Monthly Archives: April 2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”

Bài Số 2: Vấn Đề Luật Pháp Quốc Gia

Thạc-sĩ Hoàng Hữu Phước, Nhà Lập Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

 ScreenShot917

A) Nhà Lập Hiến & Nhà Lập Pháp

Trong số 56 người đặt bút k‎ý ban hành bản Tuyên Ngôn Độc lập Hoa Kỳ tháng 8-1776 và 39 vị đặt bút k‎ý ban hành Hiến Pháp Hoa Kỳ tháng 9-1787, hơn 1/2 là cựu chiến binh, 35 vị có học môn luật trước đó hoặc sau đó (không phải tất cả đều hành nghề luật để được gọi là “luật sư”), 13 thương nhân, 14 đại điền chủ là chủ nô, nhiều chủ điền Miền Bắc có sở hữu vô số nô lệ, 7 nhà đầu cơ địa ốc, 3 y sĩ, 1 mục sư, v.v. Thậm chí đối với Hiến Pháp Hoa Kỳ, trong số 55 vị có tham dự soạn thảo, với buổi họp có nhiều người tham dự nhất là 46 vị, chỉ còn lại có 39 người thực sự k‎ý thông qua với ba vị từ Bang Virginia và Massachusetts là các nghị sĩ George Mason, Edmund Randolph, và Elbridge Gerry tẩy chay không k‎ý do chống lại điều khoản giao toàn quyền sinh sát cho tổng thống và chính phủ liên bang trong khi bỏ hẳn điều khoản về bảo vệ các quyền của nhân dân.

Các chi tiết trên nhằm nêu bật một vấn đề đơn giản: bác sĩ sử dụng y cụ nhưng không bao giờ mặc định phải là người sản xuất thiết bị y khoa, giáo viên dạy Văn học nhưng không bao giờ mặc định phải là tác giả của các tác phẩm thuộc về văn học cổ hay văn học hiện đại của nước nhà hay nước ngoài, giáo viên dạy Toán không bao giờ được mặc định phải là cha đẻ của các định đề toán học đã có từ thời cổ đại đến nay, và luật sư sử dụng các luật đang tồn tại để hành nghề – thậm chí tận dụng các khe hở của luật pháp để phục vụ quyền lợi thân chủ – chứ không bao giờ mặc định là những người có thẩm quyền, có kinh nghiệm, có năng lực soạn ra các đạo luật quốc gia.

Một nghị sĩ tích cực active tham gia soạn thảo với năng lực bao trùm và/hoặc tích cực proactive thông qua Hiến Pháp tại Quốc Hội với tinh thần trách nhiệm cao nhất vì nước, vì dân, vì tiền đồ dân tộc, đó là Nhà Lập Hiến, bất kể nghề nghiệp chính của nghị sĩ đó là gì. Tôi là nghị sĩ đầu tiên của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khẳng định vị trí Nhà Lập Hiến của chính tôi, và thách thức tất cả những biện luận phản bác bất kỳ của bất kỳ ai.

Một nghị sĩ tích cực active tham gia soạn thảo với năng lực bao trùm và/hoặc thông qua một đạo luật tại Quốc Hội với tinh thần trách nhiệm cao nhất vì nước, vì dân, vì tiền đồ dân tộc, đó là Nhà Lập Pháp, bất kể nghề nghiệp chính của nghị sĩ đó là gì. Tôi là nghị sĩ đầu tiên của Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khẳng định vị trí Nhà Lập Pháp của chính tôi, và thách thức tất cả những biện luận phản bác bất kỳ của bất kỳ ai.

Việc một “luật sư” là Đại biểu Quốc hội đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố ông ta sẽ giúp Quốc Hội soạn thảo “Luật Biểu Tình” là việc dựa theo một mặc định hoàn toàn sai, thiếu chuyên nghiệp, thậm chí thiếu hiểu biết về khía cạnh “tổng hợp” của tất cả sự tinh thông và trí tuệ gộp chung trong soạn thảo một dự án luật cho một quốc gia, và nhất là ông ta không thông hiểu ngôn ngữ vốn là điều tối thượng, đặc biệt của ngành Luật.

Do đó, bài này liên hệ phân tích những vấn đề luật pháp đối với cái gọi là “Luật Biểu Tình” mà kể từ dưới đây sẽ mang tên “Luật Xuống Đường”, bao gồm Luật Mít-Tinh, Luật Tuần Hành, Luật Mít-Tinh có Tuần Hành, và Luật Xuống Đường Trình Bày  Kiến Nghị Tập Thể, thực hiện bởi một Nhà Lập Hiến kiêm Nhà Lập Pháp danh chính ngôn thuận của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

B) Luật Pháp Quốc Gia: Sự Chuẩn Bị Nhiêu Khê Cho Luật Xuống Đường

1- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ  Đối Với Nhân Dân Việt Nam

Do Luật Xuống Đường chỉ có áp dụng trên thực tế đối với cư dân thành thị – đặc biệt là thành thị lớn (do tất cả các sự kiện xuống đường luôn diễn ra ở chốn phố thị đông người để “gây tiếng vang”) vốn chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nếu không muốn nói là cực nhỏ đến vô nghĩa về số học so với tổng số dân trong cả nước, nên hoàn toàn không phải là thứ luật cần thiết cho toàn bộ nhân dân từ thành thị đến thôn quê, từ đồng bằng đến cao nguyên, từ vùng sâu vùng xa đến hải đảo, và do đó nhất thiết phải thông qua trưng cầu dân ý chứ không phải tự tiện phát biểu giữa Quốc Hội đòi phải có luật “biểu tình” trong khi các đòi hỏi tiên đề cho luật này lại quá lớn và quá tốn kém chỉ vì và chỉ cho một bộ phận thiểu số thị dân mà không ai mặc định rằng toàn bộ số người thiểu số đó hoàn toàn có công tâm và lương tâm trong sáng đầy bản lĩnh thông tuệ mỗi khi tham gia xuống đường.

Ngoài ra, vì “xuống đường” mang ý nghĩa hàn lâm chính yếu là bày tỏ ý kiến đối với một quyết định hay chủ trương của nhà cầm quyền có thể phương hại đến lợi ích của các cá nhân tham gia xuống đường nên nhất thiết không cho phép những người không liên can và không liên quan lại bầy đàn hùa theo nhập bọn tạo thành đám đông gây phương hại đến cuộc sinh nhai thường nhật của các thị dân khác.

2- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ  Đối Với Nhiệm Vụ Bảo Vệ Hiến Pháp Việt Nam Và Thể Chế Chính Trị Cùng Chế Độ Việt Nam

Như đã nêu trong bài “Thế Nào Là Đối Lập”, Hiến Pháp và thể chế chính trị của quốc gia luôn là trách nhiệm của tất cả các lực lượng vũ trang của quốc gia phải bảo vệ bằng mọi giá. Mơ hồ về điều này do tự mỵ chính mình, mỵ dân, không phân biệt được sự khác nhau giữa “người dân” và “kẻ nổi loạn” – tức cái kiểu mà báo chí hay lái lèo sai lệch, tung tin chạy tít “công an đánh dân” thay vì đúng ra phải là “công an tự vệ khi bị kẻ vi phạm luật giao thông tấn công” – thì đó là vi hiến và tự diệt vong, mà cả hai hành vi vi hiến và tự diệt vong đều là sự ngu xuẩn không một cường quốc nào vướng phải. Việt Nam nhất thiết phải khẳng định thông suốt nhuần nhuyễn nhiệm vụ này của tất cả các lực lượng vũ trang trước khi trình dự thảo luật xuống đường. Bảo vệ hiến pháp và chế độ chính trị chính là bảo vệ nhân dân trên phạm vi bao trùm quá khứ, hiện tại, tương lai, khi trấn áp thành công mọi manh nha gây diễn biến phức tạp đẩy đến nội chiến của quốc gia. Tiêu diệt mầm mống của nội chiến: đó là vấn đề đạo đức cao nhất của các lực lượng vũ trang của bất kỳ quốc gia nào.

3- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ Đối Với Các Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

Các nhà đầu tư nước ngoài khi đổ xô vào Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua đã trên nền mặc định rằng thể chế chính trị của Việt Nam ổn định vững chắc, không có các cuộc xuống đường gây bạo loạn bất ổn như ở các quốc gia khác, gây hại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phát triển của họ.

Do đó, khi định ban hành Luật Xuống Đường, Chính Phủ Việt Nam nhất thiết phải có lộ trình và cơ chế giải quyết quyền được rút vốn, thoái vốn của các nhà đầu tư nước ngoài ra khỏi thị trường Việt Nam, cũng như tích cực hỗ trợ họ trong việc rút vốn / thoái vốn ấy; đồng thời, thiết lập các cơ chế kinh tế mới để trám chỗ trống tài chính phát sinh từ sự ra đi của các nhà đầu tư này

4- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ  Đối Với Người Lao Động Việt Nam

Khi định ban hành Luật Xuống Đường, Chính phủ nhất thiết phải nghiên cứu sửa đổi Luật Lao Động trước tình trạng các chủ doanh nghiệp có thể tự cho họ có toàn quyền ngăn cấm người lao động tham gia xuống đường, sa thải người lao động nào vi phạm luật pháp khi tham gia xuống đường, không tuyển dụng người lao động nào đã có tiền sự bị bắt giữ khi tham gia xuống đường, v.v..

5- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ Đối Với Doanh Nghiệp

Khi các chính sách và cơ chế được đề ra để phát triển sản xuất kinh doanh nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Chính Phủ khi dự định ban hành Luật Xuống Đường nhất thiết phải thực hiện các việc sau:

– Cho lộ trình và hạn định để tất cả các công ty và cơ quan bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm xã hội, và bảo hiểm y tế thực hiện việc điều chỉnh nội dung hợp đồng bảo hiểm và gia tăng phí bảo hiểm đối với từng khách hàng một do phát sinh những trách nhiệm đối với các tình huống xảy ra đối với sức khỏe, sinh mạng, và tài sản của người tham gia xuống đường hoặc nạn nhân của các vụ xuống đường. Chưa kể còn phải có thời gian để hủy các hợp đồng (do chủ hợp đồng không đồng thuận trả thêm phí bảo hiểm), hoàn trả các khoản đóng bảo hiểm do việc hủy hợp đồng dẫn đến, và xử các vụ kiện tụng giữa chủ hợp đồng và công ty bảo hiểm do bất đồng về mức chi trả trên giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm.

– Cho chính sách giảm thuế đối với các doanh nghiệp đình đốn sản xuất do người lao động tham gia xuống đường, các cửa hàng và cửa hiệu đình đốn kinh doanh do các cuộc xuống đường, các công trình xây dựng phải chậm tiến độ thi công do ảnh hưởng của các cuộc xuống đường.

6- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ Đối Với Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc Của Người Dân

Mưu cầu hạnh phúc là cụm từ quan trọng trong Tuyên Ngôn Độc Lập và liên quan bao trùm mật thiết nhất với quyền tối thượng của con người trong Hiến Pháp, do đó Chính Phủ nhất thiết phải có các quy định sau trong Luật Xuống Đường, rằng người/tập thể xin tổ chức xuống đường phải bảo đảm:

– có văn bản chấp thuận của tất cả các chủ nhân các cửa hàng và doanh nghiệp ở hai bên đoạn đường (không có tên trong danh sách cấm xuống đường); và các chủ cửa hàng/doanh nghiệp có quyền yêu cầu người/tập thể muốn xuống đường phải bù đắp bằng tiền cho thiệt hại về thu nhập của những hộ/cơ sở này

– trên đoạn đường xin xuống đường không có đám cưới, đám tang của các gia chủ cư ngụ tại đó

– trên đoạn đường xin xuống đường, phải đài thọ chi phí ở khách sạn cho những người già có bịnh mãn tính, phụ nữ đang mang thai cận ngày sinh, người khuyết tật có việc làm, từ tối ngày hôm trước của buổi xuống đường, để họ không bị việc phong tỏa dẹp trống đường của cơ quan cảnh sát phục vụ cuộc xuống đường gây khó khăn trong việc đi làm và khám chữa bệnh của họ.

– trên đoạn đường xin xuống đường, phải thỏa thuận bù đắp bằng tiền cho những người lao động tự do trên hè phố thường xuyên bán hàng rong hay sửa chữa xe tại đó (có chính quyền địa phương xác nhận) mà thu nhập của họ bị tác động do việc xuống đường.

7- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ Đối Với Quyền Sử Dụng Ngân Sách Quốc Gia

Trong vụ xuống đường gây bạo loạn đốt phá ở Bình Dương (và vài địa phương khác) trong năm 2014 dưới sự xảo ngôn “bày tỏ lòng yêu nước, chống Trung Quốc xâm lược”, Chính phủ đã có quyết định hoàn toàn đúng nhưng bằng biện pháp hoàn toàn sai khi ra lịnh cho các công ty bảo hiểm phải bồi thường cho các doanh nghiệp bị đốt phá. Đốt phá không nằm trong nội dung bảo hiểm, và hành động đốt phá là hành vi phạm pháp nghiêm trọng mà những kẻ chủ mưu cùng những người tham gia phải chịu án phạt nặng và bồi thường thiệt hại đã gây ra. Năm 2011 tôi đã phát biểu tại nghị trường Quốc Hội về cái gọi là “Luật Biểu Tình” rằng Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể chi trả cho một sự ô danh. Vụ việc ở Bình dương đã làm ô danh Chính phủ Việt Nam, và Chính phủ đã phải chi trả cho sự ô danh đó từ ngân sách eo hẹp của quốc gia. Vì vậy, nhất thiết phải sửa Luật Hình Sự và Luật Dân Sự để quy trách nhiệm toàn bộ cho cá nhân/tập thể xin xuống đường nhưng để xảy ra bạo loạn, cướp bóc, đốt phá, hôi của, và dẫm đạp gây ra các thương vong.

Ngoài ra, Chính phủ có trách nhiệm xin Quốc Hội bổ sung ngân sách khổng lồ cho các chi phí huấn luyện, trang bị vũ khí chống xuống đường cho tất cả các lực lượng cảnh sát toàn quốc.

XD 1

8- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ Đối Với Quyền Xuống Đường Chống Xuống Đường

Nếu xuống đường là quyền của người dân, thì không thể không cho phép những người dân xuống đường để chống lại một cuộc xuống đường khác. Luật Xuống Đường, do đó, phải đề ra tất cả các quy định chặt chẽ, cùng các chế tài nghiêm khắc đối với sự thể xảy ra khi có cuộc đối đầu giữa hai đoàn xuống đường khác nhau dẫn đến bạo lực và bạo loạn.

9- Trách Nhiệm Có Liên Quan Đến Luật Xuống Đường Của Chính Phủ Đối Với Nhiệm Vụ Của Các Lực Lượng Cảnh Sát

Hoa Kỳ và nhiều nước đã “quân sự hóa” lực lượng cảnh sát để gia tăng sức trấn áp đối với các cuộc xuống đường nhằm ngăn chặn hiệu quả các hậu quả thường xảy ra từ những cuộc xuống đường. Ngoài ra, lực lượng quận đội của Hoa Kỳ – Vệ Binh Quốc Gia – đảm nhận luôn vai trò trấn áp xuống đường khi có nguy cơ sẽ xảy ra bạo loạn có thể ngoài tầm kiểm soát của lực lượng cảnh sát. Lực lượng cảnh sát Việt Nam do đó nhất thiết phải bảo đảm các nội dung sau mà tôi với tư cách Nghị sĩ Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam yêu cầu Bộ Trưởng Bộ Công An phải giải trình – dù theo cơ chế “Mật” tức không có sự tham dự của báo chí – tại phiên họp toàn thể của Quốc Hội để tôi trực tiếp tranh luận và góp ý:

a) Chiến Thuật Của Các Lực Lượng Cảnh Sát

Các lực lượng cảnh sát – đặc biệt là lực lượng SWAT phản ứng nhanh, chống bạo động – nhất thiết phải được huấn luyện nhuần nhuyễn các chiến thuật đối phó với xuống đường bao gồm – nhưng không chỉ giới hạn có – chiến thuật dồn vây, chiến thuật phân tách, chiến thuật chống nổi dậy tương tự COINTELPRO của cơ quan FBI Hoa Kỳ, chiến thuật dân vận – tình báo nhân dân tương tự COPS của cảnh sát New York Hoa Kỳ, chiến thuật bình chân như vại, chiến thuật đàm phán-thuyết phục-đe dọa, chiến thuật biển người/biển chướng ngại vật/biển cảnh khuyển hay quân khuyển,

XD 2 XD 3

chiến thuật sử dụng sức mạnh của vũ khí và bạo lực, chiến thuật ấn định vùng cấm xuống đường, chiến thuật bắt chớp nhoáng giải đi ngay các đầu sỏ kích động, chiến thuật bắn tỉa từ các vị trí cao tầng, và rất nhiều các chiến thuật khác.

 XD 4

Nhất thiết phải có tổng diễn tập rộng khắp theo lộ trình và có hạn định thời gian cụ thể, có rút kinh nghiệm và phát triển các chiến thuật khác, cũng như có phối hợp với quân đội cấp thị trấn, thành phố, và quân khu. Kiểm tra đầy đủ về khả năng binh vận bằng phương tiện hiện đại như trực thăng để đổ quân khẩn cấp đến địa phương cần tiếp ứng.

b) Trang Bị Của Các Lực Lượng Cảnh Sát

Cảnh Sát Việt Nam nhất thiết phải được trang bị “tận răng” như cảnh sát Hoa Kỳ, Anh Quốc, Canada, hoặc Úc, v.v. Cần mời Cảnh Sát Hoa Kỳ sang huấn luyện việc thực hiện các chiến thuật và sử dụng các vũ khí và “công cụ hỗ trợ”, cũng như hợp đồng đề nghị Cảnh Sát Hoa Kỳ cung cấp các loại vũ khi và phương tiện chống xuống đường bao gồm – nhưng không chỉ giới hạn bởi – các vũ khí không sát thương như gậy thép thu ngắn vụt dài (quy định không được quất vào mặt, đầu, cổ, sống lưng và vùng lá lách của người xuống đường gây rối), lựu đạn cay, súng bắn đạn cao su/đạn nhựa/đạn gỗ, xe thiết giáp MRAP, thần công thủy lực bắn nước 20 lít/giây có sức xô ngã một bức tường, thẩn công sóng âm LRAD gây choáng tai trong phạm vi 300 mét và tổn thương màng nhĩ trong phạm vi 100 mét, lựu đạn mùi hôi, súng điện, súng vi-ba ADS sử dụng công nghệ lò vi sóng để gây bỏng rát trên da thịt đối phương, v.v. Tất cả là những vũ khí sử dụng bởi cảnh sát các cường quốc tư bản để bảo vệ sự tồn vong của chế độ tư bản. Các vũ khí loại gây sát thương sẽ được sử dụng bởi các lực lượng cảnh sát đặc biệt như lực lượng phản ứng nhanh, lực lượng chống bạo loạn, và lực lượng chống khủng bố, bao gồm cả đội bắn tỉa. Riêng quân đội khi phải tiếp ứng các lực lượng cảnh sát, nghĩa là khi cuộc xuống đường có nguy cơ biến thành bạo động, bạo loạn, gây tổn hại cho tài sản và sinh mạng dân lành sống tại khu vực có xuống đường, mà quân đội nhất thiết phải ra tay bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ, sẽ sử dụng vũ khí sát thương theo quân lịnh ban ra.

XD 5XD 6

Cần ghi nhận thêm rằng các vũ khí nêu trên không để sử dụng chỉ trong trường hợp cuộc xuống đường biến thành bạo động, mà được sử dụng ngay khi cảnh sát ra quyết định yêu cầu giải tán mà người xuống đường bất tuân theo. Vũ khí là để giải tán xuống đường, không chỉ để đối phó với bạo động hay bạo loạn. 

c) Quyền Miễn Truy Cứu Trách Nhiệm Hình Sự Của Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng Việt Nam

Vũ khí phi sát thương không có nghĩa là chắc chắn không gây ra thương vong.

Cảnh sát dùng tất cả các vũ khí phi sát thương như đã liệt kê ở trên là để hành sử đúng với chức trách chống xuống đường bạo động gây mất an ninh trật tự xã hội và bảo vệ dân lành không trở thành nạn nhân của các cuộc xuống đường; do đó, các thương vong nếu gây ra do lực lượng cảnh sát thì tất nhiên lực lượng cảnh sát phải được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Dùng vũ khí phi sát thương như gậy thép quất gãy tay/chân người xuống đường manh động rất khác với việc quất vào mặt/đầu/cổ/sống lưng/vùng lá lách mà quân lịnh cấm đoán, do đó kiểu giật tít “cảnh sát đánh dân gãy tay” của báo chí – nếu có – phải bị nghiêm trị và trừng trị, cùng với việc cách chức Tổng Biên Tập. Cảnh sát có vũ khí gây sát thương như súng lục – và tiểu liên đối với lực lượng chống bạo động/khủng bố – sẽ phải sử dụng khi phải trấn áp cuộc xuống đường đã biến thành bạo động và bạo loạn, để phải bảo vệ cho bằng được dân lành vô tội cư ngụ hai bên đường có xuống đường bạo động.

Vũ khí sát thương là vũ khí mà việc sử dụng hiếm khi không gây ra thương vong.

Quân đội sử dụng vũ khí sát thương. Quân đội không có vũ khí phi sát thương. Do đó, khi lập tức can thiệp trấn áp cuộc xuống đường đang biến thành bạo động hay bạo loạn, quân sĩ có quyền nổ súng và các chiến sĩ gây ra sát thương – nếu có – đều được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nội dung trên nhất thiết phải được làm cho minh bạch, rõ ràng, trước khi bàn đến luật xuống đường.

Giặc ngoại xâm và giặc nội xâm đều là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù của chế độ, mà bất kỳ chính phủ văn minh nào trên toàn thế giới cũng phải giáo dục các lực lượng vũ trang của mình quán triệt, và bảo vệ các lực lượng vũ trang trước tất cả mọi cáo buộc trong và/hoặc ngoài nước.

C) Danh Dự Và Uy Tín Quốc Gia

Uy tín Quốc gia Việt Nam được thể hiện đủ đầy qua việc Chính Phủ có nắm đầy đủ ý nghĩa của từ ngữ tiếng Việt trong tương quan với các ngôn ngữ nước khác, trước khi đệ trình một dự án luật ra Quốc Hội. “Biểu Tình” là một khái niệm vẫn còn tùy tiện, tùy hứng trong cả ý nghĩa tiếng Việt kể cả trong gán ghép vào ý nghĩa của tiếng nước khác. Chính phủ nhất thiết phải tổ chức các hội thảo hàn lâm ngữ nghĩa quyết định nội dung của từ mới “biểu tình” trên cơ sở lịch sử ngôn ngữ (tức từ nguyên hoặc ngữ nguyên) có sự tham dự của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài.

Uy tín Quốc gia Việt Nam được thể hiện đủ đầy qua việc Chính Phủ có nhìn xa trông rộng được hay không đối với một kế sách, một kế hoạch, một dự toán, hay một dự án luật. “Biểu Tình” theo nghĩa hàn lâm khởi thủy và trên bình diện nhân văn có giá trị với toàn dân về quyền cơ bản của con người là bày tỏ ý kiến (tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression) mà thời đại hiện đại ngày nay bao gồm các hành vi văn hóa cao như viết thư góp ý trực tiếp, viết blog, viết trên không gian mạng, gặp các quan chức tại các phòng tiếp công dân, v.v. “Biểu Tình” với ý nghĩa lồng ghép với “xuống đường” đã tầm thường hóa vị trí cao trọng của “biểu tình”, biến nó chỉ có giá trị thực hiện đối với một số nhỏ thị dân ở vài thành phố lớn, và do đó không bao giờ là vì cái gọi là quyền tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression của toàn dân. Đề ra một “luật” mà không có sự chuẩn bị cho thực thi “luật” ấy, không phải là hành động đúng của các chính phủ tại các quốc gia tiên tiến. Cho phép đầu tư nước ngoài vào xây dựng nhà máy mà không có quy định cùng cơ chế giám sát về xử lý ô nhiễm môi sinh để rồi môi trường sinh thái nước nhà bị hủy hoại, đó không là việc làm của một Chính Phủ có năng lực. Do đó, cho phép xuống đường chống một chính sách chủ trương của chính phủ gây hại cho bản thân, luôn đồng nghĩa với việc sẵn có lực lượng thi hành pháp luật mà mệnh lệnh giải tán của người đứng đầu cảnh sát địa phương đối với đoàn xuống đường phải được thực thi chứ không phải chỉ dựa vào việc có xin phép và đăng ký xuống đường là có quyền không tuân lệnh giải tán của cảnh sát địa phương.

Uy tín Quốc gia Việt Nam được thể hiện đủ đầy qua việc Chính Phủ có bảo đảm toàn dân nhận thức về các điểm sau:

a) tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression hoàn toàn không mặc định phải là dưới hình thức tụ tập đông người ngoài công cộng;

b) xuống đường là để thể hiện ý kiến cụ thể đối với một chính sách, một chủ trương của chính quyền có gây phương hại trực tiếp và cụ thế đến người hay nhóm người muốn xuống đường;

c) việc tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression cùng việc xuống đường thể hiện ý kiến cụ thể đối với một chính sách, một chủ trương của chính quyền có gây phương hại trực tiếp và cụ thế đến người hay nhóm người muốn xuống đường, hoàn toàn chỉ có nghĩa bảo lưu, tham khảo, mà không bao giờ mặc định dẫn đến việc buộc chính quyền phải nhượng bộ hay điều chỉnh; và

d) việc tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression cùng việc xuống đường thể hiện ý kiến cụ thể đối với một chính sách, một chủ trương của chính quyền có gây phương hại trực tiếp và cụ thế đến người hay nhóm người muốn xuống đường hoàn toàn không bao giờ đồng nghĩa với chống chính quyền, chống chính phủ, chống chế độ, chống hiến pháp, chống lại luật pháp, vì rằng tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression cùng việc xuống đường thể hiện ý kiến cụ thể đối với một chính sách, một chủ trương của chính quyền có gây phương hại trực tiếp và cụ thế đến người hay nhóm người muốn xuống đường là quyền cơ bản của con người, trong khi kêu gọi chống chính phủ, chống chính quyền, chống chế độ, chống luật pháp, chống hiến pháp là việc phản loạn nhất thiết phải bị các lực lượng vũ trang của quốc gia tiêu diệt bằng mọi giá.

Tôi sẵn sàng hùng biện tranh luận trực tiếp bằng tiếng Anh – và sẽ thắng – với bất kỳ chuyên gia nước ngoài nào mà Chính Phủ Việt Nam mời sang để thảo luận về ý nghĩa hàn lâm và ý nghĩa thực tế của xuống đường phản kháng cùng các khái niệm tự do ngôn luận freedom of speech và tự do biểu đạt freedom of expression.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chính-trị-gia, Nhà Lập-Pháp,  Nghị-sĩ Quốc-hội Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016)

Kính mời đón đọc: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”- Bài Số 3:  Sự Thật Không Thể Phủ Nhận Từ Lịch Sử

Tham khảo:

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”- Bài Số 1: Vấn Đề Hàn Lâm Của Ngữ Nguyên.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/02/nghi%cc%a3-si%cc%83-hoang-hu%cc%83u-phuoc-noi-ve-lua%cc%a3t-bie%cc%89u-tinh/

Thế Nào Là Đối Lập. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/06/nghi-si-hoang-huu-phuoc-noi-ve-doi-lap/

Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Thảm Sát Sinh Viên Đại Học Kent Bang Ohio. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/12/3041970-3042015-45-nam-tu-cuoc-dan-ap-cua-ve-binh-quoc-gia-hoa-ky-tieu-bang-ohio-tham-sat-sinh-vien-tai-truong-dai-hoc-kent/

Advertisements

Làm Phước – Cái nhìn Ở Góc Độ Khác

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bất kỳ ai có được hạnh phúc qua thời thơ ấu trong vòng tay bảo bọc chở che chăm chút của Mẹ và/hoặc Cha, đều rất có thể đã từng được đấng sinh thành dạy bảo phải làm điều phước thiện, và điều trở nên “bài bản” một cách truyền thống bất thành văn là hành vi bố thí cho người nghèo xuất phát tự thân hay cuốn theo cơn gió lành của những chương trình thiện nguyện, tôn giáo hoặc phi tôn giáo. Song, tùy thời đại mà nên có những cách nhìn mới hơn đối với việc làm phước, khi mà thời nay mọi việc đều phải dựa theo cái nhìn sâu hơn, rộng hơn, bao trùm hơn, chứ không nên là sự lặp lại của một “truyền thống” có từ thời xã hội phong kiến vốn toàn những người bần cùng và sự làm phước chỉ như hành động ban phát cho chén cháo chua, bát cơm thiu, tô canh cặn.

Điều cần suy nghĩ ở đây là: bố thí vì từ tâm hay vì muốn làm phước để được phước? Nếu vì từ tâm thì việc bố thí đã được đặt đúng chỗ hay chưa, và nếu vì để đổi lấy cái phước đức nào đó thì hãy nhìn lại xem có sự bất thường bất xứng bất tương hợp na ná như lòng tham vô độ khi muốn đánh đổi một ngàn đồng tiền lẻ của tấm lá chắn mang tên “của ít lòng nhiều” lấy cái phước đức to tát vĩ đại của đất trời.

Vào những năm 80 khi Việt Nam còn chịu sự cấm vận vô lý và vô đạo đức của chính quyền Hoa Kỳ, hãng hàng không nước ngoài duy nhất của khối tư bản được phép hoạt động ở Việt Nam là Air France, độc quyền chở hành khách từ Việt Nam sang Bang Kok rồi từ đó ai muốn đi hãng nào và đến đâu thì cứ chọn cứ đi, có lần sang Ấn Độ dự một buổi họp với lãnh đạo CIMMCO (tập đoàn công-kỹ-thương Birla danh tiếng hòan cầu), tôi đã được dạy cho một bài học về bố thí có tổ chức và trong sự giữ gìn quốc thể.

 HHP_India_1992 (2)

Sau khi dùng đường hàng không nội địa Air India và đường hỏa xa từ các tiểu bang phương Bắc xuống phương Nam, chu du từ Agra của Uttar Pradesh đến Hyderabad, Bangalore, Mysore, Vijayawada, và Madras, tôi trở lại New Delhi một ngày trước khi lên đường về Bang Kok. Dùng xe ô-tô do CIMMCO điều đến phục vụ, tôi do có thói quen kỳ lạ là nghiện nặng shopping (vợ tôi thì không thích shopping!) nên đi ngay ra khu thương mại Connaught Place ở trung tâm thủ đô trước khi đến Piccadilli trên phố Gurgaon Faridabad. Tài xế là một anh đầu búi tóc to như cái gối – dường như ít tắm gội hay vì cái nóng khủng khiếp bên ngoài làm bốc hơi mồ hôi của anh khiến trong xe máy lạnh rất nặng mùi – bàn tay đen đậm dầu nhớt trên làn da ít đen hơn một chút. Khi mở chiếc Samsonite mò lấy cái máy ảnh Canon có lắp sẵn một cuộn phim màu Kodak, tôi thấy một cô gái bé nhỏ, da đen y như than, nhưng nét mặt đẹp và buồn, vận áo xống rườm rà rất bẩn, với hai hình hài bé nhỏ buộc lơi trước bụng, quẫy đạp, ậm ừ tiếng khóc trẻ thơ. Tôi động lòng, muốn “làm phước”, liền lấy ra 50 rupee (khoảng 20.000 đồng), hạ cửa kính xe, định chìa ra cho cô gái. Thình lình bàn tay rắn chắc của bác tài chồm đến, chộp lấy cổ tay thư sinh trói gà không chặt và cột tiền thành bó cũng không xong của tôi, làm vấy bẩn chiếc áo veston màu xám nhạt mới tinh của tôi, với tiếng rít cuống quýt, van nài: “Thưa ngài. Xin đừng. Thưa ngài, dừng tay lại ngay!” Bác tài kể lể bằng thứ tiếng Anh mà chỉ có cư dân Ấn, Bangladesh, Pakistan, v.v. của vùng Nam Á sử dụng, cho biết Ấn Độ nghiêm cấm bố thí…vô tổ chức, cảnh sát có quyền vung hèo (dài một trượng) đánh tóe máu (…chết bỏ) bất kỳ hành khất nào đeo theo xin tiền du khách nước ngoài, và lái xe sẽ bị sa thải, tù tội, và cấm hành nghề lái xe suốt đời nếu chở du khách mà để du khách bố thí…vô tổ chức. Thảo nào khi vào toilet xe hỏa, tôi đã thấy ngay trước mắt mình tấm bảng treo sau cửa mang dòng chữ “Xin Đừng Bố Thí Hành Khất. Vi Phạm Sẽ Bị Phạt…..” (Please Do Not Encourage Beggars. Violation of this may make you exposed to a fine…) và nội dung như vậy cũng ở trên thảm cỏ các công viên, thay cho những bảng thường thấy ở các nước khác là “xin đừng đi trên cỏ”. Hỏi thêm, tôi được biết ai muốn bố thí cho người nghèo thì đến cho tiền tại các đền thờ, chùa, nhà thờ, và những nơi này hàng ngày phát thức ăn hai lần vào giờ nhất định cho người ăn xin. Vì vậy, cái bang Ấn Độ đi đông nghịt ngoài đường, sợ du khách nước ngoài như sợ tà ma nên né tránh từ xa vì sợ đi gần vô phước đụng phải làm họ hét lên là coi như sẽ bị cảnh sát xông tới truy sát, tới giờ thì tụ tập lại các nơi trên để nhận khẩu phần ăn. Thật là hay! Các hành khất Việt Nam thì khác, vì du khách sợ họ hơn sợ tà ma, và các cơ sở tôn giáo thì không có việc lao lung phát chẩn 730 lần cho mỗi hành khất trong một năm 365 ngày. Đó là quốc thể! Cần nhắc lại là Ấn Độ hàng trăm năm kiêu kỳ ngạo mạn không cho phép nhận viện trợ của bất kỳ nước nào, và chỉ cơn động đất kinh hoàng tàn phá khắp các bang miền Nam của thập kỷ 80 mới chứng kiến việc Ấn Độ lần đầu tiên chấp nhận viện trợ, nhưng với điều kiện kiêu kỳ ngạo mạn rằng các nước phải chờ Ấn Độ ban hành danh mục hàng hóa các nước được phép cung cấp cho dân Ấn vùng thảm họa, chứ không phải lạc quyên đồ cũ của thiên hạ rồi ném cho dân Ấn. Đó là quốc thể! Ngút trời xanh!

 HHP_India_1992 (1)

Nhưng chỉ sau đó nhiều năm, tôi mới thay đổi thực sự, không còn bố thí cho hành khất vì hai lý do: (a) báo chí đăng tải các phóng sự về làng hành khất các tỉnh vào Thành phố Hồ Chí Minh xin ăn lấy tiền về xây nhà lầu, và về những tên trời đánh sau khi đưa mẹ già, vợ con đến địa điểm thích hợp để ăn xin, thì ngồi rung đùi uống bia cá độ bóng đá trong quán gần đó để đúng giờ thì chạy xe máy đi thu gom người và đếm tiền; và (b) hai ông bạn Mỹ của tôi khi đi bộ cùng tôi vào một buổi tối trên đường Lý Tự Trọng, Quận 1, đến nhà hàng Hỏa Diệm Sơn, bị đám hành khất bao vây, phải cho một xấp tiền toàn tờ 50.000 đồng mới đựơc tha cho, đi được vài bước thì một ông phát hiện mất đồng hồ đeo tay còn ông kia xui hơn vì đạp nhằm đống phân người trợt té nằm lên chính đống phân mà tôi tin do chính bọn hành khất ấy sản xuất. Một cách có…“tổ chức”, tôi nhiều năm qua thường xuyên đưa tiền cho Ba tôi để người gởi tiền cho các báo chung tay cứu giúp người nghèo gặp nạn tai bịnh tật hiểm nghèo, chứ không còn bố thí cho hành khất, những người làm nhục quốc thể khi chèo kéo du khách, phóng uế lung tung. Tất nhiên cũng có ngoại lệ, khi tôi gặp phải hành khất mặt mũi côn đồ hay khi gặp người thất thập cổ lai hy đang cần tiền trả cho lon bia của thằng con trời đánh.

Kết thúc bài viết này, tôi xin nói điều ai cũng nhìn thấy nhưng có thể đã không quan tâm: những người “ăn xin” Hoa Kỳ (và các cường quốc phương Tây) không phải phường bất tài vô dụng. Họ có tài, nhưng bị mất việc do sa thải hàng loạt, nên sử dụng tài đó phục vụ ông đi qua bà đi lại để kiếm tiền trong đoan chính. Rất dễ thấy đó đây có chàng nhạc sĩ kéo vĩ cầm những kiệt tác của các thiên tài âm nhạc, trước mặt là hộp đựng đàn để người đứng xem có thể đặt hay ném tiền vào đấy. Họ nhận tiền như phần đáp lại sự phục vụ chuyên nghiệp của họ, chứ không phải ăn xin. Còn người già, vô gia cư, không tài cán gì cả, thì ăn mặc lành lặn, ngồi yên một góc phố, treo tấm bảng trước ngực ghi rõ sự tình, ai muốn giúp thì ném tiền vào chiếc nón ngửa trước mặt. Những người như vậy nên tồn tại vì chính họ truyền bá cho thiên hạ thấy họ văn hóa ra sao và giữ gìn quốc thể thế nào, ngay cả khi họ lâm vào tuyệt lộ. Trong khi đó, ở thành phố Hồ Chí Minh, hành khất thổi sáo thì tò te tí te không ra bài bản gì, đàn ca hát xướng thì toàn nhạc vàng não ruột mếu máo van xin, còn không đàn ca hát xướng hay thổi sáo thổi kèn thì chống nạng cà nhắc rồi vác nạng phi rượt dí theo du khách xin đểu, thậm chí hướng dẫn viên du lịch có bằng cử nhân ngoại ngữ thờ ơ để du khách Đài Loan ngồi trên xe ném tiền cho hành khất bu đuổi đánh nhau giành giật tiền rơi giữa đường Lê Lợi để quay phim tài liệu giới thiệu văn hóa nước nhà. Phải chăng cách hành xử khác nhau vì luật lệ khác nhau? Tinh thần dân tộc gìn giữ quốc thể nếu chỉ bỏ mặc cho “trời sinh” hay dạy qua quýt trong lớp học thì e là đã quá xem nhẹ hai từ quốc thể.

Bộ veston mới may của tôi đã bị hoen ố bởi vết dầu máy của bác tài Ấn Độ, không thể tẩy rửa được, phải gởi về quê Má của tôi ở Trà Ôn, Vĩnh Long, …. tặng Ông Cậu Sáu, người hồi nhỏ đã từng bị Ông Cố Ngoại thẳng tay nghiêm trị đòn roi rách lưng trầy mặt vì ham chơi không bồng bế Má tôi cẩn thận để Má tôi bị ngỗng rượt té đau. Nhưng tôi có được bài học thế nào là biểu hiện cụ thể của lòng tự hào dân tộc, vốn không chỉ là cách hành sử văn minh của từng công dân mà còn là trong cung cách ăn xin của mỗi hành khất và cách bố thí của những người thực sự quan tâm đến một cái phước lớn hơn cho những đóng góp lớn hơn khi bố thí luôn đi kèm với hiệu quả thực tế có kết dính với văn hóa, môi sinh, vì có như thế mới giúp giữ gìn quốc thể, đem lại tiếng tốt và sự thán phục cho quê hương, hấp dẫn thực sự người dân các nước khác, từ đó giúp Việt Nam hưởng lợi nhiều hơn, xã hội Việt Nam tốt hơn, con người Việt Nam tốt hơn, và cuộc sống cộng đồng Việt Nam an hòa thịnh vượng hơn.

Theo lời dạy của Ba Má, tôi đã “làm phước” ngay khi có “thu nhập”, chứ không chờ đợi đến lúc “giàu có”, và đã “dạy vợ từ lúc ban sơ mới về” rằng “nếu em chấp nhận cuộc sống thanh bạch thanh bần trong ngôi nhà nhỏ bé để anh yên tâm dồn tiền làm phước, có khi sẽ không thể xây thêm lầu cho nhà mình được, đồng lòng với anh giúp đỡ những người đang gặp bịnh tật hiểm nghèo trong xã hội, thì anh sẽ lấy em làm vợ”.

HHP_Charity (6) HHP_Charity (5)HHP_Charity (4)

Hiện chúng tôi đang sống tại căn nhà nhỏ bé không có “lầu” vì sự  “làm phước” có thỏa thuận “từ lúc ban sơ mới về” ấy.

 Truong Tuyet Anh 1

Tôi không bao giờ tài trợ cho bất kỳ một chương trình văn nghệ nào mang lời kêu gọi vì người nghèo vì tôi biết những ai là người/tổ chức ăn bám vào đồng tiền “phước thiện” của người “thiện phước”.

Đó mới chính là làm phước.

 HHP_Charity (7)HHP_Charity (8)

 Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài đăng lần đầu tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuochttp://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17343 tháng 1 năm 2009

30/4/1970 – 30/4/2015 : 45 Năm Từ Cuộc Đàn Áp Của Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Tiểu Bang Ohio Thảm Sát Sinh Viên Tại Trường Đại Học Kent

Hoàng Hữu Phước, MIB Nhân ngày Lễ Chiến Thắng 30-4-2015, tôi xin đăng lại bài viết sau vốn đã đăng ngày 29-4-2010 trên mạng Emotino, về cuộc thảm sát sinh viên Đại Học Kent, Hoa Kỳ. Bài viết vẫn giữ nguyên nội dung ban đầu, trừ ngày tháng có chỉnh sửa lại cho phù hợp với thời gian hiện tại, chẳng hạn “40 năm” đổi thành “45 năm”, và 30/4/2010 đổi thành “30-4-2015”, v.v.

30/4/1970 – 30/4/2015 45 Năm Từ Cuộc Đàn Áp Của Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Tiểu Bang Ohio Thảm Sát Sinh Viên Tại Trường Đại Học Kent

Hoàng Hữu Phước, MIB KentA) Dẫn Nhập: Ba Ngày 30/4 Định Mệnh Của Thế Giới Chống Cộng

Ngày 30 tháng 4 hàng năm là Ngày Chiến Thắng của Việt Nam, một ngày đặc biệt chỉ vài nước trên thế giới có trong lịch những ngày nghĩ lễ quốc gia hàng năm của mình. Ngày 30 tháng 4 cũng là ngày gợi nhớ đến ba cái chết: phát súng cùng đường tự sát của Quốc Trưởng Đức Adolf Hitler ngày Thứ Hai 30/4/1945 vĩnh viễn xóa sổ kẻ chống Cộng ngông cuồng nhất của thế giới tư bản; phát súng ngu xuẩn kết liễu vĩnh viễn giềng mối tự do, dân chủ, đoàn kết nhất trí của Hoa Kỳ do Tổng Thống Mỹ Richard Nixon bắn qua thông điệp chống Cộng ngày Thứ Năm 30/4/1970; và những phát súng của cả một quân đội hùng mạnh – về cơ số quân trên sổ sách cùng kho tàng quân tiếp vụ – hậu cần và khí tài chiến tranh để chống Cộng của đại siêu cường quốc Hoa Kỳ – tháo chạy tán loạn trong khiếp sợ đến nỗi cởi bỏ quân phục vẽ vang vất đầy quốc lộ, dẫm đạp lên quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và đẩy đất nước cờ-vàng-ba-sọc-đỏ cực kỳ nhanh chóng đến chỗ bị khai tử vĩnh viễn trên bản đồ thế giới ngày Thứ Tư 30/4/1975. Hàng năm, Nga và NATO mạnh ai nấy tổ chức mừng ngày chiến thắng Đức Quốc Xã của Hitler – tất nhiên, Nga với niềm tự hào tiêu diệt khối Trục Quốc Xã Đức-Phát Xít Ý-Quân Phiệt Nhật, tổn thất 20 triệu quân-dân để kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến; còn NATO gồm Tây Âu và Mỹ giành lấy tư thế dù gian giảo của đoàn quân giải phóng Châu Âu và … tiếp nhận sự đầu hàng nhanh-chóng-vì-khiếp-sợ-Liên-Xô của Nhật. Hàng năm, mọi công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều có Ngày Chiến Thắng đầy kiêu hãnh và danh dự của quốc gia. Nhưng sau ngày 30/4/1975 đầy tế nhị đối với Hoa Kỳ ấy, đã không còn tổ chức ngày tưởng niệm các sinh viên bị sát hại ngay sau thông điệp 30/4/1970 của Tổng Thống Richard Nixon, và ký ức về những sinh-viên-Mỹ-vì-Việt-Nam ấy cần được nhắc đến trước thềm đất nước Việt Nam ngẫng cao đầu kiêu hãnh chào mừng kỹ niệm 35 năm giải phóng Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước, thành lập quốc gia mang tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

B) Cuộc Thảm Sát Đại Học Kent: Đôi Dòng Lịch Sử

Khi bước vào Tòa Bạch Ốc làm vị Tổng Thống thứ 37 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1968, Richard Milhus Nixon hứa với quốc dân đồng bào sẽ chấm dứt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Song, công trình kết thúc chiến tranh trong vinh dự vẽ vang của Nixon vẫn không bao giờ trở thành sự thật vì sự điên dại của Quân Mỹ ở Việt Nam, sự điên loạn hoang tưởng của chính Ông, và sự điên rồ cũng của chính Ông, dẫn đến việc Ông là vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ phải từ chức trong xấu hổ để khỏi bị truất phế trong nhục nhã.

Sự điên dại của Quân Mỹ xảy ra khi tháng 11 năm 1969 bùng nổ thông tin cuộc Thảm Sát Mỹ Lại chấn động toàn thế giới, làm công dân Mỹ chân chính phải kinh hoàng gây bùng nổ mạnh hơn bao giờ hết các phong trào phản chiến, chống Chiến tranh Việt Nam, khiến ngay cả Chính phủ Nixon lúng túng phạm thêm sai lầm chết người qua việc áp dụng kiểu “bắt lính” dưới tên gọi không ai giống là “Draft Lottery” (rút thăm trúng…lính) hầu có đủ sức gia tăng quân số tại Việt Nam.

Sự điên loạn hoang tưởng của Nixon xảy đến khi vào tối ngày 30/4/1970 đã đọc thông điệp trực tiếp phát sóng truyền hình thông báo Quân Đội Hoa Kỳ và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đã chính thức tràn vào Cambodia, với lập luận xảo ngôn rằng đã có bằng chứng về sự mạnh lên của Cộng sản có thể đe dọa tính mạng quân Mỹ và công dân Mỹ ở Việt Nam trước khi tất cả quân Mỹ được rút về nước, rằng Cambodia chỉ là một nước trung lập nhỏ bé có 7 triệu dân, nhưng đã không giữ thân phận “trung lập” khi cho “Bắc Việt” lập căn cứ quân sự, nên nhất thiết phải bị trừng trị nhằm bảo vệ cho đại cuộc “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” được thành công. Sự hoang tưởng rằng tài hùng biện cộng với sự hù dọa về hiễm họa của Bắc Việt sẽ thu phục được dân chúng đã đẩy Nixon vào Luyện Ngục vì ngay trong đêm định mạng này đã bùng phát sự cố dẫn đến cuộc Thảm Sát Đại Học Kent quyết định tư tưởng toàn nhân loại chống Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam, bôi tro nền dân chủ Hoa Kỳ và trát trấu lên diện mạo dân quyền Mỹ; chấm dứt sự nghiệp chính trị của Nixon 09/8/1974 do sự điên rồ chà đạp Hiến Pháp và Luật Pháp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ của Ông trong vụ tai tiếng Watergate, cho phép Ông ngồi trong bóng tối xem tivi theo dõi sự nghiệp chống Cộng của Mỹ sụp đổ với sự tháo chạy tán loạn khỏi Việt Nam một năm sau đó, cũng như dõi theo bước đường tự thân vượt qua thử thách một cách ngoạn mục của Việt Nam, trước khi trút hơi thở cuối cùng tại điền trang La Casa Pacifica ở San Clemente, bang California, 12 ngày trước khi Việt Nam ăn mừng Lễ Chiến Thắng, kỹ niệm 19 năm Giải Phóng Miền Nam.

Thông điệp tối 30/4/1970 dẫn ở trên đã như giọt nước làm tràn ly với sự kiện 500 sinh viên Đại Học Kent State, thành phố Kent, bang Ohio, tiến hành xuống đường trong khuôn viên đại học ngay sáng hôm sau, ngày 01/5, chống xâm lược Cambodia, và quyết định tổng xuống đường chống Chiến Tranh Việt Nam ngày 04/5 cũng trong khuôn viên đại học với 2000 sinh viên tham dự. Thống Đốc Bang Ohio Ông Rhodes lịnh cho Vệ Binh Quốc Gia thuộc Sư Đoàn Kỵ Binh 145 và Sư Đoàn Thiết Giáp 107 tấn công vào đại học Kent, giải tán xuống đường với lựu đạn cay, ngay cả định cho ban hành thiết quân luật toàn Bang, và thậm chí còn tuyên bố những sinh viên xuống đường“không phải là Người Mỹ”, và “tồi tệ hơn bọn Sơ-mi Nâu (Quốc Xã Đức) và Cộng Sản”; trong khi Thị Trưởng Kent Ông Satromchỉ dám áp dụng lịnh giới nghiêm toàn thành phố. 67 phát súng tiểu liên đã nổ vang, giết chết 4 sinh viên – hai nam hai nữ – và gây thương tích bằng đạn tiểu liên và lưỡi lê cho 9 sinh viên khác, trong đó có một sinh viên bị liệt vĩnh viễn. Cuộc thảm sát đã gây phẫn nộ khiến 900 trường đại học, cao đẳng, và trung học khắp Hoa Kỳ bãi khóa, tạo thành cuộc xuống đường rầm rộ của 4 triệu sinh viên học sinh trên toàn quốc, chia rẽ sâu sắc và vĩnh viễn một dân tộc về vai trò của Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam. Ngay tại Thủ đô Washington DC, 100.000 người dân đã xuống đường ngày 09/5 giận dữ bạo động, đập phá phong tỏa đường phố, chống Chiến Tranh Việt Nam và phản đối việc thảm sát những sinh viên biểu-tình-trong-khuôn-viên-đại-học-không-một-tấc-sắt-trong-tay, một sự bạo động khủng khiếp mà sau này người chấp bút chính cho các diễn văn của Tổng thống Nixon là Ông Pay Rice đã phải ngậm ngùi kể lại: “Cả thủ đô thành doanh trại quân đội; người ta đập phá cửa kính, rạch lốp xe ô-tô, đẩy xe đậu ngoài đường ra chắn ngang các giao lộ, còn người trên các tầng nhà hai bên ném các tấm đệm giường lò-xo qua lan-can lầu xuống đầy đường. Người ta bảo đó là cuộc xuống đường của sinh viên. Không phải vậy đâu. Đó là cuộc nội chiến”. Đúng là đất nước Hoa Kỳ đang có chiến tranh, vì không những Tổng Thống Nixon được hộ tống khẩn cấp vào trú ẩn tại Trại David để dược “bảo vệ riêng cá nhân” – nghĩa là không kịp đem theo thành viên gia đình – mà Trợ L‎ý Tổng Thống Charles Colson còn phải điều động Sư Đoàn Không Kỵ 82 đầy đủ quân trang quân dụng trang bị tận răng nằm lềnh khênh tại tất cả các vị trí và các tầng lầu hướng súng ra ngoài. Colson nhớ lại: “Đây không phải là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đây không phải là nền dân chủ tự do vĩ đại nhất thế giới. Đây chỉ là một đất nước trong một cuộc chiến tranh đánh lại chính mình.”

Kent (1)

Bức ảnh do phóng viên John Filo chụp cảnh nữ sinh 14 tuổi Mary Ann Vecchio kêu khóc thât thanh cạnh xác sinh viên Jeffrey Miller không chỉ giúp Filo đoạt giải thưởng báo chí đầy danh giá Pulitzer mà còn là một trong những bức ảnh gây chấn động nhất trong Chiến Tranh Việt Nam, tạo bước ngoặc thái độ chống Chiến Tranh Việt Nam sâu sắc trên toàn thế giới, và góp phần thắng lợi trên mặt trận chiến tranh chính trị của Cộng Sản Việt Nam và các phong trào chống Chiến Tranh Việt Nam tại Mỹ và toàn cầu.

C) Những Sinh Viên Anh Hùng Ái Quốc:

Ái quốc không chỉ là danh xưng thốt nên từ cửa miệng bất kỳ ai. Ái quốc không phải chỉ là từ Hán Việt của “lòng yêu nước”. Ái quốc là tâm-tư-tình-cảm-hành-động-hành-vi chân chính, đoan chính, công tâm, chỉ vì đất nước, và chỉ cho đất nước. Người Mỹ ái quốc không là người thực hiện các mệnh lệnh của tổng thống hay chính phủ. Người Mỹ ái quốc là người biết nước Mỹ sẽ hùng mạnh khi có thêm một triệu thanh niên khỏe mạnh có tri thức, có học thức, có gia đình ấm no hạnh phúc, chứ không phải bớt đi một triệu thanh niên phải bỏ xác tại Việt Nam và Đông Dương cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa không để bảo vệ nước Mỹ, không vì bất kỳ một lý tưởng nào, cũng như không làm cho nước Mỹ được vinh danh. Những sinh viên Đại Học Kent State đã chứng minh chính họ mới là những anh hùng ái quốc chứ không phải những người nằm trong các quan tài bọc kẽm phủ quốc kỳ Hoa Kỳ được các vận tải cơ khổng lồ của Quân Đội Hoa Kỳ đưa về từ Việt Nam và tên tuổi được khắc ghi trên bức tường đá đen sầu thảm thất bại đắng cay.

1- Allison Beth Krause:

Phát súng đã nã xuyên ngực Allison cướp đi sinh mạng của cô sinh viên 19 tuổi năm thứ nhất hạng ưu tú, khi Cô đang cùng người yêu là Barry Levine sinh viên cùng lớp hét đến khản tiếng những lời phản chiến.

Kent (7)Kent (6)

Điều kỳ lạ là viên đạn đã nhắm vào ngực Cô từ khoảng cách 105 mét, chỉ một ngày sau khi Cô tiến đến một vệ binh trẻ tên Myers, đặt một cành hoa vào nòng súng tiểu liên của anh và nói: “hoa tốt hơn là đạn, phải không anh?” để rồi chứng kiến anh vệ binh hiền hậu này bị cấp trên chạy đến quở mắng và tước súng của anh ngay trước mặt Cô.

Kent (8)

2- Sandra Lee Scheuer

Sandy Scheuer, một nữ sinh 20 tuổi xinh xắn, ngoan đạo, dịu dàng, yêu chuộng hòa bình, điềm đạm. Không sôi động tích cực như Allison, Cô chỉ đứng ôm chồng sách vở nhìn các bạn hô vang phản chiến, rồi lặng lẽ tiến về lớp định viết thiệp vì hôm định mạng ấy là kỹ niệm ngày cưới của Cha Mẹ Cô. Bị một viên đạn tiểu liên bắn xuyên cổ từ khoảng cách 119 mét, Cô trút hơi thở cuối cùng sau đó 5 phút khi cơ thể không còn máu.

Kent (5)

3- William Knox Schroeder

Chàng sinh viên 19 tuổi ngôi sao bóng rổ trung học toàn quốc, sinh viên giỏi của phân khoa khoa học quân sự, bị bắn xuyên ngực từ sau lưng từ khoảng cách 116 mét, khi đang ôm chồng sách ngao ngán đứng nhìn cảnh Vệ Binh Quốc Gia dùng lưỡi lê tấn công những sinh viên bạn học không vũ khí.

Kent (4)

4- Jeffrey Glenn Miller

Miller bị sát hại từ cự ly gần nhất (81 mét) bằng một phát đạn tiểu liên xuyên miệng, phá vỡ hộp sọ sau, giết anh ngay lập tức, lúc anh đứng đối mặt trực diện với đoàn Vệ Binh Quốc Gia, và mở miệng hô hào. Miller để tóc dài, thích làm thơ phản chiến, người bạn dễ mến của mọi người. Khi nghe tin Vệ Binh xua quân tấn công khu đại học, anh chạy vào trường tham gia nhóm xuống đường phản chiến, sau khi nói vói lại trấn an Mẹ anh: “Cùng lắm thì họ bắt giam con vài ngày, chứ làm gì có chuyện bắn giết đâu mà Má lo. Má yên tâm nhe.” Đó là lời cuối cùng của chàng sinh viên 20 tuổi này với Mẹ. Bức ảnh John Filo chụp cảnh nữ sinh 14 tuổi Mary Ann Vecchio kêu khóc thất thanh cạnh xác anh chính là bức ảnh gây chấn động địa cầu (cùng với các bức ảnh Kim Phúc bị bom napalm và ảnh chiến sĩ đặc công Bảy Lốp bị tướng Sài Gòn Nguyễn Ngọc Loan – tên tướng lĩnh mọi rợ dã man không thể chấp nhận được trong thế giới văn minh của quy tắc ứng xử với tù binh – bắn vào thái dương khi anh Lốp đang bị trói thúc ké; cả ba bức ảnh đều là những tác phẩm đoạt giải báo chí hàn lâm).

Kent (3)

5- Những Anh Hùng Khác

Trong số 2000 vị anh hùng ái quốc vì một nước Mỹ chính nghĩa, có 13 người tên tuổi lưu danh thiên cổ: 4 người hy sinh, và 9 người bị trọng thương. Hàng năm những người bạn nhóm may mắn sống sót này họp mặt để nhớ lại biến động bản thân mình đã là chứng nhân lịch sử.

Kent (2)

– Alan Michael Canfora, bị bắn trúng cổ tay phải từ khoảng cách 69 mét. Vào năm 2007,Canfora đòi lật lại hồ sơ xử án vụ thảm sát Kent khi anh tìm được từ tàng thư của Đại Học Harvard cuộn băng ghi âm lịnh của viên sĩ quan cho phép nổ súng.

– James Dennis Russell, bị trúng hai phát đạn vào đùi phải và trán phải từ khoảng cách 114 mét. Anh qua đời năm 2007.

– Dean R. Kahler, bị bắn sau lưng từ khoảng cách 91 mét, khiến bị liệt toàn thân.

– Joseph Lewis Jr. bị trúng hai viên đạn ở bụng phải và chân trái từ khoảng cách 22 mét

– Thomas Mark Grace, bị bắn vào cổ chân trái từ 69 mét

– Donald Scott MacKenzie, bị bắn vào cổ từ khoảng cách 230 mét

– Robert Follis Stamps bị bắn vào mông phải từ khoảng cách 151 mét. Anh mất ngày 11/6/2008.

– Douglas Alan Wrentmore, bị bắn vào gối phải từ khoảng cách 100 mét.

– John R. Cleary, bị bắn vào ngực trái từ khoảng cách 34 mét

Người ta có thể vì lòng chống Cộng mù quáng, vô lý, sai lệch, để chỉ trích Trung Quốc trong biến cố Thiên An Môn. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Sinh viên Trung Quốc xuống đường bạo loạn trên đường phố chính của thủ đô, làm nhục quốc thể, chống đối thể chế chính trị của quốc gia vì ăn bả ngoại bang xúi giục, nên Chính phủ Trung Quốc vẫn có cái l‎ý tưởng bảo vệ đại nghiệp cho hậu thế mà ra tay trấn áp bạo loạn. Trong khi đó, sinh viên Kent xuống đường bên trong khuôn viên đại học Kent, để phản đối việc chính phủ Mỹ xua quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa sang xâm lược Cambodia là một nước có chủ quyền, gia tăng nguy cơ chiến tranh mở rộng, dẫn đến bắt lính đẩy con em nước Mỹ vào chỗ chết trên chiến trường xa lạ, và xuống đường ôn hòa không bạo động, không vũ khí, không đòi lật đổ chế độ Cộng Hòa nước Mỹ đễ xây dựng nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa hay Cộng Sản, không phương hại đến sự tồn vong của Hoa Kỳ, nên Chính phủ Mỹ hoàn toàn không có quyền dùng đạn tiểu liên và lưỡi lê để gây ra cuộc thảm sát sinh viên tại Đại Học Kent. Trung Quốc không có bất cứ vết nhơ nào trong sự kiện Thiên An Môn. Hoa Kỳ bị vấy bẩn trong sự kiện Kent.

D) Kết Luận: Tri Ân Phong Cách Văn Hóa Việt

Công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và người gốc Việt chân chính trên toàn thế giới luôn tự hào về chiến công lẫy lừng, chiến tích hào hùng, và thành tích vẽ vang mà dân tộc Việt Nam đã ngạo nghễ đạt được trong vinh dự và danh dự, từ kéo rốc hùng binh chinh phạt Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu nhà Đại Tống phương Bắc, uy dũng lẫy lừng khiến quân dân Tàu khiếp đảm bỏ của chạy lấy người đến vạn dặm không nghe không thấy một tiếng động hay một bóng người; bình định giặc cỏ phương Nam đến từ Chiêm Thành; tảo trừ thảo khấu Chân Lạp, Xiêm La; tiêu diệt quân đoàn Mông Cổ chấm dứt cuộc vạn lý trường chinh về phương Nam vùng Bán Đảo Đông Dương, gián tiếp giải vây toàn cương thổ Châu Âu, cứu nguy các nước Nhật Hàn vùng Đông Bắc Á; tiêu diệt thực dân Pháp, đặt dấu chấm hết cho thời kỳ thuộc địa toàn thế giới; đánh đuổi Hoa Kỳ tháo chạy nhục nhã, khâm liệm chủ nghĩa đế quốc mới; và thi thố tài năng đơn thương độc mã giữa trùng vây cấm vận: Bắc đánh bại hàng vạn thiên binh Trung Quốc tháo chạy lùi về sau Ải Nam Quan, Tây tiến quân nghĩa dũng tiêu diệt quái thú Khmer Đỏ, cứu sống cả dân tộc xứ Cam; cũng như xây dựng thành công đất nước thời bình.

Song, sự ngạo nghễ chính danh chính đạo chính đáng ấy của người Việt không che khuất lòng trọng nhân trọng nghĩa mang dấu ấn Việt đặc thù. Những cái tên của các công dân Mỹ như Norman Morrison, người đã hiến mình làm ngọn đuốc sống vì chân lý cho Việt Nam, và của các bạn sinh viên Đại Học Kent, những người đã ngã xuống vì chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam và Đông Dương, sẽ được trân trọng tri ân. Quá trình gian nan và gian khó của một cuộc hồi sinh của một đất nước nhỏ bé hứng chịu sự tàn phá khủng khiếp của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ vẫn chưa đến lúc vẹn toàn, nên vẫn chưa thể có những khoảnh khắc dù oán không đoái hoài việc trả, song ân sẽ có lúc phải đền, để tên của các bạn được đặt cho những con đường Việt Nam, để các bạn, người thân của các bạn hiểu tấm lòng Việt, nghĩa khí Việt, phong cách Việt, và văn hóa Việt, khi đặt chân đến đất nước này.

Đón chào ngày Chiến Thắng 30/4/2010 kỹ niệm 35 năm Việt Nam đánh bại Hoa Kỳ và xóa tên Việt Nam Cộng Hòa vĩnh viễn khỏi bản đồ thế giới, tôi – chúng tôi – những người Việt Nam chân chính xin ghi khắc tên các bạn, những người Mỹ đã chiến đấu vì tự do thực sự của nhân dân Mỹ, nhân quyền thực sự của nhân dân Mỹ, dân quyền thực sự của nhân dân Mỹ, và chính nghĩa thực sự của đất nước Mỹ, và đã chiến thắng. Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

Hoàng Hữu Phước, MIB.

Tôi vừa đăng lại trên trang mạng LinkedIn của doanh gia thế giới bài viết tiếng Anh của tôi về Ngày Chiến Thắng 30-4-1975 với tựa đề Vietnam: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975, và đã nhận được các đánh giá sau:

1) Ông Keith Scott, Chủ tịch Phòng Thương Mại Hạt Baltimore, Bang Maryland, Hoa Kỳ, Đảng Viên Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, viết:

Bài viết hôm nay của Ông xuất sắc – Ông nắm quá tinh thông cách lựa chọn ngôn từ khiến người ta có cảm xúc thật mạnh mẽ

 HHP_LinkedIn (2)

2) Ông Daniel Soum, chuyên gia lĩnh vực truyền thông – truyền hình, viết:

“Một bài viết hay bởi một người đáng kính trọng mà tôi rất vui đã được quen biết và cùng đàm đạo. Việt Nam cần có thêm nhiều người như Ông, Ông Hoàng ạ!”

 HHP_LinkedIn

Trân trọng kính mời các bạn xem bản tiếng Anh và bài dịch tiếng Việt tại: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/01/nhan-quoc-khanh-nuoc-nha-tai-dang-bai-viet-song-ngu-viet-anh-truoc-day-ve-dat-nuoc/

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-hội Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Hoàng Hữu Phước, MIB

Do trang mạng xã hội blog.com triền miên lâm vào tình trạng trục trặc kỹ thuật, tôi sẽ bắt đầu chọn đăng lại trên mạng wordpress.com này một số bài cần thiết với ưu tiên dành cho những bài viết mà các học trò tôi chia sẻ sự ủng hộ cao nhất. Dưới đây là một trong những bài liên quan đến giáo dục, kính mời bạn đọc tham khảo.

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại và Tương Lai

Hoang Huu Phuoc, MIB

(bài đăng trên emotino.com ngày 07-9-2012, và sau đó trên hhphuoc.blog ngày 12-3-2013)

Kính gởi các nhà giáo hiện tại và tương lai:

Kính thưa các nhà giáo:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế, Cử nhân Anh văn, nguyên giáo viên biên chế trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh (1981-1986) các bộ môn Lexicology, Composition, Grammar, Translation, và British Literature & Civilization;  giáo viên thỉnh giảng (1985-2000) các trường Đại học Ngoại Ngữ Hà Nội (các bộ môn Business Translation & Interpretation và Business Contracts), các trung tâm ngoại ngữ thuộc Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh và Trung Tâm Nghiên cứu & Dịch thuật Thành phố Hồ Chí Minh; và Trung tâm Điều phối Đại học Michigan (Business English),

Nhân ngày khai giảng năm học mới 2012-2013, kính có đôi lời như sau về những gì tôi đã thực hiện với lòng tự hào một nhà giáo Việt Nam, ngõ hầu (a) nhắc lại những kỷ niệm đẹp giữa tôi và hàng ngàn sinh viên học trò tôi, (b) mạo muội xung phong phơi mình minh bạch để làm đối tượng cho sự so sánh với các nhà giáo hiện tại để cùng nhau học hỏi tìm ra cách thức ưu việt cho cộng đồng nhà giáo, và (c) rụt rè chỉ bảo các nhà giáo tương lai tức các em sinh viên ngành sư phạm và các học sinh mong muốn làm vị tướng lĩnh trên mặt trận đánh giặc dốt từ thành lũy giáo dục của nước nhà.

1) Tư cách nhà giáo đối với danh dự bản thân:

Ở Việt Nam Cộng Hòa, người ta vào ngành sư phạm khi hội đủ tất cả những điều sau:

  1. có học thức uyên thâm, uyên bác, chuyên sâu, chuyên nghiệp;
  2. có mong muốn có nhiều thời gian rỗi để sáng tác, nghiên cứu, viết lách xuất bản, hoặc để làm thêm những “nghề tay trái” khác;
  3. có sẵn “thần uy” phù hợp với tư cách và tư thế một nhà giáo;
  4. hiểu rất rõ tất cả những thuận lợi và những khó khăn của nghề sư phạm và có đủ bản lĩnh để hóa giải các khó khăn đó;
  5. có lòng tự trọng rất cao, lòng tự hào rất cao, và lòng tự mãn rất cao;
  6. có sức khỏe phù hợp; và trên hết là
  7. có tinh thần trách nhiệm rất cao đối với chức nghiệp nhà giáo.

Hiểu rõ bảy lý do tiên quyết trên, tôi đã mơ ước được làm một thầy giáo, trong khi những người học chung lớp với tôi (không phải là “bạn học” của tôi, vì tôi rất kén chọn người có phẩm giá cao và đức hạnh tương xứng để gọi là “bạn”) chỉ mơ màng và ra sức chạy vạy – kể cả vào Đoàn hay Đảng – để được phân công về thương nghiệp, du lịch, hay dầu khí, vốn là những ngành “thời thượng” hái ra tiền vào thủa ấy (những năm đầu sau giải phóng). Về việc học (tiếng Anh), tôi đã tập trung cao độ để đọc nhiều sách của mọi lĩnh vực, từ văn chương đến quân sự, từ kinh tế-kỹ thuật đến triết học và y học, mỹ thuật và sử học, v.v., nắm bắt cho bằng được các tinh túy tinh hoa của các “trận địa” này, vì nếu không giỏi hơn thiên hạ, dứt khoát không thể nào có đủ tư cách làm một nhà giáo.

Đối với những cái gọi là “khó khăn” của nhà giáo, thu nhập luôn là điều quan trọng và nghiêm trọng hàng đầu. Hiểu rõ – thậm chí là rất rõ – điều này tức là phải đối mặt với cảnh không-thể-giàu, tôi đã hoạch định cho tương lai của một nhà giáo thực thụ: sẽ dùng thời gian rỗi để làm thêm những việc gì (chẳng hạn như dạy thêm tại các trung tâm, dạy kèm, nhận dịch thuật, và biên soạn giáo trình hay sáng tác, v.v) để không bao giờ phơi bày trước mắt học trò và xã hội hình dung đói khổ tiều tụy thiếu trước hụt sau của một nhà giáo. Để giáo dục học trò về tư cách nhà giáo, về nghề giáo, tôi đã miệt mài làm việc và với tổng thu nhập ít ỏi kiếm được hàng tháng, tôi vẫn có thể thu xếp để ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ, chu cấp cho ông bà ngoại ở Trà Ôn (Tỉnh Vĩnh Long), nuôi một đàn em ăn học trong nước (Thành phố Hồ Chí Minh) và ngoài nước (Thành phố Minsk và Krasnodar, Liên Xô), tôi vẫn đều đặn hàng tháng gởi tiền cho những sinh viên lớp tôi chủ nhiệm, đã tốt nghiệp và đang là giáo viên Anh Văn ở các huyện Xuân Lộc, Long Thành, thành phố Biên Hòa(Tỉnh Đồng Nai), v.v. để phụ các em vượt khó, đừng bỏ nghề giáo, vì luôn có Thầy bên cạnh động viên, đồng cam cộng khổ với các em, để các trường vùng sâu vùng xa không phải thiếu giáo viên Anh Văn để học sinh trung học ở các tỉnh được học tiếng Anh.

Với lòng tự trọng, tôi soạn giáo trình và nhận đánh máy giáo trình (stencil để in roneo) tiếng Anh mà không nhận thù lao để sinh viên bớt phải lo toan chi phí. Và sau giờ giảng dạy chính thức chính quy, tôi đạp xe mini như bay đến các trung tâm ngoại ngữ dạy thêm từ 17 đến 21 giờ mỗi tối, để rồi đến ngay ký túc xá dạy phụ đạo miễn phí cho sinh viên lớp tôi (và lớp khác) tại bếp ăn tập thể với nến cắm trước mặt mỗi em làm đèn học tập, và với mùi nước mắm nồng nặc vây quanh. Không cho phép sinh viên được mua bất kỳ thức ăn thức uống nào, tôi chỉ có thể thở dốc, uống cả một ca nước khi về đến nhà lúc 23 giờ 30, tắm gội vội vàng để kịp ăn tô cơm (tức là tô bo bo hay tô có hai cục bánh làm từ bột mì vo tròn và luộc thành bánh nhão) với thức ăn gồm rau càng cua (hái ở lề đường), nước tương (mua tiêu chuẩn ở hợp tác xã, tính bằng “môi” tức chiếc muỗng to), và quả ớt hiểm, để còn kịp đọc sách, soạn bài giảng cho sáng hôm sau, hoặc sáng tác một bài thơ tiếng Anh để tối mai gởi tặng người yêu (là một cô học trò).

Với tinh thần trách nhiệm khi nhận một “nhiệm vụ bất khả thi” (dạy một lớp “tỉnh”, có tỉnh như Long An gồm toàn “sinh viên”…chưa hề học tiếng Anh ở tỉnh do không có giáo viên ở các lớp trung học, được địa phương “năn nỉ” đi học để hy vọng có cán bộ giáo viên biết tiếng Anh với bao tiêu chuẩn cao được hứa hẹn cho ngày vinh quy bái tổ), nghĩa là trong 3 năm phải làm các sinh viên ấy thành những giáo viên tiếng Anh chất lượng cao ngang bằng sinh viên thành phố đã học tiếng Anh suốt 7 năm trung học, tôi đã cho họp lớp và nói thẳng với các em rằng các em chỉ có một con đường là biến 3 năm thành như 6 năm bằng cách phải học luôn ban đêm với lời cam kết của tôi là các em sẽ trở thành những nhà giáo đạt yêu cầu một cách trung thực, tự hào. Và thế là tôi dạy thêm cho các em từ 21g đến 23g hàng đêm. Các em chỉ cần xin tiền cha mẹ dưới quê để mua…nến (đèn cầy) mà thôi. Và cái nhà ăn tập thể ấy dần dần trở thành nơi huyên náo về đêm với sinh viên nhiều lớp tỉnh khác thuộc quyền chủ nhiệm của các giáo viên khác xin vào “học ké” thật tích cực, thực hành ngôn ngữ giữa chốn tù mù, leo lét, nồng nặc mùi nước mắm ấy. Kết quả của lớp tỉnh Đồng Nai do tôi chủ nhiệm sau 3 năm học ấy là: tốt nghiệp 100%, có sinh viên đạt danh hiệu sinh viên duy nhất xuất sắc toàn Khoa ngoại Ngữ (vượt qua tất cả các lớp ưu tú của thành phố và của tất cả các ban Nga Văn, Pháp Văn và Anh Văn), và có sinh viên đạt danh hiệu sinh viên duy nhất xuất sắc toàn trường (em Hoàng Thị Kim Hương, trở thành giáo viên giỏi Tỉnh Đồng Nai, về sau đã tử nạn trên đường đi dạy).

Và cuối cùng, song không kém phần quan trọng, là vấn đề thể lực. Suốt gần một thập kỷ dạy học chính thức chính quy, tôi chưa bao giờ xin nghỉ ốm hay nghỉ phép, trở thành giáo viên hay được đồng nghiệp nhờ dạy thế vì họ nghỉ ốm, mà bịnh thường nghe nói đến là viêm họng, viêm thanh quản, ho hen, và … mệt. Tôi nổi tiếng nhờ có giọng nói rất to, đến độ gây phiền phức cho các giáo viên ở các lớp bên cạnh, dù tôi dạy ở giảng đường cao rộng một lúc hai lớp gần trăm người, không có micro (do cúp điện một tuần 6 ngày từ 7g sáng đến 17g chiều), nhưng lại được các sinh viên ở các phòng bên cạnh mong chờ vào những buổi thi luyện nghe do tôi đọc quá to quá rõ nên các em ấy nhờ nghe “xuyên tường” mà làm bài kết quả tốt hơn.

2) Tư cách nhà giáo đối với học trò:

Ngoài cái gọi là “thần uy” đã nêu ở trên, vốn sẵn có như một thứ “trời ban”, tôi luôn quan tâm đặc biệt đến vấn đề tư cách và tư thế một nhà giáo. Nhiều nhà giáo nam thời ấy rất thích “thoải mái” nên đua nhau mặc áo sơ mi ngắn tay, kiểu có “bo” tức viền nẹp dưới vạt áo quanh thân và vạt áo cũng ngắn, bỏ ngoài. Đây là kiểu áo mà ngành công an nước ta hay mặc. Và tất nhiên, “thoải mái” sẽ đi kèm với dép lê hay giày sandal, còn “đồ nghề” dạy học thì để trong túi vải đeo vắt vẻo bên nách. Tôi thì khác: luôn mặc sơ mi dài tay, bỏ trong quần tây dài (hai ống) sậm màu, đi giầy ủng hoặc giầy thể thao, và để đồ nghề trong một chiếc cặp Samsonite mà 20 năm sau  giới doanh nhân hay dùng. Không bao giờ để mình xuất hiện trước học trò dáng vẻ không nghiêm túc, không sang cả, không trang trọng. Đó là cách tôi muốn sinh viên phải noi theo sau này, để các em biết tôi vui thích, yêu thích nghề giáo, và giữ sự trang trọng không những trong giảng bài, trong trò chuyện, trong trau chuốt ngôn từ (tiếng Việt và tiếng Anh), mà còn trong phong cách sống, phong thái làm việc.

 Pic1

“Lời nói luôn đi đôi với việc làm”. Đó là khẩu hiệu nghiêm túc của cuộc đời tôi, bất kể đối với vai trò một nhà giáo hay một doanh nhân, bất kể đối với đối tượng là học trò hay người con gái tôi yêu, và bất kể thời gian lúc còn học tập hay đã nhuốm bạc râu tóc mi mày. Tôi đã không bỏ nghề giáo, và hàng trăm sinh viên của tôi hiểu vì sao tôi sau đó phải rời xa bảng đen phấn trắng (một nhà báo thời ấy cũng biết rất rõ, sau đó anh này làm tổng biên tập một tờ báo lớn của Việt Nam, nay đã nghỉ hưu và dành thời gian cho sáng tác văn học). Tôi đã luôn ở cạnh các em với việc trợ giúp cho các em vượt khó trong đời sống (cho đến khi các em lần lượt thành công và nói tôi đừng gởi tiền trợ giúp nữa), và đạp xe đi dự giờ lên lớp của các em dù nơi dạy của các em có đoạn tôi phải vác xe đạp lên vai và xắn quần lên quá gối để … vượt lũ, để các em vui, và để các em không bị nạn “ma mới bắt nạt ma cũ” vì các cô giáo Anh Văn tại chỗ khi thấy “Thầy Phước” đến mà ngón tay chưa đeo nhẫn cưới đã rất ái mộ và nghe theo lời gởi gắm của Thầy Phước để “chăm lo” cho các em học trò mới tốt nghiệp của Thầy. (Xin thêm một chuyện vui là cô nữ sinh hoa khôi của một lớp thành phố khi tốt nghiệp được phân công về ngoại thành đã cầu cứu tôi vì cô bị các cô giáo tại chỗ ghét do mấy thầy tại chỗ đeo theo cô. Tôi đã đạp xe đến dự giờ cô học trò của tôi, và sau đó được biết tình hình đã cải thiện đáng kể do các thầy tại chỗ thấy tôi là đối thủ cạnh tranh nặng ký nên tự bỏ cuộc không dám đeo theo “hoa khôi của Thầy Phước”, còn các cô tại chỗ thì xúm xít thân tình với học trò tôi để thăm hỏi xem ngày nào “thầy ấy đến nửa vậy em?”)

Ngoài ra, tôi còn nghiêm dạy các sinh viên tuyệt đối không bao giờ được đem quà cáp đến tặng tôi, còn trong Ngày Nhà Giáo, nếu muốn, các em có thể đeo lên áo tôi những hoa giấy do tự tay các em làm. Kết quả là vào Ngày Nhà Giáo hàng năm, tôi là giáo viên duy nhất ngực gắn đầy “huy chương” hoa hồng giấy, và năm nào tôi cũng bị hỏng một áo sơ mi do bị mồ hôi làm lem màu giấy hồng dính áo không thể giặt trắng trở lại được, và cho đến tận ngày nay, các em vẫn còn nhớ lời dạy đó. Chưa kể, tôi cấm các em đến nhà tôi lễ Tết với lý do tôi phải đi Tết các Thầy Cô của tôi nên không ở nhà ngày mùng 3, và các em phải ở nhà để đón học trò của các em, rằng em nào đến nhà tôi ngày mùng 3 có nghĩa là em đó đã…bỏ nghề.

3) Tư cách nhà giáo đối với chức nghiệp:

Tôi rất ngạc nhiên khi cách nay mấy ngày trên VTV có làm phóng sự phỏng vấn một số nhà giáo như để chào sân cho Ngày Khai Giảng năm học 2012-2013 này, và trong phóng sự những nhà giáo này nói rằng nếu được lựa chọn lại, họ sẽ không chọn nghề giáo, và rằng thu nhập quá thấp khiến họ không sao sống được với nghề giáo. Vài nữ giáo viên vừa phát biểu vừa rưng rưng nước mắt, và có người khóc.

Tôi ngạc nhiên vì những nhà giáo này đã không biết cái gì đang chờ đón họ ở cánh cửa sư phạm. Mà nếu đã “ngây thơ khờ dại” không biết gì cả, chỉ trông mong vào ý nghĩa của “biên chế nhà nước” và nhắm đến sự “an toàn” lúc về hưu, thì dù cho họ có chọn nghề khác, họ cũng không bao giờ thành công, và cũng sẽ khóc. Họ cho rằng làm công nhân viên nhà nước sẽ “sướng” vì được nhà nước nuôi với lương cao và nghỉ hưu với chế độ hậu sao? Họ không nhận thức rằng yêu cầu của xã hội ngày nay là cực cao, mà tôi dám đoan chắc là chính họ cũng khó thể tự hào họ là những nhà giáo ưu tú, đào tạo ra bao học trò ưu tú, và bản thân đã đóng góp cho sự nghiệp giáo dục bao công trình ưu việt.

Tôi ngạc nhiên vì cùng lúc với việc họ thất bại trong chứng tỏ với học sinh bản lĩnh vượt khó của họ và tài năng quán xuyến cuộc sống của họ qua những việc làm “tay trái”, họ đã làm phương hại đến nền giáo dục nước nhà với những lời nói của họ và những giọt nước mắt của họ, mà khán giả truyền hình còn gồm học trò của họ, phụ huynh của các học trò ấy, và những người này vừa thương hại các nhà giáo, vừa nhận thấy sự thảm thương bần cùng túng quẫn của nghề giáo, đủ để triệt tiêu mọi manh nha “yêu” nghề giáo nơi học trò và đủ củng cố quyết tâm của phụ huynh trong ngăn cản con em theo ngành sư phạm. Thầy giáo mà không thể sống được với nghề mình đã chọn đến độ phải khóc lóc thở than, e là khó đủ tư cách để dạy học trò, lực lượng lao động của mai sau.

Tôi ngạc nhiên vì họ ngây thơ đến độ không hiểu rằng trên toàn thế giới này không có nơi nào nghề giáo được xem là nghề thu nhập cao, và rằng ở Việt Nam có vô số nghề có thu nhập thấp hơn nghề giáo. Loại trừ các nghề lao động giản đơn như các công nhân vệ sinh, tạp vụ, thì ngay cả những nghề “cao cấp” hơn như tiếp thị, kinh doanh, thì thu nhập “cao hơn” cũng không được xem là “đủ sống” bởi người trong cuộc. Đòi hỏi mức lương “sống được” cần có nhiều thứ như sự cân đối tài chính của nhà nước, chất lượng làm việc và hiệu quả công việc của người đòi hỏi mức lương “sống được”. Chắc chắn có nhiều sinh viên tốt nghiệp nha khoa cần có việc làm và chắc chắn có nhiều nha sĩ ở các trạm xá công than vãn lương không đủ sống. Vấn đề là không ai nhường chỗ làm cho các sinh viên vừa tốt nghiệp nha khoa, trong khi lẽ ra theo một cách hành xử công bằng thì người ta không nên nấn ná với công việc người ta hay than thở và thường xuyên đe dọa bỏ.

Các nhà giáo Việt Nam Cộng Hòa không ai than thở, và họ dạy học trong đam mê, vui thích, tươi tỉnh, dù không ai trong số họ trở thành “đại gia tài chính” cả. Các nhà giáo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có thể sẽ dạy học như vậy nếu:

1) Bộ Giáo Dục đừng tước quyền soạn sách giáo khoa của giáo viên, như bấy lâu nay dồn tất cả lợi nhuận khổng lồ cho Nhà Xuất Bản Giáo Dục dù hay có vấn đề về hiệu quả và chất lượng

2) Ban giám hiệu các trường đừng làm tha hóa ngành giáo dục qua việc bày ra các thứ “vận động phụ huynh đóng góp” (thậm chí như trường trung học cơ sở Lê Quý Đôn ở Thành phố Hồ Chí Minh cách nay mười năm đã vận động phụ huynh đóng góp để trường tổ chức cho giáo viên nghỉ hè ở Singapore), kinh doanh vô văn hóa phản giáo dục và phạm thượng (như bắt học trò mua khăn quàng đỏ có in tên trường trên đó), và cướp mất niềm vui hạnh phúc gia đình học sinh khi trường kiếm chác từ việc bày ra đồng phục riêng (thay vì như thời Việt Nam Cộng Hòa quy định thí dụ học trò nam mặc áo sơ mi trắng ngắn tay và quần ka-ki xanh dương đậm, và sự khác biệt giữa các trường là ở chỗ tên trường trên các băng vải, mà người mẹ nào cũng có thú vui may hay mua quần áo cho con và khâu băng vải tên trường lên trên túi áo sơ mi của con). Những việc làm xấu xa vô văn hóa phản giáo dục này khiến đội ngũ giáo viên làm quen với việc “moi tiền” phụ huynh, dẫn đến thái độ bất kính của học trò, và trong vài trường hợp đã dẫn đến bạo lực học đường.

3) Các giáo viên khá giả (rất nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh) và các trường khá giả (rất nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh) nên tổ chức quyên góp và dùng quỹ tự có để hỗ trợ các nhà giáo không may ở các vùng sâu vùng xa, đừng để họ bơ vơ chống chỏi với bệnh tật và đơn độc chờ đợi các khoản cứu trợ của xã hội. Hãy làm cho cộng đồng nhà giáo là cộng đồng có giáo dục thông qua các hành động tương thân tương trợ thật chủ động, thật tích cực, thật hiệu quả, thật kịp thời, thật nhân văn, thật “có tình người” như thế, vì niềm tự hào của ngành giáo dục, vì danh dự nhà giáo, và vì nêu gương sáng với học sinh..

4) Phụ huynh khá giả đừng bao giờ đáp ứng các “vận động” của các trường, không dùng tiền và quà để biếu xén các nhà giáo, làm tha hóa giáo giới:

5) Các sinh viên chỉ nên thi vào ngành sư phạm nếu hội đủ 7 điều phải có đã nêu trên, đừng vì lý do “miễn đóng học phí” mà vào ngành sư phạm để rồi sau đó hoặc theo nghề khác, hoặc trở thành nhà giáo kiểu “cam chịu”, chỉ biết ngóng chờ nhà nước lên lương với đôi dòng nước mắt.

Pic2

Tôi tự hào đã là một nhà giáo chân chính, bản lĩnh trong chuyên môn và trong tự lực cánh sinh.

Tôi tự hào đã đào tạo được cho đất nước những nhà giáo giỏi và những công dân lương thiện.

Tôi tự hào vì đến ngày nay vẫn được học trò tìm đến, cùng nhau ôn lại những ngày dữ dội, hừng hực, của ngày xưa, và tiếc cho thực tại của giáo dục ngày nay.

Xin đừng quan tâm đến câu “Hữu Xạ Tự Nhiên Hương” vì đó là câu của những người yếu thế, ganh tỵ. Xin hãy cho tôi – và mọi người –  biết về những điều kỳ vĩ các vị đã làm để vinh danh nghề giáo, để tôi, các học trò của tôi, và nhiều người khác có thể so sánh, áp dụng, và kính gởi đến các vị những lời cảm ơn, lòng kính phục và sự nể trọng.

Xin hãy chứng minh nhà giáo quả thực đáng kính trọng trên cả mẹ cha (Quân-Sư-Phụ).

Thư bất tận ngôn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A-Danh mục một vài bài viết cùng chủ đề “giáo dục” đã đăng lại hoặc đăng mới:

1- Chất Lượng Giáo Dục Ở Việt Nam. 02-8-2013.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/02/chat-luong-giao-duc-o-viet-nam/

2- Tham Luận: Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học Và Các Biện Pháp Cách Tân. 04-8-2013.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/04/nhung-phan-tich-moi-l%E2%80%8Ey-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan/

3- Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. 02-10-2014.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

4- Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. 22-02-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

5- Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô. 22-02-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-thay-nguyen-quang-to/

6- Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. 22-02-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-co-truong-tuyet-anh/

7- Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm. 22-02-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-thay-le-van-diem/

8- Khiêm Tốn.  22-02-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/khiem-ton/

9- Đừng Buông Xuôi, Bạn Hỡi! 06-01-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/06/dung-buong-xuoi-ban-hoi/

10- Thư Gởi Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo. 21-01-2015.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/21/thu-goi-bo-truong-bo-giao-duc-dao-tao/

11- Thế Nào Là Sử Gia. 05-02-2014.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/05/the-nao-la-su-gia/

12- Thế Nào Là Nhà Trí Thức. 14-02-2014.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/14/the-nao-la-nha-tri-thuc/

13- Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! 20-4-2014.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

14- Lại Trí Thức! 09-6-2014.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/06/09/lai-tri-thuc/

B-Danh mục một vài bài viết cùng chủ đề “giáo dục” sẽ sớm được đăng lại:

1) Cảm Ơn Học Trò. 21-7-2012.

2) Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy. 02-10-2011.

3) Phong Cách Người Thầy. 29-11-2011.

4) Lời Ngỏ Cùng Học Sinh. 30-08-2011.

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập

Thạc-sĩ Hoàng Hữu Phước, Chính Trị Gia

Là người đầu tiên giải thích rõ ràng nhất, đầy đủ nhất, chuyên nghiệp nhất, hàn lâm nhất, và hùng biện nhất về các nội dung quan trọng khiến chấm dứt ngay các tỉ tê lê thê nhóp nhép lải nhải của kẻ thù của chế độ Cộng sản trên không gian mạng, như về Đa Đảng, Tự Do – Dân Chủ, Tuyệt Thực, Khủng Hoảng Kinh Tế, Tết Mậu Thân, hoặc Biểu Tình [1],  v.v., tôi nay xin nói về Đối Lập vốn cũng là một nội dung mà đám kẻ thù của chế độ Cộng Sản vẫn mông muội nói xằng nói bậy ví von như hình thái “dân chủ” do mặc định sai lầm rằng người dân của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không hiểu biết gì sất về Đối Lập. Bài viết này có 3 nội dung sau:

A) Hình thái ngữ nghĩa của “đối lập” về chính trị

B) Điều kiện tiên quyết của “đối lập” về chính trị trên toàn thế giới

C) “Đối lập” tại Việt Nam

A) Hình thái ngữ nghĩa của “đối lập” về chính trị

Về ngôn từ sử dụng trong từ điển Anh-Việt và Việt-Anh, “đối lập” là “opposition”

Về ngôn từ sử dụng trong thực tế đời sống chính trị, “đối lập” không có nghĩa là “opposition” và hoàn toàn không có nghĩa là “đảng đối lập”.

Tại Mỹ, từ “opposition” không còn được sử dụng khi nói về đảng chính trị. Kể từ Thế kỷ XIX, hai Đảng Cộng Hòa và Dân Chủ trở thành đế chế thống nhất sẻ chia quyền lực và Đảng này không là “đảng đối lập” của Đảng kia, và trên thực tế không có sự khác biệt gì lớn giữa hai Đảng này. Những danh xưng như Đảng Thứ Ba, Đảng Khác, hay các tên gọi khác đều không còn được sử dụng trên thực tế. Thuật ngữ “phe đa số” và “phe thiểu số” được sử dụng tại Hoa Kỳ, chứ thể chế của chế độ Hoa Kỳ không có chỗ cho sự đối lập. Có hai điều khẳng định: (1) toàn bộ hai Đảng đều tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp Hoa Kỳ và tuyệt đối bảo vệ chế độ chính trị của Hoa Kỳ; và (2) bất kỳ ai tiến hành bất kỳ hành động nào nhằm lật đổ chế độ hiến định của Hoa Kỳ – chẳng hạn như lật đổ chế độ hiện nay để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ cộng sản, chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ quân chủ lập hiến, v.v. – đều dứt khoát sẽ bị các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ tiêu diệt trong biển máu.

Tại New Zealand, từ “Opposition” được dùng để chỉ các đảng phái chính trị khác với đảng đang cầm quyền, nghĩa là nhiệm kỳ sau nếu đảng đang cầm quyền thất thế không thể thành lập chính phủ thì đương nhiên có tên làm thành viên của phe  “Opposition”, nghĩa là không ai “đối lập” ai, mà chỉ đơn giản “anh là anh, tôi là tôi, anh ấy là anh ấy”, và nghĩa là “nếu anh là A, thì tôi và anh ấy là Khác A”. Sự có mặt của “opposition” chẳng khác gì bộ phận KCS (kiểm tra chất lượng) của một công ty sản xuất hàng hóa, nghĩa là để xét duyệt các chính sách của Đảng cầm quyền nhằm bảo đảm luật pháp phải tốt hơn, thích hợp hơn, phát huy tác dụng tích cực hơn – nghĩa là nếu sản phẩm nào đã chuẩn thì khỏi phải bị thải loại hoặc sửa chữa. Do đó, tại các phiên họp Quốc Hội, khi phải biểu quyết một vấn đề nào đó, có hình thức các nghị sĩ tự chọn bước ra ngoài theo cảnh cửa bên phải có treo bảng khổ 33x21cm màu trắng chữ xanh lá cây “AYES” để tỏ sự ủng hộ, hoặc cửa bên trái có bảng “NOES” để bày tỏ sự không ủng hộ, rồi các quan chức Quốc Hội sẽ đếm số lượng nghị sĩ của mỗi hành lang để lập biên bản báo lại cho Chủ Tịch, người sau đó sẽ triệu tập các nghị sĩ trở vào nghe kết quả sĩ số. Điều này càng cho thấy hoàn toàn không có “đảng đối lập” chuyên chống nhau để làm đảng cầm quyền thất bại trong các sách lược, mất điểm trước nhân dân, để đảng khác chiếm điểm vào kỳ bầu cử tiếp theo. Tất cả cùng tự quyết định ra cửa bên nào, nên không có việc dự án luật nào đó do nghị sĩ đảng cầm quyền trình thì cứ tự động xem như toàn bộ các nghị sĩ của đảng ấy đồng thuận thông qua vì họ chiếm đa số. Như vậy, có hai điều khẳng định: (1) toàn bộ các Đảng chính trị New Zealand đều tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp New Zealand và tuyệt đối bảo vệ chế độ chính trị của New Zealand; và (2) bất kỳ ai tiến hành bất kỳ hành động nào nhằm lật đổ chế độ hiến định của New Zealand  – chẳng hạn như lật đổ chế độ hiện nay để xây dựng chế độ cộng hòa, chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ cộng sản, chế độ quân chủ chuyên chế, v.v. – đều dứt khoát sẽ bị các lực lượng vũ trang New Zealand tiêu diệt trong biển máu.

 hhp nz

Tại Việt Nam Cộng Hòa, vốn là một quốc gia vô-đảng (vì không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cầm quyền), có tồn tại các “dân biểu đối lập” nghĩa là các dân biểu tuyệt đối trung thành với nền Đệ Nhị Cộng Hòa và Hiến Pháp 1967. Các dân biểu này “đối lập” với vài điểm trong vài dự án luật của Quốc Hội, hoặc có ý kiến khác đối với các chính sách đối nội của Chính Phủ. Các dân biểu Việt Nam Cộng Hòa phải Chống Cộng vì trung thành với thể chế chính trị Cộng Hòa. Các dân biểu Việt Nam Cộng Hòa phải Chống Thiệu để được danh “đối lập”. Các dân biểu Việt Nam Cộng Hòa phải Chống Mỹ vì đã Chống Thiệu để được danh “đối lập”. Và bất kỳ ai muốn lạm danh “đối lập” để lái theo hướng Cộng Sản đều dứt khoát sẽ bị các lực lượng vũ trang Việt Nam Cộng Hòa tiêu diệt trong biển máu.

Tác giả Michael Peck trong bài viết ngày 15-11-2012 trên tạp chí Forbes với tựa đề Quân Đội Mỹ Sẽ Bóp Nát Cuộc Nổi Loạn Của Đảng Trà Như Thế Nào đã vạch ra cuộc diễn tập quân đội được trang bị tận răng với vũ khí hủy diệt cùng lực lượng cảnh sát trang bị vũ khí hạng nặng sẽ ứng phó ra sao nếu tình huống là có cuộc nổi dậy tại Darlington, bang Nam Carolina, đòi lật đổ chế độ Hoa Kỳ để thành lập một Nhà Nước theo thể chế chính trị khác. “Đảng Trà” là tên gọi đồng nghĩa với những đảng-chính-trị-không-là-đảng-cầm-quyền vốn còn gọi là Đảng Thứ Ba hoặc Đảng Khác, mà nhiều người biết tiếng Việt sính gọi là “đối lập”, mà nội hàm rất rõ ràng là: ngoài hai Đảng cầm quyền Cộng Hòa và Dân Chủ của các đại gia tư bản, bất kỳ “đảng chính trị” nào khác không được tham chính và đương nhiên trở thành kẻ thù mà chế độ phải tiêu diệt nếu dám manh nha cho một cuộc lật đổ chế độ của Hoa Kỳ.

Sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc chính là sự thể hiện cực kỳ thống nhất, cực kỳ tiêu biểu, cực kỳ tương tự, và cực kỳ chính xác theo chuẩn mực trị quốc của tất cả các quốc gia tiên tiến có luật pháp phân minh mà Mỹ là điển hình.

 B) Điều kiện tiên quyết của “đối lập” về chính trị trên toàn thế giới

 

Dứt khoát “đối lập” về chính trị không bao giờ liên quan đến “lật đổ” chế độ và xóa bỏ hiến pháp của một quốc gia.

Đối Lập về chính trị luôn chỉ có nghĩa là sự nêu lên ý kiến khác biệt đối với một vấn đề nhỏ và cụ thể liên quan đến sự phát triển quốc gia, trên cơ sở thống nhất tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp và tuyệt đối bảo vệ thể chế chính trị cùng chế độ của quốc gia.

Mọi hành vi chống lại Hiến Pháp, chống lại chế độ, chống lại thể chế chính trị quốc gia là hành vi phản loạn – không phải “đối lập” – và do đó vi phạm luật pháp cụ thể của quốc gia, phải bị trừng trị cụ thể theo quy định của luật pháp quốc gia, và trong trường hợp gây ra bạo loạn phải bị tiêu diệt bởi các lực lượng vũ trang của quốc gia.

 

C) “Đối lập” tại Việt Nam

Tương tự như các quốc gia cường thịnh, văn minh, hiện đại, Việt Nam xem “đối lập” mang thuần ý nghĩa của những ý kiến khác với ý kiến chung hoặc ý kiến riêng của người khác mà mục đích của những ý kiến “khác” này là nhằm làm rõ hơn nội hàm cụ thể nào đó của một nội dung nào đó cụ thể, đi vào chi tiết, thuộc một dự án luật hay một vấn đề chính thức được Quốc Hội hay Chính Phủ nêu lên hay dự định ban hành; và do đó “đối lập” tự thân mang tính phản biện, tự do ngôn luận, tự do biểu tình (bày tỏ tình ý), và giám sát.

Việt Nam xem trọng “đối lập” nên tổ chức vô số các điểm tiếp dân của Đảng và Chính Quyền, từ trung ương đến địa phương, từ cấp Bộ đến cấp xã [2] để ngoài việc xử lý các khiếu nại, tố cáo, còn tiếp nhận các kiến nghị mang tầm nhìn khác của người dân đối với các chủ trương chính sách của quốc gia.

Việt Nam không xem trọng hình thức, vì vậy sau khi Cách Mạng thành công đã chấp nhận cho những đảng phái chính trị khác giải thể để hòa nhập vào Đảng Cộng Sản Việt Nam do tất cả những đảng này đều theo đường lối cộng sản chủ nghĩa và đều tôn trọng tư thế hiến định “đảng cầm quyền” của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và cùng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời lập ra những cơ chế giám sát để thực hiện phản biện tích cực, tức hình thái duy nhất đúng của “đối lập”. Ngược lại, Hoa Kỳ quan tâm đến hình thức nên có hai đảng cầm quyền mà thế giới đều biết cả hai giống y hệt nhau, cùng bảo vệ thể chế chính trị và chế độ cộng hòa.

“Đối lập” luôn tồn tại một cách tích cực ở Việt Nam trên nền best practical practice thực thi thực tế tốt nhất của thế giới Âu Mỹ. Mọi cuộc kêu gào đòi hủy điều này của luật nọ hoặc điều đó của Hiến Pháp Việt Nam đều là sự xuẩn ngốc, điên rồ, láo xược  mà không một chính khách nào trên thế giới dám tự nhận mình ngu dốt tương tự để lên tiếng ủng hộ.

Hiến Pháp Mỹ và thể chế chính trị Mỹ luôn được Mỹ tuyệt đối xem trọng và bảo vệ

Hiến Pháp Việt Nam và thể chế chính trị Việt Nam luôn được Việt Nam tuyệt đối xem trọng và bảo vệ.

Bảo vệ Hiến Pháp đồng nghĩa với bảo vệ nhân dân.

Bảo vệ thể chế chính trị quốc gia và chế độ quốc gia là bảo vệ nhân dân.

Đó luôn là chân lý duy nhất trong cộng đồng các chính khách toàn cầu.

Và tôi, Hoàng Hữu Phước, là “Nghị sĩ đối lập” của Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đơn giản vì tôi không phải Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền, tôi tuyệt đối bảo vệ Hiến Pháp Việt Nam,và tôi tuyệt đối bảo vệ thể chế chính trị và chế độ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tức tất cả những yêu cầu cần và đủ để trở thành một “nghị sĩ đối lập” theo đúng tinh thần của đối lập trong sinh hoạt chính trường toàn thế giới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chính-trị-gia, Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016)

Ghi chú:

[1} Vài bài trong số nhiều bài viết thuộc cụm “Thế Nào Là” của Hoàng Hữu Phước:

Thế Nào Là Đa Đảng: Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

– Thế Nào Là Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/ 

– Thế Nào Là Khủng Hoảng: Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/25/nhung-lap-luan-ky-quai-cua-nguoi-tu-xung-la-ts-tran-minh-hoang/

– Thế Nào Là Sự Thật Về Tết Mậu Thân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

– Thế Nào Là Biểu Tình. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/02/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh/

– Thế Nào Là Sử Gia. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/05/the-nao-la-su-gia/

– Thế Nào Là Nhà Trí Thức. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/14/the-nao-la-nha-tri-thuc/

[2] Lại Thu Trúc. 29-3-2015. Những Thách Thức Mới Và Khó Khăn Đối Với Các Mục tiêu Phát Triển Bền Vững Trong Nghị Trình Phát Triển Hậu 2015 Của Liên Hợp Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/03/30/nhung-thach-thuc-moi-va-kho-khan-doi-voi-cac-muc-tieu-phat-trien-ben-vung-trong-nghi-trinh-phat-trien-hau-2015-cua-lien-hop-quoc/

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”

Bài Số 1: Vấn Đề Hàn Lâm Của Ngữ Nguyên

Thạc-sĩ Hoàng Hữu Phước, Nhà Lập Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

 OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Với tư cách “nhà biểu tình học” duy nhất của Việt Nam và do đó có đầy đủ thẩm quyền hàn lâm mói về cái gọi là “Luật Biểu Tình”;

Với uy thế Nghị sĩ Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thành công tuyệt đối trong chặn đứng hoàn toàn các manh nha soạn thảo dự án “Luật Biểu Tình” – trước khi bảo đảm 100% nghị sĩ Quốc Hội hiểu rõ thật sự 100% về tất cả các vấn đề của “biểu tình”,  từ ngữ ‎nghĩa từ vựng học cho đến các yêu cầu thực tiễn xây dựng luật hoàn chỉnh và “vì dân”  – ra khỏi tất cả các chương trình nghị sự làm luật của toàn bộ nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII (2011-2016), được tuyệt đại đa số nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII thay mặt toàn dân tộc vỗ tay tán thưởng đồng tình vang dậy cả nghị trường Quốc Hội Việt Nam;

Với uy tín một nghị sĩ thạc sĩ thực thụ đã từng tuyên bố sẽ đích thân đệ trình dự thảo Luật Biểu Tình vào cuối nhiệm kỳ Quốc Hội XIII để Quốc Hội XIV có cơ sở khoa học tiếp tục nghiên cứu; đồng thời

Thực hiện lời hứa vởi cử tri trong Chương Trình Hành Động cũng như trong các phát biểu trong tiếp xúc cử tri lúc tranh cử Đại biểu Quốc hội đầu năm 2011 rằng “luôn biết lo trước cai lo của người dân” và “lời nói luôn đi đôi với việc làm” cũng như “việc làm luôn hay hơn lời nói”;

Nay thấy Chính Phủ đã phân công Bộ Công An nghiên cứu và chịu trách nhiệm đối với dự án Luật Biểu Tình;

Do thấy Chính Phủ đã xin Quốc Hội cho dời việc trình dự thảo dự án Luật Biểu Tình sang Quốc Hội khóa XIV vì có nhiều nội dung phức tạp cần phải làm rõ – mà tất cả những phức tạp này tôi đã nói đến đầy đủ từ năm 2011;

Để tôn trọng Chính Phủ qua việc sẽ không trực tiếp cạnh tranh với Bộ Công An đối với việc tranh đua phác thảo dự án Luật Biểu Tình; và

Nhân trong buổi hội thảo về Luật Thống Kê được tổ chức ngày 25-3-2015 tại Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh số 2 bis Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Thầy Hà Văn Sơn (Khoa Toán – Thống Kê, Đại Học Kinh Tế  Thành phố Hồ Chí Minh, có đề nghị nên có bản dự thảo tiếng Anh của luật này do các khái niệm và thực hành đều từ nền tảng học thuật của nước ngoài, từ đó bản dự thảo tiếng Anh cần có để các nhà chuyên môn nghiên cứu sự tương thích về ngữ nghĩa và thực hành của bản tiếng Việt – đã hoàn toàn tương tự như điều tôi, với tư cách nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nghiêm túc hàn lâm tiên tri thấu thị (man of vision), đã phát biểu yêu cầu từ năm 2011 đối với dự thảo dự án Luật Biểu Tình;

Tôi kể từ hôm nay sẽ lần lượt nêu ra tất cả những vấn đề mang tính điều kiện tiên đề prerequisite nhất thiết phải có trước khi hình thành cái gọi là Luật Biểu Tình để Việt Nam có thể có một Luật Biểu Tình mà các siêu cường tư bản phải khát khao có được tương tự.

Bài số 1 này sẽ về vấn đề Ngữ Nguyên hoặc Từ Nguyên của cụm “biểu tình” theo mục lục sau:

A) Từ điển tiếng Việt

B) Từ điển tiếng Anh

C) Lãnh tụ Hồ Chí Minh có mỵ dân? 12 Khóa Quốc Hội (I – XII) có phản phúc? Khẳng định sự đúng đắn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và học trò

D) Kết Luận: Vấn nạn sử dụng từ ngữ tự tung tự tác của giới truyền thông Việt Nam

Bài Số 1: Vấn Đề Hàn Lâm Của Ngữ Nguyên

A) TỪ ĐIỂN TIỀNG VIỆT

1- Trong quyển Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam của Cụ Vương Hồng Sển soạn năm 1978 và do Nhà Xuất Bản Văn Hóa phát hành năm 1993, hoàn toàn không có từ “biểu tình”, do đó, có thể lập luận rằng “biểu tình” qua công trình của nhà nghiên cứu uy tín Vương Hòng Sển không phải là từ ngữ được sử dụng tại Miền Nam tức Việt Nam Cộng Hòa, và suy ra chưa từng tồn tại trong thực tế sử dụng ngôn từ tại Miền Nam tức Việt Nam Cộng Hòa.

2- Trong quyển Việt Nam Tân Tự Điển của Thanh Nghị do Nhà Sách Khai Trí ấn hành tại Sài Gòn năm 1967, tại trang 127, do là tự điển có dựa theo ngôn từ tiếng Pháp được chú thích kèm theo mỗi từ tiếng Việt nên chữ “Biểu Tình” được lần đầu tiên được nêu ra, với định nghĩa là bày tỏ tình ý, yêu sách gì, và “Cuộc Biểu Tình” là cuộc tụ tập công khai của nhiều người muốn bày tỏ một ý muốn, một ý kiến, hoặc một yêu sách chính trị hoặc xã hội. Cho đến tận ngày nay tức là khi Thế Kỷ XXI đã đi qua hơn 1/10 chặng đường 100 năm của nó, rất nhiều người Việt Nam – kể cả các nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII – vẫn còn cho rằng biểu tình là biểu lộ tình cảm, mà tình cảm thì có cả thương, yêu, giận, ghét, chứng minh ý nghĩa như đã nêu trong từ điển của Thanh Nghị có giá trị chuẩn xác nhất, thích hợp nhất, có giá trị sử dụng lâu dài nhất và có ảnh hưởng sâu xa nhất đối với tư duy người Việt mỗi khi nói đên từ “biểu tình” vốn là từ mới xuất hiện, mới được ghi nhận vào từ điển những năm 60 của thế kỷ trước, với chỉ có ngần ấy ý nghĩa.

3- Còn trong quyền Từ Điển Hành Chánh Công Quyền Việt-Anh-Pháp của Giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Quang Khánh và Giáo sư Đại học Luật Khoa Việt Nam Cộng Hòa, Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Vũ Quốc Thông, do Hiện Đại Thư Xã xuất bản ở Sài Gòn năm 1972 bằng bản in roneo, có dựa theo từ ngữ “biểu tình” của Việt Nam Tân Tự Điển của Thanh Nghị để ghi “biểu tình” có chua nguyên văn rằng: biểu tình là một thể thức xử dụng quyền tự do tụ họp dưới thể thức dân chủ; nhưng biểu tình chỉ hợp pháp nếu không có tính cách bạo động và không phương hại tới an ninh trật tự công cộng; và trong tình hình khủng hoảng chính trị hay kinh tế, chính quyền có quyền tạm ngăn cấm biểu tình”.  Đây là cách giải thích tuy ấu trĩ và xảo biện, vẫn phục vụ tốt ‎ý đồ triệt tiêu tất cả các thứ “xuống đường” nào – mà các vị chức sắc này gọi là “thể thức dân chủ” – chống chế độ, chống Mỹ, và chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Khi thấy nước này nước nọ có các cuộc “xuống đường phản kháng chính sách của nhà cầm quyền”, một ít báo chí Sài Gòn tập tễnh dùng từ “biểu tình” chỉ với ý định tốt nhằm “mềm hóa” thông tin nhạy cảm, để né cơn thịnh nộ của nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa, với ngụ ý rằng đó chỉ là những cuộc tụ tập biểu lộ tình cảm, và theo thời gian cái biểu lộ tình cảm – gọi tắt là biểu tình – đã bị lẫn lộn, hòa tan một cách khiên cưỡng, bạo hành, vô duyên, vào nội hàm xuống đường phản kháng chính sách của nhà cầm quyền, và gần đây nhất là dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gượng gạo gán ghép vào “bày tỏ lòng yêu nước”, v.v., vốn là những mặc định hoàn toàn xa lạ kỳ lạ quái lạ đối với tất cả các nguồn từ-nguyên-học hay ngữ-nguyên-học của bản thân khái niệm xuống đường phản kháng chính sách của nhà cầm quyền ở tất cả các nước văn minh tiên tiến.

B) TỪ ĐIỂN TIỀNG ANH

Trong khi tất cả các từ điển Việt-Anh tại Việt Nam ghi biểu tình = protest  demonstration tức copy theo ngôn ngữ báo chí internet – mà tuyệt đại đa số gồm toàn là những “nhà tuyên bố học” nghĩa là tuyên bố vung vít mà không có đến một tấm bằng cấp lận lưng – hay dùng là cụm “protest demonstration” do họ chế tạo ra, thì

1- Trong quyển Webster’s New World Dictionary of the American Language – College Edition ấn bản 1964, hoàn toàn không có cụm từ protest demonstration, mà chỉ có protest và demonstration, với protest lần lượt mang một ý nghĩa thông thường và chính yếu là sự phản đối và mang ba ý nghĩa luật pháp tiếp theo gồm tuyên bố của công chứng, tuyên bố bằng văn bản của chủ tàu biển, và tuyên bố của một người đóng thuế đối với những vấn đề cáo buộc trách nhiệm có liên quan; còn demonstration có 6 nghĩa, trong đó các nghĩa chính đầu tiên gồm sự bày tỏ, sự giải thích, còn ý nghĩa phụ thứ 4 là sự diễn đạt một cảm nghĩ hay ý kiến nơi công cộng, trong khi ý thứ 5 liên quan đến quân sự và ý thứ 6 liên quan đến toán học.

2- Trong quyển Webster’s New World Dictionary of American Language – Third College Edition (không có chữ “the” trước “American”) ấn bản 1990 cũng hoàn toàn không có cụm từ protest demonstration, mà chỉ có protest và demonstration với cả protest và demonstration lần lượt mang các ý nghĩa y như ấn bản 1964 dù ấn bản 1990 này gia tăng lên hơn 170.000 từ với hơn 11.000 từ và nhóm từ tiếng Mỹ.

Như vậy không rõ từ nguồn nào mà các tự điển ở Việt Nam lại tự do diễn giải ý nghĩa của demonstration thành “biểu tình” với nội dung hoặc chung chung hoặc tô điểm hoa lá cành thành “bày tỏ lòng yêu nước” trong khi từ điển Webster của Mỹ không hề có các khái niệm tương tự cho “demonstration”. Tất nhiên, do không có sẵn cụm từ protest demonstration nên tạm thời Việt Nam có thể gán ghép cho protest cùng demonstration nên duyên chồng vợ, nhưng danh chính ngôn thuận cũng chỉ ở mức độ giới hạn của “diễn đạt nơi công cộng một ý kiến hay cảm nghĩ bất bình khi bản thân bị oan sai, vu vạ” mà thôi. Làm gì có chuyện “biểu tình để bày tỏ lỏng yêu nước” như báo chí Việt Nam hằng rêu rao và từng thèm muốn lái lèo dư luận vào nẻo sai lầm lạc phản hàn lâm.

Ngay cả quyển từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary ấn bản 1990 cũng không có cụm từ protest demonstration, và bản thân protestdemonstration cũng không có sự ôm đồm bao biện về ‎ý tứ hay ý nghĩa.

Nếu đã không có protest demonstration trong tiếng Anh mang ý nghĩa tương tự các sự gán ghép của tiếng Việt thì trên nguyên tắc hàn lâm không thể có việc cho rằng biểu tình ở tiếng Việt được dịch sang tiếng Anh thành demonstration, thành protest, hay thành protest demonnstration một cách tự động, tự do, tùy tiện, tùy hung.

C) LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH CÓ MỊ DÂN? 12 KHÓA QUỐC HỘI CÓ PHẢN PHÚC? KHẲNG ĐỊNH SỰ ĐÚNG ĐẮN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ HỌC TRÒ

Một khi đã nói Hiến Pháp Việt Nam từ thời Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có nêu “quyền biểu tình” mà cho đến Khóa XIII (2011-2016) Quốc Hội vẫn còn “mang nợ” với nhân dân qua lời nói thiếu khôn ngoan và kém kiến thức hàn lâm của vài vị nghị sĩ mà số lượng chưa đầy số ngón tay của một bàn tay đủ ngón rằng sẽ vinh dự báo cáo với nhân dân đã trả xong món nợ với dân tộc qua việc đề ra xong Luật Biểu Tình, phải chăng mang ngụ ý rằng Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã mị dân khi tùy tiện nêu lên nội dung “biểu tình” nhưng ngầm lịnh cho Quốc Hội không được ban hành “luật biểu tình”, hoặc Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã thiết tha muốn có “luật biểu tình” nhưng Quốc Hội 12 khóa (từ Khóa I đến Khóa XII) đã gồm toàn những học trò phản phúc đã chống lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Trên thực tế, nhân vật vĩ đại có tri thức hàn lâm Hồ Chí Minh khi nói người dân có quyền biểu tình, đã thuần theo ý nghĩa chủ đạo của đại đa số người dân Việt là “bày tỏ tình cảm, ý kiến, yêu sách gì” như một khẳng định rằng đã qua rồi thời kỳ mà ngay cả việc hôn phối cũng phải báo cáo tổ chức và phải được phép của tổ chức sau quá trình thẩm tra lý lịch nghiêm ngặt xem đối tượng hôn phối của một người có thuộc hạng địa chủ, ngụy tề tay sai giặc – như một thể hiện quyền được mưu cầu hạnh phúc như trong Tuyên Ngôn Độc Lập; cũng như khẳng định nhân dân có quyền gặp các lãnh đạo công quyền để bày tỏ các yêu sách; và tất cả những điều này đã được toàn bộ Quốc Hội 12 Khóa nghiêm túc thực hiện trong phục vụ nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn. Và do “biểu tình” mang nghĩa chính là bày tỏ tình ý, yêu sách nên đây là quyền con người cơ bản y như việc hít thở không khí, thực tế không bao giờ cần có cái gọi là “Luật Thở” và tương tự là “Luật Biểu Tình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không mị dân, mà chỉ có hậu sinh gán ghép ý mới không-chính-quy của không gian mạng vào lời trí tuệ đoan chính và hàn lâm của đấng-không-bao-giờ-sơ-xuất-ngôn-từ Hồ Chí Minh.

Quốc Hội 12 Khóa đã không hề là những học trò phản phúc vì đã trí tuệ thông hiểu ý tứ của “quyền biểu tình” trong ngôn ngữ của Thầy Hồ Chí Minh.

Chỉ có một sự thật: một vài nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII mà số lượng có thể đếm được không đầy một bàn tay đủ ngón đã cố ý hoặc vô tình bị dẫn dắt mà khỏa lấp các nội dung hàn lâm phức tạp của ngữ nguyên và từ nguyên nhằm lừa mị Quốc Hội cho ra một Luật Biểu Tình những thực chất của tiếng Anh (“protest” + “demonstration”) sẽ trở thành Luật Cho Phép Xuống Đường Chống Chính Phủ mà thôi.

D) KẾT LUẬN: VẤN NẠN SỬ DỤNG TỪ NGỮ TỰ TUNG TỰ TÁC CỦA GIỚI TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM

Từ các phân tích trên, và trước tình hình tri thức có nhiều ổ trâu ổ voi của vài nhà trí thức mà số lượng có thể đếm được không lắp đầy một bàn tay đủ ngón chẳng hạn như vị mang tên VTH trên tờ Thời Báo Sài Gòn không rõ tài cán chuyên môn đến đâu và có đóng góp ích lợi thực thi thực tế nào cho nền kinh tế quốc dân của quốc gia này hay chưa nhưng cũng đã viết một bài đầy hí hửng để cổ vũ cho cái gọi là “trả nợ nhân dân” khi vừa nghe phong phanh Thủ Tướng giao Bộ Công An trình dự án Luật Biểu Tình trong năm 2015, tôi thấy họ cần phải bắt đầu học lại và bắt đầu nghiên cứu về nội dung của “xuống đường” của các siêu cường Âu Mỹ, để biết rằng

1) Mỗi từ ngữ đều có thể có hơn một nghĩa

2) Nguyên tắc hàn lâm đối với từ có hơn một nghĩa: nghĩa đầu tiên luôn là nghĩa chính. Luật Biểu Tình do đó phải mang tên Luật Bày Tỏ Tình Cảm Và Ý Kiến.

3) Nguyên tắc thực tế cuộc sống văn minh: đối với từ có hơn một nghĩa thì sự vận dụng bắt đầu từ ý nghĩa thứ hai trở đi sẽ cần hoặc sự giải thích chi tiết hơn trong vận dụng hoặc tìm kiếm từ khác tương đương nghĩa nhưng mang nghĩa đầu tiên. Luật Biểu Tình do đó phải mang tên khác.

4) “Xuống Đường” là từ ngữ Miền Nam tại Việt Nam Cộng Hòa. Và tham khảo các nội dung tụ tập đông người để “xuống đường”, cái mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cần sẽ là cụm Luật Meeting, Luật Tuần Hành, và Luật Tụ Tập Đông Người Để Đóng Góp Ý Kiến Tập Thể.

5) Và nếu Quốc Hội Việt Nam muốn áp dụng cái bất chính vô nguyên mà báo chí không gian mạng “chế” ra là protest demonstration thì có thể bắt đầu cho soạn thảo dự án Luật Xuống Đường Phản Kháng Chính Phủ.

Nói tóm lại, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không cần có Luật Biểu Tình, vì mọi công dân Việt Nam đều có quyền bày tỏ tình ý với bất kỳ ai vì đây là vấn đề liên quan đến hôn nhân-gia đình, bình đẳng giới, và “mưu cầu hạnh phúc”, vốn luôn là điều cơ bản của “nhân quyền”.

Nhắm mắt nhắm mũi rặn đẻ ra Luật Biểu Tình là tự hiến mình vào bẫy rập ngôn từ của kẻ thù mà tôi, Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không cho phép xảy ra.

Quốc Hội Việt Nam từ thời lập quốc đến nay chưa hề có nghị quyết bất kỳ khẳng định nghĩa của từ “biểu tình” nên nội hàm của cái từ “biểu tình” mà báo chí sử dụng chỉ thuần túy mang nghĩa hoặc chủ quan hoặc tự tung tự tác của riêng báo chí mà không là nghĩa chính thức của từ ngữ tiếng Việt dù của Việt Nam Cộng Hòa hay của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016), Nhà Lập Pháp

Kính mời đón đọc: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”- Bài Số 2: Vấn Đề Luật Pháp Quốc Gia