Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đổi mới tư duy là cụm từ vừa mang tính triết sử cao cấp của Việt Nam, vừa mang tính bình dân thấp cấp của Việt Nam thời hiện đại.

1– Triết sử cao trọng vì đổi mới tư duy liên quan – và chỉ liên quan – đến một biến chuyển từ giáo điều lý tưởng vĩ đại thuần tính chân lý của tư duy triết học đang ở vị trí thống lĩnh đúng đắn trỗi vượt tiến sang giai đoạn khó khăn hơn: đó là biến lý tưởng vĩ đại mang tính chân lý của tư duy triết học ấy trở thành thực tế hơn, thực tiễn hơn, thực chất hơn, thực hành hơn, thực thi hơn, thực dụng hơn.

Đổi mới tư duy chính là thí dụ điển hình nhất của sự áp dụng lời dạy minh triết nhất, tuyệt vời nhất, và mang tính cẩm nang bửu bối nhất của Hồ Chí Minh trong trị quốc: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Đổi mới tư duy hoàn toàn không phải là một cuộc kách mệnh lật đổ cái tư duy thấp kém nào đó trước đó.

Đổi mới tư duy hoàn toàn không là con đẻ thoát thai từ cái gọi là phản biện xã hội để phe Chống Việt xúc xiểm cái tư duy lạc hậu nào đó của ai đó vốn chưa từng ở kề cận về đẳng cấp với cái nền tảng tư duy đã tạo nên sức mạnh thần kỳ của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cả về quân sự, chính trị, kinh tế, và ngoại giao.

Đổi mới tư duy hoàn toàn không là cái cây xanh tươi vươn lên từ một đống phân.

2– Song, đổi mới tư duy lại là cụm từ bình dân thấp cấp do bị dùng thay thế cho cụm t từ “cách nghĩ”, và đặc biệt tệ hại do chuyên bị lạm dụng ngay cả bởi những vị tiến sĩ tai to mặt lớn chưa hề có phút giây nào làm nhà trí thức, và bởi báo chí, mà những dẫn chứng sau đây là sự minh họa rõ nét nhất.

Bất kỳ ai cũng có quyền có những ý tưởng nghiêm túc trái chiều, có quyền nghiên cứu theo ý tưởng nghiêm túc trái chiều, có quyền viết ra các khảo luận theo các ý tưởng nghiêm túc trái chiều, và có quyền đòi hỏi các ý kiến nghiêm túc trái chiều đó phải được tôn trọng. Đây là một thực tế tại Việt Nam và tại dăm ba cường quốc thực sự văn minh, dân chủ, tự do.

Tuy nhiên, chỉ vì hoặc tung hê tung hô phe do lợi ích nhóm, hoặc ngây ngô ngây thơ ngây dại không hiểu ý nghĩa của đổi mới tư duy, hoặc che dấu bản chất hai mang bội phản chỉ luôn kiếm tìm cơ hội để bài xích bài bác nhằm hủy phá sự thật về – cũng như làm người đọc dần quên đi sự vĩ đại của – tư duy chính trị Việt Nam, một vài con ngựa thành Troy trong giới “hàn lâm” hoặc có chức hoặc có quyền hoặc có danh tiếng dù chưa bao giờ vượt khỏi cánh cổng của cái viện hay cái trường mình công tác, đã cố tình phớt lờ năm chân lý hàn lâm tuyệt đối đúng trên toàn thế giới văn minh mà các học giả có-ăn-học đàng hoàng và có-giáo-dục đến nơi đến chốn áp dụng đối với “tư duy” sau:

(a) ý tưởng/ý nghĩ/ý định/ý đồ không phải là tư duy;

(b) ý tưởng nghiêm túc trái chiều luôn chỉ mang tính cá-nhân-một-người hay cá-nhân-một-nhóm-người theo nghĩa cá nhân là riêng biệt riêng rẻ riêng tư;

(c) ý tưởng nghiêm túc trái chiều đó phải được đa số ủng hộ qua các nghiên cứu khoa học bài bản của đa số ủng hộ này với tư liệu bổ sung của họ thật cụ thể, thật thuyết phục, mới được gọi là “ý tưởng mới” để được tham khảo – không những bởi nhiều người trong nước mà còn bởi các học giả ngoài nước có danh tiếng trong cùng lĩnh vực – như một vấn đề tư duy mới, vì nếu không sẽ đơn thuần mãi là ý kiến mới của cá nhân;

(d) đổi mới tư duy thuộc phạm trù triết học, triết thuyết, hay học thuyết; và

(e) đổi mới tư duy luôn luôn là sự biến chuyển từ giáo điều lý tưởng vĩ đại thuần tính chân lý của tư duy triết học đang ở vị trí thống lĩnh đúng đắn trỗi vượt tiến sang giai đoạn khó khăn hơn: đó là biến lý tưởng vĩ đại mang tính chân lý của tư duy triết học ấy trở thành thực tế hơn, thực tiễn hơn, thực chất hơn, thực hành hơn, thực thi hơn, thực dụng hơn; và do đó đổi mới tư duy hoàn toàn không hàm chứa bất kỳ ý nghĩa nào cho rằng tư duy đã và đang hiện hữu là sai, là quấy, là đáng bị vất bỏ.

Một ông giáo sư Sử không phải là nhà trí thức do chẳng trở thành tấm gương tác động đến sự phát triển môn Sử cũng như thất bại hoàn toàn trong việc tư vấn hiệu quả cho Chính phủ nâng cao được dù chỉ một cen-ti-mét vị trí quan trọng của môn Sử trong hệ thống giáo dục nước nhà (tôi đã nói rõ các tiêu chuẩn trong bài Thế Nào Là Nhà Trí Thức) nhưng khi viết một biên khảo nhằm kể lể công trạng vĩ đại của Nhà Nguyễn và Thời Nguyễn tức là một điểm nhỏ trong toàn bộ lịch sử Việt Nam lại tự phóng đại hoặc do phe nhóm hàn lâm phóng đại thành đổi mới tư duy lịch sử.

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Đổi mới tư duy lịch sử ư? Tại sao chỉ có lịch sử? Thế sẽ có đổi mới tư duy y học để thảo luận tự do dân chủ rộng rãi toàn dân về vi phẫu thuật ư? Thế sẽ có đổi mới tư duy nguyên tử lực để thảo luận tự do dân chủ rộng rãi toàn dân về phương pháp nâng hàm lượng phóng xạ cho vũ khí nhiệt hạch ư? Không hiểu lịch sử là một khoa học hàn lâm của riêng chỉ những sử gia ư? Không hiểu y khoa là lĩnh vực nghiên cứu của riêng chỉ những nhà y học chuyên khoa ư? Không hiểu nguyên tử lực là lĩnh vực nghiên cứu của riêng chỉ những chuyên gia khoa học đặc thù – mà tên họ cùng địa chỉ cũng là bí mật quốc gia – không bao giờ được phép đem ra thảo luận tự do dân chủ rộng rãi toàn dân ư? Chỉ cần một chục cái ư như thế để liên tưởng hóa thì sẽ rõ mười mươi là cái kiểu kêu gào thảo luận tự do dân chủ rộng rãi chỉ chứng tỏ người/nhóm người kêu gào ấy không thể nào là nhà nghiên cứu Sử, học giả Sử, Sử gia, thậm chí không thể tin là người có bằng cấp tiến sĩ trong tay. Núp đằng sau tấm áo giáp tự do dân chủ rộng rãi trong lĩnh vực hàn lâm của mình là cung cách chỉ có nơi người không có năng lực chuyên môn từ trung bình đến xuất sắc, không có quá trình học tập nghiêm túc có kết quả từ trung bình đến xuất sắc, và cũng không có đạo đức nghề nghiệp từ trung bình đến xuất sắc nốt.

Đổi mới tư duy lịch sử ư? Khi đã nói đến lịch sử thì phải dính đến toàn bộ lịch sử Việt Nam chứ đâu phải chỉ triều đại Nhà Nguyễn; và như thế

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói vì Lý Thường Kiệt xâm lược Tống Quốc nên Tống mới đem quân đánh Việt để tự vệ, trừng phạt, và báo oán?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Vua Nam phạm tội ác diệt chủng do chiếm Chiêm Thành?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Nhà Trần phạm tội loạn luân và thất học vì không biết điều khoa học cơ bản của trùng huyết thống?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Cộng Sản Việt Nam có tội tày trời trong Cải Cách Ruộng Đất?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Tàu đã có công lao vĩ đại: đô hộ nước Nam, cử các quan Thái Thú đến dạy dân Nam làm ruộng nhờ đó mà thoát cái thân phận đu chuyền từ cành cây này sang cành cây nọ để hái quả?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói các cường quốc Pháp và Mỹ đã đến giúp nước Việt xuất hiện cái mà ngày nay tạo cớ cho một đổi mới tư duy khi hô hào kiến nghị xem làm đĩ là một nghề danh chính ngôn thuận đầy vinh diệu?

– Và liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Nguyễn Văn Thiệu đã lập đại công mà Cộng sản Việt Nam nhất thiết phải ghi ơn vì đã lấy tiền Mỹ đầu tư xây dựng Phi trường Tân Sơn Nhất và Cảng Sài Gòn để dâng các cơ sở hạ tầng tuyệt hảo này cho Cộng sản vào ngày 30-4-1975?

Những chi tiết anh/các anh nêu lên để kể công Nhà Nguyễn chỉ tương tự với sự điên rồ của kẻ kể tội Nhà Lê đã “tàn ác bất nhân” tru di tam tộc Nguyễn Trải mà thôi, thì có đáng gì để gọi là đổi mới tư duy!

Đổi mới tư duy lịch sử ư? Anh làm trong ngành Sử mà không biết chức năng nhiệm vụ của một nhà khoa học nghiên cứu lịch sử hay sao? Anh có chứng minh được là những tội lỗi của Nhà Nguyễn đối với dân tộc như đã bị vạch trần bấy lâu nay là sai, là ngụy tạo, không? Nếu anh không có những sữ liệu mới phát hiện được, vừa thẩm tra khoa học xong, để chứng minh các tội lỗi ấy là sai, thì xem như anh phải mặc nhiên công nhận các sử liệu về tội lỗi ấy là đúng. Kế đến, anh có các sữ liệu mới phát hiện được và đã qua thẩm tra khoa học xong về những công trạng của Nhà Nguyễn hay không? Nếu có, nghĩa là anh đã đưa ra ánh sáng các tình tiết phụ trợ về những công trạng ít ỏi của Nhà Nguyễn mà bấy lâu nay chưa có sử liệu để chứng minh, duy có anh qua dày công nghiên cứu tìm tòi mới phát hiện được như một công việc cực kỳ bình thường của bất kỳ nhà nghiên cứu lịch sử đúng nghĩa nào khác, chứ nào phải là kỳ tích hay chuyện đội đá vá trời có giá trị ghê gớm gì mà anh và phe nhóm của anh gọi đấy là đổi mới tư duy lịch sử! Hóa ra toàn bộ kho sử liệu tồn tại từ trước đến nay bị dẹp bỏ ngay khi anh biện luận về tư duy mới của anh, nghĩa là không cần tàng thư những sử liệu cụ thể gì sất. Thật không có tư cách của một nhà nghiên cứu Sử có học vị tiến sĩ, và cái sự anh được biết đến chả qua là nhờ có các bài viết ngợi ca của phe nhóm chứ không do các công trình nghiên cứu hàn lâm của anh đã thực thụ được chứng minh là đúng, phù hợp với các tư liệu lịch sử tại các viện bảo tàng và tàng thư trong và ngoài nước, cũng như các nghiên cứu về Việt Sử của các học giả quốc tế.

Bất kỳ triều đại nào cũng có những vấn đề để hoặc được ghi công hoặc bị hạch tội như được ghi trong sử sách; còn các nhà phê bình lịch sử sẽ tập trung nói nhiều về phần nào nổi bật nhất để chỉ kể công hoặc chỉ hạch tội, tức là hai cách để cung cấp bài học và cách nhìn cho các thế hệ sau này để hoặc tự hào phát huy hoặc hỗ thẹn tránh xa. Khi viết về Nhà Lý chẳng hạn, không bất kỳ sử gia nào ghi vào sử liệu cái “tội” bất kỳ nào cả, dù sự thật rõ mười mươi là tất cả các triều đại phong kiến đều gây ra thảm cảnh cho các gia đình người dân, làm tan nát bao cuộc tình nam nữ, vì các quan lại địa phương phải bắt gom tất cả gái đẹp để đưa về kinh thành dâng cho vua chúa hưởng lạc thú dâm tình hoặc để vua chúa làm quà tặng vua Tàu. Kiểu lịch sự đặt vấn đề chê trách rồi dùng từ “tuy nhiên” để lái qua ngợi ca là kiểu “ba phải” không giống ai, không ai giống, hiện hay được sử dụng mà người sử dụng hoặc không biết hoặc cố tình hủy phá xã hội, gây biến loạn trong tâm thức người dân, tạo nhập nhằng trong cách đánh giá, hoàn toàn không giống cung cách biện luận hàn lâm của thế giới văn minh. Các nhà phê bình – kể cả khi người phê bình là thường dân không thuộc giới học giả hàn lâm – đều nhận ra rằng tội của Nhà Nguyễn nổi bật hơn, trong khi công trạng thì đầy gượng ép, gán ghép. Ca ngợi cái công quá sức trừu tượng của Nhà Nguyễn dù cho nó luôn bị cái tội hết sức cụ thể che khuất, để xóa nhòa cái tội, làm quên đi cái tội, thì là sự bất công bất tài vô sĩ vô hạnh của kẻ làm điếm nhục môn Sử chứ sao là đấng có quyền ngạo mạn tự phong đổi mới tư duy lịch sử!

Một cá kiến (ý kiến cá nhân) hay tập kiến (ý kiến tập thể) cũng không bao giờ được gọi là đổi mới tư duy vì đó chỉ là đổi mới cái suy nghĩ của anh hay của các anh. Cái kiểu chế từ cá kiếntập kiến là cách chơi chữ của cá nhân tôi, không là đổi mới tư duy ngôn ngữ Việt. Anh hay các anh dùng đổi mới tư duy khi nói cách suy nghĩ của anh đúng, nghĩa là anh và các anh đã phạm cùng lúc ba trọng tội mà giới hàn lâm thực thụ trên thế giới và tại Việt Nam không bao giờ ngu xuẩn phạm phải:

(a) tước bỏ quyền lực tối thượng của độc giả và các học giả khác trong thẩm định giá trị ý kiến mới của anh/các anh trước khi ban cho ý kiến mới ấy của anh/các anh cái danh “tư duy”;

(b) anh/các anh dám cho rằng ý kiến của anh/các anh là tư duy nghĩa là mang tính hệ thống triết học danh chính ngôn thuận trong khi thế giới chẳng biết anh/các anh là những gã nào cũng như chẳng biết cái tư duy của anh/các anh ra sao cả; và

(c) anh/các anh ám chỉ hệ thống tư duy trước anh/các anh, khác anh/các anh, là sai, ngay cả khi hệ thống tư duy ấy đã làm nền tảng đại công định vị Việt Nam trên bản đồ địa-chính-kinh-tài (địa lý, chính trị, kinh tế, tài chính) toàn cầu, được thế giới kính trọng, nhờ đó Việt Nam có dư tiền chu cấp cho anh/các anh đi kiếm bằng cấp tiến sĩ tại những nước biết kính trọng Việt Nam ấy.

Không hiểu gì về nội hàm của đổi mới tư duy, lĩnh vực và phạm trù của đổi mới tư duy, những yêu cầu tiên đề phải có của đổi mới tư duy, dám đem đổi mới tư duy để tự đánh bóng bản thân hay phe nhóm, dám dùng đổi mới tư duy để áp đặt khống chế bất kỳ học giả nào khác không theo cùng hướng “nghiên cứu” của mình, v.v., thì rõ ràng có trình độ hàn lâm cực kỳ khả nghi, đáng ngờ, ắt chỉ dám chường mặt ra ở Việt Nam.

Một anh chàng đại quan có bằng cấp tiến sĩ được gọi là giáo sư nhưng không phải là nhà trí thức do chẳng trở thành tấm gương tác động đến sự phát triển cái môn mà anh ta đã tốt nghiệp, chẳng có công lao gì đem sở học phục vụ đất nước để qua đó nâng cao vị trí môn học của anh ta trong hệ thống giáo dục nước nhà, cũng dính cái tật sính dùng đổi mới tư duy để tự nâng anh ta lên hàng học giả hàn lâm.

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy” (2)

Đổi mới tư duy quy hoạch ư? Nếu là người có thực tài thực tâm thì anh đã không như vài quan chức cộng sản cấp cao: đột biến tung võ mồm mạnh miệng góp ý – nhất là trả lời phỏng vấn của các đài nước ngoài nào chống Việt – phê này phán nọ, nói đó bảo kia, chỉ sau khi về hưu hay chỉ sau khi mất ghế, cứ như thể tại bận bịu việc nước việc dân nên đã không có thời gian góp ý chấn chỉnh sửa sai cho Bộ nọ Bộ kia, kể cả Bộ của mình, cứ để đất nước tầy huầy ra sao cũng mặc, để giữ ghế, còn góp ý để dân biết mình có trí tuệ, có trí hóa, có đẳng cấp…trí thức, thì để sau hẵn hay, cơm chưa nấu thì gạo hẵn còn, chẳng có gì phải gấp gáp cả!

Quy hoạch chỉ là một công tác bình thường luôn có nơi mọi thực thể kinh tế kinh doanh nào còn đang sống, với những quy trình quy củ quy định quy chế và quy luật. Vạn vật đều có những thay đổi cho tương hợp với môi trường hoặc bị diệt vong nếu sự tương hợp bất thành. Khi nói đổi mới tư duy quy hoạch, anh cựu đại quan làm thế giới hàn lâm liên tưởng đến loài voi ma-mút đã tuyệt chủng: hóa ra quy hoạch ở Việt Nam xơ cứng, không bao giờ đúc-rút kinh nghiệm để hoàn thiện hay sao mà khi có một ý kiến nêu lên thôi là đã mừng quýnh mừng quáng gọi ngay là đổi mới tư duy. Làm quái gì có tư duy trong quy hoạch để mà đổi mới, mà chỉ có sự suy nghĩ nhằm thay đổi một vài nội dung phương pháp quy hoạch hiện hành cho phù hợp với các yêu cầu mới, các phát sinh mới, các thời cơ mới.

Quy hoạch luôn phát huy tác dụng hoặc lâu hoặc không lâu, và luôn được thay đổi để hoàn thiện, cải tổ, sửa sai, qua đúc-rút (đúc kết và rút) kinh nghiệm. Không bao giờ chữ thay đổi có ý nghĩa thay thế cái bậy cái sai! Chỉ có đổi mới cách lập quy hoạch, không bao giờ có đổi mới tư duy quy hoạch trong thực tế đời sống kinh tế kinh doanh. CocaCola, Boeing, Rolex, Ford, hay Mercedes, v.v., trở thành những gã khổng lồ thống trị thế giới mà không cần có chứng chỉ quản lý chất lượng ISO! Thậm chí công ty sản xuất vũ khí chiến lược của Mỹ hay Nga hay bất kỳ nước nào chế tạo vũ khí cũng không bao giờ cho phép mấy công ty cấp chứng chỉ ISO được bén mảng bước qua hàng rào bảo vệ bí mật quốc phòng quốc gia của họ. Các công ty khác phải cầu cạnh ISO để mong chứng tỏ bản thân với khách hàng tiêu dùng bình thường tầm tầm bậc trung. Mỹ, Nga, Nhật, Hàn, Tàu là cường quốc mà không cần đến cái đồ chơi mang tên Balanced Scorecard. Và tất nhiên: không phải đi kiếm ISO là đổi mới tư duy quản trị, còn không cần ISO là tư duy lạc hậu.

Tóm lại, tư duy có ý nghĩa quan trọng và có tầm vóc trên bình diện rộng lớn. Cái gì cũng dùng cụm từ đổi mới tư duy là cách tầm thường hóa tư duy, lạm dụng tư duy, hoặc đơn giản hét cho thế giới hàn lâm biết bản thân mình không hiểu ý nghĩa của tư duy có thể do cả đời chưa bao giờ thực sự … tư duy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Hoàng Hữu Phước. 09-6-2014. Lại Trí Thức!

Hoàng Hữu Phước. 30-12-2014. Tư Duy Tích Cực 2015

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.