Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-8-2017

Bài 1:

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2013

Kính gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

V/v Thuốc nhập khẩu và sự bất minh trong kê đơn thuốc tại bịnh viện lớn ở Tp Hồ Chí Minh

Nơi nhận bản sao:

– ĐBQH Nguyễn Thị Kim Tiến (Bộ trưởng Bộ Y Tế)

– ĐBQH Huỳnh Thành Lập (Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh)

– Tổ Đại biểu Quốc hội, Đơn vị 1 (Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Phó đoàn ĐBQH  Tp HCM Trần Du Lịch)

 

Kính thưa Đại biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc Hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, xin trình bày với Đại biểu các nội dung sau:

A) Thuốc Phối Hợp Lạ:

Là người trong thời gian 1985-1995 công tác tại công ty xuất nhập khẩu nước ngoài cung ứng cho Việt Nam từ nhà máy, thiết bị, đến nguyên liệu sản xuất đa ngành trong đó có cả dược phẩm và bulk drug, tôi có sự hiểu biết nhất định về y dược qua tiếp cận các tài liệu cũng như qua tiếp xúc với các chức sắc của các công ty dược lớn – đặc biệt là của Ấn Độ, và do đó tôi rất ngạc nhiên khi quá nhiều loại thuốc đã và đang được nhập từ những nhà sản xuất hạng vô danh tiểu tốt của Ấn Độ dẫn đến việc thỉnh thoảng Bộ Y Tế phải có thông báo thu hồi thuốc này thuốc nọ của hãng đó hãng kia mà đa số của Ân Độ. Gần đây báo chí có loạt bài viết về vấn đề nhập khẩu thuốc có “hàm lượng lạ” nhưng chưa có ai đề cập đến vấn đề khác nghiêm trọng hơn, đó là thuốc có “phối hợp lạ”. Bằng một cách nào đó tại vài bịnh viện nhà nước đã xuất hiện thuốc Dianorm M do Ấn Độ sản xuất từ sự kết hợp của 80mg Gliclazide với 500mg Metformin trong mỗi viên, và được kê đơn cho bịnh nhân theo liều lượng mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 30 phút trước bửa ăn sáng, trước bửa ăn trưa, và trước bửa ăn chiều. Theo phác đồ cổ điển và “lành mạnh” giống nhau trên thế giới thì liều thuốc bình thường điều trị bệnh tiểu đường là Gliclazide uống mỗi ngày trước lúc ăn sáng 30 phút, còn Metformin uống sau 2 hoặc 3 bửa ăn chính bình thường trong ngày; trong khi đó, Dianorm M  đưa vào cơ thể người bệnh Việt Nam lượng thuốc Gliclazide cả ba buổi trong ngày, và đưa Metformin vào trước bửa ăn. Đây là phác đồ điều trị hiện đại, hay đây là kiểu phối hợp lạ nhằm thắng thầu vào Việt Nam bằng mọi giá.

Tôi cho rằng sự giám sát nghiêm túc, nghiêm khắc, nghiêm minh, của Sở Y Tế Tp Hồ Chí Minh – và Bộ Y Tế Việt Nam – có thể biết rõ hơn về những loại thuốc “phối hợp lạ” nào đã len được vào hệ thống y dược nước nhà, ngoài thứ Dianorm M nói trên mà tôi tình cờ biết được (do tôi không bao giờ cho phép bất kỳ ai trong gia đình được mua sử dụng ngay thuốc sau khi khám bệnh được kê đơn – trừ trường hợp cấp cứu – vì phải chờ tôi kiểm tra dược điển MIMS, và nhờ vậy 15 năm trước tôi đã phát hiện vị bác sĩ chức sắc ở Trung Tâm Tai-Mũi-Họng trên đường Trần Quốc Thảo đã kê đơn trị bệnh viêm họng cho con tôi với loại thuốc có chứa chất dùng trong cấp cứu trụy tim mạch, và tôi đã quyết định đi mua Amoxcicillin cho con tôi uống thay thế “thuốc trụy tim” và cháu hết bệnh sau một tuần) để có viện pháp hữu hiệu ngăn chặn vấn nạn đáng xấu hổ này.

B) Kê Đơn Thuốc Không Để Chữa Bệnh:

Vừa qua (22-6-2013), vợ tôi bị vấn đề về mắt (xuất huyết đỏ sậm màu máu). Như một phản ứng tự nhiên, tôi đưa vợ tôi đến Bệnh Viện Mắt Thành Phố ở 280 Điện Biên Phủ. Kết quả chẩn đoán là XHPKM mà tôi phải dùng đến khả năng bói toán mới hiểu được gần 50% ý nghĩa (XH phải chăng là “xuất huyết”?). Thuốc được cho trong đơn thuốc trị giá 120.656 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Systane, Noflux, và Vitamin C. Vấn đề là thuốc nhỏ mắt Systane là thứ “dầu nhờn” để trị khô mắt. Hộp thuốc không chứa toa, bên ngoài ghi tên nhà sản xuất Alcon của Mỹ, với dòng chữ hoàn toàn bất ngờ là Printed in USA (“In Tại Hoa Kỳ”). Ngoài việc cho những loại thuốc không dính dáng gì đến tình trạng mắt “XHPKM” của bệnh nhân, vấn đề tôi không thể chấp nhận là thuốc nhập này không ghi nơi xuất xứ (thí dụ: Made in USA) mà lại ghi nơi in hộp. Với thứ thuốc không rõ xuất xứ như vậy, tôi cho rằng

(a) nhất thiết phải tịch thu toàn bộ,

(b) hủy bỏ toàn bộ,

(c) trừng phạt những con người cụ thể có liên quan đến việc đưa loại “dầu nhờn” này vào Việt Nam,

(d) tăng cường chuẩn hóa nội dung bó buộc phải có về thông tin của dược phẩm trên bao bì, và

(e) nâng cao trình độ ngoại ngữ của các cơ quan chức năng phụ trách cấp phép và giám sát của ngành y tế đối với dược phẩm ngoại nhập.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau 2 tuần tuân thủ nghiêm túc “y chỉ” (tức lời phán của bác sĩ) lại thấy tình trạng bệnh mắt của vợ tôi chỉ thêm trầm trọng, tôi vội đưa vợ tôi trở lại Bệnh Viện Mắt Thành Phố ngày 06 tháng 7, và được định bệnh bằng bí chú mới là “VKM CẤP GM TY” với đơn thuốc trị giá 175.350 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Medflocin, Eporon, Noflux, và Gireba, với hai loại đầu là thuốc nhỏ mắt của Hàn Quốc.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau vài ngày sử dụng tuân thủ nghiêm túc “y chỉ”, tình trạng của vợ tôi trầm trọng hơn, buộc tôi phải tra cứu dược điển MIMS, và phát hiện sự tồi tệ sau:

–  Thuốc nhỏ mắt Medflocin trị viêm giác mạc/kết mạc nhiễm khuẩn do chủng vi khuẩn nhạy cảm sau;

– Thuốc nhỏ mắt Eporon trị viêm kết mạc và giác mạc nhưng không được dùng khi bệnh giác mạc/kết mạc do virus gây ra.

Như vậy

– Bác sĩ đã cho hai loại thuốc nhỏ mắt kỵ nhau để dùng chung;

– Bác sĩ đã không nói gì, không ghi gì trong toa thuốc cái điều mà dược điển MIMS nhắc đến, đó là nếu phải dùng 2 loại thuốc nhỏ mắt nào đó với nhau thì phải nhỏ thuốc này sau thuốc kia 15 phút.

Tôi đã quyết định không cho vợ tôi dùng tiếp các loại thuốc trên, và thay vào đó tự đi tìm mua ở hiệu thuốc tư nhân hai loại của Việt Nam là thuốc mỡ Tetracycline (rất quen thuộc ở Sài Gòn từ trước 1975), và Colflox, sau đó là thuốc nhỏ mắt Coll Tobradex của Bỉ. Sau hai tuần, vợ tôi đã hết bệnh.

Như vậy, việc khám bệnh kê đơn không để chữa bệnh, mà để tạo cơ hội cho những kẻ phá hoại có cơ hôi để bêu rếu y tế Việt Nam, đặt điều bôi nhọ chẳng hạn như bán dồn dập các loại “dầu nhờn” và thuốc nhỏ mắt đối kháng để nhằm (a) giải phóng kho thuốc ngoại nhập đã lỡ nhập, và (b) làm bệnh nặng hơn để phải nhập viện và phẫu thuật để tạo công ăn việc làm cho các phòng ban khác.

C) Kê Đơn Thuốc Bất Minh:

Cũng trong sự cố nêu trên với Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi có ghi tên thuốc Gireba. Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau nhiều tuần vợ tôi vật vả với bệnh đau mắt, tôi buộc phải tìm hiểu MIMS về tất cả các loại thuốc trong toa bịnh viện, và phát hiện Gireba là thuốc của Hàn Quốc sản xuất từ Ginkgo Biloba, tức Cao Bạch Quả, tức tương đương với Hoạt Huyết Dưỡng Não và vô số các thuốc tương tự dùng trong phòng ngừa tai biến mạch máu não. Vấn đề ở đây là không phải không nên dùng thứ ấy để chữa bệnh xuất huyết mắt, mà là trình độ hiểu biết hoặc đáng ngờ, hoặc vô y đức của bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ lẽ ra phải biết

(a) rằng rất nhiều người Việt Nam từ trung niên đã quan tâm sử dụng cao bạch quả để phòng ngừa tai biến mạch máu não,

(b) rằng rất nhiều người Việt Nam bị cao huyết áp nên đã thường sử dụng cao bạch quả, và

(c) rằng cái gọi là “thực phẩm chức năng” kiểu hiểu biết hoặc kiểu phê phán ở Việt Nam hoàn toàn đi ngược với kiểu các bác sĩ dinh dưỡng Hoa Kỳ nói về “thực phẩm chức năng” nghĩa là chúng có tác dụng của chúng và phải uống đúng liều lượng.

Cao bạch quả không phải khan hiếm đến độ phải nhập khẩu, xem thường ngay cả y lệnh của Bộ Y Tế trong ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Cao bạch quả không phải là thứ “thực phẩm chức năng” vô hại để dấu diếm tên biệt dược của nó để bịnh nhân về nhà uống Hoạt Huyết Dưỡng Não tức ginkgo biloba của Việt Nam trị tai biến mạch máu não cộng với uống Gireba tức ginkgo biloba của Hàn Quốc để trị…đau mắt, gây nên nạn đưa vào người bệnh lượng cao bạch quả nhiều hơn cần thiết. Việc kê đơn kiểu của Bệnh Viện Mắt Thành Phố là do hoặc vì vô đạo đức, hoặc do kém chuyên nghiệp, hoặc tại thiếu hiểu biết, hoặc bởi yếu chuyên môn, hoặc cả bốn, mà chỉ cần vướng một trong bốn điều này là đã không đủ tư cách tồn tại trong ngành y.

D) Kiến Nghị Vĩ Mô Về “Y Đức”:

1- Từ sự việc trên, tôi đề nghị ngành y tế Thành phố nên nghiên cứu một chuẩn mực mới có thể dưới tên gọi GPP tức Good Prescription Practice, quy định chuẩn hóa quy trình kê toa chuẩn mực của bác sĩ, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – ghi định bệnh rõ ràng, đọc được, và khi ghi tên thuốc nhất thiết phải chua thêm tên chung để bệnh nhân biết và nhận diện xem họ có đang sử dụng cùng thứ ấy (dưới tên khác) hay thuốc ấy đang có sẵn ở nhà (cùng tên hay cùng loại dưới tên khác) để tránh bị tăng lượng thuốc vào cơ thể và để tránh lãng phí, thực hành tiết kiệm, thí dụ ghi thật chi tiết như sau:

Gireba (tức ginkgo biloba hay cao bạch quả): 20 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, sau bửa ăn.

Người bệnh sẽ nhờ đó có quyền chính đáng đương nhiên được biết mình bịnh gì, uống loại thuốc gì, và có thể sẽ quyết định không mua Gireba tại bệnh viện để ra ngoài tìm mua Hoạt Huyết Dưỡng Não hoặc thứ tương tự của viện bào chế khác dưới tên Việt hay Hán Việt hay tên Tây khác với giá rẻ hơn, hoặc họ có quyền chính đáng đương nhiên mua thuốc Tanakan của Pháp đắt tiền hơn, uy tín hơn Gireba – nếu muốn, thay vì bị che dấu sự thật dưới cái tên kỳ bí Gireba trên vĩ thuốc còn dòng chữ ginkgo biloba in bằng cỡ chữ cực nhỏ bằng mực xanh lá mờ nhòe chỉ có thể thấy được dưới chiếc kính lúp.

2- Cần thay đổi tư duy kiểu “ban ơn” trong tất cả các ngành nghề, không riêng gì ngành y. Tính chuyên nghiệp cao nhất là trong phục vụ, nghĩa là trên nền nhận thức “khách hàng là vua”. Chính vì kiểu “biết ơn thầy cô” mà sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam xuống cấp. Chính vì kiểu “biết ơn y bác sĩ” mà sự nghiệp y tế ở Việt Nam phải mãi nhức đầu về cái gọi là “y đức”. Vì theo cơ sở “biết ơn” mà người trong ngành x ngành y ngành z thấy họ ở tư thế “ban ơn” và từ đó không lo trau giồi đạo đức nghề nghiệp (tức hầu hạ, phục vụ khách hàng) và chuyên môn nghiệp vụ (để thể hiện tốt nhất đạo đức nghề nghiệp) cũng như tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao cho mình). Đây là vấn đề lớn, khó thể trong một sớm một chiều có thể thay đổi được; tuy nhiên không thể không có những bước đầu tiên nhằm uốn nắn kiểu tư duy “thọ ơn” bằng cách chẳng hạn như:

a) tập trung nói nhiều về và ngợi ca tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao);

b) giảm bớt tần suất nói về sự cao quý của nghề mình – vì theo lẽ công bằng thì tất cả các nghề chính quy đều cao quý mà không có bất kỳ phân biệt đối xử nào trong xã hội thực sự văn minh, do dần dần không ngành nào nói về sự cao quý của nghề mình – trừ quân đội (công khai, y như ở các quốc gia khác) và an ninh (không công khai, y như ở các quốc gia khác); và

c) đánh thức “ý thức” của nhân sự ngành mình bằng những thông tin rằng sự bất cẩn của nhân sự một ngành như ngành y chẳng hạn, gây hại đến sức khỏe hay sinh mạng của khách hàng có thể khiến nhân sự ấy cùng gia đình trở thành đối tượng cho một vụ thảm sát báo thù như thường thấy trong phim ảnh, tiểu thuyết, phóng sự điều tra thực ở nước ngoài.

Tôi sẽ nhờ nhân viên của tôi tìm in các bài viết của tôi trên các blogs từ năm 2008 đến nay có liên quan đến y tế (thí dụ như “Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi”, “Hỡi ơi những thiên thần áo trắng”, v.v.) để gởi Đại biểu tham khảo các ý kiến tỏ sự quan tâm của tôi đối với ngành y.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Đại biểu.

Kính chúc Đại biểu sức khỏe, an khang, thịnh vượng, thành công.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Đoàn Tp HCM

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.