Monthly Archives: December 2016

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

30-12-2016

Dân Chủ” là từ ngữ của người Việt Thế Kỷ XIX có lẽ nhại theo tiếng Tàu, do người Tàu cố gắng diễn nghĩa – không phải tìm từ có nghĩa tương đương – từ chữ Democracy trong tiếng Âu Mỹ, dựa vào sự hân hoan mừng rỡ của dân Âu Mỹ khi họ là “dân đen” nhưng được đích thân đi bỏ phiếu bầu lãnh đạo thay vì lãnh đạo tự nhiên lên ngồi trên đầu mình có quyền chém đầu mình nhưng toàn hoặc (a) do y tự làm loạn, hoặc (b) do y tự rước voi về dày mã tổ để được lên ngôi chẳng khác nào bản thân để đầu mình dưới mông to con voi bự còn bản thân đặt mông lên đầu con voi nhỏ mà mình gọi là dân tộc, hoặc (c) do y được “Thiên Triều” Tàu hay Pháp hay Mỹ chọn từ đám tay sai “phong Vương”, hoặc (d) do y automatically tự động lên ngôi vì được vua cha truyền ngọc tỷ.

“Thiên triều” Tàu tự dưng làm phước bỏ công sức đánh cho Việt tan nát cả ngàn năm để dạy cho Việt biết “tau là chủ” (đọc trại đi thành “Tàu là chủ”) còn “nị là dân“.

“Thiên triều” Pháp tự dưng từ bi bỏ công sức vừa đánh vừa nhét thuốc phiện vào mồm Việt tan nát cả trăm năm để dạy cho Việt biết một sự thật huy hoàng lạ thường là Pháp Lang Sa có thể chế gọi là “cộng hòa dân chủ” vi diệu mà nhờ nó Pháp có sức mạnh xâm chiếm tàn sát tàn phá tàn diệt biết bao Nhà Nước Bảo Hoàng tức quân chủ phong kiến phi dân chủ trong đó có Việt.

“Thiên triều” Mỹ thấy Việt dám lếu láo học đòi Pháp lập thành “dân chủ cộng hòa” bèn bỏ công sức dạy cho Miền Nam tập trung duy chỉ vào “cộng hòa” và “thế giới tự do” thôi để đánh cho sập “dân chủ” Miền Bắc, nhờ vậy mà hầu hết các nhân sĩ trí thức Miền Nam ghét “dân chủ” chỉ thích “tự do”, còn lẻ tẻ vài vị nào ưa  “dân chủ” thì cứ việc vào bưng biền và hễ bị “cộng hòa” tóm được thì bị “cộng hòa” nhét đầu họ vô máy chém một cách “tự do”.

Đến khi Miền Bắc cộng sản đánh cho cộng hòa Mỹ bỏ của chạy lấy người và xóa luôn cộng hòa Việt khỏi bản đồ Atlas, phe thua trận bắt đầu gỡ gạc bằng một cuộc chiến tranh giành giật ngôn từ.

Thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo rằng cộng sản làm quái gì có dân chủ, vì dân chủ là tài sản của tự do mờ!.

Từ đó suy ra: thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo cộng sản không có tự do, chớ có dân chủ, mà chỉ có nô dịch dân tộc để làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, nên nhờ Liên Xô với Trung Quốc xía vô thành “hai đánh một chẳng chột cũng què” khiến Mỹ tạm thời rút lui chiến lược chớ làm quái gì có cái gọi là “chiến thắng” của dân chủ Bắc Việt, nghĩa là chẳng qua bố mẹ Mỹ của Nam Việt từ bi không ném bom nguyên tử tiêu diệt Bắc Việt đó thôi. Tất nhiên, họ không ngu mà tự đặt câu hỏi rằng tại sao cái tự do dân chủ mà họ tuyên bố chủ quyền nhờ đó mà xâm chiếm thuộc địa vơ vét tài nguyên về trở thành siêu cường quốc lại bị Việt nhà quê phản tự do phản dân chủ đánh cho tan nát làm sụp toàn bộ các đế quốc thực dân trên toàn thế giới, đên độ đế quốc thực dân Anh phải vội vàng lập nên Khối Liên Hiệp Anh của các quốc gia “độc lập” theo thể chế cộng hòa tự do nhờ đó hết hồn hết vía thoát khỏi nạn mất sạch sành sanh các thuộc địa. Còn nếu bảo tại có Liên Xô với Trung Quốc, thì lẽ nào phe “thế giới tự do” hùng hậu tập trung vào Nam Việt để rồi thua Liên Xô và Trung Quốc ngay cả khi hai anh khổng lồ này chẳng hề cử đại binh đến Bắc Việt.

Và khi Việt tuyên bố quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì họ lồng lộn rằng thì là mà cộng hòa có đội chung trời với xã hội chủ nghĩa bao giờ đâu mà dám bạy trò bày vẽ bày biện gán ghép linh tinh!

Còn khi Việt tuyên bố tiến hành sửa Hiến Pháp thì họ đột nhiên chứng tỏ họ yêu “dân chủ”, kêu gào đòi Việt hãy lấy quốc hiệu như cũ, bất kể cái quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũ kỹ ấy chính là quốc hiệu duy nhất của nhân loại đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào 30-4-1975.

Tất nhiên, bài này không cần phải giải thích thêm rằng

(a) dân chủ là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng, và là thuộc từ riêng của “phe xã hội chủ nghĩa” tức “phe thân cộng” nghĩa là “phe” cộng sản đa số có chữ “dân chủ” trong quốc hiệu để dễ nhận diện với nhau,

(b) chủ nghĩa xã hội socialism đồng nghĩa với “chủ nghĩa yêu nước trọng dân hiện đại” Âu Mỹ tương tự như một thứ “tân chủ nghĩa dân túy hiện thực” mà các chính khách Âu Mỹ hiện nay hay tự nhận mình là socialist trong các luận điểm dân túy trên chính trường,

(c) chưa bao giờ có “chủ nghĩa tự do” mà “tự do” cũng không là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng hay là thuộc từ riêng của “phe thế giới tự do” tức “phe chống cộng” cả – nghĩa là phe “thế giới tự do” không nước nào ngu đần đến mức xài chữ “tự do” trong quốc hiệu của họ vì họ bản chất là độc tài rất kiêng sợ dân chúng họ tự do,

(d) mà như thế thì chủ nghĩa xã hội vừa có sẵn nội hàm dân chủ vừa mang tính thời đại thời thượng tốt đẹp nên Việt chẳng dại gì từ bỏ danh xưng mà Mỹ thòm thèm song sĩ diện ngó lơ,

(e) mà như thế thì Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam vừa có tự do (trong chữ Cộng Hòa) vừa có dân chủ (trong chữ Xã Hội Chủ Nghĩa) nên có uy thế thượng phong đối với cả hai phe như thực tế chính trường thế giới đang minh chứng.

Tặc Chủ” là từ ngữ do một người Việt Thế Kỷ XXI tạo nên dựa vào nền dân chủ Hoa Kỳ.

Mọi sự liên quan đến nền dân chủ Hoa Kỳ đều trông có vẻ ổn suốt mấy trăm năm qua cho đến khi quý ông thanh lịch Donald Trump thắng cử Tổng Thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 2016. Khắp nơi thóa mạ Donald Trump. Khắp nơi “biểu tình” chống Donald Trump. Khắp nơi nhao nhao lên án thể chế gián tiếp thông qua “đại cử tri”. Khắp nơi ồn ào về tầm vóc quan trọng của “phiếu phổ thông của người dân”. Khắp nơi ào ạt kích động ly khai đòi tách khỏi USA để lập quốc. Khắp nơi khuấy động việc bỏ USA sang nước khác. Và khắp nơi hý hửng trước tiến trình đòi kiểm lại phiếu bầu cử. Tất cả chứng minh:

1) Mỹ chưa bao giờ có dân chủ và democracy có ý nghĩa hoàn  toàn khác với từ điển của nhân loại mà ngay cả Mỹ thường tận dụng ý nghĩa từ điển để tấn công kẻ thù.

2) Dân chủ Democracy tại Mỹ có nghĩa là: người dân có quyền làm chủ về chính trị bằng cách bỏ phiếu bầu cho một trong hai ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa hoặc Đảng Dân Chủ với mặc định rằng hai ứng cử viên đó đều là chính khách chuyên nghiệp xuất thân ngành Luật và đang “làm chính trị” tức làm nghị sĩ hoặc “tổng thống cấp tiểu bang “ tức thống đốc.

3) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy của Phương Tây, và do đó hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy tức nền dân chủ đặc thù của từng quốc gia đặc thù trong đó có Việt Nam.

4) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn phản dân chủ trên thang bậc ngữ nghĩa dân chủ đại đồng.

5) Như vậy khi Mỹ đem nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy làm “nền dân chủ chung” để chống lại các quốc gia nào không theo cái “chung” đó, thì đột nhiên kể từ 11-2016 Mỹ mặc nhiên thừa nhận nền dân chủ Mỹ hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy (vì hệ thống quốc gia “Tây Phương” không ai dân chủ một cách “ấn định” độc tài dữ dội như Mỹ) và cũng hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy (vì Mỹ chống mọi quốc gia này trong đó có Việt Nam).

6) Như vậy, nền dân chủ Hoa Kỳ luôn bình ổn, bất kỳ ai trong hai ứng cử viên trở thành tổng thống cũng được vì Cộng Hòa và Dân Chủ là đảng “song sinh” tức twin party, nghĩa là theo thỏa thuận rằng tổng thống sau không được đổi thay chính sách hay cam kết của tổng thống trước đó để không đe dọa quyền lợi của giới đại tư bản, mà sự thay đổi chỉ được phép tiến hành nếu đương kim tổng thống gây ra sự cố như trong trường hợp các tổng thống liên tục thất bại không tiêu diệt được Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì tổng thống sau phải tuyên bố rút quân Mỹ khỏi Việt Nam và vất bỏ Việt Nam Cộng Hòa vào sọt rác lịch sử.

7) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ bị đe dọa trước sự mất ngôi tổng thống vào tay kẻ ngoại đạo như Donald Trump, bọn chính trị gia thậm chí dám nghi ngờ tính hiệu quả của mô thức đại cử tri, dám phát ngôn xem trọng cái phiếu phổ thông của nhân dân trong khi chính Hiến Pháp Mỹ và chính bọn chúng chưa hề xem trọng phiếu phổ thông ấy nhiều trăm năm qua, đang ra sức làm tổn hại đến uy danh của tân tổng thống Donald Trump bằng cách lịnh cho Barack Obama nhanh chóng phá thối bằng cách cho ra những quyết định gây hấn với Israel và Nga, v.v., nhằm đặt Donald Trump vào sự đã rồi, và biết đâu sẽ làm tổn hại đến sinh mạng của Donald Trump chỉ vì người dân dám dồn phiếu cho người mà Đảng Cộng Hòa sở dĩ phải chọn làm ứng cử viên vì (a) Đảng không còn ai khác, (b) đương nhiên tổng thống sẽ là Hillary Clinton đúng theo kế hoạch, và (c) Donald Trump sẽ trở thành một tên hề giúp minh chứng rằng nhân dân Mỹ chỉ tin cậy các chính trị gia tinh hoa chuyên nghiệp mà thôi.

8) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ không giống ai và không ai giống, sẽ không bất kỳ ai ở Mỹ có quyền nói về các phạm trù kỳ vĩ như tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền của bất kỳ nước nào khác – ngay cả xứ sở Triều Tiên.

Do tất cả 8 lý do trên, nền dân chủ Hoa Kỳ mang tính cách và bản chất của một lề luật đảng cướp: tất cả phải là của “ta”, “ta” tức là thành phần chính khách tinh hoa của Dân Chủ hay Cộng Hòa, và nhân dân chỉ có quyền làm chủ đất nước khi theo lịnh “ta” trao lá phiếu bầu cho “ta” và chỉ cho “ta”..

Vì tính cách và bản chất đảng cướp trên, nền dân chủ Mỹ là nền dân chủ đạo tặc.

Người dân Mỹ không làm chủ nhân đất nước Hoa Kỳ. Chỉ có bọn đạo tặc đã và đang làm chủ của cái nền dân chủ ấy.

Vì vậy, Mỹ chỉ có nền tặc chủ.

Tiếng Mỹ của nền tặc chủ là Demopiracy.

Còn Democracy Mỹ như họ thường rêu rao hoặc lầm tưởng là lý tưởng kiểu mẫu cho toàn nhân loại thì họ đã tự lột mặt nạ Democracy trước Donald Trump và ném vào trong vật dụng tiện ích dưới gầm bàn này:

demopiracy

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Ghi chú/Note:

Demopiracy do tác giả bài viết này tạo nên. Không áp dụng tác quyền.

The coinage of Demopiracy is by the author of this article and for absolutely free use worldwide.

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People November 14, 2016

Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền March 11, 2016

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ March 24, 2014

Chính Trị January 14, 2016

Advertisements

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân

Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội

dress 

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

27-12-2016

dress-2

A) Báo Chí Và Giới Tinh Hoa Việt Nam

Chính quyền Hà Nội vừa ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử dành cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước thuộc thành phố Hà Nội.

Ngay lập tức, đã có những phản xạ trên một số tờ báo thuộc truyền thông đại chúng chính thống cho thấy những phản xạ mang tính vấn nạn có thể liệt kê như sau.

1- Phản Xạ Chống Đối

Gọi là chống đối vì bất cứ khi nào cơ quan chức năng của Chính Phủ Việt Nam như một Bộ nào đó chẳng hạn, hoặc cơ quan chức năng của một địa phương lớn, ban hành một quy định nào đó là ngay lập tức các câu hỏi được báo chí nêu lên theo kiểu chõi lại thay vì chung sức giải thích cho người dân hoặc chí ít làm tỏa lan chủ trương chính sách tân kỳ mà bổn phận báo chí cùng các “viện” lẽ ra đã phải biết đó là nhiệm vụ của riêng mình mà bản thân mình đã ngữa tay nhận tiền lương tháng hậu hĩ để thực hiện mỗi việc giản đơn ấy. Đặc biệt dưới tác động của độc tố mang tên tự do dân chủ nhân quyền phiên bản Mỹ Âu BSE (bovine spongiform encephalopathy) thì kiểu nêu tương tự như “…liệu có vi phạm quyền tự do cá nhân của mỗi công dân?” là thứ mang bản chất của sự xách động chống đối cực kỳ quen thuộc của báo chí chính thống Việt Nam nhằm tạo nên một phản ứng tự nhiên nơi độc giả mỗi khi nghe nói có quy định bất kỳ, dẫn đến phản ứng chống đối tự nhiên nơi độc giả đối với Chính phủ và chế độ như một tập thể chỉ biết sản sinh những quy định hay luật lệ thuộc hạng tồi, kém, vất đi.

2- Phản Xạ Công Thức

Gọi là công thức vì ngay lập tức phóng viên sẽ chạy đến – hoặc phone đến – những vị mà tên của họ đã sẵn có trong danh bạ “việc nào thì phỏng vấn ai” chẳng hạn luât sư nào, nhà sử học nào, nhà giáo nào, nhà văn nào, v.v., đến độ độc giả thì phát ngấy với những cái tên nhàm chán của giới tinh hoa vô dụng được báo chí tinh chọn từ số người tinh quái nhất song kém tinh túy nhất, nhưng tờ báo thì phát phì vì có bài vỡ lấp đầy chỗ trống. Thậm chí có nhiều lúc phỏng vấn bất kỳ ai miễn “cùng phe” nên hoàn toàn không có chút chất lượng nào trong các mẫu đưa tin có kèm phỏng vấn.

3- Phản Xạ Kiến Thức Zero

Thay vì cung cấp cho độc giả những lý giải sâu sắc, báo chí chỉ giáng thêm những câu hỏi, và bồi thêm những câu trả lời của những đấng tinh hoa mà những câu trả lời ấy hòa âm điền dã với câu hỏi của báo chí khiến câu hỏi – nếu có, hoặc bị báo chí khuấy động lên thành có – của độc giả từ giản đơn trở thành vấn đề. Sự việc của Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội vốn là điều cực kỳ bình thường của thế giới tư bản văn minh hiện đại lại trở thành lỗ hổng kiến thức của báo chí và của giới tinh hoa nào chấp nhận trả lời phỏng vấn của báo chí ấy theo hướng mà báo chí uốn nắn, biến cả báo chí cùng cơ quan của giới tinh hoa “Viện” Việt trở thành loại tầm thường không có kiến thức – tức kiến thức bằng không tức kiến thức zero – vì tất cả các cơ quan từ nhà nước đến công ty dù lớn dù nhỏ của tư nhân trong thế giới tư bản văn minh toàn cầu đều có Bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt để nâng tôn giá trị của chính mình và có thêm công cụ pháp lý trong đối nội và đối ngoại.

Sự thiếu vắng của các Bộ Quy Tắc Ứng Xử – vốn tương đương với cái gọi là Bộ Quy Tắc Đạo Đức Làm Việc – ở các cơ quan báo chí chính thống Việt Nam đương nhiên giúp lý giải cho (a) việc vì sao họ không hề đánh giá cao cái Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính Quyền Hà Nội, (b) vì sao các cơ quan truyền thông này vẫn chưa thể sánh vai với các cơ quan truyền thông Âu Mỹ về uy tín và “đạo đức”, và (c) sự vô đạo đức và/hoặc bất chuyên nghiệp và/hoặc vô chuyên môn của các nhân sự của họ từ tổng biên tập cho đến phóng viên lại quá hiển nhiên lồ lộ trơ trẻn đến trần truồng.

B) Thế Nào Là Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct

Khi nói nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt, có nghĩa là có sự phân định rạch ròi rõ ràng y như đối với “miễn thuế” và “thuế suất bằng không” vì bản thân hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau trong hoạt động xuất nhập khẩu, không dính dáng với nhau – nghĩa là ngay cả khi có sự thoáng cực kỳ thì vẫn phải ghi rõ nội dung chi tiết của và lý do cho cái sự thoáng cực kỳ ấy trong bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục của đơn vị, cơ quan, công ty, tổ chức.

Thế thì nếu lãnh đạo báo chí chính thống của Việt Nam và các vị ở “viện” của Việt Nam vốn đều đi nước ngoài như đi chợ Đồng Xuân, có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có bằng cấp nước ngoài, lại không biết gì về Code of Conduct và Dress Code của ngôi trường mà các vị ắt đã có đến “nhận” bằng cấp, các cơ quan hàn lâm mà quý vị ắt đã có đến họp hành “công vụ” bằng tiền thuế của nhân dân, nên phát biểu linh tinh trật lấc về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội thì ắt các vị ấy thuộc một hoặc hơn một những loại sau: (a) học viên mất nết vô kỹ luật đi chơi nhiều hơn đến lớp nhưng chưa từng bị kỹ luật vì học viện ngoại chuyên cấp văn bằng “hữu nghị” cho “chức sắc tiềm năng làm lãnh đạo” của Việt Nam, (b) học viên đút đầu vào học viện đầu hàng chẳng thuộc danh mục các học viện/đại học hàng đầu, (c) học viên học quá giỏi  nên chỉ được chui đầu vào thực tập tại cơ sở hạng tai tiếng đầu hàng tức không thuộc danh mục các cơ quan/công ty danh tiếng hàng đầu.

Đã không đủ khôn ngoan che dấu sự thấp kém của mình, thay vì ngậm tăm đừng phê phán gì về “Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội” lại phô trương cái thấp kém đó trên mặt báo khiến di họa cho giới trẻ Việt Nam, các vị đã buộc tác giả bài viết này phải cứu nguy xã tắc bằng cách làm phiền những bậc thức giả khi diễn giải dài dòng các vấn đề cực kỳ sơ đẳng sau mà tất cả các bậc thức giả thực thụ của giới tinh hoa thực thụ đều đã tường tỏ vì đã thực sự “có đi làm việc đàng hoàng”, trong khi tất cả những ai đã thực sự “muốn đi làm việc đàng hoàng” đều đã tỏ tường từ lúc còn ở nhà trường.

1- Nội Dung Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct ở Âu Mỹ

Tại mỗi công ty/cơ quan/tổ chức, Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức Code of Conduct (còn được gọi là Code of Ethics hoặc Ethical Code, được phổ biến dưới tên gọi Code of Business Conduct hoặc Governance & Ethics) là bộ quy tắc phải có, không thể tách rời khỏi hoạt động của công ty/cơ quan/tổ chức, nhằm nêu bật các giá trị, đạo đức làm việc, mục tiêu, trách nhiệm, và danh tiếng của cơ quan, xây dựng nên văn hóa cơ quan, cũng như phản ảnh phong thái làm việc của công ty/cơ quan/tổ chức ấy.

Các công ty/cơ quan/tổ chức khi đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử là nhằm để nhân viên/viên chức/công chức quán triệt các kỳ vọng của lãnh đạo đối với tập thể nhân lực, cùng những chuẫn mực về phong cách làm việc mà tập thể phải bảo đảm đạt được trong làm việc hàng ngày tại công ty/cơ quan/tổ chức và tại bất kỳ đâu dưới danh nghĩa nhân lực của công ty/cơ quan/tổ chức, đồng thời cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn phải xử trí ra sao trong những tình huống đạo đức nhất định.

Việc tham khảo các Code of Conduct của các công ty quá lớn như Roche, Kraft, Verizon, Colgate-Palmolive, Baylor, Johnson&Johnson, Boeing, hoặc của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tuân thủ ICoCA), và của bất kỳ công ty quá nhỏ nào của Âu Mỹ, là cần thiết cho các lãnh đạo cơ quan/doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nào ở Việt Nam chưa từng nhận biết về tầm quan trọng đối nội và đối ngoại của một Code of Conduct (không thể được đối tác nước ngoài xem trọng nếu bản thân đơn vị thiếu vắng Code of Conduct minh định chi tiết trên trang web và trong brochure của đơn vị) để hiểu biết thêm về quan niệm chung và khác của các công ty/cơ quan/tổ chức ấy, từ đó nắm bắt được những yếu tố trọng tâm nào được đưa ra làm kim chỉ nam cho lĩnh vực hoạt động và dịch vụ, tính liêm chính của từng cá nhân, sự liêm chính của công ty/cơ quan/tổ chức, quy trình tuyển dụng, tài sản công ty, tinh thần trách nhiệm, những tiêu chuẩn hành xử thích hợp đối với cơ quan/đối tác của cơ quan/khách hàng của cơ quan/các nhân viên khác của cơ quan, và sự tuân thủ toàn vẹn với ý thức rằng các hành xử khác đi sẽ ảnh hưởng không những đến hình ảnh cơ quan mà còn cả đến sự nghiệp của nhân viên tại cơ quan, toát lên từ Code of Conduct còn mạnh mẽ hơn những lời quảng cáo phóng đại đầy tốn kém trên truyền thông.

Các Code of Conduct có khi chỉ dài 1 trang giấy khổ A4, có khi đến gần 20 trang, nội dung có thể nêu cả – song không chỉ giới hạn bởi – các vấn đề như quan hệ trung thực với nhà cơ quan nhà nước, tôn trọng môi trường, minh bạch sổ sách và báo cáo,  không đem bí mật kinh doanh nội bộ ra giao dịch với bên ngoài, quan hệ với đồng nghiệp/công ty/khách hàng/cơ quan Nhà Nước/luật pháp/xã hội. Code of Conduct còn quy định cách ứng xử của cá nhân các lãnh đạo cơ quan đối với nhân sự cơ quan và các nội dung khác tương tự như những gì nhân viên phải tuân thủ, khiến chặn ngăn các hành vi không phù hợp và buộc lãnh đạo phải chịu trách nhiệm quản lý nhân sự tuân thủ Code of Conduct. Khi công ty/cơ quan/tổ chức phát triển mạnh, Quy Tắc Ứng Xử tức Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc của công ty/cơ quan/tổ chức có thể được được lồng ghép vào trong các thông điệp hoành tráng về sứ mệnh và giá trị của mình.

2- Vấn Đề Nước Ngoài

Nhân viên khi được tuyển dụng sẽ được yêu cầu nghiên cứu Code of Conduct của cơ quan và được yêu cầu ký tên xác nhận đã đọc và cam kết tuân thủ, biến chữ ký đó thành  văn bản thỏa thuận được trữ lưu trong hồ sơ nhân sự mang tính ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động, dựa vào đó các hình thức kỹ luật và/hoặc các biện pháp kiện tụng ra tòa án được tiến hành.

3- Vấn Nạn Việt Nam

Sự thiếu vắng các Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức không có bất kỳ sự cương tỏa nào minh bạch hóa minh định hóa trong nội bộ các công ty/cơ quan/tổ chức ở Việt Nam, đã làm phát sinh 7 vấn nạn thường thấy như (a) tác phong phục vụ khách hàng kiểu ta-là-chúa còn khách-hàng-là-hành-khất, (b) khẩu ngữ trong phục vụ khách hàng kiểu ban-ơn-mưa-móc hay thí-cô-hồn, (c) khẩu ngữ trong sinh hoạt nội bộ như bác/cháu/em/anh Hai/chị Tư luông tuồng phi chuyên nghiệp, (d) tác phong làm việc gia-đình-trong-công-sở, (e) nhận thức xem danh tiếng của công ty/cơ quan/tổ chức là vấn đề vĩ mô của công ty/cơ quan/tổ chức mà mình không phải là ốc vít trong guồng máy ấy, (f) tính quan liêu, (g) sự bất minh/bất liêm/bất chính/vô văn hóa đơn vị/vô giá trị cơ quan ở từ cấp lãnh đạo cho đến nhân viên.

Với tính cách trên-dưới của quyền lực quản trị cơ quan/doanh nghiệp Nhà Nước/tổ chức luôn kèm theo quyền lực chính trị – nghĩa là chỉ có đảng viên cấp cao mới được bổ nhiệm quản trị cơ quan/công ty/tổ chức – việc có một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trở thành điều bất khả thi do giới lãnh đạo – và giới “con ông cháu cha” – không chịu để mình bị kềm tỏa bởi cái gọi là Bộ Quy Tắc đầy minh bạch và quá cụ thể ấy.

Vấn nạn còn ở chỗ:

a) Ngay cả truyền thông chính thống lại tự hỏi không rõ Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội có “vi phạm quyền tự do cá nhân”, mà không hiểu rằng trong thế giới văn minh Âu Mỹ thì cái quyền tự do cá nhân chỉ được thực thi ở trong nhà riêng, trong cộng đồng riêng, và khi chẳng đang làm việc không riêng. Làm việc tại cơ quan là làm việc riêng ư? Đi bộ ngoài đường là sinh hoạt riêng trong cộng đồng riêng nên muốn ăn mặc sao cũng được mà không cần đếm xỉa đến người xung quanh ư? Ngay cả người xứ “mọi” cũng không ai phát biểu như truyền thông chính thống Việt Nam đối với Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội.

b) Trong khi đó một tên giáo sư nguyên viện trưởng một viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại khuyên nên xem Bộ Quy Tắc là “phần cứng” để “ai có điều kiện, có thể theo được thì cứ theo, còn nếu ai vì lý do nào đó mà không theo được, thì có thể dùng những quy tắc ấy để tham khảo”. Giống như một nhà sử học Việt Nam vừa không bao giờ có kiến thức về thế giới sử và các ngành sử đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển môn Sử ở Việt Nam và tỏa lan môn Sử ấy ra khắp bốn bể năm châu, viện nghiên cứu văn hóa Việt ắt cũng vừa không bao giờ có kiến thức về tương quan văn hóa thế giới và các ngành văn hóa đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển văn hóa Việt Nam và tỏa lan văn hóa Việt Nam ấy ra khắp năm châu bốn bể.

Quy tắc là để hoặc tuân theo hoặc bị trừng phạt nếu vi phạm (kỹ luật, sa thải hoặc tù tội).

Quy tắc không là thứ chỉ để tham khảo mà là thứ phải thuộc nằm lòng để tồn tại và phát triển cá nhân.

Quy tắc là sức mạnh của đơn vị.

Ông nguyên viện trưởng đã làm viện trưởng vì đi ngang đi tắt vô bài bản, bất chuyên nghiệp, kiểu đang áp dụng ở Ban Quản Lý Tây Nam Bộ nên ăn nói nghô nghê thất học về “phần cứng”.

C) Thế Nào Là Quy Định Trang Phục Dress Code

1- Khách Hàng:

Một trong những nội dung của bất kỳ Bộ Quy Tắc Ứng Xử nào là nâng lên cao nhất vị trí của “khách hàng” như một thứ đạo đức cao nhất của làm việc (business = làm việc, kinh doanh, v.v.).

Khách hàng bao gồm: khách hàng theo nghĩa đen và khách hàng theo nghĩa bóng.

Theo nghĩa đen, khách hàng là bất kỳ ai sử dụng dịch vụ của mình, cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho mình, mua hàng hóa của mình.

Theo nghĩa bóng, khách hàng là bất kỳ ai tìm đến mình, và với ý nghĩa này thì lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình cũng đều là khách hàng của mình.

Khách hàng là vua. Vì thế, khi tiếp khách hàng thì mình phải cúc cung tận tụy y như nhau dù đó là lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình, nhân viên cấp dưới của mình, hay khách đến từ bên ngoài.

Do khách hàng là vua, sự cúc cung tận tụy của mình là chính, và trang phục của mình là quan trọng. Đó là lý do Bộ Quy Tắc Ứng Xử – nếu không có Bản Quy Định riêng và rời về trang phục gọi là Dress Code – sẽ kèm theo các nội dung liên quan đến trang phục.

2) Đừng Đùa Với Lửa Dress Code:

Vào Tháng 7 năm nay, tại Anh Quốc, biên tập viên Lauren Tuck của Yahoo! Style có đưa tin về việc một nhóm nữ sinh viên thực tập bị đuổi khỏi nơi thực tập vì vi phạm Dress Code. Họ bị triệu tập vào phòng nhân sự, được yêu cầu phải nộp lại ngay thẻ ra vào (ID badge), thu dọn hết đồ đạc cá nhân, rồi rời khỏi khuôn viên công ty ngay lập tức.

Khi các nữ sinh này biện minh rằng họ đâu có được phân công tiếp khách hàng nên sao lại bó buộc phải tuân theo Dress Code, và sở dĩ họ mang dép đi làm dù biết Dress Code cấm, là vì họ thấy có một bà nhân viên cũng đi dép. Câu trả lời của lãnh đạo dành cho họ là: (a) nếu hiểu “khách hàng” chỉ là người từ bên ngoài đến thì rõ ràng các nữ sinh này không chuyên nghiệp và việc đào tạo ở đại học có khiếm khuyết, và (b) bà nhân viên ấy là cựu chiến binh bị mất một chân khi phục vụ quân đội Anh ở nước ngoài nên được ưu tiên mang bất kỳ loại giày dép nào có thể giúp người nhân viên khuyết tật ấy dễ dàng công tác hiệu quả nhất.

Sau bài blog trên Yahoo, nhiều người đã “comment” rằng công ty ấy đã xử lý thật tuyệt hảo (“the company handled it perfectly”), rằng cuộc sống thực sẽ có nhiều tàn khốc hơn vậy mà không giữ được mình theo các quy định giản đơn đối với trang phục thì phải bị loại thôi, v.v.

Không khuyết tật, không theo tôn giáo đặc thù, dứt khoát đừng hòng giỡn mặt với Quy Định Trang Phục Dress Code của nơi làm việc (“You better not be slacking with the dress code”).

3- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: định nghĩa rõ các loại trang phục

Từ sau những năm 1990, nhân viên ở Mỹ không còn được yêu cầu mặc trang phục trang trọng (formal attire) khi đến cơ quan làm việc, một phần do biến đổi khí hậu làm những tháng hè thêm oi bức, một phần do phát sinh những ngành nghề như công nghệ thông tin (mà sự giao tiếp với khách hàng – nội bộ và từ bên ngoài – gần như bằng không, và yêu cầu công việc đòi hỏi nhân viên ngồi tại chổ với máy vi tính suốt thời gian) và thị trường chứng khoán vốn liên tục tranh giành sôi động trên thực địa, v.v. Song, như đã nói, đã là nơi làm việc chuyên nghiệp thì không thể thiếu Dress Code; do đó, các loại trang phục được định nghĩa rõ hơn để phân định giữa nội hàm cho phép và không cho phép, bất kể Dress Code có thoáng hay không, khiến một thứ “trang phục trang trọng formal attire” duy nhất của ngày trước thì nay được phân biệt thật chi tiết chẳng hạn đối với nam nhân viên thành:

a) Trang Phục Dạo Phố Dân Sự (Street Wear): như áo thun ba lổ bỏ ngoài, quần đến gối, dép hay sandal. Cấm mặc khi đi làm.

b) Trang Phục Thường Nhật Dân Sự (Casual): như áo thun tay ngắn bỏ trong, quần dài, giày thể thao. Cấm mặc khi đi làm.

c) Trang Phục Thường Nhật Nhân Viên (Mainstream Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, quần tây dài vải thường, giày tây thoải mái.

d) Trang Phục Công Sở Bình Thường (Business Casual): áo sơ mi dài tay màu sáng hoặc sọc, bỏ trong, không cravat, quần tây dài, áo khoác jacket (không cùng màu với quần), giày tây. Đây là nội dung được ghi rõ nhất vì “bình thường” nghĩa là “bình thường để làm việc chuyên nghiệp” chứ hoàn toàn không có nghĩa là “bình thường bình dân vui chơi” thành áo có hình hoa văn màu sắc lòe loẹt theo kiểu thổ dân Hawaii hoặc đi dép lê khi đứng báo cáo, thuyết trình.

e) Trang Phục Công Sở Tươm Tất (Smart Business Casual hoặc Executive Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, đeo cravat, quần tây dài sậm màu, giày tây đen có vớ đen. Trong các loại “thoải mái tại công sở” (tức “casual”) thì Smart Business Casual thường được giới lãnh đạo thích nam nhân viên mặc hơn là Business Casual ngay cả khi Business Casual được cho phép trong Dress Code.

f) Trang Phục Đối Ngoại (Business Formal hay Business Attire): sơ mi dài tay, bỏ trong, đeo cravat, nguyên bộ veston hai phần (áo “vét” jacket và quần cùng loại vải cùng màu) sậm màu, giày tây đen, nâu sậm hoặc xanh đen, vớ đen.

g) Trang Phục Họp Hội Đồng Lãnh Đạo (Boardroom Attire): sơ mi trắng dài tay, cravat thanh lịch, bộ veston ba phần (áo “vét” jacket, quần tây dài, và áo “ghi-lê” waitcoat), giày tây đen có vớ đen.

h) Trang Phục Dự Lễ Nghi (Black Tie): áo sơ mi tuxedo kết ren ở ngục, thắt nơ đen, nguyên bộ veston ba phần đen, giày tây đen có vớ đen.

Tất nhiên,

– Không nơi làm việc nào chấp nhận cho nhân viên mặc Street Wear hay Casual vào cơ quan làm việc;

– Dress Code tùy cơ quan sẽ ghi rõ cho nam nhân viên được mặc Business Casual (khá thoải mái hơn) hay phải là Smart Business Casual (vẫn thoải mái nhưng trang trọng hơn);

– Dress Code có thể không ghi gì về Business Formal vì đây là trang phục tự động mặc bởi cấp quản lý, tự động mặc bởi dân đối ngoại chuyên nghiệp, và tự động mặc bởi bất kỳ nhân viên nam nào nghiêm túc muốn được thăng tiến.

– Dress Code sẽ không ghi về Black Tie vì văn hóa Âu Mỹ được mặc định là tất cả người nam đều hiểu rằng khi thay mặt công ty dự một lễ nghi trọng đại họ phải mặc bộ Black Tie .

– Dress Code có thể quy định trang phục thế nào trong các ngày làm việc và trong các ngày cuối tuần (“dress down day”) nếu phải làm việc tại công ty. Trong những ngày “dress down day”, các trang phục jeans, giày các loại, đều được cho phép miễn phải lành lặn, nếu công việc không gồm tiếp khách, và phải luôn ghi nhớ rằng áo nữ kiểu “thun dây” (tank/halter tops) và trang phục thun bó chạy bộ jogging dù kiểu nam hay nữ đều không được phép mặc vào làm việc tại công ty trong ngày cuối tuần/ngày lễ nghĩ.

4- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: Những Vấn Đề Quan Tâm Chính

Dựa theo các chi tiết nổi bật nhất của Bản Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội, những điểm sau như nêu trong các Dress Code ở Âu Mỹ được liệt kê dưới đây cho độc giả Việt Nam tham khảo với lưu ý rằng “khách hàng luôn là vua”:

a- Xâm Mình / Xiên Xỏ Mình (Tattoos & Piercings)

Xâm mình hay xiên mình là một thứ văn hóa mang tính sở thích và tự do cá nhân. Không bao giờ có Dress Code nào lại nghiêm cấm nhân viên xâm mình/xiên mình. Tuy nhiên, Dress Code có quyền quy định nhân viên có xâm mình/xiên mình phải che dấu các xâm mình/xiên mình ấy trong giờ làm việc. Lý do đơn giản: khách hàng là vua, và có thể có những khách hàng không thiện cảm với người xâm mình/xiên mình, có thể có khách hàng có chấn động tâm lý đối với những hình xâm/kiểu xiên đặc thù, và có thể con nhỏ tháp tùng của khách hàng khiếp sợ trước những hình xâm/kiểu xiên đặc thù ấy.

b- Nước Hoa (Perfume & Cologne)

Việc sử dụng nước hoa là một vấn đề quan trọng vì hương nước hoa đậm đặc có thể gây dị ứng khứu giác của khách hàng hoặc đồng nghiệp. Tốt nhất là sử dụng với lượng thật ít hoặc không sử dụng. Các nhà tư vấn Âu Mỹ còn cảnh báo rằng nhà tuyển dụng có toàn quyền từ chối tuyển dụng những ứng viên nào sử dụng nước hoa đậm đặc – thậm chí loại bỏ luôn ứng viên nào sử dụng đúng loại nước hoa mà bạn gái của nhà tuyển dụng đã dùng song người bạn gái ấy đã bội phản gây sốc nơi nhà tuyển dụng ấy – mà không vi phạm pháp luật về “kỳ thị”.

Tương tự, việc trang điểm đậm cũng được khuyến cáo nên tránh vì “khách hàng là vua” chứ không phải “ta đây là thượng đế”.

c- Hở Hang (Too Revealing Skin)

Trong khi có sự thông cảm cho nhân viên làm việc mùa Hè nóng nức không cần phải mặc veston mà chỉ cần mặc áo sơ mi ngắn tay cài đủ khuy, Dress Code lại nghiêm ngặt đối với việc nhân viên ăn mặc hở hang (vai, ngực, bụng, đùi), mỏng manh.

d- Trang Sức (Bling)

Đối với đa số công ty, việc đeo trang sức không là điều không nên, nếu như số lượng   vừa phải.

e- Jeans

Dù được dùng trong một số nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp cao như trong các lao động chân tay và các ngành kỹ thuật cơ khí, jeans không bao giờ được chấp nhận đối với những nhân viên ở các chức danh lãnh đạo và đối với nhân viên nói chung tại nơi làm việc trong giờ làm việc. Nói chung, các Dress Code xem mặc trang phục jeans như một điều kiêng kỵ tại nơi làm việc.

f- Trang Phục

Nhăn nheo: Trang phục không được nhăn nheo do không được ủi thẳng thớm vì sẽ được các Dress Code xem như biểu hiện của sự kém chuyên nghiệp của nhân viên, gây ấn tượng nơi khách hàng rằng nhân viên đã không có khả năng giữ cân bằng giữa làm việc và cuộc sống riêng, không quản lý thời gian tốt, không quan tâm đến thẩm mỹ chung, không quan tâm đến cảm nhận của khách hàng, và không quan tâm đến cuộc sống bản thân.

Trang Trọng: Khi dự các buổi hội họp quan trọng, các hội nghị, những triển lãm thương mại, hay gặp gỡ khách hàng, hầu hết công ty nào cũng muốn nhân viên mặc trang phục Business Formal.

Mũ (Headwear): Dress Code có thể quy định nhân viên không được đội mũ tại văn phòng trong giờ làm việc như là fan hâm mộ một đội bóng nào đó. Tuy nhiên, nhân viên là tín đồ một tôn giáo nào đó như nam nhân viên theo Đạo Sikh của người Sikh Ấn Độ có quyền đội turban, hay nữ nhân viên Đạo Hồi có quyền đội hijab, al-amira, shayla, khimar, và chador. Tuy nhiên đối với nữ ứng viên theo Hồi Giáo mang mạng che mặt  niqab hay trùm đầu burkas thì cần có giải thích rõ về quy định nhận dạng trên thẻ ra vào nên không thể được chấp nhận để tránh các khiếu kiện kỳ thị tôn giáo chốn pháp đình.

Giày: Dress Code cũng có thể quy định về loại giày, màu giày, cho nam và cho nữ nhân viên khi làm việc tại cơ quan.

D) Giới Trẻ Việt Nam Khôn Ngoan

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa đọc đến đoạn “Đó là quyền tự do cá nhân của mỗi người. Dù là công chức Nhà nước thì họ cũng là công dân nên họ vẫn phải có những quyền cơ bản của công dân chứ” của một nhà văn nọ có tên trong “cẩm nang tìm người phỏng vấn” của các nhà báo truyền thông chính thống, thì có thể bật nói ngay rằng: “Thôi đi ông! Nhà văn là chuyên gia của thể loại tưởng tượng Fiction, biết quái gì về cuộc sống thực và pháp luật thiệt! Ai muốn thi thố quyền cơ bản của công dân thì hãy thi thố ở nhà, còn vào một công ty là thực hiện chuyên nghiệp nhất một ràng buộc hợp đồng lao động nghiêm ngặt nhất của những công dân trưởng thành trong một thế giới sinh nhai có thật mà các nội quy và quy định chính là quyền cơ bản đặc thù dành riêng cho nhân viên chứ người ngoài đường hoàn toàn không có cái đặc quyền tuân thủ đó.”

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa nghe tin về một quy định nào đó mới được chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương ban hành thì hoặc (a) sử dụng kiến thức sẵn có để nghiệm ra tính đúng đắn của các quy định đó, hoặc (b) kiếm tìm ngay các thông tin để so sánh với những tương tự ở nước ngoài, hoặc (c) đề nghị tác giả bài viết này giải đáp thắc mắc.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ đã biết rằng không bao giờ có cái “tự ý thức” (qua câu nói của nhà văn lếu láo: “tôi nghĩ bản thân mỗi công chức, viên chức cũng tự ý thức được phải ăn mặc thế nào khi đi làm việc, khi tiếp xúc với công dân cho phù hợp”) tự nhiên có nơi công dân bất kỳ siêu cường quốc nào, mà cái “tự ý thức” đó chỉ có khi “tự ý” tuân theo những quy định cực kỳ nghiêm ngặt sẵn có của quốc gia. Không có các quy định, quy tắc đầy uy lực trừng phạt thì sẽ không tạo ra tâm lý lo sợ vi phạm, không có tâm lý lo sợ vi phạm thì không có tâm lý tuân thủ, không có tâm lý tuân thủ thì không đời nào có tinh thần tự giác. Ý thức không từ trên trời rơi xuống như món quà Trời ban cho người này nhưng keo kiệt không bố thí cho người khác. Ý thức luôn đến từ một vô thức kết tụ từ sự kinh qua trải nghiệm nhuộm màu kinh sợ.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ không những không đọc các thông tin “chùa” trên không gian mạng mang tính chống đối mà còn biết miệt thị báo chí truyền thông chính thống nào không thể giải đáp thắc mắc mà chuyên đặt câu hỏi trống không để cùng hòa nhập vào số lượng độc giả nào mà báo chí hy vọng sẽ cùng không hiểu hoặc sẽ cùng không đồng tình – tức cùng chống đối – với các quy định ấy.

E) Đảng Cộng Sản Việt Nam Khôn Ngoan

Chính quyền Hà Nội đã đi đầu trong đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử chung của các cơ quan công quyền tại Hà Nội, biến Hà Nội thành thành phố đầu tiên đẳng cấp thế giới về nhận thức đối với tầm quan trọng tự thân của một Bộ Quy Tắc Ứng Xử.

Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội sẽ thúc đẩy mỗi Sở, mỗi doanh nghiệp Nhà Nước, của Hà Nội tiến đến thành lập các Code of Conduct và Dress Code cho chính mình.

Nếu các Code of Conduct và Dress Code của các công ty lớn nhỏ của Âu Mỹ để gia tăng tính chuyên nghiệp và giá trị của công ty ấy cũng như tạo sự tin tưởng nơi khách hàng, thì Code of Conduct của Hà Nội sẽ đẩy nhanh tiến trình cải tổ hành chính của Hà Nội, đưa nội hàm bình thường của “Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc” trở thành một nội hàm mang tính bình thường, tự nhiên, để rồi sau một thập niên sẽ là thứ vốn có, sẵn có của con người Hà Nội văn hiến văn minh thanh lịch và kỹ luật cao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khôn ngoan khi khuyến khích và chuẩn thuận việc ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính quyền Hà Nội, qua đó đã (a) giúp làm lộ diện lỗ hổng kiến thức của giới tinh hoa, (b) giúp làm lộ diện các phản ứng mang tính công thức chung rất vô dụng của báo giới chính thống, (c) giúp toàn quốc trong cả hai khối quốc doanh và tư doanh quan tâm đến thế mạnh tự thân từ Code of Conduct khiến sự đoan chính nhiều và tiêu cực ít trong hoạt động kinh doanh sẽ dần được dựng xây theo năm tháng, và (d) giúp giới trẻ quan tâm đến các giá trị đủ đầy của tính chuyên nghiệp từ các Code of Conduct và Dress Code để trở thành công dân chuyên nghiệp và đạo đức.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

Tham khảo:

Fiction & Non-Fiction: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Sự Thương Hại Dành Cho “Chuyên Gia Chuyên Nghiệp” 20-11-2016

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự 27-8-2014

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng 08-02-2016

Báo Chí Phải Được Tự Do Tuyệt Đối

Tự Do Ngôn Luận

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-12-2016

tu-do-ngon-luan-2

A) Nhập Đề

1- Định Luật: Có một định luật cho “tự do ngôn luận” và “tự do báo chí”. Vấn nạn là cái sự thật quan trọng bậc nhất như hơi thở của định luật lại luôn bị những người còn thở vô tư không hiểu, cố tình không hiểu, sơ ý lãng quên, hoặc chưa hề bận tâm kiếm tìm chân lý bất kỳ dù chân lý hiển hiện ngay trước mắt với một cái click chuột giản đơn chứ không cần phải vầy đoàn bốn-con-người-một-con-thú qua Tây Trúc.

Định&Luật dùng theo nghĩa từ vựng của tác giả bài này là Quy Định và Pháp Luật của tất cả các siêu cường tư bản văn hóa văn minh đối với báo chí tức truyền thông. Không bất kỳ ai trong nhân loại văn minh tiến bộ lại không được dạy cho hiểu biết  các nội dung mang tính định&luật được nêu trong này viết này.

2- Giáo Khoa và Khoa Giáo: Nhân thấy thiên hạ có dăm ba người tuy hiểu biết khối chuyện kinh thiên động địa kiểu trên tõ thiên văn dưới tường địa lý, biết run sợ trước thế lực chủ soái quyết định của khoa giáo trung ương, nhưng xem thường giáo khoa trung cấp nhất là của các bộ môn chữ nghĩa, mà không biết rằng giáo khoa trung cấp dạy làm bánh để thế gian có các đại đế chế bánh để Việt Nam bỏ tỷ đô ra mua thương quyền về…mở tiệm, dạy làm tình nhằm giúp công dân hưởng lạc thú dục tình …né bịnh nhiễm truyền, dạy làm ăn để Donald Trump có con ruột con dâu con rể đều là đại gia đại trí đại tài phát triển nghiệp cơ, còn dạy làm chính trị để có đội ngũ chuyên nghiệp phò tá Donald Trump lên làm Tổng Thống;

3- Trẻ Trẻ Trẻ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích tầm thường hóa tiếng Việt, cứ nghe Tuổi Trẻ là tự tiện giải thành Trẻ Tuổi, cứ nghe Trẻ Tuổi thì tự nhiên chú thành mười tám đôi mươi, đến độ ngay cả cán bộ cấp cao trong Ban Chỉ Đạo nọ dưới một người trên cả vạn người cũng vì hiểu lầm chủ trương Trẻ Hóa của Đảng nên thay vì chọn người già trẻ trung hoặc người trẻ già dặn – như đã phân tích trong bài Luận Về Định Tính & Định Lượng Tuổi Trẻ – đã chọn một người Trẻ Tuổi Bảy Không tức Thất Vô tức (a) vô bằng cấp “chuyên môn”, (b) vô tuổi nghề nghiệp vụ, (c) vô kinh nghiệm trãi từng, (d) vô thang bậc từng trãi, (e) vô phép tắc trước sau, (f) vô liêm sĩ trước hàng hàng lớp lớp đại anh hùng hào kiệt Lạc Hồng dù già trẻ trung hoặc trẻ già dặn, và (g) vô chính đạo để ào vô luôn làm Vụ Phó Vụ Kinh Tế;

4- Dân Chủ: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích đơn giản hóa tiếng Việt, cứ nghe Dân Chủ là tự tiện nghĩ ngay đến việc ta đây là dân nên là chủ, thậm chí có đấng nghị sĩ luật sư ở đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phát huy quyền làm chủ đòi Quốc Hội phải ra Luật Biểu Tình trả nợ cho dân (tức chủ) và đòi Thủ Tướng phải báo cáo đầy đủ với chủ (tức dân) chi tiết kế sách chống Tàu mới đúng là dân chủ;

5- Tự Do: Lại thấy thiên hạ có dăm ba người thích trầm trọng hóa tiếng Việt, cứ nghe Tự Do là tự do nghĩ ngay đến chuyện tự do muốn làm gì thì làm, tự do muốn làm bánh hình phân chó sản xuất đại trà xuất khẩu thì cứ làm, tự do muốn làm tình với bất kỳ ai già trẻ lớn bé nam phụ lão ấu bất chấp luật pháp luật đời thì cứ làm, tự do muốn làm ăn buôn lậu buôn gái buôn dâm gì thì cứ làm, và tự do muốn làm chính trị thì cứ làm, thậm chí còn bảo phải có tự do báo chí tuyệt đối, tiến sang tự do tuyệt đối trong làm bánh/làm tình/làm ăn/làm chính trị;

6- Tự Do Ngôn Luận: Lại thấy thiên hạ chưa phận biệt được các thứ (versions) các thứ (subclasses) và các thứ (types) của “tự do ngôn luận”; không biết rằng

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền được theo Luật Lao Động với cơ man nào là lương tiền/bỗng lộc/phúc lợi/chia lời/ngày phép/hộ sản/đình công/team-building workshop/du lịch công đoàn nội địa hay hải ngoại, chứ người chiến sĩ lực lượng  vũ trang không bao giờ được phép có cái quyền đó, vì quân đội luôn là công cụ của chế độ; và

– chỉ có cá nhân công dân mới có quyền tự do ngôn luận, chứ báo chí không bao giờ được phép có cái quyền đó, nhất là báo chí chính thống luôn là công cụ của chế độ;

7- Vô Đề: Tác giả bài viết này là kẻ tiện dân bỉ nhân họ Lăng tên Tần sợ nói tiếng Anh thì không được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho rằng giỏi bằng vị chuẩn tiến sĩ (sắp-có-bằng-tiến-sĩ) Vụ Phó Vụ Kinh Tế, mà sợ nói tiếng Việt cũng không xong do tiếng Việt vẫn còn nhiều điểm chưa rõ bởi đa số, chưa thông bởi số đông, nên khiếp sợ khép nép tấu trình các “kiến thức” sau đây lên không gian mạng như thùng nước trà đá ven đường:

B) Thân Bài

1- Nguyên Tắc Chế Định 1: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều phải tuyệt đối phục vụ duy chỉ chế độ chính trị của nước mình, không bao gờ được phép xúc xiểm Hiến Pháp nước mình, chế độ nước mình, và chính sách nội trị của chính phủ nước mình.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức công kích Hiến Pháp của nước họ, công kích thể chế chính trị của nước họ, công kích chính sách nội trị của chính phủ nước họ.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất quốc gia, quan trọng nhất quốc gia, mà in bất kỳ bài viết nào mỵ dân bằng cách phê bình hay phê phán quyết sách bất kỳ của chính phủ nước mình, đưa ra cái được trang điểm với dòng chữ “góp ý nhằm làm hoàn thiện thể chế nước mình”, thì dứt khoát đó là thứ báo lá cải, bá láp, mạo danh chính thống, là “chính thống nô dịch” chứ không bao giờ thuộc đẳng cấp “chính thống chủ nhân” của các nước Âu Mỹ.

Đơn giản vì: nếu là “đóng góp” thì cái gọi là “báo chí thượng đẳng” phải có lực lượng trí tuệ để hình thành hồ sơ nghiên cứu gởi trực tiếp cho đầu não Trung Ương Đảng, chứ không theo cách của “báo chí hạ đẳng” mè nheo rỉ rên chuyện quốc gia với dòng kết vô duyên hèn hạ của “trách nhiệm này thuộc về ai” chỉ để độc giả đọc để rồi vừa không đi đâu đến đâu vừa gây rối loạn dân tâm vừa tự lột trần báo chí thành thế lực bất tài vô dụng.

2- Nguyên Tắc Chế Định 2: Tất cả các cái gọi là truyền thông chính thống tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ chính sách đối ngoại của chính phủ nước họ bằng cách tự do tuyệt đối tấn công Hiến Pháp nước khác, tự do tuyệt đối tấn công thể chế chính trị nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chế độ nước khác, tự do tuyệt đối tấn công chính sách nội trị của chính phủ nước khác, và tự do tuyệt đối tấn công chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai có thể đưa ra được hình chụp trang báo “chính thống” nào của Mỹ của Anh của Pháp của Đức ngợi ca Hiến Pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình. Mà ngay cả cái nước khác ấy có cùng phe “liên minh” với chính phủ nước mình thì mình cũng phải tấn công để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là quả thật đã có “tự do ngôn luận” tại nước mình mà đối với Âu Mỹ có nghĩa là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

b) Việt Nam: Bất kỳ tờ báo nào của Việt Nam thuộc loại “chính thống” tức lớn nhất, quan trọng nhất, mà chẳng có bài viết nào tấn công hiến pháp của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, thể chế chính trị của nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách nội trị của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình, chính sách ngoại giao của chính phủ nước khác vốn là đối thủ của chính phủ nước mình thì dứt khoát đó là báo chí chính thống giả mạo giả danh giả trá. Tấn công cũng phải nhằm luôn vào các nước khác nào cùng phe với chính phủ nước mình để có bằng chứng giấy trắng mực đen về cái gọi là đã thực sự có “tự do ngôn luận” tại nước mình, phù hợp tuyệt đối với báo chí chính thống Âu Mỹ vì tự do báo chí chỉ có nghĩa duy nhất là tự do sử dụng truyền thông tấn công bất kỳ thực thể nào khác ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia mình.

3- Nguyên Tắc Chế Định 3: Tất cả các cái gọi là truyền thông tại tất cả các quốc gia Âu Mỹ đều được tự do tuyệt đối trong phục vụ khách hàng dâm dật, phục vụ khách hàng ưa ăn lá cải thích ngắm lá đa.

a) Thế Giới: Toàn nhân loại không bất kỳ ai đưa ra được cái tên của bất kỳ quốc gia nào trong khối “các nền dân chủ tự do” theo khuôn mẫu khuôn đúc khuôn phép Âu Mỹ không có loại “tự do tuyệt đối” này, kể cả mấy nước Á Đông và Đông Á như Nhật, Thái, Hàn, Ấn đều có bày bán công khai dẫy đầy trên các sạp báo vệ đường.

b) Việt Nam: Do Việt Nam chỉ có “truyền thông chính thống” chứ không có “truyền thông” nên trên các sạp báo không có các ấn phẩm sách in chính quy có dán tem bản quyền hay băng dĩa chính thức có dán tem chống giả mà nội dung là tin/ảnh/phim kích dục mà chiêu bài luôn là tôn vinh “cái đẹp” của thân thể con người mà Chúa đã tạo nên phù hợp với rất nhiều người thích lột truồng các tác phẩm của Chúa để cảm thụ “cái đẹp”, giáo dục giới tính, giáo dục hưởng thụ tình dục vì hạnh phúc con người, giải trí dành cho người yêu mỹ thuật nào không dưới 18 tuổi, phát triển văn hóa “hội nhập toàn cầu”, khuyến khích nhân dân xem hàng ở truồng nội địa độc không hề thua hàng ở truồng ngoại để không chảy máu ngoại tệ, và tự do ngôn luận, tự do báo chí.

C) Các Kết Luận:

1- Tự Do Ngôn Luận Đểu:

Như đã được minh chứng từ các nước tư bản Âu Mỹ có nghĩa là mỗi cá nhân công dân một nước được tự do nói/viết/vẽ hý họa:

a) chống bất kỳ ai, bao gồm cá nhân lãnh đạo/cá nhân người nổi tiếng nước mình hay nước người;

b) chống thể chế/chính sách/luật pháp chỉ của nước người;

c) phục vụ chính sách đối ngoại của nước mình đối với nước người không thuộc liên minh với nước mình – bằng mọi giá và mọi cách, kể cả cách ngụy tạo thông tin; và

d) phủ nhận tự do ngôn luận của người khác nếu khác với ý mình.

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà toàn bộ báo chí chính thống Mỹ đồng loạt đưa tin “chính xác” kèm hình ảnh chứng minh “chính xác” Cộng Sản Bắc Việt đã tấn công khu trục hạm USS Maddox ngoài hải phận quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông, ngày 02-8-1964, buộc Mỹ phải vì ấm ức tự vệ mà đưa đại quân ồ ạt đỗ bộ vào Đà Nẳng ngày 08-3-1965.

tu-do-ngon-luan

Nhờ có Tự Do Ngôn Luận của Tự Do Báo Chí Tuyệt Đối mà vài tên đại sứ cùng tùy viên đại sứ quán của chúng lớn tiếng đòi Chính phủ Việt Nam phải thả những ai và phải bỏ điều luật 258 của Việt Nam, còn bọn ngố ngồ ngộ ngỗ NGO thì liên tục sủa tru tréo về nhân quyền ở Việt Nam.

Tóm lại, Tự Do Ngôn Luận của Âu Mỹ là Tự Do Ngôn Luận Đểu.

2) Việt Nam Là Nước Nhược Tiểu:

Nước nhược tiểu là quốc gia vừa không hiểu gì về Tự Do Ngôn Luận, vừa nghèo khổ lạc hậu, vừa học đòi dân túy bằng cách dùng những khái niệm không một quốc gia tư bản hùng mạnh nào áp dụng để ve vuốt truyền thông, trao quyền lực mà ngay cả truyền thông Mỹ cũng không bao giờ có: ban đẳng cấp ngang-hàng-công-an cho truyền thông để bắt công an quỳ mọp thờ lạy cung phụng truyền thông, biến truyền thông thành Loạn Kiêu Báo, mở đường cho truyền thông chính thống chõi lại Hiến Pháp Việt Nam, chõi lại luật pháp Việt Nam, chõi lại thể chế chính trị Việt Nam, chõi lại chính sách nội trị của chính phủ Việt Nam, trở thành biểu tượng của cái thứ Tự Do Ngôn Luận hạ đẳng không hề được các cường quốc Âu Mỹ áp dụng, đồng thời ngậm tăm không dám công kích quốc gia nào khác theo phong cách thượng đẳng mà truyền thông Âu Mỹ muôn đời áp dụng.

3) Ham Học Và Hiếu Học:

Việt Nam hay tự khoe về tinh thần ham học và hiếu học của người dân, mà không nhận biết rằng sự ham học của người dân chấm dứt ngay sau khi có được một tấm bằng thạc sĩ/tiến sĩ đủ để kiếm chức kiếm ăn.

Kẻ đi xin việc thì khoe mình có tinh thần ham học hỏi, mà không biết rằng điều đó tương tự như lời thú nhận mình bất tài vô dụng không có gì trỗi vượt để nơi tuyển dụng có thể học hỏi gì từ mình để phát triển.

Người thuộc giới ca nhạc thì nói nhà nước nếu muốn họ có tác phẩm hay thì phải đài thọ cho họ đi học ở các nhạc viện Hoa Kỳ mà không biết mình thuộc giới xướng ca đại loại không bao giờ tối cần thiết. Quân đội tối cần thiết vì không thể có việc quân đội nước khác đến bảo vệ nước mình (như quân đội Mỹ đến bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa), nhưng ca sĩ toàn cầu có thể giúp người Việt giải trí chất lượng cao hơn mà không cần sang Việt Nam.

Kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha thì nói sẵn sàng làm cho Vụ Kinh Tế của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ và Trung Tâm Xúc Tiên Thương Mại Đầu Tư Cần Thơ thất bại để bản thân mình có thể học hỏi từ những thất bại mà hậu quả của nó do nhân dân gánh chịu và ngân sách quốc gia hứng chịu.

Kẻ trẻ tuổi không thuộc giới ô dù con ông cháu cha không thể đi tắt Vụ Kinh Tế thì đi tắt vụ dân chủ nhân quyền lương tâm thay vì cắm đầu học tập cực chăm làm việc chất lượng cực cao trí tuệ cực cao hiệu quả cực cao để đích thân dìm đầu kẻ trẻ tuổi thuộc giới ô dù con ông cháu cha.

Kẻ có quyền thế trong Ban Chỉ Đạo thì chỉ đánh giá cao người ham học và hiếu học chứ không coi trọng người-đã-học-rồi, người-đã-làm-rồi, người-ham-dạy, người hiếu-dạy, và người-dạy-người-hiếu-học, nên mới bổ nhiệm một gã không bằng cấp (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) và không kinh nghiệm (theo đúng chuyên môn của “nghề” được bổ nhiệm) chỉ vì y chứng minh hùng hồn rằng y ham học đến độ học một lèo kiểu Việt chứ không học-hành-học thêm-hành thêm-học nửa-hành nửa kiểu Mỹ. Thậm chí đánh giá cao người nào vừa ham học và hiếu học vừa là con cháu của các đại quan, cứ như thể con cháu đại quan thì mặc định là ngu dốt nên phải ưu tiên ưu ái một gương sáng quý hiếm để động viên số đông lúc nhúc con cháu đại quan khác.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong xác định (a) phải bảo đảm tự do ngôn luận của mỗi cá nhân công dân; (b) cấm cá nhân công dân đem tự do ngôn luận cá nhân tác động vào các cá nhân khác để hình thành “ngôn luận tập thể” chống lại xã hội, chống lại chính phủ, chống lại thể chế; và (c) cấm báo chí chính thống tức danh phận tập thể lại dành danh phận cá nhân công dân để có tự do ngôn luận.

Nhà quản trị quốc gia thì luôn khoan thai từ tốn khuyến khích người dân hãy luôn học tập, hãy luôn noi gương danh nhân kim cổ, hãy noi gương con rồng này con cọp nọ, nhưng bản thân mình lại không chịu học tập theo gương hoạt động thực sự của nhà cầm quyền các siêu cường quốc trong mãi mãi

Tuyệt đối quản trị báo chí chính thống bằng bàn tay sắt bọc thép gai.

The mainstream mass media must be gently handled with an iron fist in a stainless-steel glove of peacefully green bamboo pikes.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông November 16, 2016

Chính Phủ Đàn Áp Tôn Giáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-12-2016

god

A) Nhập Đề

Trong thời đại kéo dài hàng chục thiên niên kỷ với sự thống trị tuyệt đối của các vương triều phong kiến ngập ngụa trong các cuộc chiến tranh triền miên dù nội chiến hay chinh phạt, sự bần cùng hóa là điều đương nhiên, nỗi thống khổ ám u là lẽ tự nhiên, sự tuyệt vọng và vô vọng dù trước sức mạnh khủng khiếp bất khả đương cự của thiên nhiên hay sức mạnh bạo tàn của các vị minh quân bạo chúa là thứ tình cảm dĩ nhiên duy nhất tại tồn nơi những người cùng khổ vốn là tuyệt đại đa số nhân gian. Và thánh thần thượng đế xuất hiện từ tất cả những sự thật sau: (a) một số thánh thần thượng đế hoàn toàn có thật để cứu độ chúng sinh dù không bao giờ khoa học có thể chứng minh khẳng định họ có thật hoặc có phép thuật kỳ vĩ thật sự nào, (b) một số thánh thần thượng đế khác thì lại hoàn toàn thực sự là từ trí tưởng tượng của con người để tự an ủi kỳ vọng vào sức mạnh thần bí vô hình nào đó ắt sẽ là thế lực tâm linh duy nhất chịu quan tâm đến thân phận bọt bèo nô lệ bần cùng khổ ải của mình, và (c) một số thánh thần thượng đế khác nữa lại hoàn toàn thực sự được tạo nên từ mưu đồ kẻ gian manh tự tạo hào quang màu nhiệm cho chính mình để nghiễm nhiên ngoi từ thân phận bần hàn lên cao trở thành giáo chủ được đám đông cung phụng.

Lịch sử nhân loại từ Sau Công Nguyên đã cho thấy đó là chuyện bình thường khi rất nhiều người trong cảnh thống khổ tìm đủ mọi cách để con cái trở thành tu sĩ, trước hết là để chúng được cung phụng và sau đó có thể giúp ích cho gia đình. Và để trở thành tu sĩ, người ta nhất thiết cần có ai đó nổi lên như một vị giáo chủ để theo khuôn phò hầu hạ. Sự vầy đoàn cộng sinh “cần nhau” như thế có thể đã giúp một số giáo phái hình thành tạo đà cho (a) một tin tưởng tín cuồng của số đông dân chúng khổ nghèo mà lịch sử nhẫn tâm chưa thể ban cho họ điều kiện đủ ăn để mà có học vấn; và (b) một số giáo phái có thể mạnh hơn, lan tỏa hơn, hùng mạnh hơn, tiến gần đến danh xưng “tôn giáo” hơn để thành lập những đế chế tôn giáo chẳng khác gì những đế chế thế tục nghĩa là cũng có các ngôi vị và những cuộc chinh phạt bạo tàn.

Lịch sử Việt Nam cũng đã cho thấy đó là chuyện bình thường khi không phải là không có những gia đình ở Miền Bắc thời Pháp Thuộc đã cho con theo học đạo làm tu sĩ Nhà Thờ để gia đình được cấp thêm đất ruộng.

Lịch sử Việt Nam Cộng Hòa cũng đã cho thấy đó là chuyện bình thường khi có thông rin truyền khẩu trước 1975 rằng Đạo Tin Lành khi khai triển vào Đà Lạt chẳng hạn đã tặng mỗi gia đình chịu theo đạo một chiếc xe Honda Dame nhập khẩu từ Nhật Bản.

Tất cả đều phải đáp ứng một nhu cầu mang tính quyền lợi hoặc tài lợi dù tâm linh vô hình hay vật chất hữu hình của số đông, nhờ đó một số ít đã tự xưng mình là sự tái thế của một vị chủ tể tôn giáo.

Những chi tiết dưới đây khi sử dụng các cụm từ thí dụ như “Chúa Jesus A”, “Chúa Jesus B”, v.v., đơn thuần vì theo phép lịch sự văn minh phải luôn tỏ sự tôn trọng với các vị ấy vì dù gì vẫn còn tồn tại các tín đồ của họ và giáo phái của họ, nhất là khi nhân gian không phải đã toàn bộ có hiểu biết về sự khác nhau giữa “tín ngưỡng” và “tôn giáo”, đã thế lại hay vu vạ cho chính quyền những vụ việc “đàn áp tôn giáo” dù cho chưa từng có bất kỳ vụ “đàn áp tôn giáo” – nói đúng nghĩa từ vựng nhất của “tôn giáo – nào xảy ra bất kỳ đâu trên thế giới – ít ra là trong liên tục một hai thế kỷ gần đây.

1) Những Người Tự Xưng Chúa Jesus Giáng Lâm hoặc Đức Ki-tô Hóa Thân Tái Lâm:

Trong số những “quý ông” nổi đình nổi đám nhất tức có hoạt động “giáo hội” công khai và có nhiều tín đồ thờ phượng thì 33 Chúa Jesus sau là có tiếng – danh tiếng hay tai tiếng – nhất: John Nichols Thorn, Arnold Potter, Jones Very, Bahá’u’lláh, William W. Davies, Mirza Ghulam Ahmad, Lou de Palingboer, John Hugh Smyth-Pigott, Haile Selassie I, Ernest Norman, Krishna Venta, Ahn Sahng-Hong, Sun Myung Moon, Yahweh ben Yahweh, Laszlo Toth, Wayne Bent, Ariffin Mohammed, Mitsuo Matayoshi, José Luis de Jesús Miranda, Inri Cristo, Thomas Harrison Provenzano, Shoko Asahara, Hogen Fukunaga, Sergey Torop, Maurice Clemmons, Apollo Quiboloy, Alan John Miller, David Shayler, Oscar Ramiro Ortega-Hernandez, Marshall Applewhite, Charles Manson, Jim Jones, và David Koresh, cùng nhiều Chúa Jesus khác yếu thế hơn. Tất cả các Chúa Jesus này đều có đặc tính biết tận dụng tốt nhất các “đặc tính” sau chỉ riêng có ở Đạo Chúa:

a- Đặc Tính Dễ Lợi Dụng:

Tuyên bố mình là Đức Chúa Ki-tô Tái Giáng Lâm là điều cực kỳ dễ dàng vì

– Đức Chúa Jesus thực sự trong lịch sử loài người đã xuất thân nghèo khổ, không thuộc giới hàn lâm, không có tay nghề cao trong nghiệp mưu sinh, và cho đến cuối đời cũng vẫn không tạo dựng nên tài sản hữu hình nào có giá trị vật chất cũng như không có thành tựu nào về vật chất để truyền lưu cho tín đồ;

– Đức Chúa Jesus thực sự trong suốt cuộc đời đã không biến phép màu nhiệm kỳ vĩ gì cả;

– Đức Chúa Jesus đã có vũ khí tối thượng bằng lời nói rằng phải có “đức tin” vào Chúa, đồng nghĩa với việc mọi người phải tự nguyện tin tưởng, phải không được hồ nghi, phải  không được yêu cầu hay thách đố Chúa phải tự chứng minh quyền phép quyền năng; và

– Đức Chúa Jesus ở trên tất cả các tôn giáo thờ Chúa nên sẽ không cần phải được Tòa Thánh Vatican công nhận thì người ta mới được nói chính mình là Chúa Jesus tái lâm.

Vì vậy, bất kỳ ai cũng có thể tự xưng mình là Đức Chúa tái giáng sinh, điển hình như lời phán của Chúa Jesus Charles Manson mà người ta phải có “đức tin” để tự động “tin” Ngài là Chúa Ki-tô:

god-1

b- Đặc Tính Cách Mạng:

Đức Chúa Jesus đã rất công bằng và thời thượng bình đẳng giới nên đã tái giáng lâm thành ít nhất là hai quý bà Marina Tsvigun và Ann Lee – tất nhiên theo tiết lộ của hai quý bà này về bí mật giáng lâm của họ để thu nạp tín đồ.

c- Đặc Tính Quyền Năng:

Đức Chúa Jesus giáng lâm Arnold Potter đã chứng minh quyền phép của mình bằng cách bay lên trời từ mỏm núi đá cheo leo tại Bang Iowa, Hoa Kỳ, năm 1872, và các tín đồ của Chúa cùng leo lên đỉnh núi tụ tập chứng kiến phép màu đã phải mất cả tuần mới xuống được vực sâu muôn trượng đưa Chúa về hỏa táng. Các Chúa Jesus tái giáng lâm khác thì thi thố quyền năng bằng những cách hoàn toàn khác nhau nhưng kết thúc biểu diễn lại hoàn toàn giống nhau ở chỗ (a) trở nên giàu có vì tín đồ đưa toàn bộ tài sản và vợ con thê thiếp vào tiến cống các Đức Chúa Jesus ấy, (b) luôn bị “chính quyền đàn áp tôn giáo”, và (c) kết thúc hoàn toàn không có hậu ở trần gian.

d- Đặc Tính Khoa Học Kỹ Thuật Hiện Đại:

Đức Chúa Jesus tái giáng lâm Oscar Ramiro Ortega-Hernandez vốn ưa chuộng sản phẩm kỹ thuật hiện đại nên vào ngày “tam thập-nhất” 11-11-2011 đã lái chiếc Honda Accord đời 1998 do Nhật Bản sản xuất, xách khẩu súng trường bán tự động Cugir do Lỗ-Ma-Ni (Romania) sản xuất theo mô hình AK-47 của Nga, nã 8 băng đạn vào cửa sổ Tòa Bạch Ốc vị trí phòng gia đình Tổng Thống vì Đức Chúa Jesus Oscar Ramiro Ortega-Hernandez có nhiệm vụ phải giết Quỷ Satan Barack Obama cùng vợ con của hắn. Điều màu nhiệm của việc bắn súng của Đức Chúa là phải 4 ngày sau thì cơ quan an ninh Mỹ mới phát hiện kính cửa vỡ do đạn bắn cùng những vết đạn khác trên tường, và FBI vội chấm dứt ngay việc nhiều ngày qua đã cho rằng tiếng súng nổ nghe được là do các băng đảng da đen ở đâu đó thanh trừng nhau rồi vang vọng đến Tòa Bạch Ốc, rồi vội dốc toàn lực cả chục ngày trời mới tìm thấy Đức Chúa có phép mầu ấy để đón về cung phụng tại tòa thành kỳ vĩ đồ sộ mang tên USP Beaumont tại Texas từ nay cho đến ngày 24-10-2033.

god-10

Trong khi đó Đức Chúa Jesus Shoko Asahara lại chứng minh chính mình tái giáng lâm để tiến hành “Phán Xét” bằng cách tạo ra Ngày Tận Thế: sử dụng tài năng đấng đã tạo nên tất cả các chất hóa học của thế gian chế ra chất khí độc sarin mới tinh mà Đức Chúa Trời xưa kia chưa từng biết đến để xì ra gây nên cuộc thảm sát năm 1995 dưới đường tàu điện ngầm ở Tokyo. Đức Chúa Jesus Shoko Asahara bị kết tội giết người, âm mưu lật đổ chế độ chính trị quân chủ lập hiến của Nhật Bản để lên ngôi hoàng đế như chế độ Tsar Hoàng, và bị kết án tử hình bằng treo cổ năm 2004. Tuy nhiên, bản án đến nay vẫn chưa được thi hành vì đó là Đức Chúa Jesus quyền năng quyền phép.

god-9

e- Đặc Tính Hợp Chủng Quốc: Các Đức Chúa Jesus thi nhau tái giáng lâm xuống làm công dân nhiều quốc gia, dù ưa chuộng Hoa Kỳ giàu có nên tập trung ào ạt đổ bộ Hoa Kỳ vẫn có vị đáp dĩa bay xuống Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Nga, Ấn Độ, Iran, v.v. (chưa đến Việt Nam).

e- Đặc Tính Đa Dạng: Các Đức Chúa Jesus ào ạt tái giáng lâm đã làm nhiều nghề khác nhau, từ nhà thơ, học giả, nhạc sĩ, giáo sư Đại Học Harvard, v.v, cho đến nhân viên tình báo và thất nghiệp.

f- Đặc Tinh Tận Dụng:

Đa số các “Đức Chúa Jesus” đều có vợ, có con, thậm chí có “Đức Chúa” chiếm hữu  nhiều chục nữ tín đồ hoặc vợ của các tín đồ, với lý do đầy thuyết phục các tín đồ của họ từ dẫn chứng trong Kinh Thánh rằng Tổ Tông Adam có vợ và rất nhiều con, rằng Tổ Phụ Abraham có rất nhiều vợ và rất nhiều con, rằng Bố của Đức Chúa Jesus có vợ là Đức Mẹ Maria và có con là Đức Chúa Jesus, và rằng Thánh Kinh Tân Ước có ghi Đức Chúa Jesus có rất nhiều nữ nhân hầu hạ quanh Người: ngoài các nữ nhân là thân nhân của Chúa Jesus (nhiều chị em gái trong đó có Mary Salome, và các vợ của bốn anh em trai của Chúa Jesus), các nữ nhân là vợ các Thánh Tông Đồ (trừ Thánh John độc thân), các nữ nhân là chị em gái các Thánh Tông Đồ, và các phụ nữ phạm tội dâm dục được Chúa Jesus rửa tội.

2) Những Người Tự Xưng Đức Phật Giáng Hạ Phàm Trần Hoặc Đức Phật Hóa Thân

Do Đức Phật Thích Ca Gautama Buddha xuất thân hoàng tộc ở Châu Á, số lượng người tự xưng Đức Phật Hóa Thân không nhiều vì phải đáp ứng tiêu chuẩn “quyền sang”, và đa số ở Châu Á, chẳng hạn như Võ Tắc Thiên, Nỗ Nhĩ Cáp Xích, và Lữ Dương Gia của Tàu, Cung Duệ của Hàn Quốc, Peter Deumov của Áo Quốc, Bhagwan Shree Rajneesh của Ấn, Samael Aun Weor của Colombia, Ram Bahadur Bomjon của Nepal, v.v.

3) Những Người Tự Xưng Đa Thần Đa Nguyên Đa Đảng

Nhưng nổi bật nhất là những vị “đa nguyên đa đảng” chẳng hạn như

– Đức Ông Mirza Ghulam Ahmad ở Pakistan tiết lộ mình là hiện thân của Tam Giáo Đồng Nguyên: vừa là Chúa Jesus giáng lâm, vừa là Đức Phật tái thế, và rao giảng Đạo Hồi;

– Đức Bà Ruth Norman ở Hoa Kỳ là đầu thai của Đức Phật sau 55 kiếp làm toàn vua chúa “đàn ông” trong đó có lúc đã làm Vua Arthur Anh Quốc Hiệp Sĩ Bàn Tròn, Hoàng Đế đế chế thoại thần Atlantis, Khổng Tử, và triết gia Socrates;

– Đức Ông Jim Jones của Mỹ vừa là Chúa Jesus vừa là tái thế của Đức Phật, Vua Pharaoh Ai Cập Cổ Đại Akhenaten, và …Vladimir Lenin của Cộng Sản Liên Xô; và

– Đức Ông Ariffin Mohammed của Malaysia vừa là tái thế của Chúa Jesus, Đức Phật Thích Ca, Tiên Tri  Muhammad Hồi Giáo, và Thần Shiva Ấn Giáo.

Ngoài ra, còn có bao vị tuyên bố – hoặc tiết lộ bí mật rằng – mình là đấng tái thế để cứu thế của các đạo khác như Do Thái Giáo và Hồi Giáo, hoặc mình là “thân nhân” của các đấng quyền năng chẳng hạn như đức ngài Hong Xiuquan ở Tàu tuyên bố mình là em trai ruột Chúa Jesus, đức bà Jacobina Mentz Maurer người Brazil gốc Đức tuyên bố là thiên sứ chủ quản của Chúa Trời, các đức ông Cyrus Reed Teed ở Mỹ và André Matsoua ở Congo đều tuyên bố là Đấng Cứu Thế Messiah của nhiều tôn giáo, đức ngài Inri Cristo ở Brazil bảo mình là Chúa Jesus song sinh với Chúa Jesus kia, đức ngài Apollo Quiboloy tuyên bố mình là Con Trai Của Thượng Đế mà Thượng Đế là Jesus Christ nên mình đương nhiên là con của Chúa Jesus Christ, v.v. và v.v.

Nhưng vị Chúa tối cao tối thượng ắt phải kể đến Thượng Đế George Baker ở Mỹ vì đã dám tiết lộ chính mình là Đức Chúa Trời, Thượng Đế Iesu Matayoshi tuyên bố mình vừa là Đức Chúa Cha vừa là Đức Chúa Con, còn Thượng Đế José Luis de Jesús tuyên bố mình vừa là Chúa Jesus Christ tái giáng lâm vừa là Satan giáng thế, v.v. và v.v.

B) Chúa Jesus Được Thượng Đế Đón Bỏ Mỹ Về Trời

Không như dân Mỹ luôn cho rằng Chúa Trời đã ban cho họ vùng lãnh thổ Tân Thế Giới mênh mông để hình thành nên đất nước Hoa Kỳ hùng mạnh uy trấn toàn cầu từ đó có Ngày Lễ Tạ Ơn hàng năm, Đức Chúa Trời thật ra đã không muốn con của Người nấn ná lâu hơn trên đất Mỹ ấy.

Đức Chúa Jesus tái giáng lâm mang tên Marshall Applewhite đã bảo các tín dồ của mình rằng dĩa bay của Đức Chúa Trời bay núp bám sau đuôi Sao Chổi Hale-Bopp 22 sẽ đến đón giáo sư âm nhạc Đại Học Alabama Marshall Applewhite đại tài trở về thượng giới nên các tín đồ được chọn hãy cùng theo mình lên dĩa bay gặp Đức Chúa Trời vào ngày 26-3-1997, mà sau đó cơ quan an ninh phát hiện 39 xác chết do cùng nhau tự tử bằng độc dược tại một điền trang ở thị trấn Santa Fe, Bang California.

god-7

C) Chúa Jesus Tự Tiêu Diệt Để Chống Chính Phủ Mỹ

 god-5

Jim Jones là Đức Chúa Jesus tái giáng lâm làm công dân Hoa Kỳ. Ngay từ lúc sinh ra đã được mẹ cha tin rằng đã hạ sinh được Đấng Cứu Thế Toàn Năng. Đức Chúa Jim Jones thấu hiểu Joseph Stalin, Karl Marx, Mao Trạch Đông, Mahatma Gandhi và Adolf Hitler, nhiệt tình ủng hộ người Mỹ gốc Phi, dân nhập cư, và Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ. Cho rằng chiến tranh nguyên tử sẽ nổ ra ngày 15-7-1967, Đức Chúa Jim Jones đưa giáo dân của mình về California lánh nạn, để rồi năm 1977 đưa nhiều trăm giáo dân bỏ Mỹ sang Guyana ở gần Brazil và Argentina, lập nên thị trấn mang tên mình là Jonestown, một thứ thiên đường nơi hạ giới. Xây dựng Jonestown như một thành trì “công-xã” nội bất xuất ngoại bất nhập, với lực lượng vũ trang sẵn sàng bắn hạ tín đồ nào ra khỏi trang viên, Đức Chúa Jim Jones phán dạy rằng sẽ cùng giáo dân cùng nhau chung sống hạnh phúc, cùng nhau chết vinh quang, cùng nhau lên hành tinh khác đời đời sung sướng tột đỉnh vinh hoa. Khi tin tức về sự hà khắc xâm hại nhân quyền xâm hại tình dục tại Jonestown lan đến Quốc Hội Hoa Kỳ, Nghị sĩ Leo Ryan thành lập đoàn tìm hiểu sự thật gồm các phụ tá, vài thân nhân các tín đồ của Jim Jones, vài tín đồ của Jim Jones vẫn còn lại ở Mỹ, và các nhà báo đến Guyana tháng 11-1978 với hai chiếc máy bay rồi dùng xe băng rừng đến Jonestown. Jim Jones đã cho người dùng dao tiếp đón Ryan, khiến cả đoàn phải quày quả bỏ của chạy lấy người trở lại ngay đường băng máy bay Kaituma. Trong ngày 18-11-1978 ấy, trong lúc mọi người vội vã lên hai chiếc phi cơ thì đội vũ trang của Jim đuổi kịp, xả súng vào đoàn, sát hại nghị sĩ Leo Ryan, hai nhà báo của NBC, một phóng viên ảnh của San Francisco Examiner và một giáo dân.

Do lỡ sát hại Nghị Sĩ Leo Ryan nghĩa là phạm trọng tội với Chính Phủ Hoa Kỳ gồm (a) ủng hộ thể chế chính trị khác với thể chế chính trị của Hoa Kỳ, (b) chống Chính Phủ Hoa Kỳ qua việc sát hại một Nghị Sĩ Hoa Kỳ đang “thi hành công vụ”, (c) đưa cả ngàn công dân Hoa Kỳ đem tài sản trốn khỏi Hoa Kỳ, (d) làm rối loạn dân tâm kỹ cương phép nước, và (e) “cạnh tranh không công bằng” với các Chúa Jesus khác, nên dứt khoát sẽ bị Chính phủ Hoa Kỳ trừng phạt nghiêm khắc kinh hoàng, đặc biệt khiếp sợ quân đội CIA tỷ lần hơn là quân đội của quân lực Hoa Kỳ, Đức Chúa Jim Jones ngay trong ngày 18-11-1978 ấy lập tức bảo tất cả giáo dân ở Jonestown phải uống thuốc độc cyanide (xi-a-nuya) để cùng về thượng giới với mình. Tất nhiên, việc đổ thuốc độc vào tất cả trẻ em chết la liệt tại chỗ cũng nhằm khiến tất cả giáo vân làm cha làm mẹ không còn thiết sống và tự nguyện nhận phần độc dược cho chính mình. Khi cơ quan an ninh Guyana đến thì đã thấy la liệt 918 xác chết công dân Hoa Kỳ, trong đó có 304 trẻ em, riêng Đức Chúa Jim Jones tự sát bằng súng.

god-3god-2

D) Chính Phủ Mỹ Tiêu Diệt Chúa Jesus

Rút kinh nghiệm từ sự bị động trong vụ “giáo dân làm loạn” dưới trướng Đức Chúa Jesus Jim Jones ở Gyana năm 1978, Chính Phủ Mỹ đã mạnh tay tiêu diệt Đức Chúa Jesus David Koresh bằng vũ lực ngay khi có manh nha “giáo dân làm loạn” ở Bang Texas năm 1993.

 god-8

Cuộc tấn công vào khu phức hợp của giáo phái Davidian gần Waco, Bang Texas, ngày 19-4-1993 làm cả thế giới chấn động, bàng hoàng. Đó là cuộc tàn sát kéo dài nhất lịch sủ chấp pháp Hoa Kỳ, với một tuần phong tỏa bao vây, 51 ngày chiến đấu (từ 28-02 đến 19-4-1993), làm chết 75 tín đồ mà đa số là phụ nữ và trẻ em. Điều đặc biệt với giáo phái này là: giáo dân đều có học thức cao, bản thân Đức Chúa David Koresh có bằng cấp thần học, và tất cả đều tin tưởng tuyệt đối rằng thế giới đang bị Quỷ Vương lãnh đạo, rằng Chương Khải Huyền của Thánh Kinh Tân Ước đúng chính xác từng chữ một.

Lấy cớ các giáo dân tàng trữ trái phép 305 vũ khí (gồm các khẩu súng trường bán tự động AK-47, AR-15, HKSP-89, MAC10, và các khẩu súng lục, và đạn dược, các đặc vụ ATF đem trát bắt giam và lục soát đến khu phức hợp. Cho đến nay không ai rõ phát súng đầu tiên do bên nào khai hỏa, mở màn cho sự tấn công của FBI và quân đội Hoa Kỳ, mà dư luận vẫn còn hoài nghi với bằng chứng cho thấy cả CIA (Trung Ương Cục Tình Báo), FBI (Cục Điều Tra Liên Bang), BATF (Cơ Quan Quản Lý Rượu/Thuốc Lá/Vũ Khí/Thuốc Nổ), Quân Đội Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Mỹ, Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng Mỹ), Lực Lượng Delta (CAGFB) theo mật lịnh trực tiếp của Tổng Thống Bill Clinton, Trung Tâm Xử Lý Khủng Hoảng của Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton tại Tòa Bạch Ốc, và Mafia đều muốn tận diệt Đức Chúa Davis Koresh cùng giáo dân trong hỏa ngục, cứ như thể nhằm diệt khẩu ai đó và xóa sạch chứng cớ nào đó ắt về liên minh ghê gớm ấy trong Chính Phủ Bill Clinton. FBI thậm chí còn thuê các sát thủ bắn tỉa mà khét tiếng nhất là Lon Horiuchi người Mỹ gốc Nhật để bắn hạ bất kỳ sinh vật sinh linh nào chạy ra khỏi hỏa ngục Waco, bất kể đó là phụ nữ hay trẻ em. Có người ví von đội đặc nhiệm của BATF vần vũ bằng trực thăng vũ trang xã súng xuống khu phức hợp tương tự như cảnh thảm sát đã xảy ra tại một làng quê Việt Nam thời chiến. Còn các khai hỏa từ xe tăng quân đội, việc ném hàng trăm bình khí CS và bơm tưới xăng tràn ngập khu phức hợp, khó thể được cho đó là để trấn áp “giáo dân làm loạn” dưới trướng Đức Chúa Jesus David Koresh vốn nổi bật vì có nhiều vợ, có hàng tá đứa con từ lời phán đã nhận lịnh trực tiếp của Đức Chúa Trời phải làm cho các nữ giáo dân có thai nhằm tạo nên giòng giống David đặc biệt, nên buộc tất cả các nam giáo dân không được quan hệ tình dục với vợ mà phải dâng vợ cho Đức Chúa.

god-12god-11god-4

E) Kết Luận

Từ bài học đã bỏ mặc cho Đức Chúa Jesus Jim Jones được “tự do ngôn luận” rao giảng chống đối Nhà Nước Hoa Kỳ, dẫn đến cuộc thảm sát đông dân Mỹ nhất lịch sử Mỹ, Mỹ đã bất kể Đạo Luật Posse Comitatus cấm ngăn quân đội dùng sức mạnh vũ trang thực thi luật dân sự, thậm chí sử dụng điều khoản “vét” của Posse Comitatus rằng bất kỳ ai sử dụng quân đội và không quân để thực thi luật pháp dân sự sẽ bị phạt không quá 10.000 USD hoặc tù giam không quá 2 năm, để ra lịnh quân đội và Lực Lượng Delta tham gia cùng các cơ quan chấp pháp khác của CIA, FBI, và BATF tiêu diệt Waco, yên tâm đóng tiền phạt “không quá 10 ngàn USD/người cho các quan chức ra lịnh ấy.

Chi tiết trên chứng minh Chính Phủ Mỹ đã nêu gương cho thế giới trong kiên quyết xử lý bất kỳ cuộc khủng hoảng nào trong nội tình Mỹ (a) có nội dung chống lại Nhà nước pháp quyền Hoa Kỳ, và (b) có nguy cơ sẽ gây hại cho các công dân là nạn nhân tự nguyện hay vô tình bị hại bởi sự rao giảng kích động từ kẻ/những kẻ sử dụng tín ngưỡng để chống lại Nhà Nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, sự tiêu diệt – chứ không phải bắt giam – là bắt buộc phải thực thi đối với những công dân Mỹ nào dám chống đối Nhà Nước Mỹ không với “tự do ngôn luận” của cá nhân mà dùng thế số đông như của các tín đồ để “tự do ngôn luận” làm suy yếu chính thể của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, những nội dung sau có liên quan đến “tôn giáo” nên được quan tâm đến

1) Tôn Giáo Không Bao Giờ Chống Chinh Phủ

Không bao giờ tồn tại trên thế gian này cái khái niệm “tôn giáo chống chính phủ” vì rằng

a- Không bất kỳ điều nào trong Kinh Thánh hay kinh kệ dạy bảo tín đồ chống chính phủ;

b- Kể cả Đức Chúa Jesus trong Thánh Kinh Tân Ước của Đạo Chúa không hề trực tiếp chống, xúi giục chống, hay di ngôn chống nhà nước La Mã; còn các tổ phụ trong Thánh Kinh Cựu Ước chỉ đưa dân bỏ đi nếu không đồng thuận chứ không trực tiếp/xúi giục/tổ chức/di ngôn dân mình chống lại nhà cầm quyền, bất kể đó là nhà cầm quyền tàn độc hay không;

c- “Tôn giáo” không là một thực thể nên không thể là đối trọng của một đối kháng cụ thể, nghĩa là chỉ có những chức sắc hay tu sĩ của một tôn giáo tự ý làm loạn chống nhà cầm quyền chứ không có tôn giáo chống nhà cầm quyền;

d- Tôn giáo thiên về tâm linh nên không bao giờ liên quan đến “chính trị” và “trị chính” vốn là những phạm trù cụ thể của thế tục, nghĩa là chỉ có những chức sắc hay tu sĩ của một tôn giáo làm sai lời giáo lý của tôn giáo mình, tự ý xông ra “làm chính trị” mà 100% là chống nhà cầm quyền chứ không có tôn giáo “làm chính trị” để tôn thờ nhà cầm quyền; và

e- Không bao giờ tôn giáo không tập trung lo chỉ cho “phần hồn” của giáo dân, dạy giáo dân nhẫn để thân tâm thường lạc cả.

2) Chính Phủ Không Bao Giờ Chống Tôn Giáo

Không bất kỳ chinh phủ nào của quốc gia nào lại chống tôn giáo cả, vì đó là tự do tín ngưỡng trong tự do ngôn luận, tự do hội họp, và nhân quyền.

Giáo dân Ki-tô ngoan đạo Karl Marx có quyền tự do ngôn luận nêu hồ nghi về thần quyền, tự do viễn tưởng về sự suy yếu của thần quyền. Bất kỳ ai mạt sát Karl Marx “vô thần” là kẻ chà đạp tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tư duy, và nhân quyền của Karl Marx. Kẻ chà đạp tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tư duy, và nhân quyền của người khác không bao giờ là kẻ hiểu biết bất kỳ điều gì về tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tư duy, tự do tín ngướng, và nhân quyền để nói về ngần ấy thứ.

Từ luận đề “Tôn Giáo Không Bao Giờ Chống Chính Phủ” nêu trên, ta có luận đề đương nhiên của “Chính Phủ Không Bao Giờ Chống Tôn Giáo”.

Chính phủ Mỹ không chống các “tôn giáo” của các Đức Chúa Jesus.

Chính phủ Mỹ chỉ trừng trị các công dân Mỹ mang tên Jim Jones hay David Koresh, tức những công dân không những làm loạn chống Chính Phủ Mỹ mà còn đưa nhiều công dân Mỹ vào sự u mê, cuộc tự sát tập thể, và sự buông xuôi tất cả để đón chào Ngày Phán Xét hay dĩa bay nào đó.

Chính phủ Mỹ, do đó, chỉ quan tâm đến duy trì sự tồn tại của chế độ, bảo vệ cuộc sống chính đáng của công dân nói chung, bảo vệ quyền “tự do ngôn luận” của từng cá nhân công dân, không cho phép có “tự do ngôn luận” của tập thể nhất là nếu tập thể ấy sử dụng “tự do ngôn luận” để sử dụng số đông chống lại Chính phủ, chống lại “tín ngưỡng” khác, chống lại “tập thể” công dân khác.

Công dân có nghĩa vụ phải răm rắp tuân theo luật pháp quốc gia và đóng góp cho xã hội có thật, hữu hình, thế tục.

Giáo dân nghĩa là có nghĩa vụ phải tuân theo những giáo điều của Kinh Thánh và kinh kệ, và đóng góp cho giáo hội những hữu hình thế tục theo sự bày ra của giáo hội và theo sự khống chế của luật pháp quốc gia.

Giáo dân không thể giơ Kinh Thánh lên để cho mình có quyền lái xe vào đường cấm, lái xe ngược chiều, lái xe vượt đèn đỏ, lái xe lấn tuyến, và kêu gào bị “chính phủ đàn áp tôn giáo” khi bị xử phạt vi phạm luật giao thông đường bộ.

Giáo dân là người có trí hoa cao vời nên hiểu trọn vẹn Kinh Thánh kinh kệ, có mức độ tu thân đẳng cấp cao nhất vì có tinh thần trách nhiệm cao với bản thân nhằm đến làm gương cho xã hội nhân quần, và có tư duy cao thượng để biết chế ngự cái tôi, tất cả vì chân lý của đạo pháp chứ không vì tôn giáo đang do một người công dân khác rao giảng. Đó là sự phân biệt giữa người làm chủ đại cuộc tu thân tu thánh và kẻ hầu hạ tay sai vô trí.

Tóm lại,

– việc chính phủ Ngô Đình Diệm cấm Phật Tử ở Huế treo lá cờ quen thuộc của Phật Giáo đúng là “đàn áp tôn giáo”;

– việc chính phủ Bill Clinton tàn sát giáo phái Davidian không là “đàn áp tôn giáo” mà chỉ vì nước vì dân mạnh tay trừng phạt những công dân mưu phản trong lớp áo tôn giáo;

– việc Chính quyền Quân Quản Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tấn công Nhà Thờ Vinh Sơn ngày 10-02-1976 là để bắt các tên sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trốn trình diện như Nguyễn Việt Hưng, Phạm Văn Hậu và Trần Kim Định cùng các tu sĩ Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Quang Minh đã lập nên tổ chức Dân Quân Phục Quốc với tuyên ngôn, quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, lập lực lượng vũ trang, phát thanh chông Cộng, in truyền đơn và tiền giả, lật đổ chính quyền, phá hoại kinh tế, thậm chí sử dụng súng sát hại cán bộ an ninh Việt Nam; do đó, không là “đàn áp tôn giáo”;

– việc Chính Phủ Việt Nam có sẽ như Chính Phủ Mỹ vì nước vì dân mạnh tay trừng phạt những công dân mưu phản trong lớp áo tôn giáo cũng sẽ không bao giờ bị Mỹ dán nhãn “đàn áp tôn giáo” hay “đàn áp tự do ngôn luận”.

– việc Chính Phủ Việt Nam có sẽ như Chính Phủ Mỹ vì nước vì dân sử dụng quân đội mạnh tay trừng phạt những công dân mưu phản trong lớp áo tôn giáo cũng sẽ không bao giờ bị Mỹ dán nhãn sai luật vì Việt Nam không có đạo luật Posse Comitatus.

3) Ai Chống Ai? Phản Động Tập Thể

Như vậy, không có việc Tôn Giáo Chống Chính Phủ vì không bao giờ có việc tôn giáo vốn là một tên gọi lại có quân đội hữu hình và vũ khí sát thương hạng nặng để chống Chính Phủ, tàn sát Chính Phủ, mà chỉ có những công dân có Thẻ Căn Cước nổi loạn vi phạm luật pháp quốc gia.

Như vậy, không có việc Chính Phủ Đàn Áp Tôn Giáo vì tôn giáo chỉ là một tên gọi dành cho một tin ngưỡng chính thức, công khai, hợp pháp. Tôn Giáo không bao giờ có quân đội hữu hình và vũ khí sát thương hạng nặng để chống Chính Phủ, tàn sát Chính Phủ, để Chính Phủ phải vì nước vì dân vì tự vệ mà đàn áp tôn giáo. Chính phủ Việt Nam luôn – và sẽ – trấn áp tất cả các bọn phản động mưu loạn lật đổ chính quyền, thể chế chính trị quốc gia, và Hiến Pháp, bất kể những công dân phản động phản quốc đó hữu thần hay vô thần, theo đạo lớn hay có tín ngưỡng nhỏ.

Tất cả các chính phủ trên thế gian này đều có chung một hành động không bao giờ thay đổi dành cho công dân phản động tập thể: trấn áp, và tiêu diệt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Pháp Luân Công  07-10-2015

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn

How the Due Process of Proud Choice Turns into a Turmoil of Devastating Shame

Vì Sao Một Quy Trình Vinh Diệu Biến Thành Sự Hỗn Loạn Nhục Ô

Hoàng Hữu Phước, MIB

Chính Trị Gia (Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII)

14-12-2016

tay-nam-bo%cc%a3-2

Một hai tuần qua dấy lên sự việc của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ (gọi là “Cần Thơ” do cơ quan Đảng tọa lạc tại Cần Thơ, hoặc đối với dân Nam Bộ rặt thì “Hậu Giang” luôn là “Cần Thơ” vì Cần Thơ đã từng thuộc Hậu Giang, cũng như khi khen người Quảng Nam chân chất cũng có nghĩa gồm luôn người Đà Nẵng vậy) có liên quan đến cái tên Vũ Minh Hoàng.

Phải ghi rõ là “lãnh đạo Đảng” Cần Thơ vì (a) bản thân người dân Cần thơ không có lỗi gi cả; (b) nếu như cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh là quan tâm duy chỉ đến tự chủ đặc thù thì cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ lại là sự quan tâm đến duy chỉ tận dụng quy trình để hủy phá hệ thống; (c) lãnh đạo Đảng ở các tỉnh khác của Miền Tây dưới quyền Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thì không như vậy; và (d) có sự trùng hợp ở mức độ tầy huầy tại Cần Thơ – như vụ Trịnh Xuân Thanh và nay là Vũ Minh Hoàng – nên dù theo công tâm mà nói kỳ này của Vũ Minh Hoàng thì do Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ gây ra nhưng có dính trực tiếp đến địa phương Cần Thơ nên có manh nha cơ sở cho một ngờ vực rằng hoặc đã có sự càn quét bất trị của virus “xin đích danh” của Cần Thơ tác động đến Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoặc do chính Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã “chỉ đạo” Cần Thơ phát huy truyền thống “xin đích danh” để Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tiếp nhận một hậu duệ thế gia vọng tộc của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

Đồng thời, do có vài động thái trong giới báo chí chính thống dường như đang từ bi ra tay “cứu bồ” hoặc “viết theo chỉ đạo” hoặc “viết theo thuê mướn” nên đã có những thủ thuật phỏng vấn bằng cách dâng tặng mớm sẵn “bày cách  trả lời” – một biến cách biến thể biến dạng biến hình của thủ thuật “nét chữ vào mồm” như trường hợp nhét “dân trí thấp” vào mồm Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến “Luật Biểu Tình” 2011 khiến nghị sĩ ấy đột nhiên thành tên miệt thị nhân dân – nay biến Vũ Minh Hoàng đột nhiên thành đấng thánh nhân tài ba tột đỉnh của dân tộc “biết nhiều thứ tiếng, đẳng cấp tiến sĩ, không chịu làm việc ở nước ngoài”, tác giả bài viết này buộc phải có ý kiến để giúp Đảng, giúp nước, giúp dân, và giúp giữ gìn chân lý trước nguy biến Đảng Loạn đã hiện rõ vì Loạn Đảng đã lộ chân tướng.

Đảng Loạn vì có đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoàn toàn mất kiểm soát, bị lừa bởi đảng viên cấp cao khác cũng của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mạo danh, mạo nhu cầu, mạo quy trình, mạo thủ tục, mạo hồ sơ, mạo hào quang, để đưa người lạ vào tổ chức cao cấp của Đảng, biến Đảng thành một thành trì khổng lồ vững chắc kiên cố hoàn toàn không có hào nước, không có hào chông, không có cổng, không có cửa, không có lỗ châu mai, không có đạn trong súng, và không có cả lính canh.

Loạn Đảng vì đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ chà đạp nguyên tắc tổ chức của Đảng, tự biến thành loạn thần tặc tử, tức thành phần cần và đủ cho một Loạn Đảng để chống lại Đảng. Những ai cho rằng một đảng viên Cộng Sản cấp cao làm Đảng Cộng Sản ô danh do “nôn nóng” không phải là trọng tội nên không nhất thiết phải khai trừ khỏi Đảng thì bảo đảm họ đích thị là những đồng bọn của hoặc đồng tình với Loạn Đảng nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Việt Nam.

A- Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ Là Cái Gì?

1- Các Ban Chỉ Đạo: Vai Trò Lịch Sử Hiện Đại

Rất ít người trong xã hội loài người hiện đại chưa từng biết rõ rằng chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết kinh tế.

Được thúc đẩy bởi sự thành công vượt bậc trong xây dựng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nghiệt ngã của tự lực cánh sinh lọt thỏm trong thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu của các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhà đất, khủng hoảng ngoại hối, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tín dụng v.v. trên toàn thế giới tư bản trong thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI, cùng với sự đón bắt những thời cơ mới của hội nhập và hợp tác quốc tế, hòa chung nhịp phát triển kinh tế tăng cường ổn định chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khoanh ba vùng chiến lược rốn quốc gia, hình thành các Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên (năm 2002), Ban Chỉ Đạo Tây Bắc (2004), và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ (2004), để chỉ đạo, quản lý, giám sát các tỉnh của ba khu vực này, trong tham mưu cho Bộ Chính Trị của Đảng về phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh chính trị và xây dựng chiến lược quốc phòng của ba vùng.

Những đảng viên cao cấp lãnh đạo quốc gia tuyệt đại đa số nhất thiết phải xuất thân từ chiếc nôi quyền lực lãnh đạo các Ban Chỉ Đạo quan trọng đa năng thuộc Bộ Chính Trị này để từ đó tiến vào Bộ Chính Trị mà những cái tên quen thuộc như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Văn Bình ở Ban Chỉ Đạo Tây Bắc; Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trần Đại Quang, Tô Lâm ở Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên; và Nguyễn Sinh Hùng, Vương Đình Huệ ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ. Không có tầm quản lý vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia thì không thể lãnh đạo quốc gia. Đã ở vị trí lãnh đạo thành công vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia tất có tầm vóc quản lý cả quốc gia. Đã có tầm vóc quản lý cả quốc gia tất có một tỷ lệ nhất định cơ hội lãnh đạo cả quốc gia. Đây là sự đơn giản trường kỳ tuần tự tiệm tiến vững chãi của những lãnh đạo là danh nhân nước Việt của thời đại Thế Kỷ XXI như Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, và Nguyễn Xuân Phúc.

Từ đó suy ra bài học dành cho tất cả những kẻ hậu sinh khả ố thời hiện đại là: đại kế để trèo lên cao nhất, nhanh nhất, chắc chắn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo quốc gia là phải bằng mọi giá nhảy vọt chen ngang ngay lập tức vào hàng ngũ lãnh đạo tại một cơ quan “dưới một người, trên cả vạn người” như Ban Chỉ Đạo, quyết không để mất ghế làm một lãnh đạo trong một Ban Chỉ Đạo vào tay kẻ khác mà số lượng đang rất đông cũng đang áp dụng chiêu trò ào ạt kiếm bằng cấp nước ngoài và chạy chọt chen ngang như mình. Đơn giản hơn theo hướng phản luận đề của trứng-cho-ra-gà và gà-cho-ra-trứng: chỉ cần ở ghế cao trong một Ban Chỉ Đạo là tự nhiên có tầm vóc quản lý cả quốc gia để quản lý cả quốc gia. Đây là sự đơn giản đi tắt đón đầu của những búp bê nhựa tái chế Vũ Minh Hoàng trong thời đại Thế kỷ XXI.

2- Các Ban Chỉ Đạo: Các Chính Phủ Trong Đảng

Tuy nhiên, mô hình các Ban Chỉ Đạo của Bộ Chính Trị có đầy đủ các ban bệ như Vụ Kinh Tế, Vụ Văn Hoá – Xã Hội, Vụ An Ninh – Quốc Phòng, Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo, và Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị, dưới quyền các Vụ Trưởng và Vụ Phó, lại cho thấy có những vấn đề mang tính vấn nạn hiệu quả của cơ cấu tổ chức của Đảng.

Trong thực tế, tổ chức của Trung Ương Đảng Cộng Sản đã sẵn có riêng các Vụ Kinh Tế Tổng Hợp, Vụ Xã Hội, Vụ Công Nghiệp, Vụ Nông Nghiệp – Nông Thôn, và Vụ Địa Phương. Tất nhiên, các Vụ này cũng phải có sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó.

Như vậy, với việc

(a) Chính Phủ có rất nhiều Bộ, mỗi Bộ có rất nhiều Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa;

(b) Trung Ương Đảng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó cùng một vai cơ quan ngang-Vụ dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; và

(c) Bộ Chính Trị có 3 Ban – mỗi Ban cũng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa tuy không hoàn toàn giống nhau ở 100% lĩnh vực hay tên gọi, cùng một vài cơ quan ngang-Ban cũng dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; thì

hoàn toàn không rõ “vụ trưởng” nào cao hơn “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào chỉ đạo “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào quyết định chiếc ghế “vụ trưởng” tương tự cho “vụ” tương tự ở cơ quan quyền lực khác, và quyền lợi/phúc lợi/chế độ của “vụ trưởng” nào hơn “vụ trưởng” tương tự ở cơ quan quyền lực khác.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Như Nhau thì quả thực cơ chế tổ chức của Đảng đã biến thiên thành Tam Đầu Chế tức cơ quan quyền lực nào cũng có “chính phủ” riêng: Cơ Quan Chính Phủ Trong Trung Ương Đảng, Cơ Quan Chính Phủ Trong Bộ Chính Trị, cùng tồn tại với Cơ Quan Chính Phủ trong Chính Phủ, hình thành môi trường đầy dẫy xung đột quyền năng, đầy tràn xung đột quyền lực, đầy ngập xung đột quyền lợi, đầy đủ xung đột hiệu năng, đầy ắp xung đột cơ chế, và đầy nghẹt xung đột quy trình.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Khác Nhau thì quả thực đã có sự bất lực của tổ chức guồng máy theo kiểu tài tử vô tư vô tâm vô bài bản, hoặc không chuyên nghiệp, hoặc bán chuyên nghiệp. Cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” dậy sóng quan liêu như của Mỹ tương tự như hàng tỷ chi tiết “khác nhau” để vận hành một con tàu vũ trụ trên đường vượt Thái Dương Hệ đến Hỏa Tinh. Còn cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” không chút lăn tăn quan liêu như của Việt Nam hiện nay tương tự như một chiếc xe ô-tô con 3 chỗ dài 3 mét sơn 3 màu mang 3 nhãn hiệu khác nhau có 3 bánh xe kích cỡ khác nhau, 3 bánh lái vô-lăng khác nhau, 3 côn ly-hợp khác nhau, 3 phanh chân khác nhau, 3 phanh tay khác nhau, 3 bàn đạp ga khác nhau, xài 3 thứ nhiên liệu hiện đại khác nhau của pin-mặt-trời/xăng-hóa-thạch/điện-sạc, do 3 chủ nhân điều khiển khác nhau cùng vận hành cổ xe ấy chạy trên đường vượt Đê La Thành đến Hỏa Lò.

Tất cả, dù Như Nhau hay Khác Nhau, đều dẫn đến một cơ may và một thảm họa.

Cơ may là khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, giúp Đảng nhận ra ngay các bất phù hợp để điều chỉnh hợp lý hóa và thải loại các bất khả phù hợp để Đảng hầu hình thành những best practices tức phương cách thực hành tốt nhất của đẳng cấp ưu thế vốn được tôn tạo từ sự thường xuyên hoàn thiện và/hay không ngừng cải thiện.

Thảm họa là ngay cả khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, mà Đảng vẫn thản nhiên duy trì trong hệ thống tổ chức của Đảng những điểm bất phù hợp cùng những điểm bất khả phù hợp khiến liên tục tạo ra những sự việc như Trịnh Xuân Thanh ở Cần Thơ và mới đây nhất là Vũ Minh Hoàng cũng ở Cần Thơ.

B- Tham Gia Chính Trị

1- Các Vấn Đề Chính Trị Cơ Bản

Việt Nam có hai vấn nạn trầm kha về con người đối với (a) giáo dục/đào tạo và (b) chính trị.

Nền giáo dục/đào tạo dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, tức hướng đến (a) non-stop tức không bao giờ có điểm dừng của học hành mở mang trí hóa và truyền thụ tri thức, và (b) thành phẩm “con người” human beings chứ không phải mục đích là tạo ra “người ngợm” ape-like beings.

Một con người được thụ hưởng – và thụ hưởng thành công – một nền giáo dục/đào tạo hiệu quả hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, đặc biệt nếu thực sự đã học hành đàng hoàng và thành công khi đi du học ở một trường đại học thực sự danh tiếng Âu Mỹ sẽ có năng lực đồng bộ đồng nhất về bốn nội dung sau của “chính trị”:

(a) Hiểu Biết Toàn Bộ Ý Nghĩa Của Chính Trị:

i- Chính trị tức politics không chỉ là nắm quyền trị quốc như tuyệt đại đa số người Việt lầm tưởng khiến chỉ nghĩ đến “làm chính trị” như nắm quyền lực quốc gia. Politics hiển hiện mọi lúc mọi nơi mọi lĩnh vực mọi khía cạnh của đời sống kể cả chỉ trong nội bộ một doanh nghiệp bất kể nhỏ bé đến đâu chăng nữa. Như vậy, chưa hề làm politics tức làm việc thật sự về quản trị chuyên môn thì không thể làm chính trị. Sự đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ của Donald Trump chỉ là một ngạc nhiên đối với những ai tuân theo sự mặc định lệch lạc bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở công ty luật tư nhân rồi tiến vào nghị viện) chứ không là sự ngạc nhiên đối với những bậc đại trí tuân theo quy luật đúng đắn bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở doanh nghiệp tư nhân nói chung). Vũ Minh Hoàng có đã làm politics dài lâu tại những đâu mà lại được đưa vào hệ thống làm chính trị quốc gia?

ii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải trước hết tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp mà Hiến Pháp không bao giờ chấp nhận sự ngự trị của bất tài vô hạnh tham quyền tiêu cực chạy vạy chạy tắt. Vũ Minh Hoàng có đã chạy vạy chạy tắt vi phạm Hiến Pháp hay không?

iii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải biết rằng theo thực hành thường xuyên tốt nhất của các nền dân chủ toàn cầu trong thời điểm hòa bình thì việc “làm chính trị” tất yếu phải qua con đường nghị viện: phải trở thành nghị sĩ – nghĩa là phải có danh tiếng về chuyên môn, có công trình về chuyên môn, có công trạng về chuyên môn, có sự nổi bật chung để được công chúng biết đến rồi từ đó nhận được phiếu bầu của công chúng ấy khi ra ứng cử hoặc được đề cử ứng cử. Vũ Minh Hoàng được bao nhiêu chục người dân biết đến tại Tây Nam Bộ mà được cho chen vào tắt trên bước đường “làm chính trị”?

iv- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải có kiến thức – và thể hiện được bằng hùng biện và thắng tranh biện – về những đề tài “chính trị”, chẳng hạn về từng trong số gần 20 hệ thống chính trị, về việc trong gần 50 loại hình dân chủ thì Việt Nam loại dân chủ nào và vì sao trong các cuộc chiến tranh khủng khiếp giữa các nền dân chủ thì người ta không liệt kê Việt Nam vào danh mục các cuộc chiến tranh giữa Mỹ với các nước khác suốt chiều dài lịch sử của Hoa Kỳ, và về khả năng hùng biện tất cả các nội dung của Hiến Pháp Việt Nam trong đó có vị trí của Đảng Cộng Sản Việt Nam và đường hướng chính trị của đất nước mà người “làm chính trị” bắt buộc không những phải có mà phải ở đẳng cấp cao nhất trong tranh biện ý thức hệ và luật pháp trực tiếp với nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài. Vũ Minh Hoàng có dám tranh biện bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt với tác giả bài viết này về tất cả các vấn đề chính trị để khẳng định năng lực và năng lượng “làm chính trị”?

Như vậy, các lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có đã hiểu hết ý nghĩa của politics, có biết người “làm chính trị” phải nắm hết các nội dung trên, và có biết nhân vật Vũ Minh Hoàng “muốn làm chính trị từ nhỏ” ấy đã hiểu biết ra sao về “làm chính trị” hay chưa mà lại khinh miệt dân tộc bằng cách giao “chính trị” cho đứa hài nhi ấy “làm”?

(b) Có Thái Độ 1 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong thực sự hiểu rõ nhân vật hay các nhân vật mình sẽ chọn bỏ phiếu bầu cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương, thực sự có hiểu biết trách nhiệm bản thân trong việc bỏ phiếu bầu cử, thực sự có hiểu biết rằng nhân vật hay những nhân vật mình đã bỏ phiếu bầu cử sẽ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với mình, với “nhóm” mình, với địa phương mình.

(c) Có Thái Độ 2 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong tự ứng cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương với sự hiểu biết thực sự về trách nhiệm bản thân trong tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp và nếu là nghị sĩ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với “nhóm” mình và với địa phương mình.

(d) Có Thái Độ 3 Đối Với Chính Trị: hiểu biết rằng mỗi khi có ai phát ngôn “không quan tâm đến chính trị” thì đó dứt khoát là người hoặc chống Cộng, hoặc không còn năng lực tâm thần, hoặc trọn đời sống bám, hoặc chưa từng được giáo hóa về ba điểm a và b và c nêu trên – vì rằng ngay cả người làm việc cơ mật như tình báo hay gián điệp cũng không bao giờ ngu dại tuyên bố kiểu tạo vỏ bọc đầy lộ liễu trước các tình báo viên lão luyện rằng “tôi không quan tâm đến chính trị”.

Hãy lấy công tâm mà nhận định cũng như hãy lấy thực tế từ bản thân đảng viên cốt cán, từ lực lượng hậu bị của Đảng, từ giới trí thức do Đảng “bảo bọc”, từ giới trí thức “tự túc”, từ giới tinh hoa bậc nhất của khoa giáo và truyền thông chính thống để chứng minh và khẳng định đã có hay chưa ai hay những ai trong tất cả các lực lượng này đã từng biết đến bốn điều a và b và c và d về chính trị kể trên. Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ sau khi nhuần nhuyễn về Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Mác-Lenin, và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, nắm vận mệnh quốc gia dân tộc, leo lên đỉnh cao quyền lực trong  Trung Ương Đảng và vào Ban Chỉ Đạo, lại tự tung tự tác tự ý sản sinh ra những hài nhi chính trị như Vũ Minh Hoàng, tự tung tự tác tự ý đặt những hài nhi ấy vào ngôi cao lãnh đạo để tái tạo các phiên bản tép riu nội địa Trịnh Xuân Thanh phá hoại thanh danh Đảng Cộng Sản Việt Nam hoặc cho ra phiên bản loại tôm càng nhập khẩu Mikhail Gorbachev đặt dấu chấm hết cho quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Sẽ không ngoa nếu có kẻ chống Việt muốn tiêu diệt Đảng Cộng Sản lập luận rằng – mà không bất kỳ ai trong toàn Đảng kể cả tác giả bài viết này luôn ra sức bảo vệ Đảng có thể hùng biện chống lại – Trung Ương Đảng đang phó mặc buông xuôi cho các Ban Chỉ Đạo sử dụng quyền lực tối cao để tự quyết đội ngũ vây cánh, tự chủ tài chính, và tự lập lãnh địa hùng cứ một phương chờ ngày ly khai tam tứ ngũ lục phân thiên hạ.

2- Cải Cách Giáo Dục: Học Là Cái Gì? Du Học Là Cái gì? Bằng Cấp Là Cái Gì?

Không những lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mà cả Vũ Minh Hoàng đều không hiểu biết về giáo dục & đào tạo, về ý nghĩa của việc học, về lý do của du học, và về giá trị của các đẳng cấp của bằng cấp.

Do nội dung này đã được viết về rất đầy đủ như trong đường link được cung cấp ở phần tham khảo bên dưới, các điểm chính ngắn gọn sau được nêu lên để báo nguy về sự sụp đổ của tư duy giáo dục & đào tạo của Đảng:

a) Con người nhất thiết phải có lòng tự trọng

b) Vì lòng tự trọng, người ta học chữ hoặc học nghề để có thể tạo lập cuộc mưu sinh

c) Khi điều kiện tự túc có thể đáp ứng được, người tự trọng đi du học vì muốn tiếp cận ngành học không sẵn có ở Việt Nam, tiếp cận cách học hiệu quả để tự phát triển và nhằm áp dụng phương pháp mới lạ ấy vào sự đầu tư cho sự nghiệp chuyên môn của mình, tiếp cận nguồn tài liệu và nguồn giảng viên cao cấp hơn ở Việt Nam, và tiếp cận các cơ hội khác dù là tạo cơ sở tiếp cận các học bổng khác hay đơn giản chỉ để tiếp cận cơ hội việc làm cho một kế sinh nhai. Không ai có trí tuệ mà lại cho rằng đi du học là để có bằng cấp có giá trị hơn bằng cấp của Việt Nam vì đó là lập luận của kẻ bất tài vô hạnh chỉ có thể đi tìm việc tại Việt Nam ở các doanh nghiệp không quan trọng hoặc ở các cơ quan quyền lực mà điển hình là Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

d) Vì mục đích mở mang kiến thức giúp cho cuộc mưu sinh ít đi những khó khăn, người ta học nhiều hơn, chăm chỉ hơn, tập trung đúng năng lực trí tuệ và tài chính hơn, và theo đúng sở thích hơn cũng trên cơ sở năng lực trí tuệ và tài chính

e) Vì phục vụ sự học cao hơn đáp ứng một nhu cầu cụ thể và yêu cầu cụ thể của công việc chuyên môn, người tự trọng sẽ tự lo liệu thu xếp để đạt được đẳng cấp “thạc sĩ” để làm quen với việc nghiên cứu rộng hơn, làm quen với việc hợp tác nhóm qua đó lãnh đạo dự án nhỏ của nhóm và lãnh đạo nhóm, làm quen với việc đưa những kinh nghiệm thực tế làm politics ra trao đổi với các bạn trong nhóm, mà tất cả những động tác nghiên cứu, làm việc nhóm, làm dự án, quản lý công việc từ chương trình thạc sĩ sẽ giúp người đạt đẳng cấp ấy sẽ làm politics tốt hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu cao hơn của nơi thuộc kế sinh nhai ấy.

f) Chỉ với năng lực vượt trội về chuyên môn, thói quen nghiên cứu hàn lâm, kèm với khát khao theo con đường trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy đại học, người ta sẽ cố đạt trình độ một tiến sĩ.

Vũ Minh Hoàng học lung tung, học không cần hành (học một lèo không cần thời gian tối thiểu bao nhiêu năm làm việc sau tốt nghiệp đại học để đủ tiêu chuẩn học thạc sĩ, vốn là kiểu học truyền nhiễm từ Đông Nam Á hủy phá chất lượng đào tạo toàn bộ các đại học lừng danh Âu Mỹ) và học tiến sĩ vì “làm chính trị” có bằng tiến sĩ sẽ được coi trọng hơn.

Giáo dục, do đó, phải cải cách. Điều quái gở là đã có những đại cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam nhưng tất cả đều chưa bao giờ là cải cách, khiến “con người mới xã hội chủ nghĩa” vẫn chưa hề được sinh ra kể từ 30-4-1975, khiến lạm phát số lượng “trí thức trẻ”, gia tăng số lượng thạc sĩ/tiến sĩ trên báo cáo số liệu của Việt Nam chứ không trên bản đồ tri thức của thế giới, khiến Vũ Minh Hoàng cắm đầu đi học một lèo lấy tiến sĩ chỉ vì thích làm chính trị từ nhỏ, và khiến lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nghĩ rằng:

– Đầu tư có nghĩa là chỉ cần đưa mấy anh Nhật đem tiền về Cần Thơ, bất kể sự thật là nhà đầu tư Nhật phải sinh lời trên điều kiện tiên quyết Cần Thơ phải hy sinh môi trường Cần Thơ, “đất vàng” Cần Thơ, phúc lợi Cần Thơ và cuộc sống Cần Thơ, bất kể sự thật là Cần Thơ chẳng còn gì về “nông nghiệp” để Vũ Minh Hoàng đưa luận án tiến sĩ phát triển nông nghiệp vào cuộc sống Cần Thơ, đưa mấy công ty nông nghiệp Nhật rót tiền vào Cần Thơ không biết để làm gì, bất kể sự thật là những nhà đầu tư nước khác nếu quan tâm đến Cần Thơ buộc phải tránh Cần Thơ do biết Vũ Minh Hoàng được ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho cắm dùi ở Nhật sẽ thiên vị Nhật Bản, bất kể sự thật là Vũ Minh Hoàng theo con đường “làm chính trị” đúng quy trình nên sẽ sớm chia tay Cần Thơ để  trấn nhậm làm lãnh đạo Tỉnh Ủy ở tỉnh khác rồi từ đó tiến vào Chính Phủ kể cả Bộ Chính Trị, khiến hậu duệ của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại sẽ phải noi gương tiền bối tiếp tục “nôn nóng” chèn ngang đứa hài nhi biết tiếng nước ngoài sắp có bằng cấp tiến sĩ vào làm Vụ Trưởng.

– Vũ Minh Hoàng nhất thiết phải có danh phận để trấn nhậm ở Nhật cuốn hút đầu tư Nhật; song, trước thực tế là luôn luôn có các “bằng cấp hữu nghị” tức không dựa trên thực tài thực lực học hành mà chỉ để tạo điều kiện hình thành tầng lớp lãnh đạo thân mình như Liên Xô cấp cho giới tinh hoa Miền Bắc (nên không có công trình nghiên cứu khoa học nào hữu dụng), Mỹ cấp cho giới tinh hoa Miền Nam (nên tất cả các lãnh đạo giáo dục Sài Gòn đều kém tiếng Anh so với tác giả bài viết này), và Fulbright cấp cho giới tinh hoa dự kiến của Việt Nam (nên đa số phơi bày chống Cộng chứ không trình bày trí tuệ chuyên môn), nên việc phong hàm vụ trưởng/vụ phó cho Vũ Minh Hoàng sẽ đồng nghĩa với việc Nhật sẽ cấp bằng cấp hữu nghị cho Vũ Minh Hoàng, biến Vũ Minh Hoàng thành chức sắc Việt Nam đem lại lợi nhuận và quyền lợi cho Nhật Bản.

3- Cải Cách Tiêu Chuẩn: Tiêu Chuẩn Là Cái Gì?

Vũ Minh Hoàng tuyên bố trình độ văn bằng của y là đáp ứng tiêu chuẩn.

Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải trả lời bằng văn bản cho Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước câu hỏi: quy định nào của Đảng ghi rằng Học không cần Hành, rằng bằng tiến sĩ không để nghiên cứu chuyên môn phục vụ phát triển kinh tế quốc dân mà để làm chính trị như cách để buộc các chính khách chính đảng nước ngoài phải cung kính “Thưa Tiến Sĩ” khi nói chuyện với đảng viên cao cấp Việt Nam?

4- Cải Cách Tham Gia Chính Trị: Tham Gia Chính Trị Là Cái Gì?

Thời đại mới của Việt Nam đòi hỏi những tư duy mới.

Tư duy mới không phải là về thể chế chính trị vì trên toàn thế giới bất kỳ sự đi ngược lại Hiến Pháp quốc gia đều là trọng tội, phản động, và phản quốc.

Tư duy mới phải theo thông lệ áp dụng toàn cầu: làm chính trị bắt đầu từ vai trò nghị sĩ Quốc Hội, vì rằng để trở thành nghị sĩ thì bản thân một người phải có trình độ học vấn, quá trình công tác chuyên môn, danh tiếng và uy tín với cộng đồng, và đặc biệt là được cử tri đặt vào tay người ấy trọng trách “làm chính trị”.

Theo tư duy mới ấy, sự tích cực sẽ được nâng cao tột đỉnh vì người dân có tài sẽ không phải chịu khuất thân dưới quyền quản lý của người khác chỉ vì người khác ấy có khả năng “học một lèo không cần làm lụng kiếm tiền lương nuôi thân với tư cách người tự trọng, có ô dù chở che tạo điều kiện chen ngang của thế gia vọng tộc tinh hoa của Đảng.

Từ tư duy mới nói trên, tầm vóc uy tín tuyệt đối của Đảng sẽ được nâng cao tột đỉnh vì

– Người công dân là chủ thể đích thực của nền dân chủ Việt Nam nên dù ngoài Đảng cũng không thể bị tập thể khác trong Đảng độc quyền làm lãnh đạo đại cuộc phát triển quốc gia;

– Người công dân là đối tượng đích thực của sự phục vụ của Đảng nên dù ngoài Đảng cũng không thể chỉ ở vị trí phục vụ những đảng viên được ưu ái chọn sẵn;

– Người công dân là đối trọng đích thực với Đảng tức trên cở sở và nền tảng của sự ngang hàng về vị thế, ngang bằng về sự kính trọng, và công bằng về quyền lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, vì rằng việc chiến đấu hy sinh trên chiến trường khi nổ ra chiến tranh là của người công dân được tổng động viên chứ không phải của Đảng viên trong quân đội hay con em của các Đảng viên, vì rằng việc lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân là của người công dân yêu nước có năng lực cao chứ không phải họ tiếp tục luôn lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân để những đảng viên được ưu ái chọn sẵn làm lãnh đạo họ để hưởng thụ ngôi cao quyền trọng từ thành quả lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân của người dân ngoài Đảng; và

– Từ những lý do trên, việc “làm chính trị” là quyền của các công dân gương mẫu, nhiều thành tích, tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp, bảo vệ thể chế chính trị Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và được đắc cử minh bạch danh chính ngôn thuận vào Quốc Hội, từ đó tham chính, nghĩa là theo quy trinh tuyệt đối đúng của thời bình theo đó “Nghị sĩ (làm chính trị) ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức Chính Phủ (tham chính)“, chứ không phải theo quy trình thời loạn bấy lâu nay của “Đảng viên ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức trung ương (tham chính) ==> Quan chức Chính phủ (làm chính trị) ==> Nghị Sĩ“.

C- Vũ Minh Hoàng Muốn Là Được

Vũ Minh Hoàng tuyên bố từ nhỏ đã muốn tham gia chính trị.

Bất kỳ đứa bé thần kinh khỏe mạnh nào cũng nghĩ đến việc mình sẽ làm tổng thống.

Cái ý nghĩ ấy bắt đầu biến mất ở đa số đứa bé nào phát triển khỏe mạnh lên “tuổi teen”.

Phát triển khỏe mạnh ở “tuổi teen” nghĩa là hoặc bận rộn với tình cảm yêu đương, hoặc ý thức về những khó khăn trong cuộc sống gia đình với cha mẹ cùng các em mà mình là một thành viên nhỏ bé có ý thức trách nhiệm.

Tình cảm yêu đương khiến đứa bé không còn bé ấy miệt mài lặn ngụp với mộng mơ, xóa sạch cái việc “làm tổng thống” đã không còn là quan trọng cho cuộc đời.

Ý thức về trách nhiệm trước cuộc sống khó khăn của gia đình khiến người tuổi teen trưởng thành trước tuổi, nhận ra cuộc đời rất khó để có màu hống, và cái chính trong đời sống trở thành sự dằn vặt giữa sự tiếp tục lao vào miệt mài học tập để có được một kế sinh nhai có lý hơn và sự quyết định phải hy sinh việc học tìm một kế sinh nhai cụ thể hơn.

Những quá trình mang tính hành trạng tư duy ấy khiến người trẻ tuổi nhận ra giá trị của thực tế, và cái ước mơ “làm tổng thống” (tức “làm chính trị”) trở nên không bao giờ còn tồn tại hay được xem có giá trị theo đuổi hơn thu nhập cao và cao hơn. Chưa kể, trẻ em Mỹ dần nhận ra rằng không trở thành nghị sĩ giàu có và nổi bật nhất của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ; còn trẻ em Việt Nam dần nhận ra rằng không là đoàn viên cao cấp sẽ không thành đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà không là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành lãnh đạo Việt Nam.

Từ đó suy ra, việc Vũ Minh Hoàng vẫn còn duy trì ước mong từ nhỏ “tham gia chính trị” sẽ đồng nghĩa với việc:

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nâng niu ưu ái vẫn còn là đứa bé

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trao cho trọng trách chiến lược phát triển đầu tư kinh tế khu vực vẫn là unfinished person tức (a) người chưa trưởng thành do chưa từng yêu đương ai mơ mộng đến ai; (b) người không hấp dẫn về tính cách hào hiệp bản lĩnh do chưa từng được ai yêu đương; (c) người vô trách nhiệm do chưa từng bận tâm cho một công việc có thu nhập để phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhu cầu sống của gia đình, hay nhu cầu làm việc thiện của bản thân và gia đình; và (d) không có định hướng trí tuệ mà chỉ có mưu đồ “tham gia chính trị tắt” tức kiểu bị khinh miệt của political shortcutism như minh chứng của nỗ lực lấy Cử Nhân Chính Trị Quan Hệ Quốc Tế không để xin làm nhân viên Bộ Ngoại Giao, lấy Thạc Sĩ  Phát Triển Quốc Tế không để xin làm nhân viên phục vụ cơ quan Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, lấy Thạc Sĩ Hành Chính Công không để làm giảng viên đại học bộ môn này hay để xin làm công chức phục vụ cho Đảng trong đại cuộc cải cách hành chính quốc gia vốn đang dẫm chân tại chỗ, và đang chờ lấy Tiến Sĩ Kinh Tế không vì theo sự nghiệp nhà nghiên cứu hàn lâm mà muốn dựa hơi Khoa chủ quản của ngành kinh tế ấy là Khoa Nông Nghiệp để phù hợp với chiếc ghế sẵn có (lãnh đạo một Vụ) ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trên đó có chiêu bài “phát triển Miền Tây Nông Nghiệp” tức có cùng chữ “nông nghiệp” vậy.

Tuổi tác luôn có giá trị của nó:

– Lãnh đạo trẻ tuổi hay chuyên gia trẻ tuổi hoàn toàn thích hợp cho các công việc sáng tạo thích táy máy tay chân như trong ngành liên quan đến công nghệ thông tin hay cơ khí dân dụng;

– Lãnh đạo trẻ tuổi dù quy mô cá thể hay tập đoàn khổng lồ hoàn toàn thích hợp cho các đầu tư kinh doanh tự thân tự túc tự vay tự chịu trách nhiệm của bản thân và/hay gia đình ;

– Lãnh đạo trẻ tuổi không bao giờ thích hợp cho các cơ quan nhà nước mà hoạt động của chúng không liên quan đến kinh doanh/sáng tạo/chế tạo công nghệ thông tin hay cơ khí kỹ thuật dân dụng;

– Một giáo sư toán, một nhà đoạt giải toán quốc tế, một nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình, một chuyên gia trưởng phòng NASA xuất sắc có thể trẻ tuổi;

– Một giáo sư giải phẫu, một bác sĩ ghép tạng lừng danh, một nhà đoạt giải Nobel khoa học tự nhiên như Vật Lý/Hóa Học/Y Sinh, một nhà đoạt giải Nobel Văn Học hay Nobel Kinh Tế không bao giờ trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một cuộc cách mạng ở một nước nhược tiểu có thể trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một nền chính trị đã vững mạnh không thể trẻ tuổi;

– Các nhà tư vấn chính sách và tư vấn phát triển không bao giờ trẻ tuổi,

– Các nhà quản lý các đế chế kinh tài tư bản thế giới không bao giờ trẻ tuổi.

Lãnh đạo một hoạt động có mang tính chiến lược như “phát triển nông nghiệp Tây Nam Bộ” không thể trẻ tuổi.

Quản lý đại cuộc “kêu gọi đầu tư” không thể giao cho một người trẻ tuổi chưa hề thực sự quản lý công việc, chưa hề thực sự quản lý nhân sự, chưa hề thực sự quản lý phát triển thành quả học tập chuyên môn, chưa hề nhận được sự đánh giá khen-chê của bất kỳ “đồng nghiệp” cùng ngành đào tạo nào, cũng như chưa hề được những cư dân địa phương phó thác vận mệnh biết đến và/hay thán phục.

Vũ Minh Hoàng muốn là được, vì Đảng đã có những thành phần Loạn Đảng muốn làm Đảng Loạn nên sẵn sàng triệt hạ tất cả các nhân-tài-dân-dã để đóng sẵn ghế lãnh đạo cho các tinh-hoa-Đảng ngay cả khi nhân vật “Đảng” ấy chưa – và sẽ mãi mãi không – bao giờ là “tinh hoa”.

Tiếc cho người dân Việt Nam vì con em của họ cũng có những ước mơ –thậm chí ước mơ “tham gia chính trị” như Vũ Minh Hoàng – và cũng có những năng lực – thậm chí còn hơn Vũ Minh Hoàng cả vạn bậc ở chỗ có kinh nghiệm làm việc dồi dào và có nhận thức đúng đắn của cống hiến vì Đảng vì Nước vì Dân chứ không vì Ghế như Vũ Minh Hoàng – lại sẽ mãi ở kiếp nhân viên phục vụ nếu không thuộc gia đình Đảng viên cao cấp.

D- Chính Quyền Cần Thơ Muốn Là Được

1) Cần Thơ Tạo Nên Lịch Sử

Trịnh Xuân Thanh là dấu ấn thành công của Cần Thơ: Cần Thơ mà “xin đích danh ai” là sẽ được. Đây là ưu điểm mà tất cả các tỉnh không thuộc Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thèm muốn mà không được.

2) Cần Thơ Lập Lại Lịch Sử

Vũ Minh Hoàng lại nổi lên như một nhân vật vì Cần Thơ, chứng tỏ Đảng ưu tiên cho Cần Thơ bằng cách lôi từ trong bóng tối ra giao cho Cần Thơ một nhân tài không-cần-làm-cũng-có-sẵn-kinh nghiệm để “đem đầu tư Nhật về Cần Thơ”. Và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải đổi tên thành Ban Chỉ Đạo Tây Đô vì đã bỏ mặc tất cả các tỉnh còn lại của Tây Nam Bộ do không có tỉnh nào có tên mang chữ Tây (du học Tây) và Đô (USD tiền đầu tư) như Cần Thơ.

3) Cần Thơ Rút Kinh Nghiệm Lịch Sử

Rất có thể vì sự thất bại ê chề đầy tai tiếng của việc trực tiếp xin Trịnh Xuân Thanh, phải chăng Cần Thơ đã nhờ Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ xin giúp? Tất cả sẽ tồn tại như một thuyết âm mưu vậy.

E- Phải Hủy Bỏ Triệt Để Và Toàn Diện

Việc dựng xây luôn được tiến hành với nhiều hơn một yếu cầu như (a) xây mới từ nơi lựa chọn mới, (b) đào đắp gia cố lại nền móng, (c) khơi thêm tầng, (d) tháo dỡ bớt tầng, (e) mở rộng diện tích mặt bằng, (f) thu hẹp diện tích mặt bằng, (g) tạo khoảng sân vườn và/hoặc sân trời hay giếng trời, (h) lắp thêm mái hiên, (i) dựng cổng dựng rào, và (j) thay màu ngói hay tường.

Chỉ có kẻ dốt nát tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có người thành công vượt bậc mới đủ sức hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng mới mà dù theo cách nào bản thân vẫn là chủ nhân ông quyền lực duy nhất của gia tài.

Chỉ có bọn thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có một Đảng chính trị thành công vượt bậc mới đủ sức người sức của sức quản trị để hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng thêm kiến trúc mới mà dù theo cách nào bản thân Đảng vẫn là lãnh đạo duy nhất của quốc gia.

Chỉ có bọn truyền thông ngu đần thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình kiếm tìm chiếc mũ “phản động” để chụp lên đầu tác giả bài viết này, người đã như một tiền lệ kiểu Donald Trump đạp đầu dìm cổ truyền thông chính-thống-bất-chính-đạo xuống bùn nhơ.

Vì vậy, nội dung loại bỏ toàn diện sau đối với các Ban Chỉ Đạo là để sử dụng quyền lực ưu việt có thực của Đảng Cộng Sản Việt Nam biến tổ chức Đảng thành siêu việt.

1) Loại Bỏ Tất Cả Các Ban Chỉ Đạo

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm các lĩnh vực xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và tất cả các Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở tất cả các địa phương. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc Mặt Trận Tổ Quốc hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm luôn cả lĩnh vực bảo đảm an ninh/quốc phòng, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của các Bộ đặc thù, và do đó không bao giờ nên – hoặc không bao giờ có thể – đặt ngoài sự giám quản của Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng,  Bộ Công An, và tất cả các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu. An ninh/Quốc phòng phải không được – và không bao giờ được phép – xem như thứ mà quá nhiều cơ quan được nhúng tay vào chỉ vì lý do duy nhất của “cùng là cấp cao ngang hàng của Đảng” nên không chịu mất phần quản lý lực lượng vũ trang để tạo vây cánh riêng.

Từ các phân tích xuyên suốt nêu trên,

trước thực tế

(a) Đảng có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(b) Chính Phủ có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(c) Mặt Trận Tổ Quốc có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(d) Các Ban Chỉ Đạo không có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(e) Tổ chức Đảng được minh định trong Điều Lệ Đảng

có thể khẳng định Chính Phủ trực tiếp điều hành đất nước và tổ chức Đảng không hề được hiến định là một Chính Phủ Cấp Trên của Chính Phủ.

Sự cải tổ cơ cấu tổ chức của Đảng do đó cần hợp lý hóa theo sát trào lưu hiệu quả, tinh giản, tiết kiệm, đồng bộ, nghiêm ngặt, khoa học, nhất thiết nên xét đến hướng sau:

a- Trung Ương Đảng sẵn có bộ máy phục vụ Bộ Chính Trị đối với những nội dung như phân định cho các Ban Chỉ Đạo chứ không phải để Bộ Chính Trị thành lập riêng các Ban Chỉ Đạo ấy; do đó, giải thể các Ban Chỉ Đạo Tây Bắc, Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ;

b- Trung Ương Đảng có cơ quan quyền lực mang tên Ban Kinh Tế Trung Ương, và cơ quan này, nếu muốn, có thể thành lập các tiểu ban dưới quyền bao gồm các Ban Tây Bắc, Ban Tây Nguyên, Ban Tây Nam Bộ, Ban Đông Nam Bộ, hay Ban Bắc Trung Bộ, v.v., tùy hoạch định chính sách khi thực sự tối cần thiết;

c- Ban Kinh Tế Trung Ương, do đó, là cơ quan trí tuệ của Trung Ương Đảng và của Bộ Chính Trị mà không phải có sự phân chia ban bệ hình thành những “triều đình” tức những “chính phủ” khác nhau cho những cơ chế dường như chỉ cho cảm nhận tất cả không chịu tự đặt dưới quyền nhau; và như vậy

d- 3 Ban Chỉ Đạo bị loại bỏ do không còn bất cứ lý do chức năng tưởng tượng hay thực tế nào tồn tại vì

– Chuyền chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của 3 Vụ Kinh Tế của 3 Ban Chỉ Đạo về Ban Kinh Tế Trung Ương (trọn gói hoặc phân nhánh thành các tiểu ban hoặc tiểu phòng về Vụ Kinh Tế Tổng Hợp hay Vụ Công Nghiệp và Vụ Nông Nghiệp-Nông Thôn), hoặc giải thể hẳn nếu các nơi này không cho rằng việc thành lập các “tiểu ban chỉ đạo vùng” là cần thiết.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Văn Hoá – Xã Hội của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Xã Hội.

– Giải thể hẳn 3 Vụ An Ninh – Quốc Phòng của 3 Ban Chỉ Đạo vì lý do tối quan trọng của an ninh-quốc phòng do các cơ quan tối quan trọng đặc thù an ninh-quốc phòng đảm trách như Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, và các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Địa Phương, chưa kể Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam đang thất bại thảm hại từ việc xao nhãng công tác “dân tộc – tôn giáo” của họ, mà các vụ việc giáo dân “biểu tình” làm loạn không rõ thuộc trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc, của Trung Ương Đảng, hay của các Ban Chỉ Đạo.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị của 3 Ban Chỉ Đạo vì toàn quốc đã có hệ thống dày đặc các Đảng Ủy, Tỉnh Ủy, Thành Ủy vốn mặc định phải chịu luôn trách nhiệm xây dựng hệ thống chính trị của Đảng.

2) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Dụng Nhân Thất Học Kiểu Cần Thơ

Cần Thơ – gộp chung Lãnh Đạo Cần Thơ và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đóng ở Cần Thơ có những động thái nhét người vào Cần Thơ – đang chứng tỏ đã có sự dụng nhân thất học mang signature thương hiệu đặc thù của Cần Thơ. Các phân tích sau, do đó, cũng để gián tiếp khẳng định Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã chưa hề nhận ra và có bất kỳ động thái nào để tận dụng thời cơ cho Cần Thơ ngoại trừ phí bỏ thời cơ phát triển kinh tế mà chỉ lạm dụng thời cơ phát triển nhân sự kiểu nhét người mà lý do là “nôn nóng” chứ hoàn toàn bất tài vô dụng trong phát triển chiến lược toàn vùng Tây Nam Bộ.

a- Thực Lực Sức Mạnh Kinh Tế Quá Khứ Của Cần Thơ

Vào thời điểm cách nay 28 năm lúc tác giả bài viết này trở thành người “có công” giúp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam – do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Báo Tuổi Trẻ tôn vinh – thì những chuyến đi như con thoi đến các vựa gạo ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, và Hậu Giang, trong đó có Cần Thơ đã được ông ta thực hiện. Sau khi lựa chọn kỹ các công ty cung cấp gạo để ký kết các hợp đồng kinh tế bằng USD đầu tiên của Việt Nam về gạo như Imex Đồng Tháp của Tỉnh Đồng Tháp, Generalimex của Bộ Ngoại Thương, và Imexco của Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm điều tàu vào Cảng Khánh Hội để nhận gạo trở thành thời điểm ông theo sát các đoàn xe tải và các đoàn xà lan chở gạo từ Tây Nam Bộ, cho đến khi ba bộ chứng từ giao hàng Bill of Lading được ký xuất, mà hiệu quả của việc thanh toán cả 3 Letter of Credit cùng sự thành công về chất lượng hàng giao đến Ấn Độ đã làm ông được liên tục tiếp cận bởi các nhà nhập khẩu gạo ở nước ngoài – thậm chí từ Mỹ – ngay cả khi ông quản lý văn phòng đại diện CIMMCO International nên không  có quyền tự do tư vấn hay thực hiện môi giới kinh doanh gạo với bất kỳ ai khác ở hải ngoại.

Thế nhưng, sự tích cực tham dự các Hội Nghị Quốc Tế về gạo sau đó dù ở Cần Thơ hay ở Thành phố Hồ Chí Minh (dưới sự chủ trì cũng của Cần Thơ) chỉ khiến tác giả bài viết này nhận ra một điều: các Đảng Ủy chỉ tập trung hình thành đế chế quyền lực của cái gọi là Hiệp Hội Xuất Nhập Khẩu Lương Thực toàn là những vị (a) chưa hề trực tiếp làm việc với nước ngoài về xuất khẩu gạo, (b) chưa hề có uy tín đối thoại đàm phán đối với các nhà nhập khẩu gạo nước ngoài, (c) chưa hề có các nghiên cứu nào có liên quan và có giá trị hữu dụng đến chiến lược nông nghiệp, cũng như (d) chưa hề nắm bắt gì về thị trường lúa gạo thế giới, dẫn đến hai thập kỷ liên tiếp sau đó trở thành đầu têu cho báo chí khi có những quyết định –  vô tình do dốt nát hay cố ý tạo lợi thế cho bàn tay vô hình của tư  bản nước ngoài – khiến Việt Nam mất nhiều cơ hội xuất gạo với giá cao hơn, mất một thị trường nhập khẩu đặc thù nào đó, mất sạch các cơ may để nông nghiệp Tây Nam Bộ trong đó có Cần Thơ cất cánh, và mất sạch các sự bảo đảm cho bất kỳ sự thành công nào của đại cuộc Phát Triển Tam Nông.

b- Sức Mạnh Quá Khứ Kinh Tế Chủ Soái Khu Vực Tây Nam Bộ Của Cần Thơ

Với thực lực trên, cùng với ưu thế của một địa phương được mặc định phát triển sớm nhất cả vùng về cơ sở hạ tầng đô thị hóa, cơ sở thủy lộ truyền thống, cơ sở sản xuất kinh tế nông-công-thương, cơ sở dịch vụ đô thị, và cơ sở sức mạnh tài chính, Cần Thơ lẽ ra đã giữ vị thế chủ soái của Tây Nam Bộ nếu như cơ sở Đảng của Cần Thơ chủ động tích cực tư duy ngoài-chiếc-hộp out-of-the-box đối với phát triển của địa phương trong tương quan vùng miền vì Trung Ương đặt để các vị vào vi trí nào là để các vị cung cấp cho Trung Ương các phân tích mang tính kế sách chứ không phải ngự trị chờ rót ngân sách, chở Trung Ương chỉ dạy phải làm gì, chờ Trung Ương ban cho kế sách gì, và chờ quỳ xin hay vận động Trung Ương rót thêm kinh phí, đưa dự án trọng điểm về địa phương, hoặc phân bổ phần bánh lớn hơn từ nguồn vốn ODA mà cả dân tộc Việt Nam phải cùng chung gánh nợ từ nay đến đầu Thế kỷ XXII.

c- Vấn Đề Ngày Nay Của Cần Thơ Về Kinh Tế Và Nhân Lực

Do nội dung kinh tế nông nghiệp chưa hề được phát triển phát huy;

Do những công ước quốc tế dường như chỉ được xem như mang thuộc tính vĩ mô hoàn toàn không là trách nhiệm nghiên cứu nhằm đưa vào kế sách cụ thể của các lãnh đạo Đảng ở địa phương nên các chi tiết của Công Ước Vienna 1985, Nghị Định Thư Montreal 1990, Công Ước Khung Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu 1992 đã chưa hề được tính đến, mà tình hình tự nhiên tác động hủy phá sự phát triển bền vững nông nghiệp vùng Châu Thổ Sông Cửu Long dù mang tính cảnh báo hiển nhiên từ lâu;

Sự sử dụng nhân sự và đầu tư cho nguồn nhân lực của Cần Thơ đã phát ra những tín hiệu khẩn báo cho sự sụp đổ ngay từ đầu của Cần Thơ.

Miền Tây Nam Bộ đã hài lòng với nhân vật kiệt xuất Giáo sư Tiến Sĩ Võ Tòng Xuân trong tạo ra các giống lúa, dù tác giả bài viết này hai chục năm trước đã viết rằng vị giáo sư ấy rồi sẽ chẳng giúp gì cho nông nghiệp Việt Nam do (a) các vấn nạn có thể hé lộ từ các vấn đề nêu lên trong các Công Ước và Nghị Định Thư nói trên chưa hề mang tính chiến lược rõ nét trong các hoạt động chuyên môn của giáo sư; (b) nông nghiệp không chỉ là cây lúa mà còn là cây ăn trái, thảm thực vật, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, (c) do đó giáo sư đã không ở vị trí tầm cỡ để có bất kỳ đóng góp hiệu quả nào trước thực tế thoái hóa giống tất cả các loại cây trái Tây Nam Bộ cũng như suy thoái môi trường từ hoạt động sản xuất công-nông và biến đổi khí hậu. Do vậy, miền Tây Nam Bộ ngoài có thêm vài giống lúa đã không thể làm nông nghiệp phát triển xanh và phát triển bền vững.

Trong khi một nữ nghị sĩ doanh nhân lớn ở Bình Phước (Quốc Hội Khóa XIII) đã nhận ra tác giả bài viết này tại Nghị trường, nhắc lại kỹ niệm về ông 25 năm trước, lúc ông lăn xả đàm phán và cung cấp tài liệu mật để giải quyết sự cố xuất khẩu hạt điều giữa Việt Nam và Ấn Độ tại 3 cuộc họp căng thẳng giữa đại diện Chính Phủ Việt Nam – cán bộ cao cấp Xích Hồng – và Đại Sứ Ấn Độ, mà kết quả là (a) tác giả đã đấu khẩu hùng biện buộc được tất cả 3 công ty Ấn Độ trong đó có CIMMCO International và Mount-a-Mount phải nhận toàn bộ lượng hạt điều đã ký mua của Việt Nam, (b) nông dân và các doanh nghiệp Sông Bé – nay là Bình Phước – thoát nạn trong đó có công ty của vị nữ chủ nhân sau này là nghị sĩ nói trên, còn hậu quả là (c) tác giả bài viết này mất ghế lãnh đạo văn phòng đại diện CIMMCO International do bảo vệ quyền lợi nông dân Việt Nam chống lại quyền lợi của các nhà nhập khẩu nông sản Ấn Độ; thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ như gà mắc tóc trong công tác nhân sự, không biết ai là ai và ai mới thực là người làm nên đại sự cho đại cuộc phát triển Tây Nam Bộ.

Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã hoàn toàn không ai có tầm cỡ chiến lược phát triển khu vực. Chính vì sự không biết, không hiểu, không học, không nhận ra các đòi hỏi cao cấp, nghiêm khắc, nguy nàn của thời gian, thời thế, thời cuộc, mà lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã hấp tấp phong vương cho Vũ Minh Hoàng bất kể

i- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự cần gì để phát triển;

ii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để phát triển;

iii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự có thể tạo mới cái gì để phát triển;

iv- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng nào để phát triển;

v- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;

vi- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để đầu tư ngoài nước;

vii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – vì điểm iv và v  ở trên mà đòi hỏi nhân sự được phong vương phải là tay kiệt xuất, dồi dào kinh nghiệm, đầy ắp công trạng, và phong phú tri thức cùng uy tín cực cao mới đối phó được chu toàn, mà tất cả những yêu cầu phải có này thì vĩnh viễn không bao giờ có nơi đứa trẻ chưa hề làm việc chưa hề được toàn Đảng biết đến, chưa hề thi thố tức đem ra hành hiệu quả cái đã học quả hiệu, và chưa hề được cả giới hàn lâm và bình dân nghe tên.

3) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Đào Tạo Ngợm Lực

a- Nhân Lực Resources & Nhân Lực Capital:

Từ ngàn xưa tất cả các triều đại – dù chính danh hay ngụy danh – đều dựa vào nguồn nhân lực để hình thành, tồn tại, và phát triển.

Nguồn nhân lực ấy luôn phải đặt trên sự nổ lực tự học, chăm hành, trau giồi đức dục của bản thân (tu thân); trong tạo nên và/hay bổ sung nội lực gia đình (tề gia); trong thể hiện cụ thể lòng hy sinh quyền lợi bản thân cùng hạnh phúc cá nhân để ra tham chính giúp vua với lòng trung quân ái quốc (trị quốc), và trong trở thành phân tử gắn kết đầy hữu ích cho xã hội (bình thiên hạ).

Nguồn nhân lực ấy phải lớn mạnh từ trên nền tảng của luật lệ hà khắc để uốn nắn đúng, giám chế đúng (giám sát và chế ngự), phát triển đúng, tưởng thưởng đúng, và trừng trị đúng. Rèn thép và tôi thép hay luyện cán thép không thể bằng phong thái tay trần nhào bột. Và rường cột chống đỡ cho mái nhà quốc gia không thể nào là cây bột hay thanh bánh bột rán.

Một người xuất thân từ human resources là người bình thường, vì bất kỳ ai cũng có thể là human resources đáp ứng cho một yêu cầu công việc nào đó. Và đó là lý do Phòng Nhân Sự HR tuyển dụng từ giám đốc cho đến tạp vụ.

Một người xuất thân từ human capital tức là viên ngọc quý hội đủ các bảo bối mang tên kiến thức, tài năng, kỹ năng, khả năng, sự thông minh nhạy bén, tài truyền thụ, tài đánh giá, và trí tuệ uyên bác, tất cả biến người đó thành một thứ tài sản quý báu của bất kỳ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, quốc gia nào.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những đảng viên nguồn nhân lực human capital nên đã chiến thắng.

b- Ngợm Lực:

Tuy nhên, những sự việc diễn ra ngày càng nhiều hơn, thường xuyên hơn về con người của Đảng đã cho thấy nguồn nhân lực của Đảng đã không còn trên cơ sở human capital mà chỉ là human resources tức không thể cao ngang bằng ngay cả với một doanh nghiệp sở hữu human capital.

Đặc biệt khi nguồn lực đã không trên cơ sở tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ mà lại còn trên bãi ươm mầm mang tên nhân đạo và giáo dục làm sinh sôi nẩy nở sự trây lờn tiến đến hòa trộn vào tội ác, thì chỉ có thể là nguồn ngợm lực (sources of ape-like beings) chứ không bao giờ là nguồn nhân lực (resources of human capital).

Khi sự việc Vũ Minh Hoàng bị công khai, các lãnh đạo của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã chống chế bằng 4 luận điểm ngu xuẩn đần độn sau:

(i) “Việc bổ nhiệm ấy không có hại gì cho Đảng, địa phương và nhân dân, mà chỉ vì sự phát triển chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Điều duy nhất đúng phải luôn là: Cái Gì Có Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Hãy Làm!

Nghĩa là: Cái Gì Có Bất Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Cấm Làm!

Cũng có nghĩa là: Cái Gì Không Có Hại Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân, Nghĩa Là Cũng Không Có Lợi Thì Làm Để Làm Cái Quái Gì?

Điều duy nhất chính xác luôn là: lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ không có gì chứng minh bản thân có tài chiến lược phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long vì đã “sốt ruột nóng lòng” vốn không bao giờ được phép có nơi người giữ vị trí chiến lược của Đảng, của quốc gia.

(ii) “Cơ quan phát hiện Vũ Minh Hoàng giỏi ngoại ngữ, khi sang Nhật có thể kêu gọi đầu tư được, có thể làm tốt vấn đề kinh tế đối ngoại”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cần phiên dịch nên ban cho phiên dịch viên chiếc ghế lãnh đạo ư?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tài cán đến đâu về ngoại ngữ mà khẳng định Vũ Minh Hoàng “giỏi” ngoại ngữ?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ phải chăng sẽ bổ nhiệm thêm 50 Phó Vụ Trưởng để cử đến 50 quốc gia khác để kêu gọi đầu tư? Vậy đó không phải là việc của các Tham Tán Thương Mại các Đại Sứ Quán Việt Nam? Hay các Tham Tán ấy chỉ giỏi tham làm tán gia bại sản quốc gia? Hay quả thực đã có Chính Phủ trong Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ?

– Nếu tác giả bài viết này xung phong không nhận bất kỳ “hàm” nào của Đảng hay Nhà Nước, làm xuất sắc công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại đầu tư phát triển Tây Nam Bộ, thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có vì Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân mà sử dụng nguồn human capital này không? Hay chỉ công nhận hậu duệ của các đảng viên cao cấp mới có cái thứ human capital mà thế giới tư bản siêu cường có đày ắp còn ở Việt Nam chỉ có Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mới có “nguồn” ấy?

(iii) Quy định bổ nhiệm cán bộ cấp vụ có nêu tiêu chuẩn thế này thế kia, nhưng sau văn bản đó cũng nêu “tùy do lãnh đạo ban quyết định và chịu trách nhiệm”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Đã làm sai còn vận dụng văn bản quy định mà không biết rằng

– Đó là hành động phơi bày điểm yếu chết người của cái gọi là “Quy Định Bổ Nhiệm” của Đảng

– Chỉ có kẻ thất học mới không hiểu rằng nội dung đó chỉ có nghĩa: ngay cả khi các tiêu chuẩn được đáp ứng đủ đầy thì lãnh đạo ban vẫn phải chịu trách nhiệm khi ký quyết định bổ nhiệm. Làm gì có chuyện trí tuệ của Đảng sau khi đề ra bao thành quách lũy hào lại kết rằng: dù vậy vẫn có thể bất kể các thành quách lũy hào trên và muốn chọn ai thì chọn miễn chịu trách nhiệm cho sự chọn ấy!

(iv) Tiêu chuẩn về chính trị có bằng cao cấp, nhưng còn tùy do lãnh đạo ban xem xét và chịu trách nhiệm chứ không phải cứng nhắc hoàn toàn.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại có kẻ đề ra rồi bắt toàn Ban chịu trách nhiệm ư?

– Tổ chức của Đảng mà xem nhẹ tiêu chuẩn chính trị ư?

– Tiêu chuẩn chính trị mà còn dám xem nhẹ thì ai bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của người được bổ nhiệm?

– Sự linh động luôn cần thiết cho một thực thể sống. Tuy nhiên, trong một cơ thể sống vẫn có những bất di bất dịch mà sự di hay dịch nếu xảy ra sẽ biến thành ung thư. Trong bài viết về Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình, tôi đã có tiến cử hiền tài cho Đảng và Nhà Nước, và Bộ Trưởng đã trả lời rất đúng nguyên tắc công bằng chuyên nghiệp. Nguyên tắc, sự công bằng, và tính chuyên nghiệp là những thứ xa xỉ hoàn toàn không bao giờ có tại Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

F- Kết Luận

Vũ Minh Hoàng không chỉ là một cái tên.

Vũ Minh Hoàng là thí dụ điển hình của sự thất bại của cả hệ thống về giáo dục, đào tạo, tư tưởng, trí hóa, nguồn nhân lực, quy trình dụng nhân, và lạm quyền.

Vũ Minh Hoàng mang tính khái niệm về Đảng Loạn.

Đảng Loạn vì Loạn Đảng.

Loạn Đảng là mầm mống khởi đầu của Diệt Đảng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Tham khảo:

Chủ Đề Quy Trình Dụng Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

14-9-2016 Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Chủ Đề Chính Trị Việt Nam:

18-5-2013 Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

02-7-2013 Tuyệt Thực

26-11-2013  Về thực quyền, thực uy

24-3-2014 Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

01-9-2014 Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

06-4-2015 Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập

11-4-2015 Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

11-9-2015 Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam

10-10-2015 Diệt Tham Nhũng

02-12-2015 Bôi Nhọ

16-12-2015 Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII

25-12-2015 Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

14-01-2016 Chính Trị

02-02-2016 Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

27-4-2016 Bầu Cử

29-4-2016 Ngày 30 Tháng 4

19-7-2016 Tứ Trụ Bắc Việt

08-08-2016 Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

11-9-2016 Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Chủ Đề Chính Trị Hoa Kỳ:

15-02-2014 Nước Mỹ Bất Hạnh

29-3-2014 Nước Mỹ Vỡ Vụn

01-01-2016 Tôi Ủng Hộ Donald Trump

15-4-2016 Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam

17-5-2016 Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

19-6-2016 Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

27-9-2016 Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

25-10-2016 Hillary Clinton

14-11-2016 Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People

Chủ Đề Chính Trị Thế Giới:

11-3-2016 Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền

12-7-2016 Tôi và Saddam Hussein

25-7-2016 Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

23-7-2016 Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

29-10-2016 Rodrigo Duterte Dạy Cả Thế Giới Âu Mỹ

05-11-2016 Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Chiêu Đòn

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-12-2016

Chiêu đòn là sự xuất chiêu để hoặc tự vệ, hoặc tấn công, hoặc tạo “hư” hoặc tạo “vô” nhằm phá “thực”, hoặc thậm chí tạo “thực” để phá “hư”, mà cái gọi là “chiến thắng” thì có khi (a) đặt ra ngay lúc này như một nhãn tiền, có khi (b) đặt ra cho thế trận sau 88 nước cờ nữa, có khi (c) chả đặt thế gì sất mà chỉ đơn giản thí con săn sắt bắt con cá rô, và có khi (d) chả bắt cá rô cá mập gì cả mà chỉ để hoặc tỏ ta đây là đấng Don Juan cố làm vui lòng người ngọc hoặc để làm phúc cho người bất hạnh.

Chiêu đòn biến hóa khôn lường nơi bậc cao thủ võ lâm.

Trẻ con trẻ nít trẻ ranh mỗi khi ra chiêu đòn dù ma giáo hay quỷ giáo hoặc chằng tinh gấu ngựa giáo để ghi bàn chiến thắng ai thì sẽ tự ca rằng mình là chính thống đại gia.

Trẻ con trẻ nít trẻ ranh khi bị ăn chiêu ăn đòn thường khóc thét lên méc mẹ mách cha rằng kẻ cho mình ăn chiêu đòn là kẻ không đàng hoàng, vì kẻ đàng hoàng là kẻ lẽ ra phải đứng yên để mình quánh.

Trẻ con trẻ nít trẻ ranh mỗi khi thấy đại gia bị thua thì vội vàng mừng rở hân hoan vì lòng mặc cảm tự ti đầy ganh tỵ.

Trong chuyến thăm Nhật Bản tháng 9 năm 2000, Tổng Thống Nga Vladimir Putin đã bị nữ sinh tiểu học Natsumi Gomi 10 tuổi dùng một đòn Judo quật ngã tại Trung Tâm Nhu Đạo Kodokan ở Tokyo trước sự chứng kiến của Thủ Tướng Nhật Bản Yoshiro Mori

screen-shot-12-05-16-at-06-35-pmscreen-shot-12-05-16-at-06-35-pm-001

BBC Anh Quốc mừng húm vội vàng tung ngay tin rằng Ông Putin, võ sĩ huyền đai Nhu Đạo, cựu trùm cơ quan tình báo Liên Xô KGB hùng mạnh, có thể lực tuyệt luân, đã bị một cô bé Nhật nhấc bổng quăng ngã một cách dễ dàng. BBC thậm chí còn viết rằng ắt Putin sẽ chữa thẹn bằng cách bảo rằng ấy là tại tại ông “nhường” cho Natsumi tập ném ông đó thôi, và rằng ai mà dám cãi lại ý kiến của một nguyên thủ có đai đen Judo xuất thân từ cơ quan KGB toàn người võ nghệ cao cường cơ chứ.

Tất nhiên, Tổng Thống Vladimir Putin cười hì hì, chả có thanh minh thanh nga gì cả.

Tất nhiên, Thủ Tướng Yoshiro Mori cười hà hà, chả có nói đỡ lời chữa thẹn cho Putin gì cả.

Tất nhiên, nữ sinh Natsumi Gomi cười hi hi, chả tự khoe mình giỏi hơn bậc cao thủ huyền đai nhu đạo.

Tất nhiên, mọi người trưởng thành đều hiểu rằng chiến sĩ KGB mà xuất chiêu đòn thì chỉ có mỗi việc duy nhất đưa kẻ thù Đức Quốc Xã (hoặc Mỹ) về chốn vĩnh hằng.

Tất nhiên, mọi người trưởng thành đều hiểu rằng Vladimir Putin mà quật ngã Natsumi Gomi thì gay go cho Vladimir Putin vì ai đời là bậc trưởng thượng lại bắt nạt con nít chứ không dám xin thi đấu với sư phụ của Natsumi Gomi.

Tất nhiên, mọi nhà chiến lược ngoại giao Nhật đều hiểu ngay rằng Vladimir Putin đã ghi bàn thắng quan trọng: để Natsumi Gomi quật ngã khiến người dân Nhật hả hê, lòng tự hào dân tộc được nguôi ngoai vì chí ít nếu chưa đòi lại được Quần Đảo Kuril thì cũng đã cho Vladimir Putin đo ván bởi một bé gái.

Và tất nhiên, nhu đạo Nhật Bản lên ngôi vì (a) được lãnh đạo siêu cường Nga học tập rèn luyện có nghĩa là Judo được quân đội Nga xem trọng, (b) được lãnh đạo siêu cường Nga thi thố trên đất Nhật trong võ phục Nhật, (c) được lãnh đạo siêu cường Nga chịu bị quăng ném như khẳng định Judo tại chính quốc luôn ưu việt hơn, và (d) điều cực kỳ quan trọng là Vladimir Putin đã mặc nhiên chứng tỏ với thế giới là “ông già” Vladimir Putin nhờ võ Judo mà có bị quăng ném vẫn không hề bị chứng loãng xương gây ra sự cố gì sất.

Hữu Xạ Tự Nhiên Hương. Ông Vladimir Putin chả cần nhờ vã Thủ Tướng Nhật hay nữ sinh Nhật “nói đỡ giùm”, “cứu bồ hộ”. Vì Vladimir Putin biết rõ rằng (a) chỉ có bọn truyền thông chính thống hạng bét như BBC mới nói rồ về ông, rằng (b) giới ngoại giao kỳ cựu trên toàn thế giới đều biết ông đã ra chiêu đòn hiểm, và rằng (c) thế nào trong tương lai cũng có ông bạn Hoàng Hữu Phước ở Việt Nam viết về sự việc vô tiền khoáng hậu này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ba Que Trên LinkedIn

Bài đăng trên LinkedIn: “A Fake or a Hoax” và “A Scam on LinkedIn”

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-12-2016

1) A Fake or a Hoax

 scam-1

Ba Que Xỏ Lá

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-11-2016

Tôi thấy trên LinkedIn có gả này hê rằng trước đây y là Phó Giám Đốc cho một công ty gọi là MYA Bizcorp.

scam-4

Với tư cách chủ nhân của MYA BizCorp, tôi qua đây khẳng định rằng kẻ nói trên chưa từng được tôi tuyển dụng để làm việc cho tôi hay cùng làm việc với tôi tại MYA BizCorp hay tại bất kỳ công ty nào dưới quyền giám quản của tôi.

Theo quy định nghiêm ngặt nhất và thực hành tốt nhất của tôi thì đội ngũ nhân viên của tôi phải được tôi chọn lựa kỹ nhất từ các học trò tài năng nhất và trung tín nhất của tôi; không bất kỳ ai khác có được bất kỳ cơ may nào để được làm việc cho tôi.

Thông tin từ cái gã nói trên có thể là láo xạo hoặc bịp lừa; tuy nhiên, dù xạo hay lừa thì chẳng thứ nào được chấp nhận trên một trang mạng nghiêm túc và chuyên nghiệp như LinkedIn cả.

Quý vị có thể kiểm tra online đối với MYA BizCorp hay MYA Bizcorp (Doanh Thương Mỹ Á) để biết chắc chắn rằng công ty của tôi là pháp nhân duy nhất trên toàn Việt Nam mang tên công ty như thế.

Nội dung trên kính trình quý vị để tường và cảnh giác.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

www.myabiz.biz

2) Scam on LinkedIn

 scam-3

Bịp Bợm

Hoàng Hữu Phước, MIB

06 December 2016

Cách nay một tháng tôi có đăng trên web này một bài mang tên “A Fake or a Hoax” nói về một gã gọi là Thanh Luan Nguyen vốn đã khoe rằng y trước đây là Phó Giám Đốc tại công ty MYA Business Corporation của tôi.

Tuy nhiên, tôi lại vừa phát hiện gã ấy đã dựng một hồ sơ mới trên LinkedIn dưới tên gọi mới ngắn hơn là Luan Nguyen và một chức danh mới to lớn hơn là Chủ Tịch kiêm CEO của một công ty mới lạ hoắc là MZA Business Corporation ắt tọa lạc đâu đó trên Hỏa Tinh chứ không phải trên Địa Cầu hoặc chí ít là không ở Việt Nam.

Gã này đã sao chép một số phần các thông tin về tiểu sử, kinh nghiệm làm việc và học lực của tôi như đăng trên phần thông tin cá nhân của tôi tại LinkedIn (xin vui lòng xem mấy thứ đó của hắn tại https://www.linkedin.com/in/luan-nguyen-3b5787131 và so sánh với nguyên mẫu của tôi ở https://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc).

May mắn là hắn đã không lấy ảnh chân dung của tôi để làm ảnh của hắn.

scam

Có lẽ hắn bị loạn trí.

Có lẽ hắn đang định lừa bịp ai đó trong cộng đồng LinkedIn.

Thông tin trên được báo đến quý vị để tường và cảnh giác.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

www.myabiz.biz

Nhà Độc Địa

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-12-2016

A) Chống Cộng:

Như đã nêu rõ trong bài Chống Cộng, trên toàn thế giới tư bản hùng mạnh Âu Mỹ đã không còn sử dụng từ “chống Cộng” tức anti-communism hay anti-communist vì các lý do đơn giản như:

1) Trong triết học Âu Mỹ suốt hai thiên niên kỷ nay chưa hề có bất kỳ triết thuyết nào mang tên anti-communism cả;

2) Trong xã hội Âu Mỹ hiện đại từ ngữ anti-terrorism tức “chống chủ nghĩa khủng bố” xuất hiện từ sự truy tìm từ ngữ thích hợp hơn cho thực tế Âu Mỹ muốn các thần dân cùng chư hầu của mình đừng nhớ gì thêm đến “chủ nghĩa cộng sản” vì

a- Cái chủ nghĩa ấy không còn bất kỳ “ông trùm” nào đáng sợ nữa do Liên Xô đã biến mất tiêu mất tích, Tàu thì trơ vơ đơn độc cuối trời mây phiêu du lãng đãng do làm gì có thứ “cộng sản” mất dạy mất nết hư thân vong thân đã tự chuyển hóa tự diễn biến thành “chủ nghĩa cộng của tao” tức commu-egoism mà bản thân nó đã mạnh mẽ phủ nhận “chủ nghĩa cộng sản” rồi thay thế bằng “chủ nghĩa lông lá tả pí lù” gọi tắt là “chủ nghĩa lông thú” mà theo tiếng Hán là “Chủ Nghĩa Mao” tức Maoism, Cu thì chỉ là cảm tình viên Cộng sản xuất phát từ lòng ái quốc đặc thù kiên cường bất khuất trước cường bạo cường quyền Mỹ, còn Việt thì theo “tư tưởng Hồ Chí Minh” tức “Ho Chi Minh’s Thought” (chứ không phải “Chủ nghĩa Hồ” hoặc “Chủ Nghĩa Mác-Hồ” tức Ho-Chi-Minhism/Marxism Ho-Chi-Minhism) mà tư tưởng này đặt nền móng trên nền tảng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (dĩ bất biến = Luật 1 = Việt Nam phải và luôn là trên hết; ứng vạn biến = Luật 2 = áp dụng mọi thứ tốt nhất của bất kỳ ai trong toàn thiên hạ để phục vụ cho Luật 1) chứ chẳng giáo điều quỳ đầu thờ lạy riêng một thứ “chủ nghĩa” nào trừ “chủ nghia yêu nước khôn ngoan kiểu Việt” tức Viet-styled Anti-Extremist Patriotism hoặc đơn giản hơn là Viet-styled Smart Nationalism còn gọi theo thời thượng của WTO và TPP mà Hoa Kỳ khăng khăng yêu cầu tiên quyết mới chịu đặt bút ký hiệp định thì là Viet©Nationalism tức Chủ Nghĩa Dân Tộc Thuộc Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Của Việt Nam..

b- Xã hội tư bản đã phát triển hùng mạnh từ các đúc rút kinh nghiệm của chủ nghĩa cộng sản, đến độ nhiều nước Tây Âu tự hào có phúc lợi xã hội lý tưởng mô hình cộng sản chủ nghĩa mà chưa hề có hoặc sẽ không bao giờ có quốc gia nào tôn thờ chủ nghĩa cộng sản dựng xây được tương tự, còn “chủ nghĩa xã hội” trở thành có nội hàm tốt đẹp đến độ nhiều chính khách Âu Tây kể cả ứng cử viên Tổng Thống Mỹ 2016 Bernie Sander của Đảng Dân Chủ cũng tự hào bản thân mình là một “socialist”; do vậy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành từ đồng nghĩa của chủ nghĩa yêu nước tốt đẹp.

c- Âu Mỹ giờ đây đi vào thực tế cụ thể chứ không còn mãi mê miệt mài “đấu tranh ý thức hệ”, nên chỉ có Chống Nga, Chống Tàu, Chống Iran, Chống Syria, Chống Venezuela, Chống Cuba, Chống IS, Chống Tuốt Luốt, v.v., tức chống mấy thứ làm Mỹ xiểng liểng chứ không còn “Chống Cộng” mơ hồ hương khói.

Do đó, như một thứ đồ ve chai phế thải, “chống Cộng” đã bị vất bỏ, không còn được sử dụng trên phạm vi toàn cầu bởi các thế lực tư bản quân-chính-kinh-tài hùng mạnh.

B) Nhà Độc Tài:

Như đã nêu rõ trong bài về Fidel Castro, trên toàn thế giới tư bản hùng mạnh Âu Mỹ đã thường có sự ban phát thoải mái đến độ phát ban phát sốt phát mẫn phát ngứa phát rồ về từ ngữ “nhà độc tài” khiến bản thân từ ấy hoàn toàn mất nghĩa một cách mất nết đầy mất dạy.

Fidel cấm dân chúng của chính nước mình theo Mỹ, từ đó suy ra Fidel là “nhà độc tài khao khát máu”.

Kennedy cấm Fidel và nước Cuba theo Liên Xô, từ đó suy ra Kennedy là “nhà tự do dân chủ chân chính khao khát hòa bình”.

Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Pak Chung Hee, Ferdinant Marcos, Suharto, Saddam Hussein, Muamar Gaddafi theo Mỹ nên không bao giờ truyền thông Mỹ dán chữ “nhà độc tài” vào trước tên mẹ đẻ của họ mà gọi họ là “nhà chí sĩ”, “nhà cách mạng”, “nhà giải phóng”.

Ngô Đình Diệm, Saddam Hussein, Muamar Gaddafi tự nhiên thay đổi biến thành chống Mỹ nên đương nhiên truyền thông Mỹ dùng băng keo hai mặt dán chữ “nhà độc tài” ịn ngay trước tên mẹ đẻ của họ ngay sau khi tiễn họ…về cõi vĩnh hằng.

Barack Obama dùng hai tay cung kính bắt tay Muamar Gaddafi để tỏ sự trọng thị nên Gaddafi là lãnh tụ cách mạng Hồi Giáo sáng giá nhất Trung Đông.

Barack Obama gật đầu nháy mắt ra hiệu cho Hillary Clinton xuống tay sát hại Muamar Gaddafi nên ngay lập tức trước tên của Gaddafi xuất hiện “từ lạ”: nhà độc tài, mở màn cho nhiều “tàu lạ” xuất hiện ở Biển Đông.

Bọn mất dạy mất nết mất nhân tính Cu Kiều Lưu Vong và các Kiều Ăn Theo hùa nhau gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” khiến tất cả các lãnh đạo Âu Mỹ khó chịu vì họ tin một tỷ phần trăm rằng:

1) Đã là lãnh đạo thì dù của quốc gia hay của doanh nghiệp hoặc của gia đình họ tộc cũng đều phải độc tài vì ngay cả nguyên tắc dân chủ của “thiểu số phục tùng đa số” bản thân nó cũng là độc tài về bản chất và/hay nội hàm;

2) Ngay cả lãnh đạo tôn giáo như của Thiên Chúa Giáo La Mã cũng độc tài do đã tổ chức Tôn Giáo Pháp Đình đưa lên giàn hỏa thiêu sống những nhà khoa học cùng vô số những ai theo tà đạo tức đạo nào không phải Đạo Chúa, thậm chí sử dụng các quân đoàn Thập Tự Chinh tiến hành các cuộc Thánh Chiến đẫm máu bạo tàn suốt từ Thế Kỷ XI đến Thế kỷ XVI xâm lăng tàn sát cướp bóc tàn phá các nước Hồi Giáo và các nước theo đạo “lạ” khiến tạo nên mối căm thù căm hận căm hờn căm giận không bao giờ nguôi ngoai nơi các nước này, làm di họa cho toàn thế giới đến tận ngày nay;

3) Bản thân từ “nhà độc tài” đã mất đi ý nghĩa ban đầu và nay có nội hàm đủ cho một sự ngưỡng mộ, nên họ bắt đầu loại bỏ từ “nhà độc tài” dictator để sử dụng từ “tên bạo chúa” tyrant trên truyền thông chính thống của họ, mà khởi sự là tập tành gọi Fidel Castro bằng danh xưng ghê sợ ấy;

4) Chỉ có cá nhân mới là “nhà độc tài” nên kiểu gọi “độc tài đảng trị” của Việt Kiều làm các chính trị gia Hoa Kỳ (và các chính khách Âu Tây) nổi giận vì bảo thế chẳng khác gì chưởi cha thể chế chính trị Mỹ vì Mỹ có lưỡng đảng (hay dù các nước Tây Âu có gọi là “đa đảng” đi nữa) nhưng ứng cử viên đảng nào lên làm tổng thống thì đương nhiên chỉ một mình đảng đó nắm quyền trị quốc tuyệt đối, làm gì có chuyện mỗi đảng cử một người ra làm “đồng tổng thống” trong cùng một lúc nên lẽ nào họ cũng bị ô danh thành “độc tài đảng trị” sao cơ chứ; và

5- Chỉ có truyền thông chính thống Âu Mỹ mới có quyền xài chữ “nhà độc tài”, chẳng hạn đưa tin lộn xộn ngôn từ như “nhà giải phóng Nelson Mandela ôm hôn khen ngợi các nhà độc tài Fidel Castro và Hugo Chavez” hoặc mới đây nhất là phang luôn giòng giật tít “Tên Độc Tài Palestine Ra Lịnh Treo Cờ Rủ Để Tang Castro” chẳng qua vì vị tổng thống dân cử Mahmoud Abbas của Nhà Nước Palestine dám tự tiện tự do tự ý tự động tổ chức quốc tang cho Fidel chọc giận Hoa Kỳ.

dictator

C) Nhà Độc Địa:

Từ các lý do trên, cũng như trước ý chỉ cùng chiếu chỉ của các đức kim thượng Âu Mỹ vạn tuế vạn vạn tuế, các “Kiều” như Cu Kiều, Hàn Kiều, Nga Kiều, Ấn Kiều. Tàu Kiều, và Củ Kiệu Kiều, v.v., sẽ phải không được tùy tiện xâm hại đến quyền sở hữu trí tuệ của truyền thông chính thống Huê Kỳ đối với từ ngữ “nhà độc tài” dictator.

Tuy nhiên, từ “tên bạo chúa” tyrant như kiểu dùng của truyền thông Vương Quốc Đại Anh để gọi Fidel Castro thì lại đầy sơ hở vì phải vĩ đại kinh hồn cỡ như Nero tức Nerō Claudius Caesar Augustus Germanicus của La Mã hoặc Ivan IV Vasilyevich tức Ivan Kinh Hoàng của Nga mới là bạo chúa, chứ cái ông Fidel Castro hiền như bụt, chỉ biết vừa hút xì gà pập pập phà khói suốt ngày đêm, vừa xây dựng hòn đảo Cuba bé tí tẹo tèo teo thành một vệ thành vững chắc mà Mỹ không thể làm sụp đổ chế độ suốt hơn nửa thế kỷ cấm vận kinh tế, vừa suốt đời xàng qua xàng lại núp né đến 638 cuộc ám sát của CIA, chưa kể cái nước Cuba ấy của ông thì nhỏ xíu xìu xiu, thì sao mà ban cho ông ta cái danh xưng “bạo chúa” được cơ chứ!

Còn nếu dùng chữ “tên quái thú” monster thì e Donald Trump sẽ chưởi ỏm lên vì ông ta đang định đổi tên chiếc xe tổng thống “dã thú” beast thành “quái thú” monster.

Phát sinh từ sự lấn cấn giữa hai thái cực: vừa muốn “đì sát ván”, “đì tới nơi tới chốn”, “đì sói trán” Fidel Castro cùng những vị anh-hùng-mã-thượng nào chống Mỹ nên muốn cho các đấng đó bị thượng-mã-phong, không muốn tôn vinh kẻ bị “đì” lên hàng ngũ “bạo chúa”, lại vừa muốn không chọc giận các chủ nhân truyền thông siêu cường Âu Mỹ, các “Kiều” như Cu Kiều, Hàn Kiều, Nga Kiều, Ấn Kiều. Tàu Kiều, và Củ Kiệu Kiều, v.v., ắt sẽ phải chế ra từ “nhà độc địa”, vừa có “độc” vừa có “địa” nghĩa là đì sát ván, cho ở dưới đất chứ ngăn cấm lên trời.

Vậy là từ nay, những anh hùng lãnh đạo nào chống Mỹ sẽ bị xem ngang hàng với hạng thấp kém lè tè, không được phép gọi là Nhà Độc Tài vốn dành riêng cho tất cả các lãnh đạo Âu Mỹ hiện đại trên toàn thế giới, mà cũng không được phép gọi là Tên Bạo Chúa vốn dành riêng cho những tay sừng sỏ cổ-trung-cận đại có khả năng chiếm đoạt các quốc gia trên các châu lục;

Mà phải được gọi là “Nhà Độc Địa”;

Mà tiếng Anh do tác giả bài này tư vấn giúp là “The Satanist” vậy.

Song, nếu phe tôn giáo lập luận rằng Satan có khi là Chúa (trên thực tế thì các giáo phái  ở Âu Mỹ ngờ vực về tư cách của Jesus Christ nên thường gọi Satan là Anti-Christ tức “không phải Christ”  nghĩa là trong hai vị Christ và Không-Christ vĩ đại ngang cơ quyền lực thống trị ngang hàng và quyền phép mạnh y như nhau ấy thì chưa rõ vị nào mới là “Chúa” thật sự) nên khi gọi Fidel Castro là “Quỷ Vương” hay “Quỷ Satan” tức “Nhà Độc Địa” có khi lại bị hớ nếu sau này vào Ngày Tận Thế hóa ra Satan mới xuất hiện là “Chúa” cứu độ chúng sinh còn Jesus Christ lại là “kẻ mạo danh Chúa”, thì ô hô ôi thôi kẻ bỉ nhân họ Lăng Xăng tên Gà Tần Thuốc Bắc gọi tắt là Lăng Tần đành phải bó tay lui về tệ xá chui vào hang đá chốn cố quận thâm sơn cùng cốc không dám bon chen chốn tháp ngà đề xuất thêm bất cứ tên tiếng Anh nào khác cho Nhà Độc Địa vậy.

Lời khuyên của nhà lung tung học Lăng Tần, do đó, là: hãy gọi ông Fidel Castro là Nhà Lãnh Đạo, vì sẽ không bao giờ sai, chẳng bao giờ hớ, và chớ đời nào trật lấc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 21-10-2015. Chống Cộng

Hoàng Hữu Phước. 18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

Hoàng Hữu Phước. 30-11-2016. Fidel Castro

Hoàng Hữu Phước. 11-9-2016. Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Việt Nam Đổi Tiền!

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-12-2016

Vào năm 1993 lúc còn ở cấp độ cử nhân thấp lè tè thủa Nhà Nước chưa hề nghĩ đến việc xưng tụng tôn vinh “cử nhân” lên hàng “nhà trí thức trẻ”, tôi có viết bức tâm thư gởi Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam để đề xuất rằng (a) Việt Nam nên đổi tiền, và (b) giấy bạc Việt Nam chỉ nên in hình lãnh tụ Hồ Chí Minh trên tờ 1 đồng.

Lý do cần phải đổi tiền: đồng bạc Việt Nam mất giá, nên phải đổi tiền để quy thí dụ 5.000 đồng thành 1 đồng.

Lý do chỉ in hình lãnh tụ Hồ Chí Minh trên tờ 1 đồng: buộc các chính phủ phải xây dựng kinh tế thành công để không làm biến mất tờ giấy bạc 1 đồng, đồng thời in trên các tờ giấy bạc mệnh giá khác những hình các vĩ nhân khác của lịch sử Việt Nam như Bà Trưng, Bà Triệu, Đức Thánh Trần, Vua Quang Trung, v.v.

Tôi đã nhận được công văn phúc đáp sau:

POST (19)State Bank to HHP (2)

Lúc ấy, vị cử nhân (tức…“dân trí cao”) nhà ta mới nhận ra rằng:

1- Đổi tiền là việc cần thiết nhưng không cần kíp vì đòi hỏi rất nhiều yếu tố hội thành cấu thành hình thành yêu cầu phải đổi tiền, và

2- Chỉ những ai chưa có trình độ cao mới nghĩ đến phát huy “sáng kiến” đề nghị đổi tiền

Sau này, khi hắn ta là thạc sĩ (tức…“dân trí cao hơn”) thì nhận ra thêm rằng:

1- Chỉ nên đổi tiền nếu đồng tiền có giá trị cao mà tham nhũng thì như “bầy sâu” còn bọn hàng xóm mất dạy thì in tiền giả để phá hoại kinh tế nước Việt,

2- Chẳng cần đổi tiền nếu đồng tiền có giá trị thấp lè tè vì chỉ có mấy thằng hàng xóm ngày nay vẫn ngu si ngu đần ngu xuẩn và ngu dại (như vụ các “Kinh Kha” Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Quân và Trần Văn Bá năm 1981 vác vũ khí và 300 triệu tiền Việt Nam giả đột nhập vào Việt Nam) mới nghĩ đến việc bỏ công sức tiền thật ra in tiền giả để rồi phải nén chặc đầy nhóc các bao bố hàng chục tấn mướn cửu vạn “thồ” vào Việt Nam vừa dễ bị phát hiện vừa chớ biết làm sao mà xài cho kịp hết để…phá hoại kinh tế Việt,

3- Cộng Sản Việt Nam là bậc thầy trong sử dụng binh pháp nhuyễn nhuần nên cách chi mà bọn Chống Việt moi được tin “thật” mà hê lung tung là Việt Nam Sắp Đổi Tiền – giống như tên say TS Trần Minh Hoàng thủa trước hê lên rằng nắm trong tay tài liệu tối mật của Đảng Cộng Sản Việt Nam hé lộ âm mưu chiếm đoạt toàn bộ tài sản tiền bạc của ngoại kiều tại Việt Nam để cứu nguy khủng hoảng kinh tế vậy, và rằng

4- Câu nói ngu xuẩn ngu đần ngu si ngu muội “Đừng Nghe Những Gì Cộng Sản Nói Mà Hãy Nhìn Những Gì Cộng Sản Làm” của Nguyễn Văn Thiệu chi chứng tỏ y thực sự ngu xuẩn ngu đần ngu si ngu muội vì rằng:

(a) CIA luôn tập trung lắng nghe những gì Cộng Sản Việt Nam nói để giao cho bộ phận phân tích tin gồm toàn những anh tài kiệt xuất của CIA thẩm định từng chi tiết nhỏ một mà sự “không thèm nghe” của Việt Nam Cộng Hòa mới đúng là việc ngu xuẩn ngu đần ngu si ngu muội khiến CIA thất bại và Hoa Kỳ thất trận,

(b) Chỉ có kẻ ngu xuẩn ngu đần ngu si ngu muội dốt binh pháp mới kêu gào về tầm quan trọng của cái sự “nhìn”, và vì mừng khi “nhìn” thấy “Cộng Quân” dồn binh hướng Bắc nên nhanh lẹ đổ quân về hòng chận đánh tại Pleiku cùng Kontum để rồi bị “Cộng Quân” dương Đông kích Tây đánh vào hướng Nam chiến lược chỉ trong một ngày 10-3-1975 đã lấy Buôn Mê Thuột cất gọn vô túi, tiêu diệt toàn bộ Quân Đoàn II tinh nhuệ, chiếm trọn Tây Nguyên 7 ngày sau đó, đẩy Quân Đoàn I và Quân Đoàn III vào một thảm họa quân sự hoảng loạn tự diễn biến tự tan rả tự thể hiện hèn nhát thú tính dày xéo dẫm đạp tán loạn lên đồng bào chạy loạn trên cung đường số 7 bi thương định mệnh, mở đường cho “Cộng Quân” thừa thắng xông lên khai màn chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định gọi là Chiến Dịch Hồ Chí Minh ngày 26-4-1975 để rồi tiêu diệt hoàn toàn Việt Nam Cộng Hòa chỉ trong 5 ngày sau đó, và

(c) Sẽ luôn là lời thách, đố bọn Chống Việt “thấy” được những gì mà Cộng Sản Việt Nam “thực sự làm” nói gì đến việc hiểu các thâm ý của những gì Cộng Sản “làm” mà cố tình để trần trụi cho thiên hạ “thấy” hết trơn hết trọi từ ngoại thất đến nội y.

 

Túm lại, theo nhà kinh tế học Hoàng Hữu Phước thì việc Việt Nam đổi tiền sẽ đến khi hội đủ sáu điều kiện như

(a) dân Việt Nam không thích xài thanh toán điện tử,

(b) dân Việt Nam khiếp sợ tin tặc công-nghệ-cao cướp tài khoản,

(c) đồng bạc Việt Nam có giá trị quá cao sắp trở thành đồng bạc tự do chuyển đổi đánh bạt Nhân Dân tệ văng khỏi rổ tiền tệ của IMF,

(d) loại chất liệu polymer của giấy bạc Việt Nam hiện nay đã đến thời điểm 99.999 năm khiến Việt Nam còn một năm cuối cùng để kịp in tiền mới bằng vật liệu siêu bền mới để tiền đang lưu hành cứ tự tan thành bụi tức tự phân hủy vào thiên nhiên,

(e) các sinh vật ngoài Trái Đất bị đánh tan tác bởi Siêu Nhân và X-Men của Hollywood Mỹ nên trút giận bằng cách trả thù tấn công đốt phá toàn bộ các ngân hàng Việt Nam là nước chắc mạnh hơn Mỹ vì thắng Mỹ khiến gây ra sự cố Việt Nam hết trơn hết trọi tiền mặt phải in ngay tiền mới cho dân xài, và

(f) Việt Nam nổi hứng hủy bỏ tiền giấy tiền đồng để bắt đầu chỉ xài tiền que như que kem ốm nhom nhỏ hơn thẻ Kờ-Re-Đít-Cạc hay tiền…sinh-trắc-học.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-Tế (tức viết tắt của … Kinh-doanh Quốc-tế)

Hoàng Hữu Phước. 09-6-2008. Những Lập Luận Kỳ Quái Của Kẻ Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng

Hoàng Hữu Phước. 02-10-2014. Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

Hoàng Hữu Phước. 26-12-2015. Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo

Chặn Ngăn Thảm Họa

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-12-2016

James Borton là một nhà báo Mỹ. Ông cùng vài nhà báo nước ngoài khác thường liên lạc với tôi để nêu lên những vấn-nạn-cần-các-giải-thích-ngược-chiều mà tôi có thể giải đáp – chưa bao giờ tôi không viết phúc đáp các câu hỏi ấy – theo cung cách nghiêm-túc-không-đụng-hàng mang dấu ấn của thương hiệu Hoàng Hữu Phước như đã từng được minh chứng qua buổi trả lời ứng khẩu dài 4 giờ đồng hồ cuộc phỏng vấn của PhốBolsaTV Hoa Kỳ.

Gọi là “ngược chiều” vì các ý kiến của tôi luôn

(a) vừa chống lại các nội dung mang tính vấn nạn do phe chống Việt nêu lên hoặc bày ra,

(b) vừa khác với nội dung các vấn nạn do báo giới Âu Mỹ chính thống thường nhận thức đồng bộ về các vấn đề liên quan đến Việt Nam,

(c) vừa chống lại các với nội dung mang tính vấn nạn do báo giới Âu Mỹ chính thống chống Việt thường nêu về Việt Nam, và

(d) vừa bảo vệ Việt Nam theo cách rất riêng hoàn toàn không giống các trả lời bài bản, đồng bộ và “đồng phục” của tất cả các đảng viên Cộng Sản của truyền thông, chính quyền, ban ngành, đoàn thể ở Việt Nam, đối với công việc nội trị của Việt Nam, đối ngoại của Việt Nam, và tầm nhìn về Việt Nam trong thế giới.

Gọi là “ngược chiều” chứ không phải “đa chiều” vì bốn đặc điểm của báo chí truyền thông chính thống tư bản đại gia Âu Mỹ là

(a) luôn thù ghét sự “đa chiều” trên các phương tiện truyền thông chính thống của đế chế của riêng mình;

(b) luôn khinh bỉ sự “đa chiều” vì đó là dấu hiệu rõ nét nhất của sự tạp nham, yếu đuối, hèn kém do không thể tạo nên sự khác biệt differentiation cũng như dấu ấn đặc thù signature vốn luôn là sự thể hiện quyền lực quyền uy quyền thế không bao giờ vắng bóng trên một phương tiện truyền thông thực sự chính thống;

(c) chỉ dùng sự “đa chiều” để mê hoặc, dẫn dụ lũ nhà báo ngu đần trong giới truyền thông chính thống của các quốc gia nhược tiểu; và

(d) dúi vũ khí “đa chiều” vào tay lũ ngu đần trong các “Kiều” như Cu Kiều, Tàu Kiều, Nga Kiều tại Mỹ để góp sức viết lách bôi nhọ Fidel Castro, Xì Dính Bùn và Vladimir Putin;

nghĩa là cái mà các nhà báo tầm cỡ của giới truyền thông chính thống Âu Mỹ cần luôn là ý kiến “ngược chiều” để có cái “tái thẩm” hầu nhanh chóng hoặc tung ngay bài viết của mình để hốt bạc do đã yên tâm về “phản biện nghiêm túc”, hoặc dấu diếm ngay bài báo đó để khỏi bị ô danh nếu như bị đấng chuyên gia “ngược chiều” viết phản bác lật đỗ.

Trong lần cùng bao nhà báo đổ bộ vào Việt Nam nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam vừa qua của Tổng thống Barack Obama, James Borton có nêu trước với tôi vài câu hỏi, sau đó gởi tặng tôi những bài đã đăng báo có dựa theo ý kiến của tôi và có bài ghi cả tên tôi mà tôi đã xin ông cho phép tôi dịch ra tiếng Việt để đăng trên blog này. Ông cũng yêu cầu được gặp tôi tại Thành phố Hồ Chí Minh khi ông lên đường chu du từ Hà Nội vào các tỉnh phía Nam. Và mới đây ông gởi tặng tôi bài viết sau nhân chuyến trở lại Việt Nam tháng 11 này.

Với bài viết Chặn Ngăn Thảm Họa, nhà báo James Borton một lần nữa xoáy sâu vào hành động hủy phá tài nguyên hải dương của Trung Quốc ở Biển Đông, gióng lên hồi chuông khẩn báo về hậu quả kinh tế nhãn tiền toàn khu vực, đồng thời đề xuất những phương cách phi chính trị, thuần thực tế sinh tồn của thiên nhiên trong xử lý tình trạng sống khẩn cấp của Biển Đông. Các đề xuất ấy hoàn toàn không đáp ứng sự quan tâm của Việt Nam, nhưng mang tính cụ thể do tình hình sinh thái ở Biển Đông đã trở thành thảm họa mà thời gian giải quyết các tranh chấp chủ quyền có khi vẫn tiếp diễn nhiều thập kỷ ngay cả sau khi Biển Đông đã trở thành Biển Chết.

Kính trình các bạn đọc tham khảo.

Chặn Ngăn Thảm Họa

Tác giả: James Borton

Bài Đăng Trên Tạp Chí Strategic Vision (Tầm Nhìn Chiến Lược), Số 29 (xuất bản tháng 10 năm 2016)

Bản dịch tiếng Việt: Hoàng Hữu Phước

Hợp tác khoa học là cần thiết để ngăn chặn thảm họa sinh thái ở Biển Đông

James Borton

James Borton là thành viên Viện Mỹ-Á ở Washington DC,  giảng sư Viện Walker tại Đại học South Carolina.

james-borton-1

Một con rùa biển bơi lướt qua một rạn san hô. Những sinh vật như chú rùa này đang phải đối mặt với một tương lai bất ổn ở Biển Đông do môi trường sống bị hủy hoại và nạn săn bắt. Ảnh: Brocken Inaglory

Biển Đông hiện là nơi ngụ cư của một số của những chủng loài rạn san hô đa dạng sinh học ngoạn mục nhất thế giới. Tuy nhiên, thế giới tiếp tục qua những hình ảnh chụp qua vệ tinh các vấn nạn của vùng biển biến loạn này nhìn thấy sự hủy hoại nhanh chóng của những rạn san hô kỳ vĩ ấy. Nguyên nhân của sự hủy diệt đang diễn ra này vượt quá một cảnh tượng tội ác môi trường rộng khắp là những hành động liều lĩnh chiếm đất được tiến hành bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc) khi nó cố gắng biến đá thành đảo và củng cố tuyên bố mở rộng lãnh thổ của nó.

Trong vùng biển đầy dẫy cơ hội, bất định, và đe dọa, sự xuống cấp của môi trường là trung tâm điểm của các đối thoại khoa học khi mà có sự gia tăng về số lượng các nhà hải dương học gióng lên hồi chuông báo  động tìm cách giải quyết các vấn đề của sự axit hóa, sự biến mất các đa dạng sinh học, sự biến đổi khí hậu, việc phá hủy các rạn san hô, và sự suy tàn của ngành thủy sản.

Với việc vấn đề an ninh môi trường hình thành nên một tranh luận về các thách thức sinh thái ở Biển Đông, quan điểm này thể hiện một nỗ lực quan trọng sống còn để liên kết các tác động của sự thay đổi môi trường đối với cả an ninh quốc gia và quốc tế.

Paul Berkman, nhà hải dương học và cựu giám đốc Chương Trình Địa Chính Trị Bắc Băng Dương ở Viện Nghiên Cứu Địa Cực Scott, đã cho ra cách diễn giải riêng về an ninh môi trường. Ông nói: “Đó là cách tiếp cận mang tính tích hợp nhằm đánh giá và ứng phó với những rủi ro cũng như các cơ hội được tạo ra bởi một môi trường thay đổi về trạng thái.”

Quần đảo Trường Sa ở Biển Đông là tâm điểm của tranh chấp lãnh thổ cho thấy mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh khu vực ở Đông Nam Á. Sáu chính phủ – gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và Đài Loan – tất cả đều tuyên bố chủ quyền toàn phần hoặc một phần trong số hơn 230 hòn đảo nhỏ, đá ngầm, rạn san hô, và bãi cát ngầm và trong khu vực quần đảo Trường Sa.

Tuy nhiên, phán quyết mùa hè vừa qua của tòa án gồm năm vị thẩm phán của Tòa Án The Hague cho thấy việc cải tạo trên quy mô lớn và việc xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến san hô và vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc đối với bảo tồn môi trường biển cả mong manh. Hơn thế nữa, phán quyết ấy phủ nhận bất cứ cơ sở pháp lý nào của Trung Quốc trong đòi chủ quyền lịch sử đối với phần lớn Biển Đông. Đó là một chiến thắng ấn tượng của Philippines là phía tiến hành thưa kiện. Trong số rất nhiều những phát hiện kịch tính, tòa án còn tuyên bố phủ nhận giá trị cái gọi là đường chín đoạn của Trung Quốc.

Phán quyết tuyên rằng: “Tòa khẳng định rằng các hành động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc tại bảy rạn san hô ở Quần đảo Trường Sa đã gây ra tổn hại tàn phá lâu dài đối với môi trường biển.”

Ngoài ra, Công Ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) có quy định tại hai trong số 17 Phần của UNCLOS một áp  dụng trực tiếp đối với công trạng nghiên cứu khoa học biển qua sự nhấn mạnh vào việc khuyến khích các thỏa thuận song phương và đa phương tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu khoa học biển.

Các Thực Hành Hủy Hoại

Giáo sư John McManus, một nhà sinh học biển tại Đại học Miami và là một chuyên gia nổi tiếng về rạn san hô, người đã thường xuyên đến thăm khu vực và cung cấp các phân tích cho tòa án, đã tuyên bố rằng dựa trên hình ảnh vệ tinh thì những thiệt hại về môi trường được thực hiện bởi tàu hút bùn Trung Quốc và việc lùng bắt ngao là cực kỳ nghiêm trọng.

McManus đã nghiên cứu khu vực này trong hơn một phần tư thế kỷ qua. Ông  biết rằng nguồn tài nguyên quan trọng nhất trong vùng biển được đánh bắt lớn về hải sản là ấu trùng của cá và động vật không xương; dẫn đến việc ông đã luôn lên tiếng đòi phát triển một công viên biển hòa bình quốc tế trong khu vực tranh chấp này.

“Tranh chấp lãnh thổ đã dẫn đến việc hình thành sự hủy phá về môi trường, và sự hình thành các tiền đồn quân sự đầy tốn kém về kinh tế trên nhiều hòn đảo. Với sự gia tăng nhanh chóng của các công viên hòa bình quốc tế trên toàn thế giới, đã đến lúc phải có các bước tích cực hình thành một Công Viên Biển Hòa Bình tại Quần Đảo Trường Sa,” McManus tuyên bố.

Các nhà hoạch định chính sách có thể làm tốt việc đúc rút một hai bài học từ thiên nhiên khi xem xét cách giải quyết tốt nhất trước vô số các đòi hỏi chủ quyền phức tạp. Sự kết nối của chính sách và khoa học là điều cần thiết để điều hướng đúng cho những vùng biển địa chính trị nguy hiểm. Khái niệm của khoa học ngoại giao không phải là một mô hình mới, nhưng nó bao trùm sự hợp tác và khéo léo giải quyết vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường nơi chúng phát sinh.

Ngay cả Nhóm Công Tác Về Môi Trường Biển Và Duyên Hải của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng thừa nhận rằng khu vực này phải đối mặt với những thách thức khổng lồ đối với sự  phát triển bền vững ở vùng duyên hải và vùng biển chồng lấn. Nếu không có sự thông qua một cách tiếp cận khoa học đối với hệ sinh thái thì các cuộc xung đột xuyên biên giới ở các khu vực biển có thể và sẽ trở nên tồi tệ hơn.

Kể từ khi ASEAN được thành lập, tổ chức này đã phải nhức đầu với nhiệm vụ xác định các giải pháp chung cho các vấn đề an ninh chung. Ở một mức độ lớn hơn, ta có thể nói rằng các vấn đề an ninh đã là  động lực chính cho sự hội nhập khu vực của Đông Nam Á được tiếp diễn.

Trong tương lai, những vấn đề về an ninh môi trường có thể sẽ giữ cùng vai trò như thế.

james-borton-2

Hiện diện khắp vùng Biển Đông, san hô mềm trắng ngà tạo nên sự phô diễn vẽ đẹp sống động của thiên nhiên cùng sự  phong phú của hệ sinh thái trong khu vực. Ảnh: Dwayne Meadows

Theo Karin Dokken, nhà khoa học chính trị tại Đại Học Oslo, các quốc gia xung quanh Biển Đông phụ thuộc lẫn nhau trên mức độ rộng lớn khi có vấn đề về môi trường của con người. Theo Dokken: “Họ phụ thuộc lẫn nhau đến mức nếu thất bại tìm ra giải pháp chung cho vấn đề môi trường họ có thể đi đến chống nhau bằng xung đột bạo lực.” Ông còn nói thêm rằng “Nhìn chung, việc phụ thuộc nhau về môi trường vừa là nguồn gốc của xung đột vừa là tiềm tàng cho cuộc hội nhập quốc tế”.

Không có thỏa thuận cho những vấn đề môi trường, tương lai của biển sẽ ảm đạm. Gần 80% các rạn san hô Biển Đông đã bị thoái hóa và đang bị đe dọa nghiêm trọng từ trầm tích, đánh bắt quá mức, hoạt động đánh bắt hủy diệt, ô nhiễm, và thay đổi khí hậu.

Những thách thức xung quanh an ninh lương thực và nguồn cá tái tạo đang nhanh chóng trở thành một hiện thực đầy lúng túng khó khăn không chỉ cho ngư dân. Với đà suy giảm thủy sản trong khu vực ven biển trong vùng, trợ cấp nhà nước đối với đánh bắt, sự chồng lấn các Vùng Đặc Quyền Kinh Tế, và các tàu cá siêu trọng  cạnh tranh nhau trong một ngành công nghiệp trị giá nhiều tỷ đô la, cá hiện nay là lý do chủ lực ở vùng biển đầy biến động này.

Một thảm họa sinh thái đang diễn ra tại vùng có thời là nơi đánh cá phong phú của Biển Đông khi các cải tạo hủy phá các rạn san hô, chất thải nông nghiệp và công nghiệp làm nhiễm độc vùng nước ven biển, và việc đánh bắt quá mức làm cạn kiệt trữ lượng cá.

Trong năm 2014, Trung Tâm Đa Dạng Sinh Học đã cảnh báo rằng rất có thể sẽ có một tương lai thực sự đáng sợ với mức từ 30 đến 50% tất cả các chủng loài có thể tiến đến họa diệt chủng vào giữa thế kỷ này. Sản lượng đánh bắt cá vẫn ở mức không bền vững từ 10 đến 12 triệu tấn mỗi năm trong nhiều thập kỷ qua, một số lượng có thể tăng gấp đôi khi kể cả các hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

Rốt cuộc, Chương Trình Môi Trường Của Liên Hợp Quốc (UNEP) khẳng định rằng Biển Đông chiếm 1/10 lượng cá đánh bắt toàn cầu và rằng vào khoảng năm 2030 Trung Quốc sẽ chiếm 38% lượng tiêu thụ cá toàn cầu. Việc đánh bắt cá quá mức và tàn phá trên diện rộng các rạn san hô giờ đây tạo nên sự cần thiết phải có sự can thiệp của chính sách khoa học nhằm bảo vệ sự quản lý khu vực quan trọng này.

Trung Quốc đã đi đầu trong việc khai thác khổng lồ ngành cá. Với hơn 2.000 tàu lưới cá viễn dương và hơn 100.000 tàu cá, bao gồm cả một tàu chế biến công suất 3.000 tấn cá, bằng chứng này đủ thuyết phục rằng Bắc Kinh không chỉ chịu trách nhiệm cho việc tàn phá các rạn san hô mà còn góp phần vào sự sụp đổ của ngành thủy sản.

Tạp chí Chính Sách Hải Ngoại khẳng định rằng những sự việc đánh bắt cá và các hành vi bạo lực trực tiếp rất có ý nghĩa “bởi vì nó nêu bật sự đánh bắt tập trung đã tác động ra sao đối với sự bùng phát những tranh chấp lãnh thổ vốn đang biến Biển Đông đến đỉnh điểm nổ bùng của toàn cầu – cũng như các quốc gia sẵn sàng tiến xa tới đâu để bảo vệ phần đất của họ, hoặc chí ít là những gì họ cho là của họ.”

Hậu quả là việc đánh bắt cá vẫn là một vấn nạn an ninh quốc gia nhạy cảm về chính trị và căng thẳng về cảm xúc đối với tất cả các nước có yêu sách chủ quyền. Việc chiếm đoạt đại dương này đem đến cho khu vực một cuộc khủng hoảng lương thực tiềm tàng. Bất kỳ nỗ lực nào để cân bằng các lợi ích kinh tế với nội hàm an ninh trong vùng Biển Đông đều sẽ đòi hỏi có sự đáp ứng mang tính phối hợp nhiều cấp độ từ các nhà khoa học có quá trình tham gia dài lâu trong hợp tác nghiên cứu và đã đề ra được cách giải quyết vấn đề năng suất bền vững và an ninh môi trường trong khu vực.

Nâng Cao Nhận Thức

Sự đa dạng sinh học rộng khắp đã tồn tại ở Biển Đông không thể bị bỏ qua. Các tác động từ sự phát triển liên tục miền duyên hải, vấn đề khai hoang gia tăng và hoạt động hàng hải lớn mạnh giờ đây thường xuyên được đặt ra trước một số lượng ngày càng tăng của các nhà khoa học hàng hải và các chiến lược gia về chính sách.

Các nhà sinh học biển, những người có chung một ngôn ngữ vượt qua các dị biệt về chính trị, kinh tế và xã hội, đã nhận ra rằng cấu trúc của một rạn san hô bị vỡ vụn từ những vụn vỡ của xung đột triền miên và tiêu biểu cho một trong những chiến địa tàn nhẫn nhất của thiên nhiên.

Trong khi các chiến thuật ngoại giao và quân sự truyền thống không hoàn toàn cạn kiệt trong đợt khai pháo ngoại giao mới nhất giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, thì có lẽ đó là thời khắc tuyệt vời cho sự xuất hiện của khoa học như một công cụ tối ưu gom tụ lại nhau các bên đòi hỏi chủ quyền bao gồm Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Việt Nam, và Đài Loan trong khu vực tranh chấp biển đảo mang tính dân tộc cao độ này.

Thời gian cho một tuyên bố khoa học chung đối với hành động cấp bách cho một lịnh cấm về môi trường đối với việc nạo vét là điều rất cần thiết. Khảo sát sinh học gần đây trong khu vực và thậm chí tại ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc đã tiết lộ rằng sự mất đi của các rạn san hô sống bộc lộ một bức tranh ảm đạm của suy tàn, suy thoái, và hủy phá.

Cụ thể hơn, các loài cá sống trong rạn san hô trong khu vực tranh chấp đã giảm đi với mức độ chóng mặt, từ 460 loài xuống còn  khoảng 261.

Rốt cuộc thì sự thay đổi môi trường này là một vấn nạn toàn cầu không liên quan gì đến chủ quyền. Sự hủy diệt và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển ở Quần Đảo Trường Sa làm hại tất cả các nước có yêu sách. Có lẽ người dân từ các khu vực đang bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những tấn công vào môi trường trên biển của họ và tại các rạn san hô mong manh của họ có thể tạo ra một cái gì đó giống như Mạng Hành Động Vì Rạn San Hô, tương tự như các Mạng Hành Động Vì Rừng Mưa Nhiệt Đới vậy.

Những khu bảo tồn biển được bảo vệ là một công cụ mới được đề ra cho việc bảo tồn và quản lý biển. Đôi khi được gọi là các “khu dự trữ sinh thái” hay “khu vực không-được-chiếm-hữu”, những khu bảo tồn biển này được thiết kế để tăng cường bảo tồn các nguồn tài nguyên biển.

Việt Nam, một quốc gia có yêu sách chủ quyền, đang lãng phí một chút thời gian để ứng phó với những thách thức về môi trường của khu vực và đang nhanh chóng theo dõi chương trình riêng về mô hình bảo vệ vùng biển.

Cù Lao Chàm tọa lạc ở vị trí  20 km ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam. Các đảo Cù Lao Chàm là một khu bảo tồn biển  (MPA) do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam thành lập tháng 12-2005. Giáo sư Chu Mạnh Trinh, vị giáo sư sinh vật học 53 tuổi tại Đại Học Đà Nẵng, chịu trách nhiệm phần lớn trong thiết lập lộ trình các mục tiêu đã được thỏa thuận đối với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng các giá trị văn hóa và lịch sử của Quần đảo Chàm. Trong năm 2009, khu vực này đã được UNESCO công nhận là Khu Dự Trữ Sinh Quyển Thế Giới.

Việt Nam đã công nhận các khu bảo tồn biển để giải quyết các vấn đề an ninh lương thực hiện nay và tương lai. Những  khu bảo tồn biển này giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế biển; chúng cải thiện sinh kế của các cộng đồng ngư dân đánh bắt cá ven bờ, và cũng phục vụ việc bảo vệ những tuyên bố chủ quyền của quốc gia.

Khu vực này cần gom tụ các khoa học gia trình độ cao nhất, những người có kinh nghiệm nghiên cứu đa dạng sinh học biển và tính bền vững môi trường tại vùng Biển Đông biến động để tham gia vào diễn đàn chính sách khoa học.

Công việc hợp lực của họ có thể dẫn đến sự phát triển thành công một Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế Về Biển Đông. Kết quả là: những nỗ lực khoa học của họ rồi có thể truyền cảm hứng cho ASEAN hợp tác đáp ứng việc quản lý tài nguyên trong khu vực bằng ra tuyên bố kêu gọi một lệnh cấm đối với bất kỳ công việc cải tạo gây hủy hoại nào.

Tất nhiên, Trung Quốc có nhiều nhà khoa học rạn san hô tuyệt vời riêng của mình, những người nhận ra rằng đó là cách tốt nhất vì lợi ích của Bắc Kinh khi bảo vệ các rạn san hô, duy trì ngành thủy sản bền vững, và cuối cùng là tận hưởng nền du lịch thân thiện với sinh thái một khi căng thẳng nguôi ngoai.

Nền tảng chung cho các quốc gia có đòi hỏi chủ quyền là số lượng gia tăng của đánh bắt cá ở Biển Đông đang đẩy nhanh tiến độ sụp đổ của ngành và điều này làm thấp thoáng sự hiển hiện của một vấn đề an ninh môi trường, và hậu quả là tất yếu  sẽ trở thành xung đột. Các cộng đồng bảo tồn khoa học toàn cầu và pháp lý phải liên kết ngăn chặn sự phá hủy các rạn san hô, việc đánh mất sự đa dạng sinh học, và sự cạn kiệt thủy sản.

Phán quyết quốc tế đầu tiên của tòa án về Biển Đông đã tạo ra một cơ hội cho các bước tiến định lượng được hướng tới hòa bình và an ninh. Tất nhiên, ASEAN đã chứng tỏ một năng lực yếu kém về thể chế trong giải quyết các vấn đề chính trị và môi trường phức tạp, nhưng thế giới, bao gồm cả Liên Hiệp Quốc và Washington, đang theo dõi một cách cẩn trọng xem luật pháp quốc tế và sự áp dụng luật quốc tế vào giải quyết các yêu cầu khác nhau có thể dẫn đến một đường hướng tiến lên trong hòa bình và hợp pháp hay không.

Hành Động Cần Thiết

Các nhà khoa học và định hình chính sách biển của các quốc gia có yêu sách chủ quyền có thể tham khảo một trong những hướng xây dựng lòng tin sau:

– Xây dựng sự tự do hoàn toàn trong điều nghiên khoa học ở các đảo san hô có tranh chấp và các đảo bị cải tạo.

– Mở rộng hợp tác khoa học giữa tất cả các  nhà khoa học hải dương của ASEAN  thông qua các hội thảo có tính học thuật hàn lâm hơn.

– Đặt sang một bên tất cả các yêu sách lãnh thổ.

– Tạo ra một Hội Đồng Khoa Học Biển khu vực để xử lý các vấn đề suy thoái môi trường.

– Tăng cường đối thoại cho đề xuất một công viên biển hòa bình.

– Bổ nhiệm một ủy ban ASEAN về khoa học để nghiên cứu Hiệp Ước Nam Cực và sáng kiến Chương Trình Môi Trường Liên Hợp Quốc theo Kế Hoạch Hành Động Các Vùng Biển Đông Á.

– Đề xuất việc đổi tên vùng biển đang tranh chấp thành Biển Tự Do hay Biển Đông Nam Á.

Nếu có được bất kỳ loài cá nào còn sót lại trong vùng biển tranh chấp, một thỏa thuận sinh thái ASEAN – do Brunei, Malaysia, Philippines, và Việt Nam chủ trì – có thể hướng các quốc gia khác đoàn kết xung quanh một công viên hòa bình quốc tế được đề xuất hoặc chí ít là một vùng hợp tác biển được bảo vệ tọa lạc chủ lực trên Quần đảo Trường Sa.

Đó là bước đầu tiên hỗ trợ sự tín thác và sự tự tin giữa các nước láng giềng và  trong việc thực hiện một chính sách bảo tồn chung. Xét cho cùng thì các rạn san hô chính là các giáo đường của Biển Đông. Đã đến lúc cần có nhiều hơn những công dân và các nhà định hình chính sách tập hợp quanh các nhà khoa học hải dương để có thể liên kết hợp tác khu vực và quản lý biển nhằm làm tất cả được hưởng lợi trước khi quá muộn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Hoàng Hữu Phước Ứng Khẩu Trả Lời Phỏng Vấn Của PhốBolsaTV

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.” http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.” http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc” http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.”  http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.”   http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.”  http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!”   http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

B) Bài của James Borton do Hoàng Hữu Phước dịch Anh-Việt:

24-5-2016: Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

23-5-2016: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc