Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ngành Quản Trị Kinh Doanh

Bài viết thứ 33 của tháng 12-2015

Ngày đăng: 30-12-2015

Trong một bức thư gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi có nêu các định nghĩa cần thiết cho các cấp tú tài, cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ.

Gần đây báo chí có những bài nói về những bất cập trong “đào tạo” thạc sĩ và tiến sĩ, và tất nhiên không những vì các thạc sĩ/tiến sĩ ngoài một số trở thành giảng viên đại học thì đa số không rõ đang ở đâu vì không thấy họ ngự trong tháp ngà hàn lâm tức là dinh thự xây sẵn dành riêng cho họ tự bao đời nay để họ không ngừng nghiên cứu công trình, không ngừng viết lách công trình, không ngừng sáng tạo công trình, không ngừng giải quyết những vấn đề và vấn nạn tri thức hàn lâm có liên quan; mà cũng chẳng hề thấy họ xông xáo trong môi trường chuyên nghiệp thực tế có liên quan để hiện thực hóa lý thuyết có ghi trên bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ của họ vào đời sống kinh tế thực để cho ra kết quả thực; mà lại còn vì các nhà báo vừa thiếu hiểu biết vừa đa số cực kỳ “từ chương” khi chỉ biết cầm máy ghi âm dí vào mặt các vị – mà nhân dân thì không rõ các vị đang ở đâu, duy chỉ các nhà báo là có số phone để liên lạc – trên để phỏng vấn rồi viết lại thành bài mang tên mình để trả nợ quỷ thần cho tiền lương nhận được mỗi tháng từ tòa soạn; nên các “bất cập” tuy có thật nhưng nghe cứ như một thoáng mơ hồ vớ vẩn, mà vấn đề thì cứ được ghi nhận hoài hoài, viết ra thập kỷ này qua thập kỷ khác trong khi cái sự bất cập thì cứ tồn tại trơ gan cùng tuế nguyệt, phình to phập phù phổng phao phát triển vẩn vơ.

Nói thế cũng tội cho các nhà báo vì Đảng chỉ lo phần của Đảng là tổ chức các lớp lý luận chính trị cao cấp cho các nhà báo, trong khi các nhà báo lại không có được cái chủ động của những người có học thức: tích cực tìm tòi học hỏi những lĩnh vực hàn lâm khác nhau, xông pha vào những lĩnh vực khác nhau mang những vấn đề to tát khác nhau nên không có khả năng viết bài phân tích phê bình tức đẳng cấp cao nhất theo thang bậc của báo chí chuyên nghiệp nước ngoài, mà chỉ có việc thủ cái máy ghi âm thậm chí chụp hình bằng điện thoại rất không chuyên nghiệp, rồi tự tiện cắt xén, đổi thay nội dung thật sự phát biểu của người được phỏng vấn, và đẻ ra cái tít thật giật gân để câu view là xem như đã tác nghiệp xong, tức là đẳng cấp thấp nhất theo bậc thang của báo chí chuyên nghiệp nước ngoài – tất nhiên trừ những phóng viên chiến trường xông pha lửa đạn đồng hành cùng các đoàn quân trực tiếp chiến đấu. Phỏng vấn đúng người mà (a) chỉ có mình do nhanh trí lão luyện tuyệt vời mới nghĩ ra, trong khi các nhà báo đối thủ cạnh tranh mãi mê móc cẩm nang ai cũng có để xem hễ nội dung gì thì phỏng vấn ai, và (b) phỏng vấn mà sau đó không bị người được phỏng vấn cự nự bắt xin lỗi vì đưa tin sai, thì đó đúng là nhà báo kiệt xuất rất hiếm thấy ở Việt Nam. Chính vì công thức hễ liên quan đến Sử thì hỏi nhà sử học Dờ nên môn Sử trên bờ vực triệt tiêu, hễ liên quan đến ẩm thực thì hỏi anh Phờ nên ẩm thực nước nhà chẳng làm nên trò trống gì ngoài việc vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng tồi tệ, hễ liên quan đến cà phê thì hỏi đại gia Trờ, hễ liên quan đến kinh tế tài chính thì hỏi giáo sư tiến sĩ Ngờ nên chẳng bao giờ thấy nội dung trả lời hùng hồn của vị ấy ấy phát huy tác dụng gì trong kinh bang tế thế dù đến tận nhiều năm sau đó, còn hễ liên quan đến giáo dục thì hỏi “thầy” ấy “cô” ấy nên giáo dục Việt Nam cứ phải cần nhiều chục ngàn tỷ cho mỗi lần của vô số lần cải cách mà vẫn chưa thể đạt yêu cầu. Chỉ cần nhà báo hiểu ra một điều giản đơn mang tính chân lý luôn luôn mang dấu ấn sức khỏe tâm thần ổn định rằng muốn biết rõ về giày thì hãy phỏng vấn anh nhân viên KCS kiểm tra chất lượng thay vì phỏng vấn anh giám đốc công ty giày, và rằng nếu trên đường đi tác nghiệp phỏng vấn mà xe SH bị hỏng thì hãy đến anh thợ sửa xe lề đường thay vì điên khùng vác xe đem về nhà đóng thùng gởi phát chuyển nhanh sang hãng Honda bên Nhật kêu nhà khoa học nào đã thiết kế SH ra vá lốp xe, thì coi như chất lượng công việc của nhà báo tự nhiên tăng cao về thực chất, hấp dẫn người đọc, thay vì để họ cứ mãi nhìn thấy công thức chán nhàm hễ hễ hễ hễ như đã nói ở trên.

Cũng vì vấn nạn trên của báo chí, tôi đành phải viết bài này để đưa sự việc cụ thể liên quan đến trình độ các vị học cao đối với kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến ngành nghề mà các vị ấy đã được đào tạo và đang tham gia đào tạo sau khi đã được đào tạo, mà mục đích nhằm cảnh báo các đơn vị Nhà Nước hay có thói quen thay vì đưa cho các nhà tư vấn chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn, lại mặc định giao cho các trường đại học nghiên cứu những đề tài đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn thương trường chứ không phải kinh nghiệm lý luận hay kinh nghiệm giảng dạy lý‎ thuyết.

Thí dụ có thật sau đây (đã thay đổi tên thành XYZ và ABC vì lý do bảo mật thông tin khách hàng và giữ uy tín cho trường đại học) cho thấy tổng công ty XYZ của Việt Nam có nhu cầu đào tạo về Quản Trị Quy Trình cho các chức sắc nên gởi đơn hàng đến trường đại học công lập ABC rất lớn của Việt Nam, và khi nhận được bản chào giá có ghi nội dung phác thảo của chương trình như sau của các giáo sư tiến sĩ, XYZ đã tá hỏa tam tinh:

Nguyên văn dàn bài trong bản chào của Đại Học ABC, Môn: Quản Trị Quy Trình (trong bài viết này không ghi lại các chi tiết không cần thiết về số tiết cho mối mục như đã thực ghi trong bản chào; phần ghi chú tiếng Anh là do Đại Học ABC thực ghi trong bản chào, dù chẳng biết tại sao phải ghi chú như thế):

 TrinhDo1TrinhDo2

Khi người của Công ty XYZ đến đưa tác giả bài viết này xem bản Outline kỳ dị đó do các giáo sư của Đại học ABC biên soạn, và đề nghị tác giả bài viết gởi một bản chào khác cung cấp chương trình đào tạo cho cùng chủ đề, tác giả đã ngay lập tức cho họ các nhận xét sau:

a- Hình thức bản chào không chuyên nghiệp do hỗn độn vì không có mục lục, không đánh số thứ tự mà chỉ gạch đầu dòng mỗi khi sang hàng cho mỗi mục nội dung, thậm chí sử dụng dấu chấm cho mỗi tiểu mục.

b- Nội dung trên của Đại Học ABC không phù hợp vì lồng ghép nội dung “tư vấn” (như: cải tiến dịch vụ Công ty XYZ) trong khi tư vấn thuộc dịch vụ khác, có tính phí riêng (thí dụ công ty nào đó về quản lý chất lượng sẽ tư vấn ISO theo phí của công ty ấy, còn công ty nào đó chuyên tư vấn cải tiến dịch vụ nhằm phát triển kinh doanh sẽ thu theo giá sàn của họ), không thể cung ứng miễn phí kiểu “cấy ghép” vào chương trình đào tạo nhưng lại qua phần học viên nêu phương hướng cải tiến, nghĩa là chính học viên “tư vấn” còn người giảng sẽ “tư vấn” xem “tư vấn” nào của học viên là khả thi một cách đầy hí hước.

c- Dàn bài phân bổ thời gian cố định bao nhiêu phút cho mỗi tiết và bao nhiêu tiết cho mỗi mục nên chẳng khác gì giáo án bậc tiểu-trung học.

Sau đó một tuần, tác giả bài viết này đã gởi bản chào chi tiết có nội dung sau đối với dàn bài:

Nguyên văn dàn bài trong bản chào của tác giả bài viết này cho Chuyên Đề: Quản Trị Quy Trình Chuyên Nghiệp Và Hiệu Quả

 TrinhDo3

Thí dụ trên cho thấy trong thực tế xã hội ở Việt Nam đang tồn tại hai vấn đề nghiêm trọng của (a) thực lực thực chất về trình độ một người có học vị cao lẽ ra phải quen thuộc với các yêu cầu dứt khoát phải có về mặt hình thức của một luận án hàn lâm thì lại dường như chẳng biết gì cả nên không những trong bản chào trên mà còn trong các thông báo nội bộ tại các đại học luôn có cách dùng dấu gạch đầu dòng và dấu chấm cho mỗi mục được nêu; và (b) thực lực thực chất về trình độ một người có học vị cao lại ít khi chứa bất kỳ một nội hàm nào rằng người ấy có kinh nghiệm thực tế cho dù bằng cấp có thể do trường đại học uy tín của nước ngoài cấp phát. Dựa theo nội dung các giải thích trong thư gởi Thủ tướng, học vị vừa cho biết mục đích của người học tiến sĩ là nghiên cứu để phục vụ các chuỗi nghiên cứu khác tiếp theo, dài lâu, vô hạn; vừa khẳng định học vị được cấp dựa trên kết quả của một công trình duy nhất nghiên cứu sâu một đề tài nhỏ cụ thể của một tổng thể, do đó tiến sĩ không thể là người chấm dứt sự nghiên cứu sau khi nắm trong tay văn bằng để rồi chỉ làm quản lý trường đại học và/hoặc chỉ dạy học, đồng thời không thể là người được tự động mặc định có hiểu biết về thực tế thực hành. Một giáo sư đại học là thạc sĩ quản trị kinh doanh hay tiến sĩ quản trị kinh doanh hoàn toàn không thể có hiểu biết và kinh nghiệm thực tế quản trị doanh nghiệp – nhất là quản trị cấp cao – nếu chưa từng làm lãnh đạo phòng ban hay cơ quan doanh nghiệp nên khó thể giảng dạy hiệu quả về các case study nước ngoài trên tương quan so sánh với sự việc cụ thể ở Việt Nam mà chính mình đã từng kinh qua vai trò CEO hay giám đốc hoặc quản lý cấp cao thật sự, hay giải đáp các câu hỏi của sinh viên về các vấn đề gặp phải trong kinh doanh hay đối với con người tức nhân sự ở doanh nghiệp cùng các đề xuất xử lý tình huống, thậm chí không thể hướng dẫn sinh viên trước và trong các kỳ thực tập mà sinh viên sẽ phải trải qua tại các doanh nghiệp, v.v. Điều mà các trường đại học ở Việt Nam nên đẩy mạnh áp dụng là phải luôn mời giảng viên từ những người có kinh nghiệm thực tế bất kể người ấy có học vị hoặc chẳng có học vị nào cả. Nếu sai lầm mãi mặc định rằng tất cả phải do giáo sư cơ hữu giảng dạy, rằng tiến sĩ đương nhiên phải biết tất cả, rằng tiến sĩ đương nhiên phải ở trình độ cao nhất nên đương nhiên biết tất tần tật về thực tế thực hành và có thể giải đáp mọi chất vấn của sinh viên, v.v., thì hậu quả sẽ luôn là sinh viên tốt nghiệp với hai cái không: (a) không xem trọng trình độ “thầy/cô” từ đó chẳng bao giờ “mang ơn thầy/cô” ngay sau khi tốt nghiệp, và (b) không đạt yêu cầu về “kinh nghiệm” từ đó mãi thở than không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp nước ngoài.

Ngày nào chữ “kinh nghiệm” từ thực tế làm việc của bản thân (first-hand knowledge) không được yêu cầu phải có nơi thầy/cô thạc sĩ/tiến sĩ lên lớp vốn chỉ truyền thụ cái “kinh nghiệm thực tế của người khác ở nước khác” (second-hand knowledge) như sẵn in trong sách vở nước ngoài hay sẵn cung cấp bởi “Quý Ông” Google, nhưng việc mời đội ngũ giảng dạy phi-cơ-hữu phi-học-vị từ thực tế công việc lại không hề được quan tâm thì sinh viên tốt nghiệp vẫn mãi là “tay mơ” khó thể kiếm được việc làm, dễ trở thành gánh nặng ngay cả đối với chính sách xã hội của quốc gia.

Việc truyền thụ kinh nghiệm thực tế đối với kinh doanh và quản trị kinh doanh cùng quản trị doanh nghiệp, v.v., không thể được thực hiện duy chỉ bởi các thầy/cô thạc sĩ/tiến sĩ cơ hữu trong các trường đại học vì các vị này đương nhiên thiếu kinh nghiệm thực tế đối với kinh doanh và quản trị kinh doanh cùng quản trị doanh nghiệp vốn chỉ có nơi người có thực tế làm các việc đó.

Tổng công ty XYZ là một pháp nhân với những điều kiện và môi trường cụ thể, phức tạp, đầy tính cạnh tranh cao, dưới sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia, công ước quốc tế, tình hình thế giới, vấn đề nội địa, kiến trúc thượng tầng vĩ mô hoặc vi mô, chuỗi các tranh chấp, phá sản doanh nghiệp, phát triển kinh doanh trong trì trệ kinh tế nói chung, v.v. và v.v. Ngần ấy thứ hoàn toàn nằm ngoài những gì mà một văn bằng thạc sĩ hay tiến sĩ có thể đảm bảo có được nơi sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của người sở hữu văn bằng. Và do đó, các công ty như XYZ sẽ nhận được những bản chào chương trình đào tạo yếu kém kỳ lạ như của trường đại học ABC đơn giản vì đó là yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp chứ không nằm trong danh mục những đề tài được giảng dạy chính thức ở trường đại học; và khi không có sẵn tài liệu giáo trình đúc rút từ kinh nghiệm thực tế thực tiễn thực chất và thực sự thì sự sáng tạo sẽ chỉ đưa đến những kết quả nhảy múa thăng hoa đầy vui vẻ với bao hậu quả và hậu hoạn mà thôi.

Tất nhiên, không phải tất cả các thạc sĩ/tiến sĩ đều được đánh đồng như nhau, phải đáp ứng các yêu cầu như nhau như kể trên đối với thạc sĩ/tiến sĩ quản trị kinh doanh, vì còn tùy thuộc vào chuyên ngành của vị thạc sĩ/tiến sĩ đó.

Tiến sĩ thiên văn, tiến sĩ vật lý, tiến sĩ hóa học, tiến sĩ cổ sinh vật học, v.v., của Việt Nam chỉ cần một điều tiên quyết chứng tỏ mình thực sự là tiến sĩ: có các công trình nghiên cứu sáng tạo đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài một cách thường xuyên hoặc có những công trình nổi bật thế giới phải biết đến trước khi ngưng nghiên cứu để làm viện trưởng các viện, nếu không thì chắc chắn chỉ là tiến sĩ giấy.

Thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam đang dạy Anh Văn tại các trường đại học ở Việt Nam chỉ cần một điều tiên quyết: tạo trang blog cá nhân để viết bài bằng tiếng Anh, nếu không chắc chắn chỉ là thạc sĩ/tiến sĩ giấy mà sinh viên không bao giờ nể trọng. Cần nhớ rằng kể cả khi có tham gia dịch sách hoặc tự điển, hoặc viết sách văn phạm tiếng Anh thì cũng không được tính đến như trình độ thạc sĩ/tiến sĩ do sách vở văn phạm thì thừa mứa ngập tràn trên thế giới mà người soạn chỉ đơn thuần lập lại chứ không có gì mang tính sáng tạo, còn dịch thuật là công việc mà không bao giờ có ai phải miệt mài đi lấy bằng tiến sĩ để được hành nghề dịch thuật cả, nhất là dịch thuật không cho phép sáng tạo nội dung.

Nếu ở cơ quan bạn có mấy vị Em-Bi-Ê tức MBA tức thạc sĩ quản trị kinh doanh giữ chức trưởng phòng trở lên mà chẳng viết gì cho bản tin, tập san của cơ quan, hay trên blog cá nhân của người đó, thì tôi bảo đảm với bạn một điều chắc chắn là người ấy là chuyên gia copy bài và hưởng điểm của người khác do tất cả các chương trình Em-Bi-Ê (kể cả MIB tức thạc sĩ kinh doanh quốc tế) đều theo cung cách học nhóm, thảo luận nhóm, một người thuyết trình lấy điểm cho cả nhóm, và một người viết tiểu luận lấy điểm cho cả nhóm, tất nhiên trên nền lý thuyết mặc định không cần nhà trường giám sát kiểm tra: đã là bài thuyết trình thì ắt là công trình tập thể nhóm, đã là tiểu luận thì ắt là công sức đóng góp chung của cả nhóm.

Đã thực sự theo đuổi miệt mài thật sự cho một đẳng cấp thạc sĩ/tiến sĩ thật sự, người thực sự sẽ bị mê hoặc hoàn toàn bởi tiến trình nghiên cứu và viết lách đến độ nghiên cứu và viết lách trở thành thói quen, hơi thở, sẽ không bao giờ thực sự rời xa người thực sự ấy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

Có một thực tế kỳ lạ ở các trường đại học và ngay cả các cơ quan làm luật của Quốc hội cũng như các cơ quan Chinh phủ là đã có cách đánh số thứ tự rất kỳ lạ, phản khoa học, trong các giáo trình, công văn, thông báo, v.v., chẳng hạn như (a) dùng dấu gạch ngang, dấu chấm, và dấu hoa thị, thay vì dùng các ký ‎hiệu chữ cái in như A B C, chữ cái thường như a b c, số La Mã in như I II III IV, số La Mã thường như i ii iii iv, số đếm như 1 2 3 4, v.v.; (b) khóa luận và văn bản pháp quy tiếng Việt lại không dùng mẫu tự tiếng Anh cho phù hợp cho tham khảo quốc tế lại sử dụng mẫu tự tiếng Việt làm k‎ý hiệu đánh số thứ tự như a b c d đ e nhưng không rõ vì sao lại loại bỏ ă â ê ô ơ ư và cũng không cần biết khi chuyển ngữ sang tiếng Anh thì đ sẽ biến thành gì; và (c) các đại học không quan tâm đến chuẩn mực reference tức thư mục tham khảo ở cuối mỗi công trình nên sinh viên Việt Nam trong luận văn tốt nghiệp vẫn theo kiểu kỳ lạ là viết các chức danh và chức vụ của các vị “tiến sĩ” Việt Nam nào có “công trình” mà sinh viên trích dẫn từ đó, tức kiểu cách không thể giúp sinh viên tốt nghiệp cử nhân có thể học thạc sĩ nước ngoài mà không phải được dạy lại về reference toàn thế giới hàn lâm nghĩa đã, đang, và luôn áp dụng là chỉ ghi tên họ của tác giả mà mình có sử dụng các trích dẫn. (Người viết bài này đã viết thư phản ảnh nội dung nêu trên đến Chủ tịch Quốc hội năm 2012, đề nghị xem lại cách đánh số thứ tự trong tất cả các đạo luật và văn bản pháp quy do Quốc hội soạn thảo và ban hành).

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 20-8-2014. Thư Gởi Thủ Tướng

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.