Lá Thư Hải Ngoại

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vào thời điểm sắp bế mạc Kỳ họp thứ 8 tháng 11 vừa qua của Quốc Hội Khóa XIII tôi có nhận được một thư điện tử của một phụ nữ Việt Nam tên Lệ Minh là một nhà giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh sang sinh sống tại Nhật đã ba bốn năm nay. Chị này cho biết thường đọc các bài viết trên các blog của tôi, và do mới thấy có vụ công kích tôi trên mạng, Chị quyết định viết ngay thư động viên tôi và nhân tiện qua bức thư đầu tiên này cung cấp cho tôi những thông tin có giá trị so sánh mà những nhà hoạch định chính sách rất nên quan tâm và suy gẩm.

Về “Đầu Tư Nước Ngoài”

Chị cho biết con của Chị đầu tư vốn mở một công ty tại Nhật và visa được Nhật cấp là visa loại có thời hạn nhất định dành cho “nhà đầu tư”. Khi visa sắp hết hạn, con của Chị phải qua thủ tục được cơ quan nhà nước Nhật nghiên cứu xem xét tổng số tiền thuế con của Chị đã nộp cho Chính phủ Nhật trong thời gian của thời hiệu visa hiện hữu. Và visa được tái cấp cho con Chị vì doanh nghiệp của con Chị làm ăn có lãi trong năm tài khóa trước đó.

Chị hỏi tôi vì sao thấy có thông tin nhiều “nhà đầu tư” nước ngoài ở Việt Nam vừa liên tục báo lỗ để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, vừa là đối tượng bị điều tra của trò chuyển giá, và vừa tăng vốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường Việt Nam từ Bắc chí Nam.

Câu này thì tôi vẫn chưa trả lời Chị, vì là một nghị sĩ, tôi khó thể nói rằng mấy chục năm qua Quốc Hội Việt Nam đã theo các kế sách thu hút đầu tư do các chuyên gia kinh tế đề xuất, mà có một số trong những chuyên gia này lúc về hưu thường có các phát biểu bày tỏ sự trăn trở trước các vấn nạn và sự trì trệ của nền kinh tế nước nhà cứ như thể họ là kẻ bàng quan chưa từng hiến kế gì nên chưa hề có trách nhiệm gì đối với những kế đã hiến, cũng như mấy chục năm đương nhiệm họ chẳng hề phản bác các đề xuất phát triển kinh tế “lạ lùng” không dính dáng gì đến họ ấy – đặc biệt có vài vị cựu chuyên gia kinh tế khi nghỉ hưu biến thành những người tích cực nói về nhân quyền, dân chủ, xã hội dân sự, v.v., tức là những lĩnh vực họ không chuyên, chưa từng qua đào tạo bài bản về, và chưa từng nói đến dù nói riêng hay nói theo bầy đàn trong suốt nhiều chục năm ở ngôi cao chức trọng trong nền kinh tế.

Về Trái Cây Việt Nam

Chị thấy trong siêu thị của Nhật có bán rất nhiều loại hoa quả nhập khẩu từ rất nhiều nước – dựa theo các nhãn mác ghi rõ xuất xứ địa lí – nhưng Chị hầu như không thấy hoa quả Việt Nam. Chị thậm chí đã mừng hụt khi thấy bảng ghi bằng tiếng Việt “Nước Dừa” nhưng hộp nước cốt dừa ấy “Made in Thailand”. Còn khi thấy các quầy trái thanh long và đu đủ, Chị đã buồn đúng vì biết ngay chúng từ Philippines và Indonesia vừa nhỏ, vừa không ngon, vừa không đẹp và vừa có giá trên trời. Là người xa xứ, Chị đau đáu nỗi buồn phiền trước tin thanh long Việt Nam phải đem nuôi bò hoặc bỏ chất đống hư thối ven đường cái quan.

Tôi đáp rằng vì doanh nghiệp Việt có thói quen chờ người đến mua theo kiểu “đáp ứng nhu cầu khách hàng đối với những thứ họ muốn có”, thay vì tiếp cận chào mời theo kiểu “tạo nhu cầu từ khách hàng đối với những thứ họ chưa từng biết đến”. Một cách thì ung dung thủ lợi, bàng quan trước thành quả của nông dân đem đổ sông đổ biển, một cách thì cực nhọc khai phá khai thác thị trường tuy vì nông dân mà xa hơn là nông nghiệp nước nhà nhưng chưa chắc thu hồi đủ vốn đã bỏ ra huống hồ thu về lợi nhuận.

Về Người Yếu Thế

Chị cho tôi một lời đánh giá cao đối với những bài viết của tôi về người khuyết tật. Theo Chị, ở Nhật thì các tiện ích dành cho người yếu thế như trẻ em, người già, người khuyết tật, và kể cả phụ nữ được quan tâm đầu tư vô cùng chu đáo, tỉ mỉ đến từng chi tiết ở tất cả các hệ thống giao thông và tất cả các nơi công cộng. Chẳng hạn ở tất cả nhà ga tàu lửa/tàu điện/tàu thủy, sân bay, siêu thị, công viên, v.v., thì phòng vệ sinh ở vị trí thuận lợi nhất là dành riêng cho những người thuộc diện “yếu thế” này, với đầy đủ trang thiết bị đặc chế phục vụ phù hợp cho nhu cầu vệ sinh của các hành khách thuộc diện này. Ví dụ như ghế cho trẻ em ngồi tại nhà ga hay trên phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt nâng/hạ/xếp rất tiện cho bà mẹ cho con bú hoặc thay tả cho bé. Chị bảo Chị có cảm tưởng như các đối tượng yếu thế này ít hoăc  không tồn tại trong tư duy của các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý qua các thiết kế hệ thống giao thông hoặc các công trình công cộng không hề thấy thể hiện rõ nét sự chăm sóc mang tính nhân văn cao.

Tôi trả lời rằng đó là do có ba vấn đề nghiêm trọng có liên quan là (a) ngân sách Nhà nước luôn có hạn chế dù luôn phải bội chi, (b) tư duy của đa số cho rằng đó không là việc của mình mà là của riêng Nhà nước Trung ương nên khi chưa có chính sách hay Nghị định thì địa phương không phải bày vẻ ra thêm làm gì, và (c) tính cạnh tranh cao của nền kinh tế thị trường đi đôi với sự quan tâm tập trung cho lợi nhuận nên các “nhà đầu tư” địa ốc tận dụng khoảng không để cơi nới gia tăng tối đa diện tích có thể cho thuê mướn thu lợi nhuận, thậm chí những tòa nhà cao nhiều chục tầng không có bãi đậu xe, và sự “đầu tư” nội thất cực kỳ tiện nghi sang trọng dành cho “khách hàng” thường không hàm ý bao gồm “khách hàng người khuyết tật”.

Về Công Nghiệp Phụ Trợ

Chị cũng có quan tâm đến công nghiệp phụ trợ. Chị kể về sức mạnh của loại công nghiệp này tại Nhật, cũng như tầm quan trọng mang tính chiến lược của loại công nghiệp này, v.v. Nội dung Chị nói rất giống với các thông tin trên thế giới về công nghiệp phụ trợ.

Tôi cho Chị hay rằng tôi đã quan tâm đến nội dung này cách nay hai mươi năm khi tôi có các quan hệ với vài công ty trách nhiệm hữu hạn nhỏ và vừa của Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như với Tổng Lãnh Sự Nhật Bản; và Việt Nam cũng đã có những quan tâm ở tầm vĩ mô đối với loại công nghiệp này từ lâu. Song, để giải thích vì sao vẫn chưa tồn tại một ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam, tôi có ý kiến cá nhân rằng do thói quen của đa số người trong xã hội thuộc bất kỳ giai tầng nào cũng thích chuộng hư danh hơn là thực chất. Người ta cho ra kế sách phát triển ngành chế tạo ô-tô để rồi mấy chục năm qua vẫn toàn là lắp ráp, trong khi lẽ ra phải loại bỏ hẳn kế sách này khỏi bất kỳ một chương trình phát triển kinh tế nào của nước nhà. Hãng Boeing không chế ra lốp dùng cho bánh đáp, hệ thống lạnh, ghế ngồi, giấy dùng trong toilet, bóng đèn, ghế ngồi, tấm bọc ghế, v.v., vì những thứ này do hàng trăm hàng ngàn công ty tại nhiều quốc gia cung ứng theo đơn hàng của Boeing. Việt Nam ắt đã không cho rằng chế tạo đinh ốc cho các hãng ô-tô Nhật là việc tương xứng với danh dự vĩ đại của dân tộc Việt Nam vĩ đại. Thậm chí khi nghe Campuchia chế tạo ô-tô, lập tức có chuyên gia kinh tế viết tỏ bức xúc trên báo rằng Việt Nam đã chậm chân, đã sai trong chiến lược, v.v. , trong khi với tư cách nhà tư vấn tôi có thể khẳng định rằng nền kinh tế của Campuchia sẽ bị suy thoái suy yếu suy vong nếu cái gọi là ngành công nghiệp ô-tô ấy thực sự “phát triển”.

Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang tuần trước có cho biết tại buổi tiếp xúc cử tri một kinh nghiệm của Ông khi đến thăm một nhà máy thuộc Tập Đoàn Samsung ở Hàn Quốc, ông có hỏi giá đầu tư của các máy móc thiết bị có kích thước nhỏ gọn hoặc trung bình mà Ông thấy xếp thành chuỗi nhiều trăm máy đang hoạt động náo nhiệt tại đó, và Ông được lãnh đạo đơn vị cho biết máy này vài trăm ngàn đô-la Mỹ, máy kia vài triệu đô-la Mỹ, v.v. Tôi đã dùng ý này của Chủ Tịch Nước để trả lời Chị là do công nghiệp phụ trợ đòi hỏi số vốn đầu tư khổng lồ nên hiện vẫn còn ở ngoài tầm tay của các doanh nghiệp Việt Nam.

Cuối thư trả lời, tôi có chúc con của Chị mạnh khỏe, tiếp tục thành công để visa Nhật được liên tục tái cấp để doanh nghiệp công nghệ thông tin của cháu ấy làm nên làm ra tạo công ăn việc làm cho các bậc kỳ tài Nhật Bản, để tài năng lãnh đạo của cháu được thán phục trên đất Nhật làm vẻ vang cho người Việt và nước Việt, cũng như để Chị sống an vui với sự thành nhân và thành công của đứa con mà vì nó Chị đã chấp nhận rời Việt Nam sang Nhật để sớm hôm kề cận.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.