Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đây là bản dịch tiếng Việt từ bài viết tiếng Anh của tôi trên Yahoo!3600 tháng 8 năm 2006, đăng lại cả hai bài tiếng Anh và tiếng Việt trên Emotino.com ngày 09-4-2009, và đăng thêm trên hhphuoc.blog.com ngày 31-8-2011[1] . Tựa đề nguyên thủy của bản tiếng Anh là VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 và tên của bản tiếng Việt là VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Nhân Quốc Khánh Nước Nhà năm 2014, xin tải đăng hai bài viết ấy trên blog này. Kính mời các bạn đọc tham khảo dưới đây với phần tiếng Anh được tiếp nối bởi phần tiếng Việt ngay sau đó.

Phần Nguyên Tác Tiếng Anh

VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam is my beloved country. Without his/her own country, one resembles an eternally wandering homeless soul. I am over-proud to be a Vietnamese, of course not from any blind patriotism. It is the home even Death can never detach my heart from – even with his powerful bloody scythe. It can be good. It can be not so good. It can be bad. It can be not so bad. And only lazy blokes, who sit still in the dark corners of mosquito-habitation cafes with legs senselessly jerking underneath the cheap small tables shouldering upon themselves glasses with or without ice-cubes patiently waiting for drop by drop of dubious-quality coffee falling from tiny holes of cheap percolators, curse the negative, if any, and the wrong, if any, and the one-thousand-and-one bad-and-worse-and-worst, if any, of this country the name of which has incorporated within its very self the meaning of pride and honour and efforts and valour and volition, all up surging from real blood, true ashes, and factual heroic deeds.

I was born in Saigon, and ever since my first day to welcome life and life to welcome my coming-into-being have not relocated my residence elsewhere in this world. On that eventful day of 30 April 1975, my parents were calm enough to advise their children to sit down on the floor, patiently waiting for a peaceful apocalypse to come. I sat near the closed window, thinking of whether my sweat heart Dinh Thi Mai Tram was still there at her home on Chi Lang Street of Gia Dinh, Saigon, or already followed the terrified and terrifying people rushing to the Saigon ports to flee the country by waterways to the unfriendly open sea. I did not have any thought of fear. Just a simple happiness to be safe with the family and to witness the ending of the war which gnawed at the bones and was soaked with blood of almost all my friends who were not as lucky as I was in successfully completing studies for universities and thereupon had to join the collapsing patched-up army of Nguyen Van Thieu the desperado, just to lay down for good on battlefronts on their very first days in operation, with rifles held firm in the thin hands accustomed to holding pens to compose fervid poems of love and hope and desire to live a decent life in peace, not war.

My family had no one being cadre or member of the Communist Party who led the liberation of South Vietnam to a final triumph. But we are proud of being Vietnamese and this pride has helped our family to stand firm against the vicissitudes a country at war and in its post-war era could bring and create. At the time the unified Vietnam suffered untold hardship from the US embargo, whenever I went abroad I proudly attached the Vietnam’s flag on my luggage and various items. I was upset to be advised by senior leaders of State corporations who were of course communist party members that I should remove such flag to avoid problems from overseas anti-communist Vietnamese in Thailand and other “capitalist” countries. I did not say anything, simply proving I respected them the elders and the VIPs, but I never took their advice. The Vietnam’s flag must be with me, wherever I go in this triple we (www, or the wild wide world).

 HHP Vietnam

Until now I am an outsider to the Communist Party of Vietnam. All my efforts to get its membership were spoilt by the management of any academic institution or trading or servicing companies I worked at, at seeing my becoming a communist could endanger their senior positions. I was such a great haunting to them. However, I have never railed against my country and its government and the Communist party, simply because I understand very well that the disastrous war did not provide sufficient time for these senior cadres to properly study and be educated of Confucius’ philosophy – beside Marxism-Leninism and President Ho Chi Minh’s teaching – for a proper awareness of social responsibilities, national responsibilities, and patriotic responsibilities. What I can do is to encourage my brother and my sisters and my child to strive to be communists themselves, for having a proper saying in favour of the nation of Vietnam, the only country of my only nationality. We go global on a boat. We cannot go global with one leg in a boat and the other leg in another boat. That is the work of circus people. The only music I could listen to includes the Western Country music and Hard Rock. Frankly, I must say folk-songs, music of the South during the war – Trinh Cong Son’s not excluded, and the present-day music of Vietnam are not of my tastes. I write everything and compose poems in English. But all these do not mean anything against my pride of being a Vietnamese citizen in this globalized world.

If this country is still immersed in undesirable problems, I can say the blaming could be on me personally, for unsuccessful contribution to make it better.

Vietnam is my country, and I am proud to be a righteous Vietnamese.

Hoang Huu Phuoc Hochiminh City Vietnam

Phần Dịch Nghĩa Tiếng Việt

VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước

** Đây là bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác “VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975” đăng trên Yahoo!3600 và Emotino ngày 09/4/2009, nhân tháng 4, tháng của sinh nhật của 5 thành viên gia đình chúng tôi (Ba tôi, em trai và em gái út của tôi, cũng như của vợ tôi và tôi), cùng trong tháng của ngày Lễ Chiến Thắng 30/4 vinh quang của cả dân tộc Việt Nam.

Việt Nam là quê hương đất nước kính yêu của tôi. Không có đất nước quê hương riêng của mình, người ta chỉ còn như một linh hồn không chốn dung thân muôn đời lưu lạc. Tôi vô cùng tự hào được là người Việt, tất nhiên không do lòng ái quốc quáng mù. Việt Nam là quê hương mà ngay cả Tử Thần cũng không bao giờ có thể dùng lưỡi hái thần uy vấy máu tách được khỏi trái tim tôi. Việt Nam có thể tốt. Việt Nam có thể không tốt lắm. Việt Nam có thể tệ. Việt Nam có thể không đến nỗi nào. Và chỉ những kẻ chây lười ngồi thừ trong góc tối đầy muỗi ngụ cư của những quán cà phê, chân run bần bật bên dưới những chiếc bàn rẻ tiền đang cõng trên nó những ly có hoặc không có các cục nước đá, kiên nhẫn đợi chờ từng giọt từng giọt cà phê có chất lượng khả nghi nhỏ xuống từ những lổ nhỏ tí ti của chiếc phin xoàng xỉnh, miệng nguyền rủa tiêu cực – giả như có tiêu cực ấy, nguyền rủa điều sai trái – giả như có điều sai trái ấy, và nguyền rủa nghìn-lẻ-một-điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ – giả như có những điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ ấy, của đất nước Việt Nam này, đất nước mà bản thân tên gọi đã chất chứa tự thân lòng tự hào, niềm danh dự, sự nổ lực vươn lên, khí hùng anh, và ý chí cao vời – tất cả đã vút lên từ máu thật sự, tro hồng thật sự, và những chiến công anh dũng thật sự.

Tôi được sinh ra tại Sài gòn và từ ngày đầu tiên tôi chào đón cuộc đời và cuộc đời chào đón tôi đến nay chưa lần nào tôi chuyển đến sống tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới này. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đầy biến cố ấy của năm tôi mười tám, Ba Má của tôi điềm tỉnh, thay vì tay xách tay nải dắt díu nhau chạy về Miền Tây theo lời rủ rê của hàng xóm, khuyên con cái ngồi thụp xuống sàn nhà, bỏ cái ý nghĩ – dù chỉ thoáng qua – nghe theo bạn học đào thóat khỏi quê hương, lâm râm khấn vái Phật Trời, kiên nhẫn đợi chờ một khải huyền bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ngồi cạnh cửa sổ đã đóng chặc, tôi lo lắng không biết Đinh Thị Mai Trâm, nữ sinh lớp 11 hoa khôi Nguyễn Bá Tòng đã cùng mình thề non hẹn biển yêu nhau từ năm lớp 9, có vẫn còn ở nhà trên đường Chi Lăng, Gia Định (nay là Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh) không, hay đã cùng gia đình theo chân dòng người đang-khiếp-sợ-kinh-hoàng-và-đang-gây-khiếp-sợ-kinh-hoàng đổ về Cảng Sài Gòn rời xa quê hương bằng thủy lộ tiến ra nơi ác hiểm trùng dương. Tôi không chút sợ hãi, mà chỉ có niềm hạnh phúc giản đơn được bình an cùng gia đình chứng kiến sự kết thúc một cuộc chiến đã nhai nghiến xương và ướt sủng máu của hầu hết các bạn học của tôi, những đứa đã kém may mắn hơn tôi vì đã không thành công trước ngưỡng đại học, bị “bắt lính” bổ sung cho đám tàn quân tan tác chắp vá của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mạt lộ cùng đường, chỉ để vĩnh viễn nằm xuống trên chiến trường ngay lần đầu tiên bị xô thúc ra trận tiền, với khẩu tiểu liên ôm chặt trong đôi bàn tay thanh mảnh trước đó chỉ biết cầm bút viết nên những vần thơ nồng cháy về tình yêu và hy vọng, với khát khao được sống một cuộc sống đường hoàng trong hòa bình chứ không phải chiến tranh.

Gia đình tôi trước đây không có ai là thành viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đã đưa cuộc giải phóng Miền Nam đến thắng lợi cuối cùng. Song, chính lòng tự hào được là con dân nước Việt đã giúp gia đình chúng tôi trụ vững trước các thăng trầm cơ cực mà một đất nước thời chiến và thời hậu chiến có thể đem lại hoặc tạo nên. Vào thời điểm nước Việt Nam thống nhất phải chịu đựng vô vàn những khó khăn không bút mực nào tả xiết từ sự cấm vận của Hoa Kỳ, bất cứ khi nào đi công tác nước ngoài, tôi đều kiêu hãnh gắn hình lá cờ đỏ sao vàng của tổ quốc lên trang phục và hành lý. Có những vị chức sắc cấp cao của các tổng công ty nhà nước – tất nhiên là đảng viên – đã làm tôi buồn bực khi khuyên tôi hãy dấu lá cờ để không bị đám người Việt chống Cộng ở Thái Lan và các nước “tư bản” tấn công. Tôi đã không nói gì để tỏ sự kính trọng họ, những bậc trưởng thượng, những con người quan trọng của quốc gia; song, tôi không làm theo các lời khuyên bảo ấy. Lá cờ Việt Nam phải luôn ở bên tôi dù cho tôi có đi đến đâu trên chốn 3 w – www, the wild wide world, cái thế giới bao la hoang dã – này.

 HHP Vietnam (1)HHP Vietnam (3)HHP Vietnam (2)

Hiện tôi vẫn là người ngoài Đảng. Tất cả những cố gắng phấn đấu của tôi đều bị lãnh đạo những học viện và công ty nhà nước tôi công tác cản ngăn, dường như do có nỗi ám ảnh bịnh lý rằng việc tôi trở thành đảng viên có thể thành mối nguy đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của họ chăng. Song, chẳng bao giờ tôi ghét bỏ quê hương đất nước Việt Nam của tôi, chê bai chính phủ Việt Nam, trách cứ Đảng Cộng Sản Việt Nam, đơn giản vì tôi hiểu rằng cuộc chiến tranh quá tàn khốc đã khiến những cán bộ cấp cao không kịp có đủ thời gian để ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê và giáo huấn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, học hiểu về vai trò tối quan trọng của tư tưởng Khổng Giáo Nho Gia để nhận thức đầy đủ hơn về các bổn phận đối với xã hội, bổn phận đối với quốc gia dân tộc, và bổn phận đối với lòng ái quốc, tức những bổ sung tuyệt diệu cho Chủ Nghĩa Cộng Sản đặc thù của riêng Việt Nam. Những gì tôi có thể làm là khuyến khích các em tôi và con của tôi hãy cố gắng thành đảng viên Cộng Sản để có tiếng nói đúng đắn vì quê hương đất nước dân tộc Việt Nam, đất nước duy nhất của quốc tịch duy nhất của tôi, chúng tôi. Chúng ta tiến ra thế giới trên con tàu chung. Chúng ta không thể đứng chàng háng một chân trên con tàu Việt và một chân trên con tàu khác, vì đó là việc của diễn viên xiếc. Thứ âm nhạc duy nhất tôi yêu là Nhạc Đồng Quê Mỹ và Hard Rock. Còn dân ca Việt Nam, nhạc Miền Nam trong thời chiến tranh – kể cả nhạc Trịnh Công Sơn, và nhạc Việt Nam sau chiến tranh đều không có trong danh mục nhạc tôi thích nghe. Tôi viết, sáng tác, thuyết trình chủ yếu bằng tiếng Anh. Nhưng tất cả những điều này hoàn toàn không đi ngược lại niềm tự hào của tôi được là công dân Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa này.

Nếu đất nước này vẫn còn có những điều chưa tốt, tôi có thể nói chính bản thân mình phải chịu trách nhiệm vì đã chưa hề góp chút công sức vấn kế hiệu quả thực sự nào cho lãnh đạo đất nước để làm đất nước tốt hơn. Việc hưng thịnh hay suy vong của tổ quốc thì ngay cả kẻ thất phu còn phải chịu trách nhiệm, huống hồ mang danh người có học thức hàn lâm lẽ nào còn tồi tệ hơn kẻ thất phu khi chỉ biết lăng xăng xách động chống phá nhà nước cộng sản, hoặc ngồi yên hưởng thụ khi miệng mồm vẫn luôn than vãn, dè bỉu, phê phán, miệt thị, chê bai chế độ hay sao.

Việt Nam là quốc gia của tôi và tôi rất đỗi tự hào được làm một công dân Việt Nam chân chính.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Bản tiếng Anh: http://hhphuoc.blog.com/?p=44;

      Bản tiếng Việt: http://hhphuoc.blog.com/?p=44

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.