Nhân Quyền và Phẩm Giá

– Người Khuyết Tật –

Hoàng Hữu Phước, MIB

CongUoc

 CongUoc (1)

A- Sự Kiện Phê Chuẩn Công Ước Liên Hợp Quốc

Ngày 23-10-2014 tại Kỳ họp Thứ 8 Quốc Hội Khóa XIII, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã đọc Tờ Trình trước Quốc Hội đề nghị Quốc Hội xem xét phê chuẩn Công Ước của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người Khuyết Tật [1].

Theo chương trình Kỳ họp Thứ 8 này, sau khi các nghị sĩ thảo luận ở các Tổ chiều ngày 04-11-2014 về những điểm còn cần làm rõ đối với các điều khoản chi tiết của Công ước, Quốc Hội sẽ tiến hành biểu quyết thông qua nghị quyết phê chuẩn Công ước này trong sáng Thứ Sáu 28-11-2014. Quyết tâm chính trị cao độ và cam kết chính trị mạnh mẽ của Chính Phủ Việt Nam đối với Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật được thể hiện qua kiến nghị Quốc hội phê chuẩn công ước mà không bảo lưu bất kỳ điều khoản nào của công ước, nghĩa là tuân thủ toàn bộ 50 điều khoản mà không viện dẫn bất cứ lý do mang tính hoàn cảnh nào để bảo lưu – tức loại trừ hẳn, không thực hiện, hoặc để thực hiện sau vào một thời gian thích hợp bất định – một hay nhiều hơn một điều khoản nào của công ước.

Trước sự thật hiển nhiên là bản thân sự kiện phê chuẩn công ước này không được báo chí xem như chủ đề đủ “nóng” hay đáng quan tâm cho việc tập trung đưa tin, tôi với tư cách nghị sĩ thực hiện vai trò tham gia giáo dục pháp luật xin đóng góp các nội dung sau nhân sự kiện trọng đại này để giúp người dân – nhất là các học sinh – tìm hiểu cặn kẽ các điểm quan trọng không những về Công ước mà còn về tư duy phản biện mới đối với vấn đề rất cũ tính định kiến không đúng về “nhân đạo”, “từ thiện”, và “nhân quả”, đặc biệt trong tình hình đấu tranh chính trị sống còn của đất nước đang diễn ra với thù trong và giặc ngoài chực chờ gây hại cho sự phát triển quốc gia và hạnh phúc của quốc dân, trong đó có người khuyết tật.

B- Tại Sao?

1) Gia Nhập và Phê Chuẩn

Câu hỏi có thể thường được đặt ra là vì sao Việt Nam chính thức k‎ý công ước này ngày 22-10-2007 – tức chỉ chưa đầy một năm kể từ khi Công ước được Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua (13-12-2006) – đến nay mãi sau 7 năm mới trình Quốc hội phê chuẩn để hoàn tất thủ tục cho Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công Ước.

Với thực trạng theo số liệu thống kê năm 2009, Việt Nam có 6,7 triệu người khuyết tật chiếm 7% dân số, trong đó có 3,6 triệu người là nữ, hơn 5 triệu người sống ở vùng nông thôn, và 1,2 triệu trẻ em, thuộc hai dạng khuyết tật chiếm tỷ lệ cao nhất là khuyết tật vận độngkhuyết tật liên quan đến thần kinh, tiếp đến là khuyết tật về thị giác, thính giác, v.v., mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật không những do khiếm khuyết bẩm sinh mà còn do cả hậu quả của chiến tranh kéo dài nhiều năm, thiên tai, và tai nạn giao thông, v.v., Chính phủ Việt Nam đã nghiên cứu xây dựng nhiều pháp lệnh, nghị định, nghị quyết và chính sách đối với người khuyết tật, chứng minh từ rất sớm tư tưởng về tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật đã được quy định trong pháp luật Việt Nam và trở thành nguyên tắc hiến định được cụ thể hóa bằng pháp luật, chẳng hạn như trong Luật Hình Sự 1999, Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000, Luật Giáo Dục 2005, Luật Thể Dục – Thể Thao 2006, Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2006, v.v. Chính phủ Việt Nam còn cam kết thực hiện Khuôn Khổ Hành Động Thiên Niên Kỷ Biwako 2003 hướng tới một xã hội hòa nhập, không vật cản và vì quyền của người khuyết tật khu vực Châu Á–Thái Bình Dương. Tất cả đã cho thấy: là một thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác, Việt Nam luôn theo nguyên tắc tuân thủ nghiêm túc các điều ước đã cam‎ kết, và đối với Công Ước về Quyền của Người Khuyết Tật, sau khi k‎ý kết năm 2007, Việt Nam đã ban hành Luật Bảo Hiểm Y Tế 2008, Luật Người Khuyết Tật 2010, Luật Lao Động 2012, và Hiến Pháp 2013, v.v., hiến định và luật định các quyền của người khuyết tật, cũng như cam kết thực hiện Chiến Lược Incheon 2012 với chủ đề “Hãy Hành Động Để Mang Đến Những Quyền Thực Sự Cho Người Khuyết Tật”. Tất cả làm tiền đề cho sự phê chuẩn trong thời gian thích hợp.

Ngoài ra, Việt Nam còn đã tham gia 13 trong tổng số 17 văn kiện của Liên Hợp Quốc về quyền con người và đã có kinh nghiệm thực tế trong thực thi Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự – Chính Trị; Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa; Công Ước Quốc Tế Về Xóa Bỏ Mọi Hình Thức Phân Biệt Đối Xử Với Phụ Nữ; và Công Ước Quốc Tế Về Quyền Trẻ Em. Nay với tư cách và tư thế thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2014-2016), Việt Nam tiến hành việc phê chuẩn Công Ước Quyền Của Người Khuyết Tật vốn là một trong những điều ước quốc tế về nhân quyền, hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước Việt Nam nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của nhân dân, thực hiện dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2) Bảo Lưu

Bảo lưu là ý kiến mong muốn chủ quan của một quốc gia khi phê chuẩn việc tham gia một công ước quốc tế đối với một hay nhiều hơn một điểm trong công ước mà quốc gia ấy hoặc không muốn bó buộc phải thực hiện hoặc do có khác biệt bản địa về tập tục, văn hóa, truyền thống, tôn giáo, và/hay luật pháp hiện hành. Song, các quốc gia đã là thành viên chính thức của công ước có quyền xem xét và cho ra ý kiến phản đối các bảo lưu ấy trên cở sở phản biện mà các thí dụ sau là để minh họa:

a- Bảo lưu của Israel: “Nhà nước Israel đưa ý kiến bảo lưu liên quan đến các điều khoản về kết hôn trong Điều 23(1)(a) của Công ước, ở mức độ mà luật pháp quy định về tình trạng cá nhân có tính bắt buộc trong nhiều cộng đồng tôn giáo ở Israel không phù hợp với điều khoản này.”

b- Bảo lưu của Ba Lan: “Cộng Hòa Ba Lan hiểu rằng các điều 23.1(b) và 25(a) sẽ không được diễn giải theo cách cho phép một cá nhân có quyền phá thai, hoặc bắt buộc quốc gia thành viên phải tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ liên quan.”

c- Bảo lưu của Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan đối với điều 24.2(a) và 24.2(b): “Vương Quốc Anh bảo lưu quyền của trẻ khuyết tật được giáo dục tại các cơ sở không thuộc khu dân cư của các em, tại các cơ sở giáo dục phù hợp với nhu cầu của các em hơn. Tuy nhiên, phụ huynh của trẻ khuyết tật có quyền, giống như những phụ huynh khác, được bày tỏ mong muốn con mình được theo học tại cơ sở giáo dục nào.”

d- Phản đối của Bồ Đào Nha: “Chính phủ nước Cộng Hòa Bồ Đào Nha đã xem xét tuyên bố diễn giải của Vương Quốc Thái Lan liên quan đến điều 18 khi phê chuẩn Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật….Vương quốc Thái Lan đã đưa ra một bảo lưu thiếu rõ ràng về mức độ cam kết tuân thủ điều 18 của Công ước, và điều này làm dấy lên những nghi vấn về mức độ cam kết của Vương Quốc Thái Lan đối với mục đích và mục tiêu của Công ước đối với các quyền liên quan tới tự do đi lại và quốc tịch. Chính phủ nước Cộng Hòa Bồ Đào Nha xin nhắc lại: theo Điều 46, đoạn 1 của Công ước, các bảo lưu không phù hợp với mục đích và mục tiêu của Công ước sẽ không được chấp thuận. Do vậy, Chính phủ nước Cộng Hòa Bồ Đào Nha phản đối tuyên bố diễn giải của Vương Quốc Thái Lan liên quan đến Điều 18 của Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật…..”

e- Phản đối của Thụy Điển: “Chính phủ Thụy Điển đã xem xét tuyên bố diễn giải của Chính phủ Vương Quốc Thái Lan….Chính phủ Thụy Điển lưu ý rằng Thái Lan coi trọng việc áp dụng các nội luật, quy định, và tập quán tại Thái Lan hơn là áp dụng điều 18 của Công ước. Chính phủ Thụy Điển cho rằng một bảo lưu mà không thể hiện rõ phạm vi bảo lưu làm dấy lên những quan ngại lớn về mức độ cam kết của Thái Lan đối với mục đích và mục tiêu của Công ước. Chính phủ Thụy Điển do đó  phản đối bảo lưu trên của Chính phủ Vương Quốc Thái Lan về Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật và xem bảo lưu ấy vô giá trị và vô hiệu lực….”.

Quốc hội Việt Nam sẽ xem xét phê chuẩn Công ước mà không có bất kỳ một bảo lưu nào, thể hiện quyết tâm chính trị cực cao vì việc thực hiện các cam kết đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ và sẽ phải được báo cáo định kỳ cho Liên Hợp Quốc dưới sự kiểm tra và giám sát của chính tổ chức này.

C- Những Vấn Đề Ý Thức

1) Nhân Quyền

Những phe nhóm chống Việt Nam (cần nhắc lại rằng trên thực tế hùng biện hàn lâm không hề có cái gọi là “chống Cộng”, giống như lâu nay chỉ tồn tại cái gọi là “chống Nga” vì Nga đang là quốc gia tư bản, vì “cộng” là một triết thuyết và chỉ có triết thuyết mới hơn “cộng”, vĩ đại y như “cộng”, và đối nghịch tư duy với “cộng” mới có thể mang danh “chống cộng”) luôn gào thét rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, trong khi chúng không hề biết thế nào là nhân quyền. Đối với bọn đã, đang, và sẽ mãi rên rỉ về nhân quyền thì các “quyền” sau mới là nhân quyền: tự do ngôn luận, tự do lập hội, và tự do biểu tình, với cái thứ nhất để hòng được tự do thoải mái nói và viết những điều bá láp chống lại chính phủ Việt Nam, tức sử dụng cái biện pháp bằng mồm và bằng tay do cái biện pháp đối đầu quân sự đã hoàn toàn thất bại thảm hại dẫn đến sự tan rả tháo chạy tán loạn của toàn bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn ngày 30-4-1975 lịch sử, nay hy vọng bàn tay gỏ bàn phím có thể che khuất được bầu trời chính nghĩa và cái mồm ăn vạ tru tréo bôi nhọ có thể xô ngã chế độ; cái thứ nhì để mong thành lập được đảng phái chính trị núp bóng “hội” để hy vọng có ngày được tham chính đa đảng [2] xóa sổ “độc đảng” [3] Cộng Sản, tàn sát đảng viên Cộng sản và gia đình của họ, rồi lên làm Tổng Thống; và cái thứ ba nhằm gây náo loạn làm ô danh Việt Nam như đất nước ổn định chính trị duy nhất trên thế giới, và qua đó xô sụp nền kinh tế do giảm sút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tiến đến bần cùng hóa đất nước, giúp có cơ hội dè bỉu hô hào về sự thất bại và bất tài vô dụng của Cộng sản Việt Nam trong xây dựng kinh tế.

Nhân quyền là phạm trù bao trùm, không bó rọ như cái chuồng tư duy tư tưởng chật hẹp của những kẻ chống Việt. Thực thi việc bảo vệ và bảo đảm sự đúng đắn, đầy đủ các quyền của người dân, đặc biệt là các nhóm cộng đồng yếu thế như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ, người nghèo, và người khuyết tật, với các thành quả cụ thể trong xóa đói, giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, v.v., tạo cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn, tốt hơn, cho người dân, v.v., mới là những trụ cột chính của nhân quyền – và đây là l‎ý do Việt Nam dược bầu với tỷ lệ cực cao vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc. Phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền của Người Khuyết Tật, nhận thêm trách nhiệm nặng nề trong hoàn cảnh kinh tế nước nhà chưa phải là đã khả quan để quyết tâm chăm lo cho công dân là người khuyết tật, tự đặt mình dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc trong thực thi Công ước, Chính phủ Việt Nam đã tiến xa thêm trên con đường bảo vệ và tôn trọng nhân quyền ở mức độ cao nhất vì đó là trách nhiệm với dân tộc, với cộng đồng người khuyết tật, dồng thời cũng chính là quốc thể trong bảo đảm công bằng, bác ái, như dân tộc tính đặc thù của dân tộc Việt Nam.

Nhân quyền, do đó, chính là qua sự thể hiện trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với các quyền cao trọng của toàn dân, trong đó có các cộng đồng những người yếu thế mà điển hình là người khuyết tật, mà việc tôn trọng phẩm giá của họ là ý nghĩa cao nhất của các cam kết đối với công ước.

2) Dân Quyền

Người khuyết tật Việt Nam là công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và do đó trên nguyên tắc hiến định đương nhiên có các quyền công dân được chế định trong hiến pháp và theo sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Các đạo luật- do đó, phải có các điều khoản về người khuyết tật – trường hợp có liên quan trực tiếp; điều này cũng có nghĩa rằng các đạo luật hiện hành sẽ phải được điều chỉnh thích hợp sau khi Quốc hội phê chuẩn công ước này.

3) Công Bằng và Bình Đẳng: “Tội Tổ Tông Truyền”

Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật – đó là điều đơn giản mang tính lý tưởng và lý thuyết không phải luôn dễ thực hiện thực thi trong cuộc sống thực của xã hội ở nhiều nơi trên thế giới. Sự không công bằng thậm chí còn xảy ra ngay trong tư duy lối mòn mang tính xúc phạm và phi nhân bản khi xem người khuyết tật như kẻ gánh chịu sự trừng phạt “công minh” của thượng đế cho những cái gọi là “tội ác” trong tiền kiếp của bản thân người khuyết tật hay của tổ tiên của họ. Tôn trọng nhân phẩm người khuyết tật và thông cảm cho hoàn cảnh khiếm khuyết mang tính tai nạn và tai họa họ phải gánh chịu ngoài ý muốn, đó mới chính là cách xử sự văn hóa, văn minh, của con người thực sự có văn hóa, văn minh.

4) Công Bằng và Bình Đẳng: “Kinh Doanh” Từ Thiện

Sẽ là sự vô văn hóa và phản văn minh nếu luôn xem người khuyết tật như những đối tượng đáng thương hại, những đối tượng đói nghèo thất học, và là đối tượng được sử dụng để đánh bóng thương hiệu cho những công ty trong những buổi trực tiếp truyền hình “hoành tráng” mà số tiền “hoành tráng” thu được sẽ được dùng để chi trả cát-xê “hoành tráng” cho các ngôi sao ca nhạc, chi phí “hoành tráng” cho hội trường hay sân khấu rạp hát hoành tráng, lợi nhuận “hoành tráng” của đơn vị tổ chức sự kiện, và tiền mặt còn lại từ số thu “hoành tráng” là dành cho một cơ sở nào đó của người khuyết tật. Đưa người khuyết tật ra để mời gọi lòng thương, lòng từ thiện, của công chúng, rồi ăn bám ăn bớt từ khoản tiền thu được, dứt khoát đó không bao giờ là việc làm đúng đắn, đã vậy còn ở tư thế người trên trước ban ân làm phúc cho người khuyết tật. Đó là sự bất lương. Bảo vệ và bảo đảm sự công bằng đối với các công dân người khuyết tật nghĩa là nâng cao phẩm giá vốn có và luôn có của họ, không được sử dụng họ làm đối tượng phục vụ cho hai mục đích (a) quảng cáo cho doanh nghiệp và (b) tự thỏa mãn rằng bản thân mình đã làm được điều đại phúc để phước lại cho con cháu của mình cũng như để chính mình ghi điểm với Trời với Phật như một cách đầu tư hữu hiệu cho một chỗ cao trọng chốn Niết Bàn.

D- Kết Luận: Phẩm Giá Người Khuyết Tật

Khi bạn giúp một trẻ em vói lấy một quyển sách trên kệ cao nơi thư viện, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp em bé ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là con người.

Khi bạn giúp một phụ nữ bụng mang dạ chữa vói lấy một món đồ trên kệ cao nơi siêu thị, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp sản phụ ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là con người.

Khi bạn giúp một cụ già băng qua đường, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp người cao tuổi ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người.

Khi bạn giúp một lực sĩ cử tạ đầy hộ một trong ba xe đẩy hành lý của người ấy tại sân bay, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp vận động viên ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người.

Và khi bạn giúp một người khuyết tật trong bất kỳ hoàn cảnh cụ thể nào đó, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp người ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người.

Trước Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh một ngày giữa tháng 10 năm nay trước khi ra Hà Nội dự Kỳ họp Thứ 8 Quốc hội Khóa XIII, khi tôi nhường đường cho một người khuyết tật đi xe máy ba bánh đặc chế có chở một bé trai khoảng 6 tuổi phía sau, tôi không đang làm phúc, tôi không đang tích phước, tôi cũng không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp, mà vì tôi là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người; còn khi người khuyết tật ấy cười đôn hậu, bóp thắng xe, bào tôi hãy vào cổng cơ quan trước đi, đừng ngừng lại, người khuyết tật ấy không đang làm phúc, không đang tích phước, không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp, mà đơn giản vì thấy tôi đeo huy hiệu Quốc hội nên muốn nhường đường để tỏ lòng kính trọng một vị đại biểu dân cử. Hai người nhường đường cho nhau: tôi nhường đường vì trên xe máy ba bánh tự chế ấy có một em bé mà sự tránh đường cho tôi có thể khiến xe va vào lề đường cao gây mất an toàn cho em bé không có dây đai dính vào ghế sau xe, người đàn ông khuyết tật nhường đường cho tôi vì cho rằng đó là điều đương nhiên của một người dân tốt bụng, có hiểu biết, có giáo dục, phải làm khi ngáng đường một vị trên ngực áo có huy hiệu lá cờ đỏ sao vàng tôn kính. Tôi không có sự tự tôn để xem anh ta là người khuyết tật thấp hèn. Anh ấy không có sự tự ti để thấy mình là kẻ thấp kém. Tôi tôn trọng anh ấy vì tôi luôn học làm người tốt, còn anh ấy tôn trọng tôi vì anh ấy là người tốt. Đây nào phải là điều đội đá vá trời đòi phải có sức cử đỉnh bạt sơn trước một nhiệm vụ bất khả thi!

Khi xã hội có nhiều người không có bất kỳ một khuyết tật cơ thể nào trừ khuyết tật tâm hồn nên chây lười lao động, tự mình bần cùng hóa chính mình do bài bạc bê tha, bắt con trẻ đi xin hoặc bản thân hóa trang thành hành khất để đi xin ăn, thậm chí là dân ăn mặc sang trọng như dân cổ cồn trắng [4] lại sử dụng chiêu trò bẩn để ăn xin, thì người ta vẫn có thói quen nhìn người khuyết tật như những người mà mình cần phải bố thí. Bạn giúp lấy một quyển sách khoa học vạn vật trên kệ cao cho một em bé, nhờ đó mà em bé có cơ may trở thành một nhà bác học. Bạn lấy giúp một món hàng trên kệ cao cho phụ nữ đang bụng mang dạ chữa, nhờ đó mà chị ấy giữ được an toàn cho thai nhi cho một hạnh phúc gia đình của riêng chị. Bạn giúp một cụ già băng qua đường để xã hội có thêm một người cao tuổi được an toàn, tiếp tục làm cây cao bóng cả cho gia đình, cũng như tiếp tục đem kinh nghiệm phục vụ cho xã hội trong những công việc mà sức khỏe người cao tuổi ấy còn cho phép và luật pháp về lao động của nước nhà bảo hộ quyền lợi.

Người khuyết tật thuộc cộng đồng những người yếu thế. Một vận động viên bơi lội hay cử tạ người khuyết tật có thể lập nên kỳ tích và kỷ lục thể thao đem vinh dự về cho tổ quốc mà những người không khuyết tật chưa chắc đã làm được điều tương tự. Tất nhiên, luôn có cơ chế hỗ trợ thích hợp chẳng hạn như các vận động viên khuyết tật môn cử tạ không nâng tạ trong tư thế đứng, và lúc nằm ngữa sẽ được người đặt tạ lên đôi bàn tay để vận động viên này tự sức nâng lên. Tương tự như vậy, các cơ chế trong đời sống được tạo nên để hỗ trợ người khuyết tật tự nâng được các gánh nặng trong đời sống của người ấy. Không ai bắt buộc người khuyết tật chỉ được ngồi xem các trận thi đấu thể thao. Càng không ai buộc người khuyết tật phải ngồi chờ những bố thí từ lòng thương hại của người khác.

Người khuyết tật có quyền tham dự các tranh tài thể dục thể thao để tự mình đem vinh quang về cho đất nước.

Người khuyết tật có quyền làm việc để tự mình đem danh dự của người có đầy đủ phẩm giá và lòng tự trọng cùng khả năng trong sinh nhai về làm niềm tự hào cho gia đình của họ, con cái của họ.

Người khuyết tật – cùng với những người dân thuộc lớp yêu thế như người cao tuổi, phụ nữ, và trẻ em – luôn được xã hội và quốc gia dành cho những ưu tiên đặc biệt khi đất nước lâm vào biến động kinh tế, thảm họa thiên tai, dịch bệnh, hay tình trạng chiến tranh; song, ngay cả trong thời chiến, người khuyết tật vẫn có quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm là từ bỏ quyền ưu tiên của chính mình để gia nhập quân đội, phục vụ đại cuộc cứu nước bằng trí óc và sức lực cơ thể mặc cho có những khiếm khuyết và giới hạn. Đó là quyền được sống trong danh dự, quyền được cống hiến trong vinh dự, quyền ái quốc, và quyền được hy sinh trong niềm tự hào là công dân hữu ích.

Đoàn Ngọc Hoài Phong là một nhân viên khuyết tật hệ vận động chi dưới. Anh sử dụng vi tính để ghi biên bản các buổi họp cho Mặt Trận Tổ Quốc Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh. Và từ khi bắt đầu làm nghị sĩ năm 2011, tôi đã được tiếp xúc với anh, để biết kính trọng anh, người thiết tha với cuộc sống, tận tụy với công việc, tích cực với tư duy trăn trở về đất nước. Anh thường bày tỏ cho tôi biết những ý nghĩ của anh về những vấn đề mà anh muốn thố lộ để giúp nước nhà tốt hơn, xã hội tốt hơn, để mọi người dân sống tốt hơn. Anh chưa từng nói gì về quyền lợi nên có thêm cho người khuyết tật. Anh chưa từng nói gì về những khó khăn của anh hay của những người khuyết tật như anh. Có lẽ anh đơn giản cho rằng anh đang được làm việc và cách để tri ân cuộc sống là cống hiến cho đời dù chỉ bằng sức lực của trí óc trong cơ thể mà đôi tay của anh phải luôn tì lên đôi nạng để lê đi. Anh làm tôi nhận ra rằng  anh là một công dân bình thường với điều quý trọng nơi anh là sự quan tâm anh dành cho người dân nước này, mà đại đa số là những người không khuyết tật. Giống như sự hỗ trợ chuyên nghiệp cho từng bộ môn thi đấu luôn có trên đấu trường thể thao thê giới dành cho người khuyết tật, nếu cơ quan nơi anh Đoàn Ngọc Hoài Phong đang công tác dành cho anh sự hỗ trợ thích hợp chẳng hạn như đồng ý cho anh mỗi năm được vắng mặt hai kỳ, mỗi kỳ tối đa 6 tuần, vẫn được hưởng đủ lương, để anh có cơ hội tự ra ứng cử và trở thành nghị sĩ [5] – nếu được người dân dồn phiếu tín nhiệm – thì những trăn trở và hiến kế của anh có cơ may trở thành những lời tâm huyết trực tiếp tỏ bày tại cơ quan quyền lực nhất đất nước chứ không chỉ là những tâm tư gởi gắm  cho tôi trong những lần gặp mặt.

 CongUoc (2)

Người khuyết tật có phẩm giá của người khuyết tật. Hãy giúp đỡ người khuyết tật với sự tôn trọng phẩm giá của họ. Làm được điều này, bạn thực hiện được điều vĩ đại hơn cả việc bạn cho là lòng từ thiện hay lòng nhân đạo: bạn có trái tim một con người đúng nghĩa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Convention on the Rights of Persons with Disabilities. http://www.un.org/disabilities/convention/conventionfull.shtml

[2] Hoàng Hữu Phước. 18-5-2013. Mỹ Có Đa Đảng Không? Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

[3] Hoàng Hữu Phước. 13-02-2011. Luận Về Đa Đảng. http://hhphuoc.blog.com/?p=167

[4] Hoàng Hữu Phước. 11-10-2014. Bọn Xin Đểu Cổ Cồn Trắng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/11/bon-xin-deu-co-con-trang/

[5] Hoàng Hữu Phước. 07-9-2014. Nghị Sĩ Người Khuyết Tật: Tại Sao Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/07/nghi-si-nguoi-khuyet-tat-tai-sao-khong/

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.