Tư Vấn Phát Triển Xuất Khẩu Ngành Hàng Mỹ Nghệ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Painting1

A- DẪN NHẬP

Bất cứ một đất nước nào cũng có những sản vật địa phương phục vụ du lịch thuộc ít nhất ba nhóm gồm (a) truyền thống – tức những thứ có thể bị người bản xứ cho là “quê mùa” thí dụ như con “tò he” Việt Nam, (b) hiện đại nội – tức do những nghệ nhân hay thợ thủ công bản xứ ngày nay tạo ra như xe xích lô gỗ hoặc nhôm của Việt Nam, và (c) hiện đại ngoại – tức những gì mô phỏng bắt chước từ nước khác thí dụ như màn sáo Việt Nam vẽ chép La Gioconda (Mona Lisa) hay tấm gỗ vẽ hình Tintin. Ở Việt Nam còn có nhóm thứ tư tức hàng hóa nô dịch lấn cấn lấn sân lấn chiếm từ Trung Quốc được con buôn ít học tích cực vận chuyển ào ạt qua biên giới để có mặt ở mọi ngóc ngách hang cùng ngõ hẻm chào bán giúp du khách nước ngoài vừa đặt chân đến bất kỳ một danh lam thắng cảnh nào của hậu duệ xứ Đại Cồ đã biết ngay về Tàu Vĩ (Trung Hoa Vĩ Đại). Song, cái “quê mùa” của thổ dân New Zealand như những khúc gỗ dài gang tay đen đúa chạm trổ sơ sài lồi lõm hình thần nhân hộ mạng hệ ngẫu tượng, hay như những gói ni-lông đựng một võ trai hay hến chứa một chùm cỏ khô quắt khô queo có xuất xứ khả nghi kèm một miếng giấy nhỏ ghi chú linh tinh về sự linh thiêng tẩy độc thanh trùng theo tín ngưỡng của thổ dân nào đã từng hoặc đang sống ở đâu trên những hòn đảo (chỉ dẫn cách đốt nhúm cỏ khô ấy trên miếng vỏ trai để khói tỏa khắp nhà trừ tà ma yêu quái, “thanh nhiệt” tinh thần, tống sạch tà khí, lôi cuốn thịnh khí vũ trụ vào nhà làm gia hưng thế vượng, khi tàn nhang – tức tàn cỏ – thì cầm vỏ trai đựng tro tàn mà…vứt sọt rác vì “công dụng” của vỏ trai chỉ dùng làm đồ đựng mà thôi), có đóng dấu chứng thực sản vật thổ dân có patent công chứng bản quyền cấp quốc gia do một tổng công ty du lịch hoành tráng cỡ Saigontourist chịu trách nhiệm hẳn hoi, khiến du khách Âu Mỹ khi đến New Zealand hay Úc hoặc Canada đều đổ xô mua sắm với khối lượng cực lớn (vì giá cực rẻ – không phải “cực sốc” như từ ngữ quảng cáo cấp thấp lè tè ở Việt Nam); trong khi đó, ở Việt Nam cái vô tổ chức (mạnh ai nấy sáng tạo ra “truyền thống”), tự tôn vô lối (“tò he” hay “Chú Tểu” lại là “truyền thống” cao siêu), và thiếu hiểu biết (người bán vác mô hình chiếc tàu buồm gỗ khổng lồ dài cả thước tây trên vai, chạy lăng xăng chèo kéo du khách trên đường Đồng Khởi hay Nguyễn Huệ ở Thành phố Hồ Chí Minh, mà không chịu nghĩ đến việc làm sao họ có thể mua tàu buồm của một nước chưa hề có tên trong lịch sử hàng hải nguyên sơ của thế giới và làm sao có thể khuân vác thứ cồng kềnh đó theo họ suốt chuyến du lịch vòng quanh thế giới, hay có đủ tiền đóng excess bagage cho hành lý vượt định mức) khiến sản vật quê mùa trở nên đích thị quê mùa thay vì mang ý nghĩa “mộc mạc dân dã truyền thống đặc thù” biết bao cao đẹp của cả một dân tộc hay nhiều dân tộc của bọc trăm trứng Mẹ Âu Cơ.

Dân Việt Nam, từ vi tiểu gia đến vĩ đại gia, đều có thể tự hào trưng bày trên kệ hay trong tủ kính nhà mình một búp bê lật đật bằng nhựa của Nga, hay bộ lật đật gỗ đáy bằng gồm nhiều con lồng vào nhau từ nhỏ xíu xìu xiu đến lớn lởn lờn lơn cũng của Nga. Còn hàng Việt Nam trước đây như mấy con búp bê ở Chợ Bến Thành mặc áo dài tứ thân, áo dài ngũ thân, áo dài Le Mur hay áo dài khăn đóng mà nam và nữ mặt giống y như đúc vì cùng từ một khuôn nhựa mà ra – nghĩa là nếu mặc áo nam vào búp bê thì cứ bóp cho hai bầu sữa nhú cao lún xuống là xong – với y phục may sơ sài không bao giờ sánh được với búp bê mặc áo đầm Tây, áo Chogori-Ch’ima, và áo kimono được may cực kỳ tinh tế y như thật do con cái của Spiderman, con cái nàng Dae Chang Kum, và con cái của biệt đội Thần Phong Kamikaze chế tác, chứ hầu như từ Bắc chí Nam Việt Nam cực kỳ hiếm có một ngôi nhà bình dân mộc mạc hay biệt thự triệu đô nào “dám” trưng bày thứ đồ chơi thuần Việt ấy. Vì thế, nói thật và nói thẳng để tư vấn cho được một hướng nên theo cho sản xuất hàng mỹ nghệ phục vụ du lịch (xuất khẩu tại chỗ) và phục vụ chính người Việt Nam tại Việt Nam, đặc biệt nhắm đến hình thành một doanh giới ngành nghề chuyên biệt có giao thoa liên kết với những mảng khác của cộng đồng, tạo thế chân vạc vững bền mang tính hỗ tương môi hở răng lạnh của sự đoàn kết doanh thương mà cháu con Việt Nam sau này có thể lấy đó làm gương và tự hào; chứ không phải là những phán phê cay độc về những thứ hàng cho dù chúng thật sự thô thiển, bất lợi và vô dụng của nước nhà, mà sản xuất ra chỉ có thêm tội với dân tộc và với cả Mẹ Thiên Nhiên.

B- NGHIÊM TÚC NGHIÊM KHẮC ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG

1- Thêu / Màn Sáo        

Như đã nói ở trên, màn sáo Việt Nam nếu không phải có tranh vẽ nghèo nàn về cảnh nghèo như chiếc thuyền nan đơn sơ bên bờ sông vắng lặng đìu hiu (rất kỵ về phong thủy) hay đứa bé chăn trâu cơ cực hàn vi (sử dụng trẻ em trong lao động cực nhọc và nguy hiểm – vi phạm công ước quốc tế về quyền trẻ em) chẳng mấy ai trong nước chịu mua, thì cũng rập khuôn duy mỗi một hình duy nhất là bức La Gioconda, tức nàng Mona Lisa của Leonardo da Vinci, mà không biết rằng đó là sự nhàm chán (đi chợ nào cũng thấy treo “bản mặt hãm tài” của Mona Lisa). Cũng chính vì lẽ ấy, tranh nhái hay màn sáo hình Mona Lisa không sao bán được ở một thị trường có gần 100 triệu khách hàng, vì bức tranh tăm tối ấy không phù hợp cho khí vượng gia phong.  Chuyện Leonado da Vinci là một thiên tài triệu năm có một, ngay cả khi đấy là sự thật cũng không có nghĩa tất cả những gì của Ông cũng là hào quang đượm hương thơm ngát. Mùi mồ hôi của Ông không thể là hương liệu của Channel. Thiên hạ xúm lại khen bức họa Mona Lisa chỉ sau khi mấy tay họa sĩ trường phái biểu tượng giữa thế kỷ XIX tung hê cho rằng bức họa chính là biểu tượng của sự huyền mặc theo trường phái của họ, chẳng khác nào chuyện thiên hạ xúm lại khen một Đức Kim Thượng mặc long bào rực rở sau khi mấy tay dệt bịp tung hê là chỉ có bậc đại trí mới nhìn thấy được chiếc long bào, và chỉ có một đứa bé mới cười ha hả nói rằng Đức Ngài đang tồng ngồng khỏa thân lông lá giữa lộ mà thôi. Tại Âu Mỹ có rất nhiều người – già có, trẻ có – không ưa khiêu vũ, mà nếu có thích thì thích chỉ một loại điệu gì chứ không thích tất cả; ấy vậy mà hễ làm phim về lối sống Âu Mỹ là Việt Nam ta thế nào cũng chêm các màn nhảy nhót ngã ngớn vào phim. Không thèm để ý đến sở thích của người Việt, đua nhau cho ra tranh chép và màn sáo Mona Lisa chỉ để “nghía” chăm bẳm vào ví tiền du khách nước ngoài, rõ ràng đã tự đẩy mình vào ngõ cụt.

 Painting2

Tranh thêu cũng có chung một tình cảnh do hoặc manh mún kiểu tự thiết kế bởi các nữ tu tại các tu viện Công giáo ở Đà Lạt hay của các cơ sở sản xuất cá thể, để rồi có những tác phẩm “vị nghệ thuật” chẳng thể bán cho bất kỳ ai như bức tranh thêu một bà cụ già người dân tộc có gương mặt nhăn nheo đầy gian truân dù nụ cười đôn hậu do đại gia XQ Đà Lạt sản xuất. Dưới đây sẽ có những ý tư vấn để ngành tranh thêu liên kết chặt chẽ với du lịch, vượt khỏi tình trạng cơ sở hay công ty tranh thêu phải cầu cạnh trông chờ các công ty du lịch đưa khách đến xem hàng trong khi chẳng có hoặc ít có khách thực hiện việc mua hàng bằng bất kỳ loại tiền gì.

2- Tranh Sơn Mài

Gần đây, tình hình sản xuất tranh sơn mài đã tự vượt qua sự cũ rích đến chán chường khi cả trăm năm qua tranh sơn mài Việt Nam chỉ là những tranh sơ sài trắng trên nền đen tăm tối, vốn rất không phù hợp với sở thích của các loại khách hàng khác nhau và cho những cách bày trí trang hoàng phòng ốc khác nhau. Tại các chợ, nay khách hàng đã có thể bắt gặp những bộ tranh ghép hay tranh lẻ sơn mài nhiều màu sắc, như có thêm màu nền xanh lá, hoặc nâu, với tranh cẩn nhiều họa tiết tinh vi. Song, cần có thêm những ý tưởng mới, tahy vì cứ mãi mai-lan-cúc-trúc hay long-lân-quy-phụng để sự cách tân may mắn đã có sẵn này sẽ tăng phần phát triển.

3- Đồ Gốm

Bát Tràng dường như đã trở thành sự dậm chân tại chỗ vì sản phẩm Bát Tràng không đẹp lại thô thiển. Trong khi tại Tử Cấm Thành Bắc Kinh trưng bày những gốm sứ có hoa văn chỉnh chu, men ánh như ngọc đá, nhiều màu sắc rực rỡ, có niên đại cả trăm năm, thì hàng Bát Tràng vẫn mộc mạc, nét vẽ nguệch ngoạc màu xanh dương trên nền trắng men tráng thô sơ lẫn bọt khí và hạt cát, như các chén dĩa đã được một số nhà hàng Việt khôn lanh mua dùng phục vụ thực khách, vừa được tiếng giới thiệu một thứ đơn giản mà giá trị truyền thống có thể hơi cao nhưng trị giá chắc chắn là cực thấp. Trong khi đó sản phẩm của gốm sứ Minh Long chẳng hạn lại là hàng rất tốt với giá bán rất cao, nhưng cứ như dành cho du khách nước ngoài (lại là một sự không quan tâm đến thực tế là du khách ngán ngại hàng nặng, cồng kềnh, dễ vỡ) hay cho người Việt mua làm quà tặng, chứ ít thấy nhà hàng nào dùng hàng này cho thực khách sử dụng. Vậy vấn đề là còn có con đường nào cho các cơ sở gốm sứ nhỏ hơn, không có tài lực và thị trường để có thiết bị hiện đại cho ra những sản phẩm tương đương với Minh Long, có thể tồn tại và vươn lên vượt mặt Minh Long theo một phân khúc thị trường mới thay cho một phần bánh của một ổ bánh thị trường dở dang đang có?

4- Tranh Vẽ

Cũng trong vòng lẩn quẩn, hội họa Việt Nam hoặc ở dạng hoài cổ như phỏng theo trường phái “Phái” (họa sĩ Bùi Xuân Phái), hoặc bắt chước Phương Tây vẽ tranh khỏa thân nhưng theo cách vong thân không-bản-lĩnh kiểu Việt tức vẽ theo tưởng tượng và luôn có dáng dấp khêu gợi khiêu dâm chứ không theo cách truyền thần kiểu Tây tức vẽ theo người thật luôn có dáng dấp phụ nữ bình thường như trong tất cả các bức danh họa Phương Tây, hoặc thi nhau vẽ tranh chép nhưng cũng chỉ toàn là Mona Lisa hay tranh có đề tài tôn giáo như Bửa Tiệc Ly cũng của Leonardo da Vinci, hoặc sáng tạo theo cách dễ nhất là trừu tượng kiểu Georgia O’Keeffe hay lập thể của Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Ruiz y Picasso (gọi tắt là…Picasso). Nghệ thuật vị nghệ thuật, hay nghệ thuật vị nhân sinh? Đó là tiêu đề của một bút chiến thời tiền chiến. Song, chỉ cần quan tâm đến một điều: hội họa phải làm sao vừa đắt hàng nơi nội địa (để nuôi sống bàn tay tài hoa), vừa danh vang chốn ngoại bang (chẳng lẽ hễ là nghệ sĩ thì mù tịt về lòng yêu nước?), vừa chuyển tải được cái tâm hướng thượng đến phong hóa nước nhà (để minh chứng tài hoa của mình được hun đúc từ đấng sinh thành đoan chính), không cứ gì phải khỏa thân trần truồng hay phải trường phái hoặc phải “vị” cái nọ cái kia. Hội họa “kiểu cổ” nữ ăn mặc cực kỳ kín như bưng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ chẳng luôn có giá quá cao trên thị trường quốc tế hay sao? Nếu là nghệ thuật vị nhân sinh thì hãy tìm hiểu con người quanh ta cần gì và nên cần gì. Nếu mơ mơ màng màng rao giảng nhăng cuội “nghệ thuật vị nghệ thuật” như tâm huyết nhà nghệ sĩ thì xin cứ vẽ tranh theo ý thích rồi cất làm bộ sưu tập cá nhân rồi đóng cửa tự mình thưởng lãm, chứ triển lãm bày bán, rao giá cao cái “tâm huyết” không ai hiểu được ấy, biến nó thành hàng hóa mưu sinh thì vừa không bán được vừa phỏng có gì quý báu.

Như một tiêu cực thâm căn cố đế ở Việt Nam, người ta theo học công nghệ thông tin IT là để hy vọng sẽ làm giàu tỷ đô như Bill Gates (mấy chục năm nay bao vạn người Việt học IT chưa ai có tỷ đô), để mở công ty tranh mua tranh bán laptop và điện thoại di động đại hạ giá mà nguồn toàn là hàng xách tay made-in-Tàu (làm giàu cho Tàu), hoặc để viết phần mềm quản trị này nọ của riêng mình (mà không đại gia nào dám liều mua sử dụng), chứ không thèm học vì mình thích kỹ thuật vi tính để ngày sau thi thố tài năng thuần kỹ thuật vi tính dưới trướng một đại gia IT; rốt cuộc chẳng đại gia IT nước ngoài nào vào Việt Nam đầu tư nhà máy tỷ đô có thể kiếm ra đủ số lao động IT chế tác phần mềm theo phát minh của nước ngoài. Tương tự, các họa sĩ Việt Nam không thèm làm như các họa sĩ Mỹ trong ngành công nghiệp tỷ đô lợi nhuận là vẽ chép các họa phẩm của các họa sĩ lừng danh để cung cấp cho triệu triệu khách hàng như một hoạt động nghề cao quý; rốt cuộc đa số họa sĩ Việt Nam chỉ lo phát triển cái tôi thuần-sao-chép, lo thăng hoa sáng tạo phi-sáng-tạo thuần-sao-chép, lo tổ chức triển lãm tranh của riêng mình thuần-sao-chép, và sau đó tiếp tục chìm nghỉm thuần-sao-chép về danh phận (không như đa số họa sĩ Mỹ chuyên vẽ chép tranh có danh phận công bố chính thức hẳn hoi vì tranh chép bởi họa sĩ này có giá cao hơn tranh chép cùng họa phẩm bởi họa sĩ khác), lo miếng cơm manh áo trong chật vật (không như các họa sĩ Mỹ tài hoa chuyên vẽ chép tranh thuộc ngành dịch vụ tỷ đô lợi nhuận).

5- Tượng Đá

Bất kỳ ai đến Đà Nẵng, Quảng Nam, đều có thể nhìn thấy sự đồng bộ đến bất ngờ, từ Non Nước đến các cửa hàng bán tượng, đâu đâu cũng thấy tượng khổng lồ nặng hàng tấn – bằng cẩm thạch trắng hoặc xanh – gồm sư tử vờn châu, Phật Di Lặc, và ông lão nghèo khổ vác cần câu có sợi chỉ phản trọng lực vì cuối đầu dây câu có một con cá nhỏ bằng đá nhưng sợi chỉ gai vẫn cong queo chứ không thẳng băng như dây dọi thợ hồ; hoặc tượng nhỏ cao tối đa khoảng hai gang tay – bằng đá vụn hoặc bột đá có màu xanh, màu đen, màu nâu, hay màu vàng đất – hình Quan Công, Phúc–Lộc–Thọ, hay Phật Quan Âm. Đó là sự phí phạm cực kỳ khi những bức tượng khổng lồ ấy chỉ thích hợp cho các đền thờ, chùa chiền, hay công trình xây dựng lớn như khách sạn và dinh thự; thậm chí những bức tượng khổng lồ ông lão câu cá cực kỳ vô vị không rõ ai trên thế gian này sẽ là người mua. Tay nghề của những nghệ nhân dường như vẫn chỉ sáng tạo ra các sản phẩm thuần mô phỏng hay chủ quan, không theo hướng tạo tác đặc thù, không điều nghiên vị…“nhân sinh”, không vì phát triển nghề, không vì có mục đích rõ ràng, và không thể nào gia tăng thu nhập nhanh, chính đáng.

C- HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỤ THỂ

Thường do sự dễ dàng khi phê phán và khó khăn lúc vẽ đường cụ thể cho hươu chạy nên người ta hay có rất nhiều những phê bình dài ngoằng, đấu tranh vừa phải, tránh nặng nề, rồi có kết luận không đàng hoàng bất minh bất chánh kiểu đánh đố người đọc là “trách nhiệm thuộc về ai” – nghĩa là nêu vấn đề rồi bỏ lửng, hoặc dũng cảm kiểu “kiến nghị nhà nước nên đầu tư cho có thêm nhiều điểm tham quan du lịch” như của một chức sắc ngành du lịch thốt ra khi được phỏng vấn – nghĩa là nếu may mắn có quan chức Nhà Nước nào đó có xem phỏng vấn thì cảm động tình cảnh ế muộn của ngành du lịch mà tung tiền của dân ra đầu tư cho mấy anh dịch vụ hưởng thụ tiếp. Các gợi ý sau đây, do đó, sẽ bao gồm những phương cách cụ thể, thực dụng, hợp lý hợp tình, không vòi xin Nhà Nước dù chỉ một xu.

1- Tranh Thêu / Màn Sáo / Tranh In Vải

Điều cần làm rõ như một bắt buộc phải tuân theo để phát triển mạnh và cao nhóm ngành hàng thêu–màn sáo–tranh in vải là phải ưu tiên sử dụng các họa phẩm của các họa sĩ lừng danh thế giới nhưng lưu ý (1) loại bỏ hẳn Mona Lisa; và (2) không chọn các tác phẩm có nội dung ưu sầu, tăm tối, bất lợi về phong thủy, và không phù hợp (nói như Linh mục Đinh Ngọc Lễ, trước 1975 là Hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Bá Tòng Gia Định – nơi tôi làm lớp trưởng tất cả các năm học ở đấy – nay coi sóc một giáo xứ dường như ở Gò Vấp hay Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói trên đài truyền hình và báo Tuổi Trẻ rằng Ông khuyên giáo dân hãy phân biệt thực hư trước tin đồn nhảm Tượng Đức Mẹ khóc vì theo Ông: Đức Mẹ khi xuất hiện chỉ có thể mĩm cười thương yêu, thánh thiện, nhân hậu, tươi tắn mà thôi).

a) Tranh Tôn Giáo :

Như đã dẫn về lời phán của linh mục Đinh Ngọc Lễ nêu trên, nhóm ngành thêu – màn sáo – tranh in vải nên chỉ quan tâm đến những danh họa sau về Đức Mẹ và Đức Chúa Hài Đồng có nội dung tích cực (gương mặt của Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng rất đẹp, rất tươi, rất sống động, chan hòa hạnh phúc của người vừa được làm mẹ và của đứa bé trong vòng tay thương yêu chăm sóc bế bồng của người mẹ ấy, như trong rất nhiều tranh cùng chủ đề của các họa sĩ Bartolomé Esteban Murillo (thế kỷ XVII) và Raffaello Sanzio Raphael (thế kỷ XV) đặc biệt vì các tranh này toát ra vẽ đẹp như người thật, ngời rạng, tin yêu, trong khi nhiều bức họa của các danh họa khác lại cho ra bố cục không cân đối, không thực như Chúa Hài Đồng ngồi vững vàng một bên tay của Đức Mẹ, nhưng đầu ngã ra một bên, nét mặt rất người lớn, cùng Đức Mẹ ngồi trên ngai cao nhưng cùng mang vẻ sầu ưu uất.

Riêng bức tranh Bửa Tiệc Ly The Last Supper của Leonardo da Vinci cũng trở nên nhàm chán khi trở thành bức duy nhất được vẻ lại hay thêu cho chủ đề này ở Việt Nam, trong khi còn các bức họa của các danh họa khác như bức của Juan de Juannes (thế kỷ XVI) tinh tế hơn lại chẳng mấy ai biết đến.

Painting4

 b) Người Đẹp:

Chắc chắn Mona Lisa, tức bà Lisa del Giocondo (vì vậy bức tranh còn mang tên La Gioconda), vợ của thương gia tơ lụa Francesco del Giocondo – người đã thuê Leonardo da Vinci vẽ nhân ăn tân gia và mừng sinh nhật của cậu con trai thứ nhì tên Andrea, song nhà họa sĩ vô sĩ vô hạnh vô đạo đức ấy đã ôm bức tranh trốn qua Pháp bán lại cho nhà vua lấy 4.000 đồng ê-cu – không phải là người phụ nữ xinh đẹp trong thời của Bà (như đã nói ở trên, “Bà” chỉ được biết đến nhiều thế kỷ sau đó, nhưng không vì Bà đẹp mà vì Bà bị gán cho là biểu tượng của sự huyền mặc), và cũng không phải là người phụ nữ xinh đẹp thời đại ngày nay. Song, đã có nhiều mỹ nhân khác hơn Bà cả ở sắc đẹp và ở thế gia vọng tộc lại là người mẫu trong tranh của những danh họa có khi còn nổi tiếng hơn cả Leonardo da Vinci và bản thân các bức họa này đã đắt giá ngay từ khi hoàn tất chứ không phải chờ đến quá nhiều năm sau như bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci, nhưng chẳng ai ở Việt Nam trong ngành Màn sáo-Tranh thêu-Tranh in vải thực sự có yêu nét đẹp nữ tính lại từng biết đến để sản xuất chẳng hạn như bức La Donna Velata của Raphael (thế kỷ XVI); các bức La Ghirlandata, Công Nương Lilith, và Fiammetta của Dante Gabriel Rossetti (thế kỷ XIX); các bức Thiếu Nữ Soi Gương, Đóa Hoa Flora, và Violante La Belle Gatta của Tizano Vecellio Titian (thế kỷ XV), bức La Belle Ferronniere của Giovanni Antonio Boltraffio (thế kỷ XV), hay như bức tranh của họa sĩ Jacques-Louis David (thế kỷ XIX) vẽ Phu Nhân Rescamier sắc nước hương trời.

Painting3

 c) Tranh Hoa :

Cho chủ đề này, có rất nhiều những danh họa thời Phục Hưng, trước đó và sau thời đại này để lại cho nhân loại những kiệt tác về hoa; song, “thần” và giá trị của những bức tranh hoa của Van Gogh (thế kỷ XIX) mang tính độc đáo, mỹ thuật riêng biệt đáng để lên ngôi vị cao nhất của dòng tranh hoa quả – tĩnh vật của mọi thời; do đó, nên nằm trong số những bức tranh mà các ngành mỹ nghệ ở Việt Nam nên tham khảo khai thác. Tất nhiên, tranh hoa hiện đại của Âu Mỹ cũng rất tuyệt hảo, có thể làm nguồn mô phỏng để các họa sĩ Việt Nam sáng tác phục vụ thị trường.

d) Tranh Chủ Đề Khác: Phong Cảnh, Người, Khỏa Thân

Những bức họa khác được giới thiệu trong bài viết này bổ sung tính đa dạng cho các sản phẩm mà người viết muốn tư vấn thực hiện, gồm bức họa Paysage Martiniquais của Paul Gauguin (thế kỷ XIX), Cô Bé Và Chiếc Bình Tưới Cây của August Renoire (thế kỷ XIX), Vườn Hoa của Gustav Klimt (thế kỷ XIX), Marguerite Garchet Trong Vườn của Van Gogh, v.v., cho thể loại tranh phong cảnh:

 Painting5

Còn thể loại người, có thể nói đến bức Tình Nhân của Picasso, và các bức về nụ hôn của Gustav Klimt với phong cách vẽ đầy màu sắc và giàu sáng tạo

 painting6

Đối với thể loại tranh khỏa thân, không nên đưa vào danh mục sản xuất của nhóm ngành hàng này vì (1) không bao giờ phù hợp với văn hóa đại đa số gia đình Việt – nhất là các gia đình sang trọng tin phong thủy không bao giờ tự hạ mình treo tranh khỏa thân mang ý nghĩa đói nghèo không mảnh vải che thân, (2) đa số du khách đến Việt Nam không phải là giới trẻ, (3) du khách đến Việt Nam còn có cả giới tu sĩ, và (4) thật sai lầm mỗi khi nghĩ đến người Tây Âu là nghĩ đến tranh ảnh khỏa thân như một xúc xiểm tai hại. Song, nếu nhà sản xuất vẫn cứ muốn có vài sản phẩm khỏa thân “để gọi là” tức để chứng minh người Việt không khó tính, đặc biệt dành riêng cho các khách sạn hạng sang thì nên dùng các họa phẩm sau: Cô Gái Ngủ Trong Phòng Tắm của Renoire, Ba Mỹ Nữ của Raphael (thế kỷ XV), Sự Ra Đời Của Thần Vệ Nữ của Sandro Botticelli (thế kỷ XV), Vũ Nữ của Gustav Klimt (thế kỷ XIX), Thần Vệ Nữ Urbino của Tizano Vecellio Titian (thế kỷ XV), và Thần Vệ Nữ Verticordia của Dante Gabriel Rossetti (thế kỷ XIX) vì sự tinh tế hoàn toàn không dung tục của các bức họa cũng như danh tiếng hoàn vũ của các họa sĩ này.

Painting7

 e) Tư Vấn Thực Hiện:

i. Lợi điểm của những bức họa được chọn lọc đề nghị ở trên là chúng (a) thực sự thuộc kho tàng hội họa của toàn thể nhân loại và là kiệt phẩm của những họa sĩ tài danh thiên cổ mà đa số nhân loại biết đến, (b) việc sử dụng các bức họa này vào những sản phẩm tinh tế của Việt Nam không bị đặt vào môi trường tác quyền, (c) giới thiệu cho du khách sành điệu biết rằng người Việt Nam có kiến thức tinh tế về hội họa hàn lâm quốc tế, và (c) du khách sẽ mua những sản phẩm này vì bản thân tên tuổi họa phẩm giúp sản phẩm trở thành có giá trị văn hóa cao khi đem về xứ sở của họ dùng làm quà tặng, chưa kể giá mua ở Việt Nam chắc chắn hấp dẫn vì không cao.

ii. Đối với tranh Tôn Giáo, chỉ nên dùng cho sản phẩm thêu tay hoặc thêu máy vì ý nghĩa trang trọng của tôn giáo, kích cỡ nên là 20 x 30 cm để bảo đảm giá hạ, và tiện cho người mua cho vào khung kính treo tường. Bao bì của tranh có thể làm giống hư bao bì của áo sơ-mi nam, tức với bì cứng làm đế, tranh thêu để trên đế, cho tất cả vào trong bao ni-lông trong suốt, với tờ giới thiệu in màu của đơn vị sản xuất, có in hình bức tranh, và nội dung giới thiệu tranh cùng tiểu sử danh họa bằng tiếng Anh. Bao bì của tranh cũng có thể làm ở dạng ống nhựa trong suốt, có hai nắp khác màu đậy hai đầu, tranh thêu cuộn tròn bên trong, và tờ giới thiệu hàng hóa bọc quanh tranh và nằm trong lòng ống nhựa trong. Loại tranh thêu này đáp ứng nhu cầu mua làm quà tặng của người Việt Nam, và chắc chắn thu hút du khách nước ngoài.

iii. Đối với nhóm tranh Người Đẹp, Tranh Hoa, và Tranh Chủ Đề Khác: toàn bộ nhóm ngành đều tham gia, với (a) tranh thêu máy hay thêu tay theo kích cỡ và bao bì y như với nhóm tranh Tôn Giáo dùng để bán lẻ cho du khách, (b) màn sáo vừa bán lẻ cho du khách theo kích cỡ bình thường vừa vặn cửa một phòng gia dụng bình thường, vừa cung cấp theo kích cỡ đặt hàng của các khách sạn cũng như công trình dân dụng, với bao bì trong túi vải phù hợp đặt bên trong bao nylon dầy trong suốt và có tờ giới thiệu nội dung y như nêu trên, và (c) tranh in vải được hiểu như hoặc in trên khăn tay đút túi bằng vải thường mà các khách sạn có thể mua với số lượng lớn để làm quà tặng du khách, hoặc in trên vải dệt kim dùng làm khăn tắm cỡ to phục vụ nhu cầu nội địa nhưng khi các khách sạn dùng cho các phòng của khách vừa làm du khách ngạc nhiên thú vị vừa giúp tiêu thụ nhiều hơn khi mỗi phòng đều có để sẵn trong tủ quần áo nhiều sản phẩm khăn tắm đã đóng gói bao bì như trên và ghi giá tiền để khách có thể lấy cất và ký vào bill phòng tính tiền sau.

b- Tranh Sơn Mài & Tranh Vẽ

Như đã nêu rõ ở trên về định hướng của mỹ thuật, vị nhân sinh nên là kim chỉ nam. Thay vì đi theo các khuynh hướng chỉ để thể hiện một cái “tôi” hoành tráng nhưng theo cách ai cũng bắt chước được – tức trên đời có quá nhiều họa sĩ thần đồng vẽ tranh trừu tượng, được gọi là những “tiểu” Picasso vì vẽ tranh lập thể giống như Picasso, song chưa bao giờ có họa sĩ “thần đồng” nào vẽ được một bức tranh kiểu truyền thần có “thần” tức vẽ người có thật và sống động y như người thật ấy, và có giá trị mỹ thuật như Leonardo da Vinci, Raphael, Boltraffio, hay Titian – các họa sĩ nên quan tâm đến sự quan tâm của khách hàng, vì chỉ khi có quan tâm đến sự quan tâm của khách hàng thì họa sĩ mới chính thức đưa hội họa phục vụ con người và con người giúp hội họa phát triển. Không cứ thấy Bùi Xuân Phái để lại cho đời trường phái Phái, là họa sĩ XYZ tạo nên phong cách riêng để hy vọng sau khi mình mất đi sẽ có trường phái XYZ. Điều khôn ngoan là đem tài hội họa của mình khi mình đang sống để tham gia sản xuất phục vụ khách hàng ngay, làm giàu chân chính ngay, làm rạng danh nền hội họa nước nhà trên cơ sở đóng góp nhiều sản phẩm cho xã hội ngay cả khi dùng tài năng đó vào việc vẽ chép tranh tức một ngành kỹ nghệ cực kỳ phát triển ở Hoa Kỳ trong phục vụ nhiều chục triệu khách hàng bình thường bình dân trong xã hội thay vì chỉ lo sở hữu nguyên tác, bán đấu giá nguyên tác, rồi dấu kỹ nguyên tác mua được ấy trong hầm sắt bảo mật cao cấp.

Hiện có nhu cầu rất lớn nhưng không công khai chẳng hạn về tranh hoa mẫu đơn, từ những khách hàng tin tưởng rằng đó là loài hoa vượng ích về hôn nhân. Nhiều người đã tìm hoặc đặt mua từ Trung Quốc những cặp tranh vải to bản hình hoa mẫu đơn thịnh trọng treo hai bên tường trong phòng khách với kỳ vọng những tốt đẹp về hôn nhân sẽ đến với đàn con gái chưa chồng của chủ nhân. Những tranh thêu lộng lẩy, những khăn tay thêu, những tranh vải vẽ cỡ nhỏ và cỡ lớn hoa mẫu đơn đảm bảo có được sự tiêu thụ nội địa rất lớn mà khách hàng đa số là phái nữ. Cùng với kiểu đóng gói bao bì như kể trên, du khách nước ngoài cũng sẽ bị mê hoặc bởi vẽ đẹp của tranh hoa mẫu đơn, vừa “tin” vào “truyền thuyết” hiệu nghiệm của hoa (cũng như tin vào nhúm cỏ khô của thổ dân Australia) và giúp đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm “thuần Việt” trên nền văn hóa Phục Hưng này của Việt Nam. Hãy cứ vẽ những vòng tròn méo mó dị dạng đỏ chói hay một nền hồng có hai sọc đen chạy ngang qua, nếu vẫn cho là chúng “nói” lên được cái gì đó chỉ riêng mình biết rồi đánh đố sự thưởng ngoạn của khách xem tranh; nhưng hãy dùng đôi bàn tay thiên phú của mình vẽ nên những đóa hoa mẫu đơn tuyệt đẹp, vừa giúp đồng bào của mình mua như ý, vừa ngăn chặn chảy máu ngoại tệ làm giàu cho họa sĩ Tàu, vừa làm giàu cho bản thân để giúp đỡ nhiều hơn cho xã hội.

c- Đồ Gốm & Tượng Đá

Thật sẽ không nên nếu các cơ sở sản xuất nhỏ vay vốn ngân hàng xông vào cuộc mua sắm trang thiết bị để chế tác ra các chén dĩa cạnh tranh với Minh Long hay hàng Trung Quốc. Hãy dùng nội lực tự thân chế tác những sản phẩm văn hóa đặc thù trong tầm tay. Đừng xẻ núi lấy đá phí phạm chế tác những thứ không phục vụ cho gần cả trăm triệu khách hàng. Các cơ sở gốm sứ nhỏ và các cơ sở tạc tượng đá nên quan tâm tạo ra những tác phẩm uy nghi tinh tế của những danh nhân Việt Nam như Hoàng Đế Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Phù Đổng Thiên Vương, Bà Triệu, Bà Trưng, v.v. Những bức tượng gốm sứ nhiều màu sắc và những bức tượng nhỏ các danh nhân này sẽ tạo nên một hướng thờ phụng mới từ các hộ gia đình đến tất cả các trường học, cơ quan, trong nước cũng như tại các cơ quan ngoại giao trú đóng ở nước ngoài. Đối với tượng đá lớn, cần tham khảo các kiệt tác của muôn đời thí dụ tượng các dũng tướng cưỡi ngựa chân phương như Nguyên Soái Gattamelata của Donatello (thế kỷ XV), hay Đại Tướng Colleoni của Andrea Verocchio (thế kỷ XV), và Pierre Đại Đế của Facolnet, trong đó có tượng khổng lồ với chiến mã chồm lên nhưng giữ thăng bằng tuyệt diệu với chỉ một chân sau trên bệ đá), để tạo nên những bức tượng uy dũng của các trang dũng tướng Việt Nam, tránh việc cách điệu kiểu Việt vì cách điệu nghĩa là né tránh dễ dàng các yêu cầu cực cao của kiến trúc tạo hình (tượng đồng Phù Đổng Thiên Vương được đúc theo hình ảnh cách điệu với nhiều tầng đá đóng vai các đám mây dưới bụng ngựa như một cách gian xảo của nghệ nhân điêu khắc bất tài không thể đúc nên chiến mã đứng được trên một hoặc hai chân sau).

Khi người dân chỉ mua những gì được trưng bày, hàng hóa Trung Quốc luôn có dịp chen chân, như hiện nay người Việt tiếp tục mua tượng Quan Công, tượng Phúc-Lộc-Thọ, tượng Phật Bà, hay tượng con cóc, v.v. của Tàu, với gương mặt Phật Bà rõ ràng không còn mang vẻ đẹp Việt Nam thanh thoát dịu dàng xinh đẹp tươi tắn có đôi mắt Việt to hai mí như cách nay vài chục năm, mà thay vào đó là vẻ mặt người đàn bà Tàu béo tốt có đôi mắt Tàu. Người Việt thường viếng đền thờ Đức Thánh Trần. Nhưng không có tượng Đức Thánh Trần hay các đấng thánh nhân Việt khác trên các quầy bán tượng. Chỉ cần có các sản phẩm này xuất hiện, nhà sản xuất tạo ra một nhu cầu tín ngưỡng mới tại hàng triệu hộ gia đình. Đó là điều chắc chắn.

D- BÀI BẢN THỰC HIỆN LIÊN KẾT NỘI LỰC CỘNG ĐỒNG

Nếu như các cơ sở sản xuất mỹ thuật thuộc nhóm nêu trên khi xem thông tin tư vấn này rồi có tâm đắc chung để vầy đoàn thực hiện, tất tạo ra một doanh giới đầu tiên của ngành hàng mỹ nghệ. Song, sự phân chia phân khúc thị trường là điều nhất thiết phải được nghiêm túc và nghiêm khắc thực hiện trên cơ sở định vị nội lực, với mỗi đơn vị hay cơ sở sản xuất đảm nhận một hoặc một nhóm mẫu sản phẩm, không được “lấn sân” dẫn đến tàn diệt lẫn nhau như “truyền thống kinh doanh kiểu Việt” bấy lâu nay: nhanh tay lẹ chân chiếm hữu chứ không nhanh chóng thương thảo cho một sự hợp tác.

Khi đề xuất sử dụng nguồn tranh thời Phục Hưng hay Cận Đại của các danh họa nước ngoài, người viết cho rằng đó là (a) cách khôn ngoan nhất do đã và đang phát triển mạnh ở các nước Âu Mỹ ngành dịch vụ chép tranh Phục Hưng và Cận Đại nên Việt Nam không cần mất thời gian điều nghiên thị hiếu thị trường; và (b) để đáp ứng nhu cầu phát triển của các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ trong thời kỳ suy thoái chung, có tạo ra sự khác biệt tích cực đối với du lịch. Việc giới thiệu hàng hóa “thuần Việt” tất nhiên vẫn nên được song song tiến hành nhưng nên ở mức độ nhỏ hơn vì phải ưu tiên phục vụ khách hàng nước ngoài là những người đa số ưu chuộng các họa phẩm cổ điển lừng danh. Màn sáo–Tranh thêu–Tranh vẽ–Gốm sứ–Sơn Mài–Tranh in vải đều có thể giúp giới họa sĩ nội địa cùng vượt khó bằng cách sử dụng một số tác phẩm của các họa sĩ hiện đại Việt Nam, có trả tiền “nhượng quyền”, với điều kiện các họa phẩm ấy phải đa sắc màu, lộng lẫy, sống động, và các họa sĩ nên ra giá nhượng quyền ở mức thấp nhất có thể được để giúp các cơ sở sản xuất hàng mỹ nghệ bớt gánh nặng chi phí, hoặc nên chủ động bỏ tiền ra đầu tư (hay kêu gọi hợp tác đầu tư) sản xuất các sản phẩm phục vụ du lịch có sử dụng các tác phẩm của mình. Tại sao là “nhượng quyền”? Bởi vì họa sĩ Việt Nam luôn sai lầm ở chỗ chỉ muốn tranh của mình được bán với giá cao kiểu “mua đứt, bán đoạn” trong khi bản thân họa sĩ lại chưa có danh gì với thế giới. Nếu “nhượng quyền”, tác phẩm vẫn thuộc sở hữu của họa sĩ, nhưng ảnh chụp điện tử của tác phẩm ấy được dùng in đại trà trên khăn tay, khăn tắm, tranh vải nhỏ, ly tách, v.v., được tiêu dùng ở các khách sạn trên cả nước, thì tích tiểu thành đại, các khoản thu nhập nhỏ nhưng tường xuyên sẽ trở thành khá lớn hay rất lớn, vừa giúp họa sĩ tạo nguồn lực tài chính chủ động, vừa giúp hội họa Việt Nam dần dần như vết dầu loang được biết đến nhiều hơn trên thế giới. Khi sản phẩm có sử dụng tranh của các họa sĩ này được đóng gói bao bì theo cách đã nêu, các họa sĩ được du khách biết đến qua nội dung giới thiệu tên của họa sĩ ở bao bì, đó là cách để các họa sĩ Việt Nam vươn ra thế giới về tên tuổi và dạng thức mới của tác phẩm: không xem bán nguyên gốc tác phẩm là ưu tiên duy nhất mà có cả bán nhượng quyền. Tác phẩm nguyên gốc được bán, nghĩa là tên tuổi họa sĩ lại tiếp tục bị chìm nghỉm trên tường tại một căn nhà nào đó của người nào đó đã mua bức họa; còn khi nhượng quyền xuất hiện, cùng lúc nhiều người sở hữu những vật thể có họa phẩm khiến họa phẩm và họa sĩ được biết đến nhiều hơn. Sự chọn lựa tác phẩm hội họa Việt Nam nhất thiết cần có ý kiến tư vấn chuyên nghiệp cung cấp tư vấn phát triển kinh doanh trong tương quan văn hóa dân tộc và văn hóa các nước đặt trong hoàn cảnh kinh doanh cụ thể, có nhắm đến uy tín quốc gia, dân tộc. Nếu một nước như Thổ Nhĩ Kỳ có thể bán hàng tỷ USD tiền mỹ nghệ phẩm cho mỗi thị trường Nga thôi, thì tất nhiên các mỹ nghệ phẩm ấy thuần dựa trên nghệ thuật hội họa truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ thể hiện trên thảm trải sàn, thảm trải ngồi, thảm treo tường trang trí thay tranh, đã vững vàng vang danh từ thời đế chế Ottoman của Thế Kỷ XIII từ kinh thành Constantinople bán ra khắp thế giới Âu Tây, chứ không phải là tranh khỏa thân vốn mang tiếng khiêu dâm hay tranh lập thể vốn mang tiếng kiêng kỵ phong thủy dị đoan. Và một khi Việt Nam chưa hề có nền hội họa truyền thống vang danh thế giới mà chỉ có vài kiểu cách mang tính địa phương cá biệt nhiều hạn chế hạn hẹp như Đông Hồ hay “Phái” thì đương nhiên phải dựa vào sự khai thác các danh họa cổ điển thế giới và các họa phẩm hiện đại nào của Việt Nam không thuộc loại khỏa thân, lập thể, hay phong cảnh không đặc sắc.

E- LỜI KẾT

Tuy nhiên, sự sáng tạo trong tư vấn như nêu ở bài viết này cũng có thể bị tước đoạt vì nếu như có ai đó ở lân bang nào đó cũng noi theo sử dụng các chiêu thức nêu trên thì sự nỗ lực của người viết nhằm giúp doanh giới Màn sáo–Tranh thêu–Tranh vẽ–Gốm sứ–Sơn Mài–Tranh in vải phát triển cũng đổ sông đổ biển. Từ đó đặt ra vấn đề cần xem xét, nghiên cứu, áp dụng nhanh chóng bởi các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nhỏ và các doanh nghiệp nhỏ, vì mục đích là sự hình thành một doanh giới có thể tự thân đi lên từ thực tế không hoặc chưa vững mạnh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Ghi chú:

– Các chuyên đề tư vấn tiếp theo về phát triển kinh doanh thời suy thoái sẽ bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các lĩnh vực như sản xuất bánh kẹo, sản xuất lương thực, sản xuất thực phẩm chức năng, sản xuất đồ nhựa, và du lịch, v.v. Các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp muốn đọc các bài viết tư vấn phát triển kinh doanh ngành hàng hay ngành nghề nào khác, xin vui lòng báo chi tiết cho tác giả bài viết này qua thư bưu điện (đến Hoàng Hữu Phước,  Công ty MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

– Phần lớn nội dung bài viết trên đã từng được tác giả đặt vấn đề trên Emotino ngày 25-8-2009. Bản đăng kỳ này được bổ sung, thay đổi, hoàn thiện.

– Các tranh minh họa: nguồn từ internet.

Sources of images of paintings as herein demonstrated are from the internet.

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.