Monthly Archives: September 2014

Thực Phẩm Chức Năng

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot472

Trong bài có nói về các blog sắp có của mình [1], tôi có viết rằng sẽ có thêm vài blog chuyên đề trong đó có một blog về kinh doanh.

 ScreenShot465ScreenShot466

Trong ngàn bài viết của tôi bằng tiếng Anh trên Yahoo!3600 từ 2005 và bằng tiếng Việt trên Emotino [2] từ 2008, có khoảng 300 bài liên quan đến kinh doanh và tư vấn phát triển kinh doanh. Do quỹ thời gian eo hẹp, tôi chưa thể lục tìm trong tàng thư cá nhân các bản thảo của các bài viết ấy để upload hết lên blog phát triển kinh doanh. Trong khi chờ đợi các bạn thân của tôi giúp thu thập lại các bài theo cách đầy đủ nhất có thể được cho blog phát triển kinh doanh, tôi sẽ chọn đăng lại một hoặc hai bài đã tìm được để làm thí dụ trên blog nghị sĩ này, vừa (1) đáp ứng yêu cầu tối thượng của bạn đọc đối với trình độ khoa bảng thực thụ + kinh nghiệm đẳng cấp lãnh đạo thực thụ đối với lĩnh vực nói đến của một thạc sĩ kinh doanh quốc tế “chính hiệu” và “thực thụ”; vừa (2) đánh vào cái yếu điểm trầm kha của giới “chuyên nghiệp” Việt Nam là thường vô tư, hay máy móc lập lại một cách mặc định rằng những gì của Âu Mỹ thì đương nhiên đúng; vừa qua đó (3) giới thiệu cách nhận xét, phân tích, tổng hợp, tư vấn tích cực, chuyên nghiệp, độc lập, chất lượng, đặc thù, riêng biệt, của tôi, nhà tư vấn phát triển kinh doanh thực thụ. Được chọn đăng lại trên blog này là bài viết về Thực Phẩm Chức Năng. Kính mời các bạn đọc tham khảo.

Trân trọng.

Mở Hướng Kinh Doanh: Thực Phẩm Chức Năng [3]

Hãy Là Chính Mình & Vượt Lên Chính Mình

Hoàng Hữu Phước, MIB

Emotino 06-01-2012

Mục Lục

A) Tại Sao Thực Phẩm Chức Năng?

B) Thế Nào Là “Thuốc”

C) FDA: Ông Là Ai?

D) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hàn Quốc

E) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hoa Kỳ

F) Hãy Nhìn Vào Ta

G) Sau Khi Biết Người, Biết Ta: Hãy Là Chính Mình và Vượt Lên Chính Mình

 ScreenShot471

A) Tại Sao Thực Phẩm Chức Năng ?

Khi tham dự tiệc tất niên 2010 do Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, tôi được ban tổ chức đến bàn tiệc ngỏ ý mời tôi lên phát biểu sau bài phát biểu của Ông Từ Minh Thiện, Giám đốc Trung tâm. Vì là ứng khẩu nên tôi bắt đầu tập trung lắng nghe bài phát biểu của Ông Thiện để nắm bắt và khai thác các ý nào phù hợp với sự quan tâm của tôi, và chi tiết rằng Thành phố sẽ có hướng phát triển ngành thực phẩm chức năng trở thành tâm điểm được tôi quyết định chọn để sau đó phát biểu ứng khẩu hùng biện về thực phẩm chức năng, và rồi các nhà báo phải tiu nghỉu khi đến tôi hỏi mượn bài phát biểu (do thấy tôi có cầm mấy tờ giấy lên sân khấu, còn họ thì biếng lười không chịu lắng nghe và ghi chép) mới biết đó chỉ là tờ chương trình buổi tiệc mà ban tổ chức phát cho các đại biểu. Vậy thực phẩm chức năng là gì, vì sao tôi quan tâm thiết tha đến thực phẩm chức năng, và hôm nay lại muốn nói đến thực phẩm chức năng? T

hực Phẩm Chức Năng hay Thực Phẩm Dinh Dưỡng Bổ Sung là những khái niệm ngoại lai, không phải của Việt Nam, được Việt Nam nhập khẩu, sử dụng đại trà, tự mình trói mình, tự mình nhường sân chơi lớn cho nước lớn, tự mình chối từ ưu thế kinh nghiệm vĩ đại của ông cha mình. Trong một tài liệu nước ngoài, người ta có cách giới thiệu rất hài hước như sau về lịch sử của thực phẩm chức năng:

– Năm 2000 trước Công Nguyên: Thầy Mo phán: Này, hãy nhai rễ cây này sẽ hết bệnh.

– Năm 1000 sau Công Nguyên: Thầy Pháp phán: Nhai rễ cây ấy rất lạc hậu, tà đạo, dốt nát. Hãy lập lại lời thần chú sau sẽ hết bệnh.

– Năm 1850 sau Công Nguyên: Ngự Y tâu: Khải tấu Đức Kim Thượng, việc chúng dân hay cúng bái bùa chú khi có bệnh là việc mê muội dị đoan. Chúng Ngu thần ở Ngự Y Viện đã chưng cất được loại thuốc nước này giúp dân hết bệnh

– Năm 1940 sau Công Nguyên: Y Sĩ phán: Mấy thứ thuốc lang băm đó là dầu rắn rít đấy! Hãy uống viên thuốc này sẽ hết bệnh.

– Năm 1985 sau Công Nguyên: Bác Sĩ phán: Thuốc viên ấy có hiệu nghiệm gì đâu! Hãy uống thứ kháng sinh này sẽ hết bệnh.

– Năm 2000 sau Công Nguyên: Nhà sản xuất xanh-sạch-lành nói: Thứ kháng sinh ấy là đồ nhân tạo trái tự nhiên. Hãy nhai thứ rễ cây này sẽ hết bệnh.

Vì nhiều lý do khác nhau như “thuốc tây” có giá cao, không thể chữa hết tất cả các bệnh, và phong trào “ăn lành”, “ăn sạch”, “trở về với Mẹ Thiên Nhiên”, “tiêu chí an toàn không phản ứng phụ”, và xuất hiện các phương pháp trị bệnh mang tính “truyền thống dân gian” từ sự giao thoa văn hóa của toàn cầu hóa, người dân Âu Mỹ ngày càng quan tâm đến thực phẩm dinh dưỡng bổ sung và các loại thảo dược. Nhu cầu này của “người tiêu dùng” đương nhiên được hăng hái đáp ứng bởi các nhà sản xuất, dẫn đến – theo số liệu năm 2001 – sự thật là có 42% dân số người lớn ở Mỹ dùng các thứ đa sinh tố và thực phẩm dinh dưỡng chức năng, và các liệu pháp thảo dược trị bệnh cho thấy người tiêu dùng Mỹ đã chi từ 3,5 tỷ USD năm 1997 nay đã lên hơn 5 tỷ USD mỗi năm, với số lượng hơn 20.000 sản phẩm thảo dược bán tự do không cần toa (OTC – Over-the-counter).

Khi người tiêu dùng quan tâm đến kho tàng tri thức Đông Phương, từ sự sửng sốt trước những sách cổ thư vĩ đại bằng tiếng Sanskrit về tình dục như Ananga RangaKama Sutra mà thế giới Âu Mỹ nhận ra rằng những cái họ gọi là hưởng lạc dục tình trong Thế Kỷ XX hóa ra đã tồn tại nhiều ngàn năm trước đó tại Phương Đông, những kỹ thuật huyệt đạo nền tảng của giải phẫu học và châm cứu của Trung Quốc cùng các thảo dược thần diệu ở Đại Hàn và khắp vùng Châu Á từ thời thượng cổ, đến thực tế đắng cay rằng nếu xưa kia vấn đề vệ sinh tồi tệ của y học Âu Mỹ vĩ đại đã từng gây ra các cơn đại dịch như Black Death tàn phá Anh Quốc và Châu Âu, và rằng y học cận đại bị vết nhơ do xử tội vị y sĩ duy nhất giữ vệ sinh rửa tay sạch sẽ khi khám bệnh, đến sự thật là ngày nay thuốc Tây Y vẫn còn bó tay trước nhiều căn bệnh hoặc gây ra những phản ứng phụ tai hại, họ quan tâm – và có quyền quan tâm cũng như yêu cầu được phục vụ – đến các phương pháp bí ẩn của Đông Phương trong lĩnh vực y tế tức chữa bệnh, phòng bệnh, và cải thiện sức khỏe. Đó là l‎ý do cho sự trỗi dậy của cái mà chúng ta đặt tên theo sự thống trị ngôn từ của phương Tây là: thực phẩm chức năng hay thực phẩm dinh dưỡng bổ sung, tức những thứ mà ta bị buộc phải ghi dòng chữ vô nghĩa vô duyên vô lý:‎ “không phải là thuốc và không có tác dụng chữa bệnh thay thuốc”.

Vậy, thế nào là “thuốc”? Xin xem hồi sau sẽ rõ.

B) Thế Nào Là “Thuốc”

Chẳng ngôn ngữ nào tối ưu so với các ngôn ngữ còn lại. Tiếng Anh chỉ có chữ You dành cho đối tượng trực tiếp ngôi thứ hai số ít hoặc số nhiều, trong khi tiếng Việt có cơ man nào là chữ, chẳng hạn như Em, Anh, Chị, Ông, Chú, Bác, Thím, Dì, Bố, Mẹ, Ba, Má, Thầy, U, Dượng, Mợ, Tổng Thống, Mầy, Ngươi, Nhà Ngươi, Tụi Bây, Chúng Mày, Các Anh, Các Chị, Quý Vị, v.v. Ngược lại, tiếng Anh có medicine, medicament, medication, drug, druggery, medicinal drug, potion, nostrum, dope, elixir, lincture, linctus, electuary, v.v. dùng cho từng loại khác nhau hay trong ngữ cảnh khác nhau cho ý nghĩa của “thuốc”, trong khi tiếng Việt ta chỉ có mỗi chữ thuốc xuất hiện mọi lúc mọi nơi cho mọi thứ và mọi ngữ cảnh từ thuốc Tây đến thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Đông, thuốc bổ, v.v. để cứu người, đến thuốc độc, thuốc chuột, v.v. để không cứu người, thậm chí cả khi chẳng liên quan gì đến cứu hay không cứu, như… “hết thuốc chữa” với nghĩa “bó tay” hay “chào thua”.

Chính bởi tiếng Anh có sự phân định rạch ròi nghĩa của medicine là thuốc dùng để chữa bệnh, phòng bệnh, gia giảm triệu chứng của bệnh, trong ngành khoa học y dược chuyên nghiệp về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh, nên mới có việc Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ (US Food and Drug Administration, FDA) cùng với đạo luật DSHEA 1994 (Luật Giáo Dục và Chế Độ Thực Phẩm Bổ Sung) quy định những thứ không là sản phẩm của ngành khoa học y dược chuyên nghiệp cao quý cao cấp cao chót vót của hóa học hàn lâm về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh thì không được phép dùng chữ medicine để gọi mà phải dùng chữ khác. Đó là nguyên nhân ra đời của cụm từ mới tinh mà ngàn xưa không ai dùng đến: nutritional supplement hay dietary supplements hay herbal supplement hay functional foods hay nutraceuticals hay những cách gọi khác mà ở Việt Nam gọi chung là thực phẩm chức năng. Thế giới Âu Mỹ luôn chứng minh người ta chỉ có tiếng nói mạnh hơn nếu là đại gia tài chính, và khi các nhà sản xuất thực phẩm chức năng biến ngành công nghiệp thực phẩm chức năng thành ngành kinh tế trị giá gần chục tỷ USD/năm, họ có quyền giằng lấy từ medicine về phía mình, và phát sinh ra cụm từ alternative medicine (mà giới hóa học gia của ngành khoa học y dược chuyên nghiệp cao quý cao cấp cao chót vót của hóa học hàn lâm về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh chịu thua nhưng vẫn trề môi khinh bỉ khi nghe ai nói đến) với nghĩa đen trần trụi là thứ thay thế thuốc, nghĩa là thuốc được dùng cho thực phẩm chức năng dù chưa chính quy chính thức chính đạo.

Thế thì tại sao Việt Nam lại tự trói mình, tự phủ nhận mình, không dám gọi đó là thuốc như tổ tiên Việt Nam đã dùng, mà phải gọi là thực phẩm chức năng và ghi cái dòng chữ vô duyên cứ như FDA của Mỹ chủ đạo đứng đầu và có quyền sinh sát với ngành y dược cổ truyền của Việt Nam. Trước khi phân tích về điều này, ta hãy xem FDA là ai mà thiên hạ khiếp sợ thần uy đến thế. Xin xem hồi sau sẽ rõ.

C) FDA: Ông Là Ai?

FDA là Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ, thuộc Bộ Y Tế & Phục Vụ Nhân Dân (US Department of Health and Human Service HHS). Nhưng do bài viết này nhằm làm lợi cho độc giả Việt Nam chứ không tiếp tay đánh bóng thương hiệu FDA, nên những người quan tâm có thể vào trang web của họ để biết họ lớn như thế nào với hàng ngàn phòng thí nghiệm ở nhiều châu lục và tỷ tỷ tỷ USD ngân sách, có quyền sinh sát ra sao, và luôn bị giới tỷ phú ngành thực phẩm chức năng nhạo báng, tranh cãi, bút chiến, khẩu chiến, và nắm cổ lôi xềnh xệch ra tòa nhiều quan chức FDA vì ăn hối lộ và tham nhũng, v.v.

Nói vắn tắt một cách bình dân về sự “quản lý” của FDA đối với thực phẩm chức năng là như thế này: chúng tớ quản lý thuốc drug và thực phẩm theo tên gọi cơ quan chúng tớ ấy mà; vậy nếu các cậu là thuốc drug thì tất nhiên phải theo các quy trình cực kỳ chặt chẽ do chúng tớ ban hành, và nếu các cậu là thực phẩm thì cũng y như vậy; nhưng cái thứ của các cậu không là “thuốc drug” mà cũng chẳng là “thực phẩm” nên chúng tớ không có quyền đụng vô để thông qua hay không thông qua; song tiếc là do quy định của… “ở trên” nên buộc phải ra “thần uy”quản lý nhà nước một tí bằng cách đề nghị các cậu chịu khó ghi dòng chữ rằng cái thứ của các cậu không là “thuốc drug” mà cũng chẳng là “thực phẩm” nên cách chi mà chúng tớ có phôi biểu mẫu để cấp chứng thư cơ chứ; và nếu ghi như thế ngoài hộp thì cả hai ta đều có lợi ở chỗ khẳng định chúng tớ đâu có công nhận gì đâu nên không chịu trách nhiệm còn các cậu khỏi bị người tiêu dùng kiện tụng nếu uống cả đời vẫn không thấy si-nhê hay ép-phê hoặc hiệu nghiệm gì sất.

FDA là như vậy đấy. Quy định về thực phẩm chức năng là cũng vì vậy đấy. Nếu ai đó muốn bán thực phẩm chức năng vào nước Mỹ thì phải ghi câu ấy – nhưng dường như chỉ có desperado tức kẻ liều mạng mới có ý định kinh doanh thực phẩm chức năng vào nước Mỹ! Ấy vậy mà có nhiều nước xem FDA là Thượng Đế của thế giới y dược nên ra quy định sản phẩm thảo dược nước mình, của Ông Cha mình, của tiên tổ mình, là thực phẩm chức năng, đồng thời phủ nhận luôn đặc thù dược tính chữa bệnh của nó, cứ như thể hoặc “thuốc Tây” đã có mặt tại nước ta nhiều ngàn năm trước, hoặc tổ tiên ta chẳng biết bịnh là gì bao giờ. Con Rồng, Cháu Tiên mà!

Thế mới biết cái lợi của siêu cường: lời anh nói ra đương nhiên là chân lý. Song, do FDA to quá nên sau khi có vài lời nhẹ nhàng trên, thiết nghĩ nên tha cho FDA để tiến ra thế giới cho mở rộng thêm tầm mắt trong khi lẽ ra thiên hạ phải đến nước ta để mở rộng tầm mắt. Xin mời xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

D) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hàn Quốc

Thật không thể buột miệng nói “tiếc quá các bạn ơi” như người dẫn chương trình Ô Cửa Bí Mật trên VTV3 ngày Chủ Nhật được, vì khi xem phim tài liệu của TV Discovery mới bán tín bán nghi, nửa tin nửa ngờ, trước điều mắt thấy với kính 3D, tai nghe với âm thanh qua hệ thống loa 12 chiếc: hàng đoàn người Âu Mỹ, đa số là người cao tuổi, đa số đi có vợ có chồng cùng đi, thiểu số do con cái đưa đi, và tất cả đều ngời rạng niềm hy vọng không ai có thể dấu diếm được trên gương mặt khi ngồi thoải mái trong sảnh sáng sạch đẹp của một “bịnh viện dân tộc” tại Hàn Quốc chờ đến phiên vào… đánh gió, giác hơicắt lễ! Đánh gió với miếng gỗ nhúng vào “thuốc” tức thực phẩm chức năng dạng chất lỏng. Giác hơi kiểu mới với ống thủy tinh hút chân không hình trụ (sau đó, Discovery còn phát phim tài liệu khác cho thấy cảnh “dữ dội” hơn tại Mỹ chiếu cảnh mấy anh Mỹ da trắng trần trùng trục cười khoái trá mãn nguyện khỏe khoắn sau khi được thử giác hơi bằng ống thủy tinh hình cầu y như của Việt Nam trước đây và dùng que nhúng vào cồn để đốt bên trong lòng ống giác hơi trước khi úp lên lưng y như kiểu dùng que nhúng vào dầu lửa của người Việt Nam trước đây!). Cắt lễ kiểu vừa cũ vừa mới: sử dụng cụ tân kỳ, tiệt trùng, có thoa “thuốc” tức thực phẩm chức năng dạng chất lỏng, để thực hiện việc cũ (đâm nhẹ vào vùng mặc định có vấn đề để trích ra một giọt máu).

Cảnh trên này thấy quen quen. Alexandre Dumas Cha có viết trong Ba Chàng Ngự Lâm việc hễ đau ở đâu thì đâm vào đó nặn ra cả chén máu. Ông Bà Việt Nam tiết kiệm nên tinh tế trích ra có một giọt máu để chữa bệnh cứu người. Người ta đọc Ba Chàng Ngự Lâm, buột miệng nói: thấy mà ghê! Bác sĩ Tây Y Việt không bao giờ không chỉ trích đánh gió, giác hơi, cắt lễ, với ý khẳng định rằng đánh gió làm vỡ mạch máu nên lưng có lằn y như roi quất, rằng giác hơi làm phồng dộp da lưng cùng nguy cơ cháy phỏng, và rằng cắt lễ rất mất vệ sinh gây ra nhiễm độc máu. Người Việt thì tất nhiên vừa nghe lời bác sĩ Tây Y, vừa thần phục y học Âu Mỹ, nên không cho phép bà nội, bà ngoại, hay mẹ già được đụng vô mình với mấy thứ “vũ khí” ghê rợn đó khi mình bị … trúng gió. Đến khi không thể phủ nhận tác dụng trị liệu của “đánh gió” như một thứ massage nhất là khi đánh gió với dầu khuynh diệp, bác sĩ Tây Y mới phán một cách khôn ngoan rằng đánh gió rất nguy hiểm đối với người bị cao huyết áp, nghĩa là cứ áp cái hù dọa và tính từ tiêu cực cho đánh gió, thay vì nói đánh gió có tác dụng tích cực đối với những người khỏe mạnh. Đến khi thấy Trung Quốc và Hàn Quốc chào bán dụng cụ giác hơi chân không, các bác sỹ Tây Y thôi không nói gì về giác hơi, vừa không muốn đụng chạm đến giới y dược các nước ấy do ở nước họ Tây – Đông phối hợp hòa thuận mà các hãng đưa vào Việt Nam cơ man nào là thuốc Tây với chiết khấu hậu hỉ cơ mà. Đến khi thấy cắt lễ tự động biến mất, các bác sĩ Tây Y ở Việt Nam không nói gì thêm về phương pháp chữa bệnh này.

Thế là những người giàu có muốn sống lâu, những người Âu Mỹ tuyệt vọng trước thuốc Tây, và những người chẳng có vấn đề gì về sức khỏe nhưng bị mê hoặc bởi các lời đường mật do chính các hãng thực phẩm chức năng của Âu Mỹ soạn ra để tiếp thị “thần dược Đông Phương made-in-USA”, đổ xô đến Hàn Quốc, chờ được “chữa”, rồi mua biết bao “thần dược” thực phẩm chức năng cho vào ba-lô trước khi lên đường chu du đến thăm bao danh lam thắng cảnh xứ Hàn, khiến đất nước của Nàng Đê-Chang-Kưm (giai nhân điện ảnh cực hiếm trên toàn thế giới vì vừa đẹp tuyệt trần, vừa đúng là ngôi sao thực thụ của nền điện ảnh thực thụ, vừa có văn hóa cao học lực cao và học thức cao) hừng hực tiến mạnh phát triển du lịch, hốt bạc từ y dược truyền thống dân gian (có nghi vấn: không biết Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn khi tháo chạy từ Việt Nam Cộng Hòa về nước, có đem theo “kinh nghiệm” của người Việt đánh gió, giác hơi, và cắt lễ biến thành của … tổ tiên Hàn?), và qua đó biến văn hóa đời sống, ẩm thực, văn minh, con người, vang danh toàn thế giới.

Sau khi tiếc ngẩn tiếc ngơ trước những gì Hàn Quốc làm để vinh danh tài sản trí tuệ của Ông Cha của họ (hay copy của tổ tiên người Việt), ta nên quay trở lại Mỹ để biết cái tài sản trí tuệ Đông Phương cũng được các nhà tư bản “xem trọng” ra sao qua những chiêu thức nhanh nhạy, chuyên nghiệp, đẳng cấp cực cao của họ. Xin xem hồi sau sẽ rõ.

E) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hoa Kỳ

Hầu như có rất nhiều người Việt có thân nhân ở các nước Âu Mỹ, và “quà cáp” họ thường nhận với số lượng “khủng” là thực phẩm chức năng vì chỉ có thực phẩm chức năng mới là thứ đóng vai trò thể hiện tình thương, đạo hiếu, tình cảm của người Việt xa quê dành cho thân nhân và người thân thương ở Việt Nam. Tất cả cho thấy hàng năm ngoài số lượng nhập khẩu chính thức để bán tại “nhà thuốc”, siêu thị, và các công ty đa cấp, ắt có hàng triệu lọ thực phẩm chức năng đổ bộ vào Việt Nam qua hàng quà biếu hay trong va-li của Việt Kiều, từ đa sinh tố (như Centrum có vài chục sinh tố từ A đến Z, hay như Kirkland trộn Calci với hai sinh tố D và K) đến đơn sinh tố (chỉ một loại sinh tố, như Kẽm Zinc), và … nghiền hạt của trái nho làm “thuốc” bổ tim

 ScreenShot468

Và qua bàn tay điêu luyện chuyên môn của các nhà chuyên môn tiếp thị PR, viết nên những câu chuyện thần bí thần kỳ ở những xứ miền Anh-đô-nê-diêng hay đảo quốc đã từng tồn tại hay sắp bị biến đổi khí hậu nước biển dâng nhấn chìm, biến những quả ngon ngọt đầy dẫy ở Việt Nam (như măng cụt hoặc trái nhàu có mùi khai gai góc mà dân Việt dùng nuôi dê) thành thần dược thần diệu mà nói theo cú pháp của mấy ông đạp xe bán dạo keo dính chuột là: “không có thứ trái cây nào có thể so sánh được”.

ScreenShot469

Thậm chí sau khi đã dùng hết tên các địa danh huyền thoại, cũng như đã hết “nguồn” của cải “quả”, “lá”, “rễ”, “cành” và…“từ ngữ”, các nhà sản xuất thực phẩm chức năng Mỹ nhanh tay sử dụng luôn những thứ như… dầu dừa (thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, phụ nữ các tỉnh vẫn còn dùng dầu dừa để vuốt tóc cho óng mượt, nuôi dưỡng tóc cho dài, chắc, dày; còn sau ngày 30-4-1975 thì mấy nhà máy SEP tức trích ly dầu thực vật do… công ty tôi cung cấp cho các tỉnh như Bến Tre thì nhằm sản xuất dầu dừa làm dầu ăn) làm viên nang mềm cực đẹp và tinh tế mà chẳng thèm làm PR marketing cũng như chẳng ghi công dụng tốt cho “chức năng” nào của cơ thể, đồng thời phớt lờ chẳng in cái câu mà FDA yêu cầu!

 Supplement (17)

Những việc trên cho thấy thực phẩm chức năng là đối tượng của một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận tại Hoa Kỳ. Siêu lợi nhuận vì thoát được những ràng buộc khắt khe của “thuốc”, tất nhiên trừ yêu cầu về cGMP (Current Good Manufacturing Practices) và chịu sự điều chỉnh của đạo luật DSHEA 1994 (Dietary Supplement Health and Education Act of 1994) dưới cơ chế quản lý nhà nước của FDA như đối với tất cả các nhà sản xuất dược phẩm và thực phẩm khác. Sự phát triển rầm rộ của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng tại Mỹ cho thấy người tiêu dùng Mỹ quay sang loại “thuốc thay thế” này, khiến có các khuyến cáo kêu gọi người dân Mỹ hãy bình tĩnh đừng mặc định rằng những gì của thiên nhiên không có hóa chất là đương nhiên tốt hơn thuốc tây (tân dược), và chỉ nên mua thực phẩm chức năng “hàng hiệu” để yên tâm hơn về chất lượng.

Nếu như thập kỷ cuối cùng của Thế Kỷ XX là thời hoàng kim của sự bùng nổ ngành kỹ nghệ thảo dược Hoa Kỳ, thì sụt giảm về doanh số bán trong thập kỷ đầu tiên của Thế Kỷ XXI này chỉ cho thấy ngành thảo dược đã phát triển quá nóng với sự bon chen vào sân của các đối thủ từ Châu Âu, kể cả từ các nước Đông Âu khối xã hội chủ nghĩa cũ. Tuy có điều oái oăm là các nước Châu Á chỉ bắt đầu vào sân chỉ sau khi đột nhiên thấy những “thứ” của Ông Cha mình đang làm giàu cho các nhà sản xuất thực phẩm chức năng Âu Mỹ, song sự có mặt của họ như những nhà sản xuất của các nước có nền y học cổ truyền hưng thịnh cũng khiến ảnh hưởng đến doanh số của các nhà đại tư bản Âu Mỹ. Tức giận, người ta đổ lỗi cho mọi thứ, chẳng hạn như Mark Blumenthal, nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành Hiệp Hội Thảo Mộc Hoa Kỳ ở Bang Texas, đồng thời là chủ bút tờ báo về thảo dược HerbalGram, đã chỉ trích các phương tiện truyền thông đại chúng cứ nói lung tung linh tinh công kích thực phẩm chức năng khiến thị trường sút giảm, chẳng hạn cứ nói kiểu đó là ngành kỹ nghệ phi luật lệ làm người tiêu dùng hết tin vào sự chuyên nghiệp của ngành và sản phẩm, thậm chí việc cơ quan chính phủ không chịu công nhận dược tính thảo dược đối với công tác phòng bệnh cũng làm gia tăng tiêu cực kinh doanh. Trong khi đó, một cách ôn hòa hơn, Ông Greg Ris, phó tổng giám đốc kinh doanh của Indena USA ở Bang New Jersay, nhìn nhận rằng chính thị trường phát triển bùng nổ phải chịu trách nhiệm vì nhu cầu tăng quá nhanh dẫn đến áp lực về giá bán thành phẩm giảm và giá mua thảo mộc nguyên liệu tăng. Đơn cử một thí dụ như đinh hương (clove) được Mỹ thu mua cả quả và thân nhánh từ các nước Madagascar, Singapore, Pháp, Sri Lanca, Indonesia, Tanzania, Moldova, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, v.v., mỗi năm gần 2.000 tấn do thiếu hụt nguồn cung trong nước, kể cả ở nước ngoài do số lượng nhà sản xuất thì tăng nhưng diện tích đất trồng thì không tang.

Sự cạnh tranh trong nội bộ thị trường Mỹ cho người ta thấy ngành kỹ nghệ này rất chính danh tương tự bất kỳ ngành công nghiệp lớn và quan trọng nào khác của nền kinh tế quốc dân. Brian Stephenson cho rằng người dân Mỹ khi hàng năm chi nhiều tỷ USD cho thực phẩm chức năng nhưng trước số lượng gần như vô tận các nhà sản xuất và nhà thuốc thực phẩm chức năng mọc lên hơn nấm, thì người dân Mỹ của ông cần lưu ý đến 3 điều sau:

– Không có sự khác biệt giữa “thuốc” và “thực phẩm chức năng” vì cả hai đều có tác dụng nếu dùng đúng cách. Sự khác biệt sở dĩ có là tại FDA xem những “thứ đó” như thể chúng là “thực phẩm”, từ đó FDA bày ra cách giải thích kỹ thuật rằng “chúng” là những sản phẩm dùng bằng đường miệng, có chứa chất liệu nhằm bổ sung cho khẩu phần ăn, trong khi “thuốc drug” là những sản phẩm được định nghĩa theo pháp luật là những chất liệu được dùng nhằm khám bệnh, chữa bệnh, hay phòng bệnh. Hóa ra thực phẩm chức năng bị FDA xem chẳng khác nào như viên kẹo ngậm cho mát cổ họng.

– Do “thực phẩm chức năng” cũng là thuốc, nên đừng vội tin rằng đó là “thực phẩm” mà dùng vô tư. Phải có tham vấn của bác sĩ, vì không nên dùng cùng lúc hai loại … “thuốc” này với “thuốc tây”.

– Nên mua “hàng hiệu” vì không phải cứ sản phẩm thiên nhiên, không sử dụng hóa chất, là mặc định rằng “thuốc” ấy (thực phẩm chức năng) đương nhiên tốt, vì rằng chính do là sản phẩm thiên nhiên nên có khi lại dính thuốc trừ sâu bệnh, vi khuẩn ngoài trời, khoáng chất kim loại nặng rất độc hại của thiên nhiên, và sự gia giảm hàm lượng để gia tăng lợi nhuận của nhà sản xuất cạnh tranh không chân chính.

Như vậy, siêu cường Hoa Kỳ đã chứng tỏ họ là siêu cường cả về thảo dược mà cơ quan FDA của họ gọi là “thực phẩm chức năng”. Điều cần lưu ý ở đây là: cơ quan FDA gọi đấy là “thực phẩm chức năng” không vì nó không có dược tính, không vì ý muốn ngôn từ của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng, các bác sĩ chữa bệnh bằng thảo dược, và không vì mong muốn của bệnh nhân Mỹ, người tiêu dùng Mỹ. Vậy ở Việt Nam xử sự thế nào với thảo dược? Nếu thực phẩm chức năngthực phẩm, liệu người tiêu dùng có cho là họ bất bình thường khi bỏ tiền ra mua với giá cao những viên mà trái cây ngon ngọt thơm lừng họ có thể mua với giá rẻ hơn để… ăn tươi nuốt sống? Xin mời xem hồi sau sẽ rõ.

F) Hãy Nhìn Vào Ta

Có thể người Việt ta ham học hỏi, thậm chí có bạn trẻ khi dự phỏng vấn xin việc ở công ty nước ngoài lại nói rằng bản thân ham học hỏi và muốn vào để học hỏi hoặc sẽ học hỏi để khắc phục những năng lực còn chưa đạt, mà không biết rằng đối với nhà phỏng vấn chuyên nghiệp đẳng cấp cực cao thì một dấu X to tướng đã xuất hiện gạch chéo ngang hồ sơ trước mặt ngay khi tai vừa nghe thấy từ “học hỏi” vì người ta chỉ muốn tuyển dân chuyên nghiệp đã qua đào tạo chứ không tuyển…học viên. Anh phải nhuần nhuyễn, tôi mới tuyển. Anh còn phải học hỏi thì cứ về học cho xong, vài năm nữa quay lại để phỏng vấn tiếp nhé. Chính vì ham học hỏi mà người ta luôn thấy kẻ khác ở nước ngoài là Thầy ta. Chính vì ham học hỏi mà người ta luôn thấy bản thân chẳng có gì hay ho để đem ra dạy người khác. Chính vì ham học hỏi mà người ta nói đi học tiếng Anh để tiếp thu văn hóa nước ngoài chứ chẳng ai như nhà giáo Hoàng Hữu Phước nói học thật giỏi tiếng Anh để dạy cho đại học Mỹ các môn lịch sử Việt Nam và Văn Học Việt Nam, hoặc học tiếng Anh để dạy môn Ngôn Ngữ Học Tiếng Việt cho sinh viên Anh Mỹ. Cứ thế mà giới y khoa gọi bác sĩ Tây Y là “bác sĩ” chứ không xem trọng bác sĩ Đông Y nên không gọi họ là “bác sĩ” mà gọi hết sức xằng bậy về ngữ nghĩa là “lương y” thay vì phải gọi là bác-sĩ-Tây-Y và bác-sĩ-Đông-Y; còn bác sĩ Tây Y đeo ống nghe (chẳng biết để làm chi) để rồi cằn nhằn người mẹ hay người vợ của người bệnh khi thấy lưng người bệnh có mấy đường cạo gió hay mấy mặt trăng tím bầm của giác hơi, rằng làm vỡ mạch máu, v.v. và v.v., phủ nhận nhiều sự thật rằng tổ tiên Việt Nam đã dùng “thực phẩm chức năng” để chữa bệnh từ ngàn xưa để ra sức thần uy Phạt Tống, Bình Chiêm, Trừng Minh, Trị Thanh, Đuổi Xiêm, Rượt Phỉ; rằng danh tiếng của “cạo gió” đã theo chân người lính Mỹ về đến Hoa Kỳ với những tác phẩm hồi k‎ý không phải nhớ mấy em bán dâm mà nhớ mấy lần say xỉn trúng gió được mấy ẻm đè ra cạo gió nhờ vậy còn sống đến ngày rút quân; và rằng bà mụ đỡ đẻ Việt Nam từ xa xưa đã biết rửa tay bằng nước ấm pha gừng trước và sau khi đưa hài nhi ra khỏi cửa mình người mẹ, chứ không như giới Tây Y ngay thời cận đại còn “đì” một ông bác sĩ làm ông bị tống cổ ra khỏi viện hàn lâm y học rồi chết trong nghèo khổ đơn độc mà kẻ đưa ma chỉ là một chú chó trụi lông chỉ vì ông ấy dám đề nghị mọi người rửa tay với xà phòng trước và sau khi khám mỗi sản phụ và bệnh nhân để may ra không làm nhiễm bệnh cho bệnh nhân tiếp theo.

Như trong bài Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương [4] , nhiều chùa cũ ở Việt Nam bị các sư cho đập bỏ để xây chùa bê-tông lớn hơn, sát mặt đường hơn cho rộng nơi ở hơn, không phí dù một khoảnh nhỏ nào để trồng cây xanh bóng mát, hầu như những y sĩ Việt Nam cũng theo tâm lý chung ấy rằng cái mới ắt tốt hơn, đáng tin cậy hơn. Tất nhiên ai cũng công nhận chùa bê tông khó cháy hơn chùa gỗ. Tất nhiên ai cũng công nhận ngành phẫu thuật và vi phẫu thuật của Tây Y không bao giờ là thế mạnh của Đông Y cũng như các thuốc và vắc-xin quan trọng sống còn với sự sinh tồn của nhân loại. Nhưng cho rằng toàn bộ kinh nghiệm dân gian về các loại thảo mộc dùng trong chữa bệnh là thứ vất đi thì lại là một thứ cực đoan kỳ lạ, lẽ ra chỉ xuất hiện ở nước nào chưa từng có các kinh nghiệm ấy, chứ không tại xứ sở luôn viết lời vinh danh những nào là “thần y” này, “ngự y” nọ, đồng thời gây hoang mang vì lớn tiếng phủ nhận rằng “thứ đó” không có tác dụng trị bệnh thay thuốc. Vậy các danh y và thần y ấy được ca ngợi ắt không do chữa bệnh chăng? Song, dù không cần tranh luận thắng hay thua, vẫn phải công nhận một điều rằng ta đã không làm điều như Hàn Quốc đang làm, và ta đã làm điều FDA của Mỹ làm chứ không làm điều giới phát triển thực phẩm chức năng Mỹ làm là tranh đấu đòi trả lại tác dụng chữa bệnh của thực phẩm chức năng.

Ta có cơ may nào đưa sản phẩm thực phẩm chức năng vào thị trường Mỹ không? Không. Vậy tại sao phải buộc ghi câu phủ nhận lên sản phẩm của Việt Nam cho thị trường Việt Nam? Phải làm sao, đó là câu hỏi mà câu trả lời khi xem ở hồi sau sẽ rõ.

G) Sau Khi Biết Người, Biết Ta: Hãy Là Chính Mình Và Vượt Lên Chính Mình

Thay vì dựa vào … “sách thuốc” của các … thần y và ngự y “nội” để nghiên cứu phục vụ nhân dân, các dược sĩ ta đa số mong tốt nghiệp để mở tiệm thuốc tây hay cho người khác thuê văn bằng để mở tiệm thuốc tây. Thậm chí có vị quan tâm đến thảo dược trong “sách thuốc” chỉ sau khi ở nước ngoài có người (kể cả có Việt Kiều) nghiên cứu chế tạo như trường hợp của Trinh Nữ Hoàng Cung trong khi các doanh nhân Việt thì nhanh tay làm…trà túi lọc Trinh Nữ Hoàng Cung cũng ghi xa xa ám chỉ về “dược tính” nhưng ghi to đùng dòng chữ phủ nhận dành cho thực phẩm chức năng…Mỹ. Hoặc quan tâm đến thảo dược chưa hề có trong “sách thuốc” nước mình chỉ khi thấy nước ngoài chế tạo rùm beng như trường hợp Dây Thìa Canh, cũng bắt chước sản xuất theo với lời vinh danh kiểu kẻ cướp rằng đã tự dày công nghiên cứu phát hiện Dây Thìa Canh ở vùng núi những tỉnh nào ở Việt Nam và thử nghiệm lâm sàng phát hiện dược tính nào nên nay cho ra đời sản phẩm sau, v.v. và v.v., tất nhiên có ghi thêm kiểu “nói thế mà không phải thế” với câu tự phủ định rằng đây chớ phải là thuốc, rằng đây chớ trị được bịnh, và đây chớ được dùng thay thế thuốc.

Ta hãy là ta! Đây là “thuốc” Nam của ta! Nếu “Nước Nam là của dân Nam” thì “thuốc Nam là của dân Nam”, sao lại hổ thẹn mà tự phủ nhận? Nếu như một người nước ngoài nào đó nói như sau :

Tui là người nước ngoài quan tâm đến thảo dược Đông Phương, nếu nước anh có, thì tui sẽ tìm đến; còn nếu anh chỉ có thuốc tây thì tui đến làm chi? Bọn nước ngoài tụi tui đánh giá cao về vệ sinh, nên nước nào có nền y học cổ truyền hiệu nghiệm thì tụi tui kính trọng vô cùng vì đó đích thị là văn minh, là trí tuệ, là nhận thức nghiêm túc của người xưa ở nước ấy. Bạn hỏi tui làm sao biết “hiệu nghiệm”ư ? Chắc bạn hỏi chơi chứ ai chẳng biết là nếu như ngành y học cổ truyền ấy đang được vinh danh, phát triển, và được chính người dân nước ấy sử dụng ngay cả trong thời hiện đại này, thì đó là dấu hiệu chứng minh các phương “thuốc” và cách chữa trị của người xưa đã rất hữu hiệu. Bọn tui phải nhanh tay nhanh chân đổ xô tìm đến ngay, cứ như là cuộc đổ xô tìm vàng thời miền Viễn Tây Hoa Kỳ ấy chứ lị!

thì các bạn nghĩ sao ?

Người dân Việt vẫn gọi mấy thứ sinh tố là thuốc bổ, và không có hình thức phạt hành chính nào áp dụng đối với ai không gọi viên sinh tố là viên thực phẩm chức năng. Vậy tại sao cứ mặc định rằng chữ “thuốc” phải mang ý nghĩa duy nhất tương đương “medicine” hay drug của tiếng Anh?

Ghi dòng chữ phủ nhận cho thực phẩm chức năng, phải chăng muốn nói rằng chỉ có thuốc tây mới trị được bệnh? Thuốc tây trị được bịnh là một mặc định không đúng sự thật. Ngoài ra, y học nước Mỹ có cả các “bác sĩ” ngành thảo dược, và các vị này có những công trình nghiên cứu cho thấy thực phẩm chức năng cũng là “thuốc”, vì vậy không nên tự ý dùng chúng như… “thực phẩm” cùng lúc với uống “thuốc tây”; còn giới kinh doanh thì đặt ra tên mới cho thực phẩm chức năng là nutraceutical (nutrition + pharmaceutical = dinh dưỡng + dược phẩm) hoặc alternative medicine (sản phẩm dùng thay thế thuốc) nghĩa là giành cho bằng được nội dung “thuốc” chữa bệnh của thực phẩm chức năng. Sẽ thật là kỳ lạ nếu vẫn chưa có bác sĩ hay dược sĩ nào của Việt Nam viết bài công kích mấy ông Mỹ ấy. Và cũng sẽ thật là kỳ lạ nếu Việt Nam cho phép mấy công ty của mấy ông Mỹ ấy vào kinh doanh hàng thực phẩm chức năng với giá trên trời của hình thức đa cấp, cho phép các công ty dược nhập khẩu thực phẩm chức năng của mấy ông Mỹ ấy với nào là viên tỏi, viên gừng để tích cực phục vụ nhu cầu của người dân Việt.

Nhất thiết phải bỏ câu phủ định trên các sản phẩm thảo dược Việt Nam. Dân chúng tôi uống để trị bệnh, nên nếu quý vị ngoại kiều tin thì cứ đến Việt Nam mua mà dùng, chẳng ai ép, chớ ai dụ, và hà cớ gì chúng tôi phải ghi mấy dòng chữ của FDA mà chính các vị đang phản công bên nước các vị. Ngoài ra, lợi thế của thảo dược là phải dùng lâu dài, phải kiên nhẫn, và người tiêu dùng có tri thức đều nhận biết điều này cũng như hiểu rõ rằng cả thuốc tây và thảo dược đều không là “thần dược” vì còn tùy vào nhiều yếu tố khác như cơ địa và tình trạng sức khỏe thực sự của mỗi người, nên khi sử dụng sẽ không có chuyện bù lu bù loa đòi lại tiền như trẻ nít hay chửi bới như người ngoài hành tinh. Đến với thảo dược truyền thống dân gian tức là đến với niềm tin cũng như hy vọng vào thứ gần như là cuối cùng. Sự tự phủ nhận là cách xử sự rất kỳ quái đối với người tiêu dùng, tước đi của họ sự hy vọng ấy. Trên đời này không có nhà kinh doanh nào làm như thế, trái lại họ luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhất là khi khách hàng ấy đang còn niềm hy vọng cho bản thân hay người thân.

Thực phẩm chức năng ư ? Không phải!

Câu cần in ngoài bao bì nên là: Đây không phải là thuốc tây hóa chất nên không mang tác dụng chữa bịnh của thuốc tây hóa chất. Sản phẩm này được sự cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam. Không có câu này, hóa ra Bộ Y Tế phó mặc sức khỏe và sinh mạng người dân sao?

Thứ giết người và giết chuột thì được phép dùng chữ thuốc để thành thuốc độcthuốc chuột. Vậy thứ giúp cải thiện sức khỏe và chức năng này nọ trong cơ thể con người lại bị nghiêm cấm bằng câu vô duyên không phải là thuốc ư ?

Đó là thuốc từ nguồn thực vật thiên nhiên truyền thống và hữu hiệu của Việt Nam. Câu đúng phải ghi – nếu muốn tỏ lòng thần phục bái phục FDA của Mỹ – phải là : đây không phải là thuốc Tây hóa chất và không thể dùng thay thế thuốc Tây hóa chất trong chữa bệnh.

Bằng không, phải sửa lại sử sách để ghi rằng từ ngàn xưa nước Việt đã có thuốc Tây và nhờ vậy đã đánh thắng tất cả các giặc ngoại xâm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2] Trang Emotino.com của cộng đồng doanh nhân đã ngưng hoạt động từ Qu‎ý III năm 2014.

[3] Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Mở Hướng Kinh Doanh: Thực Phẩm Chức Năng.http://www.emotino.com/bai-viet/19471/mo-huong-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang-hay-la-chinh-minh-vuot-len.

[4] Hoàng Hữu Phước. 11-5-2010. Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/02/nen-cu-lau-dai-bong-tich-duong-luan-ve-bao-ton-bao-tang/ .

Emotino.com có nhiều bài của Hoàng Hữu Phước viết về y tế và y học. Ba bài sau sẽ được chọn đăng lại trên blog.com:

Giới Thiệu Một Thức Uống Quý Tộc Thời Dịch Bệnh. 29-5-2009.  http://www.emotino.com/bai-viet/17823/gioi-thieu-mot-thuc-uong-quy-toc-thoi-dich-benh-pernod

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của Phương Thuốc Rượu Tỏi. 28-3-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

Luận Về Trái Cây Việt Nam. 24-05-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18619/luan-ve-trai-cay-viet-nam

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Advertisements

Báo Người Lao Động

– Gương Trân Trọng Người Tài –

(Bài thứ hai trong loạt 4 bài viết về 4 tờ báo lớn của Thành phố Hồ Chí Minh[1])

Hoàng Hữu Phước, MIB

NLD_HHP_03042009 (5)

Trong nhiều năm tôi viết liên tục những bài viết dài cho báo Người Lao Động của Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt cho chuyên trang Việc Làm. Và chỉ cần nhìn vào phần giới thiệu phía trái trên của trang 9 của tất cả các số báo

 Nguoi Lao Dong

là đủ thấy vào thủa ấy báo Người Lao Động đã là tấm gương cho toàn bộ nền báo chí nước nhà trong việc biết cung kính trước người nào mà báo Người Lao Động tự đánh giá là…giỏi nhất: tên “Ông” Hoàng Hữu Phước luôn luôn đứng trên cùng trong một danh sách có những người mang học vị “thạc sĩ” hay “tiến sĩ”, mà danh sách này không theo thứ tự trước-sau của giới chức sắc quyền lực của hệ thống chính trị, cũng không theo thứ tự trước-sau của bảng mẫu tự tiếng Việt hay tiếng Anh – mà dù nếu có ai đó xấu tính xấu nết cố tình lập luận rằng tại bị vì bởi danh sách được xếp theo hình chóp kim tự tháp thì vẫn dễ dàng bị “phản biện” rằng (a) trong thế giới học thuật quản trị kinh doanh thì đỉnh chóp kim tự tháp là nơi thượng tầng của thiểu số cao cấp nhất của nhu cầu, và rằng (b) hãy xem ảnh minh họa ở trên sẽ thấy ở giữa có tên của Bà Nguyễn Thị Bạch Yến không đáp ứng yêu cầu của “kim tự tháp” vốn nhất thiết đòi hỏi phải có triền sườn thẳng thớm.

Sự kính trọng, tôn trọng có được nơi báo Người Lao Động làm tôi thiển nghĩ ắt vì tôi trong nhiều năm viết bài đã hội đủ cùng lúc tất cả 12 nhánh tiêu chuẩn của 3 cụm tiêu chuẩn chính sau của người mà báo chí chính quy của Đảng và của nhân dân luôn luôn cần có:

1- Đề tài đạt 4 chuẩn của (a) “thời thượng” tức vấn đề chính của xã hội theo chuyên mục; (b) “nóng bức” tức “nóng + bức bách”, tức cấp bách mà chưa ai trong nước có thể vấn kế và truyền thụ kinh nghiệm; (c) ích quốc hoặc lợi dân, hoặc cả hai; và (d) cho chính nghĩa của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

2- Bài viết đạt 4 chuẩn gồm (a) thật dài để chiếm ít nhất ¼ trang báo lớn, (b) nội dung văn phong cùng thông tin thật độc đáo độc quyền để trở thành bài chính của trang, (c) lôi cuốn sự quan tâm của người đọc làm gia tăng doanh số bán của tờ báo, và (d) biến báo Người Lao Động trở thành tờ báo đẳng cấp chính quy chính thức của người lao động Thành phố Hồ Chí Minh và vươn ra toàn quốc;

3- Người viết đạt 4 chuẩn gồm (a) có uy tín nhất trong ngành tư vấn việc làm của công ty lớn nhất, quyền lực nhất của hiện thời; (b) có tâm hướng thượng vì lợi ích của người dân, nhất là công dân trẻ, và vì quốc thể, được thể hiện qua trách nhiệm cao trong thông tin quan trọng, nhạy cảm, và không bao giờ nhận tiền nhuận bút mà tuyên bố dành tất cả cho quỹ bảo trợ người nghèo hoặc chương trình từ thiện của báo Người Lao Động; (c) có thẩm quyền tuyên bố về những vấn đề, vấn nạn, cùng các biện pháp để xử lý luôn tình huống chứ không theo bài bản của mọi người là “đề xuất để cấp trên xem xét”; và (d) có quá trình công tác nổi bật, được công chúng thuộc giới của lĩnh vực viết về biết đến.

Riêng về phần người viết thì “uy tín” được thể hiện qua việc các lãnh đạo các văn phòng nước ngoài mỗi khi có sự cố về nhân sự cần được tư vấn pháp luật hoặc biện pháp xử lý đều trực tiếp tìm đến nhân vật Hoàng Hữu Phước, thí dụ như nội dung tờ fax sau của một vị Trưởng Đại Diện đã phản ảnh ngay khi được nhân viên cung cấp ý nghĩa của một thông tin trên báo Người Lao Động rằng đã phỏng vấn và tôn vinh một nữ lãnh đạo ngôi sao của doanh nghiệp nước ngoài trong khi vị này lại “tố” rằng đó là người phụ nữ đã gây bao điều tác tệ cho công ty của ông và mong tôi tư vấn pháp luật để xử lý đòi lẽ công bằng và trừng trị kẻ gian:

 ScreenShot494

Ngoài ra, “uy tín” còn được thể hiện ngay khi phát hiện báo Người Lao Động có đăng một bài của một kỹ sư viết về “lò vi ba” (sau này thiên hạ ngoài Bắc gọi nửa nạc nửa mỡ, nửa Hán Việt nửa thuần Việt là “lò vi sóng”), gọi nó là “cái bếp đun”, tôi đã fax ngay đến tòa soạn một thư khẳng định nội dung bài viết đó sai hoàn toàn, bậy hoàn toàn, nguy hại hoàn toàn, kèm theo một bài viết mà ngay sau đó tòa soạn đã đăng ngay trên số báo tiếp theo (31-10-1997) mà không sợ vị kỹ sư ấy mếch lòng:

 NLD 31-10-1997

Còn về nội dung bài viếtđề tài thì những bài viết dài như Anh Văn Bằng A, B, C, Hay Cử Nhân; hoặc Những Tính Xấu Có Thể Làm Bạn Mất Việc, hay Tu Nghiệp Nước Ngoài: Đừng Để Bị Lợi Dụng; và Lương Gross Hay Lương Net, v.v. đã luôn chiếm phần trang trọng của báo và là những bài luôn “nổi đình nổi đám” vào thời điểm chưa có bất kỳ ai dù được gọi hay tự phong là nhà tư vấn việc làm, nhà tư vấn nhân sự chính quy cao cấp, và nhà biện thuyết về nhân sự cả, nhất là khi nhà tư vấn ấy còn là diễn giả thường xuyên tại các buổi thuyết trình trước nhiều trăm khán giả là nguồn lực của nền kinh tế quốc dân như mẫu tin năm 1997 dưới đây trên báo Người Lao Động:

 ScreenShot492

Có thể vấn nạn “hai mang” như dịch bệnh lây lan vấy bẩn phần lớn các báo giấy hay báo mạng ở Việt Nam nên mới có việc vài nhân viên và bạn hữu của tôi báo tin tôi biết rằng Báo Người Lao Động có tham gia tấn công tôi trong vụ “dân trí thấp[2] [3] và “tứ đại ngu[4]. Tôi đã cười khoan dung độ lượng nói rằng nếu người viết còn trẻ tuổi thì ắt là con nít non dạ và yếu nghề nên rất đáng thương hại cho người viết, còn nếu người viết từ 30 tuổi trở lên thì chính là thuộc bọn hai mang nên rất đáng thương hại cho tòa soạn. Virus hai mang ấy nếu được phát hiện ra, nhất thiết phải bị diệt trừ. Đảng không thể dung túng việc phát tán virus hủy hoại đời sống tinh thần của nhân dân. Và người dân trưởng thượng đoan chính không bao giờ chấp nhận những tờ báo ngập ngụa bài viết của bọn virus hai mang ấy. Báo Người Lao Động ắt phải đồng tình với tôi rằng uy tín của báo tùy thuộc vào (a) người viết báo, đề tài viết báo, nội dung bài báo, và (b) báo không chứa chấp bọn hai mang.

Giá như báo Người Lao Động có Phòng Truyền Thống đúng nghĩa cũng như hàng năm có tổ chức họp mặt những người đã góp công sức vào việc nâng cao vị thế báo Người Lao Động trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày thành lập báo đến nay thì lẽ ra “phóng viên” của họ đã có thể biết “ai là ai” để tỏ lòng tôn kính tôn trọng nhanh chân chen nhau tìm đến để được bảo ban, hướng dẫn tác nghiệp báo chí thành công.

Cảm ơn Báo Người Lao Động của thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Gương trân trọng hiền tài của Báo Người Lao Động sẽ là điểm son sáng nhất trong Báo Sử của Việt Nam cho đến ngày tận thế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

 ScreenShot493

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. http://hhphuoc.blog.com/?p=182

[2] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Phát Biểu Của Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[4] Hoàng Hữu Phước. 02-2013. Tứ Đại Ngu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

Lời Cảm Ơn Của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

 HHP (80)

Gần đây tôi nhận được rất nhiều lời động viên từ không gian mạng.

Từ khi tạo blog mang tên Aspiration năm 2005 trên Yahoo!3600 cho các bài viết bằng tiếng Anh, mỗi khi đăng một bài và nhận được những lời phê bình khen tặng là tôi đều viết thư bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt tùy lời khen nhận được bằng ngôn ngữ gì để cảm ơn. Với lời cảm ơn bằng tiếng Việt, đôi khi tôi thực hiện bằng một bài thơ; và theo thời gian, những bức thư và các bài thơ đã gia tăng về số lượng; song, nội dung luôn xoay quanh một điều tương tự vì những gì tôi viết dù nhiều về số lượng, thuộc bất kỳ chủ đề nào và bằng ngôn ngữ gì đi chăng nữa cũng luôn nhằm vinh danh đất nước Việt Nam và những điều chính nghĩa của đất nước này.

Năm 2011 Luật sư Vũ Ngọc Dũng, Tổng Giám Đốc Bắc Việt Luật ở Hà Nội, có gởi đến tôi lời động viên, ủng hộ, cùng một bài thơ tựa đề “Thầy” như sau:

 Lời Cảm Ơn Của Hoàng Hữu Phước (1)Lời Cảm Ơn Của Hoàng Hữu Phước (2)

và tôi đã kính gởi đến vị luật sư này bài thơ sau viết theo thể Đường Luật đăng trên Emotino.com:

     Sông núi hùng anh vẫn hãy còn

     Sơn hà thánh tổ để đàn con

     Điểm tô thêm sắc thêm ngời rạng

     Vinh danh vạn thế chẳng xói mòn.

     Chí Việt hướng về phương cẩm tú 

     Tâm Nam soi chọn nẽo vuông tròn

     Một lòng đau đáu vì non nước

    U hoài giấy trắng tỏ lòng son

     Hoàng Hữu Phước, 08-12-2011.

Nay để tỏ lòng biết ơn những người đã gần đây gởi đến tôi những lời động viên, ủng hộ, tôi xin được sử dụng bài thơ tôi đã tặng vị luật sư trên, người mà cho đến nay tôi vẫn chưa từng được gặp mặt, để tỏ chí hướng của mình như một lời cảm ơn chung tận đáy lòng đến tất cả, cho tất cả, và vì tất cả.

Trân trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tôi Và Các Luật Sư

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 ScreenShot273

Vào những năm 1980 và những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ trước [1] tôi đã là nhà tư vấn luật pháp cho các ngoại giao đoàn và tất cả các văn phòng đại diện công ty nước ngoài hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh, dịch thuật sang tiếng Anh các bộ luật hiện hành để công ty FOSCO của nhà nước cung cấp cho các đơn vị nước ngoài nêu trên, thậm chí tôi còn tham gia giải quyết những vụ việc tuy thuần túy tranh chấp thương mại nhưng lại có nguy cơ lớn đối với quan hệ đối ngoại của quốc gia như trong sự cố hạt điều có phiên phải triệu đại sứ Ấn Độ và cơ quan chức năng cấp Bộ của Việt Nam vào cuộc, cũng như tôi làm phiên dịch pháp đình (miễn phí) tại Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với các phiên xử có yếu tố nước ngoài để giúp nguyên đơn hay bị đơn là công dân Việt Nam có khó khăn về tài chính không thể trả tiền thuê phiên dịch tại Tòa còn Tòa thì không có ai biết tiếng Anh. Trong thời điểm sớm sủa đó của đất nước, tiêu chuẩn để trở thành thẩm phán là có đạo đức cách mạngcó tín nhiệm với nhân dân chứ không phải là tiêu chuẩn phải có văn bằng gì thuộc ngành luật gì do chẳng qua các đại học Việt Nam chưa có đào tạo (hoặc đào tạo chưa xong) luật sư.

Năm 2011 khi tôi phát biểu về Luật Biểu Tình [3] thì có một vài người  xưng là luật sư gởi đến tôi những email phản đối và thậm chí có vị còn lợi dụng buổi tiếp xúc cử tri ở Quận 3 để đứng lên xưng là cựu Giám đốc Sở Tư Pháp để chống lại tôi và lên trao cho tôi trước mặt Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang một bức thư mà tôi thì chưa hề đọc các email cũng như các bức thư loại đó vì tôi đương nhiên biết tất cả các lập luận nhàm chán kiểu lập lại của giới chống Cộng. Nay nhân Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang tuần này có phát biểu trong Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Luật Gia lần thứ XII rằng Hội “đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân”, tôi thấy nổi bật cụm từ “xã hội chủ nghĩa”, đặc biệt là “xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như để đanh thép nói rõ với nhiều “luật sư” đang mê muội đem cái ngoại lai tạp giống mà rao giảng rao truyền sứ điệp đòi nhân quyền dân chủ, tôi chợt nhớ đến “lịch sử Luật” mà tôi nắm rất vững, và với tư cách người có kinh nghiệm thực tế thực tiễn – chí ít là các vấn đề luật pháp về lao động và đầu tư – kinh doanh những năm Việt Nam chưa có các vị “luật sư” nào hành nghề – và đặc biệt là với tư cách nghị sĩ tức người đã đương nhiên trở thành Nhà Lập Pháp và Nhà Lập Hiến (do các Đại biểu Quốc hội Việt Nam Khóa XIII ngoài việc thông qua rất nhiều đạo luật còn đặc biệt thông qua Hiến Pháp 2013) tôi xin đăng lại bài viết sau mà tôi đã tải lên mạng Emotino năm 2009 để góp thêm phần cung cấp sử liệu cho hậu thế:

Luật Sư Việt Nam và “Hội Nhập”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Emotino, đăng lúc 10g13 ngày 04-01-2009

Được Luật sư Vũ Ngọc Dũng, CEO Bắc Việt Luật, thành viên tích cực của Emotino, giới thiệu trang web http://luatsutoanquoc.com, tôi lập tức đến thăm ngay và đọc được một bài viết rất thú vị của Luật sư Bút Thì Khiêm ghi nội dung phỏng vấn Ông Edward Nally, nguyên Chủ Tịch Hội Luật Sư Anh và Xứ Wales, người đã đến Việt Nam nhân Tuần Lễ Pháp Luật Việt Nam-Châu Âu do Bộ Tư Pháp Việt Nam, Hội Đồng Anh, Hội Luật Sư Anh và Xứ Wales phối hợp tổ chức. Theo Ông Nally, việc (Việt Nam) gia nhập WTO đồng nghĩa với việc giới luật sư quốc tế sẽ đổ vào Việt Nam nhiều hơn, … và pháp luật trong nước (Việt Nam) gần như là lĩnh vực dành cho luật sư địa phương (Việt Nam). Do có sự chưa rõ và thậm chí trái nghịch nhau trong hai ý trên của Ông Nally, tôi xin có những nhận định sau.

Thật ra không cứ gì phải đợi đến khi Việt Nam gia nhập WTO hay phải có “hội nhập” mới nảy sinh vấn đề luật sư Việt Nam “vươn ra thế giới“. Thậm chí việc cho rằng “pháp luật trong nước gần như là lĩnh vực dành cho luật sư địa phương” cũng không thực sự chuẩn xác. Trong thời gian Việt Nam chịu sự cấm vận thương mại toàn diện của chính quyền Hoa Kỳ từ sau ngày thống nhất đất nước 1975, đã có nhiều công ty luật nước ngoài mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh như Lucy Wayne, Kelvin Chia, Phillips Fox, Frasers, Baker & McKenzi hay Tilleke & Gibbins, v.v. hoạt động cực kỳ tích cực trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam. Chẳng hạn công ty luật Phillips Fox đã tích cực chuyển ngữ các đạo luật của Việt Nam sang tiếng Anh, dù mục đích vẫn là thu lợi nhuận qua việc bán bản dịch cho biết bao nhà đầu tư quốc tế và cơ quan thông tấn hay cá nhân khắp các châu lục, nhưng cũng đã là những đóng góp không nhỏ trong phổ biến pháp luật Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp tích cực và phục vụ sự phát triển kinh tế của Việt Nam thủa đầu mở cửa. Hoạt động của các công ty luật nước ngoài này bao gồm hỗ trợ tư vấn pháp luật cho các công ty nước ngoài xúc tiến liên kết liên doanh hoặc mở văn phòng đại diện tại Việt Nam, và làm dịch vụ hồ sơ lao động (với cơ quan chuyên trách, chẳng hạn ở Tp Hồ Chí Minh là FOSCO tức Công Ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài).

Ngoài ra, dù bất kỳ trong hoàn cảnh chính trị nào, bất kỳ quốc gia nào cũng có hoạt động ngoại thương riêng. Tại Việt Nam, hoạt động ngoại thương xuất nhập khẩu vẫn diễn ra mạnh mẽ ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (kể cả kỳ tích xuất khẩu gạo mà người viết bài này chính là người nỗ lực giúp thực hiện thành công chuyến xuất một tàu 15.000 tấn gạo đầu tiên kể từ năm 1975) với sự thanh toán bằng đồng Bảng Anh, Đức Mã, Yên Nhật, và Phật Lăng Pháp (không được sử dụng Mỹ Kim tức USD do cấm vận); mà đã có giao thương và hợp đồng kinh tế, ắt có tranh chấp bất kỳ ngoài ý muốn, và Việt Nam đã phải tiến hành những phiên xử. Tuy chỉ qua “trọng tài kinh tế” do bấy giờ ta chưa có các luật sư có bằng cấp về corporate/business disputes, nhưng vẫn có thể nói chúng ta đã có kinh nghiệm “xử lý” các vụ kiện lĩnh vực kinh doanh có yếu tố nước ngoài, và các luật sư nước ngoài cũng đã có kinh nghiệm cung ứng dịch vụ luật pháp tại Việt Nam từ 25 năm nay.

Để “vươn ra thế giới”, luật sư Việt Nam cần rất nhiều thứ chứ không phải chỉ là khả năng nói tiếng Anh. Prestige tức uy tín mới là cái chính, mà để có nó, luật sư phải chứng tỏ năng lực ngay tại Việt Nam qua chất lượng dịch vụ tư vấn pháp luật và tần suất thành công của sự cung ứng này đối với khách hàng – đặc biệt là khách hàng nước ngòai tại Việt Nam. Sự hài lòng của họ mới là lực đẩy cần thiết giúp luật sư Việt Nam vươn được ra thế giới.

Song, một điều cần quan tâm là không phải cứ nói đến toàn cầu hóa và hội nhập là buộc phải “vươn ra thế giới” theo nghĩa đen của ngôn từ, vì rằng không phải mọi đất nước, mọi doanh nghiệp, mọi người dân đều phải giong buồm ra biển lớn để rồi chạm trán giữa đại dương! Xông ra biển lớn là để cập đến một bến bờ, nghĩa là ai sẽ là người lo hậu cần và xây dựng bến bờ chào đón và kinh doanh kiếm lời từ đoàn thương thuyền lũ lượt hè nhau cập bến ấy. Toàn cầu hóa là cơ hội không những để ta vươn ra thế giới mà còn để ta cho phép thiên hạ…vươn đến mình như một điểm đến lý thú của thiên niên kỷ. Học sinh học địa lý năm châu bốn biển không phải để du hành khắp nơi. Luật sư phải học luật các nước không phải để ra nước ngoài lập nghiệp. Đơn giản học chỉ vì đó là kiến thức không thể thiếu đối với một nhà tư vấn luật. Vươn ra thế giới đối với luật sư Việt Nam vì vậy sẽ mang ý nghĩa tầm cỡ, uy tín, năng lực, hiệu quả thành công, đạo đức chuyên nghiệp của luật sư Việt Nam đạt được và xây dựng được ngay tại Việt Nam sẽ tạo nên danh tiếng chung, vừa giúp doanh gia Việt Nam trụ vững và hành sử chuyên nghiệp trong giao thương quốc tế, hạn chế hữu hiệu các sơ xuất, vừa là chỗ dựa của doanh giới nước ngoài trong giải quyết các bất đồng phát sinh trong kinh doanh với và/hay tại Việt Nam, giữa họ với doanh nghiệp Việt Nam và/hay doanh nghiệp nước ngoài khác.

Đó mới chính là sự vươn ra thế giới của Luật Sư Việt Nam vậy.

Hoàng Hữu Phước, Nhà Lập Pháp và Lập Hiến, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

1- Ghi chú:

[1] Đây là cụm từ do Hoàng Hữu Phước sáng tạo (công thức: “từ những năm …của thế kỷ trước”) và sử dụng từ năm 2000 trên bản tin tiếng Anh và tiếng Việt HR Online của Công ty Manulife, hiện nay được sử dụng rất rộng rải trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng toàn quốc.

[3] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Phát Biểu Của Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

2- Các tham khảo cho nội dung “Biểu Tình” theo chính kiến kiên định của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước mà chưa có bất kỳ lập luận nào của bất kỳ ai tại Việt Nam hay trên thế giới phản bác hay dám phản bác trên cơ sở chính nghĩa và hùng biện thành công:

Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

Hoàng Hữu Phước. 05-6-2013. Phát Biểu Ứng Khẩu Của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước về Luật Biểu Tình. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/06/05/phat-bieu-ung-khau-cua-hoang-huu-phuoc-dai-bieu-tp-ho-chi-minh-ve-luat-bieu-tinh/

Hoàng Hữu Phước. 26-5-2014. Luật Biểu Tình. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/26/luat-bieu-tinh/

Hoàng Hữu Phước. 20-5-2014. Biểu Tình Và Ô Danh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/20/bieu-tinh-va-o-danh/

Tôi Và Lê Công Định

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot274

Nghe nói Lê Công Định sau khi đoái công chuộc tội nhờ khai sạch sành sanh băng nhóm cùng phạm tội cũng như làm ô danh Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng như Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh vì đã cung khai sạch bách và đầy đủ chi tiết nội dung những vị này đã rót vào tai Định, đồng thời vận dụng cái “ưu thế gia đình có công với cách mạng” để được Nhà Nước Việt Nam tha cho cái cụm từ “có tội với cách mạng” và thả ra khỏi chốn ngục tù sớm hơn thời hạn, Lê Công Định lại tuyên bố vung vít gì đó với mấy cái đài đẳng cấp lè tè trong đó có BBC (Việt ngữ, vì BBC tiếng Anh chẳng lẽ lại suy vi đến độ phỏng vấn một kẻ dốt tiếng Anh và thuộc hạng tận tụy cung khai như Định), tôi nghĩ thay vì viết cái gì đó về y, tốt hơn nên lục tìm một bài cũ tôi đăng ngày 14-10-2010 trên mạng Emotino (sau này được Báo Nhân Dân chọn đăng rút ngắn trên số ra ngày 07-9-2012, trang 8, dưới tiêu đề mới: “Là Công Dân, Phải Tuân Thủ Luật Pháp Quốc Gia[*], để đăng lại như dưới đây vả kính mời bạn đọc tham khảo.

 

Tôi Và Lê Công Định

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vào năm 2005, biết khả năng của tôi trong soạn thảo bằng Tiếng Anh tất cả các hoạch định chính sách, văn bản, nội quy công ty, quy định quy chế công ty, mà cách hành văn khiến ngay cả Tổng Giám Đốc người Anh của Manulife là David Matthews phải nói là ắt kiếp trước (earlier life) tôi hành nghề luật sư ở Luân Đôn còn vị Phó Tổng Giám Đốc người Canada tuyên bố cả vùng Bắc Mỹ không ai viết tiếng Anh được như tôi cũng như có bản l‎ý lịch tiếng Anh trên cả tuyệt vời như của tôi, Lê Đình Bửu Trí lúc ấy đang phò tá David Matthews có cho tôi biết đã bí mật hợp tác cùng một số luật sư để mở văn phòng luật tại tòa nhà Sunwah Tower, đường Nguyễn Huệ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, nài nỉ tôi đến giúp soạn thảo một số văn bản tài liệu bằng tiếng Anh cho văn phòng Luật ấy thêm danh tiếng với đối tác và khách hàng nước ngoài. Nghe nói tất cả các vị luật sư trong nhóm ấy nói chuyện được bằng tiếng Anh nhưng chịu thua không tài nào viết soạn được các chính sách và quy chế trực tiếp bằng tiếng Anh, tôi thấy tội nghiệp số “doanh nhân luật  tuổi chưa lớn tài chưa cao” ấy nên có nhận lời giúp đỡ.

Khi đến Sunwah Tower vào văn phòng luật ấy, tôi đếm thấy có 01 Lê Đình Bửu Trí, 01 nam nhân viên trắng trẻo thư sinh cận thị, 02 dãy bàn dài, 06 ô tò vò chia ngăn làm việc, 10 chiếc ghế xám xoay, 02 laptop, tất cả trong 03 gian phòng nhỏ. Trí giới thiệu tôi cho anh chàng trắng trẻo thư sinh cận thị, nói đó là luật sư Lê Công Định. Chúng tôi bắt tay nhau. Lê Công Định nhanh nhảu nói “Nghe danh anh Phước đã lâu, nay mới gặp” và khoe “em có bản CV của anh trong laptop rồi, em sẽ giới thiệu anh cho New York Life”.

Lúc ấy, đối với tôi Lê Công Định chỉ là một tên nhóc vô danh tiểu tốt, không thể có tương lai tốt đẹp vì hoàn toàn kém tư cách – chẳng qua vì tôi chưa bao giờ nộp đơn xin việc cho ai ở bất kỳ công ty nào thì cách chi mà Định có được l‎ý lịch sơ yếu của tôi (tức Resume) nói chi đến lý lịch hàn lâm của tôi (tức CV), còn các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài ắt đều biết đến danh tôi nên nếu muốn họ cứ liên lạc thẳng với tôi, cứ gì phải qua sự tiến cử của nhóc Lê Công Định. Kiểu “thấy sang nên bắt quàng làm họ” của Lê Công Định làm tôi rất xem thường cậu bé ăn nói tào lao ấy, song tôi cười độ lượng giống y như nụ cười của bất kỳ bậc trưởng thượng nào khác của Việt Nam của 5000 năm văn hiến, chẳng cải chính, đơn giản vì người lớn không nên làm đứa bé đang biểu lộ niềm vinh dự lớn lao được biết “Anh Phước” lại cụt hứng. Cũng có thể anh ta có trong tay đơn xin việc và hồ sơ lý lịch của một ông Phước nào đó nên lầm chăng vì cái tên “Phước” rất ư là được ưa chuộng ở xứ sở này  – song ngay cả trong trường hợp này cũng cho thấy nghiệp vụ ba chớp ba nháng của luật sư tài giỏi Lê Công Định ra sao rồi. Hoặc cũng có thể New York Life trao cho anh ta bản CV tức lý lịch của tôi mà họ đã tung tiền tìm kiếm tổng hợp thông tin cá nhân tôi trên blog hay lý lịch ở địa phương rồi nhờ Lê Công Định tiếp cận săn đầu người chăng – song cả ngay trong trường hợp hoang đường này thì lập luận cũng không đứng vững vì Lê Đình Bửu Trí ắt biết tôi sẽ rất xem thường New York Life nếu họ không “deal” trực tiếp với tôi.

Tôi quyết định phải thất hứa, không giúp Lê Đình Bửu Trí và Lê Công Định, vì sau khi hỏi họ ý nghĩa của tên công ty luật DC, tôi được biết đó là chữ viết tắt của từ  “Đồng Chí”, và khi hỏi thêm vì sao công ty luật lại cần đến từ “Đồng Chí” thì tôi được Lê Đình Bửu Trí giải thích là các bạn luật sư trẻ trong nhóm có chung niềm khao khát mãnh liệt đưa các nhà đầu tư nước ngoài vào làm giàu đất nước, giúp tạo môi trường đầu tư chuyên nghiệp theo đúng bài bản pháp luật, vân vân và vân vân. Tôi cảm thấy bất an, không vì tôi là bậc tiên tri thấu thị nhìn thấy được họ sẽ làm chuyện động trời nào đó trong tương lai gần hoặc xa, mà đơn giản vì tôi biết ngay bằng trực giác rằng đó chỉ là những kẻ thất bại losers ngay từ trứng nước do họ không biết thực chất công việc của chính họ, những người tốt nghiệp ngành luật, đó là: đạo lý duy nhất, chuyên nghiệp nhất, và văn minh nhất của “luật sư” là chỉ phục vụ cho quyền lợi của thân chủ, bất kể thân chủ là người tốt hay không tốt, sát nhân hàng loạt hay tội phạm xuyên quốc gia thủng biên giới. Còn nếu họ khoe là có ý chí vì nước vì dân như luật sư Nguyễn Hữu Thọ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì hóa ra trong đầu óc của họ cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này là cái họ phải giải phóng hay sao?

Sau này qua tin tức báo đài, tôi mới biết đến vụ án phản động của Lê Công Định, mới nghe nói về nhân thân gia đình cách mạng của hắn. Qua phát biểu khai tội của Lê Công Định trên tivi, tôi còn biết thêm một điều bí mật của hắn: thiếu ánh sáng trí tuệ –  không hiểu trường nào ở Việt Nam và ở Mỹ đã đào tạo ra một tên thiếu ánh sáng trí tuệ đến như vậy. Hắn nói đã gặp những quan chức Mỹ và nghe các vị này nói về những mong muốn đối với luật pháp và thẩm phán Việt Nam, cứ như đứa trẻ ngô nghê lắng nghe bậc cao minh chỉ giáo vậy, trong khi nhiều vị giám đốc người Mỹ và Việt Kiều Mỹ thường nói với tôi rằng luật sư bên Mỹ đại đa số làm ô danh ngành luật khiến nghề luật sư bị gọi là dirty job tức “nghề bẩn”.

 Le Cong Dinh

Lê Công Định và những tên tương cận sẽ luôn là losers vì toàn là những kẻ thiếu ánh sáng trí tuệ. Bọn biệt kích do Mai Văn Hạnh chỉ huy gồm từ những tên được huấn luyện qua những khóa tại Thái Lan hình thành các nhóm Kinh Kha – ngay cả cái tên cũng cho biết ngay là muôn đời thất bại vạn kiếp lu-dơ (kiểu doomed to be eternal losers). Lý Tống mới đây giả dạng đàn bà tấn công ca sĩ thấp bé Đàm Vĩnh Hưng, một hành động ngu xuẩn (anh hùng tối kỵ giả dạng nữ nhi) và hèn nhát (tấn công một ca sĩ nhỏ con của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chứ không dám đụng đến một anh công an xã của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đệ nhất đẳng huyền đai thái cực đạo). Còn nhóm Lê Công Định người xưng mật danh Chị Hai, kẻ Chị Ba, thì Chị Tư cũng cùng một giuộc không bao giờ thành những anh hùng do dùng danh nhi nữ.

Học ngành luật phải chứng tỏ mình hiểu luật thể hiện qua việc thượng tôn luật pháp và mọi hành sử đều phải trong khuôn khổ luật pháp của quốc gia mà mình là công dân. Điều đơn giản hiển nhiên là Việt Nam có luật Việt Nam. Không tuân thủ luật Việt Nam thì không có tư cách rao giảng luật pháp nước ngoài. Một người trí thức nếu có tín ngưỡng Phật Giáo, thì nghiên cứu các hệ thống triết học tôn giáo khác để biết các hệ tư tưởng hay triết học để mở mang trí hóa. Chỉ có kẻ làm loạn điên rồ mới quay trở lại đòi đập bỏ bàn thờ tiên tổ sau khi được các hệ khác khai cho trí hóa.

Duy, một sinh viên lai da trắng tóc vàng trước khi đi Mỹ đã nói với tôi năm 1984:

“Thầy ơi. Lúc em đi gặp phái đoàn Mỹ ở Biên Hòa để được phỏng vấn ra đi, em tưởng bị loại rồi Thầy. Thằng Mỹ mắt nó xanh biếc, nhìn sợ lắm vì thấy luôn đáy mắt của nó, và nó nói tiếng Việt giọng Bắc, chắc là chuyên viên tình báo CIA. Em cà lăm vì thằng Mỹ vừa xé hồ sơ vất sọt rác vừa hét to vào mặt thằng bạn hàng xóm của em trước đó. Thằng Mỹ hỏi sao trong hộ khẩu có khoảng cách thời gian gián đoạn thì thằng bạn em vui vẻ tự hào nói vì muốn đi Mỹ nên phải trốn nghĩa vụ quân sự, về Sài Gòn trốn ở nhờ nhà bà con, chịu cực mấy năm chờ đi Mỹ chứ nhất quyết không đi lính cho Cộng Sản. Không ngờ thằng Mỹ xé hồ sơ, quát lên bằng tiếng Việt rằng ‘Mày là công dân Việt Nam mà chống lại luật Việt Nam, không đi lính bảo vệ đất nước của mầy, thì lấy gì bảo đảm mày làm công dân Mỹ tốt và bảo vệ nước Mỹ!’ Rồi nó kêu tên em, em sợ điếng hồn vì nó đang giận dữ, may mà em rút kinh nghiệm nên không nói câu nào chống Cộng cả”.

Câu chuyện về Duy tôi đã kể cho tất cả các lớp tôi dạy trong suốt thời gian mười năm sau đó. Và tôi biết một điều tất cả những sinh viên ưu tú của tôi sau đó đều đã trở thành và đang là những công dân thành đạt ở Việt Nam. Đơn giản chỉ vì người họ muốn gần gũi và được làm việc với là những doanh nhân thành đạt của nước ngoài, tức những vị chỉ quan tâm đến người Việt tài giỏi, vì chỉ có bọn nước ngoài chống phá Việt Nam mới thèm quan tâm đến những người Việt không ưu tú, trong đó có Lê Công Định. Những doanh nhân thành đạt của nước ngoài chỉ muốn có những người Việt Nam giỏi, có ý thức tuân thủ luật pháp để không bao giờ gây phương hại cho việc làm ăn của họ ở Việt Nam. Thậm chí có doanh nhân Mỹ còn nói với tôi rằng rất thú vị nếu tuyển được nhân viên Việt Nam nào là đảng viên Cộng sản, vì người Mỹ chỉ có thể làm đảng viên chính trị của một trong hai đảng cầm quyền nếu có tiền nhiều mà thôi chứ không phải vì lý tưởng gì hết nên cả đời chưa hề biết đến con người có l‎ý tưởng như mấy ông Cộng sản trông ra làm sao.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng Sản là một đảng cầm quyền và có lý tưởng. Phải chăng vì đồng tiền không giúp những kẻ mới phất nouveaux riche như Lê Công Định mua được một ghế đảng viên cao cấp như ở Mỹ nên đã khiến những người như Định mơ màng đến viễn cảnh xây dựng một thể chế y chính trị như Mỹ, để Định sẽ được bỏ tiền túi ra tranh cử làm Tổng Thống Việt Nam? Một kẻ thú nhận là đã gặp gỡ các quan chức Hoa Kỳ nhưng lại không thể viết bằng tiếng Anh các nội dung chính sách, quy định, quy chế hoạt động, bài bản tổ chức cho chính văn phòng luật của mình thì không rõ kẻ ấy khi nói tiếng Anh chất lượng ra sao, hay chỉ cần nói một từ duy nhất là anticommunism tức Chống Cộng là xem như chủ Mỹ và tớ Việt đã hiểu nhau sâu sắc?

Lê Công Định không phải là một luật sư, không chỉ vì Định đã bị khai trừ khỏi các luật sư đoàn Việt Nam theo quy định của luật pháp Việt Nam mà còn vì Định không có tư cách của một luật sư. Một bác sĩ giải phẫu phải xử l‎ý vết thương của bịnh nhân theo đúng các phương pháp quy định của ngành và của chuyên môn, còn mọi sáng kiến có thể tự tiến hành thí nghiệm với chuột lang, đúc kết thành công trình để đệ trình hội đồng y khoa đánh giá, và được công bố áp dụng chung nếu các kết quả chứng minh có giá trị ngang bằng hoặc áp dụng thay thế nếu chứng minh có giá trị tối ưu. Một luật sư phải hành sử theo và trong khuôn khổ luật pháp quốc gia, mọi ý kiến cá nhân nếu có qua quá trình nghiên cứu dài lâu, đúc kết thành công trình hàn lâm, gởi tạp chí chuyên ngành để rộng đường tranh luận hoặc trình cho Bộ có liên quan để được đánh giá phản hồi. Đó luôn là các bước chuyên nghiệp của những người chuyên nghiệp của bất kỳ ngành nào. Only these and nothing else! Chỉ có vậy chứ làm gì còn có cách nào khác! Bàn tay sắt của chính quyền liên bang Hoa Kỳ luôn sẵn sàng dập tắt ngay cả dìm trong biển máu đối với những manh động chống lại Hiến Pháp và Luật Pháp Hoa Kỳ như đã bao lần được ghi lại trong lịch sử Hoa Kỳ từ thời lập quốc đến nay. Đó là điều đương nhiên đúng ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới này mà chỉ có những “luật sư” con rối thiếu ánh sáng trí tuệ mới cố tình làm ngơ trước sự thật hiển nhiên rằng Luật Pháp Quốc Gia Là Khung Hành Sử Mà Bất Kỳ Ai Là Công Dân Quốc Gia Ấy Cũng Phải Tuyệt Đối Tuân Thủ.

Qua vụ Lê Công Định và những kẻ chung ngành với Định, tôi đã dặn dò các học trò và bạn hữu hãy cảnh giác và răn dạy con cái nếu chúng muốn theo ngành Luật vì chúng sẽ là mồi ngon của các thế lực chống Cộng ở nước ngoài chiêu dụ trở thành những tên phản quốc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[*] Báo Nhân Dân Online ngày 06-9-2012: http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/quocte/phantichnhandinh/la-cong-dan-ph-i-tuan-th-lu-t-phap-qu-c-gia-1.366322

Cô Lại Thu Trúc Gởi Thư Cho Lãnh Đạo Nhà Nước Góp Ý Về “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Tp HCM

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Post

Trong đa số các lãnh đạo doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở một số tỉnh thành trên cả nước dạn dày kinh nghiệm chốn thị trường là thành viên của trang mạng Emotino của cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp ắt hẳn đều biết đến Cô Lại Thu Trúc, cây viết tích cực về kinh tế, xã hội, quản trị doanh nghiệp, v.v. bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, trên trang mạng Emotino từ năm 2008 đến 2014, mà nhiều bài trong số đó đã được đăng lại trên một số báo mạng hoặc báo giấy

 Post (1) Post (2)

cũng là người tích cực tham dự các hội thảo hội nghị tại các tỉnh thành, chẳng hạn như khi đăng đàn phát biểu tại Hội Thảo “Kết Nối CEO” ở Dinh Độc Lập Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 với các chủ tọa như Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Tổng Biên Tập Báo Người Lao Động Đỗ Danh Phương, v.v.,

 Post (3)

vốn là công dân có nhiều đóng góp ‎ý kiến cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và Chính phủ [1] về các vấn đề quan trọng của nước nhà trong nhiều năm qua, và cũng không lạ với trang blog này [2].

Theo yêu cầu của Cô Lại Thu Trúc, tôi đã chuyển Bản Góp Ý của Cô đối với “dự án đường bay vàng” tức “đường bay thẳng Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh qua không phận Lào và Campuchia” đến các vị lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ.

Cũng theo yêu cầu của Cô, tôi đăng toàn văn bản góp ý trên tại blog này như dưới đây, có xóa nội dung của phần liên quan đến an ninh tình báo do sự tinh tế của vấn đề cần phải bảo mật

**********

Kính gởi: Lãnh đạo Đảng, Quốc hội, và Chính phủ

Kính thưa Quý Lãnh Đạo:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh,

Xin kính chuyển đến Quý Lãnh đạo Bản Góp Ý của cô Lại Thu Trúc về  Dự Án “ Đường Bay Vàng” Qua Không Phận Lào và Campuchia

Bản góp ý trên làm ngày 12/09/2014 do Cô Lại Thu Trúc, công tác tại văn phòng của tôi, thục hiện và nhờ tôi chuyển đến Quý Lãnh Đạo.

Cô Lại Thu Trúc trong nhiều năm qua đã viết rất nhiều kiến nghị và đề nghị gởi đến các Lãnh đạo Đảng, Quốc hội, và Chính phủ với nhiều nội dung xây dựng khác nhau.

Kính chúc Quý Lãnh đạo sức khỏe và xin kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

************

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 09 năm 2014

THƯ GÓP Ý VỀ DỰ ÁN “ĐƯỜNG BAY VÀNG” QUA KHÔNG PHẬN LÀO VÀ CAMPUCHIA

Kính gửi:

–   Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

–   Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

–   Chủ Tịch Quốc Hội và Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

–   Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Nước

–   Thủ Tướng Chính Phủ và Các Phó Thủ Tướng

Đồng kính gửi:

–  Ông Nguyễn Văn Nên, Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ

–  Ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

–  Ông Nguyễn Kim Khoa, Chủ Nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng và An Ninh Quốc Hội

–  Ông Trần Văn Hằng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội

–  Ông Hoàng Hữu Phước, Đại Biểu Quốc Hội, Đoàn ĐBQH Tp. Hồ Chí Minh

–  Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp. Hồ Chí Minh

Kính thưa quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, công dân Thành phố Hồ Chí Minh, được sự khuyến khích của Thầy tôi là Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, đối với việc người dân nên tích cực nghiên cứu, tìm hiểu, và mạnh dạn đóng góp ý kiến với lãnh đạo Đảng và Nhà Nước để xây dựng đất nước,

Kính xin có ý kiến sau về dự án “Đường Bay Vàng” qua không phận Lào và Campuchia với các nội dung chính như sau:

A- Các Nghiên Cứu Khoa Học Cần Phải Có

  1) Địa thế địa hình, “Tử địa Hàng không- Nhiễu động khí & an toàn bay”

  2) Hiện tượng Foehn

  3) Cứu hộ, cứu nạn

B- Vấn Đề Và Vấn Nạn An Toàn Hàng Không

  1) Kỹ Thuật Hàng Không

    a- Vấn Đề FIR và UIR

    b- Kiểm Soát Không Lưu ATC

    c- Hành Lang Bay

  2) Sinh Mạng Hành Khách Và An Nguy Của Lãnh Đạo Việt Nam

 C- Vấn Đề Và Vấn Nạn Lợi Ích

  1) Tiết Kiệm

  2) Lợi Nhuận

  3) Quyền Lợi Của Hành Khách

 D- An Ninh Tình Báo và Vấn Đề Đối Ngoại

 E- Kết Luận

A- Các Nghiên Cứu Khoa Học Cần Phải Có

Trước hết xin phép được làm rõ ý nghĩa của từ ngữ “đường bay thẳng” đang được sử dụng bởi cơ quan chức năng Việt Nam vì “đường bay thẳng” trong hàng không rất khác với “đường bay thẳng” trong sự việc nghiên cứu của Bộ Giao Thông – Vận Tải cùng cơ quan hàng không Việt Nam, vì

– “đường bay thẳng” của ngành hàng không là dành cho chuyến bay từ nơi đi tới nơi đến mà không qua quá cảnh ở một sân bay thứ ba nào;

– còn “đường bay thẳng” của sự việc đang gây tranh cãi ở Việt Nam là cách né nhóm từ “đường bay vàng” đã lỡ dùng trước đó với ý nghĩa đường thẳng tưởng tượng kẻ thẳng từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh;

– và do hai nội hàm khác biệt hoàn toàn nêu trên, trong thư này thì “đường bay thẳng” sẽ không nói về “đường bay theo đường thẳng tắp tưởng tượng của thước kẻ”, nhưng sẽ liên hệ đến nhóm từ đầy đủ của “đường bay thẳng từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh qua không phận Lào và Campuchia mà không phải quá cảnh ở một sân bay thứ ba”,  nghĩa là không phải bay theo đường thẳng tắp như đường của thước kẻ mà sẽ gián tiếp ngụ ‎ý rằng “đường bay thẳng” này thực chất là “đường bay vòng qua lãnh thổ Lào và Campuchia để vào Thành phố Hồ Chí Minh”.  

  Đối với vấn đề lớn như vạch ra một đường bay mới chưa từng được biết đến hay chưa từng được thực hiện bởi các chuyến bay thương mại dân dụng của Việt Nam hay các quốc gia khác, thì lẽ ra các nghiên cứu phải được tiến hành trên nhiều lĩnh vực trong đó có địa thế – địa hình, tác động khí hậu – khí quyển của Foehn, và cứu hộ – cứu nạn, v.v., thì các cơ quan chức năng của Việt Nam lại chỉ tìm hiểu (hoàn toàn không phải công trình nghiên cứu khoa học) xem “đường bay thẳng” (theo đường kẻ thẳng tắp của thước kẻ) này có giờ bay ngắn hơn bao nhiêu về thời gian và khoảng cách cũng như tiết kiệm được bao nhiêu nhiên liệu giống như so sánh đo đạc giản đơn giữa đường quốc lộ với đường cao tốc, không đúng với tầm cỡ của Bộ Giao Thông và ngành hàng không.

1Địa thế địa hình, “Tử Địa Hàng Không”, Nhiễu Động Khí Và An Toàn Bay

a– Đối với địa thế địa hình chập chùng núi non của Lào thì những biến động về luồng, hướng, và sức mạnh của gió là điều không thể không có ảnh hưởng đến không gian bay của máy bay. Việc nghiên cứu chỉ về mặt này thôi sẽ đòi hỏi rất nhiều thời gian, trí tuệ, và tiền bạc, mà trong thời điểm hiện nay Việt Nam vẫn chưa thể đáp ứng được đầy đủ về mặt nhân sự và kinh nghiệm thực hành.

b– Địa thế địa hình còn khiến không bao giờ có thể có đường bay thẳng tắp như đường kẻ thước kẻ nên đường bay có thể sẽ là đường zigzag khiến đường bay thực tế sẽ không thể ngắn như dự án đã nêu; chưa kể còn phải tính đến chiều quay của trái đất. Tương tự, đường biển và đường hàng không trên Đại Tây Dương không thể theo một đường thẳng kiểu đường kẻ chỉ xuyên thẳng qua vùng Tam Giác Quỷ Bermuda, hoặc đường bay bên trong lãnh thổ Việt Nam không thể không tránh bay qua khu vực Thung Lũng Ô Kha, chứng minh rằng đường bay còn phải tùy thuộc vào bề mặt địa cầu bên dưới.

c– Ngoài ra, nếu chỉ dựa vào sự thật là bên kia Dãy Trường Sơn có sân bay Xayabury của Lào còn bên này có sân bay Vinh của Việt Nam đối xứng tức đã có các chuyến bay chứng tỏ địa thế địa hình không phải là xa lạ thì vẫn còn đó điều nghiêm trọng hơn sự xa lạ: đó là những rủi ro tiềm tàng trên vùng nói non hiểm trở bất lợi cho trường hợp khẩn cấp phải hạ độ cao hoặc trong cứu nạn – cứu hộ.

Có những khu vực trên thế giới được mệnh danh là “tử địa hàng không” là nơi có rủi ro cao về an toàn bay với nguy cơ của “nhiễu động không khí”. Nhiễu động không khí nguy hiểm bởi có thể xuất hiện ở bất cứ độ cao nào trong khí quyển và trong các điều kiện khí tượng khác nhau bao gồm các loại nhiễu động như “Nhiễu động trời trong – Clear Air Turbulance”, “Nhiễu động sóng núi – Mountain Wave”, và “Nhiễu động trong mây đối lưu – Cumulonimbus”.  Trong thực tế, lịch sử hàng không thế giới đã ghi nhận nhiều tai nạn hàng không thảm khốc có liên quan đến nhiễu động không khí bao gồm nhiễu động sóng núi tại các khu vực có địa hình đồi núi, trong đó có cả số liệu về gần 30 tai nạn hàng không thảm khốc xảy ra trên đất nước Lào kể từ năm 1950.

2) Hiện tượng Foehn Do địa thế hiểm trở của Dãy Trường Sơn, Foehn tức Gió Lào đã trở thành một hiện tượng tự nhiên bất lợi. Đối với Úc, Foehn gây ra nạn cháy rừng nghiêm trọng hàng năm và đã có những nghiên cứu sâu rộng về Foehn để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những tai họa từ thiên nhiên này. Còn đối với Việt Nam thì khi muốn lập đường bay thẳng qua Lào cần phải nghiên cứu sâu rộng về Foehn để có các thông tin và số liệu thực địa để biết các tác động đến khí quyển của Foehn do máy bay của Việt Nam sẽ gặp khó khăn rất lớn nếu đường bay từ vùng bên này Dãy Trường Sơn khô nóng qua ngay lập tức vùng bên kia Dãy Trường Sơn ẩm mưa khiến đối mặt với tình trạng biến đổi nhanh và khôn lường về áp suất không an toàn cho việc điều khiển máy bay. Ngoài ra, những trận cháy rừng lớn nếu có ở phía bên này Dãy Trường Sơn của Việt Nam tức là phía hứng chịu tác động khô nóng tăng nhiệt từ Foehn sẽ càng gây ra những biến động lớn về áp suất với khí quyển làm mất an toàn cho máy bay khi trong tích tắc vượt qua đến vùng mưa ẩm.

3) Cứu hộ, cứu nạn Một khi đường bay phải qua các khu vực núi non của nước khác, việc cứu hộ – cứu nạn trước hết là do nước sở tại tiến hành, và cơ quan chuyên trách cùng quân đội của nước hay những nước có công dân trên máy bay gặp nạn không thể tiếp cận nhanh và không triển khai được công tác cứu hộ – cứu nạn khi chưa xong các thủ tục ngoại giao. Ngoài ra, do Việt Nam cùng chung biên giới với Lào và Campuchia, việc triển khai cứu hộ – cứu nạn hợp lực cùng hai nước này là điều khả thi, nhưng cũng vì vậy mà nhất thiết phải biết khả năng cứu hộ – cứu nạn của hai nước này hiện như thế nào, năng lực của Việt Nam ra sao, phối hợp bằng cách nào, qua những thủ tục nào, và bằng những phương tiện nào, biện pháp tối ưu nào đã được định ra từ đúc kết của quá trình nghiên cứu, v.v. Chưa tiến hành nghiên cứu và đúc kết thành báo cáo khoa học cũng như chưa có diễn tập cứu hộ – cứu nạn thực địa thì sẽ là thiếu sót rất lớn trong quyết định về đường bay “thẳng” qua Lào và Campuchia.

B- Vấn Đề Và Vấn Nạn An Toàn Hàng Không

1) Kỹ Thuật Hàng Không

       a- Vấn Đề Vùng Thông Báo Bay FIR/UIR, và Kiểm Soát Không Lưu ATC

Báo cáo của đơn vị nào được giao nhiệm vụ nghiên cứu về đường bay thẳng nhất thiết phải cho biết chi tiết thông số dữ liệu về Vùng Thông Báo Bay FIR và UIR để biết phạm vi của FIR Hà Nội, FIR Viêng Chăn, FIR Phnom Penh cũng như UIR Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó kiểm tra thực lực của các FIR và UIR của Lào và Campuchia cả về nhân sự, trang thiết bị, Hệ thống Kiểm Soát Không Lưu, và quá trình an toàn an ninh trong vận hành chức năng của FIR và UIR tại đó từ trước đến nay đối với nội dung đảm bảo an toàn bay, hướng dẫn bay, cảnh báo bay, v.v.

Lịch sử hàng không thế giới từng có những ghi nhận về những tai nạn hàng không rất nghiêm trọng xảy ra do lỗi của nhân viên phụ trách kiểm soát không lưu như trong trường hợp thảm họa khi hai máy bay Tupolev Tu-154M và Boeing 757 đụng nhau trên bầu trời Uberlingen miền Nam nước Đức tháng 7  năm 2002 do nhân viên kiểm soát không lưu của Thụy Sĩ là nước kiểm soát không phận bay của vùng đã cho chỉ dẫn sai; còn thảm họa giữa một máy bay trực thăng và một máy bay khác tháng 8 năm 2009 tại Mỹ lại do một nhân viên kiểm soát không lưu lo trả lời điện thoại cá nhân. Liệu năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, sự sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại, ‎ý thức trách nhiệm, sức khỏe tâm thần, tổ chức quản lý vận hành v.v., của các nhân viên kiểm soát không lưu tại Lào và Campuchia có đáp ứng và giải tỏa được các quan ngại của người dân Việt Nam nói riêng và hành khách sử dụng dịch vụ hàng không của Việt Nam nói chung hay không.

        b- Hành Lang Bay

Một vấn đề khác liên quan đến Hành Lang Bay là trong trường hợp có căng thẳng về ngoại giao giữa Việt Nam và Lào hay Campuchia hay cả hai thì đường bay Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị buộc phải bay theo đường khống chế chặt chẽ bởi sự áp đặt từ cơ quan ngoại giao hay quân sự của nước mà máy bay Việt Nam bay qua không phận của họ mà không có quyền thay đổi dù có sự cố cần phải hạ độ cao hay chuyển hướng, đặt máy bay của Việt Nam vào tình huống không thể bảo đảm an toàn bay và sinh mạng của hành khách.

2)  Sinh Mạng Hành Khách Và An Nguy Của Lãnh Đạo Việt Nam

Theo đánh giá của cơ quan hàng không quốc tế tháng 4 năm 2014 thì “đường  bay thẳng” Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội được xếp thứ 17 trong số 50 đường bay thẳng khác trên thế giới tính theo số lượng hành khách 366.256 lượt khách mỗi tháng (trong khi Mỹ chỉ có đường bay thẳng Los Angeles – San Francisco là có tên trong danh sách Top 20 với thứ hạng 18 có 350.014 lượt khách/tháng). Điều này cho thấy an toàn bay trở thành tối quan trọng vì bất kỳ sự cố nào cũng có nguy cơ dẫn đến thảm họa tổn thất rất cao về nhân mạng, phá hỏng uy tín của ngành hàng không quốc gia. Tai nạn máy bay tháng 5 năm 2014 tại Lào gây tử nạn cho Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ An Ninh cùng nhiều quan chức cao cấp khác không thể không tạo sự hoài nghi về sự yếu kém của nhân viên không lưu, tác động bất lợi của địa thế địa hình, và có khi là của sự lạc hậu của trang thiết bị phục vụ cho Vùng Thông Báo Bay và Kiểm Soát Không Lưu.

Sự an toàn tuyệt đối của lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ Việt Nam khó thể được bảo đảm khi đường bay quốc nội “Thành phố Hồ Chí Minh- Hà Nội” theo đường bay mới qua lãnh thổ Lào và Campuchia, và nếu lãnh đạo theo đường bay “cũ” còn người dân theo đường bay “mới” sẽ châm ngòi cho sự hỗn loạn nội tình đối với các công kích của các thế lực thù địch, chưa kể một thảm họa máy bay nếu không may xảy đến cho đường bay mới dù ngay cả do thuần túy lỗi kỹ thuật cũng đặt Việt Nam vào tình trạng bất ổn chính trị và bạo loạn xã hội.

Việc các chuyến bay hiện có từ Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh đến Viên Chăn hoặc Phnom Penh được tính là đường bay “quốc tế” theo đăng k‎ý với ICAO, không thể được đưa ra làm biện minh cho đường bay “quốc nội” nhưng lại qua không phận Lào và Campuchia và phải xin phép hai nước này cũng như trả phí sử dụng không phận cho hai nước này và phải tuân theo áp đặt của họ cho một hành lang bay – nếu có.

Đường bay nội địa giữa hai sân bay bên trong lãnh thổ Việt Nam không thể bị biến thành đường bay quốc tế một cách kỳ lạ như vậy.

C- Vấn Đề Và Vấn Nạn Lợi Ích

Mỗi khi phải lý giải cho một dự án nào thuộc bất kỳ lĩnh vực nào, các Bộ liên quan luôn đưa nội dung “có lợi cho người dân”, “có lợi cho khách hàng”, và “có lợi cho đất nước” để làm cơ sở biện minh. Tôi xin phản biện như sau:

1) Tiết Kiệm Tiết kiệm là quốc sách để dồn tiền ngân sách cho các công trình ích quốc, lợi dân. Siêu dự án đầu tư cho Sân bay Long Thành và các dự án cho các sân bay khác cho thấy ngành hàng không trong nước có tiềm lực tài chính hùng mạnh, và nội dung tiết kiệm sẽ hiệu quả chỉ bằng hai biện pháp là tiến hành tổng thanh tra toàn diện cùng kiểm toán toàn diện Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam, và tổng giám sát cấp cao liên tục khi bắt đầu các dự án đầu tư xây dựng sân bay cũng như mua sắm máy bay.

Việc bỏ tiền cùng thời gian nhiều lần chỉ cho việc kiểm tra đi kiểm tra lại để xem đường bay thẳng mới ra sao so với đường bay thẳng hiện hành của tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh là sự hoang phí ngân sách chứ không vì lý do tiết kiệm. Chưa kể việc hô hào sự nổi trội về “tiết kiệm” thời gian lưu lại trên máy bay của hành khách trên đường bay thẳng mới khó thể là ưu thế khi mà thực tế có sự tồn tại nghiêm trọng của vô số và thường xuyên của việc chậm chuyến, hủy chuyến tại tất cả các sân bay lớn của Việt Nam, chắc chắn không phải là lỗi của đường bay thẳng hiện hành, mà chính là của sự quản l‎ý, điều hành, và vận hành dịch vụ hàng không. Do đó, đường bay thẳng mới nếu được thông qua cũng sẽ chỉ dẫn đến các tồi tệ mới dưới sự lãnh đạo của cùng những nhân sự đã quản lý yếu kém đường bay thẳng hiện hữu.

2) Lợi Nhuận Sự lập luận không logic đã xảy ra khi một mặt lý do tiết kiệm được đưa ra, và một mặt viễn cảnh lợi nhuận cũng được đưa ra. Việc phản tác dụng biện minh ở đây là: nếu đường bay thẳng mới ngắn hơn có lợi cho hành khách về giá vé, thì không thể có việc các hãng hàng không sẽ thu lợi nhuận nhiều hơn do giá vé phải thấp hơn trước. Lợi nhuận của các hãng hàng không – một thứ lợi ích nhóm – chỉ có thể có nếu đường bay thẳng mới ngắn hơn và tiết kiệm nhiên liệu hơn, mà giá vé vẫn giữ nguyên hoặc tăng cao với viện cớ sau này rằng đường bay ưu việt hơn về thời gian nên giá phải cao hơn, hoặc do các nước có liên quan tăng giá sử dụng không phận của họ, v.v.

3) Quyền Lợi Của Hành Khách Khi cả hai nội dung trên hoàn toàn không vì lợi ích của khách hàng thì rõ ràng là hành khách bay đã bị tước mất quyền lợi mà quan trọng trên hết là sự an toàn an ninh hàng không dành cho họ đã bị hy sinh cho lợi ích nhóm và trên cơ sở thiếu vắng các nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có tính đến giá trị thực tiễn thay vì chỉ có giá trị tiền bạc.

D- An Ninh Tình Báo và Vấn Đề Đối Ngoại

phần này được xóa, không thể công khai trên mạng công cộng

E- Kết Luận

Trong thư của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước gửi đến các vị Lãnh Đạo Việt Nam và sau đó có đăng trên các blog của mình, Ông có viết rằng nếu sự cố được dàn dựng cho một sự “vô tình” như trên xảy ra, toàn bộ danh tiếng an toàn-an ninh quốc gia bị tổn hại, đồng thời gây bạo loạn xã hội ở Việt Nam khi cơn thịnh nộ của người dân và sự khích động của kẻ thù của đất nước chắc chắn sẽ hoặc nhấn chìm đất nước trong bạo loạn hoặc đẩy quốc gia vào cuộc chiến tranh mới với đất nước phản phúc nào đã gây thảm họa cho một chuyến bay của Việt Nam, khiến hủy phá toàn bộ thành quả chính trị và  kinh tế của Việt Nam; và có đặt vấn đề rất đáng suy gẫm về sự lựa chọn giữa hai giá trị của (1) “sinh mạng hành khách + uy tín an toàn hàng không quốc gia + hòa bình trong khu vực + minh định chủ quyền thực tế không phận trên Biển Đông + sự tồn vong của chế độ ” và (2) “tiết kiệm tiền xăng + tiết kiệm thời gian”, và cho rằng “sự thải loại một bên bất kỳ chính là sự xem thường giá trị của bên đó.” Người dân không cho rằng Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ xem thường giá trị của “sinh mạng hành khách + uy tín an toàn hàng không quốc gia + hòa bình trong khu vực + minh định chủ quyền thực tế không phận trên Biển Đông + sự tồn vong của chế độ” để phục vụ cho nội dung “tiết kiệm xăng”.

Vì tất cả các l‎ý do diễn giải nêu trên, tôi kính kiến nghị các vị Lãnh Đạo Đảng, Lãnh Đạo Quốc Hội và Lãnh Đạo Chính Phủ xem xét không thông qua dựa án “Đường Bay Vàng” này.

Kính cảm ơn quý lãnh đạo đã dành thời gian đọc bản đề xuất này và xin kính chào trân trọng.

Lại Thu Trúc

Phone: 0903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

*******

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân: Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=93

Hành Trang Nghị Sĩ

Hoàng Hữu Phước, MIB

 HHP_April2010 (5)

Rất có thể nhiều người cho rằng hành trang của họ trên đường công tác là điều bí mật, riêng tư, và không muốn ai biết cái gọi là personal và privacy đó. Song, cũng nhiều người hoặc trong số những người ấy hoặc trong xã hội lại luôn mắt dõi theo, tai dõi theo, và miệng cũng nhóp nhép những gì dõi theo ấy đối với cái personal và privacy của người khác.

Thôi thì mặc người ôm khư khư cái privacy của họ và cũng mặc kẻ lăm le dõi mắt vào cái personal và privacy của người khác. Tôi là tôi, một hữu thể cá biệt, cách biệt, riêng biệt, khác biệt, dị biệt với tất cả các cá thể khác – tất nhiên là tôi né tránh nói mình đặc biệt vì có lắm kẻ chực chờ những lời của tôi để ra tay hèn hạ (chẳng hạn có thể rống lên rằng tôi “ăn cắp” cụm từ “người đặc biệt” của Mô-ri-nhô của đội Chen-Xi tại giải ngoại hạng Anh) như đã luôn từng như thế trên mấy tờ báo giấy và mấy trang báo mạng năm 2011[1] [2] và 2013[3]. Qua bài này, tôi muốn kể về hành trang của tôi trên đường đi dự các kỳ họp của Quốc Hội từ năm 2011 đến nay. Một bài viết khác có thể sẽ về hành trạng tư duy của riêng tôi cũng trong môi trường nghị viện. Cần nói thêm là mỗi năm Quốc hội có hai kỳ họp toàn thể, mỗi kỳ khoảng 45 ngày, ấn định khai mạc vào ngày 20 tháng 5 và 20 tháng 10 hàng năm (nếu ngày này rơi vào ngày nghỉ cuối tuần thì buổi khai mạc tất nhiên sẽ dời vào ngày làm việc đầu tiên tiếp theo sau đó). Cũng cần nói thêm rằng tôi là nghị sĩ duy nhất của Thành phố Hồ Chí Minh trong tất cả các kỳ họp toàn thể chưa bao giờ bỏ họp một ngày nào để trở về Thành phố Hồ Chí Minh vì 5 lý‎ do gồm (a) tôi tuân thủ nghiêm túc yêu cầu luật định cũng như yêu cầu của Chủ Tịch Quốc Hội đối với nghị sĩ về thời gian dự họp, (b) tôi thực hiện chính xác yêu cầu mang tính tiêu chuẩn phải đạt của người muốn tham gia ứng cử Quốc Hội năm 2011, (c) tôi muốn “tiết kiệm” chi phí vé máy bay của Nhà Nước, (d) tôi chả phải là chức sắc gì trong hệ chính quyền và tổ chức Đảng của thành phố để phải bay về Thành phố họp nhiều lần trong tháng công tác tại Quốc Hội, và (e) vì tôi có khả năng thu xếp từ xa và quản l‎ý từ xa mọi công việc khác của cá nhân bằng nhiều phương tiện cùng thiết bị hiện đại.

Cũng vì 5 lý do trên, tôi phải đem theo hành l‎ý dư dùng cho thời gian 45 ngày, chẳng hạn:

Số lượng đồ đựng gồm hai “va-li” cũ cỡ lớn, một da nâu và một vải dù giả da xanh  đen (của Chị Hai của tôi cho tôi hồi xửa hồi xưa mà suốt mấy chục năm nay dù đến đâu trên trái đất này tôi đều nâng niu sử dụng chứ không quan tâm đến mấy cái va-li hàng hiệu thật tuyệt mỹ đến độ mê hoặc cái anh chàng ca sĩ nọ ngất ngây mua về chất đống trong nhà thay vì chất kiến thức trong đầu rồi chụp hình khoe của trong tư thế đáng thương hại của kẻ quảng cáo không công cho hãng va-li). Ngoài ra còn hai túi vải nhựa xanh lớn bán ở chợ truyền thống giá mỗi cái chừng 30.000 đồng, giống y như thứ dành cho những người thồ hàng trên đường phố, và bên trong có chứa 2 túi y như vậy để phòng khi lúc bế mạc kỳ họp ra về có nhiều quà tặng của bạn hữu các tỉnh và các đoàn hoặc nhiều tài liệu quan trọng phải mang về thì có cái mà chứa đựng. Tất cả thật cũ. Thật bình dân.

 12

Chưa kể ngoài nhiều thứ văn phòng phẩm, tôi còn đem theo một máy in laser HP (kèm một ram giấy SurePaper 500 tờ khổ A4) để biến phòng ngủ của tôi thành một phòng làm việc tiện nghi với hai máy laptop (một thường nhật và một dự phòng, vì tôi hay thóa mạ Bill Gates và Microsoft do những sự cố hay xảy ra với hệ điều hành của chúng dù tất cả máy của tôi dùng phần mềm bản quyền, cũng như thóa mạ tổ tiên Tàu mỗi khi những thiết bị phần cứng Mỹ chế tạo tại Bắc Kinh dỡ chứng) giúp tôi thay vì phá giấc ngủ của nhân viên Đoàn ĐBQH, chủ động in ra những xấp bài kết quả của đêm đêm nghiên cứu các dự án luật viết thành các ghi chú, những tài liệu nước ngoài có liên quan tra kiếm được từ internet hoặc từ tàng thư cá nhân; soạn thảo các bài phát biểu ở hội trường, các thư góp ‎ý gởi lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ; các thư chuyển và/hay đề xuất những hướng giải quyết các khiếu nại hay tố cáo của công dân[4]; và thực hiện những yêu cầu từ các đơn hàng của khách hàng của công ty tôi, v.v.

 ScreenShot362

Về trang phục, tất nhiên như tôi đã nói đâu đó tại các bài viết của mình [5], tôi thích và quen đeo cra-vat (tức neck-tie) từ nhỏ, còn khi đi làm việc thì cho đến nay luôn đeo cra-vat bất kể đó tại công ty trong nước hay ngoài nước, có tiếp khách hay không, và chỉ thắt cra-vat kiểu Ăng-lê phức tạp với khối tam giác đều ngay ngắn nơi cổ, không bao giờ thắt theo kiểu Mỹ bình dân với khối hình thang méo mó. Số lượng cra-vat tôi đem theo cho mỗi kỳ họp gồm khoảng 30 chiếc đựng trong hai hộp bánh trung thu , với một hộp chứa cra-vat màu đơn made-in-Vietnam, một hộp cra-vat hàng nước ngoài gồm các loại sọc và hoa văn mà đa số Ba tôi hay đeo lúc sinh tiền.

 AA (5)

Tôi cũng tự hào sử dụng ba dây thắt lưng cũ của Ba tôi để có cảm giác như thể luôn có Ba tôi theo sát bên mình để biết tôi luôn làm việc chăm chỉ như Ba và hết lòng vì nước vì dân theo ước nguyện của Ba, một người cha bình dị, bình dân, bình thường luôn đeo cra-vát ăn mặc nghiêm túc giày tây bóng loáng mỗi khi ra đường đến sở làm cũng như mỗi ngày Chủ Nhật lúc dẫn vợ con dạo phố đi xem xi-nê ở rạp Rex (xem phim cổ trang Đài Loan như… Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài) và rạp Long Phụng (xem phim thần thoại Ấn Độ) rồi đi ăn trưa ở nhà hàng này nhà hàng nọ

 AA (4)

Trong số nhiều loại thực phẩm dư sử dụng cho thời gian dài ngày của mỗi kỳ họp, tôi đem rất nhiều cà phê thuộc các nhãn hiệu khác nhau do nhiều học trò gởi tặng quanh năm suốt tháng. Và như trong nhiều bài viết về chủ đề cà phê trên Emotino từ 2008, tôi có cho biết tôi nghiện cà phê nhưng rất ghét cà phê pha “phin” vì nó không giống ai cả trong thế giới Âu Mỹ. Tôi uống cà phê tự pha bằng vợt y như cách uống của người dân trưởng thượng sành điệu của Sài Gòn thực thụ (vì cách uống pha “phin” là của giới bình dân). L‎ý do đã được miêu tả rất chi tiết trong các bài viết ấy và có thể sẽ được chọn đăng lại trên blog này. Ở đây xin kể cách pha cà phê của tôi (dù ở nhà, ở cơ quan, ở khách sạn khi họp Quốc Hội, hay ở nước ngoài): cho cà phê đã rang xay vào ly inox theo mức đầy hơn nửa thân ly để bảo đảm cà phê đậm đặc (hộp Phin Deli như hình dưới đây pha được 3 ly, tối đa 4 ly, đủ tôi dùng trong tối đa 2 ngày), đổ nước sôi vào (rót qua chiếc phểu có lót  bông gòn để lọc thêm cho yên tâm về chất lượng nước) cho mức nước vừa 2/3 ly, đậy nắp kỹ; sau năm phút lấy vợt để vào trong ly thủy tinh rồi mở nắp ly inox đổ cà phê vào vợt. Thế là đã có ly cà phê ngon theo ý tôi: nóng, đậm đặc, không đường, thỉnh thoảng có pha thêm bột sữa Coffee Mate. Và mỗi ngày pha ít nhất hai lần cho buổi sáng và buổi trưa, tức trước khi ra xe để đến hội trường Quốc Hội, còn Chủ Nhật thì pha “vô tư” tức không đếm số lần pha. Ban đêm không uống cà phê thì không sao ngủ được vì thương vì nhớ.

 AA (1)

Cần nói thêm là khi xuất hiện một hay hai tiệm cà phê treo bảng “Cà Phê Trung Nguyên” năm 2007 thì các nhân viên phục vụ ở tiệm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đối diện bên hông CoopMart Nguyễn Đình Chiểu ắt còn nhớ tôi sáng nào cũng đến để kêu một ly cà phê pha từ 4 phin (nhưng phải pha trong bếp, vì tôi rất ghét bản mặt mấy cái phin rẻ tiền quái đản), không thêm đường, một ấm trà thật đặc quánh mà không một bô lão nào có thể uống đậm bằng, một dĩa thịt bò beef steak có hai ổ bánh mì nóng giòn, và một dĩa 6 cái bánh “su” kem tráng miệng. Tôi pha nước trà đặc chung với cà phê đậm vào ly nước đá to đùng, vừa uống ừng ực ly cà phê thật lạnh, thật đắng, thật nhiều ấy, vừa thưởng thức bánh thật ngọt sau khi đã ăn tảng thịt thật dày. Đó là vào thời gian tôi làm giám đốc điều hành trường Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ (100% vốn nước ngoài của những người Mỹ tại California), và luôn đến đó  ăn cùng một nhân viên trung tín mà tôi phone hẹn mỗi sáng, người luôn kêu cho mình một ly cà phê chồn sữa nóng với một chiếc bánh “su” và né gọi thịt bò để giữ eo cho thon gọn; tôi vừa thưởng thức bửa ăn sáng đạm bạc vừa bàn với cô ấy những việc phải làm trong ngày.

Sự phục vụ của Nhà Khách Trung Ương Đảng (số 8 Chu Văn An, Hà Nội, là nơi “đóng quân” truyền thống của đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh từ rất nhiều khóa trước) rất tốt. Y phục mặc xong trong ngày, tôi cho vào giỏ để nhân viên phục vụ đem giặt ủi (tiếng Bắc gọi là “giặt là”) rồi giao lại tủ y phục của tôi ngay trong ngày. Tôi không được “tự nhiên” cho lắm đối với việc trang phục lót (mà tiếng quái gở hiện nay thiên hạ mới nhớn gọi là “nội y”) của mình mà để người phụ nữ xa lạ giặt gỵa , nên tôi tự giặt lấy. Có thể các nữ nhân viên phục vụ phòng và tạp vụ sẽ nhớ đến tôi như nghị sĩ duy nhất quá lịch sự tôn trọng phái nữ khi phơi đồ lót mà vẫn thận trọng che chắn bằng kiểu lồng ghép “độc quyền” có “bằng sáng chế” của sở hữu trí tuệ: áo lót che phần nhạy cảm của quần lót và đôi vớ ở hai bên cánh tay áo, nhìn từ xa cứ như áo ngắn tay thể thao vậy, thay vì áo, quần, và vớ phơi trên những pọt-măng-tô tức móc áo khác nhau:

 AA (3)

Trên đây là đôi nét về hành trang của tôi, và sẽ là việc bình thường nếu trong các va-li ấy có cả những món ăn tinh thần (các tác phẩm tiếng Anh), những món quà Sài Gòn dành cho viên sĩ quan cảnh vệ cùng nhân viên phục vụ, cùng hai hay ba thùng mì ăn liền  để ăn khuya lúc 2 giờ sáng, v.v.

Thế là sau khi “trang bị tận răng” với những báu vật bình dân, cũ kỹ, mang tính hồi ức thân thương về người Ba quá cố kính yêu và đầy ắp kỷ niệm gia đình, cùng những tình cảm và lời động viên của những cử tri chí khí, bạn hữu chí cốt, học trò chí tình, gởi đến bằng tin nhắn mỗi sáng,

Tôi, nghị sĩ Hoàng Hữu Phước,

Đường bệ ngạo nghễ bước vào Hội trường Quốc hội Việt Nam:

 AA (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[2] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình & Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[3Hoàng Hữu Phước. 02-2013. Tứ Đại Ngu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

[4Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[5] Hoàng Hữu Phước. 22-6-2014. Dương Khiết Trì Run Sợ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/06/22/duong-khiet-tri-run-so/

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Tham Khảo Dành Cho Bạn Trẻ Thực Sự Muốn Thành Công

Hoang Huu Phuoc, MIB

 ScreenShot004

Gần đây có một bạn (nam, không phải nữ) đang làm luận án Tiến Sĩ ở Hà Lan báo cho tôi hay là đã mừng hụt khi tìm được trang blog sau

 Fans

và tiu nghỉu vì bài chỉ có tựa đề mà không có nội dung, có search mấy blog khác cũng bị tương tự. Do emotino.com đã không còn hoạt động nên những liên kết bài từ các blog khác sẽ không còn truy cập vào đó được để đọc bài cần đọc. Vì vậy, tôi cố tìm lại bản nháp đã đăng ngày 21-11-2011 trên emotino.com [*] và đăng lại trên blog này để rộng đường tham khảo cho cộng đồng ắt cũng không phải là điều không ích lợi. Bài được viết từ kinh nghiệm sống, làm việc, hiểu biết, chiêm nghiệm, nhận xét, đánh giá, nghiên cứu, và hành trạng tư duy của riêng tôi.

777

 Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Tham Khảo Dành Cho Bạn Trẻ Thực Sự Muốn Thành Công

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ở viện nọ tọa lạc trên một con đường mang tên một vị Trạng Nguyên Việt Nam ở Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, có một ông được đề bạt lên từ trưởng phòng hành chính lên chức giám đốc hành chính, tất nhiên đây sẽ là chuyện thăng tiến bình thường và lành mạnh nếu như ông ấy … trưởng thành, đường bệ. Nói như thế vì ông ta vẫn luôn xem mình “trẻ trung” và ra sức chứng minh mình còn trẻ bằng cách cứ nhún nhảy bước chân vào văn phòng là thực hiện hành vi thói quen cố hữu sà vào từng bàn nữ nhân viên một để nhí nhảnh thốt câu “chào bé yêu!” trong khi ai cũng biết sở dĩ ông được lên chức vì sếp chủ tịch xem ông là người tâm phúc chuyên xăng tay áo chạy đáo chạy đôn tìm cách dàn xếp ổn thỏa các khoản thu chi nhạy cảm thiếu hóa đơn tài chính của hàng loạt mấy công ty mà vị sếp ấy làm chủ duy nhất, chứ ông đừng hòng được nhận vào làm việc cho công ty nước ngoài với cái bộ tịch Lão Lai Tử vốn chỉ thích hợp khi có mẹ già cha yếu chứ không phải dzung dzăng dzung dzẻ chốn văn phòng với nữ nhân viên.

Nhiều bạn trẻ mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett, và là đối tượng mềm lòng của các hội thảo thời thượng “học làm giàu” của những vị ba xạo đến từ cõi siêu tưởng hoang đường. Song, giữa mơ và thật, giữa muốn và được luôn tồn tại một vực thẵm thật sâu với khoảng cách giữa hai bờ vực thật rộng đầy nghiệt ngã mà bước chân duy ý chí hoặc một cú nhảy với công cụ lò xo thuần vật lý chỉ là điều khó xảy ra hơn so với việc ngày nào đó quả địa cầu bị đuôi sao chổi xẹt cắt ngọt làm đôi theo chiều ngang, biến thành hai hành tinh độc lập hình nửa quả cam tên Trái Đất Upper và Trái Đất Lower và người Việt thở phào nhẹ nhõm khi Trung Quốc nằm trên Trái Đất “Cõi Trên” (Upper) mà chỉ có một cuộc Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao mới khiến phi thuyền Trung Quốc mò đến được Việt Nam để bị bắn nổ tan tành trên bầu trời Trái Đất Ta Bà (Lower). Việc “mơ” và “muốn” của nhiều bạn trẻ luôn vấp phải vực thẳm ấy chỉ vì hầu như họ chỉ nhìn thấy Mặt Trời hay Mặt Trăng rồi muốn chiếm Mặt Trời hay Mặt Trăng mà không cần biết con đường để đi đến ấy mất bao xa, bao lâu, bằng phương tiện gì, theo đường vòng vèo nào, và người đi phải có sức khỏe ra sao, trí tuệ cỡ nào, tài năng vời cao bao bậc, thậm chí phải có trang bị khủng khiếp ra sao để tồn tại được trong môi trường nóng chảy kim loại bốc hơi của hỏa ngục Mặt Trời và cái lạnh địa ngục tròng mắt đóng băng của Mặt Trăng. Ngoài ra, nhận thức đúng về ưu thế đúng của chính mình là phần đúng nhất đối với các bạn trẻ nào thực sự muốn thành công, mà bài viết này thử nêu đôi dòng ý cá nhân trình làng tham khảo.

Trước khi tiến đến phần cốt lõi về “công thức” Định Tính và Định Lượng Tuổi Trẻ, thiết nghĩ sẽ không phí phạm thời gian nếu nhắc nhở các bạn thêm vài câu hỏi xem (a) bạn nghĩ thế nào về hai chữ “thành công” vì không phải ai cũng cùng chung ý nghĩ với bạn do người tu hành chân chính thành công tất nhiên khác với một nhà buôn chân chính thành công, (b) bạn muốn thành vĩ nhân để riêng bản thân vinh hiển hay vì muốn hy sinh thân mình cho y học, cho dân tộc hoặc cho nhân loại, (c) bạn muốn thành đại gia ngành nào và có manh nha ý định sẵn sàng tàn diệt tất cả các đối thủ cạnh tranh, (d) bạn muốn làm chủ doanh nghiệp phải chăng vì bạn không bao giờ là nhân tài dưới mắt bất kỳ nhà tuyển dụng nào, và (e) bạn có biết đầy đủ về những con người có cái tên bạn đọc vanh vách không – chẳng hạn Bill Gates giàu có nhờ triệt tiêu đường sống của hàng vạn anh tài công nghệ thông tin trên thế giới, chà đạp luật chống độc quyền, nhởn nhơ không cần biết phán quyết tòa án ra sao vì luôn sẵn sàng quăng đủ tiền ra nộp phạt và để nhân loại tức khách hàng hứng gánh cơn thịnh nộ tung virus trả thù của các bậc anh tài mất đất sống nêu trên, v.v.

Nếu chẳng đoái hoài đến phần câu hỏi nhiêu khê ở trên, bạn hăm hở nằng nặc đòi ta đây phải là người thành công dựa trên duy chỉ ưu thế “tuổi trẻ” của mình, xin bạn hào phóng dành ra chỉ mười phút thôi trong cuộc đời tươi trẻ dài dằng dặc của mình để ném một cái liếc nhìn đầy khinh bạc về các phân loại sau để biết vì sao trong thế giới kinh doanh tư bản hùng cường có một vài người trẻ tuổi thành công được phép đứng ngang hàng với đám đông những người lớn tuổi, và vì sao có quá nhiều những người lớn tuổi vẫn chễm chệ ngôi cao mà không bao giờ bị thay thế bởi những người trẻ tuổi. Những nhận định này thuần túy từ ý kiến cá nhân của người viết, dựa trên hơn 20 năm kéo dài qua hai thế kỷ XX và XXI làm việc thân cận với các vị Phó Chủ Tịch Nhân Sự tập đoàn đa quốc gia người Mỹ, và bản thân cũng đã thực thi quyền lực tối thượng của quản trị nhân sự và đã thực nghiệm nhìn người, biết người, chọn người, dùng người trong ngắn hạn, dùng người trong trung hạn, dùng người trong dài hạn, cũng như sử dụng và sa thải ngay cả toàn ban tổng giám đốc người Anh, Mỹ, Canada, Hong Kong, và Việt Kiều, trong khi bản thân từ thời kỳ “tuổi trẻ” đến “hậu tuổi trẻ” luôn được săn đón bởi các tập đoàn nước ngoài cho các vị trí lãnh đạo nên chưa bao giờ có đến nửa lần trong đời phải nộp đơn xin việc, ắt vẫn chưa đến nỗi lạc hậu không còn đáng để tham khảo.

A- ĐỊNH LƯỢNG TUỔI TRẺ

1) Nhân Lực Cho Công Tác Thống Kê:

Nhân lực phục vụ theo ý nghĩa này chỉ đơn giản dựa theo tuổi trên giấy khai sinh mỗi người, và do đó ắt không là sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett.

2) Nhân Lực Theo Phát Triển Tự Nhiên:

Không màng đến 7 Giai Đoạn Đời Người được nêu theo bản sonnet cùng tên của đại thi hào William Shakespeare mà đặc điểm là 7 giai đoạn này gắn kết chặt chẽ như chuỗi ngọc trai được xỏ bằng sợi platin đắt tiền và vững chắc, các nhà buôn hàng hóa tiêu dùng dường như nghĩ rằng ở Việt Nam đơn giản chỉ còn 4 giai đoạn độc lập hoàn toàn như hạt ngọc trai bị đứt dây xỏ dựa hoàn toàn vào sự quan tâm nhiều hay ít của các chương trình khuyến mãi của ngành hàng tiêu dùng của họ, chẳng hạn (1) trẻ em nhất thiết cần sữa bột hay sữa tươi với phụ gia là hàng tá sinh tố và khoáng chất để cao hơn và thông minh hơn dù những thứ sữa này không được phép khẳng định tốt hơn sữa mẹ và trẻ em cũng là nạn nhân của việc tăng giá sữa triền miên, (2) giới “teen” tửng tửng mê sảng nhìn ngón chân cái theo lời réo gọi khuyến mãi của giới quảng cáo chỉ biết chạy theo lợi nhuận hủy phá nhân cách và tương lai giới trẻ bằng các sản phẩm chỉ được tung hứng ở Việt Nam, (3) người trong tuổi lao động kiếm ra tiền để xài tiền mua sắm sữa tắm dê rừng thượng hảo hạng cheo leo vách đá, và (4) người không còn trong tuổi lao động, cần đến các sản phẩm sữa ngừa chứng loãng xương.

Đặc điểm của những người bị giới kinh doanh tự tiện xếp loại này là tất cả họ, dù là người trẻ, người lớn, hay người già đều là đối tượng nhắm đến của ngành hàng tiêu dùng, và do đó ắt không nằm trong sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett.

3) Nhân Lực Theo Nhu Cầu Làm Việc (Lao Động):

Dù là người trẻ, người lớn, hay người già đều có nhu cầu làm việc, khác nhau ở chỗ (a) đối với một số người trẻ thì công việc phải đem đến ngay nào là lương cao, chức trọng, quyền uy, bất kể bản thân hiện có những gì đáng giá hay không, ngoài tuổi trên khai sinh cho biết còn đang thuộc giới trẻ; (b) đối với một số ít người lớn nào tiêu cực thì cách tốt nhất để giữ ghế là kìm hãm sự ngoi lên của những người trẻ tuổi nào “đột biến” giỏi giang, xuất chúng, “già trước tuổi”; và (c) đối với một số người già thì việc được tiếp tục đóng góp trí lực cho xã hội vừa là mong muốn chính đáng vừa là niềm vui thú lành mạnh. Do đây nói về tuổi trẻ, nên nội dung cơ hội việc làm theo đúng…trình tự trước sau, không có cửa cho bất kỳ cú đại nhảy vọt nào theo kiểu đại cách mạng văn hóa Trung Hoa, từ không có gì lên có tất tần tật, nên ắt không nằm trong sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett.

4) Nhân Lực Cho Nhu Cầu Lãnh Đạo Cấp Cao Theo Kỳ Vọng Của Nhà Tuyển Dụng Tập Đoàn Nước Ngoài:

Khi cả ba phần ở trên ắt không là sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett, tôi thiết nghĩ nên tạm ghi lại sau đây một vài điểm phân tích của tôi mà người trẻ tuổi có thể tham khảo, tự điều chỉnh bản thân để biến mình thành “đại doanh chủ” hoặc “xếp cao cấp” của doanh nghiệp nước ngoài.

 Công Thức Định Lượng Tuổi Trẻ

Công Thức Định Lượng Tuổi Trẻ 2

Theo Bảng 1, các bạn trẻ sẽ thấy trên lý thuyết bạn cực kỳ yếu thế so với người lớn tuổi, còn theo Bảng 2 các bạn lại hơi yếu thế trước người lớn tuổi. Cộng chung cả hai Bảng thì rõ mười mươi là hoàn toàn không có cửa cho bất kỳ bạn trẻ nào chỉ với duy nhất sức hùng hục mà lại có thể tự cho phép mình ngẫng cao đầu, trề môi dè bỉu chê bai người lớn tuổi, gọi họ là “người già”, và muốn chiếm chiếc ghế lãnh đạo công ty từ họ. Bất kỳ ai nếu sớm nhận ra điều yếu thế này của tuổi trẻ, không muốn theo kiểu “từ đồ dần dà” hay “ở lâu lên lão làng”, có thể buộc bản thân phải phát triển thật bình thường từ rất sớm tức là tập trung san bằng khoảng cách với người lớn tuổi. Gọi là bình thường vì chỉ có kẻ bất thường mới sống như miêu tả trong bài “Tuổi Teen Không Có Thật”.  Những điều cực kỳ bình thường ấy bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các việc đơn giản quen thuộc sau đây:

1) Ngay từ cấp mẫu giáo phải làm việc chăm chỉ tức hàng ngày phụ giúp cha mẹ những việc nhà như quét dọn, sắp xếp chăn màn, v.v. (Ghi chú: điều này trước 1975 ở Sài Gòn tất cả các cô giáo đều viết vào tập yêu cầu mẹ học trò phải bảo các em cùng mẹ giặt đồ chung, cùng thu xếp mùng mền chiếu gối chung, rồi ghi nhận số lần có cho các em cùng làm việc ở nhà để nộp cho cô giáo, khiến hình thành cung cách đảm đang của học trò. Điều khác biệt là sau 1975 các thầy cô giáo đều kêu học trò “lao động” tại trường với toàn việc bụi bặm bẩn dơ vô lý vô duyên vô bổ khiến làm mất đi tính đảm đang tại gia đình của trẻ nhỏ vì trẻ chứng kiến chuyện “thầy cô” và ban giám hiệu “yêu lao động” bằng cách chễm chệ ngồi đọc gì đó hay thảnh thơi đứng gởi tin nhắn gì đó qua điện thoại chứ chẳng lao động gì cả với bụi bặm bẩn dơ).

2) Ngay từ lớp đầu tiểu học phải đọc những điều hay kim cổ qua sách vở với mẹ cha.

3) Ngay từ lớp đầu tiểu học phải rèn tính tự lập trong gia đình và lúc học tập (Ghi chú: trước 1975 ở Sài Gòn cha mẹ và thầy cô phối hợp gắn bó nhịp nhàng, dù không có Hội Phụ Huynh và chẳng đời nào có buổi họp phụ huynh; thầy cô nhà trường chỉ gặp tất cả phụ huynh lúc họ đưa con đến ngày tựu trường còn ban giám hiệu gặp vài phụ huynh vào ngày bãi trường vì họ có con thuộc danh sách học giỏi mỗi lớp có 3 em từ hạng nhất đến hạng ba, đặc biệt chẳng bao giờ có chuyện nhà trường xin tiền xin đồ, gợi ý xin tiền xin đồ, hay vận động xin tiền xin đồ phụ huynh vì bất kỳ lý do gì như hiện nay có cái kiểu cấp thấp dưới tên gọi cấp cao “đóng góp cơ sở vật chất” hay “nhân Ngày Nhà Giáo” hoặc “để thầy cô đi nghĩ mát hè ở Singapore” xảy ra nhan nhản hoặc chỉ cá biệt ở tất cả hoặc chỉ dăm ba trường học Việt Nam).

4) Ngay từ lớp đầu trung học phải tập trung trau giồi kiến thức chung của trường lớp đang học, tham khảo thêm kiến thức chung của cấp lớp cao hơn và kiến thức chung của cấp lớp cao hơn cấp lớp cao hơn, cùng kiến thức đầy ắp khác của riêng từng ngành dù không có trong chương trình trường lớp của cấp hiện học, cấp lớp cao hơn, và cấp lớp cao hơn cấp lớp cao hơn.

5) Ngay từ lớp đầu trung học phải biết tuyệt giao với các trò giải trí vô bổ, đừng dại dột nghe theo câu vớ vẩn nói về tai hại của việc “học mà không chơi”. (Ghi chú: trước 1975 ở Sài Gòn trò giải trí vô bổ ở trong xóm gồm đánh đáo, bắn bi, chơi bầu-cua-cá-cọp hay các thứ bài và cờ, v.v.; còn ở thời hiện đại ngày nay thì trò giải trí vô bổ bao gồm chơi game vi tính, tham gia những gameshow không cùng một đẳng cấp với “Đường Lên Đỉnh Olympia”, v.v.).

6) Ngay từ lớp đầu trung học phải hướng và cố sức vói với ra bên ngoài chiếc hộp của tuổi “teen” để học hỏi từ các anh chị lớp lớn hơn, các anh chị sinh viên, các thầy cô, và bạn hữu của mẹ cha.

7) Ngay từ lớp đầu trung học biết tuyệt giao với các quan hệ vớ vẩn (mà ngày nay phát triển như dịch trên các mạng xã hội như Facebook và những thứ tương cận ngay cả khi mạng xã hội ấy của Việt Nam thuần túy.)

8) Ngay từ lớp đầu trung học đã phải tập tính nghiêm túc, nghiêm trang, nghiêm nghị, điềm đạm, đảm đang, có trách nhiệm, xung phong gánh vác nhiều nhất có thể được các công việc nơi trường lớp.

Kết quả từ những việc bình thường trên là nhiều người trẻ tuổi tạo được cho mình sự vững chãi từ trước khi bước vào ngưỡng cửa lớp 10 để vinh diệu đường bệ tiến vào đại học, nơi họ trở  thành đại loại như một “nhà khoa học tập sự” hay “nhà nghiên cứu tập sự” và có tư thế “nhà khoa học” khi bước đến cổng ra của trường đại học để là người thầy giỏi hay nhà khoa học giỏi. Chẳng thế mà trước 1975 cái danh “bác sĩ”, “kỹ sư”, “giáo sư”, v.v. luôn có ánh hào quang, hào nhoáng, đầy cuốn hút, chứ không như hiện nay thiên hạ cứ nói hoài về chuyện sinh viên tốt nghiệp đại học bị nhà tuyển dụng chê, thậm chí còn có chuyện cần đào tạo lại. Việc này không do lỗi nhà trường mà do bản thân người đi học đã không  quen với những việc “bình thường” nêu trên trong cố gắng tự thân để lao nhanh đến trước, gom nhiều thu thừa kiến thức, xem sự học như cuộc chiến sinh tồn chứ không là khoảng thời gian bình thường của cuộc đời hưởng thú rong chơi cuối trời quên lãng của tuổi xanh. Cái “lượng” của tuổi trẻ, do đó, là tất cả những gánh nặng không những do chương trình học đè lên vai nhỏ mà còn từ tất cả những kiến thức, việc làm, mà mỗi ngưởi trẻ tuổi cố tự thân nhặt nhạnh thật nhiều, thật nhiều hơn để chồng lên thêm trên các chương trình ấy.

B- ĐỊNH TÍNH TUỔI TRẺ

Khi nói về “tuổi trẻ”, người ta không nói về trẻ em, mà như một mặc định thiên hẳn về thanh niên, tức những công dân “mới tinh” với gánh nặng trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, và tổ quốc. Sự khác biệt duy nhất giữa những người lớp “tuổi trẻ” là ở vị trí gánh nặng: nó đang nằm trên vai người ấy hay bị vứt ngỗn ngang trên mặt đất, nó nặng hơn hay ít nặng hơn gánh của người khác, gánh đầy hay trống trơn, và gánh có bị san bớt một cách láu cá qua gánh của người khác hay không. Từ nhận xét này, có thể thấy những thể hiện khác nhau của những người “tuổi trẻ” do  những nội dung khác nhau trong tư tưởng, tính cách riêng của mỗi người hình thành từ mức độ thấp hay cao của ý chí

1) Tính Trẻ Con

Điển hình của “trẻ con” là dễ dàng thần phục sự chế ngự của cảm xúc (dễ bùng nổ), của cái tôi (ương bướng), và của ngẫu hứng (hay thay đổi, không gắn kết); từ đó dẫn đến thiên hướng phi tổ chức (tùy tiện), phi trách nhiệm (hoặc né tránh, hoặc viện cớ), và phi l‎ý (yếu phân tích, yếu tổng hợp, theo cảm tính); mà hậu quả thường là có quyết định nhưng không có quyết tâm, mừng vui bùng nổ khi thành công nhưng sụp đổ hoàn toàn khi thất bại, chất lượng công việc nếu tốt thì chỉ trong ngắn hạn, nhất thời, đặc biệt hiếm nhận được sự “thần phục” của người khác. Nếu có cá tính cao thì hoặc tự nhiên lập dị hoặc cố tạo cho mình lập dị, hoặc làm lộ mặc cảm tự tôn complex of superiority, còn nếu không có cá tính thì lại có khuynh hướng bầy đàn hùa theo số đông hoặc vướng mặc cảm tự ti complex of inferiority luôn thấy mình thua thiệt dẫn đến thù hằn, cau có, quạu quọ.

2) Tính Trẻ Trung

Trong khi đó, tính trẻ trung lại tồn tại ở bất kỳ ai, bất kể tuổi tác (trẻ hay già), bất kể tính tình chính (có cá tính cao hay không có cá tính), bất kể giai tầng xã hội (giàu vàng bạc đầy rương hay chạy cơm từng bửa), bất kể nghề nghiệp (lao động trí óc hay lao động chân tay, chiến sĩ hay tài xế taxi), bất kể địa phương (thôn quê hay thành thị), v.v., được thể hiện qua cách sống an vui tích cực, cách làm việc an vui tích cực, cách đối xử an vui tích cực với tha nhân, và cách nhìn an vui tích cực với xã hội, với cuộc đời. Từ “tích cực” được lập đi lập lại như cốt lõi của tính trẻ trung, vì đó mới là cung cách đúng, độc đáo, độc quyền của “tuổi trẻ”. Bạn trẻ nào làm mất thứ báu vật đó qua cách sống dật dờ, né tránh công việc nhất là công việc nặng nhọc, làm ngơ trước trách nhiệm nhất là khi phát sinh sự cố đòi hỏi phải có người gánh vác việc nhận lỗi và khắc phục, và buông thả, thì bạn trẻ đó không còn trẻ trung. Người lớn tuổi nào nâng niu cái báu vật ấy qua cách sống năng động, qua cách làm việc hăng say, xốc vác, có trách nhiệm cao, nhắm đến kết quả và hiệu quả, làm chỗ dựa cho đồng nghiệp trẻ, và giữ mình trong khuôn phép nội quy và khuôn khổ pháp luật, người lớn tuổi ấy vẫn mãi trẻ trung.

Nhà tuyển dụng nước ngoài thường quan tâm đến người trẻ trung, chứ không phải người trẻ con.

Người trẻ tuổi có tính trẻ trung là người tuyệt diệu.

Người lớn tuổi có tính trẻ trung là người tuyệt diệu.

Người trẻ tuổi có tính trẻ con là tai họa nhãn tiền.

Người lớn tuổi có tính trẻ con là tai họa hiển nhiên.

Và sự lựa chọn sẽ bắt đầu.

Người ta chỉ tuyển người tuyệt diệu.

Người trẻ tuổi sẽ thắng nếu đã biết lao lung để có sẵn nhiều kinh nghiệm sớm hơn từ trước đó.

Người lớn tuổi sẽ thắng nếu đã sẵn có nhiều thành tích nổi bật từ nhiều năm “chinh chiến chốn sa trường” trước đó và duy trì được sức hừng hực của sự trẻ trung.

C- KẾT LUẬN

Như vậy các bạn ắt đã phân biệt được thế nào là tuổi trẻ và thế nào là tính trẻ.

Tuổi trẻ chỉ cho bạn lợi thế duy nhất là thời gian, và lợi thế ấy đang mất ở vô số bạn trẻ đang coi mình là “teen”, đang sa đà vào ăn chơi, giải trí, chát chiết, cắm đầu chúi mũi vào I-phone I-pad, gameshow, nhảy nhót, đua chen “hàng hiệu”, phung phí bạc tiền, phí phung thời gian, mà thời gian nghĩa là tuổi trẻ. Lợi thế này chỉ được phát huy có lợi tuyệt đối cho bạn nếu bạn tận dụng thời gian làm giàu kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, ra tay thực hành tự tạo kinh nghiệm. Và sẽ là điều ngạc nhiên nếu bạn không trở thành nhà lãnh đạo doanh nghiệp trẻ tuổi thành công – tất nhiên ở đây chúng ta không nói đến nhóm những người tuy được gọi là nhà doanh nghiệp trẻ tuổi thành đạt nhưng do nhờ thừa kế tài sản cơ nghiệp sẵn có của mẹ cha.

Tính trẻ không có thời gian tính như tuổi trẻ. Tính trẻ còn hay mất tùy thuộc duy chỉ vào tinh thần sống, thái độ sống, cung cách sống, trí tuệ sống, của mỗi một con người. Người lớn tuổi nào vẫn còn tính trẻ, người đó trở thành bất khả chiến bại trước bất kỳ người trẻ tuổi nào (tất nhiên trong trận đấu công bằng, mà võ đài công bằng đễ thấy hơn là tại một công ty lớn của nước ngoài). Vì vậy bạn trẻ phải bằng họ ở tất cả các điểm quan trọng của Bảng A và Bảng B để tuổi trẻ của bạn biến thành lợi thế thực thụ, đồng thời duy trì tính trẻ để bạn mãi ở ngôi cao đến chừng mực cho phép của sức khỏe cuộc đời.

Đã khuya. Viết bài này thân gởi các bạn trẻ, vừa để hy vọng các bạn nhận ra uy lực của mình, vừa để chứng tỏ tôi vẫn đang cố duy trì tính trẻ để trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm trên tất cả các mặt trận với bạn đấy.

Chúc các bạn thành công. Và…hãy đợi đấy!

Người bạn tính trẻ của các bạn tuổi trẻ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[*] Hoàng Hữu Phước. 21-11-2011. Định Tính Và Định Lượng Của Tuổi Trẻ. http://www.emotino.com/bai-viet/19402/dinh-tinh-va-luong-tuoi-tre

Thư Gởi Thủ Tướng Về “Đường Bay Vàng”

Hoàng Hữu Phước, MIB

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Thực hiện đúng lễ nghi phong cách mà tôi đã từng nêu trong bài viết về Ngô Di Lân [1] nghĩa là nếu viết thư cho lãnh đạo nào thì trước hết phải gởi trực tiếp đến lãnh đạo đó, và phải đợi một thời gian mới có thể sử dụng nội dung của bức thư ấy, hôm nay tôi đăng toàn văn bức thư mà tôi, với tư cách Đại biểu Quốc hội Khóa XIII của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, đã gởi đến Thủ Tướng để nêu ý kiến cá nhân của tôi đối với vấn đề “Đường Bay Vàng”[2] , như dưới đây để làm sử liệu. Do tính cấp bách của vấn đề nhất là khi nó đã bị báo chí tác động kiểu khống chế trấn áp tâm lý người đọc nhằm cùng lúc hình thành hào quang giả tạo cho “Đường Bay Vàng” và sự bêu rếu Chính phủ như phía luôn phản bác những cơ hội “hốt bạc” và “tiết kiệm” “có lợi cho nước nhà”, bức thư của tôi đã được viết thật nhanh và ngắn gọn.

*********

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 9 năm 2014

Kính gởi: Thủ Tướng Chính Phủ

Bản sao kính gởi:

  • Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Nước
  • Các Phó Thủ Tướng
  • Bộ Trưởng Bộ Giao Thông – Vận Tải
  • Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng

Bản sao đồng kính gởi:

  • Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Chủ Tịch Quốc Hội và các Phó Chủ Tịch Quốc Hội
  • Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại
  • Lãnh Đạo Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh

 

V/v Góp Ý Về  Dự Án “Đường Bay Vàng” Của Hàng Không Dân Dụng Việt Nam Qua Không Phận Lào Và Campuchia

 

Kính thưa Thủ Tướng:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh,

Kính có ý kiến sau để phản bác dự án “Đường Bay Vàng” Của Hàng Không Dân Dụng Việt Nam Qua Không Phận Lào Và Campuchia do Bộ Giao Thông – Vận Tải đệ trình Thủ Tướng mà dư luận báo chí đã tập trung “đánh bóng”, “lăng-xê”, thiếu khách quan, thậm chí có báo còn dùng từ ngữ bình dân như “hốt bạc”, và không có giá trị cao trong bao quát và phản biện.

1) Về phương pháp đo đạc số học giản đơn: Nếu cho rằng đường bay từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh theo tuyến truyền thống nghĩa là từ Hà Nội bay vòng ra Biển Đông rồi rẽ vào Buôn Mê Thuột để thẳng về Thành phố Hồ Chí Minh dài hơn, xa hơn, tốn thời gian hơn và tốn nhiên liệu nhiều hơn, thì đó là một nhận xét thuần túy tính toán số học và đo đạc trên sa bàn không cần phải ở trình độ đại học và sau đại học hoặc là chuyên viên ở cấp Bộ mới có thể nhận ra.

2) Về lập luận đối với “tiết kiệm”: Nếu nói đến “tiết kiệm” mà chỉ nghĩ đến số tiền có thể để dành được thì đó không là ý nghĩ của những người thuộc tầng lớp và đẳng cấp quyết định kế sách chiến lược dài hạn của quốc gia. Đường bay hiện hữu có đang làm Hàng Không Dân Dụng Việt Nam thiệt hại và lỗ đến độ không thể xây dựng sân bay mới ở các tỉnh thành và đặc biệt là dự án khổng lồ Sân Bay Long Thành; và sau “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh phải chăng sẽ là vô số các “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Bang Kok, và Hà Nội – Paris, v.v., sẽ là những câu hỏi được đặt ra từ công chúng.

3) Về giá trị pháp lý quốc tế: Đường bay hiện hữu ắt đã được đăng ký và công nhận bởi các cơ quan quốc tế, trong đó có ICAO. Như vậy, “Đường Bay Vàng” ắt sẽ khiến xóa bỏ đường bay hiện hữu trong đăng ký của các cơ quan này.

4) Về không phận quốc gia: Đường bay qua không phận quốc gia khác luôn phải đóng lệ phí, và đường bay hiện hữu qua Biển Đông minh định chủ quyền không phận quốc gia Việt Nam trên Biển Đông bị bỏ có thể sẽ dẫn đến nguy cơ Trung Quốc chiếm lĩnh chủ quyền không phận truyền thống này cho phù hợp với tuyên bố của họ về chủ quyền Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông.

5) Về mặt kỹ thuật hàng không, trên những chuyến bay qua các vùng địa lý khác nhau có cả vùng biển thì luôn luôn có tiết mục hướng dẫn qua tiếp viên hàng không và/hoặc băng hình trong đó có cách sử dụng áo phao cứu hộ, trong khi trên tất cả các chuyến bay của tất cả các hãng hàng không trên thế giới không phải bay ngang vùng biển thì tuyệt nhiên không có hướng dẫn gì cả, nghĩa là khi có sự cố kỹ thuật khi bay trên biển thì hành khách trên nguyên tắc và lý thuyết còn có hy vọng sống sót, trong khi nếu xảy ra bên trong đất liền thì hoàn toàn không thể có hy vọng đó.

6) Về mặt thực tế an toàn an ninh hàng không, những chuyến bay qua vùng chiến sự không được cho là khôn ngoan như đã được minh chứng một cách thảm khốc trên toàn thế giới. Lào và Campuchia không có chiến sự thực tế với Việt Nam, nhưng đây là những nơi dưới tầm ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc, và không ai có thể bảo đảm rằng những hỏa tiển đất-đối-không của những bàn tay táy máy, “sơ ý”, “vô tình”, cướp cò, v.v., của những kẻ đang điên loạn kêu gào lãnh thổ Việt Nam chỉ kéo dài đến xứ Quảng sẽ không bao giờ nhằm bắn về các máy bay dân dụng Việt Nam.

7) Về danh tiếng và an ninh quốc gia: Nếu sự cố được dàn dựng cho một sự “vô tình” như trên xảy ra, toàn bộ danh tiếng an toàn-an ninh quốc gia bị tổn hại, đồng thời gây bạo loạn xã hội ở Việt Nam khi cơn thịnh nộ của người dân và sự kích động của kẻ thù của đất nước chắc chắn sẽ hoặc nhấn chìm đất nước trong bạo loạn hoặc đẩy quốc gia vào cuộc chiến tranh mới với đất nước phản phúc nào đã gây thảm họa cho một chuyến bay của Việt Nam, khiến hủy phá toàn bộ thành quả chính trị và  kinh tế của Việt Nam.

Nói tóm lại, sự lựa chọn phải là giữa hai giá trị của (1) “sinh mạng hành khách + uy tín an toàn hàng không quốc gia + hòa bình trong khu vực + minh định chủ quyền thực tế không phận trên Biển Đông + sự tồn vong của chế độ ” và (2) “tiết kiệm tiền xăng + tiết kiệm thời gian”, trong đó sự thải loại một bên bất kỳ chính là sự xem thường giá trị của bên đó. 

Vì tất cả những yếu điểm mang tính nguy cơ trên của dự án “Đường Bay Vàng”, tôi khẩn thiết đề nghị Thủ Tướng không thông qua dự án trên.

Kính biết ơn Thủ Tướng đã dành thời gian đọc bản kiến nghị này.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 07-3-2014. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

[2] Hoàng Hữu Phước. 05-9-2014. Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về cái gọi là “Đường Bay Vàng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/05/nghi-si-hoang-huu-phuoc-noi-ve-cai-goi-la-duong-bay-vang/

Nghị Sĩ Người Khuyết Tật: Tại Sao Không?

Hoàng Hữu Phước, MIB

HHP123

Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật tháng 12 năm 2006 sau thời gian dài kể từ khi ban hành các hiệp ước không có giá trị ràng buộc pháp lý như Các Định Chuẩn Về Bình Đẳng Trong Các Cơ Hội Dành Cho Người Khuyết Tật năm 1994 và Chương Trình Hành Động Toàn Cầu Về Người Khuyết Tật năm 1982, có xét đến các khuyến nghị của Ủy Ban Nhân Quyền và Ủy Ban Phát Triển Xã Hội cũng như các kiến nghị của các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ. Điều này cho thấy quyền, nhân phẩm, giá trị của người khuyết tật, và vấn đề phân biệt đối xử đối với người khuyết tật đã không nằm trong những chương trình nghị sự của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc và Ủy Ban Phát Triển Xã Hội Của Liên Hợp Quốc, những công cụ dưới bàn tay thao túng của các siêu cường tư bổn tích cực can thiệp vào nội bộ các quốc gia không có trong danh sách thân hữu mà các tổ chức này thân thiện. Điều cần nói ở đây là Cơ quan Nhân Quyền Liên Hợp Quốc UNCHR được thành lập năm 1946 đã mang nhiều tai tiếng tồi tệ về nhân quyền khi ủng hộ các chế độ độc tài khét tiếng và đưa các nước của các chế độ này vào cơ quan CHR đến độ nó phải bị phế bỏ và được thay thế bằng Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc UNHRC (từ CHR thành HRC) bởi Nghị Quyết A/RES/60/251 ngày 15-3-2006 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc và gần như ngay lập tức nó tích cực “nghĩ” đến người khuyết tật và rốt cuộc tạo được tấm bình phong đầy hào quang tốt đẹp từ kết quả của các khuyến nghị đúng nghĩa nhân văn nhân quyền. Tuy nhiên, sau 60 năm kể từ khi có cơ quan nhân quyền CHR, với thân phận tật nguyền chịu đựng bao bất công xã hội và phân biệt đối xữ bởi thói đời và bị bỏ quên bởi cơ quan Liên Hợp Quốc đại diện cho toàn nhân loại, người khuyết tật đã có được sự bảo vệ quyền và nhân phẩm của chính mình cùng những cơ hội bình đẳng khác với bản Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật cũng như những chính sách của từng quốc gia dành các phúc lợi cho công dân khuyết tật của từng quốc gia đó.

Ở Việt Nam đã có những chính sách dành cho bản thân người khuyết tật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội, y tế, phúc lợi, nghề nghiệp, phục hồi chức năng, kinh tế, v.v., cũng như những ưu đãi dành cho các doanh nghiệp có tuyển dụng người khuyết tật ngõ hầu tạo cơ hội việc làm nhiều hơn cho người khuyết tật, sử dụng khả năng của họ, và trên hết là tạo cho họ sự tự tin khi phẩm giá của chính mình được tôn trọng và cuộc sống của họ đầy tự trọng trong tư thế “khuyết tật” vẫn chủ động được trong cuộc mưu sinh.

Việt Nam, đất nước trong số 196 quốc gia trên toàn thế giới và 193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, và là một trong số 47 quốc gia thành viên của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc UNHRC đang chuẩn bị phê chuẩn Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật nhằm nâng cao hơn theo chuẩn mực quốc tế những cam kết và đảm bảo đối với nguyên tắc được tuyên bố tại Hiến Chương Liên Hợp Quốc và các công ước của Liên Hợp Quốc có liên quan.

Tôi kỳ vọng rằng kể từ Quốc Hội Khóa XIV trở đi sẽ có sự tham gia của các đại biểu dân cử là người khuyết tật vì chính trị cũng là một trong những quyền thuộc phạm trù bình đẳng, tự do, dân chủ, dân quyền, và nhân quyền, tức những điều thiêng liêng mà Việt Nam luôn tôn trọng, Chính phủ Việt Nam luôn cố gắng đẩy nhanh tiến độ luật hóa những phạm vi còn thiếu trong đảm bảo các quyền hiến định, và Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn nêu cao tôn chỉ cũng như vạch ra các phương hướng, phương cách, phương sách, xây dựng được nền dân chủ, bảo vệ được dân quyền, và áp sát các chuẩn mực chung về nội hàm nhân quyền mà Việt Nam là thành viên tích cực trong tổng số 47 quốc gia thành viên của tổ chức nhân quyền lớn nhất hành tinh.

Tất nhiên, không phải người khuyết tật nào cũng có thể thực hiện dân quyền trong ứng cử vào cơ quan dân cử của quốc gia do các đặc thù khiếm khuyết của cơ thể, khó đáp ứng yêu cầu cao của một nghị sĩ quốc hội hoặc một đại biểu hội đồng nhân dân, thí dụ như phải có nguồn lực tài chính riêng do nghị sĩ Việt Nam không hưởng lương, có quỹ thời gian đủ đáp ứng 1/3 thời gian trong năm để làm công tác đại biểu tập trung và không tập trung, v.v. Những tham khảo dự án luật trong hoàn cảnh Việt Nam không có các văn bản ngôn ngữ Braille khiến những công dân khiếm thị khó thể tham chính. Song, trước mắt thì những công dân khuyết tật về các chi dưới chẳng hạn vẫn có thể đảm đương tốt vai trò của một nghị sĩ hay đại biểu dân cử trong đóng góp chất xám và trí tuệ cho Đảng, cho nước, cho dân, với lòng yêu đất nước xã hội chủ nghĩa.

Tòa nhà Quốc Hội mới của Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thiện. Vấn đề ở đây là không rõ trong thiết kế của tòa nhà mà Quốc Hội khóa trước đã thông qua đã có các trang bị dành cho người khuyết tật – là các nghị sĩ Việt Nam và nước ngoài kể cả khách mời và công dân Việt Nam – hay chưa, chẳng hạn ngoài thang máy còn phải có lối đi cho xe lăn, và cả thiết bị giúp người khuyết tật có thể cặp xe lăn của mình vào thành lan can cầu thang bộ để được tự động đưa lên hay đưa xuống theo đường vòng của chính các cầu thang này chung với dòng người đang sử dụng thang bộ, tức một cách hiện đại để thực sự có được sự hòa đồng, bình đẳng, theo đúng nội dung của Công ước và được Công ước khuyến khích.

Các bạn người khuyết tật tại Thành phố Hồ Chí Minh hay tại tất cả các tỉnh thành trên toàn quốc quan tâm đến việc được cống hiến sức lực và trí tuệ cho nước nhà với vai trò nghị sĩ quốc hội, muốn được trò chuyện, tư vấn, tìm hiểu thêm, cũng như được khuyến khích và động viên, xin vui lòng liên hệ với tôi qua thư gởi đến Văn Phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, số 2bis Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do tôi không có đảng tịch vì không là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, không là hội viên của bất kỳ câu lạc bộ nào dù của khối khoa học hàn lâm hay doanh nghiệp, và cũng không sinh hoạt tại bất kỳ tổ chức nào kể cả VCCI, tôi sẽ không do bất kỳ ai giới thiệu ra ứng cử mà chỉ có khả năng tự ứng cử. Vì vậy, tôi có thể giúp các bạn về kinh nghiệm trong khâu tự ứng cử, phác thảo chương trình hành động và tiếp xúc cử tri cũng như tiếp dân và các nội dung khác của sinh hoạt nghị trường.

Công dân Việt Nam là người khuyết tật có thể làm nghị sĩ Quốc hội Việt Nam: đó là điều chắc chắn và là lẽ đương nhiên.

Nghị sĩ người khuyết tật: tại sao không?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về cái gọi là “Đường Bay Vàng”

Hoàng Hữu Phước, MIB

IM000001.JPG

Báo chí đang nói quá nhiều về cái gọi là “Đường Bay Vàng” tức hướng bay mới cho các chuyến bay từ Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.

Các “nhà báo” nào đưa tin đối với đề tài linh tinh rẻ tiền không cần động não nghĩ suy kiểu “miễn bình luận” là nhanh nhảu tự phơi bày bản thân chỉ là “người đưa tin” tức là đẳng cấp thấp nhất của bất kỳ tờ báo danh tiếng nào trên thế giới, tức những ai không đủ trí kiếm tìm ra đề tài và tìm kiếm ra người đại trí có thể trả lời đúng nhất cái đề tài đó và không đủ can đảm xông pha nơi hiểm ác nguy nàn nhiều rủi ro rơi vào tay những kẻ như Nhà Nước Hồi Giáo IS.

Các “nhà báo” nào nhanh nhảu phỏng vấn mấy ông CEO của hãng hàng không này hãng hàng không nọ là nhanh nhảu tự phơi bày bản thân mình theo công thức cũ rích nhàm chán chỉ toàn là  thất bại của: cái gì liên quan đến cà phê thì gặp “ông” Trung Nguyên, cái gì liên quan đến “ẩm thực” thì gặp “ông” Phở 24, cái gì liên quan đến “đường bay vàng” thì gặp “ông” hàng không, cái gì liên quan đến giáo dục thì gặp nhà giáo này nhà giáo nọ, cái gì liên quan đến hằm bà lằng xắng cấu thì gặp “ông” luật sư X hay “ông” nhà sử học Y, v.v., mà không hiểu rằng luật sư chỉ là người bảo vệ thân chủ bằng mọi giá dựa trên sự nắm rất rõ những đạo luật không phải do “ổng” xây dựng nên mà người thường vẫn có thể tự biện hộ không cần đến “ông” luật sư, rằng nha sĩ là người nhổ răng cho thân chủ dựa trên sự nắm rất rõ những phương pháp và thiết bị không phải do “ổng” chế tạo ra nhưng người thường chẳng ai mua thiết bị đó lắp ở trong nhà, rằng nhà giáo không phải là “nhà giáo dục” vì ở nước ngoài có bằng cấp thạc sĩ giáo dục học, thạc sĩ giáo học pháp, thạc sĩ soạn giáo trình, thạc sĩ phương pháp giảng dạy, v.v. chứ không phải cứ là nhà giáo là biết về kế sách vĩ mô của giáo dục, rằng phở không bao giờ là thức ăn xứng đáng đại diện cho ẩm thực Việt Nam do nguy cơ bò điên và gà cúm cũng như không thích hợp cho số dân khổng lồ trên thế giới thuộc nhóm ăn chay trường còn cái ông Phở 24 lo bán phở và bán luôn Phở 24 thì không có trình độ tư duy chiến lược để nói về ẩm thực Việt Nam ngoài tô phở nhạt thếch của ông ta, và rằng “nhà sử học” là người có đọc sách sử không do “ổng’ viết nên mà bất kỳ ai cũng có thể đọc như “ổng” hoặc nhiều hơn “ổng” thậm chí đọc sách sử bằng tiếng nước khác, biết chính xác hơn “ổng” và đúng hơn “ổng”, v.v. Hành nghề báo chí mà nguồn phỏng vấn chỉ có thế chẳng phải là đáng thương hại lắm ru?

Vì quá chán chường với mấy “nhà báo” đẳng cấp thấp trong sổ tay chỉ có danh sách lèo tèo hai ba vị luật sư” và “nhà sử học” cùng công thức quái gở trên, tôi xin có nội dung sau về “Đường Bay Vàng” sau khi đã gởi thư đến Thủ Tướng cách nay vài hôm để nêu 7 vấn đề quan trọng nhằm kiến nghị không thông qua dự án “Đường Bay Vàng”..

Tôi đã đi phỏng vấn vài cháu học sinh tiểu học ở miệt vườn Miền Tây, và các cháu này giải thích như sau:

Chuyện mấy chú mấy bác ở Cục này Cục nọ chìa ra cái hình vẽ về “Đường Bay Vàng” cho mấy chú mấy bác ở báo đó báo kia đăng lại là sai bét sai be vì không bao giờ có được cái đường bay thẳng băng đó do địa cầu quay từ trái qua phải, nghĩa là nếu bay thẳng băng từ Hà Nội vô Thành phố Hồ Chí Minh thì khi tới không phận của cái lẽ ra là Thành phố Hồ Chí Minh thì bên dưới máy bay lại là Kandai, Takeo hay Koh Kong của Campuchia, hoặc nếu gió thổi địa cầu quay nhanh hơn thì bên dưới máy bay sẽ là biển Vịnh Thái Lan hoặc…thành phố Pattaya xinh đẹp của Thái Lan. Vậy thì Bác Phước ơi, máy bay mình hoặc đáp xuống Pattaya chơi, hoặc hết hồn quẹo trái để rượt theo trái đất để “dìa” đến Việt Nam. Bác thấy hông, máy bay mình hoặc bay vòng ra Biển Đông rồi lợi dụng ưu thế trái đất quay từ trái qua phải để quẹo phải vòng vô đất liền nhanh hơn để tiết kiệm thời gian, hoặc bay vòng qua Lào và Campuchia rồi quẹo trái và tăng tốc tốn nhiên liệu và thời gian để rượt đuổi địa cầu vì địa cầu và máy bay cùng đi về một hướng làm máy bay đi tới đâu đều bị địa cầu tiến thêm để bỏ máy bay lại phía sau. “Gồi” Bác sẽ thấy cả hai hướng “vàng” và “không vàng” đều bằng nhau hoặc cách nhau có chút xíu xìu xiu hà! Nhờ Bác nói với mấy “ổng” là chỉ có “đường bay thắng” nếu bay song song với đường xích đạo hay vĩ tuyến chớ hổng bao giờ có “đường bay thắng” để bay song song với đường kinh tuyến cả. Mà cả hai đường bay ngang và bay dọc đều có lợi thế và mất lợi thế khi tính đến sự quay của trái đất.”

Than ôi, cái sở học của Lăng Tần đã phải cúi đầu bái phục trước mấy cháu tiểu học miệt vườn chưa thể rờ tới được mấy cái máy móc thiết bị thông tin hiện đại giá cả trên trời của cải cách giáo dục.

Lành thay, mấy cháu tiểu học miệt vườn chưa thể rờ tới được mấy cái máy móc thiết bị thông tin hiện đại giá cả trên trời của cải cách giáo dục lại có trí hóa hơn hẳn mấy “nhà báo” chỉ biết đưa tin hoặc chỉ biết hét lên trên báo mạng hai chữ “hốt bạc” đáng thương hại.

Phúc thay, mấy cháu tiểu học miệt vườn chưa thể rờ tới được mấy cái máy móc thiết bị thông tin hiện đại giá cả trên trời của cải cách giáo dục lại có trí hóa hơn hẳn mấy vị CEO hay Tổng Giám Đốc hãng hàng không chỉ biết trả lời phỏng vấn ngợi ca “đường bay vàng” sẽ tiết kiệm được khối tiền rất một cách đáng ngạc nhiên vì không người dân nào có thể hiểu được vì sao mấy ông nói bậy về hàng không lại là lãnh đạo công ty hàng không.

Và cũng phúc thay, từ nay Lăng Tần biết mỗi khi có vấn đề quan trọng liên quan đến “vàng” thì chỉ cần mua một vé khoảng hai trăm ngàn đồng của Thành Bưởi hay Phương Trang về Miền Tây hỏi các cháu tiểu học là biết tất tần tật mọi thứ…sách lược vĩ mô, vừa chẳng tốn tiền trả cho mấy nhà tư vấn nhí này, vừa có thể ghé dọc đường mua bánh tráng sữa hương sầu riêng về Xè Gòong tặng bà con lối xóm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đây là bản dịch tiếng Việt từ bài viết tiếng Anh của tôi trên Yahoo!3600 tháng 8 năm 2006, đăng lại cả hai bài tiếng Anh và tiếng Việt trên Emotino.com ngày 09-4-2009, và đăng thêm trên hhphuoc.blog.com ngày 31-8-2011[1] . Tựa đề nguyên thủy của bản tiếng Anh là VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 và tên của bản tiếng Việt là VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Nhân Quốc Khánh Nước Nhà năm 2014, xin tải đăng hai bài viết ấy trên blog này. Kính mời các bạn đọc tham khảo dưới đây với phần tiếng Anh được tiếp nối bởi phần tiếng Việt ngay sau đó.

Phần Nguyên Tác Tiếng Anh

VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam is my beloved country. Without his/her own country, one resembles an eternally wandering homeless soul. I am over-proud to be a Vietnamese, of course not from any blind patriotism. It is the home even Death can never detach my heart from – even with his powerful bloody scythe. It can be good. It can be not so good. It can be bad. It can be not so bad. And only lazy blokes, who sit still in the dark corners of mosquito-habitation cafes with legs senselessly jerking underneath the cheap small tables shouldering upon themselves glasses with or without ice-cubes patiently waiting for drop by drop of dubious-quality coffee falling from tiny holes of cheap percolators, curse the negative, if any, and the wrong, if any, and the one-thousand-and-one bad-and-worse-and-worst, if any, of this country the name of which has incorporated within its very self the meaning of pride and honour and efforts and valour and volition, all up surging from real blood, true ashes, and factual heroic deeds.

I was born in Saigon, and ever since my first day to welcome life and life to welcome my coming-into-being have not relocated my residence elsewhere in this world. On that eventful day of 30 April 1975, my parents were calm enough to advise their children to sit down on the floor, patiently waiting for a peaceful apocalypse to come. I sat near the closed window, thinking of whether my sweat heart Dinh Thi Mai Tram was still there at her home on Chi Lang Street of Gia Dinh, Saigon, or already followed the terrified and terrifying people rushing to the Saigon ports to flee the country by waterways to the unfriendly open sea. I did not have any thought of fear. Just a simple happiness to be safe with the family and to witness the ending of the war which gnawed at the bones and was soaked with blood of almost all my friends who were not as lucky as I was in successfully completing studies for universities and thereupon had to join the collapsing patched-up army of Nguyen Van Thieu the desperado, just to lay down for good on battlefronts on their very first days in operation, with rifles held firm in the thin hands accustomed to holding pens to compose fervid poems of love and hope and desire to live a decent life in peace, not war.

My family had no one being cadre or member of the Communist Party who led the liberation of South Vietnam to a final triumph. But we are proud of being Vietnamese and this pride has helped our family to stand firm against the vicissitudes a country at war and in its post-war era could bring and create. At the time the unified Vietnam suffered untold hardship from the US embargo, whenever I went abroad I proudly attached the Vietnam’s flag on my luggage and various items. I was upset to be advised by senior leaders of State corporations who were of course communist party members that I should remove such flag to avoid problems from overseas anti-communist Vietnamese in Thailand and other “capitalist” countries. I did not say anything, simply proving I respected them the elders and the VIPs, but I never took their advice. The Vietnam’s flag must be with me, wherever I go in this triple we (www, or the wild wide world).

 HHP Vietnam

Until now I am an outsider to the Communist Party of Vietnam. All my efforts to get its membership were spoilt by the management of any academic institution or trading or servicing companies I worked at, at seeing my becoming a communist could endanger their senior positions. I was such a great haunting to them. However, I have never railed against my country and its government and the Communist party, simply because I understand very well that the disastrous war did not provide sufficient time for these senior cadres to properly study and be educated of Confucius’ philosophy – beside Marxism-Leninism and President Ho Chi Minh’s teaching – for a proper awareness of social responsibilities, national responsibilities, and patriotic responsibilities. What I can do is to encourage my brother and my sisters and my child to strive to be communists themselves, for having a proper saying in favour of the nation of Vietnam, the only country of my only nationality. We go global on a boat. We cannot go global with one leg in a boat and the other leg in another boat. That is the work of circus people. The only music I could listen to includes the Western Country music and Hard Rock. Frankly, I must say folk-songs, music of the South during the war – Trinh Cong Son’s not excluded, and the present-day music of Vietnam are not of my tastes. I write everything and compose poems in English. But all these do not mean anything against my pride of being a Vietnamese citizen in this globalized world.

If this country is still immersed in undesirable problems, I can say the blaming could be on me personally, for unsuccessful contribution to make it better.

Vietnam is my country, and I am proud to be a righteous Vietnamese.

Hoang Huu Phuoc Hochiminh City Vietnam

Phần Dịch Nghĩa Tiếng Việt

VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước

** Đây là bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác “VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975” đăng trên Yahoo!3600 và Emotino ngày 09/4/2009, nhân tháng 4, tháng của sinh nhật của 5 thành viên gia đình chúng tôi (Ba tôi, em trai và em gái út của tôi, cũng như của vợ tôi và tôi), cùng trong tháng của ngày Lễ Chiến Thắng 30/4 vinh quang của cả dân tộc Việt Nam.

Việt Nam là quê hương đất nước kính yêu của tôi. Không có đất nước quê hương riêng của mình, người ta chỉ còn như một linh hồn không chốn dung thân muôn đời lưu lạc. Tôi vô cùng tự hào được là người Việt, tất nhiên không do lòng ái quốc quáng mù. Việt Nam là quê hương mà ngay cả Tử Thần cũng không bao giờ có thể dùng lưỡi hái thần uy vấy máu tách được khỏi trái tim tôi. Việt Nam có thể tốt. Việt Nam có thể không tốt lắm. Việt Nam có thể tệ. Việt Nam có thể không đến nỗi nào. Và chỉ những kẻ chây lười ngồi thừ trong góc tối đầy muỗi ngụ cư của những quán cà phê, chân run bần bật bên dưới những chiếc bàn rẻ tiền đang cõng trên nó những ly có hoặc không có các cục nước đá, kiên nhẫn đợi chờ từng giọt từng giọt cà phê có chất lượng khả nghi nhỏ xuống từ những lổ nhỏ tí ti của chiếc phin xoàng xỉnh, miệng nguyền rủa tiêu cực – giả như có tiêu cực ấy, nguyền rủa điều sai trái – giả như có điều sai trái ấy, và nguyền rủa nghìn-lẻ-một-điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ – giả như có những điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ ấy, của đất nước Việt Nam này, đất nước mà bản thân tên gọi đã chất chứa tự thân lòng tự hào, niềm danh dự, sự nổ lực vươn lên, khí hùng anh, và ý chí cao vời – tất cả đã vút lên từ máu thật sự, tro hồng thật sự, và những chiến công anh dũng thật sự.

Tôi được sinh ra tại Sài gòn và từ ngày đầu tiên tôi chào đón cuộc đời và cuộc đời chào đón tôi đến nay chưa lần nào tôi chuyển đến sống tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới này. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đầy biến cố ấy của năm tôi mười tám, Ba Má của tôi điềm tỉnh, thay vì tay xách tay nải dắt díu nhau chạy về Miền Tây theo lời rủ rê của hàng xóm, khuyên con cái ngồi thụp xuống sàn nhà, bỏ cái ý nghĩ – dù chỉ thoáng qua – nghe theo bạn học đào thóat khỏi quê hương, lâm râm khấn vái Phật Trời, kiên nhẫn đợi chờ một khải huyền bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ngồi cạnh cửa sổ đã đóng chặc, tôi lo lắng không biết Đinh Thị Mai Trâm, nữ sinh lớp 11 hoa khôi Nguyễn Bá Tòng đã cùng mình thề non hẹn biển yêu nhau từ năm lớp 9, có vẫn còn ở nhà trên đường Chi Lăng, Gia Định (nay là Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh) không, hay đã cùng gia đình theo chân dòng người đang-khiếp-sợ-kinh-hoàng-và-đang-gây-khiếp-sợ-kinh-hoàng đổ về Cảng Sài Gòn rời xa quê hương bằng thủy lộ tiến ra nơi ác hiểm trùng dương. Tôi không chút sợ hãi, mà chỉ có niềm hạnh phúc giản đơn được bình an cùng gia đình chứng kiến sự kết thúc một cuộc chiến đã nhai nghiến xương và ướt sủng máu của hầu hết các bạn học của tôi, những đứa đã kém may mắn hơn tôi vì đã không thành công trước ngưỡng đại học, bị “bắt lính” bổ sung cho đám tàn quân tan tác chắp vá của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mạt lộ cùng đường, chỉ để vĩnh viễn nằm xuống trên chiến trường ngay lần đầu tiên bị xô thúc ra trận tiền, với khẩu tiểu liên ôm chặt trong đôi bàn tay thanh mảnh trước đó chỉ biết cầm bút viết nên những vần thơ nồng cháy về tình yêu và hy vọng, với khát khao được sống một cuộc sống đường hoàng trong hòa bình chứ không phải chiến tranh.

Gia đình tôi trước đây không có ai là thành viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đã đưa cuộc giải phóng Miền Nam đến thắng lợi cuối cùng. Song, chính lòng tự hào được là con dân nước Việt đã giúp gia đình chúng tôi trụ vững trước các thăng trầm cơ cực mà một đất nước thời chiến và thời hậu chiến có thể đem lại hoặc tạo nên. Vào thời điểm nước Việt Nam thống nhất phải chịu đựng vô vàn những khó khăn không bút mực nào tả xiết từ sự cấm vận của Hoa Kỳ, bất cứ khi nào đi công tác nước ngoài, tôi đều kiêu hãnh gắn hình lá cờ đỏ sao vàng của tổ quốc lên trang phục và hành lý. Có những vị chức sắc cấp cao của các tổng công ty nhà nước – tất nhiên là đảng viên – đã làm tôi buồn bực khi khuyên tôi hãy dấu lá cờ để không bị đám người Việt chống Cộng ở Thái Lan và các nước “tư bản” tấn công. Tôi đã không nói gì để tỏ sự kính trọng họ, những bậc trưởng thượng, những con người quan trọng của quốc gia; song, tôi không làm theo các lời khuyên bảo ấy. Lá cờ Việt Nam phải luôn ở bên tôi dù cho tôi có đi đến đâu trên chốn 3 w – www, the wild wide world, cái thế giới bao la hoang dã – này.

 HHP Vietnam (1)HHP Vietnam (3)HHP Vietnam (2)

Hiện tôi vẫn là người ngoài Đảng. Tất cả những cố gắng phấn đấu của tôi đều bị lãnh đạo những học viện và công ty nhà nước tôi công tác cản ngăn, dường như do có nỗi ám ảnh bịnh lý rằng việc tôi trở thành đảng viên có thể thành mối nguy đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của họ chăng. Song, chẳng bao giờ tôi ghét bỏ quê hương đất nước Việt Nam của tôi, chê bai chính phủ Việt Nam, trách cứ Đảng Cộng Sản Việt Nam, đơn giản vì tôi hiểu rằng cuộc chiến tranh quá tàn khốc đã khiến những cán bộ cấp cao không kịp có đủ thời gian để ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê và giáo huấn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, học hiểu về vai trò tối quan trọng của tư tưởng Khổng Giáo Nho Gia để nhận thức đầy đủ hơn về các bổn phận đối với xã hội, bổn phận đối với quốc gia dân tộc, và bổn phận đối với lòng ái quốc, tức những bổ sung tuyệt diệu cho Chủ Nghĩa Cộng Sản đặc thù của riêng Việt Nam. Những gì tôi có thể làm là khuyến khích các em tôi và con của tôi hãy cố gắng thành đảng viên Cộng Sản để có tiếng nói đúng đắn vì quê hương đất nước dân tộc Việt Nam, đất nước duy nhất của quốc tịch duy nhất của tôi, chúng tôi. Chúng ta tiến ra thế giới trên con tàu chung. Chúng ta không thể đứng chàng háng một chân trên con tàu Việt và một chân trên con tàu khác, vì đó là việc của diễn viên xiếc. Thứ âm nhạc duy nhất tôi yêu là Nhạc Đồng Quê Mỹ và Hard Rock. Còn dân ca Việt Nam, nhạc Miền Nam trong thời chiến tranh – kể cả nhạc Trịnh Công Sơn, và nhạc Việt Nam sau chiến tranh đều không có trong danh mục nhạc tôi thích nghe. Tôi viết, sáng tác, thuyết trình chủ yếu bằng tiếng Anh. Nhưng tất cả những điều này hoàn toàn không đi ngược lại niềm tự hào của tôi được là công dân Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa này.

Nếu đất nước này vẫn còn có những điều chưa tốt, tôi có thể nói chính bản thân mình phải chịu trách nhiệm vì đã chưa hề góp chút công sức vấn kế hiệu quả thực sự nào cho lãnh đạo đất nước để làm đất nước tốt hơn. Việc hưng thịnh hay suy vong của tổ quốc thì ngay cả kẻ thất phu còn phải chịu trách nhiệm, huống hồ mang danh người có học thức hàn lâm lẽ nào còn tồi tệ hơn kẻ thất phu khi chỉ biết lăng xăng xách động chống phá nhà nước cộng sản, hoặc ngồi yên hưởng thụ khi miệng mồm vẫn luôn than vãn, dè bỉu, phê phán, miệt thị, chê bai chế độ hay sao.

Việt Nam là quốc gia của tôi và tôi rất đỗi tự hào được làm một công dân Việt Nam chân chính.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Bản tiếng Anh: http://hhphuoc.blog.com/?p=44;

      Bản tiếng Việt: http://hhphuoc.blog.com/?p=44