Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-02-2016

 IDEA

A- Cẩm Nang Bửu Bối Của Hồ Chí Minh

Giống như trong chương trình sinh vật, học sinh trung học có thể học về trái tim, về vận hành của các tâm thất, nhưng chỉ khi vào đại học y khoa các bài giảng về các vấn đề bịnh lý của tim mới được đưa ra, nghĩa là không phải bài cứ vì học trung học về trái tim không nói gì về bịnh tim nên trái tim phải luôn mạnh khỏe; trong các năm qua những bài viết của tôi về dân chủ nhằm làm rõ điểm quan trọng cơ bản nhất của dân chủ, theo đó dân chủ là một hình thức người dân thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu chọn người/những người thay mình ra lo việc nước, như một phân định rạch ròi sự khác biệt cơ bản so với các thời phong kiến trước đó khi các vị vua hoặc tự mình dấy binh giành lấy ngôi vua hoặc thừa kế ngai vàng của vua cha chứ hoàn toàn không qua hình thức phổ thông đầu phiếu bỏ phiếu kín của thời đại dân chủ. Hôm nay tôi viết về những điều phức tạp hơn của dân chủ như viết về các chứng bịnh của trái tim như đã ví von ở trên vậy.

Khi tại Quốc Hội, lúc đại biểu DTQ phát biểu hùng hồn đòi hỏi phải “trao quyền phúc quyết cho nhân dân” thì bản thân ông ta cũng chẳng hiểu ất giáp gì về cái gọi là “quyền phúc quyết”, khi ông ta phát biểu phê phán Việt Nam như “ốc đảo” không giống ai trên thế giới thì bản thân ông ta cũng chẳng biết ất giáp gì về “ốc đảo”, lúc ông đòi Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa mà phải luật hóa “mại dâm” đi thì bản thân ông ta chẳng hiểu “mại dâm” gồm có những phức tạp mới lạ nào ngoài cái gọi là đạo đức gia phong cũ rích mà ai cũng biết, và khi ông ta ủng hộ cái gọi là “luật biểu tình” thì bản thân ông ta chớ biết cái quái gì về “biểu tình”. Tôi đã phải viết một bài về Ốc Đảo [1] để thay mặt các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt bảo vệ sự đúng đắn vời vợi của tiếng Việt, viết nhiều bài về Biểu Tình để hỗ trợ về pháp luật cho các luật sư bạn thân của DTQ hiểu rõ thế nào là “biểu tình”, và ghép nội dung “mại dâm” trong bài Tứ Đại Ngu cũng để hỗ trợ về pháp luật cho các luật sư bạn thân của DTQ hiểu thế nào là mại dâm thời đại mới. Nay xin viết về cái gọi là quyền phúc quyết để làm sáng tỏ về chính trị và luật pháp dưới góc độ tôi là một nhà lập pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trước khi nói về quyền phúc quyết, tôi thấy cần khẳng định lại hai lập luận của tôi trong nhiều năm qua là: (a) tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng thực tế đời sống đã khiến những khái niệm hay quan niệm trước đây trở nên hoặc obsolete không còn phù hợp hoặc cần có các upgradation chỉnh lý nâng cao tương thích, và (b) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng tiên tri thấu thị về những đổi thay mang tính thời đại mới ây nên để lại cho các học trò một bửu bối trong trị quốc bình thiên hạ: đó là câu “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” với đại ý rằng cái gì có lợi cho độc lập dân tộc và quốc gia ổn định cường thịnh thì cứ biến hóa ra vạn cách để làm hầu thực hiện cho được mục tiêu ấy chứ không cớ gì phải bám theo sát sàn sạt từng chữ một tất cả những lời Người đã dạy. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh, 13 khóa Quốc Hội đã không đoái hoài đến cái gọi là “luật biểu tình”. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam thắt chặt quan hệ chiến lược với các siêu cường tư bản trong đó có Hoa Kỳ. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa cùng đề cao vai trò của kinh tế tư nhân, v.v., để Việt Nam phát triển như ngày nay. Ấy vậy mà bọn chống Việt sau thời gian thóa mạ Hồ Chí Minh là “cẩu tặc” trong tuyệt vọng, chúng xoay ra ca tụng Hồ Chí Minh để qua đó có cớ kết tội Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đã “làm sai lời dạy của Người”; cùng hòa âm điền dã có đám tự xưng “nhân sĩ trí thức” ở viện này viện nọ tại Việt Nam cũng viết lách in ấn gởi spam lung tung tố cáo Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đã “làm sai lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu” khiến đột nhiên cả hai bọn này đều trở nên “giáo điều” một cách kỳ lạ, biến tất cả những lời nói của Hồ Chí Minh thành thánh thư, biến Hồ Chí Minh thành vĩ nhân của cả thế giới chống Cộng, và biến Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng các lãnh đạo Việt Nam tự nhiên trở thành cấp tiến!

Vì vậy, có thể nói việc DTQ đòi phải trao quyền phúc quyết cho dân mà Hiến Pháp “Cụ Hồ” có ghi rõ, là việc hô hào rỗng tuếch vô giá trị của DTQ do DTQ đã không hiểu các nội dung mà các phần sau sẽ nêu rõ.

B- Dân Chủ Trực Tiếp

Dân chủ là sự tham gia của người dân trong các hoạt động của chính quyền trong phạm vi mức độ được quy định trong Hiến Pháp và pháp luật của mỗi quốc gia. Có hai loại dân chủ gồm dân chủ đại diệndân chủ trực tiếp, loại thứ nhất được áp dụng tại tất cả các quốc gia nào áp dụng hình thức phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín để bầu chọn người thay mình ra lo việc quốc gia, trong khi loại thứ hai để bổ sung cho loại thứ nhất trong vài trường hợp đặc biệt nào đó như được minh định hoặc không được minh định trong hiến pháp của quốc gia ấy. Các hình thức của dân chủ trực tiếp của một quốc gia có thể bao gồm một hoặc nhiều hơn một trong bốn loại sau đây:

1- Trưng Cầu Dân Ý:

Nội dung “quyền phúc quyết” mà DTQ phát biểu chỉ liên quan đến loại hình này của dân chủ trực tiếp, với những điều quan trọng mà DTQ cùng những đấng tương cận nhất thiết cần ghi nhận và ghi nhớ như:

a) Trưng Cầu Dân Ý gồm trưng cầu dân ý bắt buộc nếu có ghi rõ chi tiết trong Hiến Pháp một nước loại nội dung nào buộc phải qua trưng cầu dân ý thí dụ như việc quốc gia đó cần tham gia các hiệp ước quốc tế quan trọng như tham gia EU hay NATO, v.v., và trưng cầu dân ý không bắt buộc do không có ghi trong Hiến Pháp mà chỉ do chính phủ nước đó tự đề ra hay do quốc hội nước họ đề xuất thí dụ như để hỏi ý kiến về một dự án luật đang chờ được thông qua, về lương hưu, về hôn nhân đồng giới, về tự do phá thai, v.v.

b) Trưng Cầu Dân Ý không bao giờ được mặc định là hinh thức dân chủ bậc nhất mà tất cả các nước buộc phải có để chứng tỏ quốc gia mình thực sự có dân chủ.

Tại Châu Mỹ, hai quốc gia lớn là Mỹ và Mexico hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý. Hiến Pháp Hoa Kỳ không có điều khoản nào ghi về trưng cầu dân ý dù trong bất kỳ lĩnh vực nào, tình huống nào; trong khi đó, hiến pháp của chỉ 12 tiểu bang trong số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ là có ghi trưng cầu dân ý nhưng chỉ với một vài nội dung nội bộ riêng của tiểu bang, không được phép động đến Hiến Pháp Hoa Kỳ và các đạo luật liên bang Hoa Kỳ.

Tại Châu Âu, các nước như Đức và Bỉ, hoặc Vatican, v.v. hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý.

Tại Châu Á, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia, Brunei, Lào, Đông Timor, Triều Tiên, Bhutan, Afganistan hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý (riêng Nhật Bản có điều luật về trưng cầu dân ý nhưng chưa từng bao giờ đem ra áp dụng trong lịch sử do tất cả các chính phủ cầm quyền đều quá giỏi giang, quá kiệt xuất, quá có tinh thần trách nhiệm cực cao nên chưa bao giờ tỏ ra bất lực đến độ cần phải “đá trái bóng trách nhiệm” qua người dân trong quyết định việc quốc gia đại sự); trong khi đó, Việt Nam cùng Thái Lan và Singapore đều có mức độ áp dụng trưng cầu dân ý cao bằng nhau dưới hình thức này hay hình thức khác.

Như vậy, (a) thế giới nhìn nhận Việt Nam có trao quyền phúc quyết cho người dân, và (b) việc trao quyền phúc quyết tức trưng cầu dân ý cho người dân chẳng có ý nghĩa gì cả về thưc chất dân chủ của các quốc gia vì dân chủ đại diện tuyệt đối như của Hoa Kỳ mang ý nghĩa thực chất về trách nhiệm của “người đại diện” là làm cho dân giàu, nước mạnh, an ninh, chứ không chạy đua tranh giành cái hư danh “dân chủ”. Như vậy, cái mà Việt Nam cần – nếu có thời gian dư thừa – là một bộ luật mang tên Luật Trưng Cầu Dân Ý. Phải có thời gian dư thừa mới soạn cái luật mà chỉ có quốc gia bất thường, biến loạn, muốn gây hỗn loạn dân tâm mới đem ra áp dụng thường xuyên. Các ghi nhận này về sự bất thường có khả năng khiến người dân bất an về năng lực cùng sự ổn định của chính phủ một nước là do chính những tổ chức quốc tế về dân chủ như IDEA quan ngại nêu lên.

c) Kết quả của một cuộc Trưng Cầu Dân Ý ở một quốc gia hoàn toàn không được mặc định rằng sẽ phải được thực hiện bởi quốc hội hay chính phủ của nước đó, vì mục đích chính của bất kỳ cuộc trưng cầu dân ý nào cũng phục vụ cho sự tham khảo mà thôi.

d) Ngoài việc các cuộc trưng cầu dân ý ít khi được tổ chức, nhiều quốc gia còn lồng ghép cuộc trưng cầu dân ý chung vào các cuộc bầu cử quốc gia để tiết kiệm do chi phí khổng lồ và tổ chức phức tạp của trưng cầu dân ý, càng cho thấy trưng cầu dân ý không mang thuộc tính của sự quan trọng và/hay cấp bách hoặc cấp thiết.

2- Sáng Kiến Công Dân

Sáng kiến công dân là hình thức dân chủ trực tiếp tại một số quốc gia khi người dân đề xuất ý kiến chẳng hạn đối với một dự thảo luật đang được bàn luận hay một phần hoặc toàn phần của một luật hiện hành hoặc một luật sắp được ban hành. Người dân khi trình bày ý kiến mong muốn như thế, sau đó phải tìm kiếm sự đồng thuận của bao nhiêu người dân khác (mấy chục ngàn hay mấy trăm ngàn người tùy theo luật định) để ý kiến này được Quốc hội xem xét chấp thuận cho đưa ra trưng cầu dân ý. Trên thế giới chỉ có các quốc gia sau đây cho phép công dân được đề xuất ý kiến sửa đổi Hiến Pháp của quốc gia họ để được quốc hội nước họ xem xét đưa ra trưng cầu dân ý: Châu Mỹ có 5 nước (Colombia, Costa Rica, Ecuador, Uruguay, và Venezuela), Châu Âu có 9 nước (Belarus, Georgia, Hungary, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Moldova, Slovakia, và Thụy Sĩ), Châu Phi có 3 nước (Cape Verde, Liberia, và Uganda), trong khi Châu Á chỉ có 1 nước (Philippines), cho thấy không một cường quốc nào áp dụng, vì Hiến Pháp không phải là lĩnh vực mà công dân có quyền đưa ra các đề xuất để có những thay đổi dù cho đó chỉ là một chi tiết nhỏ của Hiến Pháp.

3-Sáng Kiến Lập Pháp Của Công Dân

Trong khi “sáng kiến công dân” là một hình thức dân chủ trực tiếp để người dân nêu lên đối với một dự thảo luật đang được thảo luận tại Quốc hội, một đạo luật đã được ban hành đang có hiệu lực hay một đạo luật sắp được thông qua, thì “sáng kiến lập pháp” tức hình thức dân chủ trực tiếp mà theo đó người dân được hiến định có quyền đề nghị chương trình nghị sự của quốc hội nên quan tâm đến đề xuất cho một đạo luật mới mà người dân cho rằng cần được đưa vào chương trình nghị sự. Và khi công dân đáp ứng được các yêu cầu về số lượng chữ ký đồng thuận theo quy định của pháp luật, quốc hội có thể xem xét để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý nhưng quốc hội nắm toàn quyền quyết định không tuân theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý ấy.

Trên toàn thế giới, việc áp dụng hình thức dân chủ trực tiếp của sáng kiến lập pháp của công dân tại Châu Mỹ có 13 nước (không có Hoa Kỳ và Canada), Châu Âu có 22 nước (không có Pháp và Anh), Châu Phí có 8 nước (không có Nam Phi), và Châu Á chỉ có 4 nước (Kyrgyzstan, Philippines, Thái Lan và Turmenistan). Điều này cho thấy không một cường quốc nào cho phép công dân được đưa ra sáng kiến lập pháp vì đó là công việc của quốc hội chuyên nghiệp và có trách nhiệm.

4- Bãi Miễn

Hình thức thứ tư của dân chủ trực tiếp là khi người dân có quyền đề nghị bãi miễn một quan chức đã được bầu lên trước đó và đang làm việc tại chính quyền địa phương hay chính quyền trung ương. 18 tiểu bang của Hoa Kỳ có các quy định bải miễn các quan chức ở cấp tiểu bang, 36 tiểu bang có quy định bải miễn các quan chức ở cấp địa phương trong tiểu bang. Tuy nhiên, luật pháp Hoa Kỳ cấm các tiểu bang không được bải miễn các nghị sĩ Quốc hội ngay cả khi luật của tiểu bang có quy đinh cho phép bải miễn. Dù việc bải miễn được thực hiện sau kết quả một cuộc trưng cầu dân ý hoặc không qua trưng cầu dân ý thì hình thức bải miễn của dân chủ trực tiếp này cũng không phổ biến rộng khắp.

C- Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Khi nói về quyền của các hình thức dân chủ trực tiếp trong yêu cầu thay đổi hệ thống chính trị của một quốc gia, người ta chỉ có thể nêu duy chỉ một dẫn chứng của nước Uganda ở Châu Phi, theo đó Điều 69 của Hiến Pháp 1995 của Uganda ghi nhận người dân có quyền được lựa chọn và áp dụng một hệ thống chính trị theo sự lựa chọn của họ thông qua các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, trong khi đó Điều 70.1 Hiến Pháp Uganda năm 1995 còn quy dịnh trưng cầu dân ý sẽ dược tổ chức với mục đích thay dổi hệ thống chính trị. Việc này chứng minh toàn thế giới không có quốc gia nào khác quy định tương tự, biến hệ thống chính trị của mỗi nước gần như bất khả xâm phạm, bất khả đổi thay. Đây là một mặc định đương nhiên.

Việc thay đổi hệ thống chính trị ở Việt Nam là ước mơ của duy chỉ bốn nhóm người gồm (a) các nhóm chống Việt ở hải ngoại, (b) các nhóm nhân sĩ trí thức tự xưng ở Việt Nam, (c) các nhóm “lương tâm” trẻ người non dạ, và (d) các đảng viên cộng sản ngây thơ khờ dại.

Các nhóm chống Việt hoàn toàn không trên một khung khái niệm logic nào của dân chủ trực tiếp, thứ mà họ lầm tưởng là vũ khí của xã hội dân sự mà một cuộc tự diễn biến có thể giúp họ trả dược mối thù truyền kiếp chống Cộng qua việc chứng kiến Cộng sản Việt Nam bị tiêu diệt, bất kể ngay cả hậu quả là Việt-Nam-không-cộng-sản có bị thôn tính bởi Trung Quốc hay không. Thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Các nhóm nhân sĩ trí thức tự xưng giàu óc tưởng tượng ở Việt Nam tự rặn ra những giá trị và sức mạnh không bao giờ có thật của dân chủ trực tiếp, đòi trao quyền phúc quyết cho nhân dân, với mong muốn nhân dân có thể sẽ tác động đến sự thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam mà chưa từng nghiên cứu để biết rằng thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Các nhóm “lương tâm” trẻ người non dạ chỉ biết bấu víu nép mình vào tên tuổi các vị nhân sĩ trí thức tự xưng và vào tiền bạc của các vị chống Việt nên cũng u mê, mơ màng đến việc thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam, mà không biết rằng thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Và các đảng viên cộng sản ngây thơ khờ dại hoặc do thất học, hoặc tại thất thời, hoặc bởi thất chí do theo Đảng để mong vinh thân phì gia nhưng đến tuổi già bóng xế vẫn chỉ có phì bụng bia bọt nên uất ức trở mặt, láu cá, hoặc hùng hồn tuyên bố bỏ Đảng, hoặc hăng hái ký tên vào các kiến nghị, mà không biết rằng (a) tại tất cả các nước văn minh các kiến nghị hoàn toàn không có giá trị thực hiện vì chỉ có “sáng kiến công dân” và “sáng kiến lập pháp” như quy định trong hiến pháp của họ tức phải thu thập đủ số lượng chữ ký đồng thuận theo luật định mới có giá trị tham khảo sau khi có kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý, rằng (b) phạm vi hiến pháp và thể chế chính trị không bao giờ nằm trong phạm trù cho phép của các cuộc trưng cầu dân ý, rằng (c) các siêu cường tư bản của “thế giới tự do” không ai áp dụng trưng cầu dân ý, và rằng (d) thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam là một chủ đề mà ngay cả Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia trên toàn thế giới cũng không bao giờ dám công khai tuyên bố, và do đó sẽ không bao giờ công khai ủng hộ bất kỳ hoạt động bát nháo nào để chống Việt Nam, trừ phi phải lên tiếng cầu xin Việt Nam hãy thả một “lương tâm” hay một “nhân sĩ trí thức” nào đó mà ngay cả người Việt Nam tại Việt Nam cũng chưa từng biết đó là một “lương tâm” hay một “nhân sĩ trí thức”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

1) Ở Việt Nam có tình trạng lậm khái niệm “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên từ ngữ “dân ý” là từ ngữ quen thuộc vậy mà khi đưa thành tên dự thảo luật lại đổi thành “ý dân” mà không ai chịu hiểu rằng khi giải phóng Miền Nam thì toàn bộ cơ sở kho tàng vật chất hạ tầng của Mỹ – kể cả các khoản nợ vay của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại các định chế tài chính thế giới như World Bank và IMF – đều trở thành tài sản của riêng nước Việt Nam cộng sản thống nhất – tài sản có để hưởng và tài sản nợ phải trả thay – thì tương tự như vậy toàn bộ những từ ngữ Hán Việt hay từ vay mượn của ngôn ngữ khác một khi bước vào tiếng Việt đều trở thành tài sản ngôn ngữ của riêng Việt Nam mà Việt Nam có toàn quyền sử dụng nên không thể cứ tên người thì cứ vô tư chọn từ Hán Việt cho văn hoa tuyệt mỹ còn tên cơ quan thì cứ buộc phải trần trụi thành cửa hàng ăn uống hay trường cao đẳng nghề, khiến có thời bọn chống Việt có cớ để mĩa mai nói kháy là ở Việt Nam ắt xài từ “xưởng đẻ” hay “nhà đẻ” thay cho bảo sinh viện Từ Dũ vậy. Dân Ý là Dân Ý, nếu chuyển thành Ý Dân, vậy khi nói đi nắm Dân Tình thì có phải đổi thành Tình Dân không? Dân Ý là một danh từ duy nhất (lẽ ra có dấu gạch nối như đã giải thích trong bài viết Vũ Khí Tối Thượng[2] ), phục vụ duy chỉ cho phạm trù của cụm “trưng cầu”; còn Ý Dân là một cụm từ khác gồm hai danh từ Ý và Dân với từ Của ở giữa được hiểu ngầm giản lược. Tương tự, những từ Hán-Việt khác như Dân Tâm (tức lòng của dân), Dân Trí (tức trí hóa của dân), Dân Sinh (tức thuộc về khu vực sinh sống của dân), Nhân Thân (tức bản thân đương sự), v.v., có phải sửa thành Tâm Dân, Trí Dân, Sinh Dân, và … Thân Nhân không?

2) Số liệu trong bài viết trên trích xuất từ tài liệu Dân Chủ Trực Tiếp – Sổ Tay IDEA Quốc Tế (International Institue for Democcracy and Electoral Assistance – Viện Quốc Tế Về Dân Chủ Và Hỗ Trợ Bầu Cử, Stockholm, Thụy Điển), ấn bản 2008, bản dịch tiếng Việt năm 2014 của Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội.

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 04-12-2012. Thế Nào Là Ốc Đảo – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/12/04/the-nao-la-oc-dao-su-can-trong-trong-su-dung-ngon-tu-han-viet/

[2] Hoàng Hữu Phước. 19-10-2009. Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/10/25/vu-khi-toi-thuong-cua-tieng-viet-cho-thoi-ky-thuat-so-hoi-uc-ve-mot-su-that-chang-con-nguoi-viet-nam-nao-tren-the-gioi-con-nho-hay-biet-den/

Các tài liệu khác, có nhắc đến trong bài viết:

Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.