Monthly Archives: June 2016

Sự Cố Luật Hình Sự

Những Góp Ý Viết Trên Giường Bệnh

Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Khóa XIII

28-6-2016

Năm 2015 là năm tôi không thể dự kỳ họp thứ 9 của Quốc Hội do phải nằm viện trị bệnh với cơ man nào là dây truyền dịch, truyền máu, và truyền dưỡng chất; và cũng không thể dự kỳ họp thứ 10 của Quốc Hội do trùng với thời gian tôi phải dưỡng bệnh và luyện tập phục hồi chức năng. Song, chỉ vào lúc dưỡng bệnh tôi mới được cho phép làm việc với máy vi tính để dù không trực tiếp có mặt tại nghị trường Quốc Hội tôi vẫn có thể nghiên cứu các dự án luật do Quốc Hội gởi đến và ngồi đánh máy các bản góp ý để gởi qua email đến các lãnh đạo Quốc Hội.

Như tôi đã nêu trong nhiều bài trước trong chủ đề “Quốc Hội” và “Luật Pháp”, quy trình làm luật tại Việt Nam cực kỳ tốn kém về tiền bạc và thời gian, qua nhiều  khâu trong đó cần lưu ý các điểm chính sau qua thí dụ hoạt động của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh:

1- Cơ quan chức năng được phân công – thường là các Bộ-Ban-Ngành – soạn dự thảo dự án luật trình các ủy ban chuyên trách của Quốc Hội nghiên cứu báo cáo Thường vụ Quốc Hội.

2- Dự thảo được in ra bản giấy gởi đến tất cả các văn phòng các Đoàn Đại Biểu Quốc Hội khắp các tỉnh thành. Văn phòng Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh in ra hàng trăm bộ gởi tất cả các đại biểu trong đoàn, các cơ quan Hội Đồng Nhân Dân/Ủy Ban Nhân Dân/Sở/Ban/Ngành/Mặt Trận/Hội Luật Gia/Hội Chuyên Ngành tại địa phương để lấy ý kiến – thậm chí có cả trường hợp gởi đến từng phường xã để lấy ý kiến “người dân”. Tất nhiên có sự mặc định rằng các nơi nhận được dự thảo sẽ có họp lấy ý kiến để đúc kết thành văn bản gởi cơ quan quản lý hàng dọc cấp trên trực tiếp. Ngay cả khi sự “mặc định” ấy có là “giả định” thì tổng số tiền bỏ ra cho các hoạt động thật sâu thật sát thật “thiên la địa võng” ấy không bao giờ không nhiều hơn 8 chữ số.

3- Văn phòng Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức họp tại Đoàn với thành phần tham dự gồm Đại Biểu Quốc Hội của Đoàn (thường mỗi buổi họp về luật chỉ có từ 1 đến 3 người trong tổng số 30 đại biểu của đoàn đến dự), đại diện các cơ quan/sở/ban/ngành/mặt trận/quận-huyện của Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây tất cả các người dự họp lại được cung cấp bản in giấy các dự án luật, lại thay nhau phát biểu, và Văn phòng Đoàn sẽ đúc kết để gởi ra Thường Vụ Quốc Hội.

4- Văn phòng Quốc Hội tổng hợp các ý kiến gởi về từ toàn quốc, ủy ban chuyên trách của Quốc Hội nghiên cứu phản biện, thường vụ Quốc hội chuẩn y để Văn phòng Quốc Hội in ra hơn 500 bộ để phát cho các Đại Biểu Quốc Hội về Hà Nội dự kỳ họp Quốc Hội (mỗi năm có 2 kỳ họp). Tại kỳ họp, các Đại Biểu Quốc Hội họp tại Tổ, thảo luận tại Tổ, và Tổ đúc kết thành văn bản gởi Thường Vụ. Trên cơ sở phản biện của các ủy ban chuyên trách, Thường Vụ cho phép in ra hơn 500 bộ đã có bổ sung chỉnh lý để các đại biểu nghiên cứu tiếp rồi phát biểu góp ý thêm tại hội trường có hoặc không có trực tiếp truyền hình.

5- Đúc kết các góp ý tại hội trường nêu trên, sau khi kết thúc kỳ họp các đoàn trở về địa phương, Văn phòng Quốc Hội in gởi các bản dự thảo đã chỉnh lý theo các “đúc kết” cho các Đoàn Đại Biểu Quốc Hội các tỉnh thành trên toàn quốc phục vụ việc tổ chức lấy ý kiến lần 2. Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tổ chức y nội dung số 2 nêu trên với các việc in ấn, gởi dự thảo mới, họp tại văn phòng đoàn với cũng bấy nhiêu thành phần tham dự, và gởi biên bản họp cho Thường Vụ.

6- Nội dung như ở mục số 4 nêu trên lại được thực hiện y hệt, chỉ có thêm một điều là sau khi các đại biểu phát biểu góp ý thêm tại hội trường có hoặc không có trực tiếp truyền hình thì sẽ có việc biểu quyết thông qua dự án luật (cùng nhiều dự án luật khác mà mỗi dự án luật đều theo chính xác 6 mục ghi như trên) trước khi bế mạc kỳ họp.

Như vậy, tại sao với quy trình tối thiểu như trên với tiêu tốn tối đa chất xám, tối đa tiền của, tối đa thời gian, và tối đa uy tín của chính Quốc Hội, vẫn có những bộ Luật được ban hành thay vì “applicable” tức thực hiện thực thi thực tế được ít nhất là 5 hay 10 năm lại phải được khẩn cấp sửa sai sau khi ban hành nhưng chưa đến ngày bắt đầu có hiệu lực? Ai cũng biết khi còn là đứa trẻ thì sự lớn nhanh của cơ thể luôn dẫn đến sự cần thiết phải thay đổi trang phục hàng năm, còn khi đã qua tuổi trưởng thành thì chỉ có bia rượu và sự phàm ăn mới làm người đàn ông có chiếc bụng bự hơn để cần có trang phục đo mới để ôm được khít chiếc bụng ấy. Cũng vậy, đối với một Việt Nam son trẻ thì sự cập nhật nhanh chóng các luật là điều dễ hiểu. Song, (a) uy tín quốc gia cùng với (b) sự khẳng định quốc gia đã có được “nền kinh tế thị trường” để tự sánh mình ngang hàng với bốn bể năm châu trong sân chơi thương mại toàn cầu hóa thì không thể tha thứ cho việc có sự cố lập đi lập lại trong công tác xây dựng pháp luật ở Quốc Hội Việt Nam, đòi hỏi nhất thiết phải có một cá nhân, nhiều hơn một cá nhân, hoặc một tập thể ủy ban hay cả tập thể Quốc Hội phải được nêu đích danh để phải chịu trách nhiệm trước các tắc trách mang tính làm nhục quốc thể này.

Nha sĩ không phải là người chế tạo ra máy chữa răng hay chất liệu xi-măng trám răng hoặc chất liệu làm răng giả hoặc thuốc tê nhổ răng. Nha sĩ sử dụng tất cả những thứ sẵn có ấy để hành nghề phục vụ khách hàng cho một kế sinh nhai.

Phi công không phải là người chế tạo máy bay dân dụng mà chỉ sử dụng máy bay  sẵn có để hành nghề phục vụ hành khách cho một kế sinh nhai.

Thầy giáo không phải là người tạo ra Truyện Kiều hay các định đề toán học mà chỉ dùng các công trình sẵn có ấy để hành nghề phục vụ khách hàng tức học trò cho một kế sinh nhai.

Luật sư không phải là người tạo ra các đạo luật mà chỉ sử dụng các luật đã được ban hành để hành nghề phục vụ thân chủ cho một kế sinh nhai.

Quốc Hội là cơ quan lập pháp, và – như tôi đã chia sẻ trong nhiều bài viết trước đây với chứng minh cụ thể về sụ hình thành Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ – sẽ là điều ấu trỉ nếu mặc định rằng các luật sư nên được bầu vào Quốc Hội Việt Nam để bảo đảm Việt Nam có Bản Hiến Pháp tuyệt vời và các bộ Luật không sai sót.

Đối với Bộ Luật Hình Sự 2015, tôi đã có thư góp ý viết trên giường bịnh gởi lãnh đạo Quốc Hội như đã đăng tải trên blog này. Trong thư ấy, tôi đã loại bỏ bớt một nội dung quan trọng vì cho rằng một mình tôi không thể chõi lại tập thể hơn 450 nghị sĩ khác, đó là về việc Luật Hình Sự đã nêu quá chi tiết về số tiền phạt như 50 triệu hay 100 triệu, vì rằng (a) bản thân các con số ấy hoàn toàn không có tính răn đe, rằng (b) khi có khủng hoảng tiền tệ khiến đồng tiền mất giá thì số tiền phạt theo luật định ấy có khi chỉ còn bằng giá trị một chiếc xích lô đạp; rằng (c) sao không sử dụng tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trị phạm tội hay tổng thiệt hại để ấn định mức phạt tiền trong Luật Hình Sự – thí dụ như 50% hoặc 70% chẳng hạn; rằng (d) việc ấn định số tiền phạt thấp cho tội hiếp dâm rất lố bịch, phi thực tế; và rằng (e) sao không quy định đối với tội tham nhũng/hối lộ thì hình phạt phải là tịch thu 100% số tiền tham nhũng/hối lộ nộp vào công quỹ, cộng với số tiền bằng số 100% ấy làm tiền phạt, cộng với số tiền bằng số 100% ấy làm tiền thưởng cho cá nhân/tập thể có công phát hiện/tố cáo tham nhũng/hối lộ; v.v. Luật Hình Sự mà ỏn ẻn thì làm sao mà giảm được các trọng án và làm sao mà trừ tuyệt được tham nhũng/hối lộ cơ chứ.

HHP Poem (6)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo: những góp ý của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đã viết trên giường bệnh đối với các dự thảo dự án luật trong năm 2015:

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” Ngày 14-10-2015. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/10/14/nghi-si-hoang-huu-phuoc-gop-y-cho-du-thao-luat-hinh-su/

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)”  Ngày 18-10-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)”  Ngày 18-10-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân”  Ngày  14-11-2015

Advertisements

Trung Quốc Phải Thua Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 7 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 23 giờ

(Sáu bài sau đã đăng cùng ngày hôm nay:

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê  đã đăng lúc 11 giờ

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn đã đăng lúc 14 giờ

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt  đã đăng lúc 18 giờ

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta đã đăng lúc 20 giờ

Văn Tế Tướng Tàu La Viện  đã đăng lúc 21 giờ

Giặc Tàu Mọi Rợ  đã đăng lúc 22 giờ)

*********

Năm 1985 khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên Âu Mỹ nhân đại lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố:

“Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn luôn sang xâm lược Việt Nam. Nhân dân  Việt Nam là người chống xâm lược và cũng luôn luôn là người chiến thắng. Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang đi theo vết xe đó.

Như mọi người đều biết, chính Trung Quốc cách đây không lâu đã dùng 60 vạn quân xâm lược biên giới phía bắc của Việt Nam, và hiện nay vẫn tiếp tục vi phạm biên giới Việt – Trung, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, gây nên tình hình căng thẳng giữa hai nước, họ cũng đang tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống nhân dân chúng tôi. Ở Cam-pu-chia, nhà cầm quyền Trung Quốc câu kết với Thái-lan dùng bọn diệt chủng Pôn Pốt chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia và đe dọa nền an ninh của Việt Nam. Do đó việc Trung Quốc nói chúng tôi khiêu khích và xâm phạm lãnh thổ của họ chỉ là điều vu khống bỉ ổi. Không bao giờ chúng tôi làm như vậy. Đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn quen thuộc của Trung Quốc ‘vừa ăn cướp vừa la làng’. ”

Trong khi đó, viên đại tướng Văn Tiến Dũng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhận định:

“Bắc Kinh đã leo một nấc thang mới hết sức nguy hiểm. Họ đang tiến hành một dạng chiến tranh lấn chiếm biên giới hòng gặm nhấm từng phần đất đai của chúng tôi, kết hợp với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên cả nước nhằm làm suy yếu để tiến tới thôn tính Việt Nam. Họ còn lớn tiếng đe dọa chúng tôi với giọng lưỡi nước lớn trịch thượng quen thuộc của họ.”

Tất cả cho thấy ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam đã phải đương đầu – hay nói đúng hơn là: tiếp tục con đường của tổ tiên đương đầu – với Trung Quốc, kẻ “luôn luôn” mong muốn xóa sổ Việt Nam, thực thể duy nhất trên thế gian này “luôn luôn” đánh bại Trung Quốc ngay từ đời tiên đời tổ Trung Quốc, và “luôn luôn” ngáng đường bành trướng của Trung Quốc về phương Nam khiến vẫn chưa ngày nào trong 5.000 năm qua đoàn quân cháu con lũ giặc Lương Sơn Bạc tiến được đến Châu Úc bao la và vùng Cực Nam băng giá tiềm tàng tài nguyên phong phú.

Nicolai Stepanovic Kuleisov trong tác phẩm Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc đã nhắc nhở nhân loại rằng để thực hiện những tham vọng địa chính trị của họ, Bắc Kinh tiến hành những hành động xâm lược chống lại Ấn Độ, Việt Nam, và những nước láng giềng khác; họ in những tấm bản đồ địa lý mà trên đó những lãnh thổ của các nước Nam Á và Đông Nam châu Á – như Ấn Độ, Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Lào, và những nước khác – lại được ghi thuộc Trung Quốc. Họ thậm chí ghi rằng vùng đảo đá ngầm gần bờ biển bang Sarawak của Malaysia là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Hoa. Những việc ngang ngược mang tính bá đạo bá quyền nước lớn cho thấy Đông Nam Á đã luôn là đối tượng chiến lược hàng đầu của chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh.

Trước sự tháo chạy của Mỹ khỏi Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO khiến giềng mối của các nước đàn em dưới tên gọi đồng minh Mỹ trong khu vực không còn kết dính vững chắc, Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán đã nhanh tay triển khai các hoạt động quân chính của họ tại Đông Nam Á với kỳ vọng sự phân hóa của các dân tộc trong vùng mà đặc điểm là đa số chưa sẵn sàng thân thiện với Việt Nam Cộng Sản sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến quân mở rộng bờ cõi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nuốt trọn tất cả các quốc gia này. Tuy nhiên, “việc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất hùng mạnh bước lên vũ đài quốc tế đã tăng thêm khuynh hướng hợp tác tương trợ trong nội bộ” các nước Đông Nam Á của khối mới ASEAN, giúp ngăn chặn được chủ nghĩa bá quyền Đại Hán càng thúc giục “những lãnh tụ của Trung Quốc đã làm tất cả để làm suy yếu vị trí của Việt Nam” tiến đến loại bỏ Việt Nam, trở ngại duy nhất trên con đường bành trướng của Bắc Kinh.

Cũng theo Kuleisov, những tham vọng của Bắc Kinh thoạt đầu được biểu hiện ra vào năm 1974 khi quân Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố những đảo này “mãi mãi thuộc về Trung Quốc”. Những “sự kiện và tư liệu” được sử dụng để biện bạch cho việc chiếm đóng trái phép những hòn đảo ấy đã xuất hiện trên báo chí Trung Quốc, rằng chúng đã thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ XV, rằng chúng đã được những người đi biển Trung Quốc phát hiện ra từ triều đại nhà Hán, đã liên tục được các thương nhân cùng những du khách từ Trung Quốc ghé thăm, và những đồng tiền Trung Quốc do các nhà khảo cổ học phát hiện đã nói lên điều đó, v.v. Trong khi thực chất là nhằm chiếm giữ khu vực dồi dào dầu hỏa chất lượng cực tốt so với dầu hỏa họ khai thác tại vùng dầu hỏa lớn nhất Trung Quốc là Đại Khánh lại có chất lượng thua kém và giá trị thấp hơn nhiều.

Ngày 17-02-1979, biển người hơn nửa triệu quân chính quy tinh nhuệ Trung Quốc cùng hàng ngàn xe tăng và chiến xa cùng pháo binh hạng nặng đã ồ ạt tràn ngập toàn tuyến biên giới trải dài hơn 1.200 km của Việt Nam, man rợ tàn sát, hãm hiếp, cướp bóc, tàn phá, nhằm nhanh chóng thôn tính Việt Nam, hoặc ít ra là làm suy kiệt tiềm năng quân sự và suy tàn nền kinh tế èo uột của Việt Nam, phá hoại sự ổn định nội bộ của đất nước này, đe dọa và trấn áp nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần, bắt Việt Nam phải phục tùng thiên triều Trung Quốc. Song, cuộc chiến tranh 16 ngày ở Việt Nam đã không đưa lại cho Trung Quốc một kết quả nào cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Các chiến sĩ biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân địa phương Việt Nam đã phá tan không những toàn bộ chiến dịch xâm lược của Trung Quốc mà còn cả cái dự định lăm le sờ mó các nước khác ở Đông Nam Á. Tờ Wall Street Journal của Mỹ số tháng 3-1979 trong bài xã luận “Ai Dạy Cho Ai Một Bài Học?” đã viết một cách châm biếm rằng: “Trung Quốc ra khỏi cuộc chiến tranh này với sự ô danh tồi tệ hơn cùng cái mũi bị giập.” Hơn nửa triệu quân chính quy Trung Quốc đã bị Việt Nam đánh cho tan tác chỉ trong hai tuần, một chiến tích vẻ vang tuy chưa phá được kỷ lục của Chiến Dịch Hồ Chí Minh (chỉ trong 5 ngày đã đánh tan nửa triệu quân của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt).

Tháng Tết 2012 là thời khắc người dân Việt Nam chân chính nhớ đến tháng Tết 1979 để nghe ngân vang lời thề phục hận. Đã 33 năm kể từ ngày 17-02-1979 khi bọn giặc Tàu tràn qua biên giới Việt Nam mà sự man rợ không chỉ là tàn diệt người dân Việt mà còn qua sự giật mìn phá sập các di tích lịch sử như Hang Pắc Pó nhằm xóa sạch bất kỳ các vết tích nào mang tính tự hào dân tộc Việt Nam, nhất là khi di tích ấy lại liên quan đến Hồ Chí Minh, con người gầy gò đã khôn ngoan lèo lái cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho đất nước mà vẫn không lệ thuộc vào bọn bá quyền nước lớn.

Tháng Tết 2012 của Việt Nam lại phải chứng kiến việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.

Kết hợp cách dùng từ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thì Trung Quốc “luôn luôn gặm nhấm” các vùng lãnh thổ của Việt Nam.

Kết hợp cách dùng từ của hiện nay và của Nicolai Stepanovic Kuleisov thì cái lưỡi bò của Trung Quốc rất dài vì không những liếm láp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn thè ra đến tận các dãi san hô đá ngầm ven biển Bang Sarawak của Malaysia trên đảo Borneo.

Tháng Tết 1979. Tháng Tết 2012. Thời gian 33 năm không ngừng gia tăng cơn thịnh nộ của lời thề phục hận!

Trung Quốc đã đi vào vết xe đổ của Mỹ:

Tau (2)Tau (1)Tau (3)

Và Trung Quốc rất có thể đang lầm tưởng rằng một cuộc xâm chiếm vùng Biển Đông của Việt Nam hầu tránh né đương đầu trực diện trên đất Việt, trên không Việt, trên sông Việt, trên núi Việt, sẽ an toàn hơn và bảo đảm hơn cho một thắng lợi quân sự, mà không nhận ra một sự thật rằng chúng sẽ không thể nào chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Chỉ 5 năm sau khi cướp đoạt Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa với sự hợp tác tích cực làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự hợp tác tích cực tuyên bố ủng hộ của Mỹ.

Đã 33 năm từ cuộc xâm lược ấy của Trung Quốc trên đất liền Việt Nam.

33 năm còn nguyên đó lời thề phục hận.

Lời thề ấy độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử nhân loại, vì đó là lời thề phục hận của người luôn luôn chiến thắng!

Những bài thơ mới với hình ảnh kèm theo sẽ tiếp tục được viết nên, có thể với cảnh lính Tàu bị trói thúc ké ngồi chồm hổm thu lu bên trong lưới cá trên thúng mủng do một nữ ngư dân áp giải vào bờ trong vùng biển huyện đảo Hoàng Sa vậy.

                            Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn

                            Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên được đăng lần đầu ngày 02-02-2012 trên blog.com, tức vào đầu năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Nicolai Stepanovic Kuleisov. Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc. Người dịch: Hùng Thắng. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982. Trang 56-70.

Vì Sao Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Việt Nam. Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1986. Trang 11-12.

Giặc Tàu Mọi Rợ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 6 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 22 giờ

Sử ghi lại rằng vào đời Hậu Lê, hai đại thần Giang Văn Minh (Phúc Lộc Hầu) và Nguyễn Duy Hiểu (Thiêm Đô Ngự Sử) được vua cử cùng làm chánh sứ đi với bốn vị phó sứ lên đường sang Tàu cầu phong và tiến cống nhà Minh.

Để làm nhục sứ thần nước Việt, hoàng đế Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm trong lễ tiếp đón phái đoàn ngày 02-6-1639 đã ra vế đối “Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục” ý nói trụ đồng đến nay đã rêu xanh, nhắc đến tích Mã Viện chiếm đóng nước Việt sau khi bức hạ Hai Bà Trưng đã cho dựng một cột đồng với lời đe dọa dân Nam hãy khôn hồn mà giữ cho cột đứng vững thiên thu, bằng không thì ngày nào trụ ngã ngày đó dân Nam sẽ bị tuyệt diệt, ý nói người Việt ắt đã vì run sợ mà giữ cột trụ đứng yên qua quá nhiều năm tháng đến nỗi phải xanh rêu mà vẫn chưa dám chống lại thiên triều. Chánh sứ Giang Văn Minh đã hiên ngang dõng dạc trước triều đình Đại Minh mà đối rằng “Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” ý nói Sông Bạch Đằng sau ba lần quân Tàu đại bại cho đến nay nước vẫn còn đỏ máu Tàu tanh. Minh Sùng Trinh nộ khí xung thiên, bất chấp nghi lễ ngoại giao cấm chém sứ thần, đã ra lệnh gắn trám đường vào miệng và mắt của Giang Văn Minh rồi mổ bụng tại chỗ để xem gan to mật lớn đến dường nào mà dám nói chõi với thiên triều, đồng thời thảm sát chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu do tội dám lên tiếng đồng lòng giữ gìn quốc thể. Không rõ do ân hận vì hành động tàn bạo làm điếm nhục uy phong hoàng triều Đại Minh đối với các chư hầu, hay do khiếp sợ dân Việt nhổ trụ đồng Mã Viện tiến quân qua đánh cho Dương Tử Giang nhuộm đỏ máu Nhà Minh, Sùng Trinh đã lật đật cho ướp xác các quan chánh sứ bằng bột thủy ngân và long trọng dùng đại lễ cho đưa thi hài về nước Việt.

Phái đoàn “tiểu quốc” lặn lội vượt đường xa quan san diệu vợi mất hàng năm trời mới đến đặng kinh đô mà dâng cống với biết bao trân châu bảo ngọc, sừng tê ngà voi, mỹ nữ, nghệ nhân, lương y, thảo dược, cùng vô số của cải khác theo lệ “thiên triều” và “xuống nước” xưng “thần” để cầu mong vua Tàu ban cho vua Việt một tước vương, thế mà hoàng đế nước Tàu tuy lớn lối trấn giữ “trung tâm vũ trụ” (Trung Hoa), vẫn là đứa thất phu khinh thế ngạo vật ngồi xổm trên chồng sách Tứ Thư Ngũ Kinh, mồm rống ta đây hào quang thiên mệnh thiên tử, gác chân lên đầu bao bậc “thánh nhân” như lão Khổng và lão Lão, xỉa ngón tay trỏ khoe bao điều kỳ vĩ khác, dùng thói lưu manh đàng điếm, xó chợ đầu đường, khát máu bạo tàn, đớn hèn ti tiện, mổ bụng phanh thây sứ thần thám hoa Giang Văn Minh và sát hại sứ thần tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu. Tuy dân tộc Việt tôn kính nhị vị chánh sứ hy sinh giữ gìn quốc thể, đã đưa tên hai cụ vào bia đá thứ 32 tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, song thù này có người Việt chân chính nào lại dám giây phút lãng quên, có bậc nghĩa khí hào kiệt nào của đất Nam không trỏ tay về phương Bắc nghiến răng thề quyết không đội chung trời, và có chính nhân quân tử nào hậu duệ Hùng Vương không hứa với tiền nhân sẽ có ngày diệt tiêu Tàu giặc con cháu Từ Hy.

Nay đến bọn lóc chóc Đài Loan cũng dựa hơi giặc mọi, tuy thân tàn ma dại (vì ngay đến Mỹ cũng không dám công nhận là quốc gia do sợ Tàu nộ khí xung thiên cho mổ bụng xem gan, trám đường vô họng, nên tuy bán cho vũ khí cực kỳ hiện đại y như với đồng minh thân cận khác, vẫn cứ muôn đời gọi Đài Loan chỉ là “lãnh thổ” mà thôi), cũng bày trò chiếm đóng hải đào Trường Sa (vừa làm Việt nổi trận lôi đình, vừa làm Mỹ cà lăm lắp bắp trong trận đấu khẩu với Tàu), cứ tưởng ta đây nòi giống Mã Viện trụ đồng, mà dốt Sử nên chớ biết Bạch Đằng Giang còn tanh đỏ máu của tổ sư tổ mẹ tổ cha Mã Viện *.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: * tổ sư, tổ mẹ, tổ cha là những từ viết tắt của “tổ tiên của…thầy”, “tổ tiên của…mẹ”, và “tổ tiên của…cha”.

Ghi chú: Bài viết trên đã đăng lần đầu ngày 14-9-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tài liệu tham khảo:

Văn Long. 20-8-2012. Sứ Thần Vì Quốc Thể. Báo Đại Biểu Nhân Dân, trang 5.

Văn Tế Tướng Tàu La Viện

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 5 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 21 giờ

La Vien

Hôm nay nhân kỷ niệm 140 năm ngày Nguyễn Khuyến viết bài Văn Tế Ngạc Nhi tức tế quan nhớn của Pháp tên Marie Joseph Francois Garnier còn gọi tắt là Francis Garnier bị tử trận ở trận Cầu Giấy, Hà Nội, trước tiên tôi xin ghi lại nguyên văn bài văn tế của Tam Nguyên Yên Đỗ, và sau đó noi gương tiền nhân để viết bài văn tế tên thiếu tướng Tàu La Viện, kẻ đang sủa ăng ẳng về Biển Đông:

Văn Tế Ngạc Nhi

Tác giả: Quế Sơn Nguyễn Khuyến

Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

Văn Tế La Viện

Tác giả: Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

Than ôi!

Thân mang hàm quan tướng

Tưởng an nhàn office thật sướng thân

Ngày qua ngày gom giấy cho mụ vợ bán ve chai

Có ngờ đâu một phút sa cơ vội bỏ kiếp đất bờ

Thân chìm nổi dật dờ thây cá rỉa.

 

Nhớ linh xưa:

Học sủa nhặng đua đòi thằng Mã Viện

Ẳng ẳng rằng tao cũng Viện vậy, thua ai?

Nước Nam kia tao sẽ quánh tựa chẻ tre

Lôi hết gái cháu chắt chút của Hai Bà về hưởng thú!

Mồm gấu gấu như La Thông thời tảo Bắc

Tay múa cào nhái La Quán ấy thằng Trung

Sử của Tàu chưa có đoạn trị Nam

La ta quyết: Viện này nay chấp bút!

 

Nhưng hỡi ôi!

Ngu dốt đặc nào đọc ra chữ “Nhất”

Đếch có mà biết sách sử có ghi chi

Chỉ xem tuồng ba xạo đánh đông tây

Với Nhân Quý, Cáp Tô Văn, toàn bá láp!

Ối cha ui! Ối mẹ ui! Giờ lỡ đụng cháu con Bà Nhị Trắc

Rời lưng voi, cưỡi trùng trùng lớp lớp súp-ma-rin

Nhấn Liêu Ninh đít cọ đáy Biển Đông

Lôi theo xác Viện La về trùng phùng Viện Mã

Khốn nạn thân Ông

Khốn khổ thân Ông

Khốn kiếp thân Ông

Khốn đốn thân Ông

Khốn khó thân Ông

 

Lăng Tần ta nay:

Tâm khuôn phò xã tắc nước Nam

Trí diệt tiêu bây giặc Tàu ché đỏ

Nhưng tuân ý muôn dân đem bày chút cỗ

Gồm Nờ Một Hát Năm: gà toi một chú, vịt lảo đảo một nàng

Sữa mê-la-mai: Sanlu bột mịn đại bổ béo hai thùng

Dưa hấu nổ: to đùng đùng ba trái

Móng trâu bò bốn năm chiếc xí quách gặm chơi

Rượu nước Nhiêu Lộc pha cồn chín mươi chữ sáu bình

La Viện ông sống có khôn thác có thiêng

(Mà dù có đếch khôn cộng với đếch thiêng, cũng)

Hãy chịu khó lội về đây phàn xực.

Ôi La Viện ơi là La Viện!

Ta vì phải học theo Nước Nam Truyện Cổ

Buộc mắng Ông cho tiêu tan tình tội của Ông

Nén hương trầm xin đốt cắm hũ chao

Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!

Thượng hưởng!

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1:

– office: văn phòng, cơ quan

– quánh: tiếng bình dân Nam Bộ, đồng nghĩa với “đánh”

– trị Nam: ý nói mấy tên họ La như La Thông (quyển La Thông Tảo Bắc) cũng là hạng vô danh tiểu tốt chẳng được dân Tàu xem trọng nên chẳng ai viết về y, còn La Quán Trung cũng là đứa họ La với La Viện thì cũng chỉ rặn ra được mấy quyển sách sử thể loại giải trí trường thiên chứ chẳng tham gia viết cái gì liên quan đến phía Nam vì toàn bộ lịch sử 5000 năm lập quốc của Tàu thì chỉ toàn đớn nhục ê chề khi đụng đến nước Nam, nên ngay cả có thời kỳ đô hộ nước Nam cả ngàn năm mà Tàu cũng chết khiếp không dám viết hay làm phim cổ trang về thời kỳ “ngàn năm” ấy. Tàu chỉ dám làm hai việc có dính tới nước Nam, đó là cách nay 30 năm sản xuất quả địa cầu vẽ nước Tàu dài tới…Mũi Cà Mau, và cách nay 3 ngày sản xuất tấm bản đồ ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Xem ra, Tàu vẫn sợ chết khiếp khi nghĩ đến nước Nam ta.

– Nhân Quý và Cáp Tô Văn: Tiết Nhân Quý (quyển Tiết Nhân Quý Chinh Đông), còn Cáp Tô Văn là thủ lĩnh Đại Hàn xứ sở kim chi, đối tượng của sự xâm lược do Nhân Quý tiến hành

– súp-ma-rin: tức submarine (tàu ngầm)

– Liêu Ninh: hàng không mẫu hạm của Tàu

– Nờ Một Hát Năm: tức H5N1, bịnh cúm gia cầm

– mê-la-mai: sữa melemin đặc sản Tàu, do hãng Sanlu sản xuất nhằm giết trẻ em … Trung Quốc, bảo đảm độc quyền, không đụng hàng trên toàn thế giới

– Nhiêu Lộc: nguồn nước tinh khiết độ đạm cực cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt dành riêng cho giặc Tàu xâm lược

– phàn xực: tức “xực phàn”, tức là … xực, tiếng lóng của Việt Nam gọi hành động “ăn uống”

– Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!: đây là lời kết rất hiền hòa do hậu sinh “Nhất Thạc Bàn Cờ” Lăng Tần không dám sử dụng từ ngữ ngang tầm “Đù cha mẹ nó!” của bề trên là Cụ “Tam Nguyên Yên Đỗ” Nguyễn Khuyến. (ghi chú thêm số1: Nhất Thạc là…Thạc sĩ mới có một lần, và là dân cư Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn; ghi chú thêm số 2: kiểu ngôn từ “Đù cha mẹ nó!” là kiểu đặc biệt dành cho bất kỳ bọn xâm lược nào đụng đến nước Nam, vì vậy cần được trau giồi, học hỏi, phát huy, tăng cường sử dụng trong văn học để chứng minh con cháu Việt ai cũng muốn giỏi như Trạng Nguyên Ba Lần Nguyễn Khuyến)

Ghi chú 2: Bài trên đăng ngày 14-01-2013 tức vào đầu năm thứ ba của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 4 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 20 giờ

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ. Tôi còn dị ứng trước bất kỳ những gì của Trung Quốc, từ phim cổ trang về bọn gióc tóc đến phim xã hội tầm phào (tất nhiên trừ vài phim họ làm để chinh phục Holywood), từ mấy thứ thuốc cao đơn hoàn tán khả nghi đến thực phẩm không đáng tin cậy, từ đồ chơi kém chất lượng đến hàng điện tử đầy hỏng hóc, v.v., tất cả không do bất kỳ một thái độ kỳ thị nào cả, mà từ sự miệt mài say sưa đọc sử Trung Quốc để rồi nghiệm ra rằng sở dĩ nước ấy có Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử xuất hiện chẳng qua vì tổ tiên Trung Quốc cực kỳ tàn độc, vô lễ, vô chính, vô hạnh, vô đức, vô duyên, vô trí như thể hiện đầy dẫy trong các chi tiết ở các triều đại phong kiến như vua cha cướp vợ của con, thái tử lấy vợ của vua cha, cha con/anh em giết nhau vì ngôi báu, v.v., và hậu duệ của một giống nòi như vậy không thể khiến người ta tin rằng đã nhờ văn hóa văn minh hiện đại ngày nay xóa tan được những gien vô sĩ, bất nghĩa, tàn độc của tổ tiên.

Thế nhưng, rất nhiều hàng hóa tồi tệ của Trung Quốc vẫn tràn vào Việt Nam, và nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn “đặt hàng” Trung Quốc chế tạo hàng kim khí điện máy. Tất nhiên điều này cho thấy Việt Nam có cơ chế thị trường mở, tự do, phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO, không dùng bất kỳ biện pháp hành chính nào để cản trở. Vấn đề do đó nằm trong cái tâm, cái tầm, và cái tình của người đi buôn và của người tiêu dùng.

Vấn nạn của Trung Quốc ngày nay bao gồm nhiều điểm nóng bỏng, nhưng nổi cộm nhất và mang tính dân tộc cụ thể nhất là vấn đề bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc không thể bành trướng lãnh thổ trên đất liền do phía Bắc bị Nga đè bẹp với vùng đệm khó chịu của Mông Cổ và Kazakhstan; phía Tây sừng sững kẻ thù bất cộng đái thiên Ấn Độ với vũ khí nguyên tử cùng vòng cung khó chịu của Pakistan, Afghanistan và vài quốc gia cựu-Liên-Xô khác; phía Đông bị Hàn Quốc án ngữ với vành đai khó chịu của Nhật Bản; còn phía Nam bị ngăn chặn vĩnh viễn bởi bức tường thép Việt Nam. Không thể tiến lên phương Bắc vì vùng Siberia ngàn năm băng giá của Nga, không thể vượt qua tường lửa phía Tây để nuốt Châu Âu, không thể vượt sự kềm tỏa phía Đông để đụng độ Hoa Kỳ và Châu Mỹ, Trung Quốc chỉ còn một cách duy nhất là đánh xuống phương Nam. Sự ra quân hối hả của Trung Quốc từ cơn khát thèm di truyền từ tổ phụ xua quân tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979 đã cũng cố tính chính xác của công thức phản ứng hóa học bất di bất dịch: quân đội nào vào tiếp xúc với đất Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học thăng hoa khiến quân đội ấy bốc hơi, tan biến, mà không thu hồi được ngay cả các khí thứ phẩm (công thức khác thì cần thời gian xác minh củng cố thêm, đó là: quân đội nào vào tiếp xúc với nước Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học lắng tụ khiến quân đội ấy thân chìm đáy biển mà không thu hồi được ngay cả các thứ bùn thứ phẩm). Trung Quốc chỉ còn cách hạ mình tránh né lục quân Việt Nam, cực chẳng đã phải buộc quên mình là Con Trời, muối mặt làm con kỳ nhông với lưỡi thè dài ra liếm láp các hòn đảo Biển Đông và tự an ủi là lưỡi mình là lưỡi bò chứ không phải lưỡi thạch sùng, cắc ké, kỳ nhông. Việc đi tắt bằng đường biển xuyên Biển Đông này không phải như hầu hết nhân loại đã nghĩ (chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì tài nguyên dầu hỏa phong phú), hay phần lớn nhân loại đã nghĩ (khống chế các nước ASEAN), mà chính là xuyên qua ASEAN làm chủ Biển Đông, thẳng tiến đánh chiếm Châu Đại Dương, sở hữu Nam Cực, khống chế Mỹ La Tinh và tất nhiên biến Bắc Mỹ thành búp bê Barbie hữu danh vô thực (Mỹ đấy – tức là…Đẹp đấy, nhưng không nhúc nhích cục cựa gì được).

Cái đói khát thèm thuồng của Trung Quốc đã rất thảm hại khi tung tiền mua một hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) thời Liên Xô cũ của Ukraine đang chờ bán sắt vụn để kéo về nước “tân trang”, rồi bắn tin là một doanh nhân Trung Quốc cũng sắp tậu một hàng không mẫu hạm khác, loại phế thải của Anh Quốc về làm nhà hàng, khách sạn. Hoàng Sa và Trường Sa, do đó, chỉ là nơi phải chiếm giữ để xây dựng căn cứ hải quân hậu cần cho những cuộc hải trình chinh phục phương Nam.

Việc làm của chúng ta, do đó, nhất thiết nên là:

1) Ủng hộ Chính phủ Việt Nam trong những cách chính quy, chuyên nghiệp mà Chính Phủ luôn áp dụng thành công với đối ngoại, ngoại giao, chính trị, và quân sự.

2) Kinh nghiệm cho thấy các cuộc xuống đường rầm rộ trên toàn thế giới và ngay trên đất Mỹ đòi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam vẫn không có tác dụng gì đối với Chính phủ Hoa Kỳ, và chỉ khi bị Việt Nam đánh bại về quân sự, Mỹ mới rút quân khỏi Việt Nam. Việc làm hiệu quả nhất để đòi lại chủ quyền hải đảo đã bị Trung Quốc chiếm đóng là phải đánh bại Trung Quốc về hải quân, mà để có sức mạnh hải quân sẽ cần đến nguồn tài chính dồi dào do dân đóng góp. Sự đóng góp này phải có tên gọi cụ thể là “đóng góp hiện đại hóa quân đội và xây dựng hải quân hùng mạnh” chứ không dưới một danh xưng mềm mỏng yếu ớt như “góp đá cho Trường Sa”.

3) Trong khi Chính phủ Việt Nam sử dụng sức mạnh công luận của ASEAN và thế giới, người dân Việt Nam nên sử dụng sức mạnh của dân Trung Quốc đối với Chính phủ của họ, nghĩa là nhất thiết phải cho người dân nghèo khổ Trung Quốc cùng các nhà sản xuất nhỏ Trung Quốc hiểu ra rằng bao năm qua Việt Nam nuôi sống họ bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ, và họ nay phải phản đối việc Chính phủ của họ gây hấn ở Biển Đông; bằng không, Việt Nam tẩy chay hàng hóa của họ, đẩy lùi họ về thời kỳ cùng khổ của cuộc Vạn Lý Trường Chinh.

4) Phải làm cho các nước ASEAN và các nước Châu Đại Dương hiểu rằng Trung Quốc đang nhắm đến họ chứ không phải mấy hòn đảo ở Biển Đông, do đó họ nhất thiết phải cùng Việt Nam dùng sức mạnh ngoại giao và quân sự để đè bẹp ý chí bá chủ của Trung Quốc.

5) Nhất thiết phải có nhà biện sĩ thuyết khách cỡ Trương Lương hay Tô Tần sang du thuyết với lãnh đạo Trung Quốc, cho họ những lời khuyên khôn ngoan (a) rằng lẽ ra Nhật Bản không phải là đảo quốc nhỏ bé bị thiên tai tàn phá liên tục mà là một đại siêu cường có lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới nếu sau khi chiếm Trung Quốc họ biết dừng lại ngay tại biên giới Việt Nam; (b) rằng lẽ ra Đế Quốc Pháp ngày nay vẫn còn danh dự như Đế Quốc Anh đang còn tồn tại nhiều “thần dân” như Canada, Úc, v.v., nếu Pháp biết dừng lại bên ngoài hải phận Việt Nam; (c) rằng Đại Tống lẽ ra đã không bị Tây Hạ và Liêu Đông dày xéo đến phải mất nước về tay Nhà Kim và Nhà Nguyên nếu họ đừng xâm lấn nước Việt để bị Lý Thường Kiệt đánh cho suy tàn, cũng như nhiều triều đại khác trong lịch sử Trung Hoa; (d) rằng Hoa kỳ lẽ ra đã không mất ngôi vị lãnh đạo thế giới, không biến thành kẻ lụn bại về kinh tế lẫn uy danh nếu biết dừng lại ngoài lãnh hải Việt Nam mà không ngụy tạo sự kiện Vịnh Bắc Bộ để đổ bộ vào Đà Nẵng; (e) rằng Trung Quốc hãy vì đại cuộc mà rút quân khỏi Biển Đông để tập trung trấn quốc do việc xâm lấn ngày nay sẽ khiến Trung Quốc đối mặt cùng lúc bốn đại nguy cơ gồm thứ nhất là sự tẩy chay của thế giới khiến tác động tai hại đến kinh tế Trung Quốc, thứ hai là việc tung quân rời xa vùng cương thổ sẽ khuyến khích các cuộc tổng nổi dậy xé tan nát sự toàn vẹn của Trung Quốc, thứ ba là khuyến khích cắt cáp và gây hấn với tàu Việt Nam là hành động tương tự sự ngu xuẩn của bậc làm cha mẹ nào xui giục con giở thói côn đồ cướp bóc khiến đàn con sẽ trở nên bại hoại, mất dạy, bất lương, bất hiếu, quay ra đánh lại mẹ cha, tàn diệt Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, và thứ tư là Trung Quốc tất nhiên phải đại bại do lịch sử chưa bao giờ có bất kỳ sự kiện gì chứng minh Trung Quốc đánh thắng bất kỳ một quốc gia nào ở khu vực ASEAN; và (f) rằng Trung Quốc hãy chấp nhận vị trí siêu cường kinh tế vì không bao giờ “có cửa” cho Trung Quốc làm siêu cường quân sự cả.

6) Cảng Cam Ranh nên là một quân cảng cho Nga hoặc Mỹ thuê, do Cam Ranh thuộc chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam có toàn quyền quyết định việc sử dụng Cam Ranh, chứ không phải Việt Nam buộc sử dụng cho mục đích phi quân sự chỉ để nhằm khoe hay chứng minh với phần còn lại của thế giới rằng Việt Nam “yêu hòa bình” hay chỉ để làm yên tâm kẻ đang gây căng thẳng nơi Biển Đông. Kiểu cách bất di bất dịch của tất cả các vương triều nước Việt suốt chiều dài lịch sử 4.500 năm lúc nào cũng nhún nhường quỳ mọp xin lỗi “thiên triều” Tàu thì nay nhất thiết phải được thay đổi triệt để và ráo riết. Nhờ sự quỳ gối quỳ mọp quỳ lụy Tàu của tất cả các bậc minh quân nước Việt trong lịch sử mà dân tộc Việt đã được trường tồn. Đã đến lúc nhờ sự vùng lên nắm đầu đè cổ dí đầu Tàu xuống bùn nhơ của chính phủ Việt Nam trong tạo nên lịch sử mới cho dân tộc Việt mà dân tộc Việt sẽ được trường tồn.

7) Và cuối cùng – song không kém phần quan trọng – là chúng ta nên bảo đảm mọi hành động đều phát xuất từ lòng yêu nước tự thân, sự hiểu biết đúng đắn tự thân, quá trình tư duy tự thân, khả năng nhận định đúng đắn và phân tích đúng đắn tự thân, và trên cơ sở lợi ích chung của đất nước, trật tự xã hội, an ninh quốc gia, để không dễ bị xui giục, khích động, lôi kéo bởi những tên chống Cộng thâm hiểm. Đất nước chỉ có thể được bảo vệ bởi quân đội đã chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 09-6-2011 tức trước khi tác giả chính thức trở thành Nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Ngưu Ngữ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 3 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 18g

Trong kho tàng Tiếng Việt ta, từ Hán-Việt dược dùng đáp ứng những nhu cầu sử dụng trang trọng, quý phái, hoặc tế nhị, v.v, thí dụ: hồng quân (thay vì … quân đỏ), tổng thống (thay vì…ông nắm giữ tất tần tật), thủy điện (thay vì điện nước), quốc lộ (thay vì đường chính chạy suốt đất nước), v.v., và chỉ bị gát qua một bên nếu ý nghĩa dễ gây nhầm lẫn (Hội Chữ Thập Đỏ, thay cho Hội Hồng Thập Tự vốn dễ nhập nhằng với Thập Tự trong Thập Tự Chinh có liên quan đến đạo Chúa).

Từ xưa, hễ liên quan đến vua thì người ta dùng chữ “long” với ý nghĩa “rồng”, linh vật tối thượng, tiêu biểu cho quyền uy tột đỉnh của muôn loài, từ đó có long nhan (mặt vua), long xa (xe của vua), long ân (ơn vua ban tặng), long trượng (gậy vua ban tặng), long thể (mình đầu tay chân của vua), long tu (râu vua), long bào (áo vua), long sàng (giường vua), v.v. Tất nhiên, long nhãn không phải là … mắt vua, và long đong không phải là bàn cân vua, long ốc không phải là … hang ổ của vua, long não không phải là…óc vua.

Thế nhưng, chủ nhân của Tiếng Hán là Trung Quốc đã có công khai khái niệm mới, theo đó mới quý hơn rồng, nhất là sau khi tiếp thu văn hóa Phương Tây, biết họ xem rồng là quái vật thường bị Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần Michael đâm trường thương giết chết, còn phim ảnh Holywood tạo nên rồng nhiều đầu, hễ đứt đầu nào thì nơi ấy mọc ra hai đầu khác, trông kinh khiếp quá, nên mới chủ trương thay đổi ngôn từ, ra vẻ ta thuộc dân tộc thuần nông luôn xem trọng con nên mới có vụ đường lưỡi bò lấn chiếm Biển Đông.

Người Việt ta thường hay lịch sự, biết tôn trọng người, cái gì không phải của ta thì chả thèm tranh cải, học câu vật phi nghĩa bất thủ (đồ bậy bạ thì quyết không giữ lấy), nên ắt cũng nên thay đổi ngôn từ Hán-Việt của ta để từ nay khi diễn tuồng tích Tàu thì xưng hô như sau mới hợp thời đại mới của Trung Quốc, kẽo họ chê bai chúng ta quá kém tiếng Tàu:

Ngưu nhan: tức mặt bò (Tiếng Tàu gọi Ngưu chung cho trâu ), nghĩa là mặt vua Tàu

Ngưu thể: đầu mình chân tay bò, nghĩa là cả người vua Tàu

Ngưu xa: xe bò, nghĩa là xe chở vua Tàu

Ngưu trượng: cây roi bò, chắc để vua Tàu dùng khi cưỡi bò

Ngưu bào: áo bò (làm bằng da bò, không phải áo vải jean) của vua Tàu

Ngưu tu: râu của bò, tức râu vua Tàu

Ngưu sàng: giường của bò tức của vua Tàu

Ngưu ân: ơn do bò tức vua Tàu ban tặng

từ đó, ta sẽ được nghe các câu nói thật chuẩn, thí dụ như khi một tì nữ được vua Tàu hôn hít sẽ nói: “Kính tạ Ngưu Ân đã cho tiện nữ nhìn thấy Ngưu Nhan, được nằm kề Ngưu Thể, trên Ngưu Sàng đầy nhóc Ngưu Bào, được sờ Ngưu Mông và được biết vị mùi Ngưu…Lưỡi.”

Đúng là ngôn ngữ Tàu cũng có các biến thiên để trở thành sinh ngữ uy trấn toàn cầu vậy.

Tiếng Tàu nay không còn là Hoa Ngữ hay Trung Văn mà được cách tân thời thượng gọi là Ngưu Ngữ, tiếng bình dân gọi là Tiếng Bò.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 02-9-2011 tức sau kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 2 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 14 giờ

Các dị nhân Tàu đã từng chứng minh thật hùng hồn đầy sức thuyết phục với toàn nhân loại rằng tổ tiên và hậu duệ của Tàu rất giỏi về bói toán, tử vi, bốc dịch.

Lịch sử của Tàu cũng từng chứng minh rằng Tàu đã thực sự có dị nhân tài ba như thế nhưng dù đã biết số trời vẫn ra sức hô phong hoán vũ trấn bùa ếm chú chống ngăn để rồi vẫn hoàn toàn đại bại thất bại lụn bại hủ bại, như cái gã họ Gia Cát tên gọi Khổng Minh (tức Phục Long Tiên Sinh, kẻ mà thiên hạ Tàu đại ngôn pháo đại cho rằng y cùng với gã nọ họ Bàng tên Thống còn gọi là Phụng Sồ Tiên Sinh hợp thành thiên hạ đệ nhất mà chỉ cần có một trong hai ở dưới trướng theo phò thôi là đã có thể gồm thâu xã tắc, nhất thống thiên hạ, lập nghiệp đế vương, để rồi khi trự nọ tên Bị họ Lưu thu nạp cả hai lại bị tủi nhục mất cả giang sơn Thục quốc) lập đàn bắt ấn cũng không tránh được chuyện bị tên bại tướng hàng binh Ngụy Diên lấy mất cái đầu.

Lấy cổ mà suy kim, chỉ cần quan sát xem Tàu động thủ ra sao khi bày chuyện can qua chống trời là đã có thể nhận định được ngay lập tức thật rất rõ ràng rằng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Quốc, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là Tàu, cùng đám tiểu quốc lâu la theo đóm ăn tàn, đã đến “ngày tuyệt diệt”, mà từ đoạn này trở xuống được gọi tắt là “ngày tàn”, theo lời bàn của Lăng Tần Tiên Sinh nước Việt, đối thủ của Phục Long Tiên Sinh và Phụng Sồ Tiên Sinh nước Tàu.

Cái sự suy vong của một nước nhớn từ cổ chí kim được nhận thấy qua duy chỉ một hành động duy nhất đã trở thành một đại công thức mang tính chân lý bất dịch bất di là khi lãnh đạo nước ấy đột nhiên ngu xuẩn hấp tấp dấy động can qua (a) trên tư thế yếu của tâm thần từ hỗn hợp của các bệnh lý tâm thần complex neurophysiological phenomenon of neuroleptic malignant syndrome do di truyền từ tiên tổ và chứng thác loạn thần kinh khiếp sợ hypersensitivity mental disorder from heredity, genetics and brain chemistry cũng do di truyền từ tiên tổ; và (b) dựa dẫm vào sức khỏe bò điên có lưỡi bị tưa toét đứt làm chín đoạn. Từ những mặc cảm bịnh hoạn bịnh lý bịnh kinh niên của chứng Gelotophobia khiến luôn sợ bị cười chê nhạo báng do dân tộc mình ăn dơ ở dáy muôn đời bại trận trước Việt Nam, chứng Ordacleaphobia khiến vạn kiếp khiếp sợ thân phận không bao giờ hoàn hảo do không bao giờ làm bất kỳ phim cổ trang nào có nội dung đánh thắng Việt Nam, dẫn đến sự hình thành chứng bịnh Vietnamophobia luôn luôn khiếp sợ Việt Nam đến độ

trầm trọng thành tâm bịnh Vietnamomania trở thành chứng điên dại Desanimania cộng với chứng EcdemomonomaniaPoriomania khiến bị thôi thúc phải bỏ lục địa lang thang ngoài khơi lạc tuốt xuống Biển Đông xây tạm cái xó xỉnh gọi là  “Thành phố Tam Sa”; cho đến sự khiếp sợ đầy bịnh hoạn của chứng Atychiphobia dưới tác động của lệch lạc tàn khốc của Homocidomania tức Phonomania đã khiến ra lịnh cho tay sai là bọn chó dại Khmer Đỏ tiến hành cuộc đại tàn sát dân Kampuchea nhằm thôn tính nước này làm bàn đạp vững chắc bảo đảm chiếm được Việt Nam. Chung quy, tất cả đã cộng hưởng với cái tâm thần lệch lạc của di chứng Claustrophobia lúc nào cũng sợ hãi sự tù túng bó rọ giữa vòng vây trùng trùng điệp điệp của đại quốc Nga và thực thể tiềm năng Mông Cổ ở phương Bắc, liên minh Hồi Giáo dũng mãnh và Ấn Độ ngoan cường ở phương Tây, Việt Nam thần uy dũng mãnh ở phương Nam, và ngọa hổ Nhật Bản với tàng long Hàn Quốc ở phương Đông, cuối cùng đã phá sụp thần trí Tàu, làm Tàu mông muội thè lưỡi xuống liếm phân chim ở Hoàng Sa và chấm mút Trường Sa.

Đầu Tàu đã mang quá nhiều chứng tâm thần, nhưng cũng nhờ những hành động chống trời kiểu Phục Long và Phụng Sồ đã khiến những bậc trí thức tài hoa đất Việt trời Nam không cần bấm độn cũng biết ngày tàn của Tàu đã đến. Do biết trước thiên cơ từ năm 2013 trở đi hàng vạn tai ương khủng khiếp giáng xuống Tàu cộng thêm với việc Tàu bị tan nát thành sáu nước, Tàu đã vì khiếp sợ mà cho rằng tiên hạ thủ vi cường, phải ra tay đánh xuống phía Nam trước để trừ hậu hoạn vừa tránh đại họa bị Việt Nam xóa sổ vừa có vùng đất đai mới để cắm dùi rời xa đất Tàu tan vỡ do bạo loạn và thảm họa thiên tai. Để thêm phần chắc thắng, một triệu chiến binh Tàu đã được cấp tiền bạc để trở thành công dân Campuchia, đất nước năm triệu dân, mua đất đai lập đồn điền áp sát toàn tuyến biên giới phía Tây của Việt Nam, tung tiền xây dựng tại thủ đô Phnom Penh con đường hoành tráng mang tên “Đại Lộ Mao Trạch Đông”, và hớn hở trước tình hình “đa đảng” của Cambodia với nhiều “đảng” hô hào thù hận Việt Nam, ra tay phá cột mốc biên giới, cản trở việc cắm mốc còn lại, và vẽ lại bản đồ Việt Nam chỉ kéo dài xuống đến xứ Quảng, còn lại thì sáp nhập vào Vương Quốc Cambodia. Việc nhanh chóng “ra tay” trước của Tàu càng củng cố sự thật rằng Tàu buộc phải bị diệt vong. Tàu đã để lộ thiên cơ qua việc chống lại cơ trời, thay vì gắng sức tu nhân tích đức, xử sự đàng hoàng với Việt Nam hầu mong cải tạo được tình hình đại họa sắp giáng xuống toàn dân tộc Tàu mà bất kỳ người Việt nhân từ nhân hậu nhân văn nhân ái nhân đạo nào cũng không muốn chứng kiến ngày đất Tàu vỡ vụn chôn vùi hàng tỷ con người còn Biển Đông South China Sea lại phải bị đổi tên thành Huyết Hải Blood Sea do nhuộm đỏ máu quân Tàu mà thế giới thì đã có biển Hồng Hải Red Sea sẵn rồi nên Việt Nam khó thể đặt trùng.

Bọn Phục Long Khổng Minh Gia Cát Lượng và Phụng Sồ Bàng Thống cùng với nào là Quan Công tưởng đâu là thánh thần ghê gớm lắm, Trương Phi ngỡ đâu là uy dũng lắm, Thường Sơn Triệu Tử Long tưởng đâu là báu lắm, thế mà đem ngựa Xích Thố với muôn vạn hùng binh không thể giúp vua làm nên nghiệp Đế đã vậy còn rước thất bại đớn nhục ê chề. Bọn Tàu hậu duệ ngày nay đem hàng không mẫu hạm cùng tàu bè lãng vãng ở Biển Đông và một triệu quân nhập quốc tịch Cambodia đóng vai nhà nông đi trồng cao su sát biên giới Việt Nam thì cái sự thất bại càng hiển nhiên, cảng rõ nét, càng nhanh chóng, càng dưới chuẩn của nhục đớn chề ê hàng vạn dặm.

Ngày tàn của Tàu và bọn theo đóm ăn tàn đã phải đến. Thiên cơ đã lậu. Biết làm thế nào được.

Điều phước thiện duy nhất ViệtNam có thể làm là tổ chức một Đại Lễ Cầu Siêu cho giặc Tàu mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng đầu tiên trên blog.com ngày 21-12-2012 tức sau kỳ họp thứ tư của năm thứ nhì của nhiệm kỳ Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tham khảo vài bài viết cùng chủ đề của Hoàng Hữu Phước:

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

900 Năm Hùng Khí Thần Uy

Trăm Trứng

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 1 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 11 giờ

Có một định nghĩa mang tính chân lý từ muôn đời nay mà từ kẻ thất phu đến bậc thức giả hàn lâm, từ bậc hiền nhân quân tử đến kẻ tham quan ô lại, từ nhà buôn chân chính đến doanh nhân làm giàu bằng cách ác nhân thất đức tàn phá môi sinh, từ bậc đạo đức tu hành chánh đạo đến phường hổ mang lưu manh khoác áo cà sa hay áo chùng thâm, đều biết rõ mười mươi rằng Việt Nam là mồ chôn tất cả các đoàn quân xâm lược bất kể chúng đến từ đâu (ngoại trừ … aliens tức sinh vật ngoài hành tinh vốn chỉ bị tiêu diệt duy bởi các vũ khí thần thông Mỹ … made-in-Hollywood bất kể chúng đến từ thiên hà nào). Đất Việt đã luôn là mồ chôn bộ binh, kỵ binh, tượng binh, thiết giáp binh, pháo binh giặc xâm lược. Trời Việt đã luôn là mồ chôn không quân giặc xâm lược. Sông Việt đã luôn là mồ chôn thủy binh giặc xâm lược (chưa kể… Rừng Việt đã luôn là mồ chôn biệt kích giặc xâm lược và Hang Việt – mà điển hình là Hang Pắc Pó –  đã luôn là mồ chôn … đê tiện quân giặc xâm lược). Và đương nhiên đến lượt Biển Việt sẽ nối gót để luôn là mồ chôn hải quân giặc xâm lược.

Đã là chân lý‎ thì đương nhiên đúng, phải đúng, đúng một-cách-biết-làm-thế-nào-được, vì ngay cả Albert Einstein cũng phải sử dụng số học 2+2=4  trong các tính toán kinh thiên động địa không dính dáng đến số học của Ông. Mà đã đương nhiên đúng thì Biển Đông sẽ là mồ chôn của hàng không mẫu hạm của Trung Quốc và tất cả các chiến hạm cùng tàu ngầm của Trung Quốc, bất kể do chúng tự động chìm vì lớp sơn mới không bít được các lổ mọt rỉ sét mà độ mặn căm thù của Biển Đông tàn phá nhanh chóng gọn gàng thứ kim loại biến thái với hàng không mẫu hạm của Trung Quốc là điển hình, bất kể do tổ tiên Việt Nam sau khi thấy lời răn dạy phải luôn dĩ hòa vi qu‎ý tránh voi đâu hổ mặt nào được con cháu áp dụng nhuần nhuyễn hơn 4000 năm vẫn không phát huy tác dụng với con cháu bọn cướp cạn Lương Sơn Bạc nên nóng mặt hung hăng hùng hổ vất bỏ dáng nhu mì từ trời cao giáng sấm sét bão tố đánh chìm chiến hạm giặc Tàu khiến thây nổi đầy mặt biển vướng chân vịt làm hỏng vô số tàu buôn, bất kể do bị các cao thủ võ lâm Hồi Giáo các nước trong khu vực ASEAN đánh chìm sau khi thọ giáo các tuyệt chiêu kinh nghiệm từ hảo hán người Sudan của lực lượng al-Qaeda dưới quyền Osama Bin Laden đã từng làm chiến hạm USS Cole của Hải Quân Hoa Kỳ thủng một lổ bự chà bá khi neo đậu tại Cảng Yemeni thành phố Aden nước Yemen lúc 11 giờ 18 phút 14 giây sáng ngày 10 tháng 12 năm 2000 gây thương vong cho 56 binh sĩ Mỹ chỉ với 250kg thuốc nổ, hay bất kể do chính các chiến sĩ hải quân tinh nhuệ của Trung Quốc thao tác sai khi thiết bị có chữ Nga và chữ Anh hay chữ Pháp được dán chữ Tàu đè lên nhưng bị sút rớt do keo dỏm made-in-China làm nhấn nút lộn phá tanh banh mẫu hạm còn tàu ngầm bị mỹ nhân ngư gốc Việt dụ lũi vô kẹt cứng như Mạnh Hoạch bị dính chấu giữa hai mỏm đá đáy biển sâu do tưởng bở hai bắp đùi nõn nà người ngọc, v.v. và v.v.

Mà các sự cố trên xảy ra – cách chi mà không xảy ra cơ chứ  – thì cứ tưởng tượng tàu Trung Quốc đổ xô đến Biển Đông cứu nạn, tàu Mỹ đổ xô đến vớt khí tài quân sự cùng máy bay tàng hình Tàu để xem kỹ thuật tiến bộ đến đâu, tàu Nga đổ xô đến nghiên cứu xác hàng không mẫu hạm để rút kinh nghiệm chế vỏ tàu chống muối Biển Đông, tàu các nước ASEAN mạnh ai đổ xô đến vì những mục đích khác nhau, còn ghe thuyền thúng mủng Việt Nam đổ xô ra vì vẫn mang nặng khí tiết đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo rồi vì nghĩa tử là nghĩa tận mà bắt chước tiền nhân vớt xác quân thù lên bờ lập đền thờ cúng tế ngàn năm không dứt khói hương, thật là tán loạn tự do thì còn gì là uy quyền quốc gia! Thế nên, thay vì đợi nước đến đầu gối mới nhảy, Việt Nam nên có sẵn các quy định mang tính luật pháp, chẳng hạn rằng bất kỳ tàu nào xâm lấn vùng lãnh hải của Việt Nam mà gặp nạn chìm – bất kể do trời đánh hay người đánh – thì thuộc quyền sở hữu của Việt Nam như pháo đài bay B-52 và oanh tạc cơ F của Mỹ bị rơi ở Miền Bắc Việt Nam trở thành tài sản của Việt Nam muốn trưng bảo tàng hay xẻ thịt làm lược chải đầu hoặc bán ve chai thì cứ tự tiện, rằng các nước có liên quan hay không có liên quan muốn vào nghiên cứu chụp hình phải đóng phí cho Việt Nam và trả tiền cho Việt Nam nếu muốn trục vớt mua lại xác tàu, rằng mọi dịch vụ phải hợp đồng sử dụng lao động Việt Nam, rằng các chính quyền các địa phương ven biển không cho dân lập đền thờ như xưa kia tổ tiên Việt đã thờ mấy tướng Tàu xâm lược nước ta bị chém bay đầu vì địa ốc ngày nay không còn dư dả gì nhiều để phí phạm vô bổ như thế do đã có quá nhiều resort ven bờ biển, v.v. Đồng thời, Việt Nam nên phát triển lực lượng cứu hộ biển, lực lượng khắc phục sự cố tràn dầu mặt biển do tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng khắc phục hậu quả phóng xạ do vũ khí rò rỉ dưới đáy biển từ tàu ngầm Trung Quốc và hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm, lực lượng thu giữ khí tài quân sự từ đáy biển, lực lượng cảnh sát giao thông biển để giữ trật tự biển sau khi hàng không mẫu hạm Trung Quốc bị trời đánh hay người đánh chìm làm vô số tàu buôn và tàu container bị vướng chân vịt không cục cựa gì được như đã nêu trên, lực lượng tuyên truyền thuyết phục các nước khách hàng đừng sợ cá biển Việt Nam xuất khẩu nhiểm độc tàu Tàu, và lực lượng đoàn tàu du lịch hạng sang để làm dịch vụ đưa đón hàng vạn người Trung Quốc hàng năm đến Biển Đông khu vực Trường Sa thả vòng hoa và thức ăn cúng tế hồn tử sĩ Tàu.

Thêm vào đó, còn phải tính đến trường hợp hàng không mẫu hạm Trung Quốc không bị trời đánh hay người đánh chìm nhưng lại giương cờ trắng đầu hàng Việt Nam, xin tỵ nạn chính trị tại Việt Nam, do rất nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc cầu mong Trung Quốc xua hải quân đánh Việt Nam để ngay khi hải quân Trung Quốc tiến vào Biển Đông họ sẽ đồng loạt nổi loạn khắp nơi tấn công Bắc Kinh, tiêu diệt lực lượng quân đội ít oi còn lại để xé toang nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành ít nhất năm quốc gia mới, khiến đoàn quân viễn chinh Tàu xâm lược không chốn dung thân trên chính chiếc lưỡi bò. Vì vậy, Việt Nam phải quy định ra sao đối với tình huống tỵ nạn chính trị chưa có tiền lệ này, có chấp nhận cưu mang cho nhập quốc tịch những ngàn người Mác-xít Mao-ít bất hạnh đã từng có vinh hạnh duy nhất trong đời là làm cháu chắt chít chụt chịt của Ông Cố Tổ Trọng Thủy xưa kia từng được nằm chung giường với Bà Mỵ Châu chăng, hay học cách tiền nhân ban áo quần lành lặn và lương khô (còn trong hạn sử dụng) cho đoàn xe Hyundai (50 chỗ có máy lạnh) đưa đến tận biên giới Việt-Trung trao trả họ cho những chính phủ cầm quyền mới ở bển để bên ấy long trọng đón về tùng xẻo lấy thịt nấu bánh bao như bọn mọi Thủy Hử xưa kia, v.v. và v.v.

Vô số những vấn đề mà nếu áp dụng Xác Xuất Học sẽ thấy không phải không có khả năng xảy ra, khiến Việt Nam không thể không quan tâm đến, và không thể không sớm đề ra đầy đủ.

Chỉ vì cái đại ngu và đại điên của đại gia Trung Quốc mà Việt Nam ta phải tốn tiền lo tổ chức đủ thứ, e rằng GDP nước nhà lại bị tác động khó nhích lên cho sớm xứng mặt siêu cường trong thiên hạ, do các khoản thu từ dịch vụ du lịch Biển Đông thời hậu mẫu hạm khó đủ bù chi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 12-9-2011 tức ngay trước kỳ họp thứ nhì của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

China: From the Greatest to the Worst

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-6-2016

A) Từ Vĩ Đại

Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi…tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

B) Đến Tệ Hại

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi”, vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda est China!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú:

– Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 27-6-2011 tức vào kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Oderint, dum metuant = Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi. (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên)

Censeo China delendam esse = Delenda est China = Tàu Phải Bị Tiêu Diệt (trích hài kịch Tabilu của Tannhauser Beowulf Thor, năm 2011 sau Công Nguyên)

Sự Thật Về Thực Phẩm Tàu

Kỳ Tích và Kỳ Quái

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-6-2016

Bài viết này của Hoàng Hữu Phước, song không được viết với phong cách Hoàng Hữu Phước, nghĩa là lần này sẽ không có mào đầu dẫn nhập thứ tự lớp lang bài bản của chân phương từ trái qua phải, từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, hay của phá cách vòng vo tam quốc quen thuộc, mà lại đi ngay vào kết luận ngay nơi đặt bút viết đoạn đầu tiên, đó là: Mọi Sự Xảy Ra Liên Quan Đến Thực Phẩm Trung Quốc Là Do Một Chữ “Đói” Mà Ra.

Nhớ khi xưa, chính phủ Cộng Sản Việt Nam lúc vừa đánh đuổi quân Mỹ và quân Cộng Hòa chạy tan tác tan nát tan vỡ tan tành không còn manh giáp, cả nghĩa đen và nghĩa bóng, xong là đã phải đương đầu với một vấn nạn khủng khiếp mà chưa bất kỳ một chính phủ nào trên trái đất này từng kinh qua, đó là cùng lúc bình định cương thổ, tổ chức thống nhất giang sơn, quản lý tù binh và hàng binh, quán xuyến công tác hành chính nhân khẩu, thống kê cai quản kho tàng, và bảo vệ thành quả cách mạng, v.v. và v.v. Ngay sáng 01-5-1975, hàng ngàn người ào ạt xông vào cướp tất cả các kho hàng từ Cảng Khánh Hội đến bên kia Cầu Tân Thuận, và hàng núi bao gạo Mỹ (tức gạo Thái Lan) được chất đống hai bên lề đường (nay là đường Nguyễn Tất Thành) mà người bán là những thanh niên mình trần trùng trục, quần dài xăn đến gối có mà quần đùi cũng có, mặt mày đa số giống dân anh chị ở khu Tôn Đản khét tiếng (mà Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn cũng phải chùn tay) nhưng lại rất…“nhân từ” khi bán tháo bán đổ mỗi bao gạo 50 ký với giá bọt bèo mà ngưởi mua thì tùy hỷ muốn trả bao nhiêu tiền cũng được, chẳng qua đó là thứ có từ hôi của và phải bán cho nhanh trước khi “mấy ông Việt Cộng” đến!  Dân Sài Gòn từ các quận đổ xô về đấy để mua thứ châu ngọc mà thời cuộc chưa rõ sẽ có còn dồi dào. Và với một đất nước bị tàn phá thảm hại vì chiến tranh, cộng với sự tuyên truyền của tâm lý chiến Mỹ-Cộng Hòa về sự tàn ác kinh hoàng của Cộng Sản khát máu đã thay vì làm quân đội Cộng Hòa quyết tâm tử thủ lại khiến họ run cầm cập sợ hãi quýnh quáng vất súng đầy đường khóc lóc mếu máo chạy bộ tán loạn về Miền Tây gây khủng hoảng dây chuyền khiến bao dân cày bỏ đồng ruộng lũ lượt ra khơi vượt biển. Chủ điền cùng tư thương thì hoặc nhanh chân biến mất hoặc chậm lụt phải ẩn mình ngụy trang vô sản. Chủ trương chính sách thì tất nhiên cần nhiều thời gian sàng lọc, thử nghiệm, chiêm nghiệm, phân tích, tổng hợp, mới biết tính hiệu quả và tính an dân. Còn hậu quả tất yếu nhãn tiền là canh tác lúa gạo và sản xuất hàng hóa đều đình đốn, biến việc lo toan cái ăn cho toàn dân trở thành chuyện quốc gia đại sự cho Ủy Ban Quân Quản. Cái tài của những người chiến thắng lại được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quản trị và tổ chức khâu phân phối hiệu quả nhất thế giới trên phạm vi toàn quốc (mà ngày nay khi ấm no sang cả đủ đầy, người ta chảnh chọe ngoảnh nhìn về quá khứ, đưa ngón tay út chỉ về nó mà trịch thượng kháo dè bỉu khinh khỉnh trịch thượng mắng rằng: “ấy là cái gọi là thời bao cấp đấy”), vừa quyết định gieo trồng cây lương thực ngắn ngày là bo-bo để nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước. Đó là một kỳ tích xuất phát từ bản lĩnh đối phó, trí thông minh, và lòng yêu nước thương dân của những nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Còn nhớ khi xưa, nước Tàu sau khi thống nhất trở thành đất nước rộng lớn, đông đúc dân cư đến độ thành nạn nhân mãn, phải tiến hành bao cuộc chiến tranh xâm lược để (a) nếu may ra thắng trận thì có thêm lương thảo kho tàng đem về nuôi cả tỷ cái bao tử bự chà bá, còn (b) nếu rủi thất trận thì cũng không sao vì chiến thuật “biển người” mỗi khi xung trận giáp lá cà cũng giúp ngốn bớt sổ lượng lớn dân cư khỏi mất công nuôi. Điều khiến các vua Tàu ham đánh đấm là vì nhờ cái “uy khủng khiếp” của Tàu mà ai có nhỡ dại đánh thắng Tàu thì cũng phải “biết điều” mà lúp xa lúp xúp chạy qua Tàu quỳ lạy xin lỗi vừa xưng “Thần” vừa cung kỉnh dâng tiến cống với bao trân châu bảo ngọc, ngà voi sừng tê, trinh nữ quốc sắc thiên hương, kỳ nam, thảo dược, chiêm tinh gia, thầy thuốc, thợ thuyền và nhà nho. Chỉ có một lần duy nhất (ấy là tính đến năm 2012 thôi, chứ từ 2013 về sau thì ắt sẽ có thêm một hay nhiều lần khác) là có ông họ Lý tên Kiệt chữ lót là Thường (may mà không trùng tên với thằng nhãi ranh Tàu tên Lý Liên Kiệt toàn múa võ xạo trong phim kiếm hiệp tào lao), không những “xâm lược” xua quân tràn ngập đất Tàu, tiến như chẻ tre, đến nỗi hàng trăm dặm không nghe tiếng người, chớ còn tiếng chó, san thành bình địa bao thành quách của Tàu, suýt nữa đã thu hồi giang sơn về một mối để ngày nay Việt Nam vĩ đại có bức dư đồ kéo dài từ Động Đình Hồ phương Bắc xuống tuốt Mũi Cà Mau ở cuối phương Nam. Song, đất đai Tàu quá rộng, dân Tàu lại quá đông, mà phàm hễ cứ đông dân thì dị nhân cũng lắm mà quái thú cũng nhiều, cứ như bọn Lương Sơn Bạc đa số là quái thú giết người như ngóe làm nhân bánh bao cũng đủ biết cái đói đã hoành hành nước Tàu từ lâu, lâu lắm, đến độ vua chúa cũng ăn thịt người hoặc thịt từ đùi non của quan hầu cận, ai tò mò muốn kiểm chứng thì cứ xem Đông Châu Liệt Quốc với lại Xuân Thu Oanh Liệt thì rõ mười mươi. Đến khi bị xiêu vẹo do Bát Quốc Liên Quân chiếm Bắc Kinh rồi bị Nhựt Bổn chiếm đóng toàn bộ cương thổ biến dân Tàu xơ xác như Cái Bang, may gượng dậy được nhờ khôn khéo giương cao ngọn cờ vinh diệu của Cộng sản để núp vào đấy mà giải phóng đất nước, song thói quái thú vẫn còn nên hễ đói là Tàu lại làm càn. Lấy việc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam và việc sử dụng bọn Khờ-Me Đỏ tàn sát tận diệt dân tộc Kampuchea với mưu đồ biến Campuchia thành lãnh thổ của Tàu nhằm hoàn tất đại cuộc dở dang mà tiên tổ Tàu chưa ai làm được là chiếm đóng Việt Nam nhằm cướp gạo Cửu Long về nuôi dân Hán tộc làm bằng chứng thì rõ ràng là Tàu đã cực kỳ khủng hoảng vì nạn đói. Từ Bắc đánh xuống không xong, phía Tây chọt qua cũng bại, Tàu bèn lè lưỡi bò tuyên bố liếm hết Biển Đông, chắc sẽ đánh chiếm Việt Nam từ phía Đông, còn nếu lại đại bại y chang tiên tổ thì sẽ lè xuống chiếm Malaysia, Singapore, Thái Lan để đánh chiếm Việt Nam từ phía Nam để một công đôi ba việc: khó chiếm Việt thì sẵn đường thò tay đánh Thái vì đó cũng là vựa gạo ngon lành. Do cái đói ám ảnh triền miên suốt đời suốt kiếp, trong lúc chưa chiếm được Việt Nam, nước Tàu đã có những cơ sở sản xuất thực phẩm “siêu tốc” để đủ số lượng mà “nuôi dân”, chẳng hạn như chế tạo sữa bột (điển hình là Tập đoàn Sữa Sanlu tức Tam Lộc, tỉnh Hà Bắc) bằng cách lấy nguyên liệu melamine vốn dùng chế đồ gia dụng ắt làm trẻ em Tàu vừa hết đói vừa có bao tử cứng như chén bát sẽ ngốn ít thực phẩm hơn; chế tạo thực phẩm tăng trưởng siêu nhanh để nuôi cha mẹ của mấy em bé uống sữa Sanlu, khiến xuất hiện dưa hấu nổ tanh banh lốp bốp nhuộm đỏ cánh đồng vì lớn nhanh căng phồng quá sức như bong bóng, trà sữa trân châu có trộn cao phân tử polymer để tăng độ dai, bún tàu bằng bộp bắp trộn thuốc tẩy trắng chứa chì, rau cải chua ướp muối công nghiệp, nước tương làm từ tóc người thu được từ xác ở các bệnh viện, trứng gà giả, heo siêu nạc, v.v. Cái tài của những người lãnh đạo một đất nước khổng lồ đã được thi thố khi vừa sử dụng kinh nghiệm quái gở của thời mông muội (vì muốn chứng tỏ công nghiệp luyện kim nước nhà đứng đầu thế giới mà Tàu thời Mao Trạch Đông đã bắt từng hộ dân phải nấu sắt ngoài sân để qua đó chứng minh Tàu có số lượng “nhà máy luyện kim” nhiều nhất thế giới), vừa sử dụng chiêu “siêu” (như siêu nạc, siêu dưa hấu, siêu sữa, v.v.), vừa lập lại thói quen của phường trộm cướp là…nhìn dáo dác xem ở gần đấy đâu đó có gì thì đến quơ lấy đem về (như lè lưỡi chiếm Biển Đông) để hy vọng sẽ nhanh chóng có số lượng lương thực cần thiết bảo đảm không có nạn đói xảy ra tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước Tàu. Đó là một lối kiếm ăn kỳ quái hèn hạ xuất phát từ bản tính lưu manh xỏ lá mất dạy mỗi khi phải đối phó với nạn đói của những nhà lãnh đạo nước Tàu đội lốt Cộng sản.

Kết luận: xin vui lòng đọc ở đoạn mở đầu.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên đã được đăng trên blog.com ngày 03-12-2012 tức vào năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Bài Thơ Tản Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-6-2016

Tôi có đến ba điều may mắn mà biết chắc chắn là số người cùng có một lúc cả ba điều này chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón, đó là (a) được ba tôi cho đọc truyện kiếm hiệp cùng dã sử Tàu “từ nhỏ” tức lúc 6 tuổi, (b) nhận ra ngay cốt lõi vấn đề “từ nhỏ” ngay lúc đọc các truyện kiếm hiệp cùng dã sử ấy tức vào lúc 7 tuổi, và (c) quyết định quẳng các quyển kiếm hiệp và dã sử đó qua một bên lúc tuổi còn trong giai đoạn “từ nhỏ” ấy tức vào lúc 8 tuổi; nghĩa là nhờ đọc từ nhỏ nên say mê đọc ngấu nghiến khiến hết các pho, nhờ phát hiện vấn đề từ nhỏ nên khôn hơn người lớn ở chỗ quẳng tất từ nhỏ để không phí phạm thời gian cho những điều vô bổ, tai hại khôn lường cho kiến thức mai sau, đặc biệt trong sùng bái lộn bọn người Tàu, hoặc tâm trí tẩu hỏa nhập ma. Hôm nay xin sẻ chia cùng các bạn sự thật về võ thuật Tàu và y dược Tàu để các bạn chặn ngăn chuyện cho con cái luyện võ Tàu và dùng thuốc Tàu chữa bệnh vốn cực kỳ nguy hiểm lắm đó đa.

Trước hết, cần lược qua mấy cái tên gọi của những cái gọi là môn phái võ thuật của Tàu, mà từ ngàn xưa đã cho thấy tổ tiên họ đã cực kỳ…tiến bộ đối với vấn đề nhạy cảm về giới tính và nhân quyền nên mới đẻ ra các môn phái dành cho giống đực như Võ Đang, giống cái như Nga My, giới ăn mày ăn xin như Cái Bang, và giới tu hành như Thiếu Lâm mà bọn nào dù nam hay nữ, ăn mày hay tu hành, cũng giết người như ngóe; ngoài ra còn thêm mấy môn phái có tên trong Tiếu Ngạo Giang Hồ như Hoa Sơn, Thái Sơn, Tung Sơn, Hằng Sơn, và Hành Sơn, với bí kíp Tịch Tà Kiếm Phổ của Hoa Sơn dành cho giống trung tính, khiến các phái hệ võ thuật Tàu đủ loại cho mọi hạng người, thượng cám mà hạ cũng cám. Điều này chỉ nêu bật một điểm quan trọng: tổ tiên Tàu toàn thuộc loại sát cuồng, dù tu hay tục vẫn đeo gươm xách gậy nhởn nhơ, lấy đánh nhau và chém giết làm kế sinh nhai hay tranh giành ngôi võ lâm bá chủ: kẻ cùng đường mạt vận thì mang danh cướp cạn, kẻ thắng thế chiếm gom nhiều kim ngân châu báu lấy thịt người làm nhân bánh bao thì được tiếng anh hùng Lương Sơn Bạc, bọn chuột nhắt thời Tống loạn thì tự phong Ngũ Thử, lũ theo đóm ăn tàn thì có danh Thất Hiệp truyền lưu, khiến rối loạn cương thường, đem điều xạo sự tung hê thành hiệp nghĩa. Do bản sắc dân tộc Tàu là man trá, cha chiếm vợ của con, hoàng tử sát hại phụ vương, anh em tranh đoạt ngôi vua, luân thường đạo lý đảo đảo điên điên, khiến xú khí nồng xông thượng giới buộc trời sinh ra một Khổng Khâu, những mong thánh nhân dẫn dắt nẽo chánh đường ngay, nào hay dân tứ xứ ngày càng thêm loạn dữ. Người biết chữ thì nhiều như sao đêm Trừ Tịch, kẻ gian ngu lại ít như cát sa mạc Tân Cương, nên thầy-trò chỉ là cái sự ghi ghi chép chép tại sách kinh, chứ thực tế nào đâu tồn tại, khiến trò thường xuyên làm phản, còn thầy kia phải lo thủ thế phòng thân, có mười chiêu chỉ dạy có bảy rưỡi tám đường, đem diếm một hai để phòng trò đảo chính. Võ thuật mà như thế thì truyền lưu theo thế kỷ, có còn chi những chưởng lực, nội công; phi thân kia là chuyện xạo thế nhân, thần công lực còn thua môn đấm bốc. Để có đủ học trò nuôi cái miệng, thầy phải chế bao thế võ quái kỳ, khiến học trò ngẩn ngẩn với ngơ ngơ, rồi thầy phán: ấy nhập ma tẩu hỏa. Thế mới biết võ Tàu là xạo sự, giỏi sao lại tan tác trước súng Tây? Bát quốc kia gồm Anh, Mỹ, Đức, Ý, Nga; cùng nước Nga, nước Pháp với Áo-Hung, đánh một trận Võ Đang cùng Thiếu Lâm còn không phi thân trốn kịp, khiến Bắc Kinh bị dày xéo bởi những người không môn phái, chẳng chưởng lực nội công gì sất.

Chuyện tương tự cũng xảy ra trong y thuật, thế nên mới có nhiều thầy toàn tự học mà nên, còn học trò chỉ để vặt sai, đứa có chí cũng phải mày mò hiểu tìm hay chôm chỉa mà thôi. Bọn ngự y thì chỉ chuyên phục dịch chuyện dục dâm dù vua là nữ hay nam, nên thần phương ắt chỉ giỏi lấy dâm dương hoắc trộn ngâm cùng bửa củi.

Nói tóm lại, từ nhỏ người viết bài này đã đặt ra nhiều câu hỏi: bọn hiệp khách hành làm nghề ngỗng chi mà cứ vào quán rượu là ném ra đỉnh vàng nén bạc, hay chỉ toàn bảo kê vũ trường tửu điếm hoặc hộ tống thương đoàn bỏ học hành lang bạc đó đây, nào phải gương học hỏi của thanh niên; võ sư chưởng môn diếm bớt bí kíp võ công, thì cách chi còn gì cho hậu thế! Còn chuyện dạy võ cho môn sinh người Việt ắt là chuyện tiếu lâm, không những vì Tàu có còn chi mà dạy, mà còn vì ác tâm tàn diệt giống nòi Việt ta, nên có dạy ắt toàn những chiêu làm nhập ma tẩu hỏa.

Nói tóm thêm lần nữa, người viết bài này sang Bắc Kinh vào thời điểm Tàu chuẩn bị tiếp nhận Hong Kong, có đến thăm một “viện Đông Y”, nơi các “thần y” trẻ măng mắt nhìn láo láo liêng liêng khách nữ, tay bắt mạch, miệng phán lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng. Qua phiên dịch mới biết các “thầy” phán cả đoàn người Việt ông nào cũng bị tim mạch, tiểu đường, mỡ máu ngập tràn, thận suy làm dương liệt; còn các chị ai cũng đều âm hư thận hỏng, khiến da kia ắt sẽ sớm xạm đen, còn xương nọ thế nào cũng loãng lỏng le. Người viết tức cười ngoe nguẩy bỏ ra ngoài, bị một “thầy” chạy ra cự nự, hỏi vì sao đến mà chỉ đứng xem không chịu khám bịnh bốc thuốc thần y, nhìn bộ tịch giống báo tình (…tình báo) từ xứ Việt, rồi gây sự lốp bốp còn hơn bắp trong chảo nóng, khiến anh phiên dịch phải hù nói với “thần y” rằng người viết bài này là võ sư chưởng môn nhân của Việt Phước Đạo nên dáng người to cao vậm vỡ 84 ký mà thịt toàn nạc không chút mỡ mòng, không dùng chất tạo nạc, chẳng cần đến dâm dương hoắc mần chi, khiến “thần y” khiếp sợ bị 84 ký đè, e thuốc thánh của Tàu cũng bó tay đành bỏ cuộc. Tôi về nước Việt, bảo nhân viên mình rằng nước Tàu rất đẹp, rằng họ nên nhanh chân lẹ tay qua đó mà thăm, vì sau chừng từ 2 đến 4 năm, nơi ấy sẽ không còn ai đoan chính.

Nay ngẫm lại xứ mình có bao xưởng bịnh, với bảng treo “Phòng Khám Trung Y”. Bạn hãy tin vào thảo dược nước nhà, chứ Tàu họ có còn gì đâu mà tin với tưởng. Thầy của họ có sách chi mà để lại, cỏ cây nguyên liệu họ có còn lành còn tốt gì đâu, có khi lá với rễ cây cũng toàn chế từ cao su cao áp, nên đừng để tiền mất tật mang, đem của cải tặng dâng phường xạo sự.

Đôi dòng tâm huyết viết theo thể tản văn, dưới trời cao vằng vặc ánh trăng sao, để ngâm vịnh nhận chân giá trị: rằng bất cứ gì thuộc y với võ, đừng rớ vô mấy cái của Tàu, giản đơn vì chúng chỉ toàn dóc tổ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 17-6-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Siêu Nhân và Tồi Nhân

Điểm Giống Nhau và Khác Nhau

Superman vs Bottom-Rate Man

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-6-2016

Trên Trái Đất của Thái Dương Hệ này trong vũ trụ bao la kia thuộc Dải Ngân Hà đó, có hai quốc gia giống nhau như đúc nhưng đồng thời cách nhau một trời một vực vì một ở trên đỉnh cao chót vót hào quang còn một lại ở tận đáy sâu thăm thẳm bần cùng: đó là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, mà ở đây vì lý do tiết kiệm chữ nghĩa – vì tiết kiệm là quốc sách – sẽ gọi tắt là Mỹ với Tàu. Thế thì điểm giống nhau y hệt là ở chỗ nào cơ chứ?

Mỹ là siêu cường miên viễn. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Mỹ. Tức thật. Ngay cả đồng minh như Anh như Pháp cũng chống Mỹ, xạo xạo hữu hảo ngoài mặt chứ chơi xỏ được là chơi ngay. Bỏ tiền tỷ tỷ đô để diệt bao chế độ rồi ủng hộ dựng xây bao chế độ mới, để rồi vài chục năm sau các chế độ ấy bị sụp đổ vì toàn bọn độc tài gia đình trị khét tiếng từ el-Haj Mohammed Suharto của Indonesia, Park Chung-hee của Đại Hàn Dân Quốc, Muhammad Hosni El Mubarak của Ai Cập, v.v. bị ghét bỏ bởi dân chúng của họ; hoặc có chế độ trở mặt phản phúc như Ngô Đình Diệm của Việt Nam để Mỹ phải gạt lệ cá sấu cho phép sát hại diệt tiêu; hay chế độ Nguyễn Văn Thiệu chơi xỏ một mặt lấy ma túy từ Tam Giác Vàng giết lần mòn binh sĩ Mỹ, một mặt làm bể kế hoạch rút quân trong danh dự của Mỹ bằng cách phá Hiệp Định Paris, một mặt trước khi đào tẩu đã khóc bù lu bù loa trên TV công khai mắng nhiếc Mỹ hèn hạ bỏ rơi đồng minh, v.v. và v.v.; khiến người Mỹ không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Chúa Trời bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, Holywood đẻ ra nhân vật Superman cứu nguy nhân loại, được loài người xưng tụng anh hùng, đẹp trai hết biết, mình mẩy đầy sơ với múi, hùng mạnh vô song, cứ như là thiên sứ. Người Việt ta gọi anh ấy là Siêu Nhân. Những thứ tương cận với Siêu Nhân thuộc giống đực còn có Người Dơi, Người Nhện, Thần Sấm (Thor), Người Cao Su, Người Điện Quang, và Người …Xanh Lè (Hulk), vân vân và vân vân, và để xứng đôi vừa lứa với các đấng anh hùng ấy, Holywood rặn đẻ thêm giống cái gồm các nàng Nữ Siêu Nhân, Nữ Người Dơi, v.v và v.v; biến nước Mỹ thành nơi duy nhất trên thế gian này mà các thiên sứ uy dũng từ thượng giới đều tập trung về tất. Tuy người dân khắp nơi trên thế giới vẫn chống Mỹ, họ sẵn sàng bỏ tiền túi ra để chầu chực chờ xem các phim ấy, khiến nước Mỹ cũng được an ủi rằng văn hóa của ta lấn át văn hóa của họ, làm bạn Pháp mày ê mặt ủ chịu trận te tua.

Tàu là siêu cường mới nổi. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Tàu. Tức thật. Ngay cả các nước đại siêu cường phải chú mục há hốc mồm nhỏ nước miếng ràn rụa hai bên mép lỏ mắt nhìn trân trân túi tiền đô nặng trĩu của Tàu, ve vãn Tàu bỏ tiền ra cứu độ chúng sinh qua cơn sóng gió mà tiếng hàn lâm gọi là suy thoái kinh tế toàn cầu. Vậy mà tiền thì chúng nhận, mà mồm vẫn không ngưng mắng tổ chửi tiên. Thế mới tức chứ lị. Ngay cả gia tài văn học Tàu có mấy bộ sách bấy lâu nay khoe là kỳ quan thiên cổ cũng bị một gã nọ tên gọi Lăng Tần ở cái tiểu quốc gì gì ấy mắng cho là đồ bá láp, gọi các anh hùng Lương Sơn Bạc là bọn cướp cạn bán bánh bao nhân thịt người mới tức chớ! Thế là Tàu ta do không có Tàulywood như Holywood nên vén áo khoe bắp thịt tay, tụt quần khoe bắp thịt chân, dùng sức cơ bắp quẫy đạp tung tóe nước Biển Đông như để dằn mặt toàn vùng Đông Nam Á rằng ấy ao ta, lấn đất Ấn Độ như để chứng minh kinh Phật tự có trên đất Tàu chứ đâu phải do con khỉ con heo quảy gánh vác về. Bỏ tiền mua hàng không mẫu hạm của Ukraine để bị cười vô mặt là sắm thứ thổ tả tơi tả tả tơi. Làm gì cũng bị cười chê, khiến Tàu không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Ngọc Hoàng Thượng Đế bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là vừa đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, vừa tức quá hóa khùng, đói quá hóa dại, Tàu ta bèn rao bán hàng trong nhà người khác, gọi thầu khai thác dầu hỏa mấy lô thềm lục địa của Việt Nam, khiến thế gian lần này được phen cười lớn, rúng động Thiên Cung, rung rinh Thủy Giới, khiến Thượng Đế Ngọc Hoàng phải cúi xuống mà xem, bật cười văng nước mắt nước mũi thành mưa to gió lớn ngập lụt Bắc Kinh; Long Vương Đại Hải ngóc đầu lên nghía, té cười đập mình xuống nước, gây sóng thần ghê gớm, mở miệng mắng “Tổ Cha Mi” bị nước biển tràn vào làm sặc họng, tạo thành âm thanh lạ hoắc mà người đời nghe lộn thành…tsunami.

Thế đấy. Mỹ và Tàu giống y nhau ở chỗ cả hai bị thiên hạ ghét bỏ.

Và thế đấy. Mỹ và Tàu khác nhau ở chỗ Mỹ hốt bạc và văn hóa vang danh hoàn vũ, còn Tàu mất tiền và ô danh toàn thế giới.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tiện Nhân.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tồi Nhân.

Và do tất cả các từ điển tiếng Anh trên toàn thế giới đều không có từ phản nghĩa của “super” tức “siêu” của siêu nhân superman; và do cái sở học của Trung Hoa đã đổ hết về Việt Nam nên Hoàng Hữu Phước tôi đây sáng chế ra chữ tiếng Anh “bottom-rate man” (có thể áp dụng cách tạo khác của 17 cách tạo tính từ để cho ra “bottom-rated man” hay “bottom-ranked man” hoặc “good-for-nothing wretched” tức … “đồ vất đi” thì cũng được) để có Tiện-Tồi-Bết-Bát-Vất-Đi-Nhân làm từ phản nghĩa cho Siêu Nhân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài trên được đăng lần đầu ngày 24-7-2012 tức vào năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Đả Đảo Xi Jinping! 01-12-2015

Sát Tàu  07-7-2014

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình  2011

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc! 30-12-2015

Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì J 18-6-2014

Dương Khiết Trì Run Sợ  22-6-2014

Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải  30-8-2014

Tàu Hứa Không Xâm Lược Các Nước Láng Giềng  19-10-2015

Ngộ Số

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-6-2016

Trong bài viết Sự Thật Về Võ Thuật và Y Thuật Tàu, tôi có viết về những phát hiện của tôi lúc lên tám lên mười về bản chất của các “anh hùng nghĩa hiệp”, các môn phái, và các “thần y” Tàu qua những quyển truyện kiếm hiệp và dã sử Tàu.

Cũng qua những quyển sách tổ xạo đó, tôi vừa không hiểu tại sao các tác giả truyện kiếm hiệp Tàu lại tự bôi tro trát trấu lên dân tộc mình, vừa lấy làm lạ khi đọc đến những đoạn về các trang kiếm khách nghĩa dũng Tàu mỗi khi dừng bước nghĩ chân bên bờ suối là cởi áo (và quần) ra để bắt chấy rận, khiến tôi không thể không buộc phải hiểu như sau:

1) Tổ tiên người Tàu ắt ít tắm (do truyện kiếm hiệp Tàu hay tả cảnh tuyết lạnh giá băng, từ đó suy ra họ ít tắm rửa), lại lột da thú phơi khô để khoác lên người giữ ấm, khiến người đọc truyện rất dễ liên tưởng đến một chuỗi những tĩnh từ kinh hãi của … đầy ghét, hôi hám, mốc meo, lác liếc, dơ dáy, bẩn thỉu, v.v.

2) Truyện kiếm hiệp Tàu hay có cảnh huynh huynh muội muội nam nam nữ nữ cùng môn phái đi chu du khắp chốn võ lâm, ăn chung món (đùi thịt nướng), nốc chung bầu (rượu), ngủ chung lều, đắp chung chăn (da lạc đà), nhưng cực kỳ đoan chính đức hạnh không bao giờ có chuyện sờ mó dục tình dan díu với nhau; ngỡ đâu do Ông Khổng Khâu dạy đời thành công, hóa ra tại bị vì bởi lý do như đã kể trong số 1 ở trên khiến họ gần trong gang tấc mà thành quan san vì ợ hơi liên tục và mạnh ai nấy bịt mũi mà ngủ.

3) Cũng vì các kiếm khách thường xuyên bắt chấy rận nên có thói quen hay đếm số xem thành tích hôm nay bắt được mấy con và cho vào mồm cắn nhai mấy con; mà phàm kẻ cắm đầu học như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ chữ” tức là “cuồng chữ” tức là hóa bịnh tâm thần mở miệng lảm nhảm toàn là ngữ với từ rời rạc không đâu vào đâu, nên đấng cắm đầu đếm chấy rận như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ số” tức là “cuồng số” tức là hóa rồ mở miệng là lảm nhảm toàn số, mặc định rằng nếu không có số thì không thành gì sất, không sống được, không phải anh hùng, khiến sau vài ngàn năm tiến hóa biến thành gien trỗi, và hậu duệ Tàu ngày nay mở miệng mà không có số quyết không thành văn vẻ.

Cái “ngộ số” ấy được thể hiện như sau:

Đối với các pho dã sử hoặc kiếm hiệp thì Tàu luôn cố nhét số vô, chẳng hạn Thập Tam (13) Thái Bảo, Thập Tứ (14) Nữ Anh Hào, Thất (7) Hiệp Ngũ (5) Nghĩa, Thập Bát (18) Liên Hoàn Cước, Tứ (4) Thư Ngũ (5) Kinh, Ngũ (5) Hổ Bình Tây, v.v., thậm chí chỉ có một ngón tay trỏ xỉa vô mặt người ta vậy mà cũng phải cố hê thành con số gọi là Nhất (1) Dương Chỉ, mới thấy cái “ngộ số” kiểu Tàu trên đời có một không hai.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Nga thì Tàu có 16 chữ vàng: “Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời”.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Việt thì Tàu có 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.”

Hữu nghị thì là hữu nghị, cớ gì phải chờ ở sát vách làm “láng giềng” mới hữu nghị, nên rõ ràng là Tàu bị bí. Với Nga thì cái “hữu nghị” ấy kèm theo “muôn đời” nên ắt có số đếm hẳn hoi (muôn = 10.000 đời), còn với Việt thì Tàu thấy không có số đếm, e vừa bất công với Việt vừa tổn hại uy danh Tàu (“ngộ thích số lắm đa” viết tắt thành…“ngộ số”) nên Tàu mới đẻ ra Ngũ Long tức 5 con rồng tức 5 đại cơ quan chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để tỏ tình thương mến thương.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ để chữa chứng nghiện hút thuốc người ta cho người nghiện hút những điếu thuốc không có hoặc có ít nicotin, tức chung quy cũng là hút thuốc; thì để chữa chứng ngộ số người ta cũng cho người Tàu mấy con số để chữa bịnh, bởi vậy mà có vụ Bát (8) Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh dạy cho người Tàu một bài học về số 8, khiến Từ Hy Thái Hậu phải lăn lê bò toài chuồn khỏi Tử Cấm Thành, dẫn đến sự cáo chung của triều đại phong kiến Tàu.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ ngôn ngữ Tàu dỡ ẹc nên phim Tàu thua phim Hàn vì tiếng Hàn đầy âm điệu bổng trầm nũng na nũng nịu, đặc biệt tiếng Tàu thua xa tiếng Việt nên tiếng Hán Việt hay hơn tiếng Tàu, và ngoài bài học về số 8 mà Tàu đã nhận từ… Bát (8) Quốc khiến nước Tàu bại trận, họ cũng sẽ bị ngôn ngữ Việt (nhất là tiếng Việt miền Nam) làm cho xiểng liểng vì Ngũ Long đọc y chang Ngủ Long, tức là 5 con rồng biến thành 1 con rồng mà lại là rồng nằm ngủ khò thì khác gì con giun đất làm món ăn cho gà mái Việt, báo trước 5 đại cơ quan ấy thân sớm chìm đáy nước Biển Đông.

Vì chứng bịnh “Ngộ Số” do chính tôi phát hiện nhờ đọc truyện kiếm hiệp Tàu nên biết nó xuất phát từ tổ tiên Tàu di truyền đến hậu duệ Tàu, nên theo phép hàn lâm phương Tây đối với các vấn đề học thuật hàn lâm, tôi thấy mình có quyền đặt tên cho chứng bịnh thuần Tàu ấy để nhân loại sử dụng chung. Theo kiểu Tây, khi phát hiện vi trùng mới, người ta lấy tên nhà y học phát hiện để đặt luôn cho vi trùng ấy. Nhưng Tàu tệ hại hơn vi khuẩn vi trùng nên tôi chẳng dại gì lấy tên mình đặt cho chứng ngộ số của Tàu mà phải chế tạo từ mới. Do tiếng Anh có hai tiếp vĩ ngữ tức đuôi từ để chỉ bịnh thần kinh là phobiamania, với phobia nhẹ hơn và mania trầm trọng hơn, nên dân phương Tây quái đản có mấy chứng kỳ kỳ cục cục như có nhiều người tự nhiên khiếp sợ số 4 thì gọi là bị chứng tetraphobia, sợ số 13 thì gọi chứng ấy là triskaidekaphobia, còn sợ hãi số 666 thì gọi là chứng bịnh hexakosioihexekontahexaphobia, v.v., trong khi chứng “ngộ số” của Tàu thì còn hơn cả bịnh, do dám bày ra cả Ngũ Long để “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông, nên tôi sẽ đặt tên cho “Ngộ Số” là … sinonumerobadaboummania là tổ hợp của Tàu+Số+Nổ+Bịnh tức chứng bịnh luôn nổ về số của Tàu vậy.

Ngộ thay ngộ thay.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng trên blog.com ngày 27-6-2012

Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

Bằng Cách Dạy Binh Sỹ Biết Rằng Sát Hại Thường Dân Là Phạm Tội Ác Chiến Tranh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-6-2016

Tôi, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đầu nhiệm kỳ XIII đã viết bài sau đăng trên Emotino.com. Nay xin đăng lại trên blog này để sau hai mươi năm nữa mọi người trong thiên hạ nghiệm xem ai trong số những binh sỹ Mỹ phạm tội ác chiến tranh bị nêu tên trong bài viết này có sẽ được thưởng Huân Chương Sao Đồng, có trở thành Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, có là ứng cử viên Tổng Thống Mỹ, và có là Chủ tịch Trường Đại Học Fulbright Afghanistan hay không.

Tất nhiên, bài viết này còn để nhắc nhở có biết bao thường dân Việt Nam đã bị sát hại nhất là hàng ngàn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị chặt đầu bởi binh sỹ Trung Quốc và binh sỹ Kampuchea. Những tên cầm thú Khmer Đỏ hôi hám sau khi sát hại dã man 3.157 thường dân Việt Nam mà núi đầu lâu còn lưu chứng tích ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, đã bị Việt Nam đưa vạn hùng binh kéo rốc đánh đến tận hang ổ Phnom Penh giết sạch bọn chó dại để thực hiện truyền thống Việt: ân vạn kiếp vẫn đền, oán vạn đời vẫn trả. Tương tự, bọn giặc man di mọi rợ thối hôi Trung Quốc đã bị đánh cho tan tác phải để lại núi thây binh sỹ chất chồng trận địa chốn biên cương Việt. Không ai trong bọn chúng bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh, đơn giản vì toàn bộ đã bị Việt Nam bắt phải đền tội trực tiếp trên chiến trường tử địa.

Ngoài ra, bài viết này còn để nhắc nhở các chiến binh Việt hãy luôn khắc cốt ghi tâm rằng trong trận chiến của tương lai nếu buộc phải kéo rốc truy sát đến tận hang ổ Bắc Kinh, không được phép sát hại bất kỳ người Trung Quốc nào không cầm vũ khí, không mặc quân phục, để không bao giờ bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.

*********

Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2012

George Santayana tức Jorge Agustín Nicolás Ruiz de Santayana y Borrás (1863-1952), triết gia, tiểu thuyết gia và nhà thơ Tây Ban Nha, học tập thành tài tại Mỹ và ở lại giảng dạy tại Đại học Harvard cho đến năm 48 tuổi thì bỏ về Tây Ban Nha thề không bao giờ trở lại, được biết đến toàn thế giới với câu nói lừng danh “Those who do not remember the past are condemned to repeat it” tức “Kẻ nào lãng quên quá khứ (sai lầm xằng bậy của mình) sẽ phải lập lại quá khứ (sai lầm xằng bậy) ấy.” Hai bức ảnh dưới đây gồm bức đen trắng ảnh một binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần trên thân thể một chiến binh Việt Cộng và bức ảnh màu chụp cảnh các binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần dưới thân thể một chiến binh Afghanistan. Khoảng cách nửa thế kỷ của hai bức ảnh giữa một bên là vào những năm 60 của thế kỷ trước và năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ này (2010) vẫn cho ra một điều giống y nhau về thú tính bất nhân mọi rợ của những binh sĩ Hoa Kỳ ít – hoặc chẳng bao giờ được – học về nhân quyền, vốn là một sự thật mà bài viết này muốn nói đến, với sự trùng hợp của định mệnh khi tháng 4 năm nay là tháng của Lễ Chiến Thắng của Việt Nam – tức ngày chiến bại của Hoa Kỳ, đất nước của binh sĩ trong ảnh đen trắng bên trái – và tháng 4 năm 2012 này cũng là tháng mà tờ báo Los Angeles Time Hoa Kỳ đăng tải hàng chục bức ảnh bất nhân mọi rợ của các binh sĩ Mỹ đối với xác “đối phương” và người dân vô tội Afghanistan với bức ảnh màu bên phải là một thí dụ. Vậy lập lại sai lầm là như thế nào.

US Army 1

Khi người thợ săn hạ được con thú, người ấy đứng chụp hình bên chiến lợi phẩm (y như nhà vua Vương Quốc Bỉ vừa bị “bỉ’ mặt vì lén qua Phi Châu dùng tiền thuế của dân bắn hạ một con voi, chụp hình với xác voi, rồi bị hồn thiêng của voi vật té ngựa bị trặc hông phải nhập viện làm bại lộ chuyến đi). Khi các binh sĩ Mỹ chụp hình với xác đối phương, ấy là họ xem đối phương là con thú. Họ xúc phạm Đức Chúa Trời nếu họ vẫn tin rằng ông ta tạo ra vạn vật và loài người. Họ xúc phạm tổ tiên Hoa Kỳ, những người bị lưu đày, những tên tội phạm, những kẻ thất thế sa cơ ở Châu Âu đổ về vùng đất mới (nay gọi là Hoa Kỳ) để được sống kiếp người, với khát vọng con cháu họ sẽ được là con người và biết tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền. Hãy thử xem đó là do sự dốt nát của vài chiến binh, hay là sự lập lại, sự lây lan, sự lưu luyến những lề thói cũ của những kẻ cho mình là người và những kẻ gần những kẻ cho mình là người nên cũng nghĩ chỉ có mình mới là người và bắt chước bọn tự cho mình là người ấy để xem kẻ thù chung là con vật.

Trong khi dân quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vội nhào xuống nước bơi nhanh đến cứu sống viên phi công John McCain ngày 26-10-1967 khi máy bay ném bom Mỹ sau khi tàn phá Hà Nội bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với Ông với tình người và tinh thần nhân quyền, tôn trọng tù binh chiến tranh theo đúng công ước quốc tế, để sau này Ông trở thành Thượng Nghị Sĩ, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ

US Army 2

hoặc võng cáng đưa tù binh Mỹ bị thương đi sơ tán tránh bom Mỹ

US Army 3

thì các chiến binh Hoa Kỳ lái xe thiết giáp kéo lê xác một “Việt Cộng” như xác một con vật,

  US Army 4

hoặc xúm lại tra tấn tù binh cộng sản (hai chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đầu để đổ nước vào mũi tù binh, còn chiến binh Hoa Kỳ dùng đầu gối ấn vào bụng cho tù binh ói nước)

US Army 5

còn khi gặp phải “tên Việt Cộng” trung kiên với Đảng, không khai báo, họ lôi “hắn” lên trực thăng bay cao vài cây số rồi xô xuống

 US Army 6

Đối với tù binh cộng sản, các quân nhân Mỹ đã làm những điều điều tàn ác như thế, thì chỉ có dân lành mới đúng là số đông lý tưởng cho một cuộc đi săn thú mà thôi, như cuộc thảm sát ở Mỹ Lại năm nào:

 US Army 7

Học tập từ quân trường Quang Trung theo các bài bản của Mỹ, viên đại úy Việt Nam Cộng Hòa này đã đằng đằng sát khí lăm lăm ngọn lưỡi lê chực chọc vào bụng một tù binh cộng sản trong khi các quân nhân Cộng Hòa khác ái ngại thảng thốt đứng nhìn

US Army 8

Tương tự vị sĩ quan, người lính Cộng Hòa này đã dùng lưỡi lê cắt họng người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)

US Army (3)

lưỡi lê luôn là dụng cụ tra tấn và sát hại tù binh cộng sản

 US Army 10

sự sợ hãi lồng căm thù khiến người chiến binh Cộng Hòa xem người phụ nữ già không khác gì một tên giặc

US Army 11

đến độ sự vô cảm với người dân còn được ống kính một phóng viên nước ngoài ghi cảnh một nông dân bế xác con thơ, với những gương mặt hoặc tò mò hoặc cười vui vẻ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trên xe thiết giáp, tháng 3 năm 1964

US Army 12

Nhưng trong khi các sĩ quan Mỹ giở trò thú tính và vị tư lệnh Mỹ phải cố phân trần để không kết tội họ, thì tình hình rất khác trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tước khẩu AK của chiến binh cộng sản Bảy Lốp

US Army 13

dẫn Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh hoàng hoảng hốt của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài

US Army 14

viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường phố Sài Gòn, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh

US Army 15

Thế đấy, trong khi những người cộng sản Việt Nam biết tuân thủ các công ước quốc tế về tù binh chiến tranh thì các chiến binh của họ đã không được kẻ thù đối xử tương tự. Họ: những kẻ cho mình là người, và xem kẻ thù là súc vật, khiến bức ảnh sau trên tạp chí Life số ra ngày 26-11-1965 đã khiến người dân các nước trên thế giới phản đối

US Army 16

Sau khi xảy ra vụ tồi tệ tại Mỹ Lại, Mỹ đã phủ nhận “quá khứ”, để rồi tháng 4 năm 2012 này lại phải đối mặt với vụ tồi tệ mà các binh sĩ Mỹ đã gây ra với tù binh và dân thường Afghanistan.

US Army 17

Sau khi giết em Mudin, một thiếu niên đang chạy bộ kiếm mua thức ăn cho gia đình, các quân nhân Mỹ đã lột trần truồng thi thể của Mudin. Andrew Holmes và Jeremy Morlock thay phiên nắm tóc dựng đầu xác chết của Mudin. Việc chụp hình cứ như thể đó là một chiến công đã bắn hạ một quân phiến loạn tức một con vật. Tệ hại hơn, Holmes đã cắt mấy ngón tay của cậu bé Mudin, cất vào túi có dây kéo và bảo các chiến hữu rằng sẽ phơi khô đem về làm bộ sưu tập sau này.

US Army 18US Army 19

Morlock còn khét tiếng với màn chụp hình vui vẻ với vài trẻ em Afghanistan dạn dĩ rồi lên xe quân sự Stryker vừa lái vừa ném kẹo để các trẻ này cùng rất đông trẻ em rụt rè khác túa ra từ nhà dân ra lượm kẹo, còn Morlock xả súng ra phía sau, tàn sát các em bé này, trong khi các chiến hữu khác cho xe Stryker cán dày xéo lên người các em.

US Army 20

Andrew Holmes, Michael Wagnon, Jeremy Morlock và Adam Winfield đã làm ô danh nước Mỹ và tất nhiên nếu luật pháp Mỹ tha tội cho chúng như đã từng tha tội cho những kẻ gây ra cuộc thảm sát ở Mỹ Lại (Việt Nam), thì chúng cũng sẽ kết thúc phần đời còn lại trong tủi nhục vì bị khinh rẻ bởi người dân Mỹ chân chính. Nhưng chính quân đội Mỹ mới phải chịu phần trách nhiệm lớn nhất vì đã đào tạo ra những anh hùng cá nhân bịnh hoạn, không mô phỏng mô hình giáo dục quân đội cộng sản Việt Nam, nơi đào tạo ra những chiến binh anh hùng cách mạng. Ngay từ ngữ phân trần của tư lệnh Mỹ tại Afghanistan rằng quân nhân Mỹ được học điều lệnh rằng phải handle remains (xử lý xác chết hoặc phần thi thể còn lại) của quân thù một cách nhân văn nhất có thể được mà không hiểu rõ tiếng Mỹ tiếng Anh rằng “handle” không mang nội hàm duy chỉ có nghiêm túc, còn “nhất có thể được” luôn mang nội hàm không bao giờ cao nhất, không bao giờ tốt nhất, và thậm chí có cũng được mà không thì cũng chẳng hề chi. Một quân đội lại dùng thứ tiếng Anh thô thiển đầy sai sót như thế trong quân lệnh, thì sao lại có thể trách các binh sĩ nếu họ đột xuất thành thú vật như người sói lúc tròn trăng?

Vì sai lầm muốn hạ “Bắc Việt” bằng mọi giá, năm 1974 Mỹ đã làm ngơ, bỏ mặc cho các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh tan tác, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc sát hại, và Quần Đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, nhằm làm Bắc Việt hoặc phải lo đánh nhau với Trung Quốc không thể tiếp tục chống Mỹ, hoặc bị ô danh mang tiếng “bán nước” vì để yên cho Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sai lầm này của Mỹ đã khiến Trung Quốc chiếm ưu thế mưu bá đồ vương làm chủ Biển Đông, về sau đe dọa an ninh các quốc gia đồng minh của Mỹ trước kia thuộc khối quân sự SEATO tức Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, cái tổ chức đã tan rã cùng với sự tháo chạy của Mỹ, sau đó đã  kết hợp lại với Việt Nam hình thành khối kinh tế ASEAN ngày nay, mà Mỹ dù có muốn quay lại cũng đã muộn màng về chiến lược trước thế lực hải quân hùng mạnh của Trung Quốc.

Vì sai lầm muốn hạ Việt Nam cộng sản bằng mọi giá, thay vì nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1976, viện trợ Việt Nam, bồi thường chiến phí, giúp Việt Nam nhanh chóng giàu mạnh như Nhật Bản để bảo vệ an nguy cho toàn vùng Đông Nam Á vốn toàn là đồng minh của Mỹ, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Cam Ranh, cho phép chiến hạm Hoa Kỳ ngang dọc Biển Đông triệt tiêu tham vọng của Trung Quốc tràn xuống phương Nam chiếm đóng Đông Nam Á và xâm lược Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực, Mỹ vừa bật đèn xanh tuyên bố ủng hộ Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam năm 1978, vừa đánh bồi bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam khi thấy Việt Nam không những tồn tại trước sự xâm lược của Campuchia mà còn tiêu diệt luôn chế độ Khmer Đỏ, khiến Việt Nam chậm phát triển hơn trong thời điểm Trung Quốc phát triển nhanh hơn, và nay đe dọa uy thế của chính Hoa Kỳ, hù dọa các nước Đông Nam Á, thách thức sức mạnh hải quân Mỹ trong khu vực trọng yếu này của thế giới.

Vì tất cả những sai lầm trên, việc đầu tiên Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai là giáo dục lại quân đội Hoa Kỳ về nhân quyền, để họ biết phân biệt thế nào là văn minh và mọi rợ, thế nào là chiến binh anh hùng và sát thủ man di, nhất là thế nào là danh dự quốc gia vốn là điều mà binh sĩ Hoa Kỳ hầu như không biết đến; đồng thời, các tướng lĩnh Mỹ phải rà soát lại các điều lệnh, sử dụng những nội dung tiếng Anh mang nội hàm rõ ràng, minh bạch, nhằm triệt tiêu bất kỳ sự vi phạm nào mang tên do-không-hiểu-biết hoặc tại-bị-vì-bởi-ngôn-ngữ-chứa-sẵn-lời-động-viên-làm-bậy. Nếu không chấn chỉnh, sự có mặt của Hoa Kỳ ở Biển Đông thay vì đáp ứng sự kỳ vọng của người dân ASEAN, hành vi thú tính mất dạy về nhân quyền của binh sĩ Mỹ sẽ đưa Mỹ lâm vào bước đường mạt vận nếu các hạm đội Trung Quốc từ phương Bắc tràn xuống và các chiến binh Hồi giáo cảm tử Indonesia tức giận vì thi thể chiến hữu bị làm nhục ở các nước Hồi Giáo anh em sẽ từ phía Nam đánh lên bằng xuồng cao tốc.

Hãy học hỏi Việt Nam về nhân quyền để đừng bị lời nguyền lập lại sự thất trận của quá khứ.

US Army 21US Army 22US Army 23

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Trăm Trứng

Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-6-2016

Trước sự việc Tuyên Bố Chung của Hội Nghị Ngoại Trưởng Đặc Biệt ASEAN-Trung Quốc đã bị rút lại để tiến hành các “điều chỉnh khẩn cấp” có liên quan đến tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, cho thấy (a) Trung Quốc đã khống chế hoàn toàn ASEAN bằng kinh tế, và (b) ASEAN không thể nào là một tổ chức ra hồn có bất kỳ tí chút danh giá nào do chất chứa trong bản thân nó những đống bùn nhão trộn lẫn nơi nền móng giả-bê-tông tạo dựng ra nó, mà thứ bùn nhão ấy còn được ví như những con ngựa thành Troy – Trojan Horses – phản phúc phản trắc phản loạn phản bội, tôi nhớ lại trước đây đã có đăng một bài trên blog.com mang tựa đề “Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN”, nay xin đăng lại dưới đây để thêm một lần nữa trình bày cùng bạn đọc.

 Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-5-2012

Việc thành lập ACFTA – tức Khu Vực Thương Mại Tự Do ASEAN -Trung Quốc – là điều dại dột nhất trong toàn bộ lịch sử tồn tại của Khối ASEAN.

Nhiều năm trước, khi học lớp thạc sĩ kinh doanh quốc tế, tôi đã làm vị giáo sư Mỹ ngạc nhiên khi Ông hào hứng giảng về CHINDIA như tương lai xán lạn của một khối kinh tế hùng mạnh sẽ thống trị thế giới vì “Văn Phòng Của Thế Giới” Ấn Độ sẽ liên kết với “Công Xưởng Của Thế Giới” Trung Quốc (China + India = Chindia) hình thành một thực thể thị trường khổng lồ với tổng dân số của hai quốc gia đông dân nhất thế giới này lên đến nhiều tỷ người, thì tôi lại viết bài tiểu luận nộp giáo sư Mỹ để đã phá cái phát kiến điên rồ ấy (đồng thời tóm tắt qua bài “People Say Chindia, I say Vietnam” trên Yahoo!360), cho rằng nó sẽ không bao giờ hình thành, với những viện dẫn không thể hùng biện hơn về các yếu tố lịch sử, chủng tộc, văn hóa-xã hội, và tầm vóc tư duy, v.v., tất cả sẽ khiến cái thực thể mang tên Chindia chỉ có thể xuất hiện 30 năm sau Ngày Tận Thế. Tất nhiên, cho đến nay, Chindia vẫn còn nằm yên trên trang giấy trong những tác phẩm đã từng được bán chạy của những nhà trí thức tư bản của những học viện kinh tế luôn lừng danh kim cổ.

Tương tự, khi toàn bộ hệ thống truyền thông đại chúng ở Việt Nam lên cơn sốt với thương hiệu quốc gia “Nhà Bếp Của Thế Giới” từ ngay sau buổi thuyết trình ngày 22/8/2007 của Philip Kotler, với từ Phở được lập đi lập lại tràn ngập trong các bài viết và các buổi phỏng vấn đến độ giở trang báo đã ngữi thấy mùi Phở và ngay cả tivi cũng toát ra mùi Phở, thì tôi khẳng định trên Yahoo!360 rằng đó không bao giờ là nội hàm trong lời nói của Kotler (tôi biết rất rõ nhờ tôi có tham dự buổi thuyết trình của Kotler và nhờ tôi … không dùng headset nghe nội dung dịch thuật tiếng Việt), rằng không bao giờ đó là danh xưng của Việt Nam, và rằng Phở chỉ là món ăn tầm thường trong danh mục ẩm thực quốc tế. Tất nhiên, cho đến nay, “Nhà Bếp Của Thế Giới” chẳng là của Việt Nam, Phở chẳng là kiệt tác ẩm thực của Việt Nam, và cả “Nhà Bếp Của Thế Giới” cùng Phở đã mất tích trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào kể từ đầu năm 2009.

Năm 2010 khi nghe sự hình thành ACFTA, tôi đã tiếc sao mình chẳng thể làm gì để ra tay can ngăn sự ký kết dại dột của ASEAN với Trung Quốc. Khối ASEAN với mười quốc gia gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, và Việt Nam, đã kỳ vọng sai lầm rằng việc ký kết với Trung Quốc sẽ hình thành nên một khối tự do mậu dịch kỳ vĩ lớn hàng thứ ba thế giới, một khu vực tự do thương mại đông dân nhất hành tinh, và cũng là một vùng tự do thương mại hàng đầu của thế giới các quốc gia đang phát triển. Đó là sự vụng tính Lose-Win hơn là một kế sách Win-Lose nghiêm túc, khôn ngoan, nhất là trên thực tế không bao giờ tồn tại bất kỳ tình thế thực chất nào mang tính Win-Win. Đó là việc rước voi về dày mã tổ chứ nào phải mình được cùng ngự cưỡi lưng voi. Tôi đành tắc lưỡi nói với các cộng sự thân tín rằng ACFTA chỉ là một thực thể trên giấy để trang trí cho một bức tường chứ không bao giờ có giá trị trong đời sống thật, và Khối ASEAN hỡi hãy chống mắt mà xem mình Lose toàn diện ra sao và Trung Quốc Win tuyệt đối thế nào! Thiết tưởng không cần luận giải gì thêm vì Phở có giá hơn ACFTA nhiều nên nếu giải thích vì sao ACFTA sẽ thất bại, hóa ra tôi ban cho ACFTA cái diễm phúc được ngang hàng với món Phở hay sao? Và tất nhiên, cho đến nay, ACFTA cũng chẳng là cái thực thể kinh tế kinh khủng kinh hồn kinh nhỉ kinh thiên động địa gì cả, và trang web của nó cũng chỉ cập nhật các thông tin kinh tế bình thường của các nước trong khu vực y hệt như những gì lẽ ra đã xảy ra y hệt như thế mà không cần có cái ACFTA, như bằng chứng rõ nét nhất là  ACFTA bặt vô âm tín trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào ở Việt Nam kể từ đầu năm 2011.

Giá như trước đây tôi chịu khó theo đuổi chương trình tiến sĩ thì ắt những phân tích mang tính tiên đoán về số phận của ACFTA ngay từ 2010 đã có thể là nội dung bài luận án của tôi để các giáo sư Mỹ lại thêm phen sửng sốt, tâm phục khẩu phục, và ngữa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi ôi, cái sở học của Nước Mỹ thân yêu của ta nay đã đổ hết cả về Việt Nam Quốc rồi!”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

HHP Poem (1)

Đại Sứ Mỹ Ted Osius

Phơi Bày Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-6-2016

Tôi không muốn viết thêm về Bob Kerrey; song, một câu nói được cho là của Đại Sứ Mỹ Ted Osius phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Và Quốc Tế CSIS ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn có nhắc đến Bob Kerrey và việc thành lập trường Đại học Fulbright Việt Nam, lại thúc giục tôi viết thêm một đôi dòng ngắn sau.

Đại sứ Ted Osius được cho là đã nói rằng (a) các tranh luận sôi nổi đang diễn ra ở Việt Nam về Bob Kerrey là một tín hiệu tích cực, và rằng (b) Mỹ muốn thành lập trường đại học Fulbright Việt Nam để có những cuộc tranh luận lành mạnh kiểu như vậy về quá khứ cũng như tương lai mà Việt Nam hướng tới.

Đối với lập luận thứ nhất của Đại sứ Ted Osius, trường hợp Bob Kerrey cứ như là đã giúp Việt Nam có cơ hội để thực thi cái gọi là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt từ đó cho thấy đã có một tín hiệu tích cực tại Việt Nam đối với cái gọi là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt ấy. Phải chăng Việt Nam không hề có tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nên phải nhờ có Bob Kerrey mới bắt đầu thực tập tranh luận sôi nổi lành mạnh ư? Bất kỳ ai không điên loạn trên thế giới này đều biết rõ mười mươi rằng tại Hoa Kỳ luôn tồn tại song hành hai chân lý là (a) người dân Mỹ có quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt nên ăn nói thoải mái, phát biểu thoải mái, viết lách thoải mái, nêu ý kiến thoải mái; và (b) chính phủ Mỹ không bao giờ quan tâm đến các nội dung ăn nói thoải mái, phát biểu thoải mái, viết lách thoải mái, nêu ý kiến thoải mái của công dân Mỹ, vì cả hai chân lý này chẳng bao giờ dính dáng với nhau cả trong suốt chiều dài mấy trăm năm lập quốc của Hoa Kỳ. Điều này có nghĩa là quý vị Việt Nam cứ việc tranh luận lành mạnh sôi nổi về Bob Kerrey vì đó là tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, còn Bob Kerrey cứ là lãnh đạo Đại học Fulbright Việt Nam vì cả hai việc này chẳng bao giờ có gì dính dáng với nhau cả.

Tự do ngôn luận và tự do biểu đạt ở Mỹ không bao giờ dẫn đến bất kỳ một thay đổi nào về thể chế chính trị, đường lối cai trị, hay chính sách chủ trương của Chính phủ Hoa Kỳ. Các cuộc xuống đường rầm rộ khắp nước Mỹ đã không làm các chính phủ Mỹ rút quân khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam; đã vậy Chính phủ Mỹ còn gây ra cuộc thảm sát ở Đại học Kent. Chỉ có “Bắc Việt” và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” mà Mỹ gọi mĩa là “Charlie” còn Việt Nam Cộng Hòa gọi tắt là “Việt Cộng” mới buộc được Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam và sau đó là tháo chạy khỏi Việt Nam.

Đối với nội dung thứ hai thì e là Đại sứ Ted Osius đã lỡ lời.

Trường đại học là nơi có một số những ngành đào tạo để cho ra lò những chuyên viên hay chuyên gia chuyên ngành. Tranh luận luôn là hình thức thực tập chốn học thuật hàn lâm. Các sinh viên vật lý tranh luận bằng khẩu ngữ tại trường đối với những vấn đề vật lý sơ đẳng trong chương trình đào tạo theo các hướng dẫn của các giáo sư vật lý, còn các nhà vật lý tranh luận bằng các tác phẩm nghiên cứu đối với những vấn đề vật lý cao cấp. Các sinh viên luật tranh luận bằng khẩu ngữ tại trường đối với những vấn đề luật pháp cụ thể sơ đẳng trong chương trình đào tạo theo các hướng dẫn của các giáo sư luật, còn các nhà nghiên cứu luật pháp tranh luận bằng các tác phẩm nghiên cứu đối với những vấn đề luật pháp cao cấp. Trường Đại học Fulbright Việt Nam hóa ra được thành lập không để đào tạo những chuyên ngành hàn lâm học thuật cụ thể nào cả để có những sinh viên tranh luận “sôi nổi và lành mạnh” về những chuyên ngành ấy, mà chỉ để có những cuộc tranh luận lành mạnh kiểu Bob Kerey về quá khứ cũng như tương lai mà Việt Nam hướng tới. Cái quỷ quái gì ở đây vậy?

Phải chăng Giáo sư Peter Kuznick khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Edu Montesanto đã nói đúng khi cho rằng các trường đại học do Mỹ xây dựng trên toàn Châu Mỹ La Tinh đã “tích cực tạo nên các lãnh đạo và thủ lĩnh của các biệt đội tử thần” để lật đổ các nhà lãnh đạo dân chủ tiến bộ các quốc gia Nam Mỹ nào không đi theo quỹ đạo của Hoa Kỳ?

Việc người Việt đoan chính tranh luận về Bob Kerrey là “lành mạnh” vì chỉ để thực hành thực tập thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt, chứ không để dẫn đến việc Bob Kerrey phải bị bải miễn.

Còn việc những người Việt ăn phải bã Mỹ thực hành thực tập thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt về thể chế chính trị, đường lối cai trị, hay chính sách chủ trương của Chính phủ Việt Nam, thì Mỹ mong muốn nhất thiết phải dẫn đến việc thay đổi thể chế chính trị, đường lối cai trị, thậm chí cả hiến pháp của Việt Nam, như Mỹ đã ra tay tại Mỹ La Tinh cũng như các nơi khác trên thế giới hay sao?

Bob Kerrey đương nhiên cứ việc làm lãnh đạo tối cao của trường Đại học Fulbright Việt Nam vì đó chỉ là một trường tư thục mà kẻ có nhiều tiền thì đương nhiên làm chủ. Song, chừng nào Chính Phủ Việt Nam chưa chính thức rút lại lời cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh thì Bob Kerrey đương nhiên không được phép bước chân vào Việt Nam.

Thật là một sai lầm nghiêm trọng nếu phụ huynh cho con em mình vào học trường Đại học Fulbright Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cuộc Đàn Áp Của Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Tiểu Bang Ohio Thảm Sát Sinh Viên Tại Trường Đại Học Kent

Tội Ác Của Bob Kerrey

Peter Kuznick Nói Về Trang  Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ

Nguyễn Thiện Nhân

                    Dụng Nhân Sai Lầm & Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-6-2016

NTNNTN1

A) Tôi Và Ông Nguyễn Thiện Nhân

Ông Nguyễn Thiện Nhân là một thí dụ điển hình về vấn nạn dụng nhân tại Việt Nam.

Trong tiểu sử của Ông công bố chính thức trên website của Quốc Hội Việt Nam, Ông có thời gian làm nghiên cứu sinh tại Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Tuy nhiên, sự thật lại không là như vậy.

Trong thời gian công tác ở Văn phòng Đại diện Công ty CIMMCO International (vốn là bộ phận xuất khẩu-nhập khẩu-dự án kỹ nghệ ngoài nước của CIMMCO Limited trực thuộc tập đoàn công-kỹ-thương-du Birla lừng danh của Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh), tôi thường đến Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc với Phó Chủ Tịch Nguyễn Văn Huấn (Anh Ba Huấn) và Chánh Văn Phòng Nguyễn Hậu (Anh Sáu Hậu). Trong một lần thực hiện một gói GOI Credit (viện trợ của Chính phủ Ấn Độ – Government of India), theo ý của Chủ tịch D.K. Goyal tôi lập kế hoạch đưa  Giám Đốc Amit Kumar Saxena đến gặp một lãnh đạo Sở, và thư ký của tôi đã phone liên lạc với một công chức ở Sở ấy để lên lịch cuộc hẹn. Vị công chức giúp thu xếp cuộc gặp ấy là Nguyễn Thiện Nhân.

Một thời gian sau, khi làm giám đốc điều hành cho Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ 100% vốn nước ngoài của Mỹ (Bang California), trở thành hội viên của Phòng Thương Mại Mỹ AmCham ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được mời tham dự một sự kiện do AmCham tổ chức ở Khách Sạn Caravelle. Tại buổi gặp với một trăm doanh nhân các công ty Mỹ này, viên chức Mỹ đứng đầu AmCham đã giới thiệu Ông Nguyễn Thiện Nhân với mọi người. Ông đã nói về Ông Nguyễn Thiện Nhân như một ngôi sao học thành tài từ Mỹ về trở thành lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, và khiến mọi người cười ầm lên khi nói “Ngài Nhân đây có bằng cấp tiến sĩ về một cái ngành gọi là Cybernetics mà tôi chẳng hiểu nó là về cái mô tê gì sất.” Ông Nguyễn Thiện Nhân sau đó đã phát biểu bằng tiếng Anh với cử tọa, trước khi mọi người dùng tiệc trưa.

Như vậy, Ông Nguyễn Thiện Nhân là Tiến sĩ Cybernetics của Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Đông Đức chứ không phải là “nghiên cứu sinh” như chi tiết lý lịch trên web. Không rõ vì sao có sự dấu giếm này về học vị tiến sĩ của Ông, khiến có sự hồ nghi rằng Ông đã không có bất kỳ công trình nghiên cứu nào sau đó để thực hành xây dựng kỹ thuật tiên tiến cho đất nước, phát triển ngành Cybernetics tại Việt Nam, làm Ông trở thành người Việt Nam duy nhất biết thế nào là Cybernetics.

B) Cybernetics Kỹ Thuật Điều Khiển Học

Cybernetics là ngành Kỹ Thuật Điều Khiển Học. Đây là ngành được ứng dụng bởi quân đội Hoa Kỳ để chế tạo các vũ khí mà người ta ngày nay vẫn lầm tưởng chỉ là hư cấu do chưa thấy xuất hiện ngoài đời mà chỉ có thể thấy được trên các phim viễn tưởng hoành tráng kiểu Star Wars – Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao, hoặc gần đây nhất là những phim khoa học giả tưởng vĩ đại kiểu Avatar. Từ thực tế đã chế tạo xe bốn chân sử dụng trong quân đội Hoa Kỳ như các dòng CAM (cybernetic anthropomorphous machine của công ty General Electric) có chiến sĩ “lái” (cổ xe to có 4 chân) nếu để tấn công,

NTN0

hoặc không người lái (to như một chú ngựa) nếu để tiếp liệu vũ khí đạn dược quân trang quân dụng ra chiến trường:

NTN3

đến những thăng hoa lấn vào tất cả các thiết kế dữ dội của phim ảnh Hollywood như những thứ vũ khí tấn công của tương lai với một chiến binh sử dụng không phải xe tăng mà là robot tăng cử động chính xác theo từng cử động tay (để sử dụng hỏa lực trên hai tay của robot) và chân (để đi, bò, chạy) của chiến binh bên trong “buồng điều khiển” tức “cabin”, người ta đều thấy hiện thực và tương lai của Cybernetics

NTN4NTN5NTN6

khiến từ chiếc CAM thành phẩm của thực tế người ta đã thiết kế ra mô hình các “chiến xa” hai chân, bốn chân, hay sáu chân mang tên AT-AT (Thiết Giáp Địa Hình), AT-ST (Trinh Sát Địa Hình), AT-DP (Phòng Thủ Địa Hình), AT-TE (Tiếp Viện Chiến Lược Địa Hình), AT-PT (Chuyển Quân Địa Hình), AT-AA (Phòng Không Địa Hình), AT-TR (Tấn Công Địa Hình), AT-XT (Thám Sát Địa Hình), AT-OT, AT-RT, v.v., mà chắc chắn sẽ tiến từ viễn tưởng sang thực tế như đã luôn xảy ra trước đó với tiềm thủy đỉnh, phi cơ, phi thuyền, hỏa tiển hành trình, và “drone” sát thủ bay không người lái, v.v., để phục vụ chiến tranh.

C) Dụng Nhân Sai Lầm

Thế mà thay vì Việt Nam có một nhà vũ khí học Nguyễn Thiện Nhân hoặc một giáo sư giảng dạy khai sinh ra ngành điều khiển kỹ thuật học Cybernetics lợi nhuận hàng triệu tỷ USD cho Việt Nam chỉ mới tính cho mỗi việc chế tạo thiết bị phục vụ người khuyết tật chi vận động trên toàn thế giới, người ta lại thấy con đường bình thường cực kỳ tầm thường mang tính cố tật cố hữu của cách “dụng nhân” của Việt Nam: hễ có bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ là được bố trí làm…lãnh đạo, dù là lãnh đạo quản lý trường đại học hay lãnh đạo quản lý trái ngành. Đây là lý do mang tính vấn nạn khiến Việt Nam

(a) thiếu chuyên gia công kỹ nghệ bậc cao,

(b) tạo tâm lý phổ biến nhanh lan tỏa rộng của thói hám hư danh thuần túy từ chương: học để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(c) học thạc sĩ hay tiến sĩ không để theo đuổi con đường nghiên cứu mà cũng chỉ để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(d) khiến chất lượng giáo dục đại học ngày càng xuống cấp vì các tiến sĩ lo giữ ghế quản lý và dành thời gian đi phát biểu ở các hội nghị,

(e) các tiến sĩ làm nhà tư vấn đẳng cấp quốc gia chỉ có thể cho ra các phát biểu sâu sắc phục vụ cho các bản tin báo chí hay phát hình chứ không có giá trị thực tiễn dựng xây phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và nghiêm trọng nhất là

(f) giáo sư tiến sĩ ngồi sai ghế.

Ông Nguyễn Thiện Nhân là thí dụ điển hình của sáu số chữ cái trên.

Vấn nạn lớn nhất ở đây còn là vì sao bao tiền bạc và cơ hội học tập chuyên ngành lại đổ dồn cho cá nhân một cán bộ, mà ở đây điển hình là Ông Nguyễn Thiện Nhân được ban cho các học bổng (dù cho sự tài trợ là của Đảng hay của nước ngoài) đi học tiến sĩ kỹ thuật điều khiển học hiện đại Cybernetics ở Đông Đức, học Kinh Tế Thị Trường tại Tây Đức, học Thạc sĩ Quản Lý Cộng Đồng ở Hoa Kỳ, học Thẩm Định Dự Án Đầu Tư ở Mỹ, thay vì dành cho 4 cán bộ khác nhau để Việt Nam có được một kỹ sư Cybernetics ra hồn, một chuyên gia kinh tế thị trường ra ngô, môt chuyên viên quản lý cộng đồng ra khoai, một nhà thẩm định dự án ra trò. 4 cơ may cho 4 ngành học khác nhau đã dồn về duy chỉ Ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ để ông lên làm Ủy Viên Trung Ương Đảng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Phó Thủ Tướng. Đây là sự sai lầm nghiêm trọng trong đào tạo nhân sự và sử dụng nhân sự để rồi nhân sự tiếp tục đi lên, khoa học kỹ thuật cùng học thuật hàn lâm nước nhà thì tiếp tục đi xuống, và Đảng liên tục bị bể kế hoạch thời gian đối với “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ Trưởng Giáo Dục, các trường đại học mọc lên hơn nấm, khiến di họa cho đến tận ngày nay khi gần nửa ngàn trường đại học khó tuyển được sinh viên đến độ Bộ Giáo Dục phải cứu nguy bằng cách bỏ hầu hết các kỳ thi ở trung học và đại học để trường nào cũng có được người đi học, khiến số lượng cử nhân mà người ta ban tặng cho danh xưng “trí thức trẻ” gia tăng trong bảng thống kê không có việc làm “phù hợp” hoặc không có việc làm. Ông Nguyễn Thiện Nhân lẽ ra đã không nên được giao cho trọng trách Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Phó Thủ Tướng, mọi sự dưới quyền giám quản của Ông cũng không có gì để lưu danh hậu thế, để rồi Ông trở thành Chủ tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cho đến tận ngày nay.

D) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Điều cần đặc biệt quan tâm ở đây là: sức mạnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam được duy trì nhờ vào ba thế lực quan trọng của (a) các lực lượng vũ trang, (b) Tổng Liên Đoàn Lao Động, và (c) Mặt Trận Tổ Quốc.

Nếu như các lực lượng vũ trang vẫn luôn là thế lực hùng mạnh của Đảng, thì hai phần còn lại đã, đang, và sẽ có những vấn đề nan giải như sau:

1) Tổng Liên Đoàn Lao Động:

Đây là một tổ chức mang tính chính trị đặc biệt quan trong trong hệ tư tưởng chính trị Cộng sản Mác-xít Lê-nin-nít vốn xem trọng lực lượng lao động nói chung và công nhân nói riêng. Tuy nhiên, vấn nạn ở đây là (a) giới lãnh đạo Tổng Liên Đoàn hầu như chẳng ai xuất thân hay đang thuộc tầng lớp công nhân lao động để danh chính ngôn thuận là thế lực bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân lao động toàn quốc; và (b) với quy trình hội nhập toàn cầu, tham gia các hiệp định khổng lồ, trong đó có những hiệp định mới nhất và to nhất như Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP cùng Hiệp Định Đối Tác Thương Mại Việt Nam – EU, v.v., thì tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải có quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn riêng, khiến lung lay vị thế của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, đặt Tổng Liên Đoàn từ vị trí độc tôn độc quyền xuống vị trí phải cạnh tranh ngang bằng bình đẳng lành mạnh với các tổ chức công đoàn khác của vô số doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam. Vấn đề này có nghĩa là Tổng Liên Đoàn phải hóa thân thành một thực thể đem lợi ích thực tế đến người lao động để thu hút người lao động xin vào hoặc muốn tiếp tục tồn tại dưới sự đùm bọc bảo vệ chở che của Tổng Liên Đoàn; tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với sự thật rằng sẽ có một bộ phận hoặc nhỏ hoặc lớn trong tầng lớp lao động sẽ hoạt động tại những công đoàn khác, tại nơi họ làm việc, công tác.

2) Mặt Trận Tổ Quốc:

Đây là một tổ chức cực kỳ quan trọng, vì rằng nếu lực lượng vũ trang là những chiến sĩ chuyên nghiệp đặc thù và tổng liên đoàn lao động quy tụ toàn bộ lực lượng công nhân lao động của chế độ, thì Mặt Trận Tổ Quốc quy tụ toàn bộ dân chúng còn lại dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa. Với những chức năng đã được luật hóa, cộng với những thách thức khủng khiếp của thời đại, thời cuộc, thời gian, và thời thế, vai trò của Mặt Trận Tổ Quốc và lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc càng trở nên cực kỳ nặng nề, cực kỳ đa dạng, cực kỳ cấp bách, cực kỳ quan trọng, cực kỳ quyết định. Lãnh đạo Mặt Trận, do đó, phải là những người mạnh mẽ, trí tuệ, uy tín, tài năng, có tầm nhìn thấu thị chiến lược được thể hiện cụ thể qua sự “biết lo trước cái lo của người dân”, những yêu cầu mà Ông Nguyễn Thiện Nhân không thể nào đáp ứng đủ đầy.

Trước tình hình mới và nhiều thách thức, Mặt Trận Tổ Quốc dường như biến mất tăm mỗi khi có tụ tập khiếu kiện bức xúc đông người, cứ như phó mặc cho ai khác phải chịu trách nhiệm, chứ hoàn toàn không thể hiện chức năng dân vận, và biến việc gần gũi với nhân dân bị đơn giản hóa thành công đoạn thu thập ý kiến của cử tri để đúc kết chờ đến kỳ họp Quốc hội bảo đảm vị Chủ tịch Mặt trận có nhiều chi tiết để báo cáo, trong khi bất kỳ người dân – cử tri – nào cũng có thể nêu ý kiến bằng thư bưu chính, bằng thư điện tử, bằng phát biểu tại các buổi tiếp xúc cử tri, hay qua báo chí và ở tất cả các phòng tiếp dân của tất cả các cơ quan hành chính các cấp, v.v., chứ không buộc phải gởi đến Mặt Trận để Mặt Trận mỗi năm chuyển tổng kết ra Quốc hội hai lần.

Mặt trận chỉ xuất hiện rầm rộ mỗi năm năm một lần vào dịp bầu cử toàn quốc.

Thậm chí có vị lãnh đạo Mặt trận của Thành phố Hồ Chí Minh lúc đương nhiệm thì chẳng ai biết đến, khi về hưu thì đột nhiên phát hành những bức tâm thư “viết trên giường bệnh” chống đối chế độ.

Dưới đây là một bài viết về Ông Nguyễn Thiện Nhân tôi đã đăng trên Emotino năm 2010 tức trước khi tôi trở thành nghị sĩ Quốc hội khóa XIII (2011-2016); xin đăng lại để chứng minh tầm lãnh đạo của Ông:

E) Bài Viết Năm 2010: 

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên — Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2010

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” và “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dựa trên câu đề xuất của tôi nhưng lại né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức … “chất lượng cao”. Người dân được mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác gặp khó khăn lại sẽ có các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào của Việt Nam không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng, để rồi sau cừng chục năm nữa sẽ phải chứng kiến toàn bộ hàng hóa của ngành công nghiệp bán lẻ ở Việt Nam sẽ tràn ngập hàng hóa của ngoại bang.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (1) có nhận thức đầy đủ rằng nhóm chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (2) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” .

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn là nan y trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

F) Giải Cứu Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Vì vậy, Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nhất thiết phải (a) hiểu rõ trách nhiệm của Mặt Trận trong hoàn cảnh mới đặc thù của Việt Nam và (b) có vị chủ tịch mới để thay thế Ông Nguyễn Thiện Nhân là người chưa hề có chút công trạng cụ thể nào trong thực tiễn quản lý nhà nước của mình.

Bà Trương Thị Mai nên là tân Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ngoài Bà Trương Thị Mai, Việt Nam không có bất kỳ ai đủ tầm, đủ tâm, đủ lực, đủ thần uy bằng Bà Trương Thị Mai để nắm quyền đưa một tổ chức đã có quá khứ vĩ đại như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam quay trở lại vị thế đáng tự hào như ban đầu của nó.

Đừng để một thế lực từng hùng mạnh vốn đã là chủ thể của đại cuộc giải phóng miền Nam nay chỉ còn là một tổ chức chỉ có hư danh mà người dân chỉ biết đến mỗi năm năm một lần qua cuộc bầu cử quốc gia – mà thậm chí ngay cả cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các câp nhiệm kỳ 2016-2021 này cũng không tổ chức ra hồn, không giám sát ra ngô, cho ra kết quả luộm thuộm chẳng ra khoai, và để lại vết nhơ chẳng ra thể thống gì cả của các sai sót và vi phạm pháp luật bầu cử sau ngần ấy thập kỷ tồn tại của mình.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghi-sĩ Đương-nhiệm Quốc-Hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Tham khảo:

Tôi và Lê Hiếu Đằng của Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh  (bài đăng ngày 29-8-2013)

Phim tài liệu về “Xe Đi” của hãng GE Hoa Kỳ thử nghiệm năm 1965: https://www.youtube.com/watch?v=coNO9FpDb6E

Hình Sự Hóa Quan Hệ Hợp Đồng Kinh Tế

Không Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-6-2016

P1Presentation1A1AA2

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Mỹ Linh

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-6-2016

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi chỉ thích Nhạc Đồng Quê Mỹ.

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi chỉ thích nhạc của quân giải phóng.

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi không thể thưởng thức bất kỳ bản nhạc Việt Nam hiện đại nào.

Tôi xin khẳng định rằng là người nghiên cứu quốc ca (chính ra là tập trung cho “quốc thiều”) của các dân tộc từ nhỏ, tôi – và nhiều thân nhân của tôi – rất thích bản quốc ca Hoa Kỳ vì sự hùng tráng của tiết tấu mà sau này tôi phải lấy công tâm của riêng cá nhân tôi mà nói rằng bản quốc ca Việt Nam cũng hùng tráng và cùng với bản quốc ca Hoa Kỳ là hai bản quốc ca hay nhất.

Tôi xin khẳng định rằng tôi không có ác cảm gì với Mỹ Linh, đơn giản vì tôi không thể thưởng thức nhạc Việt Nam hiện đại nên chẳng nghe Mỹ Linh hát bao giờ.

Và tôi xin khẳng định rằng Mỹ Linh đã không có lỗi gì khi hát Quốc ca Việt Nam lúc chào đón Tổng thống Hoa Kỳ Obama.

Cái sai tày trời là của ban tổ chức vì tôi nghe rằng họ đã yêu cầu Mỹ Linh gởi các phiên bản hát khác nhau để họ lựa chọn, quyết định Mỹ Linh sẽ hát theo phiên bản nào.

Ban tổ chức đã chưa bao giờ biết những sự thật sau:

1) Đối với nghi lễ quốc gia, bài quốc ca phải được trỗi lên theo đúng với nội dung từ lời ca đến nốt nhạc theo ghi nhận trong Hiến Pháp.

2) Đối với trình diễn thăng hoa bản quốc ca, thì tùy vào văn hóa của mỗi quốc gia. Mỹ là nước cho phép dùng quốc kỳ may quần lót phụ nữ như thiên hạ đã từng thấy trong kỳ vận động tranh cử tổng thống của Richard Nixon, thì quốc thiều cũng được phép biến tấu tại các buổi hòa nhạc khi chẳng ai phải đứng dậy chào cờ mà chỉ thưởng thức âm nhạc, như biến tấu hard rock của Zakk Wylde.

3) Hát quốc ca tại các sự kiện lớn, hoành tráng, luôn là đơn ca và không có nhạc đệm. Ca sĩ nào nói khó ca hát nơi đông người mà không có ban nhạc, thì đó không là danh ca để được mời hát cho sự kiện.

4) Chính vì tự do thái quá và do bất cẩn, Mỹ sau đó đã phải đớn đau khi tại các buổi lễ trang trọng nơi sân vận động hoành tráng khai mạc giải bóng bầu dục hay khúc côn cầu trên băng, lịch sử Hoa Kỳ đã phải lần lượt chứng kiến những ca sĩ hát quốc ca (đơn ca, không có âm nhạc kèm theo) như các “diva” Christina Aguilera, Alexis Normand, Victoria Zarlenga, hoặc các nam danh ca như Steven Tyler, Michael Bolton, Cuba Gooding Sr., Mike Eli, Scott Stapp, và Robert Kelly đã làm nhục quốc thể, khiến các cầu thủ, khán giả, huấn luyện viên, trọng tài, và thậm chí các em bé phục vụ căng lá cờ giữa sân phải phì cười hoặc lắc đầu ngao ngán. Chưa kể danh sách những kẻ đã “làm thịt” bản quốc ca Hoa Kỳ còn có lực sĩ Carl Lewis và bà hề Roseanne Barr, những kẻ mà ban tổ chức nghĩ rằng sẽ nhờ tên tuổi của họ mà làm giải đấu thêm phần hoành tráng. Hình ảnh video của Roseanne Barr rất kinh tởm khi thấy bị cầu trường la chộ, bà hề này đã phun một bãi nước bọt đầy trịch thượng.

5) Chỉ có bọn phản động, chống phá Việt Nam, và thất học mới từng đòi phải bỏ chữ Xã Hội Chủ Nghĩa trong quốc hiệu, viết lại lời quốc ca mà chúng cho rằng để “bớt sắt máu” cho phù hợp với thời đại hòa bình. Và tương tự, chỉ có những người kém hiểu biết, kém khôn ngoan mới nói rằng phải hát quốc ca Việt Nam với tiết tấu khác đi, dịu dàng hơn, cho phù hợp với cái sự “yêu hòa bình” của cái thời đại hội nhập. Nói vậy là vi hiến vì dám làm sai với nội dung của Hiến Pháp về quốc ca. Phải chăng sẽ đến lúc nào đó xuất hiện lá cờ hồng sao vàng vì lập luận rằng màu đỏ quá “sắt máu”, cần được thay thế bằng màu hồng của tình yêu?

6) Muốn có hòa bình, phải có sức mạnh răn đe cực mạnh bằng vũ khí hiện đại, tối tân. Muốn có hòa bình, phải có lời cảnh báo nghiêm khắc trong quốc ca hùng tráng rằng “cờ in máu chiến thắng mang hồn nước”,  “đường vinh quang xây xác quân thù”, để ngoại bang phải chùn tay. Muốn có hòa bình, phải có giọng ca hùng tráng đúng với nội dung hùng tráng.

7) Quốc ca Hoa Kỳ được Quốc hội Hoa Kỳ chuẩn y năm 1931, dựa theo bài thơ Ngọn Cờ Lấp Lánh Ánh Sao của nhà thơ chiến sĩ Francis Scott Key viết năm 1814 trong trận tử thủ Pháo đài McHenry, dựa theo hình ảnh lá cờ bị đạn bắn rách bươm nhưng vẫn ngạo nghể bay phất phới, và ánh trăng qua các lỗ đạn trông như các vì sao lấp lánh giữa đêm đen. Không bất kỳ ai ở Hoa Kỳ nói rằng Mỹ nên thay quốc ca vì xuất xứ “rách bươm” của lá cờ cả. Hồn thiêng sông núi Hoa Kỳ là ở đấy. Sự hào hùng của nhân dân Mỹ là ở đấy. Thế thì sao ở Việt Nam lại có những kẻ cho mình có quyền (và được cấp trên để yên cho) tự tung tự tác giải thích lung tung về “hòa bình” và “hội nhập” nên phải “mềm hóa” quốc ca?

Lời cảnh báo ở đây qua bài viết này là các quan chức ngành giáo dục và truyền thông phải bảo đảm rằng không ai được phép “thăng hoa” động đến bản quốc ca trong những buổi đại lễ hay quốc lễ. Đã là quốc lễ thì áo dài phải là áo dài truyền thống, cổ điển, không phải là áo dài không có lưng áo cũng như chỉ có một tay áo thậm chí khoét sâu khoe ngực. Người Mỹ đã có những trãi nghiệm xấu hổ mà chính dân chúng của họ cũng phải lên tiếng chê bai, nhạo báng, còn các danh ca lừng danh hoàn vũ của họ như các vị giám khảo American Idol Christina Aguilera và Steven Tyler phải muối mặt, bị “ném đá” trên không gian mạng.

Những người như Christina Aguilera và Steven Tyler hoàn toàn sai và phải chịu trách nhiệm cá nhân của họ trước nhân dân của họ.

Mỹ Linh không sai và không phải chịu trách nhiệm, vì Mỹ Linh hát theo phiên bản đã được “cấp trên” duyệt.

Vấn đề mãi ngân vang rằng “cấp trên” ấy là ai.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Quốc Nhục

Lưu Hữu Phước – Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa

Áo Phao

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-6-2016

AAA (1)

Vào cuối những năm 1970 của thế kỷ trước, khi đang rảo bước trên đường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, tôi bắt gặp hai người đi chân đất gồm một bà cụ đầu chít khăn mỏ quạ, gầy gò ốm yếu, dáng người đã thấp lại thêm khòm lưng ắt vì tuổi tác, răng nhuộm đen, tay dắt cháu gái cũng bé nhỏ ắt lên 6 tuổi. Bé gái đã cất tiếng thơ ngây vừa trỏ tay vào mấy dãy nhà cao tầng vừa hỏi: “ Bà ơi, nhà cao thế, sao người ta trèo lên trên ấy được?” Có lẽ hai bà cháu ở miền quê Bắc Bộ vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm đến chỗ đóng quân của mấy anh bộ đội người nhà chăng, và cả đời chưa bao giờ nhìn thấy nhà cao tầng cũng như chẳng thể tưởng tượng được cách mà những người ngụ cư bên trong ấy lên được các tầng cao để tỳ người vào lan can nhìn xuống những người dân quê đang dọc đường gió bụi.

AAA (3)

Vào đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, bất kỳ đi đâu bằng xe máy, tôi đều đội mũ bảo hiểm và trở thành hiện tượng quái lạ đến nỗi mỗi khi dừng lại ở đèn đỏ, người ở hai bên xe tôi đều hỏi câu tương tự như “Anh đội cái đó chi vậy?” hoặc “Nặng thế không mõi cổ à?” hoặc “Hầm hơi khó thở thế sao lại mang cái của nợ ấy vậy?” Có lẽ những nam thanh nữ tú ấy (a) ở các miền quê Nam Bộ mới đổ bộ vào Thành phố Hồ Chí Minh nên không biết là đối với tất cả các chàng trai thực sự có nam tính đều mê được đội các mũ bảo hiểm như các chiến sĩ cảnh sát công lộ chạy mô tô Harley của chế độ Sài Gòn, hoặc (b) ở thời hiện đại chỉ có ở Việt Nam đó là vừa thần phục Âu Mỹ hiện đại văn minh vừa chẳng biết các quy định Mỹ Âu văn minh hiện đại nghiêm ngặt ra sao đối với bất kỳ ai sử dụng xe đạp, xe máy, ô tô trên đường phố.

Vào đầu những năm 2000 của thế kỷ này, mỗi khi đi đâu một mình bằng ô tô dù đó là taxi Mailinh (thanh toán bằng thẻ) hay là xe cơ quan, tôi đều ngồi băng ghế trên, bên cạnh tài xế, và đóng cửa xong là tôi lần tìm dây đai bảo hiểm để cài. Tài xế nào dù của xe taxi hay của công ty tôi cũng đều nói ngay với tôi rằng “Sếp ơi, chỉ có quy định là em lái xe thì phải cột cái của nợ này nên sếp khỏi cần đeo đai”.  Có lẽ tài xế các ô-tô hiện đại ấy cộng với quy định quái lạ ắt chỉ có ở Việt Nam nên không biết rằng tất cả mọi người đã ngồi vào trong một phương tiện gọi là xe ô tô thì đều phải thắt dây an toàn, và rằng người ta hay mơ màng được đi du học hay du lịch nước ngoài nhưng không biết một điều rằng ngay cả tại Hong Kong trong xe taxi vẫn còn dán dòng chữ tiếng Anh rằng quý vị hãy thắt dây an toàn, nếu dọc đường phát hiện quý vị cởi bỏ dây, tài xế được phép ngừng xe yêu cầu quý vị thanh toán đủ tiền rồi bỏ quý vị xuống ngay tại chỗ dừng đột ngột ấy.

Sử dụng đường hàng không suốt từ những năm 1990 của thế kỷ XX đến nay đã qua hơn nửa của một phần tư thế kỷ XXI, tôi sau khi ngồi vào ghế, thắt dây đai an toàn xong là tắt luôn hai điện thoại di động của mình. Máy bay nào cũng phát yêu cầu bằng tiếng Việt và tiếng Anh có nói về nội dung sử dụng điện thoại di động, giữa lúc hành khách vẫn đang lục đục kiếm tìm chỗ ngồi ồn ào chẳng ai nghe nội dung phát thanh là gì và có nghe cũng chẳng để ý làm gì. Và trong tất cả các chuyến bay tôi đều thấy những người bất ổn thần kinh sử dụng điện thoại di động để chơi game, xem hình, hoặc bấm bấm liên tục – biểu hiện của bịnh nhân chứng nghiện di động mắt luôn chằm chằm nhìn vào màn hình ngón tay luôn bấm bấm quẹt quẹt, vì rằng đối với người thần kinh khỏe mạnh thì luôn tận dụng thời gian trên máy bay để hoặc nghỉ ngơi, hoặc mơ về những hoa mộng của cuộc đời. Mà tất cả những “chơi” này đều được tất cả các tiếp viên hàng không nam nữ từ bi nhân hậu không bao giờ yêu cầu hành khách ngưng ngay các hành động nguy hiểm đến an toàn bay như vậy, bất kể phone của họ có hiện đại đến đâu chăng nữa, như có phần tắt các gây nhiễu khi sử dụng phi cơ chẳng hạn. Thậm chí máy bay vừa đáp xuống xong và đang tiến dần dần vào nơi đỗ quy định thì toàn máy bay đã nghe tiếng bật phone vang lên kèm những câu nói như máy bay vừa đáp xuống xong, chịu khó chờ anh (hay chờ em) tí nhé, v.v. và v.v. Nghĩa là họ chưa bao giờ nghĩ rằng họ có thể là kẻ bất nhân vì rằng tuy máy bay đã hạ cánh an toàn nhưng việc bật phone khi chưa ra khỏi máy bay có thể gây nhiễu thiết bị điều khiển bay khiến chuyến bay sau với nhiều trăm hành khách mới sẽ có nguy cơ gặp nạn cao.

Và khi có mặt trong đoàn nghị sĩ Việt Nam sang Campuchia, tôi là người duy nhất mặc áo phao khi trên chiếc tàu máy lênh đênh trên Biển Hồ giữa trời nắng nóng như thiêu đốt. Không bất kỳ ai, dù đó là Đại sứ Việt Nam ở Campuchia, các nghị sĩ Việt Nam, các nghị sĩ Campuchia, các cận vệ, các lái tàu, lại mặc áo phao. Tuy áo phao chật cứng tôi không thể nào cài dây thắt được, tôi vẫn cố vật lộn với nó để mặc cho bằng được, kể cả khi rời tàu trèo lên thăm một “trường học nổi” neo cạnh bờ. Có vị đã hỏi tôi “Mặc làm gì, nóng nực lắm.” Có vị hỏi “Ông không biết bơi à?” Có vị hỏi “Ông sợ ư?”

AAA (2)

Chẳng ai biết tôi (a) đội mũ bảo hiểm nhiều chục năm trước khi Việt Nam có quy định phải đội như thế khi đi xe máy; (b) thắt dây đai an toàn nhiều chục năm trước khi Việt Nam có quy định tài xế phải thắt dây đai, rồi cách nay vài năm lại quy định tiếp rằng người ngồi kế bên tài xế phải thắt dây (ắt sau vài năm nữa sẽ quy định tiếp rằng ai ngồi băng ghế sau sẽ phải thắt dây an toàn, và vào thế kỷ sau sẽ quy định bất kỳ ai ngồi trên xe dù 4 chỗ hay 50 chỗ đều phải thắt dây an toàn); và (c) mặc áo phao khi sử dụng đường thủy dù đi ngắm cảnh hay ngồi…ăn tiệc cưới trên tàu lênh đênh trên sông; đơn giản chỉ vì tôi vì quốc thể, khi luôn muốn chứng minh rằng những quy định an toàn trong sử dụng phương tiện giao thông của thế giới hiện đại văn minh đều được tôi, một công dân đất nước Việt Nam văn minh hiện đại, tuân thủ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tội Ác Của Bob Kerrey

Tôi Và Fulbright

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-6-2016

Screen Shot 06-03-16 at 06.51 PM

1) Google Tiên Lãng:

Trong một bài viết mới đây, tôi có viết rằng tôi chả thèm đọc bài của mấy cái blog vớ vẩn chống Việt (tức chống Cộng, chống Chính phủ Việt Nam, chống Đảng Cộng Sản Việt Nam, chống thể chế chính trị Việt Nam, và cổ súy cho mấy thứ bị Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã gián tiếp xem là thứ vớ vẩn vô hiệu vô dụng chẳng hạn như “nhân quyền”).

Điều này cũng có nghĩa là tôi chỉ đọc – và thậm chí chăm chỉ đọc – các bài viết của các blog hay web tích cực như Sách Hiếm, Google Tiên Lãng, Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa, v.v., và v.v. Đọc vì..hợp “gu”, đọc để biết các vị này đang “mắng” ai hay việc gì, đọc vì để “né” hầu không viết trùng lặp nội dung, và đọc vì “phục.”  Sao lại không “phục” các vị như Thầy Trần Chung Ngọc và “Cô” Lê Hương Lan cơ chứ?

Cũng nhờ đọc Google Tiên Lãng, tôi biết đến vụ về Bob Kerrey. Và bài viết này không vì “không né” mà vì “hợp gu” nên cách tiếp cận của tôi đối với vụ Bob Kerrey là để làm rõ hơn những góc cạnh khác về Fulbright và về Bob Kerrey. Và do ở Việt Nam cụm từ “nhà sử học” không dành riêng cho người có bằng cấp cao về “Sử”, nên tôi với tư cách một “nhà sử học” thấy mình có thể nói về “Sử” như từ trước đến nay qua bài viết này, đặc biệt nhằm hỗ trợ “nhà sử học” nào chưa dám học tiếng Anh nhưng dám bạo mồm xem tội ác của quân Mỹ không đáng là một phần nên được ghi vào sử sách.

2) Tôi Và Fulbright

Vào những năm 1990 của thế kỷ trước, trong số 27 sinh viên cũ và nhân viên cũ tìm đến tôi để xin tôi giúp một thư tiến cử nộp vào hồ sơ xin học bổng Fulbright, tôi đã nhận giúp đúng 20 người, và cả 20 người đều thành công, được sang Mỹ du học, đã trở về nước, và gần hai thập kỷ nay chưa ai trong số họ phụ lòng tôi khi tất cả đều đi lên với sự nghiệp riêng và không bất kỳ ai chống đối chế độ hay phải đứng trước vành móng ngựa vì trở thành tội phạm.

Lý do để 27 người đó đã xin tôi giúp vì hồ sơ xin học bổng Fulbright cực kỳ chi tiết, đòi hỏi phải được một giáo sư trực tiếp giảng dạy viết lời phê và thư tiến cử, nhưng tất cả các giáo sư phụ trách bộ môn của họ đều (a) không ai viết được tiếng Anh, (b) có thể có vị biết tiếng Anh nhưng không thể nào viết đánh giá sâu sắc và thư tiến cử thuyết phục bằng tiếng Anh, (c) không ai chịu viết thư đánh giá sâu sắc bằng tiếng Việt dù sinh viên lạy lục cầu xin rằng sẽ đem các thư ấy đi nhờ dịch sang tiếng Anh rồi quay lại trình Thầy/Cô ký, và (d) là những vị khét tiếng ở trường đại học ấy do chuyên vòi vĩnh gợi ý sinh viên nên “biết điều” để được đánh giá tốt trong các luận văn tốt nghiệp nên sinh viên e sợ phải tốn kém khủng nếu như hồ sơ học bổng lại là đẳng cấp cao sang cỡ Fulbright cho học vị thạc sĩ.

Tôi đã giúp 20 người vì tôi biết rõ về tư cách của họ. Và tôi viết nhận xét cùng thư tiến cử rồi cho vào phong bì niêm kín (tùy trường hợp có yêu cầu như thế của hồ sơ), trao cho mỗi sinh viên để họ kèm vào đơn xin học bổng. Phong thư dày, vì tôi chưa bao giờ viết ngắn – nhất là viết bằng tiếng Anh. Nội dung tôi viết rất trung thực ngay cả về bản thân mình. Tôi có viết rằng tôi giảng dạy đại học sinh viên ấy nhưng tôi chưa có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, rằng tôi dạy đại học cho sinh viên ấy nhưng không dạy bộ môn mà sinh viên ấy đang xin Fulbright cấp học bổng, hoặc tôi viết rằng người ấy chỉ là học viên lớp tối của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nhưng tôi biết rõ tư cách người học viên ấy cùng quá trình làm việc của người ấy tại các công ty khác, hoặc tôi viết rằng người ấy đã là nhân viên của tôi tại công ty nào, hoặc tôi viết đó là đồng nghiệp của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nào nhưng là vai vế đàn em của tôi, v.v. Tôi cũng trả lời câu hỏi theo tôi thì người ấy khi trở về Việt Nam với thành tích học tập bên Mỹ về môn ấy môn ấy sẽ đóng góp được những gì cụ thể cho Việt Nam theo sự kỳ vọng của tôi. Tất cả tùy vào sự thật mỗi người ấy là ai. Và dù là phong bì niêm kín hay đánh máy ngay trên hồ sơ thì tôi biết chắc chắc rằng Fulbright phải công nhận – từ tàng thư của họ – một điều là không bất kỳ ai trên thế giới này có thể viết các nhận xét chi tiết với chất lượng ý tứ, ngôn ngữ Anh, và độ dài tương tự như sớ Táo Quân. Đó là lý do dù không đáp ứng đúng yêu cầu “giáo sư thực thụ đảm trách bộ môn mà ứng viên xin Fulbright cấp học bổng theo học thạc sĩ hay tiến sĩ tại Mỹ”, thư đánh giá và tiến cử của “thầy giáo đại học môn Anh Văn có bằng cấp cử nhân hạng trung bình màu xanh lè của Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh ” Hoàng Hữu Phước lại khiến Fulbright buộc phải xé rào chấp nhận cấp học bổng cho các anh tài nước Việt.

Tôi đã làm “công tác tư tưởng” đối với các em mà tôi đã viết thư tiến cử rằng (a) học bổng Fulbright là cơ hội quý hơn vàng vì Fulbright chỉ cấp học bổng toàn phần cực kỳ hậu hỉ cho việc theo học chỉ tại những đại học Mỹ nào lừng danh thế giới, (b) người ta cấp học bổng chỉ nhằm tạo nên những người có khả năng khi trở về Việt Nam sẽ trở thành những người có lợi cho Hoa Kỳ, (c) các em được tôi giúp vì tôi kính trọng tư cách của các em cũng như kỳ vọng vào các em đối với những gì các em có thể phục vụ đất nước tốt hơn hay tốt nhất tức những gì bản thân tôi đã không thể thực hiện được do đã không có cơ hội học lên cao như các em, (d) các em phải biết tôi là người như thế nào đối với đất nước này nên đừng bao giờ trở thành thứ ăn bã “dân chủ” hay “nhân quyền” rồi trở thành phạm pháp hay phản quốc, và (e) đừng bao giờ nuôi ý định ở lại Mỹ vì Fulbright cần tất cả trở về Việt Nam để “giúp” Việt Nam thân Mỹ hơn nên do đó trốn ở lại Mỹ sẽ bị chính Fulbright trừng trị.

Đã có những thạc sĩ Việt trở về từ Mỹ nhờ học bổng Fulbright và trở thành những “tù nhân lương tâm”, cứ như thể Fulbright có cấp văn bằng thạc sĩ có giá trị toàn cầu ắt mang tên MCP tức thạc sĩ môn học…“tù nhân lương tâm” vậy, cũng như nếu có “thạc sĩ Luật” nào đó từ học bổng Fulbright về Việt Nam ắt người ta sẽ thấy vị ấy không soạn được dự án Luật nào ngay cả khi có trở thành nghị sĩ Quốc Hội mà trở thành nhà quay phim chuyên rình bấm máy mỗi khi thấy có “xuống đường” ắt để tải lên Facebook minh họa cho lời y đòi “dân chủ” trong “bày tỏ lòng yêu nước”. Và do không thể kỳ vọng gì nơi các luật sư trở về từ học bổng Fulbright, tôi đành dịch bài viết dưới đây của Bill Vann đã đăng cách nay gần 15 năm để bạn đọc biết Bill Vann ngay từ thủa ấy đã viết gì về Bob Kerrey, cũng như từ đó biết luật sư Mỹ John DeCamp đang làm gì khi sang Việt Nam tìm đến Thạnh Phong thu thập chứng cứ để lôi Bob Kerrey ra chịu tội cho cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, một việc mà chỉ có luật sư Mỹ học tại Mỹ như John DeCamp mới làm cho nạn nhân các cuộc thảm sát của Hoa Kỳ, đơn giản vì chỉ có các luật sư Mỹ như John DeCamp mới không bị “tẩu hỏa nhập ma” do biết cái nào là cao lương mỹ vị và cái nào là “bã”.

3) Bài Viết Chống Bob Kerrey Của Bill Vann (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước)

Việt Nam Khép Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Kerrey Vào Tội Ác Chiến Tranh

Bill Vann
06-6-2002

Chính phủ Việt Nam đã cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Bob Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự khép tội này để đáp lại cuốn tự truyện phát hành gần đây mang tựa đề Thủa Tôi Là Thanh Niên, trong đó Kerrey trốn tránh trách nhiệm của mình đối với một vụ thảm sát được thực hiện bởi một đơn vị Hải quân SEAL (biệt kích Thủy Quân Không-Lục Chiến) mà y đã chỉ huy cách nay 33 năm.

“Chúng tôi hiểu sâu sắc và chia sẻ những nỗi đau, nỗi mất mát vô bờ bến mà các gia đình nạn nhân vô tội phải chịu đựng trong vụ thảm sát Thạnh Phong, những người đã bị thẳng tay hạ sát bởi đơn vị Thủy quân của Bob Kerrey,” Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết. “Dù cho Thượng nghị sĩ Kerrey có nói gì đi nữa cũng không thể thay đổi được sự thật. Chính Kerrey tự thừa nhận nỗi xấu hổ của mình về tội ác mà y đã gây ra”, bà Thanh nhấn mạnh.

Theo một bài báo trên Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao tuyên bố rằng Kerrey và “những ai đã phạm tội ác chiến tranh” nên có những bước thực hiện thiết thực để “giúp hàn gắn những vết thương họ đã gây ra.”

Bài báo lên án Kerrey, người hiện là Chủ Tịch của Đại học New School danh tiếng ở thành phố New York, đã tạo ra các mâu thuẫn trong những tuyên bố trong quyển sách y viết năm ngoái thừa nhận vai trò của y trong vụ thảm sát.

Trong một phần cực kỳ ngắn gọn nêu rằng Kerrey có nói sự việc ấy đã làm thay đổi cuộc đời  mình, Kerrey chỉ nêu một cách mơ hồ về những hành động của chính y vào cái đêm 25-2-1969 ấy khi y chỉ huy đội SEAL Hải Quân tiến vào một thôn ấp nhỏ ở Đồng Bằng sông Cửu Long tại Miền Nam. Y viết: “Người chỉ điểm của tôi dẫn đường. Anh ta tiến đến một ngôi nhà mà anh ta bảo mình tin rằng quân giặc đang ở đấy. Chúng tôi đã được huấn luyện rằng trong những tình huống như thế sẽ là quá mạo hiểm để tiếp tục hành quân vì mấy người này sẽ cảnh báo cho quân trong làng trừ phi chúng ta hoặc giết họ hoặc hủy bỏ nhiệm vụ. Tôi đã không phải ra lệnh bắt đầu giết chóc, song tôi lẽ ra đã có thể ngăn chặn và đã không ngăn chặn.”

Liệu y có ra lệnh hay không? Liệu y có tham gia vào việc giết chóc, hay chỉ là một người ngoài cuộc vô tội? Độc giả bị y bỏ rơi trong bóng tối.

Câu chuyện của Kerrey tránh né sự mô tả chi tiết của sự bắt đầu đẫm máu tấn công vào Thạnh Phong như đã đăng trên tạp chí New York Times năm ngoái. Một chiến binh Hải quân phục vụ dưới quyền Kerrey báo cáo rằng đã có năm người trong căn nhà ấy. Một bô lão chống cự và, theo lời kể lại, Kerrey đã quỳ đè lên lưng cụ để một chiến binh khác cắt cổ họng. Bốn người khác, gồm một phụ nữ và ba trẻ em, bị đưa ra ngoài và sát hại từng người một.

Tiếp tục câu chuyện trong cuốn sách mới của mình, Kerrey nói rằng y và quân của mình tiến vào ngôi làng nơi họ thấy chỉ có phụ nữ và trẻ em, thức dậy bởi sự ồn ào nên ra đứng trước cửa. Có người đã bắn một phát súng, Kerry nói, và toán SEAL đáp trả bằng “một loạt súng chát chúa.”

“Tôi thấy phụ nữ và trẻ em trước mặt chúng tôi bị đạn bắn trúng và xé toạt ra nhiều  mảnh. Tôi nghe thấy tiếng kêu thét của họ và những giọng nói khác trong màn đêm khi chúng tôi rút lui về hướng kênh đào.”

Đây là đoạn mô tả duy nhất về vai trò của Kerrey trong cái đêm mà y cùng quân lính do y chỉ huy đã tàn sát 21 phụ nữ, trẻ em và bô lão.

Một trong những quân lính tham gia cuộc tấn công là Gerhard Klann đã kể lại chi tiết hơn với tờ Times về vụ thảm sát. Ông nhấn mạnh rằng không phát súng nào bắn vào các biệt kích SEAL và chẳng có “màn đấu súng” nào cả. Thay vào đó, quân Mỹ lùa các thường dân vào giữa làng và tàn sát họ trực diện. Những người Việt Nam sống sót từ đó đến nay đã ra mặt kể lại câu chuyện giống như nội dung của Klann hơn là phiên bản của Kerrey về cuộc tấn công ấy.

Kerrey hiện đang lưu diễn trong nước nhằm quảng bá cho quyển tự truyện của y, xuất hiện tại các hiệu sách và tổ chức các cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh và truyền hình. Y đã né tránh các thắc mắc của báo chí về tuyên bố của Chính phủ Việt Nam, nhưng lại giận dữ đáp lại một câu hỏi được nêu ra tại một buổi xuất hiện ở hiệu sách tại Thủ đô Washington.

“Tôi đã nói rõ rồi, và bây giờ tôi nói rõ, rằng cả hai phía đều đã gây ra rất nhiều thiệt hại trong chiến tranh Việt Nam,” y nói. “Bạn phải vượt qua điều này. Tôi tin chắc chắn rằng đa số người dân ở Việt Nam muốn tiếp tục cuộc sống của họ.”

Tuyên bố này phù hợp với những nỗ lực phối hợp của các phương tiện truyền thông và chính trị gia cùng phe với Kerrey để dập tắt những tranh cãi về sự tham gia của y trong vụ thảm sát Thạnh Phong. Tờ New York Times thậm chí còn không nói gì đến tuyên bố của Việt Nam tố cáo Kerrey là tội phạm chiến tranh.

Trong khi lúc đầu làm sống lại những cáo buộc về những hành động tàn bạo, cuốn sách của Kerrey dường như được phát hành như một bài tập kiểm soát thiệt hại, nhằm làm chìm xuồng toàn bộ vấn đề. Trong cuốn hồi ký, Kerrey nói về chính mình như là một nạn nhân chính của sự kiện Thạnh Phong, chứ không phải 21 nạn nhân vụ thảm sát và gia đình của họ.

Việc Kerrey nói rằng “cả hai bên đã gây ra rất nhiều thiệt hại” và rằng người Việt Nam nên “vượt qua điều đó” chẳng khác nào một sự tởm lợm viện dẫn tính chất của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và vai trò của mình trong đó. Hơn ba triệu người Việt Nam đã bị sát hại, hầu hết trong số họ là nạn nhân của Mỹ trong các vụ rải bom thảm, bom napalm, và kiểu thảm sát như được thực hiện bởi Kerrey ở Thạnh Phong. Vụ khét tiếng nhất trong số này là do trung úy William Calley thực hiện ở Mỹ Lại, nơi 567 người già, phụ nữ và trẻ em bị sát hại, hầu hết bị bắn chết chung trong một đường mương.

Các cuộc tấn công mà Kerrey tiến hành trong thời gian ngắn y đóng quân ở vùng châu thổ sông Cửu Long là một phần của một chương trình ám sát bí mật của CIA mang tên Chiến Dịch Phượng Hoàng, nhằm tìm và diệt những lãnh đạo chính trị của cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam ở miền Nam. Chiến Dịch Phượng Hoàng gây ra cái chết của hàng chục ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Mục tiêu trong cuộc tấn công vào Thạnh Phong là nhằm vào vị trưởng thôn, người được biết là có thiện cảm với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia chứ không phải là chế độ Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn.

Còn về việc “vượt qua việc đó,” hàng triệu người Việt Nam vẫn gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Chất độc da cam, các loại thuốc diệt cỏ phun từ máy bay Mỹ tiêu diệt rừng cây hầu khiến các chiến binh giải phóng không còn nơi ẩn nấp, đã làm khu vực rộng lớn của đất nước bị ô nhiểm. Là hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học này, chất dioxin độc hại ngấm vào chuỗi thức ăn khiến hàng triệu người bị vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, bao gồm cả nửa triệu trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Washington đã bác bỏ tuyên bố bồi thường, khẳng định rằng không có đủ bằng chứng và, giống như Kerrey, bảo người Việt hãy “vượt qua việc ấy đi.”

Động cơ Kerrey trong đánh bóng vai trò của chính y trong chiến tranh và làm sai lệch bản chất phạm tội của sự can thiệp của Mỹ là hiển nhiên. Là một chính trị gia sáng giá của đảng Dân Chủ, y đã cố giành sự đề cử của đảng Dân Chủ trước đây, và hiện thường được nói đến như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng cho năm 2004. Y vẫn chưa ngừng cuộc đua vào Nhà Trắng.

Trên một mức độ rộng lớn thì nhờ có chiến tranh Việt Nam mà Kerrey thăng tiến sự nghiệp chính trị của y, nhận được sự ủng hộ như một vị anh hùng chiến tranh được thưởng huân chương – y đã được trao Huân Chương Sao Đồng cho chiến công láo khoét về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong được tung hê rằng những kẻ bị giết toàn là “Việt Cộng” – và Huy Chương Danh Dự Của Quốc Hội cho trận đột kích sau đó khi một quả lựu đạn làm y mất phần dưới gối của một bên chân. Trong khi các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam phản đối chiến tranh đã ném vất bỏ huy chương qua hàng rào Nhà Trắng để phản đối sự xâm lăng của Mỹ, thì Kerrey sau khi giải ngũ khỏi Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Washington nhận các giải thưởng từ Richard Nixon.

Kerrey giờ đây tuyên bố đã từ lâu luôn bị ám ảnh bởi cuộc chạm trán đẫm máu ở Thạnh Phong, nhưng y cứ ngậm tăm cho tới khi năm ngoái xuất hiện các sự tiết lộ về vai trò của y. Trong các chiến dịch chính trị thành công của mình cho ghế Thống Đốc Bang Nebraska và một ghế trong Thượng Viện, cũng như sự thất bại trong cuộc chạy đua giành sự đề cử của đảng Dân Chủ năm 1992, y đã dựa hẳn vào một quá trình tham chiến đã miêu tả xằng bậy gọi một hành động tàn bạo chống lại thường dân không vũ trang là một hành động quả cảm anh hùng.

John DeCamp, một đồng nghiệp cũng là chính trị gia Bang Nebraska và cũng là một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, cựu thượng nghị sĩ bang, đã đến thăm Thạnh Phong hồi đầu năm nay, gặp gỡ các gia đình của những người thiệt mạng trong vụ thảm sát. Ông đã kêu gọi Bộ Quốc Phòng mở một cuộc điều tra đối với cuộc tấn công, và đe dọa sẽ thay mặt những người sống sót để khởi kiện đòi bồi thường. Ông nói rằng Kerrey đã từ chối các đề nghị giúp lập nên một quỹ hỗ trợ những người sống sót.

Kerrey đã bác bỏ và gọi các yêu cầu của DeCamp là “vô lý và nực cười.”

Tại sao như vậy? Thành viên của quân đội Serbia đang phải đối mặt với các phiên xử tội ác chiến tranh tại The Hague vì đã thực hiện tội ác không ghê gớm như Kerrey đã làm ở Việt Nam. Đối với vấn đề đó, binh sĩ quèn và vệ binh tuy chỉ “làm theo mệnh lệnh” của quân SS Đức Quốc Xã vẫn phải đối mặt với lệnh trục xuất khỏi nước Mỹ và bị xét xử dù đã 60 năm sau khi gây ra tội ác.

Vấn đề thực sự là vì sao dù cho có sự phơi bày sự dính líu của Kerrey trong vụ thảm sát máu lạnh cùng hành vi che dấu sau đó của y, lại có quá ít yêu cầu mở cuộc điều tra. Tại sao vẫn chưa có một phản đối kịch liệt đòi bãi nhiệm Kerrey khỏi chức vụ chủ tịch New School, một đại học nổi tiếng trong quá khứ về truyền thống giáo dục dân chủ và tiến bộ của nó?

Sau những tiết lộ đầu tiên, hội đồng quản trị của New School mới công bố “hỗ trợ vô điều kiện” họ dành cho Kerrey mà không cần có cuộc điều tra độc lập nào dù nhỏ nhất. Họ vẫn lặng thinh đối với các cáo buộc gần đây của Chính phủ Việt Nam cũng như đối với việc làm giả tài liệu lịch sử trong cuốn sách của Kerrey.

Việc nín thinh của các đồng sự quanh Kerrey bởi phe nhóm chính trị bao gồm những kẻ từng tự gọi mình là những người tự do và phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Nam Á đã có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Các nỗ lực miêu tả một tội phạm chiến tranh, xem y là “nạn nhân” chẳng thua gì những người mà y đã giết chết, không phải là kết quả của sự cảm thông dành cho một cá nhân.

Thay vào đó, giai cấp cầm quyền đã chộp lấy vụ việc của Kerrey làm cơ hội để giáng một đòn mạnh vào di sản của sự phản đối rộng khắp chống lại sự xâm lược bằng quân sự của Mỹ, với số thương vong khủng khiếp của nó nhằm vào thường dân vô tội, cũng như sự hy sinh tàn bạo những chiến binh Mỹ đã được biết đến dưới tên gọi “hội chứng Việt Nam”.

Hơn thế nữa, trong khi Kerrey bị cáo buộc là một cá nhân phạm tội ác chiến tranh, thì vẫn còn có cả phe nhóm chính trị và quân đội – từ Henry Kissinger cho đến Tướng William Westmoreland cùng cựu giám đốc CIA Richard Helms – những kẻ đã trực tiếp ra lịnh thực hiện những tội ác lớn chống lại nhân loại mà chưa bao giờ được đem ra xét xử.

Với sự bùng nổ của chủ nghĩa quân phiệt Mỹ sau vụ 11 tháng 9, vụ Kerrey mang lại ý nghĩa chính trị thậm chí còn to lớn hơn. Lập luận bao che tội ác mà y đã gây ra – cùng vô số những hành động tàn bạo khác đã gây ra trong hơn ba thập kỷ trước – và cố gắng để hợp pháp hóa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam sẽ giúp mở đường cho những cuộc tàn sát mới và khủng khiếp hơn của quân đội Mỹ.

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam buộc Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” và nỗ lực của y trong cuốn tự truyện của mình để một lần nữa bao che cho vai diễn của mình, phải dẫn đến lời kêu gọi hành động của những sinh viên và giảng viên tại New School, những người coi trọng sự thật lịch sử và phản đối chủ nghĩa quân phiệt .

Yêu cầu bãi nhiệm Kerrey khỏi vị trí Chủ tịch của New School là một biện pháp cần thiết để sạch hóa xã hội: cho phép một tên tội phạm chiến tranh làm người đứng đầu một tổ chức hàn lâm lớn chỉ làm hạ phẩm giá của trường đại học và làm ô uế bầu không khí trí tuệ nói chung.

Chiến dịch đòi sa thải Kerrey, tuy nhiên, phải được dẫn dắt không chỉ ở những hành động của một cá nhân. Nó phải được sử dụng như một phương tiện nhằm giáo dục các thế hệ mới của sinh viên, người lao động, và giới trẻ đối với những bài học thật sự về Chiến Tranh Việt Nam, chuẩn bị cho họ chống lại các tội ác chiến tranh mới tại Afghanistan, Colombia, Iraq, và những nước khác.

*********

4) Kết Luận Về Bob Kerrey

Trong bài viết tựa đề Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức đăng trên Emotino, tôi có đưa hình ảnh sau về một cuộc tàn sát khác ở Bến Tre, và hình ảnh cũng do một phóng viên Mỹ thực hiện để tố cáo tội ác của quân đội Hoa Kỳ:

……..Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Screen Shot 06-03-16 at 07.35 PM

…..

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong tỉnh Bến Tre. Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh.

Khi bị lôi ra ánh sáng, Bob Kerrey qua quyển tự truyện của y và các trả lời phỏng vấn đã phạm thêm năm trọng tội gồm

(a) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã nhục mạ ý nghĩa cao quý của các huân chương quốc gia và huy chương quốc hội vốn chỉ dành cho các hành động anh hùng dũng cảm vị quốc vong thân. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(b) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã hợp pháp hóa các hành vi gây tội ác chống loài người, khiến giới trẻ Hoa Kỳ nhập ngũ sẽ lại vướng vào các trọng tội tương tự, có thể đưa Hoa Kỳ vào tình thế nghiêm trọng trước phản ứng của phần còn lại của nhân loại. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(c) Đối với Việt Nam: y tuyên bố rằng cả hai bên – tức Mỹ và “Việt Cộng” – đều đã gây ra những thiệt hại to lớn như nhau, với ngụ ý cả hai đều gây ra những cuộc thảm sát. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(d) Đối với gia đình nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám ngụ ý rằng y mới là nạn nhân của vụ thảm sát Thạnh Phong chứ không phải 21 người Việt bị y sát hại cũng như gia đình của 21 người này. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(e) Đối với gia đình các nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám cười cợt gọi đề xuất của luật sư DeCamp đòi phải bồi thường cho các gia đình của 21 nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong là “vô lý và buồn cười”. Đây là sự ngạo mạn, vô phương cứu chữa, xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

Với tư cách người đã được Fulbright kính trọng – qua việc chấp nhận cấp học bổng cho những người Việt Nam nào có thư đánh giá và tiến cử của tôi, giáo viên Cử Nhân Anh Văn – tôi có lời khuyên ngắn gọn đến Fulbright rằng với thực tế nhiều người có học bổng Fulbright trở thành những “tù nhân lương tâm” do chống chính phủ Việt Nam sau khi “vinh quy bái tổ”, Fulbright nên khôn khéo dấu cái đuôi của mình bằng cách hãy thay thế Bob Kerrey bằng người khác. Trường hợp Đại học Fulbright cần phải có “sớ Táo Quân” tiếng Anh của tôi mới chịu thay thế Bob Kerrey thì cứ lục kiếm tàng thư của chính Fulbright sẽ biết phải gởi yêu cầu ấy đến đâu.

Cựu chiến binh nào của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cũng có thể trở lại Việt Nam thăm chiến trường xưa và làm tất cả những gì mà sự ân hận có thể được diễn đạt bằng lý trí và với khả năng nhận thức sai trái của bản thân trong quá khứ thể hiện bằng sự thực tâm tưởng niệm các nạn nhân, bằng những lời nói đậm ấm tình người, chứ không nhất thiết phải bằng những đóng góp tài chính cụ thể. Vì người Việt rộng lượng và độ lượng, giàu tình cảm và dồi dào sự tha thứ như đã luôn thể hiện từ xưa đến nay.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam do (a) đã bị Chính Phủ Việt Nam cáo buộc tội ác chiến tranh; (b) xuyên tạc, xúc xiểm, xúc phạm Việt Nam; và (c) xuyên tạc, xúc phạm, xúc xiểm các nạn nhân của vụ thảm sát ở Thạnh Phong.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam vì y chỉ là một tên man rợ không đáng được dành cho sự tiếp đón chỉ dành cho con người.

Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế,  Nhà Lập Pháp – Nghị Sĩ Đương Nhiệm Của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Nguồn tham khảo & đọc thêm:

Nguồn bài viết tiếng Anh của Bill Vann trên trang web của tổ chức WSWS của Anh Quốc: https://www.wsws.org/en/articles/2002/06/kerr-j06.html