Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

Người Sài Gòn Chính Hiệu

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trên đời không bao giờ thực sự tồn tại cái gọi là văn học hiện thực phê phán, vì văn học thuộc loại fiction tức thuần túy dựa trên trí tưởng tượng và hư cấu. Điện ảnh là một hình thái khác của văn học nên tất nhiên cũng toàn là sản phẩm hoàn toàn xạo của trí tưởng và hư cấu, mặc cho tác phẩm điện ảnh ấy có thể về một vị vua Anh nói cà lăm thời thế chiến, hoặc về Tần Thủy Hoàng hay Steve Jobs. Để biết một dân tộc thèm khát thèm thuồng thèm muốn điều gì, hãy xem phim ảnh dân tộc ấy làm. Xem phim Mỹ như Siêu Nhân, Người Dơi, Người Nhện, hay ngay cả Thần Thor, v.v., người ta thấy một sự giả trá rằng dường như tất cả các vị thần và những người kiệt xuất từ thiên hà khác đến địa cầu đều phải đáp xuống Mỹ, làm công dân Mỹ, từ đó suy ra ắt một bộ phận rất đông dân tộc Mỹ thèm khát cái họ chưa bao giờ có được: sức mạnh hùng anh ngự trị toàn cầu và được nhân loại kính trọng. Xem phim Việt người ta có thể thấy một sự giả trá rằng có sự ưa chuộng cái môn đăng hộ đối, cái biệt thự, cái xe hơi, cái ăn chơi trác táng, thậm chí cái cởi áo cởi quần, từ đó suy ra ắt một bộ phận rất nhỏ dân Việt thèm được vươn cao lên tận giường ngủ của những người mà họ tưởng thế mới là kiểu Âu Mỹ xịn.

Là dân Sài Gòn chính hiệu, tôi có thể khẳng định ngay rằng tại Sài Gòn đã không hề có cái gọi là “môn đăng hộ đối” trong thực tế đời sống, và rằng chính người nghèo Sài Gòn là thước đo đạo đức đạo lý đạo hạnh đạo nghĩa đầy tự hào và được sự tôn trọng của toàn xã hội dù xã hội ấy trắng hay đen.

Thủa nhỏ, có lần tôi đã đứng trong sân trước nhà để xem đám cưới ở nhà bên cạnh là căn nhà lụp xụp số 16/72/14 đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3. Gia đình chú rể Phạm George (Việt kiều Pháp) vầy đoàn đông đúc sang trọng cực kỳ đến rước cô dâu Nguyễn Thị Hòa. Cô Hòa là một phụ nữ người Bắc di cư, gầy gò, ốm yếu, thấp bé, và miệng Cô bị cái mà thiên hạ thường gọi là “hô”. Cô sống cùng anh chị mà tôi gọi là Ông Hai và Bà Hai trong căn nhà thấp lè tè , cũ kỹ, mái lợp ngói, sát bên cạnh nhà Ba Má tôi ấy. Sau giải phóng vài năm, Cô cùng chồng và hai con trai sang Pháp định cư. Cái mà tất cả các gia đình giàu có ở Sài Gòn kiếm tìm tất nhiên không bao giờ là tiền bạc mà là một báu vật ngời sáng chói lòa cho xứng đáng với họ: đứa con dâu đức hạnh của một gia đình đức hạnh. Vậy, cái gọi là “môn đăng hộ đối” tức nhà giàu phải lấy nhà giàu chỉ là sự thoát thai từ trí tưởng tượng của những kẻ chưa từng lớn lên trong chiếc nôi gia đình đức hạnh.

Chưa kể, khi Ba tôi lấy xong tú tài Pháp lên Sài Gòn làm “thầy ký” ở công ty Pháp Moitessieur, Ông Nội tôi là một nhà nho dạy học đã chọn một cô gái quê nhà nghèo chỉ học xong lớp 3 hay 4 tiểu học để xin phép cha mẹ cô gái ấy chấp nhận cho Ba tôi đến hỏi cưới cô gái ấy, và chúng tôi được sinh ra, được dưỡng nuôi, giáo dục bởi đấng sinh thành ấy, chứ không phải bởi một phụ nữ Pháp hoặc nói tiếng Tây như gió ở Sài Thành hoa lệ. Cái mà tất cả các gia đình có danh giá ở Sài Gòn kiếm tìm tất nhiên không bao giờ là tiền bạc mà là một báu vật ngời sáng chói lòa cho xứng đáng với họ: đứa con dâu đức hạnh của một gia đình đức hạnh. Vậy, cái gọi là “môn đăng hộ đối” tức nhà giàu phải lấy nhà giàu chỉ là sự thoát thai từ trí tưởng tượng của những kẻ chưa từng lớn lên trong chiếc nôi gia đình đức hạnh.

Rồi đến khi tôi bước chân vào trung học, dù bản thân bình dân, không giàu có như các bạn cùng lớp: tôi đi bộ đến trường trong khi họ đi xe loại thời thượng thủa ấy như Cady, PC, hay tệ lắm cũng là Velo Solex, hoặc do sĩ quan cận vệ đưa đi học bằng xe Jeep, tôi luôn là người duy nhất nhận được những lá thư tỏ tình của các nữ sinh giàu có thuộc hàng “hoa khôi” con cưng của những gia đình quan chức thân quen Mỹ, dù tôi đang học lớp 8 hay lớp 12, chỉ cần một điều kiện tiên quyết: phải học giỏi và có tư cách chững chạc, không nhí nhố, trẻ con.

Người nghèo ở Sài Gòn là những người có những nghề nghiệp đầy danh dự tự hào nhưng những nghề ấy không đem lại thu nhập cao. Chính vì tự hào với nghề cha truyền con nối mà một bà bán xôi đã chọn những hạt nếp thượng hạng, bà bán cơm tấm đã chọn những hạt tấm của gạo thượng hạng, bà bán cháo lòng đã chọn những phủ tạng heo tươi sống rửa sạch bằng khối lượng nước máy khổng lồ, v.v. và v.v., tất cả đã hình thành nên những món ăn bình dân đường phố cực kỳ thơm ngon, cực kỳ bổ dưỡng, cực kỳ vệ sinh, đem lại sự kính trọng của người tiêu dùng giàu hay không giàu đối với những người bán hàng rong không thể giàu đó. Nghèo cho sạch, rách cho thơm, chính là cung cách, phong thái của người nghèo Sài Gòn trong mưu sinh, trong thể hiện bản thân, và trong giáo huấn con cái. Người nghèo Sài Gòn trở thành thước đo thật chuẩn để phân biệt người giàu sang thế gia vọng tộc với bọn trọc phú, vì người giàu sang thế gia vọng tộc thật sự luôn kính trọng người đức hạnh buôn gánh bán bưng và sẵn sàng tìm dâu tìm rể nơi những gia đình nghèo nhưng đức hạnh đó, vì rằng đối với họ chính đức hạnh của dâu và rể mới đảm bảo cho sự tồn tại hưng thịnh của cái “thế gia vọng tộc” của họ.

Cái cộng nghiệp của Nhà Phật là lời giải thích tuyệt đối đúng cho sự thay đổi toàn xã hội ở Sài Gòn: sự kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, đã đi kèm với cùng lúc 3 vấn nạn: (a) nhiều người nghèo Sài Gòn được người “thế gia vọng tộc” kết thông gia ngay để cùng nhau vượt biển, (b) nhiều người nghèo Sài Gòn rời bỏ Sài Gòn về miền quê, (c) nhiều người nghèo Sài Gòn không thể tiếp tục làm những nghề cha truyền con nối đầy tự hào như trước do những quy định khó khăn và nhất là do thiếu nguồn nguyên liệu cao cấp từ sự cấm chợ ngăn sông. Lớp người nghèo mới bắt đầu xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác, gồm bốn loại: (a) những người dân “chạy giặc” đổ dồn về từ các nơi khác vào thời khắc cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa và mất hết tài sản trên đường “chạy giặc”, (b) những công chức không thể tiếp tục có việc làm dưới chế độ mới, (c) những người giàu có bị liệt vào hạng tư sản mại bản nhất thiết phải dời đi xây dựng kinh tế mới, và (d) những người giàu có không thuộc hạng tư sản mại bản nhưng sợ hãi không dám chường mặt ra nhận tiền do Ủy Ban Quân Quản hoàn trả từ kho tàng các ngân hàng Việt Nam Cộng Hòa. Để tồn tại, những người nghèo mới này phải ra tay tàn diệt những người nghèo cũ: họ làm những việc như bán xôi, bán cơm tấm, bán cháo lòng, thậm chí bán nem “Lai Vung”, v.v. nhưng bán với giá rẻ hơn vì nguyên liệu kém hơn và vì không có tay nghề cha truyền con nối. Hậu quả là người nghèo cũ không thể sống được, phải bỏ nghề, tha phương cầu thực, kiếm kế sinh nhai mới, còn người nghèo mới gây ra sự chụp giựt hỗn loạn nhất là trong “thị trường ẩm thực” khiến xảy ra bao vụ ngộ độc thực phẩm, gây ra vấn nạn an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như sự biến mất của nem “Lai Vung” và những thứ tương tự. Dần dà người nghèo mới này mang một nội hàm mới về ý nghĩa: đó là những người nghèo tay nghề, nghèo đạo đức, nghèo đạo hạnh, nhưng không nghèo tiền, mà tin tức nhan nhản trên báo chí cung cấp thông tin về những đoàn xe tải thu gom thịt gia súc chết bệnh, thiu thối, để chế biến thơm ngon tung ra thị trường.

Sống chết mặc bây không bao giờ là thái độ sống của người nghèo Sài Gòn sang cả, mà là của người bần cùng, vì chỉ có bần cùng mới sinh đạo tặc chứ nghèo chỉ có thể sinh ra cung cách nghèo cho sạch, rách cho thơm.

Sống chết mặc bây không là cung cách sống của người nghèo Sài Gòn từng đu bám theo xe đò bán từng xâu nem Lai Vung danh tiếng thơm ngon bổ dưỡng vệ sinh tuyệt đối, mà là của những kẻ lưu manh bán nem Lai Vung tai tiếng đầy giòi bọ làm mất luôn sản phẩm nem Lai Vung.

Là người nghèo Sài Gòn trong một gia đình nghèo Sài Gòn, tôi chỉ còn biết than rằng: giá như còn đó những người nghèo xưa để xã hội vẫn còn thước đo đạo lý đạo nghĩa đạo đức đạo hạnh, và để người giàu có chiếc gương soi rõ nét nhất chân thật nhất về mức độ đạo lý đạo nghĩa đạo đức đạo hạnh của chính mình, từ đó sự làm giàu của bản thân được tiếp tục tiến lên mà không gây hại cho xã hội.

Giá như còn đó những người nghèo xưa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.