kinh Cựu Ước và Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa Giáo như Châm Ngôn (Proverbs 23:27-28), Lu-ca (Luke 7:36-50), Ma-thi-ơ (Matthew 21:31-32) và II Cô-rinh-tô (II Corinthians 5:17), v.v. đều ghi rõ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus sẵn sàng xóa sạch “tội lỗi” cho đĩ điếm nào tin vào Chúa. Đã là “tội lỗi” ắt đó không bao giờ là “nghề nghiệp” cả.

3) Dương Trung Quốc là đại biểu quốc hội ứng cử tại địa bàn tỉnh Đồng Nai là nơi có rất nhiều giáo xứ. Tôi đã là giáo viên chủ nhiệm một lớp do tỉnh Đồng Nai gởi đến nhờ trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh giúp đào tạo nên một đội ngũ giáo viên tiếng Anh thật giỏi để phục vụ ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai. Đa số các sinh viên này của tôi đều thuộc gia đình công giáo, và những chuyến đi thăm phụ huynh tại Đồng Nai, dù đó là thành phố Biên Hòa, hay thị trấn Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành, v.v., cho tôi cảm nhận được mức độ đạo hạnh cao, mẫu mực gia phong tốt lành nơi các gia đình và nơi bản thân các sinh viên này. Việc Dương Trung Quốc phát biểu linh tinh về mại dâm là việc làm không chút khôn ngoan do động đến vấn đề liên quan đến đạo đức mà Kinh Thánh đã nêu và các cử tri là giáo dân các giáo xứ tỉnh Đồng Nai khó thể chấp nhận được sự xúc phạm, nhất là kiểu ăn nói quàng xiên rằng “không công nhận mại dâm tức là đạo đức giả”.

4) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa của cụm từ “đạo đức giả” cũng như các minh họa làm rõ nghĩa cụm từ này trong thực tế đời sống, trong thực tế hùng biện hàn lâm, và trong thực tế tôn giáo, mà tôi sẽ biện luận làm rõ trong một bài viết sau này.

5) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết rằng ngay tại Mỹ chỉ có vài tiểu bang và tại các tiểu bang này chỉ có một hay hai thị trấn đưa mại dâm vào danh sách “nghề” để quản lý. Mà ngay cả khi thế giới đảo điên này có công nhận “nghề” mại dâm, cũng không phải là lý do để đặt đĩ nằm chình ình trên bàn nghị sự của quốc hội Việt Nam!

6) Dương Trung Quốc đã không có tầm nhìn bao quát, sâu rộng, về vấn đề mại dâm. Dương Trung Quốc chỉ nghĩ đến mại dâm như việc đơn giản người phụ nữ có quyền bán thân để kiếm tiền và để đáp ứng nhu cầu xã hội. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng mại dâm bao gồm đĩ cái, đĩ đực, đĩ đồng tính nữ, đĩ đồng tính nam, và đĩ ấu nhi. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng khi “công nhận” cái “nghề đĩ” để “quản lý” và “thu thuế”, thì phát sinh … nhu cầu phải có trường đào tạo nghề đĩ thuộc các hệ phổ thông đĩ, cao đẳng đĩ, đại học đĩ; có các giáo viên và giáo sư phân khoa đĩ; có tuyển sinh hàng năm trên toàn quốc cho phân khoa đĩ; có chương trình thực tập cho các “môn sinh” khoa đĩ; có trình luận văn tốt nghiệp đĩ trước hội đồng giảng dạy đĩ; có danh sách những người mua dâm để tuyên dương vì có công tăng thu nhập thuế trị giá gia tăng cho ngành công nghiệp đĩ; có chính sách giảm trừ chi phí công ty hay cơ quan nếu có các hóa đơn tài chính được cấp bởi các cơ sở đĩ, đặc biệt khi cơ quan dùng vé “chơi đĩ cái” tặng nam nhân viên và vé “chơi đĩ đực” cho nữ nhân viên nào ưu tú trong năm tài chính vừa qua; ban hành quy định mở doanh nghiệp cung cấp đĩ, trường dạy nghề đĩ, giá trị chứng chỉ văn bằng đĩ trên cơ sở so sánh giá trị nội địa, khu vực, hay quốc tế; và có các hướng dẫn về nội dung tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo bên hông xe buýt và trên thân máy bay, cũng như quảng cáo online về đĩ, tập đoàn đĩ lên sàn (chứng khoán), v.v. và v.v.

7) Dương Trung Quốc đã không thể phân biệt giữa nội dung “nhân quyền” tức “quyền con người” trong việc “tự do bán thân”, với “quyền công dân” mà một đạo luật đĩ có thể điều chỉnh hành vi. Việt Nam đã chấm dứt việc bố ráp đưa mại dâm nữ vào cơ sở chữa bệnh-phục hồi nhân phẩm, và đây là do Việt Nam tôn trọng “quyền con người”. Còn việc ra sức giáo dục, tuyên truyền để hạn chế sự hoành hành tác tệ của mại dâm đối với trật tự xã hội, nhân cách công dân, đạo đức xã hội, v.v., là việc mà nhà nước nào, dù thần quyền hay thế tục, đều cố gắng làm tốt. Dương Trung Quốc dường như rất vô tư đối với nội hàm làm băng hoại xã hội Việt Nam, cứ như xuất phát từ lòng căm thù bịnh hoạn nào đó đối với chế độ hiện tại của nước này vậy.

Nhị Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đa Đảng

Trong một video clip trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV, Dương Trung Quốc đã vừa nháy mắt vừa nói với nhà báo rằng các anh ấy ở Việt Nam Cộng Hòa nên biết rõ thế nào là “đa đảng”. Có cái mác “Nhà Sử Học” nhưng Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Như tôi đã nói rõ trong nhiều bài viết trên các trang mạng, Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả! Chỉ đến năm 1973 Nguyễn Văn Thiệu mới thành lập cái gọi là Đảng Dân Chủ, với đảng kỳ là cờ vàng sao đỏ, có cùng kích cỡ như cờ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (trước 1975) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ sau 1975 đến nay), và với Nguyễn Văn Thiệu làm Đảng Trưởng. Buổi lễ thành lập Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu được tổ chức tại nơi mà nay là Trung Tâm Thể Thao Quận Bình Thạnh, gần Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chi tiết mà không bất kỳ một người Mỹ gốc Việt nào biết trước khi đọc thông tin của tôi đăng trên các blog. Ăn nói hồ đồ và xằng bậy về Việt Nam Cộng Hòa là điều đại ngu thứ hai của Dương Trung Quốc.

Tam Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Biểu Tình

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tháng 10 năm 2011, sau khi phát biểu xong về sự cần thiết có cái gọi là “Luật Biểu Tình”, Dương Trung Quốc nổi nóng khi nghe đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu phân tích về ngữ nghĩa, ngữ nguyên, và lịch sử xuất hiện của cụm từ “protest demonstration” trong tiếng Anh mà tiếng Việt đã dịch sai thành “biểu tình” để từ đó kiến nghị chưa thể đưa lên bàn nghị sự cái gọi là “luật biểu tình” do ý tứ chưa thông, chắc chắn sẽ gây cảnh rối loạn an ninh trật tự. Vì nổi nóng trước hiện tượng chưa từng có tiền lệ tại quốc hội Việt Nam khi đại biểu Hoàng Hữu Phước được nghị trường vỗ tay đồng tình, Dương Trung Quốc đã có cái đại ngu thứ ba, gồm 5 điều xằng bậy sau:

1) Nhấn nút phát biểu tiếp lần thứ hai để chống lại đại biểu Hoàng Hữu Phước, biến nghị trường quốc hội thành nơi đấu khẩu, chà đạp “tự do ngôn luận”, trong khi nhiều trăm đại biểu khác đang chờ đến lượt họ phát biểu, như vậy đã giành giật thời gian chính đáng chính danh chính thức chính đạo của – và gây thiệt thòi cho – 499 đại biểu quốc hội thuộc các tỉnh khác của Việt Nam.

2) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng “biểu tình” xuất hiện đầu tiên tại Chicago thế kỷ XIX, vì nếu không có kiến thức về ngữ nguyên học, không ai dám tự xưng là “nhà sử học” cả, vì sẽ đến ngày Dương Trung Quốc tuyên bố “biểu tình” đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam đời Nhà Trần với cuộc “biểu tình Diên Hồng”.

3) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu quốc hội không đại diện cho dân mà chỉ cho cá nhân, và như vậy chính Dương Trung Quốc khẳng định Dương Trung Quốc không đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, tức là từ chối đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, càng không đại diện cho bất kỳ người dân Việt nào. Đó là chưa kể Dương Trung Quốc không những xúc phạm 499 đại biểu quốc hội Việt Nam, mà lại còn nhổ toẹt vào các đạo luật về tổ chức quốc hội Việt Nam.

4) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu Hoàng Hữu Phước hãy nghiên cứu trước khi phát biểu, mà không thể hiểu rằng đại biểu thạc sĩ Hoàng Hữu Phước luôn có trách nhiệm trong từng lời phát biểu tại nghị trường và nghiên cứu sâu về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và lịch sử các từ ngữ tiếng Anh trong tương quan tiếng Việt.

5) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã tự làm lộ cho toàn quốc biết rằng Dương Trung Quốc không biết ngoại ngữ trong khi bản thân là “nhà sử học”.

Tứ Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Văn Hóa Từ Chức

Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII tháng 11 năm 2012, Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinaline. Đến khi nghe Thủ tướng trả lời hùng biện, chân thiết, khúc chiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của 496 đại biểu quốc hội (trừ 1 đại biểu bị miễn nhiệm, 1 đại biểu qua đời khi tại nhiệm, bản thân thủ tướng, và bản thân Dương Trung Quốc), Dương Trung Quốc đã vội vàng nói thêm rằng Dương Trung Quốc sở dĩ đặt câu hỏi là để xem Thủ tướng trả lời thế nào, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là đã “an dân”. Dương Trung Quốc trong cái đại ngu thứ tư này đã phạm 3 điều xằng bậy như sau:

1) Thủ tướng – trên nguyên tắc và lý thuyết tổ chức – đứng đầu tất cả các Bộ. Như vậy, Bộ Quốc Phòng giữ yên bờ cõi, ấy là đại công. Bộ Công An đập nát phản động, tiêu diệt bạo loạn, trừng trị tội phạm, ấy là đại công. Bộ Ngoại Giao đem lá cờ đỏ sao vàng tung bay thắng lợi đối ngoại trên toàn thế giới, ấy là đại công. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Bộ Công Thương lập kỳ tích xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, ấy là đại công. Bộ nào cũng lập công, vấn đề là công nhiều hay ít, nhiều hơn hay ít hơn những khó khăn đang tồn tại. Như vậy, cái đạo lý nào cho phép Dương Trung Quốc hỗn xược thách đố Thủ tướng có dám từ chức hay không, khi quản lý yếu kém để Vinashin và Vinaline gây thất thoát tiền của quốc gia? Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là đánh giá rất cao việc đoái công chuộc tội. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là công bằng, công minh, công chính. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan. Dương Trung Quốc loạn ngôn, dám đem việc Vinashin và Vinaline ra để hỗn láo với Thủ tướng, làm lơ các đại công của các Bộ khác, mà – như đã nói ở trên – đều thuộc dưới quyền Thủ tướng. Thử hỏi, nếu Vinashin không làm thất thoát một xu con nào, nhưng Bộ Quốc Phòng làm mất nhiều tỉnh vào tay quân giặc, Bộ Nông Nghiệp gây ra nạn đói, Bộ Y Tế để dịch bệnh tràn lan, và Bộ Công An bó tay trước bạo loạn đốt phá, v.v., thì đất nước này sẽ ra sao. Dương Trung Quốc đã mị dân khi hùng hổ phát biểu như thể chỉ có Dương Trung Quốc mới “dám” chất vấn như thế. Cái cực đoan, phủ nhận công, phi lý, và bất công là những thứ ngoại lai mà Dương Trung Quốc đã hấp thụ từ bọn giặc nào để tự tung tự tác nơi nghị trường quốc hội Việt Nam như thế? Vinashin là rắn có đầu, và luật pháp nghiêm minh phải xử lý nặng những cái đầu ấy, tức những chức sắc hưởng lương của Vinashin để làm lãnh đạo Vinashin và làm Vinashin phá sản. Đặt vấn đề “văn hóa từ chức” phải chăng hàm ý rằng cứ từ chức là sẽ được “hạ cánh an toàn”, xem như đã giải quyết xong vụ việc?

2) Dương Trung Quốc và một bộ phận nhỏ người Việt thường đem những thứ ngoại lai làm chuẩn mực cho các so sánh với nội tại của Việt Nam mà thiếu sự hiểu biết thấu đáo, mà cái gọi là “văn hóa từ chức” là một ví dụ. Chính họ nhìn hiện tượng ở nước ngoài rồi tự đặt ra cụm từ “văn hóa từ chức” với sự thán phục, trong khi thực ra chẳng có gì để mà gọi đó là “văn hóa”. Khi một tai nạn thảm khốc xảy ra tại một nước tư bản, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải nước ấy lập tức từ chức. Đó là quy định bất thành văn để giúp “Đảng” có được 3 điều như (a) thoát được cơn thịnh nộ của người dân, (b) Đảng không bị tổn hại trong kỳ bầu cử tiếp theo, và (c) giữ toàn vẹn danh tiếng và nguồn thu cho các nhà tư bản chủ nhân các công ty chế tạo xe hỏa hoặc tàu bè hoặc máy bay lâm nạn vì các nhà tư bản này cung cấp tài chính cho “Đảng”. “Nhận trách nhiệm quản lý yêu kém” và từ chức, biến tai nạn không phải do lỗi kỹ thuật thiết bị công nghiệp, và người từ chức sẽ được đền ơn bằng cách có một chức vụ cao cấp tại một trong những công ty tư bản ấy. Đây là việc mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng dễ dàng từ các nguồn thông tin mở. Làm gì có cái “văn hóa” và cái “tinh thần trách nhiệm” trong cái gọi là “từ chức” trong thế giới tư bản mà cứ tôn vinh, ca ngợi, và thán phục đến độ hỗn láo đem ra lập thành tích “chất vấn như Dương Trung Quốc đã làm.

3) Khi nhanh nhảu tự cứu mình trước cảnh thất bại vì không thể làm Thủ tướng bối rối hoặc mang nhục trước quốc dân, Dương Trung Quốc đã cho rằng câu chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để test (thử nghiệm) xem Thủ tướng có tài hùng biện không. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để ban ân cho Thủ tướng có cơ hội trổ tài hùng biện để “an dân” hầu ghi điểm son với toàn dân. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để đánh bóng tên tuổi của Dương Trung Quốc như nhân vật đại diện toàn dân tộc để nói lên tấm lòng của toàn dân tộc rằng toàn dân tộc đã an lòng, yên tâm trước câu trả lời chất vấn hùng biện của Thủ tướng, từ đó toàn tâm toàn ý ngưỡng mộ Thủ tướng và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo anh minh tài ba của Thủ tướng. Từ ngữ “an dân” của Dương Trung Quốc mang nội hàm bao gồm tất cả những ý tứ như thế. Và thật khó hiểu, không rõ Dương Trung Quốc đã “lập đại công” với Thủ tướng, hay Dương Trung Quốc đã phạm đại ngu thứ tư này.

Thay Lời Kết:

Dựa theo lời Thầy Khổng từng phán, cố thể nói rằng ai muốn có điều Nhân mà không muốn học thì bị cái Ngu che mờ, muốn ta đây đầy Trí mà không muốn học đến nơi đến chốn thì bị cái Thấp Kiến bịt trí, muốn mình có chữ Tín mà không muốn học cho nên người thì bị cái Hại Nghĩa kéo lôi, muốn khoe ta có Trực mà không muốn học cho nên người thì bị cái Ngang Ngạnh làm cho u mê, muốn Dũng mà không muốn học cho thành bậc đạt nhân thì bị cái Loạn làm cho u tối, còn muốn Cương mà không chịu học hành thì bị cái Lồng Lộn làm cho ám áng.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “biểu tình” là chứng tỏ ta đây có lòng “Nhân” thương dân bị chính phủ làm cho khốn khổ, không ngờ đó lại là “Ngu” vì tự hét lên cho toàn nhân loại biết chính mình không hiểu ý nghĩa tiếng Việt cao siêu và không rành ngoại ngữ khi Đại biểu Hoàng Hữu Phước luận giải về “từ nguyên Anh ngữ” của cụm từ “protest demonstration”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” là chứng tỏ ta đây có trình độ “Trí” muốn nữ công dân – trong đó có các nữ nhân thuộc gia tộc Dương Trung Quốc – có quyền tự do sử dụng vốn tự có để kinh doanh phát triển ngành công nghiệp bán dâm, không ngờ đó lại là cái “Thấp Kiến” của phường vô hạnh vô đạo đức vô lại vô duyên, dễ đem lại danh xưng “Nhà Đĩ Học” bên cạnh “Nhà Sử Học”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có uy “Tín” với dân nên được dân gởi gắm tâm tư nguyện vọng về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”, không ngờ đó lại là điều hỗn với dân và do đó “Hại Nghĩa.”

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có lòng trung “Trực” nói thẳng ra những điều tối thượng mà toàn dân ao ước, cả nước chờ mong, dân tộc đón chào, không ngờ đó lại là do “Ngang Ngạnh” nói càn, luận bừa, sai be sai bét, phản hàn lâm, bất tri, vô trí.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có cái “Dũng” dám kêu Thủ Tướng Dũng đương đầu với câu hỏi “khó”, mà không ngờ đó lại chứng tỏ chính Dương Trung Quốc là “Loạn” vì không phân biệt chính-phụ, không rõ ngay-gian, nên phạm ba “loạn” gồm (a) “loạn ngôn” khi đổi trắng thay đen muốn đem một việc hỏng ra phủ định ngàn việc đạt cứ như đây là thời phong kiến hay tay sai đế quốc-thực dân, (b) “loạn hành” khi cho nghị trường là nơi để Dương Trung Quốc sử dụng “kiểm tra’ tài đối đáp của Thủ tướng, và (c) “loạn trí” khi đối đáp phản pháo trên cơ sở không nghiên cứu, chẳng nền tảng cơ sở dẫn chứng nghiêm túc, và nào có kiến thức ngoại ngữ trong thời buổi hiện đại này.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có cái “Cương”, biết khi thời cơ đến thì phải tỏ ra cứng rắn mới chống được cường quyền, mới phục vụ được nhân dân, mà không ngờ đó chỉ là sự “Lồng Lộn” của kẻ thất phu, bất tài, vô hạnh. Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở Biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “ đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái, dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc.

Thầy Khổng có phán rằng: “Tranh luận nhỏ nhặt thì hại nghĩa, nói nhảm thì phá đạo lý.” Lăng Tần tôi xuất thân nghề giáo, đến nay vẫn được môn sinh gọi là Thầy Phước, nhận thấy cái chuỗi “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chuyện lớn đến độ Dương Trung Quốc đòi để “đĩ” nằm lên bàn nghị sự quốc hội quốc gia, đồng thời với việc Dương Trung Quốc nói nhảm nói nhí, nên trước việc hại nghĩa và phá đạo lý ấy, Thầy Phước tôi không thể không phụ lời giáo huấn của Thầy Khổng, đành chắc lưỡi lập lại nguyên văn lời của Thầy Khổng rằng: “Ôi! Người ta chẳng nói thì thôi, nói ra có đúng lẽ mới nói!

Người ta” ắt không phải nói chung bàng dân thiên hạ, mà là “ta đây” vậy.

Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học

****

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt. Đăng lần đầu trên Emotino.com. Đăng lại ngày 15-02-2013 tại http://hhphuoc.blog.com/?p=145

[2] ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc. 19-02-2013. http://hhphuoc.blog.com/?p=147