Monthly Archives: April 2016

Ngày 30 Tháng 4

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2016

Nhân ngày Lễ Chiến Thắng 30 tháng 4 năm nay 2016, tôi xin kính chuyển đến các độc giả đường link các bài viết sau của tôi:

Ngày 30-4-1975:

Hoàng Hữu Phước: Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/01/nhan-quoc-khanh-nuoc-nha-tai-dang-bai-viet-song-ngu-viet-anh-truoc-day-ve-dat-nuoc/

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/11/ngay-chien-thang-30-4-1975/

Ngày 30-4-1970:

Hoàng Hữu Phước: Hoa Kỳ Và Cuộc Thảm Sát Đại Học Kent https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/12/3041970-3042015-45-nam-tu-cuoc-dan-ap-cua-ve-binh-quoc-gia-hoa-ky-tieu-bang-ohio-tham-sat-sinh-vien-tai-truong-dai-hoc-kent/

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Advertisements

Bầu Cử

Tởm Lợm

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2016

Batman

Diễn viên Mỹ George Clooney tuần trước tuyên bố tại California rằng những đồng tiền anh ta đang cùng vợ đứng ra gây quỹ lớn trang trải cho cuộc vận động tranh cử tổng thống Hoa Kỳ của ứng cử viên Hillary Clinton là “tởm lợm”, thậm chí còn phê phán rằng “Thật là lố bịch khi chúng ta cần phải có thứ tiền này trong chính trị”. Gần như ngay lập tức, ông Bernie Sanders, đối thủ cạnh tranh với bà Hillary Clinton trong cuộc chạy đua giành vị trí ứng cử viên tổng thống duy nhất của Đảng Dân Chủ, lên tiếng ngợi ca Clooney đã rất công minh và đoan chính. Bernie Sanders đã nhân cơ hội để tự đánh bóng rằng bản thân mình chỉ dựa vào nguồn tiền tài trợ nho nhỏ của các nhà gây quỹ nho nhỏ chứ không từ các mạnh thường quân của giới tài phiệt. Vậy, việc gây quỹ cho các ứng viên tổng thống tại Mỹ theo Hiến Pháp Hoa Kỳ đã có những điều tiếng gì đến độ Batman George Clooney phải nặng lời như thế.

Khi đứng ra tổ chức sự kiện với giá vé cao ngất (thấp nhất là 33.400 USD/vé và cao nhất là 353.400 USD/vé đôi), Clooney và bất kỳ nhà gây quỹ tương tự nào khác cho những cuộc bầu cử chính trị tại Hoa Kỳ sử dụng danh tiếng “ngôi sao” của bản thân để thu hút đông đảo giới thượng lưu thời thượng tìm đến vui chơi, giải trí, tiệc tùng, và phô trương đẳng cấp của bản thân người bỏ tiền mua vé tham dự. Số tiền khổng lồ thu được sau mỗi đêm “sự kiện” như thế được cho là góp vào quỹ vận động tranh cử của một ứng cử viên nhất định, mà trong trường hợp của nhà tổ chức gây quỹ Clooney là bà Hillary Clinton.

Ứng cử viên Sanders phát biểu thẳng thừng rằng “một trong những bi kịch lớn nhất đó là những số tiền khổng lồ được bỏ ra để mua các cuộc bầu cử”, và rằng “các lãnh đạo đảng phái không nên đáp ứng các yêu cầu của giới tài phiệt Phố Wall cùng các nhà đóng góp giàu có cho các chiến dịch vận động”. Ông cho rằng, “đã có điều sai quấy ở đây khi một vài kẻ mà ở đây là các cá nhân giàu sụ có thể đóng góp những số tiền khổng lồ không thể tin nổi. Đó không phải là thứ mà dân chủ hướng đến. Đó là thứ thiên về chủ nghĩa thiểu số khống chế đa số”, rồi kết luận: “Đây là vấn nạn của chính trị Mỹ ngày nay. Chúng ta có một chính phủ đại diện cho toàn dân hay chỉ đại diện cho thiểu số 1% (tức số dân giàu có) ấy?”.

Một cử tri ủng hộ Bernie Sanders đã nói với báo chí rằng Bernie thực sự là người vì dân, còn Hillary chỉ là kẻ mua bán. Điều khôi hài ở đây là (a) chữ “vì dân” hóa ra dựa vào việc Sanders nhận tiền lẻ tẻ lắt nhắt của bên đóng góp, (b) chữ “mua bán” hóa ra dựa vào việc Hillary nhận tiền chất đống chất chồng, và (c) anh chàng Batman Clooney thậm chí vừa gây quỹ cho Hillary vừa cho biết sẽ đứng ra gây quỹ cho Sanders nếu Sanders thắng Hillary để trở thành ứng viên được đề cử chính thức của Đảng Dân Chủ. Hóa ra Batman – hay bất kỳ “ngôi sao” nào đứng ra tổ chức sự kiện nhằm gây quỹ cho một ứng viên tổng thống nào khác – cũng không quên rằng việc gây quỹ vận động tranh cử không những là (a) việc hoàn toàn không vi phạm hiến pháp, (b) giúp bản thân “ngôi sao” thêm chói lọi trước công chúng, (c) giúp bản thân “ngôi sao” được ưu ái bởi vị “tân tổng thống” nếu vị ấy nhờ vào công gây quỹ của “ngôi sao” mà đắc cử, mà còn là (d) nguồn thu của bản thân ngôi sao vì tất nhiên ngôi sao chỉ nộp tiền thu được cho cái gọi là quỹ ấy sau khi khấu trừ mọi chi phí cho tổ chức sự kiện đầy tốn kém ấy cũng như sau khi giữ lại phần hoa hồng hậu hĩ trả cho công lao công sức của ngôi sao.

Để cố gỡ gạc, diễn viên Clooney còn “diễn” thêm rằng anh ta chẳng ưa gì việc làm nhà gây quỹ vận động tranh cử, gắn việc gây quỹ giúp truy ra tài sản của các chính khách tham nhũng vào vụ Hồ Sơ Panama hiện có đầy tai tiếng.

Trái đất vẫn quay theo quỹ đạo mặc định của nó.

Bầu cử Mỹ vẫn xoay theo quỹ đạo hiến định của nó.

Tổng thống Mỹ dù là Hillary, Sanders, hay đối thủ của họ ở phía Cộng Hòa là Trump, thì cơ chế gây quỹ vận động tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vẫn sẽ tồn tại như đã luôn như thế, bất kể người Mỹ phán phê đó không là dân chủ, cũng như bất kể người chống Mỹ phê phán đó là tệ mua quan bán chức và chính trị quốc gia đặt dưới sự khống chế của giới tài phiệt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

http://www.theguardian.com/us-news/2016/apr/17/george-clooney-hillary-clinton-fundraiser-obscene-money

Hoàng Hữu Phước. 01-2016: Tôi Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/01/toi-ung-ho-donald-trump/

Phá Luật

Tôi Thấy Mình Trong Phim

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-4-2016

Cách nay 3 hay 4 năm tôi có xem một bộ phim trên đài HBO, tựa đề Dead Poets Society (nghĩa tiếng Việt là Hội Những Nhà Thơ Quá Cố) và tôi đã xúc động khi thấy mình không còn là kẻ cá biệt lẻ loi vì rằng tôi đã thấy mình trong phim.

Dead Poets Society là bộ phim Mỹ do hãng Walt Disney – Touchstone Pictures phát hành giữa năm 1989, tiêu tốn hết gần 17 triệu USD, đạt doanh thu gần 250 triệu USD. Bộ phim xoay quanh việc Thầy giáo Anh văn John Keating (do Robin Williams thủ vai chính) đã thông qua các tiết dạy thơ ca của mình truyền được cảm hứng nơi học trò ở Học Viện Welton ở Vermont dành cho giới quý tộc bảo thủ trong bối cảnh Hoa Kỳ của thời gian 1959. Với những gò bó bởi truyền thống, danh dự, kỹ luật và đẳng cấp siêu đẳng, nhiều sinh viên chẳng hạn như Neil và Todd bị áp lực của cha mẹ bắt buộc phải trở thành bác sĩ và luật sư trong khi bản thân hai em lại có thiên hướng khác, thì kiểu dạy của ông Thầy giáo tiếng Anh John Keating mới đến nhận công tác đã quá phá cách phá lệ phá rào phá luật so với khuôn mẫu chuẩn mực của Học Viện Welton: Thầy Keating dẫn sinh viên bỏ ra ngoài thực nghiệm thực tế, còn lúc trong giảng đường thì đọc bài giới thiệu trong quyển giáo trình thơ ca rồi cười nhạo nó dị hợm và bảo tất cả các sinh viên xé vất bỏ ngay trang giới thiệu ấy khỏi giáo trình, hoặc kêu sinh viên hãy leo lên đứng trên bàn của Thầy y như Thầy leo đứng trên bàn sinh viên để nói xem các em đã nhìn thấy thế giới quanh mình có gì khác biệt, v.v. Các sinh viên về sau phát hiện Thầy Keating là cựu sinh viên Welton từng ra sức gầy dựng lại cái gọi là Hội Những Nhà Thơ Quá Cố mà Thầy là thành viên thường hay tụ tập xướng họa tại một hang động cách trường không xa mà ban giám hiệu nhà trường liệt vào loại bất hảo bất lương bất hợp pháp. Nhiều sự việc sau đó đã xảy ra như (a) Todd rớt bài viết luận nên Thầy Keating dẫn dắt Todd qua một quá trình tập luyện viết diễn đạt, nhờ đó nhận ra năng khiếu đặc biệt nơi sinh viên này; (b) Charlie viết bài báo tường nêu ý kiến là trường nên có tuyển nữ sinh để rồi nhận lấy cơn thịnh nộ từ Hiệu Trưởng, và Thầy Keating lập tức theo sát động viên, ủng hộ, với lời khuyên hãy khôn ngoan hơn khi chống lại nhà trường; (c) Knox nhận ra trong mình sự ưa thích mới mẻ đối với thơ ca, và khi được Thầy Keating tán thưởng nhiệt liệt khi Knox đọc trong lớp một trong những bài thơ tình của mình, Knox đã can đảm tìm đến trường nữ trung học tìm gặp nữ sinh Chris để đọc bài thơ ấy tặng cô và có được tình yêu của cô; còn (d) Neil đã nói ở trên muốn trở thành kịch sĩ nên lẻn đi đăng ký thi tuyển chọn phân vai cho nhân vật Puck trong vở Giấc Mộng Đêm Hè (A Midsummer Night’s Dream) của Shakespeare, và khi không có đủ can đảm theo lời khuyên của Thầy Keating hãy giải bày cho cha mẹ mình thông hiểu, Neil đã bị bố giận dữ xông lên sân khấu khi đang diễn xuất để lôi cổ về tuyên bố phải chuyển sang học Đại học Harvard theo nghiệp y khoa, khiến trong cơn tuyệt vọng và xấu hổ Neil đã tìm đến cái chết. Theo yêu cầu của cha mẹ Neil, hiệu trưởng tổ chức cuộc điều tra và buộc học trò đẩy Thầy Keating ra làm vật tế thần. Charlie bị đuổi học vì đấm Cameron khi biết cậu này tố cáo Thầy và rủ rê bạn bè cùng tố cáo Thầy Keating. Todd bị cha mẹ và trường buộc ký tên vào bản cáo buộc Thầy Keating lạm dụng quyền hành, kích động học trò tái khởi động cái câu lạc bộ phi pháp mang tên Hội Những Nhà Thơ Quá Cố ấy, cũng như xúi giục Neil chống lại cha mẹ, khiến đẩy Neil đến chỗ tự sát. Bản cáo buộc ấy đã có nhiều chữ ký của các sinh viên khác. Và Thầy Keating bị sa thải. Lúc lớp tập trung học giờ tiếng Anh với sự giảng dạy của thầy giáo khác, Thầy Keating bước vào lấy lại vài vật dụng cá nhân. Todd đứng lên xin lỗi Thầy Keating, tuyên bố tất cả các bạn đều đã bị đe dọa buộc phải ký tên chống lại thầy. Thầy giáo mới lập tức quát bào Todd câm miệng lại và bảo Thầy Keating phải cút đi ngay. Todd lập tức leo lên bàn đứng; và dù thầy giáo mới quát bảo Todd phải ngồi xuống ngay nếu không muốn bị đuổi học, nhiều sinh viên lần lượt cùng leo lên đứng trên bàn học, kiểu mà Thầy Keating đã thực hiện trước đó như một phá cách phá rào phá lệ cho sự làm khác và nhìn khác. Thầy Keating lầm lũi bước đi với vẻ xúc động tột cùng trước sự tiễn đưa như thế.

Keating

Lúc khởi nghiệp làm thầy giáo tiếng Anh tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã từng phá cách phá rào phá lệ phá luật.

Như đã từng viết trong một bài blog nào đó tôi có nói về việc tôi đã khơi dậy trong sinh viên – thậm chí là sinh viên lớp “Kế Hoạch B” nghĩa là ở các tỉnh phía Nam mà đa số chưa từng học tiếng Anh đủ số thời gian 7 năm trung học – lòng yêu thích sáng tác thơ văn tiếng Anh, và tôi có đăng một thí dụ như bài “A Long Long Lapse of Time” của em Trần Duy (hiện sống tại Hoa Kỳ). Tôi thậm chi còn muốn – nhưng đã không bao giờ được cho phép – phát hành tuần san hay nguyệt san tiếng Anh do tôi làm “tổng biên tập” và các sinh viên của tôi làm “cộng tác viên” để sinh viên toàn trường có cơ hội trau giồi và thưởng thức tiếng Anh. Lý do của sự cấm đoán ấn hành là: không ai trong ban lãnh đạo hiểu các bài thơ bài văn ấy nói về cái gì, có phản động không, có đúng đường lối chủ trương của Đảng không, có nhằm hun đúc con người mới xã hội chủ nghĩa không, và có bị tiêm nhiễm khuynh hướng lãng mạn tiểu tư sản không. Một cô giáo đồng nghiệp cũng theo gương tôi và cũng đã có những sinh viên được cô truyền cảm hứng để sáng tác thơ ca tiếng Anh, và tôi cũng đã từng đưa một bài thơ tiếng Anh của cô sinh viên Lâm Hoàng Yến lên blog, từ tuyển tập thơ ca viết tay bằng mực tím gởi tặng cô giáo ấy, mà cô giáo này về sau trở thành vợ tôi nên tôi được xem quyển tuyển tập thơ ca bí mật dễ thương ấy của Hoàng Yến.

Keating1

Trước sự thật kỳ quái những lãnh đạo Khoa Anh Văn trước 1975 toàn là MA (thạc sĩ) ở Mỹ nhưng đề ra những quy định kỳ dị như sinh viên nào đến trường sau khi giáo viên đã vào lớp thì giáo viên phải giải sinh viên ấy xuống Văn Phòng Khoa gặp Phó Khoa (cũng là một vị MA Mỹ) để ngồi viết vài chục trang “tự kiểm điểm” với dòng chữ “Em đã vi phạm đi học trể. Em sẽ không tái phạm”, tôi đã nói với tất cả các lớp rằng vào những giờ tôi dạy thì các em nào đến trể cứ việc chạy ngay vào lớp, không cần chào xin phép tôi, vì rằng các em không được phí phạm thời gian, vì rằng các em phải được học nhiều nhất, vì rằng việc các em đi trể tôi đều có thể hiểu được do các em còn phải dạy thêm buổi tối hoặc phục vụ tại các quán cà phê kiếm thêm thu nhập nuôi thân.

Trước sự thật kỳ quái duy ý chí khi các tỉnh “gởi” lên Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh các “sinh viên” chưa từng học tiếng Anh ở trung học – hoặc không được học tiếp tiếng Anh từ lớp 9 đến lớp 12 do không có giáo viên – để đào tạo thành giáo viên tiếng Anh sau 3 năm hầu bảo đảm các tỉnh có đủ số lượng giáo viên Anh văn cho các trường trung học, tôi phải nói với sinh viên tỉnh Đồng Nai do tôi chủ nhiệm rằng các em buộc phải biến 3 năm thành có giá trị như 6 năm để có “chất lương” theo đúng bài bản của tôi, theo đó, mỗi tối sau khi tôi dạy xong ở các trung tâm ngoại ngữ, tôi sẽ đến ký túc xá để dạy phụ đạo các em từ 21 giờ đến 23 giờ, các môn tiếng Anh do tôi phụ trách tại lớp như Dịch Thuật (Translation), Luyện Viết (Composition), Luyện Nói (Speaking), Văn Phạm (Grammar), Văn Học (Literature), Văn Minh (Civilization), và Từ Vựng (Lexicology), trừ các môn tiếng Anh khác của các giáo viên khác như Luyện Nghe (Listening), Ngữ Âm (Phonetics) và Phương Pháp Giảng Day (Methodology); và sinh viên các tỉnh khác ở chung ký túc xá nhưng thuộc lớp chủ nhiệm của giáo viên khác nếu muốn cứ tập trung tại canteen để học chung. Tất nhiên, tôi dạy miễn phí, và thậm chí không cho phép các em mua nước đá chanh đường cho tôi, với lý do mấy em nghe rất hợp lý là do tôi chưa ăn tối nên uống sẽ làm hại bao tử. Việc “bán phá giá” hay “khuyến mãi” tức “miễn phí” như trên ắt vào thời điểm những năm 1980 của thế kỷ trước được xem là trọng tội nên tôi trở thành tội phạm không thể nào được tha thứ chốn sư phạm hàn lâm.

Và trước sự thật kỳ quái rằng Khoa Anh Văn buộc tất cả các sinh viên “dự thi tốt nghiệp” đều phải có kèm thêm “luận văn tốt nghiệp công trình nghiên cứu khoa học” viết bằng tiếng Anh với đầy đủ ban bệ của các giáo viên bảo trợ và giáo viên phản biện, chứ không phải theo hướng sinh viên giỏi làm luận văn tốt nghiệp còn sinh viên không giỏi dự thi tốt nghiệp, tôi đã phải “bảo trợ” hàng trăm công trình và “phản biện” hàng trăm công trình khác, mà tôi đã “bảo trợ” hay “phản biện” đều làm việc nghiêm túc, hướng dẫn tường tận, sửa chữa chi li vì các em khó thể viết lách tiếng Anh đạt yêu cầu tầm cỡ “công trình nghiên cứu”. Kết quả thuần tình cảm: tất cả các quyển luận văn của các em đều có bút phê sửa lỗi và viết lại đỏ lòm đặc nghẹt, mà nhiều em khoe tôi rằng vẫn còn giữ đến tận ngày nay sau hơn 30 năm lúc các em sắp sửa nghĩ hưu. Còn hậu quả thuần vật chất: tất cả các lãnh đạo Khoa và Tổ kết tôi vào tội là đã “phá luật” vì có quy định rằng Thầy Cô không được phép sửa trực tiếp vào các tập luận án của sinh viên vì như thế là “xúc phạm sinh viên”, “phá lệ” vì không có Thầy Cô bảo trợ hay phản biện nào bảo ban bất kỳ điều gì cho sinh viên để “phát huy tính tự chủ tự lập” của sinh viên, và “phá hoại sự đoàn kết nhất trí” vì khi sửa bài cho sinh viên và bảo ban sinh viên nên nghiên cứu gì và theo hướng nào thì tôi đã bị coi như “làm nhục” các giáo viên khác, tất cả dẫn đến việc tôi bị tước mọi danh hiệu thi đua, ngay cả Giấy Khen của Bí Thư Thứ Nhất Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Vũ Mão dành cho cá nhân tôi cho thành tích giảng dạy và chủ nhiệm thành công cũng bị Khoa thu giữ và làm thất lạc để tôi sau này không thể “khoe khoang” gì với hậu thế.

 

Khác với Thầy John Keating, tôi đã không lầm lũi đơn độc bước đi khỏi trường, vì cô giáo đồng nghiệp ấy cũng bị “xử đẹp” triệt hết tất cả các danh hiệu dạy giỏi để cùng tôi trắng tay bước ra khỏi trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp HCM để trở thành vợ của tôi.

Khác với Thầy Keating, tôi không nhằm tái lập bất kỳ cái “hội kín” nào như cái hội Dead Poets Society của Thầy ấy.

Khác với Thầy Keating, tôi là một thực thể có thật, trong khi Thầy là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Khác với Thầy Keating, tôi có các sinh viên xuất sắc tuyệt vời xuất thân từ những gia đình nghèo đa số ở các tỉnh nghèo nước Việt chăm chỉ theo đuổi con đường trở thành các nhà giáo tiếng Anh, trong khi Thầy có các sinh viên toàn thuộc gia đình quý tộc thượng lưu xứ Mỹ đứng núi này trông núi nọ.

Khác với Thầy Keating sử dụng ngoại hình ngổ ngáo leo đứng trên bàn để dạy học trò cách thể hiện “cái tôi” trong “muốn gì thì hãy cứ làm điều đó”, tôi sử dụng ngoại hình nghiêm túc nghiêm trang quý phái để dạy học trò cách thể hiện “cái tôi” cao cấp chuẩn bị cho một thị trường nhân lực cấp cao đáp ứng nhu cầu xã hội mà tôi tin chắc rằng sẽ đến.

Khác với Thầy Keating có sinh viên rủ nhau leo lên dứng trên bàn để tiễn đưa trong khi Thầy lặng thinh bỏ ra đi vĩnh viễn, tôi có các sinh viên nghe lời tôi cố gắng ở lại học tốt, cố gắng trở thành những nhà giáo tiếng Anh giỏi, và các em có con cái tiếp tục được cha mẹ đưa đến gặp tôi để được tôi giải đáp thắc mắc, giúp đỡ những chỉ dẫn bảo ban trên đường lập nghiệp, giúp đỡ hoàn thiện lý lịch tiếng Anh và đơn xin việc tiếng Anh, và do các công dân “con em” này của học trò tôi đều đã ở lứa tuổi 30 nghĩa là các học trò tôi bắt đầu có cháu nội cháu ngoại nên tôi lại phải chỉ dẫn cách chăm sóc các cháu này để các cháu được phát triển trí tuệ lành mạnh, đồng thời có điều kiện giỏi…tiếng Anh như ông bà, cha mẹ của chúng.

Tuy nhiên, tôi cảm ơn tác giả bộ phim Dead Poets Society vì đã cho tôi có được vài giờ đồng hồ thưởng thức một xuất phẩm xuất sắc của điện ảnh Hoa Kỳ mà qua đó, tôi đã thực sự có đôi dòng nước mắt vội vàng dấu diếm không để ai phát hiện, của một thoáng ủi an khi chợt thấy mình không cô độc: tôi đã thấy chính mình trong phim.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Đám Cưới

Trẻ Trung

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2016

Trẻ Trung (2)

Cách nay ba ngày, một cô gái đến bắt tay tôi và nói vài năm trước Cô có đọc một bài viết về Tuổi Trẻ (bài Tuổi Trẻ – Định Tính và Định Lượng) mà Cô đã vừa in ra để đọc đi đọc lại trên đường công tác vừa chuyển tặng nhiều bạn bè của Cô trên không gian mạng. Đã vậy, cô còn phán rằng tôi rất trẻ trung. Được cô gái trẻ tuổi ấy gọi tôi là “anh” giữa chốn đông người thanh thiên bạch nhật thay vì là “chú” hay “bác”, tôi nghĩ ắt cô ấy trẻ trung nên cũng nghĩ rằng – hay thấy rằng – tôi trẻ trung qua những lời đối đáp khôi hài của tôi. Cái sự trẻ trung mà người đời hay tưởng lầm rằng chỉ cần qua quá trình trẻ hóa xóa bỏ vết nhăn ở mỹ viện là có thể đạt được, lại là thứ nơi người đàn ông mà phụ nữ có thể rất quan tâm đến.

Nhiều năm trước, cô em gái út của tôi có lần cho tôi biết “chính kiến” của nó về người đàn ông lịch lãm mà nó hy vọng sẽ được gặp trong đời để nên vợ nên chồng: đó là đấng nam nhi biết giữ gìn trau chuốt ngoại hình chẳng hạn như người luôn sạch sẽ tức biết trị cho dứt các chứng bịnh như gàu, hôi nách, hôi miệng, biết tránh xa việc hút thuốc để miệng không bị hôi còn răng không bị ố vàng hơi thở không bị nặng mùi, biết tránh xa việc nhậu nhẹt để dáng người không bị hỏng bét cái bụng, đầu óc không bị kém minh mẩn, và những thứ khác không bị tổn hại; tóc tai đàng hoàng, không vuốt keo dựng đứng hoặc chôm bôm kiểu hài nhi; trang phục nghiêm túc, giày vớ chỉnh chu, cộng với một tí thoang thoảng hương nước hoa nhẹ nhàng của phái nam và sự vui tính trẻ trung; v.v. Mà tất cả những điều này thì chẳng có mỹ viện nào ghi trong danh mục dịch vụ của họ cả; chỉ cần được như thế thì bất kể anh có phì nhiêu quá khổ hay gầy guộc, bất kể anh cao hai mét hay một mét bốn mươi nhăm, bất kể anh là đại gia hay là công nhân, bất kể trang phục của anh là sản phẩm của An Phước Piere Cardin hay của Dệt Nha Trang, bất kể anh đi ô tô bốn bánh hay xe máy hai bánh, bất kể dung nhan anh như Tom Cruise hay Mr.Bean, thì anh ấy sẽ là “nam giới đích thực” tức người đàn ông lịch lãm đáng yêu mà em gái tôi cho rằng đúng như liệt kê trong danh sách chuẩn hóa của nó để chọn chồng. Cô gái trẻ trên và đứa em gái út của tôi làm tôi nghĩ đến chủ đề trẻ trung và muốn viết đôi lời về cái sự này.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – không có nghĩa là khi vào tuổi 40+ hoặc 50+, các ông ăn mặc thời thượng hoa hòe như các cháu tuổi teen với nào là quần jean chẽn, áo bó bỏ ngoài, không cài đủ khuy hoặc chẳng cài khuy nào vì đã có áo thun ba lổ bên trong; để tóc dài hoặc tóc đinh hoặc không có tóc; đeo thắt lưng đầu lâu xương chéo; chạy mô-tô phân khối lớn chầm chậm vừa vì nặng quá, chống chân không tới, vừa vì muốn thiên hạ kịp nhìn thấy nhãn hiệu vĩ đại của chiếc mô-tô giá 200.000 USD, đội mũ bảo hiểm loại dành riêng cho người đi xe đạp; tham gia các sinh hoạt nhộn nhịp ngoài trời hay trong các vũ trường; sử dụng ngôn ngữ viết kiểu của con nít online và luôn xưng “anh” với các cháu teen, vân vân và vân vân.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được biểu hiện qua sự quan tâm đến an nguy của giới trẻ, vì rằng với tâm trí lão nhược người ta sẽ chỉ biết đến bản thân, chỉ lo cho ngày tận thế của bản thân, hằn học ganh tức với tuổi trẻ, và trong một số trường hợp sẵn sàng tàn hại tuổi trẻ của người khác qua sự xúi dại, loạn ngôn, vô tâm, phó mặc, hoặc xâm hại tình dục, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được thể hiện qua tác phong làm việc tích cực, tháo vác, nhanh nhẹn, nhạy bén, hợp tác, chân tình, hòa thuận, vì rằng với tâm trí lão nhược người ta sẽ trốn việc, tránh việc, đùn đẩy việc, ích kỷ, vị kỷ, vô tâm, hằn học tị hiềm với tuổi trẻ, và trong một số trường hợp sẵn sàng cản trở đường tiến thân của các cháu qua sự xúc xiểm, vu vạ, đơm đặt, cướp công, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được hiển hiện qua cung cách của bậc trưởng thượng, vì rằng chỉ có kẻ tiểu nhân mới không ra sức bảo ban truyền thụ kinh nghiệm nhằm giúp người trẻ hơn làm việc tốt hơn, không chịu làm việc dưới quyền người trẻ hơn vì không có đủ tư cách để dám công nhận thực tài của người đó hơn mình, và trong một số trường hợp sẵn sàng gây mất đoàn kết nội bộ, làm phương hại đến sự đi lên chung của toàn đơn vị, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được xuất hiện cụ thể qua việc tương tác giữa một bên là người ấy luôn được các “cháu” tôn trọng trong vui tươi, gần gũi, và một bên là các “cháu” luôn được người ấy giúp đỡ ngay khi được yêu cầu, vì rằng nếu vắng sự “tương tác” như thế thì sẽ không thể có tính “giao lưu” như giữa hai người bạn, mà ông lão nam giới nghiêm trang nghiêm túc nghiêm khắc nghiêm nghị lại hòa đồng với các “cháu” vui vẻ vui tươi vui mừng vui hết biết thì ông lão ấy không trẻ là gì, còn các “cháu” không học được tính trưởng thượng là gì.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được hô biến hiện ra ngay khi bạn không nghĩ gì đến việc trục lợi giới trẻ, vì rằng có như vậy bạn mới chứng tỏ được một điều quan trọng rằng bạn thực sự đã có thời làm người trẻ tuổi trong hạnh phúc, trãi qua những nghiệt ngã thời tuổi trẻ một cách thành công, để từ đó biết thương người trẻ tuổi, biết tôn trọng các nổ lực vượt khó của người tuổi trẻ, biết người trẻ tuổi cần gì cho sự vươn lên, và biết mình nên làm những điều đúng đắn nào để người tuổi trẻ được sống và làm việc trong hòa bình của đất nước, hạnh phúc của gia đình, và thành tựu của bản thân.

Sau cùng, sự trẻ trung của nam giới – theo tôi – được biểu hiện, thể hiện, hiển hiện, xuất hiện, và hô biến hiện ra ngay khi bạn – một lão nam – có cách sống theo lời của Lenin: học, học nữa, học mãi, vì rằng khi học mãi, bạn sẽ học ngay cả nơi người trẻ tuổi để cảm nhận được rằng mình đang trong thời tuổi trẻ. Trẻ trung, do đó, không là những cái tửng tửng chân nhảy nhót miệng nhồm nhoàm của trẻ nít. Hãy nhìn nội thất của những gia đình phú quý trẻ tuổi: họ có những trang bị hiện đại, và họ cũng có những cổ vật đắt tiền. Giới trẻ thành công luôn cần đến những bậc trưởng thượng dù họ có nhiều những bạn bè trẻ tuổi hiện đại khác. Bậc trưởng thượng rất khác với người già của hiện tượng vật lý hóa học. Giá trị của bậc trưởng thượng là ở chỗ tuổi đời càng chất chồng theo năm tháng thì họ lại càng trẻ trung hơn, sống động hơn, tích cực hơn, mạnh mẽ hơn, hữu dụng hơn cho đời, và do đó trở nên cần thiết hơn. Đó chính là điều mà người trẻ tuổi đoan chính luôn mong nhìn thấy nơi các lão nam để mình được thành công vậy.

Trẻ Trung (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 21-11-2011. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/12/dinh-tinh-va-dinh-luong-tuoi-tre/

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-4-2016

Rami J. Ronald Viitiemi, nhà tư vấn phát triển tổ chức, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, huấn luyện kỹ năng quản trị cấp cao, sáng tạo chính sách nhân sự và tuyển dụng Công ty Gateway Norway AS của Na Uy, đã có bài viết thú vị trước những người hay luôn ca cẩm phàn nàn về đất nước Việt Nam. Chân lý cuộc sống rất đơn giản: hoặc bạn chấp nhận, hoặc bạn thay đổi, hoặc bạn hãy đi chỗ khác chơi. Ngay cả trong nội hàm thay đổi lại ngụ ý nhiều đến bản thân, từ cách nghĩ, cách làm, với trọng tâm là cống hiến – chứ không phải là lời ca cẩm phàn nàn chê bai hay chống lại – để làm cho mọi thứ hoàn thiện hơn, tốt hơn.

Mới đây, ông R.J.R.Viitiemiđã viết bài sau mà một người quen của tôi là luật sư Oliver Massmann, Tổng Giám Đốc Công ty Duane Moris Vietnam LLC, Chủ Tịch Ủy Ban Pháp Luật Phòng Thương Mại Châu Âu EuroCham, giới thiệu trên LinkedIn. Xin gởi đến bạn đọc bản dịch nghĩa tiếng Việt của bài viết ấy:

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Rami J. Ronald Viitiemi

05-4-2016

Một tuyên bố thật rõ ràng đâu ra đấy, phải không nào? Vâng, tuyên bố ấy đủ mạnh mẽ để được bạn chú ý; vì lẽ ra bạn hẵn đã không nhấp chuột vào đây để đọc, mà bạn sẽ …

Chấp nhận và thay đổi mọi thứ không nhất thiết phải biệt lập với nhau; có rất nhiều điều dễ dàng để chấp nhận và đồng thời có nhiều thứ cần phải thay đổi. Ở Châu Âu cũng thế.

Nếu có người cho rằng cả hai là bất khả, thì coi như bỏ qua sự lựa chọn cuối cùng.

Tôi có nhiều bạn là người nước ngoài mới đến hoặc đã ở lâu tại Việt Nam, và thậm chí có nhiều bạn và người quen là người Việt; thì thoảng tôi nghe họ ca cẩm hết điều này đến điều nọ, hầu hết liên quan đến môi trường kinh doanh hoặc con người. Nếu ca cẩm ấy không về việc thiếu kỹ năng hoặc thái độ thấp kém, thì cũng về sự thay đổi hoặc thiếu sự thay đổi.

Kể từ năm 1997 khi lần đầu tiên đến Việt Nam, tôi tất nhiên đã tham gia chia sẻ các ca cẩm phàn nàn của mình, và rồi tôi dần dần tự sửa sai mình. Trong những năm qua, tôi đã rất tích cực trong việc đóng góp để cải thiện Việt Nam và môi trường kinh doanh của đất nước này thông qua các phòng thương mại và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), và vì vậy đã làm nhiều người khác thật sự yêu mến Việt Nam.

Tình yêu này được sinh ra bởi nhiều thứ, trong đó quan trọng không kém là con người thật thà, thiên nhiên tươi đẹp, cà phê ngon nhất thế giới, và các món ăn tinh tế nhất. Đối với tôi, dù bạn tin hay không tin, tình yêu đó cũng là về sự tự do trong lựa chọn.

Gần đây, và cứ từng ngày qua, tôi thấy bản thân mình khó chịu bởi những người luôn mồm ca cẩm phàn nàn nhưng sẳn sàng chẳng làm gì để thay đổi bất cứ điều gì và cải thiện những vấn đề. Gần đây sau mỗi lần nghe những lời phàn nàn, tôi trước hết tự hỏi “Thế thì anh đã làm gì để thay đổi nó hoặc bạn đang định làm những gì để thay đổi?” – Có khi lời đáp chỉ là sự im lặng với cái nhìn trống rỗng.

Điều sai lầm là chúng ta thường tin rằng chẳng có gì để một người lẻ loi có thể làm được. Trong thực tế, có rất nhiều thứ mà mỗi người chúng ta có thể làm để đóng góp cho một tương lai tốt hơn, đơn cử vài thí dụ như tạo công ăn việc làm, chuyển giao kiến thức và kỹ năng, làm việc từ thiện hay phục vụ công ích, học tập và tự hoàn thiện, v.v.

Có một điều là hãy thực hiện lời nói đi đôi với việc làm. Điều này đúng cho cả người nước ngoài và người dân địa phương. Chúng ta học hỏi lẫn nhau mọi lúc – hoặc chí ít cũng nên thế – và chúng ta tạo ảnh hưởng đến hành vi của nhau. Sự lựa chọn đường hướng là của chúng ta và chỉ của chúng ta. Đạo đức kinh doanh và đạo lý con người đóng một vai trò rất lớn trong việc này, cũng như cách xử thế tốt vậy.

Học tập đòi hỏi một thái độ cầu thị và biết chấp nhận cái mới. Điều này không đến nếu có sự kiêu căng hay thiếu hiểu biết. Tại Singapore, điều này đã được thấu hiểu từ ngày đầu lập quốc. Singapore đã rất thành công trong kiểm soát sức mạnh của sự đa dạng, thu hút những người tốt nhất, và định chuẩn những phương thức thực hành tốt nhất.

Một cách khác là quy tụ sức mạnh và thuộc về một cái gì đó có ý nghĩa, như các phòng thương mại tại Việt Nam. Nhiều phòng thương mại có ảnh hưởng trên thực tế trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh và môi trường sống tốt hơn cho tất cả, người nước ngoài cũng như người trong nước, các cá nhân và các doanh nghiệp. Mạnh nhất là Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) và Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham).

Là dân Châu Âu, tôi có sự lựa chọn tự nhiên là EuroCham, nơi đã thực hiện một công việc tuyệt vời với Sách Trắng, các Ủy Ban chuyên trách, và các ủy ban hỗ tương khác. Nhiều nhân sự giỏi giang tại đó đã tận tụy cống hiến cho công việc xã hội công ích Việt Nam ngoài giờ làm việc. Thật đáng kính trọng!

Tôi nghiêm túc tin rằng làm thành viên của một phòng thương mại có tầm ảnh hưởng lớn là một cách để đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam, cải thiện các điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài cũng như xã hội nói chung.

Là người một nước Bắc Âu, công dân Phần Lan, tôi làm thành viên của EuroCham thông qua Phòng Thương Mại Bắc Âu (NordCham, Chi nhánh Hà Nội) và điều này như đạt cùng lúc hai mục tiêu – hay nhiều hơn thế nữa .

Nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi không làm điều này chỉ để hỗ trợ tốt nhất cho môi trường kinh doanh. Như bất kỳ người thực dụng có hơi vị kỷ nào khác, tôi muốn có những lợi ích cá nhân như các giảm giá, những lời mời tham dự các sự kiện kinh doanh và tiệc tùng. Mà ai lại không thích tiệc tùng cơ chứ?

Tôi có lẽ là một trong những ngoại kiều Âu Châu biếng lười nhất về công tác công ích xã hội, và tôi nhận ra mình cần thiết phải hoạt động trong lĩnh vực này, ngay cả với cảm giác hơi xấu hổ khi thừa nhận điều này do tôi biết rất nhiều người đang cống hiến thật nhiều như vậy.

Nếu vì bất kỳ lý do gì trong tương lai, tôi muốn không phải đóng góp theo những cách khác nhau cho sự thành công của Việt Nam – bao gồm cả các hoạt động trên LinkedIn – thì tôi hứa sẽ bỏ ra đi. Chấp nhận tất cả mọi thứ như vốn dĩ đang là, đó sẽ không bao giờ là một lựa chọn vì điều đó hoặc có nghĩa là tôi không đóng góp mà chỉ biết kiếm ăn, hoặc có nghĩa tôi không còn quan tâm đến nữa.

Một điều đáng ghi nhớ là đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam không phải tại vì chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Có và có rất nhiều sự lựa chọn. Chẳng hạn Myanmar là nước vượt lên rất nhanh.

Một khía cạnh khác của câu chuyện đối với bất kỳ một đầu tư nước ngoài nào tại Việt Nam là để được trở thành một doanh nghiệp công dân tốt, góp phần vào tương lai lành mạnh của Việt Nam. Có rất nhiều những doanh nghiệp công dân tốt như thế tại Việt Nam, tạm kể ra vài tên tuổi như Điện Thoại Di Động Microsoft, ABB, và Mercedes-Benz, v.v.

Hãy bình tĩnh, hãy yêu Việt Nam, và hãy dành sự tốt nhất của bạn cho Việt Nam!

Rami J. Ronald Viitiemi

********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

“Doanh nghiệp công dân tốt”: doanh nghiệp có trách nhiệm cao với xã hội nước sở tại về luật pháp, đạo đức và kinh tế; thể hiện niềm tin sâu sắc và giá trị thực sự qua việc tiến hành hoạt động kinh doanh minh bạch.

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-4-2016

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

(Đã post ngày 29-01-2009 trên Emotino.com)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm mới nói về những người của thế hệ y khoa trước, về những nhân tài hiếm hoi không phải ai cũng còn nhớ đến sau những cơn giông ba bão táp của thời gian và dưới lớp bụi mờ của lãng quên. Bác sĩ Đặng Minh Chiếu, Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô, và Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa của Sài Gòn hoa lệ, và Bác Sĩ Ngươn của Thành phố Hồ Chí Minh cường thịnh. Những cái tên không thể nào quên với gia đình họ Hoàng chúng tôi.

ScreenShot1147

Bác sĩ thì ai lại không có phòng mạch riêng. Đó là cách nghĩ của người trong cuộc và người đời. Song, có hai thực tế tại Sài Gòn trước 1975 là (a) bác sĩ có phòng mạch riêng là những bác sĩ tài danh thực thụ vì chẳng có tài danh thực thụ thì chẳng bịnh nhân nào tìm đến, mà “tài danh” ấy không do quảng cáo hay do treo bảng hiệu hoành tráng; (b) xem việc mở phòng mạch không bao giờ là để kiếm thêm thu nhập mà chỉ để đem tài ra “cứu nhân độ thế” như những bậc thầy của chính mình đã luôn học, luôn sống, và luôn làm theo lời thề thiêng liêng của chức nghiệp; và không những thế (c) không nhất thiết phải có phòng khám riêng, đơn giản vì còn tận tụy dành trọn thời gian quy định tại bịnh viện nơi làm việc chính.

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô là nguyên khoa trưởng Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, có phòng mạch tại 39C đường Cao Thắng, Quận 3, Sài Gòn, nay là tòa nhà dường như hai năm trước trở thành Kinh Đô Bakery. Nha Sĩ Mô chỉ khám chữa răng buổi sáng, còn buổi chiều do nha sĩ Đoàn Ân phụ trách, còn phòng răng 39C Cao Thắng ấy là tư thất của gia đình nha sĩ Đoàn Ân. Đó là một phòng chữa răng trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ như máy lạnh và máy chụp quang tuyến X. Nha sĩ Mô không có trợ tá mà tự mình làm tất cả mọi việc kể cả việc chụp hình răng bằng máy quang tuyến ấy. Bác sĩ Mô đến phòng mạch bằng xe Mercedes đen, tự lái, đậu trong sân (vì nhà nào ở mặt tiền đường cũng luôn xây thụt vào trong khoảng 5 hay 10 mét để chừa khoảng không khoáng mát phía trước để đậu xe, chứ không như bây giờ ai cũng xây áp sát đường để nhà rộng lớn hơn, cảnh quang tầm thường hơn, đường chật chội xấu xí hơn, còn ô tô thì hoặc đậu nơi lòng đường, trên lề đường, hoặc chui tọt vào bên trong căn nhà).

Khi em trai tôi lên 6 tuổi, có một răng cửa hàm trên bị sâu; như thường lệ đối với thành viên toàn gia đình, Má tôi đưa em đến Nha Sĩ Mô để nhổ răng, tất nhiên rồi – và tất nhiên có tôi đi kèm theo. Nha sĩ Mô nhẫm hát là lá la một đoản khúc nhạc cổ điển dường như là Fantasia của Liszt Ferenc. Ông nhìn chiếc răng rồi bảo Má tôi rằng Ông nhất thiết phải đưa em tôi vào Đại Học Nha Khoa giải phẫu cho sinh viên học tập, vì đây là một ca hiếm theo y văn thế giới. Theo Ông, răng cửa trên bị hỏng không do bị sâu, chẳng do bị răng khác mọc chêm mà tiếng trong Nam gọi là “lòi xỉ”, mà Ông nhìn là biết ngay do răng khác mọc thẳng hàng vào giữa chân răng đang tồn tại, nghĩa là có răng khác ẩn ở dưới “ngạc” tức vòm miệng, và phải rạch để gắp ra, cứu răng cửa. Ông trấn an Má tôi rằng đấy là chuyện nhỏ. Với sự lo âu vì một khi đã là “ca hiếm” phải giải phẫu biểu diễn dạy các sinh viên đại học thì đúng là đại sự hiểm nguy và tốn kém, Má tôi rụt rè hỏi về chi phí, Ông bật cười, nói (giọng Bắc) rằng Ông đài thọ  toàn bộ chi phí, và khôi hài nói thêm rằng lẽ ra Ông phải trả thật nhiều tiền để Má tôi cho phép Ông đuợc giải phẫu ấy chứ, vì em tôi cho Ông có cơ hội bằng vàng dạy cho sinh viên Nha Khoa biết thực tế một ca mà chỉ có thể bắt gặp trong một trong các pho tài liệu tiếng Pháp dày cộm trong thư viện trường mà thôi! Và em trai tôi được lên lịch giải phẫu tại Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, tất nhiên cuộc giải phẩu có kết quả tốt đẹp. Tôi vẫn còn giữ hai chiếc răng mọc sâu bên trong “ngạc” của em tôi.  Thật là một nha sĩ đại tài, thay vì nhổ ngay răng sâu, chỉ cần nhìn cách mà răng bị sâu là đã biết ngay đó không là sâu răng: răng sâu không bị nhổ bỏ mà hai răng thủ phạm ẩn núp trong “ngạc” khiến chặn đường dinh dưỡng làm răng giống như bị sâu thì được gắp ra! Phòng khám tư của Ông treo khoảng sáu văn bằng y khoa của Mỹ, Anh và Pháp. Nhiều trang thiết bị hiện đại thời ấy, kẻ cả máy chụp X-quang nha khoa. Nhưng Ông đã không dùng máy X-quang khi định bệnh cho em tôi. Ông không nhổ phức chiếc răng sâu của chú bé 6 tuổi, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông cũng sẽ làm. Ông không thu một xu chi phí, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông và đặc biệt thời nay không ai làm thế, trái lại họ có thể thu tiền cao nếu bịnh nhân trực tiếp đến phòng khám của họ, hoặc nếu bịnh nhân tìm đến bịnh viện công nơi nha sĩ công tác thì nha sĩ thường sẽ thuyết phục họ hoặc đến phòng mạch tư của ông ta, hoặc ra một bịnh viện tư để nha sĩ này sẽ đến đó phẫu thuật giúp – tất nhiên nhằm thu tiền nhiều hơn sau khi trả hoa hồng cho bịnh viện tư ấy, thay vì để bịnh viện nhà nước “hưởng” còn bản thân chỉ có chút ít phụ cấp theo quy định. Đơn giản: Ông là Nguyễn Tư Mô, một Nha Sĩ tài danh, một Nha Sĩ đích thực, một bậc Thầy luôn xem việc phục vụ y học là mục đích cuộc sống và việc đào tạo ra cho đời những nha sĩ giỏi là ý nghĩa cao trọng nhất của sự nghiệp một bậc thầy.

Giá như Ông ở lại với đất nước Việt Nam thống nhất, đừng ra hải ngoại ngày 30-4-1975, Ông đã có thể giúp ngành Nha Việt Nam và “người” Nha Việt Nam tốt đẹp và phát triển mạnh đến dường nào, vì Ông là tấm gương.

Không có gương báu và gương sáng để soi, người ta sẽ chẳng biết mình sáng và tốt  ra sao để mà chỉnh đốn mình cho đẹp, răn mình có được thứ gọi là “y đức” mà trước đây tự nhiên ai cũng có tự thân và tự nhiên, còn ngày nay trở thành thứ trang sức lệ thuộc tuyệt đối vào giáo dục ý thức mà cái sự giáo dục ấy thường được chứng minh là tương đối có hiệu quả.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Nếu Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô cứu một chiếc răng cửa cầu kỳ của em trai tôi, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cứu mạng em gái Thúy Hồng của tôi ngay tại phòng mạch – cũng là tư gia của Bà – tại biệt thự xinh đẹp cây cối um tùm hoa giấy đỏ ngay đầu ngã ba Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện Vuờn Tao Đàn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Do em gái tôi bị sốt dài ngày, Ba và Má tôi đưa em tôi đến nhiều phòng mạch bác sĩ tư để đem về bao thuốc hạ sốt, thuốc cảm cúm, thuốc viêm họng, thuốc viêm phổi, mà em tôi vẫn không thuyên giảm. Má tôi chợt nhớ tới Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và tất cả lập tức đưa em tôi đến phòng mạch của Bà, tất nhiên có tôi đi kèm. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là một phụ nữ tuyệt đẹp, dáng người không cao, nhưng phong thái quyến rũ, dịu dàng. Bà mặc đầm hồng phấn khi khám bịnh. Khi nhìn thấy em tôi, Bà chợt mím môi, tức giận, nói lớn tiếng: “Sao ai lại ác vậy? Khám vậy mà khám! Chết đứa nhỏ còn gì! Đây là bịnh thương hàn!” Bà lập tức viết toa thuốc trong lúc nói chuyện hướng dẫn Ba tôi bằng tiếng Pháp, rồi dặn Má tôi bằng tiếng Việt phải nấu súp gì cho em tôi uống, tuyệt đối không được ăn gì, v.v. và v.v. Em tôi được cứu sống chỉ với cái nhìn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà không cần thử máu hay chụp hình gì cả!

Sau đó gia đình tôi nghe tin Bà vào Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Sau 1975, chúng tôi mừng vui thấy Bà là Bộ Trưởng Y Tế. Nhưng chúng tôi không có dịp gặp lại Bà, và Bà cũng đâu có nhớ thằng bé tên Phước đã đứng lặng trân chiêm ngưỡng sắc đẹp của Bà. Sau này không còn tin tức gì về Bà, cho đến ngày Bà mất. Một bác sĩ đại tài, tự mình nghe bịnh, tự mình khám bịnh, và tự mình chỉ định chính xác bịnh án cùng phác đồ điều trị, chứ không sai bảo bất kỳ ai trong số hai y tá phục vụ tại phòng mạch riêng ấy.

Bác sĩ Đặng Minh Chiếu

Trong khi đó, bác sĩ Đặng Minh Chiếu có phòng mạch tư và biệt thự gần rạp hát Long Phụng (trên đường Gia Long, ngày nay gọi là đường Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh), lừng danh về phụ khoa tại Sài Gòn. Ông đã tư vấn cho Ba Má tôi phải bảo vệ thai nhi thế nào mỗi khi Má tôi mang thai một đứa con. Mỗi khi theo Má tới phòng khám của Bác sĩ Chiếu, tôi thấy có nhiều sản phụ nước ngoài cùng chồng ngồi chờ ngoài sảnh. Nói tiếng Pháp điêu luyện, Ông có tài làm tất cả mọi người an tâm, vui vẻ, bình yên, hạnh phúc, xem như thai sản là chuyện dễ dàng, tự nhiên, trong một giai đoạn thời đại mà những ân cần chi tiểt như vậy vẫn chưa là tiêu chuẩn cả trời Âu. Tất cả những chỉ dẫn của Ông dành cho Má tôi đã được gia đình áp dụng cho đến sau ngày giải phóng, khi các em tôi lập gia đình và trở thành sản phụ đều được Má tôi lập lại những lời dặn dò của vị bác sĩ đại tài Đặng Minh Chiếu. Đặc biệt, những căn dặn của Ông là tổng hợp của kiến thức uyên bác Tây Y trên cơ sở không phản bác kinh nghiệm dân gian nào Ông cho là lành mạnh đáng tin cậy dù không bao giờ được Tây Y nghiên cứu. Chúng tôi không còn nghe tin về Ông sau ngày 30-4-1975, ắt Ông đã theo dòng thác người cuồn cuộn di tản của thời biến động ấy.

Bác Sĩ Ngươn

Bác sĩ Ngươn, trưởng khoa ngoại thần kinh Bịnh Viện Chợ Rẫy Tp Hồ Chí Minh, lại là một trường hợp khác. Sau 1975, lúc Việt Nam vẫn còn chịu đựng sự cấm vận của Chính phủ Hoa Kỳ, tôi công tác tại Văn phòng đại diện Công ty CIMMCO International thuộc tập đoàn Công-Thương-Kỷ Birla lừng danh toàn Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh. Có lần tôi đưa Trưởng Đại Diện người Ấn Độ của CIMMCO đến Chợ Rẫy khám bịnh tim mạch. Bác Sĩ Ngươn lúc ấy phụ trách khoa khám ngoại kiều. Tài năng chẩn định bệnh và khẩu ngữ tiếng Anh của Bác sĩ Ngươn làm Ông Trưởng Đại Diện ngạc nhiên, thán phục. Ông nói với tôi là Việt Nam thực sự có bác sĩ giỏi đến thế sao! Thậm chí, khi thấy sự chậm chạp của con rùa hành chính của bịnh viện với hàng chục lần thân nhân phải liên tục chạy xuống lầu đóng tiền lấy hàng chục biên nhận đóng tiền cho những xét nghiệm khác nhau, có thể gây phản cảm nơi bịnh nhân nước ngoài, bác sĩ Ngươn đã “phá luật”, viết lịnh tay để Ông Trưởng Đại Diện được xét nghiệm ngay lập tức, nghĩa là việc thanh toán thì tôi từ từ thực hiện trọn gói sau, và cũng nghĩa là nếu tôi không thực hiện thì bác sĩ Ngươn sẽ phải bị kỷ luật thật nặng! Để có thể “đền ơn”, tôi hỏi xin địa chỉ phòng mạch thì Bác sĩ Ngươn nói Ông và vợ Ông cũng là một bác sĩ đều không có phòng mạch riêng và không bao giờ muốn có phòng mạch riêng. Tôi xin số phone nhà thì bác Sĩ Ngươn bảo nhà không có phone. Tôi xin địa chỉ nhà, thì Bác sĩ Ngươn nói hai vợ chồng thường xuyên vắng mặt. Ông Trưởng Đại Diện nhờ tôi đến Chợ Rẩy tìm bác sĩ Ngươn để trao tặng vợ bác sĩ Ngươn một món nữ trang bằng vàng theo thói quen của người Ấn, thì bác sĩ cười bảo với tôi rằng “Tôi không nhận đâu. Tôi làm vì danh tiếng Chợ Rẩy và vì danh dự một bác sĩ. Anh Phước mà đặt vấn đề đền ơn nữa là tôi không coi anh là bạn đâu. Chúng tôi không mở phòng mạch vì đã dành hết sức lực phục vụ bịnh nhân ở bịnh viện, còn đâu hơi sức mà lo phòng mạch. Với lại vợ chồng tôi nhất trí không để danh tiếng bị tổn hại vì nếu mở phòng mạch sẽ bị tai tiếng là không tận tụy với bịnh viện và dẫn dụ bịnh nhân của bịnh viện về phòng khám tư của mình. Thành ra, chỉ biết lui về nhà với gia đình sau khi ở bịnh viện về thôi Anh Phước ạ. ” Tôi trả lại Trưởng Đại Diện chiếc hộp nhung đỏ với món nữ trang bên trong, thuật lại nội dung. Hai vợ chồng ông tần ngần hồi lâu, cảm động, rồi cười to: “Tưởng chỉ có Ông từ chối vàng, bây giờ biết thêm Ông ấy là hai!” Sau này ông Trưởng Đại Diện làm Chủ tịch Hội Hữu Nghị Ấn-Việt, còn vợ ông giảng dạy tiếng Anh tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh. Còn bác sĩ Ngươn, vị bác sĩ tài ba ấy, vì áy náy trước sự ân cần kính trọng thái quá của người nước ngoài đã phải buộc lòng phá lệ khi lịch sự nhận lời chạy xe máy Honda đến dùng cơm tối tại nhà ông Trưởng Đại Diện trên đường Phùng Khắc Khoan. Tôi cũng có mặt, vì đó là sự đương nhiên ở CIMMCO, và vì bác sĩ Ngươn bảo cần có tôi để có chứng nhân rằng Ông không nhận bất kỳ vật chất nào của ông Trưởng Đại Diện cả. Con người thanh liêm đức độ ấy chỉ đến ăn cơm cà ri và trò chuyện.

Có lẽ Bác sĩ Ngươn đã nghỉ hưu. Tôi thậm chí không nhớ tên đầy đủ của Ông sau 16 năm đằng đẵng vì Ông không cho danh thiếp chắc vì không in danh thiếp. Một vị bác sĩ tài ba, tận tụy với nghề đến nỗi không sao còn dư thời gian để có phòng mạch tư dù cũng để cứu người.

 

Cung cách sống đặc biệt của những bậc y khoa tài hoa ấy, luôn xem Lời Thề Hippocrate trước Thần Chữa Bệnh Apollon, Thần Y Học Esculape, Thần Hygie và Panacée cùng các nam nữ thiên thần là lời thề của con tim và từ khối óc, để cứu nhân độ thế, và vì danh dự chức nghiệp cao trọng của một đời.

Chúng tôi – và hy vọng là chúng ta – gọi họ là những con người thanh liêm, những y sĩ có y đức; vì rằng y đức không phải là một chủ đề cho một lời kêu gọi hay một kế hoạch đầy tốn kém để giáo dục và dựng xây – nhất là nơi khởi xướng nếu lại là từ Ngành Y thì quả là sự nhức nhối khôn khuây với muôn đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Một Thoáng Tư Duy

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-4-2016

LinkedIn (43)LinkedIn (42)

Thánh Gandhi: “Nhiều người – đặc biệt là người ngu – muốn trừng phạt bạn vì bạn nói lên sự thật, vì bạn đúng, vì bạn đúng là bạn. Đừng bao giờ xin lỗi vì mình đúng, hay vì mình đi trước thời đại. Nếu bạn đúng và bạn biết mình đúng, cứ nói ra. Ngay cả khi bạn là thiểu số của chỉ có một mình mình thì chân lý vẫn là chân lý”

Hoàng Hữu Phước: Đoạn đầu và đoạn thứ ba thì đúng. Còn đối với đoạn thứ nhì thì tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau; do vậy, cách dùng từ “đừng bao giờ” nghe có vẻ cực đoan quá. Nếu bạn có óc khôi hài thì bạn vẫn có thể hùng dũng xin lỗi vì mình đã đúng, hay vì mình đã đi trước thời đại.

LinkedIn (16)LinkedIn (15)LinkedIn (14)

Ghazal Omid: Ắt tôi đang trên một con đường đầy gian khó trước mặt trong cái thế giới mà cái sai dường như trở thành khuynh hướng thời thượng còn cái đúng thì bị cho là cổ hủ, nhưng tôi sẽ cứ dấn thân bất kể có chậm lại vì rằng làm điều đúng và nói điều đúng có thể bị ghét bỏ nhưng nào bị buộc phải đúng ngay đâu. Chúng ta phải luôn làm điều đúng, nói điều đúng chừng nào chúng ta còn sống vì rằng đó là cách duy nhất chúng ta chắc chắn bảo đảm giáo dục thế hệ tương lai đi trên con đường đúng. Những kẻ nổi điên vì bạn nói lên sự thật là những kẻ sống trong dối trá. Hãy cứ nói lên sự thật.

Dave T.: Những lời minh triết đấy Ghazal…Chị hãy cứ là chị, đừng bao giờ thay đổi.

Hoàng Hữu Phước: Điều này nghe rất cơ bản: đất đai màu mỡ giúp những hạt giống mạnh khỏe nảy mầm thành những cây tốt hơn. Chẳng gì tích cực đến từ dối trá. Đây là điều chắc chắn. Tất nhiên, cây từ đất đai màu mỡ ấy có thể phát triển mạnh thêm thành những cấy cối to cao hơn nếu vùng đất đai màu mỡ ấy có hàng rào tốt và được bảo vệ tốt. Tương tự, nói ra sự thật cho đúng người vào đúng thời điểm và đúng nơi chốn có thể đáng được tính đến. Tôi ngưỡng mộ chị lắm đấy Chị Ghazal Omid ạ.

LinkedIn (84)

Heinrich Heine: “Nếu người La Mã chịu học tiếng LaTinh thì họ lẽ ra đã không bao giờ còn thời gian chinh phục thế giới”.

Ghazal Omid: Rất đúng. Một xã hội có học thức chẳng cần có chiến tranh để chứng tỏ sức mạnh của mình.

Hoàng Hữu Phước: Có khi người ta gây chiến không để chứng tỏ sức mạnh của mình mà để kiếm tìm lợi nhuận. Thực dân Pháp đến đô hộ Việt Nam. Nhưng trước tiên họ học tiếng Việt rồi cố tạo ra cách mới để ghi lại tiếng Việt bằng hệ mẫu tự tiếng Pháp để họ học tiếng Việt nhanh hơn. Khi họ học xong, các chiến thuyền của họ đổ xô đến Việt Nam để đô hộ nước này trong một trăm năm đấy.

LinkedIn

Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Khi nói, bạn chỉ lập lại những gì bạn biết; còn khi bạn lắng nghe, bạn học được điều gì đó mới lạ”

Hoàng Hữu Phước: Tôi không đồng ý với câu nói trên của Đức Đạt Lai Lạt Ma.Khi bạn nói, có thể bạn nói điều gì đó từ sự tưởng tượng mới tinh khôi của bạn; còn khi bạn lắng nghe, có thể bạn lại nghe những điều củ rích mà thiên hạ cứ lập đi lập lại với thế giới quanh mình.

Christine Cargill: Tôi nghĩ rằng ông có ý hay đấy! Cảm ơn ông.

LinkedIn (30)LinkedIn (23)

Quan hệ thật sự là khi hai người không hoàn hảo không chịu nhân nhượng nhau.

Hoàng Hữu Phước: Thật buồn cười. Mối quan hệ thực sự giữa hai người là khi dù biết mình không hoàn hảo, dù họ vẫn hiểu những khác biệt không thể vượt qua của mình là gì, cũng như dù họ không thể vì người kia mà từ bỏ những gì mình cho là đúng đắn, thì họ vẫn tôn trọng nhau, hợp tác cùng nhau, thông hiểu nhau, và cùng nhau sẻ chia bất kỳ những mục tiêu chung nào có thể có được.

Rami J, Ronald Viitaniemi: Đặt vấn đề hay đấy Hoàng Hữu Phước, tuyệt đối đúng.

LinkedIn (44)LinkedIn (45)

Andy Stanley: “Lãnh đạo mà không lắng nghe thì cuối cùng bu quanh mình toàn là kẻ chẳng có gì để nói”.

Henk Van Zaanen: Vâng, hiệu quả 100%. Vì vậy hãy cố lắng nghe với sự tập trung và hàng ngày thực tập hiểu những gì không được thốt ra.

Rami J. Ronald Viitaniemi: Rất đúng!

Hoàng Hữu Phước: Không phải luôn đúng. Lắng nghe không có nghĩa là mọi thứ được nói hay đề xuất tất cả đều được lãnh đạo biến thành hiện thực. Tôi có thể lắng nghe ý kiến đề xuất của nhân viên thuộc quyền, nhưng tôi có thể thực hiện điều nào đó hoặc chẳng điều nào cả bây giờ, sau này, hoặc chẳng bao giờ cả. Nhân viên thuộc quyền thường nhụt chí khi cấp giám quản mình có lắng nghe mình đấy song chẳng làm gì cả theo lời góp ý. Rồi đến thời điểm nào đó các nhân viên thuộc quyền này “chẳng còn gì thêm để nói.” Do vậy, mấu chốt của vấn đề là ở chỗ tư duy tích cực phải đến từ hai phía. Lịch sử cho thấy có những sự thật rằng có những nhà lãnh đạo vĩ đại chẳng lắng nghe ai nói cả và họ có quanh mình những nhà thực hiện mệnh lệnh vĩ đại.

LinkedIn (65)

“Những người thành công luôn có hai điều trên môi, đó là sự im lặng và nụ cười.”

Hoàng Hữu Phước: Điều này phải chăng có nghĩa rằng họ sẽ không cho ai biết làm thế nào họ thành công và thậm chí còn mĩm cười với vẻ mặt láu cá ư? Câu nói trên nên như thế này: Những người thành công luôn có hai điều trên môi họ, đó là không thốt nên những điều sai và mĩm cười với lòng độ lượng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Điều Luật 258

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-4-2016

Điều 258 Và Điều 2.7

Mỗi khi Việt Nam có vụ tuyên bố cáo trạng hay tuyên án xử một công dân về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ Luật Hình Sự Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thì y như đồng loạt các tổ chức như Giám Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch), Liên Đoàn Quốc Tế Nhân Quyền (International Federation for Human Rights), Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Without Borders), Bảo Vệ Nhà Báo (Committee to Protect Journalists), cùng một số cơ quan ngoại giao như các đại sứ quán cùng Cao Ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc (United Nations Human Rights Office of the High Commissioner) đều lên tiếng nói bản án vi phạm không những Hiến Pháp Việt Nam với các quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí đã được minh định, mà còn vi phạm các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết trong đó có Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights), từ đó đòi Việt Nam chấm dứt các bản án theo Điều 258 do truy bức các cá nhân sử dụng quyền tự do phát biểu ý kiến. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đường đường chính chính áp dụng Điều luật 258 vào cuộc sống, mà không một nhà báo hay cá nhân công dân nào tìm đến phỏng vấn trực tiếp các luật sư nghị sĩ Quốc hội Việt Nam về những thắc mắc của họ đối với Điều luật 258 ấy; trong khi đó, các biện luận cao cấp như trên Báo Nhân Dân số ra ngày 29-3-2016 thì không được đọc bởi đa số độc giả để giúp tỏa lan những cơ sở hiến định và luật định của Việt Nam đối với Điều luật 258. Vậy Điều 258 vì sao trở thành thứ trái tai gai mắt với nước ngoài cũng như những người Việt chống Việt trong khi lại được áp dụng danh chính ngôn thuận tại Việt Nam?

Trước hết, cần tham khảo Điều 2.7 Chương I Hiến Chương Liên Hợp Quốc (Article 2.7, UN Charter) vốn đã xác quyết rằng “Hiến Chương này hoàn toàn không cho phép Liên Hợp Quốc được can thiệp vào các công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào, cũng như không đòi hỏi các quốc gia thành viên phải đưa những công việc ấy ra giải quyết theo quy định của Hiến Chương này; song nguyên tắc này sẽ không ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp chế tài theo Chương VII” (Nothing contained in the present Charter shall authorize the United Nations to intervene in matters which are essentially within the domestic jurisdiction of any state or shall require the Members to submit such matters to settlement under the present Charter; but this principle shall not prejudice the application of enforcement measures under Chapter VII). Nội dung này cho thấy mức độ quan trọng ưu tiên trên hết của “công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ” của mỗi quốc gia, và chỉ khi những nội dung nghiêm trọng như tội diệt chủng dưới sự điều chỉnh của Công Ước Về Diệt Chủng 1948 (1948 Genocide Convention) mới khiến “việc” diệt chủng không còn là “công việc nội bộ” nên nhất thiết phải có các biện pháp can thiệp chế tài từ quốc tế. Cũng dưới góc độ này, việc thế giới làm ngơ trước nạn diệt chủng ở Campuchia là vi phạm Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc, còn việc Việt Nam tấn công vào chính phủ diệt chủng Campuchia không bị xem như can thiệp vào công việc “cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ” của Campuchia. Như vậy, Việt Nam – cũng như Mỹ và nhiều quốc gia khác – đã tuân thủ các điều đã được minh định trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để có những quy định làm luật lệ đối nội mà không bất kỳ quốc gia nào khác có thể can thiệp.

Việc các tổ chức và cơ quan ngoại giao hay lên tiếng chỉ trích Việt Nam thực thi Điều luật 258 có thể do hai nguyên nhân tế nhị sau:

1) Họ đã nhầm lẫn, quên rằng Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc (UN Charter) hoàn toàn khác với Điều 15.8 của Thỏa Ước Hội Quốc Liên (Covenant of League of Nations), vì chỉ có Hội Quốc Liên mới tuyên rằng: “Nếu sự tranh chấp giữa các nước thành viên do một trong số họ nêu lên, và nếu Hội Đồng nhận thấy vấn đề phát sinh mà theo luật pháp quốc tế hoàn toàn thuộc thẩm quyền đối nội của nước ấy thì Hội Đồng sẽ ghi nhận và cho biết ý kiến cách giải quyết vụ việc” (If the dispute between the parties is claimed by one of them, and is found by the Council, to arise out of a matter which by international law is solely within the domestic jurisdiction of that party, the Council shall so report, and shall make recommendation as to its settlement), nghĩa là ngay cả khi đó là “việc riêng” theo luật quốc tế thì Hội Đồng vẫn có quyền can thiệp theo “ý riêng” vào nội tình quốc gia thành viên.

2) Giữ thể diện là thái độ thâm căn cố đế của toàn bộ loài người, nên những quốc gia gọi là cường quốc kinh tế tiên phong (như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, v.v.) hoặc đã từng là cường quốc kinh tế thực dân đế quốc (như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, v.v.) một khi đã tạo ra những hào quang về tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền cho chính mình, họ sẽ không bao giờ cam tâm chấp nhận tình trạng suy đồi suy vi hỗn loạn trong nước của họ vì những hào quang tự tạo đang gây tác dụng ngược chõi lại họ, trong khi các nước thoát thai từ Thế Giới Thứ Ba nhược tiểu mà đa số từng là thuộc địa của họ lại ổn định cao về chính trị và phát triển con người, kể cả phát triển vượt bậc về nhân quyền – qua thành tích xóa đói, giảm nghèo, tôn trọng nữ quyền, bảo vệ trẻ em, tôn trọng người già, vinh danh bình đẳng giới, xóa nạn mù chữ, tăng cao quyền lợi bảo hiểm y tế toàn dân, thông thoáng kinh doanh, phát triển giáo dục, và cuốn hút đầu tư, v.v. Cách duy nhất để giữ thể diện là luôn chỉ trích chê bai về tình hình nhân quyền và dân quyền tại các quốc gia ổn định ấy, như một chứng minh cho thứ tồi tệ duy nhất có thể tạo ra để gán ghép cho những thể chế chính trị “phi truyền thống” ổn định, nhằm tạo nên sự “ổn định” trong tư duy của dân chúng đất nước đang giữ thể diện rằng chẳng có gì đáng để mơ tưởng từ những môi trường sống thường xuyên vi phạm nhân quyền ấy, nơi khủng khiếp mà con người có miệng không được phép phát ngôn, có đầu mà không được phép nghĩ khác.

Các vụ “việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ” của Mỹ theo luật Mỹ mà Việt Nam tuân thủ Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc không bao giờ lên tiếng cáo buộc Mỹ vi phạm nhân quyền:

1) 2012:

Ngày 09-11-2012, báo Huffington Post của Mỹ đăng tin nữ công dân 22 tuổi Denise Helms Bang California, Hoa Kỳ, đã bị sa thải khỏi Công ty Turlock Cold Stone Creamery do đã dám đăng trên Facebook gọi Tổng thống Obama là “mọi đen” (Nigger), thậm chí còn cho rằng trong vòng 4 năm thế nào Obama cũng sẽ bị ám sát. Cơ Quan Mật Vụ Mỹ đã vào cuộc điều tra các “phát ngôn” của cô gái này và cô đã viết tiếp trên Facebook rằng cô không phân biệt chủng tộc, không điên, mà chỉ đơn giản nêu ý kiến của mình. Tài khoản Facebook của cô sau đó bị xóa. Cơ Quan Mật Vụ Sacramento và Mật Vụ Thủ Đô Washington cho biết nếu có cơ sở để buộc tội các lời viết của cô, Helms có thể bị bắt giam theo Điều luật 871 của Mỹ theo đó nghiêm cấm các xúc xiểm, đe dọa tổng thống, phó tổng thống hay các quan chức khác có thể kế nhiệm tổng thống theo luật định. Đối với các tải đăng trên Facebook của Helms, cơ quan chức năng tìm đến nhà trường có các học sinh đã phát tán truyền đi các lời viết của Helms, và các học sinh này sau đó hầu hết phải xóa các tài khoản Twitter của mình. Đó là tự do ngôn luận tại Mỹ, theo công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của Mỹ mà tất cả các quốc gia khác không có quyền can thiệp, như đã minh định tại Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc. Việt Nam không kêu gọi Mỹ phải thả Denise Helms và hủy các cáo buộc Helms theo Điều luật 871 của Mỹ.

2) 2013:

Trang Politico ngày 22-10-2013 đưa tin Jofi Joseph, quan chức cấp cao Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ và là thành viên đoàn Phủ Tổng Thống thương thuyết về chương trình vũ khí hạt nhân Iran, đã bị sa thải khỏi chức vụ và khỏi cơ quan quyền lực này chỉ vì đã đăng trên Twitter những chỉ trích đối với Ngoại Trưởng Hillary Clinton và các quan chức Hội Đông An Ninh Quốc Gia như Ben Rhodes, và về những thông tin như lạm dụng tình dục hay dịch vụ nữ hộ tống cùng những thâm cung bí sử Bộ Ngoại Giao. Các luật sư Phủ Tổng Thống đã ra lệnh cho Joseph phải rời khỏi khu vực Phủ ngay, và mất luôn vị trí sắp được luân chuyển đến làm quan chức tại Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng Mỹ). Nếu như Helms là cô nhân viên tầm thường trẻ tuổi, thì Joseph là một cái tên quen thuộc của thế giới chính sách đối ngoại, có vợ là Carolyne Leddy, một nhân viên cấp cao của Đảng Cộng Hòa trong Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện Mỹ. Tất cả đều không được tự tiện tùy tiện “phát biểu” trên Facebook và Twitter. Mỹ không cho phép, và đó là công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của Mỹ mà tất cả các quốc gia khác không có quyền can thiệp, như đã minh định tại Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc. Việt Nam không kêu gọi Mỹ phải hủy các cáo buộc liên quan đến  Joseph.

3) 2015:

Barrett Brown là một nhà báo Mỹ sinh năm 1981 tại Dallas, Bang Texas. Ông đồng thời là nhà viết tiểu luận và châm biếm, tác giả của nhiều tác phẩm, viết bài cho những tờ báo tên tuổi như The Guardian, Huffington Post, và Vanity Fair, v.v. . Ông lập ra Dự Án PM nhằm tạo nên một mạng chuyên nói về các đe dọa đối với nhân quyền, đối với đời tư cá nhân, và đối với tình hình sức khỏe của các định chế dân chủ, v.v., với mục đích cung cấp các thông tin để các blogger, các phóng viên, và các nhà báo công dân sử dụng làm nội dung viết lách. Ngày 12-9-2012, Barrett bị bắt giam, không được phép tại ngoại với lý do “nguy hiểm cho an ninh của cộng đồng”. Nhiều đoạn đăng tải cũng như lời bình luận của Barrett lên YouTube và Twitter được sưu tầm để làm bằng chứng chống lại ông với gần 20 tội danh cấp liên bang. Tháng 1 năm 2015, sau thời gian dài đối mặt với nhiều phiên xử và những nghị án có thể lên đến 105 năm tù rồi giảm xuống 45 năm tù giam, Barrett cuối cùng bị kết án 63 tháng tù tại nhà tù liên bang với tội danh phạm trọng tội, cản trở luật pháp, đe dọa một nhân viên liên bang, phát tán các thông tin của tin tặc Anonymous, và phải bồi thường 890.250 USD cho Công ty Stratfor vì đã chia sẻ đường link dẫn đến những dữ liệu bị rò rỉ của công ty này. Mẹ của ông bị kết án 6 tháng tù treo và bị phạt 1.000USD vì đã cản trở thi hành công vụ khám xét nhà. Mỹ không cho phép thứ tự do tự tung tự tác mang tên tự do ngôn luận (freedom of speech) trên không gian mạng, và đó là công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của Mỹ mà tất cả các quốc gia khác không có quyền can thiệp, như đã minh định tại Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc. Việt Nam không kêu gọi Mỹ phải thả nhà báo Barrett cũng như hủy bản án dành cho mẹ của ông ấy.

Kết luận

Từ những tình tiết trên, có thể thấy rằng:

1) Các nước Âu Mỹ nhất thiết phải giải tán Liên Hợp Quốc (như đã giải tán Hội Quốc Liên) và thành lập một tổ chức quốc tế khác, nếu mơ tưởng đến việc viết bản Tân Hiến Chương phục vụ cho giấc mộng hão huyền có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, buộc Việt Nam phải xóa bỏ Điều 258 trong Bộ Luật Hình Sự của Việt Nam.

2) Công dân Mỹ phải tuân thủ luật pháp Mỹ. Không ai trên thế giới có quyền nói động đến nhân quyền tại Mỹ – trừ Tàu là cường quốc duy nhất hàng năm phát hành The Human Rights Record of the USA tức Ghi Nhận Tình Hình Nhân Quyền Tại Mỹ dành toàn bộ công trình đánh giá mức độ vi phạm nhân quyền tại Mỹ.

3) Công dân Việt Nam phải tuân thủ luật pháp Việt Nam. Không ai trên thế giới có quyền nói động đến nhân quyền tại Việt Nam – trừ Mỹ là cường quốc duy nhất hàng năm phát hành Country Reports on Human Right Practices tức Báo Cáo của Bộ Ngoại Giao Mỹ Về Thực Thi Nhân Quyền Tại Các Quốc Gia trong toàn bộ công trình đó có dành ra đôi ba trang đánh giá mức độ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

4) Người Việt Nam nhất cử nhất động nhất thiết phải cẩn trọng khi sang Mỹ du học, tham quan, thăm thân, cư trú, vì những thông thoáng quá mức về tự do ngôn luận và dân chủ ở Việt Nam rất dễ hình thành thói quen hoàn toàn không thích hợp với sự hà khắc của luật pháp Hoa Kỳ, dẫn đến các cáo buộc và tội danh nghiêm trọng có khi đến hàng trăm năm tù dành cho ngay cả việc mà nếu băt chước theo ngôn phong luật pháp Việt Nam sẽ là lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Mỹ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Mỹ, chứ không phải trọng án nhiều trăm năm tù chỉ dành cho tội giết người hàng loạt hay khủng bố kinh hoàng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế