Monthly Archives: September 2016

Cấm Dạy Thêm: Đúng Và Sai Của Thành Phố Hồ Chí Minh

Vấn Nạn Tơ Nhện Vò

day-them-2

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-9-2016

day-them-3

1) Vấn Nạn Tơ Nhện Vò

Người đời thường dùng thành ngữ “rối như tơ vò”, hoặc “rối như canh hẹ” hoặc “rối như mớ bòng bong”, hay là “rối như gà mắc tóc” để chỉ sự rối rắm cực kỳ. Tuy nhiên, có “rối như canh hẹ” thì bát canh hẹ nấu chung với nghêu trai ngọt lịm thơm lừng cũng sẽ được ăn sạch bách, có “rối như mớ bòng bong” thì cái mớ bòng bong ấy làm gì mà có người nào trên đời này tháo gỡ làm gì vì tất cả chỉ để dùng nhóm bếp, có “rối như gà mắc tóc” thì thiên hạ cứ bình tỉnh mà đem nó ra làm món cà ri gà, và còn “rối như tơ vò” thì tơ tằm cũng như sợi chỉ – thậm chí tơ tằm silk yarn của Công ty Silkvina Tỉnh Lâm Đồng Việt Nam còn cứng hơn sợi chỉ may y phục sewing thread của hãng Wel-Tec LLC Bang Pennsylvania Hoa Kỳ nên không khó tháo gỡ các “cục rối” – có thể kiên nhẫn gỡ từ từ được một ít nhất là một ít đoạn để tái sử dụng.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như tơ vò”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như canh hẹ”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như mớ bòng bong”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như gà mắc tóc”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam thực ra đã rối như tơ nhện vò. Nghĩa là vô phương. Nghĩa là bó tay. Nghĩa là không bao giờ cứu vãn nổi. Ngay cả Người Nhện Spiderman cũng chào thua nếu tơ của anh ta phóng ra bị vò cục.

2) Cái Sai Cốt Lõi Nghiêm Trọng Từ Khởi Thủy Của Sau 1975

Hệ tiểu học và trung học của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là 9 năm. Nghĩa là học xong lớp 9 là có thể vào đại học.

Hệ tiểu học và trung học của Việt Nam Cộng Hòa là 12 năm. Nghĩa là học xong lớp 12 là có thể vào đại học.

Khi làm Việt Nam Cộng Hòa bị vĩnh viễn xóa khỏi bản đồ thế giới bằng đại cuộc Giải Phóng Miền Nam 30-4-1975, ngay cả trước khi chính thức thống nhất đất nước hình thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã có sự hợp nhất hệ thống giáo dục và đào tạo của hai miền Nam-Bắc bằng cách ngay trong năm 1976 khai giảng năm học mới của “cách mạng”, và chính quyền mới đã

(a) công nhận sự ngang bằng tuyệt đối về đẳng cấp và chất lượng của lớp 9 Miền Bắc với lớp 12 Miền Nam, bất kể danh mục các môn học không giống nhau;

(b) công nhận các cán bộ, chiến sĩ tiếp quản Miền Nam, cùng con em của họ từ Miền Bắc vào sum họp gia đình, nếu đã tốt nghiệp lớp 9 Miền Bắc, đương nhiên được ưu tiên thi vào các trường đại học ở Miền Nam – lúc đó chỉ có tại Thành phố Hồ Chí Minh;

(c) quyết định những trường trung học nào ở Thành phố Hồ Chí Minh – cụ thể như trường Phan Đình Phùng ở Quận 3 – chỉ được dạy tiếng Nga bất kể học sinh nhiều lớp tại đó đã học tiếng Anh lên đến lớp 8 cũng phải bỏ hết tiếng Anh để học tiếng Nga từ đầu; và

(d) hủy bỏ toàn bộ chương trình cùng giáo trình học tập và đào tạo của Miền Nam để áp dụng toàn bộ chương trình cùng giáo trình học tập và đào tạo của Miền Bắc, khiến dẫn đến việc chương trình 9 năm Miền Bắc bị kéo dãn ra thành đủ 12 năm cho các trường học ở Miền Nam – do trong một sớm một chiều không thể biên soạn giáo trình mới cho hệ 12 năm – nghĩa là sự học ở Miền Nam phải đối mặt với sự thiệt thòi do giảm môn học chính trong khi tăng thời lượng thêm 3 năm so với Miền Bắc với thực tế là chất lượng giáo trình đương nhiên không thể cao, còn tiếng Anh sẽ không bao giờ có thể trở lại thế mạnh của nó về trình độ và hiệu quả sử dụng trong đời sống.

Sau đó, hệ 12 năm được áp dụng trên toàn quốc, nhưng chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành quốc nạn do thầy giáo cô giáo đã từng là học sinh của chính chương trình giáo dục trên chỉ có thể tạo nên những học trò tương hợp, khởi đầu cho một sự rối như tơ nhện vò vô phương cứu chữa.

3) Tham Khảo Chương Trình Thi Cử Của Việt Nam Cộng Hòa

Như đã nói trong nhiều bài viết trước đây trong rất nhiều năm qua, sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa quá khủng khiếp, chấn động cả địa cầu, đến nỗi những người đào thoát và cả những người ở lại đều không còn bất kỳ ai – trừ tác giả bài viết này –  nhớ đến những chi tiết mang tính sử liệu quan trọng về Việt Nam Cộng Hòa, như dấu gạch nối của từ ngữ tiếng Việt (thí dụ: Hoàng-Hữu-Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế), sự thành lập Đảng Dân Chủ với “đảng kỳ” cờ vàng sao đỏ của Nguyễn Văn Thiệu, trò tuyệt thực của các dân biểu đối lập, v.v. vốn đã được nêu trong các bài viết tại các đường link ở phần tham khảo bên dưới. Ngoài ra, những sử liệu về giáo dục & đào tạo của Việt Nam Cộng Hòa cũng hoàn toàn vắng bóng trên toàn thế giới, trong khi bất kỳ những gì của quá khứ đều đương nhiên có cùng lúc ba giá trị của nguồn tham khảo để bổ sung dữ liệu, nguồn tham khảo để đúc rút kinh nghiệm “gạn đục khơi trong”, và cơ sở không thể thiếu để minh chứng cho sự thật lịch sử rằng lịch sử là sự thật.

Những sự thật sau đây về mảng giáo dục chính là để phục vụ cho ba giá trị ấy.

a) Giáo Dục: Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn tương hợp với Âu Mỹ khi đặt trọng tâm vào “giáo dục” (education). “Giáo dục” nghĩa là các lo toan cho bậc “trung học”, vì rằng “đại học” thuộc lĩnh vực “đào tạo” (training) nhắm đến đại cuộc mỗi cá nhân có một nghề nghiệp để mưu sinh, chứ “đại học” không bao giờ thuộc lĩnh vực “giáo dục” tức lĩnh vực nhắm đến xây dựng người có tri thức tổng quát cần thiết cho đại cuộc trở thành người công dân.

Chính vì tầm quan trọng của người công dân có tri thức đối với xã hội và quốc gia mà chương trình giáo dục bắt buộc phải đặt nặng vấn đề thi cử để làm động lực thúc đẩy sự gắng học tự thân mỗi học sinh. Không tranh đua thì không thể có sự bức phá tiến lên khiến xã hội hoặc dậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi. Không thi cử thì không có người đoạt cúp nghĩa là khái niệm danh dự và vinh dự bị xóa bỏ hoàn toàn.

Cả Việt Nam Cộng Hòa trước đây và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều giống nhau ở chỗ đưa ra khái niệm “học gì thi đó”. Song, điểm tuyệt đối khác nhau là ở Việt Nam Cộng Hòa thì học môn nào thi môn đó nghĩa là học 11 môn thì thi đủ 11 môn, còn ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì học bài nào thi bài đó trong số chỉ có hai ba môn “chính” nào đó do chính Nhà Nước chọn ra để làm môn thi. Thậm chí chương trình học trung học của Việt Nam Cộng Hòa còn gồm có kỳ thi Tú Tài I (học xong lớp Đệ Tứ tức lớp 9) và thi Tú Tài II (học xong lớp Đệ Nhất tức lớp 12), nghĩa là sự khó khăn của kỳ thi Tú Tài I sẽ giúp định hướng nhiều học sinh nghiệm ra sự thách thức cao độ của Tú Tài II cùng ngưỡng đại học vốn chỉ dành cho học sinh thực sự có tiềm tàng một thực tài, từ đó sẽ quyết định thi vào các trường kỹ thuật khiến xã hội có đầy đủ hai lực lượng lao động chất lượng tốt và số lượng đủ cho cả hai lĩnh vực hàn lâm và kỹ thuật.

Tham khảo nội dung một Chứng Chỉ Tú Tài II (học xong lớp 12) năm 1973 của Việt Nam Cộng Hòa cấp cho một học sinh thi đậu Tú Tài II Ban C tức Ban Văn Chương

day-them-1

chúng ta có thể thấy các chi tiết như:

Tổng số các môn thi là 10 môn (chưa kể Triết Học gồm 5 môn như Tâm Lý Học, Phân Tâm Học, Đạo Đức Học, Luận Lý Học, và Siêu Hình Học)

Triết Học: điểm nhân với hệ số 4

Sinh Ngữ 1: điểm nhân với hệ số 3

Sinh Ngữ 2: điểm nhân với hệ số 2

Toán: điểm nhân với hệ số 1

Lý-Hóa: điểm nhân với hệ số 1

Vạn Vật: điểm nhân với hệ số 1

Sử – Địa – Công Dân: điểm mỗi môn nhân hệ số 1 rồi cộng chung làm tổng số cho cả cụm 3 môn này

Những điểm cần lưu ý là:

– Do thí dụ trên là của Ban C (Văn Chương)  nên Triết Học có hệ số 4, Sinh ngữ 1 có hệ số 3, và Sinh ngữ 2 có hệ số 2.

– Các ban khác như Ban A, Ban B, và Ban D sẽ có điểm hệ số khác nhau cho các môn trọng điểm khác nhau, và do đó các môn quan trọng nhất của Ban C Văn Chương như các môn Triết Học, Sinh Ngữ 1 và Sinh Ngữ 2 sẽ chỉ có hệ số 1.

– Việc chọn Ban là do học sinh quyết định từ đầu lớp 10. Dù là “Ban” nào cũng đều có thi Triết Học, Sinh Ngữ 1 và Sinh Ngữ 2 vì cả ba môn này đều quan trọng cần thiết cho sự hình thành một công dân có tri thức và năng lực tư duy tinh tế (qua các phân môn của Triết Học gồn Tâm Lý Học, Luận Lý Học, Đạo Đức Học, Phân Tâm Học, và Siêu Hình Học) cùng khả năng ngoại ngữ. Tất nhiên, nội dung học và thi cho môn Triết và Sinh Ngữ cho Ban A và Ban B ở cấp độ thấp hơn (thí dụ chương trình Anh Văn Ban C có nhiều tiết học tiếng Anh hơn và tăng tốc từ lớp 10 với Quyển 4 và lớp 11 với Quyển 5 để lên lớp 12 học kịp hết Quyển 6 và là quyển chót của bộ English for Today về thơ ca, tiểu thuyết, kịch nghệ; còn Ban A và Ban B có số tiết tiếng Anh ít hơn để lên lớp 12 vừa đủ học hết Quyển 4 của bộ English for Today về khoa học kỹ thuật).

– Dù Ban nào cũng phải có các môn thi Sử, Địa, không những do tất cả các môn học đều cực kỳ quan trọng như nhau (không ai học thứ vất đi), mà còn vì phải chuẩn bị nhân lực Tú Tài II có tri thức thích hợp sẵn cho các phân khoa trong đó có Sử và Địa tại các đại học chuyên ngành như Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa, v.v.

– Dù Ban nào cũng phải có môn thi Công Dân Giáo Dục vì mục tiêu của giáo dục là chuẩn bị cho xã hội những “công dân”.

– Ban C là Ban Văn Chương nên môn Toán chỉ có hệ số 1 nhưng sẽ là hệ số 3 hoặc 4 ở Ban A và Ban B.

– Môn Triết Học (5 phân môn học cùng lúc) bắt đầu học từ lớp Đệ Nhị (tức lớp 11).

– Môn Sinh Ngữ 1 bắt đầu từ lớp Đệ Thất (tức lớp 6), còn môn Sinh Ngữ 2 bắt đầu từ lớp Đệ Tam (tức lớp 10), và do học sinh tự chọn (không do trường áp đặt, và cũng không do Bộ tổ chức “thí điểm”). Đa số chọn tiếng Anh hay tiếng Pháp và đây là 2 ngoại ngữ duy nhất đồng loạt được các trường đáp ứng nhu cầu của học sinh. Học sinh có quyền học (không phải “chọn”) tiếng Nhật hay tiếng Trung như Sinh Ngữ 1 (tức ngoại ngữ chính) hoặc Sinh Ngữ 2 (tức ngoại ngữ phụ) nhưng phải tự học tại trung tâm bên ngoài, không phải đến trường trung học để dự các tiết học tiếng Anh hay Pháp, khi thi Tú Tài vẫn được Bộ ra đề thi riêng cho môn tiếng Nhật (Nhật Ngữ) hay tiếng Trung (Trung Văn), mặc dù Thành Tích Biểu (tức Học Bạ) không có điểm ngoại ngữ do trường không dạy, nghĩa là với các ngoại ngữ “lạ” thì thậm chí không cần có cái gọi là chứng chỉ của các trung tâm. Học sinh khi đăng ký vào hồ sơ thi tú tài nếu có ghi ngoại ngữ “lạ” thì đương nhiên sẽ được Bộ luôn bảo đảm có đề thi thích hợp.

– Dù thi Tú Tài I và Tú Tài II đều phải thi tất cả các môn đã học, đã không hề phát sinh vấn nạn quái gở nào của sự “stress” tức căng thẳng nơi học sinh hoặc căn bịnh thời đại nào khác.

– Đã học đến Tú Tài II, đương nhiên phải “biết” hai ngoại ngữ.

b) Đào Tạo:

Hai cơ sở cực kỳ đúng đắn, cực kỳ thực chất, cực kỳ chính xác trong chuẩn bị nhân lực cho cấp đại học, được áp dụng ở Việt Nam Cộng Hòa là (a) “học môn nào thi môn đó”, và (b) bài thi là để đánh giá sàng lọc cho được trình độ cao thích hợp chứ không phải bài kiểm tra.

Bài kiểm tra là để xem có thuộc bài chưa, chẳng hạn học một thế võ và khi dự kiểm tra phải múa võ chính xác từng động tác như đã được huấn luyện.

Bài thi là cơ hội cho học sinh chứng tỏ quá trình học tập/thực hành/áp dụng/vận dụng thực tế/đầu tư biến hóa riêng, chẳng hạn thi Võ Trạng Nguyên không phải để múa võ y như đã được huấn luyện mà thi đấu với đối thủ trực tiếp và phải đánh bại đối thủ ấy bằng những thăng hoa biến hóa hợp lệ.

Vì vậy, bài thi Anh Văn cho Tú Tài II có thể liên quan đến một vài chủ đề nào đó thực sự có trong chương trình Anh Văn lớp 12 vốn đã rất cao. Dù Ban C đã phải học về thơ ca Anh, tiểu thuyết Anh, và kịch nghệ Anh, bài thi vẫn được nâng cao hơn về trình độ chất lượng và số lượng bất kể là bài thi viết hay bài thi trắc nghiệm (áp dụng trắc nghiệm Tú Tài II từ năm 1973).

Còn khi thi vào Ban Anh Văn thí dụ như của Đại Học Sư Phạm Sài Gòn thì thí sinh phải thi viết tiếng Anh, thi viết tiếng Pháp, thi nói tiếng Anh, thi nói tiếng Pháp, với đề thi viết tiếng Anh luôn là bình giảng một đoạn văn từ một kiệt tác văn học tiểu thuyết tiếng Anh nào đó của một tác giả lừng danh người Anh nào đó nhưng dứt khoát các văn hào này không bao giờ thuộc diện đã có tác phẩm được dùng trong quyển 6 của bộ English for Today ở lớp 12 (chưa kể Quyển 6 ấy toàn là cho các tác phẩm của các văn hào Mỹ). Đại học là nơi dành cho những chuyên gia tương lai – nghĩa là đã phát huy sẵn năng khiếu nghiên cứu mà cụ thể là đã tự tìm đọc các kiến thức bên ngoài chương trình và cao hơn chương trình học tại lớp nên mới làm được các bài thi tuyển sinh đại học – chứ không là nơi dạy các cấp lớp tiếp theo của lớp 12 tức lớp 13, 14, 15, và 16. Và dù là Đại Học Sư Phạm Đệ Nhất Cấp hay Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp (đào tạo giáo viên trung học dạy từ lớp 6 đến lớp 9, và đào tạo giáo sư trung học dạy từ lớp 10 đến lớp 12), thì vị giáo viên hay giáo sư đó đều xuất sắc cùng lúc cả hai thứ tiếng Anh và Pháp, mà sự lựa chọn Đệ Nhất Cấp hay Đệ Nhị Cấp hoàn toàn không do chênh lệch về trình độ mà thuần túy theo sở thích hay tính toán riêng của từng sinh viên do một bên là phải học 4 năm và một bên chỉ phải học 3 năm trong khi danh dự danh tiếng ngang nhau (cùng là “đại học”) và lương bổng cao ngang nhau, mà việc theo hệ 4 năm là nơi những người có kế hoạch theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu cho các học vị thạc sĩ hoặc tiến sĩ về sau.

Cũng vì vậy mà các chuyên viên kỹ thuật (gọi là “cán sự” kỹ thuật) dù là từ trường Nguyễn Trường Tộ hay Cao Thắng, hay kỹ sư từ Đại Học Bách Khoa đều xuất sắc, và sự lựa chọn Trường Kỹ Thuật hay Đại Học Bách Khoa chỉ thuần túy dựa theo sự lựa chọn theo sở thích, tính toán thực tế thực dụng về thời gian, của mỗi người. Học xong lớp 9 vào Trường Kỹ Thuật nghĩa là đến khi học xong Tú Tài 2 đã trở thành cán sự kỹ thuật bắt đầu sự nghiệp, gia đình, tạo vốn lập cơ nghiệp riêng sớm hơn, thay vì phải đầu tư thêm 4 năm để có danh “kỹ sư” trong khi nhu cầu kỹ thuật của xã hội lại rất nhiều và cấp bách mà “thời cơ” thì không luôn chờ đợi.

4)   Cái Sai Của Chương Trình Học Của Việt Nam Sau 1975

Như đã nêu trong nhiều bài viết trong nhiều năm qua, tôi luôn cho rằng việc thêm các tiết về Đội, về Đoàn, về lao động vệ sinh trường lớp nhằm phát huy quyền làm chủ tập thể, về thể dục thể thao, v.v., vào chương trình học là hoàn toàn sai.

Trước 1975, vệ sinh trường lớp là do tạp vụ “biên chế” của mỗi trường phụ trách. Lẽ nào sau 1975, nhà trường lại kiếm thêm thu nhập từ tiết kiệm chi phí bằng cách buộc học sinh phải làm vệ sinh trường lớp và toilet, khiến học sinh bị phơi nhiễm trước bụi bẩn, hóa chất tẩy rửa chắc chắn thuộc loại rẻ tiền độc hại, và phí phạm thời gian quý báu của học sinh lẽ ra nên được dành cho vui chơi, giải trí, học tập, và giúp đỡ việc nhà phụ mẹ phụ cha? (Tại trường tiểu học Phan Đình Phùng Quận 3, tôi đã được cô giáo dạy rằng phải mỗi ngày giúp mẹ trong giúp mẹ phơi quần áo, xếp quần áo, v.v., và mọi học sinh phải được mẹ ghi cụ thể vào sổ tay những việc cụ thể mà con mình đã làm tại nhà trong việc nội trợ rồi trình cô giáo xem vào ngày học tiếp theo).

Các sinh hoạt Đội và Đoàn, nếu có, lẽ ra phải được tiến hành chỉ vào ngày nghỉ cuối tuần như sinh hoạt Hướng Đạo trước 1975, không được cấy ghép vào thời gian học ngày thường tại trường, và không được xem như là điểm cộng thêm bổ sung hoặc thay cho điểm hạnh kiểm học sinh.

Về thể dục thể thao, đã có sự sai lầm cơ bản khi cho rằng giáo dục văn-thể-mỹ phải có cả thể dục-thể thao và mỹ học kèm phụ thêm vào học văn hóa nhằm tạo nên người công dân vẹn toàn. Học văn hóa là duy nhất chủ lực và hoàn toàn không tùy thuộc vào sở thích hay năng lực của học sinh. Trong khi đó, thể dục thể thao lại tùy vào sở thích cùng năng lực thể chất của từng học sinh. Do đó, một học sinh buộc phải theo cả trăm học sinh khác phí bỏ thời giờ khi tập trung nhiều giờ tại một nơi chẳng hạn như đường cung bên ngoài Sân Vận Động Quân Khu 7 đường Phổ Quang, Quận Tân Bình, để được một nữ giáo viên thể dục la hét trong sự ồn ào hơn sấm của cả trăm học sinh nam nữ giởn hớt, cười cợt, cũng đang la hét, để “dạy” học sinh chạy nhảy, để rồi rất có thể một số học sinh trong số đó lại phải mất thời gian sau học để đến một sân tennis tập dợt hay một trung tâm thể dục thể thao để học võ Vovinam chẳng hạn tức những nội dung “thể dục-thể thao” đúng sở thích cá nhân của học sinh. Thậm chí một trường điểm lớn như Lê Hồng Phong Quận 5 sau khi yêu cầu học sinh đăng ký tham gia học các môn thể thao ưa thích theo danh mục trường đề ra, lại dùng quyền lực tự ý san sẻ một số học sinh vào những “môn thể thao” như “chơi cờ vua” do chẳng ai chịu đăng ký. Như vậy, thể dục-thể thao chẳng khác nào chỉ để phục vụ cái văn-thể-mỹ vô bổ đầy hư danh, để “nuôi gà đá” nhằm có đội ngũ tham dự Hội Khỏe Phù Đổng đầy hư danh, và để gia tăng mức độ “stress” của học trò, mà hậu quả nhãn tiền là chưa bao giờ sự đầu tư cho văn-thể-mỹ đó giúp có thêm nhiều triệu học sinh ưu tú thực sự về văn hóa, nhiều triệu học sinh lừng danh thực sự về thể thao để ngự trị ASEAN và Châu Á, và nhiều triệu nhà mỹ học làm Việt Nam hãnh diện. Nếu bỏ hẳn môn thể dục-thể thao chung chung vô bổ, học sinh có thêm thời gian để đầu tư cho bộ môn ưa thích, và đây là cơ sở để có ngày Việt Nam cung cấp cho thế giới một Novak Djokovic (hoặc một Serena Williams) da vàng.

Tại Sài Gòn trước 1975, môn hội họa ở tiểu học hoàn toàn không nhằm vào cái “cảm thụ mỹ thuật” vớ vẩn nào cả. Môn hội họa được xác định là để học sinh từ việc vẽ những nét thẳng đơn giản nhất của vật chất nhìn thấy cụ thể xung quanh tiến đến vẽ những vật chất cụ thể ấy dạng cong và 3D chính xác. Sự học này chỉ để giúp học sinh khi lên trung học vẽ được bản đồ khi học và thi môn Địa Lý, vẽ được tinh thể các loại đá khi học và thi môn Vạn Vật Học (Sinh Vật), và vẽ được các đường toán học, chưa kể để phục vụ cho cấp đại học đối với các môn như kiến trúc và đồ họa, v.v. Trong khi đó, môn Vẽ ở tiểu học Việt Nam ngày nay là để có những bộ tranh nguệch ngoạc vẽ “sinh hoạt sân trường” hay vẽ “hòa bình thế giới” hay vẽ “du hành không gian” chỉ nhằm góp mặt đông vui cho những buổi triển lãm tranh “thiếu nhi”. Đã sai về mục đích và mục tiêu thì rõ ràng là các môn học các cấp như môn vẽ không để làm học sinh giỏi hơn về môn vẽ để thành họa sĩ cũng như hoàn toàn không hỗ trợ gì các môn học khác ở các cấp cao hơn.

Ngay cả việc thêm môn học vi tính cũng là một sự phí phạm về tiền bạc, thời gian học sinh, gây ra gánh nặng ngân sách về lao động (lực lượng giáo viên “cơ hữu”), và gây ra cả sự bất công do không phải 100% các trường học ở vùng sâu vùng xa và hải đảo đều được đầu tư phòng học “công nghệ thông tin”. Bản chất của việc “dạy” vi tính là “cầm tay chỉ việc” chỉ cần vài tháng chứ không là thứ để học lâu dài để các trường phải có phòng vi tính, có hàng chục máy vi tính không bao giờ hiện đại, sử dụng toàn phần mềm bẻ khóa làm nhục quốc thể và phản tác dụng giáo dục, gắn máy lạnh, và thường xuyên đối phó với nguy cơ trộm cắp từ bên ngoài. Gia đình nào quan tâm đến vi tính có thể vào thời điểm thích hợp khi con cái đến độ tuổi an toàn mà gia đình có thể mua máy vi tinh cũng như có thể cho con đến học một hai khóa vài tháng ở một trung tâm nào đó gần nhà, thì lúc ấy sẽ tự lo liệu cho con mình.

Một cái sai khác ở Việt Nam mà tác giả bài viết này đã nói đến trong nhiều năm qua đó là dù cho chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn cổ súy cho sự phát triển công nghiệp nặng và đại cuộc công nghiệp hóa thì vẫn luôn tồn tại sự tầm thường hóa ngành kỹ thuật, ưu ái từ chương, qua cách dùng chữ “nghề” cực kỳ thô thiển, cực kỳ hạ thấp phẩm giá, như trong các cụm từ Trường Trung Cấp Nghề và Trường Cao Đẳng Nghề, cũng như trong sự tự tiện sai quấy khi hạ thấp ý nghĩa của “cao đẳng”, xem “cao đẳng” thấp hơn “đại học” (xin liên hệ phần links bài “Đại Học” ở mục tham khảo bên dưới), khiến hủy phá ngành học kỹ thuật, gây mất cân đối nghiêm trọng vô phương cứu chữa đối với nội dung cung ứng đủ nhân lực kỹ thuật cho xã hội.

Tóm lại, chương trình học trung học của Việt Nam đa dạng hơn, dồi dào hơn, nhiều hơn, đầy đủ hơn, lý tưởng hơn, và tất cả những điều không giá trị thực chất ấy dẫn đến vấn nạn học sinh bị stress nhiều hơn, sức khỏe tâm thần bị đe dọa nhiều hơn, chất lượng dạy xuống thấp hơn, hiệu quả học rơi tự do, khiến Bộ Giáo Dục phải cứu vớt học sinh bằng cách dùng biện pháp quái gở là đánh giá để thay thế việc cho điểm ở bậc tiểu học, cắt giảm rất nhiều các môn chỉ cần học mà không thi, tiến đến bài thi đại học không khác bài thi tú tài, tiến đến tuyển sinh đại học không cần thi. Toàn xã hội và cả dân tộc phải gánh chịu hậu quả từ nguồn nhân lực luôn được trang điểm với đầy đủ bằng cấp cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ hoàn toàn không từ nền móng vững chắc của một nền giáo dục đáng tin cậy.

5)   Tổ Chức Nhà Trường Của Việt Nam

a) Ở Sài Gòn:

– Tất cả các lớp tại tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư thục đều chỉ học một buổi trong ngày. Một lớp thí dụ có tên là Lớp 8A2 thì lớp đó cùng nhiều lớp khác chỉ học buổi chiều từ Thứ Hai đến Thứ Bảy (trước 1975 Việt Nam Cộng Hòa mõi tuần chỉ có Chủ Nhật là ngày nghỉ cuối tuần), trong khi các lớp còn lại thì học toàn buổi sáng. Nhờ vậy, học sinh học rất lành mạnh và khỏe khoắn. Thí dụ nếu chỉ học buổi sáng thì học sinh có thể sử dụng cả buổi chiều để nghỉ ngơi và buổi tối để làm bài tập cho ngày hôm sau. Tất nhiên, học sinh có thể sử dụng một trong hai buổi rảnh rỗi lúc chiều và tối để đi học thêm nếu muốn.

– Tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ có cái gọi là sinh hoạt hội phụ huynh học sinh, không bao giờ cho phép phụ huynh học sinh được can dự vào việc dạy học của giáo viên và của trường; và phụ huynh chỉ được nhà trường mời đến nếu (a) học sinh phạm lỗi nghiêm trọng vì nếu ít nghiêm trọng thì chỉ cần sự giải quyết bằng  roi vọt thẳng tay của Thầy Tổng Giám Thị, (b) học sinh trường tư thục chậm đóng học phí, và (c) học sinh được giải thưởng xuất sắc toàn trường nếu trường có tổ chức lễ hội.

day-them-6

(Tương tự bịnh viện Âu Mỹ: không bao giờ sinh hoạt cái gọi là “hội thân nhân bịnh nhân”, không bao giờ cho phép thân nhân được động tay vào bịnh nhân đang nằm điều trị tại bịnh viện vì tất cả mọi việc từ chữa trị, điều trị, chăm sóc, phục vụ bịnh nhân đều do người của bịnh viện thực hiện!)

– Tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư  thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ yêu cầu (xin xỏ) phụ huynh học sinh đóng góp tiền “cơ sở vật chất” mua sắm trang thiết bị vì nhà nước phải cung cấp đầy đủ cho trường công lập và chủ nhân phải cung cấp đầy đủ cho trường tư thục. Không đầy đủ cơ sở vật chất thì không bao giờ được gọi là trường học. (Tương tự bịnh viện Âu Mỹ: không bao giờ yêu cầu thân nhân bịnh nhân đóng góp tiền xây dựng “cơ sở vật chất” mua sắm trang thiết bị vì nhà nước phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện công và chủ nhân phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện tư. Không đầy đủ cơ sở vật chất thì không bao giờ được gọi là bịnh viện!)

– Tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư  thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ yêu cầu (xin xỏ) phụ huynh học sinh đóng góp tiền để mua quà cho học sinh giỏi và mua quà cho giáo viên Ngày Nhà Giáo (Việt Nam Cộng Hòa không có cái gọi là Ngày Nhà Giáo), vì toàn bộ chi phí phải lấy từ tiền do Nhà Nước cung cấp cho trường công lập và do chủ nhân cung cấp cho trường tư thục. Không có tiền mua phần thưởng cho học sinh và cho lao động của trường thì đó không là trường học. (Tương tự bịnh viện Âu Mỹ: không bao giờ yêu cầu thân nhân bịnh nhân đóng góp tiền để thưởng cho bác sĩ, y tá, nhân viên bịnh viện vì tất cả phải sẵn có trong kinh phí hoạt động của bịnh viện mà Nhà Nước phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện công và chủ nhân phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện tư. Không có tiền lo các phần quà cho tập thể lao động của bịnh viện thì không bao giờ được gọi là bịnh viện!)

– Tất cả các trường tiểu học và trung học tư thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ có cái gọi là “lực lượng giáo viên cơ hữu” vì việc kinh doanh luôn phải trên cơ sở phục vụ tốt nhất, do đó lực lượng giáo viên phải có danh tiếng và đang dạy tại những trường công lập có danh tiếng.

– Tất cả các trường tiểu học và trung học công lập đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ – và cũng không có quyền – ngăn cấm giáo viên “cơ hữu” của mình  dạy thêm tại các lớp dù ban ngày hay buổi tối của các trường tư thục.

b) Ở Thành phố Hồ Chí Minh:

– Trường học hoàn toàn bất lực không bao giờ có thể thu xếp cho lớp học chỉ học một buổi cố định trong ngày và cố định suốt tuần suốt năm học, khiến học sinh phải học hai buổi sáng, chiều, hoặc có hôm sáng có hôm lại là  chiều; và do đó, (a) học sinh và phụ huynh học sinh bị tước mất sự chủ động trong tổ chức sinh hoạt gia đình, (b) thời gian ít ỏi còn lại của buổi tối nếu phải dành để học thêm hay để tự học chuẩn bị bài cho hôm sau sẽ khiến tạo áp lực “stress” khủng khiếp lên học sinh và phụ huynh học sinh, và (c) phá tan nát giềng mối gia đình vốn cực kỳ quan trọng trong định hình nhân cách học sinh.

– Trường học luôn tồi tệ về tính chuyên nghiệp khi yêu cầu (tức “xin xỏ”, hoặc “xin đểu”) phụ huynh học sinh đóng góp tiền xây dựng cơ sở vật chất, tiền làm phần thưởng cho học sinh (gần như 100% học sinh đều có phần thưởng) và cho giáo viên (có nơi như Trường Lê Quý Đôn trên đường Võ Văn Tần Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu phụ huynh đóng góp tiền cho tập thể giáo viên nghỉ hè tại Singapore), v.v. Việc này rất kỳ quái nếu liên tưởng đến việc một công ty taxi yêu cầu khách hàng đóng góp tiền để công ty mua xe hơi phục vụ khách hàng, hoặc một người tửng tửng gỏ cửa từng nhà yêu cầu người dân đóng góp tiền cho hắn đi học cử nhân, cao học và tiến sĩ để y sẽ phục vụ họ tốt hơn vậy.

– Trường tư thục luôn buộc phải có lực lượng giáo viên “cơ hữu” mới được cấp giấy phép khiến hoặc (a) phải “bứng” giáo viên cơ hữu của trường công lập nghĩa là giáo viên ấy bỏ hẳn trường công lập, hoặc (b) phải phải “bứng” giáo viên cơ hữu của trường tư thục khác, hoặc (c) phải nhận các giáo viên bất kỳ dù tay mơ mới tốt nghiệp miễn hình thành nên danh sách theo quy định.

6)   Cái Sai Của Chương Trình Thi Cử Của Việt Nam Sau 1975

Khi hòa tan hệ 9 năm vào với hệ 12 năm, ngoài việc hạ thấp chất lượng giáo trình hệ 12 năm hoặc kéo dãn giáo trình hệ 9 năm để dạy đủ 12 năm, còn có việc sai hoàn toàn trong thi của vào đại học ngay từ kỳ thi đại học khóa đầu tiên của “cách mạng” vào đầu năm 1976.

Thí dụ có thực sau đây đã xảy ra tại Đại Học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1978 hòa nhập vào Đại Học Khoa Học để thành Đại Học Tổng Hợp, và cách nay vài năm lại tách ra để mang tên Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn đầy thô thiển).

Lớp Anh Văn năm thứ nhất của Khoa Ngoại Ngữ có cả những sinh viên không hề xin thi vào Ban Anh Văn. Nhiều bạn đã tâm sự cùng tôi vào giờ giải lao rằng họ rất sợ tiếng Anh vì học rất kém môn này ở trung học, thậm chí không học do chiến tranh, nhưng dù họ nài nỉ van xin trường cho họ được học khoa Văn Tiếng Việt hoặc Khoa Sử mà họ đã thi đậu vào, họ vẫn được trường “động viên” bảo họ phải đảm đương trọng trách chính trị được Đảng giao phó, đơn giản vì họ không những là dân sống ở các tỉnh Miền Trung nhưng có thân nhân lén tham gia cách mạng và trở thành liệt sĩ, mà bản thân còn là Đoàn Viên Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh ngay sau ngày giải phóng. Thậm chí họ còn được chọn để làm luận án nghĩa là để được giữ lại trường để giảng dạy đại học, trong khi các sinh viên còn lại phải thi tốt nghiệp với tất cả các môn. Một bạn trong số họ đã luôn đối xử tốt với tôi kể cả lúc tôi bị các sinh viên đảng viên chi bộ Ngữ Văn Việt được phân công quản lý sinh viên “quần chúng” các lớp Anh và Pháp vu khống tôi phản động (do thấy tôi được người họ tôn làm hoa khôi thương yêu) nhằm làm tôi bị đuổi học, nên khi người ấy ngỏ lời với tôi rằng người ấy chỉ muốn thi tốt nghiệp chứ không thể làm luận án tiếng Anh và tỏ sự bực tức vì sao Khoa lại loại tên tôi khỏi danh sách trình luận án dù tôi được các thầy cô tiến cử, tôi đã động viên người ấy hãy cố gắng và không những đã viết hộ người ấy bản luận án, đánh máy nhiều lượt để hình thành nhiều bộ luận án nộp hội đồng đúng số lượng yêu cầu, mà còn hướng dẫn anh ấy cách trả lời các câu hỏi phản biện nào rất có thể được nêu lên trong buổi trình luận án. Người ấy trở thành chức sắc ở Khoa Ngoại Ngữ Đại Học Tổng Hợp sau này, còn tôi phải thi tốt nghiệp, được Sở Công An và Cao Đẳng Sư Phạm cùng tranh nhau xin về sau khi nghiên cứu hồ sơ tốt nghiệp của trường, và tôi chọn trở thành giáo viên Anh văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 10 năm trước khi phải bỏ nghề duy nhất tôi yêu thích chỉ vì không những đã không chịu gian lận thi cử tuyển sinh giúp “con em” của lãnh đạo theo gơi ý của lãnh đạo trường mà còn dám tố cáo họ lên cấp trên.

Như vậy, trong thời kỳ thi cử đại học còn nghiêm túc và khó khăn, chất lượng cao, mà vẫn xảy ra việc “duy ý chí”, đưa sinh viên không dự thi Ban Anh Văn vào học Ban Anh Văn để trở thành lãnh đạo Ban Anh Văn do lo sợ nội dung học và dạy tiếng Anh không bảo đảm đúng tư tưởng chính trị, thì bảo sao từ những giảng viên đại học môn Anh Văn, những sinh viên học trò của họ sau này trở thành giáo viên – thậm chí giảng viên đại học tiếp nối họ – như thế, các sinh viên tốt nghiệp sau này đã không thể sử dụng được tiếng Anh trong đời sống, người sử dụng lao động cứ mãi chê bai chất lượng tiếng Anh của ứng viên có bằng cử nhân Anh Văn, còn Nhà Nước cứ phải tiến hành nhiều đợt cải cách giáo dục loại 3600  nghĩa là quay về chốn cũ.

Chỉ cần tham khảo mới chỉ một trong nhiều môn học mang tính “lược khảo” tức “đại cương” của sinh viên năm thứ nhất Đại Học Luật Khoa ở Sài Gòn trước 1975 như dưới đây cũng đủ biết một học sinh thi đậu Tú Tài II đã đạt trình độ ra sao về tư duy và năng lực trước khi bước vào ngưỡng cửa đại học Luật:

chau-dieu-ai-b-5chau-dieu-ai-b-4chau-dieu-ai-b-3

So với một vài chi tiết của chương trình đại học Luật hiện nay thí dụ với tổng cộng 131 tín chỉ trong đó các phần “đại cương” và “kiến thức cơ sở” như sau:

day-them

Lòng sông đã nông thì các mô hình vĩ đại như hàng không mẫu hạm hay du thuyền vĩ đại cũng sẽ không bao giờ vào được bến bờ.

Căn bản đã nông thì mọi cách giảng dạy hiện đại đều mãi mãi không bao giờ có thể áp dụng thành công ở Việt Nam.

7)   Thực Chất Của Dạy Thêm Và Học Thêm

a) Ở Sài Gòn:

– Chỉ các giáo viên danh tiếng, có thâm niên, có điều kiện, mới có thể tự tổ chức dạy thêm (đây là điều kiện tự nhiên và tự thân, không phải do quy định của chính quyền hay pháp luật).

– Việc dạy thêm được thực hiện chủ yếu tại nhà riêng của các giáo viên.

– Việc dạy thêm có thể dưới hình thức nhận lời dạy tại các trường tư thục với tư cách dạy chính, được nêu tên để quảng cáo cho uy danh của trường tư thục ấy, dù giáo viên nhận hợp tác dạy “chính” thêm không là “cơ hữu”. “Dạy chính” nghĩa là có trách nhiệm cao nhất, nghĩa là đảm bảo chất lượng cao nhất, và bảo đảm duy trì suốt năm học không bao giờ bỏ buổi dạy hay trể giờ dạy (tất nhiên trừ trường hợp có sự cố nghiêm trọng hay sự việc quan trọng của cá nhân giáo viên).

– Việc học thêm là nhu cầu của duy chỉ năm đối tượng học sinh gồm (a) yếu kém, (b) quan tâm đến “môn” ưa thích nhưng không được dạy ở trường chẳng hạn như thanh nhạc hoặc đàn guitar hoặc tennis hoặc bơi lội, (c) muốn học “trước” để dọn đường cho năm học sau, (d) muốn va chạm với các bài tập cao hơn và khó hơn như tại các lớp luyện thi Tú Tài I hoặc Tú Tài II hoặc TOEFL, và vì (e) muốn được gần “đối tượng” nào đó mà mình mơ tưởng thầm thương trộm nhớ đang theo học tại lớp học thêm ấy dù môn học ấy mình chẳng cần phải “học thêm”.

– Việc học thêm thường được đặt trên ba tiêu chí cơ bản như (a) nhà thầy/cô dạy thêm gần nhà mình, (b) cha mẹ mình có biết về thầy/cô dạy thêm đó cả về danh tiếng và về nhân thân do cùng hay gần khu phố, và (c) thầy/cô ấy không phải là thầy/cô đang dạy lớp của mình tại trường chính mà mình đang theo học vì mục đích là muốn học điều mới lạ từ thầy/cô khác.

– Việc học thêm tại một trung tâm không gần nhà chỉ được thực hiện khi (a) đó là trung tâm ngoại ngữ danh tiếng thí dụ như London School hay Hội Việt Mỹ VAA mà mục đích uy nhất là để luyện nói và luyện nghe vốn là hai phần không bao giờ được dạy hiệu quả tại lớp học tại trường trung học, và (b) đó là trung tâm luyện thi Tú Tài II có các giáo sư danh tiếng cho môn học duy nhất thuộc hạng khó nhất là Triết Học.

– Việc học thêm tại nhà một thầy/cô có danh tiếng nhưng lại xa nhà mình được thực hiện chỉ vì một lý do duy nhất: khu phố nhà mình và các vùng lân cận không có thầy/cô danh tiếng nào cho môn học mình quan tâm.

b) Ở Thành phố Hồ Chí Minh:

– Việc dạy thêm tại nhà riêng của giáo viên hay tại nơi giáo viên thuê mướn được thực hiện bởi bất kỳ giáo viên nào, kể cả giáo viên mới vào nghề và không danh tiếng.

– Việc dạy thêm được thực hiện đối với chính môn học và chính học sinh mà mình dạy môn học ấy tại trường trung học nơi mình làm giáo viên cơ hữu.

– Việc dạy thêm được thực hiện tại nhà của học sinh do phụ huynh mời thỉnh.

– Việc học thêm được diễn ra không chắc chắn do học sinh yếu kém, mà chủ yếu vì phụ huynh học sinh và học sinh muốn bày tỏ sự “biết điều” trong ủng hộ thầy/cô để học sinh được hưởng lợi từ sự nương tay của giáo viên trong điểm số tại lớp.

– Việc học thêm bị diễn ra vì phụ huynh muốn có nơi để gởi con mình trong thời gian mình bận việc vào buổi tối. Trong buổi họp Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi có lịnh Thành Ủy cấm dạy thêm, một nữ đại biểu đã phát biểu (qua phóng sự truyền hình HTV) chống lại lịnh cấm với lý do rằng có những “cử tri” bức xúc nói với bà rằng nếu thế thì họ không biết đem con họ gởi vào đâu.

8) Cái Đúng Của Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Từ nội dung 7.b nêu trên vốn đã kéo dài nhiều thập kỷ, Bí thư Thành Ủy Đinh La  Thăng đã hoàn toàn đúng khi đề ra chủ trương nhằm ngăn cấm việc dạy thêm của giáo viên. Việc cấm đoán này không sai do có sự vô lý rằng giáo viên đã dạy tại lớp nhưng lẽ nào lại thất bại đến độ học sinh không thể tiếp thu, phải đi học thêm từ chính giáo viên đó cho chính bài học giáo viên đó đã giảng tại lớp.

9)   Cái Sai Của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, cái đúng của Bí thư Thành Ủy Đinh La Thăng không được mặc định rằng việc Thành Ủy nghị quyết cho bên hành chính công quyền thực hiện ngay và triệt để điều đúng ấy sẽ luôn là một việc đúng như được chứng minh dưới đây.

a- Sự Yếu Kém Về Giáo Dục Của Ban Tuyên Giáo

Điều rõ ràng ở đây là Ban Tuyên Giáo chỉ là Ban Tuyên Truyền do đã không có gì chứng minh đã có sự sáng suốt về Giáo Dục trong tất cả các thời kỳ của Thành Ủy từ sau 1975 đến nay. Thực tế là tất cả các chức sắc phụ trách các Sở đều là đảng viên, thậm chí là thành ủy viên, và các chủ trương chính sách từ các nghị quyết của thành ủy đều được thực hiện xuyên suốt nhiệm kỳ của các Hội Đồng Nhân Dân và Ủy Ban Nhân Dân. Sự xuống cấp của tổ chức giáo dục và chất lượng giáo dục là minh chứng rõ nét nhất cho sự yếu kém có thật này của Ban Tuyên Giáo của tất cả các thời kỳ Thành Ủy.

b- Sự Vi Phạm Hiến Pháp Và Luật Pháp

Việc mưu cầu hạnh phúc là điều cơ bản về quyền công dân như được minh định trong Tuyên Ngôn Độc Lập Việt Nam và sự chế định trong Hiến Pháp Việt Nam có nội hàm liên quan đến khía cạnh đảm bảo quyền được sống cuộc sống bình thường, được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển.

Pháp Luật về Lao Động không bao giờ quy định người lao động là một thực thể luôn luôn thuộc quyền sở hữu của bên sử dụng lao động 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần trong suốt thời gian thực hiện một hợp đồng hay khế ước lao động.

Vì vậy, việc dạy thêm của giáo viên không làm giáo viên ấy vi phạm hợp đồng lao động hoặc khế ước lao động hoặc hình thức nào đó tương tự đã ký hoặc thỏa thuận với nhà trường. Trong khi đó, việc cấm giáo viên không được dạy thêm ngoài thời gian phục vụ cho trường sẽ phạm phải các điều cơ bản sau:

– Thành Ủy, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Sở Giáo Dục & Đào Tạo không phải là bên sử dụng lao động, không là một bên trong hai bên trực tiếp có liên quan là nhà trường và giáo viên, nên hoàn toàn không có quyền cấm giáo viên dạy thêm, nhất là khi việc dạy thêm không nằm trong danh sách những ngành nghề và nội dung việc làm bị cấm hành nghề trong luật pháp quốc gia.

– Nhà trường dù là một trong hai bên trực tiếp có khế ước liên quan đến lao động tại trường, cũng hoàn toàn không có thẩm quyền luật định nào để ngăn cấm giáo viên liên kết hợp tác với các trường khác, các trung tâm khác, hay các lớp nơi khác kể cả lớp tự tổ chức tại gia, ngoài các nội dung đã được minh định trong hợp đồng hay khế ước hoặc thỏa thuận về lao động giữa nhà trường và giáo viên.

– Việc dạy thêm về chuyên môn – kể cả chuyên môn tay trái – của giáo viên là việc không thể cấm đoán nêu không làm tiết lộ bí mất quốc gia, bí mật quốc phòng, bí mật an ninh trật tự xã hội, bí mật tổ chức hoạt động của nhà trường là cơ quan mà giáo viên phục vụ trong biên chế, hoặc vi phạm tác quyền tài liệu có đăng ký sở hữu trí tuệ của trường, hoặc sử dụng giờ giấc lao động phục vụ trường để làm việc dạy thêm ấy tại nơi khác.

– Việc dạy thêm của giáo viên không thể bị phân biệt đối xử một cách bất công, do người thuộc các ngành nghề khác lại không bị cấm đoán như vậy, chẳng hạn như nghề y, nghề cơ khí kỹ thuật, nghề vi sinh hay y sinh, v.v.

– Việc dạy thêm của giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập các môn học bất kỳ của học sinh, đặc biệt trường hợp học sinh muốn học thêm các môn năng khiếu như ca hát, sử dụng nhạc cụ, hội họa đồ họa, toán nâng cao, hoặc ngay cả ngoại ngữ nâng cao, v.v., vốn không nằm trong chương trình trung học tại trường.

– Việc dạy thêm của giáo viên cũng là việc đáng khích lệ và biểu dương khi chủ động đảm bảo quyền của con cái mà giáo viên phải dưỡng nuôi và quyền của phụ mẫu mà giáo viên phải phụng dưỡng để các thân nhân này được sống cuộc sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển. Việc cấm dạy thêm sẽ đồng nghĩa với việc Nhà Nước phải cung cấp các khoản trợ cấp để giáo viên đủ trang trải cho các nội dung trên, vốn là việc không bao giờ Nhà Nước thực hiện được.

c- Sự Chủ Quan Không Tham Vấn Chuyên Gia Thực Thụ Về Giáo Dục

Ý kiến chỉ đạo đúng đắn của Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng đã được thực hiện như một cái máy, khiến người quan tâm và kẻ thù của chế độ có thể liên tưởng đến một đế chế đã luôn tồn tại ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó các Bí Thư Thành Ủy là một vị vương mà tất cả các ý chỉ và khẩu dụ hoặc chiếu thư đều được răm rắp thực hiện, hoàn toàn không có sự góp ý của các thành ủy viên là chuyên gia thực thụ về giáo dục để nội dung sắp phổ biến mang tính thuyết phục nhất, các nội dung phản biện nào có thể được dự kiến trước để hóa giải, và việc thực hiện sẽ được thông suốt. Việc không có thành ủy viên nào là chuyên gia giáo dục không bao giờ là yếu điểm của Ban Tuyên Giáo nếu như Ban Tuyên Giáo có tham vấn chuyên gia thực thụ về giáo dục và luật pháp có liên quan đối với các kế sách định ban hành nhất là khi các kế sách ấy không thuộc danh mục bí mật an ninh quốc gia.

10) 4 Đề Xuất Khả Thi Của Hoàng Hữu Phước

1) Giáo viên của tất cả các môn học đều có quyền dạy thêm tại bất kỳ trung tâm nào, bất kỳ cơ sở trường học nào, nếu được mời bởi những trung tâm hay cơ sở trường học ấy, bất kể giáo viên được mời là giáo viên có thâm niên công tác hay là giáo viến mới nhận việc giảng dạy chưa có kinh nghiệm.

2) Giáo viên của tất cả các môn học đều có quyền mở lớp dạy thêm tại nhà của mình với điều kiện được chính quyền địa phương cho phép, trên cơ sở (a) giáo viên ấy có giấy chứng nhận thâm niên công tác giảng dạy chính thức tối thiểu 5 năm tại một trường học và có thành tích giảng dạy tốt, (b) nhà dùng làm nơi dạy thêm có trang bị tiện nghi thích hợp cho việc giảng dạy cũng như không gây cản trở đi lại do việc dựng xe của học sinh và thân nhân, và không bị hàng xóm khiếu nại về tiếng ồn hay vệ sinh chung, và (c) phải có danh sách học sinh ghi rõ địa chỉ liên lạc để công an địa phương tham khảo khi cần.

3) Giáo viên nói đến ở mục 10.2 ở trên có thể mời thêm giáo viên khác đến sử dụng cơ sở vật chất tại nhà của mình để cùng tham gia dạy thêm để giúp học sinh không phải đi xa hơn hoặc đến nhiều nơi hơn, với điều kiện giáo viên mời phải có những giấy tờ sau từ giáo viên được mời: giấy chứng nhận thâm niên giảng dạy của trường nơi giáo viên ấy dạy chính thức, bản lý lich cá nhân, và bản sao Chứng Minh Nhân Dân, để công an địa phương tham khảo khi cần.

4) Nhà trường không được phép sử dụng cơ sở vật chất của trường để tổ chức “dạy thêm”; tuy nhiên, nhà trường có thể cho giáo viên của trường khi đáp ứng điều kiện về thâm niên cùng uy tín chuyên môn thuê một phòng nào đó của trường để dạy thêm ngoài giờ tức sau tan học buổi chiều và vào ngày nghỉ cuối tuần. Các giáo viên thiếu thâm niên, ít thành tích trong giảng dạy, và lớp đang dạy có vấn đề về kết quả học tập đối với bộ môn mình phụ trách thì không được trường cho thuê cơ sở vì như vậy chẳng khác nào giáo viên tổ chức lớp dạy thêm không bằng trình độ uy tín cá nhân mà bằng cách lạm dụng danh tiếng của nhà trường.

11) 5 Đề Xuất Bất Khả Thi Của Hoàng Hữu Phước

Do chưa có sự râm ran hay rầm rộ chê bai về chất lượng đào tạo của các ngành khác trừ bộ môn Tiếng Anh, năm đề xuất sau là dành riêng cho bộ môn này, và tất cả đều bất khả thi như điều tất yếu từ các mặc định xơ cứng cố hữu ở Việt Nam:

1) Thay đổi toàn bộ các chức sắc cao nhất của ngành Anh Văn ở tất cả các trường đại học với lý do đơn giản là vì có thực tế không thể chối cãi là đã luôn có sự thất bại về trình độ tiếng Anh nơi các sản phẩm đã được đào tạo xong tại trường của họ.

2) Thay đổi toàn bộ các chương trình, giáo trình, và phương pháp giảng dạy tiếng Anh đang được áp dụng tại các trường đại học, với lý do đơn giản là vì có thực tế không thể chối cãi là đã luôn có sự thất bại về trình độ tiếng Anh nơi các sản phẩm đã được đào tạo xong tại các trường này.

3) Bỏ tất cả các sách giáo khoa tiếng Anh ở bậc trung học dù soạn bởi người Việt hay bởi tập thể người Việt và người nước ngoài, để sử dụng bộ sách của Mỹ sau khi tham vấn chuyên gia thực thụ về giảng dạy tiếng Anh bậc trung học ở Việt Nam, với lý do đơn giản là vì có thực tế không thể chối cãi là đã luôn có sự thất bại về trình độ tiếng Anh nơi các học sinh đã được học với các sách giáo khoa này.

4) Hình thành một học thuyết mới và đặc thù về dạy và học tiếng Anh cho học sinh  Việt ở Việt Nam, theo đó (a) khẳng định tầm quan trọng hơn hẳn của đọc và viết so với nói và nghe vì chính trình độ tốt của đọc và viết giúp nâng cao trình độ nói và nghe, (b) quy định việc học tiếng Anh hoặc ngoại ngữ tự chọn bắt đầu từ lớp 6 và học thêm ngoại ngữ khác cũng tự chọn từ lớp 10, (c) chỉ áp dụng hình thức trắc nghiệm cho các bài kiểm tra nhưng không bao giờ áp dụng trắc nghiệm cho kỳ thi tú tài và đại học – bất kể đó là đại học ngành Anh Văn hay bất kỳ ngành nào khác, và (d) loại bỏ khỏi chương trình trung học các môn vô ích vô dụng vô duyên như đã nêu ở các phần trên để học sinh có thể học nhiều hơn, thi đầy đủ các môn đã học để đưa các môn học như Lịch Sử hay Công Dân, v.v. trở lại phẩm giá cao vốn có của các môn học ấy, và chủ động học thêm nhiều hơn do có thời gian nhiều hơn để từ đó khắc phục các yếu kém – nếu có – và đầu tư đúng trọng tâm cho những lĩnh vực quan tâm thực sự hơn thay vì để các quan tâm ấy thui chột do không có thời gian để đầu tư kịp lúc kịp thời.

5) Trước khi đi đến một quyết định mang tính chủ trương, chính sách, kế sách, hoạch định, quy định, có liên quan đến giáo dục & đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bí Thư Thành Ủy nên đích thân đến tư gia của tác giả bài viết này để được tham vấn chi tiết, ngõ hầu bảo đảm khi quyết định đã ban thì không bao giờ vấp phải ý kiến phản bác bất kỳ từ các đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như bảo đảm sự đồng tình đồng thuận của những người trong cuộc bao gồm giáo viên và phụ huynh học sinh, từ đó nâng cao vị thế tuyệt đối đúng đắn của tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

Đại Học

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Thế Nào Là “Từ Chương”

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Tấm Lòng Cựu Nhà Giáo

Hướng Đạo

Đồng Phục Học Sinh

Tuyệt Thực

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Advertisements

Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

babylon-3

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-9-2016

babylonA) Lý Do Giải Thích Từ Ngữ

“Giải thích từ ngữ” luôn là phần cần đến khi bài viết có những thuật ngữ hay từ ngữ nào đó nhất thiết phải được làm rõ về ý nghĩa nhằm giúp người đọc có thể dễ dàng năm bắt ý tưởng của bài viết hơn.

Đối với bài viết này thì phần “giải thích từ ngữ” đặc biệt cần thiết do có những ba đặc thù kỳ lạ sau (mà nếu bài viết này bằng tiếng Anh cho người Mỹ đọc thì sẽ không bao giờ cần đến cái phần “giải thích” hay “phân bua” mà họ cho là quái gở một cách vô dụng này):

1) Tự do ngôn luận là thứ bị nhiều người Việt Nam vừa vận dụng để xúc xiểm tôn giáo của người khác vừa cấm đoán bất kỳ ai được nói nghịch lại tôn giáo của mình;

2) Tự do ngôn luận là thứ bị ngay cả các tờ báo chính thống lớn nhất của Việt Nam khuynh đảo, sẵn sàng dùng sức mạnh của truyền thông độc đoán để viết bài tổng lực nhằm cấm đoán và trừng trị ngay cả vị nghị sĩ Quốc Hội đương nhiệm nào ngoài Đảng dám phát ngôn “đột phá” ngoài tầm hiểu biết cùng dự kiến của các tờ báo đó như trường hợp “Luật Biểu Tình” bị đình lại gần một thập niên chỉ vì một phát ngôn đột phá lẻ loi;

3) Ngôn ngữ Việt Nam trước đây rất tương thích với các ngôn ngữ chính của nhân loại, nhưng đã bị hủy phá nghiêm trọng, thậm chí cụm từ Hán-Việt đầy trang trọng của “Tứ Đại Ngu” lại bị xem như trọng tội, cùng lúc đó từ thuần Việt cực kỳ quen thuộc “đĩ” lại làm một vị nguyên Đại Biểu Quốc Hội vốn là chức sắc về giáo dục thanh niên, thiếu niên, và nhi đồng, từng hốt bạc nhờ các đại cuộc “cải cách giáo dục” cũng như “biên soạn giáo trình” phải diễn trò trước các phóng viên các tờ báo chính thống lớn nhất Việt Nam khi ôm ngực hốt hoảng thảng thốt cứ như còn ghê gớm hơn cả sự thất kinh hồn vía trước sự tàn khốc của bom đạn Mỹ mà vị ấy ắt chưa từng nếm qua do sống sung sướng ở đâu đó trên chiếc tinh cầu này.

4) Tiêu đề có dấu chấm hỏi như một sự thủ thế có nội hàm hùng biện rằng nếu có kẻ ác ý công kích người viết sao dám “lăng mạ bề trên” Hillary Clinton mà kẻ ác ý ấy “quỳ đầu” thờ phượng, thì câu trả lời sẽ là mỗi khi có dấu chấm hỏi thì đó là một khắc khoải tư duy, mà không bất kỳ ai văn minh trong thế giới văn minh lại buộc tội một tư duy vì đó là xâm hại cả nhân quyền và tự do ngôn luận. Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

5) Cuối cùng, sự khẳng định ở đây là: bài viết này có mức độ nghiên cứu hoàn toàn nghiêm túc.

B) Giải Thích Từ Ngữ

1) “Con Đĩ Babylon” là dịch tiếng Việt tuyệt đối sát nghĩa của “The Whore of Babylon” trong bản tiếng Anh Thánh Kinh Tân Ước Của Vua James. “Con Đĩ Babylon” được nói đến trong Chương Khải Huyền của Thánh Kinh Tân Ước. Chính Chương Khải Huyền này có ghi rõ như một khẳng định về (a) sự chính xác của những điều chắc chắn sẽ xảy ra cho ngày phán xét cuối cùng mà người đời thường xem như Ngày Tận Thế, và (b) cái thực thể xấu xa tồi tệ ngồi trên đầu thiên hạ sẽ bị Chúa Trời trừng trị được gọi là Con Đĩ Babylon.

2) Trong tiếng Anh:

a- Prostitute là mại dâm nữ, được sử dụng như từ chính thức trong văn bản pháp luật khi nói về người nữ làm cái việc bán thân để nhận thù lao bằng tiền hoặc bằng những lợi lộc khác. (Tất nhiên, gọi “mại dâm nữ” là theo mặc định tiếng Anh truyền thống, chứ trên thực tế thì male prostitute tức mại dâm nam đã tồn tại từ rất lâu với những nhà thổ nam ở La Mã Cổ Đại và Ai Cập Cổ Đại, mà bắt nguồn từ việc bắt các nô lệ tức slave phải phục vụ về tình dục (thay cho lao động khổ sai hoặc để được thí cho thức ăn nhiều hơn, dần dần cái “bo” hoặc “lì xì” như thế được thực hiện bằng tiền) nên ngày nay mới có thuật ngữ sex slave hoặc sexual slave tức nô lệ tình dục mà từ điển nước ngoài thường chua rằng “đặc biệt là đàn bà hay trẻ gái bị cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục, rồi bị buộc hành nghề  mại dâm” thu tiền).

b- Whore là từ mang nghĩa miệt thị cực kỳ khinh bỉ để gọi một mại dâm nữ  prostitute (man-whore là từ miệt thị khinh bỉ để gọi một mại dâm nam). Như vậy, từ ngữ tiếng Việt hoàn toàn thích hợp để dịch đúng nghĩa tu từ của whoređĩ (xử dụng chính tại Sài Gòn trước 1975) hoặc điếm (thường dùng chung với đĩ trong danh từ kép đĩ điếm cả trong cách chính thức như “ở đó có nhiều đĩ điếm” hoặc cách bình dân như “đồ đĩ điếm”, ít dùng riêng, và nếu dùng riêng thì thường thấy trong cụm từ điếm hạng sang).

c- Harlot: Nếu như prostitute có thể được dùng để nói lái qua mại dâm nam, thì harlot chỉ được dùng cho nữ chứ chẳng hề dùng cho mại dâm nam. Tuy nhiên, harlot lại không mang hàm ý của sự khinh miệt như whore.

d- Slut: Cách dịch đúng nhất ở tiếng Việt là “cô nàng lẳng lơ” hoặc “người phụ nữ lang chạ” mà tiếng bình dân còn có thể nói dài dòng thành “ả ngủ với mọi người” mà không lấy tiền bán dâm (và cũng không trả tiền mua dâm) tức chẳng dính dáng gì đến mại dâm hay mãi dâm cả. Ngay cả một người đàn ông khi bù khú với bạn bè có thể tự nhiên thoải mái khoe rằng anh ta đang qua lại ngủ nghê với một slut vì slut rất có thể là một mệnh phụ phu nhân, một phụ nữ celebrity người nổi tiếng, một đồng nghiệp nữ, hoặc một bà hàng xóm đặc biệt, mà anh ta vừa có ưa thích vừa dễ dàng ngủ với khi cần. Còn nếu một phụ nữ gọi sau lưng hoặc trước mặt một phụ nữ khác là slut thì đang rủa người ấy là “quân đĩ thỏa” hoặc “đồ đĩ” chứ người bị rủa không là người nữ bán dâm có thu tiền công xá dịch vụ phục vụ. Slut dùng gọi phụ nữ. Có thể dùng slut để mắng nhiếc. Nếu muốn dùng để mắng một người nam thì phải nói rõ là male slut.

C) Cái Sai Trong Bản Tiếng Việt Của Thánh Kinh Tân Ước

1) Do chữ Whore trong bản tiếng Anh quá dữ dội, nhiều bản tiếng Việt của Thánh Kinh Tân Ước sử dụng cụm từ “con đại dâm phụ”. Tuy chữ “con” mang ý miệt thị, từ “dâm phụ” lại chẳng thích hợp do đó là từ Hán-Việt. Tứ Đại Ngu chứ không phải Bốn Đại Ngu. Quốc gia đại sự chứ không phải quốc gia sự lớn. Ngoài ra, bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn khi dùng chữ “con điếm bự” (tức “the great whore” – Khải Huyền 17:1) lại là một kiểu hoàn toàn đối chọi với “con đại dâm phụ” về phương diện tu từ.

2) Babylon the Great trong bản tiếng Anh bị dịch sai thành “Babylon Lớn” trong Thánh Kinh Tân Ước tiếng Việt (bản của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn gọi là Babylon Vĩ Đại). Alexander the Great là A-Lịch-Sơn Đại Đế của Hy Lạp Cổ Đại và đây là cấu trúc tiếng Anh dành cho “Đại Hoàng Đế” chứ không phải là A-Lịch-Sơn Lớn.

3) Do Babylon the Great không phải là Babylon Lớn nên Babylon không là Thành Babylon của thời 1894 Trước Công Nguyên mà phế tích nay nằm bên trong lãnh thổ Iraq. Vì vậy trong Thánh Kinh Tân Ước, Babylon chỉ là một ẩn dụ mang tính tiên tri mà người ta cho rằng có thể ứng nghiệm vào một thực thể hay cá thể nào đó của thời kỳ Tận Thế. Và do Chương Khải Huyền viết rằng “Babylon Lớn” được ghi lên trán “con đại dâm phụ” nên “Babylon the Great” cũng có thể hiểu như “Con Đĩ Babylon Đại Đế” trong tiếng Việt. Phần D tiếp theo dưới đây sẽ luận bàn về nội dung xem Babylon là ai hay là gì.

4) Để hỗ trợ cho lập luận trên chứng minh trong bản tiếng Việt của Thánh Kinh đã có điều sai, xin nêu thêm một vài điểm khác. Trong khi Kinh Thánh ghi rõ là Chúa Trời sẽ trừng phạt bất kỳ ai thêm hoặc bớt một điều gì trong Kinh Thánh thì có bản tiếng Việt lại bỏ hẳn từ Whore để chỉ ghi người đàn bà, mà như thế là hoàn toàn sai, vì về tổng thể nội dung Thánh Kinh thì tính cả quyết với cả sự giận dữ cao độ tại những tiểu đoạn hoặc trường đoạn mang tính quyền lực chủ tể và nghiêm khắc răn đe dữ dội của Chúa Trời và Chúa Jesus rất đồng nhất về mặt ngôn từ, chưa kể khi dùng người đàn bà thì đó lại chỉ là sự khẳng định về giới tính. Ngoài ra, thí dụ sau cho thấy ý tứ của các bản tiếng Anh trong chương Exodus tức Chương Cuộc Di Dân Khỏi Ai Cập, tiêu đề mà bản tiếng Việt của Thánh Kinh Cựu Ước đều “dịch” thành Xuất Ê-Díp-Tô Ký (ắt với ý rằng đó là chương ký sự về việc xuất cảnh khỏi Ê-Díp-Tô tức khỏi Egypt tức Ai Cập) thì nội dung rằng Ta Là Một Thượng Đế Jealous trong nhiều phiên bản tiếng Anh đã bị đổi thành Ta Ghét Dân Của Ta Thờ Phượng Các Thượng Đế Khác trong một bản tiếng Anh khác hoặc Ta Sẽ không Trao Danh Dự Thượng Đế Cho Kẻ Khác trong một bản tiếng Anh khác nữa, thành Đức Chúa Trời Kỵ Tà hoàn toàn sai nghĩa trong bản tiếng Việt:

babylon-2

Thật ra, sự thay đổi trong các bản tiếng Anh nhằm né tránh chữ Jealous vẫn có thể hiểu được, trong khi sự thay đổi trong bản tiếng Việt lại hoàn toàn sai. Cái sai đến từ chữ Jealous có nghĩa là ganh ghen, vì lẽ nào lại dịch thành Ta, Chủ Tể Của Ngươi Và Thượng Đế Của Ngươi, Là Một Thượng Đế Hay Ghen. Người Việt đã không biết rằng ngoài nghĩa “ganh tỵ”, “ghen ghét”, “ghen tuông”, từ “jealous” còn có nghĩa “cảnh giác cao độ”, “giữ ghịt”, “cẩn trọng”, và “quan tâm” với nội hàm quyền sở hữu. Thế nên, thay vì e sợ thiên hạ hiểu lầm Thiên Chúa ganh ghen, có thể dịch thành “Ta Là Thượng Đế Biết Rõ Và Nắm Vững Quyền Năng Chủ Tể Của Ta”.

5) Tuy nhiên, cần phải thông cảm cho những sự không giống bản tiếng Anh vì ngay cả các bản tiếng Anh mới hơn cũng có vấn đề. Có bản thấy dùng chữ Whore quá dữ dội nên tự đổi thành Harlot, trong khi như đã nêu trong phần giải thích từ ngữ ở trên, Harlot mang nghĩa hoàn toàn khác, không thể nào là…“con đại dâm phụ”. Thậm chí, theo thuyết âm mưu mà tác giả bài viết này muốn vận dụng thì việc sử dụng Harlot để thay thế Whore rất có thể còn có dụng ý bảo vệ Đức Giáo Hoàng của Vatican vì Harlot luôn là nữ trong khi tất cả các giáo hoàng đều là nam.

D) Luận Điểm Của Các Học Giả Thế Giới Khi Nói Về “Con Đĩ Babylon

Do Chương Khải Huyền khẳng định rằng những lời tiên tri là trung thực về những gì sắp xảy đến, các học giả đã có những diễn giải khác nhau về đối tượng có thể là “Con Đĩ Babylon” tức kẻ còn được cho rằng trên trán có dòng chữ “Babylon Đại Đế” như sau:

1) Babylon Đại Đế Là Đế Chế La Mã:  Các tác phẩm tiên tri (apocalyptic literature) ngày xưa cho rằng Babylon ám chỉ Đế Chế La Mã do cái gọi là Thành Babylon đã chỉ còn là phế tích. Song, Đế Chế La Mã bị diệt vong vào năm 1453 khi chưa thống trị toàn thế giới và cũng không gây ra Ngày Tận Thế.

2) Babylon Đại Đế Là Tà Giáo: Babylon Đại Đế được các học giả đem Thánh Kinh ra để chứng minh nó tượng trưng cho tập thể các tôn giáo giả trá đã khiến con người không thờ phượng Đấng Jehovah tức Thượng Đế thực sự.

3) Babylon Đại Đế Là Một Tổ Chức Quốc Tế: Chương Khải Huyền ghi rằng Babylon Đại Đế là một thành phố vĩ đại có vương quốc trên cả các vị vua trên trái đất; do đó, có mang tính quy mô quốc tế và ảnh hưởng quốc tế.

4) Babylon Đại Đế Là Một Tổ Chức Tôn Giáo, Không Thể Là Một Thực Thể Chính Trị Hay Thương Mại: Thành Babylon xưa kia là một thành phố tôn giáo với những bùa chú và thuật phù thủy, mà những tôn giáo này chống lại vị Thượng Đế thực sự là Đấng Jehovah. Thế nên, Babylon Đại Đế là một tổ chức tôn giáo nào đó. Thánh Kinh ghi rằng các vị vua trên thế giới sẽ than khóc Babylon Đại Đế nên Babylon Đại Đế phải là một tổ chức tôn giáo. Thánh Kinh cũng phân biệt Babylon Đại Đế với giới thương nhân nên đó không thể là một doanh nhân.

5) Babylon Đại Đế Là Hệ Thống Kinh Tế, Xã Hội, Chính Trị, Tôn Giáo Tà Đạo: Có thể đó là hệ thống thế giới không phản ảnh bản chất tình yêu thương của Thượng Đế, mà lại nô dịch hóa nhân loại.

6) Babylon Là Rome: Đơn giản vì Babylon Đại Đế tức Con Đĩ Babylon được ghi trong Chương Khải Huyền là ngồi trên 7 ngọn núi, mà Rome được bao quanh bởi 7 ngọn đồi.

7) Babylon là Jerusalem: Đơn giản vì Jerusalem cũng được xây dựng trên 7 ngọn đồi, và do nhiều nhà tiên tri Thánh Kinh Cựu Ước hay ghi rằng Jerusalem là ổ điếm (các chương Isaiah 1:21; Jeremiah 2:20; Jeremiah 3:1–11; Ezekiel 16:1–43; Ezekiel 23, Galatians 4:25), cũng như Chúa Jesus cũng từng quy các vụ sát hại các nhà tiên tri và chư thánh là do người tại Jerusalem thực hiện (tại các chương Matthew 23:34–37 và  Luke 11:47–51).

8) Babylon Đại Đế Là Nước Mỹ Ngày Nay: Đây là lý giải của Michael Ross và John Price trong khảo luận xuất bản năm 2016 tựa đề Baybylon Đại Đế: Ngày Hủy Diệt (Babylon the Great: Day of Destruction) và quyển Sự Cáo Chung Của Hoa Kỳ (The End of America) phát hành năm 2013, với các ý quy chụp như Hoa Kỳ là xứ sở xuất khẩu sự suy đồi dục tính ra toàn thế giới, đất nước xa hoa, văn hóa lấn lướt, v.v.

9) Babylon Đại Đế Là Nhà Thờ Công Giáo Theo Lập Luận: Đây là luận điểm không mới vì đã từ lâu đã có những học giả như Ellen White cho rằng chính Nhà Thờ Công Giáo là Con Đĩ Babylon do Nhà Thờ Công Giáo đi ngược lại Nhà Thờ thật sự của Chúa, và rằng Đức Giáo Hoàng là Quỷ Satan (Antichrist).

10) Con Đĩ  Babylon Là Tòa Thánh Vatican Theo Dẫn Chứng Từ Thánh Kinh: Ngoài lập luận số 9 nêu trên của những học giả tin vào Nhà Thờ “thật sự” của Chúa, các tôn giáo khác có thờ Đức Chúa nhưng chống lại Tòa Thánh Vatican của Công Giáo đã đưa ra các luận điểm sau để diễn giải bí ẩn tiên tri của Chương Khải Huyền về Con Đĩ Babylon tức Babylon Đại Đế bằng cách trích dẫn từ chính Thánh Kinh để chứng minh tất cả đều quy về chính Nhà Thờ Ky Tô Giáo La Mã tức Tòa Thánh Vatican:

a- Babylon không thể là Hồi Giáo vì từ “fortication” và “adultery” tuy khác nghĩa trong từ điển hiện đại với ý nghĩa trước sau lần lượt là “quan hệ tình dục của người chưa có gia đình với người khác, bất kể người khác ấy có gia đình hay không” và “ngoại tình tức quan hệ tình dục của người có gia đình với người không phải là chồng hay vợ của mình bất kể người ấy đã lập gia đình hay không”, nhưng đã có sự sử dụng cả hai từ trong Thánh Kinh Cựu Ước và Thánh Kinh Tân Ước để cùng mang một nghĩa duy nhất của “adultery”. Thánh Kinh đã dùng hình tượng đàn bà để chỉ Nhà Thờ. Đức Chúa đã dùng từ ngoại tình không phải để lên án tội thông dâm sai quấy mà chỉ để nói về sự phản bội của dân của Chúa và Nhà Thờ của Chúa đối với Chúa. Vì vậy, chỉ khi những người hoặc những nước theo Đạo Chúa kết thân với những người hay những nước thờ phượng thượng đế khác với Chúa mới có thể là Babylon. Do không phải là tín đồ của Chúa để phạm tội ngoại tình phản bội Chúa, Hồi Giáo không bao giờ là Con Đĩ Babylon.

b- Nếu gọi Babylon là “thành phố” Babylon, thì chỉ có “thành phố Vatican” mới phù hợp với Thánh Kinh vì Vatican City có quyền lực đứng trên các vua, các quốc gia, các dân tộc, các ngôn ngữ, như đã được ẩn dụ trong Chương Khải Huyền.

c- Babylon không thể là Hoa Kỳ hay Nga hoặc Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào, vì Thánh Kinh gọi các quốc gia là những con dã thú (Daniel 7:23 và Khải Huyền 13) chứ không gọi các quốc gia là đàn bà; do vậy, Con Đĩ Babylon chắc chắn không ám chỉ một quốc gia.

d- Babylon chính là Vatican vì chỉ có Nhà Thờ Công Giáo La Mã mới là một tổ chức tôn giáo duy nhất có “vương quốc” riêng (Vatican), duy nhất có cả tỷ tín đồ tại mọi nơi trên toàn thế giới, duy nhất “dính líu” đến chính trị khi trước đây khuynh đảo toàn bộ các vương triều Châu Âu còn ngày nay có quan hệ “ngoại giao” với 180 quốc gia và chỉ còn 16 quốc gia nữa thôi là Vatican thực thụ uy trấn toàn cầu, duy nhất có quyền lực trước đây thực hiện trực tiếp lật đổ hoặc xử tử các lãnh đạo hoặc vương gia các vương quốc còn ngày nay gây rối gián tiếp bằng cách không cản ngăn các lãnh đạo giáo phận các địa phương sử dụng tôn giáo gây rối các chính quyền.

e- Con Đĩ Babylon chính là Vatican vì sự miêu tả Con Đĩ Babylon (Khải Huyền 17.4) mặc trang phục màu tím (Purple) mà Thánh Kinh tiếng Việt gọi là màu tía, màu đỏ tươi (Scarlet) mà Thánh Kinh tiếng Việt dịch là màu điều; trang sức với vàng, đá quý, châu ngọc; tay cầm một cái chén vàng lại được minh chứng trùng hợp qua hình ảnh của chính Tòa Thánh Vatican, chưa kể hình ảnh một phụ nữ cầm chén thánh còn được in khắc trên những đồng tiền của Vatican như một khẳng định đầy ngạo nghễ và thách thức đối với bản chất tự thân không hề xa lạ với Con Đĩ Babylon:

babylon-6babylon-5babylon-4babylon-7babylon-13

f- Con Đĩ Babylon chính là Vatican qua lời các vị Hồng Y xuất chúng của Công Giáo La Mã Roman Catholic. Hồng Y Henry Edward Manning của Điện Westminster Vương Quốc Anh năm 1875 cho rằng hệ thống Roman Catholic siêu nhiên đến nỗi người ta cho rằng nó có thể là Đức Chúa Christ mà cũng có thể là Quỷ Vương Antichrist (tức Satan); song, chẳng có cái nào khác ở giữa hai thái cực này, và do đó, Nhà Thờ Công Giáo hoặc là một kiệt tác của Quỷ Satan hoặc là vương quốc của Con Trai Đức Chúa Trời. Trong khi đó, Hồng Y John Henry Newman cũng của Anh Quốc trong các tiểu luận ấn hành năm 1890 đã bồi thêm rằng vấn đề nằm ở chỗ giữa hai sự lựa chọn hoặc Nhà Thờ Công Giáo La Mã là Nhà Thờ của Chúa hoặc Nhà Thờ Công Giáo La Mã là Nhà Thờ của Satan thì không còn sự lựa chọn trung dung nào khác cả.

E) Hoàng Hữu Phước Luận Về “Con Đĩ Babylon

Những lý giải của các học giả ở phần D bên trên tuy rất hợp lý và đầy sức thuyết phục, vẫn có những vấn đề nổi cộm như:

– Một số lý giải đã hoàn toàn sai chẳng hạn như khi liên hệ đến “Thành” Babylon, Đế Chế La Mã hay Jerusalem do các sự kiện lịch sử thực sự đã xảy ra nhưng đã không dẫn đến những sự việc như đã nêu trong nội dung tiên tri của Khải Huyền.

– Có những lý giải lại yếu về tính khách quan thí dụ như khi cố gắng viện dẫn Thánh Kinh để quy chụp Nhà Thờ Công Giáo Vatican chính là Con Đĩ Babylon đã tấn công luôn nhánh Tin Lành “ly khai” (cách của người viết bài này gọi theo kiểu nội hàm của Protestantism trong khi có người gọi theo kiểu dịch thuật Anh-Việt là “kháng cách giáo” tức nhánh Tin Lành tách khỏi Công Giáo do phản kháng, và sau đó Tin Lành Protestantism tách thành rất nhiều giáo phái Tin Lành khác nhau mang nhiều tên gọi khác nhau), bằng cách viện dẫn Thánh Kinh đã gọi Con Đĩ Babylon là mẹ của các gái điếm (Khải Huyền 17:5) để gọi Tin Lành Ly Khai Protestantism là gái điếm vì thoát thai từ con đĩ là Nhà Thờ Công Giáo.

Tuy nhiên, tất cả các lý giải đều giống nhau ở điểm hoàn toàn né tránh nói Con Đĩ Babylon là một cá nhân.

Tác giả bài viết này cho rằng Con Đĩ Babylon có thể chính là Ứng Cử Viên Tổng Thống Hoa Kỳ của Đảng Dân Chủ: Bà Hillary Clinton

babylon-10

vì các lý do sau:

1) Trên thực tế, một cá nhân khó thể tự thân trở thành kẻ có thể khống chế các lãnh đạo khác của thế giới để đưa nhân loại đến Ngày Tận Thế.

2) Trên thực tế, một quốc gia khó thể khống chế các lãnh đạo khác của thế giới nếu không dựa vào một cá nhân cụ thể tàn độc dữ dội, vô sĩ, có quyền bính tuyệt đối để đưa thế giới đến Ngày Tận Thế. Đức Quốc không thể đưa nhân loại vào Thế Chiến nếu không có Adolf Hitler.

3) Sự khống chế phải cụ thể, trong khi “cá nhân” chẳng hạn như Đức Giáo Hoàng dù có phối hợp với “tập thể” Nhà Thờ Công Giáo Vatican cộng với các giáo phận giáo xứ toàn cầu vẫn không bao giờ danh chính ngôn thuận trực tiếp công khai trở thành vị bá chủ cai trị chính trị toàn cầu, chưa kể Vatican hoàn toàn không là “đối thủ xứng tầm” của Hồi Giáo về mặt tinh thần từ ảnh hưởng tôn giáo, hoàn toàn không là “đối thủ xứng tầm” của các cường quốc quân sự thí dụ như Việt Nam về sức mạnh quân đội, hoàn toàn không là “đối thủ xứng tầm” của các cường quốc ý thức hệ thí dụ như Việt Nam về tinh thần dân tộc vốn là thứ Vatican không bao giờ có, cũng như mãi mãi không bao giờ thành công khi có các sự gây rối ngẫu nhiên tự phát bất kỳ của các giáo phận giáo xứ địa phương tại một quốc gia nào đó chẳng hạn như Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Do đó, quy chụp rằng Vatican là Con Đĩ Babylon là điều sai và Vatican không bao giờ có thể đưa nhân loại đến Ngày Tận Thế, trong khi đó Vatican đương nhiên lại sẽ bị tiêu diệt bởi Con Đĩ Babylon trong Ngày Tận Thế.

4) Hillary Clinton là Con Đĩ Babylon vì là sự phối hợp của hai điều 1 và 2 nêu trên, nghĩa là một cá nhân cực kỳ tàn độc, cực kỳ vô sĩ, cực kỳ vấp váp và cực kỳ dối trá như Hillary Clinton nếu làm Tổng Thống Hoa Kỳ sẽ nắm quyền bính của một siêu cường nguyên tử để rồi có tất cả điều kiện cần và đủ để gây ra Ngày Tận Thế. Còn tại sao lại là Hoa Kỳ? Con Đĩ Babylon tức Babylon Đại Đế đươc Khải Huyền miêu tả như môt phụ nữ cưỡi một con thú sắc đỏ có 7 đầu

babylon-8

Bảy đầu trên 7 chiếc cổ đỏ dài lúc lắc, và biểu tượng này tương tự 7 sọc đỏ phất phới trong gió của quốc kỳ Mỹ.

babylon-12

Babylon Đại Đế tức Con Đĩ Babylon ngồi trên con thú 7 đầu đỏ và các vị vua trên thế giởi phải quỳ phủ phục như trong bức tranh ở trên.

“Tổng Thống” Hillary Clinton trên ngôi cao tột đỉnh của Hoa Kỳ cờ sao 7 sọc đỏ và các vị tổng thống trên thế giới đều phải ở chiếu dưới, từ các quốc gia thành viên NATO đến các quốc gia EU; từ các nước trong “thế giới tự do” đến các nước Hồi Giáo Trung Đông,Trung Cận Đông, Đông Nam Á; và từ các nước Nam Mỹ đến các nước Á Châu và Phi Châu; kể cả vội vã bắt tay với các các nước mà Mỹ không thân thiện nhằm đưa vào tầm ảnh hưởng chung như Việt Nam, Cuba và Myanmar.

5) Babylon là một tên riêng. Sự trùng hợp ở đây là tên gọi Hillary Clinton vừa có đầy đủ vừa sắp đúng theo thứ tự trước-sau của các chữ cái a, y, và o.

6) Nếu như các giải thích “sấm truyền” của các học giả đối với Khải Huyền đã hoặc phải đợi chờ rất lâu mới biết là sai hoặc vẫn còn phải đợi chờ thêm trong vô hạn, thì lời giải thích của tác giả bài viết này sẽ rõ trắng đen vào cuối năm nay sau khi có kết quả cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, bốn nội dung phát sinh là nếu (a) Hillary Clinton trở thành tổng thống Hoa Kỳ thì phải chăng Ngày Tận Thế sắp đến như lời tiên tri của Khải Huyền, (b) Donald Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ thì phải chăng chưa đến thời điểm ứng nghiệm của lời tiên tri trong Khải  Huyền, (c) Donald Trump có phải là Babylon Đại Đế, và (d) liệu có thể thay đổi thời điểm của Ngày Tận Thế?

F) Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt Cứu Nguy Cả Nhân Loại

Bất kể có mang hơi hướm của sự dị đoan hay không, và bất kể bạn có tin vào Kinh Thánh hay không, thì hình ảnh kẻ nằm ngủ qua đêm ngang đường ray xe lửa chỉ để khẳng định xem có cái gọi là số mạng hay không vẫn không bao giờ được cho là của một hành động minh triết của kẻ đi tìm chân lý. Cơ sở khôn ngoan thuần Việt của tiền nhân Việt là “có kiêng, có lành”. Tương tự, việc chích ngừa cúm vào mùa lạnh bất kể chẳng bao giờ vướng cúm H5N1 luôn là việc cẩn trọng nên làm.

Do vậy, dù cho có thể Hillary Clinton không phải là Con Đĩ Babylon, thì việc chủ động – cũng như vận động các cộng đồng thiểu số khác – cùng nhau không bỏ phiếu cho Hillary Clinton không phải là việc không nên làm.

babylon-1

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi Ủng Hộ Donald Trump

babylon-11

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(Dual Language: English & Vietnamese – Song ngữ Anh – Việt )

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2016

Lúc trang mạng doanh nhân Việt Nam Emotino.com còn hoạt động, tôi có tham gia Anphabe.com của chủ nhân là Cô Thanh Nguyễn (xin lỗi tôi đã không nhớ tên đầy đủ của Cô trong khi hiện nay trang mạng của Cô cũng chỉ ghi “Thanh Nguyen”) sau khi nhận được lời mời của Cô vốn cũng là một gương mặt sáng giá trên Emotino.com.

Có lần tôi thấy có lời bình phẩm của một tên ngoại kiều làm việc tại Việt Nam (tôi biết thế qua nội dung ý kiến của hắn) trên LinkedIn.com và ngay cả trong “comments” của Anphabe.com để nhạo báng hoạt động của Anphabe trong “tổ chức mời diễn giả” trong nước hoặc ngoài nước, tôi đã viết nội dung sau cho Cô Thanh Nguyễn tại Anphabe và đồng thời trên Emotino. Tôi không viết comments mắng y ngay dưới comment của y, đơn giản vì sáu lý do gồm (a) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại đối đáp trực tiếp với tên mạt hạng bẩn dơ như y sao, (b) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại để lời comment của tôi bên dưới comment “hạ đẳng” của y sao, (c) tôi phải viết trên Emotino để nhiều người Việt Nam biết đến nội dung hơn, (d) tôi phải viết trên Emotino để người học tiếng Anh ở Việt Nam có dịp đọc bài viết tiếng Anh của tôi vốn hoàn toàn vắng bóng từ khi Yahoo! đột xuất ngu xuẩn đóng cửa 3600 , (e) tôi phải viết trên Emotino vì muốn các doanh nhân Việt Nam biết tôi vẫn hữu thủy hữu chung tức trước sau như một đối với bảo vệ danh dự quốc gia, và (f) đặc biệt tôi viết trên cả Anphabe cùng Emotino để Cô Thanh Nguyễn biết Cô – cũng như qua đó đến các doanh nhân doanh nghiệp khác sinh hoạt trên Emotino – biết sẽ được tôi bảo vệ về biện luận đối với các xúc xiểm của ngoại nhân.

Kính mời các bạn tham khảo nội dung nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt tiếp theo sau.

Kính cảm ơn đã quan tâm đọc và kính chào trân trọng.

Phần Nguyên Bản Tiếng Anh

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(originally posted on Emotino.com at http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen)

Hoang Huu Phuoc, MIB

14-4-2011

aaa-1aaa-2

Dear Ms Thanh Nguyen:

I have read a message from Mr David E giving a strong comment on your list of 100 speakers. Obviously his wordings are not strange to Vietnamese people and other people of nations suffering the racial discrimination from those coming from Western countries boasting about their super power even in the thinking modes, ignoring the fact that all strong representatives of capitalism have become shameful culprits of all world’s economic crises including the most recent economic downturns as well as the huge bailouts at economic giants.

Since his saying that Vietnam is so tied to old-school techniques is so ambiguous, I wonder if he can clarify the field or fields in or of Vietnam he wishes to refer to, as in this very world of complicacy the notion should be as much specific as possible. Even once the field or fields can be specified by his good self, nobody on earth – let alone the Vietnamese sages – is so much foolish to reveal the “new ideas” to him or to anybody else just to satisfy the thirst for knowledge just for free. Furthermore, things depend on various factors, among which those of suitable time, suitable situations and suitable personnel and/or personages are naturally decisively included and never ignored. To make Vietnam better, all of these factors need be incorporated into one “something”. The old Vietnam hands are said by him to know something about the old Vietnam, this would literally and figuratively mean he and the old and young foreign hands will never know anything about that old Vietnam. The Bible is much old, but wise people never say something new should be posed by priests and clergymen to make the Bible better.

Vietnam needs new ideas, of course. However, he seems illogically intentionally ignoring one crucial fact that ideas are just ideas. To overphilosophize or exagerate the “importance” of ideas will obviously expose the messy mode of thinking of irrational people. Additionally, it never means everything is in need of new-fangled ideas at the same time. Therefore, Vietnam is having tremendously new ideas for many fields, and leaves some others intact for the new generations to come to explore and exploit. Please also note that “new” never automatically means “good”, and never indicates that everybody must follow the “new” everywhere. To make it easier to understand, let me prove this: communism comes into existence after capitalism, i.e. communism is “new”. Has he ever tried to do his best to convince the USA and all Western countries to establish communist society to replace capitalist ones? Vietnam applies the so-called socialist-oriented market economy to successfully help itself sustainable throughout the worldwide economic downturn of the 2007-2009 crises damaging the proud image of the USA and others; hence, would he and people like him be assumed to laboriously try to convince the Western governments and the US administration to have the same modus operandi applied?

Every wise man on earth now is talking about customization. Only he says the market in Vietnam should not replicate Western ideas in a Vietnamese context. If he participates in an MBI academic program, he will have to study a lot about China, its market, its ways of doing business, and what Westerners should do to satisfy the Chinese if he goes partnering with them. When he comes to Vietnam to do business, his only option for a survival is to do as per Vietnamese terms, and vice versa, when the Vietnamese people go global, they have to follow the common practice, rules and regulations internationally imposed.

He may think he has the right to call those Vietnamese experts a “bunch of old Vietnamese managing directors and Navigos people” who make him “bored”. It is a pity for him. Speakers will deliver suitable notes to suitable audience. If he participates in a paid seminar then gets bored, it may simply mean either he selects a wrong topic or subject or his boss thinks he needs further training on a topic/subject he is considered inadequately qualified. It is a pity also because he has not had any opportunity to participate in any seminar lectured by me. Those names mentioned by him e.g. Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, and Hillary Clinton are to me of good-for-nothing wretched. Who is Bill Gates then? He means the illiterate person failing to complete college years then playing a dirty monopoly game to annihilate all Western IT talents? Who is Hillary Clinton? He means the old woman proudly having a photo taken with the tall proud son of Muammar Gaddafi at the White House, then two years later bombing Tripoli? He can buy books by or of (i.e. autobiography or biography) them to know their life and their ideas – if they can have “new ideas” for their own countries. Personally, the names as mentioned by him are not worth a tinker’s dam. I want to remind him of this information: General Vo Nguyen Giap of Communist Army of Vietnam was just a high school teacher of history, but he humiliated all the noble generals of France and proud generals from Army Academies like West Point of the USA simply by winning all the wars to wipe out the French from Indochina for good then to chase the US troops out to the open sea, burying them all under the thick slimy mud of dishonor.

In short, the advice is that he should respect the Vietnamese people (and any other local people of places on earth whereat he is an expatriate) because they have a bigger advantage over him a foreigner: they know well (a) their country and people and culture and all odds, and (b) his own; whereas he knows only whatever his. This is the reason why the proverb of “When in Rome, do as the Romans do” comes as a suitable guidance for amateur businessmen. He may have a better chance for survival in Vietnam if he spends time to make himself more competitive by learning the Vietnamese ways instead of nonsensically grumbling about the imaginary “old” and the meaningless “new”.

Very truly yours,

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bản Dịch Tiếng Việt

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2011

Tuần trước tôi có đọc “công thư” (thư “công cộng” viết cho bá tánh chứ không phải thư dạng “công hàm” ngoại giao) của Mr David E trên LinkedIn gởi Cô Thanh Nguyên, CEO của Anphabe, và thấy thật khó lòng cưỡng lại sự “cám dỗ” phải chống lại y đối với nội dung bá láp y đã viết.

aaa

Tuy nhiên, để thể hiện mình đã có sự giáo dục quý phái trọng sang đối với kẻ được cho là một thương nhân Âu Mỹ có “nền tảng” văn hóa đáng ngờ, tôi cho rằng thay vào đó tốt hơn hết nên gởi cho Cô Thanh Nguyên một bức thư mà nội dung xin được lập lại như dưới đây:

Cô Thanh Nguyễn kính:

Tôi có đọc đoạn viết nặng nề của Mr David E đối với danh mục 100 diễn giả của  Cô. Rõ ràng là lời lẽ của y chẳng xa lạ gì đối với người dân Việt Nam cũng như người dân các nước phải hứng chịu cảnh bị phân biệt chủng tộc từ những nước Âu Mỹ luôn khoe khoang về sức mạnh siêu việt của chúng ngay cả trong hành trạng tư duy, nhưng lại luôn lờ đi một sự thật rằng tất cả những đại diện manh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản đã luôn trở thành những tên tội phạm đầy nhục nhã gây ra tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kể cả những suy thoái kinh tế gần đây cùng với sự cứu nguy khổng lồ (mà chính phủ của chúng phải ra tay cứu) các tên khổng lồ kinh tế.

Do ý của hắn khi bảo “Việc kinh doanh ở Việt Nam quá bám víu vào những cung cách trường phái cũ mèm” quá mơ hồ, tôi không rõ hắn có thể vạch ra lĩnh vực hoặc những lĩnh vực nào ở Việt Nam mà y muốn nói đến hay không, vì rằng trong thế giới phức tạp ngày nay thì mọi ý kiến đều cần phải cụ thể cao nhất có thể được. Ngay cả khi một hay nhiều hơn một lĩnh vực có thể được y nêu ra đích danh thì không ai trên thế giới này – nói chi đến các nhà thông thái Việt Nam – lại ngu đần đến độ tiết lộ miễn phí các “tư tưởng mới” cho y hay bất kỳ ai chỉ để thỏa mản sự khát khao kiến thức. Thêm vào đó, cái gì cũng còn tùy vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự vào đúng thời điểm, lúc đúng tình thế hoàn cảnh, và có đúng nguồn nhân lực thực hiện và nhân lực cốt cán (tức “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”)  phải luôn được bao gồm với vai trò quyết định tự nhiên mà không bao giờ được lờ đi. Để làm Việt Nam tốt đẹp hơn, tất cả những nhân tố này cần phải được lồng ghép vào một điều cụ thể. Khi y cho rằng “mấy tay người Việt cũ xì vốn là những kẻ có thể biết gì đấy về Việt Nam cũ xì”, thì về cả nghĩa đen và nghĩa bóng bản thân y cùng những tay ngoại nhân trẻ và già sẽ chẳng đời nào biết gì về Việt Nam cũ xì cả. Kinh Thánh rất rất rất cũ, nhưng những người khôn ngoan không bao giờ bảo cái gì đó mới hơn nên được đề ra bởi các linh mục và mục sư để làm Kinh Thánh tốt hơn.

Tất nhiên là Việt Nam cần có các ý tưởng mới. Song cái anh chàng trên dường như đã lờ đi một cách cố tình và xằng bậy một sự thật cực kỳ quan trọng rằng ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Triết lý hóa quá mức hoặc phóng đại “tầm quan trọng” của ý tưởng chỉ sẽ làm bộc lộ rõ hơn cái phong cách tư duy hỗn độn của những kẻ vô trí. Ngoài ra, không bao giờ có việc tất tần tật mọi thứ đều cùng lúc cần phải có các ý tưởng mới xì (phản nghĩa của…“cũ xì”). Do đó, Việt Nam đang có biết bao ý tưởng mới cho nhiều lĩnh vực, nhưng gác lại một bên để các thế hệ sau này tìm tòi và khai thác. Cũng cần lưu ý rằng “mới” không bao giờ tự động có nghĩa là “tốt”, cũng như không bao giờ hàm ý rằng mọi người đều phải theo cái “mới” ở mọi nơi. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ chứng minh như sau: chủ nghĩa cộng sản xuất hiện sau chủ nghĩa tư bản, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản thuộc loại “mới”. Thế thì cái anh chàng trên có đã từng dốc hết sức để thuyết phục các quốc gia Âu Mỹ hãy dựng xây xã hội cộng sản chủ nghĩa thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa? Việt Nam áp dụng cái gọi là nền kinh tế thị trường theo định hường xã hội chủ nghĩa vốn đã giúp Việt Nam tồn tại thành công suốt cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong những cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 vốn làm tổn hại thanh danh của Hoa Kỳ và các nước khác; vậy thì, liệu hắn ta và những tên tương cận có nên được cho rằng đang miệt mài ra sức thuyết phục các chính phủ Âu Mỹ áp dụng cùng mô hình hoạt động kinh tế ấy?

Mọi người khôn ngoan trên thế giới đang nói về sự tùy biến cho tương thích với  hoàn cảnh thực tế. Chỉ có hắn là nói “Thị trường ở đây không phải là để sao chép các ý tưởng Phương Tây vào bối cảnh Việt Nam”. Nếu hắn có học một chương trình hàn lâm Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, y sẽ biết rằng y sẽ phải học rất nhiều về Trung Quốc, về thị trường Trung Quốc, về cách “làm ăn” ở Trung Quốc, và về những gì mà thương nhân Âu Mỹ nên thực hiện để làm hài lòng người Trung Quốc nếu muốn làm đối tác với Trung Quốc. Khi hắn đến Việt Nam “làm ăn”, cái tùy chọn duy nhất mà y phải chọn để tồn tại là phải làm theo các thông lệ của Việt Nam; và ngược lại, khi người Việt Nam tiến ra thế giới họ phải theo các thông tục, các luật lệ và quy định được áp đặt toàn cầu.

Có thể hắn cho rằng hắn có quyền gọi các chuyên gia Việt Nam là “một dúm những giám đốc điều hành người Việt cũ xì” làm y “phát ngấy”. Y thật đáng thương hại. Các diễn giả luôn phát biểu những nội dung phù hợp với khán-thính giả phù hợp. Nếu hắn tham dự một hội thảo có đóng tiền để rồi “phát ngấy” thì đơn giản có nghĩa là hoặc y đã chọn sai chủ đề để tham dự, hoặc ông chủ của hắn cho rằng hắn vẫn chưa đạt yêu cầu cơ bản nên bỏ tiền ra cho hắn đi đào tạo thêm về điều cơ bản chăng. Y cũng đáng thương hại ở chỗ hắn đã chưa từng có bất cứ cơ hội nào dự bất kỳ buổi thuyết trình nào của tôi. Những cái tên mà y gợi ra như Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, và Hillary Clinton tôi đều sem như đám vất đi. Bill Gates là ai nhỉ? Chắc y muốn nói đến người đã không học xong đại học rồi giỡ chiêu trò nhơ bẩn độc chiếm thiên hạ bằng cách triệt đường sống của các bậc kỳ tài công nghệ thông tin ở Châu Âu? Và còn Hillary Clinton là ai vậy cà? Y muốn nói đến cái mụ già đã tự hào chụp hình chung với “hoàng tử” cao to đẹp trai đầy tự hào của Muammar Gaddafi tại Tòa Bạch Ốc (tức…”Nhà Trắng”), để rồi hai năm sau tự hào dội bom thủ đô Tripoli giết Muammar Gaddafi? Y có thể mua những quyển viết bởi họ hoặc viết về họ (tức là hồi ký tức do chính đương sự viết về chính mình hoặc tiểu sử tức do các nhà nghiên cứu khác viết về một nhân vật nổi tiếng) để biết về cuộc đời và ý tưởng của họ – nếu những kẻ ấy có “ý tưởng” mới nào dành cho xứ sở của họ. Tôi cho rằng những cái tên do y kể ra chẳng đáng một xu teeng. Tôi muốn y nhớ đến thông tin này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam chỉ là một giáo viên Việt Sử nhưng đã làm nhục tất cả các tướng lĩnh quý tộc của Pháp và các tướng lĩnh vinh diệu xuất thân từ các học viện quân sự như West Point của Hoa Kỳ bằng cách cực kỳ đơn giản: chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh quét hất Pháp vĩnh viễn khỏi Đông Dương rồi sau đó dí đuổi quân đội Mỹ bỏ chạy ra biển khơi, vùi chôn tất cả dưới bùn sâu quánh đặc của sự nhục nhã.

Tóm lại, lời khuyên ở đây là hắn ta nên kính trọng người dân Việt Nam (cùng tất cả các cư dân địa phương của các xứ miền trên thế giới mà y đến để làm ngoài kiều) vì rằng những cư dân địa phương của các nước này có một thuận lợi lớn hơn  rất nhiều so với ngoại kiều như y vì họ biết rất rõ (a) xứ sở của họ, người dân của họ, văn hóa của họ, cùng mấy thứ linh tinh của họ; và (b) mọi thứ về y, người dân của y, văn hóa của y, cùng mấy thứ linh tinh của y; vậy mà y chỉ biết mỗi có những gì của y mà thôi. Đây cũng là lý do có thành ngữ “nhập gia tùy tục” như một kim chỉ nam phù hợp cho các thương nhân tay mơ. Y sẽ có cơ may tốt hơn để tồn tại ở Việt Nam nếu bỏ thời gian làm sao cho y tăng thêm tính cạnh tranh bằng cách học hỏi các kiểu cách Việt thay vì càu nhàu xằng bậy về cái “cũ mèm” hoang đường và cái “mới” vô nghĩa.

Trân trọng kính chào Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoa Hậu Nói Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-9-2016

hhp-8-2016

Ảnh: Hoàng Hữu Phước, 08-2016

Giữa lúc cuộc diện thế giới và nước nhà có lắm điều cần bàn đến thế mà lại nói về cách mà cái cô hoa hậu người Việt gì đó họ Vũ – dưới đây gọi tắt là Vũ Hậu – đọc tiếng Anh thì rõ là vớ vẩn, không phù hợp chút nào. Song, biết làm thế nào được khi có đến những 3 vấn nạn trầm kha của (a) những người khóc mướn, (b) những người chả biết ất giáp gì về tiếng Anh nhưng sính nói nhặng lên về tiếng Anh dù cho có mặt đầy ngạo nghễ trong hàng ngũ các nhà hoạch định chính sách giáo dục đào tạo tiếng Anh hoặc trong hàng ngũ tay mơ, và (c) những người mặt dày mày dạn bô bô cái mồm tửng tửng làm nhục quốc thể, khiến dù Vương Tử Trực đã phán “Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi” thì tôi cũng vì đại nghĩa trừ dịch bịnh mà ra sức lấy chổi chà ra đập ruồi đuổi nhặng vậy.

Những kẻ khóc mướn đã hoàn toàn sai khi nói rằng (a) có nhiều người Việt nói tiếng Anh như Vũ Hậu ấy và rằng (b) chính MC chương trình người Philippines cũng bảo vì cô giám khảo Vũ Hậu vốn dĩ là dân nước Việt Nam mà nước ấy không nói tiếng Anh nên Vũ Hậu đương nhiên không đọc được tiếng Anh.

Xin thưa rằng cái việc bình thường của một người may mắn không có khiếm khuyết bẩm sinh đối với một ngôn ngữ bao gồm 8 nội dung: nghe, nghe-hiểu, nói, nói-hiểu, đọc, đọc-hiểu, viết, và viết-hiểu. “Nghe” khác với “nghe-hiểu” vì “nghe” như vịt nghe sấm rất khác với nghe mà hiểu được nội dung vừa nghe. Tương tự, một người thí dụ người Việt có thể cầm một tài liệu vật lý vũ trụ bằng tiếng Việt để đọc ra thành tiếng nhưng không hiểu gì cả.

Và cũng xin thưa rằng cái mà người Việt Nam hay lầm to cả trăm năm nay là khi cho rằng việc học tiếng Anh gồm 4 nội dung – xếp theo quy trình theo thứ tự trước-sau của một đứa bé hay người bắt đầu “học” – nghe, nói, đọcviết. Thực ra, đã học thì phải hiểu. Và do đó, dù tiếng Anh ghi cái quy trình ấy là listening, speaking, readingwriting, thì tiếng Việt tương đương lẽ ra phải là nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu. Điều khẳng định ở đây là một người chỉ khi học tiếng Anh đến trình độ làm chủ tiếng Anh (mastering English) thì mới nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu tiếng Anh. Còn nếu có “học” mà không “làm chủ” được thì người đó chỉ có thể nghe, nói, đọc, và viết tiếng Anh – có thể nói lưu loát (nhờ “học” thuộc lòng các mẫu câu), phát âm tốt (theo rèn luyện tại lớp), nghe tốt (nhờ đã nghe trước bản ghi âm), đọc tốt (theo rèn luyện phát âm và đọc câu hay đoạn văn tại lớp) và viết được (nhờ học thuộc lòng câu mẫu hay đoạn văn mẫu), nghĩa là cái gì cũng được trừ sự hiểu biết toàn phần hoặc một phần.

Trong khi việc nói tiếng mẹ đẻ bất kỳ của một đứa bé bất kỳ của một đất nước bất kỳ đúng là theo trình tự của nghe – nói – đọc – viết, nghĩa là sau một thời gian ngắn nghe những âm thanh lời nói của cha mẹ và/hay người thân, đứa bé sẽ phát âm lập lại những âm thanh đã nghe, và lớp học tiểu học giúp tạo nên hai khả năng còn lại là đọc và viết; thì việc học một ngoại ngữ – ở đây xin nói cụ thể về tiếng Anh – lại hoàn toàn khác: hoàn toàn không theo quy trình trước-sau như cách đứa hài nhi đối với tiếng mẹ đẻ của bé, mà là một gói học đồng thời cùng lúc của nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu. Đây là một sự thật dễ y như “quả trứng của Christopher Columbus” nhưng sự thật là chưa hề có bất kỳ người Việt Nam nào trong hàng trăm năm nay nói đến.

Ngoài ra, việc có quá nhiều sự lập đi lập lại tại Việt Nam rằng người ta nên học tiếng Anh từ khi còn là trẻ nhỏ thì (a) tôi đã chứng minh là xằng bậy trong tất cả các bài viết về “học tiếng Anh” dù trên báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, và Sài Gòn Tiếp Thị cách nay 20 năm hay trên các blog hơn chục năm qua; (b) chưa hề có bất kỳ nghiên cứu nào cho ra số liệu về những trẻ nhỏ Việt Nam cụ thể nào học tiếng Anh thì sau 20 năm đã trở thành nhà hùng biện tiếng Anh; và (c) có sự tồn tại cách học tập “bất thường” dành cho những người lớn “phi thường” tại tất cả các cơ quan tình báo lừng danh thế giới để nắm bắt một ngoại ngữ tuyệt hảo trong một thời gian tuyệt ngắn.

Từ tất cả những lập luận trên, có thể tin rằng nếu Vũ Hậu có thực sự học cấp trung học thì chắc chắn 100% ả ta có thể đọc được tiếng Anh một đoạn văn từ một bản in giấy cầm trên tay, ngay cả khi ả chẳng hiểu nội dung đoạn văn viết in sẵn đó, trong khi chưa chắc ả nghe được tiếng Anh, chưa chắc ả nói được tiếng Anh, và tất nhiên chưa chắc ả viết được tiếng Anh. Bởi cái sự dạy và học tiếng Anh ở tuyệt đại đa số các trường trung học ở Việt Nam như bấy lâu nay sẽ cho ra lò những học sinh đa số có khả năng đọc được các bài văn một cách dễ dàng, vấn đề là đọc với phát âm và ngữ điệu có tốt nhiều, tốt, hay hơi tốt mà thôi.

Ở đây, cái quái gở là Vũ Hậu đã không như một người đã từng học tiếng Anh ở trung học, nghĩa là đương nhiên phải đọc được một câu tiếng Anh in sẵn, bất kể có hiểu câu đó nghĩa gì hay không. Vũ Hậu đã thốt nên những âm thanh gì đó chẳng dính dáng đến tiếng Anh hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác trừ trong kịch bản hài. Vũ Hậu đỗ thừa cho chất lượng micro, rồi sau đó lại tuyên bố rằng khả năng nói tiếng Anh của ả không tệ nhưng thiên hạ không nghe được chẳng qua là do ả phát âm với chất giọng đặc trưng của người Việt Nam. Đây không những là một sự xúc phạm nặng nề người Việt mà còn là tư cách thấp lè tè của Vũ Hậu, vì rằng chính người Việt mới là người có ưu thế trời sinh để phát âm hay nhất bất kỳ ngoại ngữ nào, thậm chí phát âm tiếng Anh hay nhất Á Châu kể cả hơn hẳn người Ấn vốn có tiếng Anh là một trong những quốc ngữ của họ và họ viết tiếng Anh tuyệt hảo hơn cả người Anh.

Tôi chỉ có thể khẳng định Vũ Hậu đã hoặc chưa  từng học trung học hoặc chưa từng học bất kỳ một giờ nảo của bộ môn tiếng Anh trong suốt 7 năm trung học của ả. Hãy hỏi các giáo viên Anh Văn của tất cả các trường trung học ở Việt Nam để biết một sự thật rằng trong khi nghe-nói-viết có thể vẫn là một vấn nạn thì đọc luôn là điều mặc định sẽ đạt được ở tất cả các học sinh có bước chân vào lớp học tiếng Anh mà lớp ấy có người hưởng lương “giáo viên tiếng Anh” đang đứng lớp giảng dạy. Chưa kể, “đọc” ở đây là “reading” tức mới chỉ nói về cái khả năng máy móc của cái mồm bật lên âm thanh khi đôi mắt nhìn thấy các chữ, chứ không là “reading compehension” tức “đọchiểu” vốn thuộc đẳng cấp cao hơn, quan trọng hơn, chủ lực hơn, chủ động hơn, trí tuệ hơn, trong việc học tiếng Anh.

Cuối cùng, cái anh MC người Philippines sở dĩ nói thế là để cứu nguy cho ban tổ chức đã ngu muội mời Vũ Hậu, chứ không phải để khẩn thiết cầu mong khán giả thông cảm cho Vũ Hậu. Song, anh MC của thế giới giải trí do ít học đã không đủ trí tuệ để nhận ra rằng anh ta đang chửi cha dân Việt khi bảo ở Việt Nam tiếng Anh đâu là quốc ngữ nên người Việt không nói được tiếng Anh. Từ giọng điệu của tên MC mất dạy người Philippines đó mà suy ra thì người Việt cũng không nói được tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Bồ, tiếng Phạn, tiếng La Tinh, tiếng Tàu, v.v., vì mấy thứ tiếng này không phải quốc ngữ của Việt Nam. Cũng từ đó suy ra người Việt không thể biết 2+2=4 vì chẳng có định đề toán học nào được đẻ ra ở Việt Nam; hoặc mấy ông cộng sản Việt Nam không thể giỏi lý luận chính trị Mác-Lê Nin vì nước Việt đâu có đẻ ra chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít; hoặc đừng thèm nghe mấy giáo sư Triết Tây ở Việt Nam nói chuyện về Sigmund Freud vì Việt Nam không là xứ sở đẻ ra ngành phân tâm học hay tâm bệnh lý học; hoặc quân Việt không biết bắn súng, lái tiêm kích siêu thanh, hay lái tàu ngầm vì mấy món vũ khí này do nước khác chế tạo ra; vân vân và vân vân.

Tôi khẳng định:

– Ai bảo có nhiều người Việt đọc tiếng Anh giống Vũ Hậu thì chính kẻ đó chưa từng học tiếng Anh hay tiếng Pháp, kể cả tiếng Việt.

– Vũ Hậu đã chưa từng học tiếng Anh nên việc dễ dàng nhất là đọc “read” một câu hỏi tiếng Anh in sẵn sao cho người ta nghe ra ngô ra khoai cũng bất khả thi.

– Người Việt Nam (nếu đã học tiếng Anh đạt yêu cầu bình thường tại Việt Nam) phát âm tiếng Anh hay nhất toàn Châu Á chứ không chỉ ở Đông Nam Á, thậm chí dứt xa dân các nước Đông Âu ngay cả khi các dân Á Châu hay Đông Âu này đã học tiếng Anh đạt yêu cầu tại nước họ hay ngay tại nước Mỹ.

Xin hãy hỏi các giáo viên tiếng Anh bậc trung học ở Việt Nam về sự thật trên để đừng khóc mướn khóc thuê cho kẻ tội đồ mặt dày làm nhục quốc thể và sĩ nhục quốc thể.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết có liên quan:

WordPress.com:

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Tips for Learners of English (có đăng trên Aspiration Blog của uk.360, và trên LinkedIn.com)

Emotino.com (Đã đóng cửa. Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Phường Có Đúng Là Ward?

Kinh Nghiệm Về Việc Học Ngoại Ngữ

Chia Sẻ Kinh Nghiệm Về “Học Giỏi” Tiếng Anh.

Kịch Của Hoàng Hữu Phước: Thorns of Life.

Báo Người Lao Động (Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Anh Văn Bằng A, B, C Hay Cử Nhân?

Báo Tuổi Trẻ (Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Có Nên Cho Trẻ Em Học Tiếng Anh?

Thế Nào Là Hèn Hạ

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-9-2016

Dường như tất cả những người có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản (không phải “chống cộng” nói chung hoặc chống một nước nào đó đang theo “chủ nghĩa” ấy vì nếu chống cái nước ấy sẽ biến mình thành thứ phản tự do, phản nhân quyền, phản văn minh, vô văn hóa) vốn toàn là những nhà trí thức đáng kính, những nhà tư tưởng, những người có học thức thực thụ, và những người có tư cách trưởng thượng, đều chưa có ai từng tham gia viết blog bôi nhọ một nước cộng sản cụ thể nào đó, đơn giản vì họ thuộc đẳng cấp cao của trí tuệ khi hành trạng tư duy của họ nhận biết rõ giá trị cao vời của chủ nghĩa cộng sản khiến họ biết rằng nhất thiết phải có một trí tuệ cao vời tương tự hoặc cao hơn để từ đó suy tư triết học về cuộc diện ý thức hệ vốn đòi hỏi biết bao thứ gọi là “chủ nghĩa” từ chính trị đến hội họa và sáng tác thơ ca, để hình thành những diễn giải các bất hợp lý nào đó trong triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà họ đã tư duy đến, những cao kiến để đề xuất nhằm hoàn thiện chủ nghĩa cộng sản, hoặc những dự toán về tương lai kinh tế thế giới, hoặc đúc rút ra những điều tốt đẹp nào của chủ nghĩa cộng sản để có thể áp dụng mà không nhất thiết phải có cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, hoặc đề ra những biện pháp khắc chế đối với  các công kích mang tính tiên đoán nhưng quá đúng của chủ nghĩa cộng sản. Chính nhờ bản chất trí hóa đó của những bậc trí thức “chống chủ nghĩa cộng sản” mà một số nước chẳng hạn tại Bắc Âu đã tự hào thực hiện được những điều kỳ vĩ về phúc lợi thật lý tưởng cho dân họ theo những lý tưởng khai sinh bởi Karl Marx năm xưa, hoặc những siêu cường tư bản cũng biết hạn chế những bất công xã hội mà Karl Marx cảnh báo có thể trở thành mầm mống làm sụp đổ chế độ tư bản. Họ đã chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách ra sức rút tỉa các bài học hoặc cảnh báo hoặc lời khuyên hoặc lý luận của chính chủ nghĩa cộng sản để làm cho phúc lợi xã hội gia tăng, người lao động được hưởng mức độ thù lao cao hơn, mà tất cả nhằm thay da đổi thịt chủ nghĩa tư bản để chủ nghĩa tư bản hấp dẫn hơn và có cơ may trường tồn với lịch sử nhân loại. Đó là cung cách chống chủ nghĩa cộng sản của bậc trưởng thượng trong chứng minh rằng (a) nếu đó là những điều tốt đẹp lý tưởng cần có cho xã hội thì chính họ sẽ là người thực hiện được và thực hiện trước; và (b) qua đó họ đã chống chủ nghĩa cộng sản một cách thắng lợi mà không cần phải bỏ ra nhiều năm để đẻ ra một chủ nghĩa mới chỉ để chống lại chủ nghĩa cộng sản trên bình diện triết học mà chưa chắc thành công, có khi mất thời gian tính để kịp cứu nguy cho một sự sụp đổ mà chủ nghĩa cộng sản đã cảnh báo.

Chắc cũng vì cái sự “dường như” nêu trên vậy mà có ba dấu hiệu cực kỳ giống nhau đáng kinh ngạc nơi những kẻ “chống cộng” chung chung hoặc chống một nước cộng sản như Việt Nam hoặc chống một nước có quá khứ lẫy lừng cộng sản chủ nghĩa như Nga, bất kể họ thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và đang mang quốc tịch bất kỳ, qua những gì họ viết blog hoặc viết comments bằng bất kỳ ngôn ngữ gì, đó là (a) không phải họ chống triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chống bất kỳ ai đã dựa vào cái chủ nghĩa ấy để làm nhục họ khi đánh bại họ triệt để hoàn toàn, (b) không bao giờ đưa ra được bất kỳ điều gì mang tính sự thật hữu bằng hữu chứng có thể kiểm chứng được khi chống lại cái kẻ “dựa hơi” chủ nghĩa cộng sản đó, và (c) không bao giờ biết thế nào là lòng tự trọng.

Từ những bức ảnh tịch thu được trên xác quân thù tại những phần lãnh thổ Liên Xô bao la rộng lớn mà quân Đức Quốc Xã đã tiến chiếm được trong Đệ Nhị Thế Chiến, Liên Xô tìm thấy những bức ảnh được ghi chụp ngày 30-6-1941 bởi trung đoàn Đức Quốc Xã Tyrolean Gebirgsjäger-Regiment Sư Đoàn Gebirgskorps cảnh xử tử tại chỗ hai tù binh Liên Xô mà không qua xét xử tại một chốn núi cao nào đó. Ngày chụp ghi sau bức ảnh cho thấy vụ xử tử hai tù binh Liên Xô ấy xảy ra chỉ hai tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. Dựa theo hình ảnh đen trắng mờ nhòe đó, Nga đã tiến hành rà soát kiếm tìm, và đã tìm ra di hài của hai chiến sĩ ấy tại một đài nguyên thuộc vòng cung Cực Bắc giáp biên giới Na-Uy năm 2013, để đưa về an táng sau hơn 70 năm phơi mình trong giá rét. Dựa theo di vật quân dụng và mẫu giấy tờ mục nát còn lưu trong một thi hài nằm bên trái, người ta mới biết được đó là của anh lính hiên ngang tên Sergey Korolkov, sinh năm 1912 tại làng Hmelishche, nông trang Serezhinsky, Khu Velikoluksky, Vùng Kirov, gia nhập quân đội Liên Xô ngày 22-6-1941 và hy sinh một tuần sau đó khi quân Đức vượt biên giới Na-Uy tấn công Liên Xô (Đức bắt đầu xâm lược Na-Uy ngày 09-4-1941 và hai tháng sau Na-Uy quỳ đầu quỳ gối đầu hàng ngày 10-6-1940 khi Quốc Vương và hoàng gia Na-Uy chạy trốn bình an sang Anh Quốc). Di hài bên cạnh anh không còn lưu một chứng tích nào nên được đưa về an táng như một chiến sĩ trẻ vô danh đã hy sinh khi bảo vệ biên cương.

Trong bức ảnh dưới đây người chiến sĩ trẻ vô danh nói trên đang bị quân Đức áp giải lên để đứng cạnh bên Sergey Korolkov:

2-6

Sergey Korolkov chống nạnh hiên ngang, trong khi hai sĩ quan Đức chỉ vào mặt anh ắt đang quát tháo, còn các binh sĩ Đức vây quanh có một tên đang trong tư thế nện báng súng vào gáy anh như để làm anh phải quỳ xuống trước viên chỉ huy:

2

Các sĩ quan Đức Quốc Xã ra lịnh xử tử hai chiến sĩ Liên Xô này nên lính Đức lùi lại sẵn sàng cuộc xả súng, trong khi đó Sergey Korolkov vẫn chống nạnh hiên ngang còn người lính trẻ cạnh anh tuy không hào hùng ngang tàng bằng anh vẫn đứng thẳng lưng chứ không sụm xuống vì run sợ trước họng súng kẻ thù trước giây phút lâm chung:

2-2

Vụ xử tử đã được thực thi, hai chiến sĩ Liên Xô đứng cách nhau một mét nhưng khi ngả xuống đã như úp mặt vào nhau để bắt đầu sự tồn tại gần một thế kỷ gắn bó tri kỷ của những vị anh hùng đơn độc trên đỉnh núi cao giá buốt hoang vu:

2-3

Dựa vào hình ảnh của núi, đá, cảnh quang, trong những bức ảnh tịch thu được, Nga đã ra sức “càn quét” suốt 72 năm và cuối cùng đã tìm ra chính xác địa điểm này:

2-4

Sự tìm ra nơi chốn cuộc hành hình càng được củng cố khi nơi đó còn có hai hài cốt  cùng những di vật hư hại còn sót lại trong quân phục của di hài bên trái để biết đó là Sergey Korolkov, người chiến sĩ đã đứng ngang tàng chống nạnh trước quân thù, trong khi chiến sĩ trẻ cạnh bên thì tiếc thay thời tiết và thời gian đã làm tất cả di vật hóa bụi trần gian.

2-52-1

Thế nhưng, khi trên trang web của Anh Quốc ghi nhận về sự dũng cảm của sự việc về hai người lính Xô Viết ấy, thì có kẻ nào đó viết comment dưới dạng nặc  danh rằng “Sự giả định rằng hai người lính Xô Viết bị vô cớ bắn chết thật là rác rưởi. Quân Nga gây ra tội ác tày trời chống mọi người ở Châu Âu nên thật đáng ngạc nhiên tại sao không có thật nhiều hơn mấy vụ bắn bỏ như vậy. Tôi thấy chẳng có hình chụp nào về tội ác của Nga và phe của nó, 98% hình ảnh của Nga là do ngụy tạo để thành cái mà chúng muốn, và kẻ ngu khờ dường như bị dính bẩy hết.

Sự hèn hạ của kẻ nặc danh ở chỗ hắn ta hay ả ta (a) làm như Liên Xô không hề bị Đức tấn công nên không có chuyện đã có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô mà chỉ có chuyện Liên Xô điên cuồng xua quân tràn ngập Châu Âu gây chiến với toàn Châu Âu trong đó có nước Đức hiền hòa, (b) làm như Liên Xô đang diễn tuồng cho người giả đóng vai lính Đức chứ chẳng lính Đức nào xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, (c) làm ngơ trước sự thật là lẽ nào Mỹ và Châu Âu thất bại đến độ không có được hay không dàn dựng lên được bức ảnh chụp nào về tội ác của Nga trong trực tiếp xử tử tại chỗ các tù binh chiến tranh Đức hay ai đó, và (d) đốn mạt đến độ chấp nhận bản thân mình mọi rợ khi cho rằng lẽ ra đã nên có thật nhiều vụ hành quyết như thế với tù binh chiến tranh Nga.

Tuy có vị tên Roelf Turksema (dường như là người Thụy Sĩ gốc Na-Uy) đã phản bác rằng “Sao lại là nặc danh hử? Mi đã không dám lương thiện với tên đầy đủ để bày tỏ luận điệu của mi ư? Người Nga đã luôn đối xử tốt với tao, luôn lương thiện, và luôn chăm sóc tao tốt đấy”;

Tôi vẫn buộc lòng comment thêm cho có đủ sức mạnh của ngôn từ, cái mà thiên hạ trong toàn thế giới nói tiếng Anh hoặc trên thế giới sính dùng tiếng Anh rất kém trong đối đáp hùng biện khi phản pháo, rằng “Anh Quốc, Pháp và tất cả các quốc gia Tây Âu đã quỳ đầu quỳ gối một cách đầy nhục nhã trước Đức Quốc Xã như thực tế lịch sử đã chứng minh. Ngay cả những quốc gia như Thụy Sĩ đã hèn hạ trở thành thiên đường cất giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Để đậy che sự muối mặt đớn hèn ấy, họ đã cố kiếm tìm và khai thác mọi thứ nào chúng cho rằng có thể giúp làm hạ phẩm giá của đất nước lúc ấy gọi là Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến”.

2-7

Hèn hạ ẩn danh để hèn hạ dùng những lời hèn hạ nói về một sự hèn hạ tưởng tượng nhằm hèn hạ hóa một đất nước của một dân tộc đã không bao giờ hèn hạ trước những tên Quốc Xã và Phát Xít hèn hạ thì quả là việc hèn hạ của chỉ bọn hèn hạ “chống Nga” mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Note: Source of all photos: from Internet (www.militaryphotos.net)

Các bài viết cùng mẫu câu tiêu đề “Thế Nào Là”:

Thế Nào Là Doanh Nhân

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ

 

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-9-2016

french1

A) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bài này của mụ Marie Cordiez xuất hiện ngày 12-9-2016 trên http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam và được gởi đến tôi bởi một nhà báo Pháp do bực tức trước luận điểm càn quấy của Marie Cordiez)

french2

EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam

Il y déjà presque un an, nous vous vantions 10 bonnes raisons de s’expatrier au Vietnam. Nous manquerions à notre devoir d’objectivité si nous ne faisions pas également état des quelques désagréments qui ne manqueront pas aux expats sur le départ. Ils sont en effet nombreux, aux mois de juillet et août, à rentrer au pays ou être appelés sous d’autres latitudes.

  1. La pollution

D’après un rapport d’experts dont nous vous parlions ici, nous respirons l’un des plus mauvais airs de la planète. Ici, le masque n’est pas un luxe ou un effet de mode, c’est une nécessité. La pollution est palpable à la crasse qui s’accumule sous nos ongles et qui s’écoule dans la douche en fin de journée.

  1. L’humidité

Qui dit pays tropical, dit humidité ambiante permanente. Nos accessoires en cuir n’apprécient pas vraiment. En moins de deux, ils se couvrent d’une fine couche de moisissure verte. Le linge a du mal à sécher, surtout en saison des pluies. Et à la sortie de la douche, le répit est de courte durée avant que nos vêtements ne soient à nouveau trempés.

  1. Les conditions sanitaires

La qualité de l’eau courante est tellement déplorable que certains médecins déconseillent même de l’utiliser pour se laver les dents ou laver ses légumes. Pas étonnant qu’on retrouve des choses pas très nettes dans les glaçons! Il faut dire qu’il y a encore du boulot de sensibilisation à faire pour inciter les Vietnamiens à ne pas considérer la rue et la rivière comme des dépotoirs à ciel ouvert.

  1. Les soucis de santé

Les points précédents ont un impact direct sur la santé : nombreuses infections aggravées, problèmes de toux et d’asthme, cicatrisation difficile… Auxquels il faut ajouter des maladies endémiques dues notamment aux moustiques, comme la dengue, dont on ne peut se prémunir. Mieux vaut prévoir une bonne assurance pour pouvoir faire face aux frais médicaux que cela engendre.

  1. Le bruit

Quand il ne s’agit pas des travaux incessants (oui, ici les ouvriers travaillent jour et nuit), du trafic (la symphonie des coups de klaxons intempestifs), du karaoké d’à côté (les Vietnamiens semblent être sourds de naissance tant ils aiment pousser le volume à fond), c’est l’air conditionné ou le ventilateur qui vous empêchera de dormir.

  1. Le manque des “produits de chez nous”

Qui n’a pas rêvé d’une bonne fondue savoyarde ou d’une raclette, de chocolats dignes de ce nom, voire d’un foie gras coupable ? D’une cuite au champagne, de bonnes bières belges (on ne se refait pas…), de tomates goûtues et surtout d’une vraie baguette ? Certains de ces produits peuvent se trouver ici à prix d’or, mais rien ne vaut le plaisir de faire les courses une fois de retour au bercail !

  1. Les frais de scolarité

Pour ceux qui, comme moi, viennent d’un pays où l’éducation est gratuite, les frais de scolarités sont un vrai coup de massue. Quand on arrive, on rêve parfois d’inscrire ses enfants en anglais, mais ceux dont l’employeur ne prend pas ces frais en charge se ravisent généralement bien vite (jusqu’à 30.000 $ par an pour un enfant… mieux vaut ne pas être une famille nombreuse !) et restent en français.

  1. Les machines à laver à eau froide

Ça. Ne. Lave. Absolument. Rien. Le linge blanc sera vite jaunâtre, oubliez l’idée de faire partir les auréoles et encore moins les taches difficiles. Vous pouvez utiliser tous les trucs de grand-mères et les produits que vous voulez, votre linge sortira de plus en plus sale de cette fichue machine. Evidemment, la qualité de l’eau n’y est pas pour rien. Un conseil : faites bouillir régulièrement votre linge de maison au pressing si vous voulez éviter les odeurs.

Au final, vous le voyez, il reste quand-même plus de raisons d’y venir que de le quitter!

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12 Septembre 2016

B) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bản ý nghĩa tiếng Việt này có thể chưa được hoàn chỉnh do Pháp Văn cùng Nga Văn là các sinh ngữ phụ của người dịch. Xin vui lòng xem như chỉ có các ý chính được tập trung nêu rõ. Xin đa tạ. Hoàng Hữu Phước)

Ra Đi Biền Biệt – 8 Lý Do Để Bỏ Việt Nam Không Chút Hối Tiếc

Đã gần một năm kể từ khi chúng tôi đăng bài 10 Lý Do Để Đến Việt Nam. Chúng tôi sẽ không đạt yêu cầu khách quan nếu không nêu ra vài thứ phức phiền khiến người nước ngoài ở Việt Nam phải ra đi. Thật ra trong hai tháng 7 và 8 đã có nhiều người như vậy: bỏ về nhà hoặc đến các nước khác.

  1. Sự Ô Nhiễm

Theo một báo cáo của chuyên gia thì chúng ta hít thở không khí của một trong những nơi tồi tệ nhất thế giới. Tại xứ sở này thì khẩu trang không là thứ xa xỉ hay  kiểu thời trang dị hợm, mà là sự cần thiết. Sự ô nhiểm đến độ sờ thấy bụi bẩn mồn một bám đầy dưới các móng tay rồi từ đó trôi tuột theo dòng nước khi tắm rửa cuối ngày.

  1. Ẩm Độ

Ai bảo những xứ nhiệt đới tức nói về sự ẩm ướt triền miên. Đồ dùng bằng da của chúng ta thật không chịu nổi và bị phủ lớp mốc meo xanh rì. Vừa tắm xong là sự ngơi nghỉ biến mất vì áo quần lại ướt đẫm mồ hôi.

  1. Điều Kiện Sức Khỏe

Chất lượng nước máy thì cực kỳ tồi tệ đến độ có bác sĩ khuyên đừng dùng nó để đánh răng hay rửa rau. Chả trách có mấy vật mờ mờ trong mấy cục nước đá. Cần phải nói rằng vẫn có công tác khuyến nghị người Việt Nam đừng xem đường sá và sông ngòi là nơi tự do đổ rác.

  1. Các Quan Ngại Y Tế

Những điều trên cho thấy có tác động trực tiếp đến sức khỏe: nhiều vụ lây nhiễm tồi tệ, ho và hen suyển, chưa kể những dịch bệnh đặc biệt do muỗi gây ra như sốt xuất huyết mà ta không thể tự bảo vệ được. Phải có bảo hiểm tốt mới đương đầu được đối với chi phí y tế từ các hậu quả đó.

  1. Tiếng Ồn

Nếu không vì vấn đề làm việc ngày đêm (ở nước này là vậy đấy) thì tiếng còi xe , tiếng hát karaoke của hàng xóm (người Việt Nam dường như sinh ra đã bị điếc rồi do họ thích mở hết volume), tiếng máy lạnh và tiếng quạt máy đủ làm bạn khỏi ngủ.

  1. Thiếu Hàng Của Chúng Ta

Ai mà lại không mơ đến các món phó mát Savoie, sô-cô-la danh tiếng, và món gan ngỗng cơ chứ! Làm gì mà sánh được với thú vui mua sắm khi trở lại quê mình!

  1. Học Phí

Đối với những người như tôi chẳng hạn, đến từ xứ sở mà việc học hành được miễn phí thì học phí tại Việt Nam như một cú búa giáng xuống vậy. Khi bạn đến đây, bạn mơ đến việc cho con cái đi học tại trường tiếng Anh, song những người không được công ty đài thọ việc này thì phí tổn hàng năm lên đến 30.000 USD cho mỗi đứa trẻ. Tốt hơn là gia đình ít người thôi, và cứ xài tiếng Pháp.

  1. Máy Giặt Nước Lạnh

Màu trắng sẽ nhanh chóng biến thành ố vàng, nói chi đến các vết bẩn. Bạn có thể xài đồ của bà nội bà ngoại, vì đồ đạc giặt xong sẽ bẩn hơn với thứ máy giặt quỷ tha ma bắt này. Rõ ràng là chất lượng nước có vấn đề. Mẹo ở đây là hãy thường xuyên đun sôi quần áo của bạn nếu bạn muốn tránh mùi hôi.

Và cuối cùng thì chừng nào mới có việc có thêm lý do để bạn đến đây thay vì bỏ đi cơ chứ.

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12-9-2016

C) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

(Bài này được đăng ngay trên LinkedIn.com. Do yêu cầu của lepetitjournal.com đòi phải vào Facebook mới đăng trực tiếp vào phần commentaries của bài viết của Marie Cordiez trong khi tôi không sử dụng Facebook, tôi cũng đã gởi bài đến một nhà báo Pháp – theo yêu cầu của chính nhà báo này – để ông phổ biến khắp nơi)

french3

EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good

Hoang Huu Phuoc, MIB

In her aricle in French entitled EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam posted on 12 September 2016 at  http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez becomes a non-compos mentis when saying nonsense agaisnt Vietnam. To teach her and people like her about the fact that limitations are always the must-have parameters of the civilized world and that absolute freedom never exists even among barbarous societies and cavemen, I hereby wish to respond to her with my article entitled EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good to simply tell her a proverb of the Oriental Wisdom of “when you take a mouthful of blood to spit on to the face of other people, you are sure to first make your own mouth besmirched”, a lesson which I regretfully believe she has not been educated to know from the first day she was thrown by God on to the lap of her mother.

1- National Shame on French Language

Though France dominated Vietnam for a century, it failed to make French language dominating the tongue of the Vietnamese people – hence forcing the French colonialists’ offspring like Marie Cordiez to waste huge money to invest to studying English in order to survive the struggling for jobs in Vietnam in this millennium.

2- National Shame on Health Concerns

Though France dominated Vietnam for a century, it seemed the Vietnamese people could not learn anything from the French conquerors on best practices on health concerns, probably possibly due to the fact that the French colonialists – i.e. the ancestors of Marie Cordiez – did leave only traces and proofs of their total satisfaction of daily inhaling and enjoying the unhygienic situations and accommodations available for a hundred years!

3- National Shame on Pollution

Similarly, it seemed the one-hundred-year colonization of France did instil in the mind of the Vietnamese people to consider the sick morbid way of living in dirtiness of the French colonialists worthy of imitating, without knowing that in the new millennium the offspring of such colonialists like Marie Cordiez glue the word “pollution” to the face of the offspring of the ones who overthrew not only the French colonialism but also the French Empire.

4- National Shame on Security

Though France dominated Vietnam for a century, it is so well-proven nowadays that Vietnam is so much secured than France on the issues like human rights, dignity, and terrorism that Marie Cordiez’s French patriots can hardly enjoy peacefulness even in Paris.

5- Personal Shame on Being Ignored

It is absolutely understandably normal to take vengeance on the culprits for their heinous crimes. However, Vietnamese people never take any revenge on Marie Cordiez and the offspring of the French colonialists, making this seem that the Vietnamese people look down upon guys like Marie Cordiez as if those guys did not exist or were not worth a tinker’s damn. Such disgrace and humiliation can hardly be taken by proud people like Marie Cordiez and therefore they – including herself – are in dire need of running away from Vietnam as fast as possible.

6- Personal Shame on Personal Disqualification

During the past two three decades all the expatriates in Vietnam have been offered by their companies the schooling expenses for their children at foreign schools in Vietnam. People like Marie Cordiez if incapable of self-funding the school fees at foreign “English” institutions in Vietnam for their own children, it simply means they are not at senior or important positions due to their disqualification. For a cover up for such shame, they should run away from Vietnam as fast as possible.

7- Personal Shame on Being Unknowledgeable

When lamenting on the unbearable natural high moisture degree in Vietnam, Marie Cordiez and people like her are totally unknowledgeable. This raises a surprising question on how a person in this modern much competitive world decides to come to a far away place without even investing at least five minutes to google the FAQs of such place. It seems they come to Vietnam as a desperado!

8- Personal Shame on Being Named Flibbertigibbet or Blabbermouth

The civilized expatriates always behave educatedly by making recommendation to the local authorities as a responsibility of the global citizen in making contributions to make things better for the benefits of the humankind or at least the local people. Telling stories of a place then advising people to leave such place are the jobs of the non-compos mentis.

9- Personal Shame on Ancestors’ Stupidity

To help save the face of their ancestors for failing throughout a century to understand the terrible things of Vietnam then to be beaten black and blue by such terrible people, what Marie Cordiez and people like her can do is to talk nonsense against Vietnam to make it still the underdog to the highly valuable and proudly civilized country like France, then to shout aloud to warn people to leave Vietnam for good.

10- Personal Relief to All Above-Mentioned Shames

However, Marie Cordiez and people like her can leave Vietnam for good with a blessed relief because big investors the world over have been flocking to Vietnam in endless queues for business opportunities. Such overcrowded community will play the excellent role of shielding away the with-the-tail-between-the-hind-leg escapade of Marie Cordiez and people like her. Thank God for all this!

And finally, if any other terrible thing about Vietnam could be further defined by Marie Cordiez or people like her, they are hereby requested to kindly keep the undersigned informed so that the humankind may have another opportunity to read my highest quality counter-attack comments. Being a Vietnamese, though never a communist party member, I vow to the world over that nobody on earth can say or write anything against my Vietnam without facing the strongest retribution from my very self.

“Assez! Voici la punition!”

Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoang Huu Phuoc, Ho Chi Minh City, Vietnam.

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

D) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

france

Bỏ Đi Biệt Xứ – 10 Lý Do Marie Cordiez Nên Rởi Việt Nam Vĩnh Viễn Không Chút Hối Tiếc

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Trong bài viết bằng tiếng Pháp nhan đề EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam đăng ngày 12-9-2016 tại http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez đã trở thành kẻ bất khả tư nghị khi nói xằng bậy chống Việt Nam. Để dạy cô ta và những tên tương cận về sự thật rằng các giới hạn luôn là những thước đo phải có trong thế giới văn minh và rằng sự tự do tuyệt đối không bao giờ tồn tại ngay cả trong các cộng đồng man di mọi rợ kể cả người của thời kỳ sống trong hang động, tôi qua đây muốn phản pháo băng bài viết của tôi nhan đề Bỏ Đi Hẳn – 10 Lý Do Marie Cordiez Không Nên Tiếc Nuối Khi Bỏ Việt Nam Ra Đi Không Bao Giờ Quay Lại ngõ hầu đơn giản cho cô ta biết về một câu tục ngữ của trí tuệ Á Đông rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu”, một bài học mà tôi lấy làm tiếc tin rằng cô ta đã chưa từng được giáo dục để biết đến kể từ ngày đầu được Thượng Đế quẳng ném cô ta lên bắp đùi của mẹ cô ta cho đến ngày nay.

1- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Pháp Ngữ

Mặc dù đô hộ Việt Nam trong một thế kỷ, Pháp vẫn thất bại không biến Pháp Ngữ thành ngôn ngữ của người Việt – vì vậy đã khiến các hậu duệ của các tên thực dân Pháp như Marie Cordiez phải phí số tiền khổng lồ để đầu tư học tiếng Anh để có thể chen lấn kiếm được việc làm tại Việt Nam trong thiên niên kỷ này.

2- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Các Quan Tâm Về Sức Khỏe

Mặc dù Pháp đô hộ Việt Nam hàng trăm năm, có vẻ như người Việt chẳng học hỏi được gì từ các nhà chinh phục Pháp đối với các thực hành thực tế tốt về sức khỏe, ắt có thể do có sự thật là các tên thực dân Pháp – tức tổ tiên của Marie Cordiez – chỉ để lại chứng tích về việc chúng đã hoàn toàn thỏa mãn với việc hàng ngày hít thở thưởng thức những điều kiện mất vệ sinh tồn tại những hàng trăm năm (ý nói bọn thực dân Pháp quen ăn ở dơ dáy nên người dân Việt chẳng bắt chước được gì từ chúng đối với cách sống vệ sinh mà chúng tự hào là văn hóa văn minh Pháp).

3- Quốc Nhục (Của Pháp) Về Ô Nhiễm

Tương tự, dường như thời gian làm thuộc địa Pháp trong hàng trăm năm đã khắc ghi vào tâm khảm người Việt Nam để xem cách sống bịnh tật và bịnh hoạn của thực dân Pháp sống trong sự dơ dáy là thứ đáng để bắt chước mà không biết rằng qua thiên niên kỷ sau thì đám hậu duệ của bọn thực dân Pháp như Marie Cordiez lại mặt dày đem dán từ “ô nhiễm” lên trán các hậu duệ của những người lật đổ không những chế độ thực dân Pháp mà còn cả đế chế Pháp.   

4- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Vấn Đề An Ninh

Dù Pháp chiếm đóng Việt Nam trong một thế kỷ, đã có sự minh chứng hùng hồn ngày nay rằng Việt Nam an toàn hơn Pháp rất nhiều đối với các vấn đề như nhân quyền, phẩm giá, và khủng bố mà những nhà ái quốc Pháp của Marie Cordiez khó thể có được ngay tại Thủ đô Paris.

5- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Ngó Lơ

Thật bình thường một cách hoàn toàn dễ hiểu đối với việc rửa thù báo oán dành cho những kẻ đã gây ra tội ác tởm kinh. Song, người Việt lại không bao giờ trả thù  Marie Cordiez cùng hậu duệ của đám thực dân Pháp, cứ như thể người Việt khinh thường khinh khi những kẻ như Marie Cordiez cứ như thể đám này không tồn tại hoặc chẳng đáng giá một xu teeng. Những sự bị điếm nhục và hạ nhục như thế khó lòng chịu đựng được bởi những kẻ vác mặt lên trời như Marie Cordiez và do đó chúng – có cả cô ta – nhất thiết cần kíp phải chuồn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể.

6- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bất Tài Vô Dụng

Trong vài ba thập niên qua, tất cả những người nước ngoài công tác tại Việt Nam đều được công ty của họ đài thọ chi phí cho con họ được học tại các trường quốc tế ở Việt Nam. Những kẻ như Marie Cordiez nếu không thể lo được chi phí học hành cho con cái họ tại các trường dạy bằng tiếng Anh thì điều này đơn giản có nghĩa rằng họ không ở vị trí lãnh đạo hay quan trọng vì bất tài vô dụng. Để đậy che nỗi nhục này, họ nên chạy trốn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể được.

7- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Vô Trí

Khi than vản về ẩm độ cao tự nhiên không thể chịu đựng được ở Việt Nam, Marie Cordiez và những tên tương cận hoàn toàn vô trí. Việc này đặt ra một nghi vấn đầy ngạc nhiên vì sao trong thời hiện đại và lắm cạnh tranh này lại có kẻ quyết định đến một nơi xa xôi mà lại không đầu tư ít nhất là năm phút để kiếm tìm trên Google những câu hỏi thường gặp có liên quan đến nơi chốn ấy. Cứ như thể họ đã đến Việt Nam với tư thế những kẻ cùng đường mạt vận cùng đinh!

8- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Gọi Là Quân Mồm Loa Mép Dải Già Mồm Bá Láp Láo Xạo Tào Lao

Những ngoại kiều có văn minh đều luôn hành xử một cách có học thức bằng cách gởi những ý kiến đóng góp cho chính quyền nước sở tại như một trách nhiệm của người công dân toàn cầu có những cống hiến nhằm tạo nên những ích lợi tốt hơn cho nhân loại hoặc chí ít là cư dân địa phương. Đơm đặt về một nơi rồi khuyên bảo người khác bỏ nơi ấy mà đi là việc mà những chỉ những kẻ bất khả tư nghị mới làm.

9- Nỗi Nhục Bản Thân Đối Với Sự Ngu Xuẩn Của Tiền Nhân

Nhằm giữ thể diện cho tổ tiên vì đã thất bại suốt thế kỷ vẫn không nhận ra các điều kinh khủng ở Việt Nam để rồi bị những người Việt Nam kinh khủng ấy đánh cho tơi tả tơi bời, những gì mà Marie Cordiez cùng đám tương cận có thể làm là đơm đặt điều láo xạo chống Việt Nam nhằm biến Việt Nam vẫn như là nước ở chiếu dưới so với đất nước Pháp văn minh tột đỉnh giá trị tột cùng, rồi hô hào kêu gọi mọi người hãy rời bỏ Việt Nam mãi mãi.

10- Sự Thở Phào Nhẹ Nhỏm Của Bản Thân Đối Với Những Nỗi Nhục Nêu Trên

Tuy nhiên, Marie Cordiez và đám tương cận có thể bỏ Việt Nam không bao giờ quay lại với một sự thở phào nhẹ nhỏm được Thượng Đế tặng ban, vì rằng các nhà đầu tư lớn trên toàn thế giới đã và đang đổ xô về Việt Nam đứng sắp hàng dài vô tận để kiếm tìm cơ hội kinh doanh. Cái cộng đồng đông đúc khủng khiếp đó sẽ đóng vai trò tuyệt hảo trong che chắn cảnh tháo chạy lúp xúp với đuôi cụp giữa hai chân sau của Marie Cordiez và đám tương cận. Tạ ơn Thượng Đế cho ân phú này!

Cuối cùng thì nếu có điều gì khác khủng khiếp về Việt Nam có thể được nhận diện  bởi Marie Cordiez hoặc những người như cô ấy, kính xin họ hãy vui lòng báo cho người ký tên dưới đây được biết để nhân loại có thêm cơ hội đọc những ý kiến phản pháo chất lượng tuyệt hảo của người ký tên dưới đây. Là người Việt Nam, dù không bao giờ là Đảng viên Cộng Sản, tôi xin thề với toàn thế giới rằng không bất kỳ ai trên trái đất này có thể nói hay viết bất kỳ điều gì chống lại đất nước Việt Nam của tôi mà không phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của chính tôi.

“Assez! Voici la punition!”

(Thôi quá đủ! Hãy xem đây hình phạt!)

Thơ Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Các bài viết thể loại Dạy Bảo Ngoại Nhân:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Tôi Và Philipp Rösler

Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Điểm Ngời Sáng, Điểm Tăm Tối, và Điểm Chói Chang

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-9-2016

nguyen-thai-binh

Điểm Ngời Sáng Cá Nhân

Ông Nguyễn Thái Bình là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016).

Do một sự ngẫu nhiên, tôi trong thời gian vài năm liền được bố trí một phòng ở cạnh phòng của Ông tại Nhà Khách Trung Ương Đảng số 8 Chu Văn An, Hà Nội, những khi tôi ra Hà Nội dự các kỳ họp quốc hội. Tôi được biết đó là căn phòng Nhà Nước cấp cho Ông vì Ông đã từ chối ở tại một “dinh” riêng mà các quan chức đồng cấp “bộ trưởng” như Ông đều được hưởng. Hàng ngày Ông xuống ăn tại canteen của Nhà Khách. Tất nhiên, Ông có ô tô riêng và tài xế đến đón Ông đến Bộ Nội Vụ làm việc; tuy nhiên, mỗi khi đến Kỳ họp Quốc Hội có nhiều đoàn nghị sĩ từ Thành phố Hồ Chí Minh và một hai tỉnh trú ngụ cùng tại 8 Chu Văn An thì Ông chuyên xin đi nhờ chung xe lớn với các đoàn. Cần nói rõ là Nhà Khách Trưng Ương Đảng chỉ có giá trị lịch sử chứ không có giá trị tiện nghi vì không sang trọng hiện đại như các khách sạn khác vốn được bố trí cho tất cả các đoàn Đại Biểu Quốc Hội các tỉnh còn lại, và chỉ trong năm 2016 mới có một thang máy ngoài trời và là thang máy đầu tiên cho tòa nhà bốn tầng này. Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh luôn ngụ tại đấy từ kỳ họp Quốc Hội khóa đầu tiên sau ngày giải phóng.

Mỗi sáng Chủ Nhật, Ông thường sang gỏ cửa phòng tôi để cùng tôi đàm đạo chuyện quốc gia đại sự và chuyện đời, nhờ đó tôi biết thêm nhiều nét về Ông.

Ông ra Hà Nội nhậm chức nhưng vợ của Ông không tháp tùng cùng phu quân vì là một chức sắc Đảng phải công tác ở tỉnh nhà. Cũng vì vậy mà Ông từ chối nhận ở tại một “tư dinh” đòi hỏi quá nhiều người phục vụ và đội cảnh vệ theo tiêu chuẩn cao cấp của một bộ trưởng. Là người sống giản dị, thân thiện, Ông lại rất sâu sắc khi nói với tôi về những khó khăn của công tác Nội Vụ. Tôi hiểu Ông muốn ám chỉ những sự “đối phó” mà Ông rất có thể phải dùng bản lĩnh một vị tư lệnh một Bộ mà ai cũng biết rõ là quyền lực cao vời để hóa giải, vì Nội Vụ giống như cơ chế “điều binh khiển tướng” trong bố trí nhân sự lãnh đạo tại tất cả các địa phương trên toàn quốc, và do đó (a) không thể không có việc nhiều vị đương nhiệm hoặc tiền nhiệm ắt sẽ tìm đến gặp Ông để xin Ông “ban phát ân huệ” để có một chức vụ cho con cho cháu hay cho người quen, cũng như (b) Ông phải xử trí ra sao khi nguồn nhân lực để “bố trí” lại thiếu hụt về số lượng và/hoặc chất lượng cho một chức danh hay một chiếc ghế ở trung ương hay ở địa phương. Ông đã giữ được đức thanh liêm trong thời gian tại vị, không bị điều tiếng gì phương hại đến thanh danh gương mẫu của mình.

Là một chức sắc mẫn cán, ôn hòa, điềm đạm, Ông gần như thuộc nằm lòng tất cả các quy định luật pháp, các nội dung nghị định, các điều khoản thông tư, để khi trả lời chất vấn tại Quốc Hội có thể ứng khẩu để minh chứng đầy đủ cho một nội dung bất kỳ, đến độ nhiều lúc Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng phải cắt ngang, yêu cầu Ông phải nói ngay luôn vào ý chính, khiến hội trường phải cười ầm lên. Nhưng khi bị chất vấn như kẻ tội đồ đối với việc để mặc cho các Bộ có quá nhiều Thứ Trưởng, quá nhiều Vụ Trưởng, quá nhiều “hàm” Vụ Trưởng, Ông Nguyễn Thái Bình đã ứng khẩu thố lộ rằng Ông đã cải tổ Bộ Nội Vụ, gia giảm rất nhiều số lượng “các quan chức” để làm gương nhưng tấm gương đó đã không được “lan tỏa” ra các Bộ khác vì họ quyết không noi theo. Sự tiết lộ sự thật này của Ông làm cả hội trường nín lặng, hiểu Ông hơn, và những tràng vỗ tay tuy chầm chậm nhưng đầy cảm xúc ấy đã kích hoạt một phản ứng cảm thông: từ đó về sau cho đến khi chấm dứt nhiệm kỳ không một nghị sĩ nào muốn chất vấn Ông thêm nữa vì họ đã hiểu cá nhân vị bộ trưởng ấy đã có sự ngời sáng về trách nhiệm trong lẳng lặng làm gương, trong nắm thật chắc công việc quản lý nhà nước đa đoan, trong gìn giữ đức thanh liêm không để vướng các điều tiếng, và trong nếp sống cực kỳ giản dị và tiết kiệm khó thể thấy nơi một “đại quan”.

Điểm Tối Tăm Cơ Chế

Tuy nhiên, Ông Nguyễn Thái Bình là một excellent doer tức một nhà thực thi thực hành kiệt xuất trong giải quyết các yêu cầu cụ thể của công việc chứ không là một excellent thinker tức một nhà hoạch định chính sách tuyệt hảo; có thể vì ngoài sự tận tụy với công việc, sự tận trung với Đảng, sự tận hiếu với dân tộc, Ông không có thực quyền ở tầm vĩ mô, nghĩa là cơ chế chính sách đã được Đảng và Nhà Nước  đề ra như thế nào thì Ông cứ cúc cung tận tụy theo đúng các quy định ấy.

Có lần tôi giới thiệu với Ông một người trẻ tuổi có trình độ ngoại ngữ cao với hai bằng đại học đang làm việc cho một công ty tài chính nước ngoài, không phải đảng viên, nhưng có thể là một người tài giỏi lại có mong muốn được trở thành một công chức để phục vụ địa phương – mà cụ thể là ngành Ngoại Vụ – hoặc trung ương ngay cả khởi sự với chức danh một nhân viên văn phòng do có ý thích “phục vụ” nước nhà. Thế nhưng, Ông bảo tôi hãy nói với người ấy rằng ở địa phương nào và quan tâm làm công chức cho Sở nào thì cứ theo dõi các thông tin thi tuyển công chức tại đó để nộp đơn xin thi đúng theo quy định.

Ông hoàn toàn đúng khi nói như vậy vì (a) đó là quy định giấy trắng mực đen, và (b) Ông phải giữ đức thanh liêm trước mọi sự “nhờ vả” bất kể sự “nhờ vả” hay “giới thiệu” ấy có hay không có các quà cáp hối lộ hay đền ơn.

Tuy nhiên, chính các quy định giấy trắng mực đen mà Ông luôn tuân thủ lại có những khoảng tối mà cơ chế do vô tình hay hữu ý đã đặt ra khiến có lợi nhiều hơn cho các tâng lớp cao cấp của nội bộ Đảng. Chẳng hạn cơ chế ấy trong khi (a) không hề ấn định cách hành xử mỗi khi có sự “tiến cử hiền tài” từ người dân thì (b) lại ấn định sự cho phép mỗi đảng viên có quyền “tự tiến cử bản thân là hiền tài” cho một chức danh cao cấp cụ thể nào đó. Vụ việc của Trịnh Xuân Thanh vừa qua là một minh chứng cho sự tồn tại của một “quy trình” quái gở cho phép sự “tự tiến cử bản thân làm lãnh đạo” như thế. Tương tự, vụ của Vũ Quang Hải và Vũ Đình Duy chẳng khác nào sự tùy tiện “sử dụng nhân tài” của Bộ Công Thương lại càng khẳng định cho sự bôi tro trát trấu vào cái gọi là quy trình ấy.

Ông Nguyễn Thái Bình đã không là excellent thinker để có thể nghiệm ra những quái gở nào đang tồn tại trong “quy trình” của Bộ Nội Vụ, cũng như cơ chế đã không cho Ông cái empowerment thực quyền để đề xuất với Đảng và Nhà Nước  bãi bỏ những chi tiết quái gở cụ thể nào của hệ thống quy trình dụng nhân hiện hành.

Nghe đâu ngày xưa bên Tàu có vua này vua nọ phải tắm gội trai tịnh nhiều ngày để nhiều phen đến thảo lư của một người nào đó mà thiên hạ “đồn đại” rằng có thực tài để thỉnh mời về giúp triều đình “khởi nghiệp.” Chỉ mới nghe lời “đồn đại” thôi mà đã trọng thị như thế.

Vậy thì cơ chế hành xử của Đảng và Nhà Nước Việt Nam ít ra cũng nên là mỗi khi được “đại quan” hay “thường dân” tiến cử “hiền tài” thì

(a) gởi thư mời người được tiến cử ấy đến để tiếp xúc tìm hiểu theo kiểu mà Tây Phương gọi là interview tức phỏng vấn; sau đó

(b) thực hiện việc mà Phương Tây gọi là Work History Verification hoặc ngắn gọn là Background Check tức thẩm tra lý lịch tức việc mà Việt Nam thực hiện rất dễ dàng do không áp dụng các cấm đoán thẩm tra về “đời tư” như ở các nước tư bản tiến tiến, rất bài bản theo “quy trình” đối với đảng viên, và cực kỳ nghiêm nhặt đối với thường dân; và rồi

(c) áp dụng cơ chế mà Âu Mỹ gọi là probation mà ta gọi là thử việc để qua đó xác định đó là người tài thực sự hay chỉ là “đồn đại”.

Đã “đặc cách” cho phép đảng viên cấp cao được tiến cử con mình làm “hiền tài” thậm chí tự tiến cử chính mình làm hiền tài cho các chức danh lãnh đạo cao ngất, thì sao lại không thể “đặc cách” cho một người dân ngoài Đảng được ai đó tiến cử sẽ được mời đến gặp chức sắc cơ quan công quyền theo 3 bước nêu trên mà không cần phải chờ nộp đơn thi công chức cấp thấp khi nào có thông báo?

Điểm Chói Chang Chính Sách & Chủ Trương

Trọng dụng nhân tài là điểm chói chang của tất cả các chính sách cùng chủ trương của Việt Nam từ thời phong kiến xa xưa đến thời dân chủ hiện nay, được thường xuyên lập đi lập lại trong tất cả các phát biểu chính thức của tất cả các lãnh đạo.

Việc tự kiếm tìm nhân tài và tìm thấy nhân tài để rồi ra sức chiêu dụ nhân tài mới là việc đúng đắn và đầy lý tưởng. Việc một ông giám đốc một công ty nước ngoài đã thôi việc, không phải Đảng viên, vừa qua đã tự ứng cử và trúng cử vào Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh rồi được phong làm giám đốc một Sở ở Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “trọng dụng nhân tài” vì (a) đã không có sự ra sức chiêu dụ nào cho việc người ấy rời bỏ một công việc tốt đẹp đang có để về phục vụ nhân dân, và vì (b) người ấy đã là đại biểu Hội Đồng Nhân Dân. Vì thế, Thành phố Hồ Chí Minh chẳng có gì để tự hào về nội dung “trọng dụng nhân tài” cả.

Để “trọng dụng nhân tài” thì chỉ cần theo cơ chế hành xử ba bước như đã đề xuất ở mục trước, mà khi thực hiện các bước ấy, Đảng và Nhà Nước không những không phải “hạ mình” trai tịnh mà còn không phải đến tận nơi đón rước kiểu phong kiến ngàn xưa, nên vấn đề “thể diện” của Đảng và Nhà Nước không hề suy suyển.

Không có cơ chế “trọng dụng nhân tài” như vậy, Việt Nam sẽ chỉ có thể có được một Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Nguyễn Thái Bình có thể đi vào sử sách nước nhà như một đại quan thanh liêm mẫu mực được nhân dân kính trọng thương yêu; nhưng sẽ có rất nhiều Trịnh Xuân Thanh, Vũ Quang Hải, và Vũ Đình Duy cùng những tên tương cận gây họa cho cả dân tộc.

Kính biết ơn Ông Nguyễn Thái Bình vì đã là vị Bộ Trưởng đức độ của nước non này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết cùng thể loại “đánh giá cá nhân”:

Chính Khách:

Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc

Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Chủ Nhiệm Trần Văn Hằng

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Nguyễn Thiện Nhân

Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

Thường Dân:

Giáo Sư Nguyễn Quang Tô

Giáo Sư Trương Tuyết Anh

Giáo Sư Lê Văn Diệm

Cô Lại Thu Trúc

Khúc Tự Tình Thời Thơ Ấu – A Ballade of Childhood

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-9-2016

ballade-of-childhood

Ballade là một bản tự tình ca trong khi Ballad là một thể loại thơ ca ngâm vịnh lãng mạn gọi là bản tình dao.

Bài sau mang tên Ballade of Childhood tôi sáng tác năm 1980 nhưng đã được chú thích tiếng Việt “Bản Tình Dao Thơ Ấu” – để cho giống một bài thơ chứ không là bản nhạc – trên blog Aspiration của tôi tại uk.blog.360.yahoo.com năm 2006 và trên emotino.com năm 2008

ballade-1ballade-2

Ballade of Childhood
by Hoang Huu Phuoc, 12-1980

Along the gloomy path I composed these lines of verses
To recall the events in my salad days
With carefree joyousness, disillusionment, then the sight of a hearse
Which brought the corpse of my sister Thuy to her grave
And my soul to the miserable tomb of Fate !
I was hurt with untold excruciating agony
Tearing me off apart from my fragile soul
And my mind was perplexed by the so-called immortality !

I used to hark to chirp-chirp of nightingales
And haphazard once I saw a dog running crookedly and sideways
Then loping across the green like a little demon
Towards the hedgerows of a crumbling cottage
In which there was not even a human trace !
So with a pen I toiled and toiled indefatigably
To materialize the dream on page and page
And my mind was perplexed by the so-called immortality !

Deep in the cockles of my dead-beat heart
I loathed vice blokes, imposing mass in false fame
Who jerked and jerked and jerked and turned to dust
Like the extinguishment of candle-flames.
Only babes and sucklings romping on the bay
Could bear misfortunes with equanimity.
Without suffering one can neither love nor create!
And my mind was perplexed by the so-called immortality !

At onto ridiculous world I wanted to nauseate
The damned baits. Only the pristine beauty
Did not betray me. O blokes, go to blazes !
And my mind was perplexed by the so-called immortality !
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo bài Sonnet “How to Overwhelm the Un-Overwhelmed” của Hoàng Hữu Phước tại:

15 năm ngoảnh nhìn

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ

Đoạn ngâm thơ được ghi âm trích từ dĩa CD của The International Library of Poetry: https://www.youtube.com/watch?v=6-P93U7t79I&feature=youtu.be

Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-9-2016

quy-goi-hay-quy-dau

A) Giải Thích Từ Ngữ

Tất nhiên, lời giải thích từ ngữ sẽ là điều cần thiết cho tiêu đề phi truyền thống của bài viết này vì sự thâm thúy của tiếng Việt chứ không vì một “méo mó nghề nghiệp” của tác giả mà ắt chẳng ít người rất có thể đã cho rằng cái gì lão ta cũng viện dẫn tiếng Anh cứ như để khoe khoang hoặc do “ngộ chữ” vậy.

“Quỳ gối” thì ai cũng biết, dù là dân ở bất kỳ xứ miền nào và sử dụng bất kỳ hệ ngôn ngữ nào, chẳng hạn người Trung Hoa đã luôn quỳ gối trước các hùng binh Nhật Bản

quy-goi-hay-quy-dau-1

Thậm chí tiếng Anh còn có cả từ ngữ du nhập là động từ “kowtow” để nói về kiểu “quỳ lạy khấu đầu” của người Tàu tức “quỳ lạy phủ phục dập đầu” khi mông thì chổng lên trời còn trán thì chạm mặt đất như khi ở chốn công quyền, lúc diện kiến quân vương, hay để bày tỏ sự trọng thị đối với bậc trưởng thượng

quy-goi-hay-quy-dau-2

Như vậy, dù “quỳ gối’ thì vẫn dính dáng tới hai khu vực có chữ “đầu”, đó là…“đầu gối” và “đầu”…đội nón.

Tuy nhiên – và tất nhiên – bài này không nói gì về những loại bình thường như trên mà ai ai cũng biết đến, nghĩa là không có sự dính dáng cộng hưỡng tương hợp của “quỳ gối” với “quỳ khấu đầu” trong cụm từ “quỳ đầu” do tác giả bài viết này tạo ra. Bài viết, do đó, chỉ muốn nói về hai cụm từ đối nghĩa hoàn toàn giữa một bên là “quỳ gối” thuần hình tượng ngoại vi rõ nét của sự thực hiện đáp ứng một lễ nghi hoặc của sự áp dụng một chiến thuật hay dưới áp lực từ bên ngoài thường mang tính đối phó hữu hạn, còn một bên là “quỳ đầu” thuần trừu tượng nội vi của sự quy phục quy hàng tự nô dịch tự vong thân tự nguyện tự hoan hỷ vô hạn từ bên trong.

B) Nhà Sử Học

1- Bản Chất Chuyên Nghiệp Âu Tây

Trong một số bài viết trước đây, tôi có nêu nhiều giá trị đặc thù cao vời vợi cụ thể của nghề nghiệp một sử gia tại các siêu cường Âu Mỹ để phê phán hiện trạng Sử của Việt Nam – mà tiếc thay ở Việt Nam chưa hề có bất kỳ ai nêu được bất kỳ điều gì tương tự khiến cả nghề sử và môn Sử trở thành nỗi nhục nhã khôn khuây của riêng chỉ Việt Nam – cũng như những tùy tiện hủy phá Sử hoặc lạm dụng Sử nhằm (a) bảo vệ cái gọi là thể diện quốc gia, hay (b) che dấu cái tinh thần nô dịch “quỳ đầu”, hoặc (c) phục vụ mưu đồ phản loạn.

Thử đưa ra một thí dụ cực kỳ nhỏ nhoi ở đây về “nhà sử học” đồng thời là nghị sĩ Vương Quốc Anh Chris Skidmore, thường xuyên thực hành điều bình thường của tất cả các “nhà sử học” Âu Tây là nghiên cứu các khúc mắc, những nghi án, hay những khoảng còn mờ, còn xám, còn tối, còn nhòe nhoẹt nhập nhằng để hình thành các tác phẩm khảo cứu đồ sộ, như bật một que diêm – chứ không nhất thiết phải là ngọn đèn pha hàng ngàn watt – soi rọi một phần, ngay cả khi cái phần được le lói soi rọi chập chờn ấy không nhất thiết phải mang ý nghĩa một khẳng định chân lý ngay lập tức, chúng ta sẽ thấy thế nào là tính-chuyên-nghiệp-không-ngừng-nghỉ của bất kỳ ai mang danh “sử gia” hay “nhà sử học” của thế giới học thuật Âu Tây.

quy-goi-hay-quy-dau-3

Trong tác phẩm dày 448 trang mang tựa đề Death and The Virgin: Elizabeth, Dudley and the Mysterious Death of Amy Robsart (Tử Thần và Trinh Nữ), Chris Skidmore đã khảo cứu về nghi án mà vị “nữ hoàng trinh nguyên” Elizabeth rất có thể do dan díu với Robert Dudley đã khiến vị này gây ra cái chết đầy bí ẩn của vợ ông là công nương Amy Robsart.

quy-goi-hay-quy-dau-5

Dựa theo những chứng cớ gom nhặt diễn giải từ tàng thư, những nghiên cứu thực nghiệm ngay tại lâu đài Cumnor gần Oxford cũng như tại vị trí những bậc thang nhỏ hẹp nơi xác công nương Amy Robsart được tìm thấy sáng ngày 08-9-1560 mà đoàn pháp y hoàng gia chứng thực sự tử thương là do nạn nhân sơ ý té lăn xuống những bậc thang uốn khúc, Chris Skidmore đã cho ra những hoài nghi, chẳng hạn như khu vực cầu thang đá nhỏ hẹp, không cao, nhiều uốn khúc dành cho gia nhân đó trong lâu đài không phải là nơi một vị mệnh phụ phu nhân một mình thẩn thơ đi giám sát để rồi té lăn xuống với vết tử thương cứ như đã bị sát hại rồi bị quẳng xác xuống từ một lầu  cao nào khác trước khi lôi đến bỏ tại chân cầu thang tăm tối, hoặc nữ hoàng Elizabeth dù si mê hoan lạc với tình nhân Robert Dudley cũng đã quyết định “ở vậy” chứ không kết hôn cùng ông sau cái chết của vợ ông, do cái chết đầy bí ẩn ấy râm ran hình thành những hồ nghi đơm đặt về sự nhúng tay đạo diễn của chính Robert Dudley, mà điều này có thể gây phương hại đến thanh danh Elizabeth và hoàng gia Vương Quốc Anh.

quy-goi-hay-quy-dau-4

Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu từ bình thường đến phi thường tương tự của nhiều “nhà sử học” đối với các khuất tất trong lịch sử hoặc của nước họ hoặc của nhân loại từ thời Cổ La Hy; chưa kể, không hề có mặc định là chỉ có “nhà sử học” Ai Cập mới có quyền nghiên cứu về Sử Ai Cập, hoặc phải là “nhà sử học” Việt Nam mới có quyền nghiên cứu về Việt Sử, v.v. Đây là lý do có số lượng ngồn ngộn các tác phẩm sách Sử và tác phẩm phim tài liệu về Sử, giúp trí hóa nhân loại được mở mang, giúp ngành Sử phát triển hùng mạnh, và giúp “nhà sử học” luôn bội thu cả về danh vọng lẫn tác quyền. Tất cả những điều “bình thường” này chưa hề thấy có ở Á Đông – trong đó có Việt Nam.

2- Bản Chất Trá Ngụy Á Đông

Để phục vụ mục đích chiến thắng thuần tâm lý chiến và ý thức hệ, Âu Mỹ luôn ra sức bóp méo lịch sử để biến công trạng vĩ đại riêng của Liên Xô đối với toàn nhân loại trong quyết định số phận toàn bộ Đệ Nhị Thế Chiến khi một mình Liên Xô chỉ riêng trên mặt trận trực diện Đức-Liên Xô đã tiêu diệt 507 sư đoàn tinh nhuệ chủ lực Đức Quốc Xã,100 sư đoàn Phát Xít, loại khỏi vòng chiến đấu 74% quân đội Đức, phá hủy 75% lực lượng xe tăng, 70% lực lượng không quân và 74% lực lượng pháo binh, bị phủ che mờ nhòe trong sử sách Âu Mỹ khiến cái “công trạng” tổng hợp của Mỹ và các nước đồng minh trong đánh bại 176 sư đoàn Quốc Xã và Phát Xít cùng việc thả hai quả bom nguyên tử xuống Nagasaki và Hiroshima trở thành duy nhất “hiển hách” trong đại cuộc “giải phóng Châu Âu”.

Tuy nhiên, sự bóp méo kể trên đã được thực hiện và đã thực hiện được chỉ nhờ vào có sự đồng tình đồng thuận đồng tâm đồng đẳng theo lợi ích nhóm của thế lực chính trị Âu Mỹ đối với thế giới sử nhằm (a) hòa âm điền dã với đại cuộc ngăn chặn nguy cơ khủng khiếp tràn lan ảnh hưởng của Liên Xô xô ngã thành trì của cái gọi là thế giới tự do; (b) tự cứu nguy thể diện của các quốc gia tư bản Tây Âu như Anh đã “đi đêm” với Hitler, Pháp “bán nước” cho Đức Quốc Xã, Thụy Sĩ “bán thân” cho Đức Quốc Xã, và hàng loạt các quốc gia Âu Tây quỳ gối và quỳ đầu trước lá cờ Chữ Thập Ngoặc, nên nhất thiết phải có cho bằng được tấm áo khoác mang dòng chữ lấp lánh kim tuyến dạ quang của “vùng lên giải phóng quốc gia khỏi gót giày xâm lược của Đức Quốc Xã”; và (c) các pho sử khác nhau của các nước Tây Âu khác nhau lại kể cùng một sự việc giống nhau đến lạ lùng nhưng đầy sức thuyết phục với những kẻ bàng quan về cái gọi là đại công của các nước Tây Âu này trong Đệ Nhị Thế Chiến do đó đã chứng minh rằng chính họ và Mỹ chứ không phải Liên Xô đã giải phóng Châu Âu.

Song, riêng với lĩnh vực Sử chuyên biệt của mỗi quốc gia Âu Tây thì tính chuyên nghiệp là bản chất thuần nhất hừng hực bung ra của nghiên cứu Sử Tây Âu, trong khi đó tiếc thay sự trá ngụy lại là bản chất hỗn tạp thu mình thâm căn cố đế của nghiên cứu Sử Á Đông như được thể hiện ở bảy dạng đặc thù sau.

a) Gắn Hào Quang Cho Sử

Sử Tàu là minh chứng hùng hồn nhất cho cái thói cố tình gắn hào quang cho Sử chẳng hạn như truyền thuyết về một vị sử quan bị xử trảm vì khăng khăng không chịu sửa lại những tình tiết mà chính mình đã hàng ngày ghi chép lại từ những “điều có thật” đã xảy ra tại triều đình. Chuyện tầm phào này nhằm phục vụ cho một mục đích ngụy trang dài lâu – có khi xuyên thiên niên kỷ – rằng tất cả những gì đã ghi trong sử sách Tàu đều trung thực và là chân lý. Việc này chẳng khác gì để lờ đi sự thật về thói tà dâm loạn luân kinh tởm của toàn bộ các mệnh phụ phu nhân của tất cả các vương triều Trung Hoa, bọn sử gia Tàu đã nêu ra một “gương tiết liệt” của một góa phụ thời Đông Chu Liệt Quốc đã hươi đại đao chặt đứt lìa cánh tay của mình sau khi cánh tay ấy bị một gã đàn ông sàm sở sờ mó mân mê. Sử Tàu đã được gắn hào quang kiểu ấy để qua thiên niên kỷ sau đó, Tàu hê lên rằng Tàu có chứng cớ sử liệu về sự ghé thăm của các thương thuyền Tàu đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông, từ đó xác quyết chủ quyền lịch sử “không thể chối cãi” của Tàu đối với toàn bộ Biển Đông, theo kiểu: nếu sử quan A thời Đông Chu Liệt Quốc bị bêu đầu vì không chịu viết Sử sai sự thật thì tất tần tật mọi thứ từ B đến Z được ghi trong Sử Tàu – bất kể là Sử cổ hay Sử mới chế biến xào nấu – đều là thật tuốt tuồn tuột bất khả “chái cổi”.

Môn học Lịch Sử chỉ là một môn học về nhiều thứ, từ dã sử đến chính sử, từ truyền khẩu đến những bằng chứng thư tịch gọi là “sử liệu” vốn thuần túy mang tính hoạt động hành chính hàn lâm tại triều đình của bất kỳ quốc gia nào, của bất kỳ dân tộc nào.

Sử không hề có hào quang.

Sử là về những sự kiện, dù đó là về những cuộc ồ ạt di dân Exodus bi thảm hay bi tráng trong lịch sử nhân loại: từ cuộc Exodus vạn lý trường di của người Việt về phương Nam rời bỏ vùng Động Đình Hồ rộng lớn để lánh nạn giặc Tàu; cuộc Kansas Exodus của người Mỹ da đen năm 1879; cuộc Mormon Exodus xuyên lục địa vì lý do đàn áp tôn giáo vượt miền Trung Tây Hoa Kỳ tiến về Thung lũng Salt Lake; cuộc Exodus của người Do Thái; và các cuộc Exodus 1948, 1949-1956, và 1967 của người Palestin bị quốc tế xua đuổi khỏi quê hương, khỏi Dãy Gaza, khỏi Bán Đảo Sinai, khỏi Cao Nguyên Golan, và khỏi Bờ Tây; cũng như cuộc Exodus 1975 vượt biển của người Việt khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên vĩnh viễn trên bản đồ thế giới.

Bản thân các Exodus không hề có hào quang, vì Sử không bao giờ có hào quang. Tất cả các Exodus đều là sự bôn đào từ bản chất, không bao giờ là sự “tìm đến miền đất hứa của tự do” chói lòa chói lọi chói chang hào quang bất kỳ.

Chăm chỉ gắn hào quang cho Sử là việc làm điểm tô nhan sắc cho Sử, mà sự tô son trát phấn đó chính là sự lạm dụng Sử, việc trá ngụy thứ nhất đặc thù của Á Đông.

b) Dùng Sử Làm Hào Quang

Sử gồm những gì (a) là sự thật, (b) được cho là giống sự thật hơn, (c) là kết quả của các khảo cứu khoa học bổ sung gần nhất tức còn đợi chờ các bổ sung của tương lai, và (d) thậm chí những gì hoàn toàn không bao giờ có thể kiểm chứng được. Tất cả dựa vào những pho Sử chủ lực của mỗi quốc gia, mà sự khách quan của các “sử gia” khi chấp bút viết nên các pho Sử ấy không bao giờ được mặc định là luôn tồn tại.

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.

c) Phủ Nhận Lịch Sử

Tàu phủ nhận lịch sử nên không bao giờ có các thiên tiểu thuyết lịch sử về các thời kỳ Tàu bị Việt Nam đánh cho đại bại, thậm chí có lần bị Lý Thường Kiệt xua đại quân tràn ngập non sông Tàu, phá tan thành bình địa bao thành quách khiến Sử Tàu mãi mãi không bao giờ còn có thể biết đến vị trí chính xác của các di tích lịch sử ấy. Toàn bộ nền văn học Tàu chỉ có các thiên “anh hùng ca” như Tiết Nhân Quý Chinh Đông đại thắng Đại Hàn, hoặc La Thông Tảo Bắc, hoặc Tiết Đinh San Chinh Tây, v.v. mà thôi.

Nhật phủ nhận lịch sử nên thường xuyên thay đổi sách sử, không công nhận các “tội ác” đã gây ra trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Những người Việt Nam của cuộc Exodus 1975 và những người chống Việt phủ nhận lịch sử khi bôi nhọ Hồ Chí Minh và phủ nhận tất cả các chiến thắng của cộng sản Việt Nam bất kể đó là chiến thắng Thực Dân Pháp hay chiến thắng Đế Quốc Mỹ hoặc chiến thắng Bá Quyền Bành Trướng Tàu. Ắt họ cũng đã soạn sẵn nội dung để tung ra nhằm phủ nhận ngay vinh quang của Trận Điện Biên Phủ Trên Biển của cộng sản Việt Nam khi biến Biển Đông thành Huyết Hải vùi chôn toàn bộ hải quân Tàu trong trận chiến vệ quốc của tương lai.

Nhiều “nhà nghiên cứu” Việt mang học hàm “tiến sĩ” khi viết về Sử đã lộ rõ nguyên hình là những tay mơ ngu ngốc một cách đáng thương hại khi lầm lẫn giữa sĩ diện đối với một hành vi vô nghĩa và sách lược sáng suốt của tất cả các đấng minh quân. Trong các bài viết trước đây, tôi có kể về “lễ bão tất” khi Vua Quang Trung sang Tàu phủ phục quỳ ôm gối Vua Càn Long để hành lễ như đối với phụ hoàng. Các vị tiến sĩ viết nghiên cứu Sử kiểu gì mà lại ghi rằng họ “không khỏi bẽ bàng”, rằng “vua nước mình chạy lại quỳ xuống ôm gối ông vua già nước Tàu thật còn gì là quốc thể”, và rằng “dù là vua Quang Trung thật hay vua giả thì nghi lễ đó cũng là một thái độ sĩ nhục đất nước mình”. Chính các “nhà nghiên cứu” này là sự sĩ nhục quốc gia Việt Nam, làm xâm hại quốc thể Việt Nam, khiến giới sử học Âu Tây phải cảm thấy bẽ bàng trước sự xuẩn ngốc bất chuyên nghiệp của những kẻ tiếm danh “nghiên cứu Sử”. Vì rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam tất cả các vị vua đều phải quỳ gối xưng “thần” với “thiên triều Tàu”, dù cho có đánh cho Tàu đại bại cũng phải ngay lập tức “xin lỗi mạo phạm”, lạy xin Hoàng Đế Tàu phong cho tước Vương để làm An Nam Quốc Vương, hối hả lùa bắt trinh nữ quốc sắc thiên hương, vơ vét tài nguyên quốc gia, để dâng Hoàng Đế Tàu, xoa dịu và cứu vãn uy danh Hoàng Đế Tàu, và khi chiếu sắc phong của Hoàng Đế Tàu về đến thì Vua Việt phải lập bàn hương án quỳ gối khấu đầu đón nhận “thiên ân” – tất cả nhằm để cứu đất nước được toàn vẹn và dân tộc được sinh tồn. Đó là “quỳ gối” để che dấu sự thật là không bao giờ “quỳ đầu”. “Quỳ Gối” như một sách lược vì đại cuộc tránh sự đối đầu kéo dài của “lấy trứng chọi đá”. Và chính sự không bao giờ “Quỳ Đầu” đã được thể hiện suốt chiều dài lịch sử của nước Việt mỗi khi “người quỳ gối xưng Thần” vùng lên đánh cho tan tác thiên binh thiên tử, di xú vạn niên, vạn đời ô uế, muôn kiếp ô nhục trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ nghi lễ mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam tận dụng để tung hỏa mù trước đối phương.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ hành động mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam phải thực hiện, tự mình nuốt nhục thực hiện để chỉ bản thân lặng câm chịu tội trước dân tộc – nếu dân tộc không thấu hiểu – chứ quyết không để một người dân Việt nào phải quỳ gối trước ngoại bang như kiểu người dân Tàu phải quỳ gối bên vệ đường lịch sử trước quân đội Thiên Hoàng.

“Quỳ Gối”, do đó, là một thế xuống tấn của võ thuật Việt để khi cần thì xuất chiêu hất “đầu” hoặc lộn “đầu” đánh vòng hai chân ngược lên trấn đạp ngay vào đỉnh “đầu” tử huyệt đối phương.

Phủ nhận lịch sử để miêu tả nặng nề về việc “quỳ gối” là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử để lờ đi sự thật hào hùng không bao giờ “quỳ đầu” của tất cả các lãnh đạo Việt Nam từ xưa đến nay cũng là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử, do đó, chính là một trá ngụy quái gở đặc thù Á Đông.

d) Sáng Tạo Lịch Sử

Từ cái thói phủ nhận lịch sử như đã nêu trên, các “sử gia” Á Đông sáng tạo ra lịch sử. Và sự xào nấu chế biến này là một trá ngụy khác của giới gọi là “sử gia”, “nhà sử học” hay “nhà nghiên cứu Sử” Á Đông.

Vì cái sĩ diện mà “sử gia” Việt chế tạo ra giai thoại Vua Quang Trung cử người giả đóng vai mình để sang chầu vua Tàu Càn Long. Đã là bí mật cử một “giả vương” tức là một việc làm “khi quân” đối với Vua Tàu, có thể dẫn đến họa binh đao, thế mà sao tên thật của “giả vương” lại đường đường chính chính được ghi vào sử sách, chưa kể theo lề lối thực hành thực thi thực hiện của muôn đời và muôn nơi thì (a) vị “giả vương” ấy sẽ bị thủ tiêu sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về, (b) sự thật về việc “giả vương” chỉ có thể được phát hiện sau đó nhiều trăm năm từ các nguồn kể cả kém chính thống qua các nghiên cứu độc lập, và (c) chẳng có sử liệu gì ghi lại cuộc đời sau đó của “giả vương” sau khi lập “đại công” lừa gạt Vua Tàu khiến “giả vương” tự dưng tan biến trong sử sách.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra sự “hào hùng tuẫn tiết” của các bại tướng Việt Nam Cộng Hòa vốn chỉ biết tiến quân lúp xúp sau lưng các chiến binh viễn chinh Mỹ và đồng minh.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” nhằm che dấu sự thật rằng Mỹ đã (a) vừa cấm Việt Nam Cộng Hòa không được cho hàng trăm oanh tạc cơ xuất kích dù đã tập kết đầy đủ bom đạn tại Đà Nẳng sẵn sàng nhấn chìm toàn bộ các chiến hạm Tàu xuống đáy Biển Đông, (b)  vừa lịnh cho Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ mặc để các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu tiêu diệt cho thêm phần bi tráng, và (c) vừa cho Đệ Thất Hạm Đội trấn giữ Biển Đông lẳng lặng rút lui và án binh bất động để Tàu thực hiện hoàn tất việc chiếm giữ Hoàng Sa ngay sau chuyến thăm Mỹ của Đặng Tiểu Bình – tất cả chỉ để bêu xấu Bắc Việt “bán nước” dù Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa quản lý đã bỏ mặc chủ quyền để dâng cho Tàu theo lịnh Mỹ.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra chuyện Bắc Việt định tuyên bố đầu hàng thì Mỹ đột nhiên chấm dứt ném bom Miền Bắc, nghĩa là chỉ cần Mỹ ném bom thêm một ngày là Hồ Chí Minh giương cờ trắng quỳ gối quy hàng.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ và Mỹ gốc Việt áp dụng ngay từ ngữ “xâm lược Campuchia” để Mỹ thực thi lịnh cấm vận Việt Nam.

Thật là sự suy vi suy đồi suy tàn của ngành Sử ở thế giới Á Đông, nơi có sự “quỳ đầu” rõ nét nhất, nhục nhã nhất của sự vong thân.

e) Tiêu Hủy Sử Liệu

Chi tiết hùng biện của tác giả bài viết này lúc đối đáp với các phóng viên báo chí đổ xô đến “tra tấn” về sự việc “Tứ Đại Ngu” năm 2011 đã chưa từng được bất kỳ tờ báo nào – dù in hay mạng – kể lại cho khách hàng tức độc giả của họ trên toàn quốc được biết đến. Tất cả chứng minh báo chí chính thống Việt Nam (a) không bao giờ để độc giả biết sự thật đặc biệt khi sự thật ấy gây bất lợi cho báo chí, (b) không bao giờ phơi bày bản thân hoàn toàn thất bại về hùng biện trước “đối tượng” mà họ phải tiêu diệt, (c) luôn có sự đồng tâm hợp lực trong ra sức tiêu diệt “kẻ thù chung” của báo giới, (d) luôn có sự lộng hành của báo chí khi mặc định rằng một cá nhân nào đó khi ngăn cản Luật Biểu Tình tức đồng nghĩa với việc chống Thủ Tướng và Chống Đảng nên nhất thiết phải bị tiêu diệt, và (e) luôn góp phần “tiêu hủy sử liệu” như đã không bao giờ nói gì đến “sử liệu” rằng lần đầu tiên đã có sự vỗ tay tán thưởng rầm rộ của cả hội trường quốc hội khi một nghị sĩ đứng phát biểu tại chỗ chứ không trên “sân khấu” khi nghị sĩ này hùng biện ngăn cản Luật Biểu Tình.

Tác giả bài viết này giữa vòng vây tấn công điên dại của báo chí đã hùng biện rằng (a) điều nào của luật nào ghi rõ không được phép dùng từ “đại ngu”, rằng (b) người viết xuất thân là nhà giáo nên học tính khẳng khái của Thầy Chu Văn An, rằng (c) tuy noi gương Thầy Chu Văn An vẫn không quá quắc cực đoan như Thầy khi nằng nặc đòi chém đầu cho bằng được bảy nịnh thần, rằng (d) có nhà báo nào biết tờ Thất Trảm Sớ hiện ở đâu không để có thể chứng minh lời lẽ của Thầy Chu Văn An khi giận dữ đòi chém đầu người khác vẫn viết với văn phong ôn hòa đôn hậu lịch lãm dịu dàng nhẹ nhàng, và rằng (e) có nhà báo nào biết tên bảy vị nịnh thần ấy cùng các tội cụ thể của từng vị hay không để yên tâm rằng các vị đó có thực tội để phải chịu tội theo chuẩn văn minh văn hóa cao vời của Ân Mỹ – trong khi tác giả bài viết chỉ ghi ra bốn điều ngu của một kẻ đại ngu chứ không kể bốn điều tội của kẻ đại tội thì sao các phóng viên lại phải quan tâm cứu nguy kẻ đại ngu đến thế.

Chi tiết có thật 100% trên nhằm chứng minh một sự thật khác cũng có thật 100% tại Việt Nam đối với sử liệu: thói hủy phá sử liệu. Ngoài một chi tiết lẻ loi bằng tiếng Việt hoàn toàn không đáng tin cậy trên Wikipedia ghi rằng trong Thất Trảm Sớ Chu Văn An đã xin vua Trần Dụ Tông chém đầu 7 vị quan mà ông cho là “nịnh thần” gồm Mai Thọ Đức, Châu Canh, Bùi Khâm, Văn Hiến, Nguyễn Thanh Lương, Tâm Đức Ngưu, và Đoàn Nhữ Cầu, thì (a) không bất kỳ một pho chính Sử nào của Việt Nam có ghi nội dung tương tự, (b) không bất kỳ ai từng thấy cái gọi là “Thất Trảm Sớ”, (c) không bất kỳ ai biết chức danh và tội danh của từng vị trong số “7 nịnh thần”, (d) không bất kỳ ai chứng thực Chu Văn An nắm rõ Luật Hình Sự nước nhà để dám quy chụp tất cả 7 vị đó đều phạm tội phải chịu bị xử trảm cũng như việc tố cáo có đã theo đúng trình tự tố tụng hay chưa hay chỉ cần muốn chém ai thì cứ tự tung tự tác viết sớ gởi thẳng cho vua, và (e) hệ thống lưu trữ tàng thư của Nhà Trần cụ thể ra sao mà để xảy ra việc lộng hành làm biến mất hoàn toàn và triệt để của tờ “Thất Trảm Sớ”.

Việc hào quang hóa một nhân vật lịch sử còn dẫn đến việc Chu Văn An được ngợi ca là “bậc trung thần dũng cảm phi thường, có uy tín cao trong triều đình, người Thầy chuẩn mực của muôn đời” dù sử liệu có cái thì ghi Thầy là Tiến Sĩ, có cái lại ghi Thầy chẳng đỗ đạt gì, thậm chí có cái còn ghi rằng “nội dung dạy học của Thầy ngày nay không còn được biết đến đầy đủ nhưng chắc chắn đã nổ lực giảng dạy học thuyết kinh điển của Nho gia tạo điều kiện cho lý thuyết Khổng-Mạnh dần chiếm thế độc tôn.” Chỉ cần làm sớ xin chém đầu 7 vị quan mà hậu thế không rõ phạm tội cụ thể nào là đã được danh dũng cảm phi thường. Mặc cho Thất Trảm Sớ không đủ sức hùng biện thuyết phục vua, người viết vẫn được cho là có uy tín cao trong triều đình. Và mặc cho không ai biết rõ nội dung dạy học của Chu Văn An, Thầy vẫn được tôn vinh thành bậc Thầy của muôn đời. Tất cả những điều này chỉ được chấp nhận trong khung cảnh và hoàn cảnh Việt Nam, trong khi các chuẩn mực khoa học chuyên nghiệp Âu Tây luôn trên cơ sở “hữu bằng, hữu chứng” sẽ không cho là như vậy.

Tiêu hủy sử liệu là tội tày trời của nhà cầm quyền đối với lịch sử của dân tộc.

f) Không Bao Giờ Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Sử

Thay vì nghiên cứu khoa học, hình thành các khảo cứu lịch sử có giá trị về nội-dung-ắt-là của Thất Trảm Sớ hay của vị trí cụ thể chính xác của các đoạn sông cắm cọc từng nhuộm đỏ tanh tưởi máu giặc Tàu, cùng biết bao các điểm mờ, điểm xám, và điểm tối hay điểm nhòe nhoẹt lẫn lộn trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ cuộc Exodus Vạn Lý Trường Di rời xa Động Đình Hồ, các “nhà sử học” Việt Nam hoặc (a) chỉ chuyên kể lại những tình tiết sẵn có trong các pho Việt Sử chính thống mà bất kỳ ai cũng có thể đọc được trong sách hay trên mạng, hoặc (b) áp hiện tại vào quá khứ để giải thích quá khứ – như khi nói về Hội Nghị Diên Hồng như cách lấy ý kiến nhân dân của “trưng cầu dân ý” về chuyện “nên đánh hay nên hòa” trong khi Hội Nghị Diên Hồng thuần túy chỉ để nhà vua phổ biến các yêu cầu toàn dân phải đáp ứng cho đại cuộc đánh tan giặc xâm lược, hoặc (c) chẳng bao giờ xem là “sử liệu” nếu đó là nội dung nghiên cứu chẳng hạn về tên họ của những mỹ nữ thuộc những gia đình nào của những địa phương nào đã bị bắt để đưa về kinh đô dâng cho các vua Việt hưởng lạc hoặc triều cống vua Tàu, hoặc (d) tận dụng danh “nhà sử học” để tuyên bố ngay mà không qua nghiên cứu khoa học hàn lâm rằng “mại dâm” là một “nghề” đã có từ ngàn xưa nên nhất thiết phải được ngày nay luật hóa, v.v.

g) Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Ý Đồ Chính Trị

Từ việc không bao giờ nghiên cứu Sử phục vụ Sử tức phủ nhận giá trị sử liệu những thứ mà giới sử gia thế giới luôn quan tâm nghiên cứu tìm tòi, các “nhà nghiên cứu Sử” người Mỹ gốc Việt tập trung cho những thứ cũng là “sử liệu” nhưng phục vụ được ý đồ chính trị, chẳng hạn như chi tiết về cái gọi là “Công thư Phạm Văn Đồng” hay “Hội Nghị Thành Đô”, v.v., mặc cho đây là những sử liệu còn nguyên vẹn, mới tinh, có nội dung hoàn toàn dễ hiểu. Tất nhiên nội hàm của Công Thư Phạm Văn Đồng và Hội Nghị Thành Đô mang tính sách lược chiến lược quốc gia nhằm (a) dùng làm chiến thuật hóa giải một tình thế chiến lược và (b) xuất chiêu “cao tay ấn” nhằm thực hiện một mưu trí “thả bóng, bắt mồi” nhằm đưa kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc vào bẫy rập ngoại giao trong thiên niên kỷ mới.

Nhưng chính bởi nội hàm không bao giờ được “bô bô cái miệng” nói về như trường hợp “giả vương” trong sử liệu về Vua Quang Trung nên chẳng mấy ai hiểu thấu đáo, mà đám chống Việt có cớ để tận dụng, để “nghiên cứu” phục vụ ý đồ chính trị nhằm bôi nhọ cho bằng được Cộng Sản Việt Nam bằng những danh xưng như “bán nước” hay “làm tôi mọi cho Tàu” mà nếu dưới thời Vua Quang Trung hay bất kỳ vị vua nào khác trong toàn bộ lịch sử Việt Nam thì những kẻ “nghiên cứu Sử” kiểu ấy trong đám chống Việt đương nhiên không bao giờ thoát được cơn thịnh nộ của nhà vua.

Thói sử dụng sử liệu phục vụ cho mưu đồ chính trị gần đây còn được thể hiện bởi những kẻ thậm chí không cần ngay cả tấm áo khoác của “nhà nghiên cứu Sử”, như bởi đám người đang bối rối cùng đường mạt vận không biết bấu víu vào đâu đã cùng tung hô Ngô Đình Diệm một cách đáng thương hại, khiến các sử gia Âu Tây chuyên nghiên cứu về Ngô Đình Diệm cũng phải sửng sốt ngạc nhiên.

C) Lộng Giả Thành Chơn

Một gã nọ có background ngành Luật, thuộc đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh, có lần đã “chất vấn” trực tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại nghị trường, yêu cầu Thủ Tướng cho biết kế sách đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông.

Gã ngu ngốc đó không biết rằng (a) trên toàn thế giới nghị viện không bao giờ có bất kỳ một nghị sĩ nào đặt câu hỏi tương tự, rằng (b) trên toàn thế giới không bao giờ có bất kỳ nguyên thủ nào mở miệng bô bô nói về sách lược quốc gia thực sự trong đối đầu với một siêu cường, và rằng (c) sách lược thực sự trong đối đầu với Trung Quốc không bao giờ là chi tiết được đem ra công khai công bố bên ngoài ngưỡng cửa cấm điện hoàng gia hay phòng họp tối mật của Bộ Chính Trị.

Đặt câu hỏi mà không biết câu hỏi ấy sẽ không bao giờ có câu trả lời, mà vẫn đặt câu hỏi, thì hoặc (a) y là kẻ ngốc thật sự hoặc (b) y nghĩ Thủ Tướng là kẻ đại ngu.

Ở đây chỉ nhằm nêu lên một sự thật rằng sách lược 5000 năm nay của Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, gồm

1) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bọn Tàu

2) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bất kỳ quyền lực nào, bất kể đó là quyền lực cứng của vũ khí tối tân hay quyền lực mềm của triết thuyết hay văn hóa hoặc tài chính. Quyền lực cứng đã muôn đời thất bại tại Việt Nam mà kẻ bại trận gần đây nhất là bọn Tàu trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc cùng với bọn theo đóm ăn tàn của chúng là Campuchia trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Tây Nam. Quyền lực mềm cũng nếm mùi thất bại mà rõ nét nhất là tại Việt Nam Mác-Lê Nin chỉ là một hệ thống nghiên cứu mang tính cơ sở triết học hiện đại nên Việt Nam không trở thành một xứ miền của giáo điều, thậm chí còn sáng tạo thành công mô hình đầy sáng tạo “nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa” có sự điều tiết cần thiết của Nhà Nước trong giai đoạn phôi thai.

3) Sách lược quốc gia đối với Tàu luôn được chủ động đề ra bởi các lãnh đạo, chỉ được thể hiện khi có nạn ngoại xâm, không bao giờ là thứ để ghi rõ trong sử sách để tránh bị tiết lộ, không bao giờ được nói thật trong các phát ngôn chính thức của lãnh đạo, cũng như không bao giờ được đem ra hỏi ý kiến toàn dân. Hội Nghị Diên Hồng không bao giờ là để hỏi ý kiến người dân xem triều đình nên hòa hay nên chiến, vì chưa từng ai đưa ra được sử liệu về (a) thể thức lấy ý kiến bằng cách giơ tay hay bằng viết phiếu, (b) mẫu của phiếu – nếu là bỏ phiếu bằng cách viết phiếu, (c) danh sách các “bô lão”, và (d) kết quả bỏ phiếu.

Đem cái sự việc giông giống như một sự nhún nhường “quỳ gối” của giới lãnh đạo Việt Nam để bô bô về cái gọi là “bán nước”, ấy là mưu kế “lộng giả thành chơn” của bọn gian tà gian trá gian manh gian xảo gian hùng.

Tóm lại, tất cả những ai nói Cộng sản Việt Nam “quỳ gối” trước Tàu chính là những kẻ “quỳ đầu” trước bất kỳ ai chống Việt kể cả khi kẻ chống Việt chính là Tàu.

Và tóm lại, đây là phần giữa bài được lập lại làm phần kết cho bài viết này:

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự tự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.   

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thế Nào Là Sử Gia

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc!

Đả Đảo Tập Cận Bình Xi Jinping!

Sát Tàu

900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975

Trăm Trứng

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Ê Bồ! Sao Muốn Về?