Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn

Bài Viết Sẻ Chia Cùng Giáo Viên Môn Văn Học

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-5-2016

Nhân “lời khuyên” dành cho cô giáo môn Văn có bằng cấp thạc sĩ, tôi xin đăng lại bài viết sau đã post trên Emotino năm 2011. Kính mời bạn đọc tham khảo.

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-11-11

hoawcjNhân có bạn hỏi tôi về bài thơ tếu về Trung Quốc đăng trong bài viết “Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino” post trên Emotino tháng 10 vừa qua, vì sao thỉnh thoảng thấy tôi chêm thơ tôi viết kiểu Đường của Tàu mà không là lục bát của Việt (tôi đáp vì tôi không “cảm nhận” được cái hay của lục bát và vì tôi thích Đường luật ở chỗ nó buộc ta phải chỉ trong ngần ấy câu với 8 dòng mỗi dòng 7 chữ phải nói kỳ hết những điều muốn nói – tức là “cô đọng hình thức và súc tích nội dung), tôi chợt nhớ đến một chủ đề đã lâu chưa có thời gian để viết: đó là vấn đề giỏi môn Việt Văn của học sinh. Cần nói rõ là sau ngày giải phóng, cách bỏ những từ của Sài Gòn như Việt Văn (đổi thành Văn), bỏ các phân loại Cổ Văn và Kim Văn, nhưng chêm vào mấy cách dùng từ chế biến kỳ lạ như “thể loại văn bản” thay thế “văn xuôi”, lấy mấy bài báo làm đoạn văn đọc thêm trong các sách giáo khoa Văn trong khi bản thân các vài báo vừa không là thể loại văn xuôi của văn học vừa không đạt yêu cầu sau thời gian vài chục năm để có giá trị văn học vừa là một thể loại riêng cho cấp đại học, v.v., là những việc làm hoàn toàn sai của ngành giáo dục. Vì vậy, tôi trong bài này vẫn ghi rõ ràng rành mạch là Việt Văn để phân biệt với môn Anh Văn hoặc Pháp Văn hay Hoa Văn, v.v.,  (đang được gọi bình dân hóa là môn Tiếng Anh, vì người ta lẽ ra nên tiếp tục dùng các nhóm từ như: nói tiếng Anh, viết tiếng Anh, học Anh Văn).

Trước hết, như đã nói ở nhiều bài viết rằng tôi có thói quen trữ lưu những bút tích của Thầy Cô và người thân (tức người trong gia đình và …người yêu), do ảnh hưởng của Ba Má tôi, nhất là Má tôi luôn qu‎ý trọng các tờ giấy có chữ Tàu vì cho rằng đó là chữ thánh hiền, không tôn trọng chữ thì làm sao tạo lập sự nghiệp được từ chữ, nên ắt Chị Hai Hoàng Thị Ngọc Sương của tôi đang sống bên Mỹ cũng không ngờ là tôi vẫn còn giữ các báu vật của Chị (tức những “thành tích biểu”, bằng danh dự toàn niên 7 năm trung học, và bút tích của các Thầy Cô của Chị mà Chị trao lại cho tôi giữ hộ trước khi cùng chồng lên đường sang Mỹ cách nay 20 năm) nên hôm nay có thể post “người thật, việc thật, đồ thật” mẫu giấy bài tập sau của Chị, mà tôi muốn mời bạn lưu ý đến lời phê của Thầy giáo (hay Cô giáo) trước khi cho điểm 18/20 (trước 1975 ở Sài Gòn áp dụng thang điểm cao nhất là 20):

Bài làm của Hoàng Thị Ngọc Sương, Lớp 11C10

Ngày Thứ ba, 16-11-1971

Bài thơ Thất Ngôn Bát Cú, Đường Luật, Luật Trắc, Vần Bằng

Nắng Hè

   Nhớ những ngày xưa buổi nắng hè

   Ra ngồi chơi ở bóng cây me

   Rung rinh lá rụng đầy sân cỏ

   Xào xạc chim bay khắp rặng tre

   Thấp thoáng bóng dừa in dưới nước

   Xa xa vịt ngỗng chạy le te

   Mây chiều vương vấn bên đồi núi

   Lẳng lặng ngồi nghe trẻ hát vè.

 

Lời bình của Thầy (hay Cô):

   Ý đượm tình quê quá dịu dàng

   Nghe hồn dân tộc đã mang mang

   Chừ muôn kiếp trước còn mơ tưởng

   Thoáng một làn hương rất ngỡ ngàng

Wordpress_Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Ý nghĩa toát lên từ trang giấy ố vàng trên gồm:

1) Thầy Cô dạy Việt Văn: luôn chứng tỏ bản thân mình không những cũng là (hoặc có tài ngang bằng) các nhà văn, nhà thơ mà còn có những rung động và xúc động trước những áng văn thơ, ngay cả khi đó là sáng tác non nớt của học trò. Việc dạy về thơ, cho bài tập về nhà làm để học sinh sáng tác (chủ yếu muốn học trò phải bộc lộ cho bằng được cái “riêng” của học trò theo sự “thăng hoa” của riêng học trò, từ đó phát triển tính tự chủ, tự lập, sáng tạo trong học tập, tức là khởi điểm cho tính cách nghiên cứu sau này) theo đúng niêm luật, rồi chấm điểm với kiểu viết lời bình bằng một khổ thơ theo kiểu 7 chữ cứ như phân nửa dỡ dang của một bài Đường Luật khác, với nội dung tùy theo bài tập sáng tác của mỗi học trò đem lại người chấm những cảm xúc nào, khiến mỗi học sinh có được các tác phẩm thật hay của Thầy Cô, thêm thán phục Thầy Cô, từ đó thêm yêu môn Việt Văn và thêm giỏi Việt Văn.

2) Học trò học Việt Văn: luôn học Việt Văn như học tất cả các môn học khác, nghĩa là với sự yêu thích, bất kể mục tiêu nhắm đến của cuộc đời phía trước có là Đại học Văn Khoa hay Đại học Y Khoa, chỉ bởi vì Việt Văn là tâm hồn, Việt Văn là con người, Việt Văn là trí hóa, Việt Văn là nền tảng cho sự tiếp cận và tiếp thu mọi tri thức khác, và Việt Văn là phương tiện diễn đạt cốt lõi của các khoa học khác, kể cả các ngoại ngữ khác. Đó là đặc điểm về Việt Văn mà học trò nếu nắm bắt được ắt không thể không thành công khi ra đời đối mặt với cuộc tìm kế sinh nhai, nẽo sinh tồn, và đường sinh sống.

3) Sách giáo khoa môn Việt Văn: Thế nhưng, không phải đơn giản cứ nói học trò “nắm bắt” là cứ tự mà “nắm bắt”, muốn “nắm” gì thì nắm, muốn “bắt” gì thì bắt, vì tất cả tùy thuộc vào chương trình dạy, cách dạy, và bản thân người dạy – tức Thầy Cô giáo môn Việt Văn.

Nếu thực sự hiểu giá trị của và xem trọng chính trị, người ta đã không đem nội dung chính trị vào chương trình Việt Văn quá sớm. Tư tưởng chính trị dành cho những bộ óc trưởng thành hoặc cận trưởng thành, vì thế nên dành lồng chính trị – tức các tác phẩm sáng tác trong thời kỳ chiến tranh bởi lực lượng cách mạng Việt Nam – vào chương trình Việt Văn của các lớp 11, 12.

Ở cấp trung học cơ sở, nên để học trò chạm đến duy chỉ những áng văn thơ trác tuyệt và mang tính kế thừa trước trước sau sau, nghĩa là nếu thơ (tức văn vần) thì tiến dần dần từ những tác phẩm khuyết danh hay hữu danh của người xưa, từ khuôn phép như Nguyễn Công Trứ “phải có danh gì với núi sông”, đến tác phẩm của người không xưa, khoái hoạt, như Trần Tế Xương, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, v.v.; còn nếu là văn (tức văn xuôi) thì vẫn y như vậy, nghĩa là bắt đầu bằng những trích đoạn từ các tác phẩm từ thời Pháp Thuộc đến thời cận đại, bao gồm cả Khái Hưng, Thạch Lam, Nhất Linh, v.v. Sử dụng tài liệu học và tham khảo theo cách này để học trò bị cuốn hút bởi cái đẹp của văn phong, cái vững của tình tiết, và cái thần của diễn tả nội tâm cùng phong cảnh, dù cho đó là nền cũ lâu đài bóng Tịch Dương, hay Thằng Nỡm đang chạy tung tăng nhặt lá bàng, hay hai tai và đuôi vắt chéo lên mông màu xanh lá mạ. Và qua sự giảng dạy điêu luyện của Thầy Cô cùng sự bắt đầu các buổi trần thuyết mà tiếng Việt hiện đại gọi là thuyết trình, học trò càng thêm “tâm phục khẩu phục” với Việt Văn, thích thú Việt Văn, hình thành nhân cách con người từ Việt Văn từ rất sớm, và càng thêm yêu nước.

Nếu để học trò thấy Thầy Cô như cái máy dạy theo giáo án, nghĩa là nếu Thầy Cô có nghỉ phép và giao cho Thầy Cô khác dạy thế, thì nội dung dạy giống y nhau, thời lượng các bước lên lớp y nhau, cùng nhau không có bài văn bài thơ mẫu của Thầy Cô, và cùng nhau sử dụng bài mẫu trong sách giáo khoa giống nhau cấp độ toàn quốc, thì vẫn sẽ có những học trò giỏi Việt Văn theo điểm số có thể đi thi viết những bài văn đoạt giải này giải nọ nhưng thiếu nét riêng của sự vượt ra ngoài chiếc hộp tư duy và chưa chắc trong cuộc sống thực đã có thể viết được một lá thư cho Cha, một đơn khiếu nại giúp Mẹ, hay một đơn xin việc xuẩt sắc, và một bức thư tình đầy chất văn học, văn hóa, nhân văn, nhân bản tầm nhân loại, nói gì đến việc trở thành những nhà văn lớn ngấp nghé giải Nobel Văn Chương. Chưa kể, không phải tất cả các học sinh đều giỏi Việt Văn như nhau, cứ như đã rèn xong thủ pháp cho chính mình cho cuộc đời trước mặt bản thân sắp lao vào, cũng như cho nhân cách của từng em.

Văn là người.

Văn là nhân cách.

Văn là trình độ.

Văn là tất cả.

Vì vậy, học Việt Văn đúng cách, người ta làm việc đúng cách, nghiên cứu khoa học đúng cách, thể hiện tình yêu đúng cách dù cho đối tượng là một người hay cả một quốc gia. Cá tính mỗi người mỗi khác, tự thân bùng nổ hoặc tự thân lặng trầm, tự thân thế tục hay tự thân hướng thượng, mà mỗi người có quyền tự do thể hiện cho riêng mình; song tất cả nếu đã lớn lên từ Việt Văn đúng cách thì cách hành sử sẽ như nhau khi đối với tha nhân.

Dạy Việt Văn đúng cách sẽ làm những công dân tương lai của xã hội làm việc đúng cách, nghĩa là nếu Thầy Cô dạy Việt Văn có thực tài của một nhà thơ nhà văn, Thầy Cô dạy Toán có thực tài của một nhà toán học (qua các bài nghiên cứu thường xuyên trên các tạp chí chuyên đề), thì Dược sĩ tương lai cũng sẽ thực sự là những dược sĩ (có những công trình nghiên cứu vang dội về thuốc trị bệnh), cứ thế mà cả dân tộc tiến nhanh đúng hướng sánh vai với hào kiệt năm châu.

Vấn đề là Thầy Cô dạy Việt Văn có được phép (và đủ tầm) để dạy Việt Văn đúng cách hơn và người học trò học Việt Văn có được cho phép đễ học Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một bác sĩ giỏi, tận tâm, giữ trọn lời thề y học, ta có thể sẽ nhận ra dáng dấp một học trò xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn, từ những Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một công nhân vệ sinh quét dọn rác tươm tất, lịch sự với mọi người, ta có thể hiểu đó là một học sinh xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn dù cuộc đời đã không được thuận lợi dễ dàng để có thể đi trọn đường học vấn.

Hãy nhìn một người bình thường dừng xe ở vạch trắng khi đèn đỏ trời đang mưa lưu lượng xe không đông và bóng dáng cảnh sát thì không thấy, ta có thể hiểu đó là hiện thân của một học sinh ngày xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một học sinh cá biệt, bùng nổ, lúc trưởng thành trở nên người nghiêm túc, có lý tưởng, có trách nhiệm, có lòng yêu nước chân chính, và vì cộng đồng, tha nhân, ta có thể biết ngay đó là từ thành quả của việc học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn những doanh nhân biết trọng danh dự quốc gia, biết gìn chữ tín, và biết vì lợi ích của người dân, vươn cao thoát được sự khinh miệt của thế nhân thủ cựu, ta có thể hiểu đó là hiện thân của những học sinh ngày xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Cứ nhìn một quan chức tuy không cai được thuốc lá, không cai được rượu, nhưng vẫn luôn nói « Không ! »  với hối lộ, tham ô, nhũng nhiễu, quan liêu, hạch sách dân lành, ta có thể biết vị quan ấy là học sinh xưa đã được học Việt Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Khi đọc những nội dung email hay tin nhắn nghiêm túc chỉnh chu trang trọng từ những người lạ hay những người chào hàng, ta có thể biết người lạ ấy là những học sinh xưa đã được học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Và khi đọc báo thấy tin về những chiến sĩ sống nhiều chục năm ngồi tắm nước ngọt trong thau để tái dùng nước tắm ấy cho việc khác trên nhà giàn trơ trọi giữa biển khơi để minh định chủ quyền vùng lãnh hải quốc gia, ta có thể hiểu đó là những học sinh xưa đã được học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Học sinh đã giỏi hơn về môn Việt Văn? Vâng, kết quả điểm số cao môn Việt Văn của những năm học khiến ta có thể tạm hài lòng rằng các em sẽ không thi rớt môn Việt Văn, không gây ra sự cố bẽ bàng đớn đau vô phương cứu chữa như đối với môn Sử.

Song, ta có thể yên tâm nhiều hơn nếu nhân cách các em đã thực sự bừng sáng rõ nét nhờ Việt Văn. Mà đó là trọng trách duy nhất của những thầy giáo cô giáo môn Việt Văn đúng nghĩa thực sự tài hoa.

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo thêm :

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Khiêm Tốn

Đại Học

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.