Hậu Sự Cố Luật Hình Sự 2015

9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Đương Nhiệm Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

03-7-2016

LamLuat

Như đã nêu trong bài Sự Cố Luật Hình Sự 2015 đăng vào tuần trước, tôi có nêu các quy trình cực kỳ chi li, cực kỳ tốn kém tiền bạc, cực kỳ tốn kém thời gian, cực kỳ mang tính huy động nguồn lực nhân sự toàn xã hội cho mỗi dự án luật. Cũng vì vậy mà tôi có thể khẳng định rằng tất cả những lời bào chữa của các quan chức đối với sự cố Luật Hình Sự 2015 đều hoàn toàn sai khi trả lời phỏng vấn của báo chí rằng sắp tới đây để rút kinh nghiệm cho sự cố Luật Hình Sự 2015 các quy trình tham vấn cần được tiến hành lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và cử tri. Quy trình đã và đang có. Quy trình đã và đang rất bao trùm đối với khâu lấy ý kiến. Quy trình đã và đang rất tốn kém. Và tôi đoan chắc rằng nếu các quan chức Quốc Hội “rút kinh nghiệm” kiểu này thì mọi sự vẫn sẽ y như cũ vì “quy trình” đã chặt chẽ đủ đầy bao trùm rồi và hậu quả vẫn sẽ là những sai sót được lập đi lập lại trong công tác lập pháp. Chín lý do duy nhất gây ra “sự cố Luật Hình Sự 2015” và các Luật khác là như sau:

1- Tư Tưởng Cầu An: Chuyên Gia Tất Không Sai

Chuyên gia của Quốc Hội đã hoặc tự cao tự đại (ta là chuyên gia nên luôn đúng) hoặc giáo điều (những kỹ thuật văn bản mà Quốc Hội áp dụng từ thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn đúng) hoặc cầu xin hai chữ bình an (công việc đa đoan nên chẳng dại gì động vào hệ thống cho rách việc trước khi ta nghĩ hữu hưởng nhàn từ bổng lộc dồi dào thụ hưởng từ Nhà Nước), nên đã không làm gì khi được Chủ Tịch Quốc Hội chuyển đến họ công văn sau của tôi, cho thấy họ sẵn sàng chấp nhận cái sai dù cái sai ấy chỉ là về kỹ thuật văn bản dự án Luật chứ chưa nói đến nội dung dự án Luật:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Cách Đánh Số Trong Các Đạo Luật

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về cách đánh số trong các đạo luật của Việt Nam:

1) Hiện nay tại tất cả các trường đại học ở Việt Nam dù đội ngũ giảng viên cơ hữu đều có danh xưng học vị thạc sĩ, tiến sĩ – mà đa số tốt nghiệp từ các trường tư bản – nhưng không hiểu sao trong các giáo trình họ soạn hay viết, các văn bản hay thông báo nội bộ trường, các hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên, v.v., đều không theo bài bản khoa học chuyên nghiệp của nước ngoài trong cách đánh số. Chẳng hạn họ sử dụng rất nhiều những ký hiệu như dấu hoa thị (*) và dấu chấm (.) trước vô số những chi tiết dẫn giải phụ, thay vì phải dùng đến mức độ thí dụ như  IV.A.a.8.iii. chẳng hạn, khiến sinh viên sau này có ra nước ngoài học cao hơn sẽ gặp khó khăn về lập bố cục luận án.

2) Trong khi đó, các đạo luật ở Việt Nam lại vướng vấn đề khác, có thể do tự ái dân tộc hay vì hiểu nhầm ý nghĩa của “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên mặc định sử dụng thứ tự mẫu tự tiếng Việt để đánh dấu các đoạn trong văn bản pháp luật, pháp quy, của nhà nước, đặc biệt xuất hiện trong các đạo luật, theo đó thứ tự thí dụ tuần tự là A, B, C, D, Đ, E, G,… hay a, b, c, d, đ, e, g, …, v.v, (sử dụng đ nhưng không rõ lý do cho phép dùng đ trong khi lại không sử dụng các chữ như ă/â/ê/ơ/ô/ư trong đánh số thứ tự) khiến các bản tiếng Anh (hay tiếng nước ngoài khác) sẽ gây khó khăn cho sự tham khảo của người nước ngoài do không có từ tương đương trong tiếng Anh để họ hiểu ký hiệu đ đó là gì và phải phát âm ra sao trong quá trình tranh tụng của họ tại tòa án Việt Nam, hoặc khi đánh máy dẫn chứng trong văn bản của họ gởi cơ quan nước ta.

Với sự thể như trên, tôi kính đề nghị Quốc hội quy định sử dụng thống nhất mẫu tự bảng chữ cái tiếng Anh để “quốc tế hóa” cách đánh số văn bản pháp luật, pháp quy của Việt Nam, theo đó các số thứ tự sẽ là A, B, C, D, E, F, G…,J, …,W, Y, Z, và a, b, c, d, e, f, …, j, …, w, y, z. Sự sử dụng theo cách này hoàn toàn không xa lạ với người Việt hay vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào về văn hóa Việt, khi mà chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hay dùng các mẫu tự như F và Z trong các bản thảo của Người, còn văn bản của Trung Ương Đảng luôn dùng ký hiệu TW, trong khi xã hội đã quen với J từ tên quốc gia Nhật Bản (Japan).

Ngoài ra, xin quy định cấm sử dụng các ký hiệu như dấu hoa thị (*) hay dấu chấm (.) trong đánh số các đoạn trong văn bản pháp luật/pháp quy để sự dẫn chứng tham khảo trở nên chuyên nghiệp và thực tế hơn, thí dụ như:

– theo nội dung điều II.A.1.c.ix

vì không thể nào dẫn chứng bằng cách nói rằng

–  theo điều II Khoản A Mục 1 dấu hoa thị thứ ba, dấu chấm thứ 9

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

2- Tư Tưởng Cực Đoan Duy Ý Chí: Thiếu Linh Hoạt Hấp Ta Hấp Tấp

Sự cố Luật Hình Sự 2015 được bào chữa là do phải “tuân theo” quy trình thảo luận tại một kỳ họp toàn thể của Quốc Hội và thông qua tại kỳ họp toàn thể tiếp theo. Đây vừa thể hiện (a) sự không nghiêm túc nhận khuyết điểm ngay, (b) sự dối trá với nhân dân vì thực tế đã có sự linh hoạt đối với Luật Đất Đai vốn trải qua ba kỳ họp toàn thể của Quốc Hội cũng như bộ luật “gốc” là Hiến Pháp kéo dài nhiều kỳ họp toàn thể Quốc Hội, (c) sự chạy theo thành tích bằng mọi giá, và (d) sự sùng bái ý kiến lãnh đạo.

Đối với phần “sùng bái ý kiến lãnh đạo” nêu trên, dẫn chứng ở đây là chỉ cần Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thực hiện Nghị quyết Trung Ương Đảng tuyên bố khởi động soạn thảo dự án Luật Biểu Tình, là mọi sự phải răm rắp tuân theo. Khi tôi phát biểu ứng khẩu tại nghị trường Quốc Hội về sự hấp ta hấp tấp đối với đề xuất dự thảo dự án Luật Biểu Tình, tôi đã dựa trên sự thật rằng (a) nội dung “biểu tình” chưa hề được Việt Nam làm rõ về ngữ nghĩa, (b) vẫn có nghị sĩ chưa hiểu biết gì về sử liệu “biểu tình” nên phát biểu sai sự thật, (c) vẫn chưa nghị sĩ nào lưu ý đến một sự thật là quyền “biểu tình” không thể được thực thi bởi toàn dân mà chỉ đối với thị dân các đô thị lớn nên nhất thiết phải qua trưng cầu dân ý, (d) đa số nghị sĩ bất tài vô dụng đã luôn xem “luật biểu tình” là cái phao để bấu víu vào đấy như “trả xong nợ với nhân dân” hầu tránh sự thật rằng sự chậm đưa đất nước thành cường quốc mới là cái nợ duy nhất đối với toàn dân tộc, và nhất là (e) khi cái gọi là quy trình “hai kỳ họp” sẽ khiến có sự hấp ta hấp tấp trong soạn thảo và thông qua tại Quốc Hội bất chấp yêu cầu “phải biết lo trước cái lo của người dân” nơi mỗi chính khách thực thụ khiến sẽ dẫn đến một sự cố lớn hơn sự cố “Luật Hình Sự”. Chính sự “sùng bái ý kiến lãnh đạo” này mà báo chí hùa nhau lập công, xách động cuộc tấn công toàn diện nhằm vào tôi không những trên báo in mà còn trên không gian mạng. Chân lý bao giờ cũng chiến thắng, vì nhân dân – qua sự đại diện của các nghị sĩ – đã ủng hộ tôi nên tôi đã thành công trong việc ngăn chặn được sự hấp tấp đối với cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016). Tất nhiên, cũng trong suốt nhiệm kỳ này tôi đã tích cực viết blog các bài nghiên cứu sâu về “biểu tình” cả về ngữ nghĩa và thực tế, nhằm giúp Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) có thể có đủ các tham khảo cần thiết cho sự soạn thảo dự án “Luật Biểu Tình”.

Tóm lại, dự án “Luật Biểu Tình” đã tránh được vết xe đổ của dự án “Luật Hình Sự 2015”.

3- Tự Tung Tự Tác Của Chuyên Gia

Có một sự cố đã bị dấu giếm tại Kỳ họp thứ 11 của Quốc Hội Khóa XIII đối với  Dự Thảo Luật Dược Sửa Đổi mà tôi có chống gậy ra Hà Nội tham dự . Người dân chỉ biết rằng ngày 06 tháng 4 năm 2016 Quốc Hội đã biểu quyết thông qua Luật Dược Sửa Đổi với hiệu lực thi hành từ tháng 7 năm 2016. Sự thể là sau khi đã họp Tổ, thảo luận lần chót tại phiên họp toàn thể Quốc Hội tại nghị trường, cũng như lấy phiếu góp ý về những điều khoản “nhạy cảm”, Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội đã được “chuyên gia” trình ký bản tiếp thu giải trình của Ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội. Song, khi bản in cuối cùng dự án luật trên cơ sở các điểm mà các nghị sĩ đã viết phiếu góp ý và được ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội chấp nhận để thường Vụ thông qua, được gởi đến các đoàn nghị sĩ thì các nghị sĩ của đoàn Thành phố Hồ Chí Minh như Bà Phạm Khánh Phong Lan (Giám Đốc Sở Y Tế) và Ông Nguyễn Đông Phong (Giám đốc Sở Công An) phát hiện nội dung của vài điều đã bị sửa đổi khác với nội dung kiến nghị của họ đã được Thường Vụ chấp nhận. Sự nghiêm trọng ở chỗ nếu không phát hiện sự tự  tung tự tác tự ý sửa đổi các điều luật ấy, cơ quan an ninh trên cả nước sẽ bó tay trước các tội phạm ma túy, còn cơ quan y tế trên toàn quốc sẽ bó tay đối với việc kinh doanh tự do các tiền chất ma túy. Khoan hãy nói đến nghi án là các “chuyên gia” văn bản pháp luật của Quốc Hội đã “ăn tiền” của Mafia để sửa nội dung Luật nhằm trói tay Quốc Hội với mặc định là luật đã ban hành thì phải có hiệu lực thực hiện ít nhất là 10 năm mới được sửa đổi, mà chỉ cần nêu sự việc họ tự ý sửa điều khoản Luật đã là hành vi phạm pháp cực kỳ nghiêm trọng.

Đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đã phải hỏa tốc gởi công văn đến Tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân để báo cáo sự việc, chưa kể phải tranh luận thuyết phục vị chủ nhiệm ủy ban có liên quan vì vị này do sợ bị trách nhiệm liên đới nên cố gắng biện minh rằng “tuy đúng là mấy em đó có lỡ tay sửa đổi nhưng tôi thấy nội dung vẫn có thể hiểu được là tương đồng”.

4- Chạy Theo Hư Danh

Cái mang tính “thời thượng” ngày nay là nghị sĩ Việt Nam hay nói về “nhân quyền” như một thứ trang sức à-la-mode. Hàng chục năm trước, khi nghe Quốc Hội nói về “tính nhân đạo” trong xóa bỏ nhiều tội danh tử hình, tôi đã than với đồng sự rằng luật pháp nước ta đã hỏng bét rồi vì tội phạm sẽ gia tăng, và các đồng sự đã khuyên tôi rằng “anh nên cố ra làm nghị sĩ một lần đi”. Đến khi tôi làm nghị sĩ thì cái thứ trang sức ấy đã quá choáng ngợp đến độ người ta thi nhau nói về “biểu tình”, về “nhân quyền”, và về “tiêm thuốc độc”. Rốt cuộc, cái việc “tiêm thuốc độc” sau khi luật đã ban hành lại không thực hiện được vì Việt Nam không sản xuất được, còn các viện bào chế thế giới không chịu bán cho Việt Nam vì họ viện lý do…nhân đạo! Thế là Quốc Hội lại họp toàn thể để bàn việc lùi ngày áp dụng Luật hoặc ra Nghị Quyết sửa đổi Luật.

5- Cung Cách Lãnh Đạo “Camouflage” Ở Đoàn Đại Biểu Quốc Hội

Như đã nêu trong một trong những bài “tư vấn các nghị sĩ mới” về công việc một nghị sĩ Việt Nam, tôi có ngụ ý về cung cách “camouflage” của lãnh đạo Đoàn Nghị Sĩ. Ở đây, tất nhiên, tôi chỉ nói về Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh chứ không dám nói nội dung sau đây có ở tất cả các đoàn của các tỉnh thành trên cả nước.  Lãnh đạo Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn nói thẳng rằng Đoàn Nghị Sĩ Thành phố Hồ Chí Minh phải luôn luôn phát biểu hay nhất tại nghị trường. Hay nhất, tất nhiên chỉ mang nội hàm liên quan đến cái sự “nghe lọt lổ tai” của người dân và của báo chí, chứ không bao giờ mặc định phải luôn kèm sáu thuộc tính quan trọng hơn là (a) đúng thực tế thực hành, (b) có sức thuyết phục đối với chính phủ và quốc hội, (c) có tính khả thi cao đối với Nhà nước, (d) áp dụng được đối với toàn hệ thống, (e) có tính định tính, và (f) sau đó định lượng được với kết quả minh bạch như ý.

Để đạt yêu cầu về “hay”, sau mỗi lần họp Tổ, Trưởng Đoàn dựa vào hai biện pháp  duy nhất là Thu Hút (phải là người mà báo chí luôn tập trung ghi chép ý phát biểu để dăng báo) và Từ Chương (phải là chức sắc của ngành) để chỉ định nghị sĩ nào sẽ nhấn nút đăng ký phát biểu trước ở nghị trường, và nếu thời gian cũng như số lượng đăng ký ít thì các nghị sĩ khác trong Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh có thể nhấn nút đăng ký tiếp. Điều này khiến các nghị sĩ khác hoặc không làm gì cả hoặc như tôi miệt mài viết kiến nghị gởi email đến lãnh đạo Quốc Hội.

Suy ra, việc đóng góp ý kiến cho các dự thảo dự án Luật đã không thể nào có chất lượng cao khi các nghị sĩ dù họp Tổ hay họp toàn thể ở Nghị Trường chỉ được phát biểu trong 7 phút, thay vì lẽ ra họ nên soạn thảo bằng văn bản để các ý kiến được trình bày đầy đủ hơn, khoa học hơn, dễ tham khảo hơn đối với các ủy ban chuyên trách có liên quan, và đặc biệt là phục vụ tốt nhất cho công tác lưu trữ tàng thư cực kỳ quan trọng như tại tất cả các Nghị Viện trên thế giới.

“Camouflage” tức là đội lốt, ngụy trang.

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn có bộ “camouflage” hào nhoáng trong phát biểu 7 phút phục vụ cho các trang báo in vốn là công cụ tuyên truyền của Nhà Nước, và sự phồn vinh thịnh vượng của đất nước thì vẫn chưa thấy dù ở chân trời, trong khi sự phát triển tốt đẹp của Thành phố Hồ Chí Minh chỉ thuần ở ngôn từ tổng kết.

6- Cung Cách Đại Biểu Quốc Hội Là Chức Sắc Địa Phương

Cũng tại Thành phố Hồ Chí Minh, do tuyệt đại đa số các nghị sĩ đều là chức sắc cùng đứng dưới mái nhà của Thành Ủy, mà điều lệ của Đảng rất nghiêm ngặt về tính phục tùng, nên dù muốn dù không thì sự sinh hoạt nội bộ thiên nhiều về phe nhóm quyền lực của thứ tự trên dưới chứ không của đẳng cấp ngang bằng tức cùng là nghị sĩ đại diện cho dân.

Như dẫn ra trong thí dụ dưới đây, tôi đã gởi ngay cho Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm một công văn khẩn cấp, ngay khi đến dự phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân, được phát tập tài liệu các nghị quyết sẽ được thông qua, và nhận ra ngay những lỗi nghiêm trọng trong một dự thảo:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 12 năm 2013

Kính gởi : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Đồng kính gởi: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Bản sao kính gởi:

-Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

-Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

-Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

-Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v.: Thư góp ý khẩn cấp về Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Báo cáo số 790/BC-VHXH ngày 05-12-2013 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm tra tờ trình nói trên.

Kính thưa Quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh,

Qua tham dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh  Khóa VIII sáng Thứ Hai 09-12-2013, và tham khảo Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin kính gởi đến Quý Lãnh đạo các ý kiến đóng góp khẩn cấp theo thứ tự nội dung sau:

A- Về 8 Tên Nhân Vật Người Nước Ngoài:

1- Những điểm không đúng và các kiến nghị (về xem xét lại sự lựa chọn, và phương pháp viết tên):

a) Marie Cuirie: Tên viết đúng phải là Marie Curie (tên đầy đủ là Marie Sklodowska-Curie) và thích hợp theo cách dùng của tên tiếng Anh.

b) Nêru. J – Jawaharlãl Nehru: Tên viết đúng nên là Jawaharal Nehru vì kiểu Việt hóa phiên âm thành Nêru không nên tiếp tục tồn tại ở Việt Nam trong thế kỷ XXI này, nhất là khi các tên khác trong danh mục của tờ trình lại không ở dạng Việt hóa phiên âm tương tự. Đồng thời loại bỏ dấu ngã trên chữ cái “a” như thể hiện trong báo cáo, để cho đúng theo cách dùng của tên tiếng Anh.

c) Hô-xê Mác-ti: Việc Việt hóa phiên âm này là điều không nên tiếp tục tồn tại như trường hợp ở trên của “Nêru”. Dù tên viết bằng tiếng bản xứ của nhân vật này là José Martí với hai từ và mỗi từ có một dấu sắc (tên đầy đủ là José Julián Martí Pérez tức là có bốn từ và mỗi từ đều có một dấu sắc) thì chúng ta cũng nên sử dụng cách viết trong tiếng Anh là Jose Marti. Đặc biệt nên chấm dứt kiểu phiên âm cho đúng với bản ngữ đặc thù thí dụ Mê-hi-cô, vua Hoan Các-lốt, Hô-xê, v.v., thay vì sử dụng tiếng Anh chung với toàn nhân loại là Mexico, vua Juan Carlos, Jose, v.v. Lập luận một cách khác: từ “Hồ Chí Minh” ở tiếng Việt không bao giờ được phát âm đúng ở tiếng Nga (phiên âm thành “khô-si-min”) vậy thì Việt Nam không có lý do gì lại phải tự trói buộc rằng mình phải phát âm (thậm chí viết ra cho giống y như cách phát âm) cho đúng ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đối với chữ cái “J” trong Jose và Juan, thành Hô-xê và Hoan, v.v…

d) Kovalevskaya: Trong khi tên của những nhân vật khác được viết quá đầy đủ thì tên của nữ nhân vật này lại bị bỏ hết phần tên và chữ lót. Tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya theo kiểu dùng tiếng Anh viết lại y cách phát âm tiếng Nga Со́фья Васи́льевна Ковале́вская. Đây là trường hợp củng cố lập luận đối với Hô-xê Mác-ti ở trên, nghĩa là khi chữ cái một ngôn ngữ – ở đây là tiếng Nga – không thể được thể hiện bằng bàn phím của đa số nhân loại, người ta chấp nhận sử dụng cách ghi tên theo tiếng Anh. Ngoài ra, đối với trường hợp của Sofia Kovalevskayacần phải để ý thêm đến chi tiết Bà thích dùng tên Sophie Kowalevski (hay Sophie Kowalevsky) trên tất cả các tác phẩm nghiên cứu của Bà và đó cũng là cách giới khoa học quen viết về tên Bà, nên cần cân nhắc lựa chọn giữa việc “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga thành tên tiếng Anh Kovalevskaya” hay “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga để cho ra Kowalevski/Kowalevsky thuần Anh.” Diễn giải theo cách khác, nếu chúng ta “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga thành tên tiếng Anh Moskva” thì e là đa số nhân loại không hiểu ta đang nói về ai hay về cái gì, nhưng nếu ta “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga để cho ra Moscow” thì đa số nhân loại sẽ hiểu ngay. Vì vậy, trong trường hợp này, tôi đề nghị nên xem xét sử dụng Sophie Kowalevsky (hoặcSophie Kowalevski) là tên danh chính ngôn thuận của Bà khi dời sang sống và làm việc ở Đức và Thụy Điển.

e) Albert Bruce SabinRobert Koch tuy là hai nhà y học có công lớn đối với nhân loại (Sabin chế tạo ra vắc xin ngừa bại liệt, còn Koch tìm ra vi khuẩn bịnh than, bịnh tả, và bịnh lao), nhưng vẫn dễ gây tranh cải về vai trò của nhiều người cũng có tầm quan trọng tương tự như Alexander Fleming đã chế ra Penicillin hay các vị chế ra các thứ thuốc khác cho những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, dẫn đến yêu cầu có thể có nơi cử tri đối với việc đưa thêm nhiều tên tuổi y học khác cũng đoạt giải Nobel Y học như Koch vào danh sách này.

f) Jean Baptiste Louis Pierre: Xin xem lại trường hợp này vì nếu vị này có “công” xây dựng Thảo Cầm Viên Sài Gòn thì sẽ không tránh khỏi chất vấn rằng sau này sẽ có những đường phố mang tên các vị đã có “công” xây Nhà thờ Đức Bà, Nhà Hát Lớn, Vườn Tao Đàn, và tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.v.v..

2) Tôi xin giới thiệu thêm tên 7 nhân vật người nước ngoài thật sự có giá trị giáo dục cao, mang ý nghĩa chính trị lịch sử cách mạng Việt Nam sâu sắc

a) Francis Henry Loseby (Luật sư Anh đã làm thất bại âm mưu của chính quyền Hong Kong muốn giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho thực dân Pháp)

b) Norman Morrison (Công dân Mỹ tự thiêu ngày 02-11-1965 trước Ngũ Giác Đài, nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, để phản đối Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Norman là nhân vật trong bài thơ “Emily” của Tố Hữu)

c) Olof Palme (Thủ tướng Thụy Điển, ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ, bị ám sát ngày 28-02-1986). Tên đầy đủ là Sven Olof Joachim Palme

d) Jeffrey Glenn Miller (Nam sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

e) Allison B. Kraus (Nữ sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

f) William Knox Schroeder (Nam sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

g) Sandra Lee Scheuer (Nữ sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

B- Về 19 Tên Nhân Vật Lịch Sử Trước Thế Kỷ XX:

– Vũ Phạm Hàm: Xin xem lại trường hợp này vì theo chú thích của Tờ trình thì vị danh sĩ này nhờ “quán” tờ báo “Đông Văn” nên được đánh giá là “tuy chưa bộc lộ rõ nét nhưng qua đó cũng đã thể hiện lòng yêu nước kín đáo của ông”. Tôi cho rằng nếu dựa vào chi tiết đây là vị thi đỗ thủ khoa Thi Hương và tiến sĩ Thi Hội và Thi Đình rồi làm quan thì nhất thiết phải đưa vào danh sách rất nhiều vị khoa bảng khác. Riêng ghi chú rằng ông có “nhiều tác phẩm được nhiều người tìm đọc và đánh giá cao” thì rất vô nghĩa do các nhà nho đều có các tác phẩm xướng họa thi văn, và vấn đề ở đây là chỉ có kiệt tác mới được đưa vào chương trình văn học ở các cấp lớp trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu thêm về danh sĩ này và viết lại nội dung về ông trong tờ trình để việc đề nghị dùng tên ông đặt tên đường mới không gây những phản ứng không có lợi từ cử tri.

C- Về 45 Tên Nhân Vật Lịch Sử Sau Thế Kỷ XX

Trần Sĩ Hùng: Kính đề nghị điều tra thêm về năm mất của vị anh hùng cách mạng này, vì ghi chú rằng ông “về nhận công tác ở Cục Bảo Vệ Chính Trị 1 – Bộ Công An cho đến khi nghỉ hưu” có thể sẽ gây ra thắc mắc vì sao Bộ Công An không biết cán bộ của mình mất lúc nào, và vì sao “nghỉ hưu” vốn liên quan đến nhiều cơ quan giải quyết chế độ chính sách mà không nơi nào biết vị này ở đâu, mất lúc nào, để lo việc hậu sự long trọng cho người anh hùng cách mạng này.

D- Về 27 Tên Nhà Nghiên Cứu, Nhà Hoạt Động Văn Hóa Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật:

1- Đề xuất cách lựa chọn:

a) Đối với các “nhà nghiên cứu, hoạt động văn hóa-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật” nên đặt ra các thang bậc để đánh giá những đóng góp (ưu tiên lựa chọn nhân vật thuộc bậc thang “cao”):

– Trung bình: làm tốt công việc chuyên môn, phẩm hạnh tốt

– Khá: phát triển được chuyên môn của bản thân có lợi cho nước cho dân và cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, kinh tế, v.v.

– Cao: rạng danh nước Việt Nam với thế giới (ở nước ngoài ngay cả một cá nhân ca sĩ hay một ban nhạc cũng có thể gây ảnh hưởng đến cả thế giới)

b) Đối với tác phẩm văn hóa phải theo cách nhìn nhận giá trị thông lệ là qua thử thách của thời gian bao nhiêu chục năm

2- Đề nghị xem lại các trường hợp sau:

a) Phạm Trọng Cầu: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

b) Thanh Nga: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

c) Út Trà Ôn: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

d) Xuân Quỳnh: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng các tác phẩm  chưa qua thẩm định của đủ thời gian thông lệ để được nhìn nhận giá trị văn học cũng như vị trí cao trọng trong văn học sử nước nhà để từ đó làm vẻ vang cho tên tuổi của tác giả.

E- Về 2 Tên Địa Danh:

Xin giới thiệu thêm tên địa danh:

– Phong Nha : đây là nơi được Hiệp Hội Hang Động Hoàng Gia Anh Quốc đánh giá là đẹp nhất thế giới và được tạp chí National Geographic phát hành số chuyên khảo giới thiệu với nhân loại. “Làm rạng danh Việt Nam trên thế giới” cũng nên là tiêu chuẩn xét đưa vào danh sách tên đặt cho đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh.

F- Kiến Nghị:

Kính đề nghị Quý Lãnh Đạo Thành phố Hồ Chí Minh cho phép tôi được tham gia tham khảo đóng góp ý kiến đối với những chương trình, dự tính, dự án, của địa phương về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, học thuật, an ninh-trật tự, v.v., nếu không thuộc loại tối mật của Thành phố, để giúp được nhiều hơn cho Thành phố.

Kính mong nhận được sự quan tâm của quý lãnh đạo.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, bà Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã không cho sửa sai cũng như chưa hề cảm ơn tôi dù là bằng lời nói hay bằng công văn.

Tương tự, tôi đã có thư gởi Nghị sĩ Phạm Khánh Phong Lan (Phó Giám Đốc Sở Y Tế) để nêu những tồi tệ trong việc kê toa thuốc tắc trách đầy nguy hiểm nơi các bịnh viện lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thay vì nhận được ý kiến phản hồi của vị chức sắc ấy, tôi lại nhận được lời nhắc nhở của Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh rằng tôi đã làm mếch lòng nghị sĩ Phong Lan; cũng như khi tôi gởi thư đến Nghị sĩ Huỳnh Ngọc Ánh (Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị can thiệp vụ làm ngơ kéo dài việc khiếu kiện của vị bô lão trên 90 tuổi Lý Vĩnh Bá ở Quận Phú Nhuận thì tôi chỉ làm cụ Lý Vĩnh Bá phải chịu đựng thêm sự “hành hạ” của Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh mà thôi.

Đấy là ở phạm vi một Thành phố. Liệu ở phạm vi Quốc Hội thì có chăng việc tương tự trong cách hành xử đối với các góp ý của các nghị sĩ địa phương – nhất là khi đó là nghị sĩ ngoài Đảng, không thế lực, chẳng ô dù?  Vì rằng nếu cung cách này phổ biến thì các dự án Luật sẽ luôn có vấn đề về nội dung sau khi được Chủ Tịch Nước ban hành.

7- Sự Bất Cập Trong “Tạo Điều Kiện” Cho Đại Biểu Quốc Hội

Có vị mới đây đã trả lời phỏng vấn rằng Quốc Hội có khoản trợ cấp để giúp các nghị sĩ có tiền làm việc với chuyên gia khi nghiên cứu về luật.

Trên thực tế: có mục trợ cấp ấy. Đây là việc bình thường, vì trên toàn thế giới không phải cứ là nghị sĩ thì biết tất tần tật mọi thứ.

Trên thực tế: trên cơ sở định mức của Quốc Hội cho mỗi lần sử dụng chuyên gia, nghị sĩ phải điền vào một biểu mẫu hợp đồng và phải nộp hợp đồng ấy cùng bài viết của chuyên gia cho Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội để được nhận vài triệu đồng trả công cho chuyên gia.

Tôi đã gởi thư đến Chủ Tịch Quốc Hội để nêu các luận điểm sau:

1- Hợp đồng quá sơ sài

2- Ai mới được gọi là “chuyên gia” và Quốc Hội có danh sách “chuyên gia” trên toàn quốc cho mỗi lĩnh vực không?

3- Nếu “chuyên gia” về một lĩnh vực đặc thù không sẵn có ở địa phương thì phải làm sao?

4- Nếu chỉ có một “chuyên gia” của một lĩnh vực đặc thù nào đó thì phải chăng Quốc hội cho phép chi trả cho một “chuyên gia” ấy bất kể anh ta nhận “viết bài” cho 450 nghị sĩ và gởi cùng một bài viết cho 450 vị ấy để nhận 450 phần tiền do các nghị sĩ không thể biết ngoài mình ra còn có ai sử dụng dịch vụ của “chuyên gia” ấy?

5- Tại sao phải nộp “bài viết” kèm theo, vì đó là thứ mà nghị rất cần giữ để “đọc” tại hội trường vào những buổi “trực tiếp truyền hình”?

6- Tôi – và chắc nhiều nghị sĩ khác cũng thế – không bao giờ cần thuê mướn “chuyên gia” kiểu đó, mà chính tôi phác thảo các yêu cầu cho một đề tài và rất cần thuê người dựa theo đó mà tìm các tài liệu giúp tôi, dịch các tài liệu ấy nếu từ nguồn nước ngoài, in ấn các tài liệu ấy để tôi đọc và đánh dấu các đoạn cần thiết, đánh máy tổng hợp các phần tôi đã đánh dấu để in ra nộp lại cho tôi dùng trong công văn góp ý do chính tôi soạn. Vậy những nhu cầu này có được xem là sử dụng “chuyên gia” không?

7- Do không phải tất cả các tư vấn của “chuyên gia” đều có giá trị sử dụng nên Quốc hội có sẽ đồng ý thanh toán cho “chuyên gia” ấy không nếu “công trình” của “chuyên gia” bị nghị sĩ có liên quan quyết định bỏ, không dùng đến?

Tất nhiên, tôi chưa từng nhận được phúc đáp của Chủ Tịch Quốc Hội, và suốt từ năm 2011 đến nay tôi luôn xuất tiền túi ra để thanh toán cho “chuyên gia” của tôi chứ không dại gì làm hồ sơ xin thanh toán cho “chuyên gia” vì tôi luôn thận trọng không bao giờ để bản thân bị mang tiếng đối với bất kỳ việc gì có liên quan đến tiền bạc một khi hợp đồng quá yếu kém dù do Bộ Tài Chính chấp bút, còn điều kiện thì quái gở.

Như vậy, các nghị sĩ khác nếu có sĩ diện giống tôi nhưng lại không muốn bỏ tiền túi ra thuê “chuyên gia” thì bảo sao mà không thụ động trong nghiên cứu các dự án luật mà đóng góp cụ thể được, khiến dự án luật cứ có nhiều hạt sạn từ nhỏ đến to.

8- Sự Hợp Tác Của “Dân”

Thật là lý tưởng tuyệt đối khi dùng hai chữ nhân dân trong việc lấy ý kiến toàn dân. Song, có một thực tế hiển nhiên ai cũng biết là Việt Nam sau năm 2000 rất khác với Việt Nam của thời 1975-1990.

Vào thời 1975-1990 việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc, luôn đông đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ dù không đặc sắc vẫn hàm chứa các nội dung chính quyền cần phổ biến và các hộ cần nắm thông tin.

Vào thời từ 2000 cho đến nay, việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh trở thành sự gượng gạo, không bao giờ đầy đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ vẫn không đặc sắc với nội dung chính quyền cần phổ biến lại không là thứ thông tin các hộ cần nắm bắt. Ba trong những nguyên nhân chính là (a) thông tin không hề thiếu trên truyền thông mạng cũng như báo in và truyền hình, (b) người dân có nhiều nhu cầu giải trí và có nhiều tiện nghi giải trí ở khắp nơi để tham gia sau giờ làm việc khiến khó thể có mặt để tham dự họp Tổ, và (c) đa số người dân không còn quan tâm đến sinh hoạt Tổ Dân Phố mà họ xem như một cực hình. Thậm chí khi “vận động” mọi người dân trong tuổi “cử tri” đi họp “tiếp xúc ứng cử viên đại biểu quốc hội” thì ngay cả việc có một người đại diện cho cả hộ dù hộ ấy có rất nhiều người trong độ tuổi luật định làm cử tri có mặt cũng là điều bất khả ở nhiều nơi.

Vì vậy, việc “lấy ý kiến” của người dân đối với một dự án luật không bao giờ đạt yêu cầu, trừ phi “người dân” đó là cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc ở phường xã đứng lên phát biểu để ghi vào biên bản biến thành “đóng góp ý kiến của nhân dân khu phố” rồi nộp lên cấp cao hơn. Đây là lý do đã, đang, và sẽ khiến việc “lấy ý kiến đóng góp của nhân dân” tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với một dự án luật không bao giờ giúp dẫn đến việc dự án luật ấy được nghiên cứu sâu sắc hơn để được hoàn thiện hơn.

9- Tranh Luận Về Dự Án Luật

Như đã nêu trong công văn sau tôi gởi đến Chủ tịch Quốc Hội và cũng như đã luôn được nêu lên bởi các cơ quan ngôn luận, việc tranh luận tại Quốc Hội về một dự án luật đã chưa hề được diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử của Quốc Hội:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về việc phát biểu tại Hội trường Quốc hội trong các kỳ họp.

1) Tình hình thực tế:

Qua các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII tôi nhận thấy quy trình phát biểu của đại biểu như sau:

a- Đại biểu vào hội trường bấm nút đăng ký

b- Lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp mời đại biểu phát biểu

c- Đại biểu phát biểu (chủ yếu đọc bài viết soạn sẵn để chủ động bảo đảm thời lượng quy đinh 7 phút)

Quy trình trên hoàn toàn công bằng theo mặc định (người trước người sau theo thứ tự ấn nút đang ký trước-sau) và theo tổ chức (lãnh đạo chủ trì sẽ điều tiết để tránh nhiều đại biểu cùng đơn vị cùng đăng ký trước nếu phát biểu theo thứ tự trước-sau sẽ không ành thời gian cho các đại biểu ở đơn vị khác).

Tuy nhiên, hai yếu điểm bộc lộ từ quy trình trên là người dân hoàn toàn không thấy có sự tranh luận bất kỳ tại Quốc hội mà chỉ có việc mạnh ai nấy đọc bản tham luận của mình, trong khi đó lại chứng kiến (qua trực tiếp truyền hình) việc lãnh đạo Quốc hội yêu cầu đại biểu không lập lại nội dung trùng ý của đại biểu khác đã phát biểu trước đó nhưng các đại biểu vẫn vô tư đọc đầy đủ và trọn vẹn các bài viết sẵn có các đoạn trùng ý.  Hai yếu điểm này sẽ được người dân nhận ra, làm gia giảm sự quan tâm đến các buổi trực tiếp truyền hình, khiến nỗ lực gia tăng thời lượng phát sóng trực tiếp bớt hiệu quả chính trị, trong khi đó lại gia tăng cơ hội cho bọn chống Việt Nam lợi dụng để chỉ trích.

2) Kiến nghị:

Để sự phát biểu mang ý nghĩa ích lợi thực tế, tôi kính đề nghị:

a- Trước kỳ họp, các đại biểu gởi bài phát biểu đến Quốc hội để được đăng tải trên trang web Quốc hội. Do đại biểu đã biết kỳ họp sẽ có nội dung nào, về các luật gì, và các đoàn đều có tổ chức mời giới luật gia và ban ngành đoàn thể đến tập trung góp ý cho từng dự án luật hay từng vấn đề một nên các đại biểu đều nắm thông tin, nghiên cứu thêm, và hình thành trước các bản góp ý hay phát biểu. Vấn đề là đem theo các bài soạn sẵn chờ đến kỳ họp đúng ngày đúng buổi để nhấn nút phát biểu và gặp phải sự phát biểu trùng ý sẽ khiến sinh hoạt như vậy kém hiệu quả và thiếu chuyên nghiệp. Việc đăng bài lên trang web Quốc hội (mỗi đại biểu có quyền gởi  hàng chục bài cho hàng chục đề tài khác nhau theo chương trình dự kiến của Quốc hội) giúp người dân theo dõi, và giúp các đại biểu đọc của nhau, từ đó phát hiện những vấn đề nào cần phải tranh luận thêm vì chưa đồng thuận để ghi nhận và chờ đến kỳ họp để tranh luận trực tiếp tại hội trường.

b- Tại kỳ họp, việc nhấn nút của đại biểu là để tranh luận về chi tiết ý kiến mà đại biểu khác đã thể hiện trong bài viết đã đăng tải trên web Quốc hội mà người dân đã đọc và đã nắm thông tin. Việc theo dõi tranh luận – nếu nhằm phiên có trực tiếp truyền hình – của người dân do đó sẽ có hứng thú trước nội dung tranh luận, khả năng hùng biện, hiệu quả thuyết phục, để qua đó nhận xét về khả năng của từng đại biểu của dân. Theo cách này, thời gian mỗi kỳ họp có thể ngắn hơn, hoặc có nhiều thời gian hơn cho những vấn đề trọng đại khác mà từng thời điểm có thể đặt, thay vì chỉ là việc đọc các bài soạn sẵn để góp ý cho một dự án luật nào đó mà sự góp ý có thể thực hiện sớm hơn (gởi email để được đăng ngay lên web Quốc hội), ít tốn kém cho Nhà nước hơn (chi phí cho thời lượng phát sóng trực tiếp để dành giúp dân nghèo).

c- Ngoài ra, về vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin (xin được gọi tắt là IT) cũng cần nâng cấp hợp lý, theo đó, khi một đại biểu đang phát biểu (theo hướng b ở trên), các đại biểu khác nếu thấy nhất thiết phải tham gia phản bác thì có thể nhấn nút để “chen ngang”, theo đó, sau khi đại biểu ấy phát biểu xong, lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp sẽ mời đại biểu nhấn nút “chen ngang” phát biểu thay vì mời đại biểu đã đăng ký tiếp theo trước đó. Theo cách này, sự tranh luận sôi nổi tại hội trường sẽ được hình thành, và đó là điều cần thiết trong sinh hoạt Quốc hội. Việc thêm một chức năng như vậy vào hệ thống IT, theo tôi, không phải là điều có khó khăn về kỹ thuật và tài chính.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Như vậy, có thể nói rằng các phát biểu của nghị sĩ về một dự án luật tại Nghị Trường – đặc biệt vào những buổi có trực tiếp truyền hình – chưa bao giờ giúp hoàn thiện một dự thảo dự án luật do đa số các vị đọc các bài soạn sẵn mà nhiều khi lập lại ý kiến trùng lặp với nghị sĩ đã phát biểu trước đó, đến độ có khi chủ tọa phiên họp phải chen ngang nhắc khéo là hãy bỏ các ý trùng lặp để dành thời gian cho nghị sĩ khác thì vị nghị sĩ đang đọc cũng không thể loại bỏ phần nào cả vì không rõ đoạn nào mới là đoạn trùng lặp vì đã không tập trung lắng nghe bài phát biểu của vị khác trước mình. Đã không có tranh luận sâu sắc để hùng biện đả phá những điều khoản của từng điều khoản quan trọng của mỗi dự thảo dự án luật thì việc một đạo luật ban hành đạt yêu cầu hoàn hảo lại tùy phần lớn vào sự may mắn.

Làm luật mà đặt vấn đề quan trọng nhất là rà soát xem dự thảo có phù hợp với chủ trương không, có phù hợp với trào lưu “tiến bộ văn minh” của thế giới không, có phù hợp với “nhân quyền” không, trong khi phớt lờ chín điều nêu trên thì quả là khiến việc lập pháp sẽ luôn đối mặt với những vấn nạn này nọ.

Với các hiểu biết thấu đáo và kinh nghiệm va chạm thực tế tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lẽ ra đã có thể ra tay chấn chỉnh đoàn Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong Khóa XIV để đem Đoàn từ căn bịnh trầm kha thâm căn cố đế camouflage tiến vào thực tế chuyên nghiệp nghị viện. Tuy nhiên, tôi sẽ dõi mắt quan tâm đến hoạt động của từng thành viên trong Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) của Thành phố Hồ Chí Minh để có thể viết các góp ý mới khác để tiếp tục gởi Chủ Tịch Quốc Hội nhằm xây dựng một Quốc Hội Việt Nam lành mạnh thực chất hơn trong chức năng lập pháp và giám sát.

HHP Poem (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) QUỐC HỘI

1) Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng November 9, 2013

2) Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện.  November 14, 2013

3) Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. 26 November 2013

4) Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 April 29, 2014

5) Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc May 11, 2014

6) Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội May 31, 2014

7) Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm” July 1, 2014

8) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường. July 18, 2014

9) Thư Gởi Thủ Tướng August 20, 2014

10) Hành Trang Nghị Sĩ September 17, 2014

11) Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam October 4, 2014

12) Phản Hồi Của Bộ Giao Thông Vận Tải November 4, 2014

13) Bài 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội December 21, 2014

14) Bài 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam December 24, 2014

15) Bài 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam January 20, 2015

16) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội – Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp January 21, 2015

17) Bài 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội February 5, 2015

18) Báo cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước December 4, 2015

19) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi Của Người Dân December 13, 2015

20) Bài 5: Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. February 24, 2015

21) Bài 6:  Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang” December 27, 2015

22) Bài 7:  Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân December 28, 2015

23) Phải Biết Lo Trước Cái Lo Của Người Dân December 31, 2015

24) Bài 8: Công Tác Tiếp Dân January 2, 2016

25) Bài 9: Công Tác Giám Sát Của Nghị Sĩ January 3, 2016

26) Bài 10: Công Tác Ủy Ban Quốc Hội January 4, 2016

27) Hãy Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tự Do Cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) January 9, 2016

28) Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021) March 8, 2016

29) Quyền Lực Của Cử Tri March 24, 2016

*** Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương January 21, 2015

B) PHÁP LUẬT

1- Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình  June 5,2013

2- Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992. 05 June 2013

3- Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp July 25, 2013

4- Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân  November 22, 2013

5- Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi) November 26, 2013

6- Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 November 26, 2013

7- Biểu Tình và Ô Danh. May 20, 2014

8- Luật Biểu Tình. May 26, 2014

9- Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

10- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên. April 2, 2015

11- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. April 14, 2015

12- Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? September 18, 2015

13- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” October 14, 2015

14- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)” October 18, 2015

15- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)” October 18, 2015

16- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân” November 14, 2015

17- Huỳnh Văn Nén December 6, 2015

18- Điều Luật 258 April 2, 2016

19- Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague May 22, 2016

20- Hình Sự Hóa Quan Hệ Hợp Đồng Kinh Tế June 8, 2016

21- Sự Cố Luật Hình Sự June 28, 2016

*** Pháp Luân Công October 7, 2015

Trích từ Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016

Lam Luat 1Lam Luat 2Lam Luat 3Lam Luat 4

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.