Monthly Archives: January 2015

Luận Về Tác Động Của Quảng Cáo Tại Việt Nam – On Advertisement Impact in Vietnam

(Bilingual writing: Vietnamese & English)

Song Ngữ: Tiếng Việt và Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Không như nhiều người vào các mạng “chùa” tức mạng miễn phí để thu thập số lượng “likes” tức “thích” hoặc để khoe đã có mấy ngàn hay mấy chục ngàn “followers” tức số lượng người bu, tôi mở blog theo kiểu đã nói trong bài Thùng Nước Đá [1] nghĩa là không cho ai “like” và chẳng để ai “comment” tức phê bình, vì rằng nếu muốn phê bình thì hãy viết đàng hoàng rồi gởi đến tôi qua đường bưu điện (đối với người lạ) hoặc bằng email (đối với người quen, vì nhiều chục năm nay tôi không mở đọc các email của người lạ). Tôi thậm chí đã bỏ Facebook rất nhiều năm nay sau khi mắng cho một trận bọn viết tiếng Việt chửi cha Cộng sản Việt Nam và bọn viết tiếng Anh xúc xiểm một cách ngu xuẩn rằng Chính phủ Việt Nam ngăn chặn cái chùa Facebook; đến độ thỉnh thoảng Facebook gởi tôi một email báo tin rằng đang có mấy trăm người cho đến nay vẫn đang dài cổ chờ tôi cho liên kết trên mạng ấy.

Trên mạng xã hội LinkedIn [2] vốn dành cho doanh nhân trên toàn thế giới, tôi vào xem và viết comment đều đặn suốt nhiều năm qua đối với các ý kiến này nọ của các vị mà đại đa số dùng tiếng Anh. Song, tôi chưa bao giờ “xin” liên kết với bất kỳ ai, mà trái lại phải duyệt rất kỹ từng lời xin liên kết một của các vị doanh nhân ấy của LinkedIn. Cụ thể, tôi đã không chấp nhận lời xin được liên kết với tôi của 426 người

 ScreenShot775

và hiện nay tôi chỉ liên kết với tổng cộng 719 vị có chất lượng cao khiến tôi gián tiếp  được biết đến bởi gần 18 triệu chuyên gia toàn thế giới.

ScreenShot748

Như đã nói trong bài viết trước đây về Nhân Sự [3] mà chỉ sau khi được LinkedIn gởi email trực tiếp mời tham gia viết bài, tôi mới đăng bài viết bằng tiếng Anh của mình, và tiếp theo sau đó là một bài khác cũng bằng tiếng Anh về đề tài lời khuyên dành cho người học tiếng Anh [4]. Gần đây nhất, vào ngày 23-01-2015 tôi đăng bài “Tác Động Của Quảng Cáo Tại Việt Nam”, và đến nay đã có 50 doanh nhân nước ngoài tìm đọc.

ScreenShot749ScreenShot757

Nay tôi xin đăng lại bản tiếng Anh của bài mới này như dưới đây để đáp ứng nhu cầu của sinh viên muốn đọc bài tiếng Anh thể loại khảo cứu nghiêm túc (formal & non-fiction). Kính xin bạn đọc vui lòng xem phần nghĩa tiếng Việt trước. Trân trọng cảm ơn nhiều.

*********

A) Phần Nghĩa Tiếng Việt

(trích từ luận điểm của Hoàng Hữu Phước tại Đại Học Curtin, tháng 8 năm 2006)

Dịch vụ quảng cáo nằm trong số những ngành kinh doanh đem lại lợi nhuận kếch xù trong thế giới hiện đại; tuy nhiên, có những cách thức mới đơn giản hơn nhiều và tốn kém ít hơn rất nhiều nhưng lại có hiệu quả một cách thuyết phục cho các mục đích tương tự, đặc biệt hấp dẫn đối với một số thị trường nhạy cảm như Việt Nam và / hoặc tại thời điểm khi môi trường kinh doanh đang bị bủy vây tứ phía trong sự hỗn loạn của lạm phát, giảm phát, suy thoái kinh tế, và tất cả các cơn sốt bùng nổ bong bóng của nền kinh tế và các quyết định khôn ngoan từ khung cảnh như thế sẽ bao gồm cả việc chi tiêu hợp lý cho khâu quảng cáo. Trên một bình diện nhỏ hơn nhưng cụ thể hơn, các khía cạnh văn hóa sau về phản ứng của người dân Việt nói chung cần được các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam lưu ý trước khi phát sinh bất kỳ ý tưởng thăng hoa nào đối với việc chi cho một quảng cáo tại thị trường đặc biệt này.

Đầu tiên và trước hết, đa số người dân bình thường của Việt Nam coi quảng cáo đăng trên báo chí là sự phí phạm tiền bạc. Trước khi đọc báo, người ta lấy các trang quảng cáo bỏ qua một bên và dùng những trang này khi cần có cái gì đó để gói cái gì đó hoặc phục vụ cho việc gom rác thí dụ như gom thứ mà thú cưng của họ thải ra. Nhiều bà nội trợ sử dụng các trang quảng cáo để bán ký lô cho người thu mua ve chai để có thêm ít tiền nho nhỏ. Tại Tp Hồ Chí Minh, nhiều người thậm chí còn biểu lộ sự bực bội mỗi khi nhận được tờ báo mới vì báo ở đây được bán như mớ hổ lốn với các trang quảng cáo in riêng rẻ nhưng được đút hét vô tội vạ vào tờ báo không theo thứ tự số trang khiến tờ báo cứ như một sản phẩm kỳ quái dù thuộc một ngành cao cấp của công nghiệp truyền thông. Nếu muốn đặt quảng cáo trên báo, sẽ là sự khôn ngoan nếu bạn hoặc đòi mức giá khoảng một phần mười lăm của giá công bố hoặc đòi đăng miễn phí.

Vấn đề tiếp theo là các quảng cáo thông qua các kênh truyền hình. Do hiện nay có rất nhiều kênh miễn phí (gói hàng trăm kênh với giá rẻ mạt) tại Việt Nam, ngay khi người xem nhìn thấy một quảng cáo xuất hiện, họ ngay lập tức sử dụng điều khiển từ xa để lướt qua kênh khác. Điều này trở nên tồi tệ hơn một cách thảm họa hoặc trở thành tồi tệ nhất nếu một quảng cáo sản phẩm chen không đúng lúc vào mạch diễn tiến của một phim truyện ưa thích của người xem, khiến họ giận dữ, làu bàu nguyền rủa cả Nhà Đài và Nhà Sản Xuất Sản Phẩm đang được quảng cáo. Các doanh nghiệp đặt quảng cáo phát sóng truyền hình có thể trong một chừng mực nào đó không đạt được mục tiêu mong muốn; do đó, chi tiêu như vậy sẽ gây hại rất nhiều chứ không chỉ đơn giản là sự lãng phí đầu tư.

Vấn đề thứ ba có thể xảy đến với quảng cáo bằng cái gọi là nhóm phức tạp của nào là bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo trực tuyến, quảng cáo với người nổi tiếng, quảng cáo qua tài trợ, vân vân và vân vân. Việt Nam có biết bao khu vực đô thị đông nghẹt dân cư nơi nảy sinh ra bao ý tưởng quảng cáo lạ lẫm. Tuy nhiên, với hàng triệu xe hai bánh chạy ầm ầm từ mặt trời mới mọc đến lúc mặt trời mọc lại xịt ra khói khiếc nghẹt thở và còi xe kêu inh ỏi một cách thiếu kiên nhẫn giữa ùn tắc ùn ứ ùn ùn giao thông, thì các bảng quảng cáo ngoài trời sẽ khó có ai trong số những người đi xe máy đang tức giận quan tâm. Còn quảng cáo trực tuyến ư? Bạn có thể làm với trực tuyến nếu khả năng của bạn là để bán các mặt hàng nhỏ cho giới thiếu niên, những người mà sáng nào cũng xòe tay xin cha mẹ cho ít tiền mặt. Quảng cáo với người mẫu này nọ cũng không ăn thua, đơn giản vì một tỷ phú ở Việt Nam có thể mua một chiếc Roll-Royce qua việc ký hợp đồng nhập khẩu trực tiếp mà không thèm đến nhìn bất kỳ người nổi tiếng nào; còn các hội chợ triển lãm ô-tô thu hút đám đông thanh thiếu niên đến chỉ để chụp ảnh với người mẫu, thu gom các catalog cùng quà tặng, và đương nhiên sẽ không mua bất kỳ chiếc xe ô-tô nào, bất kể giá cả cao thấp ra sao. Việc quảng cáo qua tài trợ của công ty có thể có tác dụng trong một chừng mực nào đó, thí dụ như trường hợp của LG đã hỗ trợ tài chính một cách bền bỉ  cho gameshow trường kỳ của Đường Lên Đỉnh Olympia giúp quảng bá thành công thương hiệu của Hàn Quốc nói chung ở Việt Nam – tức là tất cả các công ty Hàn Quốc đều được hưởng lợi chứ không riêng gì LG.

Từ những điều nêu trên,  ta thấy ý nghĩa của quảng cáo có thể nói vắn tắt là nó có thể cần thiết nếu dành cho các sản phẩm mới của một nhãn hiệu mới hoặc cho sản phẩm mới của các doanh nghiệp mới. Đây là nói về doanh số bán hàng nhờ quảng cáo, chứ nếu về những gì không-liên-quan-đến-tăng-lượng-hàng-bán thì lại là một câu chuyện khác.

Hãy lấy P&G làm ví dụ, vì công ty này đã đạt kỷ lục đầu tư “khủng” cho khâu quảng cáo và có lợi nhuận “khủng” nhất tại Việt Nam trong năm 2004. Nếu P&G đạt kỷ lục về doanh số bán, đó  không có nghĩa là nhờ họ đầu tư rất lớn vào  quảng cáo, bởi vì cách suy nghĩ như thế là cực kỳ xằng bậy, vì rằng phải chăng nếu là chủ một donah nghiệp thì bạn chỉ cần bỏ tiền ra quảng cáo nhiều hơn P&G để bán được hàng nhiều hơn P&G? Thật là vô lý. Đó cũng là việc sai vì bạn đơn giản hóa một cách tối đa cho rằng ý nghĩa của sự cạnh tranh là đặt hết tầm quan trọng vào tay nhà quảng cáo chứ không vào chất lượng và  sự khả dụng của, cùng công tác hậu mãi dành cho sản phẩm của mình. Thật là hoang đường. P&G thành công đơn giản chỉ vì họ là công ty lớn lớn với sản phẩm thật đa dạng, và hàng của họ bán với giá rẻ “gây sốc” rất phù hợp với hầu hết các bà nội trợ có thu nhập thấp – ắt do theo trào lưu triết thuyết Đáy Kim Tự Tháp hô hào. P&G cũng dành rất nhiều tiền cho quảng cáo. Nhưng hai điều này là hoàn toàn chẳng dính dáng gì với nhau. Đối với các công ty rất lớn, quảng cáo hoàn toàn là một cách đầu tư vào thương hiệu riêng của họ để giá cổ phiếu của họ tốt hơn trong thị trường chứng khoán. Coca-Cola đã không có công bố lãi bất kỳ ở Việt Nam trong hàng chục năm, nhưng lại đầu tư rất hào phóng trong hoạt động quảng cáo với các chiến dịch quy mô toàn quốc và mở rộng kinh doanh cũng trên quy mô cả nước Việt Nam. P&G đã chi nhiều cho quảng cáo, đơn giản là làm cho thương hiệu của mình nổi bật một cách ấn tượng, khiến lu mờ tất cả các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những doanh nghiệp rất nhỏ, siêu nhỏ, trong nội địa. Do đó, quảng cáo thực tế không đóng bất kỳ vai trò quyết định nào trong việc thúc đẩy doanh số bán hàng, trừ việc loại trừ khả năng bán hàng của đối thủ cạnh tranh thuộc bất kỳ “kích cỡ” (nhỏ, vừa, rất nhỏ, siêu nhỏ) nào. Tóm lại, có nhiều cách để một doanh nghiệp để thành công về tài chính mà không cần bất kỳ sụ chi phí triền miên nào cho quảng cáo. Đối với các doanh nghiệp này, quảng cáo là cần thiết khi các họ mới thành lập hoặc khi họ vừa có sản phẩm mới để giới thiệu đến người tiêu dùng tiềm năng. Đây là tất cả. Chắc chắn là như vậy. Hoàn toàn chỉ có thế. Chỉ có thế, mà không có gì khác cả.

Và cuối cùng song không phải là phần kém quan trọng nhất, ai cũng biết rằng một sản phẩm “đàng hoàng” bao giờ cũng cần rất nhiều thời gian để thử nghiệm lâm sàng hầu có kết quả chính thức được công bố. P&G và các đối thủ cạnh tranh ngang hàng với họ tung ra thị trường hàng ngàn loại dầu gội hoặc sữ tắm hoặc kem chăm sóc da hoặc mặt hoặc làm trắng, hoặc kem đánh răng, hoặc vô thiên lủng thứ tương tự với một tốc độ nhanh chóng đến không tưởng. Thậm chí trẻ em biết chắc chắn rằng quảng cáo luôn có phụ nữ với mái tóc dài xinh đẹp, nhưng những người này được thuê không phải vì họ đã sử dụng hiệu quả các sản phẩm ấy mà do họ đã sẵn có mái tóc đẹp tự nhiên hoặc nhà quảng cáo sử dụng các công cụ như Photoshop hoặc bằng bất kỳ phương tiện khác mà chỉ có Chúa biết còn P&G không bao giờ muốn biết. Kết quả là rất rõ ràng: các quảng cáo đưa thông tin không đáng tin cậy và thông tin bằng cách nào đó vào lúc nào đó ở tại nơi nào đó bị bóp méo hoặc không đúng sự thật (tôi không dám dùng từ xấu của “lừa dối”).

Vấn nạn trên khiến quảng cáo trở thành chủ đề không dễ để tranh luận. Nếu mọi thứ phụ thuộc vào quảng cáo, tất cả các doanh nghiệp Việt Nam nên đóng cửa công ty của họ và không bao giờ trở lại thế giới kinh doanh. Hãy để các công ty nước ngoài với vốn to và chính sách quảng cáo mạnh mẽ làm tất cả công việc kinh doanh ở đây và chúng ta người bản xứ chỉ nên làm người tiêu dùng. Bất kỳ ai cũng có thể đánh bại P&G và đồng nghiệp của họ một cách dễ dàng và tuyệt đối, nếu người đó cũng quan tâm chế tạo ra dầu-gội-và-đủ-thứ của riêng mình. Đây không phải là bởi vì người ấy có năng khiếu hay tài năng bẩm sinh, nhưng để đánh bại kẻ lãng phí tiền “khủng” để bán sản phẩm giá rẻ trong nhiều thập kỷ, người ấy chỉ cần đừng dao động, có quyết định sáng suốt, đúng thời điểm mà thôi. P&G thành công vì họ “hy sinh” tiền của trong một thời gian ngắn nhờ vào sự chết yểu của các doanh nghiệp địa phương tại bất kỳ quốc gia nào P&G hùng hổ lấn sân vào chinh phục. Nếu những người địa phương cố gắng trụ được lâu hơn, P&G cùng bầy đoàn tương cận như họ chắc chắn sẽ tiêu tùng do không ai có thể lãng phí tiền bạc chẳng hạn trong hai thập kỷ liên tiếp chỉ để bán sản phẩm giá rẻ cho các bà nội trợ của Việt Nam.

Việc chia sẻ ý kiến trên chỉ là để đặt ra một câu hỏi về tầm quan trọng thực sự của quảng cáo và khẳng định các quảng cáo hoành tráng không phải là yếu tố quyết định tác động đến sự thành công của một doanh nghiệp tại Việt Nam. Chẳng  có ai thực hiện bất kỳ cuộc điều tra nào để xem những phương pháp quảng cáo nào mà Khương Tử Nha của Trung Quốc cổ đại của thế kỷ 11 Trước Công Nguyên đã áp dụng để làm cho Cơ Xương dù cách xa hàng chục ngàn dặm vẫn bị thu hút tìm đến túp lều ọp ẹp xiêu vẹo hạ mình thỉnh ông lão hơn bảy mươi tuổi này về làm Tề Thái Công giúp Tây Bá và con của vị này là Chu Vũ Vương đánh tan Trụ Vương xóa sổ triều đại nhà Thương để lập nên nhà Chu kéo dài hơn hơn 800 năm. Đó có phải là cách quảng cáo truyền khẩu chăng? Hay là cách quảng cáo phóng đại nổ liên thanh? Hoặc phải chăng quảng cáo bằng cách dựng bảng ngoài trời, dán áp-phích, treo băng-rôn, phát tờ rơi, vân vân và vân vân, ở cái thời mà truyền hình, phát thanh, tin nhắn điện thoại di động, và email rất cần một cuộc hành trình “quay trở lại tương lai” mới có? Nói theo cách của dân Châu Á, à cũng nói theo thực tế có tham khảo các khía cạnh con người và văn hóa Việt thì con đường đi đến trái tim, tức cảm nhận cảm tình, thì quan trong hơn rất nhiều so với đến đôi mắt và đôi tai, trong khi quảng cáo hiện đại lại chú trọng vào đầu óc vốn bị tác động chỉ bởi  những gì mắt thấy, tai nghe.

Để có các tư duy chiến lược hầu chiếm thị phần lớn đối với một sản phẩm đặc thù tại thị trường Việt Nam trên cơ sở hoạt động ít tốn kém, các bạn có thể tìm đến MYA BizCorp của Việt Nam.

*********

B) Phần Nguyên Tác Tiếng Anh

On Advertisement Impact in Vietnam [5]

(Excerpt from a speech by Hoang Huu Phuoc at Curtin University, August 2008)

Advertisement services are amongst the lucratively profitable businesses in the modern world; however, there come new ways of much simpler and much cheaper but much convincingly effective approach for the same purposes particularly attractive to some sensitive market(s) like Vietnam and/or at a time when the business environment is besieged with chaos of inflation, deflation, recession, and all the boom-bubble-bust fever of the economy and the wise decision thereof and there from includes a sound spending for advertisement. In a smaller but more specific scope, the following cultural aspects of responses of the Vietnamese people in general need be noted by foreign businesses operating in Vietnam before any fancy ideas of placing an advertisement can be generated in this particular market.

First and foremost, the majority of people in the street of Vietnam consider advertisement in prints a waste of money. They remove the ads pages from newspapers before reading the news, and use the removed whenever they need some “things” for wrapping other “things” or for any other hygienic purposes e.g. collecting “things” from their pets. Many housewives use ads pages for selling by kilo to scraps buyers for some extra petty household income. Many people even show their irritation at the fresh newspaper at hand, simply because “all” newspapers in Hochiminh City are being sold in a mess, not in page number order and with ads pages printed separately but inserted into the stuff making each and every newspaper an oddly bulky product though of a so-called high-profiled industry of the mass media. If you want to place an ads on newspapers, it is wise only if it is at one-fifteenth of the announced cost or at no cost at all.

The next issue is of ads via television channels. As there are now so many channels availably free in Vietnam, as soon as viewers see an ads appear, they immediately use remote controls to surf where else. It gets calamitously worse or becomes the worst if a product ads comes improperly intervening the flows of the story of a feature film of viewers’ preference, making them angrily grumbling and using big bad words against both the TV Company and the product manufacturer. The businesses placing orders for advertisement broadcast may to some extent not hit the target expected; hence, such expenditure is much more damaging than just a simple waste of investment.

The third problem may come to ads via the so-called sophisticated groups of billboards, online, celebrity branding, corporate sponsorship, and the like. Vietnam is full of densely populated urban areas whereat fancy advertisement ideas germinate. However, with millions of two-wheelers roaring from sun to sun emitting suffocating smokes and impatient horns laboriously honking in traffic jams, billboard ads seems unnoticeable by these angry motorcyclists. Online may be yes if your capability is to sell small items to teens who beg their parents for petty cash early every morning. Neither celebrity branding is useful, simply because a billionaire in Vietnam may purchase a Roll-Royce under a direct import shipment contracted without the need to see any celebrity; whilst automobile trade fairs attract crowds of teens to come only to take photos with celebrities, to collect catalogues and to grasp giveaways, and obviously not to buy any car regardless of whatever price rate it could be. Corporate sponsorship may work to some extent, e.g. the case of LG and its faithful financial support to the long-lasting game show of The Path to the Peak of Olympia successfully promoting the branding of Korea in general in Vietnam – i.e. all Korean companies get benefited instead of LG individually separately.

In view of all the above, the meaning of advertisement in brief then is that an ads may be required only if it is for new products of established brands or for new products of new businesses. This is about sales. But for non-sales, the story may differ.

Take P&G for an example as it set records of highest ads investment and highest profit in Vietnam in 2004. If P&G makes records on sales, it does not mean this is thanks to their huge investment in ads, because this way of thinking is preposterously inappropriate as it will mean if you are an owner of a business you have to invest much more money than P&G in order to have more sales than P&G do. This does not make sense. It is neither a correct way because it simplifies to the utmost the meaning of competition by putting so much importance into the hand of advertisers rather than in the quality and usability of products and after-sale services. It is imaginary. P&G is successful simply because it is big with diversifying ranges of products at….terribly cheap prices suitable to most low-income housewives – possibly as per the trend speculated in the Bottom of the Pyramid theory. P&G also spends a lot of money for ads. But these two things are absolutely not intertwined. For very big companies, ads is purely a way to invest into their own brands which in return may make their stock prices better in securities markets. Coca-Cola has not been announcing any profit earnings in Vietnam for dozens of years, but it has invested so generously in advertisement activity campaigns countrywide and in expansion of their business also countrywide as well. P&G spends a lot for advertisement simply because of making its brand impressively overshadowing all competitors – particularly the very small domestic ones. Therefore, advertisement practically does not play any decisive role in promoting sales but in eliminating the capability of sales of competitors of whatsoever sizes they are. In a word, there are ways for a business to financially successful without any non-stop advertisement expenditures. To these businesses, ads is required when the businesses are established and when they have new products which they want to introduce to the prospect consumers. This is all. Definitely all. Absolutely all. Only this, and nothing more.

And last but never the least, people know very well that any “righteous” product takes time for clinical testing with officially announced results. P&G and their peer competitors launch to the market thousands of types of shampoos or bath cream or skin care or whitening items or toothpaste or the like at a seemingly imaginary speedy rate. Even kids know for sure that the ads is always with ladies with beautiful long hair but these ladies are hired for photos not because they effectively use such products but just because they either already have beautiful hair naturally or seek for help from tools like Photoshop or by any other means only God knows and P&G never wants to know. The outcome is very clear: ads bring non-reliable information and somehow sometime somewhere distorted or untrue information (I dare not use the bad word of “cheating”).

The above makes the topic of ads a very difficult one for debate. If things depended on ads, all Vietnamese businesses should have closed their companies and never entered the business circles again. Let foreign companies with huge capital and strong ads policies do all the business here and we local people should be consumers only. Anybody can beat P&G and its peers easily and totally, if he or she is interested in establishing a shampoo-and-the-like business of his or her own. This is not because this “anybody” is so gifted or talented, but because to beat a person who wastes huge money for selling cheap products for decades, he will need only a sustainable practice and wise decision at appropriate time. P&G is successful because it “sacrifices” its money just in a short time thanks to the dying-so-soon of local businesses at any country P&G has boldly stepped in to conquer. If local ones try to survive, P&G and the like will definitely be in problems as they can never waste money for say two consecutive decades only to sell cheap products to housewives of Vietnam.

To share the above opinion is just to pose a question of the true importance of advertisement and to affirm fancy advertisement is not the decisive factor influencing the success of a business in Vietnam. Nobody has ever made any survey to see what method of advertisement Jiang Ziya of Ancient China of the 11th century BC had applied to make the King Wen of Zhou dozens of thousands of miles away so much attracted that His Majesty came to the ramshackling hut of the humble seventy-year-of-age man to invite him to be the Royal Prime Minister and the Great Duke to help King Wen then his son King Wu smash then overthrow King Zhou of Shang Dynasty to establish the strong state of the Zhou lasting for more than 800 years. Was it common word-of-mouth advertising? Was it big-mouth advertising? Or was it via billboards, posters, banners, printed media, or flyers, or the like, at the time when TV, radio, SMS, and email were in dire need of a “back-to-the-future” journey? Asia-orientedly speaking, and as-a-matter-of-factly speaking with reference to Vietnam’s people and her cultural aspects, the way to the heart of customers, i.e. the deep feeling, is much more important than to their eyes and ears; whereas modern advertisement’s focuses are on their mind which is under the influence of seeing and hearing only.

Strategic thinking of winning the sizeable market shares for a particular product in Vietnam’s market on the basis of cost-cutting modus operandi is openly available at MYA BizCorp of Vietnam.

Hoang Huu Phuoc

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1]  Hoàng Hữu Phước. 14-7-2014. Blog và Thùng Nước Đá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/14/thung-nuoc-da-va-blog/

[2]  Hoàng Hữu Phước. 14-8-2013. Mạng Xã Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/14/mang-xa-hoi/

[3]  Hoàng Hữu Phước. 16-01-2015. Tips for Learners of English – Lời Hướng Dẫn Dành Cho Người Học Tiếng Anh – bài viết song ngữ Anh và Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/16/tips-for-learners-of-english/

[4]  Hoàng Hữu Phước. 27-8-2014. Luận Về Công Tác Nhân Sự: Thế Nào Là Trung Thực – To Lie Or Not To Lie:It’s An HR Question. – bài viết song ngữ Anh và Việt. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/27/hoang-huu-phuoc-noi-ve-cong-tac-nhan-su/

[5]  Hoàng Hữu Phước.  On Advertisement Impact in Vietnam. Bản tiếng Anh đăng lần đầu trên Yahoo!3600, và đăng lại ngày 19-8-2008 trên http://www.emotino.com/bai-viet/16884/on-advertisement-impact-in-vietnam.

Advertisements

Ê Bồ! Sao Muốn Về?

Tiểu phẩm hài khó cười trên thiên thạch

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính báo: Đây là tác phẩm trên thiên thạch 67P/Churyumov-Gerasimenko, do đó mọi sự trùng hợp về tên tuổi hay tình tiết – nếu có – đều là sự ngẫu nhiên totally coincidental ngoài ý muốn của tác giả và do đó tác giả hoàn toàn không chịu trách nhiệm về “chứng minh sự thật” cũng như về bất kỳ cáo buộc nào có liên quan đến bài viết này kể từ dấu chấm này trở xuống: .

Ngày 12 tháng 11 năm 2014 vừa qua đánh dấu một sự kiện trọng đại khi Thiên Thạch 67P/Churyumov-Gerasimenko (đặt theo tên hai nhà thiên văn Liên Xô đã phát hiện ra nó năm 1969) hình sư tử đá có diện tích gần 18 km2 lao với vận tốc 38km/giây tức 135.000 cây số/giờ đón nhận sự đáp xuống “y hẹn” và an toàn của “tàu đổ bộ” Philae của sứ mạng Rosetta sau chặng đường kéo dài một thập kỷ rượt đuổi trong vũ trụ kể từ lúc rời địa cầu ngày 02-3-2004 cho một cuộc hội ngộ lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại giữa một thiết bị của con người với một thiên thạch. Những bức ảnh đã được chụp và vượt khoảng không gian xa vời vợi để về đến Trái Đất:

 ScreenShot756

Nhưng có một sự thật mà loài người ắt ngạc nhiên khi biết thiên thạch 67P/Churyumov-Gerasimenko là một phần nhỏ tách ra từ vụ nổ tung của một hành tinh thuộc một thiên hà xa lạ có sự tồn tại của những sinh vật giống hệt con người nhưng đã bị tận diệt bởi tự thân hủy phá do chuỗi biểu tình có vũ trang vũ khí lây-dơ, hóa học, kèm vi trùng, hay do một va chạm khủng khiếp của một thiên thạch lớn hơn 67P/Churyumov-Gerasimenko. Vùi sâu trong các khe nứt của thiên thạch lộ ra vài trang phiến đá sét bề mặt có ghi lại một tình tiết rất hấp dẫn có vẻ như thuộc về sử biên niên của thiên thạch này, mà chiếc kính lúp cực mạnh Hubble nhắm vào khu vực đánh dấu đỏ sẽ cho thấy nội dung sử liệu ngắn đó

 ScreenShot757

không những đem lại cho con người sự ngạc nhiên về sự hiển nhiên của một sự sống khác thực sự đã từng tồn tại trong vũ trụ, mà còn cho thấy đúng là có bàn tay của Đấng Thiêng Liêng do sinh vật đã từng tồn tại trên phần thiên thạch này có ngôn ngữ na ná như tiếng Việt trên Trái Đất, mà bản ghi lại sau không cần phải qua công cụ dịch thuật của Google theo mức độ giới hạn tốt nhất có thể của công cụ ấy, dù có những từ diệp ngữ kỳ lạ không thể được dịch ra tương đương.

Bắt đầu trang sử liệu trên đá phiến sét của Thiên thạch (từ chữ “thủa” đến chữ “hâm” tổng cộng 934 từ trong 37 câu)

Thủa ấy vào năm ánh sáng thứ 50729 tỷ trên thiên thạch 67P có một sự kiện rằng tại cơ quan gọi là “quốc vụ viện” (ắt tương đương “đu-ma quốc gia” hay “qu‎ý tộc viện” hoặc “thứ dân viện”) có sự căng thẳng giữa hai vị, một từ Qu‎ý Tộc Viện tên Cha Ni Cha Ni và một ở Thứ Dân Viện tên Lân Tằng Lân Tằng. Nguyên Cha Ni Cha Ni do hưởng thụ quá xá vẫn chưa cho là đủ nên đề nghị Viện cho hình thành một nghề mà họ cho là “xưa như trái…67P” cho phép nữ giới bán dâm công khai để triều đình vừa có tiền thu thuế trả lương khủng cho các quý tộc, vừa giúp các đại quan như nguyên Tổng Thanh Tra Nhà Cái xây dinh thự đẳng cấp chà bá, vừa để các quan chức này công khai thoải mái mua dâm để vừa sướng ngất sướng ngây tới bến với nguồn hàng cung cấp nhiều-ngon-rẻ-đẹp, vừa được tưởng thưởng Quân Công Bội Tinh Đè Nhành Da Liễu vì đã có lòng từ thiện vừa giúp tăng nhiều thu nhập cho chị em bán dâm vừa giúp giới này vác mặt lên trời vì đóng thuế cứu nước khỏi đói và có quyền cười nhổ toẹt vào mặt các nữ nhà giáo nghèo khổ đoan chính không chịu kinh doanh “vốn tự có”. Nhưng sự việc chưa ngừng ở đó, với mưu kế nhằm làm dân chúng bị phân tâm rồi quên phéng chuyện mua bán dâm sặc mùi phân biệt giới tính (vì không nhắc đến quyền tự do kinh doanh vốn tự có của nam nhân và của các nhân khác như chuyển giới nhânđồng tính nhân), vị nghị sĩ họ Cha tên Ni tung luôn hỏa mù rằng ông ta muốn ưu ái cho dân chúng được tự do, muốn tỏ tình tức biểu lộ tình cảm tức biểu tình thì cứ thế mà tỏ vô tư, chửi mắng triều đình cũng được, bôi nhọ lãnh tụ hay lãnh đạo đều được, No Problem mờ! Vị nghị sĩ họ Lân tên Tằng thuộc đảng Vần Di nghe vậy đã nhận ra dã tâm của đám Cha Ni Cha Ni thuộc đảng Lá Cáu bèn viết ngay sớ báo với dân (sách có nói “quân vi khinh” nên đã là sớ thì phải báo cáo với “dân” chứ không với vua) rằng nghị sĩ Cha Ni Cha Ni ăn nói tầy bậm tà bậm. Thế là nghị sĩ Cha Ni Cha Ni  dùng Ipeccana tức I-pẹc-cà-na (tiếng Địa Cầu gọi là Ipad) triệu tập các sứ thần thiên lôi mà ngôn ngữ 67P gọi là Nhào Bá Hang Mai. Khi các Nhào Bá nhào đến bá lấy cổ mông-xừ Lân Tằng Lân Tằng để tra tấn (từ ngữ dữ dội dùng trên 67P, chứ ở địa cầu gọi là “phỏng vấn” nghĩa là “làm cho phỏng rồi lấy nùi giẻ quấn tức vấn lại”), và nhân loại của 67P có đoạn đối thoại sau khắc bằng tia la-de (tia laser, hổng phải chai La Bierre tuy không cao nhưng ai cũng phải ngước nhòm) trên đá phiến sét:

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Chào chư vị Nhào Bá Hang Mai. Các vị đến đây là để…

Nhào Bá Hang Mai: Sao, chịu xin lỗi chưa?

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Các vị muốn nói là…

Nhào Bá Hang Mai: Chừng nào mi xin lỗi vì đã chửi Đức Ngài Cha Ni Cha Ni tôn kính là cái đồ tầy bậm tà bậm hử?

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Ý anh là về cái vụ tự do mua bán dâm và tự do biểu tình mà tôi đã nói ở…

Nhào Bá Hang Mai: Úi giào, sao nói hoài về dâm về tình vậy hở? Bọn này có nói gì về dâm dục với tình dục đâu! Đúng là bịnh tâm thần, sao vẫn chưa trả lời có chịu xin lỗi hay không hở cái thằng điên?

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Nhưng mà…

Nhào Bá Hang Mai: Muốn chống lại đấy phỏng? Nói điếc tai quá, có chịu xin lỗi không?Đây không có thì giờ chờ!

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Nhưng luật nào nói rằng từ “tầy bậm tà bậm” là từ chửi?

Nhào Bá Hang Mai: Lại thế rồi! Có biết CIA là gì không hở?

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Sao lại lôi xứ Huê Cờ vào đây?

Nhào Bá Hang Mai: Vừa hâm vừa dốt! Này nhé, cờ i ki sắc ký, a anh nờ anh, tức là k‎ý đầu anh, tức búa anh một trận, ném đá cho tới hết đá luôn! Sao, có chịu nói xin lỗi không hử?

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Sao mà nói thế được?

Nhào Bá Hang Mai: Rồi, thế là xong! Có phải chịu ngay từ đầu có tốt không? Không “nói”xin lỗi đồng nghĩa với “sẽ viết” thư xin lỗi! Có bằng chứng ghi âm rồi đấy nhé. Viết rồi gởi sớm đi. Guốc bay. Hỡi cộng đồng tác chiến Nhào Bá Hang Mai và Nhào Bá Báp Lá, về thôi! Cùng nhau ghé Đức Ngài Chi Na báo cáo rồi cùng nhau làm chầu thịt chó Thẹ Nghì. Nhớ nhắc tao xin bản photocopy thư xin lỗi để tung lên mạng khắp hành tinh. Cưỡi búa bay thôi!

Nghị Sĩ Lân Tằng Lân Tằng: Ê Bồ! Sao Muốn Về?

Nhào Bá Báp Lá và Nhào Bá Hang Mai: Xong thì về. Ở lại làm gì hử thằng hâm?

 

Đọc xong câu chuyện “hài” trên, tôi vẫn không hiểu nó hài ở chỗ nào! Đúng là sinh vật người trên thiên thạch 67P/Churyumov-Gerasimenko có kiểu hài thật khó cười. Song, tôi lại nghi ngờ cái ẩn ý nào đó biết đâu vẫn còn là…vẻ đẹp tiềm ẩn giống đất nước Việt Nam kính yêu của tôi trên Trái Đất chăng, nên bắt đầu ra sức tìm hiểu. Và khi phát hiện ra sự thật, tôi phá ra cười trong…một giây! Úi chu choa ui! Người 67P thật là sâu sắc! Y chang người Việt trên Trái Đất! Hóa ra sự thật là như thế này:

Nguyên tổ tiên của dân 67P có một vị tên Gaga Gaga rất giống nghệ danh của nữ ca sĩ Lady Gaga quậy tung trời đất của Địa Cầu, nhưng có giai thoại lại giống y một nhà khoa học cũng của Địa Cầu, có cái tên cũng có hai chữ Ga và Ga, đó là quý‎ ông Galileo Galilei!

Galileo Galilei là cái đức ông vì dám nói Trái Đất quay quanh Mặt Trời nghịch ý Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo nên bị Tôn Giáo Pháp Đình dùng chiến thuật đánh hội đồng, tụ tập đám đông bầy đoàn xử bức kẻ cô đơn, lạm dụng danh xưng tổ chức đoàn thể truyền thông và tổ chức nghề nghiệp bắt phải xin lỗi và phải nói ngược lại, nếu không sẽ bị đóng nõ đít (dùng súc gỗ tròn vớt nhọn hai đầu, cắm một đầu vào hậu môn để đóng ngập sâu vào ổ bụng tội nhân, rồi ném mạnh cắm đầu kia của súc gổ xuống đất để dựng đứng thân thể giãy giụa của tội nhân để răn dạy thiên hạ đừng theo tôn giáo nào không phải Thiên Chúa Giáo). Galileo Galilei đành tung chiêu xin lỗi bằng miệng rồi k‎ý tên lên “thư xin lỗi” thừa nhận đúng là Mặt Trời xoay quanh Trái Đất, nhưng khi được thả ra về vừa bước ra khỏi cổng Nhà Thờ ông đã lẩm bẩm “Eppur si muove!” mà máy nghe lén của Trung Ương Cục Tình Báo Hy Kòa (gọi tắt là CIA rất giống cơ quan K‎ý Đầu Anh của 67P) ghi lại được từ hệ thống định vị liên vệ tinh.

 Galileo Galilei

Eppur si muove khi phát âm sẽ thành “Ê bồ (ơi), sao (lại) muốn về?”

Nghĩa là trái đất vẫn quay (quanh mặt trời).

Nghĩa là sự thật vẫn là sự thật.

Nghĩa là đứa tầy bậm tà bậm thì sự thật vẫn là đứa tầy bậm tà bậm!

Nghĩa là đứa độn bất khai thì sự thật muôn đời vẫn cứ là đứa độn bất khai!

Nghĩa là đứa lưa dăn xớ chọ thì sự thật muôn đời vẫn cứ là đứa lưa dăn xớ chọ!

 Nghĩa là nếu dùng loại kính thiên văn đã phát hiện dấu tích trên phiến đá sét trên thiên thạch 67P/Churyumov-Gerasimenko thì giữa những dòng viết trên thư “xin lỗi” sẽ thấy dòng chữ  “ta xin tha lỗi cho ngươi kẻ bất tài vô dụng đã đá lộn sân chơi vốn chỉ dành cho các nhà hùng biện kiệt xuất, không dành cho tay mơ không dám bút chiến trực tiếp mà hoặc dùng đám nhào bá hang mai để tra tấn tức phỏng vấn, hoặc huy động số đông của đề thoản, hoặc chạy đi méc bố méc mẹ!”

Ông Lân Tằng Lân Tằng của Thiên Thạch 67P thật thâm thúy, biết dùng vũ khí ngôn ngữ của tiền nhân Gaga Gaga giống y chang quý ông Galileo Galilei của Địa Cầu!

Nhưng than ôi, cái cười của tôi khi phát hiện sự thật thú vị về cách chơi xỏ của Lân Tằng Lân Tằng lại nhanh chóng đưa tôi đến trạng thái trầm mặc thiền tịnh vì một suy tư khác lại ập đến: vì sao cái có thể một thời là hành tinh 67P/Churyumov-Gerasimenko cực thịnh ấy lại trở thành một thiên thạch hình thù cổ quái đến thế. Phải chăng do lao đi với tốc độ khủng khiếp nên mọi “sinh vật người” trên ấy bị đánh văng mất cái gọi là đức hạnh “người” để chỉ còn bè phái, lợi ích nhóm, tham tàn, mặt dầy, đạp chà chân lý, tầy bậm tầy bạ, hang mai, báp lá, để rồi chỉ còn tồn tại  những “sinh vật” giống y như nhau, tàn hại nhau cho đến “con” cuối cùng? Phải chăng những “sinh vật người” đàng hoàng của hành tinh ấy đã bỏ đi hết, có người lưu lạc thiên hà không bao giờ còn được tìm thấy, có người đáp xuống được một hành tinh nào đó và đang xây dựng lại từ đầu cái thế giới “người” mà ngày nào đó sẽ nhận được các tín hiệu thân thiện Trái Đất liên tục gởi đi vào không gian mấy chục năm nay kiếm tìm sự sống khác ngoài vũ trụ?

Đúng là một chuyện hài thật khó cười, chỉ thích hợp vởi khẩu vị dân 67P/Churyumov-Gerasimenko.

Dù sao cũng xin chúc mừng Sứ Mạng Rosetta của các nhà khoa học Châu Âu đã thành công tốt đẹp, gởi về nhân loại của địa cầu một chuyện hài thật khó cười ghi bằng tia lây-dơ trên đá phiến sét của nhân loại của thiên thạch 67P.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 26-01-2014. Tiểu Phẩm Trào Phúng Tết: Nhà Sử Học. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/26/tieu-pham-trao-phung-tet-nha-su-hoc/

Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc

Bài viết ủng hộ điểm thứ tư của mục số 2 (tăng cường công tác quản lý báo chí trong tình hình mới) trong phát biểu khai mạc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI ngày 05-01-2015

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 TuoiTre (4)

Năm 2014 đã nhường sự cai quản cho tân niên 2015.

Bức ảnh này là câu hỏi rất lớn của cuối năm 2014 khi tồn tại trên mặt tiền của một tờ báo loại mặt tiền của Thành phố Hồ Chí Minh:

 Tuoitre2

khi cho thấy cứ như là sự ghép hình thô kệch khi Thủ Tướng Matteo Renzi gần như bị kéo dài cánh tay phải để chạm lưng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, còn Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như bị kéo dài cánh tay trái để có thể từ xa vẫn có thể luồn tay sau lưng Thủ Tướng Ý Đại Lợi trước mắt thiên hạ ở Hội Nghị ASEM tại Milan. Còn bàn tay trái khổng lồ của Thủ Tướng Ý Đại Lợi dường như để chứng minh câu nói trong Lục Vân Tiên rằng “hễ người dị tướng, ắt là tài cao”.

Trước đó, trong tờ báo Xuân ra ngày 19-01-2014 của chính tờ báo “mặt tiền” ấy của Thành phố Hồ Chí Minh, tại trang 11 có bài trường thiên mang tựa đề Nhảy Với Sói của tác giả có cái tên Lê Nguyễn Minh, viết về cái gọi là “lợi thế ẩm thực Việt Nam” và có cho biết Giáo Sư Michael E. Porter lúc đến Việt Nam năm 2008 dự hội nghị về “cạnh tranh toàn cầu và thế mạnh Việt Nam” đã “gợi ý Việt Nam nên là bếp ăn của thế giới”. Đây là chi tiết hoàn toàn không bao giờ đúng, vì cái sự cố bi hài có liên quan đến nhóm từ “bếp ăn của thế giới” là nhân buổi thuyết trình về Marketing Mới Cho Thời Đại Mới của Giáo Sư Philip Kotler ngày 17-8-2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh[1].

Bất kỳ người Việt đoan chính nào của nước Việt cũng có quyền chính đáng muốn mong đất nước hùng cường, phồn vinh, hiện đại, văn minh. Báo chí phải thể hiện cái hùng cường, phồn vinh, hiện đại, và văn minh của đất nước. Thế nên, thử xem báo chí của các đại siêu cường quốc hoạt động theo bài bản nào để mong báo chí nước nhà lấy đó làm gương sáng để soi, để noi, để rọi, được chăng.

Tại các siêu cường quốc luôn có ít nhất hai nhóm truyền thông: Nhà nước và tư nhân. Do tại Việt Nam chưa hề có bất kỳ một tờ báo, một đài phát thanh, một đài truyền hình nào của tư nhân được phép hoạt động đưa tin tức thời sự trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nên ở đây sẽ chỉ nói về “truyền thông Nhà nước” ở các siêu cường quốc, còn chủ đề về khu vực tư nhân của báo chí sẽ được viết tiếp sau khoảng hai thập niên nửa.

Đài VOA của Liên Hiệp Các Tiểu Quốc À-Mê-Ri-Ka (USA) và BBC của Vương Quốc Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan (UK) đương nhiên có bản chất, thực chất, cốt lõi, và cốt yếu là của Nhà Nước của họ. VOA không bao giờ công kích hoặc chê bai hoặc nêu khuyết điểm trầm trọng nào của chủ trương, chính sách, nhà cầm quyền, và người ngồi trên đầu nhà cầm quyền của USA. BBC không bao giờ công kích hoặc chê bai hoặc nêu khuyết điểm trầm trọng nào của chủ trương, chính sách, nhà cầm quyền, và người ngồi trên đầu nhà cầm quyền của UK. VOA phát thứ ngôn ngữ phụ nào là nhằm tỏ uy quyền đang khống chế hoặc công khai dã tâm phá hoại đất nước nói ngôn ngữ ấy, tập trung công kích chủ trương, chính sách, nhà cầm quyền, và người ngồi trên đầu nhà cầm quyền của đất nước nói ngôn ngữ phụ ấy. BBC phát thứ ngôn ngữ phụ nào là nhằm tỏ uy quyền đang khống chế hoặc công khai dã tâm phá hoại đất nước nói ngôn ngữ ấy, tập trung công kích chủ trương, chính sách, nhà cầm quyền, và người ngồi trên đầu nhà cầm quyền của đất nước nói ngôn ngữ phụ ấy. Đó là đạo l‎ý cao nhất, có tính chuyên nghiệp cao nhất, và là cái logic thượng thừa trong ngành truyền thông chính quy chính thức của tất cả các siêu cường quốc: nhận tiền lương và tiền xây dựng cơ sở vật chất nếu duy chỉ của Nhà Nước thì phải cúc cung tận tụy phục vụ duy chỉ Nhà Nước, còn nếu có nhận thêm tiền tài trợ của Mafia thì phải cúc cung tận tụy phục vụ kèm thêm Mafia trong hệ chính quy.

Bất kỳ “nhà trí thức” Việt Nam nào thực thụ đã hấp thụ nền giáo dục phương Tây vốn rất rõ ràng và minh bạch khắp nơi trên toàn thế giới sẽ phải nhìn nhận rằng không bao giờ trên thế gian này tại các nước văn minh tiên tiến mà cơ quan ngôn luận của Nhà nước lại cố ra vẻ ta đây “độc lập” với Nhà Nước. VOA mà tập trung ủng hộ chính phủ Việt Nam và luôn mồm vu vạ chống đối chính phủ USA thì ngay cả truyện thần tiên giả tưởng cũng không hề có. BBC mà tập trung ủng hộ chính phủ Việt Nam và luôn mồm vu vạ chống đối chính phủ UK thì ngay cả truyện thần tiên giả tưởng cũng không hề có.

Thế Việt Nam có cần theo gương đại siêu cường quốc ở chỗ các báo đài tiếng nước ngoài của Việt Nam luôn phải là công cụ nhằm khống chế hoặc phá hoại đất nước nói ngôn ngữ mà Việt Nam đang phát ấy, tập trung công kích chủ trương, chính sách, nhà cầm quyền, và người ngồi trên đầu nhà cầm quyền của đất nước nói ngôn ngữ ấy? Không cần, vì Việt Nam chưa là đại siêu cường quốc nên chưa cần theo bài bản không theo thứ tự trước-sau của sự ưu tiên, nhất là cái tự do thêu dệt chuyện xấu xa của nước khác là thứ đặc quyền tự do ngôn luận chỉ dành riêng cho báo chí của đại siêu cường quốc tư bổn mà thôi.

Tờ báo “mặt tiền” đã nói ở trên cùng với tất cả các báo là của Đảng Cộng Sản Việt Nam, của Nhà nước Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ở Việt Nam, toàn bộ những gì là cơ quan ngôn luận chính thống đều là của Nhà Nước Việt Nam. Nguồn lực về tài chính, cơ sở hạ tầng và nhân lực do đó đều là của Nhà Nước ban cho, tức là từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách có từ Tam Quốc: tiền kinh doanh sinh lợi của quốc gia, tiền thuế thu của quốc dân, và tiền vay của quốc tế, mà tiền vay của quốc tế cũng được hoàn trả bằng tiền kinh doanh sinh lợi của quốc gia, tiền thuế thu của quốc dân, và tiền vay của quốc tế…khác.

Khi đã biết Báo (báo chữ, báo hình, báo nói, báo mạng) của nước ta là của ai, ta có thể dễ dàng đánh giá thật khách quan, không khách sáo, rất chính xác, cực kỳ chuẩn xác, về những vấn nạn nổi cộm của Báo, vì rằng nếu giật tít câu view vô tâm vô tư gây rối loạn dân tâm, phân rã dân tình, khinh thường dân trí bằng những thông tin sai lệch, ngụy tạo, lợi ích nhóm, theo đóm ăn tàn, và phụ lòng tin của chủ nhân, báo chỉ còn là sự tồn tại vô nghĩa lý của “truyền thông”, thứ mà tiếng Anh gọi là insignificant nonentity, mà thôi, tức là thứ chiếu dưới đáng bị vất sọt rác so với sản phẩm của cơ quan truyền thông VOA hay BBC vốn luôn tuyệt đối đúng khi phục vụ trung thành duy chỉ chính phủ của họ. Only this, and nothing more.

Chỉ có người hành nghề viết văn chính thức mới được gọi là nhà văn.

Chỉ có người hành nghề dạy học chính thức mới được gọi là nhà giáo.

Tương tự, chỉ có người hành nghề báo chính thức mới được gọi là nhà báo. Vậy nhà báo Việt Nam của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam là ai trong ngành báo nói chung mà xã hội loài người thường liệt kê đại để như:

(a) Kẻ buôn chuyện ngồi lê đôi mách nói về tất tần tật sự thật rác rưởi hoặc cái gần giống sự thật, hoặc cái được cho là sự thật, hoặc cái được bắt phải là sự thật, tức theo cái kiểu cách mà báo ở Sài Gòn trước 1975 gọi là mục “xe cán chó – chó cán xe”;

(b) Kẻ chuyên phục vụ loại báo lá cải viết về sự thật kiểu như nhân vật trong bài viết Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng[2];

(c) Chuyên gia mạng “chùa” giỏi rặn đẻ ra tin nhảm, viết láo, viết xạo, viết bôi nhọ các lãnh đạo Việt Nam cộng sản và bôi nhọ bất kỳ ai ủng hộ Việt Nam cộng sản và Cộng sản Việt Nam, học đòi kiểu tâm lý chiến rẻ tiền trước đây không những chưa bao giờ giúp chiến thắng cộng sản dù chỉ một lần cỏn con mà lại còn khiến đẩy nhanh hơn sự chiến bại của toàn bộ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, xóa sạch vĩnh viễn Việt Nam Cộng Hòa trên bản đồ thế giới; hay

(d) Nhà báo chính thống chính quy chính đạo chính danh chính nghĩa nói về những sự thật có tác dụng làm đẹp đời sống, đẹp môi trường sống, vinh danh đạo đức – danh dự – trách nhiệm, phổ biến phổ quát phổ cập nhân rộng nhân bản nhân văn nhân đạo để xã hội tốt hơn nhờ con người tốt hơn giúp đất nước mạnh hơn chống chọi lại tất cả các thế lực thù địch một cách hiệu quả hơn bất kể nó đến từ đâu, từ quân thù xâm lược, từ bọn phá hoại từ hải ngoại, từ kẻ chống lại chế độ của đất nước này, từ bọn bá láp bêu xấu đất nước này, từ đám tham nhũng hối lộ làm ô danh đất nước này, từ lũ lưu manh đội lốt tôn giáo – nhân sĩ – trí thức – nhân quyền – tự do – dân chủ – lương tâm để bôi nhọ đất nước này.

Thế thì nhà báo Việt Nam đương nhiên phải là những nhà báo chính thống chính quy chính đạo chính danh chính nghĩa mà công việc đạo đức, đạo lý, chuyên nghiệp, logic là chỉ sử dụng tài năng nghiệp vụ để viết về, nói về điểm d ở trên. Nhà báo cách mạng, do đó, không phải là những chuyên gia sales giúp tòa soạn mở rộng phụ trang quảng cáo, gia tăng doanh thu quảng cáo, gia tăng 3D tức chiều rộng chiều sâu và chiều cao của duy chỉ tòa nhà tòa soạn chứ không gia tăng chiều rộng chiều sâu và chiều cao của tầm vóc uy thế uy danh của tờ báo đối với toàn dân và toàn cầu.

Dân tộc Việt Nam đòi hỏi báo chí cách mạng Việt Nam phải có cái trí, cái tâm, cái tầm, cái mưu lược, cái dũng khí, cái quyết tâm, cái kế sách để trở thành tiếng nói Chính Thống, Chính Quy, Chính Đạo, Chính Danh, Chính Nghĩa, của Việt Nam đối với phần còn lại của nhân loại.

Báo cách mạng của Việt Nam phải bảo vệ Đảng. Không có Đảng, tất sẽ mất nước. Mất nước đương nhiên sẽ đưa cả dân tộc vào cảnh diệt vong dưới gót giày quân xâm lược Bắc Kinh và bọn tay sai.

Báo cách mạng của Việt Nam phải bảo vệ người bảo vệ Đảng. Đơn giản vì người bảo vệ Đảng và Báo đều cùng trong một chiến hào trên cùng một chiến tuyến.

Bài viết này không nhằm nhận những thông điệp giống như bản dưới đây:

TuoiTre (2)

Bài viết chỉ để Đảng nhìn lại Báo mà Đảng đã xây dựng, luôn xây dựng.

Bài viết chỉ để Báo nhìn lại nguồn gốc từ Đảng và đặc tính “luôn thuộc về Đảng” của Báo.

Bài viết chỉ để người viết dành tình cảm chân thành đến Báo, như đã luôn như vậy.

 TuoiTre (3)

Luôn luôn là như vậy đối với Báo Chí Cách Mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Tham khảo:

Nguyễn Phú Trọng. 05-01-2015. Phát Biểu Khai Mạc Hội Nghị Lần Thứ 10 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa XI. http://cand.com.vn/thoi-su/Cao-Toan-van-phat-bieu-cua-Tong-Bi-thu-Nguyen-Phu-Trong-khai-mac-Hoi-nghi-lan-thu-10-Ban-Chap-hanh-Trung-uong-dang-Khoa-Xi-336971/

B) Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 07-8-2008. Đề Xuất Một Thương Hiệu Cho Việt Nam: Việt Nam – Ngôi Trường Của Thế Giới. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/

[2] Hoàng Hữu Phước. 09-6-2008. Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là Tiến Sĩ Trần Minh Hoàng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/25/nhung-lap-luan-ky-quai-cua-nguoi-tu-xung-la-ts-tran-minh-hoang/

Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2014

Kính gởi :   Ông Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo

Bản sao kính gởi:

– Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch Quốc hội

– Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

– Thủ Tướng Chính Phủ

– Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

– Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

– Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v: Biên soạn bộ sách giáo khoa và Ưu tiên bố trí phòng học bộ môn, phòng thực hành, thí nghiệm

 

Kính thưa Bộ Trưởng:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh;

Tham chiếu Tờ Trình Tóm Tắt số 407/TTr-CP ngày 15-10-2014 về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông;

Xin kính trình bày ý kiến sau:

1- Trong phần 4 Nhiệm Vụ và Giải Pháp, mục “c” về tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa, tôi kính kiến nghị Bộ cân nhắc không mời tham gia biên soạn những vị đã từng tham gia biên soạn trước đây vì thực tế minh chứng rằng các bộ sách trước đây đều có những khiếm khuyết khiến các chương trình cải cách giáo dục đều chưa đem lại kết quả mong muốn. Đồng thời, tôi kính kiến nghị Bộ công khai danh sách

a) các vị sắp tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa cho Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, và

b) các vị trong ban thẩm định công trình.

2- Trong phần 4 Nhiệm Vụ và Giải Pháp, mục “đ” về đảm bảo các điều kiện thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới, có tiểu mục về ưu tiên bố trí phòng học bộ môn, phòng thực hành, thí nghiệm, tôi cho rằng không nên đầu tư dàn trải kiểu mô hình lý tưởng biến các trường học đều được trang bị đầy đủ như thế vì các lý do sau:

a) Sự phí phạm diện tích trường ngay cả đối với các trường học ở thành phố lớn cũng phải dành ra phòng hay các phòng để làm phòng thực hành, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn; và đây là sự khó khăn rất lớn đối với các trường ở vùng kinh tế khó khăn, vùng quê, vùng sâu, vùng xa.

b) Sự khó khăn và tốn kém chi phí trong bảo quản các trang thiết bị, và trong bảo vệ tài sản này trước những đối tượng trộm cắp.

c) Sự nguy hiểm đối với các hóa chất trong phòng thí nghiệm có thể hoặc gây cháy nổ, hoặc gây ngộ độc cho học sinh, giáo viên, cũng như dân cư chung quanh.

Để thực hiện việc học tập vẫn có thí nghiệm, vẫn có thực hành theo từng bộ môn, tôi kiến nghị các giải pháp sau:

1- Nhà trường liên hệ với các cơ sở sản xuất, nhà máy, doanh nghiệp địa phương để tổ chức đưa học sinh đến xem, tiến hành thí nghiệm tại chỗ dưới sự giám quản của giáo viên bộ môn và chuyên viên tại chỗ của phòng thí nghiệm. Điều này có bốn lợi điểm như:

a) trường tiết kiệm rất nhiều chi phí do không phải xây dựng các phòng này, chi phí bảo quản bảo trì thiết bị, chi phí vật tư nguyên liệu cho thí nghiệm, chi phí khi hủy bỏ các hóa chất hết hạn sử dụng theo đúng quy trình bảo vệ môi trường đầy tốn kém, chi phí thực hành vì các nhà máy, đơn vị sản xuất có thể tiếp nhận đến thí nghiệm miễn phí – thậm chí nếu có qun hệ tốt, nhà máy có thể cho xe đến trường đưa đoàn học sinh đến thực hành thí nghiệm – hoặc nếu tính phí thì cũng không bằng chi phí nhà trường phải bỏ ra quanh năm để thực hiện thí nghiệm tại trường và bảo vệ các tài sản có liên quan;

b) an toàn tuyệt đối cho nhà trường vì sự cố nếu xảy ra ở nhà máy sẽ được khống chế bởi quy trình an toàn xử lý cháy nổ nhiễm độc theo quy định nghiêm ngặt của pháp luật, không nguy hại đến toàn thể trường và khu dân cư nếu xảy ra tại trường;

c) tập cho học sinh quen với hoạt động công nghiệp, sản xuất, an toàn vệ sinh lao động, v.v., từ đó hình thành định hướng nghề nghiệp và sở thích công việc cho học sinh, cũng như tính lao động nghiêm túc tháo vác hiệu quả trong môi trường công nghiệp; và

d) đáp ứng yêu cầu thực tập thực tế của chương trình học, giúp học sinh tiếp cận với người mới, không gian mới, thay vì vẫn luôn là thầy cô ấy và bên trong ngôi trường ấy, vốn rất dễ tạo ra tâm lý gò bó, đóng khung, vô cảm với chung quanh chỉ vì thiếu sự giao tiếp nghiêm túc có liên quan đến học tập.

Kính mong Bộ Trưởng quan tâm.

Kính chúc Bộ Trưởng sức khỏe, vạn an, thành công, và xin kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

Thư Gởi Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam

Ngày 04 tháng 01 năm 2015

Kính gởi Ông Trần Bình Minh

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam

Đồng kính gởi:

–  Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

–  Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1

–  Bộ trưởng Thông Tin – Truyền Thông

–  Chủ nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại

v/v: Chất lượng thông tin các chương trình giải trí:

Kính thưa Ông Tổng Giám Đốc:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII thuộc Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh,

Kính trình bày nội dung sau liên quan đến chất lượng thông tin các chương trình giải trí trên Đài Truyền Hình Việt Nam.

Chiều nay, ngày 04-01-2015, trong chương trình gameshow “Chinh Phục” trên VTV3, có câu hỏi về hai người Châu Á được trao giải Nobel Hòa Bình là ai, và MC khi cho đáp án có giải thích trường hợp Ông Lê Đức Thọ tuy được giải năm 1973 nhưng đã từ chối nhận với lý do “nhận thấy bản thân không xứng đáng với giải thưởng vì vẫn chưa thể đạt được một thỏa thuận về hòa bình.”

Thưa Ông, nội dung trên hoàn toàn sai thực tế lịch sử và hạ thấp tư thế của Ông Lê Đức Thọ từ một vị chính khách lão luyện trong đấu tranh chính trị bảo vệ danh dự quốc gia và duy trì vị thế chính nghĩa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam) trở thành một người bình thường đang áy náy chưa làm gì được cho đất nước nên vì tự trọng mà từ chối giải thưởng.

Thực tế lịch sử mà MC (và ban thu thập thông tin tư liệu cho các câu đố của tổ chức gameshow) không biết, đó là giải Nobel Hòa Bình năm đó đã được chia ra cho hai người là Henry Kissinger của Hoa Kỳ và Lê Đức Thọ của Việt Nam, và Ông Lê Đức Thọ đã từ chối nhận giải vì nếu nhận giải là mặc nhiên công nhận Hoa Kỳ và Việt Nam đều có chính nghĩa ngang nhau, không phải Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam mà đang nổ lực giúp giải quyết cuộc “nội chiến” giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa, còn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc không đang chống lại sự xâm lược của Hoa Kỳ để “giải phóng đất nước” mà chỉ đang có xung đột vũ trang nội bộ Việt Nam với Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam.

Tôi kính đề nghị Ông quan tâm chấn chỉnh hoạt động của các gameshow trên qu‎ý Đài.

Nhân tiện, tôi trân trọng kính mời Ông đọc bài viết của tôi tựa đề Cần Loại Bỏ Việc Phát Bài Ca Happy New Year Của Abba Dịp Tết tại http://hhphuoc.blog.com/?p=882 hoặc tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/04/can-loai-bo-viec-phat-bai-ca-happy-new-year-cua-abba-dip-tet/ với mong muốn có sự chấm dứt sự sử dụng bài hát hoàn toàn kiêng kỵ với văn hóa người Việt chúng ta.

Kính cảm ơn sự quan tâm của Ông.

Kính chúc Ông và gia đình cùng tập thể cán bộ, nhân viên, Đài Truyền Hình Việt Nam năm mới 2015 an vui, hạnh phúc, thành công, nhiều may mắn.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2014

Kính gởi :   Ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương

Bản sao kính gởi:

– Chủ Tịch và các Phó Chủ Tịch Quốc hội

– Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

– Thủ Tướng Chính Phủ

– Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

– Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

– Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v: Phương thức kinh doanh hàng-đổi-hàng

 

Kính thưa Bộ Trưởng:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh;

Tham chiếu Công văn số 11199/BCT-KH ngày 10-11-2014 của Bộ Công Thương báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết của Quốc Hội, kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn;

Tham chiếu Báo cáo ngày 12-11-2014 của Đoàn Thư K‎ý Kỳ họp về tổng hợp việc thực hiện nghị quyết của Quốc Hội, kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phục vụ hoạt động chất vấn của Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII;

Xin kính trình bày ý kiến, liên quan đến nội dung “hỗ trợ doanh nghiệp triển khai những phương thức kinh doanh mới như hàng đổi hàng (đổi gạo Việt Nam lấy điều Châu Phi” mà do điều kiện thời gian thảo luận và số lượt Đại biểu phát biểu được ở nghị trường Quốc hội đều có tính giới hạn rất cao khiến tôi thể hiện quan điểm và chính kiến của tôi qua phương tiện thư góp góp ý này với quá trình kinh nghiệm hàn lâm giảng dạy đại học và biên soạn giáo trình Hợp Đồng Kinh Tế Ngoại Thương (1994-2002) cũng như thực tiễn kinh doanh xuất nhập khẩu (1988-1996) tại Việt Nam.

Hàng-đổi-hàng tức Barter Trade không phải là phương thức kinh doanh mới mà chính là phương thức có từ thời sơ khai. Phương thức này nếu trong thế kỷ XXI bắt đầu phát triển lại tại các cường quốc như Mỹ chẳng hạn, chẳng qua vì họ có các điều kiện sau:

1-  Bản thân Hoa Kỳ là một quốc gia lớn của một “liên minh nội khối” gồm 50 quốc gia mà ta gọi là “50 tiểu bang”, hình thành một thị trường chung khổng lồ với vô số doanh nghiệp sản xuất hầu như tất cả các sản phẩm thuộc các ngành kinh tế khác khau, sử dụng chung một ngôn ngữ, một đồng tiền, tuân thủ một pháp luật liên bang chung bao trùm trên pháp luật tiểu bang riêng

2-  Ngoài hệ thống pháp luật thật chặt chẽ để phát triển và quản lý hoạt động kinh doanh hàng-đổi-hàng, Hoa Kỳ còn thành lập các cơ quan định chế tài chính và quản lý tài chính như NATA và ERTA để hỗ trợ hoạt động của phương thức kinh doanh hàng-đổi-hàng dần dần phát triển cơ quan IMS năm 1985 có văn phòng tại nhiều quốc gia để hỗ trợ phương thức hàng-đổi-hàng với những quốc gia trọng điểm ấy; tương tự, Canada có Tradebank thành lập năm 1998, trong khi Úc và New Zealand có Bartercard thành lập năm 1991 với văn phòng tại Anh Quốc, Mỹ, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Cyprus, và Thái Lan.

Trong thời gian Việt Nam bị cấm vận thương mại của Mỹ, phương thức hàng-đổi-hàng đã từng được đề cập đến nhưng đã vướng các khó khăn phức tạp thực tế không thể vượt qua như những tranh luận về:

1- Bên nào sẽ “nắm đằng chuôi” tức giao hàng sau bên kia, vì bên giao trước sẽ chấp nhận rủi ro có thể bị mất hàng do bên nhận không thực hiện việc giao hàng đáp lại.

2- Bên A cần hàng của Bên B nhưng lại không có kinh nghiệm về, không phải chủ nhân của, hay ở quá xa nguồn cung cấp thứ hàng hóa mà Bên B cần Bên A giao, nên không thể bảo đảm duy trì mức giá đã đàm phán và ký kết, cũng như không bảo đảm tiến độ giao hàng cho Bên B sau khi đã nhận được hàng của bên B

3- Tuy là phương thức hàng-đổi hàng nhưng vẫn có những thanh toán bằng ngoại tệ qua ngân hàng do không bao giờ trị giá hàng bên A giao lại ngang bằng tuyệt đối với trị giá hàng Bên B giao, vì những thực tế có liên quan như số lượng hàng hóa cần của mỗi bên sẽ cho ra giá trị bằng tiền khác nhau, và khối lượng thể tích hàng hóa cần của mỗi bên lại có thể bị khống chế bởi hệ số chất xếp storage factor của phương tiện vận chuyển và bởi dung sai tolerance khiến lượng hàng chất lên phương tiện có thể không theo mong muốn, làm tăng hoặc giảm giá trị tiền của lô hàng theo ký kết.

Những vấn đề nêu trên cho thấy phương thức hàng-đổi-hàng chưa thể áp dụng tại Việt Nam do Việt Nam

1- chưa phát triển phương thức này trong nội địa giữa các tỉnh với nhau, các địa phương với nhau, nên chưa có kinh nghiệm nội tại về phương thức kinh doanh hàng-đổi-hàng,

2- chưa có luật hay quy định về phương thức hàng-đổi-hàng,

3- chưa có các định chế tài chính để bảo đảm các hoạt động theo phương thức hàng-đổi-hàng,

4- chưa có xác định những quốc gia trọng điểm nào có những hàng hóa Việt Nam có nhu cầu và có khả năng đáp ứng nhu cầu ngược lại của các quốc gia trọng điểm ấy để từ đó thiết lập các đàm phán cấp nhà nước hình thành các cơ quan đại diện đảm bảo việc thực thi phương thức hàng-đổi-hàng tránh tối đa các vi phạm và xử lý vi phạm.

Tôi có thể khẳng định phương thức hàng-đổi-hàng giữa Việt Nam và nước ngoài – nhất là khi “nước ngoài” ấy không thuộc những quốc gia không có tiếng xấu về thương mại quốc tế – sẽ không có tính khả thi dù có nổ lực tối đa.

Thay cho phương thức “hàng-đổi-hàng” chỉ phù hợp khi ta có đầy đủ cơ chế và cơ quan chịu trách nhiệm về phát triển và hoạt động của phương thức này, tôi xin có các kiến nghị sau:

1- Vận động áp dụng phương thức hàng-đổi-hàng tại Việt Nam giữa các địa phương để từng bước đúc-rút kinh nghiệm, đề ra các cơ chế quản lý thích hợp, vừa giúp giao thương hàng hóa giữa các địa phương được thuận lợi, vừa hạn chế việc sử dụng tiền mặt hay tiền bạc trong kinh doanh.

2- Đối với hoạt động xuất-nhập khẩu với nước ngoài, vẫn nên duy trì việc thanh toán qua ngân hàng để bảo đảm an toàn nhưng với phương thức tín dụng thư “back-to-back” để có tính ràng buộc khả thi hơn.

Kính mong Bộ Trưởng quan tâm.

Kính chúc Bộ Trưởng sức khỏe, vạn an, thành công, và xin kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội – Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

  • Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Phó Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh
  • Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh
  • Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, thuyết trình, và hội thảo hội nghị từ những năm 1980 đến nay;

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về việc phát biểu tại Hội trường Quốc hội trong các kỳ họp.

1) Tình hình thực tế:

Qua các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII tôi nhận thấy quy trình phát biểu của đại biểu như sau:

a– Đại biểu vào hội trường bấm nút đăng ký khi có chuông hiệu

b– Lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp mời đại biểu phát biểu

c– Đại biểu phát biểu (chủ yếu đọc bài viết soạn sẵn để chủ động bảo đảm thời lượng quy đinh 7 phút)

Quy trình trên hoàn toàn công bằng theo mặc định (người trước người sau theo thứ tự ấn nút đăng ký trước-sau) và theo tổ chức (lãnh đạo chủ trì sẽ điều tiết để tránh nhiều đại biểu cùng một đơn vị tình cờ cùng đăng ký trước nếu phát biểu đầy đủ theo thứ tự trước-sau sẽ làm mất cơ hội phát biểu của các đại biểu ở tỉnh khác).

Tuy nhiên, hai yếu điểm bộc lộ từ quy trình trên là người dân hoàn toàn không thấy có sự tranh luận bất kỳ tại Quốc hội mà chỉ có việc mạnh ai nấy đọc bản tham luận của mình, trong khi đó lại chứng kiến (qua trực tiếp truyền hình) việc lãnh đạo Quốc hội yêu cầu đại biểu không lập lại nội dung trùng ý với đại biểu khác đã phát biểu trước đó nhưng các đại biểu vẫn đọc đầy đủ các bài viết với các đoạn trùng ý. Hai yếu điểm này sẽ được người dân nhận ra, làm gia giảm sự quan tâm đến các buổi trực tiếp truyền hình, khiến nỗ lực gia tăng thời lượng phát sóng trực tiếp bớt hiệu quả chính trị, trong khi đó lại gia tăng cơ hội cho những kẻ chống Việt Nam lợi dụng để chỉ trích.

2) Kiến nghị:

Để sự phát biểu mang ý nghĩa ích lợi thực tế, tôi kính đề nghị:

a– Trước kỳ họp, các đại biểu gởi bài phát biểu đến Quốc hội để được đăng tải trên trang web Quốc hội. Do đại biểu đã biết kỳ họp sẽ có nội dung nào, về các luật gì, và các đoàn đều có tổ chức mời giới luật gia và ban ngành đoàn thể đến tập trung góp ý cho từng dự án luật hay từng vấn đề một nên các đại biểu đều nắm thông tin, nghiên cứu thêm, và hình thành trước các bản góp ý hay phát biểu. Vấn đề là đem theo các bài soạn sẵn chờ đến kỳ họp đúng ngày đúng buổi để nhấn nút phát biểu và gặp phải sự phát biểu trùng ý sẽ khiến sinh hoạt như vậy kém hiệu quả và thiếu chuyên nghiệp. Việc đăng bài lên trang web Quốc hội (mỗi đại biểu có quyền gởi  hàng chục bài tham luận cho hàng chục đề tài khác nhau theo chương trình dự kiến của Quốc hội) giúp người dân theo dõi, và giúp các đại biểu đọc tham luận của nhau, từ đó phát hiện những vấn đề nào cần phải tranh luận thêm vì chưa đồng thuận để ghi nhận và chờ đến kỳ họp để tranh luận trực tiếp tại hội trường.

b– Tại kỳ họp, việc nhấn nút của đại biểu là để tranh luận về chi tiết ý kiến mà đại biểu khác đã thể hiện trong bài viết đã đăng tải trên web Quốc hội mà người dân đã đọc và đã nắm thông tin. Việc theo dõi tranh luận – nếu nhằm phiên có trực tiếp truyền hình – của người dân do đó sẽ có hứng thú trước nội dung tranh luận, khả năng hùng biện, hiệu quả thuyết phục, để qua đó nhận xét về khả năng của từng đại biểu của dân. Theo cách này, thời gian mỗi kỳ họp có thể ngắn hơn, hoặc có nhiều thời gian hơn cho những vấn đề trọng đại khác mà từng thời điểm có thể đặt, thay vì chỉ là việc đọc các bài soạn sẵn để góp ý cho một dự án luật nào đó mà sự góp ý có thể thực hiện sớm hơn (gởi email để được đăng ngay lên web Quốc hội), ít tốn kém cho Nhà nước hơn (chi phí cho thời lượng phát sóng trực tiếp để dành giúp dân nghèo).

c– Ngoài ra, về vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin (xin được gọi tắt là IT) cũng cần nâng cấp hợp lý, theo đó, khi một đại biểu đang phát biểu (theo hướng b ở trên), các đại biểu khác nếu thấy nhất thiết phải tham gia phản biện thì có thể nhấn nút để “chen ngang”, theo đó, sau khi đại biểu ấy phát biểu xong, lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp sẽ mời đại biểu nhấn nút “chen ngang” phát biểu thay vì mời đại biểu đã đăng ký tiếp theo trước đó. Theo cách này, sự tranh luận sôi nổi tại hội trường sẽ được hình thành, và đó là điều cần thiết trong sinh hoạt Quốc hội. Việc thêm một chức năng như vậy vào hệ thống IT, theo tôi, không phải là điều có khó khăn về kỹ thuật và tài chính.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam

(Bài thứ 3 trong chuỗi bài tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tiếp theo bài số 1 và bài số 2 [1][2] của chủ đề tư vấn thực tiễn phục vụ các ứng cử viên tự do và ngoài Đảng tham gia tranh cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIV (2016-2021), và trên cơ sở chi tiết của bản báo cáo với nhân dân [3] , tôi xin chia sẻ kinh nghiệm nghị trường về cách soạn bài phát biểu và thực hiện phát biểu tại Quốc Hội Việt Nam. Bài này có những phần chính sau:

A- Điểm cần được biết khi muốn đóng góp ý kiến cho mỗi dự thảo dự án luật

B- Vậy thì phải làm sao?

C- Thảo bài phát biểu

D- Thực hiện phát biểu

E- Phụ bản đọc thêm: Các Thư Kiến Nghị Của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước Gởi Các Lãnh Đạo

Đặc biệt, bài này không nói về những phát biểu impromptu ứng khẩu tại hội trường, khi qua một hay nhiều hơn một phát biểu của một hay nhiều hơn một đại biểu, bạn nảy ra ý kiến phản biện và nhấn nút đăng ký phát biểu khi thời gian vẫn còn mà số lượng người đăng ký vẫn còn “dư địa” cho bạn trổ tài hùng biện.

 P1

A- Điểm cần được biết khi muốn đóng góp ý kiến cho mỗi dự thảo dự án luật

Thông thường thì mỗi bộ luật sẽ được thông qua sau hai kỳ họp (mỗi năm Quốc Hội họp toàn thể hai kỳ, bắt đầu từ 20 tháng 5 và 20 tháng 10, mỗi kỳ kéo dài khoảng 40  ngày làm việc). Tên của các dự thảo luật được biểu quyết để cho ra nghị quyết thông qua tại kỳ họp cuối của năm tài khóa. Khi kỳ họp đầu năm tiếp theo khai mạc, lại có một biểu quyết khác cho nghị quyết về danh mục các dự án luật sẽ được bàn đến trong kỳ họp cho dù đã có biểu quyết từ kỳ họp cuối năm ngay trước đó. Điều này tuy làm suy yếu ý nghĩa của “nghị quyết”, nhưng cho thấy tính linh hoạt trước yêu cầu mới phát sinh – nếu có – về chương trình làm luật đáp ứng các thúc bách – nếu có – của xã hội.

Chủ trì dự thảo dự án luật do Bộ có liên quan hoặc Ủy ban Quốc Hội có liên quan phác thảo, được gởi đến các đoàn Đại biểu Quốc hội trên toàn quốc, các ban ngành đoàn thể ở các địa phương, để nghiên cứu và góp ý – nếu có.

Thí dụ cụ thể: Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh khi nhận được một dự thảo dự án luật sẽ tổ chức in ấn ra nhiều bản để gởi đến các ban ngành đoàn thể cơ quan địa phương trong thành phố để thu thập ý kiến. Ngoài ra, Đoàn còn chủ động tổ chức một buổi họp tại Văn phòng Đoàn, mời các Đại biểu Quốc hội trong Đoàn đến dự (Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh có 30 đại biểu, và thường thì chỉ có từ 1 đến 3 vị đến dự)

 P2

nghe tối thiểu 20 khách mời phát biểu ý kiến. Các vị khách mời này là từ các Sở chức năng có liên quan, đoàn thể, hội luật sư, doanh nghiệp có liên quan, và chính quyền các quận huyện. Chi phí hàng năm dành cho việc mời “chuyên gia” này của Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh không nhỏ, thí dụ như dự toán chi ngân sách nhà nước cho năm 2015 là 1.450.000.000 đồng, chiếm gần 15% tổng dự toán chi cho hoạt động của Đoàn (khoảng 10 tỷ). Sau mỗi buổi họp “chuyên gia”, Đoàn sẽ ghi thành biên bản tổng hợp gởi đến 30 đại biểu để cùng nắm nội dung. Biên bản cũng được gởi đến Thường Vụ Quốc Hội tại Hà Nội để báo cáo. Trên cơ sở thu thập ý kiến đóng góp từ tất cả các tỉnh thành, Quốc Hội hình thành bản dự thảo mới với những sửa chỉnh từ quá trình “tiếp thu” hoặc với những “giải trình” để phản bác các đề xuất sửa đổi. Trên cơ sở bản dự thảo “mới” chỉnh sửa nhận được từ Hà Nội, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh lại tổ chức “lấy ý kiến của chuyên gia” theo quy trình lập lại từ đầu như đã kể ở trên.

Khi tập trung ra Hà Nội dự kỳ họp, tất cả các Đại biểu Quốc hội mỗi Đoàn sẽ được phát bản dự thảo “mới hơn” với các “tiếp thu” mới hơn và các “giải trình” mới hơn. Các Đoàn sẽ họp Tổ tại phòng riêng của mỗi Đoàn được bố trí cố định tại tòa nhà Quốc Hội mới. Tại buổi họp Tổ, mọi người sẽ đóng góp ý kiến cho bản dự thảo “mới hơn” ấy, và Đoàn sẽ vừa lập biên bản để gởi Thường Vụ Quốc Hội, vừa “phân công” đại biểu nào sẽ thay mặt toàn Đoàn phát biểu tại nghị trường với nội dung chính riêng là gì và nếu thời gian cho phép thì nêu kèm luôn những ý kiến nào của các đại biểu khác trong Đoàn. Tiếp theo sẽ là buổi thảo luận tại Hội Trường.

B- Vậy thì phải làm sao?

Như vậy, nếu (a) bạn cho rằng khoảng một tỷ rưỡi đồng chỉ riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh dành cho việc lấy ý kiến dày đặc của rất nhiều “chuyên gia” tại Thành phố Hồ Chí Minh, cộng với ý kiến của các đại biểu trong Đoàn mình – trong đó có cả phát biểu của bạn tại Tổ, cộng với ý kiến trí tuệ của tất cả các Đoàn của các tỉnh/thành trên toàn quốc nộp cho Thường Vụ Quốc Hội, cộng với ý kiến phản bác mang danh “giải trình” của các Ủy Ban Quốc Hội chủ trì hoặc Bộ chủ trì, thế mà bạn vẫn có ý kiến hay hơn nhưng vẫn chưa phát biểu tại Tổ vì muốn để dành riêng cho cơ hội đăng đàn tại Hội Trường Quốc Hội có trực tiếp truyền hình; hoặc (b) bạn có ý kiến tốt nhưng không thể phát biểu tại Tổ do sự tập trung theo các câu hỏi gợi ý của Thường Vụ Quốc Hội khiến bạn không thể nêu ý kiến “lạc đề” tại Tổ; hoặc (c) qua buổi họp Tổ bạn phát hiện một vấn nạn chưa ai từng nói đến nhưng đã không còn thời gian để bạn phát biểu; hoặc (d) bạn không tham dự các buổi họp chuyên gia theo thư mời và cũng không đọc các biên bản họp chuyên gia do Văn phòng Đoàn tổng kết gởi đến bạn sau đó nên bạn không biết là các ý kiến của bạn thực sự đã được nêu lên rồi; và hoặc (e) bạn được phân công thay mặt Đoàn để phát biểu, thì bạn hãy bắt đầu soạn bài phát biểu cho buổi thảo luận tại Hội trường. Cần ghi nhớ rằng dù từng  dự thảo dự án luật một được đầu tư rất lớn và rất nhiều công sức, tâm huyết, chuyên môn nghiệp vụ, thời gian và tiền bạc, vẫn không thể bảo đảm rằng sự ban hành một đạo luật hay bộ luật sẽ ngay lập tức biến đạo luật hay bộ luật ấy “đi vào cuộc sống” một cách xuôi chèo mát mái và không dẫn đến sự cần thiết phải có ngay những chỉnh sửa – như nghị quyết khẩn cấp của Kỳ Họp 8 về xử lý vi phạm hành chính đối với đối tượng nghiện ma túy vốn thuộc phạm vi điều chỉnh của một Bộ Luật ban hành trong Kỳ Họp 7. Điều này rất quan trọng ở chỗ rất có thể bạn đã có cái nhìn thấu thị và thậm chí đã có nêu ý kiến phản biện song ý kiến của bạn không được chấp nhận trước khi Luật được thông qua, thì cũng không vì vậy mà bạn cho rằng tập thể Quốc Hội đã sai. Bạn cần nêu ý kiến và bạn cần nhớ mình không phải là nhà tư vấn duy nhất đúng, nhất là đối với đa số.

C- Thảo bài phát biểu

Dường như tôi là người đầu tiên tại Quốc Hội luôn bắt đầu phát biểu tại Hội Trường bằng câu ngắn gọn “Kính thưa Quốc Hội” rồi vào đề ngay, trong khi hầu như ai cũng bắt đầu bằng câu dài hơn như “Kính thưa …, kính thưa…, kính thưa…, kính thưa…., tôi cơ bản nhất trí (hoặc nhất trí rất cao) với báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, những cũng xin đóng góp các ý kiến sau để hoàn thiện dự thảo”.  Việc “kính thưa” ngắn gọn vừa để có đủ thời gian trình bày cho trọn ý muốn trình bày, vừa theo chuẩn mực thông thường của tính chuyên nghiệp để tránh việc mà báo chí nhiều chục năm nay hay phê phán là chào hỏi dài dòng, hoặc đã “nhất trí cao” sao còn phát biểu thêm làm gì, v.v.

Sau khi bắt đầu bằng dòng chữ “Kính thưa Quốc Hội”, bạn bắt đầu thảo mục lục để biết mình nên nói về những nội dung nào, theo thứ tự trước-sau ra sao, từ đó bạn viết nội dung đầy đủ. Nội dung cần thống nhất với quan điểm nhất quán và đặc thù của bạn [4], chưa kể với ngôn phong của riêng bạn [5]. Tính bất nhất không bao giờ là đặc điểm của một nhà hùng biện. Việc gợi ý Thủ Tướng từ chức do để xảy ra những vấn đề nghiêm trọng ở Vinashin rồi vội vàng chữa thẹn bằng cách ca ngợi Thủ Tướng đã làm an lòng dân sau khi thấy Thủ Tướng trổ tài hùng biện, là việc của một nghị sĩ tay mơ chưa trưởng thành.

Lúc hoàn chỉnh bản thảo, bạn nên bấm đồng hồ đếm thời gian và bắt đầu đọc ra tiếng hoặc lẩm nhẩm đọc có tính đến những khoảng lặng, nhấn mạnh, buông lơi, lên giọng, xuống giọng, để xem có nằm trọn trong khoảng thời gian 7 phút hay không. Nếu vượt quá 7 phút, bạn xem lại để bỏ bớt những từ, cụm từ nào có thể không cần đến hoặc có thể thay bằng cụm từ khác ngắn hơn. Rồi bạn đọc lại với công cụ đồng hồ bấm giờ. Quy trình này có khi kéo dài hàng giờ, và có khi một hay nhiều hơn một đoạn phải bị bớt đi, cho đến khi thời gian bạn đọc chỉ chiếm tối đa 6 phút hoặc 6 phút 20 giây. Điều này rất cần thiết để bạn không phải bị chủ tọa “nhắc nhở” khi quá giờ, phải bỏ ngang, phải nghe tiếng cười của vị đại biểu nào đó, và phải nói rằng bạn sẽ gởi bản viết cho ban Thư Ký sau.

D- Thực hiện phát biểu

Ngay cả khi bạn có biệt tài nhớ nằm lòng các chi tiết và phân đoạn của cả bài phát biểu, bạn cũng nên giống các nhà chuyên nghiệp Âu Mỹ ghi vào những thẻ nhỏ cỡ 1/8 hoặc 1/4 tờ giấy A4 những tiêu đề các phần bạn sẽ phát biểu để thỉnh thoáng liếc nhìn khi cần thiết

 OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Hoặc bạn in bài viết ra giấy khổ A4 theo font chữ Times New Roman (rõ hơn vì có các góc cạnh và chân đế của đầu các nét của mẫu tự) với cỡ chữ tối thiểu 16 (để khi in ra giấy sẽ dễ đọc dù cầm trong tay để ngang thắt lưng mà không cần đưa lên ngang mặt).

 007 008

Trường hợp bạn đã ấn nút đăng ký nhưng trong lúc chờ đến phiên mình, bạn thấy có đại biểu phát biểu trùng với nội dung bạn đã chuẩn bị, bạn đừng tiếc công sức mà nên nhấn nút hủy đăng ký để chứng tỏ bạn thực sự có theo dõi các bài phát biểu của người khác (lắng nghe để tôn trọng nghị sĩ đang phát biểu) và bản thân bạn lịch sự (không ép người khác phải nghe điều đã được nêu lên rồi). Chính sự tập trung lắng nghe, không tranh giành phát biểu bằng mọi giá, cũng là thể hiện đẳng cấp chuyên nghiệp của bạn, loại đẳng cấp mà các cử tri có học thức, nhiều kinh nghiệm, dồi dào hiểu biết, xem trọng, cũng như các phóng viên ảnh tài hoa sâu sắc không thể không thu vào ống kính tác nghiệp của mình.

 P34

Như đã nêu ở bài trước, phát biểu tại hội trường không phải là biện pháp hữu hiệu để trình bày đóng góp ý kiến, vì đối với nội dung trọng đại hơn thì bản kiến nghị thật chi tiết, thật cụ thể, thật phong phú và thật thuyết phục được gởi nhanh chóng, kịp thời, đến đúng nơi đúng người mới là điều quan trọng hơn vì có liên quan đến trình độ tư duy vì đại cuộc của một nghị sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chân chính và chuyên nghiệp.

E- Phụ bản đọc thêm: Các Thư Kiến Nghị Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Gởi Lãnh Đạo Trước, Trong, và Sau Mỗi Kỳ Họp

Kính mời các bạn tham khảo 3 trong số nhiều thư kiến nghị tôi đã gởi đến các lãnh đạo, sẽ được đăng trên blog này kể từ ngày mai, thí dụ như mới đây nhất là các thư gởi Chủ tịch Quốc hội, thư gởi Bộ trưởng Giáo dục, thư gởi Bộ trưởng Công Thương, và thư gởi Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam.

Những bài viết khác cho cùng chủ đề tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021 sẽ được đăng tiếp trên blog này. Kính mời các bạn đón đọc.

Kính chúc các bạn thành công.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-12-2014. Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/21/ra-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi/

[2] Hoàng Hữu Phước. 24-12-2014. Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/24/phat-bieu-tai-nghi-truong-viet-nam/

[3] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/ hoặc http://hhphuoc.blog.com/?p=342

[4] Lại Thu Trúc. 30-6-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII. Đang lần đầu tại  http://www.emotino.com/bai-viet/19627/phobolsatv-hoa-ky-phong-van-ong-hoang-huu-phuoc và đang lại trên http://hhphuoc.blog.com/?p=75

[5] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=93

“Tôi Là Người Hồi Giáo…”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vụ tấn công tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo ở Paris ngày 07-01-2015 vừa qua đã cho thấy bằng mắt và nghe bằng tai những đoạn tin cùng những đoạn phim về cuộc tuần hành của nhiều nguyên thủ quốc gia tại Paris tỏ sự đoàn kết chung trong đại cuộc chống Hồi Giáo khủng bố. Và tấm bảng ghi Je Suis Charlie trên tay mỗi người như một thách thức rằng tôi đây là Charlie Hebdo. Thế nhưng, một tấm bảng khác được nói đến bởi Ông Mehdi Hasan, giám đốc chính trị của tờ Huffington Post, Vương Quốc Anh, cộng tác viên của tờ Tân Chính Khách, tờ báo đã cùng đăng tải bài viết sau. Bản dịch tiếng Việt do Hoàng Hữu Phước thực hiện. Kính mời các bạn đọc qua để có thêm cái nhìn khác chiều từ người trong cuộc vì đây là lẽ công bang

*********

Là người Hồi Giáo, tôi ngấy đến tận cổ cái thói đạo đức giả của các nhà chính thống về tự do ngôn luận

 112

13-01-2015

Các bậc thức giả độ lượng tôn kính,

Qu‎ý vị và tôi không ai ưa George W. Bush. Ắt qu‎ý vị  còn nhớ lời tuyên bố trẻ nít của ông ta sau sự cố 9/11 rằng “hoặc là qu‎ý vị  theo chúng tôi, hoặc là qu‎ý vị theo bọn khủng bố”? Ấy vậy mà trước sự trỗi dậy của một cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng khác, dường như qu‎ý vị  lại cập nhật cái khẩu hiệu của Dubya rằng hoặc là qu‎ý vị  ủng hộ tự do ngôn luận hoặc qu‎ý vị chống lại nó. Hoặc qu‎ý vị  là Charlie Hebdo, hoặc qu‎ý vị  là kẻ cuồng tín ghét bỏ tự do.

Tôi đang viết cho qu‎ý vị  để nêu một yêu cầu đơn giản: xin hãy đừng như thế nữa. Qu‎ý vị cho rằng mình đang bất chấp bọn khủng bố, trong khi trên thực tế, qu‎ý vị đang đùa bỡn đưa mình vào bàn tay vấy máu của chúng bằng cách tự mình chia rẻ và biến thành quỷ dữ. Ta và chúng. Phe Tây phương được khai sáng tự do, và phe Hồi Giáo man di lạc hậu. Qu‎ý vị  luôn mồm kể với chúng tôi rằng cuộc thảm sát ngày 7 tháng 1 ở Paris là cuộc tấn công vào tự do ngôn luận. Vị cựu tổng thống bảo thủ Pháp Nicolas Sarkozy đồng tình và gọi đó là “cuộc chiến tranh tuyên bố chống lại nền văn minh.” Còn vị dân biểu Jon Snow của tự do cánh tả cũng nói như vậy khi bảo trên Twitter về “sự xung đột giữa các nền văn minh” và liên hệ tới “niềm tin của châu Âu vào tự do ngôn luận“.

Giữa những tang tóc sau cuộc thảm sát ở Paris, thói đạo đức giả và sự điêu ngoa bung ra lúc nhúc. Đúng vậy, vụ tấn công là một hành vi độc  ác không thể biện minh, một sụ tàn sát tàn nhẫn không thể tha thứ nhằm vào những người vô tội. Nhưng đó có thật là “nỗ lực sát hại tự do ngôn luận” (lời Mark Austin của ITV), hoặc là sự “phỉ báng” ý tưởng của chúng ta về “tự do tư tưởng” (lời Stephen Fry)? Đó là một tội ác, chứ không phải là hành động gây chiến, được gây ra bởi những thanh niên bất mãn bị làm cho trở thành cực đoan không phải vì mấy hình vẽ ở châu Âu năm 2006 hoặc 2011 về Nhà Tiên Tri, mà hóa ra bởi vì những hình ảnh tra tấn của Mỹ tại Iraq năm 2004.

Xin hãy hiểu vấn đề như vậy. Chẳng ai trong chúng ta tin tưởng vào một quyền không hạn chế của tự do ngôn luận. Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng sẽ luôn có những lắn ranh giới hạn mà, vì mục đích luật pháp và trật tự, không được vượt qua; hoặc vì mục đích khuôn phép lễ nghi và sự tế nhị tinh tế mà không được xâm phạm. Cái khác biệt giữa chúng ta là ở chỗ những đường ranh ấy nên được vạch ra từ đâu.

Thử hỏi các ấn phẩm của qu‎ý vị  có vẽ tranh biếm họa chế giễu Holocaust nghĩa là về người Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát? Không có chứ gì? Thế có tranh biếm họa chế giễu nạn nhân vụ 9/11 nhày xuống từ tòa tháp đôi? Tôi không cho là qu‎ý vị dám vẽ như thế (và tôi vui vì không có những tranh biếm họa như vậy). Xin qu‎ý vị xét đến cái “thí nghiệm tư duy” do nhà triết học Brian Klug ở Đại học Oxford đề xướng rằng “Hãy tưởng tượng nếu có người nhập vào đoàn diễu hành tại Paris vào ngày 11 tháng 1, mang một biểu ngữ ghi dòng chữ Je suis Cherif , tức tên của một trong những kẻ sát thủ vụ Charlie Hebdo. Vị triết gia này còn nói thêm rằng giả sử ông ấy “mang một tấm bảng có hình biếm họa vẽ chế giễu các nhà báo bị sát hại, thì đám đông sẽ phản ứng ra sao, có cho là vị triết gia đơn thân độc mã này là anh hùng dám đứng lên thể hiện quyền tự do và tự do ngôn luận, hay là đám đông sẽ bị xúc phạm một cách sâu sắc? . “Đám đông ắt đã phản ứng ra sao nhỉ? Liệu họ có nhìn nhận cá nhân đơn độc này là một vị anh hùng, đứng lên thể hiện quyền tự do và quyền tự do ngôn luận? Liệu đám đông có đã bị xúc phạm sâu sắc?” Qu‎ý vị  có đồng ý với kết luận của triết gia Klug rằng ông ta “đã có may mắn đi thoát được khỏi đám đông mà vẫn còn sống” không?

Hãy làm rõ điều này: tôi đồng ý là không có lý do bất kỳ để biện minh cho việc bắn hạ các nhà báo hoặc các họa sĩ vẽ tranh biếm họa. Tôi không đồng ý với quan điểm của qu‎ý vị cho rằng quyền tự do xúc phạm sẽ không dẫn đến việc chịu trách nhiệm tương ứng; và tôi không tin rằng một quyền tự do xúc phạm sẽ tự động được chuyển thành một nghĩa vụ phải xúc phạm.

Khi qu‎ý vị  nói “Je suis Charlie” (Tôi là Charlie đây), liệu đó có là sự tán thành sự mô tả của Charlie Hebdo khi (trước đây) đã vẽ Ông Bộ trưởng Tư pháp Pháp Christiane Taubira, một người gốc Phi, thành một con khỉ? Hay về những biếm họa thô thiển vẽ những người Ả Rập có chiếc mũi to đùng có thể khiến Edward Said phải cựa mình dưới mộ?

Đả kích nạn phân biệt chủng tộc bằng cách tái tạo hình ảnh phân biệt chủng tộc một cách thô bạo là một chiến thuật trào phúng khá khả nghi. Ngoài ra, như cựu nhà báo của Charlie Hebdo là Olivier Cyran đã tranh cãi năm 2013, rằng một “chứng thác loạn thần kinh Bài Hồi Giáo đang dần tràn ngập tạp chí Charlie Habdo từ sau vụ 11/9 (ở Mỹ), mà sau đó tán thành một cách đầy hiệu quả các cuộc tấn công nhằm vào “những thành viên của một tôn giáo thiểu số không có ảnh hưởng nào trong các hành lang quyền lực“.

Đó là những lý do mà tôi không thể “là”, và cũng không muốn “trở thành” Charlie – mà nếu phải là cái gì khác thì chúng tôi muốn là Ahmed, viên cảnh sát đạo Hồi đã bị giết chết trong khi bảo vệ quyền tồn tại của tạp chí Charlie Hebdo. Như tiểu thuyết gia Teju Cole đã nhận xét, “Có thể bảo vệ quyền phát ngôn tục tĩu mà không thúc đẩy hoặc tài trợ cho nội dung của lời phát ngôn đó.”

Thế sao qu‎ý vị đã luôn im lặng về các tiêu chuẩn kép quá lộ liểu đó? Qu‎ý vị  không biết rằng Charlie Hebdo sa thải họa sĩ biếm họa cựu binh người Pháp Maurice Sinet năm 2008 vì đã có phát biểu bị cáo buộc chống Do Thái ư? Thế qu‎ý vị không nhận thức được rằng Jyllands-Posten, tờ báo Đan Mạch đăng tranh biếm hoạ Nhà Tiên Tri Mohamed năm 2005, đã từng cấm đăng các tranh biếm họa Chúa Jesus vì sợ sẽ “gây một làn sóng phản đối” và tự hào tuyên bố “trong mọi trường hợp sẽ không xuát bản các tranh giễu cợt Holocaust (dân Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát) “ ?

Người Hồi giáo, tôi cho rằng, ắt có bản lĩnh chịu đựng những lời công kích cá nhân hơn so với các người anh em Kitô giáo và Do Thái Giáo của họ. Bối cảnh cũng quan trọng không kém. Qu‎ý vị yêu cầu chúng tôi phải cười với một biếm họa về Đấng Tiên Tri, trong khi lại làm ngơ trước những lăng nhục Đạo Hồi trên toàn  lục địa (qu‎ý vị có đến thăm Đức gần đây chưa?) và sự kỳ thị chống lại người Hồi giáo lan rộng trong giáo dục, việc làm, và đời sống công cộng – đặc biệt là ở Pháp. Qu‎ý vị  đòi người Hồi giáo phải tuyên bố chống lại một dúm phần tử cực đoan xem đó như một mối đe dọa hiện hữu đối với tự do ngôn luận, trong khi vẫn nhắm mắt làm ngơ trước những mối đe dọa lớn hơn nhiều đối với tự do ngôn luận mà các nhà lãnh đạo dân cử đã nêu lên.

Liệu qu‎ý vị  không lấy làm phiền lòng khi thấy Barack Obama, người yêu cầu Yemen tống giam  vào ngục nhà báo Abdulelah Haider Shaye vì tội dám chống lại việc Mỹ sử dụng các máy bay không người lái (trên không phận Yemen), sau khi bị kết tội có liên quan đến khủng bố tại một phiên tòa luật rừng – hùa theo bầy đàn mang tên tự do ngôn luận? Qu‎ý vị không thấy phát ốm khi thấy Benjamin Netanyahu, Thủ tướng của một nước chịu trách nhiệm cho việc sát hại bảy nhà báo ở Gaza năm 2014, tham dự “cuộc diễu hành đoàn kết” ở Paris? Bibi (nickname của Netanyahu) còn được nhập bọn bởi Angela Merkel, Thủ tướng của một nước có luật rằng ai dám phủ nhận Holocaust (cuộc diệt chủng 6 triệu người Do Thái do Đức Quốc Xã tiến hành) sẽ bị phạt tù giam đến năm năm, và David Cameron, người muốn cấm không được xuất hiện trên truyền hình các phần tử cực đoan không bạo lực nào muốn “lật đổ nền dân chủ“.

Và rồi còn độc giả của các qu‎ý vị  nữa chứ. Xin hãy có đôi lời với họ. Theo một cuộc thăm dò dư luận của YouGov năm 2011, có đến 82% cử tri ủng hộ việc truy tố hính sự những người biểu tình nào dám đốt bỏ các cây anh túc (chế thuốc phiện) cơ đấy.

Rõ ràng là không chỉ có người Hồi giáo là bị xúc phạm.

Trân trọng,

Mehdi Hasan Giám đốc chính trị, Huffington Post, Vương Quốc Anh, cộng tác viên của tạp chí chính trị Tân Chính Khách, Vương Quốc Anh.

Bài cùng được đăng tải trên Hufington Post và New Statesman.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tips for Learners of English

(Có phần dịch nghĩa tiếng Việt. With the Vietnamese version as enclosed herewith hereafter)

1234

Excerpt from Speech by Hoang Huu Phuoc at Hanoi University of Foreign Languages, Hochiminh City, Vietnam, 1996

If you wish to improve your speaking and writing, the first thing you need do is to – surprisedly and surprisingly – read books in Vietnamese of fairy tales, short stories, novelettes and novels, and particularly non-fiction.

Many a local desperado theory-maker nowadays in our society has taken it for granted that if you want to be good at English (or any other foreign language) you need to start your study of English from the second of the Shakespeare’s Seven Ages of Man, without knowing that such method can only help produce more citizens for the country of the terrible Black Death and Great Fire and the War of Roses.

The righteous thing is that a foreign language is nothing more than a foreign language which may due to some whatsoever reasons and howsoever it is coexist with the mother tongue, the very language a person ever since his first day thrown by All Mighty down onto the very lap of his mother starts to intentionally hear, to intuitively sense, to indefectibly imitate and then to industriously develop. Nobody can be good at any foreign language without first being a good orator of his/her mother tongue. From the attraction of the tales and stories to the drive to look for equivalent expressions in English (or any other foreign language) comes the superb capability of materializing profound thoughts onto spoken words or written presentation. English is not just for saying Hello, asking for direction, or crying for ” Help !”. And when a learner of English can use English to exactly and elaborately and correctly and fully and understandably and a-hundred-more-ly’s express his/her idea, opinion or theory, he/she can say that the target of being good at English is satisfactorily achieved!

Magna Carta and the Stonehenge experience the galloping time’s ruthless erosion; however, words either spoken or written surely appreciate the further enriching by the people exploiting the significant indirect connotation or denotation of the above two marvellous works. Let’s make the rest of the world come to know about Vietnam and its great heritage of practical righteousness by rectifying the wrong and utilizing the good so that one day it will conquer the world with the mightiest weapon of foreign languages. And this is as-a-matter-of-factly as true as steel!

Hoang Huu Phuoc

Reference:

Hoang Huu Phuoc. 27-8-2014. To Lie Or Not To Lie – It’s An HR Question. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/27/hoang-huu-phuoc-noi-ve-cong-tac-nhan-su/

Phần dịch nghĩa tiếng Việt

Trích đoạn từ bài nói chuyện của Hoàng Hữu Phước với sinh viên tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996

Nếu các bạn muốn nâng cao khả năng nói và viết tiếng Anh, thì việc đầu tiên bạn cần làm – tuy rất ngạc nhiên và gây nhiều ngạc nhiên – là hãy đọc sách truyện thần tiên, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu thuyết trường thiên, và đặc biệt là các tác phẩm khảo cứu bằng tiếng Việt.

Thời nay bao kẻ cùng đường thất cơ lỡ vận học đòi l‎ý luận rằng nếu muốn giỏi tiếng Anh (hay bất kỳ ngoại ngữ nào), bạn cần bắt đầu học tiếng Anh từ giai đoạn thứ nhì trong bài sonnet tựa đề Bảy Giai Đoạn Của Đời Người của Shakespeare, mà không biết rằng học kiểu đó chỉ giúp sản sinh ra thêm những công dân cho đất nước là chủ sở hữu của Trận Dịch Hạch Kinh Hoàng cùng Trận Đại Hỏa Hoạn cũng như Cuộc Chiến Giữa  các Gia Tộc Hoa Hồng.

Điều đúng đắn ở đây là ngoại ngữ là ngoại ngữ không hơn không kém, mà do vì một nguyên nhân bất kỳ nào đó hoặc bằng một cách nào đó song song tồn tại với tiếng mẹ đẻ của một người, thứ ngôn ngữ mà kể từ lúc người ấy được Đấng Toàn Năng ném đúng lên đùi của người mẹ để bắt đầu lắng nghe, cảm nhận, mô phỏng theo, rồi phát triển. Không bất kỳ ai có thể giỏi một “ngoại ngữ” mà không trước hết phải thật giỏi tiếng mẹ đẻ của mình. Từ sự hấp dẫn của các câu truyện, đến khuynh hướng kiếm tìm những diễn đạt tương tự bằng tiếng Anh (hoặc – tất nhiên – bất kỳ “ngoại ngữ” nào khác), người ta có được năng lực tối ưu hiện thực hóa những tư duy sâu sắc thành ngôn ngữ nói hoặc thể hiện bằng chữ viết. Tiếng Anh không phải chỉ để nói “Hê Lô”, hỏi thăm đường sá, hoặc kêu cứu. Và khi một học viên tiếng Anh có thể dùng tiếng Anh để diễn đạt ý kiến, ý tưởng, hay lý thuyết này nọ một cách hay ho, chính xác, súc tích, rõ ràng, và đủ thứ mỹ từ tích cực khác, lúc ấy mới có thể nói người ấy đã đạt được một cách mỹ mãn mục tiêu học giỏi tiếng Anh của mình.

Thiên Magna Carta và kỳ quan Stonehenge đã biết thế nào là sức tàn phá tàn nhẫn của vó câu vùn vụt của thời gian; song, chính những ngôn từ được nói hoặc viết lên mới thưởng lãm được sự phong phú hơn lên do con người khai thác những nội hàm ngụ ý đầy ý nghĩa của hai kiệt tác trên. Hãy làm phần còn lại của thế giới biết về Việt Nam cùng gia sản vĩ đại đầy sự đoan chính thực tiễn của đất nước này bằng cách chỉnh sửa cái chưa đúng và tận dụng cái đúng để có ngày trong tương lai Việt Nam sẽ chinh phục thế giới bằng ngoại ngữ, thứ vũ khí hùng mạnh nhất. Và đây là sự thật vững chắc đương nhiên.

Hoàng Hữu Phước.

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 27-8-2014. Hoàng Hữu Phước Nói Về Công Tác Nhân Sự.. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/27/hoang-huu-phuoc-noi-ve-cong-tac-nhan-su/

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam (Bilingual writing: Vietnamese & English)

Bài viết Song Ngữ Việt và Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot535

Thương hiệu quốc gia là nội dung mang tính thời thượng được nói về rất nhiều và đặc biệt dậy sóng khi Giáo sư Philip Kotler thuyết trình tại Việt Nam năm 2007 để rồi không còn được nhắc đến sau đó. Gần đây thấy có bài phỏng vấn Bà Tôn Nữ Thị Ninh về chủ đề này, tôi có nhận xét rằng Bà Ninh cũng như tất cả những phát biểu trước đây của nhiều người khác đều giống y nhau ở điểm nêu miên man những vấn đề trừu tượng, mà đã là trừu tượng thì có ba yếu điểm gồm (a) bản thân người phát biểu không thuộc đẳng cấp nhà tư vấn chiến lược quốc gia, (b) vấn đề được nêu không thuộc phạm trù thực tiễn khả thi khả dụng, và (c) không giúp gì được cụ thể cho phát triển và hiện thực hóa “thương hiệu quốc gia” thậm chí có khi mang nội hàm đổ cho chính phủ và nhà nước phải chịu trách nhiệm duy nhất và tất cả cho việc có hình thành nên được một thương hiệu quốc gia hay không. Khi viện dẫn sai về Nhật Bản, người ta cho rằng chất lượng của tất cả hàng hóa của Nhật đều cao và từ đó hình thành thương hiệu quốc gia của Nhật Bản như xứ sở chế tạo những sản phẩm chất lượng cao, và từ đó Việt Nam cũng nên làm sao cho tất cả các sản phẩm của mình cũng như thế để khi nói đến Việt Nam thì nội hàm chất lượng cao cũng sẽ thành thương hiệu quốc gia tương tự.

Cái sai cụ thể của cách ví von trừu tượng trên là ở chỗ ngay từ đầu hoàng gia và chính phủ Nhật Bản đã không có chủ trương hay chính sách sản xuất nhằm tạo thương hiệu quốc gia. Họ sản xuất chất lượng cao vì đó là tư cách tuyệt đối đúng của bất kỳ nhà sản xuất chân chính nào trên toàn thế giới. Trong bài viết tựa đề Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước được báo Sài Gòn Tiếp Thị đăng lại ngày 09-9-2008, tôi có nêu cần phải thay đổi tư duy từ “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” sang “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” và có phê phán rằng không hiểu sao đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn “e thẹn” trước yêu cầu mang tính quốc thể này. Ngoài ra, việc các nhà sản xuất ô-tô Nhật Bản (sau này là Mỹ và vài nước Châu Âu) liên tục thu hồi nhiều triệu ô-tô trên toàn thế giới do các khiếm khuyết kỹ thuật nghiêm trọng chỉ cho thấy sự nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường với giá cạnh tranh luôn tiềm tàng nguy cơ chất lượng không thể đảm bảo cao tuyệt đối. Như vậy, phải chăng “thương hiệu quốc gia” của Nhật đã trở thành “chuyên gia thu hồi ô tô”?

Là nhà tư vấn chuyên nghiệp được ít nhất một công ty tư vấn lớn của Mỹ mời tham gia ban lãnh đạo và một công ty tư vấn trung bình của Malaysia mời làm cộng tác viên khu vực ASEAN, tôi luôn có hai việc đồng hành mỗi khi phê phán ai hoặc cái gì là (a) nêu nhận xét về vấn đề và (b) nêu biện pháp giải quyết vấn đề. Đây là cung cách được hình thành từ những năm đại học, mỗi khi chê bai thật chi tiết và thật thuyết phục về chất lượng một bài sonnet của Shakespeare hay Spencer hay Byron hay Shelley, v.v., tôi đều kèm theo một bản chỉnh sửa lại bài thơ thật chi tiết và thật thuyết phục để bài thơ hay hơn, phong phú hơn, chất lượng cao hơn. Khi giỏi đổ thừa, giỏi “giao phó” trách nhiệm về thương hiệu quốc gia cho Nhà nước, lẽ ra cái bộ phận không lớn phát-biểu-viên trong thiên hạ đừng nói về một cõi bao trùm vì đó là điều phi lý, hoang đường, mà nên tập trung về những mặt cụ thể nào mà các vị ấy có thể nghĩ ra được để Nhà nước tham khảo xem có thể cung cấp tài chính cùng các quyết sách kinh tế vĩ mô cụ thể hay không. Và sau đây là bài viết thứ nhất của tôi đề nghị cụ thể một thương hiệu cụ thể cho Việt Nam, thay vì nói miên man về những gì mà ai cũng nói được để rồi đất nước vẫn chẳng có gì. Bài viết này đã được báo Tuổi Trẻ đăng lại ở dạng rút ngắn.  (Bài viết thứ hai đề nghị một thương hiệu cụ thể khác cho Việt Nam được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam đăng lại nguyên văn trên hai số 02 ngày 01-11-2008 trang 18-19, và số 03 ngày 22-11-2008 trang 18-19, sẽ sớm được post lại lên blog này phục vụ bạn đọc có quan tâm đến chủ đề “thương hiệu quốc gia”)

*** BẢN TIẾNG VIỆT – VIETNAMESE VERSION ***

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam

Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới

(bài của Hoàng Hữu Phước bản tiếng Anh đăng ngày 05-11-2007 trên http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc và bản tiếng Việt đăng ngày 07-8-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam)

Trong buổi Hội Thảo Quốc Tế tháng 8 năm 2007 về Marketing ở Sheraton Hotel với chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới do Philip Kotler, người khai sinh ra nền marketing hiện đại của thế giới, là diễn giả đặc biệt, đã chậm rãi khoan thai phát âm thật rõ ràng rành mạch những ý tưởng mà nhiều ngày liên tiếp sau đó báo chí Việt Nam cuộn cuồn dậy sóng thông tin, đặc biệt là về “thương hiệu quốc gia” và “bếp ăn của thế giới”.

Thiết nghĩ cần có một khẳng định ở đây là Philip Kotler không hề gợi ý Việt Nam nên là một Bếp Ăn Của Thế Giới với ý nghĩa ẩm thực, mà chỉ đơn giản ngụ ý thế giới chưa biết nhiều về Việt Nam và Việt Nam cũng chưa định vị được uy thế của mình trong lĩnh vực nào để làm marketing thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế, và Ông nói với nụ cười hóm hỉnh rằng trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới cũng là điều có thể nghĩ đến. Một thí dụ chứa đựng những ẩn ngữ của một bậc thầy tài hoa cần được giải mã nghiêm túc, chứ không chỉ là trần trụi như nói về phở hay bánh xèo, hoặc nói cho văn hoa bóng bẩy hơn là “ẩm thực”, nghĩa là Việt Nam có “món” nào “ngon” để cung cấp cho thế-giới- kinh-doanh-toàn-cầu-hội-nhập hay không, chứ không phải Việt Nam có “món ăn” nào để kéo thế giới tới ăn nhai uống ực hay không. Có người thậm chí nêu ý kiến cho rằng đã muộn rồi vì dường như con người Philip Kotler quá vĩ đại nên không biết đến chuỵện nhỏ là Thái Lan đã và đang thực hiện chương trình trở thành “Kitchen of the World” (Kim Hạnh, 2007). Một ngộ nhận. Thương hiệu một quốc gia không do chính quốc gia đó tự đặt cho mình khi chưa làm nên gì cả để thuyết phục cả thế giới. Everest là “Nóc Nhà Của Thế Giới” vì bản thân nó là đỉnh núi cao nhất rồi được thế giới đặt tên sau khi đã đo đạc hẵn hoi. Là một đất nước-thị trường với dân số khổng lồ và giá nhân công rẻ, Trung Quốc đã hấp dẫn các công ty nước ngoài đổ xô tìm đến mở nhà máy sản xuất hàng hóa cung ứng cho thế giới và từ đó cái danh “Cơ Xưởng Của Thế Giới” được hình thành. Tương tự, sau vài thập kỷ nổi đình nổi đám thu hút nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, chưa kịp thành Cơ Xưởng Của Thế Giới thì Ấn Độ đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay vẫn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống (www.bhopal.com), và một hướng mới đã mở ra khi đất nước có quá nhiều nhân tài ai-ti (IT, công nghệ thông tin) này cung cấp dịch vụ sao lưu “backup” cho các công ty trên thế giới khiến có cái tên “Văn Phòng Của Thế Giới”. Trong khi đó, Úc là đất nước ít dân nhưng có hệ thống y tế hoàn hảo chất lượng cực cao và nổi danh trong điều trị các bịnh nan y. Song, chưa bao giờ Úc trở thành “Dưỡng Đường Của Thế Giới”, chỉ vì còn thiếu yếu tố hàng đầu, đó là: Úc chăm lo hoàn hảo cho sức khỏe toàn dân còn bệnh nhân nước ngoài có thể đến Úc chữa trị, chứ Úc chưa hề tự tổ chức để đạt được “thương hiệu” đó, cũng như đem dịch vụ của mình bung ra cung ứng mạnh mẽ đến các châu lục khác trên thế giới. Thái Lan tạo nên vài festival với tên tự đặt là “Kitchen of the World” nghe cho vui tai chỉ để giới thiệu ẩm thực Thái như một bổ sung thứ yếu cho ngành công nghiệp du lịch đã phát triển rồi của Thái, kéo thêm du khách đến Thái Lan (vì hàng triệu du khách đến Thái trong thập kỷ qua đã nếm món ăn Thái rồi chứ không phải bây giờ mới trình làng những báu vật còn giấu kín), trong khi để được cái danh Bếp Ăn Của Thế Giới, một quốc gia đúng ra phải như một…tổng công ty cung cấp suất ăn công nghiệp catering, nghĩa là anh phải đáp ứng được nhu cầu ẩm thực cho khách hàng của anh ở bất kỳ đâu trên thế giới, phù hợp với khẩu vị của riêng họ, bằng nguyên vật liệu chất lượng từ hoặc y như của xứ sở họ, và để làm được điều chắc chắn là không tưởng này phải có hệ thống thu mua, nhập khẩu, lưu trữ, bảo quản, vệ sinh tuyệt đối, và hệ thống phân phối cỡ DHL hay TNT, chứ không phải đơn giản giới thiệu món phở hay bánh xèo ngay tại Việt Nam. Thậm chí nếu món phở xoàng xỉnh của Việt Nam mà có nổi danh toàn cầu thì cái thương hiệu quốc gia của Việt Nam ắt là … Đất Nước Của Phở, như Ý là Đất Nước Của Pizza vậy, chứ sao là Bếp Ăn Của Thế Giới được. Nhiều người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam cả chục năm vẫn không thích thú gì khi được đãi các món ăn Việt, dù phở đã, đang, và sẽ mãi ngon đối với một bộ phận lớn người Việt dù không bất kỳ ai ăn phở trừ cơm mỗi ngày trong trọn cuộc đời, nhất là bò điên lở mồm long móng, gà cúm, và rau xanh tưới phân tươi, vệ sinh không kiểm chứng luôn khiến phở thành món ăn kém an toàn hoặc góp phần gây các chứng mỡ trong máu, trong gan, còn những lời khen tặng của ngoại nhân chỉ mang tính xã giao ước lệ. Vì vậy, theo tôi, khi nói về “Bếp Ăn Của Thế Giới”, Philip Kotler đã sâu sắc hàm ý ngay cả điều hiểu theo nghĩa đen thuần túy là cái bếp nấu ăn vẫn là điều chưa nước nào đạt được, hay chưa hiểu được, là bếp dùng để nấu (chứ không phải để mọi người chui vào bếp để ăn), và nấu xong thì bưng ra ngoài cho khách (tức xuất khẩu đến tận tay khách hàng), cho thấy để có được một thương hiệu quốc gia đòi hỏi một hiểu biết cặn kẽ, một tổ chức tổng lực cùng một kế hoạch tổng hợp dài lâu. Cùng trong thế kỷ XXI một số lớn con cháu Lạc Hồng nói phở ngon, tất cả hậu duệ của Đế Chế Inca vẫn thích ăn bánh mì kẹp lúc nhúc giống kiến to đen của họ, còn dòng giống Châu Sơn Cổ của Truyền Thuyết Du-mông mê cháo thằn lằn đến độ khi tổ chức sự kiện thể thao vĩ đại cấp hành tinh chính phủ phải yêu cầu dân chúng ngưng ăn chó và thằn lằn quốc hồn quốc túy đó, nên bảo đảm không ai dám vỗ ngực nói ẩm thực của mình là đứng đầu thiên hạ mà cả thế giới phải ăn. Pizza siêu tuyệt của Ý lan toàn thế giới, còn phở Việt Nam không bao giờ ở đẳng cấp như vậy. Ở đây, tôi xin có ý kiến cụ thể xây dựng thương hiệu quốc gia cho đất nước của chúng ta, đó là : “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” tức “The Campus of the World”.

Khác xa với nhu cầu ẩm thực vốn tùy vào ý thích riêng từng khách hàng chứ không tùy vào bản thân hàng hóa là món ăn, nhu cầu học tập chú trọng vào bản thân hàng hóa vốn gần như có giới hạn nhất định và đồng nhất, sẵn có; chẳng hạn đã học xong đại học thì đa số mong có điều kiện lấy thêm một cái MBA (Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, vốn đang dần mất sức hấp dẫn về tay MIB tức Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế). Vấn đề là học nơi đâu cho phù hợp túi tiền: học ở Mỹ như mấy nhân vật phim Hàn Quốc mỗi khi thất tình là qua Mỹ du học rồi về làm giám đốc ngay, học ở lân bang cho gần và khỏi bị phỏng vấn trầy trật khi xin visa vào một siêu cường, hay học ở một nước thân thiện có nhiều ưu thế cạnh tranh hơn cho tương lai của bản thân người đi học. Việt Nam chính là đất nước có quá nhiều những thế ưu việt cho du học sinh nước ngoài theo các phân tích và trình bày ở các phần tiếp theo, thực sự phù hợp cho một chiến dịch quảng bá dành lấy thương hiệu đẳng cấp cao này một cách an toàn tuyệt đối mà không phải tranh cải lung tung về gia vị hay dư lượng chất kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc uớp xác chết làm bánh phở, hoặc đối mặt với án lịnh pháp đình khi có các ca gây ngộ độc thực phẩm cho khách hàng, gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự quốc gia.

Trước hết, xin được nêu duy chỉ những thế mạnh của Việt Nam cho thương hiệu quốc gia Ngôi Trường Của Thế Giới, vì những phân tích còn lại theo nội dung SWOT và TOWS chỉ cần thiết hơn cho một kế hoạch kinh doanh chi tiết dài ít nhất 100 trang in khổ A4 mà chúng tôi có thể thực hiện nếu được tham gia chương trình quốc gia cho mục tiêu này.

An toàn và an ninh trật tự luôn là điểm nhấn quan trọng khi thế giới nói về Việt Nam, và đây là thế mạnh vững chắc tuyệt diệu để chúng ta sử dụng trong marketing cho một thương hiệu quốc gia. Du học sinh được học tại những ngôi trường chi nhánh của Mỹ, Anh, và nhiều nước khác hoạt động tại Việt Nam, nơi không có những vụ xả súng sát hại bạn học, không có bạo loạn chính trị, không có biểu tình ẩu đả, hay thiên tai, khiến du học sinh và thân nhân của họ có thể an tâm đầu tư cho học vấn. Đó là chưa kể đến các đặc trưng mà du học sinh cảm nhận đựợc duy chỉ có tại Việt Nam : tinh thần hiếu học, tôn sư, trọng đạo của người Việt Nam, mà ngay cả đất nước sản sinh ra Nho Giáo cũng không thấy có. Đây là một giá trị cộng thêm: anh dạy ở nước khác và anh có quyền mặc quần khaki ngắn đưa cẳng chân lông lá, áo hoa hòe hoa sói bỏ ngoài, ngay trong giảng đường đại học, đơn giản vì anh thực hiện hợp đồng phục vụ khách hàng là sinh viên, những người chỉ muốn nhận hàng hóa anh chuyển giao; còn dạy tại chi nhánh cũng của trường ấy nhưng mở Việt Nam anh phải ăn vận chỉnh tề, và tuy cũng thực hiện hợp đồng với trường của anh, anh vẫn sẽ thấy mình là một bậc thầy được sinh viên Việt Nam trân trọng, kính trọng, nể trọng, tri ân, và tất cả sẽ tác động lên sinh viên từ các nước khác, khiến họ cùng học tập sinh hoạt theo nền nếp lạ lẫm nhưng thú vị và đúng đắn không chê vào đâu được, hình thành nơi họ một nhân cách cao hơn, đó là nhân cách nhân bản và văn minh mang tính xã hội cộng đồng tôn ti trật tự thay cho kiểu nhân cách dưới quyền điều khiển của cái tôi bản ngã. Học tại Việt Nam với người Việt Nam và các quốc tịch khác, trong môi trường xã hội văn hóa Việt Nam, đó cũng là một lợi điểm kỳ thú, vì chính những yếu tố văn hóa giữ vai trò tác động lớn lao đối với các kỳ tích về kinh tế, chiếm hơn 50% trong các khác biệt đối với mức tăng trưởng kinh tế (Kotler, Jatusripitak, and Maesincee 1997, 113). Theo giáo sư Werner Soontiens, Khoa Trưởng Viện Đại Học Công Nghệ Curtin của Úc, phát biểu trong buổi hội thảo về Toàn Cầu Hóa Và Các Tiềm Năng Kinh Doanh Giữa Úc Và Việt Nam được tổ chức tại trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh chỉ hai ngày sau cuộc hội thảo quốc tế của Philip Kotler, Việt Nam có một lợi thế lạ kỳ là đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh với sự chiếm đóng và tham gia chiếm đóng của Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, v.v., nhưng dường như chỉ khiến người Việt Nam hiểu biết nhiều hơn về đối phương chứ không chồng chất trong mình thêm những mối căm thù và tinh thần bài ngoại. Chính điều này làm những doanh nhân và người dân từ các nước có “vấn đề lịch sử” với Việt Nam cực kỳ thích thú, tự tin, an tâm, và mến mộ Việt Nam hơn, rằng ở giữa người Việt họ không thấy lạc lõng vì được người Việt hiểu biết, cảm thông, hợp tác, đối xử thân thiện, cũng như trân trọng văn hóa riêng của họ; trong khi dân chúng ở vài nước khác trong khu vực nhìn họ với vẻ hoặc hằn học, hoặc tò mò đầy dọ xét, hoặc lạ lẫm, hoặc không thân thiện, khiến họ không sao có được sự thoải mái, an tâm, ngay cả trong một tour du lịch nhiều sao.

Những thế mạnh khác lại hoàn toàn khả thi vì nằm trong tay chính phủ để tạo nên được nét khác biệt độc đáo cho chiến dịch “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” . Trong lĩnh vực đầu tư, nhà nước nhất thiết phải có các chính sách thông thoáng đối với giáo dục-đào tạo, cụ thể là về quy trình cấp phép và ưu ái cấp đất cho tất cả các dự án của các học viện có danh tiếng của nước ngoài thay vì chú trọng đến các sân golf chẳng giúp ích gì về lâu về dài cho quốc gia dân tộc, cộng với các ưu đãi về chuyển lợi nhuận về chính quốc. Trong khi cấp đất cho một công ty sản xuất có thể dẫn đến hệ quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà bản thân Việt Nam cũng không còn “mơ” gì (và đừng nên mơ) đến danh xưng Cơ Xưởng Của Thế Giới mà Trung Quốc đã chiếm hữu, việc cấp đất cho các trường nước ngoài xây dựng campus chỉ giúp tạo nên cảnh quan văn hóa cao, đồng thời lợi nhuận thu được cho quốc gia tất nhiên là lớn tính trên bình diện tương quan chung của các ngành và lĩnh vực của đời sống. Ngoài ra, còn kể đến các chính sách đặc thù như cho phép sinh viên nước ngoài được lao động có thu nhập trong thời gian học tập tại Việt Nam cũng như ưu tiên dành cho họ những công việc họ quan tâm và có khả năng đáp ứng được ngay cả tại các công ty nhà nước Việt Nam sau khi họ tốt nghiệp, mà không phân biệt đối xử, xem họ như đối thủ cướp giật việc làm với người dân Việt Nam. Tất nhiên, chính sách là để chứng tỏ với thế giới ta có sức hấp dẫn như thế nào, chứ bản thân du học sinh nếu chọn Việt Nam là mái trường của thế giới thì họ cũng biết rõ mười mươi là cơ hội việc làm rất lớn cho họ vì ở Việt Nam ngày càng có nhiều công ty nước ngoài tìm đến kinh doanh và đầu tư.

Những lợi thế mà các đối tác là các học viện và trường học nước ngoài có thể có được khi tập trung về Việt Nam để biến Việt Nam thành Ngôi Trường Của Thế Giới, gồm chi phí thấp hơn và điều kiện bành trướng kinh doanh cực kỳ thuận lợi trong tình hình sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo-dạy nghề trên thế giới đã trở nên rất cao. Một trường đại học ở Mỹ chẳng hạn, khi được Việt Nam cấp phép mở chi nhánh, sẽ có được lợi thế trước hết là với “khách hàng” tại chỗ của đất nước 80 triệu dân mà đa số là giới trẻ, ngày càng có nhiều người có điều kiện kinh tế khả quan hơn, và ý thức về học-học nữa-học mãi cho một tương lai tốt hơn là đặc điểm nổi bật so với giới trẻ Âu Mỹ chú tâm nhiều đến việc kiếm “giốp” (job) hơn là cho việc học tập vốn có thể để thư thả về sau. Thứ đến là thay vì phải đến Mỹ với chi phí cao hơn, du học sinh vùng Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, và Bắc Á sẽ dễ dàng bị cuốn hút về Việt Nam để có được mảnh bằng danh giá nhưng với chi phí thấp hơn. Đó là chưa nói đến an toàn trong đầu tư vì rõ ràng là ngày nay mở trường tại những con hổ con rồng lân bang của Việt Nam đã không còn tính hấp dẫn và an toàn. Cuối cùng, các học viện nước ngoài khi đến Việt Nam không nhất thiết phải có làng sinh viên campus vì đặc điểm dân cư và địa lý của Việt Nam sẽ phù hợp hơn cho mô hình trường học với du học sinh cư ngụ bên ngoài tại các nhà trọ, khách sạn nhỏ, hay chung cư, giúp thiết kế được các gói học phí thấp hơn, tạo nên tính cạnh tranh cao hơn trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Nói tóm lại, khi chọn một con đường để theo đuổi, cao nhất và ưu tiên số một vẫn là dựa trên sức mạnh nội tại độc đáo, có bình diện rộng lớn hơn, có lợi thế tâm lý cao hơn trong danh dự và vinh dự của một quốc gia, có số đầu tư không quá lớn, có ít rủi ro hơn, và có nhiều lợi nhuận hơn. Phở, nếu ngon, sẽ chỉ sướng miệng, vì chưa hề có công trình nghiên cứu quốc gia về lợi điểm ưu việt của phở ở khía cạnh dinh dưỡng và sức khỏe (thí dụ như ăn một bát phở-có-đăng-ký-thương-hiệu sẽ có hiệu năng thay thế … một viên viagra), và nếu phải là phở thì sẽ chỉ tạo nên sự bất công đối với những phở-bình-dân-chưa-có-đăng-ký-thương-hiệu, rốt cuộc chỉ có lợi hơn cho cổ phiếu của các đại gia kinh doanh một món ăn nào đó mà thôi. Trong khi đó, Hàn Quốc đã nổ tung trời đất với nghiên cứu khẳng định đầy thuyết phục là món kim chi của họ giúp chống lại cúm gia cầm nên H5N1 không thể tấn công dân Hàn, và các chương trình nấu ăn của họ cực kỳ chuyên nghiệp, đầy ắp thông tin dinh dưỡng, và hấp dẫn hơn Yan Can Cook cả vạn lần, vậy mà họ có thèm làm cái chuyện nặn óc đặt một slogan “Nhà Bếp Của Thế Giới” như mấy anh Thái Lan đâu. Với một kế hoạch chiếm lĩnh vị trí “Ngôi Trường Của Thế Giới”, chúng ta giúp hạn chế “chảy máu ngoại tệ” khi mô hình du học tại chỗ vừa giúp sinh viên-học sinh Việt Nam vừa tiết kiệm được chi phí, vừa không bỏ lỡ cơ hội việc làm cũng như luôn theo kịp những đổi mới của nước nhà để hòa mình nhanh chóng ngay khi tốt nghiệp; việc đào tạo nhân tài, hệ thống đại học và cao học nước nhà có cơ hội cọ xát thực tiễn phát triển mạnh mà không phải tốn kém chi phí lặn lội ra nước ngoài “học hỏi”; lực lượng lao động đẳng cấp cao cung ứng kịp cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân thu ngắn thời gian đưa Việt Nam lên hàng cường quốc; ngành kinh tế mũi nhọn là du lịch được “ăn theo” khi gia đình và người quen của du học sinh sang Việt Nam thăm nom hoặc du lịch nhờ cách “marketing truyền khẩu” của du học sinh, giúp hình thức kinh doanh du lịch–lữ hành–khách sạn–nhà nghĩ phát triển; và cuối cùng ngay cả những người dân nghèo buôn gánh bán bưng cũng có thể tạo ra nhiều Phạm Công cho xã hội, khiến câu chuyện Phạm Công-Cúc Hoa không mãi là cổ tích, vì rằng cảnh tượng đẹp nhất tôi đã nhìn thấy trên đường Nguyễn Huệ một buổi chiều năm 2006 không phải là Chợ Hoa xô bồ tốn kém vô bổ, mà là một người đàn bà đứng tuổi, tươi vui rạng rỡ ngồi bên gánh hủ tíu mì rong bà đặt xuống gần lề đường trước khách sạn Kim Đô, phe phẩy chiếc nón lá, vui vẻ chờ một chàng da trắng cao gầy ngồi xổm trên vệ đường húp xì xà xì xụp, lóng cóng dùng đũa vớt mấy cọng mì váng mỡ lềnh bềnh trong chiếc tô mẻ. Thật tuyệt diệu nếu đó là một du học sinh, và sẽ tuyệt vời hơn khi hình ảnh như vậy rồi sẽ được bắt gặp như chuyện thường ngày ở huyện tại Việt Nam.

Và tại sao không nghĩ đến một tương lai không xa, khi Ngôi Trường Của Thế Giới đào tạo ra quá nhiều nhân tài đa chủng tộc, những người đã ở lại Việt Nam làm việc sau khi tốt nghiệp, cùng nhân tài Đất Việt giúp Việt Nam trở thành Chất Xám Của Thế Giới đoạt luôn vị trí Văn Phòng Của Thế Giới từ tay Ấn Độ?

*** BẢN TIẾNG ANH – ENGLISH VERSION ***

APROPOS OF A NATIONAL BRANDING FOR VIETNAM

National Branding: Vietnam, the Campus of the world

(posted at 17:42 on 06 August 2008 at  http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world)

Hoang  Huu Phuoc, MIB

PACE has set an exploit in deed!” said a foreign businessman, when we sipped some coffee during one of the tea-breaks at the International Conference on Marketing “New Marketing for New Age” organized on 22 August 2007 at the Sheraton Hotel, Hochiminh City, with Philip Kotler, the founder of modern marketing, as the special speaker. Yes, it is really fantastic PACE could bring to Vietnam one of the four greatest management gurus of all time (i.e. Philip Kotler, Jack Welch, Bill Gates, and Peter Drucker), attracting even many CEOs who flew to Hochiminh City from various countries to be present in the auditorium flocked by a 700-strong army of participants failing the air-conditioning facility of the five-star hotel, and to attentively listen to every word uttered leisurely and clearly by the great personage, the very words that dominated the mass media of Vietnam for days thereafter, particularly on the issues of “national branding” and “the kitchen of the world.”

There should be a slight clarification here that Philip Kotler did not propose Vietnam be a kitchen of the world with a literal meaning relating to gourmets; instead, he simply implied that the world has not known much about Vietnam and Vietnam has not positioned itself in whatsoever field of its utmost strength for a possible marketing campaign for a national branding internationally. With a witty smile he added that the position of a Kitchen of the World could also be considered. This example embodies within itself a riddle to be seriously decoded rather than just a straightforward sticking of a pointblank note of such dishes like “pho” or “banh xeo” or the like; i.e. whether Vietnam has had any “unique thing” to offer to serve the world – not whether Vietnam having any “delicious dish” to invite the world to come to eat or taste. Ironically, there even arises some idea that due to the fact that Philip Kotler is of so great a profile that he fails to be aware of what Thailand has been doing to already acquire the title of The Kitchen of the World (Kim Hanh, 2007). This sounds another misleading reference. A national branding can hardly be attained as a matter of course by a concerned country without achieving any convincing outcome to the world. Everest gets the title of “The Roof of the World” simply because it is the highest acknowledged and certified upon the scientific measurement conducted academically in comparison with the balance peaks of the whole world. As a market-country of a huge population of cheap labour, China welcomes foreign investors who flock to her to set up manufacturing units for products to export worldwide, thus making the country labeled The Factory of the World. Things are similar to India. After some decades successfully attracting foreign manufacturers to come to meet India’s strategy of import substitution but yet attaining the fame of the Factory of the World, India incurred so costly a price when its environment was so seriously devastated, making situations the worst with the leaking of 27 metric tons of the deathly gas of methyl isocyanine from the Union Carbide Plant of the American company Dow Chemical in Bhopal in end 1984, tolling the death of 20,000 inhabitants; 120,000 still suffering from ailments of cancer, brain-damage and birth-defect problems; half a million people still exposed to threats of diseases; and the site not cleaned up for ever (www.bhopal.com). However, a new opportunity comes when this country of numerous talents provides the backup services to corporate customers worldwide, thus becoming the “Office of the World”. Meanwhile, Australia though not a populated country is having an excellent health services known for their capability in successful treatment of critical diseases; however, it has not been labeled “The Clinic of the World” due to the fact that its services have not been aggressively provided towards beyond its borders. Thailand manages its so-called “Kitchen of the World” campaign just to secondarily support the further promotion to its already developed tourist industry, attracting more tourists to visit Thailand to enjoy its dishes which have been already known by millions of tourists during the past decades, i.e. those dishes are not secret treasures of the nation. In order to get the title The Kitchen of the World, a country contestant need somewhat be a general catering corporation, ensuring to meet the gourmet requirements, tastes, and orders of customers worldwide, whereas the food provided must be from ingredients from customers’ countries or equal to qualities of such original ingredients; furthermore, in order to materialize this practically impossible and imaginary project, the country contestant must set up a huge system of procurement, importing, storage, preserving, hygienic conditioning, and DHL-like distribution networks. This is never like the simple work of introduction of Pho or Banh Xeo on site in Vietnam; and even if the Vietnamese Pho were worldwide acclaimed as the best dish, Vietnam then would get the label of The Country of Pho only. A fact is that many foreigners working for years in Vietnam are still reluctant to take Vietnamese dishes, regardless of whether a majority of the Vietnamese people consider their Pho the best. It is therefore assumed that when referring to the so-called the Kitchen of the World, Philip Kotler profoundly implied that even the literal meaning of the phrase could hardly be properly understood. Corporate Kitchens are where food is prepared according to the orders of customers and prepared food is brought out to serve customers. Corporate Kitchens are not where food is prepared according to the fancies of chefs then customers flock into to eat prepared food. Figuratively, unique products of national branding are for export purposes, whilst food of household is offered free to guests. And as the national branding establishment requires thorough understanding of rules, processes, and progresses; a strongly organized enforced mechanism; and a long-term general planning, I wish to propose the following target title for Vietnam: The Campus of the World with details are as follows.

Totally different from gourmet requirement which basically depends on individual customer and not on the food particulars of billions of dishes, the needs for education and training have the focus on a limited and seemingly uniformed list of available fixed goods; e.g. upon graduated from universities, most of people wish to get an MBA (which is losing its priority to the MIB) and the points of concerns are on where to apply affordably and conveniently, away from unnecessary torture at visa application interview process, and well within among friendly environment of much more competitive offerings tangibly and intangibly to the students. Vietnam is the very country of so much affordable convenience and preferential competitiveness to overseas students as per the following analysis, actually really factually practically suitable for an advertisement campaign for this country branding at an absolutely safe level without involving into any dispute or court case due to excessive residue of fatal insecticides or antibiotics or morphine used in making of noodle for “Pho”, or the like, which all so easily damage the country image, prestige, and pride.

Saying Vietnam is the safest haven for business operation is a fantastic emphasis on its high level of security politically, economically, and naturally favourably. Overseas students will find Vietnam an ideal place for admission to universities and colleges of the USA or other countries who operate in Vietnam, without any fear of school massacre shooting, racial discrimination, political chaos, riots, messy demonstration protests, or natural disasters, etc., where their parents and families would release themselves of any anxiety when investing in the schooling of their children in Vietnam. The unique and exclusive pluses to the studying in Vietnam of overseas students and to the teaching in Vietnam of foreign teachers include the traditional environment of desires of learning of Vietnamese people, total respect paid to teachers by students, their families, and the whole community, making positively interesting impacts on overseas students in building a constructive profound personality which prove the cultural factors play an important role in the growth rates of the economy (Kotler, Jatusripitak, & Maesincee 1997, 149). In a speech delivered by Professor Werner Soontiens of Curtin University of Technology of Australia at the seminar on globalization and business potentiality between Australia and Vietnam organized just two days after the Philip Kotler’s international conference, an interesting note was given about a unique advantage of Vietnam to the world that the people of this war-torn country undergoing the torture from invaders from China then France then Japan then the USA with its allies just to experience more the diversifying prototypes of “enemies” to understand them thoroughly, and not for an eventual revenge or a terrible xenophobia . This is why business people from even the countries of past problems with Vietnam flock to the country without any fear of falling victims to vengeance.

To make the country further qualified for the national brand name of the Campus of the World, the government can improve the licensing procedures for campus projects, provide preferential adjustment on profit transfer back home, land use, and even policies to provide job opportunities to foreign students upon graduation. And why it is not possible if together with the local talents, the foreign students who work in Vietnam after graduation will further contribute to the development of the economy of the country, even making it gain the other national branding of The Gray Matter of the World in the long run?

Hoang Huu Phuoc, MIB

References:

Kim Hạnh. n.d. Người Thái Đã Đi Trước. http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=216595&ChannelID=11

Kotler, P., S. Jatusripitak, & S. Maesincee. 1997. The Marketing of Nations. New York: Free Press.

What Happened in Bhopal. http://www.bhopal.org/whathappened.html#_ftn1#_ftn1 (accessed August 24, 2007)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

“Make in India”

Lối Mòn và Lối Mới của Tư Duy

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Danang 24Dec2014_11

Đà Nẳng, 24-12-2014

Hai mươi năm trước, khi vầng dương của công nghệ thông tin vừa ló dạng ở chân trời, khi thấy sự háo hức hừng hực hồ hởi của thông tin trên báo chí tác động đến người đọc trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm dẫn đến việc nhà nước mạnh tay chi tiền cho phát triển aitee tức IT tức công nghệ thông tin còn người dân thì mạnh tay đầu tư cho con em học hành lên cao cho ngành aitee, tôi đã tuyên bố tại tất cả những buổi đứng lớp và các buổi thuyết trình rằng sẽ chẳng thể nào có được ngày bừng sáng của aitee tại Việt Nam. Và hai mươi năm sau, xuất hiện những thông tin rằng các đại gia aitee Nhật và Hàn không thể tìm ra đủ nguồn nhân lực cho cơ sở đầu tư công nghiệp aitee của họ tại Việt Nam. Phải chăng tôi là bậc tiên tri thấu thị, một man of vision theo cách gọi trọng vọng của ngôn ngữ phương Tây? Hoàn toàn không. Đơn giản tôi chỉ là một người Việt biết rất rành người Việt. Hầu như ai khi học aitee cũng phạm bốn lệch hướng ngay từ đầu gồm (a) đã học thì phải ở “đẳng cấp đại học”, trong khi aitee chủ yếu là loại “hand-on” tức cầm tay chỉ việc, vừa không là ngành học hàn lâm để mất thời gian 3 hay 4 năm dưới mái trường “đại học”, vừa tiến hơn vũ bảo, biến toàn bộ các kiến thức của thầy/cô nhanh chóng lạc hậu và trang thiết bị đắt tiền loại không-ăn-cắp-bản-quyền của nhà trường biến thành sự đổ sông đổ biển ngân sách hàng năm; (b) đã là aitee thì phải làm giàu như Bill Gates; (c) đã là “cử nhân” aitee thì dứt khoát không chịu làm “thợ” tức chuyên viên kỹ thuật; và (d) đã học aitee “thành tài” thì phải mở “doanh nghiệp” làm giám đốc, mà toàn là mua bán handphone/laptop chính hãng hoặc “xách tay” hoặc viết những phần mềm “quản trị” không đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp nước ngoài [1].

Nhiều chục năm nay, khi toàn cầu hóa trở thành từ ngữ chót lưỡi đầu môi của những nhà hoạch định chính sách và những nhà-thích-nói-về-hoạch-định-chính-sách, những người nói nhiều về “thương hiệu quốc gia” gồm ba nhóm: (a) nhóm cho ra những định nghĩa mà sách vỡ hàn lâm dịch thuật ra tiếng Việt có thể cung cấp được chi tiết lập luận đủ đầy một cách ấm áp lổ tai, (b) nhóm vồ lấy những thông tin sai lệch làm thành thông tin chính thống tràn ngập tất cả các trang báo giấy và báo mạng như trường hợp câu nói ví von theo nghĩa bóng khôi hài của giáo sư Philip Kotler tại Việt Nam năm 2007 về “Nhà Bếp Của Thế Giới” [2] biến thành sự hồ hởi phấn khích cực độ tuyên truyền đòi món ăn đầy yếu điểm như “Phở” làm thương hiệu quốc gia của Việt Nam, và (c) nhóm tự chế tạo linh tinh một khái niệm mới bằng tiếng Anh dù hoàn toàn không có trình độ về tiếng Anh như hô hào trên Thời báo Sài Gòn năm 2008 về đổi Made in Vietnam thành Made by Vietnam để….phù hợp với toàn cầu hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia một cách đáng thương hại. Bài viết này sẽ phê bình nhóm thứ ba này trước khi nói về “Make in India”.

“Made in Vietnam” có nghĩa là sản phẩm này được chế tạo tại Việt Nam, bất kể là do người Việt Nam là chủ nhân sáng chế hay thực hiện theo đơn hàng và bằng sáng chế của người khác. Và theo thông lệ của tính ưu thế thì ai đến nước khác (hoặc đặt hàng nước khác) sản xuất thì luôn tận dụng nguồn nhân lực tại chỗ nên dù muốn dù không cũng luôn mang sẵn nội hàm được làm bởi người bản xứ mà trong trường hợp này thì đó là “Made by Vietnam”. Như vậy, “Made by Vietnam” nằm sẵn trong “Made in Vietnam”. Vấn đề là thế giới chỉ cần biết xuất xứ theo thông lệ xuất nhập khẩu để áp thuế thích hợp, nên luôn luôn có dòng chữ thí dụ như MADE IN VIETNAM trên bao bì, và chẳng ai cần quan tâm đến cụm từ vô nghĩa MADE BY VIETNAM mà nhóm thứ ba lập luận một cách thơ ngây, đề xuất một cách vô ích đối với “thương hiệu quốc gia”.

Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phải học đại học nên mới có đại học aitee, đại học múa, v.v. Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phải làm việc đại sự, phải chế tạo xe hơi, nên hai chục năm nay không thể có ngành công nghiệp phụ trợ, đẩy toàn bộ lợi nhuận và cơ may phát triển công nghiệp ô-tô vào tay các lân bang. Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phải làm ông chủ chứ không được đi làm thuê trên chính đất nước của mình. Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phát hoảng thất kinh hồn vía khi thấy lân bang chế được cái gì đó, chẳng hạn phát sốt khi nghe nói Thái Lan đã cướp mất thương hiệu quốc gia “Bếp Ăn Của Thế Giới”, và phát rồ lớn tiếng chỉ trích chê bai chính phủ đã chậm chân vì Campuchia đã chế được xe hơi cỡ nhỏ giá rẻ, v.v.

Khi Trung Quốc được mang danh “Công Xưởng Của Thế Giới”, nơi thế giới đổ xô về đấy để đầu tư mở các nhà máy sản xuất với đôi mắt sáng rở trước viễn cảnh thị trường bao tỷ dân có sẵn, và Ấn Độ được mang danh “Văn Phòng Của Thế Giới”, nơi cung cấp các giải pháp quản lý từ xa cho các doanh nghiệp Âu Mỹ [3], thì Việt Nam có kế sách rất nhu mì “hiện đại hóa” nền công nghiệp nước nhà nhưng hoàn toàn không nói lên sự cạnh tranh mạnh mẽ nào đối với ai, tại đâu, bằng cách gì, vào lúc nào, vì sao, và ai “đứng mũi chịu sào” trong những ngành “mũi nhọn” như điện tử, máy nông nghiệp, chế biến nông-thủy sản, đóng tàu, môi trường và tiết kiệm năng lượng, sản xuất ô-tô và phụ tùng ô-tô.

Ấn Độ, trái lại, không lẳng lặng như Trung Quốc a-thần-phù biến mình thành công xưởng của thế giới, và cũng không nhu mì như Việt Nam chẳng khẳng định mình khi hiện đại hóa và công nghiệp hóa sẽ là gì của thế giới. Ấn Độ đã một cách hùng hồn và ồn ào qua quảng bá trên đài CNN suốt tháng 11 năm 2014 và phổ biến trên toàn thế giới công khai chiếm đoạt tước đoạt thương hiệu “công xưởng của thế giới” từ tay Trung Quốc đồng thời vô hiệu hóa nổ lực hiện đại hóa và công nghiệp hóa của Việt Nam bằng siêu dự án đẳng cấp thiên hà MAKE IN INDIA. Vậy MAKE IN INDIA là gì?

Nếu MADE IN INDIA – giống như Made in Vietnam hay Made in Japan, v.v. – có nghĩa là dòng chữ thụ động (passive voice) chứng thực rằng “sản phẩm này được sản xuất tại Ấn Độ” (đương nhiên bởi người Ấn Độ, theo sáng chế của Ấn Độ hoặc sáng chế của bất kỳ ai đặt hàng cho Ấn Độ sản xuất), thì MAKE IN INDIA lại mang nghĩa mời gọi chủ động (imperative mood) rằng “hãy sản xuất hàng hóa của bạn tại Ấn Độ” với nội hàm “trên cơ” một cách khủng khiếp rằng Ấn Độ có sẵn nguồn nhân lực hùng hậu, thị trường sẵn có rất thông thoáng rộng mở và đang có sự hoạt động sản xuất của các nhà đầu tư nước ngoài cỡ lớn, cơ chế chính sách pháp luật hoàn toàn đầy đủ, cơ hội kinh doanh sẵn có cùng lợi nhuận dồi dào, và các hỗ trợ tài chính đủ đầy về 25 lĩnh vực như: ô-tô, phụ tùng ô-tô, hàng không, kỹ thuật vi sinh, hóa học, xây dựng, vũ khí quốc phòng, máy điện, hệ thống điện tử. chế biến thực phẩm, công nghệ thông tin, đồ da, truyền thông và giải trí, khai khoáng, dầu khí, dược phẩm, cảng, đường sắt, năng lượng tái tạo, xa lộ – cầu đường, vũ trụ không gian, dệt may, nhiệt điện, du lịch – khách sạn, và y dược dân tộc. Mỗi lĩnh vực của Nhị Thập Ngũ Sư này

 MII

đều được cung cấp đầy đủ thông tin chi tiết và đầy sức thuyết phục dưới 10 tiêu đề gồm (a) tóm tắt nội dung lĩnh vực, (b) lý do thuyết phục vì sao nên đầu tư sản xuất trong lĩnh vực này tại Ấn Độ, (c) các số liệu thống kê phát triển cùng triển vọng ngành này tại Ấn Độ, (d) các động lực phát triển, (e) chính sách dành cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành này, (f) các chính sách liên quan đến ngành này, (g) các hỗ trợ tài chính đối với đầu tư vào ngành này, (h) những cơ hội đầu tư từ ngành này, (i) những nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu trong lĩnh vực này tại Ấn Độ, và (j) các cơ quan Nhà nước hỗ trợ riêng về lĩnh vực này.

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ! Đó là ý nghĩa của MAKE IN INDIA.

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ vì chúng tôi sẵn sàng “làm thuê” cho bạn ngay tại đất nước của chúng tôi! Hãy đổ xô đến Ấn Độ vì các bạn không thể được chào đón tương tự tại những quốc gia mà nơi đó còn “sĩ diện” mãi thở than sao họ cứ mãi “làm thuê trên chính đất nước mình”nghĩa là họ chỉ muốn làm ông chủ!

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ! là một khẩu hiệu quốc gia mới của Ấn Độ cho một chủ trương đã rất cũ – vì rằng Ấn Độ đã mở cửa nhiều thập niên nay cho biết bao nhà sản xuất nước ngoài đến mở nhà máy sản xuất thậm chí cả hóa chất độc hại [4].  

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ vì chúng tôi vừa có dân số chẳng kém gì anh kia – nghia là thị trường cũng khổng lồ tương tự – vừa không có chủ trương bá quyền nước lớn như ảnh cứ luôn gây hấn ở biển nọ biển kia, cự chống nước đấy nước này.

Đó là những thông điệp khúc chiết đầy tính tu từ và thuyết phục từ MAKE IN INDIA.

Biến đổi một cụm từ mặc định của xuất khẩu hàng hóa MADE IN INDIA thành một khẩu hiệu mang tính thương hiệu quốc gia đẳng cấp cao MAKE IN INDIA, đó là cái tài của những nhà kinh thương tầm cỡ thế giới.

Việt Nam rất cần những cơ quan tầm cỡ như vậy, có đầy những nhân lực tầm cỡ như vậy, mới có những hiện thực hóa về nguồn nhân lực đủ đầy cho tất cả các ngành, mới có những chính sách chủ trương lót đường vững chắc sẵn sàng cho tương lai để tương lai biến thành hiện tại chứ không phải xây đường du kích tương lai khi hiện thực manh nha ở tương lai, mới có thể nhìn lại xem người ta còn thiếu lĩnh vực nào để mình có thể lảnh ấn tiên phuông và người ta còn yếu lĩnh vực nào để mình lấn lướt, vì rằng phát kiến đổi Made in Vietnam thành Made by Vietnam chỉ là lời nói thiếu nghiêm túc, không hiểu biết, của những người muốn lấn sân ngôn ngữ Anh chứ không của bậc tài trí chiến lược đúng nghĩa về “thương hiệu quốc gia”.

Hỡi các vị hay phê phán chính sách kinh tế của Nhà Nước, xin đừng hốt hoảng! Vì Ấn Độ vẫn còn bỏ sót ít nhất là một lĩnh vực mà Lăng Tần đã đóng góp ý kiến từ năm 2007 [5].

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 08-3-2009. Aitee Việt Nam: Bài Viết Số 1 – Tìm Một Lối Đi  Đúng Tầm Nội Lực – Nhân Sự Kiện Bảo Việt Nhân Thọ và Bravura Solutions. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17550 / http://www.emotino.com/bai-viet/17550/aitee-it-viet-nam-tim-mot-loi-di-dung-tam-noi-luc (hiện không truy cập được tại emotino.com– sẽ post lại trên blog này sau hai tuần)

[2] [4] [5] Hoàng Hữu Phước. 07-8-2008. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. Bản gốc tiếng Anh đăng 05-11-2007 tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc, và Bản tiếng Việt đăng 07-8-2008 trên http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam. (hiện không truy cập được tại emotino.com– sẽ post lại trên blog này sau một tuần)

Bản gốc tiếng Anh: Hoang Huu Phuoc. 05-11-2007. On the National Branding: Vỉetnam, the Campus of the Worldhttp://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc. Re-posted 07-8-2008 at http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world.(presently not accessible, to be re-posted herein within the following week)

[3] Hoàng Hữu Phước. 2007. People Say Chindia. I Say Vietnam. Bài viết tiếng Anh đăng trên http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc, không còn bản lưu. Nội dung: thế giới nói quá đáng về Thị Trường Trung-Ấn Vĩ Đại (China+India = Chindia) như hấp lực to lớn đối với đầu tư của toàn thế giới dồn về, trong khi tôi cho rằng thế giới sẽ trả một giá rất đắt cho viễn cảnh sai lầm đó, và rằng doanh gia thế giới nếu khôn hãy đầu tư vào Việt Nam. Bạn nào có lưu bài viết này xin vui lòng cho nhận một bản sao. Xin chân thành cảm ơn.

15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần

(Bài đã đăng trên Emotino ngày 26-12-2010[1] và có chỉnh vài chi tiết nhỏ trong phần đăng lại dưới đây)

 Rice (1)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Khi được ở gần Cha Mẹ, được Cha Mẹ thực sự đùm bọc, thực sự thương yêu, thực sự hết lòng dạy bảo lẽ phải điều hay và đạo lý ở đời, người ta chắc chắn sẽ biết thế nào là thực sự yêu nước, tức lòng yêu nước hoàn chỉnh bao gồm tất cả những khái niệm và nội dung của dựng nước vẻ vang, bảo vệ đất nước thành công, xây dựng đất nước hùng mạnh, xây dựng con người giỏi giang văn minh cho đất nước, phục vụ đất nước, và tôn thờ tôn vinh tôn trọng đất nước. Từng thành tố trong xã hội có một hay hơn một vai trò – chứ không bao giờ đảm trách hay có khả năng quán xuyến tất cả các vai trò – tác động vào việc hình thành “lòng yêu nước” nơi con người văn minh của đất nước, vì vậy có những cán bộ đảng viên hủ hóa tham ô tham nhũng dù đã hy sinh trọn tuổi thanh xuân, thân thể, người thân cho đại cuộc bảo vệ đất nước thành công, chỉ vì ngoài sự giáo dục của Đảng họ đã không may mắn có được sự dạy dỗ của Mẹ Cha để biết ngoài thế lực thù địch của cách mạng mà Đảng đã dạy cho họ thấu đáo, còn có thế lực tàn phá nội tại mang tính “con” người mà chỉ có sự răn dạy và gương sống của Mẹ Cha cùng những giáo huấn mang tính 50% tín ngưỡng và 50% bài học sống của quá khứ cùng kinh nghiệm sống thực tế của Mẹ Cha mới có thể làm dây cương kềm chế chắc chắn, hữu hiệu.

Khi đã có lòng yêu nước thực sự theo diễn giải bao trùm của khái niệm mới trong thời đại mới trên, người ta nếu được chứng kiến cuộc sống thật sự đạo hạnh và thật sự đạo đức của Cha Mẹ, người ta chắc chắn sẽ không gặp chút khó khăn nào để tránh xa tham nhũng và hối lộ.

Hai mươi sáu năm trước, lúc Việt Nam chỉ có công ty nhà nước, quảng cáo chưa hề xuất hiện thừa mứa trên báo chí hay quấy rầy thường trực trên tivi, xã hội chưa có luật đầu tư nước ngoài hay luật thuế thu nhập cá nhân, và số văn phòng đại diện công ty nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đếm được trên đầu ngón tay của chỉ một bàn tay đủ ngón, khi nghe tin tôi tiếp cận VCCI dọ hỏi thông tin để mua gạo cho chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam có giá trị thương mãi sang một nước tư bản, tự dưng xuất hiện rất nhiều công ty nhà nước ở rất nhiều tỉnh thành đã tìm đến tôi.

Do tôi đã dạy vợ cực kỳ nghiêm khắc từ thủa ban sơ mới về, rằng đừng bao giờ nhận bất kỳ quà cáp nào, tiền bạc nào, phong bì nào, của bất kỳ ai, nhất là của người lạ – đề phòng đó là truyền đơn chống Cộng, ma túy, hay chất nổ – nên vợ tôi khi thấy nhiều người lạ bí hiểm đến tìm lúc ở nhà một mình, thân gái ngây thơ, chưa có con mọn, kinh hãi trốn núp trong nhà, vái van Trời Phật sao cho nhanh chóng trở lại tương lai hai mươi sáu năm để có điện thoại di động gọi chồng. Khi tôi về đến nhà (thường sau 21 giờ, do làm việc xong còn phải chạy đi dạy ở Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội và một số trung tâm ngoại ngữ do không thể nói không trước các lời mời mọc của…nhà nước, nên thường xuyên để vợ nhịn đói xem phim Người Giàu Cũng Khóc trên tivi Lucky Goldstar Hàn Quốc chờ cơm), đã thấy từ xa ngồi thu lu trước sân nhà tôi những bóng đen của Men in Black với đốm lửa bập bùng của thuốc lá y như phim Cảnh Sát Hình Sự. Thế là tôi buộc phải tỏ lòng hiếu khách mời họ vào nhà từng người – hoặc từng “công ty” – một. Nội dung công ty thứ nhất nói với tôi gồm: nếu tôi tác động ký hợp đồng 15 ngàn tấn gạo với công ty họ, ngay lập tức ngày hôm sau họ chở một máy lạnh Nhựt Bổn, một tủ lạnh Nhựt Bổn, một máy giặt Nhựt Bổn, một tivi Nhựt Bổn, hai chiếc Honda Cub Nhựt Bổn, kèm 15 ngàn đồng tiền đồng minh Nhựt Bổn (USD) để tôi … có phương tiện chạy đi thanh toán tiền điện hàng tháng cho mấy thứ máy Nhựt Bổn lỉnh ca lỉnh kỉnh đó. Chưa hết, khi bên tôi mở tín dụng thư e-lờ-xê không hủy ngang (irrevocable elcee) hơn 4 triệu USD xong, họ đưa tiếp 7.500 USD tiền mặt; khi tôi điều tàu vào tới Cảng Sài Gòn sẽ nhận tiếp 7.500 USD tiền mặt; và khi họ nhận được tiền thanh toán qua ngân hàng sẽ gởi tôi 22.500 USD tiền mặt, vị chi là cứ mỗi tấn gạo tôi hưởng tiền mặt là 4 USD. Các công ty vào sau thì tất nhiên đẩy giá lên cao hơn đến 4,5USD/tấn, rồi 5 USD/tấn, rồi 10 USD/tấn, khiến vợ tôi nằm ở phòng trong đã đói meo meo nay nghe loáng thoáng con số hối lộ 150.000 USD – vào thời điểm mà mỗi khi tôi cho ai một gói thuốc 555 là người ấy cảm ơn rối rít, chạy bay ra bán lại cho xe bán thuốc lá lẻ lề đường – mà hết cồn cào khỏi cần uống mật ong nghệ đen trị đau bao tử. Khi mọi người đã về hết, tôi ăn cơm nguội canh lạnh cùng vợ hiền lúc 23 giờ. Vợ tôi không nhắc gì về “phi vụ” ấy vì có hỏi cũng bằng thừa do biết anh chồng trẻ của mình sẽ làm gì qua cái cười khinh khỉnh khinh người khinh miệt khinh khi khinh rẻ khinh thường vừa nhai cơm vừa nhai xương vịt đầy giận dữ của “anh ấy”.

Và đây là việc tôi làm: tôi chủ động liên lạc với Imexco vì đó là tổng công ty xuất nhập khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh (tôi phải lịch sự với chính quyền sở tại nơi đóng văn phòng đại diện của mình để chứng tỏ ngay từ thủa thế giới chưa ai phát minh ra khái niệm CSR[2] thì tôi đã tỏ trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng rồi); kế đến là Generalimex Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Ngoại Thương để yên tâm có … “trung ương” (tôi phải lịch sự với trung ương để chứng tỏ mình có giáo dục); và sau đó là Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Đồng Tháp (để yên tâm có…nguồn cung ứng gạo thật sự). Mỗi công ty ký hợp đồng cung ứng 5.000 tấn cộng/trừ 10%, gạo trắng, hạt dài, không dẻo, 35% tấm. Không ai trong số ba công ty này có mặt tại nhà tôi để ra giá mua tôi trước đó. Tôi chọn Đồng Tháp vì cân nhắc chính xác về nguồn gạo đáng tin cậy hơn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (vào thời điểm đó), và vì trước khi “làm ăn” với công ty địa phương nào, tôi luôn “chấm điểm” cung cách và tư cách vị lãnh đạo nơi công ty ấy. Anh Võ Hùng Dũng, Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Đồng Tháp, là người khiến tôi thích thú hơn vì Anh chứng tỏ biết người trước mặt mình như thế nào để có cách ứng xử thích hợp.

Ngày tàu đến lại nhằm lúc kẹt cảng phải neo giữa sông Sài Gòn. Cả ba công ty cho đoàn đoàn xà lan tắp đông đúc hai bên mạn tàu. Dù đã có Vinacontrol cùng Công ty Kiểm Kiện làm công việc của họ, tôi vẫn theo ca-nô của Cảng Vụ Port Authority Operation ra tàu, leo lên chiếc thang dây chão đung đưa bên mạn tàu (lúc ấy tôi nặng 84kg net đã trừ bì) để lên tàu kiểm tra việc lót cót các hầm tàu, chứng kiến tiến độ lên hàng và giám sát việc chất gạo sao cho bảo đảm hệ số chất xếp storage factor hầu có thể chất thêm nhiều gạo hơn, có lợi cho “phe ta” tức các công ty xuất khẩu gạo tức các nông dân. Dưới ánh nắng chói chang, tôi thích đứng cạnh các cô nhân viên kiểm kiện “Bắc Kỳ” cực kỳ xinh đẹp đội nón lá gò má ửng hồng mà mấy anh thủy thủ nước ngoài bụng bự răng sún (không đeo vải đen che một bên mắt và không có bàn tay câu móc như trong phim hoạt hình Peter Pan) đầm đìa mồ hôi lạng qua lạng lại hềnh hệch cười nhe răng tán tỉnh.

Sau khi tàu rời bến, ba thương vụ gạo đầu tiên của Việt Nam thành công. Anh Võ Hùng Dũng bảo một cán bộ là Anh NVL đến nhà tôi gởi tặng tôi một…xấp vải may quần tây màu gì ấy, trộn lẫn giữa đen, xanh nước biển đen, xanh lá cây đen, xám đen, và…vàng đen. Đó là món quà tôi vui vẻ nhận từ người sâu sắc biết tôn trọng người học đòi nết hạnh thanh liêm ở thánh nhân. Vợ tôi đã phải vừa đưa tiền cho tôi đi may quần từ xấp vải ấy, vừa than rằng phải chi họ đưa tiền thì nàng đã có thể mua xấp vải Sài Gòn tốt hơn vải Đồng Tháp, và có màu…đàng hoàng hơn.

Thanh liêm ư? E rằng dùng từ quá to tát cho một việc nhỏ bé mà bất kỳ ai có Cha Mẹ, được Cha Mẹ thực sự đùm bọc, thực sự thương yêu, thực sự hết lòng dạy bảo lẽ phải điều hay và đạo lý ở đời, đều có thể dễ dàng làm được. “Ăn” vài chục ngàn hay cả trăm ngàn USD đồng nghĩa với việc hàng hóa sẽ không có chất lượng cao, phá nát uy tín quốc gia, bôi nhọ hạt gạo Việt Nam, gây tội ác với nông dân, và làm hại nông nghiệp nước nhà. Danh dự quốc gia không thể bị đánh mất chỉ vì những kẻ không biết thế nào là danh dự bản thân và trách nhiệm cá nhân với cộng đồng [3].

Tôi thường gặp Anh Võ Hùng Dũng – nay là Tiến Sĩ, Giám Đốc VCCI Cần Thơ – tại các hội nghị quốc tế về lúa gạo, lương thực quốc gia. Tại World Rice Outlook 2011 ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 11 năm 2010 này, Anh Dũng lúc giải lao đã gọi Cô Lê Thị Mỹ Dung, phó giám đốc Công ty Lương Thực Đồng Tháp đến chào tôi, do trước đây Cô là nhân viên lo đôn đốc thức khuya dậy sớm theo sát các chành gạo để bảo đảm lượng hàng chất lượng tốt đáp ứng đúng yêu cầu nghiêm khắc của tôi. Nữ doanh nhân này rất khéo ăn nói khi bảo “Anh Phước bi giờ trẻ hơn hồi đó!” làm tôi hoảng sợ, chẳng qua vì tôi không thích ở tuổi…teen lo nhìn ngón chân cái [4]. Thật ra, chắc tại hồi đó tôi làm mặt “ngầu” (không phải để vòi vĩnh hoa hồng mà để ai cũng sợ mà chuẩn bị hàng hóa cho đàng hoàng) nên giống “Bố Già” hơn, còn bây giờ lịch lãm làm tư vấn nên giống Ông Trẻ. Khi trò chuyện nhắc về chuyến xuất khẩu gạo ngày xưa, Anh Dũng nói anh NVL dường như vừa bị bắt ở Thành phố Hồ Chí Minh vì buôn lậu. Tôi lặng người, mất vui, vì người thay mặt Anh Dũng đưa tôi xấp vải quần đã bảo tôi rằng tôi thật lạ vì đã từ chối cơ hội bằng vàng mà bạn bè anh ấy ở các công ty kia muốn trao cho tôi làm giàu nhanh chóng. Ắt anh NVL đã không khen tôi khi dùng chữ “thật lạ” ấy.

 Rice (2)

Tôi cảm ơn Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng đã cho tôi một giai thoại mang tên 15 ngàn tấn gạo bằng một xấp vải quần để vợ tôi có chuyện kể cho con tôi nghe từ lúc cháu còn bé tí tẹo, để tự hào về Bố của nó và để giáo dục chính nó.

Tôi mong sao mọi người đều hiểu rằng tham nhũng[5] là chuyện làm điếm nhục gia phong, và rằng sống thanh liêm chính là sống tròn đạo hiếu vì chỉ khi sống thanh liêm người ta mới khiến người khác phải tin rằng mình đã thực sự có Cha Mẹ tốt đẹp, được Cha Mẹ thực sự đùm bọc, thực sự thương yêu, thực sự hết lòng dạy bảo lẽ phải điều hay và đạo lý ở đời. Đó mới là cách vinh danh Cha Mẹ chứ không phải là khoe với Cha Mẹ về chức tước cao vời của mình và đem về cho Cha Mẹ bạc tiền chất cao ngút ngất mình kiếm được không do đức độ và tài năng chân chính.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 26-12-2010. Tôi Và Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng: 15.000 Tấn Gạo Bằng 01 Xấp Vải Quần. http://www.emotino.com/bai-viet/18927/toi-va-tien-si-vo-hung-dung-cau-chuyen-15000-tan-gao-bang-1-xap-vai-quan

[2] Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng.

[3]Thuật ngữ mới của Hoàng Hữu Phước: ISR Individual Social Responsibility / PSR Personal Social Responsibility,  như một khái niệm mới về nền tảng quan trọng hơn và quyết định cho sự thành bại của CSR. (Sẽ có bài viết về ISR/PSR).

[4] Hoàng Hữu Phước. 2009. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật: Nhìn Ngón Chân Cái. http://www.emotino.com/m.php?p=18336. Đăng lại ngày 06-10-2014 tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/06/tuoi-teen-khong-bao-gio-co-that/

[5] Khi nói “tham nhũng”,  cụm từ này phải bao gồm bất kỳ ai đề nghị tham nhũng để tham nhũng, bất kỳ ai đáp ứng đề nghị tham nhũng để thành kẻ đưa hối lộ, bất kỳ ai đòi hối lộ để thành tên tham nhũng, và bất kỳ ai đáp ứng lời đòi hối lộ để là kẻ đưa hối lộ, vì tất cả đều có tội làm vấy bẩn môi trường sống và đều có tội đối với luật pháp quốc gia, làm điếm nhục gia phong.

Nguồn khác (Emotino.com, hiện không truy cập được):

Hoàng Hữu Phước. 2009. Hành Trình Hạt Gạo Việt: Gạo Việt Ra Chợ Quốc Tế . http://www.emotino.com/m.php?p=18302

Hoàng Hữu Phước. 2009. Người Đầu Tiên Góp Phần Đưa Hạt Gạo Đi Xa. http://www.emotino.com/m.php?p=17638

Hoàng Hữu Phước. 2010. Dạy Vợ. http://www.emotino.com/m.php?p=18722

Hoàng Hữu Phước. 2010. Tham Nhũng Tại Việt Nam. http://www.emotino.com/m.php?p=18916

Cập Nhật Blog Này 08-01-2015

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Party 28Dec14 (13)

Do thanh công cụ bên trái của giao diện blog này chỉ có khả năng liệt kê có 50 bài mới nhất trong khi tổng số đã hơn 100 bài đã đăng, việc cập nhật sẽ được thực hiện hàng qu‎ý.

Tính đến ngày 08-01-2015, Blog này đã có những bài viết sau đây:

  1. Đừng Buông Xuôi, Bạn HỡiJanuary 6, 2015
  2. Cần Loại Bỏ Việc Phát Bài Ca Happy New Year của Abba Dịp TếtJanuary 4, 2015
  3. Sân Bay Long Thành: Lời Giải Thích Ngắn Gọn Giản ĐơnJanuary 3, 2015
  4. Thông Giáng Sinh và Formal EnglishJanuary 2, 2015
  5. Tư Duy Tích Cực 2015December 30, 2014
  6. Vấn Đề “Phi Chính Trị Hóa Quân Đội” và Nội Hàm “Đảng Lãnh Đạo Quân Đội Tuyệt Đối, Trực Tiếp, Toàn Diện”December 26, 2014
  7. Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt NamDecember 24, 2014
  8. Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc HộiDecember 21, 2014
  9. Đường Ray Mới đến Chân Trời MớiDecember 18, 2014
  10. Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa KỳDecember 12, 2014
  11. Lá Thư Hải NgoạiDecember 8, 2014
  12. Hoàng Dương ChươngDecember 5, 2014
  13. Người Khuyết Tật: Thước Đo Chuẩn Mực Của Nhân VănDecember 3, 2014
  14. Dự Án Cảng Hàng Không Quốc Tế Long ThànhNovember 17, 2014
  15. Tư Vấn Phát Triển Du Lịch Việt NamNovember 11, 2014
  16. Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014
  17. Người Đà NẵngNovember 7, 2014
  18. Vì Người Khuyết TậtNovember 6, 2014
  19. Tôi Và Ông Trương Trọng NghĩaNovember 4, 2014
  20. Phản Hồi Của Bộ Giao Thông Vận TảiNovember 4, 2014
  21. Doanh Nghiệp Mang Tên Danh Nhân Ư?October 30, 2014
  22. Trăm TrứngOctober 29, 2014
  23. Nhân Quyền và Phẩm GiáOctober 25, 2014
  24. Biển Đông – Vì Sao Việt Nam Không Khởi KiệnOctober 21, 2014
  25. Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi TrẻOctober 16, 2014
  26. Mai Trọng Tuấn: Ý Kiến Lạ KỳOctober 13, 2014
  27. Bọn Xin Đểu Cổ Cồn TrắngOctober 11, 2014
  28. Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian MạngOctober 9, 2014
  29. Đứng Trên Đỉnh NúiOctober 8, 2014
  30. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có ThậtOctober 6, 2014
  31. Sử Liệu Nghị Viện Việt NamOctober 4, 2014
  32. Lời Khuyên Dành Cho Học SinhOctober 2, 2014
  33. Thực Phẩm Chức Năng September 30, 2014
  34. Báo Người Lao Động September 28, 2014
  35. Lời Cảm Ơn Của Hoàng Hữu Phước September 26, 2014
  36. Tôi Và Các Luật Sư September 24, 2014
  37. Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014
  38. Cô Lại Thu Trúc Gởi Thư Cho Lãnh Đạo Nhà Nước Góp Ý Về “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Tp HCM September 18, 2014
  39. Hành Trang Nghị Sĩ September 17, 2014
  40. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014
  41. Thư Gởi Thủ Tướng Về “Đường Bay Vàng” September 8, 2014
  42. Nghị Sĩ Người Khuyết Tật: Tại Sao Không? September 7, 2014
  43. Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về cái gọi là “Đường Bay Vàng” September 5, 2014
  44. Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước September 1, 2014
  45. Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải August 30, 2014
  46. Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự August 27, 2014
  47. Thư Gởi Thủ Tướng August 20, 2014
  48. Quyền Lực Thứ Sáu August 13, 2014
  49. Tứ Đại Ngu August 5, 2014
  50. Hoàng Sa July 28, 2014
  51. Nguồn Sáng Cho Tinh Thần July 27, 2014
  52. Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình” July 25, 2014
  53. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường
  54. Vững Tâm Kiến Quốc July 16, 2014
  55. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa July 8, 2014
  56. Sát Tàu July 7, 2014
  57. Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm” July 1, 2014
  58. Dương Khiết Trì Run Sợ June 22, 2014
  59. Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì June 18, 2014
  60. Lại Trí Thức! June 9, 2014
  61. Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội May 31, 2014
  62. Luật Biểu Tình May 26, 2014
  63. Biểu Tình và Ô Danh May 20, 2014
  64. Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011 May 18, 2014
  65. Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc May 11, 2014
  66. Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 April 29, 2014
  67. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014
  68. Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014
  69. Mít-xtơ Xương Xẩu March 27, 2014
  70. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ March 24, 2014
  71. Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên March 17, 2014
  72. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân March 7, 2014
  73. Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn, Bảo Tàng March 2, 2014
  74. Tức Ảnh Đề Thơ February 22, 2014
  75. Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014
  76. Thế Nào Là Nhà Trí Thức February 14, 2014
  77. Thế Nào Là Sử Gia February 5, 2014
  78. Tết Mậu Thân 1968 January 28, 2014
  79. Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học January 26, 2014
  80. NHỮNG LẬP LUẬN KỲ QUÁI CỦA NGƯỜI TỰ XƯNG LÀ TS TRẦN MINH HOÀNG
  81. Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba January 25, 2014
  82. Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt
  83. Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 November 26, 2013
  84. Về thực quyền, thực uy November 26, 2013
  85. Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi) November 26, 2013
  86. Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
  87. Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân
  88. Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ November 22, 2013
  89. Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện
  90. Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng November 9, 2013
  91. Đại tướng Võ Nguyên Giáp October 26, 2013
  92. Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013
  93. Tôi và Bùi Giáng September 17, 2013
  94. Amari TX – Anh là ai? August 31, 2013
  95. Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013
  96. Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ August 23, 2013
  97. Hội Chứng Bầy Đàn August 20, 2013
  98. Mạng Xã Hội August 14, 2013
  99. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân August 4, 2013
  100. Chất Lượng Giáo Dục ở Việt Nam August 2, 2013
  101. Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp July 25, 2013
  102. Báo Sài Gòn Giải Phóng July 21, 2013
  103. Thùng Nước Đá và Blog July 14, 2013
  104. Tuyệt Thực July 2, 2013
  105. Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình June 5,2013
  106. Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992
  107. Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? May 18, 2013

Ngoài ra, tôi cần khẳng định lại rằng tất cả các bài viết của tôi trên blog này và tất cả các blog của tôi đều có thể được đăng lại, toàn phần hay một phần, kể cả hình ảnh, bởi bất kỳ ai quan tâm đến, song phải trên tinh thần nhân văn đỉnh cao của Thùng Nước Đá và Blog [1] mà người đăng lại được mặc định đã xem và đã nhất trí đồng ý‎ tôn trọng tuyệt đối.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 14-02-2013. Thùng Nước Đá Và Blog. http://hhphuoc.blog.com/?p=181  hoặc https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/14/thung-nuoc-da-va-blog/

Đừng Buông Xuôi, Bạn Hỡi

Hoàng Hữu Phước,MIB

Trong 15 năm (từ 1981-1996) làm giảng viên Anh Ngữ tại trường Cao Đẳng Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh (chuyên trách các bộ môn Btiytish & American Literature, British Civilization, English Lexicology, English Composition, Translation & Interpretation và English Grammar tức các bộ môn Văn Học Anh-Mỹ, Văn Minh Anh, Từ Vựng Học Ngôn Ngữ Anh, Luận Văn Anh, Luyện Dịch & Thông Phiên Dịch, và Văn Phạm Ngôn Ngữ Anh), và Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội (chuyên trách các bộ môn Business English, Business Contract, và Business Interpretation tức các môn Anh Ngữ Thương Mại, Hợp Đồng Kinh Tế Ngoại Thương, và Biên-Phiên Dịch Thương Mại sử dụng toàn những giáo trình bằng tiếng Anh do tôi tự biên soạn), cũng như tại Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan Hoa Kỳ (giáo trình của riêng Michigan) và các trung tâm ngoại ngữ khác của Hội Nghiên Cứu & Dịch Thuật và Sở Giáo Dục Tp Hồ Chí Minh (giáo trình của riêng các trung tâm này), tôi có sở thích sáng tác thơ ca Tiếng Anh và viết tiểu luận Tiếng Anh. Tôi hay đọc thơ cho sinh viên nghe; khuyến khích họ làm thơ và viết văn rồi giúp họ chỉnh sửa, hiệu đính; truyền cảm hứng cho họ bằng cách mỗi câu thí dụ dùng một từ cho sẵn trong phần Reading Comprehension tôi đều sáng tác kiểu ứng khẩu impromptu viết ngay lên bảng không phải một câu mà là một bài sonnet thập tứ hàng thi hoặc chí ít cũng là một khổ thơ stanza bốn dòng trong đó có sự xuất hiện của cái từ cho sẵn ấy. “Ứng khẩu” vì ở các lớp khác nhau khi dạy cùng một bài tôi đều cho ra những thí dụ hoàn toàn khác nhau dù tất cả đều là bài thơ hoặc khổ thơ [2]. Ngoài ra, mỗi khi có được những bài thơ hay Tiếng Việt, tôi chuyển dịch sang Tiếng Anh [3];  hoặc khi nhận được bài thơ hay Tiếng Anh, tôi chuyển dịch sang Tiếng Việt; hoặc lúc nhận được bài viết rất hay bằng Tiếng Anh nhưng rất kém về ngôn ngữ Anh [4], tôi hoàn thiện, rồi cho tất cả vào sưu tập cá nhân, tặng một số học trò (gồm vài ngàn người) và tặng tất cả thân hữu gần xa (gồm một thân hữu nam cùng ba thân hữu nữ mà một trong số nữ này sau trở thành vợ của tôi[5]).

Khi nhận được bài thơ Don’t Quit của tác giả khuyết danh do Cô Sandy Lu, một người Canada-gốc-Việt-gốc-Hoa gởi tặng, tôi đã dịch ra tiếng Việt rồi đăng năm 2003 trên HR Online của công ty Canada nơi tôi làm Giám Đốc Nhân Sự & Giám Đốc Tuyển Dụng, sau đó tải lên trang Emotino.com của cộng đồng doanh nhân Việt Nam năm 2008[1]. Nay nhân những ngày đầu năm 2015, tôi xin lập lại nội dung hai bản tiếng Anh và tiếng Việt đã đăng, làm quà tặng bạn đọc, nhất là những bạn học sinh – sinh viên và những người quan tâm đến tiếng Anh:

1)  Nguyên bản Tiếng Anh của tác giả khuyết danh:

DON’T QUIT

When things go wrong as they sometimes will,

When the road you’re trudging seems all uphill,

When the funds are low and the debts are high,

And you want to smile, but you have to sigh,

When care is pressing you down a bit,

Rest if you must, but don’t you quit.

Life is queer with its twists and turns,

As every one of us sometimes learns,

And many a fellow turns about,

When he might have won had he stuck it out.

Don’t give up though the pace seem slow,

You might succeed with another blow.

Often the goal is nearer than,

It seems to a faint and faltering man,

Often the struggler has given up

When he might have captured the victor’s cup,

And, he learned too late when the night came down,

How close he was to the golden crown.

Success is failure turned inside out,

The silver tint of the clouds of doubt.

And, you never can tell how close you are,

It may be near when it seems afar,

So stick to the fight when you’re the hardest hit,

It’s when things seems worst that you must not quit

2)  Bản dịch Tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước, 2003:

ĐỪNG BUÔNG XUÔI BẠN HỠI

Lúc trở ngại – phải có thôi, vì khi vầy khi khác,

Đường đời kia có lắm đoạn chông gai,

Thu thì heo hẻo mà nợ lại đầy đầy,

Cười mếu xệch, nghe trào dâng tiếng nấc,

Còn vai gầy hằn gánh nặng âu lo,

Thì bạn ơi, cứ ngừng tay thư giãn,

Nghỉ khoẻ thôi, chứ đừng có buông xuôi

Vì bạn hỡi cuộc đời luôn vậy đấy

Với những khúc quanh thật gắt, những ngõ rẽ thật kỳ.

Khiến bao người phải quay lại rời xa

Mà không biết thành công ắt đến sau lần quỵ ngã

Nếu như mình đã bền chí kiên tâm.

Đừng bỏ dở dù thời cơ chậm đến

Cố nữa lên, vận hội sẽ vào tay.

Không bền chí, không thể nào chạm đích !

Chào thua ư, sau nỗ lực đấu tranh,

Nỡ vứt bỏ cúp vàng người chiến thắng

Rồi ưu sầu lúc đêm khuya thanh vắng

Tiếc vinh quang đã vuột khỏi tầm tay?

Bạn thân mến, thành công thoát thân từ thất bại

Như ánh bạc hừng lên từ giữa đám hỗn vân.

Bạn có thể chẳng bao giờ biết được

Cái vời xa kia lại có thể rất cận kề !

Hãy tiếp tục tiến lên khi va vào gian khó,

Không được buông xuôi khi ngỡ bước đường cùng!

****

Kính chúc các bạn mọi điều tốt đẹp và may mắn. Happy New Year!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tê

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-8-2008. Don’t Quit, My Friends! Đừng Buông Xuôi, Bạn Hỡi. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=16930

[2] Hoàng Hữu Phước. 22-3-2012. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/toi-va-co-tr%c6%b0%c6%a1ng-tuy%e1%ba%bft-anh/

[3] Hoàng Hữu Phước. 03-3-2012. Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/11/10/toi-va-nu-si-tue-mai/

[4] Hoàng Hữu Phước. 02-01-2015. Thông Giáng Sinh và Formal English. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/02/thong-giang-sinh-va-formal-english/

[5] Hoàng Hữu Phước. 12-12-2014. Tôi Và Giải Thưởng Thơ Ca Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/

Cần Loại Bỏ Việc Phát Bài Ca Happy New Year của Abba Dịp Tết

Bài Số 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm 2004 sau khi tôi đăng trên Yahoo!3600 bài Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year Của Abba, rất nhiều người comment rằng họ đồng tình với các phân tích của tôi về ý nghĩa không sao phù hợp của ca từ đối với văn hóa người Việt cổ và người Việt tân, các nhà đài đã không còn sử dụng bài hát này vào các dịp Tết Tây và Tết Ta.

Vài năm sau, tức là vào năm 2009 tôi đăng lại bài này trên Emotino.com vì thấy các nhà đài lại tái sử dụng bài hát vào dịp Tết, và các nhà đài lại ngưng không phát bài hát ấy. Gần đây nhất là vào đầu năm 2013 tôi đăng lại trên blog này[1] do thấy dường như những chức sắc đã từng dọc bài của tôi đã nghỉ hưu, còn lớp cán bộ văn hóa thông tin trẻ chưa biết gì về nội dung khẩn thiết ấy của tôi.

Nhưng cách nay vài hôm, một nhà đài đã dành cho bài Happy New Year của Abba những ngợi ca mà bản thân bài hát chưa bao giờ nhận được trên toàn thế giới như: sâu sắc, tuyệt đẹp, được yêu chuộng qua nhiều thập kỷ tại các quốc gia trên toàn thế giới, khiến tôi viết bài số 2 này thay vì cứ mãi post đi post lại bài số 1.

Trước tiên, xin mời các bạn xem nội dung bài hát Happy New Year của Abba (xin lưu ý: bài có những thành ngữ mà sự dịch thuật rất cần cẩn trọng, thí dụ “feet of clay” không phải là “chân đất sét” mà là “những tì vết, những thấp kém”; còn “Happy New Year” tuy có nghĩa của thành ngữ trọn khối là “Chúc Mừng Năm Mới” nhưng trong tình huống của bài ca lại là cách chơi chữ đay nghiến mỉa mai của nhóm từ đơn lẻ thành “lại thêm một năm vui đấy hạnh phúc đấy”, v.v.; đồng thời xin nói rõ tôi chỉ giải nghĩa lời ca tiếng Anh chứ không dịch thuật vì tôi chỉ dịch nếu dó là kiệt tác [2])

 Happy New Year (1)Happy New Year (2)Happy New Year (3)

Và khi các bạn xem minh họa bởi vieo clip minh họa bài hát này

 Happy New Year (4)Happy New Year (5)

các bạn sẽ thấy rõ ràng bài ca Happy New Year hoàn toàn không để hân hoan đón chào năm mới mà là khúc hát tâm tư buồn chán, nhất là khi nữ ca sĩ cất tiếng hát cụm từ “Happy New Year” với vẻ mặt chán chường, còn clip cho thấy cảnh nàng ngồi trên ghế với xung quanh vương vãi tàn tích một cuộc ăn uống mà ai cũng hiểu không thể kéo dài vì ai cũng còn phải đến thăm hơn một nhà và phải thức sớm để đi làm việc ngay sáng hôm sau, còn người chồng hoặc người tình mặc bộ pyjama đứng nhìn phố phường bên dưới qua khung cửa sổ khi ánh sáng ban mai chưa chi đã rạng rồi, chẳng đoái hoài đến người đang thổn thức hát “Happy New Year”.

Còn khi tra cứu tài liệu về âm nhạc, các bạn sẽ thấy bài Happy New Year của Abba chỉ được nhắc đến ở vài nước Châu Âu mà sự xếp hạng cao nhất của bài hát này từ năm 2000 đến 2014 ngay tại quê hương Thụy Điển của Abba là 27-22-4-5-9-42-51-57-54, tại Đan Mạch là 14-16-15-26-38, v.v., nghĩa là chỉ tại bốn hay năm nước Châu Âu bài hát mới được xếp hạng từ 4 (ở Thụy Điển) đến 75 (tại Đức) trong “Top100”, và chưa bao giờ Happy New Year của Abba ở 3 vị trí từ 1 đến 3, do đó không thể phù hợp với kiểu tán dương kiểu thuần Việt: “nổi tiếng nhất và được hát nhiều nhất thế giới”.

Tất nhiên, tính độc lập cũng là điều quan trọng, nghĩa là dù bài Happy New Year là thứ vô danh tiểu tốt đối với đại đa số các quốc gia trên toàn thế giới thì điều đó cũng không phải là ta cũng hùa theo. Song, ai ở Việt Nam là người có thẩm quyền tuyên bố đó là bài hát dược ưa thích nhất Việt Nam để từ năm sau trên thế giới sẽ liệt kê Việt Nam vào danh sách ít ỏi những nước có xếp hạng bài hát ấy? Và sự lựa chọn có đã tính đến sự kiêng kỵ dị đoan mà rất nhiều thính giả của đài phát thanh truyền hình quan tâm đến hay không?

Ngoài ra, so với thông tin đăng trong bài số 1 thì bài số 2 này thu thập được các cập nhật mới hơn như sau về danh sách của những bài hát gọi là nổi tiếng trên thế giới và trở thành bài hát tiêu biểu không những mỗi độ xuân về mà còn là nổi bật trong năm 2014-2015:

 Happy New Year (6)

Đặc biệt cần lưu ý rằng dánh sách của mỗi năm dù có thay đổi nhưng luôn có hai điều không bao giờ thay đổi là (a) bản dân ca Auld Lang Syne luôn chiếm ngôi quán quân đầu bảng , và (b) chưa bao giờ có tên bài Happy New Year của Abba trong danh sách thế giới – không phải dánh sách của chỉ 3 hay 4 nước Bắc Âu –  suốt mấy thập niên qua.

Tất nhiên, trong 18 bài trên có những bài có ca từ không phù hợp với sự kiêng kỵ dị đoan của người Việt, song chúng đều thuộc danh mục những bài đón mừng năm mới được ưa chuộng nhất vì ngay cả khi có ca từ buồn thì cũng không yếm thế mà mang lại hy vọng ngời rạng cho biết bao người cùng tâm trạng hay cảnh ngộ khiến bài hát trở thành tích cực. Đặc biệt bài The Millennium Prayer của Sir Cliff Richard rất thú vị vì dựa trên nền nhạc của nguyên bản bài dân ca Auld Lang Syne mà áp nội dung Kinh Lạy Cha của Thiên Chúa Giáo, vì thế nếu được các ca đoàn ở Nhà Thờ Việt Nam lấy đó làm bài hát cho Chúc Mừng Năm Mới sẽ là điều tuyệt diệu không những đối với người Việt mà còn đối với du khách nước ngoài có mặt tại Việt Nam mùa Giáng Sinh và Tết Tây lẫn Tết Ta. Nhiều bài hát đặc biệt – có cả các bài trong danh sách trên – cũng thường được chọn làm nền cho các slideshow của các trang web dùng cung cấp cho khách hàng dạng ecard hay của các cá nhân dùng chế tác tặng thân hữu bạn bè dịp Mừng Giao Thừa và Mừng Năm Mới như:

Happy New Year (7)

Rất có thể không phải sự xơ cứng của các nhà đài truyền thông không muốn đầu tư thời gian kiếm tìm sự thật về giá trị thích hợp cho người dân Việt và lựa chọn cẩn trọng từ rừng bài hát du dương sôi động tiếng nước ngoài phù hợp với không khí Tết Việt Nam;

Rất có thể không phải sự bất khả thực hiện trong tổ chức cuộc thi như đề xuất của Bài Viết Số 1[1] nên cứ bài Happy New Year mà phát rồi tự tiện ngợi ca nó để biện minh cho sự lựa chọn áp đặt của nhà đài;

Mà chính là nhiều bài hát mừng năm mới vẫn còn ở dạng phải trả tiền bản quyền rất phức tạp và tốn kém nên nhà đài cứ bài Happy New Year mà phát miễn phí vô tư. Nếu đây là sự thật thì chỉ biết mong sao có “ca sĩ đại gia” bỏ tiền ra mua bản quyền để hát một hoặc những bài đặc biệt trong danh mục cũng như quyền đặt lời ca tiếng Việt, để người Việt không bị ép phải nghe hoài bài Happy New Year của Abba hoặc sợ hết hồn phải bấm remote control chuyển ngay kênh mỗi khi nghe trỗi lên tiếng nhạc não nuột tằng tắng tằng sợ xui xéo cả năm.

[Ghi chú: Nhân viên của tôi đã được yêu cầu chuyển ngay bài viết này cho các vị lãnh đạo Nhà nước trong lĩnh vực truyền thông và văn hóa giáo dục, thay vì theo lối cũ hơn chục năm qua cứ đăng trên blog rồi ai muốn đọc thì đọc khiến có sự tái xuất hiện đi tái xuất hiện lại của bài Happy New Year phản văn hóa Việt của Abba cũng như tái lập đi lập lại của Bài Viết Thứ Nhất của Lăng Tần vào dịp Tết thiêng liêng của dân tộc Việt Nam]. 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-12-2013. Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Happy New Year Của Abba – Bài Viết Thứ Nhất. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/25/nen-co-lua-chon-khac-thay-the-bai-ca-happy-new-year-cua-abba-2/

[2] Hoàng Hữu Phước. 03-3-2012. Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/11/10/toi-va-nu-si-tue-mai/

Sân Bay Long Thành: Lời Giải Thích Ngắn Gọn Giản Đơn

Bài Viết Số 2: Lời Giải Thích Giản Đơn

Hoàng Hữu Phước, MIB

 HHP_Mr Loc

Tôi đã viết một bài nói về sự tối cần thiết phải có Sân Bay Long Thành [1].

Mới đây, một người mang tên gì đó đã “sừng sộ” với tôi bằng thứ tiếng Anh cấp mẫu giáo Việt Nam khi thấy tôi tranh luận trên mạng doanh nhân LinkedIn chống lại nội dung của một vị họ Ngô nói về sự không cần thiết của Sân Bay Long Thành mà người “sừng sộ” đã lỡ viết comment tán dương hết cỡ ngay trước đó.

Mới đây, tôi lại nghe đâu đó có dư luận cho rằng nên xây sân bay mới ở Cần Giờ.

Cho rằng mình cần nêu thêm vài ý mới trên cơ sở ngắn gọn giản lược tối đa nhất có thể được, tôi xin nêu quan điểm sau:

1) Người ta cố gắng làm việc kiếm tiền và thậm chí vay tiền mặc cho nợ công của tương lai và khó khăn tài chính của hiện tại để cho con học lên cao, thậm chí du học, và thậm chí du học tại siêu cường quốc Hoa Kỳ, dù cho không bất kỳ ai dám khẳng định 100%  (hay 1000% cho tương xứng với cả trăm ngàn USD “đầu tư” cho tương lai con trẻ) rằng con mình sẽ ở thứ hạng nào khi tốt nghiệp, có thuộc đẳng cấp “nhà bác học” hay không, có được NASA thỉnh đón không, có được siêu cường chiêu dụ làm công dân ưu tú không, và nếu trở về nước Việt Nam thì sẽ làm việc ở đâu, với chức vụ gì, và ở mức lương nào, có đủ “hòa vốn đầu tư” của cha mẹ không – trừ phi thuộc diện “con ông cháu cha” hoặc diện cán bộ cao cấp cần có văn bằng đáp ứng việc chuẩn hóa danh chính ngôn thuận cho một bổ nhiệm có sẵn trước cả lúc lên đường du học. Ấy vậy mà khi nghe nói về việc đầu tư cho Sân bay Long Thành, người ta viện dẫn đủ thứ tính toán thuần số học để nói về nợ công của tương lai, khó khăn tài chính của hiện tại, và vô tư vấn kế chứa sẵn nội hàm xua đuổi tống cổ dân cư quanh Sân bay Tân Sơn Nhất cho đại công trình mở rộng sân bay này, thậm chí vô tư hiến kế mở rộng Sân bay Biên Hòa cho hoạt động dân dụng nhằm triệt tiêu căn cứ không quân chiến lược bảo vệ cả Miền Nam này. Đó là tính tùy tiện phi logic và phi chiến lược của một bộ phận rất nhỏ người Việt ưa vấn kế dù tầm vóc chỉ được chứng tỏ bằng tờ giấy bằng cấp treo lủng lẳng toòng teeng trước ngực, khiến phiền lòng một bộ phận rất lớn những người Việt có tầm nhìn chiến lược luôn đặt an nguy quốc gia lên trên tất cả mọi kế hoạch kế sách phát triển kinh tế nước nhà.

2) Trong hoàn cảnh vùng biển có nguy cơ chìm đắm vào xung đột vũ trang từ bọn bá quyền Trung Quốc, mọi người dân đều hiểu điều giản đơn rằng mất biển đến đâu, mất luôn vùng trời đến đó, và trước khi mất biển luôn phải có các cuộc tấn công bằng không quân và hải quân của quân thù; do đó, Sân bay Biên Hòa phải là ưu tiên tuyệt đối trong sử dụng không phận Thành phố Hồ Chí Minh cùng các tỉnh lân cận trong tuần tra cảnh giới liên tục để phát hiện, ngăn chặn, tiêu diệt các phương-tiện-không-phải-tên-lửa-hành-trình đe dọa sinh mạng dân cư các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Không được động đến Sân bay Biên Hòa. Không được động đến phần đất của không quân quanh Sân bay Tân Sơn Nhất hiện hữu. Hãy tiếp tục kêu gào sử dụng Sân bay Biên Hòa cho hàng không dân dụng cũng như mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất nếu muốn làm Trung Quốc xoa tay vỗ đùi hài lòng ha hả cười to khoái trá.

3) Phải xây Sân bay Long Thành để khi quốc biến, lúc quân thù đương nhiên tập trung tàn phá sân bay “quân sự” Biên Hòa, thì không quân Việt Nam vẫn còn có Sân bay Tân Sơn Nhất để trưng dụng làm căn cứ không quân chiến thuật để tác chiến đánh lại quân thù.

4) Việc đề nghị xây sân bay mới ở Cần Giờ thay vì ở Long Thành là đề nghị mang tính cục bộ, địa phương chủ nghĩa, muốn mọi công trình vĩ đại đều phải ở trên địa bàn của Thành phố Hồ Chí Minh, không thể là quốc kế của bậc hiền tài khi lo việc nước.

5) Việc đề nghị xây sân bay mới ở Cần Giờ thay vì ở Long Thành là đề nghị không trên cơ sở hiểu biết đủ đầy do Cần Giờ là khu sinh quyển của thế giới mà mọi việc mang hơi hướm công nghiệp hóa hiện đại hóa đều là sự tàn phá di sản của nhân loại, chống lại danh dự mà thế giới đã ban cho Cần Giờ.

6) Việc đề nghị xây sân bay mới ở Cần Giờ thay vì ở Long Thành với viện dẫn Nhật Bản và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE có thể xây sân bay và công trình vĩ đại lấn biển nên Việt Nam có thể dễ dàng xử lý nền đất yếu ngậm nước mặn vùng Cần Giờ để xây sân bay, đương nhiên không là đề xuất đúng tinh thần đầu tư kinh doanh, vì bằng những phép tính số học giản đơn của cộng-trừ-nhân-chia sẽ cho thấy chi phí “xử lý” nền đất yếu theo kiểu duy ý chí, phi khoa học, bất thực tế, vô nguồn lực, sẽ khiến tổng vốn đầu tư lớn hơn cả chi phí cho dự án Sân Bay Long Thành.

7) Việc đề nghị mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất với viện dẫn Nhật Bản và nước nọ nước kia vẫn tiến hành mở rộng các sân bay hiện hữu cho “gần” thủ đô hơn để “hấp dẫn” du khách và nhà đầu tư là việc ví von so sánh kiểu trẻ nít. Nhật và các nước nọ nước kia ấy đã phải xử lý tình huống từ sự bó tay trước những gì để lại của quá khứ cũng như sự bất lực trước hạn chế hiện tại của thiên nhiên. Việt Nam còn có vùng đất Long Thành. Việt Nam chưa hề có sân bay trung chuyển quốc tế. Việt Nam còn có kẻ thù hiểm ác đang chờ chực cơ hội từ Biển Đông. Việt Nam cần giảm hoạt động của Sân bay Tân Sơn Nhất để dành ưu thế cho hoạt động không quân của Sân bay Biên Hòa, đồng thời giúp Thành phố Hồ Chí Minh không hứng chịu hai tai tiếng về (a) ô nhiễm sinh thái từ hoạt động hàng không và (b) sự bất khả cung ứng dịch vụ hàng không cho tình huống phát triển hàng không do máy bay phải tiếp tục bay vòng vòng trên thành phố hàng chục phút mỗi khi có các hoạt động cát cánh và hạ cánh của các chiến đấu cơ tại Sân bay Biên Hòa.

8) Việc đề nghị mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất với viện dẫn “sân golf” trên đất quân đội có dự án xây nhà cao tầng không phục vụ cho hoạt động không quân là kiểu viện dẫn rât quen thuộc mang tính công thức của phe nhóm chống Cộng, chuyên lấy cái sai thơ dại của một ngành để hô hào ngăn chặn một đại cuộc khác của Việt Nam cộng sản. Đường cao tốc Trung Lương bị lún ngay sau khi đưa vào hoạt động là hậu quả của sự ngu xuẩn dốt nát trong thi công, giám sát thi công, và nghiệm thu, chứ nào là cái cớ để kiến nghị đòi chấm dứt các đầu tư xây dựng các đường cao tốc. Việc đề ra dự án xây nhà cao tầng tại Sân golf Tân Sơn Nhất là đề xuất hoặc cực kỳ thiếu thận trọng tạo cớ cho thiên hạ nhao nhao phản đối khiến chậm thực hiện dự án chiến lược Sân Bay Long Thành, hoặc khôn ngoan nhưng thiếu khôn khéo khi muốn dùng các kiến trúc cao tầng nhằm che dấu tình báo của quân thù về trận địa phòng không hiện đại bố trí ẩn giấu ngay trong lòng Thành phố Hồ Chí Minh.

9) Việc đề nghị mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất với viện dẫn Việt Nam đã có quá nhiều “sân bay quốc tế” là cách viện dẫn thuộc phạm trù của cộng-trừ-nhân-chia. “Sân bay quốc tế” tại nhiều tỉnh ở Việt Nam chẳng khác gì những “hải cảng nước sâu” được xây dựng tại nhiều tỉnh. “Sân bay quốc tế” chẳng qua vì có máy bay nước ngoài trực tiếp hạ cánh và có máy bay trực tiếp cất cánh ra nước ngoài, với sự tin tưởng thơ ngây rằng du lịch sẽ phát triển làm giàu cho chính cái tỉnh có “sân bay quốc tế” ấy. “Hải cảng nước sâu” chẳng qua vì nơi ấy có “nước sâu” để có thể tiếp nhận những tàu hàng khổng lồ có tải trọng cỡ 50.000 tấn trở lên, chứ không phải thực sự có tàu hàng nào như thế cập bến dù chỉ một lần trong suốt 20 năm qua. Sân bay “quốc tế” chiến lược thực thụ phải là sân bay trung chuyển. Và dự án Sân Bay Long Thành chính là dự án của một sân bay quốc tế thực thụ, trung tâm trung chuyển quốc tế hành khách và hàng hóa, loại cảng hàng không mà Việt Nam phải có – một cách cấp thiết.

Nói tóm lại, phải đầu tư vào việc học của con cái ngay từ lớp mẫu giáo dù cho không bao giờ biết rõ nó có sẽ thành nhân chi mỹ, có làm ông lớn bà lớn, có lương khủng hay không. Đơn giản vì đó là trách nhiệm cao cả và tình thương vô bờ bến mà bậc làm cha làm mẹ nào cũng nên có dành cho “tương lai xán lạn” của các con. Vấn đề duy nhất là giám sát chặt chẽ đầu tư, không thuê nhà bác học nước ngoài đến dạy con mình đánh vần tiếng Quốc ngữ Việt Nam.

Nói tóm lại (lần thứ hai), phải vay tiền ngân hàng để đầu tư vào việc xây nhà cho tươm tất để vợ chồng con cái có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, dù cho không bao giờ biết chắc mọi việc có hanh thông để bản thân trả hết nợ vay khi đến ngày đáo hạn, không bao giờ biết chắc có sẽ được ở lâu dài với căn nhà ấy không, và không bao giờ biết chắc con cái sau này có xem trọng căn nhà ấy hay lại đem nó đi cá độ bóng đá. Đơn giản vì đó là trách nhiệm cao cả và tình thương vô bờ bến mà bậc làm cha làm mẹ nào cũng nên có dành cho “tương lai xán lạn” của các con. Vấn đề duy nhất là giám sát chặt chẽ đầu tư, không thuê dài hạn cho bằng được Dinh Độc Lập để con mình có nơi đủ rộng để nằm nôi ngậm vú cao su giữa rừng cây thoáng mát chốn đô hội phồn hoa.

Nói tóm lại (lần thứ ba), nếu các vị tư vấn giỏi cộng-trừ-nhân-chia nội địa không ai cho Nhà Nước vay tiền thì Nhà Nước phải vay tiền các chủ nợ quốc tế để xây dựng Sân bay Long Thành để bảo vệ đất nước, phát triển đất nước, vì “tương lai xán lạn” của dân tộc.  Vấn đề duy nhất là giám sát chặt chẽ đầu tư, không vay nợ để rồi bọn tham quan ô lại đút túi thâm lạm, bọn nhà thầu bất tài vô dụng xây vừa xong thì máy bay đã lọt ổ khổng tượng ma-mút còn nhà ga thì dột nước mưa hôi nước cống, còn  bọn giám đốc nhân sự bất tài vô dụng tuyển toàn thứ bất dụng vô tài vào quản lý dự án khi còn là dự án, lúc dự án được triển khai, và khi công trình đưa vào sử dụng kinh doanh, thậm chí bổ nhiệm kẻ dốt nát tiếng Anh làm quản lý không lưu.

Nói tóm lại (lần chót), ai viện dẫn sự tốn kém và nợ công cho dự án Sân Bay Long Thành để phản bác, người ấy hoặc là bậc thánh nhân luôn biết 1000% từ lúc con cái mới được sinh ra sau này sẽ học gì, học đến đâu, làm nghề gì, ngồi ghế có chân cao mấy mét, lương bao nhiêu USD có đủ hòa vốn đầu tư của cha mẹ và sinh lợi tỷ lệ bao nhiêu; hoặc là bậc cha mẹ luôn tính toán số học chính xác rằng khoản thu sẽ không thể bù chi nên tốt hơn hết là đừng đầu tư cho việc học của con cái kẻo chúng học không xong oán cha oán mẹ do phải nai lưng ra cày để trả nợ cho khoản “nợ công”  vĩ đại ấy của mẹ cha.

Nói tóm lại (lần chót thứ hai), ai viện dẫn sự tốn kém và nợ công cho dự án Sân Bay Long Thành để phản bác, thì vẫn có thể làm họ không phản bác nữa bằng cách chia đại siêu dự án thành những phân đoạn đầu tư cho từng phân đoạn thời gian, nhưng phải trên cơ sở quy hoạch ngay từ đầu toàn bộ diện tích cho toàn bộ siêu dự án này.

Sân bay Long Thành phải được xây dựng, thậm chí phải xây dựng ngay. Nếu không công ty đại gia Việt Nam nào, không cá nhân đại gia Việt Nam nào chịu bỏ đồng xu cắc bạc xu teeng nào cho Nhà nước vay, thì Nhà nước phải vay từ các định chế tài chính quốc tế, những chủ nợ rất khắt khe chỉ cho vay trên cơ sở đã có đánh giá cao về khả năng trả nợ của bên vay. Sự chậm trễ sẽ khiến dân tộc này phải trả một giá thật đắt.

Hàng tỷ đô-la Mỹ đã được bỏ ra để mua sắm vũ khí, và mỗi năm đều phải chi biết bao tiền của để phá hủy biết bao bom đạn đã hết hạn sử dụng cùng chi phí rất cao để xử lý môi trường do phá hủy không những bom đạn mà còn cả các hóa chất hết hạn sử dụng. Những hóa chất này để phòng thủ khi quân thù tiến hành cuộc chiến tranh hóa học hoặc sử dụng vũ khí vi trùng. Tiền đổ sông đổ biển để bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.

Hàng tỷ đô-la Mỹ phải được bỏ ra để xây dựng Sân bay Long Thành để dồn hoạt  động hàng không dân sự vào đấy tạo thế mạnh kinh tế cho đất nước, đồng thời giúp hoạt động bảo vệ khu vực Miền Nam tổ quốc nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng được hiệu quả tối đa, nhất là khu vực phía Nam này ở giữa hai gọng kềm đe dọa tấn công bằng không quân của bọn bành trướng bá quyền từ biển đánh ép vào và của bọn cứu-vật-vật-trả-ơn-cứu-nhân-nhân-trả-oán từ sâu trong nội địa Bán Đảo Đông Dương đánh bung ra, đòi hỏi tất cả các sân bay quân sự phải luôn trực chiến, các chiến đấu cơ phải được mua sắm nhiều hơn để trực chiến 24/7 mỗi ngày 24 tiếng và mỗi tuần 7 ngày bay ngợp trên bầu trời Việt Nam, với quyền ưu tiên tuyệt đối trong sử dụng không phận chiến lược quốc gia và chiến thuật chiến đấu chiến tranh.

Thế kỷ XXI đã qua 1/7 tổng thời gian rồi mà ở Việt Nam vẫn có những vị tiến sĩ hùng hồn tự tin nói về kế sách kinh tế quốc gia dựa trên phép toán số học mẫu giáo, tách kinh tế khỏi môi trường chính trị, thực tế an ninh quốc phòng, thực tiễn chiến lược chiến tranh thì chẳng là đáng kinh ngạc kinh khủng kinh hãi lắm ru?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2014. Dự Án Cảng Hàng Không Quốc Tế Long Thành – Bài số 1. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/11/17/du-an-cang-hang-khong-quoc-te-long-thanh/

Thông Giáng Sinh và Formal English

Hoang Huu Phuoc, MIB

 ScreenShot496

Là doanh nhân, tôi hiểu thế nào là tung sản phẩm ra vào dúng thời điểm. Song, người ta thường mặc định “đúng thời điểm nghĩa là vào đúng trước dịp này dịp nọ lễ đó lễ kia”. Tôi cho rằng có nhiều nội hàm cho cụm từ nhỏ “đúng thời điểm”, vì ngoài  nghĩa theo thói thường nêu trên còn có nhiều nghĩa khác như (a) vào lúc ít có sự cạnh tranh nhất, (b) vào lúc giá cả tốt nhất hay không thể tệ hơn, hoặc (c) chưa ai có sản phẩm tương tự, v.v. Việc tôi đăng nội dung bài viết này vào thời điểm sau Noel 2014 và sau Tết 2015 là đáp ứng yêu cầu “vào lúc ít có sự cạnh tranh nhất” do vào dịp Noel thì chẳng ai quan tâm đọc bài về “Giáng Sinh” vốn đã rất ngập tràn, còn dịp Tết thì mọi người lo các chuyện đại sự khác của gia đình.

Bài dưới đây tôi đã post trên Emotino.com ngày 23-12-2010, nay xin post lại để phục vụ những bạn đọc có quan tâm đến tiếng Anh.

Thông Giáng Sinh và Formal English

Quà Tặng Dành Cho Người Yêu Tiếng Anh Cao Cấp

Hoàng Hữu Phước, MIB

Mỗi khi đến mùa Giáng Sinh, rất nhiều người gởi nhau những cánh thiệp thật đẹp, thật đa dạng, mừng đón Noel, đa số bằng tiếng Anh, bất kể người gởi và người nhận có sử dụng tiếng Anh trong đời sống thường nhật hay không, và có tôn thờ Đức Chúa hay không, đơn giản vì đó là ngày lễ của công chúng chứ không của riêng tôn giáo. Ngày lễ ấy tuyệt diệu vì vào thời điểm tại hầu hết các nơi trên thế giới tiết trời đẹp hơn và Năm Mới đã rất cận kề, khiến ngày Noel thành ngày vui chào đón Tân Niên.

Khi thời đại internet đến, sự tất bật của sinh nhai đã được giải cứu khi người ta thay vì lang thang từng góc phố con đường tìm chọn mua thiệp rồi len lỏi luồn lách giữa giao thông chen chúc để tìm đến một bưu cục tốn tiền gởi xe vào mua tem dán gửi đi, đó là chưa kể phải canh thời gian nhiều ngày trước đó với mong muốn thiệp mừng đến được tay người nhận ở đâu đó trên thế giới bao la hoang dã này kịp lúc, nay lại đơn giản ngồi vào bàn gởi email những giòng chữ do mình sáng tác, những thiệp điện tử do mình sưu tầm, hoặc những thông điệp ai đó đã chuyển đến mình và mình đơn giản chuyển tiếp đi cho hàng trăm người bạn dân cư mạng toàn cầu khác.

Văn ôn võ luyện là việc cực kỳ bình thường của những con người nhận thức đầy đủ được thế mạnh vô song và giá trị vượt bậc của văn và võ trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Tôi có thói quen sửa sai và hoàn thiện tất cả văn thơ của bất kỳ bậc kỳ tài nào của văn học Anh Mỹ, cũng như tất cả những “thiệp điện tử” eCard mà học trò và bạn hữu bốn phương gởi tặng trong những dịp lễ Noel tương tự. Bạn hữu và học trò tôi ở nước ngoài đã hình thành một thói quen tốt là ngoài việc chuyển đến tôi những “sứ điệp chống Cộng” (họ nhận từ đám người u mê để qua các bút chiến phân tích phản đòn của tôi họ hiểu biết thêm về thực tế Việt Nam, chứ họ không chịu xem báo tờ hay báo điện tử của … cộng sản), còn gởi tôi những thiệp mừng lễ mà họ cho là tuyệt hảo để xem tôi có biến cái tuyệt hảo đó của dân Anh Mỹ thành đồ chơi trẻ nít hay không, mà sau đây là ví dụ.

Từ một Cây Thông Noel Một Tầng tiếng Anh do Cô Lê Tâm Hạnh ở Ngân Hàng Deutsche Bank nhận được từ internet gởi tôi mùa Giáng Sinh 2000 có nội dung nguyên văn như sau mà tôi đã phân tích các yêu điểm ở phần ghi chú:

 Thong va Giang Sinh (6)Thong va Giang Sinh (1)

Ghi chú: “Cây thông” này của cư dân mạng nước ngoài viết bằng tiếng Anh, tạo nên với 227 từ trong 17 “câu” (17 “câu” vì có 17 đấu chấm, nhưng đích xác hơn phải gọi là 17 “nhóm chữ”) bao gồm 3 câu hoàn toàn đúng văn phạm và 14 “câu” hoàn toàn sai văn phạm (đích xác hơn phải gọi là 4 câu vỡ vụn và 10 nhóm từ bơ vơ lạc loài) cùng với 20 động từ chia. Ý tứ của các…”câu” bình thường, không có gì đặc sắc.

Và tôi đã viết lại như sau để có một thiệp Cây Thông Noel khác, với chỉ một câu tiếng Anh duy nhất (chỉ có một dấu chấm) hình thành một cây thông lớn hơn, với nội dung sâu sắc hơn và cấu trúc văn phạm tiếng Anh gắn kết thật chặt chẽ gởi tặng ngược lại cho cô Hạnh:

 Thong va Giang Sinh (3)Thong va Giang Sinh (2)

Ghi chú: “Cây Thông” Bốn Tầng này được tạo nên với 281 từ trong chỉ một câu duy nhất bằng tiếng Anh hoàn hảo, có vỏn vẹn 7 động từ chia và không có bất kỳ phần câu vỡ vụn hay nhóm từ lạc loài nào cả. Ý tứ của câu mang âm hưởng thơ, đầy tính tích cực.

Kính chúc các bạn và gia đình năm mới 2015 an vui, hạnh phúc, thành công, nhiều may mắn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

Hoàng Hữu Phước. 23-12-2010. Thông Giáng Sinh và Formal English. http://www.emotino.com/bai-viet/18921/thong-giang-sinh-va-formal-english