Monthly Archives: August 2017

Thư Khẩn Kính Gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

Về Đại Án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-8-2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Văn Phòng Nghị Sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước

Công văn Số:  002/2017/CV

V/v Đại Án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2017

Kính gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

 

Kính thưa Tổng Bí Thư:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính lời chào trân trọng đến Tổng Bí Thư và kính trình bày cùng Tổng Bí Thư nội dung sau:

Tôi có nhận được Thư Kêu Cứu Khẩn Cấp của công dân Nguyễn Thị Ái Lan, ngụ tại số 14B Đường 21 Khu Dân Cư Bình Hưng Huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh, là Giám Đốc Phòng Quản Lý Tài Sản Nợ Và Có của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á, ký ngày 30-8-2017, gởi đến Văn Phòng của tôi cùng ngày, có nội dung kêu oan và bị ép cung đối với ba nội dung gồm (a) việc thất thoát hơn 2.000 tỷ đồng và hơn 60.000 lượng vàng, (b) hoạt động liên quan đến kinh doanh và quản lý vàng, và (c) hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007.

Sau khi nghiên cứu nhanh hồ sơ, ngoài những lời kêu oan của công dân Nguyễn Thị Ái Lan, tôi nhận thấy có tình tiết quan trọng rằng Văn Phòng Trung Ương Đảng đã gởi hơn 11.000 lượng vàng tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á từ năm 2009 đến năm 2016.

Nhận thấy việc Văn Phòng Trung Ương Đảng gởi số vàng lớn tại một ngân hàng là việc bình thường vì đây là hoạt động kinh tài của Đảng; song, việc gởi số vàng lớn trên tại một ngân hàng như Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á thay vì một ngân hàng lớn của Nhà Nước là hành động cực kỳ bất cẩn vì ắt sẽ bị Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á lạm dụng với sự tin tưởng rằng sẽ được Đảng bảo bọc và bảo vệ, dẫn đến sự tự tung tự tác làm càn của lãnh đạo ngân hàng đối với tài sản ngân hàng, mà hậu quả là nảy ra ung nhọt mang tên “đại án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á” với sự biến mất của hơn 2.000 tỷ đồng và hơn 60.000 lượng vàng; và

Nhận thấy tất cả các cơ quan Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh dù đó là Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh hay Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi mà các đảng viên lãnh đạo cấp cao đã để cho các đảng viên chức sắc dưới quyền ra tay phá hoại buổi hiệp thương của tôi tiếp xúc cử tri cho kỳ bầu cử Quốc Hội Khóa XIV, hiện không có bất cứ đảng viên cấp cao nào có uy tín thanh liêm, có năng lực lãnh đạo, có tư thế đáng tin, và có tư cách đáng trọng, để tôi có thể khẩn trương đến liên hệ trực tiếp bàn về Thư Cầu Cứu nêu trên;

Tôi quyết định gởi khẩn thư này cùng thư kêu oan của công dân Nguyễn Thị Ái Lan đến Ông Tổng Bí Thư để Ông Tổng Bí Thư xem xét, chỉ đạo chấn chỉnh, chỉ đạo giám sát xử lý công minh các nội dung như lời kêu cứu của công dân.

Đồng thời, tôi cũng quyết định công khai nội dung này trên blog của tôi, để bảo đảm các nội dung kêu oan trên tránh được sự can thiệp giấu diếm rất có thể có nơi cán bộ của Đảng khi tiếp nhận thư của tôi gởi cho Tổng Bí Thư.

Kính gởi đến Tổng Bí Thư sự kỳ vọng, lòng kính trọng, và lời chào trân trọng.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-Sĩ Khóa XIII (2011-2016), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XV (2021-2026), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XVI (2026-2031)

ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP VỀ VIỆC CƠ QUAN ĐIỀU TRA ÉP CUNG NGƯỜI VÔ TỘI  TRONG “ĐẠI ÁN NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á”

Kính gửi: Ông Hoàng Hữu Phước – Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII

        Kính thưa Đại Biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Thị Ái Lan, Giám  đốc Phòng quản lý tài sản nợ và có của Ngân Hàng TMCP Đông Á, hiện ngụ tại số 14B Đường 21 Khu Dân Cư Bình Hưng, Bình Chánh, Thành phồ Hồ Chí Minh, kính gởi Ông thư cầu cứu khẩn cấp này về việc cơ quan điều tra C46 đã ép cung tôi là người vô tội trong “Đại Án Ngân Hàng TMCP Đông Á” như sau:

Liên quan đến “Đại Án Ngân Hàng TMCP Đông Á, tôi hoàn toàn không có vi phạm nào hay liên đới chịu trách nhiệm gì trong các vụ việc sai phạm đã xảy ra tại Ngân Hàng TMCP Đông Á. Là công dân có tinh thần trách nhiệm cao, tôi đã nhiệt tình hỗ trợ khi cơ quan điều tra C46 đến làm việc với Ngân Hàng TMCP Đông Á đề nghị tất cả các phòng ban tại Ngân hàng Đông Á hỗ trợ cung cấp các thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, vào ngày 29/08/2017 ông Trung thuộc C46 gọi điện thoại yêu cầu tôi lúc 14 giờ chiều cùng ngày yêu cầu tôi đến số 258 Nguyễn Trãi hợp tác cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra mà không có bất cứ thư mời nào gửi đến cho tôi. Tiếp tôi là một người nam cán bộ mặc thường phục không mang bảng tên. Khi tôi hỏi thì ông cho biết tên là Tuấn Anh, và khi tôi yêu cầu cung cấp thư mời về buổi làm việc này thì ông từ chối và không trả lời câu hỏi của tôi về phòng ban mà ông phụ trách. Trong suốt buổi làm việc bắt đầu từ 14 giờ đến 17 giờ, ông Tuấn Anh đã liên tục truy bức tôi, và thúc ép tôi phải ký vào biên bản với những nội dung không đúng với bản chất thật sự của sự việc, mặc dù tôi đã đề nghị được điều chỉnh lại nội dung theo đúng sự thật vì tôi là người vô tội. Sau đó, Ông Tuấn Anh yêu cầu tôi phải đến trình diện tại số 258 Nguyễn Trãi vào 8 giờ sáng ngày hôm sau- 30/08/2017. Sáng nay, thứ tư 30/08/2017 khi tôi có mặt lúc 8 giờ sáng theo yêu cầu ông Tuấn Anh thì Ông Tuấn Anh đã có thái độ và ngôn từ xúc phạm đe dọa rằng ông sẽ chuyển hồ sơ của tôi đến Lãnh Đạo Bộ Công Án và chuyển hồ sơ của tôi qua Viện Kiểm Sát ngay trước lễ Quốc Khánh 02/09/2017.

Vì trong thực tế đã xảy ra những vụ án oan sai mà hậu quả là do các điều tra viên của Bộ Công An ép cung hoặc định hướng trong quá trình điều tra theo ý kiến chủ quan để sớm kết thúc vụ án nhằm lập thành tích hoàn tất việc điều tra chứ không theo sự thật khách quan khiến gây oan sai cho người vô tội. Và qua cách thức làm việc không theo đúng quy định của ông Tuấn Anh như không gửi thư mời, mặc thường phục, không đeo bảng tên, liên tục truy bức tôi, cho thấy đã có dấu hiệu bất thường trong cung cách làm việc của điều tra viên C46.

Vì vây, tôi kính gửi đơn này đến Ông Hoàng Hữu Phước, Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII, để khẳng định tôi hoàn toàn vô tội đối với ba nội dung sau:

1) Việc Ngân Hàng TMCP Đông Á bị thất thoát hơn 2.000 ngàn tỷ đồng và hơn 60 ngàn lượng vàng (hơn hai ngàn tỷ đồng và hơn sáu mươi ngàn lượng vàng):

Liên quan đến việc Ngân Hàng TMCP Đông Á giữ hộ vàng của Văn Phòng Trung Ương Đảng từ năm 2009 đến năm 2016 với số lượng hơn 11 ngàn lượng vàng (hơn mười một ngàn lượng vàng), cá nhân tôi – cũng như các nhân viên khác – biết ngân hàng có thực hiện việc trả lãi giữ hộ vàng cho Văn Phòng Trung Ương Đảng trước khi có Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 27/07/2012 và đã ngưng trả lãi giữ hộ vàng chỉ thu phí giữ hộ vàng của Văn Phòng Trung Ương Đảng theo quy định của chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 27/07/2012. Do vậy, cá nhân tôi không thể chịu trách nhiệm  hay liên đới chịu trách nhiệm đối với một việc “đại sự” có liên quan đến Trung Ương Đảng như thế.

2) Hoạt động liên quan đến vàng:

a- Căn cứ quyết định số 1803/QĐ-DAB ngày 26/08/2013 về việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức của khối kinh doanh – nguồn vốn do Tổng Giám Đốc ký ban hành có hiệu lực ngày 26/08/2013, Điều 4 mục 4.3 có quy định về nhiệm vụ của phòng nguồn vốn nhưng không có chi tiết nào có nội dung rằng tôi được phân công thực hiện các hoạt động liên quan đến việc niêm phong, đóng gói vàng, phân loại vàng, phân biệt giữa vàng kinh doanh và vàng giữ hộ, ghi chi tiết từng loại vàng tồn quỹ, lưu các chứng từ liên quan đến vận chuyển vàng hay điều chuyển vàng giữa các đơn vị trực thuộc và Hội sở, quy định nội bộ về hạch toán vàng, cũng như sử dụng vàng giữ hộ để kinh doanh. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

b- Ngoài ra, tôi cũng chưa bao giờ được phân công phụ trách việc kinh doanh và cũng không được phân công việc hướng dẫn hạch toán tuân thủ các quy định tại thông tư số 17/2014/TT- NHNN ban hành ngày 01/08/2014 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam về việc quy định phân loại, đóng gói, giao nhận, kim khí quý, đá quý có hiệu lực kể từ ngày 15/09/2014, hạch toán theo hướng dẫn nêu tại công văn 5376/NHNN-TCKT ngày 23/08/2012 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cũng như việc tuân thủ chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 27/04/2012 về việc sử dụng vàng để kinh doanh mua bán và theo các văn bản quyết định, các quy định và quy trình của Ngân hàng Đông Á.  Vì vậy, tôi đương nhiên cũng hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

c- Thêm vào đó, tôi cũng chưa bao giờ được phân công tham gia là thành viên của Ban Kiểm Quỹ và Hội Đồng Kiểm Kê. Trong suốt thời gian này, tôi cũng chưa bao giờ nhận bất kỳ văn bản nào của Ban Kiểm Soát Nội Bộ, Ban Kiểm Toán Nội Bộ hay bất kỳ khối phòng ban nào trong nội bộ Ngân Hàng Đông Á hay bất kỳ cơ quan chức năng nào, nêu nội dung rằng tôi đã không tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, của Ngân hàng Đông Á, hay các chỉ thị, thông tư,hướng dẫn nêu trên. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

3) Hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007:

Căn cứ theo các văn bản Quyết định nhập khẩu ngoại tệ được ban hành bởi Ban Tổng Giám Đốc và phiếu đề nghị của Phòng Kinh Doanh chuyển sang, tôi theo quy trình nghiêm nhặt của Ngân Hàng Đông Á đã lập phiếu thu cho các lô nhập khẩu ngoại tệ, sau khi lập phiếu thu tôi đã chuyển toàn bộ các phiều thu có đính kèm Quyết định nhập khẩu ngoại tệ được ban hành bởi Ban Tổng Giám Đốc và phiếu đề nghị của Phòng Kinh Doanh chuyển sang theo phiếu thu sang cho bên Kiểm soát của Ngân hàng TMCP Đông Á. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007 nếu các hoạt động này của Ngân hàng Đông Á được chứng minh là có dấu hiệu vi phạm.

 

Với các nội dung giải trình nêu trên, kính mong Ông Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hãy vì lòng công tâm của Ông mà vui lòng xem xét đơn cầu cứu này của tôi và can thiệp kịp thời để người vô tội như tôi không buộc phải gánh chịu các hậu quả thay cho những kẻ gây ra tiêu cực vi phạm mà tôi đang rất lo sợ cho an nguy của bản thân từ cung cách ép cung của các điều tra viên của Bộ Công An.

Kính đơn,

Nguyễn Thị Ái Lan

Ailan (3)Ailan (2)Ailan (1)

Advertisements

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi”

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-8-2017

(Bài này đã đăng trên Emotino ngày 29-3-2010, tại http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-3-2010

Cách nay gần 20 năm tức khoảng năm 1990, ngay khi lần đầu đọc thấy có bài viết về cái gọi là “rượu tỏi” trên các báo và tạp chí liên quan đến thuốc và sức khỏe của Việt Nam  – và gần đây thấy trên trang web của Bộ Y Tế cũng có trích đăng lại nguyên văn bài “rượu tỏi” ấy – tôi đã thấy có rất nhiều những điều khả nghi, nay xin ghi lại để bạn đọc tỏ tường, đồng thời cung cấp thêm nhiều chi tiết quan trọng khác có liên quan đến “rượu tỏi”.

A) Những Điểm Khả Nghi

1- Thời điểm xuất hiện bài viết về “rượu tỏi” trùng với giai đoạn có nhiều tài liệu chuyền tay từ Việt Kiều gởi về đưa nhiều đồng bào vào vòng Niệu Liệu Pháp, tức là thi nhau chế biến nước tiểu thành thần dược chửa bá bệnh (sau này còn có các “phương thuốc” khác in thành sách dày cộm như “Canh Dưỡng Sinh”, v.v., còn mấy năm trở lại đây là internet đã thành pháo đài bay B52 dội hàng tấn email về “sức khỏe” xuống cư dân mạng nước nhà).

Tất cả dẫn đến nghi vấn thứ nhất: tác giả là ai đó trong cộng động Việt Kiều hải ngoại muốn “chơi khăm” đồng bào cộng sản.

2- Nội dung bài viết “nhá nhá” tên Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO của Liên Hiệp Quốc để thêm trọng lượng và các bác sĩ Việt Nam bị sập bẫy, thậm chí viết bài giới thiệu hào hùng rằng nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến mà không có nổi một trích dẫn số lưu chiểu của cái công trình mà WHO bị cho là đã phổ biến ấy, trong khi đối với những ai đã tốt-nghiệp-y-khoa-có-thực-sự-làm-luận-văn-hay-luận-án-tốt-nghiệp-hẳn-hoi ắt phải biết rằng chi tiết dẫn chứng tham khảo dứt khoát phải được nêu ra đầy đủ.

Tất cả dẫn đến nghi vấn thứ nhì: tác giả có thể là một người Việt nội địa, có phương thuốc rượu tỏi “bí truyền” hiệu nghiệm, nhưng vì mặc cảm tự ti sợ đưa ra cho đồng bào dùng theo chẳng ai tin nên phải lợi dụng thời mông muội của công nghệ thông tin để phủ tấm bình phong WHO che dấu thân phận của hàng nội địa của chính mình.

3- Gần như cái-gì-cũng-đem-ngâm-rượu-làm-thuốc là một nét đặc trưng của Việt Nam chứ không phải của dân các Châu Lục khác; thậm chí người Tàu cũng chào thua người Việt vì họ làm gì có rượu ngâm cả con chim bìm bịp lông lá rậm rạp đầy đủ móng vuốt, hay rượu con bửa củi, hoặc bộ phận to đùng sản sinh chất liệu truyền giống của một con vật đực khét tiếng như dê chẳng hạn, v.v. Tất cả dẫn đến nghi vấn cuối cùng: tác giả là từ nhóm số 1 hoặc nhóm số 2 nêu trên, hoặc cả hai.

B) Những Yếu Điểm Của Bài “Phương Thuốc Rượu Tỏi”

1- Khi nói vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, tác giả nào sáng tạo ra bài Rượu Tỏi tức là đã lăng mạ đất nước của các Kim Tự Tháp.

Dù cho hết bị Đế Quốc Ottoman xâm lược vào Thế Kỷ XVI đến Đế Quốc Pháp của Napoleon chiếm đóng cuối Thế Kỷ XVIII, và cuối cùng là Đế Quốc Anh đầu Thế Kỷ XIX cho đến khi có được độc lập giữa Thế Kỷ XX (năm 1953),  Ai Cập vẫn không thể là nước nghèo với vị tổng thống vĩ đại Gamal Abdel Nasser, người đã đưa Ai Cập làm một trong những quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc ngay từ ngày đầu tổ chức này được thành lập, thẳng tay quốc hữu hóa Kênh Đào Suez của các đại tư bản Pháp-Anh, lãnh đạo toàn khối Ả Rập, dựng xây Chủ Nghĩa Xã Hội Ả Rập, tiến hành cuộc Chiến Tranh Tiêu Hao chống Do Thái, dám khiến hai siêu cường Mỹ và Nga vào thế bạng duật tương trì để rồi với tư thế ngư ông đắc lợi công khai bắt tay hữu hảo với Liên Xô, v.v.

Ngoài ra, nhóm từ “khí hậu sa mạc khắc nghiệt” ắt được viết với tâm lý thuần Việt vì phản ứng tự nhiên khi nghe nói nước nọ có sa mạc là viết ngay từ “khắc nghiệt”, trong khi Ai Cập có hai mùa rõ rệt gồm mùa Đông mát dịu từ tháng 11 đến tháng 4,  và mùa Hạ nóng từ tháng 5 đến tháng 10; với dao động từ 14 độ C vào mùa Đông đến tối đa 30 độ C vào mùa Hạ chứ có nóng bức khắc nghiệt tí nào đâu? Chỉ riêng vùng sa mạc mới có tính “khắc nghiệt” (mùa Hạ nhiệt độ đêm 7 độ C, ngày 43 độ C; mùa Đông nhiệt độ đêm 0 độ C, ngày 18 độ C) nhưng dân chúng không ai…xây nhà của phố thị ở trong sa mạc cả nên cũng đâu ai kinh qua cái nghiệt khắc đó!

2- Khi nói “sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao”, nghĩa là WHO đã tiến hành nghiên cứu nhiều năm, lấy số liệu thống kê hẵn hoi mới có thể cho ra một khẳng định như thế, cũng mặc nhiên hiểu rằng nếu thực sự đã có nghiên cứu rồi thì cũng đã phải biết luôn về “rượu tỏi” rồi, chứ sao lại phải xin xỏ Tổng Thống Nasser cho vô điều tra nghiên cứu thêm những 10 năm mới thấy “nhà nào cũng có hủ rượu tỏi”?

Dường như người viết cho rằng WHO ăn không ngồi rồi nên mới vì nhân loại mà đổ xô vào Ai Cập nghiên cứu chăng. Sao không vào Việt Nam nghiên cứu xem dân ở xứ ấy ăn uống cái giống gì mà Bắc Phạt, Nam Bình, Tây Chinh, Đông Trấn (phạt Tống phương Bắc, bình định phương Nam, tảo trừ phương Tây, trấn thủ biển cả phương Đông), vĩnh viễn chặn đứng sự bành trướng của Trung Hoa xuống Đông Nam Á, nhấn chìm Đế Quốc Pháp xuống bùn nhơ không bao giờ còn có thể ngóc đầu lên với thiên hạ, biến Đế Quốc Anh thành thân phận kẻ hèn theo đóm ăn tàn, chứng kiến sự diệt vong tủi nhục của Quân Phiệt Nhật, và mãi mãi vùi chôn niềm kiêu hãnh đại siêu cường quốc Hoa Kỳ, để may ra có báo cáo hẵn hoi về rượu-chim-bìm-bịp-đầy-lông-lá hay rượu-bửa-củi hoặc rượu “dế dai” cho đúng sự thật hơn?

C) Những Phát Hiện Có Liên Quan

Qua kiểm chứng các tài liệu đầy dẫy trên internet, tôi có thể khẳng định rằng:

1- Chưa bao giờ dân Ai Cập có thứ rượu tỏi như các thông tin bấy lâu nay thấy nhan nhản trong các tài liệu y học xằng bậy lếu láo in ấn ở Việt Nam.

2- Người Ai Cập cổ đại đã chế tạo ra bia và rượu vang những hơn ba ngàn năm trước Công Nguyên và tử thời cổ đại đã xem rượu vang làm từ nho (có 5 loại rượu vang của người Ai Cập xưa là cất từ các nhóm nho, nhóm chà là, nhóm cọ, nhóm lựu, và nhóm các thứ quả khác không ngon bằng) là thức uống thần thánh, dùng rượu vang ngâm với nhiều thứ thảo dược để làm thuốc nhưng chưa bao giờ dùng tỏi, và một điều khác biệt là rượu vang không là rượu mạnh như rượu đế của Việt Nam và rượu vang hiện nay được xem như hữu ích cho tim mạch chứ không vô danh đầy tai hại như rượu đế Việt Nam. Người Ai Cập cổ đại đã xem rượu vang như thứ thuốc bổ, được pha trộn thêm với cây rau mùi (coriander), bạc hà (mint), lá thơm (sage), cây hương thảo (rosemary), nhựa thơm (balm) hay nhựa thông (pine resin), v.v., và tùy từng thứ được đem “ngâm” mà “rượu” ấy dùng để khử trùng, trị ho, ăn ngon miệng, giảm sốt, băng bó vết thương, hoặc an thần cho phụ nữ lúc chuyển dạ sinh con, v.v. Song, tỏi không có trong danh mục thảo dược của dân Ai Cập.

3- Người Ai Cập dùng tỏi như một thứ gia vị trong rất nhiều món ăn dân gian của họ.

4- Rượu tỏi (garlic wine) là một thứ nước sốt được chế biến theo nhiều công thức khác nhau để trộn món salad hay để nấu ăn, với lời khuyến cáo quen thuộc “garlic wine is not for sipping” trên các trang dạy nấu ăn của Phương Tây, nghĩa là “rượu tỏi không phải là thứ để nhâm nhi nhậu nhẹt”. Đặc biệt, Rượu Tỏi không bao giờ là kiểu lấy tỏi cho vào trong rượu vang (wine) mà là dùng tỏi cùng nhiều thứ khác trộn với men để làm hỗn hợp đó thành thứ họ gọi là wine mà tiếng Việt máy móc dịch là “rượu”.

D) Kết Luận

Do trên thế giới và tại Việt Nam chưa đâu có – và thậm chí chưa bắt đầu có – bất kỳ một nghiên cứu nào về rượu tỏi, và do trên thế giới và Việt Nam đã có các nghiên cứu – hoặc dịch lại nghiên cứu của nguồn khác – về tác dụng dược l‎ý của tỏi, người Việt Nam có thể an tâm ăn thật nhiều tỏi, hoặc uống bổ sung các viên tỏi dạng con nhộng được các viện bào chế dược phẩm trong nước chế tạo hay nhập khẩu, thay vì uống rượu tỏi theo số lượng “giọt” mà nhiều vị thầy thuốc dốt nát dám bảo là WHO đã “dày công nghiên cứu”.

Tuy nhiên, do

(a) Tỏi là sản vật tốt lành của thiên nhiên,

(b) Từng cá nhân có thể đã quen với việc uống mấy giọt rượu tỏi trong hơn 15 năm qua kể từ khi bùng phát thông tin tưởng tượng về rượu tỏi và thấy có tác dụng gì gì đó, và

(c) Vấn đề tâm l‎ý cộng với niềm tin giữ vai trò quan trọng trong việc biến rượu tỏi thành “đã có công hiệu” cho bản thân,

thì vẫn có thể tiếp tục ngâm và dùng; song, đừng nên lưu thông tin kỳ quặc đó trên các trang web y học để giữ gìn danh dự y học quốc gia và không nên chuyển tải những thông điệp sai lệch thiếu nghiêm túc về rượu tỏi đến những người quen khác.

Garlic Wine là một thứ dấm sốt sản phẩm ẩm thực của Ai Cập và Âu Mỹ để ăn với món salad tức rau trộn.

Rượu Tỏi (tạm dịch là…Garlic Whisky hay Garlic…Đế) là một thứ rượu cực nặng của người Việt, tức giống dân có thói quen quái lạ cái gì cũng đem bỏ trong rượu đế, từ tỏi đến hạt tiêu, rắn rít, chim muông, cọp beo, kỳ đà, kỳ lân, khủng long, khổng tượng, phượng hoàng, v.v.; để tự trị các bịnh sinh ra do việc ăn rắn rít, chim muông, cọp beo, kỳ đà, kỳ lân, khủng long, khổng tượng, phượng hoàng, v.v., gây ra.

Người dân xứ Wales của Vương Quốc Đại Anh & Bắc Ái Nhĩ Lan có câu: “Tháng Ba ăn hành (hoặc tỏi tây), tháng Năm ăn tỏi (tỏi ta), là mấy tháng còn lại sẽ thấy thầy thuốc ngồi chơi xơi nước” –  Eat onions in March and garlic in May, then the rest of the year your doctor can play – thậm chí còn có cả lễ hội Gilroy Garlic Festival ở Hoa Kỳ vào tháng 7 hàng năm để ghi công trạng của tỏi; trong khi người Tiệp Khắc có câu “Tỏi tốt bằng mười bà mẹ”, với ý nói tỏi – chứ không phải “rượu tỏi” tốt cho sức khỏe chung, mặc sức ăn nhai thả dàn chứ không uống “giọt” huyễn hoặc hoang đường.

Muốn viết viết ghi ghi chép chép gì đó về “rượu tỏi” thì cứ vỗ ngực tự xưng là ghi theo bí kíp khẩu truyền của tổ tiên nhà mình, chứ đừng có lôi dân Ai Cập vào kẽo các Mummy lồm cồm ngồi dậy chui khỏi các Kim Tự Tháp lũ lượt bay qua Việt Nam gây bão cát trừng trị tội điêu ngoa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Caroline Seawright, 2001. Rượu Thời Ai Cập Cổ Đại

Jennifer Viegas, 2009. Rượu Thảo Dược Chữa Bệnh Người Ai Cập Cổ Đại. Bản tin Discovery. http://dsc.discovery.com/news/2009/04/14/egyptian-wine.html

Marisa Clark. Công Thức Chế Biến Rượu Tỏi. http://winemaking.jackkeller.net/reques24.asp

Menna El-Dorry. Làm Rượu Thời Ai Cập Cổ Đại. http://www.arabworldbooks.com/egyptomania/wine.htm

Mike và Janet Wood, 1995. Các Công Thức Món Ăn Ai Cập Cổ Đại. www.ancientnile.co.uk

Ngâm thảo dược vào rượu vang: cách người Ai Cập cổ đại pha chế thuốc chữa bịnh cách nay 5000 năm. http://www.dailymail.co.uk/news/article-1169803/Mixing-herbs-wine-Ancient-Egyptians-dispensed-sick-5-000-years-ago.html

Người Ai Cập Cổ Đại Dùng Rượu Vang Làm Thuốc. 2009. http://www.telegraph.co.uk/science/science-news/5148120/Ancient-Egyptians-used-wine-as-medicine.html

Rượu Vang Ai Cập. http://www.mnsu.edu/emuseum/prehistory/ancienttech/egypt.wine.html

Rượu Thảo Dược Của Người Ai Cập Cổ Đại. 2009. http://egyptblogreview.com/talking-pyramids-ancient-egyptian-pyramids-news/

Tammy D. Motteshard. Những Lợi Điểm Khi Dùng Tỏi Trong Các Pha Chế Thảo Dược. http://www.herballegacy.com/Motteshard_History.html

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-8-2017

Bài 3:

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Kính mời đọc lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ đăng ngày 23-8-2013 tại  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/23/loi-khuyen-danh-cho-gioi-bac-si/ trên blog này của WordPress.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ  – 2013

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-8-2017

Bài 2:

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

(Bài đăng lần đầu ngày 05-4-2010 ở http://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang trên Emotino)

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-4-2010

Y Tế Bài 2

A- Dẫn Nhập: Ba Điều Bốn Chuyện

Trong một bài viết gần đây tôi có nêu lên ba điều rõ ràng tối cần thiết trong xã hội mới, thời đại mới, những ràng buộc nhân-quả mới, cực kỳ khắc nghiệt và nghiêm trọng nhãn tiền, để mong ai cũng hiểu rằng chính mình đang kinh doanh – nếu đang sống thực sự, làm việc thật sự, có trí hóa thật sự, và có giáo dục thật sự – và hiểu cái đạo l‎ý kinh doanh thực sự phải như thế nào, đó là

(a) không ngừng chăm chút tuyệt vời cho sản phẩm chào bán,

(b) xem khách hàng là vua, và

(c) thu được lợi nhuận chân chính để tự lo có được cuộc sống bản thân và gia đình tốt hơn .

Với ba điều ấy, tôi dẫn ra bốn chuyện trong đó có nói về giới y bác sĩ cũng như những hậu quả khôn lường từ sự chưa bao giờ đặt ra đúng ý nghĩa cho những “ngày tôn vinh” nghề nghiệp, trong đó có một ngày liên quan đến sinh mạng vật chất của con người, và có một ngày liên quan đến sinh mạng tinh thần cũng của con người, mà phạm vi bài này xin chỉ nói về những Thiên Thần Áo Trắng, chưa nói gì đến các vị Thiên Thần Phấn Trắng Nhất Tự Vi Sư, Bán Tự Cũng Vi Sư tuốt.

B- Lương Y: Phân Định Lại Từ Ngữ Cho Đúng

Trước khi nói về các Thiên Thần Áo Trắng – tạm cho là danh từ đặc biệt này do người đời đặt cho thày thuốc dù cán cân nặng hơn nghiêng về hướng … các thầy thuốc tự gọi mình như thế để tự tôn vinh mình, hệt như … Thiên Thần Mũ Đỏ “tự phong” của quân Nhảy Dù chế độ Cộng Hòa – tôi thấy nhất thiết phải làm rõ một điều bất hợp l‎ý trong sử dụng từ ngữ: “bác sĩ” là tên gọi cho thầy thuốc Tây Y và “lương y” cho Đông Y và Nam Y.

Lương y như từ mẫu là câu thường được nghe nói đến, có nghĩa “thầy thuốc lương thiện tốt lành có lương tâm luôn chăm sóc bịnh nhân kỹ lưỡng như người mẹ hiền chăm sóc con thơ”; như vậy, nếu dùng “lương y” để gọi riêng thầy thuốc Nam hay thuốc Bắc tức Đông Y thì phải chăng Tây Y không … “lương thiện”? Thêm vào đó, nhiều thầy thuốc gia truyền cây nhà lá vườn không có học vị nên không thể xưng danh bác sĩ, phải núp sau từ “lương y” để hoạt động khám chũa bệnh. Ngoài ra, cách gọi “lương y” mang ý phân biệt đối xử, bên trọng, bên khinh, cứ như thể đã qua thế kỷ hai mươi mốt rồi mà các “bác sĩ” Việt Nam vẫn còn mông muội cho rằng chỉ có họ mới được đào tạo bài bản hàn lâm, còn đồng nghiệp Đông Y vẫn còn theo lối cũ truyền khẩu hay gia truyền hay sao?

Vì vậy, cách duy nhất đúng cho chức nghiệp này nên là “bác sĩ Tây y” và “bác sĩ Đông y” để từ đó mới phân định bác nào hữu lươngbác nào bất lương qua cách từng bác đã và đang làm gì với chức nghiệp cụ thể, với bịnh nhân cụ thể, và với cái lương tâm trừu tượng.

C- Vấn Đề Trang Phục: Trắng – Xanh – Trần

1- Trắng: 

Trước đây y bác sĩ Phương Tây hay mặc áo trắng mà mục đích thật sự chỉ là để làm nổi bật màu máu bịnh nhân. Sự mất vệ sinh này là điều tệ hại có thật, không là sự bôi nhọ y tế Âu Mỹ cận đại.

Trong cuối thế kỷ XIX,  25% sản phụ tại Mỹ chết ngay sau khi sinh vì chứng sốt sản hậu puerperal fever mà sau này được phát hiện là do khuẩn Streptococcus pyogenes gây ra. Vào năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (có con trai là Oliver Wendell Holmes Jr. sau làm Chánh Án Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ) phát hiện tỷ lệ cao các sản phụ chết do sản hậu có thể được làm giảm đi đáng kể nếu ông rửa tay tay sạch sẽ sau mỗi lần đỡ đẻ. Ông vội vàng viết một bài gởi đăng trên Tạp Chí Tam Cá Nguyệt Dược Phẩm & Phẫu Thuật New England, để rồi bị đồng nghiệp khắp nơi chống đối, phỉ báng, đe dọa xóa tên khỏi Viện Hàn Lâm Y Học do dám biến những bác sĩ đáng kính thành những tên giết người dơ dáy do họ sau mỗi ca phẫu thuật hoặc thực tập trên tử thi xong là chùi đôi tay vấy máu mủ tanh hôi lên áo rồi quay sang đỡ đẻ hay giải phẫu cho người khác, xem chiếc áo trắng đầy máu mủ tanh tưởi là chứng tích của sự tận tụy của một thiên chức cao qu‎ý lịch lãm hàn lâm. Song, ông còn may mắn hơn một đồng nghiệp khác là bác sĩ Ignaz Philipp Semmelweis người Áo gốc Hungary vốn về sau được tôn vinh là ân nhân của sản phụ toàn thế giới (…phương Tây), “nổi tiếng” hơn cả Holmes.  Semmelweis trong cùng thời gian trên do đau lòng trước tỷ lệ tử vong quá cao của sản phụ đã dày công tìm hiểu và chế ra một dung dịch sát trùng, yêu cầu các bác sĩ dùng rửa tay ngay sau mỗi lần giải phẩu tử thi hay bịnh nhân, nhưng ông bị công kích, tấn công, tẩy chay, trừng phạt, đến độ ưu uất, tinh thần sa sút trầm trọng, rồi qua đời trong nghèo khó và im lặng với chỉ đôi ba người đưa đám, không có đến một lời cáo phó hay thông tin của bất kỳ bịnh viện hay viện hàn lâm nào trên báo chí. Làm con người ai cũng có cái đức tính thiên phú để phân biệt người và thú là lòng biết ơn, do đó bịnh nhân rất có thể đã xem y bác sĩ như vị thần cứu mạng của mình, gọi họ là những thiên thần áo trắng, không màng đến việc tấm áo trắng ấy thật ra rất rằn-ri đỏ hay lốm đốm đỏ hay chằng chịt hoa văn đỏ chứ không tinh thuần, khiết trắng.

2- Xanh:

Tuy nhiên, theo thời gian thì chân l‎ý bao giờ cũng lấy lại được giá trị tự thân, và bác sĩ Tây Y của thế kỷ hai mươi bắt đầu học cách vệ sinh y như bác sĩ Đông Y thời…trung cổ (ngay ở Việt Nam các “bà mụ đỡ đẻ” ở nông thôn từ ngàn xưa cũng đã biết rửa tay bằng nước trà hoặc nước pha rượu hay nước nấu với thảo dược, trước khi đưa bàn tay vào cơ thể sản phụ), khiến màu trắng trở thành sự tinh khiết, “vệ sinh” vốn rất cần thiết đối với môi trường y tế. Nhưng cũng theo thời gian, người ta thâm thúy hơn, hiểu biết hơn, lịch sự hơn, tâm l‎ý hơn, và chuyên nghiệp hơn nên biết rằng màu áo trắng trong khung cảnh trắng toát của bịnh viện trở nên đáng sợ, tang tóc, lạnh lẽo, gây tâm l‎ý bất an nơi bịnh nhân, cũng như màu đỏ của chữ thập luôn nhắc nhở đến máu me và tai họa. Nhiều nước tiên tiến đã điểm trang bộ mặt y tế của mình khác đi, với tường bịnh viện màu xanh lá, áo y bác sĩ màu xanh lá, và xe cứu thương có chữ thập màu xanh lá (hoặc xanh dương, và bỏ luôn “chữ thập” vốn được nhiều tỷ người cho là hình tượng của …nghĩa trang, hoặc “né” bằng cách thay chữ thập bằng ngôi sao sáu cánh hình thành từ 3 miếng băng cá nhân); thậm chí các y bác sĩ cũng vì màu xanh tâm l‎ý thân thiện với bịnh nhân mà không đeo vắt vẻo cái ống nghe stethoscope khi không đang trực tiếp khám bịnh tại bàn làm việc của riêng mình; lúc nào cũng cố ra dáng khoan thai, dịu dàng, thay vì lúc nào cũng vắt ống nghe trên người ra vẻ khẩn trương, bận rộn, tất tả, dù chỉ là đi qua lại trong hành lang, gợi thiên hạ nhớ lại thời kỳ nhiều thế kỷ các vị cần mẫn tận tụy trét đầy máu mủ trên người.

Nhưng đó là ở nước ngoài. Người Việt ta giá như cũng quan tâm đến chất lượng của những người đang nhận tiền của mình để làm dịch vụ khám chữa bịnh cho mình thì ắt đã có quyền gọi những thầy thuốc phục vụ tốt với tên mới là Thiên Thần Áo Xanh Lá từ lâu.

3- Trần:

Thế nhưng sự đời lại không chỉ phức tạp ở cái sắc cái màu, mà còn ở cái ngữ nghĩa của bản thân từ “thiên thần” nên khiến thêm rách việc, vì thậm chí có cả Thiên Thần Không Áo, tức Thiên Thần Trần tức Thiên Thần Truồng, làm thành ngữ Thiên Thần Áo Trắng có khi phải bị méo nghĩa theo quy luật rất bình thường của bài bản Lexicology, mà xin độc giả vui lòng đọc hồi sau sẽ rõ.

D- Xóa Nhòa Ranh Giới Thiện – Ác

“Thiên Thần Trần” là hình ảnh những thiên thần trong bộ phim hoành tráng Legion đang được chiếu tại các cinema sang trọng ở thành phố Hồ Chí Minh. Các thiên thần này vẫn còn lịch sự vì hình ảnh các thiên thần trong các bức danh họa từ xưa đến nay thì không chỉ “trần” mà còn đánh đố thiên hạ xem ai có nhìn thấy quần của thiên thần màu gì không. Nhưng điều đáng nói ở đây là nếu như trong Thánh Kinh Cựu Ước (Genesis 19) có đoạn kể về các thiên thần chắc là rất đẹp đẽ có cánh chim bồ câu bay vào hai thị trấn Sodom và Gomorrah  để giết sạch nam phụ lão ấu – ngoại trừ Lot cùng vợ và hai cô con gái – thì Legion cho thấy ngoại hình kinh khủng và kinh dị của các thiên thần có cánh dơi do Thượng Đế hạ chỉ sai xuống trừng trị loài người sa đọa, để …  thây chất thành núi máu chảy thành sông.

Như vậy, đã có ngày càng nhiều những bất lợi cho giới y bác sĩ Việt Nam khi cái từ “thiên thần” đã không còn duy chỉ mang ý nghĩa lương thiện và nhân hậu, và nhất cử nhất động của các vị trái với “lương thiện và nhân hậu” đều luôn bị đánh giá nghiêm khắc. Phim ảnh chỉ dùng mỗi chữ “angel” để chỉ các thiên sứ, dù đó là thiên thần mang phần thưởng của Thượng Đế hay thiên thần làm nghiệm vụ một thiên lôi; trong khi đó phần thuyết minh tiếng Việt cho phim Legion phải nói rõ là “ác thần” để chỉ các “angel” kinh khủng kinh dị kinh hoàng làm công tác thiên lôi ấy.

Ác Thần Áo Trắng sẽ là thành ngữ mới nếu sự suy đồi y đức lại đến từ các “Thầy” chốn đại học đường y dược của nước nhà, do chẳng có cách chi mà tin rằng 100% các “bác” ra trường do các “Thầy” ấy đào tạo lại miễn nhiễm với “thầy nào, trò nấy”.

E- Kết Luận: Legion Nightingale

Cho dù thiên sứ quấn vải trắng có cánh chim bồ câu vung gươm nhuốm máu ngay cả trẻ thơ thuộc những gia đình sa đọa như ghi trong kinh thánh, hay những thiên thần ở trần có cánh dơi trong phim Legion, thì các thiên thần ấy cũng còn làm theo lịnh vị chủ tể minh quân muốn trừng trị những sinh linh mà chủ tể ấy liệt vào hàng xấu xa trụy lạc; trong khi một số thiên thần áo trắng ở Việt Nam ra tay giết hại không gươm không đao những đồng bào nghèo khổ qua việc kê đơn thuôc vô tội vạ để hưởng hoa hồng từ nhà sản xuất thuốc, vui hưởng có khi đến vài trăm triệu đồng mỗi tháng. Xem ra cái y đức là điều lạ lẫm của những người hùng hục khí thế tham gia góp phần đẩy giá thuốc lên cao chót vót, “tàn sát” nam phụ lão ấu, tự biến mình thành những kẻ bất nhân làm điếm nhục gia phong vì đã mặt dày mày dạn dám thốt lời thề nguyền Hippocrates y học thiêng liêng trong khi thực chất bản thân lại khác gì bọn Hypocrite trụi trần, ghiếc gớm.

Ngày Thầy Thuốc lẽ ra chỉ nên là ngày các y bác sĩ Tây Y và Đông Y nghiêm khắc nhìn lại màu áo của mình, và có khi còn để xem rõ mình có còn mặc áo che thân giữa đám đông hay không; vì rằng người Việt không cần có Ngày Thầy Thuốc mới biết ơn những lương y, và thầy thuốc “hữu lương” đâu cần có một ngày “tôn vinh” chức nghiệp của mình và…mình. Thầy thuốc “hữu lương” ắt ít ai muốn có Ngày Thầy Thuốc vì biết nó cũng sẽ là danh thơm cho thầy thuốc “bất lương” hưởng sái.

Suy cho cùng, sự công bằng nên được dựng xây trong lòng tác nghiệp y tế qua việc đề ra thêm Ngày Bịnh Nhân đễ các Thiên Thần Áo Trắng tỏ sự biết ơn sâu xa những Thiên Thần Áo Ngũ Sắc, những người đã đến từ nhiều thành phần khác nhau của xã hội, giàu có, nghèo có, mặc áo đủ thứ màu khác nhau, mức độ lành lặn và thơm khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một điểm là trả tiền sòng phẳngtrực tiếp bằng tiền mặt hay gián tiếp qua chế độ bảo hiểm y tế luật định thậm chí do các tổ chức hay cá nhân cưu mang từ thiện – để không làm thầy thuốc thất nghiệp.

Và khi ai cũng là…Thiên Thần ráo trọi thì bịnh nhân nghèo nếu ăn cắp ống nghe của bịnh viện sẽ chẳng làm chết thầy thuốc nào, trong khi y bác sĩ giàu nhờ ăn cắp sức khỏe bịnh nhân sẽ làm bịnh nhân túng quẫn hơn và sinh mạng bị đe dọa; tuy nhiên, nếu cả hai tên cắp này bị đánh đồng cho cùng là “thần” ở trần hay ở truồng, có cánh dơi, thì người trước (ăn trộm ống nghe của bác sĩ) vẫn nhẹ tội hơn vì có khi họ chưa hề nghe nói về anh Robin Hood ở Anh Quốc tốt đẹp hơn 208 gã Tàu ở Lương Sơn Bạc cả tỷ lần, nhưng dứt khoát nhiều tỷ phần trăm là kẻ sau (ăn trộm sức khỏe bịnh nhân) biết mình mãi ở dưới gót giày của nữ y tá Florence Nightingale cũng của Vương Quốc Anh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-Doanh Quốc-Tế

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-8-2017

Bài 1:

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2013

Kính gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

V/v Thuốc nhập khẩu và sự bất minh trong kê đơn thuốc tại bịnh viện lớn ở Tp Hồ Chí Minh

Nơi nhận bản sao:

– ĐBQH Nguyễn Thị Kim Tiến (Bộ trưởng Bộ Y Tế)

– ĐBQH Huỳnh Thành Lập (Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh)

– Tổ Đại biểu Quốc hội, Đơn vị 1 (Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Phó đoàn ĐBQH  Tp HCM Trần Du Lịch)

 

Kính thưa Đại biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc Hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, xin trình bày với Đại biểu các nội dung sau:

A) Thuốc Phối Hợp Lạ:

Là người trong thời gian 1985-1995 công tác tại công ty xuất nhập khẩu nước ngoài cung ứng cho Việt Nam từ nhà máy, thiết bị, đến nguyên liệu sản xuất đa ngành trong đó có cả dược phẩm và bulk drug, tôi có sự hiểu biết nhất định về y dược qua tiếp cận các tài liệu cũng như qua tiếp xúc với các chức sắc của các công ty dược lớn – đặc biệt là của Ấn Độ, và do đó tôi rất ngạc nhiên khi quá nhiều loại thuốc đã và đang được nhập từ những nhà sản xuất hạng vô danh tiểu tốt của Ấn Độ dẫn đến việc thỉnh thoảng Bộ Y Tế phải có thông báo thu hồi thuốc này thuốc nọ của hãng đó hãng kia mà đa số của Ân Độ. Gần đây báo chí có loạt bài viết về vấn đề nhập khẩu thuốc có “hàm lượng lạ” nhưng chưa có ai đề cập đến vấn đề khác nghiêm trọng hơn, đó là thuốc có “phối hợp lạ”. Bằng một cách nào đó tại vài bịnh viện nhà nước đã xuất hiện thuốc Dianorm M do Ấn Độ sản xuất từ sự kết hợp của 80mg Gliclazide với 500mg Metformin trong mỗi viên, và được kê đơn cho bịnh nhân theo liều lượng mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 30 phút trước bửa ăn sáng, trước bửa ăn trưa, và trước bửa ăn chiều. Theo phác đồ cổ điển và “lành mạnh” giống nhau trên thế giới thì liều thuốc bình thường điều trị bệnh tiểu đường là Gliclazide uống mỗi ngày trước lúc ăn sáng 30 phút, còn Metformin uống sau 2 hoặc 3 bửa ăn chính bình thường trong ngày; trong khi đó, Dianorm M  đưa vào cơ thể người bệnh Việt Nam lượng thuốc Gliclazide cả ba buổi trong ngày, và đưa Metformin vào trước bửa ăn. Đây là phác đồ điều trị hiện đại, hay đây là kiểu phối hợp lạ nhằm thắng thầu vào Việt Nam bằng mọi giá.

Tôi cho rằng sự giám sát nghiêm túc, nghiêm khắc, nghiêm minh, của Sở Y Tế Tp Hồ Chí Minh – và Bộ Y Tế Việt Nam – có thể biết rõ hơn về những loại thuốc “phối hợp lạ” nào đã len được vào hệ thống y dược nước nhà, ngoài thứ Dianorm M nói trên mà tôi tình cờ biết được (do tôi không bao giờ cho phép bất kỳ ai trong gia đình được mua sử dụng ngay thuốc sau khi khám bệnh được kê đơn – trừ trường hợp cấp cứu – vì phải chờ tôi kiểm tra dược điển MIMS, và nhờ vậy 15 năm trước tôi đã phát hiện vị bác sĩ chức sắc ở Trung Tâm Tai-Mũi-Họng trên đường Trần Quốc Thảo đã kê đơn trị bệnh viêm họng cho con tôi với loại thuốc có chứa chất dùng trong cấp cứu trụy tim mạch, và tôi đã quyết định đi mua Amoxcicillin cho con tôi uống thay thế “thuốc trụy tim” và cháu hết bệnh sau một tuần) để có viện pháp hữu hiệu ngăn chặn vấn nạn đáng xấu hổ này.

B) Kê Đơn Thuốc Không Để Chữa Bệnh:

Vừa qua (22-6-2013), vợ tôi bị vấn đề về mắt (xuất huyết đỏ sậm màu máu). Như một phản ứng tự nhiên, tôi đưa vợ tôi đến Bệnh Viện Mắt Thành Phố ở 280 Điện Biên Phủ. Kết quả chẩn đoán là XHPKM mà tôi phải dùng đến khả năng bói toán mới hiểu được gần 50% ý nghĩa (XH phải chăng là “xuất huyết”?). Thuốc được cho trong đơn thuốc trị giá 120.656 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Systane, Noflux, và Vitamin C. Vấn đề là thuốc nhỏ mắt Systane là thứ “dầu nhờn” để trị khô mắt. Hộp thuốc không chứa toa, bên ngoài ghi tên nhà sản xuất Alcon của Mỹ, với dòng chữ hoàn toàn bất ngờ là Printed in USA (“In Tại Hoa Kỳ”). Ngoài việc cho những loại thuốc không dính dáng gì đến tình trạng mắt “XHPKM” của bệnh nhân, vấn đề tôi không thể chấp nhận là thuốc nhập này không ghi nơi xuất xứ (thí dụ: Made in USA) mà lại ghi nơi in hộp. Với thứ thuốc không rõ xuất xứ như vậy, tôi cho rằng

(a) nhất thiết phải tịch thu toàn bộ,

(b) hủy bỏ toàn bộ,

(c) trừng phạt những con người cụ thể có liên quan đến việc đưa loại “dầu nhờn” này vào Việt Nam,

(d) tăng cường chuẩn hóa nội dung bó buộc phải có về thông tin của dược phẩm trên bao bì, và

(e) nâng cao trình độ ngoại ngữ của các cơ quan chức năng phụ trách cấp phép và giám sát của ngành y tế đối với dược phẩm ngoại nhập.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau 2 tuần tuân thủ nghiêm túc “y chỉ” (tức lời phán của bác sĩ) lại thấy tình trạng bệnh mắt của vợ tôi chỉ thêm trầm trọng, tôi vội đưa vợ tôi trở lại Bệnh Viện Mắt Thành Phố ngày 06 tháng 7, và được định bệnh bằng bí chú mới là “VKM CẤP GM TY” với đơn thuốc trị giá 175.350 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Medflocin, Eporon, Noflux, và Gireba, với hai loại đầu là thuốc nhỏ mắt của Hàn Quốc.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau vài ngày sử dụng tuân thủ nghiêm túc “y chỉ”, tình trạng của vợ tôi trầm trọng hơn, buộc tôi phải tra cứu dược điển MIMS, và phát hiện sự tồi tệ sau:

–  Thuốc nhỏ mắt Medflocin trị viêm giác mạc/kết mạc nhiễm khuẩn do chủng vi khuẩn nhạy cảm sau;

– Thuốc nhỏ mắt Eporon trị viêm kết mạc và giác mạc nhưng không được dùng khi bệnh giác mạc/kết mạc do virus gây ra.

Như vậy

– Bác sĩ đã cho hai loại thuốc nhỏ mắt kỵ nhau để dùng chung;

– Bác sĩ đã không nói gì, không ghi gì trong toa thuốc cái điều mà dược điển MIMS nhắc đến, đó là nếu phải dùng 2 loại thuốc nhỏ mắt nào đó với nhau thì phải nhỏ thuốc này sau thuốc kia 15 phút.

Tôi đã quyết định không cho vợ tôi dùng tiếp các loại thuốc trên, và thay vào đó tự đi tìm mua ở hiệu thuốc tư nhân hai loại của Việt Nam là thuốc mỡ Tetracycline (rất quen thuộc ở Sài Gòn từ trước 1975), và Colflox, sau đó là thuốc nhỏ mắt Coll Tobradex của Bỉ. Sau hai tuần, vợ tôi đã hết bệnh.

Như vậy, việc khám bệnh kê đơn không để chữa bệnh, mà để tạo cơ hội cho những kẻ phá hoại có cơ hôi để bêu rếu y tế Việt Nam, đặt điều bôi nhọ chẳng hạn như bán dồn dập các loại “dầu nhờn” và thuốc nhỏ mắt đối kháng để nhằm (a) giải phóng kho thuốc ngoại nhập đã lỡ nhập, và (b) làm bệnh nặng hơn để phải nhập viện và phẫu thuật để tạo công ăn việc làm cho các phòng ban khác.

C) Kê Đơn Thuốc Bất Minh:

Cũng trong sự cố nêu trên với Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi có ghi tên thuốc Gireba. Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau nhiều tuần vợ tôi vật vả với bệnh đau mắt, tôi buộc phải tìm hiểu MIMS về tất cả các loại thuốc trong toa bịnh viện, và phát hiện Gireba là thuốc của Hàn Quốc sản xuất từ Ginkgo Biloba, tức Cao Bạch Quả, tức tương đương với Hoạt Huyết Dưỡng Não và vô số các thuốc tương tự dùng trong phòng ngừa tai biến mạch máu não. Vấn đề ở đây là không phải không nên dùng thứ ấy để chữa bệnh xuất huyết mắt, mà là trình độ hiểu biết hoặc đáng ngờ, hoặc vô y đức của bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ lẽ ra phải biết

(a) rằng rất nhiều người Việt Nam từ trung niên đã quan tâm sử dụng cao bạch quả để phòng ngừa tai biến mạch máu não,

(b) rằng rất nhiều người Việt Nam bị cao huyết áp nên đã thường sử dụng cao bạch quả, và

(c) rằng cái gọi là “thực phẩm chức năng” kiểu hiểu biết hoặc kiểu phê phán ở Việt Nam hoàn toàn đi ngược với kiểu các bác sĩ dinh dưỡng Hoa Kỳ nói về “thực phẩm chức năng” nghĩa là chúng có tác dụng của chúng và phải uống đúng liều lượng.

Cao bạch quả không phải khan hiếm đến độ phải nhập khẩu, xem thường ngay cả y lệnh của Bộ Y Tế trong ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Cao bạch quả không phải là thứ “thực phẩm chức năng” vô hại để dấu diếm tên biệt dược của nó để bịnh nhân về nhà uống Hoạt Huyết Dưỡng Não tức ginkgo biloba của Việt Nam trị tai biến mạch máu não cộng với uống Gireba tức ginkgo biloba của Hàn Quốc để trị…đau mắt, gây nên nạn đưa vào người bệnh lượng cao bạch quả nhiều hơn cần thiết. Việc kê đơn kiểu của Bệnh Viện Mắt Thành Phố là do hoặc vì vô đạo đức, hoặc do kém chuyên nghiệp, hoặc tại thiếu hiểu biết, hoặc bởi yếu chuyên môn, hoặc cả bốn, mà chỉ cần vướng một trong bốn điều này là đã không đủ tư cách tồn tại trong ngành y.

D) Kiến Nghị Vĩ Mô Về “Y Đức”:

1- Từ sự việc trên, tôi đề nghị ngành y tế Thành phố nên nghiên cứu một chuẩn mực mới có thể dưới tên gọi GPP tức Good Prescription Practice, quy định chuẩn hóa quy trình kê toa chuẩn mực của bác sĩ, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – ghi định bệnh rõ ràng, đọc được, và khi ghi tên thuốc nhất thiết phải chua thêm tên chung để bệnh nhân biết và nhận diện xem họ có đang sử dụng cùng thứ ấy (dưới tên khác) hay thuốc ấy đang có sẵn ở nhà (cùng tên hay cùng loại dưới tên khác) để tránh bị tăng lượng thuốc vào cơ thể và để tránh lãng phí, thực hành tiết kiệm, thí dụ ghi thật chi tiết như sau:

Gireba (tức ginkgo biloba hay cao bạch quả): 20 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, sau bửa ăn.

Người bệnh sẽ nhờ đó có quyền chính đáng đương nhiên được biết mình bịnh gì, uống loại thuốc gì, và có thể sẽ quyết định không mua Gireba tại bệnh viện để ra ngoài tìm mua Hoạt Huyết Dưỡng Não hoặc thứ tương tự của viện bào chế khác dưới tên Việt hay Hán Việt hay tên Tây khác với giá rẻ hơn, hoặc họ có quyền chính đáng đương nhiên mua thuốc Tanakan của Pháp đắt tiền hơn, uy tín hơn Gireba – nếu muốn, thay vì bị che dấu sự thật dưới cái tên kỳ bí Gireba trên vĩ thuốc còn dòng chữ ginkgo biloba in bằng cỡ chữ cực nhỏ bằng mực xanh lá mờ nhòe chỉ có thể thấy được dưới chiếc kính lúp.

2- Cần thay đổi tư duy kiểu “ban ơn” trong tất cả các ngành nghề, không riêng gì ngành y. Tính chuyên nghiệp cao nhất là trong phục vụ, nghĩa là trên nền nhận thức “khách hàng là vua”. Chính vì kiểu “biết ơn thầy cô” mà sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam xuống cấp. Chính vì kiểu “biết ơn y bác sĩ” mà sự nghiệp y tế ở Việt Nam phải mãi nhức đầu về cái gọi là “y đức”. Vì theo cơ sở “biết ơn” mà người trong ngành x ngành y ngành z thấy họ ở tư thế “ban ơn” và từ đó không lo trau giồi đạo đức nghề nghiệp (tức hầu hạ, phục vụ khách hàng) và chuyên môn nghiệp vụ (để thể hiện tốt nhất đạo đức nghề nghiệp) cũng như tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao cho mình). Đây là vấn đề lớn, khó thể trong một sớm một chiều có thể thay đổi được; tuy nhiên không thể không có những bước đầu tiên nhằm uốn nắn kiểu tư duy “thọ ơn” bằng cách chẳng hạn như:

a) tập trung nói nhiều về và ngợi ca tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao);

b) giảm bớt tần suất nói về sự cao quý của nghề mình – vì theo lẽ công bằng thì tất cả các nghề chính quy đều cao quý mà không có bất kỳ phân biệt đối xử nào trong xã hội thực sự văn minh, do dần dần không ngành nào nói về sự cao quý của nghề mình – trừ quân đội (công khai, y như ở các quốc gia khác) và an ninh (không công khai, y như ở các quốc gia khác); và

c) đánh thức “ý thức” của nhân sự ngành mình bằng những thông tin rằng sự bất cẩn của nhân sự một ngành như ngành y chẳng hạn, gây hại đến sức khỏe hay sinh mạng của khách hàng có thể khiến nhân sự ấy cùng gia đình trở thành đối tượng cho một vụ thảm sát báo thù như thường thấy trong phim ảnh, tiểu thuyết, phóng sự điều tra thực ở nước ngoài.

Tôi sẽ nhờ nhân viên của tôi tìm in các bài viết của tôi trên các blogs từ năm 2008 đến nay có liên quan đến y tế (thí dụ như “Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi”, “Hỡi ơi những thiên thần áo trắng”, v.v.) để gởi Đại biểu tham khảo các ý kiến tỏ sự quan tâm của tôi đối với ngành y.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Đại biểu.

Kính chúc Đại biểu sức khỏe, an khang, thịnh vượng, thành công.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Đoàn Tp HCM

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Ngụy Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-8-2017

Nguy Quyen

Theo khẩn báo của các học trò, tôi biết thông tin có một tên tiến sĩ chức sắc gì đó đã trả lời phỏng vấn ngoài hành lang của một hội nghị gì đó có liên quan đến việc phát hành bộ sách lịch sử gì đó của bậc trung học, và lời phát biểu của tên tiến sĩ này về “ngụy quân, ngụy quyền” tất nhiên đã nhanh chóng cung cấp thời cơ cho mấy tên chống Việt gì đó tận dụng để hê lên tiếng kêu lạc lõng gì đó về chuyện Việt hiện nay vì quá đói nghèo phải thay đổi cách gọi trân trọng Việt Nam Cộng Hòa nhằm ngắm nghía túi tiền gì đó của Việt Kiểu.

Nhận thấy tên tiến sĩ do Nhà Nước Cộng Sản đài thọ chi phí ăn học bằng tiền thuế của dân (?), được Nhà Nước Cộng Sản xây sẵn viện này viện nọ ghế nọ ghế kia ô tô này ô tô nọ bằng tiền thuế của dân (?), được Nhà Nước Cộng Sản tiếp tục giao cho cơ hội sử dụng kinh phí dồi dào từ tiền thuế của dân để tham gia vô số các đai cuộc cải cách giáo dục cải cách sách giáo khoa (?); nhưng luôn đáp đền Nhà Nước và nhân dân bằng hạ sách giống như các bậc anh tài Phạm Thanh Bình, Giang Kim Đạt, Trịnh Xuân Thanh, v.v., tức vừa làm tiền bạc Nhà Nước hóa bùn (!) vừa tạo điều kiện cho bọn chống Việt ném bùn vào mặt Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ, và đất nước (!);

Tôi xin nói rõ như sau về “ngụy quân” và “ngụy quyền” mà không bất kỳ ai trên toàn thế giới có biết về ngôn ngữ tiếng Việt có thể tranh biện chõi lại được.

1) Miệt Thị Dân Tộc: Như đã viết trong bài Sát Tàu đăng trên blog Chống Trung Quốc antichina.blog.com của tôi và sau này được đăng lại trên blog wordpress này, ethnophaulism là dạng thức ngôn ngữ mang tính khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường một giống dân, thí dụ người Việt gọi giặc Mông Cổ là “Thát”; người Sài Gòn gọi người Trung Quốc là “Chệt”, “Chiệc”, hay “Tàu”; người Việt gọi người Mỹ là “Mẽo”; người Việt gọi người Cambodia là “Miên”; người Mỹ gọi người Tàu là “Chink” hay “Chinaman”; người New Zealand gọi người Úc là “Ozzie”; người Âu gọi người Mỹ là “Yankee”; người Cambodia gọi người Việt là “Duồn”, v.v.

2) Miệt Thị Cá Biệt: Còn không trên bình diện “dân tộc” mà chỉ trong phạm vi một tập thể, một nhóm người, một tổ chức, một cá nhân, thì hình thức khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường được gọi là linguistic impoliteness hoặc derogatory coinages.

Việt Nam Cộng Hòa Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là những từ ngữ “formal” tức chính danh chính thức trang trọng trang nghiêm, do chính Việt Nam Cộng Hòa tự đặt cho chính mình để sử dụng toàn cầu

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt NamChiến Sĩ Giải Phóng Quân là những từ ngữ “formal” tức chính danh chính thức trang trọng trang nghiêm, do chính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tự đặt cho chính mình để sử dụng toàn cầu.

Để tỏ sự khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường đối phương, Việt Nam Cộng Hòa chế ra từ “Việt Cộng” để gọi các Chiến Sĩ Giải Phóng Quân, và lấy ý nghĩa tiếng Anh mà phe Mỹ dùng (North Vietnam) để gọi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là “Bắc Việt” cho ngắn ngủn nhằm bôi bỏ mấy từ ngữ lớn lối về dân chủ và cộng hòa. Như vậy, “Việt Cộng” và “Bắc Việt” không phải là những từ mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sử dụng để tự gọi chính mình.

Đáp lại, để tỏ ý khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường đối phương, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chế ra từ “Ngụy Quân” để gọi các binh sĩ  Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, và đã “hoàn toàn trên cơ” khi đã không lấy ý nghĩa tiếng Anh mà phe Mỹ dùng (South Vietnam) để gọi Việt Nam Cộng Hòa là “Nam Việt” cho ngắn ngủn mà cũng để không phải công nhận đó là một quốc gia nên chế ra từ “Ngụy Quyền” như nhà cầm quyền giả trá giả tạo. Như vậy, “Ngụy Quân” và “Ngụy Quyền” không phải là những từ mà Việt Nam Cộng Hòa sử dụng để tự gọi chính mình.

Khi đã không là từ formal thì dứt khoát không được sử dụng trong sử sách, trong xã luận báo chí chính thống, trong công hàm ngoại giao, và trong tất cả các văn bản pháp quy, các công văn chính phủ. Nếu sử dụng thì buộc phải in nghiêng hay in giữa cặp dấu ngoặc kép.

Như tác giả bài viết này đã bao lần lên tiếng về cái sai của toàn bộ Văn Phạm Tiếng Việt kể từ mốc sau Giải Phóng 1975 đến nay, tiếng Việt đã không những bỏ mất dấu gạch nối mà còn trở thành ngôn ngữ quái lạ không phân biệt ranh giới Formal và Informal khiến ngay trong Nghị Định Chính Phủ và Thông Tư Liên Bộ sử dụng từ ngữ thậm chí kém đẳng cấp hơn cả informal là từ tiếng lóng như “găm hàng” chẳng hạn, chính những cái sai này đã dẫn đến việc vô tư biên soạn sách giáo khoa lịch sử có sử dụng các từ ngữ ác cảm phi chính quy và rất bình dân như “ngụy quân” và “ngụy quyền”.

Vì vậy, việc thay “ngụy quyền” bằng “chính quyền” và “ngụy quân” bằng “quân đội Sài Gòn” chỉ đơn giản là một động tác thuần túy sửa lỗi chính tả (nguyên tắc hàn lâm: không được phép dùng từ bình dân trong các sách giáo khoa hàn lâm), hoàn toàn không phải vì mấy cái lý do quỷ quái điên rồ xuẩn ngốc của nào là xóa bỏ hận thù, hòa hợp dân tộc, hay xét lại hoặc công nhận uy thế gì cả để mà trả lời phỏng vấn nhằm nêu cái “chính nghĩa quốc gia” láo xạo nào cả.

Một khi chỉ là sửa lỗi chính tả, thì cớ gì phóng viên lại quá ngu không biết nên phỏng vấn, và cớ gì tiến sĩ lại quá ngu không biết nên trả lời để rồi cùng vầy đoàn trở thành học trò mẫu giáo tuốt, chả biết gì sất về Tiếng Việt, để rồi tạo cớ cho bọn chống Việt tru tréo ăn nói quàng xiêng về cái quái gì đó gọi là “chực chờ kiều hối” thế kia?

Hỡi ơi, Đảng Cộng Sản Việt Nam sao cứ mãi dùng tiền thuế của dân gieo trồng toàn những cây đại thụ từ toàn hạt giống lép đầy lổ sâu mọt để chúng vươn to cao rồi tự ngã đè lên đầu Đảng thế này!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sí Quốc-hội Khóa XIII

Tham khảo:

Sát Tàu: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/07/sat-tau-5/

Formal & Informal: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Dấu Gạch Nối: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Các bài đọc thêm về ngôn ngữ (xếp theo thứ tự thời gian trước-sau):

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.

Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”

“Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa”

Biển Đông Có Phải Là East Sea?

Chủ Tịch – Già – Cu Dơ Nhét Xốp

Hà Hồ

Tranh Giành Ngôn Từ

Sadim Ơi Là Sadim

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Nhà Độc Địa

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Thế Nào Là “Từ Chương”

Trịnh Xuân Thanh – Bài 3

Luật Báo Đáp Tương Đồng – Law of Equivalent Retaliation

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp Quốc Hội Khóa XIII

16-8-2017

TXT1

A) Chính Nghĩa Luôn Phải Dựa Trên Sức Mạnh Vật Chất

Được Giám mục Alois Hudal ở Ý giúp sức, tên tội phạm chủ chốt thực thi cuộc đại thảm sát dân Do Thái (Holocaust) Thiếu Tá SS Đức Quốc Xã Adolf Eichmann đã được cấp hộ chiếu Tổ Chức Hồng Thập Tự Thế Giới mang tên Ricardo Klement đáp tàu rời Genoi, Ý, ngày 17-6-1950 sang Buenos Aires, Argentina, ngày 17-6-1950, và định cư tại Tỉnh Tucumán, làm trưởng phòng cho chi nhánh hãng ô-tô Mercedes-Benz tại đấy.

Sau 10 năm truy lùng mới phát hiện ra tông tích tên đồ tể Eichmann, cơ quan mật vụ hải ngoại Mossad phối hợp với cơ quan mật vụ nội địa Shin Bet đều của Israel tổ chức bắt cóc Eichmann do Argentina công bố chủ trương không trục xuất bất kỳ ai là tội phạm Quốc Xã Đức theo bất kỳ yêu cầu dẫn độ của bất kỳ nước nào. Đích thân giám đốc cơ quan Mossad lập tức dẫn theo 8 mật vụ cơ quan Shin Bet lên đường sang Argentina tháng 5-1960. Trên đường Eichmann đi làm về lúc từ trạm xe bus đi bộ băng qua khoảng công viên vắng vẻ, ba đặc vụ chận lại quật ngã y, cuộn giấu y trong tấm chăn, vất lên sàn chiếc ô tô chờ sẵn, đưa về một địa điểm bí mật tra khảo trong 9 ngày đêm, rồi lẻn đưa lên chiếc phi cơ Bristol Britannia mới vài ngày trước đó đã đưa phái đoàn ngoại giao Israel đến Argentina dự lễ quốc khánh lần thứ 150 của nước này và nay lên đường về nước.

Tại Argentina, vụ bắt cóc đã dấy lên những phản kháng mạnh mẽ từ chính quyền và những làn sóng bạo động bài Do Thái của các nhóm dân. Sau khi Israel dứt khoát không chịu trao trả Eichmann, Argentina đưa phản đối đến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc rằng vụ bắt cóc xâm phạm chủ quyền quốc gia Argentina. Đại diện Israel lức đó là nữ vĩ nhân huyền thoại Golda Meir người sau này làm Thủ Tướng Israel đã phản pháo, cho rằng những kẻ  bắt cóc không phải là các đặc vụ nhà nước mà chỉ là những cá nhân thân nhân các nạn nhân Holocaust nên do đó chỉ là sự việc vi phạm riêng lẻ luật pháp Argentina, càng không vi phạm luật pháp Israel do không có chế định nội dung công dân mình ra hải ngoại bắt người, còn việc Israel phải xét xử là theo các khiếu kiện của công dân nước mình nộp tại tòa án Israel với nhân chứng-vật chứng-tội phạm, và do đó không thể dẫn đến việc Israel phải dính dáng vào các cáo buộc của nước khác về phương diện ngoại giao. Hội Đồng Bảo An ra Nghị Quyết 138 ngày 23-6-1960 chỉ công nhận đó là sự vi phạm chủ quyền Argentina của những công dân Israel chứ không phải Israel vi phạm, và kết rằng Israel hãy “khắc phục” với Argentina. Gần 6 tuần sau, Argentina và Israel ký thông cáo chung nêu hai điểm rằng vụ bắt cóc thực sự xâm phạm chủ quyền Argentina và rằng hai bên nhất trí khép lại vụ việc.

Việc bắt cóc Adolf Eichmann làm muỗi mặt cơ quan tình báo Mỹ CIA và cơ quan an ninh Đức BND vì chính hai cơ quan này đã biết từ lâu nơi ẩn náu của Eichmann nhưng đã không thông báo cho Israel, thậm chí CIA đã từng bắt được Eichmann rồi hối hả thả ra với lý do đó bắt nhầm người vô tội.

Trước đó, năm 1956 Tòa Án Quốc Tế Nuremberg về tội ác chiến tranh của Đức Quốc Xã đã vội vàng kết thúc chỉ sau một năm xét xử 24 quan chức cao cấp nhất của Đức Quốc Xã đã bị bắt được, đưa lên giảo đài treo cổ 10 tên. Vì vậy, không bất kỳ quốc gia nào dám cản ngăn Israel tiến hành xử tội Eichmann ngay tại Israel chứ không bởi một “tòa án quốc tế” nào cả. Lúc 20 giờ ngày 31-5-1962 Eichmann được thông báo đơn xin ân xá của hắn đã bị Tổng thống Israel bác bỏ, và vài giờ sau, Eichmann đền tội ác trên giảo đài. Israel cho hỏa thiêu xác Eichmann rồi rải tro ngoài Địa Trung Hải để mai sau không bất kỳ ai có thể đến trước cái gọ là mộ phần của y để hoặc tôn vinh hoặc đập phá gây bất ổn xã hội.

Phần mở bài trên khá dài, dễ dàng tạo ngộ nhận dường như nó chỉ là một bổ sung cho Bài Số 2 của cụm 3 bài này. Song, mục đích tác giả là để dẫn nhập vào phần chính sau đây bằng 4 vấn đề toát ra từ sự việc Adolf Eichmann, gồm:

(a) Ngay cả các nhà nước trong liên minh hoặc đồng minh như Mỹ và Đức vẫn che dấu Israel về các tên tội phạm Holocaust mà Israel vẫn không dám công khai nguyền rủa Mỹ-Đức: do đó, chính nghĩa trong tay sức mạnh “tân liên minh chống Cộng” Mỹ-Đức;

(b) Ngay cả các giám mục Châu Âu vẫn giúp giải thoát cho các tên tội phạm Holocaust bằng cách lo liệu giấy tờ với Tổ Chức Hội Chữ Thập Đỏ Quốc Tế biến đồ tể thành nhà từ thiện nhân đức mà không giáo dân Công Giáo nào trên toàn thế giới dám mở miệng phản đối: do đó, chính nghĩa trong tay sức mạnh “ủng hộ Quốc Xã, bài Do Thái và chống Cộng” Vatican;

(c) ngay cả các nước nằm ngoài tầm lan tỏa của khói súng hoặc mùi khói súng của Thế Chiến vẫn giương cao ngọn cờ nhân đạo để cưu mang bọn tội phạm Holocaust vì bọn này đem biết bao châu báu của cải đến nước non nghèo đói của mình, và do đó, chính nghĩa nằm trong tay những nước nào đang há hốc mồm thèm rỏ dãi trước tiền bạc của bọn tội phạm là công dân nước khác mang theo đến xin tỵ nạn.

Do đó, một khi chính nghĩa bị chà đạp để trở thành vô nghĩa thì Israel đã phải tự mình thực thi công lý.

Nhưng phải chăng nhờ Israel là “đồng minh chống Ả Rập Hồi Giáo” của Mỹ và Tây Âu nên Israel có quyền tự mình thực thi công lý, hay tấm gương thực thi công lý ấy được Mỹ và Tây Âu cấp giấy phép cho các nước khác – trong đó có Việt Nam – noi theo?

Holocaust tồn tại. Nhưng Do Thái đã không có chính nghĩa nên Holocaust bị Châu Âu ngó lơ và Vatican phủ nhận. Do Thái không có chính nghĩa vì Do Thái không có sức mạnh quân sự.

Holocaust tồn tại. Nhưng Israel đã có chính nghĩa nên không những Châu Âu hèn hạ và Vatican man di mọi rợ buộc phải công nhận có Holocaust, mà những tên đồ tể Đức Quốc Xã được Châu Âu và Vatican che dấu giải thoát cuối cùng đã bị Israel tổ chức bắt cóc đem về xử tội ngay tại Israel chứ không giao cho bất kỳ một tòa án công lý nào của thế giới. Israel đã có chính nghĩa vì Israel có sức mạnh quân sự.

Không có sức mạnh quân sự, bên có chính nghĩa sẽ nép mình để phía không có chính nghĩa nhưng có sức mạnh quân sự được toàn quyền sử dụng danh xưng chính nghĩa, còn bản thân mình chỉ dùng cái từ chính nghĩa như thứ vô dụng để đóng cửa tự an ủi với nhau mà thôi.

Chân lý ở đây là:

(a) Việt Nam Chỉ Có Chính Nghĩa Thực Tế Khi Việt Nam Có Sức Mạnh Quân Sự, và

(b) Chính Nghĩa Luôn Phải Dựa Trên Sức Mạnh Vật Chất, Bất Kể Sức Mạnh Vật Chất Ấy Có “Chính Nghĩa” Hay Không.

B) Các Công Thức Của Việt Nam Trong Đối Ngoại

Đối ngoại ở đây không là sự hữu hảo mà đa số toàn là láo xạo, như Cambodia luôn luôn láo xạo với Việt Nam, hoặc Trung Quốc luôn luôn láo xạo với Việt Nam, v.v., còn Việt Nam cũng luôn luôn láo xạo ngược lại với Trung Quốc và các nước vậy – đơn giản vì đây chính xác là việc phải làm của tất cả các cái gọi là “Bộ Ngoại Giao”.

1- Công Thức Vĩnh Cữu Cho Đối Ngoại Của Việt Nam Với Thế Giới Siêu Cường

Từ ngàn xưa đến nay, Việt Nam luôn ngự ở vị trí chiến lược toàn cầu, trước đây từ một nước

(a) là vùng lúa gạo phì nhiêu các hoàng đế Trung Quốc thèm khát mong chiếm để có an ninh lương thực nuôi cả tỷ miệng ăn;

(b) là vùng đất duy nhất ở Châu Á có giống dân đẹp đẽ nhất về nhan sắc ngoại hình mà Trung Quốc thèm khát nhất thiết phải lùa bắt về giúp cải tạo nòi giống Trung Hoa;

(c) là con đường tiện lợi nhất cho bộ binh Trung Quốc tiến xuống chiếm toàn bộ Đông Dương để bọc vòng ra phía Tây chiếm toàn bộ Cao Miên (nay là Cambodia), Xiêm La (nay là Thái Lan), để cuối cùng vói tay đến Thiên Trúc (nay là Ấn Độ) vì không thể chiếm Thiên Trúc bằng con đường ngắn hơn tức trực tiếp từ biên giới phía Tây Trung Quốc nhảy qua Hy Mã Lạp Sơn hiểm trở điệp điệp trùng trùng băng giá; cho đến Thế Kỷ XXI thì

(d) là con đường tiện lợi nhất cho hải quân Trung Quốc tiến xuống chiếm toàn bộ Đông Nam Á và Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực cũng như thống trị Ấn Độ Dương qua kế sách cực kỳ mất dạy mang tên Con Đường Tơ Lụa Trên Biển mà chỉ những quốc gia hoặc đói nghèo thảm hại hoặc có chính phủ ngu si đần độn hoặc nhận tiền đút lót của Trung Quốc mới tham gia;

(e) là vị trí chiến lược thương mại biển toàn cầu đối với Âu Mỹ; và

(f) là vị trí chiến lược quân sự biển đối với Âu Mỹ trong khống chế Trung Quốc và bảo vệ Mỹ cùng tất cả các đồng minh Âu Mỹ trong vành đai Thái Bình Dương.

Chính vì vậy, công thức vĩnh cửu để tồn tại mà vạn vạn triều đại của Việt Nam từ thể chế bộ tộc đến phong kiến qua đân chủ cộng hòa đến dân chủ xã hội chủ nghĩa cho đến ngày tận thế luôn là sự phối hợp của hai động tác: vừa luôn sẵn sàng quỳ lạy xưng thần (tức là kiểu nhún mình nhỏ nhẹ giả lả trong thời đại mới) trước các siêu cường, vừa luôn ngầm lén dưỡng nuôi quân lực đủ sức đánh tan tất cả các quân đội ngoại bang kể cả siêu cường bất kể chúng từ đâu đến cũng như bất kể việc đánh tan ấy kéo dài trong vài tháng, trong vài chục năm, trong một thế kỷ, hay trong cả một thiên niên kỷ. 

2- Công Thức Đối Ngoại Bách Niên Mới Cho Việt Nam Cộng Sản

Theo thời gian, sự bất biến trở thành bất khả. Nếu như ở trên mang tính “vĩnh cửu”  thì vẫn không thể chối cãi rằng càng về sau này thì tất cả, từ khoa học công kỹ nghệ cho đến cán cân lực lượng siêu cường nhanh chóng có nhũng đổi thay hoặc chưa có tiền lệ hoặc chưa hề được dự đoán trước. Từ đó, những sách lược hay chiến lược hoặc chiến thuật cụ thể không bao giờ còn là bất biến, khiến có những thay đổi dù lớn dù nhỏ, dù ngắn hạn hay dài hạn. Việc thế giới sẽ ra sao trong 10 năm, 25 năm, hoặc 100 năm sắp đến buộc phải được cộng thêm vào các kế sách quốc gia nhằm tiên liệu các biện pháp thay đổi cho các hoàn cảnh đổi thay. Tất cả tùy thuộc vào việc Việt Nam có tồn tại những chiến lược gia có tầm nhìn thấu thị hay không, vì rằng ngay cả các kế hoạch phát triển kinh tế vốn luôn là chuyện nhỏ thì luôn được Quốc Hội Việt Nam buộc phải cho phép điều chỉnh kéo dài vì thất bại liên tục khiến chưa từng thực hiện được bất kỳ việc đúc kết tổng kết nào cả cho một kế hoạch 5 năm, 10 năm, 20 năm.

Như vậy, trước hoàn cảnh quái gở của thế giới hiện nay đang tồn tại những sự thật hoặc mới tinh hoặc mới bị lột mặt nạ như sau:

(a) Những từ ngữ mang nghĩa “chính nghĩa” hay “đạo hạnh” hoặc “hữu hảo” và “nhân ái” v.v. của Đông Phương từ các triết lý của Khổng Giáo, Nho Gia, Đạo Lão, hay Phật Giáo, v.v., đã trở thành hoặc vật trang trí đeo lủng lẳng tòong teeng khoe mẽ khoe khoang bên ngoài quần áo con người hoặc chỉ là sợi khói mong manh trừu tượng dễ dàng tan biến không nắm bắt được.

(b) Những sự việc liên quan đến các cuộc “thánh chiến” Thiên Chúa Giáo tàn sát tàn phá các quốc gia Hồi Giáo gây ra mối căm hận căm thù chính đáng của thế giới Hồi Giáo cho đến tận ngày nay, sự lấn sân chính trị của Công Giáo La Mã vào các vương triều kể cả khuynh đảo các chế độ và đưa lên đoạn đầu đài những vị hoàng hậu, sự tàn khốc kinh hoàng của Tôn Giáo Pháp Đình, sự dâm ô của hàng chục Giáo Hoàng, chưa kể thời hiện đại còn chứng kiến sự nhúng chàm của Vatican đối với Đức Quốc Xã trong cuộc đại thảm sát Holocaust, sự dâm ô trẻ em của quá nhiều giám mục khắp thế giới luôn được Giáo Hội chở che tội lỗi, sự can dự của các tu sĩ vào chính trị tức ngang nhiên phỉ nhổ vào lời răn dạy của Thánh Kinh để chống lại nhà cầm quyền, v.v., đã làm các từ ngữ mang nghĩa “ngoan đạo” hoặc “yêu hòa bình” v.v. của Tây Phương từ các triết lý của Thiên Chúa Giáo, v.v., đã trở thành hoặc vật trang trí đeo lủng lẳng tòong teeng khoe mẽ khoe khoang bên ngoài quần áo con người hoặc sợi khói mong manh tượng trừu dễ dàng tan biến không nắm bắt được.

(c) Những siêu cường ngu dại về chiến lược vì thích ôm đồm toàn cầu như Hoa Kỳ và Liên Xô nên đã bị suy yếu về kinh tế và uy danh dẫn đến việc Mikhail Gorbachev làm thay đổi thể chế chính trị Liên Xô ở Thế Kỳ XX và Donald Trump thay đổi chính sách đối ngoại thành Nước Mỹ Trên Hết ở Thế Kỷ XXI, trong khi đó lại có cường quốc như Trung Quốc tuy đần độn nhưng vẫn biết chớp thời cơ trước sự ngu dại trên để ngoi lên dù bản thân sở dĩ có chiếc ghế quan trọng ở Liên Hợp Quốc chẳng qua nhờ có vũ khí nguyên tử trong tay và hệ thống các nước anh em xã hội chủ nghĩa. Ngay cả khi cái hệ thống xã hội chủ nghĩa ấy suy tàn và bị tiêu diệt, thì Trung Quốc cũng đã có đủ thời gian biến đồng Renminbi thành đồng bạc có giá trị chuyển đổi trong giỏ tiền IMF, biến Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc, biến Nam Mỹ và Châu Phi thành căn cứ địa của Trung Quốc, chiếm hữu Darwin chiến lược của Australia trong 99 năm, biến Triều Tiên đủ sức tồn tại trực tiếp đe dọa Hoa Kỳ bằng sức mạnh nguyên tử.

Từ ba sự thật trên, nước Việt Nam cộng sản nhất thiết phải quan tâm đến sự thật đã được tiên tri thấu thị bởi tác giả bài viết này như sau:

Trung Quốc sẽ sụp đổ:

Liên Xô đã sụp đổ biến tan vì đã ôm đồm cho hai điều không tưởng: xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa và cưu mang khối xã hội chủ nghĩa. Không tưởng vì (i) vĩnh viễn không bao giờ tồn tại xã hội đại đồng cộng sản chủ nghĩa hay bất kỳ xã hội liên minh chủ nghĩa nào khác mà chỉ có hai chủ nghĩa duy nhất tồn tại là chủ nghĩa dân tộcchủ nghĩa dân tộc cực đoan, (ii) chủ nghĩa cộng sản là một triết thuyết mà các cảnh báo cùng những đề xuất ưu việt của nó thì bất kỳ xã hội nào khác cũng có thể noi theo áp dụng để hóa giải các vấn nạn xã hội hiện hữu mà không cần phải theo chủ nghĩa cộng sản, và (iii) khát vọng của Liên Xô làm bá chủ hoàn cầu là viễn vông khi cái hoàn cầu ấy là thế giới các nước xã hội chủ nghĩa đại đa số ươn hèn, yếu ớt, vô dụng, ký sinh.

Mỹ đang chao đảo nguy kịch đến độ khẩu hiệu Nước Mỹ Trên Hết đã đưa Donald Trump vào Tòa Bạch Ốc; vì rằng sự ôm đồm của Mỹ cho ba điều không tưởng: xây dựng và cưu mang liên minh chống Nga về quân sự, xây dựng các thế lực tàn bạo chống những nước Vùng Vịnh về quân sự, và ra sức kềm chế Trung Quốc bằng kế sách thuần chữ nghĩa. Không tường vì (i) không bao giờ Nga có thể bị tiêu diệt, (ii) không bao giờ các thế lực tàn bạo lại không trở cờ gây hại cho Hoa Kỳ và đồng minh của Mỹ, (iii) không bao giờ việc chống hai siêu cường nguyên tử cùng lúc là điều khôn ngoan khả thi, (iv) việc chống một siêu cường duy chỉ bằng các báo cáo nhân quyền hàng năm luôn là điều bá láp vô ích vô dụng vô duyên, và (v) khát vọng của Mỹ làm bá chủ hoàn cầu khi cái hoàn cầu ấy là thế giới tự do không những cực kỳ lỏng lẻo luôn vì lợi nhuận lợi ích quốc gia mà chống Mỹ và chống lẫn nhau về kinh tế thương mại mà còn ươn hèn yếu ớt ký sinh về quân sự.

Tương tự, Trung Quốc sẽ sụp đổ biến tan vì đã ôm đồm cho ba điều không tưởng: dùng tiền xây dựng liên minh kinh tế với các nước nghèo Phi Châu và Nam Mỹ, đơn thương độc mã chống tất cả từ siêu cường đối kháng ý thức hệ đến tiểu quốc có mấy cái “chữ vàng” hữu hảo vớ vẩn, và hấp tấp thị uy sức mạnh quân sự làm càn trên Biển Đông. Không tưởng vì (i) các nước nghèo là những chiếc túi không đáy mà sự đổ dồn tiền của vào đấy không bao giờ có viễn cảnh sự thu hồi vốn hay sinh lời, (ii) sự bao trùm trải dài luôn dẫn đến thất bại như gương của Đức Quốc Xã/Nhật/Liên Xô trong quá khứ và Mỹ đang chao đảo trong hiện tại, và (iii) khát vọng của Trung Quốc làm bá chủ hoàn cầu là viễn vông khi cái hoàn cầu ấy chỉ là một nhúm các quốc gia tạp nhạp đa số nghèo khổ hoàn toàn khác biệt về ý thức hệ không có bất kỳ liên kết nào có thể kỳ vọng cho một gắn kết.

Từ sự thật trên, nước Việt Nam cộng sản nhất thiết phải quan tâm đến công thức sau cho 82 năm còn lại của Thế Kỷ XXI này:

1) Chấm dứt áp dụng chiêu thức nhún nhường giả lả ẻo lã nhỏ nhẹ mang tên “quỳ lạy xưng thần” của tất cả các quân vương Việt Nam, vì nhân dân Việt Nam từ nay không cho phép nhà cầm quyền được duy trì chiêu thức ấy;

2) Chấm dứt áp dụng chiêu thức âm thầm phát triển sức mạnh quân sự vì nhân dân Việt Nam từ nay không cho phép nhà cầm quyền được duy trì chiêu thức ấy;

3) Áp dụng tư thế báo đáp tương đồng vì nhân dân Việt Nam từ nay ra lịnh cho nhà cầm quyền phải Việt Nam Trên Hết để đặt Việt Nam lên đúng vị trí cao trọng và vị thế cao vững của mình trên thang bậc toàn cầu.

C) Báo Đáp Tương Đồng – Equivalent Retaliation

1- Lý Thuyết Báo Đáp Tương Đồng Bằng

Báo Đáp Tương Đồng nghĩa là cả Báo OánĐáp Đền đều phải trên cơ sở tương đồng. Oán Thù dứt khoát phải báo. Ơn Nghĩa dứt khoát phải đền.

Quid-pro-quo hoặc tit-for-tat hoặc mắt-trả-mắt hay có-qua-có-lại chính là đạo lý từ ngàn xưa của chính nghĩa mà Việt Nam nay đã có đủ sức mạnh để giành lấy chính nghĩa về tay mình.

Báo đáp tương đồng bằng nghĩa là:

– Nếu anh chiếm của tôi quần đảo Hoàng Sa, tôi phải chiếm các đảo gần Hải Nam với số lượng đảo và tổng diện tích bằng với số lượng đảo của quần đảo Hoàng Sa.

– Nếu anh trục xuất một viên chức ngoại giao của tôi, tôi phải trục xuất một viên chức ngoại giao của anh.

2- Lý Thuyết Báo Đáp Tương Đồng Lép

Báo đáp tương đồng lép tức tit-for-two-tats nghĩa là trong trường hợp giúp cứu gỡ nút thắt phức tạp của hoàn cảnh, không làm trầm trọng hơn tình thế khi vẫn còn khả năng đàm phán, Việt Nam có thể nhún nhường một bước để tỏ thiện chí, và nếu đối phương được thể tiếp tục làm càn, thì Việt Nam ra tay đáp trả tương đồng bằng tit-for-tat.

Báo đáp tương đồng lép nghĩa là:

– Nếu anh chiếm của tôi quần đảo Hoàng Sa, tôi kiên trì dùng biện pháp thương thảo để giải quyết, nhưng nếu anh tiến hành lấn chiếm Trường Sa, tôi sẽ phải chiếm các đảo gần Hải Nam với số lượng đảo và tổng diện tích bằng với số lượng đảo của quần đảo Hoàng Sa.

– Nếu anh trục xuất một viên chức ngoại giao của tôi, rồi sau đó trục xuất thêm một hay hơn một viên chức khác, tôi phải trục xuất một viên chức ngoại giao của anh.

3- Lý Thuyết Báo Đáp Tương Đồng Trội

Báo đáp tương đồng trội tức two-tits-for-tat nghĩa là trong trường hợp nhận một phản ứng của đối phương, Việt Nam có thể ra tay đáp trả tối thiểu là gấp bội.

Báo đáp tương đồng trội nghĩa là:

– Nếu anh chiếm của tôi quần đảo Hoàng Sa, tôi sẽ chiếm Hải Nam.

– Nếu anh trục xuất một viên chức ngoại giao của tôi, tôi phải trục xuất ít nhất một viên chức ngoại giao của anh hoặc một quan chức ngoại giao cao cấp hơn của anh.

– Nếu anh ra nghị quyết chống tôi, tôi sẽ ngay lập tức rút ra khỏi tổ chức của anh và tích cực kêu gọi thành lập một tổ chức khác xóa sổ sự tồn tại của tổ chức của anh.

– Nếu anh phát biểu rằng sẽ “xem xét” việc hủy thực hiện một hiệp ước kinh tế của khối của anh với Việt Nam, tôi sẽ ngay lập tức ra lịnh (a) hủy hiệp ước kinh tế ấy, (b) cấm vận kinh tế với anh nghĩa là chấm dứt mọi giao thương với anh và chấm dứt giao thương với nước nào trong liên minh của anh dám lên tiếng tương tự anh.

D) Luật Báo Đáp Tương Đồng Của Việt Nam – Law of Equivalent Retaliation

Quốc Hội Việt Nam phải soạn thảo ngay Luật Báo Đáp Tương Đồng để tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đối ngoại của Việt Nam.

Đây sẽ là đạo luật đầu tiên phô trương và bảo vệ danh dự của Việt Nam.

Đây sẽ là đạo luật đầu tiên của Việt Nam lập nên trật tự mới nhằm giáo dục thế giới siêu cường thay đổi phong cách trịch thượng đã áp dụng quá lâu đến độ lỗi thời của họ.

Luật Báo Đáp Tương Đồng cũng đồng thời chế định các bước tiến hành cấm vận kinh tế với quốc gia lớn lối lớn tiếng về ngoại giao chống Việt Nam.

E) Việt Tấn

1) Đã quá nhiều ngàn năm người Việt có từ “tấn” trong “xuống tấn” phát xuất từ võ thuật. “Tấn” là động thái bình thường, đương nhiên của mọi hoạt động ngay cả của tư thế của một cô bé chuẩn bị bước lên bục nhận giấy khen. “Xuống tấn” do đó là động tác chuẩn bị tiến tới xuất chiêu bất kể chiêu đó là bước tới hay đá tới.

Võ Thuật Trung Quốc hoàn toàn là thứ vất đi vì không có khả năng đối kháng bất kỳ mà chỉ là sự vận động cơ thể để tập thể dục mà thôi, trong khi võ thuật Hàn Quốc và Nhật Bản là những thứ duy nhất của toàn thế giới có tính đối kháng. Cụ thể là các kiểu xuống tấn như sau của bọn sư sải Thiếu Lâm Tự chỉ là diễu hề vì đã chẳng làm nên tích sự gì khi Trung Quốc đại bại trước Bát Quốc Liên Quân không-biết-võ của Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Ý, Nhật, Nga và Áo-Hung

TXT2

chưa kể còn có thực tế không bao giờ có ai có thể chối cãi được rằng võ thuật Trung Quốc ngày nay chỉ để múa biểu diễn mua vui ở Olympic mà việc chấm điểm – dù có ban cho “võ sĩ” Việt Nam chiếc huy chương vàng – cũng thuần dựa trên sự múa may nhảy nhót của người diễn võ và sự tùy hứng của giám khảo. Kiểu xuống tấn như sau chỉ là một tư thế ngu xuẩn của võ thuật Trung Hoa chỉ để trân mình đón nhận một cú đá

TXT3

Trong khi đó, võ thuật Hàn Quốc và Nhật Bản được sủ dụng nhuần nhuyễn bởi các quân nhân đặc công cùng đặc vụ tình báo tất cả các quốc gia để tiêu diệt đối phương khi cận chiến, hoặc khi cần…đập vỡ tường gạch bằng tay không.

2) Nếu “tấn” là động tác ổn định cơ thể chuẩn bị xuất phát rời vị trí, thì nó tương đồng với sự hù dọa xuất chiêu. Đã quá nhiều ngàn năm người Việt có thói quen cảnh giác mỗi khi kẻ thù xuống tấn. Nghĩa là đã quá nhiều ngàn năm người Việt có thói quen cảnh-giác-hai-động-tác mỗi khi kẻ thù hù dọa. Khi sự xuống tấn hù dọa ấy là của một cường quốc tiềm tàng chiến tranh thì các quân vương Việt luôn thực hiện hai động tác gồm giả lả nhún nhường tiến cống lễ vật quỳ lạy xưng thần và chuẩn bị đối đầu quân sự. Còn khi sự xuống tấn hù dọa ấy là của một tiểu quốc hiện hữu một tiềm tàng chiến tranh thì các quân vương Việt luôn thực hiện hai động tác gồm giả lả như kẻ bề trên giảng hòa ban tặng lễ vật và nếu vô hiệu thì xua quân đánh thốc đến tận kinh đô mà trong đa số trường hợp là sáp nhập luôn vào cương thổ nước nhà. Nước Việt chỉ một lần xuống tấn đe dọa duy nhất như đã nói đến trong bài 900 Năm Hùng Khí Thần Uy.

Với sự thật rằng

(a) Trung Quốc sẽ đương nhiên sụp đổ như đã nêu ở trên;

(b) Sự bị lật mặt của các thế lực Âu Tây và Vatican;

(c) Việt Nam không cô đơn như trong trước Thiên Niên Kỷ I, trong suốt Thiên Niên Kỷ I, và trong hơn nửa đầu của Thiên Niên Kỷ II;

(d) Các siêu cường quốc không còn tự do làm mưa làm gió và nay có thể bị ngay cả một quốc gia thiếu đói như Triều Tiên đe dọa; và

(e) Cũng như những sự thật khác;

Việt Nam nhất thiết phải từ bỏ thói quen và hành vi cố hữu đối với các xuống tấn tức hù dọa của đối phương.

Từ phản ứng tự nhiên tự động cố hữu xuống tấn để chuẩn bị xuất chiêu phòng thủ tự vệ khi bị đối phương xuống tấn đe dọa tấn công, Việt Nam sử dụng chiêu Tiên Phát Chế Nhân qua Luật Báo Đáp Tương Đồng như một thế xuống tấn kiểu Việt – gọi tắt là Việt Tấn – vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Pháp Việt-Nam (Quốc Hội Khóa XIII), Ứng cử viên tự do Quốc Hội Khóa XV (2021-2026).

Tham khảo:

A) Cụm 3 Bài Về Trịnh Xuân Thanh:

* Trịnh Xuân Thanh – Bài 1: Sự Hèn Hạ Của Truyền Thông Tư Bản : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/08/cum-3-bai-ve-su-co-trinh-xuan-thanh/

* Trịnh Xuân Thanh – Bài 2: Đức Quốc Giật Mình Và Hành Động Của Chúng Ta :  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/10/cum-3-bai-ve-su-co-trinh-xuan-thanh-bai-2/

* Trịnh Xuân Thanh – Bài 3: Luật Báo Đáp Tương Đồng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/16/5975/

B) Các Tư Liệu Của Hoàng Gia Việt Nam Về Giới Chính Khách Đức Quốc:

* Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức – Em Gái Tôi Và Helmut Kohl & Tôi Và Sigurd Schmitt: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/

* Tôi Và Philipp Rösler:

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/09/30/toi-va-philipp-rosler/

C) 57 bài viết của Nhà Lập Pháp Hoàng Hữu Phước về Lập Pháp:

Các phần A (Luật Biểu Tình: 6 bài), Q (Luật Pháp: 20 bài viết), và R (Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội: 31 bài viết) tại:

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/06/19/tong-cac-bai-viet-tren-blog-nay-tinh-den-ngay-19-6-2017-theo-32-nhom-chu-de/

D) Bài viết có sử dụng đường link trong bài trên:

900 Năm Hùng Khí Thần Uy

Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

Trịnh Xuân Thanh – Bài 2

Bài 2: Đức Quốc Giật Mình Và Hành Động Của Chúng Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp Quốc Hội Khóa XIII

10-8-2017

Bai 2 1

A) Lý Do Đồi Bại Trời Tru Đất Diệt Của Châu Âu Hùng Hổ Nhân Quyền

Người ta hay nói – vì có ích lợi mang tính tận dụng lợi dụng sử dụng đáng thương hại nơi tất cả những ai hay những tổ chức nào chống lại Việt Nam cộng sản – về nền văn minh, tính nhân văn, lòng nhân đạo, và sự ngoan đạo của tất cả các nước Âu Tây (tức là mọi thứ “Âu” gồm Tây Âu, Bắc Âu, Nam Âu, Đông Âu – và những quốc gia “Phương Tây” tức thuộc các châu lục khác như Châu Đại Dương chẳng hạn, do có  diễm phúc được chiếm đóng bởi các nước Âu Tây ấy) đối với việc họ – tức các nước Âu Tây ấy – bãi bỏ án tử hình.

Sự thật lịch sử không bao giờ có bất kỳ ai có thể chối cải – nhưng than ôi không bất kỳ ai dù thất học hay thuộc giới tinh hoa trí thức dám công khai nói đến trừ tác giả bài viết này – là do cái Âu Tây ấy muốn che đậy sự đồi bại trời tru đất diệt của họ.

Khi danh nhân vĩ đại nhất của Đức Quốc là Đức Ngài Quốc Trưởng Chí Tôn Chí Thánh Adolf Hitler

Bai 2 2

ra tay giết 6 triệu người Do Thái, 6 triệu người dân “Nga Xô-Viết”, 3 triệu tù binh “Nga Xô-Viết”, 2 triệu dân Ba-Lan, và hơn 300 ngàn dân vốn là đồng bào của tay vợt hàng đầu thế giới Novak Djokovic, toàn bộ các chính phủ Âu Tây – kể cả Vương Quốc Anh – trở thành những kẻ bán nước hợp tác chặt chẽ với Đệ Tam Đế Chế, trong khi Tòa Thánh Công Giáo La Mã Vatican tự hào đưa Adolf  Hitler lên ngôi chủ tể tuyệt đối của cái Đệ Tam Đế Chế ấy cũng như đã đưa Benito Mussolini lập nên nền Phát Xít Ý để tạo thêm vây cánh cho sự vững bền của Adolf Hitler.

Bai 2 4Bai 2 3Bai 2 5

Trong khi tất cả các quốc gia Âu Tây hoặc bị Đức chiếm đóng, hoặc tham gia liên minh với Đức, hoặc tuyên bố trung lập để làm nơi cung cấp hậu cần cho hoặc thành địa điểm hoạt động kinh tài giữ gìn tài sản hộ Đức, thì Vatican ủng hộ sự tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay Hitler và Mussolini nhằm tiêu diệt dân Do Thái và chủ nghĩa cộng sản. Do tất cả đều đã nhúng chàm, đều trở thành tội phạm chiến tranh, sau khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Vatican tích cực giúp nhiều trăm quan chức Quốc Xã cấp cao đào thoát sang Nam Mỹ – đặc biệt là Argentina – hoặc Nam Phi, còn các chính phủ Âu Tây tổ chức Tòa Án Nuremberg đưa vài quan chức Quốc Xã quá nổi bật không thể trốn đi đâu được lên giá treo cổ, để rồi cả Vatican và họ đều cùng nhau áp dụng biện pháp tự cứu mình khỏi các án tử hình tiềm tàng trong tương lai bằng cách đồng thanh nói về bãi bỏ án tử hình với lý do nhân đạo và lý do chỉ có Chúa Trời mới có quyền quyết định mạng sống của con người.

Như vậy, cái tự do, dân chủ, nhân quyền, và nhân văn cao vời của Âu Tây chỉ là chiếc mặt nạ giả trá che đậy sự hèn hạ, tàn ác, đốn mạt, đồi bại của Vatican và chính quyền các nước tự đặt dưới quyền thống trị của Đức. Lịch sử còn ghi lại những chuyến công du cầu cạnh Đức của các vương hầu khanh tướng chính phủ các quốc gia trong đó có cả các chức sắc cao cấp của Vương Quốc Anh. Châu Âu được giải phóng khỏi ách thống trị ấy chỉ bởi 3 thế lực gồm (a) lực lượng dân quân kháng chiến tại chỗ, (b) Liên Xô, và (c) tập thể do Hoa Kỳ làm chủ soái, chứ không bởi quân đội chính quy của các chính phủ.

Có thể kết luận rằng bất kỳ ai mở miệng ngợi ca nền văn minh và tính nhân văn tôn trọng dân chủ nhân quyền của Âu Tây, hoặc hùa theo các nước Âu Tây, hoặc để yên cho Âu Tây dè bỉu, bảo ban, phê phán Việt Nam về nhân văn, dân chủ, nhân quyền, thì kẻ đó thuộc hạng người tương đồng với những con quái vật đã từng đưa nhiều triệu người Do Thái vào phòng hơi ngạt.

Bai 2 6

B) Chiêu Thức Gestapo Đức Quốc Xã Được Phát Huy Bởi Âu Mỹ

Ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến, Anh và Mỹ thi nhau bắt cóc các nhà khoa học Đức về làm việc trong các Bộ đặc thù hoặc đơn giản vào làm việc cho các nhà máy bất kể công nghiệp lớn hay nhỏ, của nhà nước hay của tư nhân, thậm chí việc bắt cóc xảy ra trong nhiều năm liền chứ không phải chỉ trong thời điểm vừa chấm dứt chiến tranh mọi sự còn trong hỗn loạn.

Tuy nhiên, việc bắt cóc như vậy trên bình diện quốc gia lại do chính cơ quan Gestapo của Hitler tạo ra và thực hiện gần như là đầu tiên trên thế giới. Theo tờ Guardian của Vương Quốc Anh thì một tổ chức liên minh tình báo quân đội Mỹ-Anh gồm BIOSC và FIA đảm nhận việc lựa ra những nhà khoa học nào cần thiết phải bắt cóc từ các khu vực chiếm đóng của Mỹ, Pháp, và thủ đô Berlin. Số liệu không chính thức cho rằng khoảng 1.500 nhà khoa học đã bị bắt cóc (đưa đi bằng vũ lực và bí mật) dù cho các tài liệu phát hiện được chỉ cho ra con số không đến 600.

Như vậy, hành động “bắt cóc” mang tính nhà nước, bí mật, và vĩnh viễn là những đặc thù phân biệt với hành vi “bắt cóc” đòi tiền chuộc của giới đạo tặc vốn theo nhóm hoặc cá thể, và không vĩnh viễn.

Tuy mỗi quốc gia đều có cơ quan tình báo hải ngoại riêng, những tên tuổi lớn và nổi tiếng hay khét tiếng trong số đó thường thực hiện đa số là những nhiệm vụ ám sát hay lật đổ. Cũng vì vậy mà danh sách những vụ “bắt cóc nhà nước” của các cơ quan này không có số lượng nhiều.

Đức gọi việc Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam đầu thú là do Việt Nam “bắt cóc” nên đã áp dụng những biện pháp cực đoan để phản đối.

Những thí dụ sau là về những vụ bắt cóc rùm beng trên thế giới, nhằm chứng minh vụ việc thực tế về Trịnh Xuân Thanh ở ngưỡng so sánh cấp độ ra sao.

C) Những Trịnh Xuân Thanh

Tuy gọi là “những Trịnh Xuân Thanh”, những nhân vật sau đây – trừ Trịnh Xuân Thanh – rất khác biệt, ít ra là có tài năng chứ không bất tài vô dụng như Trịnh Xuân Thanh, và có danh tiếng được biết đến ngay cả bên ngoài biên giới quốc gia hoặc bởi thế giới quyền lực, chứ không phải hạng vô danh tiểu tốt như Trịnh Xuân Thanh, và không ai trong số họ làm đất nước bị giới truyền thông nước ngoài hung hăng xúc phạm như Trịnh Xuân Thanh.

1- Trịnh Xuân Thanh Do Thái Và Sự Sụp Đổ Của Vatican

Vào thủa Vatican chưa tồn tại, Đức Giáo Hoàng như vị hoàng đế trực tiếp trị vì một cương thổ rộng lớn gọi là Status Ecclesiae (tiếng Anh gọi là Papal States – Liên Tiểu  Quốc Giáo Hoàng) từ Thế Kỷ VIII, với thủ đô đặt tại Rome.

Đêm 23-6-1858, theo lệnh Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Cửu, cảnh binh đã ngang nhiên xông vào nhà thương nhân người Do Thái Momolo Mortara ở Bologna để giằng lấy đưa con trai 6 tuổi tên Edgardo từ tay người mẹ để bắt cóc đưa đến Rome chỉ với lý do đứa bé trước đó lúc bệnh đã được làm phép báp-têm nên phải vào đạo Công Giáo chứ không được phép ở trong gia đình Do Thái Giáo. Mặc cho sự kiên trì van lạy của cha mẹ Edgardo và sự can thiệp của các cộng đồng Do Thái khắp Châu Âu có sự ủng hộ của chính phủ các nước, Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Cửu vẫn khăng khăng giữ lấy cậu bé Edgardo Mortara theo hầu hạ bên mình.

Bai 2 7

Ba hệ lụy quan trọng từ vụ bắt cóc bé Edgardo Mortara 6 tuổi bao gồm:

a) Sự Tẩy Não Edgardo Mortara:

Khi ông Momolo Mortara cùng con trai lớn Riccardo Mortara gia nhập quân đoàn Ý Đại Lợi làm sĩ quan kỵ binh đánh vào dinh lũy cuối cùng của Đức Giáo Hoàng là Rome năm 1870 để “giải thoát” cho Edgardo Mortara, thì khi thấy người thân của mình bước vào nhà nguyện, chàng trai 19 tuổi Edgardo Mortara đã che mắt lại, xua tay quát lớn: “Hãy lùi lại đi, đồ quỷ dữ!” (Get back! Satan!). Edgardo Mortara sau đó đã cải trang lẻn trốn sang Áo Quốc ngày 22-10-1870 bằng đường hỏa xa, và tu hành tại đó. Ông mất năm 1940 thọ 88 tuổi. Trong các bài viết của mình, linh mục Edgardo Mortara thậm chí còn ghi rằng lúc ấy “bọn chúng còn muốn bắt cóc tôi” khi nói về việc tướng Alfonso Ferrero La Marmora bảo với Edgardo Mortara rằng cậu hãy trở về nhà với mẹ cha.

Bai 2 8

Thái độ gọi người không theo đạo Công Giáo – kể cả đó là cha mẹ và anh ruột của mình – là Satan đã nói lên bản chất khinh miệt, thù hằn, của các đời Đức Giáo Hoàng trước đây đối với tất cả các tôn giáo phi-Công-Giáo chứ không phải chỉ là “chống vô thần” vốn ngày nay luôn được sử dụng để che đậy sự xấu xa xấu hổ xấu xí bài xích các tôn giáo khác của Công Giáo La Mã, triệt tự do tín ngưỡng, và chống cộng như tấm bình phong vừa che đậy dã tâm chống tất cả các tôn giáo khác, vừa như thứ bùa mê mê hoặc các tín đồ tôn giáo mình và tôn giáo khác rằng Công Giáo xông pha chống vô thần cộng sảnvô thần chống tất cả các “thần” – dù vô thần là danh xưng đầy ngạo nghễ mang tính hiện tượng hiện đại của rất nhiều người Âu Mỹ thuộc gia đình Công Giáo “gốc” nay đã bỏ đạo, chứ chưa bao giờ là lời tự xưng tự hào hay tự tôn vinh của bất kỳ quốc gia nào đề cao chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội – kể cả Liên Xô.

b) Sự Sụp Đổ Vĩnh Viễn Của Đế Chế Công Giáo La Mã “Liên Tiểu Quốc Giáo Hoàng” Và Sự Hình Thành Nước Ý Đại Lợi:

Sự lộng hành của Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Cửu khi bắt cóc bé Edgardo Mortara đã như giọt nước tràn ly, tạo nên làn sóng phẫn nộ chống đối khắp Châu Âu, dẫn đến sự xung đột vũ trang giải phóng thống nhất các lãnh thổ khỏi quyền sở hữu của Đức Giáo Hoàng, xóa sổ Đế Chế Công Giáo La Mã để lập thành Vương Quốc Piedmont-Sardinia. Đến năm 1861 tức chỉ 4 năm kể từ ngày bắt cóc Edgardo Mortara, Vương Quốc Ý Đại Lợi được hình thành, và đến năm 1870 Đức Giáo Hoàng hoàn toàn không còn bất kỳ lãnh địa nào cả – tức kể cả “Vatican” – sau khi Rome và Lazio thất thủ. Chỉ sau khi Công Giáo La Mã ủng hộ Benito Mussolini lập nên chế độ Phát-xít, Mussolini mới ký ban hành Hiệp Định Lateran năm 1929 ban cho Công Giáo La Mã quyền quản trị “độc lập” Thành Phố Vatican gọi là Vatican City State tức thành phố như một “nhà nước” riêng.

Bai 2 9

c) Sự Tiêu Diệt Dân Do Thái:

Sự sụp đổ vương triều vĩ đại Papal States lớn trọn nước Ý Đại Lợi với kinh đô Rome, chỉ còn là một thành phố lọt thỏm trong thủ đô Rome, lại do sự cả gan khuấy động của một gia đình Do Thái mà Công Giáo khinh miệt, đã khiến Vatican ủng hộ Mussolini và Hitler đối với việc tàn sát người Do Thái, thậm chí trong một thời gian dài sau Đệ Nhị Thế Chiến không những cưu mang tổ chức đào thoát cho các tên tội phạm Quốc Xã mà còn lớn tiếng phủ nhận sự tồn tại của Holocaust tức cuộc đại diệt chủng người Do Thái của Hitler và Mussolini. “Hai vị giáo hoàng và một cuộc đại thảm sát” là cụm từ nêu sự thật rằng Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Nhất Thập Nhất và Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Nhất Thập Nhị đều làm ngơ trước cuộc đại thảm sát người Do Thái, người trước cho rằng chủ nghĩa tự do sẽ đẻ ra chủ nghĩa xã hội kiểu gọi là chủ nghĩa cộng sản Juda (“Judaeo-Bolshevism”), còn người sau thì là cha đẻ thuyết âm mưu quốc tế gán người Do Thái vào chủ nghĩa cộng sản (“Jewish-Bolshevik world conspiracy”).

Bai 2 10

Sau khi nhanh nhảu công nhận chế độ Quốc Xã của Hitler, Nhà Thờ Công Giáo La Mã trong 45 năm liền dứt khoát không công nhận Nhà Nước Israel, và chỉ nhìn nhận đã có cuộc đại thảm sát dân Do Thái khi thấy chiến thắng của phe đồng minh trở nên rõ ràng. Còn khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, Đức Giáo Hoàng Pius Đệ Nhất Thập Nhị vẫn không hề rút phép “thông công” trừng phạt bất kỳ ai dù chỉ một người Đức đối với việc tàn sát người Do Thái, như mặc nhiên thừa nhận việc tàn sát ấy là một đại công.

2- Trịnh Xuân Thanh Israel Và Sự Chao Đảo Của AISI,/AISE/SISMI

Nếu như vụ bắt cóc cậu bé Do Thái Edgardo Mortara sắp được đạo diễn lừng danh Steven Spielberg của Mỹ đưa lên màn ảnh Hollywood năm 2018 thì vụ cơ quan đặc vụ Mossad lừng danh của Israel bắt cóc công dân Israel – tiền thân là nước Do Thái – tên Mordechai Vanunu từ Anh Quốc về Israel trị tội là một tin chấn động thế giới mà ở Việt Nam vào năm 1986 nhiều thiếu thốn và nghèo nguồn thông tin chỉ vài người có trong tay tờ Time mới biết tường tận.

Là một kỹ sư nguyên tử lực sinh năm 1954, Vanunu công tác tại Trung Tâm Lò Phản Ứng Nguyên Tử Dimona từ năm 1976. Khi bị cho ngưng công tác năm 1985, Vanunu bất mãn, cùng với 4 sinh viên Israel và 5 sinh viên Ả Rập lập nhóm cực đoan tên Campus, lấy giáo sư cực đoan Evron Pollakov, người đang bị cầm tù vì không chịu thi hành nghĩa vụ quân sự, làm hình mẫu đấu tranh lý tưởng cho cả nhóm. Khi vơ vét hết tiền bạc được 7.500 USD, Vanunu đi du lịch vòng quanh thế giới đến Nepal, Miến Điện, Thái Lan, và Úc Đại Lợi, nhưng rồi đột nhiên biến mất tháng 9-1986, để rồi một tháng sau đó tờ Sunday Times của Anh Quốc tải đăng bài viết của Vanunu với bản vẽ sơ đồ chi tiết căn cứ khổng lồ bốn tầng sâu dưới lòng đất trong sa mạc của Israel là một trung tâm nghiên cứu tuyệt mật sản xuất bom nguyên tử và đã sản xuất được gần 200 quả bom. Và cũng bất thình lình sau đó một tháng tức tháng 11-1986 Israel công bố đang giam giữ Vanunu, và vào tháng 3-1988 tại phiên xử không công khai đã quy án Vanunu tội phản quốc và tội làm gián điệp với mức án 18 năm biệt giam. Tất nhiên, việc cung cấp cho thế giới Âu Mỹ thông tin chấn động có lợi cho Âu Mỹ trong khống chế và triệt tiêu kế hoạch sản xuất bom nguyên tử của Israel đã được Âu Mỹ hoan nghênh, ca tụng Vanunu là một vị anh hùng, một người dũng cảm nhất, một đấng gây cảm hứng nhất thời đại, một nạn nhân, một nhà đấu tranh vì chính nghĩa, và thậm chí còn đề nghị Vanunu nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình, và lập nên nhiều tổ chức tích cực đấu tranh đòi Israel phải thả Vanunu, cũng như sắn sàng cho Vanunu tỵ nạn chính trị sau khi mãn hạn tù.

Giống như mọi kẻ phản quốc bán bí mật quốc gia, Vanunu – theo báo chí – chỉ sau dăm ba tuần ở Luân Đôn sau khi rời Úc Đại Lợi, trước khi bài viết về trung tâm chế tạo bom nguyên tử dưới lòng đất của Vanunu được phát hành thì Vanunu lại biến mất, hóa ra đã bị một nữ mật vụ Israel xinh đẹp mang mật danh “Cindy” đóng vai một nữ du khách Hoa Kỳ tiếp cận, quyến rủ bao hết chi phí đưa Vanunu bằng máy bay chuyến 504 ngày 29-9-1986 từ Luân Đôn sang Rome hưởng lạc thú, để rồi khi đến căn hộ dành cho tình nhân ở lúc 21 giờ ngày 30-9-1986, Vanunu bị hai nam mật vụ quật ngã, tiêm thuốc mê, trói lại đưa lên một tàu container rời cảng La Spezia về Israel chịu tội, lộ hẳn sự mất tư cách, vì tiền, và sa đọa. Thật ra, khi đến Úc Đại Lợi, Vanunu đã liên hệ ngay với tỷ phú truyền thông Robert Maxwell để bán thông tinmaf không ngờ rằng chính Maxwell đã mật báo cho mật vụ Úc Đại Lợi liên hệ ngay với  Tel Aviv. Thủ tướng Shimon Peres của Israel lập tức ra lịnh cơ quan Mossad phải bắt  ngay tên phản quốc Vanunu về bằng mọi giá. Shimon Peres là cha đẻ của nguyên tử lực Israel.

Tại tổng hành dinh Cơ Quan Đặc Vụ & Tình Báo Hải Ngoại Mossad, một đặc vụ ném vào mặt Vanunu tờ báo Sunday Time số ra ngày 05-10 và nói: “Mày hãy xem đã gây thiệt hại cho quốc gia như thế nào.” Để đề phòng Vanunu tự sát, phòng biệt giam Vanunu luôn bật sáng đèn cả ngày đêm.

Tất nhiên, khi một người Mỹ có hành động tương tự Vanunu nghĩa là tiết lộ bí mật các chương trình do thám của Mỹ như kỹ sư tin học Edward Snowden làm việc cho CIA đã đào thoát năm 2013 và được Nga cho tạm trú đến năm 2020, thì người đó chỉ được các tổ chức nhỏ không-phải-của-Mỹ-và-các-chính-phủ-thân-Mỹ ngợi ca bằng những từ ngữ tương tự như Vanunu nhận được, song không hề có bất cứ ai dám cho Snowden tỵ nạn chính trị, kể cả Nga.

Khét tiếng với các công trạng ám sát thành công trên toàn thế giới, Mossad vẫn giữ cho thể diện của cơ quan tình báo an ninh nội địa Vương Quốc Anh MI5 và Mật Vụ Hải Ngoại MI6 cùng cảnh sát MPS mà thế giới thường biết đến dưới tên gọi Scotland Yard, Mossad đã tránh không thực hiện việc bắt cóc Vanunu tại Luân Đôn, mà nhờ  cơ quan tình báo nội địa Ý Đại Lợi AISI, cơ quan tình báo hải ngoại Ý Đại lợi AISE, và cơ quan mật vụ Ý Đại Lợi SISMI hỗ trợ. Ý Đại Lợi là quốc gia luôn hỗ trợ Israel vô điều kiện đối với các hoạt động phi pháp của Mossad để đáp lại việc Israel kềm chế sự nỗi dậy của khối Ả Rập và Israel bảo đảm chặn ngăn không để di dân Israel đổ vào Ý Đại Lợi, và đây là lý do Mossad sử dụng mỹ nhân kế dụ Vanunu sang Rome để nhận được sự làm ngơ của AISI, AISE, và SISMI đối với vụ bắt cóc Vanunu.

Tất nhiên, thẩm phán Ý Đại Lợi Domenico Sica lập tức mở cuộc điều tra về vụ bắt cóc bị cáo buộc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ và luật pháp Ý Đại Lợi, song gần như là cũng ngay lập tức khép lại vụ án, cho rằng Mossad chủ tâm dàn dựng vụ bắt cóc để làm thế giới quên đi vụ Israel sản xuất bom nguyên tử chứ không có ai là tên phản quốc Vanunu cả.

Bài học cho Việt Nam: (a) Tuyệt đối cảnh giác với những “chuyên viên” hứng thú với việc có các hành vi chống lại chính phủ, nhà nước, chính sách quốc gia, cũng như có hành vi “ủng hộ” những “nhân sĩ” có các hành vi ấy; và (b) tuyệt đối theo dõi 24/7/365 tức theo dõi trọn ngày, trọn tuần, trọn năm, những chức sắc có quyền tiếp cận tài chính ngân khố, thông tin tuyệt mật, và cơ sở tuyệt mật của quốc gia.

3- Trịnh Xuân Thanh Ai Cập Và Sự Chao Đảo Của SISMI & GID

Vụ bắt cóc Hassan Mustafa Osama Nasr gọi tắt là Abu Omar mang một nội dung hoàn toàn khác, theo kiểu Mỹ.

Abu Omar bị bắt cóc ngày 17-02-2003 tại Milan, Ý Đại Lợi, bởi các nhân viên mật vụ Ý SISMI và nhân viên tình báo Mỹ CIA đem đến Căn Cứ Không Quân Ý Aviano và từ đó được đưa đến Ai Cập giam trong 4 năm không qua xét xử, bị tra tấn tàn bạo bởi cơ quan mật vụ Ai Cập của chế độ Mubarak trường kỳ gắn bó liên minh với Hoa Kỳ. Việc bắt cóc được tiến hành là do Mỹ không thể đưa Abu Omar về Mỹ do sợ vi phạm luật pháp Mỹ (cấm dùng nhục hình), nên Ai Cập là nơi lý tưởng để thực hiện việc tra tấn Abu Omar nhằm lấy được lời khai.

Tất nhiên, ban đầu chính phủ Ý Đại Lợi từ chối mọi liên can đến vụ bắt cóc, nhưng rồi các công tố viên Armando Spataro và Ferdinand Enrico Pomarici tố cáo có sự can dự không những của 26 đặc vụ CIA gồm cả trưởng CIA tại Rome là Jeffrey W. Castelli, trưởng CIA tại Milan là Robert Seldon Lady, mà còn của người đứng đầu cơ quan An Ninh Tình Báo Quân Đội Ý SISMI Tướng Nicolo Pollary và người phó là Marco Mancini với các trưởng chi nhánh Raffaele Ditroia, Luciano Di Gregori và Giuseppe Ciorra.

Vụ bắt cóc này đã dẫn đến việc Tòa Phúc Thẩm ở Milano ngày 12-02-2013 kết án cựu giám đốc SISMI Nicolo Pollari, phó giám đốc SISMI Marco Mancini, trưởng CIA tại Rome Castelli cùng hai đặc vụ CIA đến 10 năm tù giam, cho thấy một hình thức khác thường của việc hợp tác chặt chẽ giữa các đồng minh trong tổ chức bắt cóc đưa sang quốc gia khác để tra tấn, nhưng đồng thời cũng dấy lên một sự thật là khi vụ việc bị bại lộ thì quốc gia nơi xảy ra vụ bắt cóc sẽ luôn công khai trừng trị các quan chức nào của nước mình đã để cho đặc vụ của nước khác vào nước mình thực hiện vụ bắt cóc ấy.

Trong trường hợp vụ bắt cóc Abu Omar, Ý trừng phạt các đầu não cơ quan mật vụ Ý có can dự cũng như trừng phạt các đầu não cơ quan mật vụ đồng minh Mỹ đã hợp tác thực hiện vụ bắt cóc. Hoàn toàn không có việc Chính Phủ Ý trục xuất tùy viên an ninh Tòa Đại Sứ Mỹ tại Ý. Hoàn toàn không có việc Chính Phủ Ý đòi Mỹ phải đưa Abu Omar trở lại Ý. Phạt kẻ trong nước đã bất tài vô dụng để xảy ra vụ bắt cóc, hoặc để thiên hạ biết về vụ bắt cóc; và phạt kẻ ngoài nước nào đã để thiên hạ biết về vụ bắt cóc.

4- Trịnh Xuân Thanh Argentina Và Sự Can Dự Của CISEN

Ngày 28-10-1995, đặc vụ cơ quan tình báo Argentina SIDE đã băt cóc tên khủng bố Enrique Gorriarán Merlo, công dân Argentina, tại thị trấn Tepoztlán cách thủ đô Mexico 60 dặm, rồi đưa về Argentina bằng máy bay do chính SIDE thuê.

Merlo cáo buộc rằng an ninh Mexico đã còng tay mình rồi cho một người Argentina nhận diện. Sau đó, Merlo bị dẫn đến Sở Di Trú Mexico và bị các đặc vụ SIDE thẩm vấn ba lần. Ngay khi được hỏi có phải là Gorriarán Merlo không, Merlo lập tức xác nhận rồi lên tiếng xin tỵ nạn, do Mexico có cung cấp quy chế tỵ nạn cho bất kỳ người dân Nam Mỹ nào bị ngược đãi về chính trị. Một viên cảnh sát Mexiico trả lời rằng yêu cầu của Merlo được chào đón. Tuy nhiên, lúc sáng sớm thì các nhân viên công lực Mexico áp tải Merlo ra sân bay và tống Merlo lên chiếc máy bay của SIDE có mặt cũng các đặc vụ SIDE đã có mặt ở Tepoztlán cũng như lúc thẩm vấn Merlo.

Một vụ khác cũng do SIDE thực hiện là đối với một ả điếm người Iran tên Nasrim Mokhani, người bị tình nghi đã thực hiện vụ đánh bom Đại Sứ Quán Israel ở Argentina năm 1992, tòa nhà AMIA năm 1994. Mật vụ SIDE đã dụ được Nasrim từ Châu Âu quay về Argentina. Chiến dịch này tốn hết nửa triệu USD chi phí truy lùng ra Nasrim và mua thông tin từ các nguồn ở Cyprus, Pháp, Bỉ, và Thụy Sĩ. Chính tình báo Pháp đã cung cấp thông tin về nơi cư trú của Nasrim tại Paris.

Không biết bẫy đã giăng, Nasrim đáp máy bay Air France đến Montevideo ở Uruguay. Khi quá cảnh ở sân bay Buenos Aires của Argentina, Nasrim rời máy bay định bước qua khu vực chuyến bay chuyển tiếp đến Montevideo thì bị một đội đặc nhiệm chống khủng bố bắt giữ.

Ở một đất nước như Mexico mà Tổng Thống Mỹ Donald Trump buộc phải quyết tâm xây dựng bức tường biên giới – thật ra bức tường ấy đã và đang tồn tại nhưng kém hiệu quả dẫn đến việc thường xuyên xảy ra các vụ nhập cư trái phép và tuồn ma túy vào Mỹ từ bên kia biên giới Mexico – thì công luận không mấy quan tâm đến nội dung “bắt cóc” trên lảnh thổ Mexico đồng nghĩa với việc xâm hại chủ quyền lãnh thổ Mexico. Do đó, vụ Cơ Quan Điều Tra & An Ninh Nội Địa Mexico CISEN đã để cho đặc vụ SIDE của Argentina vào Mexoco “bắt cóc” – thật ra là “bắt giữ” với sự tiếp sức tích cực của an ninh Mexico – Merlo chỉ là sự “bắt tay” của hai cơ quan an ninh hai quốc gia có quan hệ hữu hảo với nhau. Không có sự việc Mexico trục xuất tùy viên an ninh Đại Sứ Quán Argentina và yêu cầu Argentina gởi tên khủng bố Merlo trở lại Mexico để Mexico xem xét ý nguyện xin tỵ nạn của y. Cũng không có việc CISEN của Mexico bị điêu đứng vì đã cho SIDE của Argentina vào Mexico tự do bắt người.

Còn trong vụ “bắt cóc” Nasrim thì thật ra là “bắt tại trận” một công dân Iran với sự giúp sức của cơ quan tình báo Pháp và vài nước khác, để mật báo nhất cử nhất động của Nasrim cho SIDE, giúp SIDE dụ được Nasrim rời Châu Âu. Không có việc Pháp trục xuất tùy viên an ninh Đại Sứ Quán Argentina và yêu cầu Argentina gởi trả Nasrim về Pháp để Pháp trả về Iran.

5- Trịnh Xuân Thanh Việt Nam Và Sự Chao Đảo Của Bundesnachrichtendienst

Trịnh Xuân Thanh là một tên tội phạm có lịnh truy nã toàn cầu, trong khi tất cả những “tên” ở trên từ Vanunu đến Abu Omar, Enrique Gorriarán Merlo, và ả điếm Nasrim Mokhani đều không có lịnh truy nã nào tương tự.

Việc bị cáo buộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh cho thấy những yếu điểm của cơ quan an ninh tình báo Việt Nam tức Tổng Cục 5 như sau:

a) Kịch bản tệ hại:

Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú tại một cơ quan an ninh Việt Nam tại Việt Nam là một kịch bản rất tệ hại vì không kèm theo các biện luận sắc sảo và chi tiết đủ sức trấn áp dư luận thế giới. Trịnh Xuân Thanh không bao giờ có thể tự về Việt Nam, không bao giờ có thể không bị an ninh Việt Nam bắt ngay tại cửa khẩu vì có lịnh truy nã toàn cầu, không bao giờ có thể tự do ra khỏi sân bay để đến cơ quan an ninh bên trong thành phố hay thủ đô để xin đầu thú.

b) Kịch bản chuyên nghiệp 1:

Trịnh Xuân Thanh muốn ra đầu thú nên đã đến Đại Sứ Quán Việt Nam tại Đức xin được về Việt Nam. Đại Sứ Quán công khai loan báo tin và công khai làm thủ tục với chính quyền sở tại để hợp thức hóa việc Trịnh Xuân Thanh sẽ không bị an ninh Đức bắt giữ tại sân bay do là đối tượng có lịnh truy nã toàn cầu mà Đức là một thành viên của Interpol.

c) Kịch bản chuyên nghiệp 2:

Trịnh Xuân Thanh muốn ra đầu thú nhưng muốn giữ bí mật do sợ các nhóm chống Việt hoặc cản trở hoặc gây hại, hoặc ngại Đức sẽ cản trở do Trịnh Xuân Thanh đã lỡ nộp đơn xin tỵ nạn, nên đã tự ý sang một nước khác trong Khối Schengen và đến Đại Sứ Quán Việt Nam tại nước đó để xin được về Việt Nam. Đại Sứ Quán công khai loan báo tin và công khai làm thủ tục với chính quyền sở tại để hợp thức hóa việc Trịnh Xuân Thanh sẽ không bị an ninh nước ấy bắt giữ tại sân bay do là đối tượng có lịnh truy nã toàn cầu mà nước ấy cũng là một thành viên của Interpol.

d) Kịch bản xuất sắc:

Trịnh Xuân Thanh muốn ra đầu thú và đã tìm đến Đại Sứ Quán Việt Nam tại một nước thuộc khu vực Schengen. Đại Sứ Quán làm thủ tục với chính quyền sở tại để hợp thức hóa việc Trịnh Xuân Thanh sẽ không bị an ninh nước ấy bắt giữ tại sân bay do là đối tượng có lịnh truy nã toàn cầu mà nước ấy cũng là một thành viên của Interpol. Đại Sứ Quán không công bố tin tức đầu thú này. Đại Sứ Quán cử cán bộ tháp tùng Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam. Khi về đến sân bay Việt Nam, lúc tiến đến khu vực nhập cảnh, Trịnh Xuân Thanh nói lơn tiếng rằng “Tôi là Trịnh Xuân Thanh, xin về đầu thú về những tội đã phạm” để (a) hợp thức hóa việc đầu thú, (b) không bị an ninh bắt giữ tại sân bay do có lịnh truy nã toàn cầu, (c) được nhiều hành khách ghi nhận và quay clip để tự đưa lên mạng, và (d) cơ quan an ninh chính thức đưa Trịnh Xuân Thanh nhập cảnh vào Việt Nam bằng xe đến cơ quan điều tra theo quy định.

Đức tất nhiên phải có phản ứng vì tất nhiên phải có dư luận hoặc chê bai sự bất lực của cơ quan an ninh Đức BND tức Bundesnachrichtendienst để đặc vụ Việt Nam vào lãnh thổ Đức bắt người, hoặc cho rằng chính Bundesnachrichtendienst đã thỏa hiệp với Tổng Cục 5 để không những tắt tất cả hệ thống CCTV mà còn “vẽ đường cho hươu chạy” cũng như chỉ phản ứng sau khi nhận được tin của Việt Nam cho hay vụ bắt cóc thành công mỹ mãn đã đưa Trịnh Xuân Thanh về đến Việt Nam.

Nhưng dù cho dư luận thế giới có cho ra luận bàn nào với một trong hai khả năng trên thì cái Việt Nam cần làm là phải có một kịch bản (dựng nên không phải để đánh lừa Đức hay nước khác mà dựng lên để giúp Trịnh Xuân Thanh hoàn thành ý nguyện đầu thú một cách chu đáo nhất và yên bình nhất) thật tốt để Bundesnachrichtendienst không bị mang tiếng bất tài hoặc mang tiếng đã lén lút thỏa hiệp với ngoại bang.

D) Hành Động Của Việt Nam

1- Cải Tổ Tổng Cục 5

Tổng Cục 5 của Việt Nam cần quan tâm đến những nội dung sau:

a) Nâng cấp kỹ năng các đặc vụ trong xử lý nhanh gọn và trí tuệ cơ mưu quyền biến hoàn hảo đạt tầm cỡ Mossad.

b) Chính thức công nhận tên viết tắt TC5 được sử dụng trong đối ngoại quốc tế. Đây là cách mà Vương Quốc Anh đã sử dụng khi đặt tên cho các cơ quan MI5 và MI6 của họ.

c) Trường hợp muốn dùng các chữ viết tắt theo nội dung tiếng Anh như FBI và CIA của Mỹ, hoặc FSB, SVR, và GRU của Nga, thì Tổng Cục 5 có thể đặt tên cơ quan mình trong tiếng Anh là CIA (tức Cục Tình Báo Trung Ương An Nam – Central Intelligence of Annam). Cách đặt tên Annam tức tên gọi của Miền Trung Việt Nam, cũng tương tự như cơ quan cảnh sát Anh MPS còn được gọi là New Scotland Yard dù Scotland là tên chỉ của một phần lãnh thổ của Đại Anh trong Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan chứ không phải của cả nước.

d) Việc đặt tên chính thứ là TC5 hay CIA hoặc bất kỳ tên nào khác là để khẳng định uy danh, tầm cỡ của Tổng Cục Tình Báo Việt Nam, từ đó có các đầu tư dồi dào bài bản chính thức về nhân sự, tài chính, trang bị, v.v.

2- Cải Tổ Luật Pháp

Bài học từ sự lấn sân của Giáo Hội Công Giáo La Mã Vatican vào lĩnh vực chính trị đã tạo nên hai con quỷ dữ Adolf Hitler và Benito Mussolini, tàn diệt người Do Thái, đẩy nhân loại vào Thế Chiến, là sự cảnh báo cho Việt Nam trước những manh nha xách động giáo dân phá hoại hiện nay của các linh mục và giám mục Công Giáo La Mã ở Việt Nam.

Tự do tín ngưỡng hoàn toàn không dính dáng gì đến nội dung tu sĩ xách động gây rối an ninh trật tự công cộng và phản động. Không phân định rõ sự khác nhau này để áp dụng những biện pháp cảnh sát khác nhau (bảo vệ tự do tín ngưỡng của công dân và bảo vệ trật tự an ninh quốc gia) thì không phải là đã có cơ quan cảnh sát an ninh.

Sự cảnh báo ấy có thể không cần thiết đối với các quốc gia khác như Hoa Kỳ là nước có quy định pháp luật hà khắc (a) cho phép giáo hội không phải đóng thuế thu nhập, (b) nhưng cấm không được tham gia chính trị, và (c) tất cả các tu sĩ đều phải thực hiện yêu cầu của cảnh sát, nếu không sẽ bị trói lại giải đi giam.

Cuối cùng, tự do ngôn luận không có nghĩa là tự do phỉ báng chân lý và tự do tuyên truyền láo xược gây hại cho nhận thức của các công dân khác, chẳng hạn pháp luật phải được bổ sung để việc ca ngợi Ngô Đình Diệm hoặc ngợi ca cuộc đại thảm sát dân Do Thái Holocaust của Hitler phải được quy thành vi phạm luật pháp quốc gia.

Bai 2 12

Cải tổ luật pháp còn bao gồm việc bổ sung những đạo luật mới, chẳng hạn như Đạo Luật Báo Đáp Tương Đồng như được nêu lên ở Bài Số 3 được đăng ở kỳ sau.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Pháp Việt-Nam (Quốc Hội Khóa XIII)

Tham khảo:

A) Cụm 3 Bài Về Trịnh Xuân Thanh:

Bài 1: Sự Hèn Hạ Của Truyền Thông Tư Bản : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/08/cum-3-bai-ve-su-co-trinh-xuan-thanh/

Bài 2: Đức Quốc Giật Mình Và Hành Động Của Chúng Ta: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/10/cum-3-bai-ve-su-co-trinh-xuan-thanh-bai-2/

Bài 3: Luật Báo Đáp Tương Đồng

B) Các Tư Liệu Của Hoàng Gia Việt Nam Về Giới Chính Khách Đức Quốc:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức – Em Gái Tôi Và Helmut Kohl & Tôi Và Sigurd Schmitt: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/

Tôi Và Philipp Röslerhttps://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/09/30/toi-va-philipp-rosler/

C) 57 bài viết của Nhà Lập Pháp Hoàng Hữu Phước về Lập Pháp:

Các phần A (Luật Biểu Tình: 6 bài), Q (Luât Pháp: 20 bài viết), và R (Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội: 31 bài viết) tại: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/06/19/tong-cac-bai-viet-tren-blog-nay-tinh-den-ngay-19-6-2017-theo-32-nhom-chu-de/

Trịnh Xuân Thanh – Bài 1

TXT

Bài 1: Sự Cố Trịnh Xuân Thanh: Sự Hèn Hạ Của Báo Chí Tư Bản

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp Quốc Hội Khóa XIII

08-8-2017

A) Định Nghĩa Duy Nhất Về Trịnh Xuân Thanh:

Trịnh Xuân Thanh là công dân nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam và là một tên tội phạm chính thức của Việt Nam, được chính thức báo với các cơ quan an ninh toàn cầu trong hệ thống Interpol cảnh sát quốc tế.

B) Hệ Quả Của Sự Không Biết Gì Về Đinh Nghĩa Duy Nhất Ở Trên:

1- An Ninh – Tình Báo – Cảnh Sát: Bất cứ bọn an ninh cảnh sát nước nào không hay biết về Định Nghĩa trên thì đó là bọn an ninh cảnh sát mạt hạng.

2- Truyền Thông: Bất cứ bọn báo chí dù chính thống hay lá cải ở bất kỳ nước nào nếu không hay biết về Định Nghĩa trên thì đó là bọn báo chí mạt hạng tức loại rác rến so với đẳng cấp lá cải.

Vụ việc Trịnh Xuân Thanh có rất nhiều yếu điểm cực kỳ non nớt đáng thương hại của phía Việt Nam mà sẽ được tác giả bài viết này phân tích ở phần khác. Tuy nhiên, tất cả các yếu điểm đó cũng chỉ liên quan đến một tên tội phạm hạng tép riu  mang tên Trịnh Xuân Thanh của một đất nước tép riu mang tên Việt Nam. Ấy vậy mà toàn bộ lực lượng “gươm vàng giáo ngọc” của thế giới truyền thông Âu Mỹ có sự phấn khởi ăn bám của Việt Kiều Chống Việt đã dốc toàn bộ sức lực tâm huyết lụp cha lụp chụp cuống ca cuống quýt để dí con ruồi nhặng Trịnh Xuân Thanh chỉ vì Việt Nam là cộng sản. Thậm chí tờ Thời Báo Tài Chính Financial Times khổng lồ của Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan lại có tên nhà báo ba chớp ba nháng vì quá mừng rỡ có cơ hội bằng vàng để lăng mạ Việt Nam nên đã đăng ngay bài viết rằng “Đức Quốc Trục Xuất Đại Sứ Việt Nam Sau Vụ Bắt Cóc

TXT 1

(sau đó ít ngày đã phải viết đè lên bằng một bản khác, xóa mất chữ “đại sứ ambassador” để thay bằng chữ “viên chức”) chứng minh bọn tinh hoa truyền thông đã không hề biết gì về “trục xuất”, về “đại sứ”, và về “cắt đứt quan hệ ngoại giao”, mà nói chung là chỉ có bọn báo chí tư bản thất học và ngu muội mới bỏ chung ba nội dung này vào khuấy thành một nồi cám lợn.

Tờ Time như trong dẫn chứng dưới đây cũng đăng lại tin của Financial Times mà không nhận ra rằng chuyện trục xuất Đại Sứ Việt Nam là chuyện điên rồ, không bao giờ có thể xảy ra:

TXT 2

BBC Anh Quốc tự tin dùng chữ “suspected” tức “bị nghi ngờ” mà không biết BBC tự bôi tro trát trấu vào mặt mình do bất tài vô dụng không điều tra “nhanh” với bằng chứng cụ thể mà ngay cả Đức cũng chưa có để chứng minh quả thực là viên tùy viên nào, tên gì, hình ảnh chân dung của y đã ra tay bắt cóc Trịnh Xuân Thanh:

TXT 3

Còn tên tép riu Thời Báo Châu Á Asia Times chứng tỏ sự dốt đặc khi giật tít rằng “Vụ Bắt Cóc Làm Việt Nam Trở Thành Persona Non-Grata Tại Đức” vì làm gì có chuyện nội dung Persona Non-Grata tức Nhân Vật Không Được Chào Đón mà nôm na là Nhân Vật Phải Cuốn Gói Cút Ngay lại áp đặt cho một quốc gia!

Còn thông tin sau cho thấy những bọn bá láp khác, như

TXT 4

Reuters khổng lồ của Anh Quốc chạy tít “Việt Nam bắt cóc người xin tị nạn” nghĩa là tuyệt đối né nội dung chẳng hạn “Việt Nam bắt cóc người đang bị truy nã”. Tị nạn chính trị vì Việt Nam là cộng sản ư?

Hòa âm điền dã với Reuters, VOA News và Asian Corespondent cũng nhanh nhảu tập trung vào cụm từ Asylum Seeker tức người xin tị nạn (chính trị) thường được tô vẽ hào quang là người đoan chính đấu tranh cho tự do dân chủ nhân quyền và tự do ngôn luận.

Vẫn chưa có – và sẽ không bao giờ có – bằng chứng cụ thể về việc Việt Nam tổ chức bắt cóc Trịnh Xuân Thanh dù hành động bắt cóc như vậy luôn là việc làm nhuần nhuyễn của các cường quốc Âu Mỹ. Thế nhưng, truyền thông Âu Mỹ cùng Chính Phủ Đức Quốc đã – qua việc vội vã quy chụp và vội vàng trục xuất một tùy viên Đại Sú Quán Việt Nam – một cách vô duyên tặng không cho Việt Nam một Trận Điện Biên Phủ Trên Không Gian Mạng làm chao đảo thành lũy thép Bundesnachrichtendienst mà tiền thân là Geheime Staatspolizei tức Gestapo của Hitler vĩ đại từng làm điêu đứng toàn bộ các tổ chức an ninh tình báo mật vụ Mỹ Âu.

C) Nước Đức Luống Cuống

Việc Đức trục xuất ngay một viên chức Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Đức trong khi

1- Không nhanh chóng đưa ra công khai các bằng chứng cụ thể như hình ảnh, phim ảnh CCTV nơi xảy ra vụ “bắt cóc”, nơi cửa khẩu biên giới, nơi sân bay, hoặc diễn biến cuộc rượt đuổi giải cứu – nhưng bất thành của an ninh Đức – v.v., mang tính khẳng định về vụ “bắt cóc” – nếu thực sự đã có vụ “bắt cóc” ấy – mà chỉ  sử dụng các từ ngữ yếu ớt như “được cho là đã bắt cóc”, “bị nghi ngờ là đã bắt cóc”; và

2- Lên tiếng dọa đe về ảnh hưởng đến mối bang giao chính trị cùng hợp tác kinh tế cũng trên các cơ sở phiến diện đã nêu trên;

Cho thấy một Đức Quốc đã thực sự luống cuống, đã thực sự phạm sai lầm, đã thực sự hoàn toàn không còn xứng đáng tiếp tục vai trò lãnh đạo Châu Âu.

Đức Quốc đã tạo ra một tiền lệ xấu, rất xấu, cực kỳ xấu, sẽ làm Đức Quốc quá dễ bị tổn thương, về luật pháp và đối ngoại.

Đức Quốc đã phạm phải một sai lầm ngu xuẩn, khiến một Việt-Nam-có-thể-là-kẻ-sai trở thành một Việt-Nam-có-một-côngdân-bắt-đầu-lột-trần-Đức-Quốc ở Bài Số 2: Nước Đức Luống Cuống Và Hành Động Của Chúng Ta được đăng vào sáng mai 09-8-2017.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Lập-Pháp Quốc-Hội Việt-Nam Khóa XIII

Tham khảo:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức – Em Gái Tôi Và Helmut Kohl & Tôi Và Sigurd Schmitt

Tôi Và Philipp Rösler

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis

Thư Của Hoàng Hữu Phước Gởi Đức Giáo Hoàng Francis

– Bản Dịch Tiếng Việt –

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2017

 

Kính gởi Đức Thánh Cha, Đức Giáo Hoàng Francis

Cung Điện Tông Đồ

Vatican, 00120

 

Chủ đề: Những hành động sai trái nghiêm trọng của một số giám mục ở Việt Nam

 

Đức Thánh Cha Tôn Kính,

 

Con ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, một doanh nhân đến từ và là Nghị Sĩ Quốc Hội nhiệm kỳ 2011-2016 của Việt Nam, kính lời chào trân trọng nhất đến Đức Thánh Cha và xin nhân cơ hội này kính trình Đức Thánh Cha những vấn đề nghiêm trọng sau đây liên quan đến một số linh mục và giám mục ở Việt Nam đối với việc họ can dự vào sự kích động các tín đồ và kích động những cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam mà con xin khép nép tin rằng Đức Thánh Cha đã hiểu biết tường tận.

 

A) Các Cuộc Biểu Tình Xách Động Bởi Các Giám Mục Phản Nghịch Ở Việt Nam

 

1- Sự Lạm Dụng Cờ Vatican Của Đám Đông Giáo Dân Công Giáo Việt Nam:

Những người theo Công giáo La mã trên toàn thế giới đều biết lá Thánh Kỳ Vatican hình vuông bao gồm hai nửa ngang thẳng đứng với một phần vàng hướng cột cờ và phần trắng phía ngoài, có Huy Hiệu Vatican cùng hai chìa khóa Thánh Paul bắt chéo nhau và Ngọc Miện Giáo Hoàng, cũng như biết các pháp chế nghiêm ngặt và tính trên hết của Thánh Kỳ.

Tuy nhiên, để phục vụ mục đích tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam dưới cái cớ chống lại các nhà đầu tư Đài Loan đang gây hại cho môi trường, các giám mục bất đồng chính kiến ​​ở Việt Nam ra lệnh cho người dân của các giáo phận của họ sản xuất ra những cái gọi là “Cờ Vatican” ở dạng hình chữ nhật có hai nửa nằm ngang và phần trắng phía trên còn nửa dưới màu vàng, hoặc không có hình ảnh của các chìa khóa Thánh Peter bắt chéo cùng Ngọc Miện Giáo Hoàng, hoặc có một chữ thập đỏ dày rất lạ nằm giữa lá cờ. Còn khiến sự việc tồi tệ hơn nếu không nói là tệ hại nhất, đám đông giáo dân còn hoặc vác “Cờ Vatican” trên vai, hoặc cầm vẫy qua vẫy lại, hoặc đơn giản cắm cột cờ vào bất cứ khe có sẵn nào trên phần sau đuôi xe, tức là để các “Cờ Vatican” phấp phới sau lưng các phụ nữ ngồi sau những ông lái mô tô.

Các giám mục và những người mà họ giảng dạy giáo lý cho (a) rõ ràng là không biết gì về lá cờ của Vatican, hoặc (b) phớt lờ bỏ qua pháp chế của Tòa Thánh quy định về Thánh Kỳ và sự cao trọng trên hết Toà Thánh dành cho Thánh Kỳ, hoặc (c) trở thành những kẻ phản bội muốn lật đổ triều đại Giáo Hoàng của Công Giáo La Mã bằng cách thiết kế một lá cờ Vatican mới để sử dụng theo ý riêng của họ tại Việt Nam, hoặc (d) ngụ ý rằng sự bất đồng của họ được ủng hộ mạnh mẽ và tài trợ hào phóng của Tòa Thánh chống chính phủ Việt Nam, hoặc (e) tệ hại hơn cả là có kế hoạch biến Nhà Thờ Công Giáo La Mã ở Việt Nam thành một đảng chính trị cạnh tranh với Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

2- Cờ Giẻ:

Để thách thức quyền quản trị toàn thế giới của Tòa Thánh, các giám mục và những giáo dân tại các giáo phận của họ biểu tình với nhiều Thánh Kỳ giả mạo được may từ những thứ vải có nguồn gốc chất lượng khả nghi. Đây là một sự lăng nhục Tòa Thánh.

Để thách thức giới tinh hoa hàn lâm  trên toàn thế giới, các giám mục và giáo dân tại giáo phận của họ cùng nhau biểu tình phất nhiều lá cờ đầy màu sắc hình vuông với những chiếc đuôi nheo không đều ở dọc các cạnh trừ cạnh sát cột cờ, mà họ tự hào vẫy qua vẫy lại cùng với “Thánh Kỳ Vatican”. Đây là một sự sỉ nhục đối với Tòa Thánh.

Và để thách thức chính phủ Việt Nam vốn được công nhận trên toàn thế giới, các giám mục cùng các giáo dân của họ biểu tình cùng với nhiều miếng vải màu vàng hình chữ nhật có ba sọc đỏ, tương tự như lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) đất nước mà Đức Giáo Hoàng Paul Đệ Lục không bao giờ ủng hộ, cũng như bị tiêu diệt vĩnh viễn bởi quân đội cộng sản của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) vào năm 1975. Phất cao ngọn cờ đã bị vất bỏ sọt rác của một chế độ đã bị xóa sổ vĩnh viễn trong khi xuống đường biểu tình dưới danh nghĩa Giáo Hội Công Giáo và dưới sự lãnh đạo của các giám mục của họ, đám đông giáo dân Công Giáo rõ ràng ám chỉ họ công khai chống cộng sản và nếu vậy đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật nghiêm ngặt hiện hành của Việt Nam đối với  các hành động khuyến khích hoặc kích động sự lật đổ Chính phủ – mà các quy định này khá tương đồng với nhưng không nghiêm ngặt như Đạo Luật 18 US 2385 của Hoa Kỳ. Tình trạng bất khả tương nghị của họ cũng là một sự xúc phạm đến Tòa Thánh.

 

3- Các Giám Mục Việt Nam Là Những Người Kích Động Và Là Những Kẻ Làm Loạn

Mặc dù chữ “lật đổ” đã được dùng trong 52 trường hợp trong 17 câu, 11 chương và 11 sách trong Bộ Thánh Kinh, thậm chí không có một gợi ý nào về lật đổ chính phủ đã được đề cập tới. Thay vào đó là lời giáo huấn rằng mọi chính phủ đều được đặt lên theo ý muốn chủ quản của Thiên Chúa (như tại Psalm 75: 7, Daniel 2:21) và tất cả các chính phủ ở mọi nơi đều phải được tôn trọng, kính trọng và tuân theo bởi các tín đồ (nêu tại  Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10 và 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 nêu rõ rằng: “Hãy nhắc nhở người dân phải phục tùng các nhà cầm quyền, biết tuân lời, sẵn sàng để làm bất cứ điều gì tốt đẹp, không vu khống ai, phải tránh xung đột, hãy tử tế và luôn dịu dàng với mọi người.” Tất cả những lời thông thái từ Thiên Chúa đã được nêu lên rất nhiều lần làm nền tảng của hòa bình hợp tác hài hòa mọi người với chính phủ. Quy tắc tuân thủ này hợp lý vì nó có cung cấp một lựa chọn duy nhất khi người dân có thể thực hành việc bất tuân dân sự bằng cách từ chối thực hành các luật lệ của chính phủ nếu các luật lệ này được chứng minh là có mâu thuẫn trực tiếp với luật lệ của Đức Chúa Trời như được tạo ra trong Kinh Thánh (nêu tại Exodus 1:15-17, Acts 4:19, và Daniel 3:14-18).

Sự hỗn loạn chính trị trên toàn thế giới ngày nay nảy mầm từ sự trắng trợn xem thường giáo lý của Đức Chúa Trời.

Khi các nhà đầu tư Đài Loan gây thiệt hại cho môi trường sinh thái biển ở một số tỉnh duyên hải của Việt Nam, họ đã bị toà án Việt Nam khởi kiện và bị kết án theo luật pháp hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, phớt lờ lời dạy trong Deuteronomy 25:1-3 rằng “Khi có tranh chấp, người ta đưa vụ việc ra tòa án và các thẩm phán sẽ phán xét vụ án, tha người vô tội và buộc tội kẻ có tội. Nếu kẻ phạm tội đáng bị đòn roi, thẩm phán sẽ bắt kẻ đó nằm xuống và cho quất roi trước mặt mình và với số lượng quất roi đánh đúng theo tội trạng. Nhưng thẩm phán không được áp đặt đánh hơn bốn mươi roi đòn”, các giám mục bất đồng chính kiến dẫn đầu đám đông từ các giáo phận của họ tiến hành biểu tình, hung hãn phất “cờ giẻ” và giận dữ la hét đòi trừng phạt nặng hơn bên phạm tội dù pháp luật hiện hành không quy định như vậy, thậm chí đòi đóng cửa các nhà máy dù luật pháp hiện hành không quy định như vậy, cũng như đòi trục xuất tất cả những người Đài Loan dù luật pháp hiện hành cũng không quy định như vậy.

Những sự kiện không ra chi gần đây nhất ở Việt Nam là một ví dụ về tầm quan trọng sống còn của việc thiếu vắng sự chăm sóc của cha mẹ và người lớn ngoan đạo trong gia đình, việc thiếu vắng sự giáo dục tốt ở trường học, việc thiếu vắng những lời giảng đạo sâu sắc về những lời dạy của Đức Chúa Trời tại nhà thờ, và việc thiếu vắng sự giám sát chặt chẽ của các cấp cao hơn của Giáo Hội Công Giáo khu vực chỉ có thể tạo ra những giám mục trơ trẻn thiếu suy nghĩ trở thành kẻ xách động bạo loạn, tự để mình vướng vào các cực đoan chính trị thế tục mặc dù chẳng hiểu biết gì hết về chủ nghĩa cộng sản hay bất kỳ chủ nghĩa nào khác, mơ màng một cách đáng thương hại về việc dấn thân vào những âm mưu điên rồ lật đổ Chính phủ Việt Nam và qua đó làm nhục Tòa Thánh.

 

4- Sự Ngu Dại Của Các Giám Mục Xách Động Là Do Sự Thiếu Hiểu Biết Về Lịch Sử

Rõ ràng là không ngoài sự hiểu biết của những người có phúc được cắp sách đến trường rằng Công Giáo lần đầu tiên đổ bộ lên đất nước Việt Nam thông qua các linh mục trên các tàu chiến của Pháp khi bắt đầu cuộc chiếm đóng – tức cuộc thuộc địa hóa – Việt Nam trong một trăm năm. Đây là một sự thật cay đắng không thể chối cãi đối với bao thế hệ những người yêu nước thật sự của Việt Nam, mà thực tế là đã làm Công Giáo không thể trở thành tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam.

Thay vì theo lời răn dạy trong Kinh Thánh để sống đời đạo hạnh một giáo dân Công giáo để trở thành người gương mẫu giúp làm cho lời dạy của Đức Chúa Quyền Năng được cụ thể hóa có tầm ảnh hưởng tốt nhất vì sự tiến bộ của cả dân tộc, một số giám mục lạm dụng quyền lực được giao phó chỉ để biến giáo dân tại các giáo phận thành thần dân còn bản thân trở thành các Lãnh Chúa Phong Kiến chủ nhân ông các giáo phận cứ như thể đó là những lãnh địa của riêng họ. Quả đó là một sự thật cực kỳ vô lý một cách xằng bậy ở Việt Nam nơi mà một số giám mục luôn muốn các giáo phận của họ tách cả thể xác và tinh thần xa khỏi phần còn lại của dân tộc, khinh thường các trách nhiệm công dân và luật pháp quốc gia.

Ngoài sự thiếu hiểu biết về những giáo huấn sâu xa của Thiên Chúa, sự thiếu hiểu biết về lịch sử của Việt Nam nơi các giám mục không giúp Việt Nam phát triển ở bất cứ khía cạnh nào – dù cho đó là về kinh tế, về uy tín của đất nước nói chung và của Công Giáo nói riêng, về chính trị, và thậm chí về tôn giáo.

Tự do ngôn luận và biểu đạt không bao giờ là để gây ra khó khăn cho đa số người Công Giáo khác trên cả nước và cho những đồng bào nghèo. Trong khi các nhà thờ Công Giáo và tín đồ Công Giáo có mặt khắp nơi tại Việt Nam, chỉ có một hoặc hai giáo phận nhỏ ở một số tỉnh là tuân theo chỉ thị của các giám mục xách động của họ để tổ chức các cuộc biểu tình với cờ nùi giẻ la hét đòi trừng phạt khắc nghiệt hơn nhiều đối với một doanh nghiệp nước ngoài, đòi đóng cửa doanh nghiệp đó, và đòi đuổi doanh nghiệp đó ra khỏi Việt Nam; tức là gieo rắc những mầm mống tạo ra sự ghét bỏ nơi những người Việt Nam thuộc các tín ngưỡng khác dành cho tín đồ Công Giáo, làm cho những người Công Giáo “ôn hòa” trên cả nước bối rối, và buộc chính phủ không giảm bớt sự dè dặt đối với các giám mục Công Giáo và cộng đồng giáo dân Công Giáo nói chung. Và cuối cùng song không phải là kém quan trọng  nhất, đó là các cuộc biểu tình như vậy ở các tỉnh nghèo tạo ra những rối loạn ảnh hưởng xấu đến cuộc sinh nhai hàng ngày của những người bán hàng rong và những người nghèo khổ đang làm những công việc lặt vặt trên những lề đường bị chặn ngăn  bởi các giám mục đang giận dữ và những giáo dân ngây thơ của họ.

 

B) Những Kiến Nghị Khiêm Tốn

 

Con được sinh ra trong một gia đình với đấng sinh thành tuy là Phật Tử vẫn tin vào Đức Chúa Jesus Christ (do có ấn tượng bởi cuộc sống đạo hạnh gương mẫu đáng kính tích cực giúp đời của các nữ tu Công Giáo tại một nữ tu viện gần nhà của chúng con tại Quận 3 Sài Gòn năm 1957 mà sau đó nữ tu viện ấy trở thành trường tiểu học Phan Đình Phùng trước năm 1975, những “bà sơ” ấy đã giúp đỡ bất cứ ai trong khu vực toàn người ngoại đạo), và vì tin nên đã cho con cùng các chị em ruột của con theo học tại các trường trung học Công Giáo ở Việt Nam. Một số chị em của con là tín đồ Công Giáo hoặc Tin Lành. Mọi người trong gia đình lớn của con bất kể là Phật tử hay tín đồ của Chúa hoặc như con chỉ là một người thờ phượng tổ tiên, đều đồng ý về một quan điểm rằng trước hết chúng con là công dân Việt Nam và sau đó mới là nhận thức rằng chúng ta là con cái của Thượng Đế. Điều này là để xác quyết rõ ràng rằng chúng con là con cái Thiên Chúa được Thiên Chúa ban phúc cho vào Việt Nam và chúng con sẵn sàng tiêu diệt không thương xót bất kỳ quân xâm lược đến từ bất kỳ đâu chẳng hạn như Trung Quốc hay nơi nào khác, mặc cho chúng cũng  con cái Thiên Chúa. Việt Nam Trên Hết chính là phương châm của tất cả những người yêu nước thực sự của Việt Nam, những người luôn cầu nguyện Chúa Trời ban phước cho đất nước của họ trước hết.

Với tâm nguyện như trên, và với ấn tượng tuyệt vời từ nhiều tuyên bố của Đức Thánh Cha, ví dụ như những phê phán chống lại những phương cách tàn nhẫn trong chủ nghĩa tư bản, và đặc biệt là những điều được Đức Thánh Cha đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn với Il Messaggero vào tháng 6 năm 2014 liên quan đến nội dung “Sự nghèo khổ là trọng tâm của Phúc Âm”, sâu sắc ngụ ý rằng mối quan tâm của chủ nghĩa cộng sản dành cho người nghèo là trong thực tế từ sự quan tâm đến người nghèo như được viết trong Phúc Âm từ hai mươi thế kỷ trước đó, nên chủ nghĩa cộng sản  coi như đã như một tín đồ của Chúa, con muốn trình cùng Đức Thánh Cha những kiến nghị sau đây.

 

1) Sự Giám Sát Mạnh Hơn Và Hiệu Quả Hơn Đối Với Các Linh Mục Và Giám Mục Tại Việt Nam

Tòa Thánh nên xem xét việc tấn phong một Sứ Thần Tòa Thánh thật mạnh mẽ để phụ trách giám quản Công Giáo Việt Nam, có năng lực lột mặt nạ các sai phạm và thủ đoạn bẩn thỉu của những linh mục và giám mục có mưu đồ làm nhục danh tiếng Tòa Thánh, phá hỏng mối quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam, lật đổ chính phủ Việt Nam, lùa những giáo dân Công Giáo ngây thơ phạm tội phản quốc, và bóp méo lời răn dạy của Thượng Đế.

 

2) Thực Thi Sức Mạnh Thực Sự Của Vatican Đối Với Những Kẻ Sai Quấy

Các sự cố nêu trên về lạm dụng quyền lực để bêu xấu uy tín của Tòa Thánh cũng kích hoạt sự cần thiết phải thực thi  quyền lực của Vatican chống lại những  kẻ sai quấy sử dụng áo chùng thâm làm vũ khí ngụy trang và sử dụng Vatican làm áo giáp bảo vệ. Rút phép Thông Công là hình thức trừng phạt đúng đắn áp dụng đối với các linh mục và giám mục người Việt Nam nào đã ra lệnh cho giáo dân tại giáo phận của họ phô trương Thánh Kỳ giả tạo cùng cờ giẻ tại những cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đã sống một cuộc sống trần tục của dối trá, bài ngoại, bất tuân xã hội, và kích động bệnh hoạn để phạm tội phản quốc .

 

3) Thực Hiện Các Quan Hệ Ngoại Giao Thật Sự Với Chính Phủ Việt Nam

Tự do ngôn luận và biểu đạt bao gồm  cả quyền dù của một cá nhân hay một tổ chức trong phổ biến chủ nghĩa vô thần hay bất kỳ một tín ngưỡng nào khác. Bất kỳ hành động chống lại một chế độ dựa trên niềm tin tôn giáo khác nhau của chế độ đó không bao giờ là một sự thực thi  đúng đắn về tự do ngôn luận và biểu đạt trong thế giới văn minh.  Cố Giáo Hoàng Benedict Đệ Nhất Thập Lục đã có một bước chính đáng và quan trọng khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng Sản Việt Nam vào ngày 25 tháng 1 năm 2007.

Tuy nhiên, dường như Việt Nam là quốc gia duy nhất mà nơi đó một số linh mục Công Giáo địa phương và các giám mục không chỉ công khai ra mặt lãnh đạo các  nỗ lực thực hiện những thủ đoạn bẩn thỉu nhằm tạo ra các rối loạn chống lại chính phủ, mà còn khóc lóc với nước mắt cá sấu mỗi khi gặp Đại Sứ Tông Tòa, Sứ giả Giáo Hoàng, hoặc Hồng Y, cứ như thể họ đang bị áp bức tàn nhẫn, bị đàn áp bởi các chiến dịch chống Công Giáo của Chính phủ Việt Nam.

Tòa Thánh cần xem xét việc khẳng định chính thức rằng các giám mục Việt Nam được Tòa Thánh phong chức phải tôn trọng mối quan hệ ngoại giao giữa Toà Thánh và Chính phủ Việt Nam, phải báo cáo với Tòa Thánh bất cứ vấn đề gì quan ngại để Tòa Thánh có các hành động ngoại giao phù hợp với các đối tác ngoại giao theo các thực tiễn ngoại giao song phương được cả hai bên thỏa thuận, và phải hiểu rằng họ không có quyền bất kỳ trong tụ tập cầm đầu giáo dân biểu tình chống chính phủ thay mặt cho Tòa Thánh và sử dụng Thánh Kỳ trong bất kỳ trường hợp nào bên ngoài nhà thờ.

 

4) Xác Quyết Quyền Lực Của Chính Phủ Theo Lời Dạy Của Thánh Kinh

Các linh mục và giám mục Công Giáo ở Việt Nam cần được nhắc nhở về nội dung tuân phục Chính Phủ Việt Nam theo lời dạy của Thiên Chúa trong Kinh Thánh.

 

5) Đào Tạo Lại Các Giám Mục tại Việt Nam

Các linh mục và giám mục Công giáo ở Việt Nam cần được đào tạo lại về (a) bổn phận thật sự của mình và trách  nhiệm thực sự của mình đối với giáo phận và những giáo dân, (b) nội dung toàn bộ về các pháp chế và các chế định ưu tiên của Tòa Thánh, và (c) trách nhiệm công dân của tín đồ của Chúa đối với cả hai phạm vi thế tục và phạm vi tâm linh đối với quốc gia cùng luật pháp quốc gia (nêu tại Romans 13:1-7), và đối với Nước Chúa cùng các giáo luật của Chúa (nêu tại Philippians 3:20, Exodus  20:1-5, và Luke 20:25) cùng các giáo lý Kinh Thánh, vốn chứng minh vô chính phủ không bao giờ nằm trong số những lời dạy của Thượng Đế. Sự thiếu hiểu biết đối với một trong hai loại tư cách công dân nêu trên là dấu hiệu nhận ra các linh mục và các giám mục sai quấy của Việt Nam.

 

6) Hiệu Đính Lại Bản Tiếng Việt Của  Kinh Thánh

Có một thực tế là tất cả các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh chưa bản nào là bản dịch thuật xuất sắc, dù đó là công trình dịch thuật của Giáo Hội Công Giáo hay Tin Lành. Ngôn ngữ của bản tiếng Việt không thể phủ nhận được là khó hiểu đối với mọi tín đồ người Việt theo đạo của Chúa vì ba vấn đề sau đây:

(a) Hình thức ngôn ngữ viết tiếng Việt hiện nay là do các nhà truyền giáo dòng Tên người Pháp vào thế kỷ XVII trước tiên phục vụ cho mục đích giảng đạo. Tiếng Việt trong thời nguyên thủy của nó tất nhiên đã không thể diễn tả chính xác và đầy đủ ý nghĩa của các văn bản thuộc một ngôn ngữ khác, đặc biệt từ tác phẩm Kinh Thánh vĩ đại. Ngoài ra, các nhà truyền giáo người Pháp không phải là những nhà dịch thuật chuyên nghiệp tiếng Việt. Tất cả những yếu tố này khiến các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh phần thì vụng về và phần thì khó hiểu, và việc giáo dục tinh thần của giáo dân Công Giáo Việt Nam nói chung và các linh mục Công Giáo nói riêng không thể ở vị thế cao bằng như trong thế giới phương Tây.

(b) Nhiều từ ngữ Việt Nam đã lỗi thời, không còn được sử dụng, nhưng vẫn tồn tại trong các bản Thánh Kinh tiếng Việt, và thậm chí một số không phải là “bản dịch” vì chúng không phải là từ bất kỳ từ ngữ nào trong bản gốc tiếng Anh chẳng hạn.

(c) Theo truyền thống, các giáo dân Việt Nam theo đạo Chúa đã xem các lời ghi chép trong Kinh Thánh là những lời dạy của Thượng Ðế mà họ phải tuân theo và tôn trọng, bất kể bản Kinh Thánh ấy bằng tiếng Việt đã vậy không phải là một bản dịch hoàn hảo mà chỉ là một công trình không chuyên nghiệp của những dịch giả nghiệp dư.

Các sự thật nêu trên làm cho bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh không hề thay đổi và không hề được cập nhật hoặc không hề được sửa sai trong nhiều thế kỷ. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào các linh mục và giám mục mỗi khi đọc Kinh thánh tại các buổi lễ, mà những giáo dân ngây thơ của họ do không hiểu được nội dung đã phải dựa hẳn vào lời giải thích của các linh mục và giám mục. Nói cách khác, các linh mục và các giám mục ở Việt Nam có thể lạm dụng quyền lực của mình bằng cách giảng giải không đúng những lời dạy của Đức Chúa qua  một bản dịch Kinh Thánh chất lượng kém để khống chế tư tưởng những giáo dân ngây thơ tham gia vào các cuộc tụ họp chống chính phủ.

Đề nghị của con đối với Đức Thánh Cha là Giáo Hội của Việt Nam nên được Đức Thánh Cha giáo huấn rằng bất cứ sự bỏ mặc nào đối với tính chính xác, sự sâu sắc và bản dịch của Kinh Thánh cũng chính là sự báng bổ Thiên Chúa, và rằng bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh được Tòa Thánh cho phép được cập nhật và sửa sai.

 

Do Việt Nam cần sự ổn định và do chính quyền cộng sản Việt Nam là thực thể duy nhất có khả năng bảo vệ hòa bình cho người dân Việt Nam, sự kích động của các linh mục và các giám mục Công Giáo sử dụng Thánh Kỳ giả và cờ nùi giẻ, kích động không chỉ lòng hận thù bài ngoại mà còn là sự bất tuân luật pháp quốc gia không bao giờ có thể được chấp nhận. Các linh mục và giám mục này cần được Tòa Thánh bảo ban nhắc nhở hay tái đào tạo rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc ngay khi chính quyền cộng sản Việt Nam bị tổn hại bởi những cuộc phản đối thiếu suy nghĩ như vậy chắc chắn sẽ làm cho nhân dân Việt Nam bao gồm cả những giáo dân đạo Chúa bị đẩy đến bờ vực của diệt vong và diệt chủng.

 

Kính mong nhận được sự giúp đỡ của  Đức Thánh Cha.

 

Kính gởi đến Đức Thánh Cha sự tôn kính là lòng tôn trọng.

 

Hoàng Hữu Phước đốn thư

Địa chỉ thư tín:

Hoàng Hữu Phước

MYA BizCorp

399B Trường Chinh, Tân Bình,

Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

GHI CHÚ RIÊNG CHO WORDPRESS.COM

 

A) Danh mục các “thư” gởi các lãnh đạo chính trị các nước:

1) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Mỹ Gus Hall (Tiếng Anh, 1978, dài 8 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy pelure lưu vì mối mọt).

2) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Chủ Tịch Đảng Cộng Sản Anh Gordon McLennan (Tiếng Anh, 1978, dài 10 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt).

3) Thư doanh nhân Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Thống Iraq Saddam Hussein (Tiếng Anh, gởi thư thường qua bưu điện và gởi bằng điện tín, thất lạc bản nháp viết tay thư, thất lạc bản nháp viết tay điện tín, thất lạc biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Tổng Thống Iraq, chỉ còn biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Đại Sứ Iraq ở Hà Nội đề nghị khẩn báo Tổng Thống Iraq, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Thư sinh viên Hoàng Thị Thu Hương (em gái út của Hoàng Hữu Phước) gởi Thủ Tướng Đức Helmut Kohl (Tiếng Đức, gởi thư bảo đảm qua bưu điện, còn lưu trong tàng thư cá nhân, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Thư Lại Thu Trúc (Trợ Lý của Hoàng Hữu Phước) gởi Tổng Thống Mỹ Barack Obama (Tiếng Anh, gởi bằng email đến Tòa Bạch Ốc, nội dung bản gốc tiếng Anh kèm bản dịch tiếng Việt tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

6) Thư Nghị sĩ  Khóa XIII Hoàng Hữu Phước gởi Đức Giáo Hoàng Francis (Tiếng Anh, gởi bằng thư và bằng email đến Vatican, nội dung bản tiếng Anh tại WordPress https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/01/letter-to-his-holiness-pope-francis/ và Twitter @HoangHuuPhuoc).

B) Danh mục các “thư” gởi các cơ quan thông tấn nước ngoài:

1) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Newsweek Mỹ (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện 1988, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu ảnh thư trả lời của Madelain Edmondson của Newsweek đăng tại Tôi và Saddam Hussein).

2) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Hãng Thông Tấn Novosti Liên Xô (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu danh sách trúng giải trên tạp chí Sputnik, với chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Letter to His Holiness Pope Francis

Ho Chi Minh City, 01 August 2017

 

His Holiness, Pope Francis

Apostolic Palace

Vatican City State, 00120

 

Subject:  The Serious Wrong-Doings of Some Bishops in Vietnam

 

Your Holiness,

 

I the undersigned Mr. Hoang Huu Phuoc, a businessman from – and a National Assembly Representative in the 2011-2016 tenure of – Vietnam, wish to convey my best compliments to Your Holiness and would like to take this opportunity to invite the kind perusal of Your Holiness to the following serious issues relating to some priests and bishops in Vietnam involving themselves in antagonizing their followers and agitating the rioting protests against the government of Vietnam, which I humbly believe are not beyond your full awareness of.

 

A) Protests Agitated by Dissident Bishops in Vietnam

 

1- The Misuse of the Vatican Flag by Vietnamese Catholic Hoi Polloi:

The Roman Catholic followers worldwide know the square Holy See Flag consisting of two equal vertical halves with a yellow hoist side and the white fly having the Vatican City coat of arms bearing the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, as well as the strict legislation and precedence of The Holy See Flag.

However, to serve the purpose of organizing protest demonstrations against the government of Vietnam under the pretext of fighting against the Taiwanese investors doing harms to the environment, the dissident bishops in Vietnam order the people of their dioceses to produce many of the so-called “Vatican Flag” in rectangle shape of two horizontal halves of white upper band and yellow lower half, either without the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, or with a strange thick red cross in the middle. To make it worse or the worst, Catholic hoi polloi have such “Vatican Flags” either shouldered, waved, or simply inserted the flagstaffs into whatever holes available on rear tailstock covers of motorcycles, i.e. leaving such “Vatican flags” flutter at the back of the women sitting behind male riders.

These bishops and the people they teach doctrines to either (a) are obviously so ignorant of the Vatican Flag, or (b) disregard the legislation and precedence of The Holy See, or (c) become traitors wishing to overthrow the Papacy of the Roman Catholic Church by designing a new Vatican Flag for separate use totally at their own discretion in Vietnam, or (d) imply that their dissidence is strongly supported and generously funded by The Holy See against the government of Vietnam, or (e) at the worst plan to make the Roman Catholic Church of Vietnam a political party competing against the Communist Party of Vietnam.

 

2- Rags for Flags:

To challenge the worldwide administration power of The Holy See, the bishops and their diocesan people rally with many fake Vatican Flags of dubious sources of fabrics. This is an insult to The Holy See.

To challenge the worldwide academicians, the same bishops and their diocesan people rally also with many unknown square colorful “flags” with unevenly serrated tails at all sides except the hoist, which they proudly wave alongside the Vietnam-bishopized “Vatican flags”. This is an insult to The Holy See.

And to challenge the worldwide-acknowledged Government of Vietnam, the same bishops and their diocesan people rally also with many rectangular yellow three-red-lined pieces of cloth, similar to the flags of the Republic of Vietnam (South Vietnam), which was never supported by the late His Holiness Pope Paul VI, and which was totally defeated for good by the communist army of the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) in 1975. Wavering the rag flags of a permanently eliminated regime when protesting under the name of the Catholic Church and the leading of their bishops, Catholic hoi polloi obviously imply they are openly anti-communist and thus put themselves in seriously violating the country’s strict applicable laws relating to the acts of advocating or abetting overthrow of the Government – rules somewhat similar to, but not as strict as, the 18 US Code 2385. Their non-compos mentis status is an insult to The Holy See.

 

3- Vietnamese Bishops as Agitators & Rioters

Even though the word “overthrow” has been found in 52 instances in 17 verses, 11 chapters and 11 books of the Holy Bible, not even a single implication of overthrowing the government is mentioned. Instead, the teaching is that every government is put in place by the sovereign will of God (cf. Psalm 75:7; Daniel 2:21), and that all governments in all places are to be honored, respected, and obeyed by believers (cf. Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10, and 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 clearly mentions, “Remind the people to be subject to rulers and authorities, to be obedient, to be ready to do whatever is good, to slander no one, to be peaceable and considerate, and always to be gentle toward everyone.” All are abundantly raised as words of wisdom from God for the very basis of peace in everybody’s harmonious cooperation with the government. Such rule of obedience is reasonable as it provides a lone option when the people can practice civil disobedience by refusing to practice the regulation of the government’s laws if such laws are proven in direct conflict with God’s laws as generated in the Holy Bible (cf. Exodus 1:15-17, Acts 4:19, and Daniel 3:14-18).

The worldwide political chaos nowadays are germinated from the blatant disregard for God’s teachings.

When the Taiwanese investors brought damage to the marine ecological environment at some coastal provinces of Vietnam, they were sued to and found guilty and fined by the Vietnam’s court as per the applicable laws of Vietnam. However, ignoring the Deuteronomy 25:1-3 that “When people have a dispute, they are to take it to court and the judges will decide the case, acquitting the innocent and condemning the guilty. If the guilty person deserves to be beaten, the judge shall make them lie down and have them flogged in his presence with the number of lashes the crime deserves, but the judge must not impose more than forty lashes”, the dissident bishops led the crowds from their dioceses for protests,  vehemently waving the “rag flags” and angrily shouting for heavier punishment to the culprits though beyond the applicable laws and even for closing of the factories though beyond the applicable laws and expelling all those Taiwanese people though beyond the applicable laws.

These recent sad incidents in Vietnam are of an example of the vital importance of how the lack of proper care of faithful parents and elders at families, of decent education at schools, of profound teachings of God’s words at churches, and of strict supervision of the higher levels of the regional Roman Catholic Church may only produce some impudent inconsiderate bishops as agitators for rioting, enmeshed in the mundane political polarities though totally unknowledgeable of communism and any other –isms, pitifully dreaming of self-involvement in insane plots to overthrow the government of Vietnam and thereupon insulting the Holy Church.

 

4- Stupidity at Agitating Bishops from Their Ignorance of History

It is obviously not beyond the knowledge of the people blessed to have had years at school that Catholicism first landed onto Vietnam’s shore through the priests aboard warships of France in its commencement of the one-hundred-year occupation – i.e. colonialization – of Vietnam. This is a bitter indisputable truth to generations of patriots of the country, as-a-matter-of-factly hindering Catholicism from becoming the main religion in Vietnam.

Instead of following teachings from the Holy Bible to lead a pious life of a Catholic to become an exemplary being to help make words of Lord God Almighty well-materialized an best-influential for the betterment of the whole nation, some bishops misuse the power entrusted to them only to make the people at dioceses their subjects and themselves the Feudal Lords owning the dioceses as if these were their isolated kingdoms. It is a preposterously nonsensical fact in Vietnam where some bishops always want their dioceses physically and spiritually separated from the rest of the nation, ignoring their citizen’s responsibility and their country’s laws.

Besides the ignorance of the profound teachings of God, the ignorance of the history of Vietnam at those bishops does not help the country develop in any aspect at all – be it economy, prestige of the country in general and of  Catholicism in particular, education, politics, and even religion.

Freedom of speech and of expression can never be for creating problems to the majority of Catholics countrywide and to poor compatriots. Whilst Catholic churches and Catholics are everywhere in Vietnam, only one or two small dioceses in some provinces follow the order or their agitating bishops to organize protests with rag flags shouting for much harsher punishment against a foreign business, closing of that business, chasing its people out of Vietnam; thus sowing further seeds of hatred from Vietnamese people of different religious beliefs towards Catholics, making “moderate” Catholics countrywide embarrassed, and forcing the government not to lessen its alertness against the Catholic bishops and Catholic communities as a whole. And last but never the least, such protests at poor provinces create disturbances badly affecting the daily toiling for a living of street vendors and destitute people doing odd jobs on pavements of roads blocked by angry vehement bishops and their naïve diocese people.

 

B) Humble Proposals

 

Born into the family of my Buddhist parents who believed in Jesus Christ (as impressed by the much exemplary respectful responsible supportive pious living of the Catholic nuns at a convent located near our home at District 3 of Saigon in 1957 who provided generous help to anybody of the neighbourhood comprising of  non-Christians only) and sent their children to Catholic high schools in Vietnam, I have some siblings who are Catholic or Evangelical Christians, and everyone in my big family regardless of a Buddhist or a Christian or just an ancestor-worshipper like myself agrees on the one and utmost point of view that we are the citizens of Vietnam first before the perception that we are children of God Almighty. This is to set it very clear that we the children of God bestowed by God on to Vietnam are prepared to annihilate without any mercy the invaders say from China or elsewhere, be them also the children of God. Vietnam First is the very motto of all the real patriots of Vietnam who pray God to bless their own country first.

With the above in mind, and with the great impression instilled from the various statements of Your Holiness, e.g. the criticisms against the abusive practices in capitalism, and particularly the one delivered by Your Holiness at the interview with Il Messaggero in June 2014 relating to “Poverty is at the center of the Gospel”, profoundly implying that the concern of communism for the poor is in fact from the concern of the poor as written in the Gospel twenty centuries earlier, which thereupon make communism a Christian, I wish to bring the following proposals to Your Holiness for consideration.

 

1) Stronger & More Effective Supervision of Local Priests and Bishops in Vietnam

The Holy See should consider to ordain a very strong Apostolic Nuncio in charge of Vietnam capable of unmasking the wrong-doings and dirty tricks of those Vietnamese priests and bishops whose plots are to besmirch The Holy See, to spoil the diplomatic ties between Vatican and Vietnam, to overthrow the Government of Vietnam, to lure naïve Catholic followers to treasons, and to distort the teachings of God.

 

2) Execution of Real Power of Vatican to Wrong-Doers

The above incidents of abuse of power to besmirch the prestige of The Holy See also ignite the necessity of execution of power of Vatican against wrong-doers using the cassocks as camouflage and Vatican as protecting armor. Excommunication is the only correct punishment imposed against the Vietnamese priests and bishops who order their diocese people to display fake Vatican Flags and rag flags at illegal protests, and lead a mundane life of lies, xenophobia, social disobedience, and morbid agitation for conviction of treason.

 

3) Materialization of Real Diplomatic Ties with the Government of Vietnam

Freedom of speech and expression includes the right whether of an individual or an organization to promote atheism or other beliefs. Any action against a regime on the pretext of its different religious belief is never a righteous observation of the freedom of speech and expression in the civilized world. The late His Holiness Pope Benedict XVI made a righteous and important step towards establishing diplomatic ties with the communist Vietnam on 25 January 2007.

However, it seems Vietnam is the only country whereat some local Catholic priests and bishops not only openly show their leadership in the efforts to do dirty tricks to create problems against the government, but also cry with crocodile’s tears whenever meeting Apostolic Nuncio, Papal Delegates, or Cardinals, as if they were under the cruel oppression and suppression and anti-Catholic campaigns of the Government of Vietnam.

The Holy See should consider the official affirmation that the Vietnamese bishops ordained by The Holy See must honour the diplomatic relation between The Holy See and the Government Vietnam, must report to The Holy See whatever problems of their concern for The Holy See to take suitable diplomatic action with the diplomatic counterparts as per diplomatic practices bilaterally agreed upon by both sides, and must understand that they have no right whatsoever to gather and lead their diocese people for anti-government protests on behalf of The Holy See and deliberate use of Vatican Flag inn any occasions outside the church premises.

 

4) Acknowledging the Power of the Government as per Teachings in Testaments

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be reminded of the obedience to the Government of Vietnam, following God’s teachings in The Holy Bible.

 

5) Retraining of Bishops in Vietnam

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be retrained on (a) their real duties and real responsibilities with the diocese and the followers, (b) the full legislation and precedence of The Holy See, and (c) the citizenship of Christians in both the earthy and the spiritual realms with the former the country and its laws and regulation (cf. Romans 13:1-7), and the latter God’s Heaven (cf. Philippians 3:20, Exodus 20:1-5, and Luke 20:25) and its doctrines, which prove anarchy is never amongst the teachings of God. The ignorance of either of the two citizenships is the very sign of wrong priests and bishops of Vietnam.

 

6) Revision of Vietnamese Translation of the Bible

It is a fact that all the Vietnamese versions of The Holy Bible have not been of excellent translation, be it the work of the Catholic or Evangelical Churches. The language is undeniably incomprehensive to every Vietnamese Christian, due to the following three issues:

(a) The present-day Vietnamese language format of alphabet writing presentation was developed by the French Jesuit missionaries in the XVIIth century to first serve the purpose of Bible teaching. The Vietnamese language in its primitive time definitely failed to accurately and sufficiently express the sense of the texts in another language, particularly from the great Holy Bible. Additionally, the French missionaries were of course not professional translators of Vietnamese language. All these make the Vietnamese versions of The Holy Bible partly clumsy and partly incomprehensive, and the spiritual education of the Vietnamese Catholics in general and Vietnamese Catholic priests could not be of a profile as high as in the Western world.

(b) Many obsolete Vietnamese wordings are still in the Vietnamese translation versions, and even some are not “translation” as they are not from any wording in the original say English version.

(b) Traditionally, the Vietnamese Christians have considered wordings in the Holy Bible the teachings of God which they must obey and respect, regardless of the fact that the Bible is in Vietnamese but not of a perfect profound translation but just an unprofessional work of amateur translators.

The above facts make the Vietnamese translation of The Holy Bible unchanged and non-updated or uncorrected for centuries. It depends totally individually on priests and bishops when reading the Bible at Church services, which their naïve followers failing to get the true context have to rely on their explanations. In a word, priests and bishops in Vietnam can easily misuse their power by misinterpreting the words of God in a poor translation of The Bible to mastermind the naïve people to involve in anti-government gatherings.

My proposal to Your Holiness is that the Vietnam’s Church should be taught by Your Holiness that any disregard to the accuracy, profound, and translation of The Holy Bible is itself a blasphemy, and that the Vietnamese translation version of The Holy Bible is allowed by The Holy See for updating and correcting.

 

As Vietnam need be stabilized and the communist government of Vietnam is the only entity capable of securing peace to the people of Vietnam, the agitation by those Catholic priests and bishops using fake flags and rag flags and inciting not only xenophobic hatred but also disobedience to the country’s laws can never be accepted. These priests and bishops need be reminded or re-educated by The Holy See that China’s invasion once the communist government of Vietnam is harmed by such thoughtless protests will surely corner the people of Vietnam including Vietnamese Christians to the definite verge of perdition and genocide.

 

The help from Your Holiness is kindly requested.

 

With every good wish to Your Holiness, I am,

Very Respectfully Yours,

 

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam’s XIIIth National Assembly Representative

Mailing address:

Hoang Huu Phuoc

MYA BizCorp

399B Truong Chinh St., Tan Binh,

Ho Chi Minh City

Vietnam

Tel: 84-1689996266

Email: hoanghuuphuoc@myabiz.biz

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

**********

Notes for the WordPress.com, regarding the personal letters to foreign institutions:

A) Letters to Political Leaders:

1) Letter to Secretary General of the US Communist Party Gus Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

2) Letter to Secretary General of the UK Communist Party Gordon McLennan (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

3) Letter to President Saddam Hussein (by Hoang Huu Phuoc, in English, sent via telegrams and postal service. Details in Vietnamese at Tôi và Saddam Hussein https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Letter to Chancellor Helmut Kohl (by Hoang Thi Thu Huong, the youngest sister of Hoang Huu Phuoc. In German. Sent via postal service. Copy available at personal archives. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Letter to President Barack Obama (by Lai Thu Truc, Secretary to Hoang Huu Phuoc. In English. Sent by email. Details with Vietnamese translation available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

B) Letters to Foreign Mainstream Media:

1) Letter to Newsweek of the USA (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1988. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details and image of reply letter from Madelein Edmondson available at Tôi và Saddam Hussein)

2) Letter to Novosti of the USSR. Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1996. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)