Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”

Bài Số 1: Vấn Đề Hàn Lâm Của Ngữ Nguyên

Thạc-sĩ Hoàng Hữu Phước, Nhà Lập Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

 OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Với tư cách “nhà biểu tình học” duy nhất của Việt Nam và do đó có đầy đủ thẩm quyền hàn lâm mói về cái gọi là “Luật Biểu Tình”;

Với uy thế Nghị sĩ Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thành công tuyệt đối trong chặn đứng hoàn toàn các manh nha soạn thảo dự án “Luật Biểu Tình” – trước khi bảo đảm 100% nghị sĩ Quốc Hội hiểu rõ thật sự 100% về tất cả các vấn đề của “biểu tình”,  từ ngữ ‎nghĩa từ vựng học cho đến các yêu cầu thực tiễn xây dựng luật hoàn chỉnh và “vì dân”  – ra khỏi tất cả các chương trình nghị sự làm luật của toàn bộ nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII (2011-2016), được tuyệt đại đa số nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII thay mặt toàn dân tộc vỗ tay tán thưởng đồng tình vang dậy cả nghị trường Quốc Hội Việt Nam;

Với uy tín một nghị sĩ thạc sĩ thực thụ đã từng tuyên bố sẽ đích thân đệ trình dự thảo Luật Biểu Tình vào cuối nhiệm kỳ Quốc Hội XIII để Quốc Hội XIV có cơ sở khoa học tiếp tục nghiên cứu; đồng thời

Thực hiện lời hứa vởi cử tri trong Chương Trình Hành Động cũng như trong các phát biểu trong tiếp xúc cử tri lúc tranh cử Đại biểu Quốc hội đầu năm 2011 rằng “luôn biết lo trước cai lo của người dân” và “lời nói luôn đi đôi với việc làm” cũng như “việc làm luôn hay hơn lời nói”;

Nay thấy Chính Phủ đã phân công Bộ Công An nghiên cứu và chịu trách nhiệm đối với dự án Luật Biểu Tình;

Do thấy Chính Phủ đã xin Quốc Hội cho dời việc trình dự thảo dự án Luật Biểu Tình sang Quốc Hội khóa XIV vì có nhiều nội dung phức tạp cần phải làm rõ – mà tất cả những phức tạp này tôi đã nói đến đầy đủ từ năm 2011;

Để tôn trọng Chính Phủ qua việc sẽ không trực tiếp cạnh tranh với Bộ Công An đối với việc tranh đua phác thảo dự án Luật Biểu Tình; và

Nhân trong buổi hội thảo về Luật Thống Kê được tổ chức ngày 25-3-2015 tại Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh số 2 bis Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Thầy Hà Văn Sơn (Khoa Toán – Thống Kê, Đại Học Kinh Tế  Thành phố Hồ Chí Minh, có đề nghị nên có bản dự thảo tiếng Anh của luật này do các khái niệm và thực hành đều từ nền tảng học thuật của nước ngoài, từ đó bản dự thảo tiếng Anh cần có để các nhà chuyên môn nghiên cứu sự tương thích về ngữ nghĩa và thực hành của bản tiếng Việt – đã hoàn toàn tương tự như điều tôi, với tư cách nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nghiêm túc hàn lâm tiên tri thấu thị (man of vision), đã phát biểu yêu cầu từ năm 2011 đối với dự thảo dự án Luật Biểu Tình;

Tôi kể từ hôm nay sẽ lần lượt nêu ra tất cả những vấn đề mang tính điều kiện tiên đề prerequisite nhất thiết phải có trước khi hình thành cái gọi là Luật Biểu Tình để Việt Nam có thể có một Luật Biểu Tình mà các siêu cường tư bản phải khát khao có được tương tự.

Bài số 1 này sẽ về vấn đề Ngữ Nguyên hoặc Từ Nguyên của cụm “biểu tình” theo mục lục sau:

A) Từ điển tiếng Việt

B) Từ điển tiếng Anh

C) Lãnh tụ Hồ Chí Minh có mỵ dân? 12 Khóa Quốc Hội (I – XII) có phản phúc? Khẳng định sự đúng đắn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và học trò

D) Kết Luận: Vấn nạn sử dụng từ ngữ tự tung tự tác của giới truyền thông Việt Nam

Bài Số 1: Vấn Đề Hàn Lâm Của Ngữ Nguyên

A) TỪ ĐIỂN TIỀNG VIỆT

1- Trong quyển Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam của Cụ Vương Hồng Sển soạn năm 1978 và do Nhà Xuất Bản Văn Hóa phát hành năm 1993, hoàn toàn không có từ “biểu tình”, do đó, có thể lập luận rằng “biểu tình” qua công trình của nhà nghiên cứu uy tín Vương Hòng Sển không phải là từ ngữ được sử dụng tại Miền Nam tức Việt Nam Cộng Hòa, và suy ra chưa từng tồn tại trong thực tế sử dụng ngôn từ tại Miền Nam tức Việt Nam Cộng Hòa.

2- Trong quyển Việt Nam Tân Tự Điển của Thanh Nghị do Nhà Sách Khai Trí ấn hành tại Sài Gòn năm 1967, tại trang 127, do là tự điển có dựa theo ngôn từ tiếng Pháp được chú thích kèm theo mỗi từ tiếng Việt nên chữ “Biểu Tình” được lần đầu tiên được nêu ra, với định nghĩa là bày tỏ tình ý, yêu sách gì, và “Cuộc Biểu Tình” là cuộc tụ tập công khai của nhiều người muốn bày tỏ một ý muốn, một ý kiến, hoặc một yêu sách chính trị hoặc xã hội. Cho đến tận ngày nay tức là khi Thế Kỷ XXI đã đi qua hơn 1/10 chặng đường 100 năm của nó, rất nhiều người Việt Nam – kể cả các nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII – vẫn còn cho rằng biểu tình là biểu lộ tình cảm, mà tình cảm thì có cả thương, yêu, giận, ghét, chứng minh ý nghĩa như đã nêu trong từ điển của Thanh Nghị có giá trị chuẩn xác nhất, thích hợp nhất, có giá trị sử dụng lâu dài nhất và có ảnh hưởng sâu xa nhất đối với tư duy người Việt mỗi khi nói đên từ “biểu tình” vốn là từ mới xuất hiện, mới được ghi nhận vào từ điển những năm 60 của thế kỷ trước, với chỉ có ngần ấy ý nghĩa.

3- Còn trong quyền Từ Điển Hành Chánh Công Quyền Việt-Anh-Pháp của Giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Quang Khánh và Giáo sư Đại học Luật Khoa Việt Nam Cộng Hòa, Viện Trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Vũ Quốc Thông, do Hiện Đại Thư Xã xuất bản ở Sài Gòn năm 1972 bằng bản in roneo, có dựa theo từ ngữ “biểu tình” của Việt Nam Tân Tự Điển của Thanh Nghị để ghi “biểu tình” có chua nguyên văn rằng: biểu tình là một thể thức xử dụng quyền tự do tụ họp dưới thể thức dân chủ; nhưng biểu tình chỉ hợp pháp nếu không có tính cách bạo động và không phương hại tới an ninh trật tự công cộng; và trong tình hình khủng hoảng chính trị hay kinh tế, chính quyền có quyền tạm ngăn cấm biểu tình”.  Đây là cách giải thích tuy ấu trĩ và xảo biện, vẫn phục vụ tốt ‎ý đồ triệt tiêu tất cả các thứ “xuống đường” nào – mà các vị chức sắc này gọi là “thể thức dân chủ” – chống chế độ, chống Mỹ, và chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Khi thấy nước này nước nọ có các cuộc “xuống đường phản kháng chính sách của nhà cầm quyền”, một ít báo chí Sài Gòn tập tễnh dùng từ “biểu tình” chỉ với ý định tốt nhằm “mềm hóa” thông tin nhạy cảm, để né cơn thịnh nộ của nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa, với ngụ ý rằng đó chỉ là những cuộc tụ tập biểu lộ tình cảm, và theo thời gian cái biểu lộ tình cảm – gọi tắt là biểu tình – đã bị lẫn lộn, hòa tan một cách khiên cưỡng, bạo hành, vô duyên, vào nội hàm xuống đường phản kháng chính sách của nhà cầm quyền, và gần đây nhất là dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gượng gạo gán ghép vào “bày tỏ lòng yêu nước”, v.v., vốn là những mặc định hoàn toàn xa lạ kỳ lạ quái lạ đối với tất cả các nguồn từ-nguyên-học hay ngữ-nguyên-học của bản thân khái niệm xuống đường phản kháng chính sách của nhà cầm quyền ở tất cả các nước văn minh tiên tiến.

B) TỪ ĐIỂN TIỀNG ANH

Trong khi tất cả các từ điển Việt-Anh tại Việt Nam ghi biểu tình = protest  demonstration tức copy theo ngôn ngữ báo chí internet – mà tuyệt đại đa số gồm toàn là những “nhà tuyên bố học” nghĩa là tuyên bố vung vít mà không có đến một tấm bằng cấp lận lưng – hay dùng là cụm “protest demonstration” do họ chế tạo ra, thì

1- Trong quyển Webster’s New World Dictionary of the American Language – College Edition ấn bản 1964, hoàn toàn không có cụm từ protest demonstration, mà chỉ có protest và demonstration, với protest lần lượt mang một ý nghĩa thông thường và chính yếu là sự phản đối và mang ba ý nghĩa luật pháp tiếp theo gồm tuyên bố của công chứng, tuyên bố bằng văn bản của chủ tàu biển, và tuyên bố của một người đóng thuế đối với những vấn đề cáo buộc trách nhiệm có liên quan; còn demonstration có 6 nghĩa, trong đó các nghĩa chính đầu tiên gồm sự bày tỏ, sự giải thích, còn ý nghĩa phụ thứ 4 là sự diễn đạt một cảm nghĩ hay ý kiến nơi công cộng, trong khi ý thứ 5 liên quan đến quân sự và ý thứ 6 liên quan đến toán học.

2- Trong quyển Webster’s New World Dictionary of American Language – Third College Edition (không có chữ “the” trước “American”) ấn bản 1990 cũng hoàn toàn không có cụm từ protest demonstration, mà chỉ có protest và demonstration với cả protest và demonstration lần lượt mang các ý nghĩa y như ấn bản 1964 dù ấn bản 1990 này gia tăng lên hơn 170.000 từ với hơn 11.000 từ và nhóm từ tiếng Mỹ.

Như vậy không rõ từ nguồn nào mà các tự điển ở Việt Nam lại tự do diễn giải ý nghĩa của demonstration thành “biểu tình” với nội dung hoặc chung chung hoặc tô điểm hoa lá cành thành “bày tỏ lòng yêu nước” trong khi từ điển Webster của Mỹ không hề có các khái niệm tương tự cho “demonstration”. Tất nhiên, do không có sẵn cụm từ protest demonstration nên tạm thời Việt Nam có thể gán ghép cho protest cùng demonstration nên duyên chồng vợ, nhưng danh chính ngôn thuận cũng chỉ ở mức độ giới hạn của “diễn đạt nơi công cộng một ý kiến hay cảm nghĩ bất bình khi bản thân bị oan sai, vu vạ” mà thôi. Làm gì có chuyện “biểu tình để bày tỏ lỏng yêu nước” như báo chí Việt Nam hằng rêu rao và từng thèm muốn lái lèo dư luận vào nẻo sai lầm lạc phản hàn lâm.

Ngay cả quyển từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary ấn bản 1990 cũng không có cụm từ protest demonstration, và bản thân protestdemonstration cũng không có sự ôm đồm bao biện về ‎ý tứ hay ý nghĩa.

Nếu đã không có protest demonstration trong tiếng Anh mang ý nghĩa tương tự các sự gán ghép của tiếng Việt thì trên nguyên tắc hàn lâm không thể có việc cho rằng biểu tình ở tiếng Việt được dịch sang tiếng Anh thành demonstration, thành protest, hay thành protest demonnstration một cách tự động, tự do, tùy tiện, tùy hung.

C) LÃNH TỤ HỒ CHÍ MINH CÓ MỊ DÂN? 12 KHÓA QUỐC HỘI CÓ PHẢN PHÚC? KHẲNG ĐỊNH SỰ ĐÚNG ĐẮN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ HỌC TRÒ

Một khi đã nói Hiến Pháp Việt Nam từ thời Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có nêu “quyền biểu tình” mà cho đến Khóa XIII (2011-2016) Quốc Hội vẫn còn “mang nợ” với nhân dân qua lời nói thiếu khôn ngoan và kém kiến thức hàn lâm của vài vị nghị sĩ mà số lượng chưa đầy số ngón tay của một bàn tay đủ ngón rằng sẽ vinh dự báo cáo với nhân dân đã trả xong món nợ với dân tộc qua việc đề ra xong Luật Biểu Tình, phải chăng mang ngụ ý rằng Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã mị dân khi tùy tiện nêu lên nội dung “biểu tình” nhưng ngầm lịnh cho Quốc Hội không được ban hành “luật biểu tình”, hoặc Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã thiết tha muốn có “luật biểu tình” nhưng Quốc Hội 12 khóa (từ Khóa I đến Khóa XII) đã gồm toàn những học trò phản phúc đã chống lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Trên thực tế, nhân vật vĩ đại có tri thức hàn lâm Hồ Chí Minh khi nói người dân có quyền biểu tình, đã thuần theo ý nghĩa chủ đạo của đại đa số người dân Việt là “bày tỏ tình cảm, ý kiến, yêu sách gì” như một khẳng định rằng đã qua rồi thời kỳ mà ngay cả việc hôn phối cũng phải báo cáo tổ chức và phải được phép của tổ chức sau quá trình thẩm tra lý lịch nghiêm ngặt xem đối tượng hôn phối của một người có thuộc hạng địa chủ, ngụy tề tay sai giặc – như một thể hiện quyền được mưu cầu hạnh phúc như trong Tuyên Ngôn Độc Lập; cũng như khẳng định nhân dân có quyền gặp các lãnh đạo công quyền để bày tỏ các yêu sách; và tất cả những điều này đã được toàn bộ Quốc Hội 12 Khóa nghiêm túc thực hiện trong phục vụ nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn. Và do “biểu tình” mang nghĩa chính là bày tỏ tình ý, yêu sách nên đây là quyền con người cơ bản y như việc hít thở không khí, thực tế không bao giờ cần có cái gọi là “Luật Thở” và tương tự là “Luật Biểu Tình”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không mị dân, mà chỉ có hậu sinh gán ghép ý mới không-chính-quy của không gian mạng vào lời trí tuệ đoan chính và hàn lâm của đấng-không-bao-giờ-sơ-xuất-ngôn-từ Hồ Chí Minh.

Quốc Hội 12 Khóa đã không hề là những học trò phản phúc vì đã trí tuệ thông hiểu ý tứ của “quyền biểu tình” trong ngôn ngữ của Thầy Hồ Chí Minh.

Chỉ có một sự thật: một vài nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII mà số lượng có thể đếm được không đầy một bàn tay đủ ngón đã cố ý hoặc vô tình bị dẫn dắt mà khỏa lấp các nội dung hàn lâm phức tạp của ngữ nguyên và từ nguyên nhằm lừa mị Quốc Hội cho ra một Luật Biểu Tình những thực chất của tiếng Anh (“protest” + “demonstration”) sẽ trở thành Luật Cho Phép Xuống Đường Chống Chính Phủ mà thôi.

D) KẾT LUẬN: VẤN NẠN SỬ DỤNG TỪ NGỮ TỰ TUNG TỰ TÁC CỦA GIỚI TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM

Từ các phân tích trên, và trước tình hình tri thức có nhiều ổ trâu ổ voi của vài nhà trí thức mà số lượng có thể đếm được không lắp đầy một bàn tay đủ ngón chẳng hạn như vị mang tên VTH trên tờ Thời Báo Sài Gòn không rõ tài cán chuyên môn đến đâu và có đóng góp ích lợi thực thi thực tế nào cho nền kinh tế quốc dân của quốc gia này hay chưa nhưng cũng đã viết một bài đầy hí hửng để cổ vũ cho cái gọi là “trả nợ nhân dân” khi vừa nghe phong phanh Thủ Tướng giao Bộ Công An trình dự án Luật Biểu Tình trong năm 2015, tôi thấy họ cần phải bắt đầu học lại và bắt đầu nghiên cứu về nội dung của “xuống đường” của các siêu cường Âu Mỹ, để biết rằng

1) Mỗi từ ngữ đều có thể có hơn một nghĩa

2) Nguyên tắc hàn lâm đối với từ có hơn một nghĩa: nghĩa đầu tiên luôn là nghĩa chính. Luật Biểu Tình do đó phải mang tên Luật Bày Tỏ Tình Cảm Và Ý Kiến.

3) Nguyên tắc thực tế cuộc sống văn minh: đối với từ có hơn một nghĩa thì sự vận dụng bắt đầu từ ý nghĩa thứ hai trở đi sẽ cần hoặc sự giải thích chi tiết hơn trong vận dụng hoặc tìm kiếm từ khác tương đương nghĩa nhưng mang nghĩa đầu tiên. Luật Biểu Tình do đó phải mang tên khác.

4) “Xuống Đường” là từ ngữ Miền Nam tại Việt Nam Cộng Hòa. Và tham khảo các nội dung tụ tập đông người để “xuống đường”, cái mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cần sẽ là cụm Luật Meeting, Luật Tuần Hành, và Luật Tụ Tập Đông Người Để Đóng Góp Ý Kiến Tập Thể.

5) Và nếu Quốc Hội Việt Nam muốn áp dụng cái bất chính vô nguyên mà báo chí không gian mạng “chế” ra là protest demonstration thì có thể bắt đầu cho soạn thảo dự án Luật Xuống Đường Phản Kháng Chính Phủ.

Nói tóm lại, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không cần có Luật Biểu Tình, vì mọi công dân Việt Nam đều có quyền bày tỏ tình ý với bất kỳ ai vì đây là vấn đề liên quan đến hôn nhân-gia đình, bình đẳng giới, và “mưu cầu hạnh phúc”, vốn luôn là điều cơ bản của “nhân quyền”.

Nhắm mắt nhắm mũi rặn đẻ ra Luật Biểu Tình là tự hiến mình vào bẫy rập ngôn từ của kẻ thù mà tôi, Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không cho phép xảy ra.

Quốc Hội Việt Nam từ thời lập quốc đến nay chưa hề có nghị quyết bất kỳ khẳng định nghĩa của từ “biểu tình” nên nội hàm của cái từ “biểu tình” mà báo chí sử dụng chỉ thuần túy mang nghĩa hoặc chủ quan hoặc tự tung tự tác của riêng báo chí mà không là nghĩa chính thức của từ ngữ tiếng Việt dù của Việt Nam Cộng Hòa hay của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016), Nhà Lập Pháp

Kính mời đón đọc: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”- Bài Số 2: Vấn Đề Luật Pháp Quốc Gia

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.