Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-9-2016

quy-goi-hay-quy-dau

A) Giải Thích Từ Ngữ

Tất nhiên, lời giải thích từ ngữ sẽ là điều cần thiết cho tiêu đề phi truyền thống của bài viết này vì sự thâm thúy của tiếng Việt chứ không vì một “méo mó nghề nghiệp” của tác giả mà ắt chẳng ít người rất có thể đã cho rằng cái gì lão ta cũng viện dẫn tiếng Anh cứ như để khoe khoang hoặc do “ngộ chữ” vậy.

“Quỳ gối” thì ai cũng biết, dù là dân ở bất kỳ xứ miền nào và sử dụng bất kỳ hệ ngôn ngữ nào, chẳng hạn người Trung Hoa đã luôn quỳ gối trước các hùng binh Nhật Bản

quy-goi-hay-quy-dau-1

Thậm chí tiếng Anh còn có cả từ ngữ du nhập là động từ “kowtow” để nói về kiểu “quỳ lạy khấu đầu” của người Tàu tức “quỳ lạy phủ phục dập đầu” khi mông thì chổng lên trời còn trán thì chạm mặt đất như khi ở chốn công quyền, lúc diện kiến quân vương, hay để bày tỏ sự trọng thị đối với bậc trưởng thượng

quy-goi-hay-quy-dau-2

Như vậy, dù “quỳ gối’ thì vẫn dính dáng tới hai khu vực có chữ “đầu”, đó là…“đầu gối” và “đầu”…đội nón.

Tuy nhiên – và tất nhiên – bài này không nói gì về những loại bình thường như trên mà ai ai cũng biết đến, nghĩa là không có sự dính dáng cộng hưỡng tương hợp của “quỳ gối” với “quỳ khấu đầu” trong cụm từ “quỳ đầu” do tác giả bài viết này tạo ra. Bài viết, do đó, chỉ muốn nói về hai cụm từ đối nghĩa hoàn toàn giữa một bên là “quỳ gối” thuần hình tượng ngoại vi rõ nét của sự thực hiện đáp ứng một lễ nghi hoặc của sự áp dụng một chiến thuật hay dưới áp lực từ bên ngoài thường mang tính đối phó hữu hạn, còn một bên là “quỳ đầu” thuần trừu tượng nội vi của sự quy phục quy hàng tự nô dịch tự vong thân tự nguyện tự hoan hỷ vô hạn từ bên trong.

B) Nhà Sử Học

1- Bản Chất Chuyên Nghiệp Âu Tây

Trong một số bài viết trước đây, tôi có nêu nhiều giá trị đặc thù cao vời vợi cụ thể của nghề nghiệp một sử gia tại các siêu cường Âu Mỹ để phê phán hiện trạng Sử của Việt Nam – mà tiếc thay ở Việt Nam chưa hề có bất kỳ ai nêu được bất kỳ điều gì tương tự khiến cả nghề sử và môn Sử trở thành nỗi nhục nhã khôn khuây của riêng chỉ Việt Nam – cũng như những tùy tiện hủy phá Sử hoặc lạm dụng Sử nhằm (a) bảo vệ cái gọi là thể diện quốc gia, hay (b) che dấu cái tinh thần nô dịch “quỳ đầu”, hoặc (c) phục vụ mưu đồ phản loạn.

Thử đưa ra một thí dụ cực kỳ nhỏ nhoi ở đây về “nhà sử học” đồng thời là nghị sĩ Vương Quốc Anh Chris Skidmore, thường xuyên thực hành điều bình thường của tất cả các “nhà sử học” Âu Tây là nghiên cứu các khúc mắc, những nghi án, hay những khoảng còn mờ, còn xám, còn tối, còn nhòe nhoẹt nhập nhằng để hình thành các tác phẩm khảo cứu đồ sộ, như bật một que diêm – chứ không nhất thiết phải là ngọn đèn pha hàng ngàn watt – soi rọi một phần, ngay cả khi cái phần được le lói soi rọi chập chờn ấy không nhất thiết phải mang ý nghĩa một khẳng định chân lý ngay lập tức, chúng ta sẽ thấy thế nào là tính-chuyên-nghiệp-không-ngừng-nghỉ của bất kỳ ai mang danh “sử gia” hay “nhà sử học” của thế giới học thuật Âu Tây.

quy-goi-hay-quy-dau-3

Trong tác phẩm dày 448 trang mang tựa đề Death and The Virgin: Elizabeth, Dudley and the Mysterious Death of Amy Robsart (Tử Thần và Trinh Nữ), Chris Skidmore đã khảo cứu về nghi án mà vị “nữ hoàng trinh nguyên” Elizabeth rất có thể do dan díu với Robert Dudley đã khiến vị này gây ra cái chết đầy bí ẩn của vợ ông là công nương Amy Robsart.

quy-goi-hay-quy-dau-5

Dựa theo những chứng cớ gom nhặt diễn giải từ tàng thư, những nghiên cứu thực nghiệm ngay tại lâu đài Cumnor gần Oxford cũng như tại vị trí những bậc thang nhỏ hẹp nơi xác công nương Amy Robsart được tìm thấy sáng ngày 08-9-1560 mà đoàn pháp y hoàng gia chứng thực sự tử thương là do nạn nhân sơ ý té lăn xuống những bậc thang uốn khúc, Chris Skidmore đã cho ra những hoài nghi, chẳng hạn như khu vực cầu thang đá nhỏ hẹp, không cao, nhiều uốn khúc dành cho gia nhân đó trong lâu đài không phải là nơi một vị mệnh phụ phu nhân một mình thẩn thơ đi giám sát để rồi té lăn xuống với vết tử thương cứ như đã bị sát hại rồi bị quẳng xác xuống từ một lầu  cao nào khác trước khi lôi đến bỏ tại chân cầu thang tăm tối, hoặc nữ hoàng Elizabeth dù si mê hoan lạc với tình nhân Robert Dudley cũng đã quyết định “ở vậy” chứ không kết hôn cùng ông sau cái chết của vợ ông, do cái chết đầy bí ẩn ấy râm ran hình thành những hồ nghi đơm đặt về sự nhúng tay đạo diễn của chính Robert Dudley, mà điều này có thể gây phương hại đến thanh danh Elizabeth và hoàng gia Vương Quốc Anh.

quy-goi-hay-quy-dau-4

Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu từ bình thường đến phi thường tương tự của nhiều “nhà sử học” đối với các khuất tất trong lịch sử hoặc của nước họ hoặc của nhân loại từ thời Cổ La Hy; chưa kể, không hề có mặc định là chỉ có “nhà sử học” Ai Cập mới có quyền nghiên cứu về Sử Ai Cập, hoặc phải là “nhà sử học” Việt Nam mới có quyền nghiên cứu về Việt Sử, v.v. Đây là lý do có số lượng ngồn ngộn các tác phẩm sách Sử và tác phẩm phim tài liệu về Sử, giúp trí hóa nhân loại được mở mang, giúp ngành Sử phát triển hùng mạnh, và giúp “nhà sử học” luôn bội thu cả về danh vọng lẫn tác quyền. Tất cả những điều “bình thường” này chưa hề thấy có ở Á Đông – trong đó có Việt Nam.

2- Bản Chất Trá Ngụy Á Đông

Để phục vụ mục đích chiến thắng thuần tâm lý chiến và ý thức hệ, Âu Mỹ luôn ra sức bóp méo lịch sử để biến công trạng vĩ đại riêng của Liên Xô đối với toàn nhân loại trong quyết định số phận toàn bộ Đệ Nhị Thế Chiến khi một mình Liên Xô chỉ riêng trên mặt trận trực diện Đức-Liên Xô đã tiêu diệt 507 sư đoàn tinh nhuệ chủ lực Đức Quốc Xã,100 sư đoàn Phát Xít, loại khỏi vòng chiến đấu 74% quân đội Đức, phá hủy 75% lực lượng xe tăng, 70% lực lượng không quân và 74% lực lượng pháo binh, bị phủ che mờ nhòe trong sử sách Âu Mỹ khiến cái “công trạng” tổng hợp của Mỹ và các nước đồng minh trong đánh bại 176 sư đoàn Quốc Xã và Phát Xít cùng việc thả hai quả bom nguyên tử xuống Nagasaki và Hiroshima trở thành duy nhất “hiển hách” trong đại cuộc “giải phóng Châu Âu”.

Tuy nhiên, sự bóp méo kể trên đã được thực hiện và đã thực hiện được chỉ nhờ vào có sự đồng tình đồng thuận đồng tâm đồng đẳng theo lợi ích nhóm của thế lực chính trị Âu Mỹ đối với thế giới sử nhằm (a) hòa âm điền dã với đại cuộc ngăn chặn nguy cơ khủng khiếp tràn lan ảnh hưởng của Liên Xô xô ngã thành trì của cái gọi là thế giới tự do; (b) tự cứu nguy thể diện của các quốc gia tư bản Tây Âu như Anh đã “đi đêm” với Hitler, Pháp “bán nước” cho Đức Quốc Xã, Thụy Sĩ “bán thân” cho Đức Quốc Xã, và hàng loạt các quốc gia Âu Tây quỳ gối và quỳ đầu trước lá cờ Chữ Thập Ngoặc, nên nhất thiết phải có cho bằng được tấm áo khoác mang dòng chữ lấp lánh kim tuyến dạ quang của “vùng lên giải phóng quốc gia khỏi gót giày xâm lược của Đức Quốc Xã”; và (c) các pho sử khác nhau của các nước Tây Âu khác nhau lại kể cùng một sự việc giống nhau đến lạ lùng nhưng đầy sức thuyết phục với những kẻ bàng quan về cái gọi là đại công của các nước Tây Âu này trong Đệ Nhị Thế Chiến do đó đã chứng minh rằng chính họ và Mỹ chứ không phải Liên Xô đã giải phóng Châu Âu.

Song, riêng với lĩnh vực Sử chuyên biệt của mỗi quốc gia Âu Tây thì tính chuyên nghiệp là bản chất thuần nhất hừng hực bung ra của nghiên cứu Sử Tây Âu, trong khi đó tiếc thay sự trá ngụy lại là bản chất hỗn tạp thu mình thâm căn cố đế của nghiên cứu Sử Á Đông như được thể hiện ở bảy dạng đặc thù sau.

a) Gắn Hào Quang Cho Sử

Sử Tàu là minh chứng hùng hồn nhất cho cái thói cố tình gắn hào quang cho Sử chẳng hạn như truyền thuyết về một vị sử quan bị xử trảm vì khăng khăng không chịu sửa lại những tình tiết mà chính mình đã hàng ngày ghi chép lại từ những “điều có thật” đã xảy ra tại triều đình. Chuyện tầm phào này nhằm phục vụ cho một mục đích ngụy trang dài lâu – có khi xuyên thiên niên kỷ – rằng tất cả những gì đã ghi trong sử sách Tàu đều trung thực và là chân lý. Việc này chẳng khác gì để lờ đi sự thật về thói tà dâm loạn luân kinh tởm của toàn bộ các mệnh phụ phu nhân của tất cả các vương triều Trung Hoa, bọn sử gia Tàu đã nêu ra một “gương tiết liệt” của một góa phụ thời Đông Chu Liệt Quốc đã hươi đại đao chặt đứt lìa cánh tay của mình sau khi cánh tay ấy bị một gã đàn ông sàm sở sờ mó mân mê. Sử Tàu đã được gắn hào quang kiểu ấy để qua thiên niên kỷ sau đó, Tàu hê lên rằng Tàu có chứng cớ sử liệu về sự ghé thăm của các thương thuyền Tàu đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông, từ đó xác quyết chủ quyền lịch sử “không thể chối cãi” của Tàu đối với toàn bộ Biển Đông, theo kiểu: nếu sử quan A thời Đông Chu Liệt Quốc bị bêu đầu vì không chịu viết Sử sai sự thật thì tất tần tật mọi thứ từ B đến Z được ghi trong Sử Tàu – bất kể là Sử cổ hay Sử mới chế biến xào nấu – đều là thật tuốt tuồn tuột bất khả “chái cổi”.

Môn học Lịch Sử chỉ là một môn học về nhiều thứ, từ dã sử đến chính sử, từ truyền khẩu đến những bằng chứng thư tịch gọi là “sử liệu” vốn thuần túy mang tính hoạt động hành chính hàn lâm tại triều đình của bất kỳ quốc gia nào, của bất kỳ dân tộc nào.

Sử không hề có hào quang.

Sử là về những sự kiện, dù đó là về những cuộc ồ ạt di dân Exodus bi thảm hay bi tráng trong lịch sử nhân loại: từ cuộc Exodus vạn lý trường di của người Việt về phương Nam rời bỏ vùng Động Đình Hồ rộng lớn để lánh nạn giặc Tàu; cuộc Kansas Exodus của người Mỹ da đen năm 1879; cuộc Mormon Exodus xuyên lục địa vì lý do đàn áp tôn giáo vượt miền Trung Tây Hoa Kỳ tiến về Thung lũng Salt Lake; cuộc Exodus của người Do Thái; và các cuộc Exodus 1948, 1949-1956, và 1967 của người Palestin bị quốc tế xua đuổi khỏi quê hương, khỏi Dãy Gaza, khỏi Bán Đảo Sinai, khỏi Cao Nguyên Golan, và khỏi Bờ Tây; cũng như cuộc Exodus 1975 vượt biển của người Việt khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên vĩnh viễn trên bản đồ thế giới.

Bản thân các Exodus không hề có hào quang, vì Sử không bao giờ có hào quang. Tất cả các Exodus đều là sự bôn đào từ bản chất, không bao giờ là sự “tìm đến miền đất hứa của tự do” chói lòa chói lọi chói chang hào quang bất kỳ.

Chăm chỉ gắn hào quang cho Sử là việc làm điểm tô nhan sắc cho Sử, mà sự tô son trát phấn đó chính là sự lạm dụng Sử, việc trá ngụy thứ nhất đặc thù của Á Đông.

b) Dùng Sử Làm Hào Quang

Sử gồm những gì (a) là sự thật, (b) được cho là giống sự thật hơn, (c) là kết quả của các khảo cứu khoa học bổ sung gần nhất tức còn đợi chờ các bổ sung của tương lai, và (d) thậm chí những gì hoàn toàn không bao giờ có thể kiểm chứng được. Tất cả dựa vào những pho Sử chủ lực của mỗi quốc gia, mà sự khách quan của các “sử gia” khi chấp bút viết nên các pho Sử ấy không bao giờ được mặc định là luôn tồn tại.

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.

c) Phủ Nhận Lịch Sử

Tàu phủ nhận lịch sử nên không bao giờ có các thiên tiểu thuyết lịch sử về các thời kỳ Tàu bị Việt Nam đánh cho đại bại, thậm chí có lần bị Lý Thường Kiệt xua đại quân tràn ngập non sông Tàu, phá tan thành bình địa bao thành quách khiến Sử Tàu mãi mãi không bao giờ còn có thể biết đến vị trí chính xác của các di tích lịch sử ấy. Toàn bộ nền văn học Tàu chỉ có các thiên “anh hùng ca” như Tiết Nhân Quý Chinh Đông đại thắng Đại Hàn, hoặc La Thông Tảo Bắc, hoặc Tiết Đinh San Chinh Tây, v.v. mà thôi.

Nhật phủ nhận lịch sử nên thường xuyên thay đổi sách sử, không công nhận các “tội ác” đã gây ra trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Những người Việt Nam của cuộc Exodus 1975 và những người chống Việt phủ nhận lịch sử khi bôi nhọ Hồ Chí Minh và phủ nhận tất cả các chiến thắng của cộng sản Việt Nam bất kể đó là chiến thắng Thực Dân Pháp hay chiến thắng Đế Quốc Mỹ hoặc chiến thắng Bá Quyền Bành Trướng Tàu. Ắt họ cũng đã soạn sẵn nội dung để tung ra nhằm phủ nhận ngay vinh quang của Trận Điện Biên Phủ Trên Biển của cộng sản Việt Nam khi biến Biển Đông thành Huyết Hải vùi chôn toàn bộ hải quân Tàu trong trận chiến vệ quốc của tương lai.

Nhiều “nhà nghiên cứu” Việt mang học hàm “tiến sĩ” khi viết về Sử đã lộ rõ nguyên hình là những tay mơ ngu ngốc một cách đáng thương hại khi lầm lẫn giữa sĩ diện đối với một hành vi vô nghĩa và sách lược sáng suốt của tất cả các đấng minh quân. Trong các bài viết trước đây, tôi có kể về “lễ bão tất” khi Vua Quang Trung sang Tàu phủ phục quỳ ôm gối Vua Càn Long để hành lễ như đối với phụ hoàng. Các vị tiến sĩ viết nghiên cứu Sử kiểu gì mà lại ghi rằng họ “không khỏi bẽ bàng”, rằng “vua nước mình chạy lại quỳ xuống ôm gối ông vua già nước Tàu thật còn gì là quốc thể”, và rằng “dù là vua Quang Trung thật hay vua giả thì nghi lễ đó cũng là một thái độ sĩ nhục đất nước mình”. Chính các “nhà nghiên cứu” này là sự sĩ nhục quốc gia Việt Nam, làm xâm hại quốc thể Việt Nam, khiến giới sử học Âu Tây phải cảm thấy bẽ bàng trước sự xuẩn ngốc bất chuyên nghiệp của những kẻ tiếm danh “nghiên cứu Sử”. Vì rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam tất cả các vị vua đều phải quỳ gối xưng “thần” với “thiên triều Tàu”, dù cho có đánh cho Tàu đại bại cũng phải ngay lập tức “xin lỗi mạo phạm”, lạy xin Hoàng Đế Tàu phong cho tước Vương để làm An Nam Quốc Vương, hối hả lùa bắt trinh nữ quốc sắc thiên hương, vơ vét tài nguyên quốc gia, để dâng Hoàng Đế Tàu, xoa dịu và cứu vãn uy danh Hoàng Đế Tàu, và khi chiếu sắc phong của Hoàng Đế Tàu về đến thì Vua Việt phải lập bàn hương án quỳ gối khấu đầu đón nhận “thiên ân” – tất cả nhằm để cứu đất nước được toàn vẹn và dân tộc được sinh tồn. Đó là “quỳ gối” để che dấu sự thật là không bao giờ “quỳ đầu”. “Quỳ Gối” như một sách lược vì đại cuộc tránh sự đối đầu kéo dài của “lấy trứng chọi đá”. Và chính sự không bao giờ “Quỳ Đầu” đã được thể hiện suốt chiều dài lịch sử của nước Việt mỗi khi “người quỳ gối xưng Thần” vùng lên đánh cho tan tác thiên binh thiên tử, di xú vạn niên, vạn đời ô uế, muôn kiếp ô nhục trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ nghi lễ mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam tận dụng để tung hỏa mù trước đối phương.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ hành động mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam phải thực hiện, tự mình nuốt nhục thực hiện để chỉ bản thân lặng câm chịu tội trước dân tộc – nếu dân tộc không thấu hiểu – chứ quyết không để một người dân Việt nào phải quỳ gối trước ngoại bang như kiểu người dân Tàu phải quỳ gối bên vệ đường lịch sử trước quân đội Thiên Hoàng.

“Quỳ Gối”, do đó, là một thế xuống tấn của võ thuật Việt để khi cần thì xuất chiêu hất “đầu” hoặc lộn “đầu” đánh vòng hai chân ngược lên trấn đạp ngay vào đỉnh “đầu” tử huyệt đối phương.

Phủ nhận lịch sử để miêu tả nặng nề về việc “quỳ gối” là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử để lờ đi sự thật hào hùng không bao giờ “quỳ đầu” của tất cả các lãnh đạo Việt Nam từ xưa đến nay cũng là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử, do đó, chính là một trá ngụy quái gở đặc thù Á Đông.

d) Sáng Tạo Lịch Sử

Từ cái thói phủ nhận lịch sử như đã nêu trên, các “sử gia” Á Đông sáng tạo ra lịch sử. Và sự xào nấu chế biến này là một trá ngụy khác của giới gọi là “sử gia”, “nhà sử học” hay “nhà nghiên cứu Sử” Á Đông.

Vì cái sĩ diện mà “sử gia” Việt chế tạo ra giai thoại Vua Quang Trung cử người giả đóng vai mình để sang chầu vua Tàu Càn Long. Đã là bí mật cử một “giả vương” tức là một việc làm “khi quân” đối với Vua Tàu, có thể dẫn đến họa binh đao, thế mà sao tên thật của “giả vương” lại đường đường chính chính được ghi vào sử sách, chưa kể theo lề lối thực hành thực thi thực hiện của muôn đời và muôn nơi thì (a) vị “giả vương” ấy sẽ bị thủ tiêu sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về, (b) sự thật về việc “giả vương” chỉ có thể được phát hiện sau đó nhiều trăm năm từ các nguồn kể cả kém chính thống qua các nghiên cứu độc lập, và (c) chẳng có sử liệu gì ghi lại cuộc đời sau đó của “giả vương” sau khi lập “đại công” lừa gạt Vua Tàu khiến “giả vương” tự dưng tan biến trong sử sách.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra sự “hào hùng tuẫn tiết” của các bại tướng Việt Nam Cộng Hòa vốn chỉ biết tiến quân lúp xúp sau lưng các chiến binh viễn chinh Mỹ và đồng minh.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” nhằm che dấu sự thật rằng Mỹ đã (a) vừa cấm Việt Nam Cộng Hòa không được cho hàng trăm oanh tạc cơ xuất kích dù đã tập kết đầy đủ bom đạn tại Đà Nẳng sẵn sàng nhấn chìm toàn bộ các chiến hạm Tàu xuống đáy Biển Đông, (b)  vừa lịnh cho Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ mặc để các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu tiêu diệt cho thêm phần bi tráng, và (c) vừa cho Đệ Thất Hạm Đội trấn giữ Biển Đông lẳng lặng rút lui và án binh bất động để Tàu thực hiện hoàn tất việc chiếm giữ Hoàng Sa ngay sau chuyến thăm Mỹ của Đặng Tiểu Bình – tất cả chỉ để bêu xấu Bắc Việt “bán nước” dù Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa quản lý đã bỏ mặc chủ quyền để dâng cho Tàu theo lịnh Mỹ.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra chuyện Bắc Việt định tuyên bố đầu hàng thì Mỹ đột nhiên chấm dứt ném bom Miền Bắc, nghĩa là chỉ cần Mỹ ném bom thêm một ngày là Hồ Chí Minh giương cờ trắng quỳ gối quy hàng.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ và Mỹ gốc Việt áp dụng ngay từ ngữ “xâm lược Campuchia” để Mỹ thực thi lịnh cấm vận Việt Nam.

Thật là sự suy vi suy đồi suy tàn của ngành Sử ở thế giới Á Đông, nơi có sự “quỳ đầu” rõ nét nhất, nhục nhã nhất của sự vong thân.

e) Tiêu Hủy Sử Liệu

Chi tiết hùng biện của tác giả bài viết này lúc đối đáp với các phóng viên báo chí đổ xô đến “tra tấn” về sự việc “Tứ Đại Ngu” năm 2011 đã chưa từng được bất kỳ tờ báo nào – dù in hay mạng – kể lại cho khách hàng tức độc giả của họ trên toàn quốc được biết đến. Tất cả chứng minh báo chí chính thống Việt Nam (a) không bao giờ để độc giả biết sự thật đặc biệt khi sự thật ấy gây bất lợi cho báo chí, (b) không bao giờ phơi bày bản thân hoàn toàn thất bại về hùng biện trước “đối tượng” mà họ phải tiêu diệt, (c) luôn có sự đồng tâm hợp lực trong ra sức tiêu diệt “kẻ thù chung” của báo giới, (d) luôn có sự lộng hành của báo chí khi mặc định rằng một cá nhân nào đó khi ngăn cản Luật Biểu Tình tức đồng nghĩa với việc chống Thủ Tướng và Chống Đảng nên nhất thiết phải bị tiêu diệt, và (e) luôn góp phần “tiêu hủy sử liệu” như đã không bao giờ nói gì đến “sử liệu” rằng lần đầu tiên đã có sự vỗ tay tán thưởng rầm rộ của cả hội trường quốc hội khi một nghị sĩ đứng phát biểu tại chỗ chứ không trên “sân khấu” khi nghị sĩ này hùng biện ngăn cản Luật Biểu Tình.

Tác giả bài viết này giữa vòng vây tấn công điên dại của báo chí đã hùng biện rằng (a) điều nào của luật nào ghi rõ không được phép dùng từ “đại ngu”, rằng (b) người viết xuất thân là nhà giáo nên học tính khẳng khái của Thầy Chu Văn An, rằng (c) tuy noi gương Thầy Chu Văn An vẫn không quá quắc cực đoan như Thầy khi nằng nặc đòi chém đầu cho bằng được bảy nịnh thần, rằng (d) có nhà báo nào biết tờ Thất Trảm Sớ hiện ở đâu không để có thể chứng minh lời lẽ của Thầy Chu Văn An khi giận dữ đòi chém đầu người khác vẫn viết với văn phong ôn hòa đôn hậu lịch lãm dịu dàng nhẹ nhàng, và rằng (e) có nhà báo nào biết tên bảy vị nịnh thần ấy cùng các tội cụ thể của từng vị hay không để yên tâm rằng các vị đó có thực tội để phải chịu tội theo chuẩn văn minh văn hóa cao vời của Ân Mỹ – trong khi tác giả bài viết chỉ ghi ra bốn điều ngu của một kẻ đại ngu chứ không kể bốn điều tội của kẻ đại tội thì sao các phóng viên lại phải quan tâm cứu nguy kẻ đại ngu đến thế.

Chi tiết có thật 100% trên nhằm chứng minh một sự thật khác cũng có thật 100% tại Việt Nam đối với sử liệu: thói hủy phá sử liệu. Ngoài một chi tiết lẻ loi bằng tiếng Việt hoàn toàn không đáng tin cậy trên Wikipedia ghi rằng trong Thất Trảm Sớ Chu Văn An đã xin vua Trần Dụ Tông chém đầu 7 vị quan mà ông cho là “nịnh thần” gồm Mai Thọ Đức, Châu Canh, Bùi Khâm, Văn Hiến, Nguyễn Thanh Lương, Tâm Đức Ngưu, và Đoàn Nhữ Cầu, thì (a) không bất kỳ một pho chính Sử nào của Việt Nam có ghi nội dung tương tự, (b) không bất kỳ ai từng thấy cái gọi là “Thất Trảm Sớ”, (c) không bất kỳ ai biết chức danh và tội danh của từng vị trong số “7 nịnh thần”, (d) không bất kỳ ai chứng thực Chu Văn An nắm rõ Luật Hình Sự nước nhà để dám quy chụp tất cả 7 vị đó đều phạm tội phải chịu bị xử trảm cũng như việc tố cáo có đã theo đúng trình tự tố tụng hay chưa hay chỉ cần muốn chém ai thì cứ tự tung tự tác viết sớ gởi thẳng cho vua, và (e) hệ thống lưu trữ tàng thư của Nhà Trần cụ thể ra sao mà để xảy ra việc lộng hành làm biến mất hoàn toàn và triệt để của tờ “Thất Trảm Sớ”.

Việc hào quang hóa một nhân vật lịch sử còn dẫn đến việc Chu Văn An được ngợi ca là “bậc trung thần dũng cảm phi thường, có uy tín cao trong triều đình, người Thầy chuẩn mực của muôn đời” dù sử liệu có cái thì ghi Thầy là Tiến Sĩ, có cái lại ghi Thầy chẳng đỗ đạt gì, thậm chí có cái còn ghi rằng “nội dung dạy học của Thầy ngày nay không còn được biết đến đầy đủ nhưng chắc chắn đã nổ lực giảng dạy học thuyết kinh điển của Nho gia tạo điều kiện cho lý thuyết Khổng-Mạnh dần chiếm thế độc tôn.” Chỉ cần làm sớ xin chém đầu 7 vị quan mà hậu thế không rõ phạm tội cụ thể nào là đã được danh dũng cảm phi thường. Mặc cho Thất Trảm Sớ không đủ sức hùng biện thuyết phục vua, người viết vẫn được cho là có uy tín cao trong triều đình. Và mặc cho không ai biết rõ nội dung dạy học của Chu Văn An, Thầy vẫn được tôn vinh thành bậc Thầy của muôn đời. Tất cả những điều này chỉ được chấp nhận trong khung cảnh và hoàn cảnh Việt Nam, trong khi các chuẩn mực khoa học chuyên nghiệp Âu Tây luôn trên cơ sở “hữu bằng, hữu chứng” sẽ không cho là như vậy.

Tiêu hủy sử liệu là tội tày trời của nhà cầm quyền đối với lịch sử của dân tộc.

f) Không Bao Giờ Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Sử

Thay vì nghiên cứu khoa học, hình thành các khảo cứu lịch sử có giá trị về nội-dung-ắt-là của Thất Trảm Sớ hay của vị trí cụ thể chính xác của các đoạn sông cắm cọc từng nhuộm đỏ tanh tưởi máu giặc Tàu, cùng biết bao các điểm mờ, điểm xám, và điểm tối hay điểm nhòe nhoẹt lẫn lộn trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ cuộc Exodus Vạn Lý Trường Di rời xa Động Đình Hồ, các “nhà sử học” Việt Nam hoặc (a) chỉ chuyên kể lại những tình tiết sẵn có trong các pho Việt Sử chính thống mà bất kỳ ai cũng có thể đọc được trong sách hay trên mạng, hoặc (b) áp hiện tại vào quá khứ để giải thích quá khứ – như khi nói về Hội Nghị Diên Hồng như cách lấy ý kiến nhân dân của “trưng cầu dân ý” về chuyện “nên đánh hay nên hòa” trong khi Hội Nghị Diên Hồng thuần túy chỉ để nhà vua phổ biến các yêu cầu toàn dân phải đáp ứng cho đại cuộc đánh tan giặc xâm lược, hoặc (c) chẳng bao giờ xem là “sử liệu” nếu đó là nội dung nghiên cứu chẳng hạn về tên họ của những mỹ nữ thuộc những gia đình nào của những địa phương nào đã bị bắt để đưa về kinh đô dâng cho các vua Việt hưởng lạc hoặc triều cống vua Tàu, hoặc (d) tận dụng danh “nhà sử học” để tuyên bố ngay mà không qua nghiên cứu khoa học hàn lâm rằng “mại dâm” là một “nghề” đã có từ ngàn xưa nên nhất thiết phải được ngày nay luật hóa, v.v.

g) Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Ý Đồ Chính Trị

Từ việc không bao giờ nghiên cứu Sử phục vụ Sử tức phủ nhận giá trị sử liệu những thứ mà giới sử gia thế giới luôn quan tâm nghiên cứu tìm tòi, các “nhà nghiên cứu Sử” người Mỹ gốc Việt tập trung cho những thứ cũng là “sử liệu” nhưng phục vụ được ý đồ chính trị, chẳng hạn như chi tiết về cái gọi là “Công thư Phạm Văn Đồng” hay “Hội Nghị Thành Đô”, v.v., mặc cho đây là những sử liệu còn nguyên vẹn, mới tinh, có nội dung hoàn toàn dễ hiểu. Tất nhiên nội hàm của Công Thư Phạm Văn Đồng và Hội Nghị Thành Đô mang tính sách lược chiến lược quốc gia nhằm (a) dùng làm chiến thuật hóa giải một tình thế chiến lược và (b) xuất chiêu “cao tay ấn” nhằm thực hiện một mưu trí “thả bóng, bắt mồi” nhằm đưa kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc vào bẫy rập ngoại giao trong thiên niên kỷ mới.

Nhưng chính bởi nội hàm không bao giờ được “bô bô cái miệng” nói về như trường hợp “giả vương” trong sử liệu về Vua Quang Trung nên chẳng mấy ai hiểu thấu đáo, mà đám chống Việt có cớ để tận dụng, để “nghiên cứu” phục vụ ý đồ chính trị nhằm bôi nhọ cho bằng được Cộng Sản Việt Nam bằng những danh xưng như “bán nước” hay “làm tôi mọi cho Tàu” mà nếu dưới thời Vua Quang Trung hay bất kỳ vị vua nào khác trong toàn bộ lịch sử Việt Nam thì những kẻ “nghiên cứu Sử” kiểu ấy trong đám chống Việt đương nhiên không bao giờ thoát được cơn thịnh nộ của nhà vua.

Thói sử dụng sử liệu phục vụ cho mưu đồ chính trị gần đây còn được thể hiện bởi những kẻ thậm chí không cần ngay cả tấm áo khoác của “nhà nghiên cứu Sử”, như bởi đám người đang bối rối cùng đường mạt vận không biết bấu víu vào đâu đã cùng tung hô Ngô Đình Diệm một cách đáng thương hại, khiến các sử gia Âu Tây chuyên nghiên cứu về Ngô Đình Diệm cũng phải sửng sốt ngạc nhiên.

C) Lộng Giả Thành Chơn

Một gã nọ có background ngành Luật, thuộc đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh, có lần đã “chất vấn” trực tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại nghị trường, yêu cầu Thủ Tướng cho biết kế sách đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông.

Gã ngu ngốc đó không biết rằng (a) trên toàn thế giới nghị viện không bao giờ có bất kỳ một nghị sĩ nào đặt câu hỏi tương tự, rằng (b) trên toàn thế giới không bao giờ có bất kỳ nguyên thủ nào mở miệng bô bô nói về sách lược quốc gia thực sự trong đối đầu với một siêu cường, và rằng (c) sách lược thực sự trong đối đầu với Trung Quốc không bao giờ là chi tiết được đem ra công khai công bố bên ngoài ngưỡng cửa cấm điện hoàng gia hay phòng họp tối mật của Bộ Chính Trị.

Đặt câu hỏi mà không biết câu hỏi ấy sẽ không bao giờ có câu trả lời, mà vẫn đặt câu hỏi, thì hoặc (a) y là kẻ ngốc thật sự hoặc (b) y nghĩ Thủ Tướng là kẻ đại ngu.

Ở đây chỉ nhằm nêu lên một sự thật rằng sách lược 5000 năm nay của Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, gồm

1) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bọn Tàu

2) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bất kỳ quyền lực nào, bất kể đó là quyền lực cứng của vũ khí tối tân hay quyền lực mềm của triết thuyết hay văn hóa hoặc tài chính. Quyền lực cứng đã muôn đời thất bại tại Việt Nam mà kẻ bại trận gần đây nhất là bọn Tàu trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc cùng với bọn theo đóm ăn tàn của chúng là Campuchia trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Tây Nam. Quyền lực mềm cũng nếm mùi thất bại mà rõ nét nhất là tại Việt Nam Mác-Lê Nin chỉ là một hệ thống nghiên cứu mang tính cơ sở triết học hiện đại nên Việt Nam không trở thành một xứ miền của giáo điều, thậm chí còn sáng tạo thành công mô hình đầy sáng tạo “nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa” có sự điều tiết cần thiết của Nhà Nước trong giai đoạn phôi thai.

3) Sách lược quốc gia đối với Tàu luôn được chủ động đề ra bởi các lãnh đạo, chỉ được thể hiện khi có nạn ngoại xâm, không bao giờ là thứ để ghi rõ trong sử sách để tránh bị tiết lộ, không bao giờ được nói thật trong các phát ngôn chính thức của lãnh đạo, cũng như không bao giờ được đem ra hỏi ý kiến toàn dân. Hội Nghị Diên Hồng không bao giờ là để hỏi ý kiến người dân xem triều đình nên hòa hay nên chiến, vì chưa từng ai đưa ra được sử liệu về (a) thể thức lấy ý kiến bằng cách giơ tay hay bằng viết phiếu, (b) mẫu của phiếu – nếu là bỏ phiếu bằng cách viết phiếu, (c) danh sách các “bô lão”, và (d) kết quả bỏ phiếu.

Đem cái sự việc giông giống như một sự nhún nhường “quỳ gối” của giới lãnh đạo Việt Nam để bô bô về cái gọi là “bán nước”, ấy là mưu kế “lộng giả thành chơn” của bọn gian tà gian trá gian manh gian xảo gian hùng.

Tóm lại, tất cả những ai nói Cộng sản Việt Nam “quỳ gối” trước Tàu chính là những kẻ “quỳ đầu” trước bất kỳ ai chống Việt kể cả khi kẻ chống Việt chính là Tàu.

Và tóm lại, đây là phần giữa bài được lập lại làm phần kết cho bài viết này:

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự tự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.   

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thế Nào Là Sử Gia

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc!

Đả Đảo Tập Cận Bình Xi Jinping!

Sát Tàu

900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975

Trăm Trứng

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Ê Bồ! Sao Muốn Về?

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.