Monthly Archives: December 2014

Tư Duy Tích Cực 2015

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ở Đại học, tôi học văn học Anh và văn học Mỹ – gồm thơ ca, văn xuôi fiction tức tiểu thuyết, văn xuôi non-fiction tức biên khảo, và kịch nghệ, với tiếng Anh cổ như qua các tác phẩm tương tự thiên anh hùng ca Beowulf của Thế kỷ XI hoặc Gulliver’s Travels thế kỷ XVII và tiếng Anh hiện đại – bằng cách viết ra ngay những điểm tôi cho là không xuất sắc dù đó là tác phẩm của đại văn hào Shakespeare hay thi bá Byron kèm theo đề xuất cách viết lại cho từng khổ thơ hay tứ thơ [1].

Ở các công ty tôi làm lãnh đạo, tôi thường chú giải các “danh ngôn” – tất nhiên của các danh nhân kim cổ – để giúp nhân viên trau giồi tiếng Anh một cách chủ động tích cực thay vì chỉ sưu tầm và học thuộc các danh ngôn ấy. Tôi cũng bắt đầu phê bình các danh ngôn bằng tiếng Việt và kèm theo đề xuất cách viết lại cho từng danh ngôn ấy. Điều này khiến các nhân viên lấy làm thú vị thi nhau kiếm tìm các danh ngôn để gởi tôi và mỗi Thứ Sáu tôi gởi đến các văn phòng trên toàn quốc những “tờ báo” online song ngữ Anh-Việt trong đó có phần phê bình các danh ngôn. Năm 2001, một cô nhân viên gởi tặng tôi qua email một tập ghi các danh ngôn với tiêu đề “Ngạn Ngữ Cuộc Đời” mà Cô sưu tầm trên internet, và tôi đã viết lại tất cả dưới tên mới là “Tư Duy Tích Cực” với chữ “tư duy” mang nghĩa bình dân của “suy nghĩ” chứ không theo đúng nghĩa học thuật triết học hàn lâm của nó. Nay nhân năm 2015 đang đến, tôi xin đăng lại bản Ngạn Ngữ Cuộc Đời – Tư Duy Tích Cực bằng tiếng Việt để tặng tất cả bạn đọc của blog này. Trong thời gian sắp đến tôi sẽ đăng những ý kiến tranh luận, phê bình bằng tiếng Anh của tôi với các doanh nhân quốc tế trên mạng LinkedIn (có dịch sang tiếng Việt) để phục vụ bạn đọc, qua đó các bạn có thể đánh giá hành trạng tư duy của tôi, Hoàng Hữu Phước, công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

(Ghi chú: Do văn bản gốc sử dụng font chữ xưa cũ của .VnTime trong khi việc sửa lỗi errata lại theo font Times New Roman nên các image trên có những errata sau ở phần hoàn thiện của Hoàng Hữu Phước:

Câu 19: …để đất nước cơ hưng thịnh…

Câu 26: …khơi dậy mới mẻ trong lòng

Câu 28:…niềm vui lớn vì luôn ra sức…

Câu 35:…một người đã viết nên…

Câu 95:…sao dám cùng tồn tại…)

1-34-56-8 9-1213-1617-2021-2425-2829-3233-3637-4041-4344-454647-4950-5354-5859-6364-6768-7071-7475-7778-8081-8687-899091-9394-9697-99100-102103-105106-108109110111-112113-114

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế [1] Hoàng Hữu Phước. 22-3-2012. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/toi-va-co-tr%c6%b0%c6%a1ng-tuy%e1%ba%bft-anh/

Advertisements

Vấn Đề “Phi Chính Trị Hóa Quân Đội” và Nội Hàm “Đảng Lãnh Đạo Quân Đội Tuyệt Đối, Trực Tiếp, Toàn Diện”

 Hoàng Hữu Phước, MIB

 112

Không có nhà sử học nào dám để lộ cái sở học khả nghi và cái học vị đáng ngờ của bản thân để mở miệng phủ nhận sự thật rằng trong toàn lịch sử của nhân loại chỉ có người đứng ra làm đầu não, có định hướng rõ nét mang tính lý tưởng cùng sự hoạch định bước đường mà từ ngữ ngày nay gọi là chính trị để thực hiện định hướng ấy, có khả năng hùng biện để lan tỏa một cách lôi cuốn và đầy sức thuyết phục được lý tưởng ấy, có đạo đức chí công chí chánh chí minh đủ thu phục nhân tâm động viên được dân tình, có tài thiên phú nổi bật về lãnh đạo tập thể cũng như công tác nhân sự quy tụ được quanh mình các bậc anh tài, và cuối cùng là có được sự ủng hộ của cơ trời mà người ta gọi văn vẻ là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” (thật sai lầm khi chẳng cho rằng “địa” và “nhân” cũng từ cơ trời mà ra, chứ không phải bó rọ trong nghĩa dịch chữ “thiên” là “trời” rồi trói thành định kiến chỉ có “thiên thời” mới là “cơ trời”), mới có thể xây dựng được “quân đội cách mạng” để có thể chiến đấu và có thể chiến thắng, lập nên một “đường ray mới” mang tính bước ngoặc của lịch sử cho một đích đến rõ nét nhất, cụ thể nhất, hiện thực nhất, thành công nhất trong toàn bộ biên niên sử của đất nước ấy trong toàn bộ lịch sử nhân loại.

 113

Mãi mãi chỉ có chuyện người dân tin tưởng một vị lãnh đạo nào đó, tự nguyện tham gia dưới trướng vị lãnh đạo ấy, tự đặt mình dưới quyền quản lý tuyệt đối của vị ấy, hoặc cùng hy sinh với vị ấy khi thất bại, hoặc quỳ mọp xưng thần trước vị ấy khi vị ấy đương nhiên trở thành vua khi “cách mạng” thành công.

Không bao giờ có chuyện nhân dân tự động tụ tập dù không nghe ai “triệu tập” hay gọi mời, không bao giờ có chuyện nhân dân tự động mạnh ai nấy mua sắm vũ khí, và không bao giờ có chuyện nhân dân tự mình mạnh ai nấy đi tìm “giặc” mà đánh, để rồi khi nhà nhà tự động đánh giặc, người người tự động đánh giặc, cho đến lúc thắng lợi thì nhân dân hàng chục triệu người tự động ngồi lại với nhau để bàn bạc tự do dân chủ xã hội dân sự công khai minh bạch xem ai sẽ lên làm “vua” theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu đa đảng đa nguyên.

Như vậy, chân lý lịch sử chứng minh rằng quân đội cách mạng được hình thành từ  những người dân tin tưởng tuyệt đối vào lời hiệu triệu của một vị lãnh đạo tài ba nổi danh đạo đức, tự nguyện phục vụ cho vị này để được vị này lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện trong chiến đấu với quân thù và khi chiến thắng trở thành thế lực tuyệt đối trung thành bảo vệ vương quyền (từ mới ngày nay gọi là “chế độ”), bảo vệ nhân dân (vì “chế độ” có bản chất “của dân, do dân, vì dân” và vì đó là mệnh lệnh của chế độ, chứ không phải bảo vệ nhân dân vì nhân dân lãnh đạo quân đội), bảo vệ đất nước do đó là thành quả đạt được của quân đội cách mạng dưới sự lãnh đạo của vị lãnh đạo ấy đồng thời cũng là nhiệm vụ do chính vị lãnh đạo ấy đặt ra khi hình thành nên quân đội vũ trang.

Lê Lợi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giải phóng đất nước, hình thành nên quân đội, và khi chiến thắng chà đạp giặc ngoại xâm dưới bùn nhơ vạn đại, lập nên triều đại Nhà Lê. Quân đội là của Nhà Lê. Quân đội không là của nhân dân nói chung chung hay của riêng cá nhân nào khác Vua Lê hoặc của tổ chức riêng nào khác Vương Triều Nhà Lê. Chỉ có vua Lê mới “khuông phò xã tắc” theo kiểu thiên tử. Người dân phục vụ quân đội. Và quân đội mãi mãi trung thành tuyệt đối dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, và toàn diện của Vua Lê để “khuông phò” Nhà Lê.

Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giải phóng, xây dựng nên quân đội, và khi chiến thắng ngoại xâm vùi dập giặc ngoại xâm dưới bùn nhơ vạn kiếp, thống nhất nước nhà lập nên đất nước Việt Nam cộng sản. Và do Hồ Chí Minh không là một cá nhân, vì cá nhân, mà là bậc thánh nhân vì nền tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam (không phải tự do – dân chủ của đất nước của giặc ngoại xâm nên không theo mô hình tự do – dân chủ kiểu đất nước của giặc ngoại xâm), đã quy tụ quanh Người những bậc hiền tài để cùng nhau dưới ánh sáng của lý tưởng cộng sản Marxist-Leninist chung lo đại cuộc đánh bại thực dân xâm lược, đánh thắng đế quốc xâm lược, thống nhất đất nước, xây dựng quốc gia, và đánh thắng bá quyền bành trướng để bảo vệ nước nhà; nên nội hàm biến thành: không phải “thiên tử” Hồ Chí Minh mà chính Đảng Cộng Sản của Hồ Chí Minh đã xây dựng quân đội, lãnh đạo quân đội tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện. Quân đội Việt Nam do vậy là của Đảng Cộng Sản. Quân đội Việt Nam không là của nhân dân nói chung chung. Quân đội Việt Nam không bao giờ là của một cá nhân nào nói riêng. Quân đội mãi mãi là của Đảng Cộng Sản, mãi mãi trung thành tuyệt đối dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, và toàn diện của Đảng Cộng Sản. Đây là điều đơn giản, không hề khó hiểu đối với người có lý trí.

 114

Cách nay vài năm, một nghị sĩ có tổ tiên gốc Nam Định, thuộc đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh của Quốc Hội Khóa XIII, có viết blog cảnh báo rằng người dân đừng nghe những gì phe chống Cộng nói và cũng đừng nhìn những gì phía chống Cộng làm vì tất cả những điều phe đó cùng phía kia nói và làm đều xảo trá chỉ nhằm tiêu diệt Đảng do căm thù cộng sản, vì vậy nên hãy luôn nhớ rằng ngay khi họ “phục quốc” thành công sẽ vì căm thù mà tàn sát hết các tướng lĩnh, sĩ quan, quân nhân Cộng sản, v.v., còn giặc Tàu sẽ chỉ cần 3 ngày sau khi nhóm chống Cộng “phục quốc” xong, tức là sau cuộc đại tắm máu chặt đầu (theo kiểu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm đã thực hiện với bất kỳ ai theo cộng sản) toàn bộ quân đội cộng sản tinh nhuệ tức thế lực duy nhất trên hành tinh này luôn đánh bại Tàu, sẽ tràn ngập chiếm lấy Việt Nam, tiến xuống làm cỏ các nước khác. Bị bất ngờ đánh trúng tim đen, cái phe và cái phía chống Cộng ấy lập tức đeo mặt nạ để không ai nhận thấy hai chữ “căm thù”, bắt đầu rêu rao kêu gào đòi “phi chính trị hóa” quân đội Việt Nam, nghĩa là Đảng Cộng Sản không được quản lý quân đội, mà nếu không thuộc về Đảng (nhất là hãy thi nhau làm đơn bỏ Đảng) thì quân đội sẽ đâu còn dính gì đến Cộng sản nên không có tội và đương nhiên sẽ không bị “phục quốc” trừng trị.

Đúng là chỉ có cái bộ phận người Việt chống Cộng không lớn ấy mới lập luận phản lịch sử, đầy yếu ớt, và ngây ngô như thế, chứ người nước ngoài không bất kỳ ai dù chống Việt cũng không dám mở miệng phát ngôn tương tự. Không bao giờ có Quân đội cách mạng của nước nào trên trái đất lại thuộc loại “phi chính trị”.  Khái niệm “quân đội” rất khác với khái niệm “quân đội cách mạng”. Chưa kể, nguồn gốc của sự thành lập của “quân đội” hay “quân đội cách mạng” ấy cũng quyết định nội hàm “Đảng tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện quân đội.”  Cuộc Nội Chiến Nam Bắc phân tranh của Mỹ với chiến thắng thuộc về một phía, trong khi đất nước trước đó được hình thành từ sự quật khởi vũ trang dưới sự lãnh đạo của George Washington đánh bại thực dân giành độc lập. Thể chế chính trị của Hoa Kỳ là lưỡng đảng (hai đảng, không phải “đa đảng”) giống nhau như đúc vì toàn là phe đại tư bản nắm quyền lãnh đạo chính trị tại Quốc Hội Hoa Kỳ, vì vậy không thể có việc quân đội Hoa Kỳ thuộc về một trong hai đảng. Không thể nói Quân đội Hoa Kỳ được “phi chính trị hóa” để không thuộc đảng cầm quyền nào trong hai đảng, vì rằng tuy mang danh “chính trị” nhưng hai đảng cùng theo một “ý thức hệ” chung, đồng nhất, như dạng sinh đôi giống nhau, còn “chống nhau” là để tranh nhau thành phe “đa số” hoặc cho ghế “tổng thống” chứ không bao giờ cho một ý thức hệ ngoại lai khác biệt, và tổng thống thuộc đảng này lên ngôi vẫn phải duy trì những gì mà tổng thống nhiệm kỳ trước đó thuộc đảng kia đã cam kết với những nước khác dù chủ trương của đảng của tổng thống mới không mặn mà với những nước ngoài này. Có thể nói rằng quân đội Hoa Kỳ do đó vẫn theo cơ chế “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện quân đội” y như Việt Nam và tất cả các quốc gia khác.

Tương tự , theo quy trình so sánh, phân tích, tổng hợp như trên, sẽ thấy quân đội – nhất là quân đội cách mạng – của bất kỳ nước nào cũng không bị hay được “phi chính trị hóa” cả. “Phi chính trị hóa” là cụm từ vô nghĩa để nói chơi, nói vu vơ. Còn khi “phi chính trị hóa” được dùng trong đời sống thực như ở Thái Lan chẳng hạn thì lại là vì mục đích khác. Thái Lan có dính đến “quân chủ”, mà quân chủ dễ bị liên tưởng đến “chuyên chế”, không “dân chủ”, nên quân đội nếu công khai chuyện “tuyệt đối trung thành  với Hoàng gia” thì không xong. Quốc hội Thái Lan lại có quá nhiều   “đảng” nên quân đội thuộc một đảng lại không đúng vì quân đội không phải do bất kỳ “đảng” nào lập nên. Quân đội Thái Lan do đó mang chiếc mặt nạ “phi chính trị hóa” để biến mình thành (a) thế lực tuyệt đối trung thành “khuông phò” Hoàng gia, (b) thế lực tuyệt đối hùng mạnh để bảo vệ vương triều tức “chế độ”, ra tay can thiệp nếu thấy các “đảng” trong Quốc hội “có vấn đề”, hoặc (c) thế lực chính trị mới bằng cách tiến hành đảo chính, cướp chính quyền, tự thành lập chính phủ mới do các tướng lĩnh nắm quyền, duy trì sự trung thành tuyệt đối với Hoàng triều.

Ở Việt Nam, nguyên tắc mang tính hiến định, quyền lực, tuyệt hảo, và tuyệt đối đúng đối với Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là:

– Đảng Cộng Sản lãnh đạo Quân Đội trực tiếp, tuyệt đối, và toàn diện về mọi mặt

– Chính Phủ thống nhất quản lý Quân Đội theo luật định

– Bộ Trưởng Quốc Phòng chỉ huy Quân Đội tập trung và thống nhất

Nguyên tắc bất di bất dịch trên là công thức quản trị để quân đội Việt Nam bất khả chiến bại, bảo vệ đất nước thành công, đẩy lùi chiến tranh, chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược, bảo vệ cuộc sống của người dân trong cảnh thái bình.

 115

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xây dựng Quân Đội Việt Nam và lãnh đạo Quân Đội ngay từ đầu, đã và sẽ luôn lãnh đạo Quân Đội Việt Nam.

Phe nhóm chống Cộng và chống Việt đã hoàn toàn thất bại khi Việt Nam sửa đổi Hiến Pháp mà Quốc Hội Khóa XIII đã thông qua năm 2013.

Họ đã kêu gào đòi đổi tên nước bỏ cụm từ Xã Hội Chủ Nghĩa với ngụy biện ngợi ca về “dân chủ” mà không biết rằng “xã hội chủ nghĩa” có nội hàm “dân chủ đẳng cấp cao” trong khi cụm từ “dân chủ” thoát thai từ xã hội tư sản lầm than và luôn mang dấu ấn lịch sử của đấu tranh giai cấp gian nan gian khổ thủa hồng hoang của thời tư bản.

Họ đã kêu gào đòi sửa lời bản quốc ca Việt Nam bỏ các cụm từ “hung hăng sắt máu” (như: xác quân thù) với ngụy biện ngợi ca về “hòa bình” mà không biết rằng bản quốc ca Hoa Kỳ vinh danh lá cờ 15 ngôi sao và 15 sọc bị thủng rách nhiều chỗ do trúng hàng loạt đạn sau trận chiến lở đất long trời khi Hải Quân Anh dập pháo tấn công Thành McHenry năm 1814 mà tinh thần lạc quan cách mạng đã khiến nhà thơ tài tử kiêm luật sư 35 tuổi Francis Scott Key sáng tác nên bài thơ Bảo Vệ Thành McHenry sau đổi thành Ngọn Cờ Lấp Lánh Ánh Sao về lá cờ rách thủng ấy khi chứng kiến trận đánh, về sau tổ khúc (stanza) thứ nhất trong tổng số 4 tổ khúc được chọn phổ nhạc thành lời hát cho bản quốc ca Liên Tiểu Quốc Hoa Kỳ (USA). Phe nhóm chống Cộng và chống Việt ắt đủ khôn để không kiến nghị Quốc hội Hoa Kỳ sửa lời bài hát với lập luận nước Mỹ vĩ đại không nên có quốc ca về lá cờ rách trúng đạn ấy, cũng như kêu gọi hãy vất bỏ lá cờ rách bươm dính đầy máu và bùn khô đặc quánh khỏi bệ thờ trang trọng nơi viện bảo tàng quốc gia vì nước Mỹ hiện đại hùng cường ngày nay có lá cờ những 50 ngôi sao và chỉ còn 13 sọc gây chiến khắp nơi như nhà chinh phục chứ không như thời Lá Cờ Lấp Lánh Ánh Sao bị giặc Anh bao vây phải chống cự như người cố thủ dưới hỏa lực hùng hậu của quân thù.

Họ đã kêu gào đòi “phi chính trị hóa” quân đội với ngụy biện ngợi ca về “trung với nước chứ không trung với Đảng” mà không biết rằng sẽ bị những lập luận của bài viết này biến thành trò trẻ nít.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với quân đội Việt Nam là lựa chọn tất yếu khách quan của lịch sử cách mạng Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam là nhân tố quyết định sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, đánh bại tất cả các mưu đồ thôn tính Việt Nam, đánh thắng tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược, và đánh cho tan tác bất kỳ kẻ thù nào trong bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào trực tiếp chống lại đất nước Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 10-2013. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp – Nét Phấn Trắng Kiêu Hùng Viết Nên Trang Sử Xanh Uy Dũng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/10/26/dai-tuong-vo-nguyen-giap/

Hoàng Hữu Phước. 5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có Đa Đảng Không? http://hhphuoc.blog.com/?p=173

Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam

Thông Tin Dành Cho Các Tân Ứng Cử Viên

 OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tiếp theo bài đầu tiên thuộc chủ đề “Thông Tin Dành Cho Các Tân Ứng Cử Viên”, tôi xin nêu tiếp những nhận xét của riêng bản thân đối với một sinh hoạt rất được chú ý: đó là phần phát biểu tại nghị trường để mọi người tham khảo, chuẩn bị trước khi quyết định tự ra ứng cử.

Nếu bạn có năng khiếu thiên bẩm nói chuyện trước công chúng hoặc đã có kinh nghiệm qua đòi hỏi của công tác chuyên môn đã có phát biểu tích cực và thường xuyên tại các buổi họp hay sinh hoạt tại cơ quan nơi bạn làm việc, những hội thảo, hội nghị,

 002b002

khi giảng bài, hoặc lúc trả lời phỏng vấn báo/đài[1], v.v., sẽ luôn là một lợi thế.

 OLYMPUS DIGITAL CAMERA 004

Sau đây là những điểm ghi chú quan trọng có liên quan.

1- Tại Quốc hội, bạn có thể phát biểu dễ dàng, thoải mái tại các buổi thảo luận tại Tổ về các dự án luật hay nghị quyết hoặc công ước. Có vị trưởng đoàn yêu cầu Đại biểu Quốc hội khi họp Tổ vẫn phải bảo đảm thời gian 7 phút, và có thể đăng ký phát biểu “vòng 2” sau khi các đại biểu khác đã phát biểu xong phần 7 phút của họ. Có vị không yêu cầu gì về “7 phút” vì đây không phải phát biểu tại hội trường. Có vị vừa nêu yêu cầu về 7 phút, vừa để mặc vài Đại biểu Quốc hội thuộc hàng “có vai vế” phát biểu gấp đôi, gấp ba lần. Nói chung thì nếu bạn là đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh, bạn phải chấp nhận gói gọn trong 7 phút vì thuộc tập thể những 30 vị trong khi nhiều tỉnh chỉ có 7 đại biểu/đoàn.

 005

2- Tuy nhiên, tại các phiên họp toàn thể tại Hội Trường chính ở Quốc hội, bạn sẽ phải lệ thuộc vào nhiều yếu tố chẳng hạn như:

a) Thời gian ấn định 7 phút cho phát biểu của mỗi đại biểu (và 3 phút nếu là đặt câu hỏi chất vấn), nghĩa là bạn phải bảo đảm trong 7 phút sẽ ứng khẩu phát biểu xong

 005b 006

hoặc đọc xong bài phát biểu của mình

007

b) Theo lịch làm việc, vào những buổi có thảo luận ở hội Trường, vào 8 giờ hoặc 14 giờ khi có chuông báo đến giờ làm việc, bạn có thể bấm nút đăng ký trên mặt bàn nơi chỗ ngồi của bạn (mỗi nghị sĩ có một chỗ ngồi nhất định suốt một kỳ họp), và hệ thống vi tính tự động cập nhật thứ tự trước-sau của sự đăng k‎ý, đồng thời chuỗi tên các nghị sĩ theo thứ tự sẽ hiện ra chạy ngang trên màn hình. Chủ tọa phiên họp sẽ theo thứ tự trước-sau cá nhân này để mời nghị sĩ phát biểu; song, cũng sẽ theo thứ tự sẽ nói đến ở phần d dưới đây.

 008

c) Do sự tranh luận trực tiếp chưa là cơ chế thực hiện trong hiện thực ở Quốc Hội, nên trong nhiều trường hợp sẽ có thể xảy ra việc trùng lặp nội dung giữa các bài phát biểu soạn sẵn của các nghị sĩ khác nhau, nghĩa là bạn sẽ phải quyết định nhấn nút hủy đăng ký phát biểu theo gợi ý của Chủ tọa phiên họp, hoặc bạn sẽ phải nhanh chóng loại bỏ những đoạn văn có ý trùng với nội dung của các nghị sĩ vừa phát biểu trước bạn, hoặc bạn cứ đọc toàn văn, nếu muốn, vì đó là đặc quyền của bạn. Cần lưu ý nếu đó là buổi thảo luận có trực tiếp truyền hình vì rất có thể người dân theo dõi sẽ không đánh giá cao người đại biểu có ý trùng với những đại biểu đã phát biểu trước đó.

009

d) Ở các đoàn đông người – như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi đoàn có 30 nghị sĩ – và trong thực tế mỗi buổi thảo luận chỉ có thể đủ thời gian cho trung bình 20 nghị sĩ trong tổng số khoảng 500 Đại biểu Quốc hội thì chủ tọa phiên họp sẽ thực hiện việc mời phát biểu ưu tiên trên hai cơ sở đồng thời của người nào nhấn nút đăng ký trướcthuộc đoàn Đại biểu Quốc hội nào chưa có nghị sĩ phát biểu – nghĩa là thí dụ bạn và sáu đại biểu khác trong đoàn của bạn nhấn nút cùng lúc và có tên hiện ra chiếm các vị trí số thứ tự đầu tiên từ 1 đến 7 thì cũng chỉ có người số 1 đươc mời, còn người tiếp theo sẽ là nghị sĩ ở vị trí số 8 thuộc đoàn của tỉnh khác. Người số 2 của đoàn của bạn sẽ được mời sau khi toàn bộ các nghị sĩ đã đăng k‎ý của các tỉnh khác đã thực hiện việc phát biểu xong mà vẫn còn thời gian.

010

e) Thậm chí có khi chỉ có bạn là người duy nhất trong đoàn của bạn bấm nút đăng ký phát biểu thì đó cũng chưa chắc bạn sẽ được phát biểu do bạn có số thứ tự 50 trong khi mỗi buổi trung bình khoảng 20 người đầu tiên là có thể được mời.

 011

f) Ngoài tình huống như trên, trong một tập thể đoàn đông người như Thành phố Hồ Chí Minh, bạn còn phải có tinh thần tập thể vì lợi ích chung, nghĩa là có thể tại thảo luận Tổ về một dự án luật đặc biệt quan trọng nào đó mà Thành phố dành rất nhiều tâm huyết thì khi kết thúc thảo luận, lãnh đạo đoàn rất có thể sẽ phân công cụ thể nghị sĩ nào sẽ thay mặt đoàn ấn nút đăng ký phát biểu ở hội trường với đề nghị vị này ngoài trình bày hùng biện chính kiến của mình nên cố gắng lồng ghép thêm – nếu thời gian cho phép – các ý kiến đặc sắc mà các nghị sĩ khác trong đoàn rất có thể đã vừa nêu lúc thảo luận Tổ. Nghĩa là bạn không nên tranh nhau nhấn nút ở Hội Trường để dành phát biểu trước người được phân công – dù đó là đặc quyền bất khả xâm phạm của bạn. Chưa kể, sự phát biểu còn phải nên dành cho nghị sĩ nào trong đoàn thuộc lĩnh vực chuyên môn có liên quan trực tiếp đến một dự án luật cụ thể, thí dụ như một vị sĩ quan trong đoàn nên nhấn nút trước bạn (để may ra sẽ được mời trước bạn) phát biểu về dự án Luật có liên quan đến quân đội, quốc phòng, v.v., hay một nghị sĩ trong đoàn của bạn là chức sắc ở một trường đại học nên nhấn nút trước bạn để phát biểu về dự án Luật có liên quan đến giáo dục, đào tạo, v.v., và sự nhường quyền phát biểu này không nên xem như sự chịu lép vế trước lợi ích nhóm. Thêm vào đó, có những đại biểu luôn được chờ đợi có các phát biểu bởi nhiều cử tri và tất cả các phóng viên để có tin mới cho tờ báo của họ – thí dụ như Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch của Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn – thì việc bạn đáp ứng sự quan tâm ấy của người dân và báo giới qua việc nhường diễn đàn cho đại biểu ấy phát biểu trước cũng là một việc lịch sự, đầy thiện chí, rất nên cân nhắc để làm.

012

g) Nghị sĩ còn có thể bất cứ lúc nào gởi thư hay thư điện tử cho Thường Vụ Quốc Hội (và Thủ Tướng Chính Phủ, các thành viên Chính Phủ) để trình bày ý kiến đóng góp của mình cho kịp thời và thật đầy đủ đối với một nội dung thuộc vấn đề cấp bách, chứ không phải chờ đợi đến Kỳ Họp và chờ đến phiên họp toàn thể nào tại Hội Trường – thậm chí chờ đến phiên họp nào có trực tiếp truyền hình – mới nhấn nút đăng ký phát biểu. Việc gởi thư kiến nghị đến Thường Vụ Quốc Hội và/hoặc Chính Phủ hay từng Bộ Trưởng qua phương tiện thư điện tử thường xuyên trong năm hoặc ngay khi có vấn đề quan trọng phát sinh trong xã hội là việc làm đúng đắn, chủ động, và tích cực cần phải có nơi một Đại biểu Quốc hội có tính chủ động cao.

Cách soạn bài phát biểu và thực hiện việc phát biểu tại nghị trường Quốc Hội Việt Nam sẽ được trình bày trong bài viết tiếp theo. Kính mời các bạn đón đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.

Những nội dung khác liên quan đến các phần việc của một nghị sĩ, xin mời các bạn đọc thêm Bản Báo Cáo Giữa Nhiệm Kỳ Với Quốc Dân [2] của tôi sẽ rõ hơn.

Các vấn đề khác có liên quan đến chủ đề “Thông Tin Dành Cho Các Tân Ứng Cử Viên Quốc Hội” xin vui lòng gởi thư đến tôi qua đường bưu điện đến Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh ở số 2bis Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, để được trả lời bằng một bài viết khác trên blog này nếu câu hỏi không về các vấn đề thuộc phạm vi bảo mật.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

[1] Lại Thu Trúc. 30-6-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII. http://hhphuoc.blog.com/?p=75

[2] Hoàng Hữu Phước.29-4-2014. Đại Biểu Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/ hoặc http://hhphuoc.blog.com/?p=342

Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội

Thông Tin Dành Cho Các Tân Ứng Cử Viên Tự Do

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trả lời phỏng vấn đầu năm 2011 khi ra ứng cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, tôi cho biết tự ra ứng cử lần này và kết quả ra sao vẫn tốt như nhau, nghĩa là nếu tôi không đắc cử (tiếng Việt hiện nay gọi là trúng cử) thì xem như đó là dịp tốt để tôi khẳng định rõ ràng người dân rất yên tâm khi Đại biểu Quốc hội là chức sắc đã quen với hành chính công quyền hoặc có công trạng lớn trong quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực có liên quan; còn nếu tôi đắc cử thì xem như đó cũng là một dịp tốt để tôi vừa lấy  chính mình làm gương động viên thật nhiều người dân tự ra ứng cử kể từ khóa sau nhằm gia tăng số lượng người ngoài Đảng tự ra ứng cử, vừa đồng thời lấy kinh nghiệm thực tế kinh qua để có những hướng dẫn thích hợp và hiệu quả cho công chúng cho dù chưa hề có tiền lệ như vậy tại Quốc hội Việt Nam”. Nay nhân Quốc Hội đang thảo luận dự thảo dự án Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân để thông qua trong Kỳ Họp 9 năm 2015, làm cơ sở cho kỳ bầu cử Quốc Hội (và Hội Đồng Nhân Dân các cấp) năm 2016, tôi kể từ hôm nay thực hiện lời hứa sẽ dần ghi ra những thông tin cần thiết liên quan đến ứng cử tự do từ thực tế kinh nghiệm sinh hoạt ở nghị trường. Bài đầu tiên liên quan đến khâu chuẩn bị trước khi quyết định tự ra ứng cử.

Là ứng cử viên tự do – tức tự ra ứng cử mà không do đoàn thể chính trị xã hội hay cơ quan nào của nhà nước giới thiệu – tôi đã đến Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để đăng ký nhận hồ sơ. Sau khi tôi trở lại nộp đầy đủ theo yêu cầu, Mặt Trận Tổ Quốc nghiên cứu, kiểm tra, xác minh, v.v., rồi lập danh sách những ứng cử viên đạt yêu cầu theo quy định. Đây là chuỗi quy trình mang tên gọi “hiệp thương”. Nói một cách đơn giản thì đối với các ứng cử viên tự do như tôi, Mặt Trận Tổ Quốc sẽ đứng ra tổ chức một buổi họp để ứng cử viên tiếp xúc với cử tri nơi sinh sống, sau đó là một buổi họp khác để tiếp xúc cử tri nơi làm việc (những ứng cử viên do các tổ chức chính trị xã hội và cơ quan Nhà nước, v.v., giới thiệu thì chỉ cần một buổi tiếp xúc cử tri nơi cư trú). Dựa vào kết quả tỷ lệ đồng tình của cử tri ở hai buổi tiếp xúc này, Mặt Trận Tổ Quốc sẽ thực hiện các bước tiếp theo mà bộ Luật sắp được thông qua sẽ cung cấp nhiều chi tiết cụ thể hơn.

Một vấn đề bạn ắt thường hay nghe từ những người không có thiện cảm với Việt Nam hoặc chống Việt Nam là về sự “cơ cấu” với ngụ ý rằng kết quả đã được Đảng Cộng Sản ấn định sẵn từ trước và rằng tại vì bầu cử theo cơ cấu như vậy nên người trúng cử không thể gọi là đại biểu dân cử. Tôi khẳng định: đó là sự xuyên tạc hoặc đơn giản là sự nghĩ sai do vô tình hay hữu ý diễn giải bất thường quy trình “hiệp thương bầu cử” thành “thỏa hiệp thương lượng bầu cử”. Thực chất sự việc như sau đối với bầu cử Đại biểu Quốc hội:

1)  Dựa theo tổng số dân cư của mỗi tỉnh thành mà quy ra số lượng tổng số Đại biểu Quốc hội sẽ được bầu cho mỗi tỉnh/thành ấy (thí dụ: Thành phố Hồ Chí Minh có 30 Đại biểu Quốc hội cho Khóa XIII của nhiệm kỳ 2011-2016)

2) Dựa theo tổng số dân cư của mỗi quận/huyện của mỗi tỉnh/thành mà có tổng số đơn vị bầu cử cho mỗi tỉnh/thành đó. Thí dụ ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có 10 đơn vị bầu cử Quốc Hội Khóa XIII gồm Đơn vị 1 (các Quận 1, 3, 4), Đơn vị 2 (Quận 7 và các Huyện Cần Giờ, Nhà Bè), Đơn vị 3 (các Quận 6 và Bình Tân), Đơn vị 4 (các quận 5, 10, 11), Đơn vị 5 (các Quận Tân Bình, Tân Phú), Đơn vị 6 (các quận Bình Thạnh, Phú Nhuận), Đơn vị 7 (các Quận 2, 9, Thủ Đức), Đơn vị 8 (các Quận 12 và Gò Vấp), Đơn vị 9 (các Huyện Củ Chi, Hóc Môn), và Đơn vị 10 (Quận 8 và Huyện Bình Chánh), đáp ứng yêu cầu bầu ra tại mỗi đơn vị 3 Đại biểu Quốc hội, đạt tổng số 30 vị theo quy định. Khi nộp đơn xin tự ứng cử, bạn có quyền đánh dấu lựa chọn quận nào là đơn vị bạn quan tâm ứng cử tại đó nhất, rồi đơn vị nào tiếp theo, v.v. Tôi đã đánh dấu vào Quận 3 (nơi sinh sống của Ba Má tôi cùng chị em chúng tôi từ những năm 50 của Thế kỷ trước), Quận Bình Thạnh (nơi tôi có nhiều người quen), và Quận Tân Bình (nơi tôi đăng ký kinh doanh), và khi thành công trong hiệp thương, tôi thấy tên mình thuộc Đơn Vị 1 (Quận 1, 3, và 4 – không có Bình Thạnh và Tân Bình).

3) Để bầu ra 30 vị Đại biểu Quốc hội trên cơ sở chung là mỗi đơn vị có 5 ứng cử viên (để cử tri bỏ phiếu bầu chọn ra 3 vị có số phiếu cao nhất), tổng số ứng cử viên tại Thành phố Hồ Chí Minh như vậy tối thiểu có thể sẽ là 50 người. Các ứng cử viên bao gồm những người được đề cử (do Trung Ương giới thiệu vào tranh cử và các cơ quan/tổ chức địa phương giới thiệu người tại chỗ ra tranh cử) và những người tự ứng cử (sinh sống tại địa phương). Sự hiệp thương đặt trên cơ sở “cơ cấu” để bảo đảm sự công bằng, nghĩa là thí dụ với số lượng ứng cử viên lên đến 100 người chẳng hạn, thì sau khi kiểm tra hồ sơ có thể số người đạt yêu cầu còn lại là 80. Sự “cơ cấu” sẽ bắt đầu nhằm chọn lựa để loại tiếp 30 người để còn 50 ứng viên thuộc đầy đủ các thành phần như Đảng viên, người ngoài Đảng, bình đẳng giới, dân tộc, lĩnh vực hoạt động, v.v.. Như vậy, sẽ có những ứng viên tuy đạt yêu cầu ngang nhau về trình độ và năng lực, uy tín, nhưng có thể bị loại khỏi danh sách vì không thuộc diện xem xét lựa chọn “cơ cấu” như: phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người ngoài Đảng, v.v. Đó là tất cả ý nghĩa của từ “cơ cấu”. Cơ cấu là để cử tri có nhiều sự lựa chọn – nếu không nói chính xác hơn là: có đầy đủ các lựa chọn. Kết quả bầu cử Quốc Hội Khóa XIII cho thấy một số ứng viên chức sắc thuộc tầng lớp chính trị truyền thống do Trung Ương/địa phương giới thiệu tranh cử tại Thành phố Hồ Chí Minh đã không trúng cử do nhận được ít hơn số phiếu bầu lựa chọn của cử tri, chứng minh “cơ cấu” hoàn toàn không có nghĩa “sắp đặt sẵn”, mà chỉ là bảo đảm một công bằng cho mọi thành phần xã hội được giới thiệu ứng cử vào Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các Tỉnh Thành, để cử tri có nhiều sự lựa chọn.

Đặt trường hợp bạn đạt cả 4 yêu cầu (đạt tiêu chuẩn theo quy định của hồ sơ, được cử tri nơi cư trú đồng thuận, được cử tri nơi công tác nhất trí, và đạt yêu cầu sàng lọc của “cơ cấu”) được Mặt Trận Tổ Quốc chính thức giới thiệu trong danh sách cuối cùng của Thành phố Hồ Chí Minh để được bố trí vào nhóm 5 ứng viên của một đơn vị bầu cử nào đó, bạn sẽ có danh công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng là “được Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu ra ứng cử” y như các ứng cử viên khác, dù cho bạn ban đầu thuộc diện người tự ra ứng cử.

Nói tóm lại, bầu cử Quốc Hội ở Việt Nam là bầu cử công bằng, thể hiện cao nhất tính dân chủ, công khai, minh bạch của một thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và vì dân.

Đối với tình huống đắc cử thì vấn đề thứ nhất mà một ứng cử viên tự do nên quan tâm là phải đảm bảo có điều kiện việc làm và có thu nhập cá nhân (do làm Đại biểu Quốc hội sẽ không có lương, trừ phi thuộc diện “chuyên trách” tức phải từ bỏ tất cả các chức danh công việc và việc làm khác ngoài xã hội) và được nơi làm việc nhất trí cho bản thân dành ra mỗi năm 1/3 tổng thời gian để phục vụ nhân dân qua công tác người Đại biểu nhân dân tại Quốc Hội và tại một Ủy ban nào đó của Quốc Hội mà mình là thành viên. Việc bạn có vẫn được hưởng nguyên lương cùng các phúc lợi khác theo hợp đồng lao động đã k‎ý với cơ quan nơi bạn làm việc (cũng là nơi đồng ý cho phép bạn tự ra ứng cử Quốc hội) thì tùy vào thỏa thuận riêng giữa bạn và lãnh đạo cơ quan ấy.

Điều thứ nhì và cũng là vấn đề cuối cùng mà một ứng cử viên tự do nên quan tâm là bạn có thể sẽ “lạc lõng” – nhất là nếu bạn thuộc type người hướng nội không thích ồn ào – trong một tập thể những nghị sĩ cùng đắc cử với bạn nhưng do họ đều là đảng viên đã có nhiều chục năm sinh hoạt và học tập cùng nhau cũng như giữ những chức sắc cao trong khu vực hành chính công quyền nên rất quen thân trong trò chuyện, công tác, sinh hoạt, và cả trong mối quan hệ giữa họ với đa số các nghị sĩ thuộc các đoàn khác, những người mà họ đã có rất nhiều dịp công tác cùng nhau trước đó qua luân chuyển cán bộ hoặc cùng tham dự các khóa cao cấp chính trị, v.v., nghĩa là bạn phải làm từ đầu những khởi sự của mỗi một quan hệ cá nhân với cá nhân trong tập thể khoảng 500 nghị sĩ của một khóa Quốc Hội. Sẵn sàng hòa nhập nhưng không bao giờ có thể hòa tan vào sinh hoạt chung của cả một tập thể Đoàn và của cả Quốc Hội là điều bạn phải có vì đây là thử thách lớn nhất về bản lĩnh đối với một nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài khu vực hành chính công quyền, và thậm chí ngoài cả các sinh hoạt đoàn thể xã hội bất kỳ.

Khi bạn trúng cử trở thành Đại biểu Quốc hội, bạn sẽ làm quen với những sinh hoạt tại Quốc Hội, trong đó, phần phát biểu ở nghị trường ắt là điều bạn cũng cần quan tâm đến trước tiên. Phần này sẽ được trình bày chi tiết trong bài viết tiếp theo. Kính mời các bạn đón đọc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đường Ray Mới đến Chân Trời Mới

Tư vấn cho học sinh Việt về cách dùng ẩn dụ trong Tiếng Việt

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ẩn dụ là thứ vũ khí tuyệt diệu của Tiếng Việt, và sử dụng ẩn dụ phù hợp, thích hợp đòi hỏi sự trưởng thành, tri thức, kiến thức, nhận thức, sự cẩn trọng, và sự khéo léo, chưa kể phải có cả sự chín chắn, đoan chính, và đạo đức, tài năng của người viết hay diễn giả.

Nói như trên không để các cháu học sinh nhụt chí, khiếp đảm, bó tay, mà để các cháu tự tin vươn lên đạt đẳng cấp cao hơn, cao hơn nửa, không mãi ở vị trí trẻ thơ luôn chạy về mách Mẹ mách Cha mỗi khi bị Thầy Cô hay bậc trưởng thượng tài hoa quở mắng, chê bai, cho điểm kém.

Nếu có lòng quang minh chính đại chỉ nghĩ đến cách làm sao có những cách tân thích hợp để chấn hưng đất nước, thì câu “cứ chạy trên đường ray cũ thì lám sao tiến bộ được, phải chạy trên đường ray mới thì mới đến được chân trời mới” cũng vẫn là sự non nớt đầy yếu kém và dễ bị tổn thương của cách sử dụng ngôn từ, đặc biệt là ở Việt Nam – do chúng ta đang nói về Tiếng Việt – do chân trời ấy đương nhiên vô định, không rõ bất trắc nào đang đón chờ phía trước,

 01

và có khi trong tiến trình lao tới vầng dương ở chân trời trước mặt thì nó đã từ từ bay lên cao, vượt lùi qua đầu toa xe rồi ngự trị ở chân trời phía sau, tức nơi mà xe đã từ bỏ trước đó, để xe chìm khuất trong khoảng trời tối đen hơn mực

 02

chưa kể chẳng phải ta nào phải là bậc tài thánh gì mà đầu tiên sáng tạo ra rồi tự xây con đường ray mới ấy, mà bản chất sự việc chính là ta tự nguyện tiến bước song hành đầy tính cạnh tranh cao với con đường ray mới này hay con đường ray tiền mới kia

 03

Ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là điều hiến định như thể hiện trong quốc hiệu và về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đường ray vật chất sẽ như đường ray thí dụ Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội. Đường ray tinh thần sẽ như con đường dựng xây xã hội xã hội chủ nghĩa để tiến đến chủ nghĩa xã hội. Thật là sự kinh hoàng nếu con tàu trên đường ray Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội lại trật bánh lao qua bên trái húc vào Dãy Trường Sơn

 04

hoặc lao qua bên phải để chìm xuống đáy Biển Đông

 05

Thật là trẻ con và vi hiến khi dùng đường ray mới để thay cho tên gọi một con đường chủ nghĩa mới và chân trời mới đồng nghĩa với sự phồn vinh mà chủ nghĩa mới sẽ đưa đến, vì có khi nó chỉ là sự tiến mãi tiến mãi đuổi theo cái đuôi của chính mình

 06

hoặc tất tả bương bương tới trước để rồi thấy “đường ray mới” của mình chỉ đến đó rồi ngổn ngang trong khi đường ray “không còn mới” vẫn tồn tại và tà tà hướng các con tàu tiến bước đến nơi đã định

 07

Con tàu đang đi trên một đường ray, và kẻ hô hào đổi hướng sẽ tạo nên một đường ray mới èo uột, không tưởng

 08

chỉ có thể dẫn đến họa tai nhãn tiền do tàu hỏa vùng thoát khỏi đường ray để trật hay chệch đường ray

 09

Chưa kể, việc tàu hỏa đi trên đường ray qua những cung đường cổ, không hiện đại, cũng không có nghĩa đường ray ấy, con tàu ấy lạc hậu, thuộc hạng vất đi, vì chính cung đường đặc thù ấy là kỳ quan minh chứng cho sự sáng tạo vượt sự hà khắc của thiên nhiên để có đường ray đến được xứ miền mong đợi của mọi người

 10

Hành khách đi trên con tàu tuyến đường ray Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội biết rất rõ họ sẽ đến Hà Nội.

Người dân đi trên con đường ray xã hội chủ nghĩa biết rất rõ họ sẽ chứng kiến xã hội xã hội chủ nghĩa của đất nước.

Hành khách đi trên con tàu truyến đường ray Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội biết rất rõ họ sẽ đến Hà Nội nhanh hơn nếu con tàu mới hơn, đường ray được nâng cấp mới hơn. Hành khách không thể mua vé đi tuyến Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội nhưng tàu lại chạy trên tuyến đường khác không đến Hà Nội mà đến nơi vô định mang tên “mới” tức “xa lạ” chưa từng biết đến và không mặc nhiên hàm ý “đương nhiên tốt đẹp”.

Người dân đi trên con đường chính trị mang tính ý thức hệ xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng biết rất rõ họ sẽ đến cái xã hội xã hội chủ nghĩa ấy, và biết rằng đất nước sẽ tiến đến xã hội ấy nhanh hơn nếu con đường thường xuyên được xây dựng tốt hơn, quản lý tốt hơn, cải tổ hiệu quả hơn, giám sát chặt chẽ hơn, đầu tư sâu rộng hơn, v.v., cũng như ít phải đương đầu hơn với những sự phá hoại của bọn tham nhũng, chống cộng và chống Việt.  Người dân không thể đi trên con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng lại thấy sự hô hào cho sự áp dụng một kiểu chính trị mang tính ý thức hệ khác để đến một tình trạng đất nước vô định, không rõ sẽ ra sao vì ngay cả cái tên cũng không dám được nêu ra bởi kẻ hô hào, chẳng biết ai sẽ đóng vai trò làm “nhà”  xây dựng, quản lý, cải tổ, giám sát, đầu tư, v.v.

Đường ray mới không bao giờ có thể đến bất kỳ chân trời mới nào cả. Đường ray luôn là một áp đặt cố định ngay từ đầu cho một sự tiến lên từ nơi xuất phát đến nơi đến. Đường ray vật chất sẽ cũ kỹ sau thời gian dài sử dụng, và có thể được nâng cấp hay đổi mới, hoặc có khi vẫn giữ y nguyên vì mục đích bảo tồn bảo tàng, nhưng tuyến đường vẫn luôn là Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội (tất nhiên hoặc ngược lại, hoặc lấy tên các địa danh nhà Ga để điền thế vào tên hai địa danh thành phố lớn này, thì tuyến đường vẫn cố định giữa hai nơi như thế); tương tự, mọi sự cách tân phải luôn trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa xã hội để làm chủ nghĩa xã hội tốt hơn, mới hơn. Bất kỳ ai đi trên một con tàu đều biết tên nơi đi và nơi đến; đặc biệt không bao giờ có việc tàu chạy mãi đến tận chân trời mới nào đó không tên tuổi.

Nói tóm lại, học sinh không nên dùng ý tứ của cụm từ “đường ray mới” và “chân trời  mới” trong bài tập làm văn hay trong thuyết trình vì hai khái niệm này không bao giờ đi đôi với nhau. Đặc biệt khi nói về xây dựng đất nước và mang nội hàm chính trị.

Nếu muốn, hãy dùng: một hướng đi mới có thể đưa ta đến một chân trời mới, và “mới” có thể là tốt, xấu, đầy rủi ro, thành công, thất bại, vẻ vang, hay suy vong. Và mục đích khi nói như vậy cũng duy chỉ muốn nói rằng “bạn có dám chấp nhận liều?”, “bạn có dám chấp nhận rủi ro?”, “bạn có gan để làm giàu?”, hoặc “bạn có thật là một entrepreneur dấn thân cho sự nghiệp kinh doanh?” chứ không bao giờ dùng cho “xây dựng đất nước” vốn phải luôn trên cơ sở các kế hoạch được lập bởi các chuyên gia chứ không từ phác thảo bằng mồm của những nhà phiêu lưu mạo hiểm.

Các cháu học sinh nên nhớ những phân tích trên để viết luận tốt hơn, thuyết trình tốt hơn, từ đó khi học tiếng nước ngoài trên nền tư duy sâu sắc tiếng Việt sẽ có thể trở thành nhà hùng biện tiếng nước ngoài, và khi trở thành nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam sẽ luôn phát ngôn vì chính đạo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ

Mở Hướng Kinh Doanh

(bài viết của Hoàng Hữu Phước trên Emotino ngày 23-12-2011)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi do xuất thân giảng dạy Anh Văn và có sở thích sáng tác thơ văn bằng tiềng Anh, tôi cùng vợ tôi thậm chí đã tự thiết kế thiệp cưới của chúng tôi năm 1987 trên nền trích đoạn một khổ stanza từ bài sonnet Epithalamium của tôi và một khổ stanza khác từ bài sonnet Amor Fantasia của vợ tôi như:

 HHP_VTL POSTScreenShot638

và cùng tham dự vài giải thưởng quốc tế bằng tiếng Anh.

Ngoài một giải thưởng của Thông Tấn Xã Novosti năm 1986 cho bài luận tiếng Anh về chủ đề hòa bình, vào năm 2000 tôi có gởi một bài sonnet tựa đề How to Overwhelm the Un-overwhelmed cho một hiệp hội thơ ca của Hoa Kỳ tên The International Library of Poetry, sau đó nhận được thư của họ, với nội dung:

 Poetry

 “Ông Hữu Phước kính,

      Cảm ơn Ông đã tham gia giải thi này của chúng tôi. Chúng tôi rất vui được trao Ông giải Editor’s Choice Award (Giải Bình Chọn Của Chủ Biên) dành cho tác phẩm dự giải của Ông được in trong tuyển tập Devotion of the Mind (Tâm Hồn Hiến Dâng). Tài năng thơ ca cùng cách nhìn độc đáo của Ông đã đóng góp thêm giá trị cho ấn bản rất được kỳ vọng này.

      Chúng tôi mong rằng giải thưởng này sẽ khích lệ Ông chuyên tâm đưa tài năng này của Ông trở nên thành tựu thơ ca cả cuộc đời.

      Một lần nữa, xin chúc mừng Ông về thành tích của Ông.

Trân trọng,

Hội Đồng Giám Khảo”

 Overwhelmed

Sự tích cực và tính chuyên nghiệp trong kinh doanh của The International Library of Poetry còn được thể hiện qua những bước tiếp theo chẳng hạn như:

1- Phát hành thi tập Devotion of the Mind  (số lưu chiểu Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ ISBN 0-7951-5006-7) gồm gần 300 trang, loại bìa cứng. Mỗi đợt thi sẽ phát hành một thi tập với tên gọi khác nhau, thí dụ năm 2001 có thi tập Devotion of the Mind (đăng bài sonnet How to Overwhelm the Un-overwhelmed đoạt giải Editor’s Choice của tôi), năm 2002 có 2 thi tập The Harvest of Dreams (Vụ Mùa Những Giấc Mơ – đăng bài sonnet A Summer Night đoạt giải Editor’s Choice của vợ tôi) The Best Poems & Poets of 2002 (Tuyển tập các Bài Thơ và các Nhà Thơ Hay Nhất Năm 2002 — đăng bài sonnet Love đoạt giải Editor’s Choice của vợ tôi), v.v.

 ggg

2- Phát hành bộ dĩa CD gồm 33 bài của 33 tác giả trong số 300 tác giả có thơ được chọn in trong tuyển tập. 33 bài này được các nhà ngâm thơ chuyên nghiệp nổi tiếng của Hoa Kỳ thực hiện trên nền nhạc baroque, và có đoạn đánh giá cho từng bài trước khi ngâm thơ. Riêng bài thơ How to Overwhelm the Un-overwhelmed của tôi được lời bình rằng “This poem is more than a music of language. It’s a variable painting of imagination. Any further description would only fail to do a justice” (Bài thơ này còn hơn cả một khúc nhạc của ngôn từ, một bức họa muôn sắc màu của trí tưởng mà bất kỳ sự miêu tả thêm nào cũng vẫn không sao nêu được hết giá trị của bài thơ).

3- Tổ chức đại hội thi sĩ thế giới. Chẳng hạn Mùa Hạ 2001 tổ chức tại Washington, Mùa Xuân 2002 tại Walt Disney World Resort, Orlando, Florida, hoặc Mùa Hạ 2002 tại Hollywood, California, v.v., với sự tham dự của 1.800 “thi sĩ” từ 55 quốc gia, trong từ 3 đến 4 ngày đêm, v.v.

 iii

“Tháng 5 năm 2001

VIP P2575040

Ông Hữu Phước kính:

      Tôi xin thông báo cùng Ông về việc đề cử Ông tham dự giải Ngôi Vương Thi Sĩ Tài Tử Thế Giới Năm 2001, và kính mời Ông đến ngâm thơ của Ông tại buổi hội thanh thế nhất của các nhà thơ trên thế giới, nơi Ông sẽ được trân trọng đưa vào làm Thi Sĩ Kiệt Xuất Quốc Tế và là Thành Viên Danh Dự của Hiệp Hội Thơ Ca năm 2001.

      Lễ giới thiệu Ông sẽ được tiến hành vào tối Thứ Sáu, ngày 17 tháng 8 tại Thủ Đô Washington của Hoa Kỳ, trong thời gian diễn ra Hội Nghị và Gala Mùa Hè Hiệp Hội Quốc Tế Các Nhà Thơ. Ông cũng sẽ được vinh danh với hai giải thưởng rất đặc biệt khác dành cho thành tựu thơ ca của Ông tại những buổi lễ đặc biệt tổ chức suốt kỳ cuối tuần.

      Trước tiên, để vinh danh và ghi nhận thành tựu thi ca của Ông, sau khi Ông ngâm thơ của Ông trước các nhà thơ trên thế giới, giữa những tiếng vỗ tay của khán giả, Ông sẽ được trao Huy Chương Thi Sĩ Kiệt Xuất Quốc Tế. Huy Chương bằng đồng này là một tác phẩm nghệ thuật, được chạm khắc độc đáo và đính vào dải ruy-băng đặc biệt sắc màu. Và thêm vào đó là một khung ảnh nền bằng gỗ quý in khắc bài thơ của Ông và một International Poet of Merit Silver Award Bowl tức một cúp làm bằng bạc có chạm khắc tên Ông”…

 AWARD

Do tình hình những năm đầu của thập kỷ 2000 không phải là chuyện dễ dàng để rời Việt Nam sang Mỹ, tôi đã từ chối tham dự đại hội, và ngay lập tức họ gởi email nêu một cách rất chuyên nghiệp rằng miễn tôi gởi đến họ một bài thơ mới khác (ngoài bài thơ đã được chấm nhận giải thưởng của tôi) và cho phép nghệ sĩ Alan Rose được thay mặt tôi ngâm bài thơ ấy tại đại hội là tôi xem như được đặc cách nhận tất cả các phần thưởng của giải dù vắng mặt:

 Poetry (19)

4- Cung cấp dịch vụ in ấn:  Poetry.com còn giới thiệu dịch vụ in ấn thơ cho các tác giả trên thế giới. Việc in ấn có chất lượng cao của Mỹ, theo phông (chữ) do tác giả lựa chọn và kèm hình ảnh do tác giả cung cấp, với bảo đảm rằng các ấn phẩm đều có lưu chiểu danh chính ngôn thuận tại Thư Viện Quốc Hội – tức có mã số ISBN (International Standard Book Number), và được đóng gói báo bì chuyên nghiệp cho từng quyển trước khi các kiện sách được gởi đến địa chỉ ở quốc gia của tác giả, v.v. Như vậy, mỗi “nhà thơ” tham dự có thể bỏ tiền ra đặt in theo số lượng mong muốn để có đủ số quyển thơ được gởi về tận quê nhà làm quà tặng cho thân nhân cùng bạn hữu.

Nói tóm lại, Poetry.com là một sân chơi thú vị cho những “nhà thơ” tài tử nghiệp dư trên toàn thế giới sáng tác thơ ca trực tiếp bằng tiếng Anh, đồng thời mỗi kỳ đại hội cũng là dịp các nhà xuất bản tìm đến tham dự để phát hiện các tác giả tiềm năng và ký kết hợp đồng cho thị trường phát hành sách của Hoa Kỳ. Qua việc cung cấp cái chúng ta gọi là “sân chơi”, Poetry.com (và rất nhiều tổ chức khác cũng “kinh doanh” y như Poetry.com) đã vừa chủ động làm giàu cho chính họ, vừa làm phát triển ngôn ngữ Anh (Mỹ) khắp thế giới – dù họ có lẽ không chủ động hay chủ tâm như thế.

Trông người lại gẫm đến ta. Việt Nam có tổ chức thi hoa hậu có sự tham dự của các Việt Kiều. Việt Nam có tổ chức giải Vovinam Việt Võ Đạo có sự tham gia của các đấu sĩ nước ngoài. Việt Nam có tổ chức khiêu vũ có sự tham gia của các vũ công nước ngoài. Giả dụ có một Việt Kiều đăng quang Hoa Hậu, ắt cô ấy khi rời Việt Nam ra về sẽ rất vẻ vang tại nước cô đang sống và làm việc, nhưng ắt không mấy ai ở nước ấy quan tâm đến quê hương gốc của cô ấy hoặc quan tâm đến ngôn ngữ của quê hương gốc của cô ấy; nếu có chăng là chỉ khi các báo lá cải bắt đầu đăng bài này bài nọ nhặng lên về những đơm đặt dành cho cô ấy từ những người ganh tỵ. Giả dụ có một võ sĩ nước ngoài đoạt chức vô địch Vovinam, anh ấy hay cô ấy ắt khi rời Việt Nam ra về sẽ rất vẻ vang tại nước anh ấy hay cô ấy  đang sống và làm việc, nhưng ắt không mấy ai ở nước ấy quan tâm đến quê hương gốc của anh ấy hay cô ấy hoặc quan tâm đến ngôn ngữ của quê hương gốc của anh ấy hay cô ấy; nếu có chăng là sẽ có thêm một số người đến các võ đường bên ấy học Vovinam, mà tâm lý dân “Tây” ít khi cho rằng nguồn gốc Vovinam là thông tin quan trọng cần nhớ suốt đời. Giả dụ có một Việt Kiều hay một ngoại kiều đoạt giải vô địch khiêu vũ, ắt người ấy khi rời Việt Nam ra về sẽ rất bình thường tại nước họ đang sống và làm việc, vì các vũ điệu thuộc các nền văn hóa khác, không phải của Việt Nam, và do đó ắt không mấy ai ở nước ấy quan tâm đến đất nước tổ chức giải khiêu vũ làm gì.

Nhưng nếu có hiệp hội (như Hội Nhà Văn chẳng hạn), tổ chức (như ban-ngành Văn Hóa), doanh nghiệp (kinh doanh ấn phẩm văn hóa), v.v., tổ chức những “đại hội thơ ca tiếng Việt” tương tự cho các “thi sĩ tài tử nghiệp dư” trên toàn thế giới , ắt số lượng người nước ngoài đã hay đang học tiếng Việt tại Việt Nam hay tại nước ngoài sẽ gia tăng, khiến giúp tiếng Việt – và thông qua tiếng Việt là văn hóa Việt cùng lịch sử Việt – sẽ phát triển mạnh hơn. Đó là chưa kể sự phát triển “ăn theo” của các ngành du lịch, in ấn, và nhiều dịch vụ khác.

Nếu nói theo ý của bài “Hiểu Đúng Về Doanh Nhân” tôi đã đăng trên blog emotino.com, thì quả Poetry.com đã rất đúng khi hết lòng về lĩnh vực của chính mình vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, nguyên giảng viên English Lexicology, British Civilization & Literature, English Composition, Business English, Interpretation & Translation, và English Grammar (Cao Đẳng Sư Phạm TP HCM, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan, Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật, Trung Tâm Ngoại Ngữ -Tin Học FOSCO KM, và Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ)

*********

Như đã nêu đầy đủ trong bài viết trên, tôi cho rằng Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam có đủ tài lực, nhân lực, và thế lực để tổ chức một đại hội thơ ca tiếng Việt hàng năm hay mỗi hai năm (International Society of Poets Hiệp Hội Quốc Tế Các Nhà Thơ, tức chủ nhân của Poetry.com nói trên, thậm chí còn tổ chức mỗi năm ít nhất hai đại hội, mỗi đại hội tại một tiểu bang khác nhau ở các khu du lịch danh tiếng khác nhau), với giải thưởng có trị giá “bình thường” (tham khảo các giải thưởng của Poetry.com ở các mức 500USD, 1.000USD, 2.500USD, 5.000USD, và 20.000USD), tại các khu du lịch nào của Việt Nam tham gia khuyến mãi, và cũng có các phần thưởng kèm theo các giải thưởng (tham khảo các phần thưởng của International Society of Poets: chiếc cúp giá 175USD tặng người thắng giải có tham dự, và tính tiền kèm cước phí đối với người đoạt giải nhưng không thể sang Mỹ tham dự); thu tiền sách mà mỗi “nhà thơ” muốn mua thêm; thu tiền in sách theo số lượng từ 50 đến hàng trăm hàng ngàn quyển được đặt in bởi các “nhà thơ” đoạt giải hoặc bất kỳ nhà thơ nào có bài được chọn đăng trong tuyển tập — mỗi tuyển tập có thơ của hàng trăm nhà thơ; thu tiền băng dĩa; và đồng thời Nhà Xuất Bản Giáo Dục đương nhiên có thêm tác phẩm (những tác phẩm trở thành bản quyền của chính Nhà Xuất Bản) để gia tăng số lượng đầu sách hàng năm trên kệ sản phẩm của Nhà Xuất Bản, v.v.

Tất cả những điều thuộc phạm vi kinh doanh rất tiềm năng và nhiều lợi nhuận kể trên vẫn chưa thể vượt qua tầm quan trọng lớn hơn rất nhiều: đó là nâng cao vị thế tiếng Việt trên thế giới. Tất nhiên, giải thưởng trên sẽ phải cân nhắc xem Việt Kiều có sẽ được tham dự cuộc thi vì kiều bào Việt Nam được mặc định rằng sẽ giỏi tiếng Việt hơn ngoại kiều. Có thể tham khảo việc International Society of Poets dành riêng cho “nhà thơ” tiếng Anh từ “hải ngoại” – nghĩa là kể cả từ Anh Quốc và các nước nói tiếng Anh. Còn thể loại thơ thì không giới hạn chỉ ở thơ lục bát (tôi và vợ tôi là những “nhà thơ” tiếng Anh duy nhất trong các tuyển tập của Hiệp Hội Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ chọn gởi sáng tác thơ cổ điển loại sonnet, nghĩa là sẽ có thể có trường hợp “nhà thơ” nước ngoài gởi thơ Tiếng Việt theo thể loại cổ điển của Thơ Đường chứ không chỉ toàn là “thơ mới” tức “thơ tự do”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Lá Thư Hải Ngoại

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vào thời điểm sắp bế mạc Kỳ họp thứ 8 tháng 11 vừa qua của Quốc Hội Khóa XIII tôi có nhận được một thư điện tử của một phụ nữ Việt Nam tên Lệ Minh là một nhà giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh sang sinh sống tại Nhật đã ba bốn năm nay. Chị này cho biết thường đọc các bài viết trên các blog của tôi, và do mới thấy có vụ công kích tôi trên mạng, Chị quyết định viết ngay thư động viên tôi và nhân tiện qua bức thư đầu tiên này cung cấp cho tôi những thông tin có giá trị so sánh mà những nhà hoạch định chính sách rất nên quan tâm và suy gẩm.

Về “Đầu Tư Nước Ngoài”

Chị cho biết con của Chị đầu tư vốn mở một công ty tại Nhật và visa được Nhật cấp là visa loại có thời hạn nhất định dành cho “nhà đầu tư”. Khi visa sắp hết hạn, con của Chị phải qua thủ tục được cơ quan nhà nước Nhật nghiên cứu xem xét tổng số tiền thuế con của Chị đã nộp cho Chính phủ Nhật trong thời gian của thời hiệu visa hiện hữu. Và visa được tái cấp cho con Chị vì doanh nghiệp của con Chị làm ăn có lãi trong năm tài khóa trước đó.

Chị hỏi tôi vì sao thấy có thông tin nhiều “nhà đầu tư” nước ngoài ở Việt Nam vừa liên tục báo lỗ để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, vừa là đối tượng bị điều tra của trò chuyển giá, và vừa tăng vốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường Việt Nam từ Bắc chí Nam.

Câu này thì tôi vẫn chưa trả lời Chị, vì là một nghị sĩ, tôi khó thể nói rằng mấy chục năm qua Quốc Hội Việt Nam đã theo các kế sách thu hút đầu tư do các chuyên gia kinh tế đề xuất, mà có một số trong những chuyên gia này lúc về hưu thường có các phát biểu bày tỏ sự trăn trở trước các vấn nạn và sự trì trệ của nền kinh tế nước nhà cứ như thể họ là kẻ bàng quan chưa từng hiến kế gì nên chưa hề có trách nhiệm gì đối với những kế đã hiến, cũng như mấy chục năm đương nhiệm họ chẳng hề phản bác các đề xuất phát triển kinh tế “lạ lùng” không dính dáng gì đến họ ấy – đặc biệt có vài vị cựu chuyên gia kinh tế khi nghỉ hưu biến thành những người tích cực nói về nhân quyền, dân chủ, xã hội dân sự, v.v., tức là những lĩnh vực họ không chuyên, chưa từng qua đào tạo bài bản về, và chưa từng nói đến dù nói riêng hay nói theo bầy đàn trong suốt nhiều chục năm ở ngôi cao chức trọng trong nền kinh tế.

Về Trái Cây Việt Nam

Chị thấy trong siêu thị của Nhật có bán rất nhiều loại hoa quả nhập khẩu từ rất nhiều nước – dựa theo các nhãn mác ghi rõ xuất xứ địa lí – nhưng Chị hầu như không thấy hoa quả Việt Nam. Chị thậm chí đã mừng hụt khi thấy bảng ghi bằng tiếng Việt “Nước Dừa” nhưng hộp nước cốt dừa ấy “Made in Thailand”. Còn khi thấy các quầy trái thanh long và đu đủ, Chị đã buồn đúng vì biết ngay chúng từ Philippines và Indonesia vừa nhỏ, vừa không ngon, vừa không đẹp và vừa có giá trên trời. Là người xa xứ, Chị đau đáu nỗi buồn phiền trước tin thanh long Việt Nam phải đem nuôi bò hoặc bỏ chất đống hư thối ven đường cái quan.

Tôi đáp rằng vì doanh nghiệp Việt có thói quen chờ người đến mua theo kiểu “đáp ứng nhu cầu khách hàng đối với những thứ họ muốn có”, thay vì tiếp cận chào mời theo kiểu “tạo nhu cầu từ khách hàng đối với những thứ họ chưa từng biết đến”. Một cách thì ung dung thủ lợi, bàng quan trước thành quả của nông dân đem đổ sông đổ biển, một cách thì cực nhọc khai phá khai thác thị trường tuy vì nông dân mà xa hơn là nông nghiệp nước nhà nhưng chưa chắc thu hồi đủ vốn đã bỏ ra huống hồ thu về lợi nhuận.

Về Người Yếu Thế

Chị cho tôi một lời đánh giá cao đối với những bài viết của tôi về người khuyết tật. Theo Chị, ở Nhật thì các tiện ích dành cho người yếu thế như trẻ em, người già, người khuyết tật, và kể cả phụ nữ được quan tâm đầu tư vô cùng chu đáo, tỉ mỉ đến từng chi tiết ở tất cả các hệ thống giao thông và tất cả các nơi công cộng. Chẳng hạn ở tất cả nhà ga tàu lửa/tàu điện/tàu thủy, sân bay, siêu thị, công viên, v.v., thì phòng vệ sinh ở vị trí thuận lợi nhất là dành riêng cho những người thuộc diện “yếu thế” này, với đầy đủ trang thiết bị đặc chế phục vụ phù hợp cho nhu cầu vệ sinh của các hành khách thuộc diện này. Ví dụ như ghế cho trẻ em ngồi tại nhà ga hay trên phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt nâng/hạ/xếp rất tiện cho bà mẹ cho con bú hoặc thay tả cho bé. Chị bảo Chị có cảm tưởng như các đối tượng yếu thế này ít hoăc  không tồn tại trong tư duy của các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý qua các thiết kế hệ thống giao thông hoặc các công trình công cộng không hề thấy thể hiện rõ nét sự chăm sóc mang tính nhân văn cao.

Tôi trả lời rằng đó là do có ba vấn đề nghiêm trọng có liên quan là (a) ngân sách Nhà nước luôn có hạn chế dù luôn phải bội chi, (b) tư duy của đa số cho rằng đó không là việc của mình mà là của riêng Nhà nước Trung ương nên khi chưa có chính sách hay Nghị định thì địa phương không phải bày vẻ ra thêm làm gì, và (c) tính cạnh tranh cao của nền kinh tế thị trường đi đôi với sự quan tâm tập trung cho lợi nhuận nên các “nhà đầu tư” địa ốc tận dụng khoảng không để cơi nới gia tăng tối đa diện tích có thể cho thuê mướn thu lợi nhuận, thậm chí những tòa nhà cao nhiều chục tầng không có bãi đậu xe, và sự “đầu tư” nội thất cực kỳ tiện nghi sang trọng dành cho “khách hàng” thường không hàm ý bao gồm “khách hàng người khuyết tật”.

Về Công Nghiệp Phụ Trợ

Chị cũng có quan tâm đến công nghiệp phụ trợ. Chị kể về sức mạnh của loại công nghiệp này tại Nhật, cũng như tầm quan trọng mang tính chiến lược của loại công nghiệp này, v.v. Nội dung Chị nói rất giống với các thông tin trên thế giới về công nghiệp phụ trợ.

Tôi cho Chị hay rằng tôi đã quan tâm đến nội dung này cách nay hai mươi năm khi tôi có các quan hệ với vài công ty trách nhiệm hữu hạn nhỏ và vừa của Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như với Tổng Lãnh Sự Nhật Bản; và Việt Nam cũng đã có những quan tâm ở tầm vĩ mô đối với loại công nghiệp này từ lâu. Song, để giải thích vì sao vẫn chưa tồn tại một ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam, tôi có ý kiến cá nhân rằng do thói quen của đa số người trong xã hội thuộc bất kỳ giai tầng nào cũng thích chuộng hư danh hơn là thực chất. Người ta cho ra kế sách phát triển ngành chế tạo ô-tô để rồi mấy chục năm qua vẫn toàn là lắp ráp, trong khi lẽ ra phải loại bỏ hẳn kế sách này khỏi bất kỳ một chương trình phát triển kinh tế nào của nước nhà. Hãng Boeing không chế ra lốp dùng cho bánh đáp, hệ thống lạnh, ghế ngồi, giấy dùng trong toilet, bóng đèn, ghế ngồi, tấm bọc ghế, v.v., vì những thứ này do hàng trăm hàng ngàn công ty tại nhiều quốc gia cung ứng theo đơn hàng của Boeing. Việt Nam ắt đã không cho rằng chế tạo đinh ốc cho các hãng ô-tô Nhật là việc tương xứng với danh dự vĩ đại của dân tộc Việt Nam vĩ đại. Thậm chí khi nghe Campuchia chế tạo ô-tô, lập tức có chuyên gia kinh tế viết tỏ bức xúc trên báo rằng Việt Nam đã chậm chân, đã sai trong chiến lược, v.v. , trong khi với tư cách nhà tư vấn tôi có thể khẳng định rằng nền kinh tế của Campuchia sẽ bị suy thoái suy yếu suy vong nếu cái gọi là ngành công nghiệp ô-tô ấy thực sự “phát triển”.

Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang tuần trước có cho biết tại buổi tiếp xúc cử tri một kinh nghiệm của Ông khi đến thăm một nhà máy thuộc Tập Đoàn Samsung ở Hàn Quốc, ông có hỏi giá đầu tư của các máy móc thiết bị có kích thước nhỏ gọn hoặc trung bình mà Ông thấy xếp thành chuỗi nhiều trăm máy đang hoạt động náo nhiệt tại đó, và Ông được lãnh đạo đơn vị cho biết máy này vài trăm ngàn đô-la Mỹ, máy kia vài triệu đô-la Mỹ, v.v. Tôi đã dùng ý này của Chủ Tịch Nước để trả lời Chị là do công nghiệp phụ trợ đòi hỏi số vốn đầu tư khổng lồ nên hiện vẫn còn ở ngoài tầm tay của các doanh nghiệp Việt Nam.

Cuối thư trả lời, tôi có chúc con của Chị mạnh khỏe, tiếp tục thành công để visa Nhật được liên tục tái cấp để doanh nghiệp công nghệ thông tin của cháu ấy làm nên làm ra tạo công ăn việc làm cho các bậc kỳ tài Nhật Bản, để tài năng lãnh đạo của cháu được thán phục trên đất Nhật làm vẻ vang cho người Việt và nước Việt, cũng như để Chị sống an vui với sự thành nhân và thành công của đứa con mà vì nó Chị đã chấp nhận rời Việt Nam sang Nhật để sớm hôm kề cận.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hoàng Dương Chương

Giai Thoại Rừng Sác

Hoàng Hữu Phước, MIB

Những năm ở Sài Gòn trong chiến tranh, tôi có thỉnh thoảng nghe tin của đài Phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và có nghe vài câu chuyện về những “gương chiến đấu anh dũng” của mấy anh “Việt Cộng” mà tôi cho là chuyện thêu dệt với lắm hào quang chói lòa.

Những năm đầu sau giải phóng, qua báo chí và tin tức trên đài phát thanh tôi có biết đến nhiều chuyện về gương chiến đấu anh dũng của những anh bộ đội mà tôi cho là sự thật vì đã có bằng chứng quá hiển nhiên của Chiến Thắng Tuyệt Đối Tuyệt Vời ngày 30-4-1975 của “cộng sản Bắc Việt” với sự xóa sổ quá hiển nhiên không thể nào tin được của đất nước Việt Nam Cộng Hòa và sự tháo chạy còn hơn cả hiển nhiên không bao giờ có thật trong toàn bộ lịch sử tồn tại của địa cầu ngoại trừ của quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Một trong những chuyện về sự thật là về anh đặc công Rừng Sác tên Hoàng Dương Chương, mà hiện nay bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể tìm ra chi tiết về anh này trên Google để biết về giai thoại anh đã bị cá sấu ngoạm ngang người năm 1966 như thế nào khi bơi lặn dưới sông biển nghiên cứu địa hình, theo dõi sự cơ động của đội hình các tàu chiến đối phương để có phương án bố trí trận địa thủy lôi phá tan tàu giặc.

Như thông tin trên một bài viết trước đây đã đăng chi tiết trên blog này, hai năm sau khi làm nghị sĩ, tôi đã tìm ra gốc tích tổ tiên mình ở Tỉnh Nam Định, và hai năm nay mỗi lần ra Hà Nội họp tôi đều được bà con Nam Định tổ chức đón về viếng Nhà thờ Tổ. Và ngay từ ngày đầu tiên về thăm Nam Định tôi đã gặp “anh đặc công Rừng Sác” Hoàng Dương Chương. Đó là Chú của tôi.

Chiến tranh thật kỳ lạ. Tôi chỉ gặp Ông Nội tôi ở Cần Thơ lên Sài Gòn chơi hai lần, và nhớ đó là người dáng cao, gầy, trắng trẻo, nói tiếng miền Nam. Mỗi lần Ông Nội đến, Ông chỉ ngồi nói chuyện với Má tôi trong năm hay mười phút rồi vuốt tóc tôi, xiết chặc vai tôi như muốn dặn dò điều gì đó, rồi thoăn thoắt ra đi. Ông mất năm 1969. Và khi mấy anh bộ đội đến nhà tôi – đến từng nhà một trong cả xóm – để ghi chú về cái rất mới lạ gọi là “nhân khẩu” chỉ mới vài ngày sau giải phóng, họ ghi một từ rất mới lạ gọi là “nguyên quán” và ghi rằng nguyên quán của rôi là Cần Thơ vì Ba tôi sinh ở Cần Thơ; nhưng đến khi phỏng vấn Ba tôi, nghe Ba nói Ông mất rồi mà rất ít gặp Ông nên không rõ Ông sinh nơi nào, nhưng nhớ có lần Ông bảo hãy nhớ tổ tiên mình ở Nam Định, thế là mấy anh bộ đội ghi nguyên quán của Ba tôi là Nam Định, và sau một lúc suy nghĩ về các chi tiết dường như là chỏi nhau, các anh tự động xóa và sửa chi tiết nguyên quán của tôi thành Nam Định cho thống nhất. Thế là tôi sau đó có Chứng Minh Nhân Dân ghi Nam Định như nguyên quán hay quê quán gì đó cho đến ngày nay.

Chiến tranh thật lạ kỳ, vì đứa cháu Hoàng Hữu Phước có nghe về “anh” đặc công Việt Cộng Hoàng Dương Chương, còn “anh ấy” hoạt động ở vùng có những chiến công long trời lở đất ngay sát nách Sài Gòn lại không biết rằng cách nơi anh đang chiến đấu không xa có thằng cháu của “anh” đang vừa lén nghe tin của đài phát thanh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam về “anh” vừa nghi ngờ “anh” là cả một sự dệt thêu.

Thế đấy, chiến tranh thật kỳ lạ và lạ kỳ vì chiến sĩ đặc công Hoàng Dương Chương chỉ là người thấp nhỏ, gầy gò, mà quyết tâm cứu quốc đã biến “anh” thành dũng sĩ, lôi xềnh xệch con cá sấu ngược lại sức kéo mạnh mẽ của nó rồi ném lựu đạn kết liễu con ác thú to lớn lẽ ra đã có thể hoặc nuốt trọn thân thể gầy gò của “anh” hoặc ngoạm phập nhanh gọn lắc mạnh cắt anh làm ba phần với đầu và hai tay cùng hai chân rơi xuống nước sông nơi cửa biển, còn phần mình bụng làm đầy chiếc dạ dày khủng khiếp của nó. Để rồi khi được đồng đội tìm thấy nhanh chóng đưa “anh” về tuyến sau cứu sống, và sau đó về lại quê hương Nam Định anh trở thành nhà nghiên cứu chữ Hán, làm nhà sử học địa phương xuất bản nhiều tác phẩm khảo cứu.

Tháng 11 năm 2014 vừa qua, “anh” đặc công Hoàng Dương Chương của trung đoàn đặc công uy danh từng tung hoành sông biển Rừng Sác làm điêu đứng và gieo kinh hoàng khiếp sợ cho quân thù đã giải thích cho cháu Hoàng Hữu Phước của “anh” về nghĩa tiếng Việt của các câu đối chữ Hán mà tổ tiên của dòng họ Hoàng là Cụ Đồ Điềm hiệu Thọ Sơn đã tự viết lưu trên các cột và vách của nhà thờ Tổ.

 Chu Duong (15)

“Anh” vẫn là người gầy gò, đôn hậu, vui vẻ, sống tích cực, như thủa “anh” gác bút nghiên theo binh nghiệp của cuộc chiến trường kỳ cứu nước và thống nhất đất nước. Và nhìn “anh”, tôi thêm hiểu vì sao những con người không chắc có sức khỏe thể lực thể hình lại có sự quật cường dấn thân khủng khiếp đến thế.

Đó là khi lòng yêu nước hòa quyện vào lý tưởng cộng sản thành sự gắn kết không thể tách rời và trở nên bất khả chiến bại.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Người Khuyết Tật: Thước Đo Chuẩn Mực Của Nhân Văn

 Khuyết Tật (2)

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03-12-2014

Kính gởi các Anh Chị thân hữu người khuyết tật:

Nhân ngày Quốc Tế Người Khuyết Tật, và với sự phê chuẩn của Quốc Hội Việt Nam đối với Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật tháng 11 năm 2014 tại Kỳ họp Thứ 8, tôi xin kính gởi đến các Anh Chị và cộng đồng công dân khuyết tật của Việt Nam những lời chúc mừng chân thiết.

Nhiều từ ngữ tốt đẹp về quyền công dân, quyền con người, và phẩm giá vốn có của người khuyết tật sẽ được nêu lên, nói về, và phổ biến trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Nhiều danh nhân người khuyết tật sẽ được nhắc đến như Ludwig Van Beethoven, nhà soạn nhạc thiên tài khiếm thính của Thế Kỷ XVIII; Franklin Delano Roosevelt, vị tổng thống Hoa Kỳ thứ 32 cũng là người duy nhất làm tổng thống Hoa Kỳ 4 nhiệm kỳ, trị quốc trên chiếc xe lăn vì chứng sốt bại liệt làm liệt các chi dưới, vươn tay lèo lái con tàu quốc gia qua cơn bão táp của Đệ Nhị Thế Chiến, cùng với Sir Winston Churchill của Anh Quốc và Joseph Stalin của Liên Xô tạo nên nhóm tam đại anh hùng ở sự kiện Yalta dưới mật danh Hội Nghị Argonaut; và Stephen William Hawking, nhà khoa học vĩ đại nghiên cứu vật lý vũ trụ trên chiếc xe lăn đầy đủ tiện nghi hiện đại có thiết bị phát âm do chứng bại liệt toàn thân; v.v., như những tấm gương sáng ngời về kỳ tích của những người khuyết tật.

Song, sự tồn tại của các danh nhân trên trong văn học sử, thế giới sử, và lịch sử khoa học, đã nêu bật một điều duy nhất rằng tài năng luôn tiềm tàng ở mỗi một con người – khuyết tật hay chưa khuyết tật – nhưng vấn đề là tài năng tiềm tàng ấy hoặc sẽ bị triệt tiêu bởi sự hoài phí, hoài nghi, hoặc được bừng tỏ bằng tổ hợp của sự nổ lực lớn lao của cá nhân cộng với sự hỗ trợ lớn lao tương tự từ xã hội, cộng đồng. Đó là lý do cho cụm từ quảng cáo đầy ý nghĩa trên đài CNN: Greater Successes from Greater Supports – những hỗ trợ lớn lao hơn sẽ đưa đến những thành công to tát hơn. Bất kỳ người Việt Nam nào cũng có quyền trông chờ sự xuất hiện của những danh nhân Việt trên chính trường, trong làm chủ đỉnh cao khoa học, và trong trở thành bậc thầy âm nhạc của thế giới. Song, trông chờ, kỳ vọng, sẽ chẳng đưa đến một kết quả thực. Support mới quan trọng vì có tính chủ động, tích cực. Expectation hay expectancy hoặc hope chỉ là sự thăng hoa của trí tưởng. Và khi đã nghiệm ra tầm quan trọng của support, người ta sẽ biết thêm một điều rằng những người yếu thế mà trong đó người khuyết tật là người rất yếu thế  cần đến support ấy đến dường nào trên đường đấu tranh sinh tồn, bừng tỏ, và cống hiến.

Trong khi nội dung trên vẫn còn quen thuộc vì với lòng từ tâm luôn thiên về những hành động từ thiện, người ta sẽ tự động nghĩ đến support tự nhiên, bình thường. Vẫn còn một điều quan trọng hơn thế, đó là: hãy tôn trọng người khuyết tật không chỉ vì họ có phẩm giá tự thân không ai có quyền rẻ rúng, mà còn vì sự thật rằng người khuyết tật chính là thước đo chuẩn mực của tính nhân văn. Hãy xem bạn đã nghĩ gì về người khuyết tật; có xem họ là đối tượng của lòng thương xót, của sự bố thí; có tư tưởng rằng họ là hiện thân của một ác duyên tiền kiếp hay một điều thất đức hay ác đức phạm phải của tổ tiên? Nếu có, thì chính bạn không phải là người văn minh, vì người văn minh chỉ biết đơn giản một điều ngay khi nhìn thấy người khuyết tật là họ phải support người khuyết tật tự đứng lên để cùng ngẫng mặt cao giống nhau, cùng chung bước tiến lên trên đường đời như một lẽ công bằng.

Khi người công dân trong sự mưu sinh biết chia sẻ dành sự support cho người khuyết tật, đó là điều tốt đẹp.

Nhưng khi người công dân trong sự lo toan sinh kế mỗi ngày biết thu dọn lề đường nơi mình bày biện kinh doanh để người khuyết tật không phải dọ dẫm xuống lòng đường dập dìu xe cộ và để khách-bộ-hành-không-khuyết-tật không phải trở thành người khuyết tật mới, thì đó thật là điều vĩ đại.

Và khi người công dân trong sự lo toan sinh kế mỗi ngày biết chạy xe đúng phần đường, đúng làn đường, đúng tốc độ, đúng đèn tín hiệu giao thông, đơn giản vì có lòng đoan chính biết tôn trọng người khuyết tật và thiện tâm không tạo nên những người khuyết tật mới, thì đó còn hơn cả  điều vĩ đại vì trật tự giao thông chính là quốc thể.

Người khuyết tật chính là thước đo tâm thế, tư cách, danh dự, mức độ văn minh, chiều cao học thức, và cái trí hóa của cả một cộng đồng, một dân tộc.

Trân trọng,

nguoi khuyet tat

Hoàng Hữu Phước