Monthly Archives: February 2016

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Bài 3: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-02-2016

Là một quốc gia không có nguồn nhân lực có ý chí cực cao, tính kỹ luật cực cao, sự trung thành cực cao đối với chế độ chính trị nước nhà, sự khôn ngoan cực cao làm chúa ngoại bang chớ không làm tôi tớ ngoại bang, và có sự giúp đỡ cực cao của Mỹ như Nhật Bản, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc nhất vô nhị của Nhật Bản để được hùng mạnh về kinh tế như Nhật Bản.

Có một thực tế ở Việt Nam là hay có dư luận dù vô tình bởi người thiếu hiểu biết hay dù cố ý bởi kẻ chăm chỉ chống chế độ cộng sản đều hay sử dụng Nhật Bản dù chỉ là một cái cớ rất nghèo nàn yếu đuối để chứng minh Cộng sản Việt Nam Cộng Sản đã thất bại không thể xây dựng được nền kinh tế thần kỳ như Nhật Bản do Nhật Bản cũng trải qua sự tàn phá kiệt quệ sau chiến tranh có khi còn tàn khốc hơn cả Việt Nam.

Tất nhiên, do Việt Nam chỉ lo tập trung vào các môn Lịch Sử Việt và Lịch Sử Đảng khiến học sinh trung học thì “dốt” Sử còn nhà sử học thì chỉ giỏi phát biểu về Việt Sử trong khi sách sử thì ai cũng có thể đọc được và biết được, chẳng cần phải có các vị nhà sử học ấy làm gì cho chật chội tháp ngà hàn lâm vốn đã chưa từng cao và không còn rộng, những kẻ thậm chí góp phần miệt thị môn Sử qua việc chẳng làm gì ra hồn khiến cho môn Sử lụn bại đến nỗi bị loại ra khỏi tất cả các kỳ thi cuối lớp hay cuối cấp ở trung học. Còn môn Thế Giới Sử thì đã biến mất cùng với sự sụp đổ Việt Nam Cộng Hòa nên ở Việt Nam ngày nay mỗi khi nói đến “Sử” thì người ta chỉ biết đó là “lịch sử Việt Nam” mà quan trọng nhất là môn Lịch Sử Đảng – tất cả khiến có sự mù mờ về lịch sử thế giới và sự thần phục Singapore – còn đối tượng của bài này là Nhật Bản – xuất hiện như sự đương nhiên, tất nhiên, hiển nhiên, và dĩ nhiên là tự nhiên. Bài viết này, do đó, trở thành một dẫn chứng về những sự thật lịch sử của thế giới hầu giúp lành mạnh hóa giới trẻ nai tơ và vô hiệu hóa các bài bản công kích của Việt gian cáo già nhắm vào Việt Nam Cộng Sản, theo các nội dung chính sau:

ScreenShot1109

A) Tội Ác Ngút Trời Của Nhật Bản Trong Đệ Nhị Thế Chiến

Giới cầm quyền Nhật Bản bị quy phải chịu trách nhiệm đã tàn sát nhiều triệu thường dân và tù binh chiến tranh tại các quốc gia Nhật chiếm đóng mà hình ảnh trữ lưu như các “chiến tích anh hùng” của các sĩ quan và chiến binh Nhật Bản cho thấy từ những cảnh xử tử bằng súng cho đến chặt đầu và chôn sống tù nhân, mà chỉ trong một cuộc thảm sát Nam Kinh thôi cũng đã có 300.000 hàng binh Trung Quốc bị xử tử và 80.000 phụ nữ dân thường từ 10 đến 80 tuổi kể cả các nữ tu bị hãm hiếp trước khi bị sát hại bằng cách cắt rời hoặc đóng cọc sắt vào bộ phận sinh dục của họ, hoặc bị bắt theo làm nô lệ tình dục phục vụ quân đội Thiên Hoàng. Những hình chụp hai chiến binh Nhật Bản đứng cầm khoe hai chiếc thủ cấp chiến sĩ Việt Minh bên cạnh hai thi thể không đầu của họ, hoặc hình chụp hai sĩ quan Nhật cầm gươm hãnh diện cá cược với nhau ai sẽ là người tự mình dùng gươm chặt đầu 100 tù binh trước, v.v., cho thấy sự tàn bạo tập thể mà mức độ của nó ắt khó thể so sánh ai-hơn-ai với các cuộc thảm sát của các đế chế thời Trung Cổ hay của Campuchia thời hiện đại. Xua quân gieo rắc kinh hoàng trên quy mô thế giới thì toàn nhân loại cận đại chỉ có Thiên Hoàng Chiêu Hòa Hirohito, chí ít xét về mức độ tàn bạo của các cuộc chinh phạt Châu Âu của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn cùng các hậu duệ Mông Cổ, và chín cuộc Thập Tự Chinh chính thức mà thế giới Cơ-đốc giáo dưới lịnh các Đức Giáo Hoàng tiến hành xâm lược cướp bóc tàn phá thế giới Hồi Giáo trong thời gian từ năm 1095 đến 1291.

B) Lý Do Mỹ Cấp Viện Trợ Khổng Lồ Cho Nhật Bản

Cùng với đại tội hình thành Khối Trục Đức-Ý-Nhật gây ra Đệ Nhị Thế Chiến cũng như các tội ác ngút trời nêu trên, Nhật Bản còn gây thiệt hại nặng nề cho Hải Quân Hoa Kỳ trên mặt biển, thậm chí còn táo tợn chế tạo được cả tàu ngầm khủng khiếp khổng lồ Sentoku Lớp I-400 có thể đi một vòng rưỡi quanh trái đất không cần tiếp nhiên liệu, đặc biệt mỗi chiếc có thể chứa trong lòng tàu những ba chiến đấu cơ không kích M6A1, lặn đi vòng qua Mũi Horn Nam Mỹ định tấn công Hoa Kỳ bằng không quân từ phía Đại Tây Dương hầu biến Hoa Kỳ bị phơi mình trước các cuộc không kích của Nhật Bản từ hai phía Đông và Tây. Tuy nhiên, Nhật Bản không kịp triển khai các cuộc tấn công Mỹ từ Đại Tây Dương và cũng không kịp đánh đắm tất cả các tàu ngầm I-400, nên Mỹ đã bắt được một chiếc “tầu ngầm sân bay” I-400 đầu hàng để khẩn cấp đổ các nhà kỹ thuật đến khẩn trương nghiên cứu công nghệ (sau này mô phỏng theo mà chế ra tàu ngầm lợi hại hơn, hợp lý hơn: phóng tên lửa tấn công có mang đầu đạn hạt nhân) trước khi nổ bom phá tan đánh chìm do không muốn phải chia sẻ với Liên Xô (do đã có thỏa ước với Liên Xô theo đó tất cả các vũ khí hiện đại của Khối Trục nếu bị tịch thu phải để các “đồng minh” cùng nhau nghiên cứu). Ấy vậy mà đối với kẻ thù táo tợn đến như thế, Mỹ lại đã ra tay cứu vớt mà thế giới sử đã có các ghi nhận các lý do như sau:

1) Gây hấn với Liên Xô do vầy đoàn với Đức và Ý trong Khối Trục, và gây chiến trực tiếp với Liên Xô trên lãnh thổ phía Đông của Nga tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Nhật vào thời điểm cuối Thế Chiến khi Đức và Ý đã bị Liên Xô đánh tan nát và Liên Xô hủy diệt đạo quân Quan Đông của Nhật, xóa sổ Mãn Châu Quốc mà Nhật đã dựng nên, khiến triệt tiêu bộ binh Nhật Bản ở Trung Quốc, làm nghiêng lệch cán cân cuộc chiến, Nhật Bản đã hốt hoảng trước việc Liên Xô sắp thừa thắng vượt biển tấn công trừng phạt và chiếm luôn Nhật Bản. Mỹ và Nhật Bản đã cùng có hành động kỳ dị như nhau: đối với Nhật Bản đã kiệt quệ thua trên tất cả các mặt trận sắp buộc phải đầu hàng trong ngày một ngày hai, Mỹ vội vàng hấp tấp ném ngay hai quả bom nguyên tử tàn phá Hiroshima và Nagasaki để (a) thị uy với Liên Xô và (b) giúp Nhật có cớ để tuyên bố đầu hàng; còn Nhật chỉ chờ có thế để vội vàng đầu hàng Mỹ dù biết Mỹ không có thêm quả bom nguyên tử nào khác. Sự đầu hàng Mỹ của Nhật Bản được đặt ra với điều kiện tiên quyết là Nhật Hoàng Hirohito cùng toàn bộ hoàng gia kể cả các hoàng tử vương công khét tiếng tàn ác diệt chủng như Chichibu, Asaka, Takeda, và Higashikuni phải được Mỹ cam đoan không bị đưa ra tòa án quốc tế về (a) tội phạm chiến tranh, (b) tội phạm chống nhân loại, và (c) tội phạm chống hòa bình hầu tránh các án tử hình dù các nhân vật này nắm quyền lực chính trong chỉ đạo và trực tiếp tiến hành chiến tranh thế giới ở Châu Á – Thái Bình Dương. Để chặn đà tiến của cộng sản Nga ra Thái Bình Dương, Mỹ đã chấp nhận điều kiện của Nhật Bản, và cuộc đầu hàng đã diễn ra nhanh chóng trong 23 phút trên chiến hạm USS Missouri của Hoa Kỳ. Hoàng Đế Nhật Bản được Hoa Kỳ biến thành vị vua chỉ là biểu tượng quốc gia không quyền lực nên không phải chịu trách nhiệm gì. Hoa Kỳ được Nhật Bản trao cho danh dự giải phóng Châu Á – Thái Bình Dương, tước danh dự này khỏi tay Liên Xô một cách ngoạn mục. Hoàng gia Nhật Bản hoàn toàn thoát tội. Và ngay cả các quan tướng cao cấp dù phải làm bình phong chịu bị kết án nhưng sau đó đều được hoặc Tướng Mỹ Douglas MacArthur cứu vớt hoặc được các tổng thống Mỹ lần lượt ân xá, như Mamoru Shigemitsu (sau này trở thành Bộ trưởng Ngoại Giao), Okinori Kaya (sau này làm Bộ Trưởng Tài Chính), cùng những cái tên khét tiếng tàn bạo khác như Hashimoto Kingoro, Hata Shunroku, Minami Jiro, Oka Takazumi, Araki Sadao, Hiranuma Kiichiro, Hoshino Naoki, Kaya Okinori, Kido Koichi, Oshima Hiroshi, Shimada Shigetaro, và Suzuki Teiichi, v.v., đều được ân xá, không như các “đồng chí” Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý của họ bị tòa án Nuremberg lôi xềnh xệch lên giảo đài treo cổ tại trời Âu.

2) Dù chương trình tái thiết hậu chiến mang tên Kế Hoạch Marshall do Mỹ tài trợ không bao gồm Nhật Bản, Mỹ vẫn hỗ trợ Nhật Bản hồi phục và phát triển kinh tế bằng cách biến Nhật Bản thành cơ sở hậu cần cung cấp vật tư phương tiện vận tải chiến tranh cho Mỹ và Liên Hợp Quốc trong chiến tranh Nam-Bắc Hàn, khiến Nhật Bản nhận được một nguồn thu thậm chí còn lớn hơn gấp nhiều lần bất kỳ các quốc gia nào khác của Châu Âu có nằm trong danh sách nhận viện trợ tái thiết của Mỹ từ Kế Hoạch Marshall.

3) Ngoài ra, Nhật Bản còn được Mỹ xem như vòng cung tuyệt diệu phối hợp cùng Hàn Quốc trong ngăn chặn và kềm chế sự bung ra Thái Bình Dương của Trung Quốc, giúp giữ an toàn cho bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ tức Thái Bình Dương.

Như vậy, vừa thoát tất cả các sự trừng trị của quốc tế để bảo toàn danh dự cho hoàng đế và hoàng tộc, vừa được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chỉ trong vòng 5 năm sau Thế Chiến, Nhật Bản đã đạt mức tăng trưởng GDP cao hơn cả chính Hoa Kỳ. Các thuận lợi ấy đều phải tính đến giá trị nhận được cao nhất của Nhật Bản là chính sự tiếp tục tồn tại của hoàng triều đã (a) duy trì lòng tự hào dân tộc, (b) các giá trị đặc thù dân tộc tính không bị tổn thương hay bị xúc phạm nên tính cách Nhật được tồn tại và phát huy mạnh mẽ hơn dù theo một đường hướng mới chinh phạt và chinh phục khác, (c) các tủi hổ tủi nhục không có cơ hội tồn tại vì đã có cái cớ “bị Mỹ tàn ác ném bom nguyên tử nên hoàng đế phải vì cứu dân mà tuyên bố đầu hàng” chứ quân đội Thiên Hoàng không bao giờ thất trận, và (d) người Nhật nhất thiết phải tạo ánh hào quang mới để vinh danh Nhật Bản trên trường quốc tế: đó là khoa học kỹ thuật hiện đại của đất nước đã từng chế tạo thành công tàu ngầm sân bay I-400 suýt nữa đã gây tang thương ngẫu lục ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ từ hai phía Đông và Tây.

C) Tam Đại Ngu Của Nhật Bản

Nhật Bản lẽ ra ngày nay là quốc gia rộng lớn nhất thế giới, và do đó đồng thời là siêu cường đứng đầu thế giới, nếu như Chiêu Hòa Thiên Hoàng Hirohito có dưới trướng những vị quân sư có tầm nhìn chiến lược của những nhà chinh phục chiến thắng, thay vì những thầy dùi chỉ có tầm nhìn chiến thuật của những kẻ lầm lũi chinh phạt đại bại. Ba viện dẫn cho sự ngu xuẩn khiến ngày nay Nhật Bản chỉ là một đảo quốc nhỏ bé bị bủa vây bởi thiên tai và sự đe dọa của Trung Quốc cũng như sự hằn học của Hàn Quốc gồm:

1- Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên vĩnh viễn dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Japonchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản lại hùa theo Khối Trục để chõi lại với Liên Xô. Đây là cái đại ngu thứ nhất: đã không biết gì về sức mạnh muôn đời của Nga dù là của chế độ Sa Hoàng, của chế độ cộng sản Liên Xô hay của chế độ phi cộng sản Nga.

2– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Nipponchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản với số dân ít ỏi lại muốn làm bá chủ trực tiếp cai trị cả vùng Châu Á – Thái Bình Dương, tức biến Nhật Bản thành một siêu quốc gia tức lớn hơn cả “đế quốc Đại Đông Á” vốn đã quá khổng lồ so với “đế quốc Tân Nhật Bản Nipponchin”. Đây là cái đại ngu thứ nhì: đã (a) tấn công Trân Châu Cảng tàn phá căn cứ hải quân Hoa Kỳ, (b) tìm diệt các hạm đội Hoa Kỳ trên toàn Thái Bình Dương, (c) tìm diệt các binh đoàn Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, và do đó (d) tạo thêm kẻ thù Hoa Kỳ hùng mạnh mới, khiến sự dàn trải quá rộng trên phần địa lý chiếm phân nửa địa cầu làm tiêu hao sinh lực quốc gia, đẩy Nhật Bản đến sự diệt vong lẽ ra không bao giờ có thể là sự thật.

3– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra phải dừng lại và đứng sững vĩnh viễn ngay tại trước cột mốc biên giới Việt Nam. Đây là cái đại ngu thứ ba, song lại là cái đại ngu lớn nhất, vì rằng đã chưa từng biết Việt Nam mãi mãi là tử địa muôn đời đối với bất kỳ thế lực đế quốc nào dù hùng mạnh đến đâu chăng nữa. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu cả Châu Âu bằng cách đánh bại bộ binh và kỵ binh của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn và hậu duệ của ông, khiến vó ngựa chinh phục của Mông Cổ phải dừng lại vĩnh viễn trước khi đến được bờ biển Đại Tây Dương, giúp các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Đức, Ý, v.v., có cơ hội vàng tồn tại để sau đó trở thành các thực thể đế quốc thậm chí có kẻ dám hổn láo bất hiếu bất mục xâm lược đô hộ Việt Nam. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu Nhật Bản bằng cách đánh bại các hạm đội thủy quân và hải quân Tàu khiến Tàu không thể tiến ra biển khơi tóm thâu Nhật Bản, mà Sử Tàu giỏi lắm cũng chỉ có đoạn viết ngợi ca mấy con tàu chỉ dám giong buồm mon men dọc theo sát bờ biển tiến đánh Đại Hàn để hình thành tiểu thuyết dã sử Tiết Nhân Quý Chinh Đông nhảm nhí. Trong thời cận đại, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cổ điển, khiến Pháp – và sau đó là hiệu ứng domino xô sập các đế quốc Châu Âu – mất đi các thuộc địa, làm cho Vương Quốc Anh dù mon men theo đóm ăn tàn đổ bộ Việt Nam toan tiếp nhận thuộc địa từ tay Pháp cũng phải vội vã rút quân, thay đổi chiến lược và chiến thuật, biến các thuộc địa của Anh trở thành các quốc gia độc lập trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh thay vì mất trắng mất sạch thuộc địa. Tương tự, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới qua việc đánh bại Hoa Kỳ.

Từ ba đại ngu của Nhật Bản, nhân loại có thể rút ra ba bài học quý báu rằng nếu muốn sống còn hay còn sống thì (a) đừng bao giờ chọc giận Nga phải ra tay, (b) đừng bao giờ chọc giận Hoa Kỳ phải xuất chiêu, và (c) đừng bao giờ chọc giận Việt Nam phải động thủ. Tất nhiên là về quân sự.

D) Tứ Đại Phúc Của Nhật Bản

Thế giới – kể cả các tiểu thế giới chống cộng – đều biết nhiều, viết nhiều, và nói nhiều về sự thần kỳ của sức mạnh Nhật Bản. Lập lại các lời khen tặng đó trong bài viết này sẽ chỉ biến người viết thành kẻ thuộc đẳng cấp tầm thường. Nếu như sự đại bại của Nhật Bản là hậu quả của ba điều ngu muội lớn mà tiếng Hán Việt gọi là “tam đại ngu” thì sự vươn lên tuyệt vời của Nhật Bản không thể không nói đến “tứ đại phúc” tuyệt diệu cơ duyên Trời ban vĩ đại độc đáo sau, khiến mỗi người dân Nhật Bản có bốn chí khí không thể bắt gặp nơi bất kỳ dân tộc nào trên toàn thế giới:

1- Trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của nước nhà

Người Nhật là minh chứng cho tất cả các giải nghĩa giải thích thế nào là “trung thành tuyệt đối” khi hoàng gia của họ là độc nhất vô nhị duy trì quyền lực từ thủa xa xưa cho đến nay, bất kể trong cái “ngàn xưa” ấy thể chế quân chủ chuyên chế của họ có hà khắc bạo tàn đến đâu chăng nữa. Muốn đất nước hùng mạnh thì đất nước phải có con người hùng mạnh, và muốn trở thành con người hùng mạnh cần thiết cho một quốc gia thì bản thân người ấy phải trung thành tuyệt đối với thể chế chính trị nước nhà. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu không có đức tính trung thành tuyệt đối giống y hệt của người Nhật Bản.

2- Tận tụy hy sinh vì đất nước ngay cả trong mặt trận hiền hòa của giáo dục và đào tạo

Người ta chỉ hay nói đến các chiến binh Nhật Bản xa xưa với tinh thần được gọi quen thuộc là “tinh thần võ sĩ đạo Samurai” với hành động Seppuku tức Hara-kiri tức là dùng ngọn dao “tantō” tự mổ bụng tự sát để bảo toàn thanh danh trung thành trung tín đến cùng, bất kể đó là lòng tận trung của một nam nhân đối với chủ nhân là hoàng đế hay chỉ là một chủ nhân. Đến thời cận đại, người ta lại nói đến các phi đội Thần Phong Kamikaze với bao phi công cảm tử lái máy bay chở đầy bom lao xuống các ống khói của các hàng không mẫu hạm và soái hạm Hoa Kỳ để làm nổ tung đánh chìm các chiến hạm này. Tuy nhiên, sự tận tụy hy sinh của người Nhật Bản hầu như chỉ được nhắc đến ở Hara-kiri và Kamikaze khiến có sự lầm tưởng rằng sự dữ dội chỉ có nơi các chiến binh Nhật Bản đối với quân thù. Người ta ít khi nhớ đến sự thật rằng đã có những sự việc cho thấy trong khi Samurai dữ dội liên quan đặc thù đến những võ sĩ dũng mãnh, thì sự dữ dội còn được thể hiện bởi các văn nhân hiền hòa, qua các giai thoại về những du học sinh Nhật Bản tại Mỹ đã tình nguyện tự sát theo kiểu hara-kiri mà Mỹ và thế giới lầm tưởng là “thói quen mổ bụng của người Nhật” nên mất cảnh giác, giúp các du học sinh Nhật Bản khác có thể nhét dấu tài liệu tình báo khoa học kỹ thuật thu thập được của Mỹ vào bên trong xác các du học sinh tự sát ấy trước khi khâu vá ổ bụng lại để đưa linh cữu về Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng phát triển đội ngũ khoa học gia và kỹ thuật gia tiên tiến, trở thành siêu cường quốc công nghệ hàng đầu thế giới. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản chê bai Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên bỏ sang Mỹ học để bỏ Nhật Bản. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản lại không cho rằng chính vì Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên phải sang Mỹ học để bằng mọi giá đem được về Nhật Bản các “tài sản trí tuệ khoa học Mỹ” để giúp Nhật Bản hùng cường. Nhiều “nhân sĩ” hay “chí sĩ” Việt Nam hớn hở định “đi tắt đón đầu” bằng cách hăm hở “Đông Du” để thâu tóm kiến thức Mỹ mà người Nhật Bản đã phải cất công hy sinh lặn lội sang Mỹ để học tập mà không “nhân sĩ” hay “chí sĩ” nào của Việt Nam phải hara-kiri như người Nhật Bản. Tất nhiên, người Nhật Bản đủ khôn để không truyền lộ cho kẻ khôn vặt khôn lõi chỉ chuyên đi tắt ấy các bí kíp kỹ thuật công nghệ tối tân, nên tất cả các “nhân sĩ” và “chí sĩ” Việt Nam của các phong trào Đông Du không bất kỳ ai sau đó trở về Việt Nam giúp Việt Nam trở thành cường quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cả. Người viết bài này khi lập gia đình đã được một ông chú bên nhà vợ tặng một bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Ông là Lê Phục Thiện, một “nhân sĩ chí sĩ” người Hà Nội đã “Đông Du” sang Nhật Bản học…làm thơ tiếng Hán và làm “chính trị”, trở về hoạt động chính trị chống “Cộng”, di cư vào Sài Gòn sống ở đường Dạ Nam gần Cầu Chữ Y, trước tác dịch thuật một số tác phẩm chữ Hán ra quốc ngữ, trở thành một học giả thường được Nhật Bản mời sang dự những hội nghị về … Hán Học, và sống thọ cho đến hàng chục năm sau ngày “Cộng” giải phóng miền Nam. Chú Lê Phục Thiện của bên Nội của bà mẹ vợ của tác giả bài blog này đã chưa từng cùng bất kỳ các vị “đồng chí” nào của Phong Trào Đông Du trở thành danh nhân xây dựng Việt Nam thành cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài khi sang du học tại đất nước Nhật Bản cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài ấy. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu như đức tính tận tụy hy sinh dữ dội không tồn tại nơi tất cả người dân thuộc tất cả ngành nghề dù võ hay văn.

3- Dũng mãnh vươn ra thế giới toàn cầu hóa với tinh thần bài ngoại triệt để

Từ xua quân tràn ngập phân nửa địa cầu làm bá chủ Đại Đông Á và Thái Bình Dương, Nhật Bản đã xua sản phẩm công nghệ cao chất lượng tuyệt hảo tràn ngập toàn bộ địa cầu, đẩy ngay cả tượng đài công nghiệp vĩ đại nhất thế giới là Đức Quốc lùi vào bóng tối của kẻ chiếu dưới. Các công ty Nhật Bản có mặt ở nơi nơi. Và sự cúi đầu chào cung kính của người Nhật Bản gióng lên hồi chuông cảnh báo toàn cầu mà thành ngữ stoop to conquer (nhún nhường nhu mì hạ mình để chinh phạt) của tác phẩm She Stoops to Conquer của kịch tác gia Oliver Goldsmith thế kỷ XVIII là thích hợp nhất, vì cùng với thái độ lịch sự cung kính cúi rạp người của doanh nhân Nhật là sự cứng rắn dứt khoát phải sử dụng xe ô-tô do Nhật sản xuất dù đang công tác tại bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới. Chính các doanh nhân Nhật đã khiến các doanh nhân Đức tại Việt Nam buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Đức, và doanh nhân Pháp buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Pháp khi làm việc tại Việt Nam. Tất nhiên, doanh nhân các quốc tịch khác tại Việt Nam thì ưu tiên dùng xe ô-tô…Nhật. Nếu stoop vì ươn hèn, khom mọp mình luồn cúi ngoại nhân, thì đó không là tư cách người Nhật Bản mà là của giống dân nào đó. Nếu stoop để ru ngủ đối phương tiến đến mất cảnh giác, thì đây là một chiêu thức võ thuật tuyệt luân của nhà chinh phạt và chinh phục mà người Nhật Bản là bậc thầy duy nhất. Nếu bài ngoại để gây ác cảm với thiên hạ, tự cô lập hóa mình, thì đó không là tư thế người Nhật Bản. Nếu bài ngoại để khiến thiên hạ phải kính sợ mình, biến bài ngoại thành một thương hiệu dân tộc tính tích cực đầy hấp dẫn (nghĩa là: tôi dứt khoát chỉ xài hàng hóa của nước tôi vì đó là hàng tốt nhất thế giới, anh mua dùng đi rồi sẽ biết), thì đó chính là tư thế chỉ có nơi người Nhật Bản.

4- Nỗ lực chỉ làm chúa ngoại bang chứ không làm tôi mọi cho ngoại bang

Đây là đặc điểm tuyệt vời của người Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng trở thành siêu cường kinh tế thế giới. Hãng Toyota đã từng vung tiền “bứng” được một CEO người Mỹ của một công ty Mỹ về làm tổng giám đốc Toyota tại Nhật Bản. Người dân nước khác – trong đó có người Việt – thường lấy làm vinh dự khi được các công ty lớn ở nước ngoài tuyển dụng, nhất là khi cơ quan tuyển dụng thuộc cỡ như cơ quan nghiên cứu vũ trụ Hoa Kỳ NASA, nhưng chẳng ai nhận ra một sự thật là dường như chẳng nghe hay rất ít khi nghe nói đến một người Nhật nào đó được tuyển dụng bởi các cơ quan khổng lồ tương tự. Chính vì vậy mà Nhật Bản chế tạo phi cơ tiêm kích, máy bay cường kích; hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, chiến hạm; sản xuất vệ tinh nhân tạo và tự phóng vệ tinh nhân tạo, v.v., trong khi người dân các nước khác – trong đó có người Việt – dù làm việc cho NASA thì cũng chỉ là người lao động làm công ăn lương chứ không bao giờ được nắm bắt các công nghệ kỹ thuật để các nước của họ – trong đó có Việt Nam – chế tạo được ngần ấy thứ như Nhật Bản.

Người Nhật Bản biết chính họ mới làm Nhật Bản thành cường quốc. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – chất vấn cật vấn tra vấn Chính phủ nước họ tại sao Chính phủ vẫn chưa luyện xong phép màu hô biến làm cho nước họ thành cường quốc.

Người Nhật Bản biết nước họ nhỏ hẹp, tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thể chế chính trị quân chủ quân phiệt sai lầm đẩy quốc gia vào Thế Chiến điêu linh điêu tàn, nên họ càng phải hy sinh tuyệt đối để quốc gia khắc phục khó khăn về sự nhỏ hẹp chật chội, khó khăn về sự thiếu hụt tài nguyên, khó khăn về hậu quả từ sự sai lầm nghiêm trọng của nhà cầm quyền thể chế chính trị quốc gia ấy. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – dù biết nước họ rộng lớn hơn, tài nguyên dồi dào hơn, chính phủ nước họ có kỳ tích giải phóng dân tộc và từng bước chậm rãi phát triển kinh tế nước nhà, vẫn điềm nhiên chê bai chính phủ nước họ, tích cực đòi hỏi “cãi thiện dân chủ”, hùng hổ vung tay đòi “đa đảng” và “biểu tình” nhằm tơ tưởng đến chuyện vi hiến là thay đổi thể chế chính trị nước nhà, tiến tới tiêu diệt thế lực hùng mạnh duy nhất có thể bảo vệ đất nước của họ trước hiễm họa xâm lăng.

Nếu như tiểu thuyết Tam Quốc Chí của nước Tàu có tuyên bố ai có một trong nhị đại quân sư Phục Long (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng) và Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì sẽ lập thành đế nghiệp, thì đại thuyết Lăng Tần của nước đánh bại Tàu lại tuyên cáo rằng nếu nước nào có nhân dân sở hữu một trong tứ đại phúc của người Nhật Bản thì nước đó đã có quá dư điều kiện để trở thành siêu cường kinh tế.

E) Sự Tốt Đẹp Của Nhật Bản và Việt Nam

Nhật Bản và Việt Nam như một duyên nghiệp của sự hòa thuận điển hình độc nhất vô nhị trên toàn thế giới.

Nhật Bản có một quá khứ tàn bạo trong Đệ Nhị Thế Chiến, làm hơn một triệu người Việt chết đói. Nhật Bản biết phục thiện, nên ngay từ thời chiến tranh giải phóng của Việt Nam chống Mỹ, Nhật Bản đã đối xử tốt với cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mà Bịnh Viện Chợ Rẩy hiện đại nhất ở Sài Gòn là một bằng chứng.

Trong khi đến tận ngày nay nhiều bà lão Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn còn kéo đến khóc lóc trước các đại sứ quán Nhật Bản đòi Nhật Bản chính thức xin lỗi và bồi thường do quân đội Thiên Hoàng đã hãm hiếp họ, bắt họ làm nô lệ tình dục phục vụ các đạo quân Quan Đông cũng như tại tất cả các vùng Nhật chiếm đóng, thì người Việt Nam lại hiền hòa không lưu giữ chút ký ức cỏn con nào mang dấu ấn căm thù căm hận, thay vào đó là sự mở rộng vòng tay cười đôn hậu đón tiếp bất kỳ “người chạy lại” nào có lòng phục thiện.

Sự hòa thuận giữa người biết lỗi ra sức chuộc lỗi và người xởi lởi thích bầu bạn bốn phương thân tình chứ chẳng biết oán thù là gì, đã giúp quan hệ Việt-Nhật tốt đẹp hơn hẳn các mối quan hệ ngoại giao khác. Sau ngày giải phóng miền Nam, Việt Nam bị bủa vây bởi lịnh cấm vận của Hoa Kỳ, và Nhật Bản, đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Châu Á, lại là sức mạnh xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ để đưa vào Việt Nam các nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất của nền kinh tế quốc dân, kể cả các vật liệu chiến lược như sợi cáp quang mà các siêu cường kinh tế chưa chắc có được – như đã dẫn trong bài Việt Nam Hưỡng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ trên blog này – kể cả việc đồng Yên Nhật trở thành đồng ngoại tệ giúp Việt Nam trụ vững trong thời gian Mỹ phong tỏa và tịch thu tất cả các chuyển dịch giao dịch bằng đồng Mỹ Kim của Việt Nam. Và trong thời điểm Việt Nam chưa mở cửa thì các doanh nhân và các nhà khoa học Nhật đã có mặt để đi đến các tỉnh thành của Việt Nam để nghiên cứu phát triển các giống cây trồng giúp Việt Nam và nhập khẩu hải sản từ Việt Nam, mà tác giả bài viết này đã là người đưa các nhà khoa học ấy lặn lội đến các vùng thâm canh chuyên canh nông nghiệp, cũng như đã ngạc nhiên khi Seaprodex bó tay không biết kiếm đâu ra baby octopus tức bạch tuộc con (tức con của con bạch tuộc) để gởi bản chào giá quotation cung cấp cho các nhu cầu của các doanh nghiệp Nhật Bản (với lý do ngư dân Việt Nam mà lưới nhằm “mực ma” tức bạch tuộc là ném trở lại biển hết vì sợ xui) mà tác giả bài này đã cất công kiếm về cho đất nước.

F) Lục Chân Lý Dành Cho Việt Nam

Từ tất cả các chi tiết trên, có thể rút ra sơ khởi 6 chân lý sau cho Việt Nam:

1- Khi người Việt không trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của Việt Nam, đất nước không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

2- Khi sinh viên học sinh Việt vừa ngày đầu đặt chân ra hải ngoại du học đã lớn tiếng chê bai nền giáo dục nước nhà, ca cẩm về thu nhập thấp ở quê nhà không tương xứng với sự vĩ đại của cá nhân (công thức bất lương: “được” học ở nước ngoài = vĩ nhân), đánh tiếng sẽ ở lại nước ngoài để làm việc (lạy giời, nếu có kẻ đại khôn nào đó thuê mướn đứa thua xa tư cách sinh viên học sinh Nhật ấy để trả lương thấp hơn) nếu nước nhà không “trọng dụng nhân tài” (công thức vô sĩ: nhân tài = du học nước ngoài về), Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

3- Khi sinh viên học sinh Việt Nam ngay khi còn ở Việt Nam đã vọng ngoại, tức đánh mất bản sắc dân tộc (nền tảng của sự phát triển đại thụ rừng sinh thái sinh quyển của nhân loại) mà chỉ còn là thứ lai F2 hay F3 nào đấy (cây ươm vườn rồi xuất khẩu trong túi nylon để trồng vào thổ nhưỡng khác để thành…cây dây leo hay cây cối hoặc cây kiểng), thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

4- Khi sinh viên học sinh Việt Nam dù đang học ở Việt Nam hay đã học “ở bển” mới về, đều hoặc muốn “khởi nghiệp” tức “mở công ty” ở Việt Nam để ngồi trên đầu dân Việt Nam, hoặc muốn làm việc cho công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, tức đội chủ nước ngoài trên đầu mình, thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

5- Bất kỳ sinh viên học sinh nào của Việt Nam dù đang học trong nước hay đang học “ở bển” ngay khi đọc xong bài viết này đều sẽ trở nên người có tư cách, có lòng tự trọng, khiến sẽ biết thân biết phận hèn kém của mình so với người Nhật ra sao nên sẽ học trong im lặng, sẽ làm việc trong yên lặng, sẽ tạo dựng “khởi nghiệp” trong lặng im, sẽ gầy dựng gia đình trong lặng yên, và sẽ không bao giờ dám mở miệng kém hèn của mình để lên mặt lên tiếng lên giọng dè bỉu, chê bai chế độ Việt Nam, bảo chính phủ Việt Nam bất tài vô dụng không thể dựng xây đất nước phú cường như Nhật Bản.

6- Việt Nam sẽ trở thành cường quốc kinh tế nhưng phải theo một tiến trình gian nan không nhanh chóng dựa trên đặc thù Việt Nam gồm (a) tự thân bương chải, (b) bốn phương tám hướng tổng cộng mười hai ngõ đều thọ địch bủa vây, (c) nguồn nhân lực có 5 “đức tính siêu tích cực” nêu trên, (d) thành công của Việt Nam khiến các ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế hoặc gia giảm hoặc không còn, và (f) thế giới không thực sự thực tâm tập trung giúp đỡ tận tình do không bao giờ cam tâm nhìn thấy một Việt Nam hùng mạnh biến chủ nghĩa xã hội cùng “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trở thành khuôn mẫu quá hoành tráng trước nhân loại.

 

Hỡi ôi, là người có thẻ căn cước Việt Nam mà không nhận ra các sự thật trên, cứ mãi đít ngồi, đùi rung, lưỡi liếm bia bọt, răng nhai râu khô mực chấm tương ớt, mồm dè bỉu chế độ, miệng chê bai Đảng, mõ phát tán loa các nhạo báng Chính Phủ, gật gù ngợi ca Nhật Bản, trong khi chẳng hy sinh bất cứ thứ gì đáng giá hơn cọng tóc sợi lông cho đại cuộc phát triển quốc gia Việt Nam thành cường quốc thì chẳng phải chẳng là tự hạ mình thãm hại trước ánh mắt thương hại của người Nhật Bản lắm ru? Bản thân người ngợm chẳng bằng người Nhật mà còn rống họng đòi Cộng Sản Việt Nam phải có trách nhiệm dựng xây đất nước Việt Nam giàu mạnh y như Nhật Bản há chẳng phải là diễn tuồng hý hước chọc cười cho con cháu Thái Dương Thần Nữ hay sao?

Con cháu Bà Âu Cơ không có đặc tính dân tộc dữ dội trong huyết quản từ muôn đời, không từng đem sự dữ dội ấy ra đánh nhau với cả thế giới để mài giũa sắc bén thêm và làm tiêu hao dân số địa cầu, chưa từng thực hiện việc tìm-và-diệt cùng lúc đối với Hoa Kỳ và kẻ thù khác của Hoa Kỳ để phải bị Hoa Kỳ ném bom nguyên tử rồi được Hoa Kỳ đổ tiền vào tái thiết hầu biến thành đồng minh chống các kẻ thù khác của Mỹ như con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ nên không cách chi đất nước của con cháu Bà Âu Cơ sẽ biến thành cường quốc y hệt đất nước của con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ cả.

Tuy nhiên, con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ mà hợp tác với con cháu Bà Âu Cơ thì con cháu Bà Nữ Oa chỉ còn nước khóc òa.

Kỳ sau: Bài 4: Ý Chí Quốc Dân và Yêu Cầu Công Dân

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

16-7-2014: Vững Tâm Kiến Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/16/vung-tam-kien-quoc/

29-10-2014: Trăm Trứng Âu Cơ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/29/tram-trung/

06-01-2016: Việt Nam Hưởng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/06/viet-nam-huong-loi-tu-linh-cam-van-cua-hoa-ky/

06-02-2016: Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Cụm bài về “Nhân Tài”:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Advertisements

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-02-2016

 TKTam (3)

Tổng Giám đốc Công ty Trần Liên Hưng Trần Khắc Tâm là nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội Tỉnh Sóc Trăng. Ông là chức sắc cấp cao của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (Ủy viên Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Sóc Trăng), Chủ tịch Hội Doanh Nhân Trẻ Tỉnh Sóc Trăng, và là Ủy Viên Hội Đồng Dân Tộc của Quốc Hội.

Nghị sĩ Trần Khắc Tâm được biết đến như một hình mẫu của một nghị sĩ miền Nam chân chất, giản dị, biết chăm lo cho dân chúng ở tỉnh nhà và cho đại sự quốc gia. Khi đem đến nghị trường cái lo lắng của Ông đối với nguy cơ nông dân Sóc Trăng bị thiệt hại từ thiên tai dịch bệnh trong nuôi trồng thủy hải sản, Ông đã khiến mọi người từ thói quen tập trung cho những điều có khi vĩ mô, có khi chỉ là sự đua đòi theo ngoại quốc cứ hễ thấy người ta có luật nào mình chưa có thì hăng hái đề nghị ra luật đó với lý do “trả nợ với nhân dân”, bắt đầu thấm thía thế nào là cái tâm thực sự của một nghị sĩ đối với “cái nợ thật sự” đối với dân. Ông lên tiếng kêu gọi trung ương lưu tâm đến tình cảnh nông dân Sóc Trăng phải gánh chịu trước những dọa đe đối với cuộc sống sinh nhai, từ đó áp dụng cho nông dân toàn quốc, thay vì những điệp khúc quen thuộc thường nghe thấy chốn nghị trường là xin ngân sách trung ương để xây cầu hoặc làm đường cho các địa phương. Ông còn là vị nghị sĩ độc đáo vì dường như chỉ có Ông là quá tâm huyết quá tự hào với sản vật địa phương mà nhân dân của Ông ở Sóc Trăng sản xuất, đến độ mỗi khi Ông đi họp Quốc Hội là hành trang Ông mang theo lủ khủ các bao nylon đựng tôm khô mà Ông gởi tặng các nghị sĩ khác để vừa dùng “lấy thảo” theo phong cách miền Nam, vừa để tự hào “khoe” tôm khô của Sóc Trăng là loại thượng hảo hạng tốt và ngon nhất. Khi tôi áy náy nói với Ông rằng người dân phía Bắc dường như ưa chuộng hải sản tươi sống hơn, thì Ông cười hào sảng trả lời rằng “Đâu có sao đâu anh Phước. Nếu ai nhận quà của em mà không xài thì họ sẽ đem cho người quen của họ, nên rốt cuộc con tôm khô của dân Sóc Trăng cũng sẽ đến tay người nào chịu ăn thử và nhờ vậy tôm khô Sóc Trăng và bánh pía của dân em làm ra sẽ được thưởng thức khắp nước và sẽ được khen mà!”. Cái “đắc nhân tâm” khoáng đạt, hồn nhiên và tự nhiên của Ông Trần Khắc Tâm làm tôi nhớ đến các bậc đại nhân thời xưa trong bộ Minh Tâm Bảo Giám.

Là một nghị sĩ tích cực, Ông Trần Khắc Tâm còn thường xuyên phát biểu tại nghị trường đối với các vấn đề vĩ mô mang tính kế sách quốc gia, đặc biệt đối với các chương trình nghị sự có liên quan đến các lĩnh vực Ông có nhiều kinh nghiệm thực tế như Mặt Trận Tổ Quốc, Công Đoàn, Lao Động, và Kinh Doanh, v.v., để thực sự đúng nghĩa một “nhà lập pháp” và là người tham gia giải quyết các vấn đề trọng đại của quốc gia mà nhân dân Sóc Trăng giao phó tín thác cho Ông qua lá phiếu của mình.

Nghị sĩ Trần Khắc Tâm đã hết lòng vì dân. Quốc Hội Khóa XIII đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong hoàn cảnh vận mệnh quốc gia phải đương đầu với bao thách thức lớn lao. Ông có quyền tự hào đã có góp phần vào đại cuộc ấy.

Tấm lòng luôn đau đáu vì cuộc sống của người dân Sóc Trăng, luôn vinh danh con người Sóc Trăng, luôn tìm cách giới thiệu với lòng tự hào các sản vật dù dân dã đơn sơ, thành quả kết tinh từ sự miệt mài lao động gian khổ của người dân Sóc Trăng, đã biến Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm trở thành người được mến mộ chốn nghị trường.

Kính chúc Nghị sĩ Trần Khắc Tâm sức khỏe, tiếp tục cống hiến dài lâu cho đất nước, cho nhân dân, để Sóc Trăng luôn được biết đến, còn người dân Sóc Trăng mà Ông luôn hết lòng phục vụ có thể tự hào có Ông là nghị sĩ dân cử của họ.

TKTam (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

Bài 2: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-02-2016

Là một quốc gia phải vượt qua các cuộc chiến tranh trường kỳ cứu quốc, lập quốc, và vệ quốc, theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự “tự mình bương chải” giữa các thế lực thù địch bủa vây, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc tài của Singapore chỉ để nuôi giấc mơ được hùng mạnh về kinh tế như Singapore.

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu) là nhà độc tài mà thế giới tự do yêu thích. Ông ủng hộ Chủ Nghĩa Xã Hội và cùng người ủng hộ Chủ Nghĩa Cộng Sản là Lim Chin Sion (Liêm Chính Xương) hợp nhất lập đảng Hành Động Nhân Dân PAP, trở thành đảng chính trị cầm quyền thống trị ở Singapore. Từ triết thuyết cộng sản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Lee Kuan Yew lập nên mô hình quản lý riêng biệt thiên hướng xã hội dân chủ theo một nền văn hóa chính trị riêng biệt với cơ cấu quyền lực của độc tài, thực dụng, hợp lý và mang tính pháp lý trung ương tập quyền cao độ mà các nhân sự trị quốc được bổ nhiệm chứ không qua bầu cử và dưới sự lãnh đạo của Lee Kuan Yew và PAP Singapore đã đạt và giữ vững sự tăng trưởng kinh tế cùng sự ổn định chính trị. Như vậy, Singapore theo đuổi một chế độ gọi là Meritocracy tức chế độ trọng dụng nhân tài mà điều kiện tiên quyết của Lee Kuan Yew buộc phải là: luôn hết lòng trung thành với quốc gia và với chủ trương chính sách của Lee Kuan Yew.

Trong các giá trị thì Lee Kuan Yew xem kỹ luật nghiêm ngặt cùng sự bất chấp dân chủ là cao trọng nhất. Lee Kuan Yew cho rằng dân chủ không thích hợp cho các quốc gia đang phát triển. Ông xử tội bất kỳ ai vi phạm các quy định của ông đối với trật tự công cộng, từ người nhai kẹo cao su nhổ bừa bãi, đến người đồng tính nam, nhà phê bình truyền thông, và các lãnh đạo chính trị đối lập. Ông đã thố lộ với phóng viên Thời Báo New York rằng ông đã phải làm vài việc xấu xa như bắt nhốt dân chúng không cần xét xử. Điển hình như vụ Tiến sĩ Chia Thye Poh (Châu Thái Bảo) đã bị bắt tống giam lưu đày trên đảo suốt 23 năm vì thiên cộng sản và dám công kích Lee Kuan Yew, theo Luật An Ninh Nội Địa Singapore nên không bao giờ được đưa ra xét xử ở tòa án, và khi được thả phải bị quản thúc tại gia trong 9 năm, cấm không được đi lại, không được có việc làm, bị tước quyền “làm chính trị”. 32 năm tù đã làm Giáo sư Tiến sĩ Vật Lý Chia Thye Poh từ một giáo sư vật lý trẻ tuổi tài cao 25 tuổi trở thành một ông lão khi được thả khỏi ngục năm 1989 và giam lỏng thêm 9 năm trong một căn phòng giám quản nhỏ đủ cho một người ở mà nhà nước Singapore thậm chí còn bắt ông phải trả tiền thuê để nhà nước có cớ nói ông đã được “tự do”.

Singapore

Cả thế giới tự do không bao giờ lên án Lee Kuan Yew vì Lee Kuan Yew không cộng sản và sự tàn ác của Lee Kuan Yew có thể chấp nhận được vì “tù nhân lương tâm” Chia Thye Poh “có đầu óc” cộng sản. Giáo sư Chia Thye Poh được Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế gọi là “tù nhân lương tâm lâu năm nhất Singapore” như một cách tính toán số học thuần túy cứ như để cái tổ chức ấy có việc để làm, chứ thân phận con người của ông không bao giờ là thứ đáng cho họ phải quan tâm đến, và công việc quan trọng cuối cùng của tổ chức này là ra tuyên bố vào ngày 27-11-1998 rằng các trừng phạt đối với “tù nhân lương tâm” Chia Thye Poh cuối cùng đã được giải tỏa. Ông được trở vào đất liền, được phép tìm việc làm, và được học tiếng Đức, học các bộ môn chính trị học cùng kinh tế học tại Hamburg nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Đức Helmut Kohl và năm 2015 được đề cử cho giải Nobel Hòa Bình.

Gần đây hơn, Tiến sĩ Chee Soon Juan (Chí Xuân Dương) sau nhiều lần bị tù tội do dám tuyên bố các cơ quan tư pháp Singapore không độc lập, đã bị tuyên bố phá sản năm 2006 khiến không được phép ra ứng cử Quốc Hội do không đủ tiền đóng phạt cho hai vị thủ tướng tiền nhiệm là Lee Kuan Yew và Goh Chok Tong do đã chê bai các vị lãnh đạo này của đảng PAP. Chỉ sau khi kiếm đủ tiền nộp cho hai vị này, Tiến sĩ Chee mới được phép tham gia ứng cử năm 2015.

Với quyền lực thống chế truyền thông, Lee Kuan Yew thường xuyến công kích các tổ chức truyền thông phương Tây nào dám cả gan nói về chủ nghĩa “gia đình trị” hoặc “chủ nghĩa truyền ngôi triều đại” nhắm vào việc con ông được lên làm Thủ Tướng năm 2004 cũng như nhiều thành viên gia đình ông nắm giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền, thậm chí Ông còn kiện ra tòa luôn cả các cơ quan thông tấn báo chí như International Herald Tribune, Economist, và Bloomberg News, khiến các cơ quan ngôn luận này bị tòa án Singapore phạt nặng và phải giới hạn số lượng ấn bản được phép phát hành.

Lee Kuan Yew đã phạm sai lầm khi ra sức phát ngôn về dân chủ Châu Á, cho rằng các giá trị Á Châu độc đáo không bao giờ tương thích với các hình thái tự do phương Tây, và ông đã bị hớ khi Đài Loan, Hàn Quốc, và Indonesia sau đó trở thành các thực thể “thân Mỹ” hùng mạnh về kinh tế theo mô hình phương Tây, khiến người dân Singapore đòi hỏi phải có những cải tổ dân chủ hơn, và khiến con của Lee Kuan Yew là Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long) buộc phải tuyên bố “đây là một thế hệ khác, một xã hội khác, nên chính trị sẽ phải khác”.

Tóm lại, nền tảng cho sự “cất cánh” của Singapore là minh chứng cho công thức mang tính chân lý của muôn đời của thế giới quân chủ chuyên chế và tư bản đế quốc:

 Singapore 2

mà người đời có thể ví von rằng nếu thiếu ngọn roi của Tần Thủy Hoàng thì thế giới ngày nay đã không bao giờ có (a) vật thể được nhìn thấy từ khoảng không vũ trụ tức Vạn Lý Trường Thành, và (b) siêu cường quốc Trung Hoa thống nhất.

Vì lý do trên, sơ khởi có 8 chân lý sau:

a- Chân Lý 1: Việc nêu tên Singapore như một “gương sáng” đáng ước mơ mà Việt Nam phải noi theo như một khuôn mẫu duy nhất để trở thành cường quốc kinh tế là một việc hoàn toàn thiếu khôn ngoan.

b- Chân Lý 2: Việc Lee Kuan Yew đã thực thi chủ nghĩa trọng dụng nhân tài với tiêu chí duy nhất là trung thành tuyệt đối với đất nước và đường lối chính trị của Đảng Hành Động Nhân Dân Singapore, cho thấy việc Việt Nam sử dụng nhân tài có sự chọn lọc dù nhân tài trong Đảng hay nhân tài ngoài Đảng trên cơ sở duy nhất là trung thành tuyệt đối với đất nước và đường lối chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đúng đắn ở tất cả các quốc gia. Đã có – hoặc manh nha có – các hoạt động chống Chính phủ và/hay chống thể chế chính trị của đất nước thì mãi mãi không bao giờ được xem là “nhân tài” để mà được “trọng dụng” vì đó chỉ là kẻ phá hoại mà ngay cả “thiên đường cường quốc Singapore” cũng phải luôn ra tay trừng trị, triệt tiêu.

c- Chân Lý 3: So với Singapore, Việt Nam đang có cơ sở dân chủ tốt hơn, tự do hơn, lý tưởng hơn, nhân văn hơn, tiến bộ hơn, trọng dân hơn.

d- Chân Lý 4: Nhờ có bàn tay hà khắc của Lee Kuan Yew và luật pháp hà khắc của Singapore, tình hình tham nhũng ở Singapore tốt hơn, trong sạch hơn Việt Nam. Không có bàn tay hà khắc ấy và không có luật pháp hà khắc, Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa quá dịu dàng với người dân tiêu cực vừa quá nhân đạo với đảng viên hư đốn sẽ không bao giờ cải thiện được tình trạng tinh hình tham nhũng ở Việt Nam.

e- Chân Lý 5: Chỉ có học sinh non nớt, sinh viên thơ dại, và người lớn mơ hồ, mới nói, mới viết, mới cho rằng Singapore là hình mẫu đáng ca ngợi và gương sáng vinh diệu cho Việt Nam noi theo.

f- Chân Lý 6: Lý Quang Diệu thành vĩ nhân vì đã trên cơ sở xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trong tư duy khiến thúc đẫy ươm mầm cho sự vươn lên “vì nước, vì dân” trong kỷ luật sắt, trừng phạt “biểu tình”, tạo nên sự ổn điịnh chính trị gần như là tuyệt đối khiến thế giới tư bản yên tâm đổ xô đổ tiền vào bùng nổ đầu tư, kinh doanh, còn Singapore trở thành cường quốc kinh tế.

g- Chân Lý 7: Lý Quang Diệu thành vĩ nhân vì đã khôn ngoan vừa chống tất cả những ai có tư tưởng cộng sản và xã hội chủ nghĩa như mình để được danh “chống cộng” lấy lòng “thế giới tự do” để cái thế giới ấy để yên cho Ông phát huy tính khí “thiên triều” thừa hưởng từ giòng máu Hoa để trở thành nhà độc tài có quyền trao ngôi thống trị lại cho “hoàng thái tử” và “hoàng tộc Lý triều”.

h- Chân Lý 8: Singapore thành cường quốc vì người dân Singapore tự nguyện chấp nhận các chân lý 6 và 7 kể trên, nghĩa là người dân luôn là một thực thể quyền năng trong hiện thực hóa giấc mơ cường quốc của một quốc gia.

Kỳ sau: Bài 3 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) Tư liệu về Lee Kuan Yew và Singapore:

Báo Washington Post. 22-5-2015: An Astonishing Record. http://www.washingtonpost.com/opinions/lee-kuan-yew-singapores-long-time-leader/2015/03/22/47d34c2e-ce60-11e4-8c54-ffb5ba6f2f69_story.html. Retrieved 20 February 2016.

Tạp Chí Economist. 23-3-2015. Lee Kuan Yew, Singapore’s Longtime Leader. http://www.economist.com/blogs/graphicdetail/2015/03/lee-kuan-yews-singapore. Retrieved 20 February 2016.

B) Bài viết của Hoàng Hữu Phước:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/25/nhan-quyen-va-pham-gia/

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp

Hoàng Hữu Phước, Hoàng Hữu Phước, MIB

Việt Nam đang phải đương đầu với bốn vấn nạn triền miên gồm (a) nhiều người dân vẫn cho rằng Việt Nam có là cường quốc hay không thì đó là trách nhiệm và bổn phận của chỉ riêng chính phủ – mà ở Việt Nam quy tất cả đổ tất cả về cho “chế độ” và/hay Đảng Cộng Sản, nếu đạt được gì đấy thì dù Ngân Hàng Thế Giới có đánh giá cao vẫn trề môi chê “chả thấm vào đâu”,

 CNKH1

còn nếu chưa đạt gì đấy thì nói tại “độc tài Đảng trị”; (b) giới trẻ tức công dân hiện tại và là nguồn lực tương lai của đất nước vẫn luôn tự cho minh cái quyền đứng trên cương vị, tư thế, tư cách, và phong cách người ngoài cuộc khi đánh giá cao và thần phục các phát triển vượt bậc về kinh tế của nước ngoài; (c) các sự thật lịch sử thế giới hiển nhiên ngồn ngộn đầy ắp thông tin vẫn không được màng đến – hoặc vô tâm hoặc cố ý – bởi các đối tượng nêu trong mục a và b ở trên; và (d) gần như giới trẻ luôn cho rằng “khởi nghiệp” chính là “mở doanh nghiệp và làm chủ doanh nghiệp”.

Với kinh nghiệm của người đã luôn làm sáng tỏ bản chất sự việc của nào là “đa đảng”, “dân chủ”, “tự do”, “tuyệt thực”, “tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”, hay “nhân quyền”, hoặc “biểu tình”, v.v., khiến không gian mạng trong và ngoài nước đã giảm hẳn các giật tít câu view vớ vẩn chỉ nhằm công kích nền dân chủ và thể chế chính trị của Việt Nam, tác giả bài viết này hôm nay làm sáng tỏ các nội hàm liên quan đến khởi nghiệp và cường quốc như một “cẩm nang kiến quốc” dành cho công dân, theo các mục lục sau:

 CNKQ2

mà bài viết sau là bài số 1 :

Cẩm Nang Khởi Nghiệp

1- Khởi Nghiệp Lành Mạnh Nguyên Thủy

Từ ngàn xưa trên thế giới cho đến trước khi từ ngữ ‘‘start up” du nhập vào Việt Nam ở dạng distorted tức méo mó thì khởi nghiệp đã luôn là hơi thở lành mạnh của con người dù là người Việt hay người của phần còn lại của thế giới. “Hơi Thở” vì khởi nghiệp là việc hết sức bình thường, hết sức tự nhiên; còn “lành mạnh” vì chỉ có người chẳng may vì khuyết tật nặng, hoặc do hoàn cảnh chiến tranh, hoặc vì bị tù đày, mới khó thể “khởi nghiệp”, trong khi kẻ chây lười sống bám ký sinh trùng mới không thèm “khởi nghiệp”.

Khởi nghiệp dựa vào ước mơ, năng khiếu, năng lực, thời cơ. Khởi nghiệp là bắt đầu môt sự nghiệp. Chính vì vậy mà có người theo đuổi sự nghiệp một nhà giáo, một nhà văn, một nhà thơ, một người theo binh nghiệp để làm một quân nhân, một nhà chăn nuôi, một nhà trồng trọt, v.v., thậm chí một nhà tu hành cũng theo một khởi nghiệp cho một duyên nghiệp cứu độ chúng sinh. Từ ý thức khởi nghiệp này, xã hội trở nên lành mạnh vì không gì tuyệt diệu bằng đa số con người được sống và làm việc theo đam mê riêng, ước mơ riêng, năng khiếu riêng, năng lực riêng, và hòan cảnh thời cơ riêng của mình, khiến xã hội phát triển đa ngành nghề để dù là người chiến sĩ, nhà giáo, hay nhà văn – hoặc thậm chí như người kiểm tra bảo trì đường ray xe lửa mà phóng sự truyền hình VTV mới đây cho biết đã chọn nghề vì ước mơ từ nhỏ lúc chăn trâu đã thán phục nhìn những con tàu dũng mãnh vững chắc băng ngang đồng ruộng quá uy nghi – thì ai cũng an vui với chức nghiệp của mình. Một nữ danh ca lừng danh của Mỹ đã làm vợ một anh da đen khi thấy anh chàng này đu bám sau xe rác vừa nhảy xuống lấy rác quẳng lên sau xe vừa ca hát nhảy múa yêu đời. Cả hai đều thấy “sự nghiệp” của bản thân họ là cao quý. Lòng tự trọng là thứ vật phẩm cao quý nhất cộng với nếp sống tích cực, yêu đời, yêu quý công việc mình cho là đáng làm để phục vụ công ích, nên dù là cha của siêu sao bóng đá bầu dục nhà nghề Mỹ NFL Richard Sherman của đội Seattle Seahawks, ông Kevin Sherman vẫn hàng ngày thức dậy lúc 3 giờ 45 sáng lái xe đi lấy rác trên đường phố Los Angeles và thậm chí làm cả ngày cuối tuần để kiếm thêm ít tiền ngoài giờ dù con trai ông xin ông hãy cho con ông báo hiếu đón ông về an hưởng cuộc sống xa xỉ xa hoa. Hay như những nhà tu hành theo phân công của giáo hội đã ra hành đạo tại các đảo xa của tổ quốc Việt Nam luôn phải đối mặt với thiếu thốn vật chất cùng hiểm nguy của thiên nhiên và hiểm họa của chiến tranh. Tất cả mọi sự tốt đẹp này đều đến từ lòng tốt hướng thiện ngay từ ngày đầu nghĩ đến khởi nghiệp.

2- Khởi Nghiệp Tâm Bệnh Phong Trào

Với tâm bệnh “sĩ” của nhiều người Việt, khi chương trình MBA tức Master of Business Administration thâm nhập vào các trường đại học Việt Nam, người ta chọn đặt một cái tên cho thật kêu thành “chương trình Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh” và các trường thi nhau mở các khoa “cử nhân quản trị kinh doanh” chứ dứt khoát không chấp nhận danh xưng đúng hơn là “quản trị công việc”, khiến hầu như sinh viên nào cũng mơ mơ màng màng đến việc học xong sẽ làm quản lý doanh nghiệp, làm “sếp” doanh nghiệp, cứ như thể thiên hạ có tiền thì hãy mở công ty để ta đây đến làm giám đốc vậy, mà không biết rằng đó chỉ là ngành học về quản lý công việc trong thời đại mới cho một cuộc mưu sinh ngập đầy tính cạnh tranh khốc liệt, nghĩa là những gì liên quan đến cuộc sống của lương-tiền-cơm-áo nhất thiết phải được biết đến. Một nhân viên hay một giáo viên hoặc một người quản lý một “cây xăng” đều cần phải qua “business administration” để biết qua về hoạt động ngân hàng, về tiếp thị, về nhân sự, về chứng khoán, về kế toán, về thuế má, luật pháp kinh doanh, v.v., đơn giản vì ở xã hội Âu Mỹ ai mà không mua chứng khoán, không sợ nhất là các sai sót về thuế thu nhập cá nhân, không tự lo cho quyền lợi phúc lợi của mình như một người lao động, và không quan tâm đến luật pháp kinh doanh để hiểu biết rõ nhất về nơi mình làm việc để còn tự bảo vệ mình, v.v. và v.v. Tất nhiên, với sự hiểu biết như vậy, người bán xăng ở một “cây xăng” được thuê để một mình vừa bán xăng vừa phụ trách cửa hàng tiện ích bán hàng hóa cho khách mua xăng, nghĩa là phải biết về công việc tồn kho, thu ngân, kết toán, v.v. và v.v. mà chương trình “quản trị công việc” cung cấp đủ đầy các kiến thức chung ấy. Cũng tất nhiên, với sự hiểu biết ấy, người ta nếu muốn vẫn có thể tự mình lo toan cho một cơ sở kinh doanh riêng mà “trẻ em” Việt Nam sính dùng từ “doanh nghiệp” cho thêm phần hiển hách vì lẽ nào học 4 năm cử nhân đại học để ra đứng bán xăng!

Tương tự, đến khi thuật ngữ “start up” du nhập Việt Nam thì ai cũng gọi đó là “khởi nghiệp” vì cùng chứng bịnh “sĩ”, nhưng với ý nghĩa mới hoàn toàn chật chội: khởi đầu một doanh nghiệp! Thế là từ sự “khởi đầu một sự nghiệp” đa dạng và phong phú, thực tế, nhân văn, “start up” đã bị Việt Hóa co cụm lại thành “khởi đầu một doanh nghiệp”, khiến thay vì khởi nghiệp lẽ ra là điều dẫn dắt đúng đắn luôn có nơi chốn học đường dành cho lớp người tương lai của đất nước lại méo mó thành việc khẳng định mặc định rằng ai đi học xong mà không mở công ty thì chẳng thể gọi là có khởi nghiệp. Như tôi đã bao lần kêu gọi trong vô vọng là bạn trẻ hỡi hãy học tiếng Anh cho thực sự ra hồn đi, người ta lẽ ra nên dùng từ chính xác là “business startup” (hoặc business start up, hay entrepreneur startup) nếu muốn nói về việc bắt đầu một doanh nghiệp tức “start your own business” chứ đừng nói tắt là “khởi nghiệp” vì sai bét.

Startup company, startup business, startup hay start-up hoặc startup entrepreneurship đều có nghĩa là một cơ sở kinh doanh mới thành lập dưới dạng một công ty, một mô hình đối tác tạm thời. Nhưng khởi nghiệp trong tiếng Việt hoàn toàn không phải startup company, startup business, startup hay start-up của tiếng Anh, vì khởi nghiệp là từ dùng chung cho tất các trường hợp nghề nghiệp khác nhau chứ không cứ chỉ có mở doanh nghiệp!

Những kẻ không biết gì về ngôn ngữ Việt và tiếng Anh đã góp phần không những hủy phá ý nghĩa cao vời của khởi nghiệp mà còn làm lệch lạc định hướng nghề nghiệp lành mạnh của giới trẻ Việt Nam.

3- Quốc Gia Khởi Nghiệp

Một bằng chứng khác cho thấy sự sử dụng sai từ “start up” ở Việt Nam: tác phẩm Start-up Nation: The Story of Israel’s Economic Miracle của Dan Senorr và Saul Singer viết năm 2009 về sự phát triển kinh tế thần kỳ của Israel sau 60 năm lập quốc. Tác phẩm được tạp chí New York Times và Wall Street Journal xếp hạng thứ 5 những quyển bán chạy nhất thế giới năm 2010 này nói về “quốc gia khởi nghiệp” (start-up nation), từ đó có thể liên tưởng đến mẫu câu “doanh nghiệp khởi nghiệp” (start-up business) trong tiếng Việt chứ không chỉ ngắn gọn là “khởi nghiệp”.

4- Việt Nam Khởi Nghiệp

Từ các nội dung trên, tiến trình Việt Nam Khởi Nghiệp tức Start-up Vietnam theo ý nghĩa và công thức tạo từ của Start-up Nation để hy vọng có sự phát triển kinh tế thần kỳ như Israel, nhất thiết đòi hỏi

a) Các trường đại học Việt Nam cùng sinh viên phải hiểu rõ và đúng về cá nhân khởi nghiệp, về doanh nghiệp khởi nghiệp, và về Quốc gia khởi nghiệp, theo đó cá nhân khởi nghiệp là việc bắt đầu một sự nghiệp mà hoài bảo, ước mơ, năng lực, năng khiếu, v.v., đã trở thành kim chỉ nam hay một thứ xung lực và động lực mà trên hết là từ nền tảng của lòng cao thượng tổng hợp của vị tha, vì nước, vì dân, vì nét đẹp của nghề nghiệp, mà mọi người trên thế gian này từ ngàn xưa đã đều biết đến; doanh nghiệp khởi nghiệp là những gì cần và đủ nên có để một cơ sở kinh doanh nên được thành lập để người chủ có thể tồn tại, phát triển, đối phó xử lý khi phải phá sản; còn quốc gia khởi nghiệp là khi một quốc gia bắt đầu tiến trình kiến quốc sau thời gian lập quốc, sau thời gian thống nhất đất nước, hay sau thời gian khó khăn dẫm chân tại chỗ đã đề ra được phương hướng và kế hoạch dài hơi để phát triển đất nước.

b) Chính phủ phải có cơ chế quy định không cho phép sự tự do sử dụng từ ngữ trên các phương tiện truyền thông đại chúng trước khi các từ ngữ được thẩm định bởi cơ quan chức năng. Việc Việt Nam hoàn toàn không có khái niệm và phân định cụ thể giữa “formal” và “informal” (tức giữa “trang trọng” và “bình dân”) như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới là cái sai của các nhà ngôn ngữ hoc Việt Nam mà tôi đã luôn lập đi lập lại trên các blog, cũng như không lưu ý đến các rạch ròi mang tính luật pháp như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới đẫn đến các nguy cơ nhãn tiền như:

– học sinh và sinh viên khó thể bảo đảm viết lách tiếng Việt đúng đắn về ngôn phong

– học sinh và sinh viên bị tác động lệch tâm của sự sử dụng từ “khởi nghiệp” tự tung tự tác trong xã hội khiến các nỗ lực hướng nghiệp bị thất bại khi “sự nghiệp” không còn quan trọng mà chỉ có “mở doanh nghiệp” mới là điều duy nhất

– cơ quan như công an chẳng hạn mới đây đã bị cho là vi phạm pháp luật do dùng từ “trưng dụng” trong trưng dụng phương tiện đi lại hoặc truyền tin để phục vụ công tác, đơn giản chỉ vì đã không liên hệ đến tiếng Anh[*] để nhận ra một điều rằng nhất thiết phải tạo từ mới vì yêu cầu phức tạp của luật pháp.

c) Việt Nam cần hiểu ró rằng không thể có Việt Nam khởi nghiệp nếu nguồn nhân lực khởi nghiệp Việt Nam không hiểu biết gì đến các nội dung trên, khiến môi trường nghề nghiệp hỗn loạn, thiếu hụt, bát nháo, đẩy xa hơn ngoài tầm với tiến trình khởi nghiệp Việt Nam để khó kỳ vọng có được một Việt Nam khởi nghiệp sau 50 năm nữa.

Kỳ sau: Bài 2 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: [1] Trong khi tiếng Anh có nhiều từ ngữ khác nhau để sử dụng như các động từ to confiscate, to requisition, to appropriate, to commandeer, to expropriate, to sequester, to sequestrate, v.v. tùy vào các đặc điểm của các hành động khác nhau trong hoàn cảnh khác nhau như sung công, sung dụng, tịch thu, trưng dụng, trưng thu, v.v. (chẳng hạn động từ commandeer được dùng trong trường hợp cảnh sát Mỹ chặn lấy xe của công dân để rượt bắt đối tượng phạm pháp), thì ở Việt Nam chỉ dùng mỗi một chữ “trưng dụng” nên nếu nội hàm “trưng dụng” đã lỡ được dùng trong một đạo luật cụ thể trước đó thì đương nhiên việc sử dụng từ “trưng dụng” trong thông tư của Bộ Công An khiến Bộ này “vi phạm pháp luật”. Điểm này sẽ được bàn kỹ hơn trong một bài viết khác sau.

Tham khảo:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/25/nhan-quyen-va-pham-gia/

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Nét Mới Cần Phải Có Tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-02-2016

 TPHCM

Sáng nay HTV9 có phát chương trình giải quyết khiếu nại của công dân Thành phố Hồ Chí Minh do bà Trương Thị Ánh, Nghị sĩ Khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đương nhiệm, chủ trì với các ban ngành về khiếu nại của gia đình ông Nhan Phước ở Quận 6. Nội dung này làm tôi nhớ đến lúc trước Đại Hội Đảng, tôi đã có công văn sau gởi Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ khiếu nại của công dân Lê Văn Hải, mà giọng văn với lời khẳng định rằng Ủy Ban Nhân Dân Quận 9 “hoàn toàn sai” và rằng “hệ thống hành chánh công quyền của Thành phố Hồ Chí Minh đang thực sự có vấn đề”, ắt sẽ không làm bất kỳ chức sắc nào của Thành phố Hồ Chí Minh hài lòng:

 Print1Print2

Trở lại vụ họp sáng nay trên HTV9, theo trình bày của con trai ông Nhan Phước thì ngay sau ngày giải phóng, do nhà ông Phước buôn bán vải lẻ có chứa các súc vải, Ủy Ban Nhân Dân Quận 6 đã liệt gia đình ông vào diện phải cải tạo tư sản nên đưa cả gia đình ông đi vùng Kinh Tế Mới, còn gia sản của ông trở thành tài sản do nhà nước quản lý, và Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định cấp căn nhà của ông cho hai hộ gia đình cán bộ đến ở. Thế nhưng, sau đó Ủy Ban Nhân Dân Quận 6 phát hiện sai lầm này, do quy mô kinh doanh của ông Nhan Phước chỉ là tiểu thương bán lẻ, không phải “tư sản mại bản”, nên đã cùng lúc ra hai quyết định rất đúng đó là xóa bỏ “tội danh” tư sản của ông và giao trả căn nhà lại cho ông. Tuy nhiên, do căn nhà đã được giao cho hai hộ khác, mọi việc đã trở nên chuyện bi hài ở chỗ gia đình gần chục người của ông Phước trở về thành phố sống lây lất đến tận ngày nay nhiều chục năm trời, còn cả hệ thống chính quyền hoặc nhẫn tâm làm ngơ trước cảnh tang thương ngẫu lục của người dân hoặc do sự bó tay do bất lực bất tài vô dụng của các Sở Ban Ngành của Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kể nhiều nhiệm kỳ của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh vẫn để tồn tại những sự việc như thế trong khi theo tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng thì Thành phố Hồ Chí Minh luôn đạt được các thành tích và thành quả phát triển to lớn, thậm chí thành phố còn chi ra bao tỷ đồng để lập cái siêu dự án gọi là megacity nhằm dựng xây Thành phố Hồ Chí Minh thành một thành phố vĩ đại ôm trong lòng nó những cái mà tôi nghe qua đã thấy mùi thất bại tức các thành phố “con” như Thành Phố Bắc, Thành Phố Nam, Thành Phố Tây, Thành Phố Đông nhảm nhí, trong khi – như tôi trước đây đã nêu – với nhân lực công chức công quyền như thế thì đào đâu ra lớp người quản lý siêu đại dự án ấy.

Bà Trương Thị Ánh đã yêu cầu con trai ông Nhan Phước cho biết nguyện vọng, trong khi lẽ ra nguyện vọng ấy đã được biết rõ trong tất cả các lá đơn của ông đã gởi chính quyền trong nhiều chục năm qua, thậm chí từ lúc vợ ông còn sống.

Bà Trương Thị Ánh đã yêu cầu các Sở Ban Ngành nghiên cứu đề xuất các hướng giải quyết, trong khi lẽ ra chính các chức sắc của các Sở Ban Ngành ấy trong nhiều nhiệm kỳ qua của ngần ấy mấy chục năm đã phải thực hiện, nếu như họ không là đảng viên đội lốt. Gọi là đảng viên đội lốt hoặc đảng viên phản Đảng vì Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể có những cán bộ Đảng được Đảng tuyển chọn kỹ lưỡng, đào tạo kỹ lưỡng, giao lắm quyền uy, lại ra sức làm nhục Đảng qua sự phô bày sự bất lực bất tài vô dụng của họ, và qua việc làm người dân phải oán than oán thán oán hận Đảng. Tại sao đến ngày hôm nay tức 19-02-2016 mà các vị chức sắc Sở Ban Ngành lại phải chờ một lãnh đạo cao cấp như bà Trương Thị Ánh nêu yêu cầu và ra kỳ hạn cho họ trình đề xuất hướng giải quyết.

Điều tich cực ở đây là (a) Ủy ban Nhân Dân Quận 6 trước đây đã nhìn nhận sai sót của mình để từ đó sửa sai bằng các quyết định như đã nói ở trên; (b) ông Nhan Phước già yếu nói với phóng viên ghi hình rằng cả gia đình ông luôn tuân thủ luật pháp nên chính quyền bảo đi Kinh tế Mới thì ông ra đi, còn khi giải oan cho ông và ra quyết định trả nhà cho ông thì ông rất biết ơn, và nhiều chục năm qua vẫn tuân thủ luật pháp đợi chờ sự giải quyết của chính quyền thành phố, trong khi con trai ông Nhan Phước đã rất hợp tác trong buổi họp với bà Trương Thị Ánh khi nhỏ nhẹ nói chỉ mong chính quyền giải quyết sớm giao lại nhà hoặc đền bù một số tiền để cả gia đình có thể có cuộc sống đõ vất vả hơn; và (c) sự xuất hiện của nhân vật Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có những tín hiệu tích cực đầu tiên cho sự nề nếp phục vụ nhân dân đi vào thực chất và trách nhiệm.

Chính vì sự tích cực phục vụ nhân dân chỉ là cụm từ phải nêu trong các phát biểu chính trị của các quan chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, và chính vì sự tích cực chuyển đơn thư khiếu nại của công dân của hầu như đại đa số các nghị sĩ Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm qua mà ngày nay Thành phố vẫn còn tồn đọng nhiều vụ khiếu nại trơ gan cùng tuế nguyệt.

Sai thì phải nói ngắn gọn là “sai”. Bất tài vô dụng thì phải nói ngắn gọn là “bất tài vô dụng”. Đã hưởng lương cao, bổng hậu, phúc lợi dồi dào, địa ốc khang trang, vinh thân phì gia, mà không làm việc cho ra hồn vì nước vì dân, thì chỉ là phường bất lương bất hảo bất hiếu mà thôi.

 TPHCM (2)TPHCM (2)TPHCM (1)

Hy vọng dưới sự lãnh đạo của Tân Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng, những công văn với lời lẽ làm mếch lòng các quan chức thành phố như trên sẽ không tiếp tục được viết nên, nhất là khi người viết lại là một nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, không có quyền lực quyền hành ép buộc các quan chức phải vì dân.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2013. Cần Giải Quyết Dứt Điểm Những Khiếu Nại, Tố Cáo Của Người Dân. Bài phỏng vấn của báo Văn Nghệ Trẻ với Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/22/257/

Hoàng Hữu Phước. 28-12-2015. Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/28/doi-pho-voi-su-xo-cung-vo-cam-cua-chuc-sac-xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

Hoàng Hữu Phước. 04-12-2015. Báo Cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/04/bao-cao-viec-thuc-hien-chuong-trinh-hanh-dong-suot-nhiem-ky-quoc-hoi-khoa-xiii-2011-2016-cua-dai-bieu-hoang-huu-phuoc/

Chủ Nhiệm Trần Văn Hằng

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-02-2016

 TVhang2

Nghị sĩ Trần Văn Hằng là Ủy Viên Trung Ương Đảng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại đương nhiệm của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII.

Người dân có lẽ không nghe nói gì về Ông trên các phương tiện truyền thông đại chúng vì đối với dân chúng trong nước thì Bộ Ngoại Giao với người đứng đầu là Bộ Trưởng Ngoại Giao mới là thành viên quyền lực của Chính Phủ về công tác đối ngoại. Ngoài ra, công việc đối ngoại tại Quốc Hội dù bao trùm, năng động, tích cực, thường xuyên dàn trải căng thẳng, càng ít được biết đến vì vừa cơ mật, vừa âm thầm, vừa không trực tiếp liên quan đến nội vụ nội địa.

Ủy ban Đối Ngoại có lực lượng nhân sự hùng hậu, trẻ trung, và xuất sắc, công tác tại rất nhiều Vụ của Ủy ban Đối Ngoại, từ Vụ Đông Bắc Á, đến Vụ Nam Mỹ, Vụ Trung Đông, v.v., với công việc chính bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – nắm vững tình hình tại tất cả các quốc gia trên thế giới mà Việt Nam có quan hệ ngoại giao, tất cả các văn hóa ngoại giao đặc thù của họ, tất cả các nội dung lãnh sự, v.v., để không những bảo vệ kịp thời kiều bào trên toàn thế giới mà còn bảo đảm tiên phong tiền trạm chuẩn bị tất cả cho các chuyến đi của các lãnh đạo, kể cả việc soạn thảo nội dung các văn kiện cùng bản dịch của các văn kiện đó ra ngôn ngữ của quốc gia mà lãnh đạo Quốc Hội Việt Nam có thể sẽ ký kết trong các chuyến công du ấy, và công tác phiên dịch. Có thể nói, phần lớn các chuẩn bị từ đầu cho đến khi các chuyến công du của lãnh đạo Việt Nam kết thúc đối với các mặt tham mưu mang tính tư liệu về đối tác cũng như thực hiện các thủ tục cùng văn bản, v.v., là do Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội thực hiện. Điểm đặc biệt duy nhất là các công việc ấy rất ít khi công khai, đội ngũ nhân sự của Ủy Ban thường rút vào hậu trường và do đó ít khi xuất hiện trên các hình ảnh của truyền thông đại chúng. Lãnh đạo cả tập thể nhân sự hùng hậu xuất sắc đó là Ông Trần Văn Hằng.

Dù không thể nói nhiều đến lĩnh vực bao trùm và phức tạp của Ông do tính bảo mật và nhạy cảm của thông tin, tôi chỉ có thể nêu ra một sự vệc để người dân biết được là những công việc ngồn ngộn thành công về đối ngoại của đất nước đã đến từ sự âm thầm làm việc của Ông và đội ngũ nhân sự của Ông hiệu quả như thế nào, đó là khi Trung Quốc băt đầu gây hấn ở Biển Đông với việc kéo đặt giàn khoan thăm dò dầu khí ở lãnh hải thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Lúc ấy, ngay tại Quốc hội có đại biểu TTN là một luật sư đảng viên chức sắc cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh đã hùng hồn đòi Quốc Hội phải ra nghị quyết về Biển Đông. Luật sư ấy đã không hiểu biết về luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế khi đòi hỏi như vậy, vì rằng nghị quyết của Quốc hội Việt Nam là để phải được thực thi chứ không để đơn giản nêu một ý kiến, trong khi một nghị quyết về Biển Đông là nhằm vào Trung Quốc mà Quốc Hội Việt Nam tất nhiên không thể và không có quyền bắt buộc Trung Quốc thực thi, khiến một văn bản của cơ quan quyền lực cao nhất Việt Nam có nguy cơ trở thành tờ giấy loại, vô giá trị, tự mình làm nhục mình. Đồng thời, luật sư ấy đã không hiểu biết gì về chức năng của Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội. Trong thời điểm ấy, Ủy Ban Đối Ngoại đã tham mưu Thường Vụ Quốc Hội và Nhà Nước để thực hiện các công việc khẩn trương như soạn gởi các công hàm ngoại giao đến tất cả các Quốc Hội của các nước để kêu gọi sự lên tiếng về sự quấy rối của Trung Quốc, và đã đạt được kết quả như mong đợi khi Quốc Hội của các nước lần lượt lên tiếng ủng hộ Việt Nam và bày tỏ sự không bằng lòng với hành động gây căng thẳng của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là chiến thắng lớn về ngoại giao nghị viện khi chính nghĩa của Việt Nam được thế giới biết đến và chính thức ủng hộ, cũng như hành động của Trung Quốc bị thế giới chính thức lên án hoặc chí ít cũng là đề nghị Trung Quốc hãy tôn trọng Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển UNCLOS mà Trung Quốc là thành viên.

Trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016), tất cả những công việc quốc gia đại sự đều có sự đóng góp trách nhiệm tổ chức của Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội như các hoạt động của Quốc Hội Việt Nam tại AIPA (Hội Đồng Liên Nghị Viện Các Quốc Gia Đông Nam Á), đặc biệt trong tổ chức hội nghị quốc tế đa phương Đại Hội Đồng Liên Minh Nghị Viện Thế Giới lần thứ 132 (IPU-132) do Việt Nam đăng cai tổ chức tháng 3 năm 2015 tại Hà Nội; cũng như các chuyến công tác của lãnh đạo Quốc Hội gây tiếng vang lớn đối với quốc tế mà điển hình là sự kiện Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng tham dự Hội Nghị Các Chủ Tịch Quốc Hội Thế Giới Lần IV tại New York, Hoa Kỳ, đồng chủ trì phiên thảo luận chuyên đề biến các mục tiêu phát triển bền vững SDGs thành hành động; và chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch Quốc hội Việt Nam trong đối ngoại song phương đã tác động sâu sắc đến cái nhìn đầy đủ, khách quan, thiện chí hơn nơi một số nghị sĩ Hoa Kỳ có nhận thức tiêu cực về Việt Nam, tranh thủ được sự ủng hộ có lợi cho Việt Nam, mở ra triển vọng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, nông nghiệp, v.v., giữa hai quốc gia, thúc đầy quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ, tạo đà cho việc ký kết Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP, v.v. Hoạt động thành công vượt bậc của lãnh đạo Quốc Hội với sự tổ chức tham mưu của Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội đã cùng với các hoạt động thành công vượt bậc của lãnh đạo Đảng và lãnh đạo Chính Phủ trong suốt nhiệm kỳ qua đã chứng minh “hợp đồng tác chiến” trên liên mặt trận chính trị, nghị viện, ngoại giao, kinh tế, an ninh quốc phòng dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thành công hiệu quả, mỹ mãn, giúp duy trì môi trường hòa bình, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

Tương tự như tại cơ quan tình báo khi các chiến công của các sĩ quan tình báo và các điệp viên không bao giờ được công khai công nhận khi chưa qua thời gian rất dài cả đời người phải bảo lưu bí mật, các nhân sự xuất sắc của Ủy Ban Đối Ngoại mà Ông Trần Văn Hằng chỉ huy lập được bao kỳ công trong đối ngoại nghị viện quốc gia về chính trị, kinh tế, và bảo vệ kiều bào, v.v. Sự thành công hiển hiện hiển nhiên của nước nhà trước mắt người dân và quốc tế đã luôn có sự âm thầm tích cực và đóng góp hiệu quả lớn lao của Ủy ban Đối Ngoại của Quốc Hội.

 TVHang1

Bài viết này như đôi dòng ngắn ngủi nói về chiến công thầm lặng của Ủy ban Đối Ngoại của Quốc Hội dưới sự lãnh đạo của tư lệnh Trần Văn Hằng, nhà ngoại giao mưu lược, quyền biến, và khả kính.

Cảm ơn Ông đã luôn là tấm gương sáng của hoạt động ngoại giao nghị viện Việt Nam trên trường quốc tế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016)

Ủy viên Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội Khóa XIII

hhp 2016

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-02-2016

 TCThien

Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Tiến Sĩ, Nghị sĩ Khóa XII và Khóa XIII thuộc đoàn Đại biểu Quốc hội Thừa Thiên – Huế, là một nhà sư uyên bác.

Nếu thiên hạ có ai cho rằng đã tu hành thì không “làm chính trị” thì đó chưa là nhận xét chính xác vì (a) điều đó chỉ đúng nếu như là lời nên dành cho các nhà tu hành của “phe” Phật Giáo Ấn Quang hay Việt Nam Quốc Tự thời Việt Nam Cộng Hòa đã từng đấu súng gây đổ máu chốn sân chùa ở Sài Gòn khi tranh giành quyền lực khuynh đảo chính trị, hoặc “phe” Vinh Sơn thời Việt Nam vừa thống nhất khi các linh mục đấu súng sát hại chiến sĩ công an Việt Nam cộng sản trước sân nhà thờ tại Thành phố Hồ Chí Minh; và vì (b) thuật ngữ “làm chính trị” đã được bổ sung ý nghĩa mới với thực tế Việt Nam: đó là “làm chính trị” ngoài ý nghĩa chính quy với tư cách nhà chính trị tham chính tức “chính khách truyền thống” có quyền uy trị quốc, còn được bổ sung thêm nội hàm “làm chính trị” với tư cách “chính khách kiểu Việt” mang trách nhiệm tư vấn trị quốc qua việc chấp nhận làm việc không hưởng lương, không quyền uy trị quốc, chỉ sử dụng thời gian, trí tuệ và lòng thành tâm vì nước vì dân trực tiếp đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật cho quốc thái dân an cũng như tham gia quyết định các việc trọng đại của đất nước theo luật định. Và với tư cách cùng tư thế một “chính khách kiểu Việt”, Thầy Thích Chơn Thiện đã là minh chứng cho tinh thần “nhập thế” của Đức Thích Ca Mâu Ni gắn liền Đạo, Ngộ Đạo, và Hành Đạo với giáo hóa chúng sinh, xây dựng cuộc đời tốt đẹp cho cuộc sống chúng sinh, chứ không “xuất thế” chỉ lo tu thân, phó mặc chúng sinh.

Thầy là nghị sĩ dễ mến, khoan hòa, thân thiện, và trí tuệ, nên bất kỳ ai cũng thích trò chuyện với Thầy nhất là khi bàn về những nội dung hàn lâm triết học.

Năm 2011, báo chí Âu Mỹ liên tục nói đến hình thức chính trị mới mà họ dán nhãn “tốt đẹp tương tự chủ nghĩa xã hội” sau hơn một tháng Chiến Dịch Chiếm Lấy Phố Wall xuất phát từ New York đã lan ra nhiều chục thành phố khắp nước Mỹ, đồng thời dấy lên các phong trào “Chiếm Lấy” khắp các quốc gia tư bản chủ nghĩa, làm lung lay tận gốc rễ nền móng của chủ nghĩa tư bản, đến độ ngay cả Tổng thống Mỹ khi chớm ý tăng thuế các nhà đại tư bản để tự cứu sự sụp đổ của chính phủ và đáp ứng nhu cầu tiền cho phúc lợi xã hội cho dân nghèo theo kiểu chàng thảo khấu Robin Hood, cũng phải cố dùng từ “cân đối toán học” rồi tự biện luận đây chẳng dính dáng gì đến “đấu tranh giai cấp”, cũng cho thấy quá rõ là Obama cùng giới tư bản sợ chết khiếp trước bất kỳ thứ gì dễ gợi cho người dân Mỹ khi bị bóc lột đến độ bần cùng sẽ liên tưởng đến … đấu tranh giai cấp của học thuyết cộng sản chủ nghĩa. Vậy thì cái chủ nghĩa xã hội giới cầm quyền Mỹ luôn ghét bỏ nhưng đang trở thành giấc mơ của dân chúng nước họ có phải là chủ nghĩa xã hội đồng nhất thể giống nhau khắp nơi khắp chốn bất di bất dịch, hay sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội mang tính cá biệt, đặc thù dân tộc, và không ngừng tự điều chỉnh? Hòa thượng Thích Chơn Thiện cho rằng có sự cần thiết phải xây dựng được l‎ý thuyết xã hội chủ nghĩa của riêng Việt Nam. Tôi rất tâm đắc trước lời phán của Thầy, vì bản thân tôi hàng chục năm nay đã luôn ghi trên các trang mạng quốc tế chi tiết khuynh hướng chính trị của tôi là “cộng sản chủ nghĩa dân tộc thiên Khổng”, nghĩa là tôi cho rằng không bao giờ có cái chủ nghĩa cộng sản đại đồng, không bao giờ có xã hội cộng sản đại đồng, mà chỉ có chủ nghĩa cộng sản ý thức hệ mà theo đó các nước dù theo ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa vẫn chỉ luôn đặt quyền lợi của riêng dân tộc mình là trên hết, và ở Việt Nam khi chủ nghĩa yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã thành một nét chấm phá điểm tô cho sức mạnh của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa, khẳng định yếu tố dân tộc để tách bạch khỏi khuynh hướng giáo điều xơ cứng hoàn toàn không phù hợp với bản chất Việt, cũng nên hòa trộn với các nền tảng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của tư tưởng Khổng Tử đề cao đạo đức cá nhân đối với bản thân, gia đình, xã hội, như nền tảng cơ bản của các thành tố nhân lực hùng mạnh của quốc gia.

Từ hành trạng tư duy cá nhân như trên và từ những lời minh triết của Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, tôi cho rằng dù dân Mỹ có chiếm lấy toàn nước Mỹ chứ không chỉ “chiếm lấy Phố Wall”, xã hội Mỹ vẫn khó thể dựng xây một thể chế chính trị mới theo mô hình xã hội chủ nghĩa mà báo chí Mỹ liên tưởng, không chỉ vì không bao giờ có thể xảy ra việc vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ, mà còn vì mô hình ấy đã biến dạng, phân nhánh thành nhiều “đẳng cấp” khác nhau, mà mô hình đẳng cấp kiểu Việt có thể đang là:

 CThien2

mà chính do 8 điều dị biệt trên mà Mỹ lâm vào ngõ cụt không thể nào hiện thực hóa được giấc mơ xã hội chủ nghĩa của đa số người dân Mỹ, giúp các nhà tư bản Âu Mỹ dù đang dẫy dụa bên bờ vực sâu hoắm của sự hư mất muôn đời vẫn còn có thêm thời gian vừa đủ để dẫy nẫy nói lớn tiếng tự an ủi với nhau – chứ không với dân chúng của phong trào Chiếm Lấy Phố Wall – rằng: “Thấy chưa, chủ nghĩa xã hội với lý tưởng cộng sản đâu phải là thứ có thể đặt dấu chấm hết cho bọn ta!”

Thầy Thích Chơn Thiện là một nhà tu hành nhập thế theo phong cách “chính khách kiểu Việt” điển hình với trí tuệ của một nhà thần học uyên bác, hiểu biết rõ nhất về duyên nghiệp của chính trị và thể chế chính trị nước nhà, mà điều tối thượng là chúng sinh ở chính đất nước Việt Nam này được các “chính khách truyền thống” Việt Nam đặt lên hàng đầu của vì nước vì dân trong đại cuộc trị quốc bình thiên hạ, mà ý kiến của Thầy khi trả lời phỏng vấn như sau, đã nói bật rõ nhất về (a) chính xác tư tưởng Thích Ca Mâu Ni “làm chi có thượng đế”, và (b) tâm thế của Thầy:

******

Hòa Thượng Thích Chơn Thiện Nói Về Khủng Hoảng Thương Mại Tài Chính Và Lý Thuyết Xá Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

(Thực hiện phỏng vấn : Phạm Thúy, Báo Đại Biểu Nhân Dân, số ra ngày 24-10-2011)

Thế giới đang khủng hoảng về thương mại, tài chính, vì những lý thuyết kinh tế đã cũ kỹ và lạc hậu rồi. Thế giới phải cùng nhau nghĩ ra một lý thuyết mới và phải đi từng bước, từng bước, giống như hai bình thông nhau để càng ngày càng cân bằng thì khi đó mới có một lý thuyết hài hòa và hoạt động của khu vực và thế giới mới quân bình được. Cái này gọi là lý thuyết mới về kinh tế, lý thuyết mới về xã hội và cả lý thuyết mới về pháp luật nữa. Lý thuyết mới đó thực sự phải đi vào hướng hòa hợp và hợp tác. Bởi vì chỉ có hòa hợp và hợp tác mới có thể tạo được sự ổn định bền bỉ của nền kinh tế cũng như an ninh của thế giới được.

Việt Nam cũng phải xây dựng được lý thuyết của mình – lý thuyết của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Khi thế giới đưa ra lý thuyết về cộng sản quốc tế thì Hồ Chủ tịch đã bổ sung thêm vào đó chủ nghĩa yêu nước. Thành công của cuộc cách mạng Việt Nam sau này Đảng kết luận đó là phần đóng góp của Việt Nam vào chủ nghĩa xã hội quốc tế. Hướng xã hội chủ nghĩa là đúng hoàn toàn, biện chứng là đúng. Nhưng thời điểm đó, biện chứng của Hegel cũng là đúng nhưng Hegel không tìm ra sự thật, mệt mỏi quá mà đi về duy tâm. Đến Marx thì chuyển qua duy vật nhưng nhớ rằng, tất cả vật chất dưới dạng năng lượng trong mối tương quan ghê gớm lắm. Vậy nên có cả tâm cả vật. Phải dung hòa được cả hai. Việt Nam có sự dung hòa đó nên chủ nghĩa xã hội vào được. Từ truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cho thấy ý thức cộng đồng của người Việt Nam rất lớn, 50 con lên núi, 50 con xuống biển, khi hữu sự thì đoàn kết, tập hợp lại để lo giải quyết. Ngay từ đầu, chúng ta đã đề cao tinh thần cộng đồng, đoàn kết, lòng vị tha, tình thương, sự cảm thông. Tinh thần đó loại trừ tính vị kỷ. Như vậy, ngay từ đầu, ta đã có cơ sở để đi vô chủ nghĩa xã hội. Năm 1946 mở đầu Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố: mọi người sinh ra đều bình đẳng là bởi dựa vào thực tại và thực tại đó là thực tại chính nó, là thật chứ không phải là ngôn ngữ, không phải là duy ngã. Khi đi vô ngôn ngữ là đặt tên, tách sự vật, con người ra khỏi thiên nhiên. Phương Tây khủng hoảng là vì tư duy tách con người độc lập với thiên nhiên và chế ngự thiên nhiên. Thực ra con người phải hòa mình với thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Đó là triết lý của Việt Nam. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lại: mọi người sinh ra đều bình đẳng. Dựa vào đâu để nói điều này? Là dựa vào yếu tố quyết định giá trị mọi vật là thực tại trôi chảy khi ngôn ngữ chưa xen vào, chưa can thiệp vào. Tôi với chị đang ngồi như thế này là thực tại đang trôi chảy. Thực tại không phân biệt chị riêng, tui riêng mà nằm trong hoạt động cảm thông, có sự chan hòa, cảm thông. Đó là lý thuyết của mình. Từ cái gốc đó mới giải quyết được mọi vấn đề. Quốc Hội cùng với Đảng phải tìm ra lý thuyết riêng của mình. Cái gốc là con người và thực tại chứ không có đấng thượng đế nào can thiệp vào được. Làm chi có thượng đế. Trong khoa học là nhân quả. Lý thuyết đạo Phật cũng là nhân quả. Nhân quả là gì? Là một sự vật vừa là nhân vừa là quả. Khi hắn là quả rồi thì đâu có là nguyên nhân đầu tiên được nữa, hắn là kết quả của những cái khác, trong mối tương quan chặt chẽ, có cái trước đâu mà có cái trước nhất. Tương quan hoàn toàn. Vũ trụ khoa học cũng tương tự như vậy, tương quan hoàn toàn. Einstine nói chỉ có đạo Phật mới gặp gỡ được với khoa học là nói thế giới hoàn toàn tương quan.

Con người không bị nô lệ bởi những ý niệm hiện tượng, sống thực sự với cuộc sống và chất liệu sống, sống thực, sống mạnh, sống nhiều chứ không phải là sống bằng ý niệm. Không phải nghĩ về, nói về sống mà là sống với… Còn để ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ đánh giá mọi thứ, nó chi phối sự vật, chia tách, phân biệt rõ ràng cá thể rồi dục vọng mới sinh ra, mới dẫn đến việc đi xâm lược… thành thử làm sao thế giới yên được. Thế giới phải đoàn kết và cùng nhau ngồi lại để bàn. Còn Việt Nam mình thì Quốc Hội Khóa XIII và các Khóa tới nữa cũng đi tới như thế, thực hiện đường hướng của Đảng bằng những nghị quyết, những đạo luật chế ngự lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Phải làm thật, làm cho đến nơi. Ví dụ vừa rồi, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng là làm thực sự, cứ làm những việc đó chứ không có lý thuyết gì cả, nó là như vậy, đi vô thực tại làm vì dân. Rứa là được, là đúng lý thuyết mình nói chứ không có gì trừu tượng cả ”.

******

Tinh thần nhập thế của Nghị Sĩ Thích Chơn Thiện giúp bừng tỏ đạo lý cao vời của Phật pháp.

Con kính chúc Thầy sức khỏe, vạn an.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

hhp 2016

An Thiện Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-02-2016

 Nguyen Thi Kim Tien

Tại Đại Hội Đảng XII vừa qua, ngành Y Tế không có lãnh đạo nào được bầu vào Trung Ương Đảng, kể cả Bộ Trưởng Y Tế đương nhiệm Nguyễn Thị Kim Tiến.

Với khát vọng quá lớn lao vì nước, vì dân, ngay từ ngày đầu giải phóng Miền Nam tiến tới thống nhất đất nước, mặc cho đất nước điêu tàn, kho tàng cạn kiệt, lòng người còn phân tán, xã hội còn lắm ly tan, Đảng và chính phủ Việt Nam đã cho áp dụng ngay lập tức các phúc lợi xã hội đồng đều, rộng khắp, từ giáo dục miễn phí đến y tế miễn phí cho toàn dân. Những nỗ lực vung tay quá trán vì nước vì dân này, cộng với việc đổ máu xương chống chọi với cuộc xâm lăng của Trung Quốc và cuộc xâm lược của Campuchia nhằm tiêu diệt nhanh gọn một Việt Nam ngỡ đâu đã suy tàn sau cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp và đánh Mỹ để rồi cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng chính nghĩa duy nhất trên thế giới này cứu cả một dân tộc khỏi nạn diệt chủng lại bị Mỹ chụp mũ là xâm lược Campuchia để áp đặt lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc, khiến toàn bộ hệ thống giáo dục và y tế ngày càng lạc hậu, xuống cấp, thiếu thốn. Trong lúc ngay tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh vị Khoa Trưởng Khoa Ngoại Ngữ có học vị Thạc Sĩ Mỹ phải “phát huy sáng kiến” chế tạo giáo cụ trực quan bằng cách lấy bao bố đựng gạo dệt bằng sợi đay đem nhúng nước cho ướt sũng, treo lên bảng đen, rồi lấy mấy hình vẽ cắt trên giấy cứng đính lên vải bố để bị dính nước không rơi xuống đất, dạy sinh viên cách dạy học sinh trung học nhìn hình mà nói tên vật dụng bằng tiếng Anh, thì tại các bịnh viện lớn như ở Bịnh Viện Bịnh Nhiệt Đới ở Thành phố Hồ Chí Minh các y tá đẩy xe thuốc đên từng giường bịnh nhân viêm gan siêu vi không để vào dịch truyền, không để tiêm thuốc, không để phát thuốc trong vĩ, mà để rót từ chiếc bình thủy tinh khổng lồ trên xe ra ly một dung dịch đen đặc chiết xuất từ thân lá rể củ A-ti-sô cho bịnh nhân uống, kèm với vài viên thuôc trị bá bệnh Xuyên Tâm Liên từ trong bao nylon lớn tương tự chiếc bình A-ti-sô bên cạnh. Và giữa cái thế giới cả bạn lẫn thù đều ra sức bóp chết đất nước Việt Nam, chính người dân Việt Nam trở thành nạn nhân gánh chịu các đòn trừng phạt đó; đã vậy, biết bao vị bác sĩ hoặc vượt biên hoặc thất thời thất chí bất mãn bất phục bất hợp tác càng làm cho tình hình chăm sóc sức khỏe người dân càng không còn lối thoát.

Ấy vậy mà từng bước Đảng và Chính phủ Việt Nam vừa gượng dậy về kinh tế vừa tự lực cánh sinh khẩn trương đào tạo lớp cán bộ y tế bổ sung, vừa gia tăng chất lượng và số lượng cơ sở y tế đến tận phường xã. Đến nay thì mọi việc đã khá hơn về chất với số lượng các bịnh viện có yếu tố nước ngoài đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của người dân có thu nhập cao, cũng như với số lượng thuốc ngoại nhập khổng lồ mà tất cả các viện bào chế trên toàn thế giới đều đổ vào Việt Nam như nơi đến lý tưởng nhất để kinh doanh dược phẩm. Và Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhận lấy trách nhiệm trong một hoàn cảnh nền y tế không còn bi đát nhưng nảy sinh nhiều hệ lụy ấy cả về cơ sở vật chất, giá thuốc, sản xuất thuốc, dịch bệnh, và tác nghiệp của cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền.

Về cơ sở vật chất, do chủ trương chính sách từ ngày đầu giải phóng, các cơ sở y tế được mở ra đồng loạt hằng hà sa số đến tận từng phường, từng xã, trên phạm vi cả nước, khiến ngân sách dàn trải, không cơ sở nào không thiếu thốn, dẫn đến ngân sách cho các bịnh viện lớn “tuyến trên” tức tại các thành phố lớn cũng thiếu hụt, làm hạ tầng cơ sở ngày càng xuống cấp, không đảm bảo vệ sinh, không có trang thiết bị y khoa hiện đại, còn y đức khó được trau giồi mãi trên nền duy ý chí. Khi điều kiện kinh tế đã khá hơn quá nhiều như hiện nay thì khó khăn mới lại càng đeo bám Bộ Trưởng Y Tế nhiều hơn: trong khi cơ sở y tế được xây dựng lớn hơn, nhiều hơn, sung túc hơn, hiện đại tối tân hơn, với số giường bệnh gia tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu săn sóc sức khỏe toàn dân, v.v., thì y đức hầu như đã thành vật xa xỉ quý hiếm nơi giới y bác sĩ. Thực tế xã hội này khiến Bà Nguyễn Thị Kim Tiến dù đã luôn hết lòng kêu gọi, nhắc nhở, thanh sát giám sát, vẫn phải chịu búa rìu dư luận khi vẫn xảy ra các hành xử vô văn hóa của cán bộ y tế đối với bịnh nhân nghèo, trình độ chữa trị đầy sai sót của các bác sĩ đẫn đến manh động của thân nhân bịnh nhân, cũng như việc kê toa của bác sĩ thường nhằm vào việc nhận hoa hồng nhiều hơn nơi công ty nhập khẩu cung ứng dược phẩm khiến bịnh nhân bịnh hơn và nghèo hơn, v.v. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về giá thuốc, đây là vấn đề từ tàn dư của chính sách sai lầm của các quan chức tiền nhiệm. Tác giả bài viết này từng cung cấp thuốc nguyên liệu bulk drug và thuốc thành phẩm cho Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ. Chất lượng thuốc luôn theo tiêu chuẩn Anh Quốc, công ty sản xuất luôn là công ty lớn, và chưa bao giờ có chuyện bất kỳ xảy ra về chất lượng thuốc và giá thuốc. Việc nhập khẩu là việc của các doanh nhân có quan hệ và kinh nghiệm với các nhà sản xuất dược nước ngoài, còn các doanh nhân này sử dụng đội ngũ chuyên viên dược là chuyện riêng của họ, cũng như các lô hàng họ cung ứng cho các cơ quan y tế đều luôn theo thử nghiệm của các cơ quan này đối với hàng mẫu thuốc và theo giá cả chính thức của hai bên. Thế mà Việt Nam bắt đầu quy định chủ nhân các doanh nghiệp nhập khẩu thuốc phải có bằng cấp dược sĩ hay bác sĩ, khiến xã hội ồ ạt xuất hiện nhiều doanh nghiệp do số lượng đông sinh viên y khoa dược khoa tốt nghiệp ồ ạt kinh doanh dược phẩm, mạnh ai nấy tìm nguồn cung ứng giá thấp nhất rồi bán với giá cao nhất, tạo điều kiện làm giàu nhanh chóng cho các nhà sản xuất vô danh tiểu tốt ở nước ngoài, còn người dân Việt Nam thì chịu đựng chất lượng thuốc không cao, nơi sản xuất khả nghi, giá cả cao hơn, và báo chí thì lâu lâu lại đăng công bố của Bộ Y Tế thu hồi các lô thuốc nhập khẩu do có vấn đề về chất lượng. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không khoanh tay trước vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi đối với một sự việc mà căn cơ của nó đã bén rể thành cổ thụ qua bao thập kỷ. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về sản xuất thuốc, trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã đề ra kế sách về thuốc generic, một việc mà nhiều thập kỷ nay đã chưa từng có vị Bộ Trưởng Y Tế nào trước Bà từng xem như một sách lược mang tầm chiến lược quốc gia. Đối với thuốc sản xuất trong nước thì như tôi đã từng viết blog, Việt Nam thay vì tập trung nghiên cứu các tư liệu cổ truyền dân gian để đưa vào sản xuất hiện đại chào bán ra nước ngoài, thì chỉ biết lo sao chép câu vớ vẩn của Cục Dược Phẩm Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA để ghi trên bao bì tất cả các “thực phẩm chức năng” sản xuất tại Việt Nam. Còn một nữ tiến sĩ dược được đưa lên tivi mấy ngày Tết Bính Thân 2016 để ngợi ca tài đức vì đã chế ra thuốc Trinh Nữ Hoàng Cung – dù Trinh Nữ Hoàng Cung là dược liệu từ thư tịch y học cổ và được sản xuất bởi nhiều cơ sở dược nhiều chục năm nay – cho thấy sự bối rối, dẫm chân tại chỗ của ngành dược đến độ buộc phải kiếm cho bằng được một vị để cho có đủ đầy các ngành cho mấy ngày Tết. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không phải không hiểu biết vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một xã hội mà sinh viên vào ngành Dược là để sau khi có bằng cấp là xin mở ngay hiệu thuốc để tham gia thị trường bán thuốc để được tiếp cận bởi các trình dược viên của các nhà sản xuất nước ngoài chứ không ai vào ngành Dược vì tâm niệm sẽ làm nên điều kỳ vĩ chế tạo thuốc cứu người, cứu đời. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và trước cái gọi là ý chí của sinh viên dược Việt Nam ngày nay đối với kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về dịch bệnh, trong nhiệm kỳ của Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến, thế giới đã phải đương đầu với những bịnh tật triền miên. Tại Việt Nam, việc lạ vẫn xảy ra đối với Sốt Xuất Huyết. Nếu như vài tháng sau ngày giải phóng, đứa em gái áp út xinh đẹp Hoàng Thị Cẩm Thúy của tôi mất vì Sốt Xuất Huyết năm 1976 lúc mới 7 tuổi và chúng tôi chẳng hiểu đó là gì vì chưa từng nghe thấy ở Việt Nam Cộng Hòa, và chỉ thời gian ngắn sau đã nghe phác đồ điều trị của Bộ Y Tế rằng chỉ cần uống nhiều nước, uống nhiều nước chanh đường, giữ chế độ dinh dưỡng đầy đủ là sau một tuần sẽ khỏi, thì sau 40 năm tôi lại thấy tin tức dồn dập trên tivi và báo chí sự xuất hiện bùng phát dập dồn của Sốt Xuất Huyết, thậm chí với phim phóng sự nêu rõ sự “thờ ơ” của người dân không làm theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương, v.v. Như tôi đã từng nêu trong nhiều bài blog, cái sai của chính quyền là hay lạm dụng cụm từ “tuyên truyền giáo dục người dân” và “kêu gọi ý thức tự giác của người dân” vì tuyên truyền giáo dục không phải là phương pháp áp dụng cho tất cả mọi nội dung, mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi; thay vào đó, biện pháp chế tài nghiêm khắc mới là ít tốn kém nhất và hiệu quả nhất như minh chứng ở Singapore. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng nếu ngay cả Sốt Xuất Huyết mà 40 năm qua vẫn không “tuyên truyền giáo dục” thành công thì nói gì đến các nguy cơ đại dịch khác; song, Bà khó thể làm gì được vì Bà chỉ có thẩm quyền đối với ngành Y Tế trong khi những thứ vĩ mô mang tính thực hành chung thì đến từ trung ương mà Bà không thể tự mình vượt qua được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn còn nhiều việc để làm để chấn chỉnh, chẳng hạn đối với Cục Quản Lý Dược là cơ quan đầy ắp quyền lực nhưng cạn khô trách nhiệm. Cục Quản Lý Dược là cơ quan quyền lực tột đỉnh đối với tất cả các doanh nghiệp nhập khẩu dược và mỹ phẩm. Cục Quản Lý Dược là bộ mặt của Bộ Y Tế để chứng minh Bộ Y Tế có thừa hành đúng chỉ đạo của Đảng và chỉ thị của Chính Phủ trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển kinh doanh kinh tế kinh tài hay không. Thí dụ dưới đây qua công văn số 18709/QLD-MP ngày 02-10-2015 khi một doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh bị Hải Quan tạm giữ lô hàng mỹ phẩm do có các chi tiết không đúng 100% với chi tiết ghi trong giấy công bố sản phẩm do Cục Quản Lý Dược cấp, thay vì trả lời là lô hàng ghi chữ A và B và C theo như chi tiết D và E và F doanh nghiệp nêu trong công văn là chấp nhận được, thì Cục Quản Lý Dược lại dẫn Chương nào của Thông Tư nào quy định như thế nào. Để tránh trách nhiệm mang tính khẳng định cụ thể, Cục đã phải mất nửa tháng mới tìm ra Thông Tư đó để trả lời doanh nghiệp, vừa giúp Hải Quan có thêm thời gian thu thêm phí lưu kho của doanh nghiệp, vừa đá trái bóng qua Hải Quan để Hải Quan thay vì cho giải tỏa lô hàng của doanh nghiệp lại phải dành thời gian để đọc xem câu cú của Cục nên được hiểu như thế nào đối với danh mục mấy tá chủng loại hàng của doanh nghiệp; chưa kể công văn của doanh nghiệp có dẫn chứng về biên bản của Hải Quan nhưng Cục chỉ trả lời cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp phải sao y rồi trình cho Hải Quan xem, mà Hải Quan khó thể chấp nhận một bản photocopy không có dấu đỏ của Cục. Tất cả quy trình tránh né này dễ khiến doanh nghiệp tự hiểu ra rằng tốt nhất phải có “phong bì” đút lót cho Cục hoặc cho Hải Quan. Việc Bộ Trưởng Bộ Y Tế nên làm là (a) giao thực quyền cho các vị Cục Trưởng để họ phải bị xử lý nếu sai phạm hoặc để có sai phạm ở cơ quan họ trong tiến trình cải cách hành chánh, thay vì bám gấu áo của Bà, núp sau cái bóng của Bà để Bà phải gánh chịu mọi búa rìu dư luận trong khi họ vinh thân phì gia hoạnh họe doanh nghiệp mà Bà không biết đến; và (b) ra lịnh thay đổi cung cách ra văn bản vì Hải Quan và doanh nghiệp nói trên đều có trong tay các thông tư của Bộ Y Tế nên không lý do gì Cục lại dẫn ra các thông tư ấy, vì cái mà doanh nghiệp nêu là tại sao một tá mặt hàng mà họ cho là hợp lệ ấy lại bị Hải Quan tạm giữ và yêu cầu Cục cho biết một tá mặt hàng đó cái nào đạt, cái nào không đạt.

 qld

Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng cải cách hành chánh là một tiến trình gian nan đặc biệt với một Bộ như của Bà phải đối phó cùng lúc với nhiều vấn đề quan trọng và nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe toàn dân và y tế y học nước nhà, chưa kể lề lối làm việc thâm căn cố đế kiểu “con ông cháu cha” hoặc “anh anh em em kiểu Anh Hai Anh Năm Chị Sáu Chị Bảy” luông tuồng không thể một sớm một chiều có thể thay đổi được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước cung cách làm việc của “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi về quản lý. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Sẽ là một sự công bằng nếu như Chính phủ do Quốc Hội chuẩn y trong khóa XIV tiếp tục bổ nhiệm Bà Nguyễn Thị Kim Tiến làm Bộ Trưởng Y Tế thêm một nhiệm kỳ để Bà tiếp tục hoàn thành các dự án của Bà đối với sản xuất thuốc; mở rộng nâng cấp và hiện đại hóa các bịnh viện; hữu hiệu hóa cơ chế đảm bảo lượng vắc-xin chất lượng cho toàn dân; tối ưu hóa cơ chế chăm sóc sức khỏe cho dân nghèo, dân chúng vùng sâu vùng xa, vùng hải đảo, chốn biên thùy; và trên hết là nâng lên được cao nhất y đức mà bản thân Bà đã trong suốt nhiệm kỳ qua đã gắng sức thể hiện tôn tạo tôn vinh. Sự nghiệp y tế nước nhà cần người trưởng ngành như Bà vì Bà có kinh nghiệm quản lý nhà nước, có kinh nghiệm đối phó với các vấn đề liên quan đến y tế toàn dân, có kinh nghiệm đề ra sách lược sản xuất thuốc theo công thức ngoại thay cho nhập khẩu để dân có thuốc chất lượng cao với giá không cao, và có uy tín chuyên môn y học với nước ngoài, nên hơn ai hết Bà cần tiếp tục vị trí đầu ngành để thực hiện kế sách Bà đã tâm huyết hoạch định vì nước vì dân.

Làm việc càng nhiều, giải quyết càng nhiều việc, đảm đương đa dạng phong phú các lĩnh vực trách nhiệm trên quy mô quá rộng lớn và liên quan đến tất cả các công dân của đất nước này thậm chí kể cả các công dân tương lai còn trong bụng mẹ, Bà càng là đích ngắm của các công kích, dèm pha, chê bai, bôi nhọ, mỗi khi có một sai sót nào đó đến từ bất kỳ ai thuộc ngành Bà quản lý.

Tôi tin tưởng rằng người dân sẽ nhận ra hiệu quả làm việc của Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nếu Bà tái cử vào vị trí tư lệnh ngành y tế Việt Nam.

Hiệu quả ấy sẽ là thứ y đức mà bản thân Bà dâng cho người dân Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

hhp 2016

A) Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Thực Phẩm Chức Năng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/30/thuc-pham-chuc-nang/

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/uy-vien-bo-chinh-tri-nguyen-thi-kim-ngan/

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/08/2595/

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/12/thu-tuong-nguyen-tan-dung/

14-02-2015: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/14/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong/

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-02-2016

 Nguyen Phu Trong

Điều đáng thương hại cho nhiều người viết báo nước ngoài, từ nhà phê bình chuyên trang kỳ cựu columnists trên thế giới đến thực tập sinh Thạc Sĩ Báo Chí ở Hoa Kỳ có tên Việt, là luôn có khuynh hướng viết giống nhau như đúc do được đúc từ một khuôn ở một lò mang tên “báo chí tư bổn”, chẳng khác nào “lưỡng đảng” tư bản chủ nghĩa cầm quyền của Hoa Kỳ vậy, ở chỗ mỗi khi sắp có Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam để chuẩn bị cho một đội ngũ “tứ trụ triều đình” mới thì (a) luôn mặc định có sự đối đầu giữa các “phe” trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam, (b) luôn mặc định rằng đầu não lãnh đạo Đảng gắn liền với nhãn mác “bảo thủ” và “thân Trung Quốc”, (c) luôn mặc định rằng các Thủ Tướng Việt Nam Cộng Sản là người của cải tổ và “thân Mỹ”, (d) luôn ra sức võ đoán về nhân sự nào sẽ lên ngôi, (e) luôn kết luận rằng đầu não “bảo thủ” của Đảng Cộng Sản Việt Nam rồi cũng phải thay đổi để ra mặt chống Trung Quốc nhiều hơn, thân Mỹ hơn, cởi mở dân chủ hơn, bó buộc phải cải tổ theo đòi hỏi của nhân dân, và (f) luôn vân vân và vân vân.

Sự thật là giữa thế giới Âu Mỹ mà Hoa Kỳ là đầu tàu và Việt Nam có sự khác nhau cực kỳ cơ bản về “đảng chính trị cầm quyền” song chẳng ai hiểu được thấu đáo để viết bình luận cho ra hồn.

Tại Mỹ, chỉ có hai đảng chính trị duy nhất được tham chính cầm quyền và mọi sự giật dây, tư vấn, chỉ đạo của đảng thắng cử đều được thực hiện từ sau bức màn nhung nặng chịch, còn Tổng Thống là người chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn và tuyệt đối trước mắt nhân dân, nghĩa là sự thất bại nếu có của một tổng thống trong thực thi sách lược trị quốc bình thiên hạ mà đảng đã “mớm” từ đầu sẽ không thể đưa đến một liên tưởng hay liên hệ của người dân tới sự thất bại của cái đảng của ông ta. Đây là điều quan trọng vì nếu vị tổng thống có bị mất điểm với nhân dân thì đảng của ông ta lại càng phải bỏ mặc ông ta chịu trách nhiệm cá nhân để đảng còn lo tập trung kiếm nhiều ghế cho đảng viên của mình vào các vị trí thống đốc các bang cũng như các ghế hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ để có thể kỳ vọng nào đó khả dĩ giúp cho cuộc tranh cử tổng thống tiếp theo cho ứng cử viên tổng thống khác của họ.

Tại Việt Nam, do thực tế lịch sử chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, dùng bạo lực cách mạng dành lấy chính quyền, thống nhất đất nước, nên Đảng Cộng Sản là đảng duy nhất và quân đội Việt Nam là quân đội “chính trị” thuộc quyền quản lý của Đảng Cộng Sản, không bao giờ có chuyện “phi chính trị hóa” vô lý vô duyên vô đạo mà bọn chống Việt kêu gào đòi hỏi. Đây là điểm khiến Đảng Cộng Sản danh chính ngôn thuận có toàn quyền ngạo nghễ đứng ra trực tiếp nhận lấy toàn bộ trách nhiệm trước tổ quốc và dân tộc đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, đem lại thịnh trị thái bình cho nhân dân, chứ không như thế giới Âu Mỹ đảng phải luôn núp sau tấm màn nhung sau lưng tổng thống. Cả tập thể Bộ Chính Trị chịu trách nhiệm tập thể trước Đảng và dân tộc, và không bất kỳ một cá nhân lãnh đạo nào trong chính phủ được phép làm trái các nghị quyết, chủ trương, mệnh lệnh của Đảng. Đảng đã trở thành đầu não hoạch định đường hướng như một chiếc la bàn chuẩn xác chuẩn mực, còn Thủ Tướng tức nhân vật chịu trách nhiệm cao nhất ở Việt Nam đối với việc thực hiện công cuộc lèo lái chèo chống con thuyền quốc gia theo la bàn định hướng của Đảng được Đảng tuyển chọn từ lực lượng nhân sự kiệt xuất nhất của Đảng để giới thiệu cho Quốc Hội xem xét bầu vào vị trí thuyền trưởng này. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng như tất cả các thủ tướng tiền nhiệm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng đã giao phó cho ông gánh vác. Và khi siêu hiệp định TPP Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương được ký kết giữa Mỹ và các nước lớn trong vành đai Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam là quốc gia đồng sáng lập, cũng như việc Việt Nam ký kết gia nhập tất cả các mô hình hiệp định / tổ chức khác từ WTO đến ASEAN và các FTA song phương và đa phương mà gần đây nhất là EU-VN FTA dều xuất phát từ sự chỉ đạo tham mưu thống nhất chuẩn y của Bộ Chính Trị. Ngay cả các hành xử đối với vấn đề lấn chiếm gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông cũng được Bộ Chính Trị chỉ đạo phân công cụ thể để thực hiện thắng lợi một cách bài bản nhuần nhuyễn để trên tất cả các mặt trận từ ngoại giao đến quân sự cùng luật pháp và kinh tế với tất cả các vũ khí hùng biện khác nhau, từ mềm mỏng đến cứng rắn, từ nhún nhường đến răn đe, để hợp đồng tác chiến phục vụ một mục đích duy nhất mang đậm tính chiến thuật chiến tranh chính trị, tâm lý chiến, quần chúng chiến: tập hợp được sự ủng hộ của thế giới, tập hợp được sức mạnh đồng thuận của toàn dân, bảo vệ được môi trường hòa bình ổn định để phát triển kinh tế cho nhân dân được sống bình an tránh được hiểm họa chiến tranh, đồng thời nâng cao nguồn thu đủ để mua sắm khí tài quân sự tối tân đảm bảo sức mạnh quốc phòng. Nếu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một “doer” xuất chúng trong lèo lái con thuyền quốc gia qua các nhiệm kỳ thì Bộ Chính Trị chính là “thinker” xuất chúng trong hoạch định đường hướng, chiến lược, chỉ đạo kịp thời, hợp thời, cũng như huy động các sức mạnh tổng lực khác để hỗ trợ Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đi đến thành công vượt bậc. Và đầu não của Bộ Chính Trị vĩ đại kiên cường xuất chúng ấy chính là Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng.

Là vị Tổng Bí Thư của một nước Việt Nam trong hoàn cảnh hoàn toàn mới: khi những kẻ thù đã từng làm cho đất nước bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh và sau đó làm cho đất nước điêu linh thêm với các lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc và phong tỏa ngoại giao tàn độc nay trở thành những nhà đầu tư quan trọng chiến lược; còn những người bạn ý thức hệ thì kẻ tự tan rã từ lâu vì chọn nhầm nhân sự một gã có tên Ba Chớp Ba Nháng, thằng thì trở thành kẻ thù xâm lược đã từng xua hơn nửa triệu (hơn 500.000) quân tinh nhuệ ngập tràn toàn tuyến biên giới phía Bắc tàn sát dân Việt dù sau đó bị bảy mươi ngàn (70.000) quân thiện chiến của Việt Nam đánh cho đại bại phải tháo chạy lạch bạch thua vịt về bên kia biên giới nay thì xoay ra gây rối ở Biển Đông với kỳ vọng tránh được các trận Điện Biên phủ trên không và Điện Biên Phủ trên bộ, đứa thì sau khi vừa điên loạn giết sạch dân nó vừa tràn qua toàn tuyến biên giới Tây Nam tàn sát người Việt để giúp Trung Quốc diệt tiêu Việt Nam, bị Việt Nam tiêu diệt gọn trả lại sự thanh bình và chủ quyền quốc gia cho nó, thì nay nó lại tỉnh bơ nói nó không dính dáng gì đến Biển Đông nên không cùng hiệp lực với ASEAN đấu khẩu chống Tàu, Ông Nguyễn Phú Trọng đã trở thành vị tổng bí thư phù hợp nhất: không bao giờ vừa phát biểu mạnh mẽ vừa vung nắm đấm như Fidel Castro, giọng nói Ông luôn điềm đạm, gương mặt Ông luôn điềm tỉnh, nụ cười Ông luôn hiền hòa, chỉ có ánh mắt Ông là toát lên sự cương quyết, mạnh mẽ, cứng rắn, uy nghi, mưu lược. Thần uy ấy của Ông chỉ có những nhà chính trị Âu Mỹ lão luyện mới nhận ra và kính nễ, và Ông đã trở thành thượng khách của các vị tổng thống Âu Mỹ mà lễ nghi đón tiếp Ông là theo nghi thức chỉ dành cho các nguyên thủ quốc gia. Trong một bài viết blog, tôi có tỏ sự thán phục trước lời dõng dạc của Ông rằng “Việt Nam không cần đa đảng.” Đó là lúc hiếm hoi cả thế giới được biết đến thần uy khẩu ngữ khẩu khí mãnh liệt của Ông.

Việt Nam đang bước sang giai đoạn mới. Dưới sự lãnh đạo về đường lối, đường hướng của Đảng mà chính Ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí Thư, chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm tổng chỉ huy đã thành công như ý: vị thế cùng uy tín của Việt Nam lên cao hơn bao giờ hết trên trường quốc tế, và các cơ hội cho sự bứt phá về kinh tế thu về dồi dào rộng khắp hơn bao giờ hết. Chính vì giai đoạn mới này đặt ra nhiều yêu cầu lớn hơn, nghiêm ngặt hơn, bản lĩnh hơn trong việc sau khi tiến từ đói nghèo sang ổn định, sau lúc tiến từ xây dựng kinh tế đến phát triển kinh tế, nay là giai đoạn xây dựng đất nước cường thịnh hướng đến trả cho được món nợ với dân tộc từ nhiều ngàn năm nay: biến Việt Nam thành cường quốc, Ông Nguyễn Phú Trọng được Đảng tái cử làm Tổng Bí Thư nhiệm kỳ 2016-2021 để tiếp tục cùng đội ngũ kế thừa trong Bộ Chính Trị hoạch định chiến lược nhân sự và kế sách quốc gia thực hiện đại cuộc mới từ nhũng kỳ tích mà chính phủ đương nhiệm đã đạt được cũng từ sự lãnh đạo về đường hướng của chính Ông.

Đó mới là Ông, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng mà tầm vĩ đại nơi con người Việt Nam tầm thước bình dị như Ông thì giới báo chí quốc tế sẽ không thể nào hiểu được

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Ghi chú: Bài viết trên sẽ được tác giả chuyển dịch sang tiếng Anh để đăng trên mạng doanh nhân thế giới LinkedIn

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/uy-vien-bo-chinh-tri-nguyen-thi-kim-ngan/

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/08/2595/

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/12/thu-tuong-nguyen-tan-dung/

C) Tài liệu tham khảo của Hoàng Hữu Phước về phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: “Việt Nam Không Cần Đa Đảng”:

13-02-2011: Luận Về “Đa Đảng”: http://hhphuoc.blog.com/?p=167

20-4-2011: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

D) Tài liệu đọc thêm của Hoàng Hữu Phước về “Đa Đảng”:

18-5-2013: Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có Đa Đảng Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-02-2016

Nguyen Tan Dung

Khi tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS lần III và CLMV lần IV tháng 11 năm 2008, tôi gặp một sự cố tại hội trường lúc vừa phát biểu xong về đề xuất ý kiến bằng tiếng Anh với nội dung Trade Development through Russian-Styled Financial Tools for Bilateral Deals amongst ACMECS (phát triển thương mại theo kiểu tài chính Nga đối với các giao dịch song phương giữa các nước ACMECS, tức dùng đồng nội tệ của các nước với nhau), tôi ngồi xuống nhận lời khen của đoàn Thái Lan thì điện thoại rung nên lại đứng lên để ra ngoài hội trường. Gia đình tôi báo tin Ba tôi lại vừa được đưa đi cấp cứu. Tôi rụng rời, phone yêu cầu văn phòng bằng mọi cách lấy vé cho tôi về Thành phố Hồ Chí Minh ngay trong chiều, bỏ luôn buổi tiệc tối với các vị nguyên thủ. Trong lúc vội vàng, tôi đánh rơi điện thoại, văng ra làm ba mảnh gồm phần trước, nắp sau, và pin. Lắp ráp xong, tôi vào hội trường nao nao chờ tin nhắn xác nhận vé. Bất thình lình, điện thoại tôi reo vang, hóa ra khi lắp máy lại, tôi không biết nó đã thoát khỏi chế độ rung. Trong lúc lúng túng luồn tay vào áo veston lấy phone ra, tôi xấu hổ nhìn lên sân khấu nơi năm vị thủ tướng đang làm chủ tọa hội nghị, và bắt gặp ánh mắt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thủ Tướng nhìn tôi không với sự bực dọc đối với kẻ không chuyên nghiệp tại hội nghị thượng đỉnh, mà với sự trấn an như đối với người mà Thủ Tướng cho rằng ắt đang gặp phải vấn dề nghiêm trọng riêng cần phải bình tĩnh. Đó là bản lĩnh của nhà lãnh đạo: sự hùng biện thần uy qua ánh mắt.

Tại Quốc Hội Khóa XIII năm 2011, khi đại biểu DTQ vung tay gằn giọng thách thức Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “có dám từ chức không”, thì Thủ Tướng trở thành nhà hùng biện thần uy không thể bắt gặp tại thế giới chính trị tư bản qua việc Ông từ tốn trả lời gây sự xúc động mạnh mẽ nơi mọi người rằng tính đến ngày hôm ấy Ông đã phục vụ Đảng được bao nhiêu năm bao nhiêu tháng bao nhiêu ngày như một đảng viên trung kiên luôn phục vụ đất nước và nhân dân theo sự phân công của Đảng và làm tròn trách nhiệm cùng bổn phận trước tổ quốc và dân tộc. Các nguyên thủ quốc gia cường quốc tư bản Âu Mỹ sẽ không trả lời – hoặc trả lời giễu cợt – đối với các câu hỏi bá láp, vô đạo, vô lý, vô duyên, mà khán giả cử tri tư bản cũng sẽ cười chộ kẻ đặt câu hỏi thuộc loại bá láp, vô đạo, vô lý, vô duyên, và cười ầm ủng hộ sự khôi hài của nguyên thủ, vì trách nhiệm thiêng liêng của nguyên thủ không phải là thứ để đem ra thách đố hay chấp nhận thách đố vớ vẩn cho cái việc “dám” hay “không dám”.

Nếu như các Thủ Tướng tiền nhiệm của Việt Nam lèo lái con thuyền quốc gia vượt qua bão tố chiến tranh giải phóng, sang giai đoạn vá víu đất nước thống nhất bị chiến tranh tàn phá, rồi lại phải đối phó thành công với sấm sét chiến tranh mới với Trung Quốc và Campuchia gặm nhấm bào mòn sinh lực quốc gia, đến khi chèo chống thành công con thuyền quốc gia cặp bến bờ bình yên để sửa chữa và đổi mới để thành con tàu vững chắc hơn, thì Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng gánh lấy trách nhiệm mà Đảng và Tổ Quốc, Dân Tộc đã giao phó: điều khiển con tàu mới và mạnh mẽ ấy ra biển lớn để đến những bến bờ mới đem về cho bằng được những giá trị mới có trị giá lớn cho nước nhà. Dưới thời các nhiệm kỳ của Ông, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã là vị thống soái thống lĩnh các vị tướng tức các Bộ Trưởng trên tất cả các mặt trận, từ ngoại giao đến quốc phòng, từ kinh tế đến an ninh, từ tài chính đến giáo dục, và từ giáo dục đến phát triển nông thôn, v.v., và chính trong thời đại cầm quyền của Ông, Việt Nam đã có những vụ mùa thu hoạch thắng lợi về đầu tư nước ngoài, đầu tư ngoài nước, phát triển kinh tế, giữ vững và nâng cao nhất vị thế quốc gia, bảo vệ đất nước trước lằn ranh mỏng manh của chiến tranh và hòa bình, đặc biệt là đã ký kết được nhiều siêu dự án đa phương khu vực và đa phương quốc tế cho thời đại mới mà TPP và EU-VN FDA là điển hình.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Ông có thể tự hào trở về đời sống dân sự với hai điều to tát nhất là (a) Ông đã bổ sung cho minh chứng hùng hồn rằng những người dân Việt Nam bình dị khi trung kiên với Đảng theo lý tưởng cách mạng Hồ Chí Minh thì luôn được giáo dục, tôi luyện trở thành những người ưu tú, kiệt xuất như Võ Nguyên Giáp; và (b) chính Ông đã đến tất cả các châu lục để đưa được về cho đất nước con tàu đầy ắp những vật liệu xây dựng để vị thống soái kế nhiệm trổ tài dựng xây đất nước lớn mạnh, phát triển, hùng cường, theo yêu cầu mới của thời đại mới: thời đại Hậu-Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một danh nhân đất Việt mà các nguyên thủ thế giới phải nễ trọng. Ông trở thành mẫu mực cho các vị Thủ Tướng sau Ông trong trị quốc bình thiên hạ.

Nguyen Tan Dung 2

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-02-2016

 Dinh La Thang (1)

Ông Đinh La Thăng là người luôn ở vị trí tâm điểm.

Có lúc ông là tâm điểm khi báo chí khai thác dồn dập các công kích ông khi ông cấm cán bộ lãnh đạo ngành giao thông vận tải chơi golf.

Có khi ông là tâm điểm của không gian mạng không thiện cảm đối với các nhúc nhích của Bộ Giao Thông – Vận Tải dưới quyền giám quản của ông, cũng như đối với các phát biểu mạnh mẽ đầy cá tính của ông, thậm chí ông còn bị gọi một cách đầy xúc phạm là “Đinh Tặc” không những bởi những kẻ dấu tên hay có tên trên không gian mạng mà còn của những người công khai dùng micro phát biểu tại những buổi họp chính thức.

Có lần ông là tâm điểm của các tranh luận vĩ mô đối với siêu dự án Sân Bay Long Thành.

Và nay ông là tâm điểm của thế giới vì ông trở thành Ủy Viên Bộ Chính Trị và Tân Bí Thư của Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh.

Ông ở tâm điểm nên ông vẫn điềm nhiên dấn bước tiến lên và tiến xa lan tỏa chứ không phải ở vị trí mép rìa để tiến vào chỗ hẹp châu chụm của hồng tâm.

Ông là tâm điểm, chính vì ông mới đúng là người đất nước này cần nhưng xã hội chưa thể cung cấp đủ đầy: biết rõ trách nhiệm và bổn phận để nghiêm khắc thực thi thực quyền, nghiêm túc thể hiện thực uy, nghiêm chỉnh thi thố thực tài, và nghiêm minh trong chịu trách nhiệm đối với các quyết định từ thực quyền thực uy của ông.

Đối với Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, ông là tâm điểm vì ba lý do sau:

1) Thành phố Hồ Chí Minh quá lớn, quá phát triển, nên càng lộ rõ những trì trệ đang níu kéo làm chậm bước lao tới trước của nó, như qua (a) các vụ khiếu kiện kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ Quốc Hội, nhiều nhiệm kỳ Thành Ủy, nhiều nhiệm kỳ Hội Đồng Nhân Dân & Ủy Ban Nhân Dân vẫn vô phương xử lý do sự đùn đẩy trách nhiệm một cách đầy tỉnh táo, không chút hối hả; qua (b) thực tế khi chiến tranh thì hợp đồng tác chiến là tính ưu việt bậc nhất của hệ thống lãnh đạo, phối hợp, và giám sát, còn trong thời bình thì tính cách “sứ quân cát cứ” mạnh ai nấy phá là sự nhức nhối trơ gan cùng tuế nguyệt khi công ty cầu đường đầu tư nâng cấp mặt đường tráng nhựa mới tinh xong thì công ty điện lực đào đường mới ấy lên để đặt cáp xong tráng nhựa lại, rồi đến phiên công ty cấp nước đổ quân đến hăng hái đào đường đã được điện lực vá víu để thay ống nước mới và tráng nhựa lại tiếp, khiến tỷ tỷ tiền thuế của dân đã đổ ra chỉ để có con đường mới tinh vá víu mấp mô chờ năm tài khóa tiếp theo để các sứ quân lại xuất chiêu mạnh ai nấy đào để xài cho kỳ hết tiền rót từ ngân sách; và qua (c) thực tế hệ thống chính quyền địa phương toàn là đảng viên nhưng trong công tác tại cơ quan trong giờ hành chính phục vụ nhân dân vẫn gọi nhau là Anh Ba, Anh Tư, Anh Năm, một cách dân dã, phe nhóm, không chuyên nghiệp, chẳng nghiêm túc.

2) Thành phố Hồ Chí Minh quá lớn, quá phát triển, nên càng cần phải có sự thay đổi căn cơ nhằm thay đổi vĩnh viễn lề lối suy nghĩ địa phương cục bộ rằng vị trí lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh phải do các chức sắc của Thành phố Hồ Chí Minh hay từ các tỉnh phía Nam đảm trách, để từ nay người dân hiểu rõ rằng chỉ có người tài giỏi có tính cả quyết, có năng lực thống soái, có thần uy mới được Đảng giao nhiệm vụ trấn nhậm, quản lý.

3) Thành phố Hồ Chí Minh quá lớn, quá phát triển, nên càng cần phải có nhà lãnh đạo có hành động quyết liệt, cứng rắn, để chấm dứt vĩnh viễn lề lối làm việc chỉ dựa trên thuật nói chuyện hoặc hòa hoãn hoặc hùng hồn mà chung quy chỉ để xoa dịu quần chúng, trấn an người dân.

Ông Đinh La Thăng là nhân vật được kỳ vọng lớn cho Thành phố Hồ Chí Minh thực sự phát triển lành mạnh vì trên thực tế Thành phố Hồ Chí Minh hiện không có bất kỳ ai có khả năng làm Thành phố Hồ Chí Minh thay đổi tích cực và tốt đẹp hùng mạnh thực chất hơn.

Ông Đinh La Thăng là nhân vật được kỳ vọng lớn cho Thành phố Hồ Chí Minh thực sự phát triển lành mạnh vì trên thực tế Thành phố Hồ Chí Minh quá nhiều năm nay vẫn không có bất kỳ ai có (hoặc dám hành xử) quyền uy “trảm tướng” khiến các quan chức vẫn an nhiên tồn tại suốt nhiệm kỳ dù tình hình cải cách hành chính vẫn không khá hơn, và các khiếu kiện kéo dài của người dân vẫn tiếp tục tồn tại một cách quái gở.

Là công dân Thành phố Hồ Chí Minh, tôi kỳ vọng rằng với vai trò Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ông Đinh La Thăng sẽ giúp đưa Thành phố vào khuôn phép để trở thành một thành phố an toàn an ninh thịnh vượng; đưa các quan chức vào đúng vai trò quản lý nhà nước và công bộc của dân, không “giỡn mặt” với vị thống soái như ông; đưa hệ thống hành chính công quyền vào bước đường chuyên nghiệp hóa đúng nghĩa, văn minh thiệt, hiện đại thực, mà trước hết là ông cần phải ra lịnh cho tất cả các đảng viên phải gọi ông là “Bí Thư” cũng như không được gọi nhau bằng kiểu “Anh Hai”, hay “Chị Sáu” bên trong cơ quan Đảng và cơ quan hành chính công quyền trong giờ công tác chính thức; và chính thức xác lập thực quyền và thực uy của Đại biểu Quốc hội của Thành phố Hồ Chí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với các quan chức các Sở và các Ủy Ban Nhân Dân của Thành phố Hồ Chí Minh.

Là người ủng hộ ông ngay từ buổi đầu tiên bước vào Quốc Hội, tôi đã viết bài sau đăng trên Emotino ngày 22-10-2011 khi ông bị báo chí thi nhau đăng bài nói ông sai, dựa theo tuyên bố bá láp của Cục trưởng Cục Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Lê Hồng Sơn:

Bộ Trưởng Đinh La Thăng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Mấy ngày nay có các tin về phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng cấm cán bộ lãnh đạo ngành giao thông vận tải chơi golf, và Cục trưởng Cục Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Lê Hồng Sơn tuyên bố Ông Đinh La Thăng đã ra văn bản sai thẩm quyền, vi phạm quyền của cán bộ, công chức. Là một doanh nhân có nhiều kinh nghiệm về cái gọi là  “thẩm quyền”, tôi xin có nhận xét như sau.

Thật nhiều năm trước đây, ai vào làm cho BP ở Việt nam đều khoe là họ tự hào tuân thủ quy định rằng tất cả nhân viên BP bước lên ô-tô là phải cài dây đai an toàn ngay lập tức, và biết sự chế tài sẽ ra sao nếu ai đó dám vi phạm. Ông Lê Hồng Sơn nếu đã có mặt tại BP ắt sẽ tuyên bố quy định ấy vi phạm quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật Việt Nam không buộc thế.  Nhưng Ông Lê Hồng Sơn sẽ sai vì đó chẳng dính dáng gì đến luật pháp Việt Nam để phải viện dẫn luật Việt Nam, vì người tìm việc sau khi đọc nội quy công ty có quyền tự do nhận việc với lương cao, tự do nhận phúc lợi thật cao, tự do nhận thăng tiến thật công bằng, hay tự do vất tờ “job offer” vào sọt rác để từ chối nhận việc. Công ty ấy không dám và không có quyền ép buộc.

Thật nhiều năm trước đây, khi còn ở một công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài tôi đã cấp mũ bảo hiểm (mệnh giá thời xưa ấy đã là 200.000 đồng/chiếc, tức giá cao nhất trên thị trường đối với mũ ngoại nhập từ Taiwan, vào thời điểm chưa có quy định của nhà nước bắt phải đội mũ bảo hiểm) cho bất kỳ ai vào làm việc và yêu cầu họ phải đội mũ bảo hiểm khi đi đường bằng xe máy, và họ biết sự chế tài sẽ ra sao nếu ai đó bị tôi bắt gặp không đội mũ bảo hiểm. Tôi còn cấm nhiều nội dung khác, chẳng hạn tuy tôi phá quy định của công ty “mẹ” để nhân viên được lấy nhau hoặc được giới thiệu người nhà giỏi giang vào làm việc tại công ty tôi vẫn không cho nhân viên được công tác chung phòng ban với vợ/chồng/thân nhân, tức duy trì kiểu Tây nhằm đến sự công bằng, tránh thiên vị và xung đột quyền lợi; trong khi tại các cơ quan Nhà nước thì ai cũng “có quyền vô tư” đưa thân nhân vào làm việc. Ông Lê Hồng Sơn nếu đã có mặt tại công ty ấy ắt sẽ tuyên bố quy định đó vi phạm quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật Việt Nam không quy định như vậy. Nhưng Ông Lê Hồng Sơn sẽ sai vì đó chẳng dính dáng gì đến luật pháp Việt Nam để phải viện dẫn luật Việt Nam, vì người tìm việc sau khi đọc nội quy có quyền tự do nhận việc với lương cao, phúc lợi thật cao, thăng tiến thật công bằng, hay tự do vất tờ “job offer” vào sọt rác để từ chối nhận việc. Công ty ấy không dám và không có quyền ép buộc.

Ông Lê Hồng Sơn quên rằng người chiến sĩ bảo vệ đất nước để người dân lao động được hưởng chế độ mỗi năm đi du lịch một chuyến và có lương tháng 13, 14, thậm chí 15 hay 16, chứ bản thân người chiến sĩ không hưởng y quyền lợi như vậy. Đầy tớ của dân phải thuộc Luật để bảo vệ dân, bảo vệ quyền lợi của dân, đừng xâm hại vào quyền lợi của dân. Đầy tớ của dân không được hưởng quyền lợi tương tự dân. Vào thời điểm nhạy cảm khi vô số cử tri cực kỳ bức xúc, cực kỳ tức giận trước sự bất lực của cơ quan chức năng không giải quyết được trật tự giao thông, đào bới đường sá, và hủy phá ruộng đồng thu hẹp đất trồng lúa cho mấy cái sân golf vớ vẩn, sự cứng rắn của Ông Đinh La Thăng là có thể hiểu được, có thể đồng cảm được, và mọi lãnh đạo thuộc quyền của Ông sẽ phải cảm ơn Ông rồi vui vẻ tuân theo. Chơi golf để bàn chuyện đại sự với các đại gia tư bản, để xem nên đào xới tung đường sá lên ở những phố nào và mức hoa hồng sẽ như thế nào sao?

Ông Lê Hồng Sơn quên rằng người làm cha mẹ có quyền đối với con cái vì có nghĩa vụ và bổn phận nuôi dưỡng con cái nên người cho xã hội. Con tôi là công dân, được pháp luật bảo vệ, và tôi cấm nó không được tham gia lao động vệ sinh trường lớp từ thời tiểu học cho đến đại học, mặc cho điểm lao động có là zero đi nửa, vì tôi xem lao động như vậy là mị dân (quét rác mà là làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa sao, và tại sao làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ gồm lao động chân tay, và tại sao làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa không bao gồm việc được làm chủ số tiền khổng lồ lạm thu của ban giám hiệu nhà trường, v.v.?), hủy phá nhân cách trẻ thơ, và phơi bày bản thân trước bụi bẩn vi trùng dịch bệnh. Ông Sơn không có quyền tự do nói động đến quyền tự do của tôi đối với quyền tự do của con tôi. Tôi không cho phép Ông Sơn có quyền tự do ấy, bất kể Ông có là chức sắc giám sát cao đến đâu đi nữa trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Ông Lê Hồng Sơn quên rằng người sử dụng lao động có quyền đối với người lao động (đối với những quy định nghiêm ngặt làm cho môi trường hoạt động riêng của doanh nghiệp được tốt hơn, an toàn hơn, văn minh hơn, thực tế hơn) vì có nghĩa vụ và bổn phận đối với công ăn việc làm, phúc lợi, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, đào tạo bồi dưỡng họ, giúp họ tự hào có đặc quyền được đóng thuế thu nhập cho Nhà nước và giúp danh sách thất nghiệp của Nhà nước bớt dài hơn. Ông Sơn không có quyền tự do nói động đến quyền tự do của người sử dụng lao động (Ông Đinh La Thăng) đối với quyền tự do của người lao động của ngưới sử dụng lao động ấy, trừ phi Ông Sơn muốn mị dân, muốn tạo điều kiện dễ dàng hủy phá nhân cách công chức cao cấp, phơi bày thân thể của họ trước sự công kích của dân chúng. Tôi nghĩ Ông Thăng không cho phép Ông Sơn có quyền tự do ấy, bất kể Ông Sơn có là chức sắc giám sát cao đến đâu đi nữa trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Muốn Tự Do Thì Đừng Làm Lãnh Đạo” là câu nói đẳng cấp của đạo lý, của sự thật, và của quy tắc mang tính chân lý của muôn đời, vì rằng ngay cả vị hoàng đế của thời phong kiến cũng không được tự do, chẳng hạn bị trói buộc vào lời răn “thiên tử bất hý ngôn” tức thiên tử không được phép nói giỡn chơi”, v.v. Từ câu nói của Ông Thăng, tôi muốn viết thêm vào bài viết “Thế Nào Là Đẳng Cấp[1] rằng muốn tự do đi giao lưu riêng với người mẫu thì đừng làm lãnh đạo doanh nghiệp.

Ông Thăng nếu là người mềm mỏng có thể trước tiên sẽ ra khuyến nghị nội bộ khuyên các vị phó của Ông (ắt đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón) nên tránh xa mấy sân golf trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm này; và nếu có ai đó chống lại, nhởn nhơ đi chơi, Ông có thể xét kỹ luật hay chuyển công tác hoặc sa thải khỏi ngành, tùy theo quyền hạn của Ông. Song, ngay cả khi Ông nóng nảy không nghĩ đến bước “khuyến nghị”, thì Ông vẫn không sai vì Ông đâu cấm cán bộ nhân viên mà chỉ cấm các vị lãnh đạo ngành của Ông có khi với mong muốn bảo vệ họ – và…bảo vệ chính Ông – trước búa rìu của công luận nếu vô phúc trong ngày Chủ Nhật xui xẻo nào đó có xảy ra đại họa liên quan đến giao thông-vận tải mà các quan lại bận chơi golf ở chốn non Bồng xa xôi nào đó.

Suy cho cùng thì Ông và các vị lãnh đạo ấy đều là đầy tớ của nhân dân, nên không lý gì Ông và các vị lãnh đạo ấy lôi Luật Lao Động ra như phao cứu sinh để đòi hưởng quyền tự do y như người … chủ trong khi hàng chục triệu người dân làm chủ nhưng nào dám dù chỉ một lần trong suốt cuộc đời làm chủ đòi hưởng chế độ đi xe ô-tô nhà nước y như … các vị đầy tớ để đến sân golf xem cỏ màu gì. Ông Thăng chẳng đụng đến người dân; Ông chỉ đụng đến vài ba vị đầy tớ sang trọng ngang hàng với Ông Thăng nên Ông Thăng không sai. Và tôi tin ắt nhiều người dân cũng không cho là Ông sai.

Ông Đinh La Thăng có đúng không? Không biết.

Ông Đinh La Thăng có sai không? Không sai.

Là doanh nhân có nhiều kinh nghiệm với doanh nhân nước ngoài hơn 30 năm nay, từ thời điểm chưa có người Việt nào khác làm việc tương tự, tôi có thể nói rằng tôi rất ngạc nhiên khi mãi đến tháng 10 năm 2011 này tôi mới được nghe lời cấm đoán được thốt lên bởi một người… Việt khác ngoài tôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 11-10-2011. Thế Nào Là Đẳng Cấp: Trò Chuyện Cùng Bạn Trẻ. http://www.emotino.com/bai-viet/19332/the-nao-la-dang-cap-tro-chuyen-cung-ban-tre. Sẽ sớm được đăng lại trên WordPress.

Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-02-2016

Thói thường thì người Việt Nam mỗi khi đi nước ngoài về đều hết lời tán dương ca ngợi sự giàu có, tiện nghi, lộng lẫy, nguy nga biểu hiện lồ lộ qua các điều vật thể cụ thể như đền đài, thành quách, phố xá, công trình, v.v. ; cũng như qua những điều phi vật thể như các nét văn hóa, cách ứng xử, lễ hội, v.v., tất cả toát lên sức sống sinh động, trù phú, đáng khâm phục.

Và cũng theo thói thường thì mỗi khi có cái “thói thường” nêu ở trên, người Việt Nam ngao ngán, ngúc ngoắc đầu ra dáng ngại ngùng, ngán ngẩm, khi liên tưởng đến những điều vật thể và phi vật thể biểu hiện lồ lộ qua bao việc, tất cả toát lên sự tồn tại mà không ai cho là không dị thường, ngay cả nơi các nhà giáo dạy Sử và những người tự phong là “nhà sử học” hay “sử gia”.

Cái hệ lụy từ hai thứ “thói thường” ở trên là chưa thấy ai nhìn ra được – hay chí ít đề ra được một phương pháp cụ thể, khoa học, thuyết phục để nói về – sự giàu đẹp “lồ lộ” định hình được, định tính được, định lượng được của Việt Nam, vì vậy chả trách không đâu thấy có sự tự hào, nhận ra được niềm vinh dự, của việc được sinh ra làm người Việt Nam, dẫn đến việc tay thì ngửa ra nhận tiền lương, mà việc dạy Sử vẫn không làm tròn, khiến học trò Việt thì dốt Sử (điểm zero mà không gọi là “dốt đặc” mới là lạ!), còn hệ thống giáo dục nước nhà cứ mãi dùng chữ “trăn trở” với “băn khoăn”, khiến nước ngoài lầm tưởng người Việt ta khoái nằm ưỡn trên giường để thở dài (“trăn trở” lăn qua trở lại mà lị!) hoặc ngồi đực ra bên bàn trà để nhíu mày nhăn trán (“băn khoăn” mà lại!).

Bài viết này, do đó, cung cấp cho các nhà giáo dạy Sử, các “nhà sử học” tự phong, và các “sử gia” trên trời rơi xuống những luận cứ khoa học cho một công thức hàn lâm chuẩn xác nhằm cân đong đo đếm được mức độ giàu mạnh của Việt Nam để sử dụng trong các bài giảng Sử, bài viết Sử, phát biểu Sử, nhắm đến việc “minh bạch hóa” sức mạnh và vẻ đẹp của quốc gia này.

Trước khi vào phần cốt lõi của các luận cứ, xin nói vi von thêm rằng Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dù có phát triển vùn vụt đến đâu, điều này chẳng dính dáng gì đến việc phát triển vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam, nghĩa là những gì đang có ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh như nhà cao tầng đồ sộ, đường nhiều tầng hiện đại, hệ thống điều khiển giao thông phức tạp, v.v., không mang nội hàm rằng ngần ấy thứ cũng có đầy dẫy khắp nơi ở các vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam. Sự chịu đựng thành công của các vùng biên giới đầy gian truân, lắm khổ ải, thừa thiếu thốn, đưa đến sự tồn tại phát triển phồn hoa của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các phố thị khác của Việt Nam. Đã là chốn biên phòng, nơi ấy buộc phải chịu nhiều thiếu thốn, thiếu hụt, cả về tiện nghi sống lẫn sự phô trương vật chất phù hoa.

Việt Nam là xứ sở kỳ lạ vì gánh lấy gánh nặng làm chốn biên phòng của toàn vùng Đông Dương và Đông Nam Á.

Khi đi thăm Campuchia, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu, dồn của cải cứu đất nước ấy không bị Trung Quốc tuyệt diệt giống nòi, không bị Trung Quốc cướp sạch kho tàng đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành, để mọi thứ bảo vật Khmer mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước ấy phát triển vượt bậc, trở thành một thành viên của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi đi thăm Thái Lan, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là thốt nên tiếng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính Thái Lan cướp sạch kho tàng Thái Lan đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành Thái Lan, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước Thái Lan phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành một thành viên đầy vinh diệu của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Và khi đi thăm Mã Lai, Singapore, hay Indonesia, thậm chí cả Australia bao la giàu mạnh, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia Việt Nam để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính toàn bộ Đông Dương và Đông Nam Á, ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ Biển Đông, ngăn chặn Trung Quốc tràn quân thôn tính Châu Đại Dương, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để toàn vùng phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành những thành viên đầy tự hào của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi nói đến tên các quốc gia Đông Nam Á và Úc châu, không có nghĩa là Việt Nam chỉ có thể tìm thấy sự vĩ đại của chính mình tại những nơi ấy. Sự giàu có của Pháp cũng đến từ tài sản cướp được của nước Việt ta trong hàng trăm năm xâm chiếm.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực sở dĩ có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Phủ nhận điều này chỉ khiến người lên tiếng phủ nhận biến thành phường ăn cháo đái bát, phụ nghĩa, vong ân, mà như thế có khác gì loài dã thú.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Không biết gì về sự thật này để dạy học trò chỉ khiến nhà giáo dạy Sử biến thành vô trí vô hóa vô lương vô tâm, chỉ là những cỗ máy vô tri nhào nặn ra những học trò dốt Sử, giỏi chê bai nước nhà, hám chạy theo phục dịch ngoại bang.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải mãi gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Thái Lan khi đã thức tỉnh trước sự thật này đã không tiếp tục cho phép các nhóm người Việt từ Úc hay Mỹ đến lập căn cứ “Kinh Kha” trên đất Thái chống phá Việt Nam. Các quốc gia trong khu vực do đã thức tỉnh trước sự thật này nên đã ủng hộ Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là hành động duy nhất đúng của các chính phủ có trí tuệ.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải luôn gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Do đó, người dân Việt Nam cần nhận thức rõ nhất về vai trò này của Việt Nam, để tự hào về đất nước, từ đó vững vàng trước các chống phá của các thế lực thù địch chống Việt mà thực chất là bọn Việt gian tiếp tay Trung Quốc thôn tính Việt Nam và phần còn lại của Đông Nam Á.

Muốn biết Việt Nam giàu đẹp đến dường nào, hãy đi du lịch ra các nước trong vùng Đông Nam Á, để tấm tắc khen rằng người dân ở các nước ấy thật may mắn đã có Việt Nam dạn dày sương gió trấn giữ biên cương vùng đất, vùng biển, vùng trời tại khu vực này của thế giới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Tham Luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc 18/6/2010

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Giaothoa2GiaothoaGiaothoa1Giaothoa3

Tóm Tắt Nội Dung

“Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” là một vấn đề mang tính quan điểm được nói đến nhiều thời gian dài. Song, hoàn cảnh mới khiến nhất thiết phải có những phân tích mới, nhận định và nhận diện mới trên nền ngôn ngữ học trong môi trường giao thoa văn hóa và toàn cầu hóa.

Từ các nội dung chuyên biệt của bộ môn Lexicology tiếng Anh, tham luận này nhằm phân tích có so sánh để nhận diện tiếng Việt như một ngôn ngữ sống với đầy đủ các thành tố của sự bền vững, đào thải, cộng sinh, cộng hưởng, đa dạng thức, đa sắc màu, và phát triển. Với thực tế tiếng Việt còn non trẻ cộng với thực tế chiến tranh đã không cho phép có sự phát triển bài bản, tham luận đồng thời đề xuất hai chuẩn mực về phong cách formal như trong các ngôn ngữ khác và tái lập dấu gạch nối thuần Việt như biện pháp khả thi, khả dụng, định vị sự trong sáng của tiếng Việt.

Cuối cùng, truyền thông đại chúng giữ vai trò quyết định trong sự thành công của sự giữ gìn này.

Summary

The preservation of the clarity and the adaptability of the Vietnamese language has been a point of perspectival concept for years. However, new situations ignite the need for new and appropriate analysis, evaluation, and definition of that phrasing on the basis of linguistics and within a cross-culture and globalized environmental perspective.

With reference to the specific contents and scopes of study of English Lexicology, the essay is to analyze then shed lights to the acknowledgement of Vietnamese as a “living language” with full constituent elements of say stability, up-gradation, degradation, co-existence, assimilation, variety, and development. In view of the fact that the present-day Vietnamese language has been used only from the end of the Nineteenth century and the country immersed in wars until its reunification in end April 1975 with no scopes for proper lingual study and development, the essay further provides two proposals of (a) the application of formal and informal usage, and (b) the re-application of the Viet-styled hyphen, considering these among the best possible and feasible tools of positioning the clarity of Vietnamese.

Last but not least, the mass media is considered to play the decisive role in the success of the effort for the above-mentioned preservation.

I- Dẫn Nhập: Bản Chất của Bản Sắc

Bản sắc là những tính chất mang nét đặc trưng, và khi nói đến thời đại toàn cầu hóa, bản sắc dân tộc tức National Identity được đưa lên hàng đầu của tất cả các sự quan tâm và quan ngại, tình thế trước là khi muốn khai thác cái ưu việt, trong khi tình huống sau là do nguy cơ đánh mất bản sắc từ những lấn lướt mang yếu tố ngoại lai. Nếu bản sắc dân tộc bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các yếu tố lịch sử, văn hóa, chính trị, tập tục, tư tưởng, v.v., mang tính kế thừa truyền thống và/hay đương đại qua thẩm thấu có hay không có chọn lọc, thì ngôn ngữ được sử dụng trên nền và thể hiện rõ nét nhất cái bản sắc ấy. Nét nổi bật nhất của bản sắc dân tộc Việt Nam hay được đề cập đến là sự cởi mở, thân thiện, yêu chuộng hòa bình, ham học hỏi, cần cù lao động, không cực đoan, và ý nhị thâm thúy; trong khi bản chất xã hội của ngôn ngữ luôn là yếu tố quan trọng định tính, định lượng và định vị chính ngôn ngữ ấy trong tiến trình phát triển và giao thoa ngôn ngữ và văn hóa. Do đó, bản chất của bản sắc văn hóa dân tộc của ngôn ngữ tiếng Việt là nhằm nêu bật các nét đặc trưng; trong đó, nói về sự giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt qua nhóm từ tiếng Anh hay được dùng tại Việt Nam là “the preservation of the clarity and the purity of the Vietnamese” sẽ lệch tâm vì “purity” hướng đến sự “thuần khiết” hay “thuần Việt” vốn không là bản chất của bản sắc Việt và trái ngược với tiến trình giao thoa ngôn ngữ và văn hóa không thể đão ngược của xu thế toàn cầu hóa mà Việt Nam với bản sắc dân tộc đặc thù hoàn toàn tương thích và hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị mà sức sống mới của tiếng Việt có thể truyền tải được.

II- Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt – Anh

Không nhất thiết phải đợi đến khi phát sinh khái niệm lẫn thực tiễn về toàn cầu hóa mới có các nhận diện về sự giao thoa của các nền văn hóa và các ngôn ngữ. Những nghiên cứu về ngôn ngữ Anh của các tác giả như Felix, True, và Otto (1897) hay Bloomfield (1914), v.v., cho thấy mức độ tiếp nhận hàng chục ngàn từ ngữ từ 46 nhóm ngôn ngữ khác trên thế giới vào tiếng Anh, như một khẳng định không phải duy chỉ sự xâm chiếm thuộc địa mà còn phải tính đến sự phát triển của ngôn ngữ đã như tàng cây tự thân ngày càng mạnh khỏe sống động thành một thứ “sinh ngữ” – theo nghĩa đen – vươn ra bao trùm tất cả. Tương tự, các nghiên cứu về Tiếng Việt cũng cho thấy cơ sở hình thành của chính lớp từ thuần Việt cũng đến từ các gốc Nam Á và Tày Thái, chứng minh đã có những tương ứng và quan hệ phức tạp trong nhiều bộ phận hay nhiều nhóm ngay của lớp từ thuần Việt với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng, như Mường, Tày Thái, Bru-Vân Kiều, Non-Khmer, và Indonesia, v.v. (Chữ, Nghiệu, và Phiến. 1997). Ngoài ra, một bộ phận quan trọng các từ ngữ gốc Ấn-Âu du nhập vào Tiếng Việt thành từ ngoại lai khi Việt Nam bị Pháp chiếm đóng, sau đó là tiếng Anh và tiếng Nga cùng nhiều xuất xứ khác đã được dùng rộng rãi như trong các lĩnh vực thực phẩm, y học, trang phục, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, và kỹ thuật; đặc biệt, trong tất cả các ngôn ngữ có sự giao thoa với tiếng Việt, tiếng Anh tuy có sự thâm nhập trễ hơn, ít hơn, nhưng lấn át hơn về truyền thông đại chúng nhất là trong thời hiện đại của kỹ thuật số và phát triển công nghệ thông tin. Trên cơ sở thực tế ở Việt Nam tiếng Anh đã và đang trở thành ngoại ngữ của đa số người dân, sự nghiên cứu sâu về ngữ pháp tiếng Anh cũng sẽ có giá trị trong tương quan so sánh, phát hiện tương đồng, tận dụng bổ sung các khiếm khuyết, để hoàn thiện hệ thống ngữ pháp tiếng Việt.

III. Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

A) Luận Về “Sự Trong Sáng”

Trước khi nói đến “sự trong sáng” của Tiếng Việt, nhất thiết phải xác định tài sản của Tiếng Việt cả hiện hữu nội tại và tiềm tàng vun quén, chẳng hạn bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – cấu tạo từ, nghĩa từ, cụm từ, quan hệ đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa, biến đổi từ vựng trong triệt tiêu/thêm mới/tăng nghĩa, từ cổ, từ du nhập gốc Hán/Ấn-Âu so với từ thuần Việt, thuật ngữ, phương ngữ, từ nghiệp vụ, từ lóng, từ mới, từ văn khẩu ngữ, từ văn viết (Chữ, Nghiệu, và Phiến, 1997), cả ngôn ngữ cử chỉ và cú pháp (Bloomfield, 1914, 4, 167). Như vậy, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt đồng nghĩa với việc giữ gìn toàn bộ những gì thuộc tài sản kho tàng Tiếng Việt cùng với khả năng phát triển luôn đi kèm các yếu tố sinh lợi cũng như đào thải của một ngôn ngữ đang sống và đang được đầu tư nghiêm túc để sống mạnh và lan tỏa, chứ không phải chỉ là việc máy móc giáo điều tập trung duy chỉ vào từ thuần Việt vốn tự thân không hình thành ngôn ngữ Việt. Thêm vào đó, sự trong sáng của Tiếng Việt không có nghĩa là phải cố gắng vận dụng từ Tiếng Việt trong những trường hợp không cần thiết, thậm chí tầm thường hóa Tiếng Việt, xóa nhòa ranh giới formal/informal, tức văn bác học/bình dân, hay văn viết/văn nói vốn luôn luôn có ở bất kỳ ngôn ngữ “sống” nào trên thế giới.

Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trong một chừng mực mang tính ngôn ngữ học đầy đủ nhất, do vậy, còn có nghĩa đón nhận có chọn lọc những từ nước ngoài sẵn có đưa vào vận dụng làm giàu kho tàng từ vựng nước nhà.

B) Các Xâm Hại Kho Tàng Ngôn Ngữ Việt      

1-   Vấn Nạn “Bế Quan”

Do những tác động của lịch sử, tiếng Việt được hình thành không trên cơ sở sau đó có được đủ các nghiên cứu hàn lâm với các nghiên cứu do các học giả Pháp thực hiện từ xưa không nhằm phục vụ người Việt, và do các trường đại học Việt Nam hiện nay xây dựng qua các giáo trình không nhằm phục vụ nền giáo dục nói chung của Việt Nam mà riêng dành cho phân khoa ngôn ngữ hay xuất bản dành cho số ít các độc giả tự do. Tất cả tạo nên cách ứng xử không có cơ sở khoa học đối với những khía cạnh khác nhau của ngôn từ, chẳng hạn qua việc cho phép sử dụng tiếp tục tên Hán Việt của chỉ một số quốc gia, chấm dứt sử dụng tên Hán Việt của số còn lại (Bảng 1)

 Giaothoa4

Trong khi đó, tên các quốc gia sau buộc phải dùng dưới dạng Việt hóa phiên âm không theo một căn bản ngoại ngữ được chọn lọc đồng bộ, thí dụ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, mà một số lại theo sự phát âm của chính quốc (Bảng 2).

 Giaothoa5

2-   Vấn Đề “Xả Cảng”

Đối nghịch với cách hoặc tiếp tục dùng từ Hán Việt sẵn có từ xưa hoặc kiểu Việt Hóa phiên âm để gọi tên các quốc gia, còn có loại dịch thuật Pháp-Việt hoặc Anh-Việt, điển hình là nước Bờ Biển Ngà, vốn được đặt theo nghĩa dịch thuật sát từng từ một của tên Ivory Coast của tiếng Anh hay Côte D’Ivoire của Pháp ngữ.

Ngoài ra, đã có sự buông lơi trong chuẩn mực ngôn ngữ khiến không còn sự phân định minh bạch giữa từ ngữ formal với informal và sự tự do sử dụng tràn lan trên các phương tiện truyền thông đại chúng với những từ lóng thuần Việt như “dế” (điện thoại di động) hoặc từ lóng tiếng Anh như “cool” và “hot”, v.v.

3-   Tình Trạng “Trộn Lẫn”

Với những thí dụ chỉ riêng tên các quốc gia thì việc bỏ những từ Hán Việt đã làm vơi đi kho tàng từ ngữ tiếng Việt trong khi việc chế ra các tên theo kiểu Việt hóa phiên âm lại không làm giàu thêm kho tàng từ vựng đó. Cùng với kiểu dịch thuật – vốn tối kỵ theo văn hóa phương Tây đối với tên riêng – thì đã không có một phương pháp thống nhất trong gọi tên các quốc gia, khiến tiếng Việt yếu đi sức kết dính để có sự trong sáng của ngôn ngữ thông qua các công thức chính thức, chính quy, hợp l‎ý, và hiệu quả.

C) Những Biện Pháp Làm Trong Sáng Ngôn Ngữ Việt

1- Hoàn Thiện Từ Vựng Học Tiếng Việt Theo Bài Bản Lexicology Tiếng Anh

Trong khi bộ môn từ vựng học tiếng Việt đã được xây dựng tại một số trường đại học ở Việt Nam, các công trình hoặc giáo trình vẫn mang nặng tính chuyên biệt, riêng biệt, và theo định hướng thuần túy hàn lâm kiểu các công trình nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù do các nhà ngôn ngữ học trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản là các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nhằm chuyên sâu một khía cạnh nhỏ của những vấn đề ngôn ngữ nhằm xây dựng hệ thống l‎ý thuyết mới để diễn giải một mô hình nhận diện mới cho những thực thể ngôn ngữ ; trong khi các tài liệu viết về từ vựng học ở Việt Nam đa số dựa theo các chuẩn nội dung của từ vựng học tiếng Anh để nghiên cứu tiếng Việt theo đúng từng mặt một, như định nghĩa từ, cách tạo lập từ, ngữ nghĩa của từ, các dạng thái đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa của từ, từ vay mượn, vấn đề biến đổi hình thức và ngữ nghĩa của từ, các nhóm từ tượng thanh/tượng hình, v.v., và có thêm vài chuẩn đặc trưng của tiếng Việt như từ láy, thậm chí cả tu từ. Vấn đề tồn tại là các tài liệu đều dàn trải với rất nhiều chi tiết minh họa nhưng vẫn còn khoảng cách xa với sự phong phú vì thiếu tính hệ thống khoa học, hệ thống l‎ý thuyết, và hệ thống các công thức áp dụng. Ngoài ra, sự trong sáng của tiếng Việt khó thể được bảo vệ nếu những nội dung này không được (a) viết lại có tham khảo và/hay mô phỏng hệ thống mạch lạc của từ vựng học tiếng Anh và (b) phổ cập trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Việc dựa theo nội dung của từ vựng học tiếng Anh phát sinh từ thực tế việc biên soạn sách giáo khoa từ vựng học chưa là thế mạnh kinh nghiệm của các học giả Việt Nam, đồng thời sự tương đồng ở đa số các hiện tượng ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Anh còn giúp người Việt nắm vững tiếng Việt hơn, sử dụng tiếng Việt bài bản hơn, và củng cố thay vì quên tiếng Việt qua quá trình học tập tiếng Anh.

2- Hoàn Thiện Ngữ Pháp Tiếng Việt Theo Bài Bản Ngữ Pháp Tiếng Anh

Tương tự, ngữ pháp tiếng Anh cũng nên được dùng làm chuẩn để biên soạn mới ngữ pháp tiếng Việt. Câu sau đây của tiếng Việt sẽ bị người Việt học tiếng Anh liên tưởng đến phân tích theo ngữ pháp tiếng Anh và viết sai sang tiếng Anh, còn người nước ngoài học tiếng Việt lại cho rằng tiếng Việt không phân định rõ mệnh đề chính-phụ:

“Cho dù nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng khá cao, trung bình 7,56% từ năm 1991 đến năm 2008, nhưng ngày càng có nhiều chuyên gia kinh tế đề nghị xem lại chất lượng và mô hình tăng trưởng.”(Mạnh Quân, 2010).

Phân tích theo tiếng Anh cho thấy mệnh đề từ “cho dù” đến “năm 2008” là mệnh đề adverbial clause of concession bổ nghĩa cho mệnh đề chính (main clause) theo sau nó để hình thành một câu phức tạp (complex sentence) ; nhưng mệnh đề theo sau lại bắt đầu bằng liên từ “nhưng” nên trong tiếng Anh lại là mệnh đề độc lập (independent clause) cần thiết để tạo nên một câu kép (compound sentence). Như vậy toàn câu tiếng Việt trên sai văn phạm đối với người Việt giỏi tiếng Anh, và người Việt giỏi ngữ pháp tiếng Anh sẽ quen viết hoặc nói câu tiếng Việt trên không có chữ “nhưng”, khiến câu tiếng Việt trở nên đúng tiếng Việt hơn, chuyên nghiệp hơn trên bình diện ngữ pháp học của ngay cả tiếng Việt.

Việc người Việt không viết hay nói tiếng Việt đúng ngữ pháp là do sách giáo khoa về ngữ pháp tiếng Việt đã khởi thủy được các giáo sĩ soạn sơ khai trên nền ngữ pháp của tiếng Pháp, sau này được người Việt hệ thống hóa không trên một nền độc lập rõ nét hay theo một cơ sở tương đồng với hoặc như các ngôn ngữ khác. Việc chọn hệ thống ngữ pháp tiếng Anh làm cơ sở để thực hiện biên soạn đổi mới nội dung ngữ pháp tiếng Việt do cũng có chung mục đích, hiệu quả và tiện dụng như đối với đề xuất về lexicology.

3- Xây Dựng Ranh Giới Formal & Informal

Hiện nay ranh giới giữa các hình thức formal/informal, tức văn bác học/bình dân, hay văn viết/văn nói, gần như không còn rõ nét, với sự sử dụng từ ngữ phi chuẩn như “găm hàng” vốn là từ lóng thiếu sự trong sáng tu từ lẫn từ vựng ngữ nghĩa hoặc từ văn nói bình dân ngay trong bản Dự Thảo Thông Tư của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị Định số 170/2003/NĐ-CP của Chính Phủ về Pháp Lệnh Giá; hoặc từ “cú hích” không thuộc từ ngữ báo chí chuyên biệt trong bài viết nhận định về kinh tế (Tâm và Thuận, 2010). Khi không còn những lằn ranh nghiêm khắc và nghiêm túc này của ngôn ngữ, tiếng Việt sẽ không còn mạch lạc, thiếu hẳn sự bảo vệ tối cần thiết trên các tuyến giao thông từ vựng; chưa kể chính ranh giới này phân định rõ nét tính văn hóa đặc thù song tương đồng và tương thích với các ngôn ngữ khác trên đường hội nhập của Việt Nam và giao thoa văn hóa Việt Nam với văn hóa ngôn từ của các nền văn hóa khác.

4- Tái Lập Dấu Gạch Nối

     a) Vấn Đề Lịch Sử:

Người dân Việt dù là bậc thức giả uyên thâm, hoặc hoài cổ, hoặc theo Tây học, hay là dân thường, đều xem việc chuộng dùng tiếng nước ngoài và nỗ lực của Nhà Nước trong giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là hai khía cạnh không hoàn toàn tách biệt mà thuộc một phạm trù cần có một giải pháp chung.

Khi nói về sự trong sáng của tiếng Việt, vấn đề không chỉ là phân tích đối với nội dung của yêu cầu trong sáng trong ngôn ngữ như kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” vì việc “cõng cái chữ lên ngàn, vác cái chữ ra nương” là chuyện bình thường trong xóa nạn mù chữ cho người dân chứ không là một kỳ công. Duy chỉ có việc làm cho tiếng Việt được hệ thống hóa chặt chẽ, khoa học, rõ ràng, phân minh, và phổ cập, theo cách tận dụng và vận dụng những công cụ ngôn ngữ chữ viết đã có vào thực tế áp dụng và sử dụng. Và “dấu gạch nối” vốn đã bị ngưng sử dụng ngay sau ngày 30/4/1975 chính là căn bản mang tính giềng mối vững chắc của ngôn ngữ Việt, hoàn toàn thích hợp đối với yêu cầu nhận diện ngôn từ của các tiện nghi điện tử kỹ thuật số ngày nay. Dấu gạch nối này hoàn toàn khác với dấu sử dụng như trong cụm từ “Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu”, mà tên gọi nên là “dấu liên kết” hoặc một tên gọi nào khác để không lẫn với “dấu gạch nối” của tiếng Việt trước 1975.

     b) Giá Trị Thời Đại:

Dấu gạch nối đặc biệt giữ cho tiếng Việt được trong sáng đó là dấu nối các chữ của cùng một từ lại với nhau. Do đặc điểm của tiếng Tây là đa âm và tiếng Việt là đơn âm, dấu gạch nối trở thành công cụ biến tiếng Việt dễ được nhận diện ngang hàng với tiếng Anh hay Pháp, v.v. (Bảng 3).

 Giaothoa6

Máy dịch qua công cụ dấu gạch nối có thể nhận diện ngay “anh-hùng” là một từ duy nhất của tiếng Việt cũng như nhận diện ngay “counterrevolutionary” là một từ duy nhất khác của tiếng Anh. Nhưng nếu là “anh hùng” thì đương nhiên máy dịch sẽ trước hết xem đó là một cụm gồm hai từ riêng rẻ rồi võ đoán cho ra bao điều khiến nhiễu thông tin (Bảng 4).

Đó là chưa kể tên của người Việt đã không còn thuận lợi khi chuyển sang tiếng Anh: thí dụ đối với những yêu cầu ghi tên họ không cần ghi chữ lót, thì Hoàng-Hữu-Phước vẫn là Hoang-Huu- Phuoc trong tiếng Anh, hoặc Hoàng Hữu-Phước sẽ thành Huu-Phuoc Hoang và được gọi là Mr Huu-Phuoc; trong khi với việc loại bỏ dấu gạch nối, Hoàng Hữu Phước sẽ chỉ là Phuoc Hoang, loại bỏ hẵn chữ Hữu. Đặc biệt với tên có hơn ba chữ thì rõ ràng sẽ gặp bất lợi, chẳng hạn Trần Hoàng Việt Nam Quốc, nếu là Trần Hoàng Việt-Nam-Quốc với Trần là họ, Hoàng là từ lót, và Việt-Nam-Quốc là tên gọi (hoặc Trần-Hoàng Việt-Nam-Quốc, với Trần-Hoàng là họ, không có tên lót), thì việc chuyển sang Tiếng Anh sẽ là Viet-Nam-Quoc Hoang Tran hay Viet-Nam-Quoc Hoang-Tran, giúp lưu giữ giá trị tu từ ngữ nghĩa của tên gọi gốc mang tính tự hào gia tộc đặc thù và tâm l‎ý tình cảm thay vì biến thành giản lược tự nhiên thành Quoc Tran và loại bỏ hoàn toàn những ba từ còn lại. Ngoài ra, còn điểm tương đồng là rất nhiều tên gọi của người Âu Mỹ có sự tồn tại của dấu gạch nối như dấu tích của thế gia vọng tộc như các họ tộc Anstruther-Gough-Calthorpe, Cave-Browne-Cave, Elliot-Murray-Kynynmound, Heathcote-Drummond-Willoughby, Vane-Tempest-Stewart, hay Hepburn-Stuart-Forbes-Tresfusis, v.v . trong đó, có đến từ ba đến bốn từ kết nối lại thành Họ, và phải thêm tên cùng chữ lót – có khi lại là cụm từ có gạch nối khác – để cho ra tên đầy đủ thật dài, thí dụ như Nancy Jane Marie Heathcote-Drummond-Willoughby, nữ Nam Tước đời thứ 28 của dòng họ Heathcote-Drummond-Willoughby, hay Edward Montagu Stuart Granville Montagu-Stuart-Wortley-Mackenzie, Bá Tước Thứ Nhất Vùng Wharncliffe Vương quốc Anh thế kỷ XIX.

Do dấu gạch nối liên kết những phần của một từ chung duy nhất đã không còn được sử dụng, tiếng Việt ngày nay chỉ còn là những từ rời rạc được gom lại thành câu với chỉ riêng người Việt hiểu nghĩa, còn du học sinh nước ngoài phải gần như thuộc lòng các cụm từ thân quen, khó đạt trình độ sáng tác thơ văn tiếng Việt – trong khi nhiều người Việt sáng tác thơ văn tiếng Anh hay Pháp thật dễ dàng, còn tất cả các bộ óc điện tử trên thế giới không sao diễn dịch đúng văn bản tiếng Việt ra ngôn ngữ khác (Bảng 5 ) .

 Giaothoa8

     c) Phát Triển Tiếng Việt Toàn Cầu:

Trong khi Hoa Văn sánh vai cùng các tiếng Anh, Ả Rập, Nga, Pháp và Tây Ban Nha thành sáu ngôn ngữ chính thức được sử dụng tại Liên Hiệp Quốc, tiếng Việt vẫn khó thể có được vị trí xứng đáng hơn hiện nay, dù số lượng sinh viên nước ngoài và người nước ngoài học tiếng Việt có gia tăng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có thể biến tiếng Việt ngày càng được nhiều người học hơn, học nhanh hơn, học với sự sáng tạo và tầm sử dụng rộng hơn và chủ động hơn, để phát triển tiếng Việt trên toàn thế giới trong hệ thống khoa học, chuẩn hóa, tương thích với các công cụ thời kỹ thuật số nếu đầu tư xây dựng lại hệ thống ngữ pháp, hệ thống từ vựng, và sử dụng lại những công cụ ngôn ngữ hữu hiệu như dấu gạch nối “thuần Việt” của tiếng Việt.

5- Vai Trò Của Truyền Thông Chính Quy

Trong thời đại ngày nay, truyền thông đại chúng giữ vai trò tối quan trọng không những trong những vấn đề bình thường như truyền tải thông tin, cập nhật kiến thức, phát triển kinh doanh qua giới thiệu sản phẩm và quảng cáo, mà còn ở ảnh hưởng tác động sâu mạnh và nhanh chóng đến con người đối với văn hóa và ngôn từ. Sự dễ dãi và/hoặc tùy tiện của khâu biên tập của các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ làm xuống cấp tiếng Việt, không làm đúng “chức năng” giáo dục, tạo ra những vấn nạn quảng cáo (Phước, 2009), và không làm gì để hưởng ứng lời kêu gọi “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của chính phủ. Cần có cơ chế minh định việc sử dụng ngôn từ của các cơ quan và phương tiện truyền thông đại chúng phải phù hợp trên cơ sở lexicology, formal, và ngữ pháp chuẩn.

IV. Kết Luận:

Chủ trương đúng dắn của Nhà Nước cùng sự tập trung nghiên cứu sâu-rộng của giới học giả về giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt chỉ có thể phát huy tác dụng, mang tính hiệu quả cao qua các công cụ truyền thông – nhưng không dưới dạng những phát biểu hàn lâm, những đúc kết nghiên cứu, những giới thiệu công trình ngôn ngữ học, những chương trình phát sóng phỏng vấn các học giả, các bài báo chuyên đề ngôn ngữ, mà chính là ở ngay cách dùng từ trong từng tiết mục thông tin và quảng cáo – trên báo chí và truyền thanh/truyền hình – đặc biệt trong tất cả các chương trình “gameshow” hay các tiết mục có đông khán giả. Sự giáo dục công dân về giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt nhất thiết phải thông qua (a) những hiểu biết mới diễn giải thêm và bổ sung phong phú hóa khái niệm gốc thay vì biến Tiếng Việt thành “tử ngữ” với sự chấm dứt mọi diễn giải đa chiều về phát biểu của lãnh tụ quốc gia, (b) sự sử dụng ngôn từ của tất cả các giáo viên và tất cả các lãnh đạo ở tất cả các cấp – những người mà công việc đòi hỏi phải thường xuyên nói chuyện trước đông người – phải ở mức độ cẩn trọng cao có dựa theo tiêu chí văn phạm có thể chọn lọc từ những tương đồng trong văn phạm một thứ tiếng chuẩn khác như Tiếng Anh, và (c) những biện pháp hành chính nghiêm ngặt nhằm uốn nắn tiến đến hạn chế tối đa và triệt tiêu cụ thể các manh nha xâm hại sự phát triển lành mạnh của Tiếng Việt có định hướng rõ nét về hội nhập, theo đó người Việt nắm vững tiếng nước ngoài và người nước ngoài học Tiếng Việt thuận lợi hơn, giúp Tiếng Việt thành một sinh ngữ bài bản đối với người Việt và phần còn lại của nhân loại.

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

Bloomfield, Leonard. 1914. An Introduction to the Study of Language. London: G.Bell and Sons.

Chữ, Mai Ngọc, Vũ Đức Nghiệu, và Hoàng Trọng Phiến. 1997. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục.

Jespersen, Otto. Nd. A Modern Englsih Grammar on Historical Principles. London: George Allen and Unwin Ltd.

Jespersen, Otto. 1918. Chapters on English. London: George Allen and Unwin Ltd.

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17900

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Luận Về Sự Thăng Thiên Trong Quảng Cáo Giới Thiệu Sản Phẩm. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18305

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Nào Phải Đâu Chỉ Là Chuyện “Nóng Trong Người”: Vấn Nạn Văn Hóa Trong Quảng Cáo. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17873

Phước, Hoàng Hữu, 2009. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18336

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Ít Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18206

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Phản Biện. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18392

Quân, Mạnh. Năm Hạn Chế Trong Tăng Trưởng. Báo Sài Gòn Tiếp Thị, số 34 ngày 29-3-2010. Mục Góc Nhìn, trang 4-5.

Tâm, Trần N. và Quang Thuận. Bất Ổn Tiêu Thụ Nông Sản: Phải Xây Dựng Vùng Nguyên Liệu Tập Trung. Báo Thanh Niên, Số 85 (5207), ngày 26-3-2010, trang 6.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-02-2016

 IDEA

A- Cẩm Nang Bửu Bối Của Hồ Chí Minh

Giống như trong chương trình sinh vật, học sinh trung học có thể học về trái tim, về vận hành của các tâm thất, nhưng chỉ khi vào đại học y khoa các bài giảng về các vấn đề bịnh lý của tim mới được đưa ra, nghĩa là không phải bài cứ vì học trung học về trái tim không nói gì về bịnh tim nên trái tim phải luôn mạnh khỏe; trong các năm qua những bài viết của tôi về dân chủ nhằm làm rõ điểm quan trọng cơ bản nhất của dân chủ, theo đó dân chủ là một hình thức người dân thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu chọn người/những người thay mình ra lo việc nước, như một phân định rạch ròi sự khác biệt cơ bản so với các thời phong kiến trước đó khi các vị vua hoặc tự mình dấy binh giành lấy ngôi vua hoặc thừa kế ngai vàng của vua cha chứ hoàn toàn không qua hình thức phổ thông đầu phiếu bỏ phiếu kín của thời đại dân chủ. Hôm nay tôi viết về những điều phức tạp hơn của dân chủ như viết về các chứng bịnh của trái tim như đã ví von ở trên vậy.

Khi tại Quốc Hội, lúc đại biểu DTQ phát biểu hùng hồn đòi hỏi phải “trao quyền phúc quyết cho nhân dân” thì bản thân ông ta cũng chẳng hiểu ất giáp gì về cái gọi là “quyền phúc quyết”, khi ông ta phát biểu phê phán Việt Nam như “ốc đảo” không giống ai trên thế giới thì bản thân ông ta cũng chẳng biết ất giáp gì về “ốc đảo”, lúc ông đòi Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa mà phải luật hóa “mại dâm” đi thì bản thân ông ta chẳng hiểu “mại dâm” gồm có những phức tạp mới lạ nào ngoài cái gọi là đạo đức gia phong cũ rích mà ai cũng biết, và khi ông ta ủng hộ cái gọi là “luật biểu tình” thì bản thân ông ta chớ biết cái quái gì về “biểu tình”. Tôi đã phải viết một bài về Ốc Đảo [1] để thay mặt các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt bảo vệ sự đúng đắn vời vợi của tiếng Việt, viết nhiều bài về Biểu Tình để hỗ trợ về pháp luật cho các luật sư bạn thân của DTQ hiểu rõ thế nào là “biểu tình”, và ghép nội dung “mại dâm” trong bài Tứ Đại Ngu cũng để hỗ trợ về pháp luật cho các luật sư bạn thân của DTQ hiểu thế nào là mại dâm thời đại mới. Nay xin viết về cái gọi là quyền phúc quyết để làm sáng tỏ về chính trị và luật pháp dưới góc độ tôi là một nhà lập pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trước khi nói về quyền phúc quyết, tôi thấy cần khẳng định lại hai lập luận của tôi trong nhiều năm qua là: (a) tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng thực tế đời sống đã khiến những khái niệm hay quan niệm trước đây trở nên hoặc obsolete không còn phù hợp hoặc cần có các upgradation chỉnh lý nâng cao tương thích, và (b) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng tiên tri thấu thị về những đổi thay mang tính thời đại mới ây nên để lại cho các học trò một bửu bối trong trị quốc bình thiên hạ: đó là câu “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” với đại ý rằng cái gì có lợi cho độc lập dân tộc và quốc gia ổn định cường thịnh thì cứ biến hóa ra vạn cách để làm hầu thực hiện cho được mục tiêu ấy chứ không cớ gì phải bám theo sát sàn sạt từng chữ một tất cả những lời Người đã dạy. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh, 13 khóa Quốc Hội đã không đoái hoài đến cái gọi là “luật biểu tình”. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam thắt chặt quan hệ chiến lược với các siêu cường tư bản trong đó có Hoa Kỳ. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa cùng đề cao vai trò của kinh tế tư nhân, v.v., để Việt Nam phát triển như ngày nay. Ấy vậy mà bọn chống Việt sau thời gian thóa mạ Hồ Chí Minh là “cẩu tặc” trong tuyệt vọng, chúng xoay ra ca tụng Hồ Chí Minh để qua đó có cớ kết tội Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đã “làm sai lời dạy của Người”; cùng hòa âm điền dã có đám tự xưng “nhân sĩ trí thức” ở viện này viện nọ tại Việt Nam cũng viết lách in ấn gởi spam lung tung tố cáo Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đã “làm sai lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu” khiến đột nhiên cả hai bọn này đều trở nên “giáo điều” một cách kỳ lạ, biến tất cả những lời nói của Hồ Chí Minh thành thánh thư, biến Hồ Chí Minh thành vĩ nhân của cả thế giới chống Cộng, và biến Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng các lãnh đạo Việt Nam tự nhiên trở thành cấp tiến!

Vì vậy, có thể nói việc DTQ đòi phải trao quyền phúc quyết cho dân mà Hiến Pháp “Cụ Hồ” có ghi rõ, là việc hô hào rỗng tuếch vô giá trị của DTQ do DTQ đã không hiểu các nội dung mà các phần sau sẽ nêu rõ.

B- Dân Chủ Trực Tiếp

Dân chủ là sự tham gia của người dân trong các hoạt động của chính quyền trong phạm vi mức độ được quy định trong Hiến Pháp và pháp luật của mỗi quốc gia. Có hai loại dân chủ gồm dân chủ đại diệndân chủ trực tiếp, loại thứ nhất được áp dụng tại tất cả các quốc gia nào áp dụng hình thức phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín để bầu chọn người thay mình ra lo việc quốc gia, trong khi loại thứ hai để bổ sung cho loại thứ nhất trong vài trường hợp đặc biệt nào đó như được minh định hoặc không được minh định trong hiến pháp của quốc gia ấy. Các hình thức của dân chủ trực tiếp của một quốc gia có thể bao gồm một hoặc nhiều hơn một trong bốn loại sau đây:

1- Trưng Cầu Dân Ý:

Nội dung “quyền phúc quyết” mà DTQ phát biểu chỉ liên quan đến loại hình này của dân chủ trực tiếp, với những điều quan trọng mà DTQ cùng những đấng tương cận nhất thiết cần ghi nhận và ghi nhớ như:

a) Trưng Cầu Dân Ý gồm trưng cầu dân ý bắt buộc nếu có ghi rõ chi tiết trong Hiến Pháp một nước loại nội dung nào buộc phải qua trưng cầu dân ý thí dụ như việc quốc gia đó cần tham gia các hiệp ước quốc tế quan trọng như tham gia EU hay NATO, v.v., và trưng cầu dân ý không bắt buộc do không có ghi trong Hiến Pháp mà chỉ do chính phủ nước đó tự đề ra hay do quốc hội nước họ đề xuất thí dụ như để hỏi ý kiến về một dự án luật đang chờ được thông qua, về lương hưu, về hôn nhân đồng giới, về tự do phá thai, v.v.

b) Trưng Cầu Dân Ý không bao giờ được mặc định là hinh thức dân chủ bậc nhất mà tất cả các nước buộc phải có để chứng tỏ quốc gia mình thực sự có dân chủ.

Tại Châu Mỹ, hai quốc gia lớn là Mỹ và Mexico hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý. Hiến Pháp Hoa Kỳ không có điều khoản nào ghi về trưng cầu dân ý dù trong bất kỳ lĩnh vực nào, tình huống nào; trong khi đó, hiến pháp của chỉ 12 tiểu bang trong số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ là có ghi trưng cầu dân ý nhưng chỉ với một vài nội dung nội bộ riêng của tiểu bang, không được phép động đến Hiến Pháp Hoa Kỳ và các đạo luật liên bang Hoa Kỳ.

Tại Châu Âu, các nước như Đức và Bỉ, hoặc Vatican, v.v. hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý.

Tại Châu Á, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia, Brunei, Lào, Đông Timor, Triều Tiên, Bhutan, Afganistan hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý (riêng Nhật Bản có điều luật về trưng cầu dân ý nhưng chưa từng bao giờ đem ra áp dụng trong lịch sử do tất cả các chính phủ cầm quyền đều quá giỏi giang, quá kiệt xuất, quá có tinh thần trách nhiệm cực cao nên chưa bao giờ tỏ ra bất lực đến độ cần phải “đá trái bóng trách nhiệm” qua người dân trong quyết định việc quốc gia đại sự); trong khi đó, Việt Nam cùng Thái Lan và Singapore đều có mức độ áp dụng trưng cầu dân ý cao bằng nhau dưới hình thức này hay hình thức khác.

Như vậy, (a) thế giới nhìn nhận Việt Nam có trao quyền phúc quyết cho người dân, và (b) việc trao quyền phúc quyết tức trưng cầu dân ý cho người dân chẳng có ý nghĩa gì cả về thưc chất dân chủ của các quốc gia vì dân chủ đại diện tuyệt đối như của Hoa Kỳ mang ý nghĩa thực chất về trách nhiệm của “người đại diện” là làm cho dân giàu, nước mạnh, an ninh, chứ không chạy đua tranh giành cái hư danh “dân chủ”. Như vậy, cái mà Việt Nam cần – nếu có thời gian dư thừa – là một bộ luật mang tên Luật Trưng Cầu Dân Ý. Phải có thời gian dư thừa mới soạn cái luật mà chỉ có quốc gia bất thường, biến loạn, muốn gây hỗn loạn dân tâm mới đem ra áp dụng thường xuyên. Các ghi nhận này về sự bất thường có khả năng khiến người dân bất an về năng lực cùng sự ổn định của chính phủ một nước là do chính những tổ chức quốc tế về dân chủ như IDEA quan ngại nêu lên.

c) Kết quả của một cuộc Trưng Cầu Dân Ý ở một quốc gia hoàn toàn không được mặc định rằng sẽ phải được thực hiện bởi quốc hội hay chính phủ của nước đó, vì mục đích chính của bất kỳ cuộc trưng cầu dân ý nào cũng phục vụ cho sự tham khảo mà thôi.

d) Ngoài việc các cuộc trưng cầu dân ý ít khi được tổ chức, nhiều quốc gia còn lồng ghép cuộc trưng cầu dân ý chung vào các cuộc bầu cử quốc gia để tiết kiệm do chi phí khổng lồ và tổ chức phức tạp của trưng cầu dân ý, càng cho thấy trưng cầu dân ý không mang thuộc tính của sự quan trọng và/hay cấp bách hoặc cấp thiết.

2- Sáng Kiến Công Dân

Sáng kiến công dân là hình thức dân chủ trực tiếp tại một số quốc gia khi người dân đề xuất ý kiến chẳng hạn đối với một dự thảo luật đang được bàn luận hay một phần hoặc toàn phần của một luật hiện hành hoặc một luật sắp được ban hành. Người dân khi trình bày ý kiến mong muốn như thế, sau đó phải tìm kiếm sự đồng thuận của bao nhiêu người dân khác (mấy chục ngàn hay mấy trăm ngàn người tùy theo luật định) để ý kiến này được Quốc hội xem xét chấp thuận cho đưa ra trưng cầu dân ý. Trên thế giới chỉ có các quốc gia sau đây cho phép công dân được đề xuất ý kiến sửa đổi Hiến Pháp của quốc gia họ để được quốc hội nước họ xem xét đưa ra trưng cầu dân ý: Châu Mỹ có 5 nước (Colombia, Costa Rica, Ecuador, Uruguay, và Venezuela), Châu Âu có 9 nước (Belarus, Georgia, Hungary, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Moldova, Slovakia, và Thụy Sĩ), Châu Phi có 3 nước (Cape Verde, Liberia, và Uganda), trong khi Châu Á chỉ có 1 nước (Philippines), cho thấy không một cường quốc nào áp dụng, vì Hiến Pháp không phải là lĩnh vực mà công dân có quyền đưa ra các đề xuất để có những thay đổi dù cho đó chỉ là một chi tiết nhỏ của Hiến Pháp.

3-Sáng Kiến Lập Pháp Của Công Dân

Trong khi “sáng kiến công dân” là một hình thức dân chủ trực tiếp để người dân nêu lên đối với một dự thảo luật đang được thảo luận tại Quốc hội, một đạo luật đã được ban hành đang có hiệu lực hay một đạo luật sắp được thông qua, thì “sáng kiến lập pháp” tức hình thức dân chủ trực tiếp mà theo đó người dân được hiến định có quyền đề nghị chương trình nghị sự của quốc hội nên quan tâm đến đề xuất cho một đạo luật mới mà người dân cho rằng cần được đưa vào chương trình nghị sự. Và khi công dân đáp ứng được các yêu cầu về số lượng chữ ký đồng thuận theo quy định của pháp luật, quốc hội có thể xem xét để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý nhưng quốc hội nắm toàn quyền quyết định không tuân theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý ấy.

Trên toàn thế giới, việc áp dụng hình thức dân chủ trực tiếp của sáng kiến lập pháp của công dân tại Châu Mỹ có 13 nước (không có Hoa Kỳ và Canada), Châu Âu có 22 nước (không có Pháp và Anh), Châu Phí có 8 nước (không có Nam Phi), và Châu Á chỉ có 4 nước (Kyrgyzstan, Philippines, Thái Lan và Turmenistan). Điều này cho thấy không một cường quốc nào cho phép công dân được đưa ra sáng kiến lập pháp vì đó là công việc của quốc hội chuyên nghiệp và có trách nhiệm.

4- Bãi Miễn

Hình thức thứ tư của dân chủ trực tiếp là khi người dân có quyền đề nghị bãi miễn một quan chức đã được bầu lên trước đó và đang làm việc tại chính quyền địa phương hay chính quyền trung ương. 18 tiểu bang của Hoa Kỳ có các quy định bải miễn các quan chức ở cấp tiểu bang, 36 tiểu bang có quy định bải miễn các quan chức ở cấp địa phương trong tiểu bang. Tuy nhiên, luật pháp Hoa Kỳ cấm các tiểu bang không được bải miễn các nghị sĩ Quốc hội ngay cả khi luật của tiểu bang có quy đinh cho phép bải miễn. Dù việc bải miễn được thực hiện sau kết quả một cuộc trưng cầu dân ý hoặc không qua trưng cầu dân ý thì hình thức bải miễn của dân chủ trực tiếp này cũng không phổ biến rộng khắp.

C- Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Khi nói về quyền của các hình thức dân chủ trực tiếp trong yêu cầu thay đổi hệ thống chính trị của một quốc gia, người ta chỉ có thể nêu duy chỉ một dẫn chứng của nước Uganda ở Châu Phi, theo đó Điều 69 của Hiến Pháp 1995 của Uganda ghi nhận người dân có quyền được lựa chọn và áp dụng một hệ thống chính trị theo sự lựa chọn của họ thông qua các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, trong khi đó Điều 70.1 Hiến Pháp Uganda năm 1995 còn quy dịnh trưng cầu dân ý sẽ dược tổ chức với mục đích thay dổi hệ thống chính trị. Việc này chứng minh toàn thế giới không có quốc gia nào khác quy định tương tự, biến hệ thống chính trị của mỗi nước gần như bất khả xâm phạm, bất khả đổi thay. Đây là một mặc định đương nhiên.

Việc thay đổi hệ thống chính trị ở Việt Nam là ước mơ của duy chỉ bốn nhóm người gồm (a) các nhóm chống Việt ở hải ngoại, (b) các nhóm nhân sĩ trí thức tự xưng ở Việt Nam, (c) các nhóm “lương tâm” trẻ người non dạ, và (d) các đảng viên cộng sản ngây thơ khờ dại.

Các nhóm chống Việt hoàn toàn không trên một khung khái niệm logic nào của dân chủ trực tiếp, thứ mà họ lầm tưởng là vũ khí của xã hội dân sự mà một cuộc tự diễn biến có thể giúp họ trả dược mối thù truyền kiếp chống Cộng qua việc chứng kiến Cộng sản Việt Nam bị tiêu diệt, bất kể ngay cả hậu quả là Việt-Nam-không-cộng-sản có bị thôn tính bởi Trung Quốc hay không. Thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Các nhóm nhân sĩ trí thức tự xưng giàu óc tưởng tượng ở Việt Nam tự rặn ra những giá trị và sức mạnh không bao giờ có thật của dân chủ trực tiếp, đòi trao quyền phúc quyết cho nhân dân, với mong muốn nhân dân có thể sẽ tác động đến sự thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam mà chưa từng nghiên cứu để biết rằng thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Các nhóm “lương tâm” trẻ người non dạ chỉ biết bấu víu nép mình vào tên tuổi các vị nhân sĩ trí thức tự xưng và vào tiền bạc của các vị chống Việt nên cũng u mê, mơ màng đến việc thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam, mà không biết rằng thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Và các đảng viên cộng sản ngây thơ khờ dại hoặc do thất học, hoặc tại thất thời, hoặc bởi thất chí do theo Đảng để mong vinh thân phì gia nhưng đến tuổi già bóng xế vẫn chỉ có phì bụng bia bọt nên uất ức trở mặt, láu cá, hoặc hùng hồn tuyên bố bỏ Đảng, hoặc hăng hái ký tên vào các kiến nghị, mà không biết rằng (a) tại tất cả các nước văn minh các kiến nghị hoàn toàn không có giá trị thực hiện vì chỉ có “sáng kiến công dân” và “sáng kiến lập pháp” như quy định trong hiến pháp của họ tức phải thu thập đủ số lượng chữ ký đồng thuận theo luật định mới có giá trị tham khảo sau khi có kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý, rằng (b) phạm vi hiến pháp và thể chế chính trị không bao giờ nằm trong phạm trù cho phép của các cuộc trưng cầu dân ý, rằng (c) các siêu cường tư bản của “thế giới tự do” không ai áp dụng trưng cầu dân ý, và rằng (d) thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam là một chủ đề mà ngay cả Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia trên toàn thế giới cũng không bao giờ dám công khai tuyên bố, và do đó sẽ không bao giờ công khai ủng hộ bất kỳ hoạt động bát nháo nào để chống Việt Nam, trừ phi phải lên tiếng cầu xin Việt Nam hãy thả một “lương tâm” hay một “nhân sĩ trí thức” nào đó mà ngay cả người Việt Nam tại Việt Nam cũng chưa từng biết đó là một “lương tâm” hay một “nhân sĩ trí thức”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

1) Ở Việt Nam có tình trạng lậm khái niệm “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên từ ngữ “dân ý” là từ ngữ quen thuộc vậy mà khi đưa thành tên dự thảo luật lại đổi thành “ý dân” mà không ai chịu hiểu rằng khi giải phóng Miền Nam thì toàn bộ cơ sở kho tàng vật chất hạ tầng của Mỹ – kể cả các khoản nợ vay của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại các định chế tài chính thế giới như World Bank và IMF – đều trở thành tài sản của riêng nước Việt Nam cộng sản thống nhất – tài sản có để hưởng và tài sản nợ phải trả thay – thì tương tự như vậy toàn bộ những từ ngữ Hán Việt hay từ vay mượn của ngôn ngữ khác một khi bước vào tiếng Việt đều trở thành tài sản ngôn ngữ của riêng Việt Nam mà Việt Nam có toàn quyền sử dụng nên không thể cứ tên người thì cứ vô tư chọn từ Hán Việt cho văn hoa tuyệt mỹ còn tên cơ quan thì cứ buộc phải trần trụi thành cửa hàng ăn uống hay trường cao đẳng nghề, khiến có thời bọn chống Việt có cớ để mĩa mai nói kháy là ở Việt Nam ắt xài từ “xưởng đẻ” hay “nhà đẻ” thay cho bảo sinh viện Từ Dũ vậy. Dân Ý là Dân Ý, nếu chuyển thành Ý Dân, vậy khi nói đi nắm Dân Tình thì có phải đổi thành Tình Dân không? Dân Ý là một danh từ duy nhất (lẽ ra có dấu gạch nối như đã giải thích trong bài viết Vũ Khí Tối Thượng[2] ), phục vụ duy chỉ cho phạm trù của cụm “trưng cầu”; còn Ý Dân là một cụm từ khác gồm hai danh từ Ý và Dân với từ Của ở giữa được hiểu ngầm giản lược. Tương tự, những từ Hán-Việt khác như Dân Tâm (tức lòng của dân), Dân Trí (tức trí hóa của dân), Dân Sinh (tức thuộc về khu vực sinh sống của dân), Nhân Thân (tức bản thân đương sự), v.v., có phải sửa thành Tâm Dân, Trí Dân, Sinh Dân, và … Thân Nhân không?

2) Số liệu trong bài viết trên trích xuất từ tài liệu Dân Chủ Trực Tiếp – Sổ Tay IDEA Quốc Tế (International Institue for Democcracy and Electoral Assistance – Viện Quốc Tế Về Dân Chủ Và Hỗ Trợ Bầu Cử, Stockholm, Thụy Điển), ấn bản 2008, bản dịch tiếng Việt năm 2014 của Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội.

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 04-12-2012. Thế Nào Là Ốc Đảo – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/12/04/the-nao-la-oc-dao-su-can-trong-trong-su-dung-ngon-tu-han-viet/

[2] Hoàng Hữu Phước. 19-10-2009. Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/10/25/vu-khi-toi-thuong-cua-tieng-viet-cho-thoi-ky-thuat-so-hoi-uc-ve-mot-su-that-chang-con-nguoi-viet-nam-nao-tren-the-gioi-con-nho-hay-biet-den/

Các tài liệu khác, có nhắc đến trong bài viết:

Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Vì Sao Táo Quân Thất Bại

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-02-2016

Táo Quân ở đây là vở kịch Táo Quân mà đài truyền hình VTV đầu năm âm lịch nào cũng trình diễn trong suốt hơn 10 cái Tết qua. Táo Quân thất bại tức vở hài kịch ấy của VTV thất bại, chứ không phải ba vị tâm linh cai quản bếp núc các hộ dân cư.

Song, năm nào cũng tốn hàng trăm triệu cho vở hài kịch mà vài năm trở lại đây luôn nhận toàn những lời chê bai của khán giả, VTV vẫn cứ chây lỳ chường mặt ra với Táo Quân của họ, mà điển hình là sáng nay 01-02-2016 hai “hề” XB và CL thi nhau tung hứng về ý nghĩa của Táo Quân đối với sự thăng tiến nghề nghiệp của họ, thậm chí còn “tâm linh” khi nói nhờ đóng vai Nam Tào và Bắc Đẩu mà hai hề nhà ta mới thành đạt, chưa kể có vị còn nói là vị ta không phải “giả gái” mà tại sách vở đâu có nói “Ông” Nam Tào hay “Ông” Bắc Đẩu nên tác giả kịch bản có quyền để một ông là “ông” và một ông là “bà”. Hóa ra nhờ các hề Việt mà ta nay phát hiện rằng Tổ Tiên bọn Tàu ngày xưa đã dốt tiếng Anh nên đã không ghi rõ chữ Mr hay Mrs trước danh xưng, khiến Ngọc Hoàng Thượng Đế không rõ là ông hay bà, mà nếu là bà thì chồng của Ngọc Hoàng Thượng Đế là ai, còn Phật Thích Ca không có chữ “ông” trong khi Phật Bà Quan Âm thì có chữ “bà” nên ắt gây ra tranh cãi mới chốn hàn lâm thần học.

Trở lại với Táo Quân, đã có vô số sự chê bai trên báo chí, nhưng chưa ai nêu được lý do sâu xa của sự thất bại của Táo Quân.

Như đã viết trong bài Cái Sai Của Nền Văn Học Hiện Thực Phê Phán, tôi cho rằng cái gọi là tiểu thuyết văn học hiện thực phê phán đã bị diệt vong vì (a) đã là tiểu thuyết thì không bao giờ là hiện thực vì tiểu thuyết là “fiction” chứ không phải “non-fiction”, (b) nếu hiện thực thực sự có cái xấu xa phải bị lôi ra làm đối tượng cho sự phê phán gián tiếp trong văn học thì hoặc xấu xa đó là xấu xa vụn vặt hoặc xấu xa đó là xấu xa khủng khiếp mà tiểu thuyết gia nhà ta đã hèn nhát do sống trong một xã hội nhát hèn không dám lôi kẻ xấu xa ấy ra làm bị cáo trực tiếp trước vành móng ngựa, và (c) điểm b ở trên đã biến cả lãnh địa của tiểu thuyết văn học hiện thực phê phán thành bằng chứng của sự dệt thêu, nhát hèn, thất bại từ trứng nước, khiến cả lãnh địa ấy phải bị diệt vong không kèn không trống.

Là người được thầy cô ở đại học cùng các bạn học tôn là “vua luận” văn chương Anh-Mỹ, tôi cho đến tận ngày nay vẫn chưa từng đọc qua nguyên tác Hamlet hoặc Romeo & Juliet hoặc Othello hoặc Macbeth hoặc các kịch phẩm khác của Shakespeare dù chương trình học ở Đại Học Văn Khoa buộc phải nghiên cứu các tác phẩm vĩ đại này. Tôi chỉ đọc vỡ hài kịch The Taming of the Shrew của Ông. Lý do thật đơn giản: ở trung học tôi đã hoặc xem phim, hoặc nghe kể, hoặc đọc các bản dịch rút ngắn tiếng Việt, hoặc đọc các bản simplified rút ngắn tiếng Anh nên không hứng thú để đọc nguyên tác sau này, tuy luôn đạt điểm cao nhất về các bài thi liên quan đến các kịch phẩm lớn trên.

Táo Quân thất bại vì khán giả biết Táo Quân sẽ nói gì do khán giả đã biết trong xã hội trong năm qua đã có những sự việc nổi cộm gì. Đã biết trước thì đâu còn có hứng thú để chờ xem, mà nếu có xem vì chẳng biết phải làm gì trong lúc chờ thời khắc Giao Thừa đến thì cũng chẳng cười nổi. Vợ tôi thuộc gia đình người “Bắc di cư” hay chê bai hề miền Nam ồn ào tía lia tía lịa dung tục do toàn là “không có nội dung”, vậy mà nay lại nói không thể xem hài kịch miền Bắc do cái cười vui vẻ như của “Gặp Nhau Cuối Tuần” hay trong các vỡ chèo trước đây đã không bao giờ còn tồn tại do toàn là “có nội dung đã biết trước”.

Táo Quân thất bại vì sau một vài năm đầu làm khán giả thích thú – xin nhắc lại là “thích thú” chứ không phải là “bị chọc cười ha hả” – vì thủa xa xưa ấy chưa có cái việc những sai sót của nhà cầm quyền bị đưa ra chọc chộ mai mĩa công khai. Thế rồi, khán giả (a) dần dần biết ngay là Táo Quân năm nay sẽ khoét sâu vào nội dung nào thuộc Bộ chủ quản nào nên đâm ra chán; (b) dần dần nhận ra rằng có phê phán đấy nhưng sao năm nào cũng có cái để phán phê nghĩa là sự phê phán ấy vô dụng chẳng dẫn đến sự khá hơn nào của xã hội nên càng đâm ra chán; (c) dần dần nhận ra rằng do kịch bản và lời thoại không có gì hay ho để chờ có “đột phá” người ta bắt đầu lưu ý đến cung cách từng “danh hề” một nên để ý thấy vị Ngọc Hoàng luôn có gương mặt buồn ngủ, lời thoại ngủ buồn, luôn có lời phán kiểu “dĩ hòa di quý” ở cuối màn, cho qua hết mọi việc (để tiếp tục tầy huầy nhằm năm sau có cái mà báo cáo tiếp), còn các “Táo” thì chỉ lo hoặc chọt qua chọt lại hoặc cải trang nữ giới, nên càng chán dữ hơn; và (d) khi thấy Táo Quân bị ế đến độ năm 2015 phải mời một nam ca sĩ đóng vai thiên lôi với hy vọng sẽ có khán giả ủng hộ, khiến khán giả không còn chán, không còn chán hơn, không còn chán dữ, mà không xem để khỏi chán.

Táo Quân thất bại vì VTV đã không chịu đọc bài về Hiện Thực Phê Phán nêu trên để biết rằng đã là tác phẩm văn học – hài là một lĩnh vực của văn học – nhất là tác phẩm kịch nghệ hài thì phải đặt tiêu chí giải trí là duy nhất và trên hết. Hãy tham khảo các tác phẩm viết hoặc hình của thế giới Âu Mỹ để nhận ra điều cực kỳ đơn giản này, vì rằng khán giả mua vé vào rạp xem phim hài hay hài kịch – hay mua băng dĩa về xem – là để tìm sự thư giãn, giải trí, chứ không để bị lôi kéo vào những “vấn nạn” trầm kha đầy nhức đầu nhức nhối bực mình bực dọc bực tức của xã hội để bị nhắc nhở buộc phải nhớ đi nhớ lại ngần ấy thứ trong giờ thư giãn hiếm hoi.

Hư cấu cốt truyện là một biệt tài của nhà văn hài, biên kịch hài. Hư cấu cốt truyện khiến Hollywood có các tác phẩm điện ảnh lừng danh, còn thế giới phim ảnh thì hốt bạc, nhờ vào những hề vĩ đại.

Hư cấu lời thoại xỏ xiên một việc có thật để chọc cười thiên hạ là sự láu cá, bất tài, cùn nhụt, thụ động, và bất lực của tác giả vì không thể hay hơn sự xỏ xiên vốn là biệt tài của những người chống phá chế độ ngồi rung đùi nơi quán cà phê cóc vĩa hè. Hư cấu lời thoại khiến Táo Quân không thể vượt ra khỏi biên giới Việt Nam dù cưỡi cá chép hay đáp Airbus/Boeing, và thậm chí từ Hà Nội vào các tỉnh Miền Nam cũng rất khó khăn.

Khi xem Mr Bean, người ta cười trước đã với diễn xuất của anh hề Rowan Atkinson cùng nội dung toàn bộ bộ phim, rồi dần dần sẽ có một hay hai khán giả – hoặc chẳng khán giả nào cả – liên tưởng đến cái gì đó trong xã hội. Khi xem Táo Quân, người ta ai cũng biết ngay lập tức là đang nói đến sự việc gì nên chỉ cười khi thấy bộ tịch mếu máo của hề hoặc lời thoại đốp chát dung tục giữa các hề, chứ chẳng ai cười với nội dung toàn bộ vỡ kịch.

Thời đại cũ do chiến tranh nên những phát triển văn học khó thể dồi dào, đa dạng, dẫn đến yêu cầu phải sáng tác nhanh – qua các trại sáng tác – để có cái mà đưa vào chương trình học Văn ở trung học cũng như có cái mà diễn cho dân xem mà qua đó sẽ giáo dục tư tưởng chính trị. Cũng nhừ vậy mà cái gọi là “chủ nghĩa hiện thực phê phán” phải ra đời, phải được ngợi ca, và trở thành thói quen.

Thời đại mới ngày nay khi sự tiếp cận văn học văn hóa văn minh thế giới dễ dàng qua một cái bấm nút trên remote control, người ta có nhu cầu cao hơn, đồng thời nhận ra (a) ý nghĩa của “fiction” và “non-fiction”, (b) ý nghĩa cực kỳ tiêu cực và giả trá cũng như vô dụng của “hiện thực phê phán” trong lĩnh vực văn học, (c) sự cáo chung của nền “văn học hiện thực phê phán”, và (d) quyền lực của người xem đài đối với doanh thu quảng cáo của các nhà đài buộc các sản phẩm của các nhà đài phải ở chất lượng cao nhất.

Táo Quân sẽ không thể tốt hơn vì Táo Quân đã tự trói buộc mình vào chiếc vòng kim cô của chuyên moi móc “các sai sót của các Bộ trong chính phủ” để chọc cười nên không thể thoát ra, không còn có thể trở thành hư cấu hoàn toàn, tức thực thụ trở thành tác phẩm hài thuần giải trí theo tiêu chuẩn phục vụ cao nhất và có “lương tâm” nhất tức “đạo đức nghề nghiệp” cao nhất của Âu Mỹ về tạo nên sự cảm thụ nghệ thuật hài trong thư giãn thoải mái khỏe khoắn yêu đời hơn nơi khán giả.

Táo Quân đã giúp hề XB và hề CL phát triển tay nghề hài – như thú nhận của chính hai hề này – và Táo Quân cũng đã giúp biết bao nhà phê bình có cái để mà phê phán trên báo giấy cũng như báo mạng.

Đó là hai đại công của Táo Quân của VTV vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 23-9-2015. Hề & Ngứa.

Hoàng Hữu Phước. 23-11-2015. Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán