Gạo Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-01-2016

 HHP_FBNC

Là người thực hiện thành công chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam (tức nước nhập khẩu có mở tín dụng thư có bảo lãnh quốc tế, có điều tàu vào nhận hàng, giám định chất lượng xuất khẩu VINACONTROL, có hoàn tất tất cả các yêu cầu về hầm hàng, kiểm kiện, phun trùng, v.v.), tôi tích cực tham dự các hội nghị quốc tế về gạo với khát vọng góp phần biến gạo thành thương hiệu quốc gia như trong bài viết Đề xuất thêm một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam: Việt Nam, Vựa Lúa Của Thế Giới đăng trên Emotino. Tuy nhiên, khi nhận thấy các lãnh đạo ngành gạo chỉ lo tập trung mỗi hai việc là (a) khẳng định Việt Nam sau 1975 đã xuất khẩu gạo trước khi Ông Hoàng Hữu Phước xuất khẩu gạo năm 1989, và (b) ý kiến của Ông Hoàng Hữu Phước về Việt Nam nên khẩn trương đầu tư hệ thống silo là viễn vông vì Việt Nam có thiếu gì gạo mà phải lo, tôi cảm thấy tức giận và giận dữ nên nhiều năm nay không đoái hoài đến việc có mặt tại các hội nghị ấy. Tức giận vì họ là chức sắc được chính phủ ban cho ghế lãnh đạo ngành gạo mà không phân biệt được chuyện chở gạo ra khỏi Việt Nam sang cứu trợ Cuba hay Triều Tiên hoàn toàn không phải xuất khẩu có giá trị thương mại tức theo sự ràng buộc hợp đồng giữa bên bán và bên mua có kèm các điều khoản phạt và bồi thường, lại phí thời gian chỉ để tước lấy từ tôi cái danh “người đầu tiên xuất khẩu gạo” luôn thuộc về tôi. Giận dữ vì không ai trong các chức sắc chính phủ ấy có tầm nhìn đủ xa để thấy được silo sẽ làm tăng giá trị hạt gạo chứ không phải các chiến lược do các vị ấy đề ra nhảm nhí như về cái gọi là gạo phải xây dựng thương hiệu, chất lượng gạo phải cao, cũng như không thấy được rằng sẽ có lúc Việt Nam sẽ thiếu gạo và các silo mới là hệ thống chiến lược đảm bảo nuôi sống quốc dân. Cách nay vài tháng, một vị chức sắc ngành gạo lại được tivi phỏng vấn và cũng vẫn các lãi nhãi vô dụng được lập lại trước sự tồn tại miên viễn của vấn đề cái nghèo của nông dân Việt Nam và cái giá rẻ của hạt gạo Việt Nam. Chưa kể, ngày nay Việt Nam không những phải gánh chịu hậu quả của sự ấm lên toàn cầu làm nước biển dâng cao khiến sẽ mất đi phần lớn vùng lúa gạo đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, mà còn của các đập thủy điện liên hoàn trên toàn hệ thống sông Mekong triệt tiêu hoàn toàn sự bồi đắp phù sa khiến kiệt quệ độ màu mỡ của đất đai. Điều này làm tôi nhớ lại buổi phỏng vấn tôi của Đài FBNC đầu năm 2011 nghĩa là sau vài năm bỏ hẵn các hội nghị về gạo, tôi vẫn được phóng viên tìm gặp để hỏi han về các nhận định của tôi đối với gạo Việt Nam trước các thử thách mới, mà các nội dung trả lời của tôi năm xưa ắt vẫn còn nóng hổi; song biết làm thế nào được khi người phụ trách chiến lược về gạo chẳng phải là người có kinh nghiệm về xuất khẩu gạo và tầm nhìn chiến lược, mà người lẽ ra đã có thể làm nên đại sự vì đại cuộc gạo của Việt Nam chỉ còn biết đăng lại nội dung sau để cùng chiêm nghiệm:

*********

Xuân Tân Mão 2011 Trả Lời Phỏng Vấn Đài FBNC

FBNC:  Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu gần 6,8 triệu tấn gạo, liên tiếp lập kỷ lục 2 năm liền. Tuy nhiên, giá xuất khẩu gạo lại không bằng năm 2009. Theo ông, nguyên nhân vì sao?

ThS Hoàng Hữu Phước: Nói về tổng sản lượng gạo năm 2010 thì trên thế giới thu hoạch được 452,4 triệu tấn gạo, trong đó Việt Nam đứng hàng thứ 5 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và trên Thái Lan – với Trung Quốc 140 triệu tấn, Việt Nam 25 triệu tấn, Thái Lan 20,5 triệu tấn, và M‎ỹ 7,5 triệu tấn hạng 11. Điều cần ghi nhận là hầu như năm sau sản lượng gạo thu hoạch ở các nước luôn cao hơn năm trước.

Nếu lấy giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan làm chuẩn – do Thái Lan là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới và gạo có chất lượng cao – thì chúng ta sẽ thấy giá xuất khẩu gạo FOB/tấn của họ cũng lên xuống thất thường, thí dụ như tháng 3/1981 là USD505, tháng 4/2001 chỉ có USD162.1 và tháng 5/2006 là USD301.26.

Còn theo dõi số liệu hàng tháng của 3 năm 2008, 2009, và 2010 của gạo Thái 5% tấm, chúng ta sẽ thấy biến động giá cao nhất vào hai tháng 4 và 5 của năm 2008 khi giá trên USD1000 tác động đến giá cao của các tháng còn lại của năm 2008 như USD722, USD737, USD799, và USD834, thì trong toàn bộ 12 tháng của năm 2009 giá cao nhất chỉ là USD634 trong tháng 2. Tương tự, giá bán mỗi tháng của năm 2010 thấp hơn của năm 2009, với mức cao nhất là USD598 của tháng 1.

Như vậy, có thể nói giá gạo Thái dần trở lại mức độ cao bình thường và hợp l‎ý sau thời gian khủng hoảng giá lương thực toàn cầu 2008, chứ không thể nói gạo họ mất giá trong năm 2010. Nếu trong tháng 5/2008 giá gạo 5% tấm của Việt Nam là USD1,000 so với USD1,015.21 của Thái Lan, thì đó không là mốc để nói hiện gạo Việt Nam mất giá. Khi giá gạo Thái trong tình hình trở lại bình thường như vậy, ảnh hưởng đến giá gạo Việt Nam sẽ là điều đương nhiên. Cuối qu‎ý III năm 2010 thiên tai tại các nước như Pakistan, Trung Quốc, Philippines, Úc, Nga, và một số nước khác, gây thất mùa khiến tăng nguy cơ thiếu lương thực dẫn đến sự tăng nhu cầu về dự trữ gạo và tăng giá gạo, nhưng cũng không thể tăng đến mức kỳ khủng hoảng 2008.

Nói theo chiều hướng tích cực thì khi nói về giá gạo, chúng ta không theo hướng biến thiên lên mà theo quy luật thị trường, do đó, hai điều mang tính thực tiễn là nhu cầu về gạo đã và sẽ tăng và giá gạo xuất khẩu của ta đã tốt tính trong thời điểm đã và sẽ xuất. Vấn đề duy nhất quan ngại là vì sao giá xuất của chúng ta không thể tốt hơn nữa so với giá của gạo Thái, thí dụ cùng vào thời điểm tháng 1 năm 2010, giá gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức USD440 – USD445 trong khi gạo Thái là USD598 tức chênh nhau mỗi tấn thường là đến USD160.

 

FBNC:   Giá gạo Việt Nam nhiều năm liền vẫn thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan, đôi khi không đủ bù chi phí, nông dân vẫn nghèo. Theo ông, nguyên nhân cốt lõi của vấn đề này là gì?

ThS Hoàng Hữu Phước: Thật ra có những thời điểm trong năm 2010 giá gạo Việt Nam bằng với gạo đồng cấp của Thái Lan, nhưng vấn nạn ở đây là trường hợp ấy là không thường xuyên. Gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn có giá thấp hơn hẳn khiến nông dân Việt Nam rất khó thoát nghèo, do năm lý do sau:

Tính chất cá thể trong sản xuất: chất lượng gạo Việt Nam không đồng đều do nông dân Việt Nam làm ăn cá thể mạnh ai nấy làm, cho nên những cánh đồng liền kề nhau lại trồng nhiều giống lúa khác nhau và hay được tư thương gộp chung vào nhau. Có người nói chất lượng gạo 5% tấm của Việt Nam ngang ngửa với gạo đồng cấp của Thái Lan. Tôi không cho đó là nhận xét nghiêm túc vì mang đầy tính định kiến dân tộc chủ nghĩa.

Vấn đề giá trị hạt gạo: Gạo thơm của Việt Nam không thể có giá cao do không có đặc tính gì nổi trội so với 9 loại gạo thơm hàng đầu thế giới như gạo thơm Arbino của Ý; bốn loại gạo thơm California, Della, Texamati, và Louisiana Pecan của Mỹ; gạo thơm Basmati của Ấn Độ; gạo thơm Jasmine của Thái Lan; và hai loại gạo thơm của Nhật là Mochi Sushi. Đã vậy, gạo thơm Việt Nam rất dễ mất hương thơm. Nghĩa là ngoài sự phó mặc cho sự phát triển các giống lúa gọi là “đặc sản” của mỗi địa phương, đã không có chiến lược phát triển cấp vĩ mô nào cho thương hiệu gạo Việt Nam, khiến gạo Việt Nam và ngay cả “gạo thơm” của Việt Nam vẫn dường như bị đồng nghĩa với gạo bình dân cho người không có thu nhập cao, hoặc phục vụ cứu trợ hay cứu đói.

Vấn nạn bảo quản sau thu hoạch: Từ vấn đề tăng giá trị hạt gạo, chúng ta thấy dẫn đến yêu cầu cao của bảo quản sau thu hoạch. Đã rất nhiều năm qua nhiều quan chức Việt Nam vẫn không cho việc xây dựng các chuỗi silo liên hoàn là việc cần làm, với lý do Việt Nam không thể thiếu gạo, vô hình trung đã tầm thường hóa vai trò tứ diện cực kỳ quan trọng của silo như (a) bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, (b) bảo quản hiệu quả lương thực sau thu hoạch, gia tăng chất lượng hàng hóa, gia tăng giá trị hạt gạo, và gia tăng uy tín thương hiệu gạo Việt Nam, (c) phát triển Tam Nông khi chủ động thu mua gạo của nông dân, không để nông dân vì không có phương tiện kho trữ mà bán tháo bán đổ cho thương lái, và (d) khống chế, kiểm soát lượng xuất để có giá bán cao nhất có thể được ra thị trường nước ngoài.

Một vấn nạn liên quan đến silo là những cơ quan có trách nhiệm ở Việt Nam vẫn đơn giản nghĩ rằng silo là nhà kho, trong khi silo gồm một hệ thống hiện đại có thể giúp giảm thất thu sau thu hoạch đến trên 3% nghĩa là chỉ riêng phần tránh thất thoát đã là hàng trăm triệu USD mỗi niên vụ gạo, chưa kể còn duy trì chất lượng gạo để giá bán tốt hơn. Còn “nhà kho” chỉ có thể giảm thất thoát số lượng từ 1 đến 2% chứ hoàn toàn không bảo đảm được chất lượng gạo trữ.

Tác động của chiến lược quốc gia: Thái Lan luôn có lượng tồn kho gạo khổng lồ vì chính phủ Thái Lan muốn kềm giữ giá gạo ở mức cao nhất có thể được. Nông dân Việt Nam bán ngay cho thương lái do họ gần như là những người mua sẵn sàng mua, so với các doanh nghiệp nhà nước phải có mệnh lệnh từ chính phủ và phải có được ngân hàng cho vay vốn ưu đãi mới tổ chức mua trữ của nông dân.

Tư lợi cục bộ: điển hình là việc thành lập liên doanh xuất khẩu gạo với Cambodia để xuất khẩu gạo giá rẻ của Cambodia vào Việt Nam.

 

FBNC:  Theo lộ trình WTO, năm nay Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia xuất khẩu trực tiếp. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế và khó khăn gì trong trường hợp này?

ThS Hoàng Hữu Phước: Tôi nghĩ Nghị Định 109 của Chính Phủ về tổ chức kinh doanh xuất khẩu gạo có hiệu lực từ năm 2011 là điều tuyệt vời lẽ ra đã nên được ban hành từ nhiều năm trước như quy định doanh nghiệp phải có kho chứa tối thiểu 5000 tấn gạo, có thiết bị xay xát công suất tối thiểu 10 tấn/giờ, và có trữ lượng gạo tương đương 10% tổng số lượng gạo đã xuất trong 6 tháng trước đó để đáp ứng hoạt động xuất gạo tiếp theo, v.v., để không vướng phải tất cả những vấn đề và vấn nạn tôi đã vừa nêu, và nếu vậy thì vào thời điểm thực thi các cam kết WTO về mở cửa thị trường xuất khẩu gạo như hiện nay thì chúng ta lẽ ra đã có các doanh nghiệp tầm cỡ để kinh doanh xuất nhập khẩu gạo ngang sức với các doanh nghiệp nước ngoài. Do trễ nên tất nhiên các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo sẽ có các bất lợi về vốn tiền có thể không đủ mạnh để đầu tư vào hệ thống silo / kho chứa và trang thiết bị, còn vốn thời gian thì không khác các doanh nghiệp nước ngoài vì tất cả đều ở vạch xuất phát đối với yêu cầu silo/kho chứa và trang thiết bị.

Nhưng các quan chức cũng đã nêu nhiều về những thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo khi Việt Nam mở cửa thị trường xuất khẩu gạo. Theo tôi, bất kỳ ai, dù là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài, xuất khẩu được nhiều gạo Việt Nam với giá tốt nhất cũng là làm lợi cho Việt Nam, làm giàu cho Việt Nam, có đóng thuế cho Việt Nam, nên tôi xin công bằng mà lái câu hỏi của Cô sang một đối tượng khác, đó là nông dân, những người đã luôn chịu thiệt thòi ngay từ khi Việt Nam xuất khẩu lô gạo đầu tiên có giá trị thương mại cách nay 22 năm, để xem với việc mở cửa thị trường xuất khẩu gạo này họ sẽ có thuận lợi gì và khó khăn gì.

Tôi nghĩ người nông dân chỉ có lợi mà không có khó khăn nào phải đương đầu cả, vì rằng do các doanh nghiệp phải có lượng trữ theo quy định, người nông dân có thể bán gạo tốt hơn với giá tốt hơn theo sự lựa chọn tốt hơn của họ, thậm chí họ còn có thể nhận các khoản tạm ứng từ các doanh nghiệp muốn tạo thế cạnh tranh về nguồn cung ứng gạo; và thậm chí yêu cầu gắt gao của doanh nghiệp xuất khẩu – nhất là của nước ngoài – đối với quy trình canh tác, bón phân, thu hoạch, v.v. cũng là điều hoàn toàn có lợi cho người nông dân chân chính vì giúp họ vừa nhận thức được giá trị hạt gạo thương mại vừa có được kỹ năng quản lý canh tác nông nghiệp chuyên nghiệp có thể giúp họ nhanh chóng trở thành các nông chủ, tiền đề cho tầng lớp phú nông quyết định sự thành công của sự nghiệp phát triển Tam Nông.

*******HHP Rice Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.