Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Tam Nhin1

Tầm nhìn là thứ luôn có nơi mỗi người. Vấn đề là nhìn vào gì hay vào những gì và thấy gì hay thấy những gì trong vô số những gì; nhìn đến đâu: ở gần, ở xa, ở rất xa, ở đường chân trời, ở phía sau đường chân trời; nhìn phía nào của trên dưới trái phải; và quan trọng nhất là bản thân người nhìn có thiên hướng như thế nào sau khi nhìn và thấy, đồng thời có diễn giải được bằng ngôn ngữ để phổ biến cái đã nhìn đã thấy được ấy cũng như luôn kèm theo đó là những đánh giá, những phê phán, những phân tích, những tổng hợp, những đề nghị, và các đề xuất hay không. Chính những khác biệt này mà cái gọi là tầm nhìn của một người mới được xem là sự thấu thị mang tính tiên tri chiêm nghiệm – gọi tắt là tiên tri thấu thị mà tiếng Anh gọi người có khả năng như thế là man of vision – hay chỉ là khả năng cơ học của đôi mắt chưa đến lúc phải đeo kính cận, kính viễn, kính loạn, hay kính lão, có gọng vàng, gọng nhựa, gọng dây thun, hay loại áp tròng.

Thủa ấu thơ tôi rất kính nể các cụ chơi cờ tướng vì tầm nhìn của các cụ đối với các nước cờ mà đối thủ sẽ đi sau tối thiểu dăm ba nước đi, thậm chí chính các cụ đã biến thành ngữ “thí chốt” trở thành lạc hậu khi các cụ thí cả xe – pháo – mã để bảo vệ các quân chốt đang lừ đừ từ đồ dần dà tiến bước vây hãm tướng soái của đối phương. Tôi vốn người minh bạch, nên sau thời gian dài từ lúc chưa có cái gọi là vi tính viễn thông cho đến ngày nay đã làm gì khi nhìn thấy gì, muốn ghi lại dăm ba nội dung nào mà tôi còn nhớ được, vừa để sẻ chia với mọi người về cái tầm nhìn của mình, vừa để mong có ngày sẽ được vài người rộng lượng nhìn nhận đó là tầm nhìn, để tôi tự an ủi rằng ít ra mình xứng đáng với vai trò một nghị sĩ trong một nhiệm kỳ qua, do nghị viện chính trường là nơi chỉ dành riêng cho những người luôn có tầm nhìn. Không có tầm nhìn thì chỉ đơn giản là người lạc lối chốn bàn đào, không đủ lực đứng ra tham gia lo chuyện quốc gia đại sự, quốc kế đại minh, vì quốc dân đại phát trong quốc tế đại hỗn mang.

A- Tầm Nhìn Học Thuật

1- Đế chế Kinh Tài Chindia

Còn khi thế giới học thuật hàn lâm bắt đầu nói về toàn cầu hóa và hí hửng đem thuật ngữ “Chindia” vào chương trình thạc sĩ kinh doanh quốc tế để nói về sự hình thành một đại siêu cường kinh tài của tương lai gồm sự cộng sinh tương hổ của hai thị trường khổng lồ của China – công xưởng của thế giới – và Ấn Độ – văn phòng của thế giới – sẽ thống trị toàn cầu, thì tôi đã tận dụng tính tự do trong nghiên cứu hàn lâm để một mặt viết khóa luận cho Đại Học Curtin (Australia), một mặt viết trên Yahoo!3600 một bài tiếng Anh mang tựa đề “People Say Chindia. I Say Vietnam” với nội dung rằng thật là sai lầm hoang tưởng bậy xằng khi đánh bóng về Chindia do không bao giờ có sự hình thành của cái gọi là Chindia ấy. Tôi đã phân tích về thế mạnh của Ấn Độ. Tôi đã phân tích về thế mạnh của Tàu. Tôi đã phân tích vì sao sẽ là sự kém khôn ngoan khi đầu tư vào Ấn Độ chỉ vì Chindia. Tôi đã phân tích vì sao sẽ là sự tự sát nếu đầu tư vào Tàu chỉ vì Chindia. Tôi đã phân tích vì sao không bao giờ có Chindia. Kết luận của bài viết ấy là: một nhà tư bản nếu thật sự khôn ngoan sẽ chọn Việt Nam làm nơi đổ tiền vào thay vì vào Ấn Độ và Trung Quốc bởi vì cái hình ảnh hào nhoáng từ cái tên Chindia vớ vẩn ấy. Thế rồi quả nhiên Chindia biến mất một cách nhục nhã khỏi diễn đàn hàn lâm. Thế rồi quả nhiên các đại gia sau khi đã đổ xô đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ở Trung Quốc dẫn đến việc biết bao bí mật phát minh kỹ thuật bị ăn cắp, công ty bị đập phá đốt phá tan tành bởi những đám đông người Tàu xuống đường biểu thị lòng “yêu nước, chống xâm lược” mỗi khi có căng thẳng ở Biển Hoa Đông rốt cuộc cũng phải bỏ chạy khỏi Trung Quốc và dời nhà máy sang Việt Nam. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về số phận Chindia!

 TamNhin

2- Phát kiến BoP

Án binh bất động là căn bệnh trầm kha của giới thức giả Việt Nam, còn dệt thêu là căn bệnh kinh niên của giới thức giả Âu Mỹ. Cũng vì vậy, Việt Nam chớ có công trình nghiên cứu nào làm thế giới phải ghi danh, còn Âu Mỹ mới có vô số công trình tầm cỡ Nobel cùng lắm tác phẩm cưc kỳ vớ vẩn. Một trong những cái vớ vẩn đó là việc rặn ra cái gọi là BoP (Bottom of the Pyramid – đáy kim tự tháp – ví von nơi có đông dân nghèo nhất ) xem như phát kiến vĩ đại về một nơi mà giới tư bản có thể đổ quân đến thu hốt lợi nhuận cao nhờ bán cho số đông (đơn giản: cứ mỗi 1 tỷ người nghèo thì chỉ cần moi của mỗi người 1 USD thôi là sẽ có ngay 1 tỷ USD), cho đến khi tôi phản bác trong bài tiểu luận ở Đại Học Curtin rằng nào có hay ho gì việc đại gia tư bản chen chân vào vừa vơ vét tiền xu của người cùng khổ vừa lấy thịt đè người tiêu diệt luôn ngành tiểu thủ công nghiệp ở nước sở tại chẳng hạn như công ty đại gia tư bản thế giới rao ra rả trên tivi Ấn bán cà-rem giá rẻ mạt cho trẻ em cùng khổ rồi trên tivi Việt quảng cáo gói bột giặt hay dầu gội đầu nhỏ xíu giá rẻ mạt hai trăm đồng. Rốt cuộc, đại gia tư bản tuy vẫn cứ tiếp tục moi móc từng xu lẻ của dân nghèo các nước nhưng câm miệng lại không dám tung hê BoP như nền tảng hàn lâm cho sự lấn chiếm tổng lục của họ nữa khiến BoP lặng lẽ biến mất khỏi tháp ngà hàn lâm. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về số phận hèn hạ của BoP!

B- Tầm Nhìn Kinh Tế

1- Hàng Trung Quốc

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không được mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ so với văn phòng phẩm Nhật Bản mà tôi đã quen dùng từ trước 1975, và khẳng định với các nhân viên thuộc quyền rằng chất lượng hàng Trung Quốc sẽ tồi tệ hơn theo năm tháng. Mà quả thật, ngày nay hàng Trung Quốc toàn là thứ vất đi, độc hại, rẻ mạt, ngay cả việc xây dựng kỹ thuật hiện đại hơn như đường sắt cao tốc trên cao ở Hà Nội do Trung Quốc xây dựng cũng là một thứ đường sét thấp tốc với thời gian xây dựng cực kỳ cao. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về nơi đến của hàng hóa cùng dịch vụ Tàu, từ miếng dán sticker khiến trẻ em gái Việt Nam lao vọt như tên bắn đến tuổi dậy thì, cho đến hàng không mẫu hạm của lĩnh vực quốc phòng, v.v. Nơi đến là các thùng rác.

2- Slogan cho Việt Nam

Như đã đăng lại trong bài Chí Phèo mới đây trên blog này, tôi có nói về chuyện tôi khai phát pháo đầu tiên về khẩu hiệu của Việt Nam ngày 10-9-2008 trên báo Sài Gòn Tiếp Thị phê phán chê bai cái slogan kém cỏi vô lý “Sử Dụng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước”, đồng thời đề xuất 3 khẩu hiệu mới để thay thế, trong đó có khẩu hiệu “Người Việt Nam Ưu Tiên Sử Dụng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam”. Ở Việt Nam sau đó xuất hiện khẩu hiệu này, chỉ thiếu có chữ “Cao Cấp”, biến thành hướng kêu gọi của Đảng và Chính Phủ hơn nửa thập niên nay – tất nhiên chưa hề có ai nói chuyện với tôi về … tác quyền vốn là điều quan trọng thuộc sở hữu trí tuệ mà các định chế song phương và đa phương thường nêu lên như điều kiện tiên quyết với Việt Nam, ắt tại thiên hạ biết tôi ưa tư vấn miễn phí. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về khẩu hiệu đàng hoàng nên có của Việt Nam.

3- Thương hiệu quốc gia cho Việt Nam

Trong bài viết song ngữ Việt–Anh đăng trên Yahoo!3600 năm 2007 mang tên Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam, tôi đã phê phán cái sai của tất cả các báo khi không ai hiểu nội dung thuyết trình của giáo sư Philip Kotler nên đã tập trung diễn giải sai về cụm từ “Nhà Bếp Của Thế Giới” khiến tràn ngập trên báo chí suốt tháng ca ngợi món Phở, phỏng vấn anh Phở, hí hửng hí ha về chuyện Việt Nam sẽ có thương hiệu Nhà Bếp Của Thế Giới đầy vinh diệu ấy. Tôi phán phê rằng Philip Kotler là nhà chuyên nghiệp nên không bao giờ nói cụ thể tại một buổi thuyết trình công chúng, nghĩa là nếu muốn ông cho ra một thương hiệu quốc gia thì phải ký hợp đồng nhiều triệu USD với ông, rằng Phở thì có ra chi mà chỉ với nó Việt Nam lại dám kỳ vọng sẽ đè bẹp ngay món pizza vĩ đại để có ngay thương hiệu ấy, rằng anh Phở thì biết quái gì về ẩm thực và thương hiệu quốc gia, và rằng không bao giờ cái thương hiệu Nhà Bếp Của Thế Giới thuộc về Việt Nam. Thế mà quả thực đến tận ngày nay sau 10 năm thì chí ít mọi người chứng kiến chuyện anh Phở bán luôn thương hiệu Phở để chấm dứt kinh doanh món Phở nhạt thếch của anh ta, cũng như chuyện Việt Nam đâu có thành cái bếp ăn điên khùng ấy.

Như mọi nhà tư vấn chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi phân tích vì sao không bất kỳ quốc gia nào sở hữu thương hiệu nhà bếp ấy.

Như mọi nhà tư vấn chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi đề xuất ý kiến chiến lược về một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam, gọi là Campus of the World, tức Trường Đại Học Của Thế Giới, với các sách lược mở cửa cấp đất cho các trường đại học danh tiếng nước ngoài vào xây dựng các trường đại học và các làng đại học thay vì xây các sân golf. Nay thì sau một thập niên, mọi người đang chứng kiến việc hết tỉnh này đến tỉnh kia bắt đầu tạo điều kiện cho các trường đại học nước ngoài vào mở trường. Lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ khi tiếp nguyên thủ các cường quốc Âu Mỹ đã luôn có bàn đến các đề án mở các làng đại học ở Việt Nam.

Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn chiến lược xa như thế về một thương hiệu quốc gia đẳng cấp cao, thực tiễn, thực tế, thực dụng, và thực lợi cho Việt Nam!

4- Cà phê Việt Nam

Ngày 22 Tháng 01 Năm 2009 trong bài “Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn” đăng trên Emotino, tôi có viết: …Thay vì tung tiền tung hô “xây” thiên đường cà phê hay “tặng” hàng triệu ly sữa từ tiền lời có được do khai thác “thời cơ” cái khổ ải nghèo bấn của nông dân, họ có thể dùng số tiền ấy biến nông dân thành “người” của họ, hàng tháng có thu nhập cố định, còn nguyên liệu “cống nạp” cho họ theo tỷ lệ và thời giá xuống hay lên, để họ chiếm “thời cơ” thành đại gia thực thụ khi là chủ nhân nguồn nguyên liệu đầy ắp kho lẫm, thống lĩnh thương trường xuất khẩu và sản xuất nội địa, điều tiết giá cả giúp chính phủ ổn định kinh tế, còn họ hưởng lợi hoàn toàn và tuyệt đối khi tung hàng ra thị trường hải ngoại. Giả như một công ty nước ngoài nào đó đột nhiên “tin tưởng tuyệt đối” vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam, thì với tài lực của họ, thử tưởng tượng xem họ thực hiện việc trên để nắm nguồn nguyên liệu cà phê của Việt Nam dễ dàng như thế nào, và đừng nói chi tất cả các đại gia là nhà sản xuất cà phê thành phẩm của Việt Nam mà đến các nhà buôn nước ngoài cũng sẽ mua lại nguyên liệu cà phê Việt Nam từ công ty nước ngoài “nhìn xa trông rộng” ấy…

Tháng 6 Năm 2011 vị đại gia “xây thiên đường” cà phê trả lời phỏng vấn trên VTV nói đại ý rằng chính phủ phải làm gì đấy để trả lại sự công bằng cho doanh nghiệp xuất khẩu vì họ “đầu tư cho nông dân “vay” để rồi công ty nước ngoài vào Việt Nam chẳng “đầu tư” gì hết mà lại tung tiền mua gom hết cà phê trực tiếp của nông dân khiến doanh nghiệp kinh doanh cà phê gặp khó khăn về nguồn hàng phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Cho vay mà gọi là đầu tư! Cho vay thì phải tính lời, và nông dân bán giá cao cho công ty nước ngoài để có dư tiền trả nợ đầu tư nào phải là chuyện sai quấy vì đã trả cả vốn vay lẫn tiền lãi vay sòng phẳng. Và rồi ngày 20 Tháng 7 Năm 2011 một chức sắc ngành cà phê trả lời phỏng vấn trên đài InfoTV nói rằng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lỡ k‎ý hợp đồng giá thấp với khách hàng nước ngoài nên bây giờ để giữ uy tín phải tìm đến các công ty nước ngoài ở Việt Nam để mua lại cà phê với giá cao thực hiện cho bằng được chuyến giao hàng.

Tôi đã từng viết rằng kinh doanh cà phê mà không có tâm với cà phê thì hỏng bét, vì nếu có tâm với cà phê ắt đã không xây thiên đường cà phê hay làm cái tách cà phê khổng lồ cẩu bằng trực thăng để ghi vào Kỹ Lục Guiness rồi đổ bỏ làm chết bao thảm thực vật, mà quan tâm đến những người trồng nên cà phê, chăm lo giúp họ làm giàu từ công sức canh tác của họ – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải chăm sóc cha mẹ của cô gái ấy mới đúng là có cái tâm đúng của đấng nam nhi đoan chính, có giáo dục; rằng kinh doanh cà phê mà không có tầm nhìn dành cho cà phê, vì nếu có tầm nhìn với cà phê ắt đã biết cà phê là thứ hàng quý hiếm để đầu tư xây dựng chuỗi silo làm kho lẫm lưu trữ cà phê trước khi cà phê rơi vào tay người khác – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải biết cô gái ấy hấp dẫn đối với bao người để chăm sóc cô gái ấy thật nhiều để cô gái ấy không hướng về sự chăm sóc đeo bám của chàng trai lịch lãm khác; và rằng mọi sự trên đời đều đơn giản như thế, cái sự đời là thế, và chỉ cần sống theo thế là anh đại gia đã giữ được nàng cà phê đen tuyền kiều diễm mà không phải phát biểu với chính phủ kiểu em bé khóc nhè méc mẹ thế kia.

Vậy là phải mất hai năm sáu tháng tức 910 ngày các đại gia cà phê mới thấy được cái tầm nhìn của tôi; mà đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện đại gia cà phê sẽ mất nguồn cung cà phê và đại gia ấy sẽ chẳng bao giờ xây được cái gọi là thiên đường cà phê trẻ con trẻ nít trẻ người non dạ tức cười ấy.

5- Gạo Việt Nam

Là người thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam năm 1989, tôi cực kỳ quan tâm đến phát triển hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong số những bài viết về gạo đăng trên Emotino, bài “Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam” đăng năm 2010 có nội dung sau:

 Tam Nhin2

đặc biệt có nói đến sự thật thứ nhất là có những trái khoáy được bộc lộ trong quy trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đã hoạch định, khiến gạo Việt Nam lâm vào tình thế lục đầu thọ địch khi (1) nông dân vẫn là mắc xích yếu ớt dễ bị tổn thương nhất trong chuỗi giá trị gạo; (2) đất nông nghiệp dành cho canh tác lúa bị thu hẹp; (3) biến đổi khí hậu và sự dâng cao của nước biển làm ngập mặn diện tích lớn vùng đồng bằng Sông Cửu Long; (4) thiên tai lũ lụt gây thất bát mùa màng; (5) sự non yếu của hiệp hội lúa gạo trong vai trò phân tích sâu sắc, tổng hợp đáng tin cậy, đánh giá chính xác cao về thông tin thị trường gạo thế giới, và tư vấn hiệu quả sách lược giá bán; và (6) lề lối làm việc của các nhà hoạch định chính sách hay những quan chức chỉ giỏi phát biểu về chính sách; còn sự thật thứ hai là khi đề ra cơ sở Tam Nông trong kế hoạch phát triển nông nghiệp nước nhà, không bất kỳ quan chức nào nhận thức được vị trí quan trọng của silo như sợi liên kết vật chất cụ thể cho nền tảng nông dân – nông thôn – nông nghiệp. Và dù đã gắng sức viết tư vấn hết kế sách này đến kế sách khác thì tôi vẫn không tác động được vào guồng máy chiến lược an ninh lương thực quốc gia và phát triển tam nông, khiến nhiều chục năm qua, Việt Nam vẫn không có hệ thống silo bảo quản chất lượng gạo sau thu hoạch, còn gạo Việt Nam thì chất lượng thấp giá bán thấp lại càng phải phập phồng rớt giá do sự non yếu của cái gọi là Hiệp Hội Lúa Gạo. Rất nhiều năm trước, khi tôi lúc tham dự hội nghị lúa gạo quốc tế có đề nghị Việt Nam nên có hệ thống silo hiện đại thì một chức sắc cao cấp của VCCI đã nhắc khéo tôi rằng tôi lo bò trắng răng vì Việt Nam đâu có thiếu gạo bao giờ đâu mà phải phí tiền nhập silo. Và chỉ cần một câu nói như thế của vị chức sắc ấy là tôi đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện gạo Việt Nam vẫn mãi ở thứ hạng chiếu dưới so với Ấn Độ, Thái Lan, v.v., và thậm chí hiện nay nhiều người Việt Nam thi nhau mua gạo Campuchia vì có hương thơm hơn, hương bền hơn, và vị ngon hơn.

 Tam Nhin2a

Ngoài ra, phần kết luận của bài viết trên tôi phê phán cách dùng cụm từ “đi tắt đón đầu” hoàn toàn sai do muốn đi tắt đón đầu phải là cường quốc kinh tài, chứ hành động duy nhất đúng của Việt Nam phải là cụm từ “lao nhanh, bắt kịp, chặn đầu, tạo thế”. Và nhiều năm nay hầu như không ai còn dám buộc miệng nói ra các chữ “đi tắt đón đầu”.

6- Sản xuất và Môi trường

Trong những năm 1980 khi giảng dạy tại các trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh và các trường đại học khác, chỉ với khát vọng học trò của mình ngày sau sẽ giúp Đảng và Nhà Nước hiệu quả hơn, tôi đã luôn thẳng thắn trao đổi với sinh viên về những chủ đề mà thời ấy thuộc lọai nhạy cảm và dễ bị chụp mũ vì “đi trước thời đại”, nói ngược lại chủ trương, chẳng hạn theo tôi: Việt Nam nên ưu tiên dựa vào nông nghiệp để trở thành cường quốc, chứ ngợi ca phát triển công nghiệp nặng chỉ đưa đến hủy phá tàn tạ môi sinh do tâm, tầm, thế của lãnh đạo phát triển công nghiệp hoàn toàn là con số không. Trong thời điểm cơn sốt của chính sách “ưu tiên công nghiệp hóa” dựa vào sự ưu ái mang tính chính trị và lý tưởng học thuật dành cho giai cấp công nhân, đã có công trình xây dựng nhà máy sản xuất máy kéo (tractor) từ vốn vay hay viện trợ của Liên Xô và các nước khối Xã Hội Chủ Nghĩa ở Đông Âu, để rồi xây xong bỏ đó, mang nợ ân tình và tiền nong, xây mà không biết rằng một nhà máy công nghiệp nhất thiết phải hoạt động sản xuất liên tục 24/24 và sản phẩm nhất thiết phải có thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, đặc biệt tổ chức đồng ruông bị cắt nhỏ như ở Việt Nam sẽ không thể sử dụng được tractor. Thêm vào đó, những khẩu hiệu tuy tốt đẹp như “sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu” đã không màng đến cái thực tế phũ phàng của phát trỉển những ngành công nghiệp không-thuộc-thế-mạnh-chuyên-biệt-tiềm-năng-của-nước-nhà. Tôi đã đưa ra dẫn chứng bài học thương đau của Ấn Độ khi nỗ lực thu hút các công ty hóa chất nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, nhưng chưa kịp thành Khu Chế Xuất Của Thế Giới (The SEPZONE of the World) thì đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa kinh hoàng chấn động địa cầu cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, khiến 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và làm hơn nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay còn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống. Số lượng các công ty quốc doanh ở Việt Nam rồi sẽ dần trở thành thiểu số, khiến sẽ có sự chuyển hướng cơ bản và thực chất của lực lượng công nhân sang khu vực tư nhân và tư bản, trong nước hoặc nước ngoài, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của khu vực và toàn cầu của các ngành công nghiệp, khiến người công nhân sẽ đối mặt nhiều hơn và dày hơn với sự chèn ép quyền lợi từ giới chủ, dẫn đến các cuộc đình công hợp pháp xảy ra nhiều hơn, cũng như khiến giai cấp công nhân không còn mang ý nghĩa duy nhất chủ lực trong phát triển kinh tế nước nhà; và trong điều kiện đa số trong các ngành sản xuất công nghiệp tham gia tích cực vào quá trình gia tăng ô nhiễm nghiêm trọng với môi trường sống của cộng đồng, thì sự tập trung đưa nền kinh tế dựa vào phát triển nông nghiệp và nông sản sẽ là một chiến lược khôn ngoan. Và rồi biết bao vụ việc xả thải tàn diệt bao dòng sông, triệt nguồn sống của bao cư dân, gieo rắc mầm bệnh nhãn tiền cho người dân đã được phát hiện, gây nên những chấn động xã hội, khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện môi trường sẽ bị hủy hoại ở Việt Nam.

7- Hợp Tác Bốn Nhà

Ngay khi nghe kế sách quốc gia về “hợp tác bốn nhà giữa Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, và nhà khoa học”, tôi đã viết ngay trên Emotino một bài mang tên “Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm, Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà” để khẳng định rằng kế sách ấy sẽ thất bại vì chỉ có hai nhà là Nhà nước và nhà nông mới là động lực duy nhất của phát triển tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân). Tôi đã lập luận và đưa ra dẫn chứng với số liệu và chi tiết của các cường quốc Âu Mỹ –đặc biệt là Anh Quốc và Hoa Kỳ – để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi cho rằng không bao giờ ở Việt Nam có nhà khoa học tự nghiên cứu về nông lâm thủy hải sản để rồi đi kiếm nông dân để rao bán công trình, mà chỉ có mấy anh được gọi là nhà khoa học ở các viện khoa học hưởng lương Nhà nước ngồi chờ Nhà nước rót tiền để thực hiện các công trình nghiên cứu rồi đúc kết in vi tính nộp Nhà nước lưu cất tàng thư. Nếu các doanh nghiệp tư nhân nghiên cứu khoa học thì họ là doanh nhân đi cung cấp dịch vụ cho nông dân để lấy tiền chứ không phải với tư cách nhà khoa học đi hợp tác với nông dân. Thậm chí tầm nhìn cũng là vấn đề nghiêm trọng nơi các “nhà khoa học” của Việt Nam, chẳng hạn có vị giáo sư tiến sĩ lừng danh tên VTX ở Miền Tây chuyên tạo ra các giống lúa cho Việt Nam, nhưng Ông không có tầm nhìn chiến lược nên gạo Việt Nam của Ông có thể kháng rầy tốt, có thể vươn cao theo đà nước dâng, v.v. và v.v., chứ tuyệt đối không thơm hơn, không thơm lâu hơn, không ngon hơn, không có giá trị cao hơn, không đáp ứng nhu cầu chất lượng cao hơn của thế giới, hoặc Ông không thể giúp gì được cho việc bảo tồn giống cây ăn quả khiến cây trái Miền Nam gần như thoái hóa gần hết. Còn doanh nghiệp nếu hiểu như là doanh nghiệp thu mua nông sản thì hoặc họ là quốc doanh thu mua theo lịnh của Nhà nước và dùng tiền Nhà nước để mua, hoặc họ là tư nhân thì thu mua theo thương thảo giá cả với nông dân mà trong trường hợp này nông dân ở vai trò đối tác của một thương vụ nên do đó cũng được gọi là doanh nhân. Rốt cuộc chỉ có Nhà nước đứng ra hợp tác với nông dân mới nên đại cuộc mà thôi, chẳng hạn Nhà nước đặt hàng cho các viện nghiên cứu của Nhà nước hoặc các công ty ứng dụng khoa học tư nhân thực hiện các nghiên cứu theo chủ đề của Nhà nước – thí dụ qua đề xuất cụ thể và chi tiết của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn – hoặc xuất tiền mua bản quyền nghiên cứu của nước ngoài rồi Nhà nước thông qua các tổng công ty Nhà Nước cung cấp các giải pháp đã nghiên cứu hay đã ứng tiền mua cho nông dân dưới hinh thức các công ty này ký hợp đồng với nông dân để khấu trừ vào lượng sản phẩm thu mua mùa thu hoạch, v.v. Tuy tôi có hí hước trong bài viết rằng nếu liệt kê ra 4 thì còn thiếu vì ngay cả nhà tu hành cũng đứng ra thành hợp tác 5 nhà do có công cầu cho mưa thuận gió hòa giúp nông dân được mùa, và kể thêm nhiều nghề khác cũng đóng góp thành “hợp tác vạn nhà”, tôi vẫn nhằm nêu lên một vấn nạn là các nhà hoạch định chính sách hay cho ra các cụm từ giống như để thỏa thú chơi chữ chứ hoàn toàn không có tính khả thi, khiến “phát triển tam nông” vẫn không phát triển được cho đến tận ngày nay. Và đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện “hợp tác bốn nhà” sẽ chẳng bao giờ tồn tại trên thực tế.

C- Tầm Nhìn Giáo Dục & Đào Tạo

1- Sự xuống cấp

Tình trạng này tôi đã nói và viết nhiều trong mấy chục năm qua. Sự xuống cấp về trình độ học sinh sinh viên đến từ sự xuống cấp của nhà trường và giáo viên, của lề lối suy nghĩ và nội dung hoạch định của ngành giáo dục. Đây là việc hiển nhiên đối với học lực thực chất, kỹ năng mềm thực chất, giảng dạy thực chất, mà đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về sự đi xuống của giáo dục và đào tạo của nước nhà.

2- Tiếng Anh

Lĩnh vực này tôi cũng đã nói và viết rất nhiều trong mấy chục năm qua – và sẽ còn viết mãi – rằng cách dạy và học ở Việt Nam hoàn toàn sai do chỉ áp dụng các phương pháp của Âu Mỹ một cách vừa máy móc vừa nông cạn đến độ bày ra việc cho trẻ em học tiếng Anh từ nhỏ, mà không quan tâm đến thế mạnh của người Việt. Việc 40 năm qua dù đã trải qua bao lần cải cách giáo dục đầy tốn kém mà xã hội Việt Nam cứ mãi băn khoăn về trình độ tiếng Anh bất-khả-sử-dụng của học sinh và sinh viên Việt Nam, và đây là việc hiển nhiên đến độ đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện sau gần nửa thế kỷ áp dụng các điều “tân tiến” từ phương pháp đến giáo trình giáo cụ mà người Việt vẫn cứ lẹt đẹt sau thiên hạ về tiếng Anh.

3- Phát triển IT

Khi công nghệ thông tin (gọi tắt là IT hay Aitee) bùng phát, thiên hạ ở Việt Nam thi nhau cho con cái học Aitee, còn chính phủ thì ưu ái phát triển Aitee, rót ngân sách dồi dào cho toàn bộ hệ thống giáo dục để xây dựng phòng Aitee. Ngay chính thời điểm đó, tôi đã ra sức can ngăn các bậc phụ huynh mà tôi quen biết không cho con em du học về Aitee, thậm chí còn tận dụng các buổi phỏng vấn tuyển dụng để “tuyên truyền giáo dục” người dân hiểu đúng hơn. Tôi cho rằng Aitee sẽ không bao giờ phát triển ở Việt Nam vì (a) người đi học Aitee không vì có năng khiếu về Aitee, không vì có đam mê làm một chuyên viên Aitee hay kỹ sư Aitee, mà chỉ vì muốn trở thành tỷ phú như Bill Gate; (b) Aitee là hands-on cầm tay chỉ việc trong đào tạo nên việc bỏ phí 4 năm đại học để học Aitee là việc không khôn ngoan; (c) học xong về chỉ ôm mộng mở công ty hoặc viết phần mềm hoặc mua bán laptop điện thoại di động vậy sao không chịu bỏ tiền ra ngay – nếu có tiền – khỏi đi học, mở công ty thuê người về viết phần mềm hoặc cứ tham gia mua đi bán lại laptop và điện thoại di động; và (d) sẽ không thể mở công ty vì không thuê được người do tất cả những ai học Aitee đều chỉ muốn làm ông chủ doanh nghiệp. Thực tế hiện nay các đại gia Aitee thế giới đã xây dựng các dự án khổng lồ về vốn đầu tư ở Việt Nam nhưng vấn đề đau đầu của họ luôn là không thể tuyển đủ số “thợ Aitee” cho các nhà máy của họ ở Việt Nam. Chỉ cần biết lối suy nghĩ của người Việt là đã có thể biết ngay Aitee có thể phát triển mạnh ở Việt Nam hay không, chứ đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế.

D- Tầm Nhìn Chính Trị

1- Quốc Hội Khóa XIII

Khi nhận thức được các thách thức hết sức quan trọng và đặc biệt nghiêm trọng sẽ ập đến nước nhà khiến Quốc Hội ắt rất cần có những nghị sĩ sáng suốt, cương quyết để phục vụ Khóa XIII làm thất bại tất cả các mưu toan “diễn biến hòa bình” cũng như hoàn thành sứ mệnh lịch sử trước dân tộc bảo vệ được đất nước, tôi quyết định tự ra ứng cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIII. Dần dà có các thách thức gồm sự tấn công của các thế lực thù địch vào dự thảo sửa đổi Hiến Pháp Việt Nam nhằm đạt được những thay đổi mang tính tấn công vào thể chế chính trị như đổi tên nước, đổi lời quốc ca, v.v.; sự phức tạp của bộ đại luật Đất Đai; diễn biến phức tạp ở Biển Đông với các hành vi gây hấn của Trung Quốc; cũng như sự việc Luật Biển phải được thảo luận trong bí mật và được thông qua trong tình hình đe dọa của Trung Quốc; v.v. Với sự sáng suốt và cương quyết như thế, tôi phát biểu ngăn chặn sự vô tư hồn nhiên ngây thơ của một hai nghị sĩ nêu yêu cầu phải có cái gọi là Luật Biểu Tình để “trả xong món nợ với nhân dân”. Tôi ngăn chặn vì (a) Khóa XIII sẽ đầy ắp những biến động đại sự liên quan đến sự tồn vong của đất nước đối với chiến tranh – hòa bình cũng như những thời cơ ngập tràn từ các định chế kinh tế song phương và đa phương mà Việt Nam phải gặt hái cho bằng được để phát triển kinh tế nước nhà, và vì (b) ngay cả vị nghị sĩ “luật sư” của Thành phố Hồ Chí Minh lớn tiếng ủng hộ việc có cái gọi là “Luật Biểu Tình” cũng không biết mình dại dột khi nói với báo chí rằng “chúng ta chưa có kinh nghiệm nên phải ra Luật Biểu Tình để học tập” mà không hiểu rằng chính vì những người tay mơ chưa có kinh nghiệm như ông ta mà tôi phải cản ngăn để tôi có thời gian truyền các kinh nghiệm của tôi về “biểu tình” qua các nghiên cứu sâu sắc nhất và đầy đủ nhất với các bài viết đăng blog không những về ngữ nguyên mà còn về luật pháp cùng thực tế hành xử của các cường quốc tư bản Âu Mỹ và các thực tế lịch sử cận đại và hiện đâị của “biểu tình”. Chỉ cần có tầm nhìn chiến lược đối với quốc gia đại sự mà tôi nêu vấn đề khiến Quốc Hội nhận ra sự thật, ủng hộ, rồi quyết định không lập dự thảo cái gọi là Luật Biểu Tình trong toàn khóa XIII (2011-2016) còn tôi đã hoàn thành sứ mệnh cung cấp các lập luận, tư liệu, kể cả chiến thuật và chiến lược, cho cơ quan sẽ được phân công thảo dự án ấy cho Khóa XIV (2016-2021), khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện Quốc Hội Khóa XIII vừa chưa rõ gì cả về “biểu tình” do chưa ai từng nghiên cứu thấu đáo để công khai công bố về “biểu tình” vừa phải đương đầu với các lấn xâm của Trung Quốc nên không thể cho ra dự thảo “Luật Biểu Tình”.

2- Đề Án Chính Quyền Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh

Ngay khi lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh lập đề án Chính Quyền Đô Thị trình Bộ Chính Trị xin chủ trương để có cư sở trình Quốc Hội, tôi đã viết ngay bản thảo mang tựa đề “Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Nguyên Nhân Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Thành phố Hồ Chí Minh” có nội dung mục lục như sau:

 Tam Nhin3

nhưng đã quyết định không đăng trên WordPress vì những lý do tế nhị. Tôi đã nêu trong bản thảo ấy rằng (a) việc bỏ Hội Đồng Nhân Dân sẽ không bao giờ được thực hiện, rằng (b) khái niệm “thành phố trong thành phố” là tùy tiện và sai hoàn toàn vì khi diễn giải ra tiếng Anh thì “Thành Phố Bắc thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh” sẽ viết ra sao, rằng (c) Thành phố Hồ Chí Minh sẽ co rúm lại trong vòng 10 năm sắp đến vì diện tích đất bị ngập mặn do sự cố nước biển dâng thì sao lại cắm đầu phân chia thành các thành phố bị ngập nước bên trong thành phố bị nước lấn xâm, rằng (d) phục vụ người dân thì cứ phục vụ người dân sao lại phải đòi xây dựng “thành phố trong thành phố” mới phục vụ dân “tốt hơn”, rằng (e) xây cái megacity đó rồi ai là lớp người quản lý vì hiện nay có lực lượng công chức nào đang tận tụy phục vụ nhân dân hiệu quả đâu mà mong làm nòng cốt cho tầng lớp lãnh đạo đó, và rằng (f) tiền đâu mà xây. Và rồi sau thời gian “thí điểm” thì Hội Đồng Nhân Dân được tái lập như một đặc thù tổ chức chính quyền Việt Nam, còn cái megacity trên dự án trở thành núi giấy tờ ngốn tiền tỷ nghiên cứu và phác thảo chìm vào quên lãng, khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện “Thành phố trong Thành phố” sẽ không bao giờ biến thành hện thực.

E- Tầm Nhìn Địa Chính Trị

1- Hậu quả từ sự biến mất của Saddam Hussein và Muamar Gadafi

Trong bài viết “Tôi và Saddam Hussein” đăng trên Emotino tôi có nói về sự liên lạc bằng thư và bằng điện tín của tôi gởi Tổng Thống Saddam Hussein trong thời gian tôi công tác tại CIMMCO International, với nội dung đề nghị Ông theo cách liên hoành để liên kết với Iran và Bắc Triều Tiên nhằm tạo thế sinh tồn, giúp thế giới ổn định như vốn có về chiến lược, vì nếu Ông đơn thương độc mã đương cự với Hoa Kỳ thì Ông sẽ bị tiêu diệt, đến phiên Iran bị đàn áp kiệt quệ, còn Bắc Triều Tiên bị vây hãm chỉ ngẫu hứng một mình một cõi không cài vào thế chiến lược quan trọng hơn cho chính sự sinh tồn của nước ấy, theo kiểu từng chiếc đũa bị vô hiệu hóa, nhưng lại dẫn đến việc không phải là thế giới có một nước Hoa Kỳ hùng mạnh bậc nhất mà làm cho nước Mỹ suy yếu hơn, tiền đề cho sự bùng phát không bao giờ còn có thể chế ngự được của chủ nghĩa khủng bố. Còn trong bài “Hậu Muammar Gaddafi” cũng đăng trên Emotino, tôi cũng nêu ra lập luận tương tự rằng Âu Mỹ sẽ đại ngu nếu tấn công triệt hạ Gaddafi vì cũng như Saddam Hussein, Gaddafi có năng lực dìm đầu khống chế chủ nghĩa khủng bố. Chuyện đã cũ, nhưng với sự thật như đang xảy ra trên toàn cầu thì đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về sự vùng lên hơn nấm không bao giờ còn có thể được chế ngự của chủ nghĩa khủng bố.

2- Ngày tàn của Bắc Kinh

Thật nhiều năm trước, khi Trung Quốc điên rồ phát triển công nghiệp luyện kim bằng khẩu hiểu “nhà nhà luyện kim, người người luyện kim” khiến cả tỷ người suốt ngày ngồi chổng mông quạt lửa nấu chảy vài cục sắt để nộp cho hợp tác xã, tôi đã phì cười, nói với thân hữu rằng cái đất nước ấy rồi sẽ thành hỏa ngục với khói bụi đậm đặc và ô nhiễm môi sinh (từ ngữ của Việt Nam Cộng Hòa, có nghĩa: môi trường sinh sống). Rồi khi đến thời hiện đại, lúc Trung Quốc hồ hởi phấn khởi với danh xưng Công Xưởng Của Thế Giới, thì tôi – với tư cách cảm tình viên của Hòa Bình Xanh – càng tin tưởng vững chắc rằng ngày tàn của Bắc Kinh đã đến. Đây thuần túy không là một nhận xét chính trị mang tính định kiến chống Trung Quốc, mà hiện đã có thực tế về mức độ ô nhiễm khủng khiếp về môi sinh ở Bắc Kinh, khiến đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về ngày tàn của Bắc Kinh.

3- Ngày tàn của EU

Tôi vốn tin tưởng vào một thế giới đại đồng trong đó các quốc gia riêng rẻ chung sống hòa hợp với nhau, tôi đã luôn cho rằng (a) dân tộc tính là điểm bất khả triệt tiêu nên xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ không bao giờ được xây dựng nên; rằng (b) việc hình thành các khối thuần kinh tế là mô hình duy nhất đúng để sống nương tựa vào nhau; và rằng (c) việc hình thành các khối thành một “đại quốc gia” với đồng tiền chung, nghị viện chung, tự do đi lại chung sẽ dẫn đến việc bị kẻ thù của khối lợi dụng, lạm dụng, khiến cả khối bị đe dọa về an ninh, còn chính điểm a về dân tộc tính sẽ đe dọa sự kết liên vững bền của khối khiến EU sẽ phải đối mặt với sự tan rã mà hậu quả là từng quốc gia tách ra từ sự tan rã đó sẽ yếu ớt hơn là chúng đã là trước khi gia nhập mà hậu quả ấy lại sẽ gây ra sự suy vong sụp đổ của các quốc gia từng là cường quốc này. Hết thành viên này đến thành viên khác trong cái “đại quốc gia” EU ấy đã tiến hành các cuộc trưng cầu dân ý về việc có tách ra khỏi EU hay không, còn hiện nay sau khi đã dấn thân với NATO gây hấn với Nga rồi gánh chịu sức nặng của sóng người di cư tị nạn từ Syria và các nước Châu Phi, giềng mối gắn kết EU đang bị rung lắc dữ dội với các chính phủ thực hiện “bế quan tỏa cảng” ngăn chặn làn sóng di cư tị nạn đồng thời hủy phá tinh thần tự do đi lại trong toàn khối, mà gần đây nhất là việc Đan Mạch ra luật cho tịch thu tài sản người di cư tị nạn đã xo sập hoàn toàn bức tường ý thức hệ đầy kiêu hãnh của EU. Còn vụ thảm sát ở Na Uy vài năm trước gióng lên hồi chuông báo động của chủ nghĩa bài Hồi Giáo, bài ngoại, và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đường hướng Quốc Xã bài chủng tộc.

Xây dựng một khối để chơi riêng với nhau dành cho nhau nhưng ưu ái về kinh tế kinh doanh là chuyện bình thường nên làm. Xây dựng mối giao hảo xóm giềng hòa thuận, hỗ tương, đầy tính nhân văn là chuyện bình thường nên làm.

Xây dựng một khối để hình thành một “đại quốc gia”; xóa nhòa ranh giới văn hóa, chủng tộc, quốc gia, dưới chiêu bài “tự do”, là việc của những kẻ rồ dại. Xây dựng xóm giềng thành một “đại gia đình” để ai muốn qua nhà người khác ở chung đụng thì cứ tự do, là việc của những kẻ muốn đi thụt lùi về thủa hồng hoang ăn lông ở lổ.

Cứ luận việc xóm giềng ăn ở luôn tuồng sẽ dẫn đến sự vô luân vô đạo ra sao thì có thể biết ngay số phận của EU, khiến đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về ngày tàn của EU.

4- Vấn nạn ASEAN

Tương tự, mấy năm trước tôi có viết bài trên Emotino cảnh báo về nguy cơ Trung Quốc Hóa đối với một khối ASEAN mà tất cả các thành viên đều ngó lơ chấp nhận sự tồn tại của một Con Ngựa Thành Troy. Khi Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, chính Con Ngựa Thành Troy ấy đã phản phúc như đặc tính cố hữu của nó tuyên bố đó không phải là chuyện của nó vì tuy nó là thành viên ASEAN đất nước nó chẳng có biển nào mang tên Biển Đông, thậm chí nó còn làm nhục cả Hoa Kỳ trong công khai ủng hộ Trung Quốc đối đầu với Mỹ. ASEAN không có cùng văn hóa. ASEAN không có cùng bản chất dân tộc. ASEAN không có cùng bất kỳ điểm tương đồng nào, kể cả về màu da hay lịch sử. ASEAN không cùng nhìn về một hướng. Thành ngữ “Đồng Sàn Dị Mộng” là một bi kịch của hai người nằm ngủ chung giường, đắp chung chăn, nhưng mỗi người mơ tưởng đến một việc – hay một người – hoàn toàn khác nhau. Song, ASEAN là tổ chức “Dị Sàn Dị Mộng” tức là một thảm họa khi hai người nằm khác giường, đắp khác chăn, mỗi mỗi người mơ tưởng đến một việc – hay một người – hoàn toàn khác nhau, những vẫn nói với người ngoài rằng đó là gia đình đầm ấm. Gần đây cac vụ khủng bố rộ lên ở Indonesia và Malaysia, trong khi các quan chức an ninh ASEAN bàn đến chuyện một khi một người đã qua sự kiểm tra giấy tờ ở một nước ASEAN thì có quyền sang các nước khác của ASEAN mà các nước ấy không có quyền kiểm tra lại giấy tờ cá nhân. Sẽ ra sao nếu trong một phường người ta có quyền sang nhà hàng xóm ngủ? Sẽ ra sao nếu một quan chức an ninh là cảm tình viên của mạng lưới khủng bố đóng dấu kiểm tra xong đối với một đối tượng khủng bố để tạo điều kiện cho đối tượng này ra vào các nước còn lại để thực hiện các vụ khủng bố?

Sự hỗn loạn hỗn mang như ASEAN đang phải đương đầu thì đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về sự rung lắc tương tự EU của ASEAN trong một vài năm sắp đến.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo :

1) Hoàng Hữu Phước. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. Bản song ngữ Việt & Anh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/ ; bản tiếng Anh đăng ngày 05-11-2007 tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc; và bản tiếng Việt đăng ngày 07-8-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam. Bài viết này đã được báo Tuổi Trẻ đăng lại ở dạng rút ngắn. (Bài viết thứ hai đề nghị một thương hiệu thứ nhì cho Việt Nam liên quan đến gạo được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam đăng lại nguyên văn trên hai số 02 ngày 01-11-2008 trang 18-19, và số 03 ngày 22-11-2008 trang 18-19).

2) Hoàng Hữu Phước. 23-10-2010. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/04/nhung-phan-tich-moi-l%E2%80%8Ey-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan/

3) Hoàng Hữu Phước. 22-01-2009. Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn. http://www.emotino.com/bai-viet/17393/ca-phe-mot-chuyen-nho-va-hai-lon. Sẽ được đăng lại trên blog này.

4) Hoàng Hữu Phước. 26-12-2010. 15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/09/15-000-tan-gao-1-xap-vai-quan/

5) Hoàng Hữu Phước. 2009. Hành Trình Hạt Gạo Việt: Gạo Việt Ra Chợ Quốc Tế . http://www.emotino.com/m.php?p=18302

6) Hoàng Hữu Phước. 2009. Người Đầu Tiên Góp Phần Đưa Hạt Gạo Đi Xa. http://www.emotino.com/m.php?p=17638

7) Hoàng Hữu Phước. 08-01-2016. Gạo Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/08/gao-viet-nam/

8) Hoàng Hữu Phước. 04-12-2015. Chí Phèo. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/04/chi-pheo/

9) Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Khía Cạnh Pháp Luật Của Luật Biểu Tình. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.