Monthly Archives: September 2017

Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2017

(Bài đăng trên hoanghuuphuocvietnam.blog.com ngày 29-4-2012)

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2012

Sẽ là điều bất thường nếu tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn lại chưa từng có quan hệ thân quen nào với các anh lính Việt Nam Cộng Hòa, nên nếu đã có bài viết về hai anh lính Cộng Sản tức “bộ đội” thì cũng nên có bài về các anh lính Cộng Hòa, vừa để nhớ những hồi ức về những con người thật việc thật vừa để ghi lại thời khắc lịch sử của những người mà việc kể ra ngày hôm nay sẽ có cơ hội kiểm chứng nhiều hơn do một số bậc bô lão ở khu phố Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn đang an hưởng cảnh thọ nhàn cùng con cháu.

1- Đại Tá Viên

Lúc làm “giáo sư” Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước (do tôi chỉ hơn sinh viên học trò tôi có hai tuổi, nên những học trò ấy gọi tôi là “giáo sư” và “giảng sư” do quen dùng từ ngữ những người dân Sài Gòn trước 1975 dùng để gọi các thầy cô dạy bậc trung học và đại học), tôi được Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật mời tham gia giảng dạy các lớp Trung cấp Anh văn buổi tối, với đa số học viên là “người lớn”, có vài người hơn tôi từ 10 đến 20 tuổi (trừ các học viên khác của tôi ở Trung Tâm Sinh Ngữ Số 1 thuộc Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh đa số là học sinh cấp 3, trong đó rất nhiều người đã thành đạt, như có những cô hiện nay là chức sắc tại các ngân hàng nhà nước, hay Hội Đồng Anh The British Council, v.v.), gồm những người sắp đoàn tụ với gia đình ở hải ngoại, kể cả các nhà sư. Có một học viên là nhà sư tu ở một chùa trên đường Phạm Thế Hiển, Quận 8 (lúc cả khu vực ấy còn toàn là ao rau muống chứ không phải phố thị sầm uất như hiện nay) đi bộ đến trường với chân trần không giày dép, khoác bộ y phục xám bạc thếch. Nhưng tên của nhà sư và tên ngôi chùa tôi quên mất, dù đã được mời đến ăn cơm chay dăm ba lần với các sư, biết các sư trước có “đi lính” Cộng Hòa, và xuất gia hoàn toàn không để… “trốn  lính” hay trốn… “cải tạo” vì giải ngũ xong là đi tu luôn trước ngày giải phóng ắt để xa rời những ám ảnh kinh hoàng của chiến trận; trong khi đó tôi lại còn nhớ như in tên và gương mặt của Đại tá Viên, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, nói giọng miền Nam.

Ông Viên học chăm chỉ nhưng nói tiếng Anh thì chưa như công sức đã bỏ ra. Một hôm Ông gặp tôi ở bãi giữ xe ở sân trường lúc 21g khi tan học để nói rằng vợ con Ông đã sang Mỹ một hai tuần trước ngày giải phóng, rằng Ông đã ra trại cải tạo được vài năm, rằng Ông đang chờ ngày sang Mỹ, rằng trong mấy năm trong “trại” Ông đã ở chung phòng với một linh mục, rằng linh mục này đã ở tù thời Tổng Thống Thiệu do hăng say chống Ông Thiệu tham nhũng, rằng linh mục ấy đã ở tù chung phòng với một nhà sư bị Ông Thiệu tống giam do phạm tội nuôi dấu “cán bộ Việt Cộng”, rằng vị sư thương Cộng đã dạy cho vị cha xứ ghét Thiệu các biến hóa diệu kỳ của thuật bói toán tử vi tướng số, rằng do vị cha xứ vừa tích cực chống Thiệu tham nhũng vừa có chức vụ “đại úy…tuyên úy” lo về “đạo” trong quân đội Cộng Hòa, thuộc Tâm Lý Chiến của Chiến Tranh Chính Trị tích cực … chống Cộng sau giải phóng nên được đưa vào trại cải tạo sau giải phóng, tình cờ ở chung phòng với Đại tá Viên; và rằng vị cha xứ Công Giáo đã truyền tiếp thuật bói toán tử vi và tướng số cho viên đại tá tín đồ Công Giáo. Nói tóm lại là Đại tá Viên nói xin được đến nhà tôi vào sáng Chủ Nhật để xem tử vi cho tôi, vì Ông cho rằng tôi là ông thầy giáo trẻ mà Ông rất kính trọng, rằng Ông đã “xem kỹ” cái “tướng và diện mạo” của tôi mấy tuần nay nên mong muốn xem luôn cái “số tử vi” cho đủ bộ, và rằng cái “sở học” lưu truyền từ vị sư nuôi dấu Việt Cộng sang vị linh mục chống Thiệu, rồi từ vị linh mục chống Cộng sang vị đại tá đã hết chống Cộng sẽ chỉ được Ông thi thố với tôi mà thôi do có lời dặn “thiên cơ bất khả lậu” mà Ông tuân theo do lời hứa chứ không phải do Ông tin vào cái lậu hay không lậu ấy. Tất nhiên, tôi đồng ý, một phần vì tò mò, một phần vì  tôi luôn giúp đỡ mọi học trò nên nếu Ông Viên muốn “thử nghiệm tay nghề” thì tôi cũng sẵn lòng giúp Ông thi thố.

Hôm Ông Viên đạp xe đến nhà tôi (lúc ấy tôi vẫn chưa lập gia đình), Ông vẫn như thường lệ: ăn vận chỉnh tề, áo sơ mi bỏ trong, đi giày săng-đan, xách cặp da màu nâu không còn mới. Ba Má tôi mời Ông cùng dùng bửa cơm trưa đạm bạc với gia đình. Sau đó, Ông hỏi tôi ngày sinh âm lịch (may mà Ba tôi có thói quen rất tốt là luôn giữ lại những tờ lịch đúng ngày sinh của các con mình để lưu trong hồ sơ cá nhân từng đứa, nên tôi mới cho Ông Viên xem, chứ thủa ấy làm gì có vi tính để gỏ vài cái là biết ngày âm lịch), giờ sinh, và Ông tỉ mĩ vẽ vẽ gạch gạch viết viết thành tờ có nhiều ô chữ nhật trước khi điền từ ngữ vào những chỗ trống. Ông giải thích tên các vì sao, ý nghĩa của các đường sao …xẹt, và nói rất nhiều điều mà tôi không sao nhớ hết được, ngoài nhiều tính từ quá đẹp đẽ của tiếng Việt mà một gentleman như Ông dùng để nói về tôi. Nhưng với Chị Hai và các em của tôi thì Ông chỉ xem tay và xem tướng chứ không xem tử vi, vì theo Ông, xem cho tôi là đủ biết cả gia đình phúc đức như thế nào rồi, vì trong tử vi có các cung cha mẹ và anh chị em. Tôi cố nhớ những lời Ông nói về tôi vì Ông nói rất nhiều, nhưng tôi lại dễ hiểu vô cùng khi Ông nói ngắn gọn súc tích rằng bà Chị Hai rụt rè, không lanh lợi, nhút nhát của tôi sẽ lấy chồng và xuất ngoại cùng chồng; rằng cô em út mới lên mười tuổi của tôi sẽ lấy chồng nước ngoài và xuất ngoại theo chồng; rằng tôi và em trai sẽ làm việc ở nước ngoài nhưng tôi đi ít hơn em tôi. Còn hai cô em khác của tôi vắng mặt ngày hôm ấy nên Ông không “xem” được. Vào thời điểm kinh tế khủng hoảng lạm phát đến ba chữ số, những lời của Ông giống như điều huyễn hoặc, thần kỳ, chỉ có tác dụng duy nhất như một định mức khuây khỏa cho những mơ mơ màng màng siêu thực.

Tôi dạy lớp Ông thêm hai khóa trước khi Ông đạp xe đên chào chia tay tôi lên đường sang Mỹ. Tôi không còn nhớ đến Ông cho đến Tết 2012 này khi em gái út của tôi từ New Zealand về và trong bữa cơm đoàn tụ nó nhắc đến Đại tá Viên, khen Ông nức nở, và nhắc luôn chuyện Chị Hai tôi đang là công dân Mỹ, cũng y như lời “coi bói” của viên đại tá. Tiếc là tôi không nhớ gì những phân tích của Ông về các vì sao và về tôi, ngoại trừ việc mà em gái tôi nhân tiện nhắc luôn là “Anh Năm đúng là đi nước ngoài liên tục, còn Anh Ba thì lâu lâu đi một lần”. Tôi là…Anh Ba trong gia đình gồm 7 chị em này.

Lúc đại tá Viên đi Mỹ, Ông khoảng 50 tuổi. Nay Ông ắt đã 80. Cho dù tin tức cuối cùng tôi biết từ Ông là dường như vợ Ông đã đi theo đường khác trong thời gian Ông còn học tập cải tạo ở Việt Nam, tôi vẫn tin và mong là Ông nhờ có tài bói toán để chiêm nghiệm các bể dâu của cuộc đời thiên hạ, và nhờ đó đã có cái nhìn triết nhân hơn đối với những bể dâu của chính cuộc đời mình. Nếu Ông còn sức khỏe để đọc được bài này, ắt Ông sẽ vui vì chị và các em gái của tôi nói Ông “coi bói đúng quá xá!” Tôi mong sao các anh chị là con của Đại tá Viên đọc bài này sẽ biết rằng viên sĩ quan Cộng Hòa dáng gầy quắc thước ấy đã rất yêu đời vì chiến tranh kết thúc, vì chương trình cải tạo rất thắm đượm tình người của những người chiến thắng, vì có sức khỏe tốt để lao động tốt được ra trại sớm hơn, và vì được cho phép sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông là một người học trò chăm chỉ, chiến đấu với bài học với tư thế một chiến binh, chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa mới nơi đất nước mới mà Ông tin rằng bao thử thách gian lao sẽ đón chờ. Ông là khuôn mẫu một chiến binh thực thụ: có lý tưởng, và có công tâm, vì rằng nếu chỉ có lý tưởng, người ta không còn ranh giới ngăn cách với khủng bố cực đoan. Ông là khuôn mẫu một đấu sĩ chuyên nghiệp thực thụ trên võ đài: tung các chiêu đấm uy lực, áp dụng các tiểu xảo nếu qua mắt được trọng tài, nhưng khi kết thức trận đấu, chấp nhận nhìn giải vô địch được trao cho đối thủ thắng trận, và hài lòng với vị trí thực sự của mình, vì chỉ có kẻ lưu manh đánh nhau ở đầu đường xó chợ không phải là đấu sĩ chuyên nghiệp mới nuôi lòng hận thù đối thủ đã đoạt cúp.

2-  Các Chiến Sĩ Canh và Heo

Anh Canh thuộc gia đình người Bắc di cư, tên thật là Phạm Văn Canh, và các Anh Heo gồm Heo Lớn, Heo Bụng, Heo Đời, và nhiều Heo khác là các con trai của Bà Tám Cháo Vịt, người Nam Bộ. Tất cả đều ở ngõ hẽm đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đối diện với nhà Ba Má tôi. Hiện chỉ còn Anh Canh ở nơi chốn cũ. Anh Heo Bụng là sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa, người to vạm vở giống đô vật, tính tình nghiêm khắc, đã theo chiến hạm đang neo đậu ngoài khơi bỏ chạy sang Mỹ ngày giải phóng. Vài anh Heo khác sau đó được Anh Heo Bụng bảo lãnh sang Mỹ, chỉ có Anh Heo Lớn còn ở Việt Nam, hiện ở gần Cà Phê Cheo Leo sau lưng Nhà Hàng Sinh Đôi đường Lý Thái Tổ, và một Anh Heo mất hai chục năm trước vì đạp xích lô bị tai nạn giao thông. Bà Tám cũng có người cháu là Anh Thân, lính dù “thiên thần mũ đỏ” nhưng là… “lính kiểng” vì Bà Tám chạy lo tiền để Anh Thân cùng các Anh Heo khác khỏi ra mặt trận (chỉ có Anh Heo Bụng là lính thật), ở nhà mặc quân phục rằn ri và giày bốt…phụ Bà Tám nấu cháo lòng và đẩy xe cháo ra khu Lý Thái Tổ bán từ trưa đến tối.

Anh Canh là một người lính binh nhì của Quân Đội Cộng Hòa, hiền lành, ít nói, không phải ra chiến trận. Cha mẹ anh có quá nhiều con, nhà lại nghèo, nên sau giải phóng, khi Anh Canh lấy vợ người Đà Lạt, hai vợ chồng anh phải xin ở trú dưới mái hiên của ngôi nhà đối diện nhà Ba Má tôi. Vậy mà những tấm bìa cứng, những tấm tole cũ che chắn tạm bợ cho cái tổ ấm ấy đã là nơi nhiều chục năm qua vợ chồng anh sống hạnh phúc với một đàn con bụ bẫm, học hành giỏi giang, nhờ thu nhập từ chiếc xe bán bánh mì “thịt nai” dạo của anh. Những lúc cơ cực khó khăn, vợ anh qua gặp Má tôi, và nhiều năm nay Anh Canh trở thành người hàng xóm tốt bụng luôn bảo vệ gia đình tôi, chăm sóc Ba Má tôi khi Ba Má tôi đau ốm, và khi Ba tôi mất, Anh Canh ngày ngày trông chừng an ninh an toàn cho nhà Má tôi, không để bất kỳ kẻ gian người xấu nào động đến chúng tôi. Thỉnh thoảng Chị Canh về quê thăm mộ cha mẹ mà Má tôi đã trợ giúp quy kết xây dựng lại mộ phần, và khi trở vào hay tặng Má tôi các thứ cây nhà lá vườn như chuối Đà Lạt, bơ Đà Lạt, v.v. Các con anh lập gia đình và anh đã có cháu. Một cậu con của anh rất đẹp trai, thường xuất hiện trên TV trong những clip quảng cáo dầu gội đầu hay mỹ phẩm. Và đầu năm 2012 này vợ chồng anh dọn về ngôi nhà 4 hay 5 tầng gần đó, còn mái hiên mà Anh Chị cùng đàn con núp mưa mấy chục năm qua nay dùng làm tiệm sửa đồ điện tử cho một chàng con rể. Chúng tôi rủ nhau kiếm tìm đồ hư vật hỏng trong nhà để đưa đến sửa mở hàng giúp cậu con rể ấy, thay vì theo thói quen bấy lâu nay là tặng các món không dùng cho những người lấy rác hay những bà cụ mua ve chai. Còn anh thì sáng sớm nào cũng rảo bước tạt ngang nhà Má tôi để hỏi thăm sức khỏe của Má tôi và xung phong mua đất về bón cho các chậu cây của Má tôi ở trước sân và trên sân thượng.

Trước 1975, khu phố nhà Ba Má tôi là khu có dân “anh chị” tức … “dân dao búa” trú ngụ. Nhiều phen cảnh sát đô thành phải bủa vây, lùng sục, tấn công sâu vào ngõ, bắt trói thúc ké giải đi vài “anh chị” (tất nhiên, các “anh chị” này vài ngày sau tiếp tục đi qua đi lại trong xóm dạo chơi). Một đặc điểm rất hay của Sài Gòn thời trước 1975 là: ‘anh chị” ở đâu thì cứ “anh chị”, chứ đừng có mà giở thói “anh chị” ở tại xóm nhà. Vì vậy, gia đình Ba Má tôi vững như bàn thạch: được bảo vệ bởi các chiến sĩ Cộng Hòa và các…“anh chị”, đơn giản vì các chiến sĩ và các “anh chị” này có…cha mẹ, những người rất kính trọng gia đình học thức, luôn gọi Ba Má tôi là Thầy Hai, Cô Hai, và chúng tôi là con của Ba Má nên cũng được…ăn theo. Hiện chỉ còn Bà Năm Vé Số là còn mỗi sáng được con dâu đẩy xe ra ngồi phơi nắng ở đầu ngõ, còn Bà Tám Cháo Lòng đã mất hai mươi năm trước. Nếu các con của Bà Tám đều là quân nhân mà Bà gọi là Heo cho dễ nuôi theo dị đoan của dân Nam Bộ, thì các con của Bà Năm đều là… “anh chị”! Thế nhưng cả hai bà đều kính trọng Ba Má tôi không chỉ vì Ba tôi là Thầy, mà còn vì Má tôi cả đời lăng xăng cứu giúp thiên hạ. Và thế là cái xóm nhỏ ấy chung sống như những người tốt với nhau. Nhiều năm nay, sáng nào trước khi rời nhà Má tôi để ra về, tôi đều đi bộ vài bước đến xe lăn của Bà Năm để hỏi thăm sức khỏe của Bà, rồi giơ tay chào một đứa con “anh chị” của Bà nếu gặp … “ảnh” đi ngang, hoặc chào các anh Tâm, anh Hải, là những quân nhân Cộng Hòa, con Bà Bảy Mè (cũng đã mất), hiện hành nghề xe ôm, và nhiều anh khác nữa. Khi tôi ra ứng cử quốc hội năm 2011, cả xóm khi nhìn thấy hình tôi trên các bản tin giới thiệu ứng cử viên, đã tự động đi vận động khắp nơi khiến nhiều người quen đã dời sang quận khác cũng biết, và phone nói với Má tôi là khi họ đến tất cả các chùa vận động mới được các ni sư giải thích là “ông ấy” đâu thuộc khu vực bầu cử quận của các chùa đâu mà bỏ phiếu cho “ổng” được, nhưng hứa là sẽ phone cho các chùa ở các quận thuộc khu vực của “ổng” để vận động thiện nam tín nữ bỏ phiếu cho “ổng”, tức là tôi, con của “Cô Hai” và “Thầy Hai”.

Đó là những người lính Cộng Hòa, những người bình dân, ít học, bộc trực, những người trước đây bảo vệ gia đình tôi trước kẻ xấu, không cho kẻ lưu manh từ nơi khác đến quấy rầy, và hiện nay là những người lao động mạnh khỏe, nghèo, lương thiện, mà tôi kính trọng xưng em và gọi họ là anh vì họ lớn tuổi hơn tôi, còn họ đến giờ vẫn xem tôi như cậu Trọng thư sinh trói gà không chặt ngày xưa (dù xưa tôi chừng 48 ký, sau này lên 84 ký và nhờ giữ gìn sức khỏe nên còn 70 ký) để luôn bảo vệ, đỡ đần tôi trong những việc mang vác vật nặng mỗi khi thấy tôi chở lủ khủ đồ đạc về nhà Má tôi.

Những con người bình dị đáng kính ấy chưa bao giờ có một ngày nào nghĩ đến từ “chống Cộng”, đơn giản vì cái họ thích là đời sống không có chiến tranh, đời sống dành cho sum họp và sinh kế gia đình, đời sống giữa một cộng đồng xóm làng dù nhỏ nhưng miễn sao thấm nhuần ý nghĩa của tương trợ, thọ ơn và đáp nghĩa. Chính họ qua đời sống và cách sống của họ chứ không phải các tác phẩm văn học cách mạng đã giúp tôi không những nghiệm ra được ý nghĩa cao vời của hòa bình, tự do, hạnh phúc, mà còn hiểu ra rằng những “chiến sĩ” thực thụ của Việt Nam Cộng Hòa như Đại tá Viên chỉ ngoan cường trên chiến trận khi đối diện với đối phương chứ không căm thù người chiến thắng, vì họ là những đấu sĩ chuyên nghiệp.

Những con người bình dị đáng kính ấy không “chống Cộng”, đơn giản vì họ căm ghét chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, nuôi giấc mơ xây dựng gia đình hạnh phúc bên đàn con, và có cuộc sống ngày càng tốt hơn mà chỉ có hòa bình mới đem đến cho họ.

Một đội bóng thuộc FIFA thua trận chung kết World Cup không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đội vô địch. Họ còn được hưởng huy chương bạc vẻ vang.

Một đấu sĩ thuộc liên đoàn quyền anh quốc tế thua trận chung kết quyền anh hạng nặng thế giới không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đấu sĩ được đeo đai vô địch. Anh còn được hưởng số tiền thưởng không ít hơn người ấy là bao.

Một “chiến sĩ” Việt Nam Cộng Hòa cùng thuộc dân tộc Việt Nam, nhận lệnh đầu hàng của đương kim tổng thống, không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đoàn quân chiến thắng. Anh còn được hưởng cuộc sống mới trong hòa bình không còn máu chảy thịt rơi, hạnh phúc giã từ vũ khí để về xum họp lại với gia đình, và danh dự người dân một quốc gia thống nhất ngày càng cường thịnh.

Đội bóng thua hận thù đội bóng thắng, quay ra chống phá, bôi nhọ đội bóng thắng: dứt khoát đó là đội kiểu các trẻ em lang thang ở các đường hẻm tồi tàn khu ổ chuột xứ miền lạc hậu khổ nghèo nào đó trên thế giới chứ không trong hàng ngũ FIFA.

Đấu sĩ thua trận hận thù đấu sĩ thắng trận, quay ra chống phá, bôi nhọ đấu sĩ thắng trận: dứt khoát đó là tay mặc “tà lỏn” tham gia trận đánh nhau ở giữa đồng trống phục vụ cho nhóm cá độ đã chán xem đá gà.

“Chiến sĩ” thua trận và căm thù đoàn quân chiến thắng, quay ra chống phá bôi nhọ đất nước của bên chiến thắng, ngụy biện là chống Cộng sản, thì dứt khoát đó không thể nào có tư cách ngẫng cao đầu tự nhận bản thân đã từng là chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thậm chí những kẻ chống phá và bôi nhọ bên thắng trận lại toàn là những đấng trong chiến tranh đã là lính kiểng, lính ma, sĩ quan chuyên núp sau lưng binh đoàn viễn chinh Mỹ và đồng minh nên kinh nghiệm thu dọn chiến trường luôn trỗi vượt kinh nghiệm chiến đấu cận chiến giáp-lá-cà, và vì vậy chỉ phát huy lòng anh dũng can đảm chường mặt ra với đời khi đứng trên xe jeep thuê, duyệt “binh” ngày “quốc hận” trên đất nước Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…

Tôi và Bùi Giáng September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội September 27, 2017

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng January 9, 2015

Advertisements

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-9-2017

(Bài đăng lần đầu ngày 20-3-2012 trên Emotino tại http://www.emotino.com/bai-viet/19505/toi-va-hai-anh-bo-doi)

HHP Manulife

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-3-2012

Anh Bộ Đội Thứ Nhất:

Vào năm 1989 lúc đang thực hiện chuyến xuất khẩu gạo có giá trị thương mại đầu tiên của Việt Nam, tôi biết đến anh VVK. Thủa ấy Việt Nam chưa có luật đầu tư nước ngoài, chưa có luật lao động, chưa có luật thuế thu nhập, và chưa có pager tức máy nhắn tin hay máy fax hoặc vô số những thứ khác; còn số lượng văn phòng đại diện nước ngoài đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón; và tôi được những người làm việc cho các văn phòng lèo tèo ấy cho rằng tôi là người sang trọng nhất vì tài xế của tôi là người nước ngoài. Chẳng qua vì tôi cương quyết không chịu học lái xe, làm ông sếp nước ngoài buộc phải lái xe đến nhà tôi đón tôi đi làm mỗi ngày thay vì nhập thêm một chiếc ô-tô diện “tạm nhập tái xuất” khác cho tôi. Cũng nhờ vậy mà tôi được gặp anh VVK.

Do nhu cầu đi lại liên tục đến thăm các kho gạo, các cơ quan nhà nước (như Vinacontrol, công ty kiểm kiện, và cảng vụ, v.v.) , các công ty cung ứng gạo ở các tỉnh Miền Tây, các công ty hàng hải, v.v., một chiếc Toyota Crown sử dụng cho văn phòng đại diện không đủ phục vụ kịp thời nhất là khi ông sếp đi một đường, tôi đi một nẻo, tất bật lo ngày đêm theo sát tiến độ lên hàng trên bờ và từ xà lan cặp mạn tàu. Nhưng thủa ấy lại chưa có xe taxi. Thế là tôi liên hệ với Seaprodex gần đấy (văn phòng tôi nhiều năm đóng ở tầng 4 của Majestic Hotel số 1 Đồng Khởi, về sau chuyển qua tầng 3 tòa nhà Seaprodex đối diện tại số 2 Đồng Khởi) đề nghị cho thuê xe và tài xế trong vài tuần. Thấy tôi ở tập đoàn Công-Thương-Kỹ Birla hùng mạnh “một mình một chợ” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thủa ban đầu lưu luyến ấy, và sẵn sàng chấp nhận bất cứ giá tiền nào, ông Phó Tổng Giám Đốc công ty liên doanh của Seaprodex và Liên Xô tình nguyện để xe của ông và tài xế của ông phục vụ tôi thay vì điều xe của một vị cấp trưởng phòng dù tôi chỉ yêu cầu xe có máy lạnh (thủa ấy rất ít xe có máy lạnh, vì ngay cả các quan chức các tổng công ty nhà nước đều nhập xe Lada của Liên Xô theo phong trào tiết kiệm để khoe mẽ rằng ta đây không hoang phí tiền thuế của dân) chứ tính tôi bình dân, không câu nệ, tuy luôn thắt cravat và veston chỉnh tề (ở thời điểm chưa có quan chức nào thắt cravat và đi giày tây cả vì như thế là mất tính quần chúng không gần gủi với nhân dân).

Khi ngồi cạnh anh VVK trên xe (lúc đi công tác một mình, tôi luôn ngồi cạnh tài xế, vì tôi muốn ngắm cảnh, ghét ngắm … gáy người khác), tôi nghe anh kể anh là bộ đội ngoài Bắc vào, nhà ở miệt Bình Chánh gần ranh giới tỉnh Long An, có vợ và một … tá con. Vì nghèo nên mỗi ngày lúc 2 giờ 30 sáng anh đã phải đạp xe đi bỏ mối cây giống dọc đường lên Thành phố Hồ Chí Minh, và do đó chưa 4 giờ anh đã có mặt ở Seaprodex. Đến sớm, không biết làm gì, anh xách nước lau chùi xe sạch sẽ, và đến 7 giờ thì lái xe đi đón sếp là Ông Sơn, Phó Tổng Giám Đốc công ty. Khi đưa tôi về nhà hàng Majestic dùng cơm với ban lãnh đạo Vinacontrol, dù được tôi căn dặn hãy đi ăn trưa, anh nhe răng cười nhân hậu, đứng phía ngoài đường gần đuôi xe dưới trời nắng. Lúc ra xe để trở lại Cảng Khánh Hội, tôi hỏi sao anh không đi ăn trưa lại đứng bên cạnh xe hoài thì anh đáp do sợ ông đi qua bà đi lại cọ quẹt trầy sướt xe (dù thủa ấy đường sá vắng hoe chứ nào có cảnh ùn tắc giao thông và nào có chuyện người đi xe vất bỏ phong cách lịch lãm khi sử dụng công lộ phóng chạy luôn lên lề đường dành cho người đi bộ). Khi tôi nói anh vẫn có thể mua ổ bánh mì thịt để vừa đứng trông xe vừa ăn, thì anh nhe răng cười rằng tác phong như thế thì mấy ông Tây trong Majestic nhìn thấy sẽ cười chê người Việt mình, và rằng ăn bánh mì thịt sẽ có hơi thở không phù hợp với bên trong sang trọng của chiếc xe Toyota Corolla sợ làm tôi không hài lòng và nhất là nếu có ông Tây nào cùng đi với tôi trong xe. Tôi hỏi vậy sao anh không mua một ổ bánh mì không hoặc bánh mì ngọt để ăn thì anh nói Đồng Khởi sang quá nên đâu mua được đồ ăn của người nghèo. Lần thuê xe đợt sau, tôi có đi Maxim hay Majestic ăn trưa là dặn nhà hàng đem một phần “fast food” cho anh gồm bánh mì sandwich và hotdog cùng phô-mai, nhưng mãi sau mới biết anh vẫn không ăn gì với lý do để tối đem mấy gói đồ ăn đó về cho các con ăn cho bổ dưỡng. Tôi bó tay!

Thế rồi vì mến anh bộ đội nhân hậu và lương thiện, tôi lần nào ký hợp đồng thuê xe của Seaprodex đều yêu cầu anh K là người phục vụ. Tôi quyết định phải giúp đỡ anh vì anh đã chứng minh được anh là người tốt, có trách nhiệm, lương thiện, yêu gia đình. Trước tiên, tôi giúp anh mua một ngôi nhà nhỏ bên Thủ Thiêm để anh thậm chí không cần đạp xe đi làm vì chỉ cần bước ra khỏi Seaprodex, băng qua bên kia đường là anh đã bước lên phà sang sông về nhà cũng ở ven sông. Sau đó, tôi giúp vốn cho anh bằng nhiều cách để anh sau đó mua được một xe tải container rồi thuê người lái làm dịch vụ vận tải, và anh trở thành ông chủ nhỏ. Một trong những cách giúp vốn là khi lãnh đạo công ty anh muốn tậu xe mới, thương anh chân chất nên muốn bán thanh lý chiếc Corolla cho anh, và anh cầu cứu tôi cho vay tiền mua xe bán kiếm lời. Tôi đã phone cho anh Cường (chủ một cơ sở điện lạnh thường sửa máy lạnh cho xe Crown của văn phòng tôi và lúc này phát đạt nên  có một salon ô-tô trên đường Trần Hưng Đạo, Quận 1) nhờ anh cho anh K mượn tiền mua xe. Tất nhiên, anh Cường đưa ngay một giỏ tiền mặt cho anh K mà không giữ giấy tờ gì của anh K cũng như chẳng yêu cầu tôi phải viết giấy bảo lãnh cam đoan gì cả. Tất cả vì tôi có uy tín thanh liêm nghiêm khắc trong thế giới xuất nhập khẩu nhỏ bé thời bấy giờ nên lời nói của tôi là quá đủ cho các đại gia…tiền mặt thủa ấy. Mua được xe với giá quá hời, anh K bán luôn cho anh Cường, rồi cầm một phong bì dày cộm đưa cho tôi để “gởi lại phần trăm đền ơn”, và tất nhiên tôi không nhận, bảo anh hãy dùng tiền đó mà xây sửa nhà cho khang trang thêm và lo đóng tiền học cho cả tá con.

Khi tôi sang công ty khác năm 1996, anh K vẫn còn công tác tại Seaprodex. Tết năm nào anh cũng đưa vợ đến gởi cho tôi quà Tết. Ngay từ lần đầu tôi đã từ chối nhận, với lý do nào là tôi không sát sinh và ăn chay nên đừng mua lạp xưởng, nào là bị tiểu đường và cao huyết áp cộng với đau bao tử lại thêm dị ứng tất tần tật với các món ăn thức uống trên đời nên anh đừng mua bánh kẹo, trái cây, rượu bia, nước ngọt, nói chung là tôi bịnh đủ thứ nên chỉ sống bằng cách ăn…không khí thôi, còn tiền thì đừng gởi vì nhà tôi chật hẹp không có chỗ cất mấy bó đó. Anh bảo thấy tôi là tổ xạo vì ăn mặn khỏe uống ngọt mạnh chứ đâu thấy mấy vụ “cao áp” với “đường tăng”, nên để giỏ quà lại cùng hai con gà mái mập bị trói giò rồi giục vợ lên xe chạy mất. Tránh né không xong, tôi phải dặn vợ tôi từ nay về sau hễ Tết sắp đến là phải chuẩn bị giỏ quà thật hậu hỉ để gởi đáp lại anh K mỗi khi vợ chồng anh … xuất hiện. Sau này, mỗi lần chúng tôi đến dự tiệc cưới của một đứa con anh là anh giới thiệu oang oang bằng micro với hàng trăm thực khách rằng vợ chồng anh sinh ra chú rể ấy nhưng tôi mới là người nuôi cháu ấy nên người, rồi bắt cô dâu chú rể đến mời rượu vợ chồng tôi. Có lần chờ tôi uống rượu xong, anh khom người xuống nói nhỏ vào tai tôi rằng hai chục năm rồi vẫn thấy tôi ăn mặn khỏe uống ngọt mạnh chớ chưa thấy mấy vụ “cao áp” với “đường tăng”. Tôi đốp chát lại rằng ngày xưa tôi phải nói thế là có mục đích nhắc khéo anh mang tới hồng sâm ngàn năm và linh chi vạn tuổi mà anh chẳng hiểu gì sất khiến tôi chờ dài cổ hươu chẳng được xơ múi gì! Vợ chồng anh và dâu rể cười hả hả ầm vang, lúc lắc sánh đổ cả rượu cùng bia, thật phí của giời!

Cách nay vài năm, anh làm tôi cà lăm khi đến khoe với vợ tôi rằng nhờ 20 năm trước tôi cho anh căn nhà nên nay anh được nhà nước đền bù mấy tỷ do giải tỏa phục vụ công trình đường hầm Thủ Thiêm, nhờ vậy anh đã thành…tỷ phú có tiền mua biệt thự và xây mấy dãy nhà cho thuê hàng tháng ngồi mát ăn bát vàng chỉ có việc làm nặng nhọc sức lực duy nhất là đi thu tiền về cột dây thun thành nhiều bó, còn lao tâm khổ trí là phải tìm nơi để chất nhét mấy bó đó. Anh còn vui mồm vui miệng kể luôn cho vợ tôi biết tôi là ân nhân của gia đình anh, vì ngoài căn nhà tôi còn giúp vốn cho anh nuôi đàn con nên người bây giờ đứa nào cũng làm cho công ty nước ngoài hoặc nước trong, có một cậu làm sĩ quan công an bí thư Đoàn, có cô làm ở Vietnam Airlines, có cậu làm thạc sĩ Toán-Tin giảng viên đại học sắp trình luận án tiến sĩ, có cô trở thành vị quản lý mà các công ty đầu tư địa ốc nước ngoài săn đón chiêu dụ, và mấy đứa khác làm cho nước ngoài nên đi ra ngoài nước hoài, v.v., thoát cảnh thất học bắt ốc mò cua ở ruộng đồng Bình Chánh, Tân An. Khi tôi đi làm về, vợ tôi thuật lại, rồi cật vấn tôi tại sao chỉ cho vợ tôi biết việc gởi ít tiền cho cả tiểu đội con cái của anh K học nhưng lại dấu việc mua nhà mua xe tải cho anh K, và tại sao mua đất bên Thủ Thiêm cho anh K mà không nhân tiện mua luôn vài miếng cho…vợ tôi để ngày nay …“được như anh K”, làm tôi lại phải nói dối rằng ấy là do anh K vui tính phóng đại thế thôi chứ tại anh ấy tốt nên Trời giúp, còn tôi chỉ cho anh ấy có vài ba USD lẻ tẻ chắc ảnh lấy tiền đó mua vé số rồi trúng độc đắc cặp mấy chục ấy mà. May mà vợ tôi tin, nhưng tôi lại thấy nàng bắt đầu lâu lâu thử mua…một tờ vé số, dù mấy chục năm nay biết tính tôi là có đi lễ chùa nhưng chẳng cúng chùa bao giờ mà dùng tiền giúp người nghèo bất kể đạo nào, còn mua vé số thì đem vào công ty tặng hết cho nhân viên hoặc cho mấy người bán ve chai, hốt rác, hoặc mua vé số xong là nhét vé số vô túi người bán vé số nếu người bán là người khuyết tật hay có dáng dấp học trò, để mong may ra Trời cho họ trúng số thoát được cảnh khó khăn chăng.

Tết năm nay 2012, anh một mình đến gặp vợ chồng tôi gởi quà tết. Nhưng năm nay anh trái tính trái nết, có lẽ do tuổi tác chăng, vì anh không chịu nhận giỏ quà của vợ chồng tôi, đã vậy còn đứng ngoài sân nói oang oang như thể muốn đánh thức mấy bà hàng xóm ngủ nướng rằng: “Ông bà ta nói một miếng khi đói bằng một gói khi no. Vậy mà lúc tôi đói, anh đâu có cho miếng mà cho hết gói này đến gói kia! Tôi trả ơn anh sao cũng không đủ, sao lại nhận quà của anh. Mấy ông anh tôi còn bảo họ là ruột thịt mà không giúp gì tôi, và nói anh giúp người lạ làm giàu thì chắc chắn anh không phải là đại gia vì đại gia chỉ cho tiền giúp người thoát đói chứ không giúp người làm giàu bao giờ!” Anh K làm tôi nhận ra một điều là mấy câu tục ngữ Việt được người Việt vận dụng vặn vẹo hay thật! Văn chương bình dân truyền khẩu thế mà hay ra phết.

Anh K là người đã làm tôi bỏ vĩnh viễn ý định mua ô-tô, vì chỉ có anh là người tôi mong muốn làm tài xế cho mình. Anh đã giải nghệ từ lâu, sau khi trở thành ông bố đầy kiêu hãnh của một đàn con tất cả đã trở thành những công dân tốt của đất nước này, những đứa con thành đạt đã không muốn cha mình tiếp tục lao lung lái xe phục dịch người khác lúc tuổi đã cao. Anh K là người sống tích cực, luôn cười vui nhân hậu, yêu đời, và đó là lý do hiện nay anh xin vào làm nhân viên cho một công ty nọ dù nhiều đứa con của anh cũng đã trở thành tỷ phú và chẳng đứa nào muốn bố chúng không hưởng nhàn. Anh kể vợ tôi rằng các con anh muốn đến thăm tôi nhưng Anh đã thuật chúng nghe lời tôi rằng chỉ cần sống và làm việc như những công dân lương thiện yêu nước là đã đền ơn đầy đủ cho tôi rồi. Anh thậm chí còn nói ngay khi thấy đứa con nào của Anh có dấu hiệu bê trể, tà tà, kém tích cực, là Anh đe dọa rằng sẽ báo tôi hay, và thế là đâu lại vào đấy. Thế đấy, tôi lại trở thành Ông Kẹ để hù các công dân trưởng thành và giàu có ư?

Anh Bộ Đội Thứ Nhì:

Nếu Anh K người Bắc, thì anh PVC là người Nam Bộ. Tôi biết anh khi tôi làm giám đốc điều hành tại một trong 9 đơn vị của một công ty nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996-1998.  Anh đi nghĩa vụ quân sự  sau năm 1975 và chiến đấu tại Campuchia. Khi xuất ngũ, anh làm thợ điện tử và trở thành nhân viên bảo vệ được công ty biên chế vào đơn vị của tôi. Anh ăn chay trường. Tôi cao 1m70 và đứng thấp hơn anh dù tôi đi bốt đế cao 5cm thành 1m75! Không như những lãnh đạo khác trong công ty, tôi hay bất ngờ đi kiểm tra giám sát cơ sở, và nhiều khi đi taxi chạy chầm chậm ngang cơ quan lúc 2 giờ sáng, tôi thấy anh vẫn ngồi tỉnh táo ở vị trí chốt canh gác, thay vì bỏ vào văn phòng bật máy lạnh nằm ghế bố ngủ khò như thói quen của nhiều đồng nghiệp khác thuộc tầng lớp…cao hơn. Anh khiến tôi có ý nghĩ rằng dù làm việc ở đâu, tôi chỉ sẽ yên tâm nếu công ty của tôi có anh làm nhân viên bảo vệ. Và với người tốt như anh, tôi tự nhủ sẽ giúp khi có điều kiện.

Thế rồi luồng gió mới của cải cách hành chính đã đến với phong trào mang tên “tinh giản biên chế”. Trong công ty nhà nước nơi không những con cái ruột thịt của ban lãnh đạo mà ngay cả người quen xa lắc xa lơ kiểu ở cùng quê hay con cái của hàng xóm của các vị ấy được ưu ái chiếm hữu các công việc từ nhàn hạ đến giản đơn, thì việc tinh giản đương nhiên sẽ nhắm đến các đối tượng không có ô dù che nắng che mưa bị đưa ra hứng mưa hứng nắng làm vật hy sinh. Ông Tổng Giám Đốc đã “biên chế” ấn nhét vào đơn vị của tôi ba người thân thiết của ông gồm một em gái ruột làm nhân viên tạp vụ, một người dưng nước lã (có công…dạy kèm tư gia cho con của ông) làm trưởng phòng giáo vụ, và một đứa cháu làm nhân viên bảo vệ, thì tất nhiên Phòng Tổ Chức Nhân Sự sẽ đưa anh C vào danh sách cho thôi việc để anh về nhà tiếp tục hành nghề sửa điện máy tivi cho công ty được tiếng tốt là thực hiện nghiêm túc tinh giản biên chế. Tất nhiên, giám đốc như tôi thì cách chi can thiệp được vào các quyết định của ban tổng giám đốc. Nhân khi đang tiến hành đấu tranh đơn độc chống sự tham ô của “ông Tổng” và cùng lúc được một công ty Mỹ tiếp cận mời mọc, tôi nhận lời bỏ cơ quan nhà nước của “ông Tổng” ấy để qua làm giám đốc điều hành cho người Mỹ năm 1999, và ngay lập tức đến nhà mời anh C làm việc. Ở công ty mới này, tôi mua bảo hiểm nhân thọ của Prudential cho tất cả nhân viên – trở thành người đầu tiên ở Việt Nam “bày” cho bảo hiểm nhân thọ mô hình bảo hiểm ấy, và khi tôi sang công ty khác vẫn tiếp tục xuất tiền túi đóng bảo phí cho riêng anh C thêm vài năm cho đến khi anh kiên trì năn nỉ thành công. Sau này anh phát bệnh cao huyết áp nặng và đau bao tử nặng, phải đi cấp cứu mấy lần thập tử nhất sinh, và buộc phải ở nhà sửa tivi chứ không thể đi làm việc nơi khác, thậm chí không được sử dụng xe đi lại đó đây.

Vài năm sau, tôi nhận được điện thoại của con gái anh nói đang cùng mẹ chờ tôi dưới sảnh. Tôi vội từ lầu 12 xuống gặp hai mẹ con, và khi biết cháu muốn mượn tiền để tiếp tục việc học sau lớp 12, tôi đến máy ATM ngay đó để rút tiền trao cho cháu, và dặn mỗi khi cần tiền chi cho việc học tập, mua sắm phục vụ việc học, v.v., thì cháu cứ đến lấy. Tất nhiên, tôi dặn họ giữ bí mật đừng cho vợ tôi hay. Từ đó, cứ mỗi khi đến lúc đóng học phí hay cần tiền mua tài liệu học tập là cháu đến gặp tôi. Năm kỉa năm kia, cháu tốt nghiệp đại học tài chính-kế toán và nhờ tôi tư vấn khi có hai nơi muốn tuyển dụng cháu làm nhân viên. Tôi khuyên cháu chọn công ty X vì đó là công ty đa quốc gia, chuyên ngành, có danh tiếng hoàn cầu, dù họ trả lương …“bèo”, đừng nhận lời công ty Y kia vì nhỏ, lĩnh vực hoạt động trái ngành, không rõ về tiếng tăm hay tiếng tai, dù họ trả lương cao gấp ba bốn lần lương ngân hàng Việt Nam cho chức danh tương tự. Tôi cũng khuyên cháu đừng nghĩ gì đến tiền lương khi bắt đầu đi làm công việc đầu tiên trong đời, mà hãy dành 4 hay 5 năm đầu tiên tận tụy làm việc để thu kinh nghiệm, quen phong cách chuyên nghiệp của “đại gia ngoại”, chung hưởng hào quang danh tiếng của họ, và sau đó sẽ thấy kết quả tỏa sáng từ “sự hy sinh” ấy. Tất nhiên, cháu nghe lời tôi làm việc nhận lương bèo dù nhà nghèo, đơn giản vì anh C bảo các con anh phải nghe lời tôi mới thành công. Vậy mà mới làm việc được một phần tư thời gian của năm năm tại công ty X của Mỹ, cháu đã khoe với tôi là được công ty Z của Pháp chiêu dụ, mời về làm lãnh đạo với mức lương rất cao. Năm ngoái, khi vợ chồng tôi đến thăm anh C lúc nghe tin anh vừa về từ phòng cấp cứu, cô bé trẻ tuổi tài cao ấy chạy xe tay ga mới màu đỏ chói đi ăn kem với bạn về tới đã vội vào nhà lấy ra một phong bì dày trao cho tôi và nói gì đó không bằng tiếng Việt, chẳng phải tiếng Anh, không giống tiếng Pháp, nói chung là nói chẳng nên lời mà tôi dùng kỹ thuật “đuổi môi bắt chữ” (na ná giống gameshow “đuổi hình bắt chữ” của Xuân Bắc) nhưng cũng không hiểu, nên vợ anh C phải bước ra làm thông dịch viên nói giúp rằng cháu bé ấy muốn hoàn lại số tiền đã mượn của tôi nhiều năm qua vì nay đã có khả năng phụng dưỡng cha mẹ, nuôi mấy đứa em trai vào đại học, mua sắm đủ thứ rồi và đến lúc phải trả lại tiền vay. Tôi dẫy nẩy, không nhận, bảo rằng tôi không có ý cho mượn bao giờ nên đâu có … ghi sổ sách, đâu có ghi mức…lãi suất cho vay, bây giờ không biết đủ thiếu ra sao, nên nếu nhận dư thì hỏng tiếng một đời thanh liêm, nhận thiếu thì ô danh … kiếp này phá của. Cô bé lập tức nói rằng cháu là dân tài chính nên có giữ … sổ cái kế toán đàng hoàng ghi chú cẩn thận đầy đủ chi tiết có đóng dấu giáp lai để ngày sau đền ơn nên “bác Phước” hãy yên tâm, còn lãi suất thì cháu sẽ tính theo thời giá prevailing của Ngân Hàng Ngoại Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Cháu nói xong thì vợ chồng tôi, vợ chồng anh C, cùng con gái và hai con trai anh C phá lên cười ầm do màn biểu diễn tấu hài đốp chát rất lợi hại của hai bác cháu vừa rồi. Cười xong, tôi nghiêm trang nói với cháu rằng tôi luôn giúp bố của cháu vì bố cháu là người tốt, và vì bố cháu không khỏe, không còn lo cho cháu học tiếp được nên tôi tiếp tục giúp bố cháu nuôi các cháu ăn học chứ nào phải tôi cho cháu vay tiền mượn bạc mà cháu nói đến việc hoàn vốn trả lời; rằng hãy dùng số tiền trong phong bì để lo cho việc học của hai cậu em để làm vui lòng bố mẹ; rằng phải cố gắng làm việc nghiêm túc và lương thiện; và phải tự hào mình được làm con của cha mẹ nhân hậu và tốt đẹp như vậy; rằng v.v. và v.v. Như bao lần khác, tôi lại thắng với tài hùng biện, nghĩa là đến giờ tôi vẫn …không biết trong bao thư ấy có bao nhiêu tiền, và nghĩa là cháu gái ấy khóc, mẹ cháu rơi nước mắt, còn anh C thì huyết áp dâng cao và dịch vị dạ dày trào dâng chắc do cảm xúc dâng trào.

Gần đây, đến lượt con trai anh C nhờ tôi tư vấn về học đại học và chọn ngành học. Nay cháu đã  là sinh viên năm thứ hai của một ngành khác với cô chị. Anh C nói rằng cháu là “ca sĩ” nổi tiếng của trường nên anh lo lắng cháu sẽ xao nhãng việc học hành. Tôi trấn an anh rằng tôi cũng là “ca sĩ” nổi tiếng của trường tiểu học và trung học mà! Tết năm 2012 này chính cháu trai ấy thay bố đem quà tết đến nhà tôi và tôi lại xách ra đưa cháu một giỏ quà như giỏ quà chuẩn bị cho anh bộ đội tài xế K ở trên. Tôi cao 1m70 nhưng đứng thấp hơn cháu ấy dù tôi đi đôi bốt đế hơn 5cm để thành 1m75. Mấy cha con nhà anh C sao mà cao thế! Mấy cha con nhà anh K sao mà không cao thế!

Vợ tôi thắc mắc (sao vợ hay thắc mắc thế!) hỏi tôi tại sao dấu việc giúp anh C công ăn, việc làm, mua bảo hiểm nhân thọ, và chu cấp việc học hành cho con anh. Tôi uốn ba tấc lưỡi Lăng Tần nói rằng tiền học phí rất thấp vì trường công lập mà, rằng bảo phí đóng có chút xíu nhưng có thể giúp gia đình anh ấy rất nhiều nếu chẳng may anh ấy ốm đau, không có bảo hiểm thì cách chi chữa trị được. Vợ tôi bị thuyết phục trước tài hùng biện của tôi, nên hỏi tôi sao chăm lo người ngoài mà thờ ơ không mua bảo hiểm cho ai trong dòng họ, khiến tôi cà lăm, buộc phải thú thật là tôi đã mua tất tần tật cho mấy cô em của tôi, cho mấy chàng em rể của tôi và mấy đứa cháu của tôi nhiều năm nay rồi! Vợ tôi thất kinh, huyết áp dâng cao, hỏi tôi đã thành thật khai báo đầy đủ chưa, vì còn nhiều người gởi quà tết đến lắm, liệu tôi có đã … “tài trợ” gì không. Tôi phải dùng thuật hùng biện rằng “em ơi em hỡi em à, em biết là nhiều chục năm qua anh chẳng hề cà phê thuốc lá nhậu nhẹt bù khú gì với bất kỳ ai, chỉ lo đi làm và đi dạy học, sống tằn tiện lương thiện thanh bần chứ nào có xa hoa, đã vậy hay đãng trí đâu có nhớ đã từng giúp những ai thì làm sao mà liệt kê danh sách cho em được”. Thấy vợ tôi vẫn chưa hạ hỏa, tôi nhắc lại chuyện thầy mẹ của vợ tôi (gia đình vợ tôi người Bắc di cư, gọi cha mẹ là Thầy Mẹ) ngày xưa vét hết gạo nhà nấu cháo cứu sống vài chục dân nghèo lúc nạn đói hoành hành Miền Bắc, và lúc di cư vào Nam luôn đi chùa làm việc thiện cho đến ngày về cõi Phật, là tấm gương sáng mà tôi phải noi theo Thầy Mẹ để xứng đáng làm con rể nhà họ Vũ. Vợ tôi cảm động khi thấy chồng mình hằng đêm thắp hương cho cha mẹ vợ nay lại kể lể công đức của cụ ông cụ bà nên nức nở bồi hồi, không còn cật vấn tôi mấy chuyện tương tự chuyện anh C, anh K, và nhiều “anh’ nhiều “chị” khác.

Tôi có quen thân nhiều người tốt như vậy, và cứ tết đến là vợ tôi lại lui cui chuẩn bị các giỏ quà để  đáp lễ những người tốt ấy, theo đúng tiêu chuẩn xử thế của tôi là …nhận một đáp mười. Họ đã luôn đến vào dịp Tết. Con cái họ đang luôn đến vào dịp Tết. Thời gian có làm tiêu hao sức khỏe của những người tốt ấy, thậm chí làm cuộc đời vơi dần sự góp mặt của họ, nhưng thời gian lại gia tăng sinh khí cho con cái của họ để sợi dây thân tình luôn duy trì bền chặt giữa những đấng sinh thành tuy ít học nhưng có nhân cách lớn ấy, với tôi, người đã thật may mắn có được cơ hội ở gần họ, những con người tuyệt diệu chủ nhân những gia đình tuyệt diệu.

Hai anh “bộ đội” VVK và PVC này là tiêu biểu cho tất cả những người nghèo tốt đẹp tôi quen. Câu chuyện về những người khác cũng tương tự, với tất cả các nội dung cộng lại của nghèo khó, lương thiện, tự trọng, hướng thượng, nhân hậu, danh dự, trách nhiệm, bản lĩnh, cần cù, gia đình hạnh phúc, nền nếp gia phong. Tôi sẽ không viết thêm về những người khác, dù vẫn sẽ cùng vợ tôi viết tên của họ để dán vào các giỏ quà Tết, vui vẻ đợi chờ đàn con cái thành nhân chi mỹ của họ. Tôi và họ không phải là những người bạn và vẫn chưa bao giờ xem nhau như bạn. Chúng tôi chỉ là những người quen. Chúng tôi gần nhau vì chúng tôi tin vào một điều rằng còn có Trời Phật trên cao.

Những người quen ấy của tôi không sử dụng được internet, nhưng con cái họ sẽ đọc được những lời này để biết rằng cha mẹ các cháu đã được tôi quý mến, tôn trọng, không vì họ có học thức cao, học vị cao, tài sản vật chất nhiều, mà chính vì họ có tình thương bao la dành cho con cái, vì với tình thương ấy họ đã luôn cố gắng giữ gìn danh dự, đem cách sống trong danh dự làm gương cho con cái soi theo, để tất cả những đứa con ấy có thể tự tạo được cuộc sống sung túc và hạnh phúc một cách lương thiện, và nhất là sống như bao công dân chân chính khác ở đất nước của đạo nghĩa này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…”

Tôi và Bùi Giáng  September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Lê Hùng Dũng January 9, 2015

Sẽ đăng lại:

Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Tôi Và Cu Huy Ha Vu

Kim Jong-Un, Người Chứng Của Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-9-2017

Người Chứng Của Chân Lý (1)

Chân lý không được mặc định bó buộc phải là kết quả của tư duy nơi các đấng triết gia, các nhà khoa học, các vĩ nhân kim cổ; đơn giản vì chân lý đến từ cuộc sống thực, chiêm nghiệm thực, mà chiêm nghiệm không bao giờ được mặc định là hành trạng tư duy độc quyền riêng của các tầng lớp cao trọng, quý tộc cao sang, trí thức cao vời của cộng đồng và nhân loại.

Chân lý có khi bật bung ra từ chiêm nghiệm hay cuộc sống của nô lệ, nông nô, thành phần bất hảo, bất kể sự chiêm nghiệm ấy cho những điều tầm thường hay kỳ vĩ, hoặc từ hành động hành vi hành xử của những người mà nhân loại nguyền rủa bất kể sự nguyền rủa ấy đúng hay sai.

Tác giả bài viết này từ quyển Søren Kierkegaard, Người Chứng Của Chân Lý trong ba tá sách phần thưởng ông nhận được từ kỳ Đố Vui Để Học đài truyền hình Sài Gòn dịp Giáng Sinh 1967 khi đội lớp Nhì (tức lớp 4 hiện nay) tiểu học Phan Đình Phùng, Quận 3, của ông (gồm ông là đội trưởng, và hai học sinh khác là Tống Kim Lan – cô này được những chuyên viên phụ trách thu hình yêu cầu ngồi ghế giữa vì nữ sinh này có đôi chân rất dài khiến cô lúc ấy cao hơn đội trưởng…một cái đầu – hiện vẫn ở Quận 3, và Nguyễn Sơn Hải hiện định cư ở Hoa Kỳ) thắng đội lớp Nhì trường “đầm” Hồng Bàng, đã cho title của bài này là Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý để nêu ra những chân lý thời đại nguyên tử như sau.

Người Chứng Của Chân Lý

A) Chân Lý Có Thể Luôn Đúng Nhưng Luôn Không Đúng

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Hai võ sĩ quyền anh thượng đài không bao giờ có việc một bên không được đeo găng tay, không được đi giày, không được mặc quần, và không được ngay cả ra đòn tay hay đòn chân của kick-boxing – nghĩa là một bên buộc phải là cái bị thịt trong một trận đấu tranh giải quyền anh hạng nặng thế giới. Chỉ có quân mọi rợ mới ra cái quy định cấm đoán thiên vị công khai ấy. Liên Hợp Quốc là quân mọi rợ vì đã chỉ cấm Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Chân lý đương nhiên đúng rằng trong một cạnh tranh đối kháng, chuyên nghiệp, đỉnh cao, và công bằng, luôn có sự “cầm cân nẩy mực” của trọng tài dựa trên các các quy định áp đặt chung cho các bên trực tiếp đối kháng. Không bao giờ có việc một đám 15 đứa trọng tài hè nhau cùng lúc thổi còi trừng phạt một võ sĩ chỉ vì võ sĩ ấy có đeo găng tay, có đi giày, có mặc quần, có ra đòn tay hay đòn chân chạm đến võ sĩ người nhà của trọng tài. Chỉ có quân mọi rợ mới thổi còi như vậy. Hội Đồng Bảo An 15 thành viên chính là quân mọi rợ vì đã chỉ thổi còi trừng phạt Triều Tiên không được sở hữu và sử dụng vũ khí nguyên tử.

Kiểu hành xử giang hồ tứ chiếng trên đã được thực thi rất nhiều lần trong lịch sử cận đại và hiện đại, mà cụ thể là hai trường hợp nổi bật sau:

1) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (gọi tắt là Việt Nam) và Liên Hợp Các Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) thì Việt Nam là bên thắng trận lại bị bên bại trận là Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc-gia-đồng-minh với Mỹ hoặc giữ vai trò bàng quan sao cũng được của quốc-gia-khán-giả. Cái gọi là “tinh thần thượng võ” của thể thao khi võ sĩ bị knockout mặt mày bầm dập gảy răng tét môi đầy máu ôm chúc mừng võ sĩ đối phương thắng trận, đã không bao giờ được siêu cường nguyên tử Mỹ áp dụng đối với Việt Nam.

2) Trong cuộc chiến tranh cụ thể của chính sử chính trị thế giới giữa Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Choson (gọi tắt là Triều Tiên) và tập thể hai quốc gia Liên Hợp Tiểu Bang America (gọi tắt là Mỹ) cùng Cộng Hòa Hanguk (gọi tắt là Hàn Quốc) thì

a- Mỹ áp đặt lịnh cấm vận triệt để Triều Tiên và cấm vận liên tục với mức độ ngày càng gia tăng nặng nề nghiêm trọng hơn, với sự hoặc đồng tình hoặc im lặng của những thực thể gọi là “cường quốc tư bản” gồm những quốc gia đồng minh với Mỹ hoặc những quốc gia giữ vai trò bàng quan của khán giả;

b- Mỹ cấm Triều Tiên không được tự vệ khi áp đặt yêu cầu Triều Tiên phải hủy bỏ chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử như điều kiện tiên quyết dù Triều Tiên sở dĩ còn tồn tại nhờ có vũ khí nguyên tử ấy để tự vệ và răn đe kẻ thù, và dù Mỹ-Hàn dứt khoát không chấm dứt các cuộc tập trận theo yêu cầu tiên quyết của Triều Tiên cho các đàm phán có liên quan đến vũ khí nguyên tử, thậm chí Mỹ cũng không chấp nhận yêu cầu của Triều Tiên muốn đàm phán trực tiếp với Mỹ chứ không thông qua “thiên hạ”;

c- Hàn Quốc tiến hành nhiều chiến thuật tâm lý chiến quyết tấn công triệt hạ chế độ Triều Tiên như lắp đặt hệ thống loa công suất lớn dọc biên giới để công kích Triều Tiên, thả khinh khí cầu qua lãnh thổ Triều Tiên rải truyền đơn kêu gọi lật đổ chế độ Triều Tiên, có sự giúp sức của các đài truyền thông Châu Âu phát chương trình tiếng Hàn nhằm cung cấp cho dân Triều Tiên những thông tin “thật” về tình hình “phản tự do phản dân chủ” của chế độ Triều Tiên; v.v.

B) Chuẩn Bị Chiến Tranh Là Lựa Chọn Duy Nhất Để Bảo Vệ Đất Nước

“Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh” là câu châm ngôn lạc hậu, lỗi thời, yếu kém.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” là câu đối đã chưa từng được giải thích chuẩn xác chuẩn mực ngay cả bằng tiếng Việt.

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn” không bao giờ là một vũ khí thực tiễn trong chiến tranh trên thực địa chiến trường, mà là một sử dụng kiểu tâm lý chiến hay chiến tranh chính trị trong nội bộ để khích lệ và trong đối ngoại để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế hoặc phục vụ mục đích tranh biện. Trên chiến trường quyết chiến quyết tử được phân định bằng làn ranh mỏng manh của bom đạn thì cái cụ thể nhất của “thắng hung tàn” phải luôn là tiêu diệt tàn sát đối phương mà ta đã nhanh tay đặt tên cho chúng là bọn khát máu hung tàn.

“Lấy chí nhân mà thay cường bạo” luôn chỉ là câu nói của bên thắng trận sau khi đã tiêu diệt xong hỏa lực đối phương, vì rằng chỉ có kẻ ngu xuẩn mới thốt ra trước khi lâm trận trên chiến trường là nơi chỉ có bấm nút bóp cò khai hỏa vũ khí tối tân nã vào quân địch.

Vì vậy, không phải muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh, mà chính là luôn phải chuẩn bị vũ khí sát thương cao để nhanh chóng tàn sát quân thù ngay cửa ngõ biên giới nước nhà, đơn giản vì trong thời đại hiện nay hòa bình chỉ có thể là từ ngữ vô nghĩa, thứ chữ vô minh, sự ru ngủ hay tự ru ngủ, sự mất cảnh giác hay khiến đối phương mất cảnh giác, liều ma túy chính trị, sự tự sát, và tấm giẻ chùi chân làm sạch gót giày trước ngưỡng cửa hội đàm Liên Hợp Quốc.

C) Sở Hữu Vũ Khí Nguyên Tử Là Lựa Chọn Duy Nhất Đúng Để Bảo Vệ Đất Nước

Dân tộc Châu Sơn là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu và của Nhật.

Dân tộc Lạc Hồng là dân tộc dữ dội dữ dằn. Không dữ dội dữ dằn, dân tộc ấy đã không thể tồn tại trước gót giày xâm lược tàn sát đẫm máu của Tàu, của Pháp, của Nhật, của Mỹ, của Campuchia.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ cực đoan của cả Triều Tiên và Hàn Quốc là như nhau, mặc dù cả hai đều có “chính nghĩa” riêng để chống nhau do cả hai là hai quốc gia thành viên riêng biệt của Liên Hợp Quốc.

Chính vì dữ dằn và dữ dội, mức độ đối kháng của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là như nhau, mặc dù duy chỉ có Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có “chính nghĩa” trên cơ sở (a) tổng tuyển cử thống nhất đất nước minh định tại Hiệp Định Geneve hình thành từ chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước Pháp Quốc giải phóng cả Đông Dương, (b) “Miền Nam” là lãnh thổ thuộc Liên Hiệp Pháp lệ thuộc Pháp và không có quyền lực bất kỳ kể cả về quốc phòng, và (c) “Miền Nam” không được Pháp xem như đối trọng chính trị ngang tầm với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Hội Nghị Geneve nên đã phá thối bằng cách không tuân thủ thực hiện “tổng tuyển cử”.

Hàn Quốc kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Triều Tiên. Triều Tiên kiên quyết “giải phóng” Hàn Quốc.

Việt Nam Cộng Hòa kiên quyết “Bắc Tiến” xóa sổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kiên quyết “dọn sạch” các mầm mống “thân Cộng” trong dân chúng Việt Nam Cộng Hòa, và mong chờ Mỹ ném bom nguyên tử tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; thậm chí sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa sổ vĩnh viễn, những kẻ tháo chạy liên tục tổ chức “vũ trang phục quốc”, gây nổ phá hoại, chống đối bằng chữ/bằng lời/bằng biểu tình/bằng vận động/bằng tài trợ/bằng vu vạ/bằng vu khống/bằng sự điêu ngoa đẻ tin láo xạo. Trong khi đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiên quyết dũng vũ lực giải phóng cho bằng được Miền Nam khỏi ách xâm lược của Mỹ, không bao giờ coi Việt Nam Cộng Hòa là “quốc gia” có chính quyền chính thống chính đạo mà chỉ là một thứ chính quyền tay sai do Mỹ lập nên mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gọi là chính quyền ngụy gọi tắt là “ngụy quyền” như một phong thái không đội chung trời đầy khinh miệt khinh rẻ khinh khi.

Trước “dân tộc tính” dữ dội dữ dằn như thế, cộng thêm các đe dọa từ các cuộc tập trận quy mô khủng khiếp Mỹ-Hàn, những căn cứ quân sự đồn trú của quân đội Mỹ tại Hàn Quốc, cùng những lịnh cấm vận ngày càng tàn tệ hơn, Triều Tiên không thể không buộc phải sở hữu vũ khí nguyên tử. Cái may mắn nhất của Triều Tiên không những nhờ có các nhà khoa học kỹ thuật tài năng hàng đầu tuyệt đối trung thành với chế độ, các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, mà chính các nhà lãnh đạo tài năng của Triều Tiên giữa sự bủa vây cấm vận và đe dọa của kẻ thù vẫn có thể hoạch định thành công xây dựng Triều Tiên thành quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử và sản xuất/xuất khẩu vũ khí tầm cỡ. Nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Châu Sơn của Hàn Quốc đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn được phô trương, kế sách “tiêu diệt mềm” được phô bày qua giảo biện về “đàm phán tiến tới thống nhất đất nước” cùng các khoản viện trợ “nhân đạo” và dựng xây khu công nghiệp tại Triều Tiên. Và cũng nhờ Triều Tiên có vũ khí nguyên tử, sự manh động mang dân tộc tính Mỹ đã phải đặt dưới sự tự kềm chế và giọng điệu hòa hoãn qua minh chứng của sự xuống nước ve vản vuốt ve Triều Tiên của các tổng thống Mỹ Bill Clinton và Barack Obama.

Việt Nam không thể có vũ khí nguyên tử vì (a) Việt Nam không bao giờ có các nhà khoa học kỹ thuật hàng đầu, (b) sự tuyệt đối trung thành với chế độ chỉ là khẩu hiệu, (c) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật, (d) Việt Nam không bao giờ có các du học sinh tài năng khoa học kỹ thuật nguyên tử tuyệt đối trung thành với chế độ, và (e) Việt Nam không bao giờ có các nhà lãnh đạo tài năng về chiến lược phòng vệ hữu hiệu nhất dám nghĩ đến việc sở hữu uy lực vũ khí nguyên tử trong bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, bảo vệ chế độ, cũng như uy thế đối ngoại của chính quyền trong tư thế sở hữu được vũ khí nguyên tử.

Không thể có vũ khí nguyên tử là một yếu điểm, nhưng yếu điểm này không thể – và không bao giờ có thể – được dùng cho sự giảo biện rằng sở hữu vũ khí nguyên tử không là lựa chọn duy nhất đúng để bảo vệ đất nước.

D) Ngụy Lý Là Chân Lý Của Chiến Tranh Tâm Lý Truyền Thông

Dân tộc Hàn là một dân tộc cực kỳ dữ dội, cực kỳ hung hãn, cực kỳ hung hăng, mà chỉ có “làn sóng Hàn”, “Kê-póp” và các “ù-pá” cùng “ù-nhí” xinh đẹp mỹ miều ngây thơ tuyệt đỉnh thánh thiện mới làm người trần thế quên hẳn cái đặc thù dân tộc tính đó của dân Hàn. Phải cực kỳ ghê gớm bất khuất như thế Triều Tiên mới trụ được trước giặc Tàu trong quá khứ cùng giặc Nhật trong quá khứ, và trước bọn Tàu của hiện tại – nghĩa là trên thế giới hiện đại ngày nay chỉ duy nhất có Triều Tiên công khai khẳng khái không luồn cúi trước Tàu, sẵn sàng cho Tàu lâm vào cảnh không thể cứng rắn với Triều Tiên.

Tuy nhiên, cái cũ rích của chiến tranh tâm lý truyền thông những năm 60 của thế kỷ trước vẫn luôn được áp dụng vượt thời gian.

Nếu như trong thế kỷ XX, báo chí chính thống Việt Nam Cộng Hòa đã đăng ra rả nhiều kỳ nhiều tháng trên trang nhất cái láo xạo gọi là “bài dịch từ nguyên tác tiếng Pháp” nhan đề “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” nhằm tạo ra ảo cảm nơi quần chúng rằng Hồ Chí Minh sang Pháp chỉ để dan díu đú đởn với phụ nữ Pháp chứ không để tìm đường cứu nước, rằng Hồ Chí Minh có lắm con rơi tại Pháp, và rằng Hồ Chí Minh bị các con rơi nhạo báng rủa nguyền tư cách sở khanh đốn mạt của người cha sinh học của chúng; thì nay trong thế kỷ XXI báo chí mạng “chùa” chuyên dựng powerpoint (không bao giờ là video clip “động”) thảy lên YouTube láo xạo về các lãnh đạo Việt Nam hoặc các sự việc loạn lạc lầm than ở Việt Nam. Còn mấy anh truyền thông chính thống Âu Mỹ đã đưa các tin như sau về Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (2)Người Chứng Của Chân Lý (1)

Dù cho có ba người Mỹ “comment” rằng báo chí đã quá láo xạo khi đưa tin như vậy về Kim Jong-un, thêm một người Việt “comment” rằng đừng bao giờ tin bọn “đào thoát” vì chúng toàn là bọn đói khát, bất tài vô dụng, hèn nhát, và phản quốc, thì nhiều trăm người Mỹ khác vẫn “comment” đầy khí thế nguyền rủa Kim Jong-un là dã thú, là dã man, là phải bị tiêu diệt, v.v, thậm chí có người còn hô hào phải giết ngay Kim Jong-un, trong khi những người khác quy chụp ngay rằng tại có đầu óc cộng sản chủ nghĩaxã hội chủ nghĩa mà Kim Jong-un điên loạn, rồi kết luận nhất thiết phải tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội trên toàn cầu – tức là tự dưng lôi Việt Nam vào phạm trù đối tượng sẽ điên khùng nguy hiểm như Triều Tiên!

Khi Reuters chính thống phải dùng đến hạ sách của thứ báo lá cải bằng cách sử dụng nguồn tin rác rưởi của bọn “đào tẩu” mà bản chất luôn luôn láo xạo, truyền thông Việt Nam có kẻ đã quỳ mọp lạy Reuters ngay lập tức để hòa âm bôi nhọ Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (2)

Truyền thông Việt Nam còn vô tư đưa tin với cách dùng từ hoàn toàn sai cứ như đang hớn hở tham gia tấn công vào danh dự và niềm tự hào dân tộc của Triều Tiên, chẳng hạn từ “trừng phạt” chỉ luôn dùng cho đối tượng sai và phạm tội trong khi Triều Tiên hoàn toàn không sai về bất kỳ điều gì và không phạm bất kỳ tội gì; từ “khuất phục” chỉ dùng cho đối tượng mạnh mẽ bất khuất bị quyền lực mạnh hơn khống chế, như vậy hoàn toàn sai vì Liên Hợp Quốc không bao giờ là quyền lực ấy; trong khi đó, chỉ có bọn ngu đần mới cho rằng Triều Tiên “theo đuổi tham vọng hạt nhân” vì không những Triều Tiên đã sở hữu vũ khí nguyên tử từ lâu mà việc sở hữu ấy không phải là tham vọng mà là sự tự vệ hữu hiệu của Triều Tiên mà Mỹ muốn tước bỏ quyền tự vệ chính đáng chính nghĩa chính đạo ấy của Triều Tiên:

Người Chứng Của Chân Lý (5)

Tương tự như vậy, việc ăn theo bọn Fake News khét tiếng như Reuters và Washington Post để loan tin “dân Triều Tiên bối rối” để làm nhục nhân dân Triều Tiên của báo Việt:

Người Chứng Của Chân Lý (4)

thì chẳng khác gì sự ngu đần của Independent khi bỡn cợt rằng chỉ cần ném xuống Triều Tiên 25 triệu chiếc iPhone và cho các vệ tinh vần vũ trên không gian cung cấp wifi miễn phí là người dân Triều Tiên sẽ vùng lên giết Kim Jong-un ngay – cứ như thể nhân dân Triều Tiên bị mù thông tin, ngu muội, không biết gì về Kim Jong-un nên nhất thiết cần Mỹ khai sáng, mở mắt, là sẽ tự tay kết liễu Kim Jong-un:

Người Chứng Của Chân Lý (3)

Như vậy sự trá ngụy đớn hèn trở thành thông tin (a) tác động khống chế nhận thức của người đọc, và (b) bôi nhọ trở thành hành vi chính danh chính đạo không bao giờ bị trừng trị.

Tác động nhãn tiền còn ở chỗ liên tưởng tự động tự nhiên. Khi thời gian giúp mọi người nhận ra “Hồi Ký Con Gái Hồ Chí Minh” chỉ là một sáng tạo láo xạo hoàn toàn của đám bồi bút vì không bất kỳ ai tìm ra được “nguyên tác tiếng Pháp” của nó, nhà xuất bản của nó, và “tác giả” của nó, thậm chí “dịch giả” của nó; thì từ đồ dần dà hình thành một phản ứng tự nhiên ngay lập tức nơi người đọc “đứng tuổi” và người đọc có trí tuệ công chính rằng Kim Jong-un khi bị bôi bẩn cùng kiểu ắt đúng là danh nhân đáng kính, đúng là anh hùng dân tộc đáng trọng, và đúng là gương sáng đáng nể của dân tộc Châu Sơn và nhân loại.

Hóa ra danh dự của một nhân vật quan trọng được khẳng định và tôn vinh chỉ khi nhân vật đó bị bôi bẩn và sự bôi bẩn được phát hiện là giả trá.

Và khi sự bôi bẩn là vũ khí chủ lực của truyền thông chính thống vốn luôn dưới lớp áo choàng sang cả lấp lánh của chân lý, chỉ có chân lý, và không gì khác hơn ngoài chân lý, thì bản thân đó là một ngụy lý đã trở thanh chân lý vậy.

E) Chân Lý Thường Được Công Nhận Bởi Số Đông Nhưng Người Chứng Của Chân Lý Sẽ Luôn Là Người Cô Độc Như Søren Kierkegaard

Tất cả những dẫn chứng và biện luận trên về các quyết định của Kim Jong-un – và của cha và ông của Kim Jong-un – ắt được số đông gật gù công nhận, không những vì các dẫn chứng biện luận ấy không-thể-tranh-cãi hay khó-thể-tranh-cãi mà còn vì chúng là sự thật hiển nhiên.

Tuy nhiên, không cần phải đi khắp cõi ta bà, chỉ cần rong chơi cuối trời quên lãng trên không gian mạng ngay tại Việt Nam cũng đã nhận ra ngay truyền thông Việt Nam thường xuyên nhơi đi nhơi lại biết bao từ ngữ xúc phạm Kim Jong-un và xúc phạm Triều Tiên mà nguồn xuất phát của chúng lại là từ bọn truyền thông chính thống Âu Mỹ bất kể bọn truyền thông này đã luôn xúc xiểm Việt Nam, láo xạo về Việt Nam, và hỗn láo gọi lãnh đạo Việt Nam là “thugs”:

Triết gia Søren Kierkegaard, nhà thơ Đan Mạch, nhà phê bình xã hội, nhà văn khôi hài, cha đẻ của Thuyết Hiện Sinh, người kịch liệt công kích thói đạo đức giả của Giáo Hội Công Giáo, đã luôn đơn độc, bị chống đối, và đã ra đi khi tuổi còn quá trẻ, để rồi hậu thế tôn vinh ông là người chứng của chân lý.

Kim Jong-un đã luôn đơn độc đối với thế giới vì đất nước của ông bị cái thế giới đầy dẫy kẻ thù và bọn vong ân bội nghĩa bủa vây, luôn bị thế giới chống đối chỉ vì ông bảo vệ hữu hiệu Triều Tiên tồn tại cho đến ngày nay thay vì đã bị tàn diệt từ nhiều chục năm trước. Ắt chỉ sau khi ông ra đi còn Triều Tiên hỗn loạn bần cùng tiêu vong vì thiếu vắng ông, hậu thế mới sẽ tôn vinh ông là bậc vĩ nhân trọn đời vì nước vì dân trong hoàn cảnh nước ấy và dân ấy luôn là mục tiêu mà Mỹ-Hàn phải tiêu diệt cho bằng được còn cả thế giới thì ngoảnh mặt làm ngơ.

*********

Từ tất cả những biện luận trên, có thể kết luận về chân lý cùng vấn nạn của chân lý rằng:

1) Sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt là để có cơ may lớn hơn cho sự sinh tồn hàng loạt, và chỉ có lãnh tụ/lãnh đạo vĩ đại thực sự mới làm cho quốc gia mình sở hữu vũ khí nguyên tử.

Nếu các lãnh tụ/lãnh đạo của Mỹ, Nga, Tàu, Anh, Pháp “vĩ đại” vì đã làm nước họ sở hữu vũ khí hạt nhân để khống chế nhân loại, thì tại sao trong khi im miệng không nói gì đến Ấn Độ, Pakistan, Israel cũng là những nước sở hữu vũ khí nguyên tử, lại lớn tiếng miệt thị Kim Jong-un, xem Triều Tiên là mối nguy hiểm “đe dọa thế giới” dẫn đến cá nhân Kim Jong-un phải bị tiêu diệt, chế độ Triều Tiên phải bị tiêu diệt, và quốc gia Triều Tiên cùng người dân Triều Tiên phải bị tiêu diệt?

Ấn Độ được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Tàu “Tây Tiến” đe dọa Châu Âu vốn là tấm khiên chắn che bảo vệ Mỹ từ cánh Đông.

Pakistan được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Ấn Độ trở thành một “siêu cường” như Mỹ.

Israel được Mỹ làm ngơ để là một đối trọng đáng gờm ngăn chặn Khối Ả Rập “Hồi Giáo” manh động chống Mỹ.

Triều Tiên phải bị Mỹ tiêu diệt vì trong hoàn cảnh nếu không bao giờ tiêu diệt được Nga-nguyên-tử và Tàu-nguyên-tử thì chí ít Mỹ cũng phải cố định danh sách kẻ-thù-nguyên-tử, không cho phép danh sách ấy gia tăng.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

2) Việt Nam nếu sở hữu vũ khí nguyên tử thì đã không bị Tàu liên tục tự tiện lấn chiếm ở Biển Đông, tự tiện tuyên bố chủ quyền toàn Biển Đông để tự tiện kéo dàn khoan vào Biển Đông, tự tiện quân sự hóa các hải đảo ở Biển Đông để tự tiện khống chế Việt Nam từ cánh Đông, và tự tiện hỗn xược với Việt Nam.

Ấn Độ nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên Tàu chỉ có thể thậm thà thậm thụt lấn đất gây ra căng thẳng biên giới lời qua tiếng lại rồi thỏa thuận rút vũ khí hạng nặng ra khỏi “vùng tranh chấp” và rút quân, thậm thà thậm thụt xây dựng hạ tầng ở nơi thâm sơn cùng cốc không có sự canh giữ của Ấn Độ để rồi tuyên bố chủ quyền – tức ngược lại với kiểu áp dụng cho Việt Nam: tuyên bố chủ quyền trước và công khai xây dựng hạ tầng sau.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên rất hào hùng khí thế, chưa bao giờ quy lụy trước Tàu, thường xuyên đặt Tàu vào thế “đồng sự” ngang hàng trên bàn cờ chính trị với Mỹ, thường xuyên làm Tàu mất thể diện với Mỹ do Tàu không thể “ra uy đàn anh sai bảo” được Triều Tiên.

Triều Tiên nhờ sở hữu vũ khí nguyên tử nên vẫn tồn tại bất chấp các kế hoạch phá hoại hay tấn công của Mỹ đơn giản vì hậu quả của sự phá hoại hay tấn công đó cũng khiến Tàu và Hàn Quốc gánh thiệt hại lây lan nặng nề.

Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.

3) Việt Nam sẽ không bao giờ còn có cơ hội sở hữu vũ khí nguyên tử nên vĩnh viễn phải áp dụng chiến thuật nhũn mềm và chịu đựng.

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo” – qua sự diễn giải đầu tiên trong lịch sử Việt Nam như đã nêu ở trên của tác giả bài viết này – không bao giờ là thứ vũ khí hữu hiệu ra hồn trên chiến trường của chiến tranh nguyên tử.

Ngay cả tuyên bố theo đuổi chính sách “chung sống hòa bình” cũng là tuyên bố của bên yếu thế, y hệt hình ảnh một con người nặng 60kg cao 1 mét 60 tốc độ 5km/giờ mặc áo the thâm cầm chiếc loa công suất lớn tiến đến trước bầy đàn lúc nha lúc nhúc sư tử 250kg, cọp 310kg, gấu trắng 450kg, gấu nâu 600kg, beo tốc độ 58km/giờ, linh cẩu luôn nhai sạch đến 95% dân số các mãnh thú khác kể cả chúa sơn lâm, cá sấu Úc dài hơn 5 mét, và trăn Mỹ dài hơn 8 mét, để dõng dạc tuyên bố “chúng tôi yêu hòa bình, chống chiến tranh, muốn chung sống hòa bình với các bạn” thì chỉ cho ra hoặc một truyện cười dành cho trẻ con, hoặc một cái kết hình sự pháp y rằng chỉ còn thấy có chiếc loa móp méo nằm trên mặt đất.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì bọn siêu cường sở hữu thông qua Liên Hợp Quốc đã cấm đoán, trói tay tất cả các quốc gia còn lại, không cho phép sở hữu, và xúm lại bủa vây cấm vận triệt tiêu.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã mất thời cơ từ tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của các thời kỳ lãnh đạo.

Việt Nam không còn có thể sở hữu vũ khí nguyên tử vì đã hoàn toàn sai lầm trong lĩnh vực giáo dục & đào tạo khi luôn tầm thường hóa kỹ thuật, chỉ tôn vinh từ chương chữ nghĩa học vị học hàm trong dụng nhân, nên toàn xã hội đông nghẹt “quản trị kinh doanh” “ngân hàng” “kinh tế” “kế toán” chỉ biết hoặc than thở thất nghiệp hoặc thực hiện mọi yêu cầu của lãnh đạo khiến nảy bung bét ra hết đại án này đến đại án khác; và ngoài mấy cháu “ai-ti” chỉ biết đẻ ra game-on-line hốt bạc thì mất hút mất biệt mất tăm mất tích mất dạng các nhân lực kỹ thuật cơ khí hạng nặng cao cấp/vũ khi nguyên tử lực trừ lực lượng “kỹ thuật” đóng tàu cá vớ va vớ vẩn mà công lực phát huy mạnh mẽ nhất là cực nhanh rỉ sét và uể oải ễnh bụng nhàn hạ nằm bờ; cũng như mất hút các thời cơ ấy toàn do tư duy luôn lỡ-nhịp-thành-cường-quốc của lãnh đạo tất cả các thời kỳ kiến quốc, với các kế sách mà tác giả bài viết này đã từng bảo trong nhiều bài blog là quái gở phi hiện thực như “đi tắt đón đầu” và “hợp tác bốn nhà”, v.v., ở phía Nhà Nước, hay “thiên đường cà-phê”, v.v., ở phía “đại gia tư nhân”.

Để nhạo báng một bộ phận cực lớn trong thiên hạ kém thông minh luôn ra rả xướng ca suốt về tự do ngôn luận,  người chứng của chân lý Søren Kierkegaard đã phán: “Người ta đòi hỏi quyền tự do ngôn luận chỉ vì nó là sự đền bù cho quyền tự do tư tưởng mà hiếm khi họ sử dụng. (“People demand freedom of speech as a compensation for the freedom of thought which they seldom use.”)

Để nhạo báng một bộ phận không nhỏ trong nhân gian kém thông minh luôn ra rả lập đi lập lại các điệp khúc của thế giới gian manh nguyền rủa bôi nhọ lãnh đạo Triều Tiên, tác giả bài viết này tận dụng tự do tư tưởng trước khi sử dụng tự do ngôn luận để phán:

“Kim Jong-un, Người Chứng Của Chân Lý.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn  12-9-2017

Bôi Nhọ 02-12-2015

Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-9-2017

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Phóng Viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA Trực Tiếp Tại Thành phố Hồ Chí Minh Năm 1999

(Bài đăng ngày 07-7-2009 trên Emotino tại http://www.emotino.com/bai-viet/17968/toi-da-duoc-phong-vien-dai-tieng-noi-hoa-ky-voa-van-truc-tiep-tai-thanh-pho-ho-chi-minh)

VOA

Hoàng Hữu Phước

07-7-2009

Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy thiên hạ mừng quýnh lên khi được đài nước ngoài phone về phỏng vấn, dù họ chẳng chút tiếng tăm, không một kỳ tích, và hoàn toàn vô danh tiểu tốt đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam đang sống tại Việt Nam của Cờ Đỏ Sao Vàng và có đóng thuế cho Nhà Nước Việt Nam, thành viên Liên Hợp Quốc – đặc biệt là khi “thiên hạ” ấy tuy có bằng cấp học cao như Cao Học hay Tiến Sĩ từ những nước văn minh tiên tiến siêu cường mà vẫn như kẻ ngây ngông không biết điều phải trái, mù mờ chẳng rõ đâu bẫy đâu mồi, bó tay chụm chân đứng vào cát lún mà tưởng vững thế chân kiềng, tơ tưởng chút đỉnh chút chung, mụ đầu mẫm trí, quạng quờ tóm rác đem về cố quận.

Năm 1999 khi tôi đang làm Managing Director (tức Giám Đốc Điều Hành, tiếng Việt chính xác là … Hiệu Trưởng) của Trường Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ, 100% vốn nước ngoài của trường chính tại California, vào một ngày mùa xuân sau Tết, tôi được Cô Mai Trâm, Trưởng Phòng Hành Chính, lên báo cáo có người từ Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ ở Mỹ Quốc xa xôi xin một cuộc hẹn để phỏng vấn tôi về tình hình kinh doanh ở Việt Nam. Không như mọi công dân chân chính khác luôn từ chối những cuộc phỏng vấn đến từ những xứ sở có nợ máu với đất nước Việt Nam vì lo lắng lúc lỡ lời sập bẫy gây họa cho nước cho thân, hoặc đơn giản vì không biết phải nói cái chi, tôi trả lời chấp thuận và nhờ Cô thu xếp lịch hẹn cho hai ngày sau đó.

Hóa ra người đến phỏng vấn tôi là Trần Nam. Những ai đã sống ở Sàigòn trước 1975 và nhà có Tivi ắt còn nhớ anh “xướng ngôn viên” chương trình tin tức thời sự Trần Nam, người luôn mặc veston, mặt mai mái nhẵn nhụi, đầu chải “bờ-ri-lăng-tin” (một loại như gel hiện nay, nhưng là sản phẩm hóa dầu, dạng keo nhớt nhợt, màu vàng, không mùi, phải chải bằng lược, chứ không vuốt bằng bàn tay như gel) láng mượt cứng đơ. Gặp anh ngoài đời mới thấy anh có chiều cao vô cùng khiêm tốn. Anh hỏi tôi có biết anh không, tôi ra vẽ đường bệ, kẻ cả, trên trước, giữ gìn quốc thể Việt Nam, trả lời thấy anh quen quen, làm anh buộc phải tự giới thiệu chính anh là Trần Nam của Đài Truyền Hình Việt Nam trước 1975, đã di tản sang Hoa Kỳ và làm việc cho Chương trình Việt ngữ của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA – Voice of America). Mục đích anh bay sang Việt Nam gặp tôi vì hay tin tôi là người Việt bản xứ được mời làm Managing Director cho một doanh nghiệp Mỹ nên xin đến phỏng vấn. Sau một hồi phiếm luận, cuộc phỏng vấn bắt đầu.

Trước tiên, Trần Nam mở túi da tác nghiệp lấy ra một máy ghi âm nhỏ có kết nối hai micro, một do Trần Nam cầm, một dựng trên tripod nhỏ xíu để trên bàn chếch về bên trái tôi để không bị tay phải của tôi hất đổ khi hùng biện kèm ngôn ngữ cử chỉ. Sau khi ra dấu hiệu, Trần Nam bắt đầu nói vào micro giới thiệu tình hình Việt Nam, giới thiệu xuất xứ Trường Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ, và giới thiệu tôi như một ngôi sao trẻ tuổi (ngược lại của 24) tài cao. Nhưng các câu hỏi lại xoay quanh xem tôi đã gặp những khó khăn trở ngại nào từ phía chính quyền, rào cản quan liêu các ban ngành quản lý, quấy nhiễu kiếm chác của công an khu vực, vân vân và vân vân.

Tất nhiên, tôi nói lên một sự thật là đất nước Việt Nam là đất nước của tự do, dân chủ, đoan chính, và cao thượng, như dẫn chứng đầy thuyết phục: doanh nghiệp tôi đang điều hành là của Hoa Kỳ với đầy đủ giấy phép của Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư của Việt Nam, đã tiến hành quảng cáo nhiều đợt trên báo Tuổi Trẻ, in ấn lịch phát cho học viên và khách hàng – nói tóm lại là tôi và chúng tôi đang hưởng an vui, kinh doanh lành mạnh, tự do trong khuôn khổ luật pháp và giấy phép y như tại bất cứ quốc gia hùng mạnh nào, trong hòa bình, và những nội dung tiêu cực từ bên ngoài thì hoặc là do ác ý ngụy tạo, hoặc do thành kiến, hoặc đơn giản là do thiếu thông tin chính quy chính thức chính nguồn. Lời nhắn nhủ của tôi dành cho kiều bào là hãy yên tâm về Việt Nam kinh doanh, đầu tư, nhất là khi đã có một college của Hoa Kỳ cùng nhiều doanh nghiệp nước ngoài khác đã có mặt làm ăn sôi động ở Việt Nam.

Cuộc phỏng vấn kéo dài 30 phút. Vẫn với gương mặt mai mái, nụ cười mĩm, ánh mắt rất “focus” luôn soi vào đáy mắt người đối diện – chắc do quen nhìn vào ống kính thu hình – Trần Nam nói vào micro kết thúc buổi nói chuyện, kính chào thính giả của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. Thu xếp máy móc vào túi da, Trần Nam nói sẽ phát sóng buổi phỏng vấn sau hai ngày (bay sang Bang Kok hôm sau để gởi băng cassette khẩn về VOA) và ở những dãi băng tần nào, lúc mấy giờ , và phát lại trong ngày vào những giờ nào.

Song, như tất cả các bạn có thể đoán được, đã chưa bao giờ có việc phát thanh nội dung phỏng vấn tôi trên đài VOA, đơn giản vì những gì tôi nói trong cuộc đối thoại ấy không phải là nội dung VOA cần có. Từ dạo ấy, tôi càng thêm tin tưởng vào một chân lý là không bao giờ có chân lý nơi bọn kền kền diều quạ chỉ chú mục vào xác chết thối rữa. Khi người ta muốn “chuyển lửa về quê hương”, ắt không ai muốn bị “tạt nước ra hải ngoại”. Một “doanh nhân” Việt Nam “được” làm giám đốc một doanh nghiệp Hoa Kỳ, ắt bị “người săn tin” xếp vào một giống loài dễ bảo, dễ sai, dễ khiến, dễ cúc cung tận tụy hầu giữ lấy ghế êm lương hậu chủ nhân ban phát, phát ban.

Khi nghe tin có tay luật sư học “thành tài” bên Mỹ Quốc về, cùng với một đứa con – hay cháu của nhà thơ gì ấy chưa bao giờ có tên trong danh mục những bài thơ hay mà tôi ghi chép – mắc chứng bịnh vĩ cuồng mượn danh luật sư của vợ để khuấy quậy lung tung, được mấy cái đài phát thanh hạng tép riu như Đài Châu Á Tự Do (tất nhiên là Chống Cộng, tức là cấm “tự do” theo Cộng) – đâu sánh được với VOA – phỏng vấn qua phone thậm thà thậm thụt không chính không quy chẳng theo đường chánh đạo, tôi tắc lưỡi với đồng nghiệp và người thân rằng chớ biết họ có được mẹ cha dạy dỗ hay không, và đã học được cái gì nơi hải ngoại mà bỏ mất luân thường đạo lý, lễ nghĩa nhân luân.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Tham khảo thêm các cuộc phỏng vấn Hoàng Hữu Phước của các đài nước ngoài khác:

A) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do năm 2011:

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

B) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Phố Bolsa TV năm 2012:

Bài viết của Lại Thu Trúc. 26-7-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII :

Video clip 1“Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2“Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.”  http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.”  http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc” http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.” http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7“Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.”  http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!” http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2017

Phát Huy Nội Lực Từ Yếu Tố Con Người

Hoàng Hữu Phước

02-7-2009

 (Bài đăng lần đầu trên Emotino ngày 02-7-2009 tại http://www.emotino.com/bai-viet/17961/phat-huy-noi-luc-tu-yeu-to-con-nguoi)

Trong hoàn cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều quốc gia như choàng tỉnh sau giấc đông miên nhận ra một thực tế rằng việc lao lung suốt mấy mùa thuận lợi góp nhặt thành quả cũng phải là để chất chứa trong kho lẫm làm nguồn tích lũy dài lâu, và rằng sự đầu tư chăm chút cho cái kho lẫm ấy cũng được xem quan trọng ngang bằng tức phải đạt mức vững chãi, rộng lớn, an toàn cao. Thế giới bắt đầu vừa tiếp tục không buông lơi tìm thị trường xuất khẩu vừa chăm chút cho thị trường nội địa, và thế là cụm từ phát huy nội lực được sử dụng để khuyến khích cổ vũ cho các cố gắng tự cứu mình trong sản xuất kinh doanh. Song, phát huy nội lực còn cần phải nhìn đến yếu tố con người vì chính con người vận hành điều chỉnh sự thành hay bại đại cuộc phát huy nội lực của nền kinh tế một quốc gia.

1) Khi nói đến con người Việt Nam, bất kỳ ai trên thế giới này cũng nêu điệp khúc của cần cù, chăm chỉ, chịu cực chịu khó, tức những gì rất quen thuộc nhưng lại không bao giờ là thứ độc quyền của người Việt vì các dân tộc khác cũng có những “phẩm chất” này – thậm chí tốt hơn – ngay từ thời lao động giản đơn của nô lệ ngàn xưa, nên chẳng tạo ra khác biệt tích cực trong đời sống hiện đại và thực tế của Việt Nam ngày nay, trong đó, năng lực cùng ý thức hay tư duy của từng cá nhân về đổi mới, sáng tạo, trí truệ cùng sở hữu trí tuệ, và động lực cho tất cả mới là thành tố nội lực duy nhất đáng được nói đến và phát huy. Thế nhưng, vì sao lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới và luôn “được” các nước xem như nguồn nhập khẩu lao động rẻ tiền, không thích hợp.

Trước hết, có một thực tế là điệp khúc nêu ở trên có thể đúng với người Việt Nam lao động chân tay cá thể hay gia đình, chứ chưa phải luôn có nơi các giới “cổ cồn trắng” tức giới làm việc văn phòng đòi hỏi phải có học lực chuyên môn và kiến thức quản trị nhất định trên nguyên tắc có thu nhập cao hơn và có đóng thuế nhiều hơn, và cả giới “cổ cồn xanh” tức lực lượng công nhân tại các doanh nghiệp. Bấy lâu nay chỉ có chuyện nêu gương những bậc làm cha làm mẹ bương chải cơ cực đủ điều ở các tỉnh kiếm tiền cho con vào Thành phố Hồ Chí Minh lây lất “học chữ”, mục đích giống y như ngàn xưa vẫn là để con cái có việc làm “sung sướng không cực như cha mẹ” chứ chưa hề nêu gương bậc làm cha làm mẹ nào đó đã nai lưng cày bừa cho con vào thành phố học nghề cả!

Chính cái tư tưởng chỉ xem trọng “học chữ” ấy của “vinh thân phì gia” đã làm biến dạng mục đích của sự “ăn học”, triệt tiêu những gì dính dáng đến cần cù chịu cực chịu khó trong lao động vì sự nghiệp. Cần cù đèn sách để tránh xea khỏi cái cần cù trong lao động hậu sách đèn, và chịu cực chịu khó học tập trên chính sự lao nhọc kiếm tiền của mẹ cha và anh chị thì nào phải là sự chịu cực chịu khó sau khi đã tốt nghiệp có được việc làm, nên cái thành phẩm của giáo dục của xã hội lại là lớp đông người cổ cồn trắng có mong muốn được làm việc ít nặng nhọc hơn với lương cao hơn và điều kiện làm việc sung sướng khỏe hơn nhàn hạ hơn, khiến nguồn lực có lạm phát về lao động “chữ” trong khi ngày càng thiếu hụt nghiêm trọng lớp lao động kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu lớn của xã hội. Đó là chưa kể đây còn chính là rào cản tâm lý khiến nhiều người trong số họ hưởng nhàn ngay khi bước chân vào thế giới việc làm. Có thể ai cũng sẽ nói làm việc với “Tây” rất mệt, làm việc với “ta” khỏe hơn. Song, thực tế cho thấy ngay cả khi làm việc với “Tây” mà họ than là rất mệt ấy thì cung cách làm việc ở nhiều người cũng rất “tà tà”, luôn kiếm cách để được “nhàn” hơn, và stress dường như chỉ có ở một ít người có vị trí cao hơn mà thôi. Chuyện gánh thêm việc thì càng hãn hữu.

2) Vấn đề tiếp theo là đối với số ít “cổ cồn trắng” may mắn có được hiểu biết đúng đắn tự thân về tích cực vươn lên qua lao động sáng tạo, họ vẫn có khi không gặp may trong môi trường làm việc thiếu hụt cạnh tranh nhưng dư thừa ganh tỵ – một điều tiêu cực đau xót luôn mãi được dấu diếm, khỏa lấp như điều cấm kỵ nhạy cảm không nên nói về cộng đồng người Việt, đó là: nơi đâu có nhiều người Việt hơn, nơi đó sẽ có ít hơn sự đoàn kết tương thân – hoặc nói cách khác, sẽ có nhiều hơn sự câu kết bè phái và phe nhóm. Sự ganh tỵ không những dễ thấy nơi những người làm việc chung ngang bậc hay bậc dưới đối với bậc cao hơn, mà còn kỳ quái khi lại có nơi chính người trên – thậm chí ngay ở cấp CEO và thậm chí CEO của công ty nước ngoài – đối với người dưới nào giỏi hơn – tất cả dẫn đến những người “may mắn” sẽ không dám phát huy cái may mắn trời ban của mình, triệt tiêu năng lực sáng tạo tự thân, chấp nhận “bị” hưởng nhàn để được yên thân.

Vụ thảm sát gia đình một Phó Giáo Sư Tiến Sĩ, Hiệu Trưởng một trường Đại học ở Việt Nam tháng 8 năm 1997 là một thí dụ khi cấp trên ém tài giảng viên cấp dưới vì cấp dưới có khả năng trở thành nhà khoa học nguyên tử lực tài danh của đất nước. Ngoài ra, hầu như chỉ những “phát huy sáng kiến” rất bình thường – đa số là về “tiết kiệm nguyên vật liệu sản xuất và giờ công lao động” – của cấp dưới và cấp thấp như của giáo viên, nhân viên, công nhân lao động, mới được vinh danh, còn sáng kiến nổi bật, xuất sắc, tầm cỡ nào của cấp nào gần sát lãnh đạo hay của chính lãnh đạo dường như vẫn là điều bí mật với công chúng, khiến vô hình chung tạo nên một thông điệp mặc định cho toàn xã hội rằng năng lực đổi mới sáng tạo không là điều cần thiết, thậm chí là điều không nên có trong nội bộ cơ quan hay công ty, vì năng lực ấy đe dọa chiếc ghế của người cấp cao hơn hoặc chỉ đồng nghĩa với năng lực nguy hiểm tiềm tàng một lật đổ soán ngôi.

3) Thứ đến, chiêu bài tập thể rất có thể cũng được sử dụng cho mục đích tiêu cực khi một công trình cá nhân bị gợi ý mang danh tập thể để đôi bên cùng có lợi : cá nhân được tài trợ hoặc công trình được trao giải thuận lợi, còn tập thể có tên các cấp cao hơn để củng cố vị trí lãnh đạo dài lâu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhiều cá nhân phải bỏ dỡ công trình nghiên cứu của mình do không chấp nhận sẻ chia quyền sở hữu trí tuệ.

4) Điểm cuối cùng song không kém phần quan trọng là cơ chế mang tính quốc gia đối với vấn đề nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và củng cố động lực của nhân viên Việt Nam, trong đó kế thừa là thực tế chứ không là lý thuyết.

Cách nay mười năm (1999), Chính phủ tuyên bố chuẩn chi ngân sách cho việc đào tạo nhân tài với chương trình chọn gởi người du học nước ngoài. Song, điều này có khi lại bị hiểu lầm rằng Việt Nam đang không có nhân tài, rằng không có ai trong mấy mươi triệu dân đã qua học tập và đang đóng góp dựng xây chủ lực cho nền kinh tế quốc dân là nhân tài sẵn có đáng được mời mọc để trọng dụng, và rằng “nhân tài” phải do nhà nước bỏ tiền ra đào tạo chứ những công dân đoan chính không làm gánh nặng của tổ quốc tự đầu tư cho việc học của mình thành danh ở nước ngoài thì không nằm trong danh sách “nhân tài”. Đó là chưa kể người được chọn cử đi du học là trên cơ sở có mang tính thuyết phục cao không và cao đến mức độ nào, tất cả có sẽ hoàn tất thành công việc học tập không, tất cả có sẽ trở về nước sau tốt nghiệp không, tất cả có sử dùng quyền tự do của công dân để không làm việc cho các cơ quan nhà nước khi tốt nghiệp không, và tất cả có thực sự thành nhân tài cống hiến hiệu quả, trung thành với công cuộc dựng xây đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa hay không. Tập trung cho việc đào tạo nhân tài theo bài bản ấy tức bỏ qua tính kế thừa vì đã không nói gì về nhân tài đang có. Sự chuyển giao trọng trách sẽ có khoảng trống một thập niên hay một thế hệ, khiến nhiều người thờ ơ với việc nâng cao năng lực, còn động lực bị lệch hướng hoặc triệt tiêu, gây phản ứng tiêu cực dây chuyền nơi lớp trẻ tức những người hiện nay sẽ thêm thụ động mất hết động lực khi vừa chứng kiến việc nhân tài “đang có” không được dùng, vừa biết số nhân tài được “gởi đi đào tạo” sắp về chiếm hết các công việc quan trọng, không còn chỗ cho lòng tin vào ý nghĩa kế thừa và sự cần thiết của vươn lên.

Do đó, ngày nào cơ chế chưa có những thay đổi tích cực căn cơ và mang tính pháp lệnh, ngày ấy người lao động Việt Nam – bất kể màu sắc của cổ cồn – còn bị đánh giá là chưa đạt chuẩn mực về năng lực sáng tạo, làm việc thụ động, ít tinh thần trách nhiệm cá nhân, và khó thể trở thành con người giúp vận hành hiệu quả chương trình phát huy nội lực nước nhà.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Tham khảo:

Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân March 7, 2014

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ September 12, 2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật October 6, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Đại Học November 4, 2015

Vững Tâm Kiến Quốc July 16, 2014

Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn  04-6-2017

Bằng Giả

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-9-2017

Bằng Giả (1)

Nhân thấy thiên hạ lại đang xôn xao về một đề tài cực kỳ cũ rích đối với vấn nạn “bằng cấp giả” mà nhiều năm trước tôi đã từng nêu ra và miệt thị, song tiếc là đã không bất kỳ ai ở cấp quản lý nhà nước về đào tạo & giáo dục cùng tổ chức nhân sự quan tâm, khiến tạo điều kiện cho biết bao tên thạc sĩ/tiến sĩ mưa sắm bằng cấp giả để ngồi lên các chiếc ghế quyền lực thiệt phá tan nát không những cơ đồ nước Việt mà còn uy danh của Đảng cùng lòng tin của nhân dân về cung cách “trọng dụng nhân tài” của Đảng, tôi nghĩ việc đăng lại một bài viết cũ rích như dưới đây có khi lại trở thành thứ mới mẻ tân kỳ hiện đại chăng?

Đại Học Gà Rừng & Rừng Gà Học Đại

(Bài đăng ngày 28-9-2010 trên Emotino http://www.emotino.com/bai-viet/18827/dai-hoc-ga-rung)

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2010

Trên chuyến bay Air France từ Bang Kok đi New Delhi tháng 10 năm 1994 tôi lấy làm lạ khi đọc thấy một mẩu quảng cáo khổ 3cm x 6cm của một trường đại học Mỹ tên Columbia trên trang cuối bìa trong của tạp chí Newsweek rằng họ cung cấp chương trình học hàm thụ khẩn cấp trong ba tháng lấy văn bằng thạc sĩ và tiến sĩ mà không cần phải có cử nhân hay chứng chỉ TOFEL hay Michigan gì cả. Lúc ấy, tôi vừa chấm dứt 8 năm giảng dạy Anh Văn để “kinh doanh quốc tế” ở tuổi 35 vào thời điểm đi công tác nước ngoài là việc cực hiếm đối với “thường dân”, chưa có máy fax, chẳng có mobile phone, chưa có computer, nên tôi tức cười hệ thống giáo dục tào lao của Mỹ, vì rằng Newsweek không phải là báo lá cải nên khi đăng quảng cáo ắt là danh chính ngôn thuận. Hơn hơn mười năm sau tôi hay nhận được qua email vô vàn sự chào giá của những trường đại học Mỹ với nội dung tương tự (thậm chí không phải học hàm thụ cấp tốc ba tháng mà là … khỏi học ngày nào cả, đóng tiền là có văn bằng), và cũng nhờ internet tôi mới biết đó là trò của các diploma mills hay degree mills tức các xưởng cấp văn bằng tức các trường học đại .

Thật ra, các trường học đại mà tiếng lóng ngày nay ở Việt Nam gọi là “đại học gà rừng” là chuyện bình thường kiểu Mỹ, tức đâu có nhu cầu thì ắt có cung ứng. Họ mở trường đại học, có giấy phép, nhưng theo kiểu thực phẩm chức năng – nghĩa là muốn sản xuất thì sản xuất nhưng phải ghi rõ giòng chữ “không phải là thuốc, không có tác dụng chữa bịnh, và không được chuẩn y bởi Cơ Quan Quản L‎ý Dược & Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA”; nghĩa là văn bằng “đại học gà rừng” phải ghi rõ giòng chữ “văn bằng này không được các cơ quan giáo dục hữu quan Hoa Kỳ công nhận giá trị”. Trên thực tế, các trường có giấy phép kinh doanh ấy biến thành “đại học gà rừng” khi cấp phát văn bằng không có ghi dòng chữ trên hoặc cấp phát văn bằng với sổ điểm giả về sự tham dự học tập không có thật của người được cấp bằng.

Tình hình văn bằng giả ở Việt Nam có thể khá nghiêm trọng. Thậm chí có vị tiến sĩ khi mời tôi cộng tác đã nói với tôi rằng ông đang mua cho một anh nhân viên cấp cao của ông tấm bằng thạc sĩ để “viện” của ông có thêm “danh giá”; và khi ông nói trình độ tiếng Anh và kiến thức cùng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của tôi đáng là bậc thầy của rất nhiều vị tiến sĩ thực thụ – và thậm chí còn nói tâng bốc tôi quá đáng rằng tôi đáng là bậc thầy của chính ông dù tôi là thạc sĩ còn ông là tiến sĩ – đang giảng dạy ngành Anh Văn và Quản Trị Kinh Doanh ở Việt Nam, và khi biết tôi dự định sẽ học lấy bằng tiến sĩ sau năm hay mười năm nữa, ông lập tức phone ngay trước mặt tôi cho một phụ nữ là giám đốc một công ty ở Hà Nội, bảo cô ấy rằng ông muốn đài thọ chi phí mua cho tôi một bằng tiến sĩ của một đại học Philippines. Khi tôi hốt hoảng xua tay, ông hiểu lầm tôi chê tầm cỡ của trường ấy, nên sau khi cúp máy, ông nói ngay rằng nếu tôi muốn có bằng của một trường “danh giá” thực sự, ông sẽ lo cho tôi một bằng tiến sĩ thực thụ của một viện hàn lâm Nga vì theo lời ông, các viện sĩ Nga đại tài danh tiếng toàn cầu hiện nay rất đói khổ và “các lão ấy” (từ ngữ của vị tiến sĩ khả kính đang bày mưu cho tôi) sẵn sàng chấp bút viết ngay luận án mới đẳng cấp cao thực sự rồi ghi tên tôi vào làm “đồng tác giả” để đương nhiên thành “viện sĩ”, “giáo sư”, “tiến sĩ”! Khi tôi kiếm cớ tháo lui, nói tôi không giỏi tiếng Nga, ông cười hềnh hệch: “Đâu có sao!” Tôi vội chấm dứt mọi sự cộng tác với vị tiến sĩ ấy vì tôi ngờ vực cái học vị tiến sĩ của ông chắc cũng là thứ ông đã có được theo cách ấy, và cũng vì tôi không an tâm cộng tác với một ông tiến sĩ gian giảo đang có trong tay một số nhân viên sắp trở thành thạc sĩ quản trị kinh doanh với bằng cấp “đại học gà rừng” vinh hiển của nước ngoài.

Khi được may mắn sinh ra trong một gia đình dưới sự giáo dục nghiêm túc của cha mẹ, người ta dễ thấy xấu hổ với tổ tiên nếu nhúng chàm đối với các trò gian giảo đặc biệt đối với mua bằng cấp, mua chức vụ. Tôi luôn khuyên học trò mình đừng bao giờ ngơi nghỉ trong trau giồi kiến thức, và bất cứ khi nào có đủ quỹ thời gian và quỹ tiền hãy cố đầu tư học thêm lên các các cấp thạc sĩ và tiến sĩ, và tôi hứa sẽ giúp các em về kiến thức cho các chương trình các em theo đuổi. Thậm chí tôi còn bảo khi có em nào bắt đầu muốn lấy bằng tiến sĩ thì nhớ … rủ tôi cùng lấy chung cho vui để có ngày thầy trò cùng đội mão tiến sĩ nhận bằng trong cùng một buổi lễ – trò đạt tiến sĩ để thăng tiến trong chuyên môn, còn thầy vác bằng tiến sĩ về …cất, làm gương cho con cố gắng như Bố.

Tại các cường quốc văn hóa đều có thông tin đầy ắp và cập nhật thường xuyên danh mục các trường kém chất lượng không có văn bằng có giá trị, hay có chất lượng đáng ngờ, kể cả những đại học gà rừng như qua các links sau:

a- Tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ đều có danh mục các trường tại Mỹ (và có khi liệt kê cả các trường nước ngoài) có bằng cấp vô giá trị; chẳng hạn tại

Bang Michigan có danh sách 857 trường đại học khả nghi (http://www.michigan.gov/documents/Non-accreditedSchools_78090_7.pdf)

hay Oregon có http://www.osac.state.or.us/oda/unaccredited.aspx

b- Wikipedia cũng cung cấp thông tin dồi dào về 252 đại học gà rừng tại http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_unaccredited_institutions_of_higher_learning

c- Trong khi đó, CHEA (Hội Đồng Xác Định Giá Trị Văn Bằng Hoa Kỳ) tại trang web http://www.chea.org/degreemills/frmStates.htm còn liệt kê danh mục 99 “tổ chức”, “cơ quan” không được Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ cho phép xác định giá trị văn bằng nên mọi “đóng dấu k‎ý tên chứng thực giá trị văn bằng” của bất kỳ ai trong 99 cơ quan ấy đều không có giá trị.

d- Ngay tại Pakistan cũng có danh mục 112 học viện và đại học “gà rừng”để cảnh báo sinh viên nước họ. Thậm chí còn có danh sách những trường đại học Pakistan do các cơ quan tự tổ chức trái chức năng nên văn bằng không có giá trị ngay tại Pakistan (http://web.archive.org/web/20061223061754/http://www.hec.gov.pk/htmls/hei/public_alert1.htm).

Việt Nam có thể dựa vào thông tin đầy ắp tại các websites chính quy trên để phổ biến rộng rãi giúp sinh viên và phụ huynh tránh chọn lầm trường du học. Việt Nam cũng nên noi gương Pakistan vì tại Việt Nam ngày càng phát hiện nhiều cơ sở đào tạo do những cơ quan hay tổ chức không có chức năng thành lập gây ra các vụ lừa lọc hỗn loạn trong xã hội khi “sinh viên” học xong mới biết văn bằng không được cấp hay không có giá trị.

Mọi sự khinh bỉ và miệt thị nghiêm khắc nhất phải luôn được dành cho tệ nạn mua bán văn bằng và sử dụng văn bằng mua bán, vì rằng sự trơ tráo trơ trẽn đã lên đến cùng cực khi có kẻ tự xưng tiến sĩ công khai tổ chức trên mạng xã hội Linkedin và gởi đến tôi bức thư sau: “Chào Ngài. Ngài là người có tài nhưng không có bằng Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh hay Tiến Sĩ vì ngài quá bận rộn không thể đến trường! Chúng tôi sẽ giúp Ngài có văn bằng tốt tại các trường đại học tốt mà chẳng cần học và với chi phí thấp!

Thậm chí sự trơ trẽn còn được nâng lên cao hơn sau khi nhận được giòng chữ “Cảm ơn. Tôi không cần vì tôi đã là thạc sĩ Curtin rồi” của tôi, hắn còn chèo kéo rằng “Hay quá! Ngài nghĩ sao nếu bây giờ sắm thêm cái tiến sĩ cũng của đúng trường đại học Curtin đã cấp bằng thạc sĩ cho ngài?”.

Chỉ có sự phỉ nhổ vào cái mua bán văn bằng, người ta mới may ra không phải nhìn thấy các mục quảng cáo chễm chệ như của Đại Học Cumbria nào đấy dành cho các CEO học lấy Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh mà không cần có bằng cử nhân (MBA without Bachelor CEO).

Bằng Giả (2)

Cũng như những kẻ mặt dày mày dạn công khai rao bán văn bằng trên mạng xã hội:

Chúng tôi sản xuất văn bằng của 500 đại học hàng đầu với giá: bằng Cử Nhân 1500 USD, Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh 1700 USD v.v.:

Bằng Giả (4)Bằng Giả (3)

Từ vấn nạn “đại học gà rừng” gồm những nơi sản xuất văn bằng các loại – kể cả ngành y khoa – xã hội các nước ngày càng có nhiều nơi hay nhiều cơ quan biến thành khu “rừng gà học đại” tức những kẻ chơi luật rừng để có học vị, tuy có lông cánh sặc sỡ nhưng không gáy được – câm tịt như hến chẳng nói hay viết được bất kỳ điều gì liên quan đến học thuật hàn lâm nghiêm túc từ sau khi trở thành “thạc sĩ” hay “tiến sĩ” (do quá trình nghiên cứu vài năm cho hàng chục tiểu luận đã hình thành nơi “thạc sĩ/tiến sĩ” thói quen viết lách, tìm đến cái hay của học thuật hàn lâm, và thảo luận nhóm nên đương nhiên sau khi “tốt nghiệp” chỉ còn “thói quen kiểu phản xạ tự nhiên” khi chỉ tìm đọc sách báo nghiêm túc) – hoặc cất tiếng ụt ịt không của loài gà – tức toàn phát biểu linh tinh vớ vẩn – thay vì phải là những lời như nhả ngọc phun châu, cao thượng, cao đẹp, kiến thức và trí thức cao vời, làm tốt đẹp hơn cuộc đời và đem về cho đất nước này nhiều hơn những điều vinh hiển.

Trạng Quỳnh nếu còn sống ắt không dám nằm khỏa thân phơi bụng trắng hếu rốn lồi giữa chợ tay quạt mo đỏ au phành phạch miệng nhai trầu bỏm bẻm nổ tung trời đất thế kia vì rằng cái chữ ngày nay chứa trong muôn tỷ cái “bồ” chứ nào phải số lượng chỉ “đôi ba” nên có vô vàn kẻ bụng bự tham gia nằm lấn chỗ Trạng..

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

28-9-2010

Tham khảo các bài viết sau 2010:

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. August 4, 2013

Thế Nào Là Nhà Trí Thức February 14, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lại Trí Thức! June 9, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Khiêm Tốn February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Nhà Trí Thức Tự Phong = Chứng Chỉ C November 3, 2015

Đại Học November 4, 2015

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam December 30, 2015

Đồng Phục Học Sinh January 30, 2016

Nhà Giáo Mỹ May 9, 2016

Cấm Dạy Thêm: Đúng Và Sai Của Thành Phố Hồ Chí Minh September 29, 2016

Du Học Hiếp Dâm và Hiếp Dâm Du Học November 1, 2016

Việt Nam Cộng Hòa – Đảng Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-9-2017

Nhiều “nhà sử học” Việt Nam hiện nay thiếu trầm trọng các kiến thức về Sử Việt Nam Cận Đại nói chung do:

a) Các sử liệu về Việt Nam Cộng Hòa tại Việt Nam chưa hề được công bố công khai bằng phương tiện “imaging” (ảnh chụp vi phim, ảnh scan các tờ báo của Việt Nam Cộng Hòa, các công văn của Việt Nam Cộng Hòa, các công hàm của/với Việt Nam Cộng Hòa, các bài báo nước ngoài thời Việt Nam Cộng Hòa viết về Việt Nam Cộng Hòa, v.v., mà Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam có thể đang sở hữu bí mật ở tàng thư quốc gia, chưa đến hoặc không bao giờ đến niên hạn công bố), cũng như chưa hề có một nghiên cứu Sử nào về Việt Nam Cộng Hòa từng được xuất bản tại Việt Nam sau khi đã qua đủ trọn hết các bước luôn phải có của biên soạn – in xuất bản – bút chiến luận – khẩu chiến luận – đúc kết – bổ sung cập nhật những đồng thuận từ đúc kết vào bản thảo – tái bản lần thứ nhất; và

b) Các “nhà sử học” Việt Nam thuộc phe “xét lại” hoàn toàn không có trình độ ngoại ngữ – đặc biệt là tiếng Anh và tiếng Pháp – để có thể tạm thời nghiên cứu trong 50 năm từ tiền túi cá nhân những kho tài liệu báo chí khổng lồ về Việt Nam ở Âu Mỹ dưới dạng “imaging” hoặc từ nguồn chính thống hàn lâm có thể có trên internet, từ đó khảo cứu thêm, hình thành các ấn phẩm tham khảo, chờ các “nhà sử học” tương lai (#2070) đến thời điểm Hoa Kỳ và Pháp đến niên hạn công bố công khai giải mã các công văn mật/công hàm/tài liệu của các đời chính phủ của họ đối với Việt Nam Cộng Hòa trong đối phó với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, sẽ có cơ hội so sánh, thẩm tra, phản biện, bổ sung, hình thành các ấn phẩm nghiên cứu từ tiền túi của cá nhân, giúp các “nhà sử học” hậu tương lai (#2150 Thế Kỷ XXII) hình thành công trình Việt Sử Tân Biên chính thức của quốc gia được in ấn từ tiền thuế của dân.

Đối với nội dung “đa đảng” và “đảng phái chính trị” ở Việt Nam Cộng Hòa, tức là hai chi tiết hoàn toàn không thể tách rời mỗi khi bọn cáo hải ngoại và bọn ngu quốc nội hò hét đòi “đa đảng đa nguyên” ở Việt Nam, tôi đã từng khẳng định trên nhiều blog khác và blog này rằng

VNCH1VNCH2

cũng như qua hai bằng chứng hùng hồn rằng:

1) Trước khi tôi nêu sử liệu trên thì chưa từng có bất kỳ ai ở hải ngoại hay quốc nội mở miệng nói hay ra tay viết bất kỳ điều gì về “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu, xem nó thành lập năm nào, cương lĩnh dài mấy trang gồm những gì, văn phòng nó ở đâu, huy hiệu hay đảng kỳ ra sao; và nếu Việt Nam Cộng Hòa “đa đảng” thì mấy cái đảng kia tên gì, danh sách lãnh đạo của chúng qua các thời kỳ, cương lĩnh của chúng khác với cái của “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu là gì, đã làm được những gì, có quan hệ thế nào về đối ngoại với các nghị viện hay nghị sĩ các nước “đồng minh”, và các văn phòng ở đâu tại Thủ Đô Sài Gòn, huy hiệu/biểu tượng/đảng kỳ ra sao. Chưa kể là có các hình ảnh làm tư liệu không, vì lẽ nào hoạt động chính trị, họp hành giơ nắm đấm hùng hùng hổ hổ chống Cộng/chống Thiệu/chống Mỹ/chống-tuốt-luốt, biểu tình khí thế tuyệt thực no say mập ú thế mà báo chí Sài Gòn và báo chí “đồng minh” Mỹ/Hàn/Thái/Úc/Phi/Tân-Tây-Lan không đưa tin gì, không đăng ảnh gì, thậm chí không “đảng viên” nào đem theo bất kỳ tấm hình nào trên đường tháo chạy khỏi Việt Nam?

2) Sau khi tôi nêu sử liệu trên thì phe “đa đảng đa nguyên” hải ngoại/quốc nội – trừ bọn sinh sau đẻ muộn – đột nhiên tiến hành hai việc gồm (a) lập tức bớt nói sôi nổi về “đa đảng đa nguyên” và (b) ra tay nhằm “cả vú lấp miệng em” bằng thông tin thảy lên trang tham khảo miến phí Wikipedia để vừa tự đẻ ra cái thế “có thật” của mình vừa lừa bịp người chẳng hiểu biết gì về “đa nguyên đa đảng” và lịch sử “đảng chính trị” Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, cái vú ấy không rõ là vú gì, vì thông tin trên Wikipedia ngày 16-7-2017 võn vẹn có mấy câu đơn giản như sau (thậm chí có chi tiết trang này được sửa đổi lần cuối ngày 11-4-2017):

VHCH3

Nếu các thông tin trên vẫn được bọn chống Cộng nằng nặc bảo là thứ thiệt thì chúng phải trả lời sao đây khi cái “đảng” ấy (a) tồn tại có hai năm rồi biến mất vì “mặt trận” không bao giờ là “đảng chính trị”, (b) ra đời để phục vụ bầu cử “độc diễn” chứ không vì cương lĩnh “chính trị” gì cả, và (c) cũng “độc diễn” một mình một chợ trên hý trường chính trị Việt Nam Cộng Hòa chứ làm gì có các “đảng” nào khác; cũng như trả lời sao đây khi (d) người đầu tiên và duy nhất biết về Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu tức tác giả bài viết này sẽ nhân đó mà tái khẳng định rằng Việt Nam Cộng Hòa không có bất kỳ đảng chính trị nào, không bao giờ đa đảng đa nguyên, mà chỉ là một thể chế chính trị độc tài quân phiệt, nên đừng hòng có bất kỳ ai ở Việt Nam Cộng Hòa biết bất kỳ cái gì về đa đảng đa nguyên để mà hăng say nói về nó và khuyên bảo Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam?

Chưa kể, sự tồi tàn của thông tin về một “chính đảng” còn bộc lộ ở danh sách các “chóp bu” của “Đảng” gồm

VNCH4

mà chỉ cần nhấp vào các liên kết từ những cái tên lạ hoắc như Nguyễn Văn Hướng, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Văn Kiểu thì sẽ thấy hiện ra rằng chả có thông tin gì về các liên kết bày-ra-cho-có đó cả – nghĩa là toàn tên xạo:

VNCH5

riêng tên Nguyễn Văn Hiếu thì cho liên kết về một viên tướng vô danh tiểu tốt nào đó, trong khi cái tên Nguyễn Cao Kỳ thì thông tin cực kỳ ấu trỉ đến độ đáng thương hại vì Nguyễn Cao Kỳ không bao giờ gia nhập “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu cả, do Kỳ chống lại Thiệu trong khi Thiệu lập “đảng” – nếu theo ý của tác giả thông tin trên Wikipedia – là để phục vụ “độc diễn” ra ứng cử tổng thống đè bẹp Kỳ.

Chưa kể, hóa ra trong lúc lúng túng soạn-cho-bằng-được-thông-tin-cho-có thì kẻ  soạn đã quên phéng ghi luôn trong mục “tham khảo” có đường link đến bài “6 Lý Do Việt Nam Không Cần Đa Nguyên Đa Đảng” của…Hoàng Hữu Phước để chứng minh đã lấy ba chi tiết trong bài ấy gồm tên của “đảng” của Nguyễn Văn Thiệu mà từ trước đến lúc có bài ấy chả ai trên thế gian này biết, hình dạng đảng kỳ của cái “đảng” ấy, và…tên của “Đảng Trưởng”:

VNCH6

Nhân có tình tiết trên, tôi xin đăng lại dưới đây bài viết có nội dung “6 lý do Việt Nam không cần đa nguyên đa đảng” ấy để bạn đọc tham khảo, nhằm khẳng định không bất kỳ một người Việt nào trên thế gian này có quyền đòi hay gợi ý Viêt Nam nên đa nguyên đa đảng vì Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ đa đảng đa nguyên, thậm chí còn tệ hại hơn cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có hơn hai đảng chính trị trong khi Việt Nam Cộng Hòa không có bất kỳ “đảng chính trị” nào mà chỉ là các đảng cướp, đảng buôn lậu Tam Giác Vàng, đảng Nguyễn Văn Thiệu, đảng Nguyễn Cao Kỳ, đảng Dương Văn Minh, và hằng hà sa số “đảng” mà trí tưởng tượng có thể rặn đẻ ra được.

Luận Về “Đa Đảng”

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-02-2011

(đăng lần đầu ngày 13/02/2011 trên Emotino.com tại http://www.emotino.com/bai-viet/18997/da-dang)

VNCH7

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời “Việt Nam Không Cần Đa Đảng”  của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) L‎ý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm “chính trị” bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) L‎ý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng  mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”,  trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) L‎ý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8  giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc  mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

 

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1]  Những lập luận kỳ quái của người tự xưng là TS Trần Minh Hoàng  2008

[2]  Lời tựa của Lương Khải Siêu trong tác phẩm Việt Nam Vong Quốc Sử của Phan Bội Châu (ấn bản 1906): Gần đây, ta gặp một người Việt Nam vong mệnh (ý nói đến Phan Bội Châu), thường khi nói chuyện với ta, ông hay giàn giụa nước mắt!…Ta đọc sách này (Việt Nam vong quốc sử) chẳng những đã thương mà lại còn sợ nữa!

[3]  Tôi Và Lê Công Định

[4]  Tôi Và Cu Huy Ha Vu. http://www.emotino.com/m.php?p=18920

Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  18-5-2013

Tứ Đại Ngu  2012

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

Tuyệt Thực  02-7-2013

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn

Bài Viết Riêng Cho Các Cháu Sinh Viên & Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-9-2017

Wordpress Triều Tiên

A- Sự Thật Khốn Nạn

Triều Tiên là tên gọi Hán Việt cho đất nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Châu Sơn mà Âu Mỹ gọi tắt trong tiếng Anh là North Korea còn tiếng Việt nương theo đó gọi là Bắc Triều Tiên hoặc Bắc Hàn tùy theo sự lựa chọn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Hòa. Bắc Triều Tiên còn được gọi tắt là Triều Tiên.

1- Sự Thật Khá Khốn Nạn:

Tác giả bài viết này đã nhận ra sức mạnh thực chất kinh khủng của Triều Tiên nên trong Thư Gởi Tổng Thống Saddam Hussein đã vấn kế hình thành Khối Tân Trục Iran-Iraq-Triều Tiên để tạo thế chân vạc khống chế hiệu quả sự manh động của Hoa Kỳ nhờ đó giúp (a) duy trì hòa bình thế giới và (b) giúp nước Mỹ tránh họa suy vong vốn cực kỳ bất lợi cho nhân loại và Việt Nam với sự trỗi dậy của bọn Trung Quốc. Tuy nhiên, báo chí Âu Mỹ và tỷ tỷ con người trên thế giới vẫn hoặc mông muội hoặc giả vờ phủ nhận để tiếp tục vận dụng năng khiếu sáng tạo đẻ ra toàn những thông tin láo xạo về Triều Tiên, khiến một bộ phận không bao giờ nhỏ con cháu Tiên Rồng bị rối trí bởi sự tiếp tay tình nguyện của báo chí chính thống nội địa thiếu ánh sáng trí tuệ luôn mang tâm lý nô dịch tôn thờ thông tin Âu Mỹ giúp truyền lan nhanh hơn rộng hơn các láo xạo ấy về Triều Tiên.

2- Sự Thật Quá Khốn Nạn:

Fake News tức Tin Láo Xạo là thuật ngữ do Tổng Thống Mỹ Donald Trump chế ra để làm hệ thống truyền thông chính thống Mỹ từ nay ô danh vạn đại do đã rời xa các hào quang trung thực trung lập để tập trung công kích Donald Trump từ ngay trong thời gian tranh cử tổng thống cũng như tập trung phủ nhận bất kỳ thành tựu nào hoặc kế sách nào của Donald Trump sau khi trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về thông tin giật tít “Bắc Việt” tấn công chiến hạm Maddox của Mỹ tại Vịnh Bắc Bộ “buộc” Mỹ phải ào ạt đổ bộ vào … Đà Nẵng để xây dựng cái gọi là Nam Việt tức Việt Nam Cộng Hòa – thay vì lẽ ra phải là Hải Phòng nếu để trừng trị “Bắc Việt” cho vụ Maddox.

Cũng vậy, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về sự kiên trì đẻ ra bao thông tin giật tít về sự quái qở quái đản quái dị quái vật của Triều Tiên.

Tờ Telegraph lừng danh thế giới của Anh Quốc mới tháng trước còn đưa tin rằng binh sĩ đói khát Bắc Hàn đã được lịnh hãy đi ăn trộm bắp ngô của dân vì chiến tranh đã rất gần kề:

Wordpress Triều Tiên (2)

cộng với sự hòa âm điền dã của các bản tin tiếng Việt bất kể của báo chí chính thống xuẩn ngu khạo khờ con nít không được Đảng Cộng Sản dạy dỗ nên người, hoặc của tờ rơi xó chợ đầu đường láu cá cáo già muốn bôi nhọ bôi xấu “cộng sản” tức “phe” của Cộng Sản Việt Nam, dù Triều Tiên chẳng theo chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít, chủ nghĩa Mác-xít Mao-Ít hay chủ nghĩa…Mác-xít Kim-Nhật-Thành-nhít gì cả:

Wordpress Triều Tiên (3)

Chưa kể còn có thông tin tràn ngập về sự tàn bạo của chế độ Triều Tiên, sự điên dại của lãnh đạo Triều Tiên, sự đói khát của dân chúng Triều Tiên,

Wordpress Triều Tiên (4)

Vẫn chưa đủ, báo chí Âu Mỹ còn nhạo báng rằng quân đội Triều Tiên mỗi khi tổ chức diễu binh hoành tráng chỉ xài toàn mô hình vũ khí bằng đồ chơi, bằng nhựa, bằng bong bóng bơm hơi hay bằng mấy tấm tôn nhẹ hều uốn tròn làm giống như “hỏa tiển” để hù thế giới:

Wordpress Triều Tiên (5)

đến độ nhiều độc giả tại Việt Nam bị nhiễm độc thông tin nên mới thi nhau tự động có ngay những lời bình mà không biết bản thân đã ngây thơ ra sao và sa chân vào bẫy giặc như thế nào, chẳng hạn như:

Wordpress Triều Tiên (6)

3- Di Hại Thật Sự Từ Sự Thật Láo Xạo:

Trước khi nêu cụ thể thế nào là thông tin láo xạo trong Phần B dưới đây, nhất thiết phải giải thích vì sao gọi là ngây thơ sa chân vào bẫy giặc:

Việt Nam cộng sản giải phóng Miền Nam đánh tan quân đội Mỹ thành công và tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa thành công, Việt Nam cộng sản đánh tan Trung Quốc thành công, và Việt Nam cộng sản tiêu diệt Khờ-Me Đỏ thành công. Mỹ lập tức cấm vận kinh tế bủa vây phong tỏa Việt Nam. Hậu quả là Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế ba-con-số, sản xuất đình trệ vì bị cấm mua nguyên liệu cùng phụ tùng thay thế, lương thực thiếu thốn vì không được phép mua phân bón, thuốc men thiếu thốn do bị cấm nhập khẩu khiến bao người dân và trẻ con phải tử vong, phúc lợi xã hội gần bằng không. Kết luận của bọn truyền thông Âu Mỹ mất dạy dương dương tự đắc là (a) rõ ràng chủ nghĩa cộng sản chỉ tổ làm đất nước lầm than bần cùng hóa dân lành, (b) rõ ràng lãnh đạo cộng sản bất tài vô dụng vì không bao giờ làm kinh tế ra hồn bằng cái mớ kinh tế-chính trị Mác-Lê hỗn độn vô dụng, (c) rõ ràng lãnh đạo cộng sản lòi cái cốt kinh niên chuyên xâm lược nước khác, và (d) rõ ràng “phe” xã hội chủ nghĩa vô đạo đức chuyên đánh nhau loạn xị không bao giờ đại đoàn kết hướng thượng như phe tư bản. Và người nghe bị lùng bùng lỗ tai, mất luôn lý trí chẳng còn ai có khả năng nhận ra kẻ giết hại người dân và trẻ nít Việt Nam chính là bọn Mỹ bằng vũ khí cấm vận của chúng ngăn chặn sự sống còn của cả một dân tộc sau khi vũ khí súng-đạn-bom thất bại hoàn toàn.

4- Phản Đòn Từ Sự Thật Láo Xạo:

Gậy ông đập lưng ông. Sự đồng thuận của Mỹ với Trung Quốc và Campuchea xâm lược Việt Nam từ hai hướng Bắc và Tây Nam cũng như cấm vận kinh tế và tâm lý chiến để nhiều triệu người Việt Nam vượt biên vượt biển hầu khiến Việt Nam vừa mất nguồn nhân lực sản xuất lương thực khu vực phía Nam, vừa mất cả danh thơm vì “giải phóng” kiểu gì mà người được giải phóng phải bỏ chạy chối từ ơn huệ “giải phóng” ấy, rốt cuộc đã đẩy Mỹ vào tiến trình tự hủy vì phải cưu mang hàng triệu người nhập cư mà nhiều thập kỷ qua chứng minh không bất kỳ ai trong họ hoặc hậu duệ của họ đã trở thành nhân tài làm nước Mỹ thịnh cường mà chỉ lo tụ năm tụ ba mãi miết xuống đường hét la và chế tạo tin tức nhảm nhí với ước mong làm sập Việt Nam cộng sản mà súng-đạn-bom-quân Mỹ đã thất bại hoàn toàn.

Chưa kể, chẳng bao giờ có chuyện hàng trăm điệp viên thượng thặng của cộng sản lại không luôn có mặt trên tất cả những con tàu vượt biên thành công tức những chuyến vượt biển mà an ninh cộng sản Việt Nam làm ngơ không bắt. Đây là lý do nhất cử nhất động của các nhóm chống cộng hải ngoại đều được mật báo chi tiết chính xác về Việt Nam và an ninh cộng sản cứ thoải mái nằm võng chốt chờ đúng ngày đúng giờ đúng phút đúng giây hốt sạch các đoàn Kinh Kha vác vũ khí và tiền giả mò về “phục quốc”.

Gậy ông đập lưng ông. Sự láo xạo về Triều Tiên nhiều chục năm qua đã khiến Âu Mỹ tuần trước đã nói ngọng đầy run sợ thực sự trước một Triều Tiên tự nhiên đột nhiên hùng mạnh thực sự.

Một Nam Hàn cực kỳ tàn bạo dưới sự lãnh đạo độc tài của Park Chung Hee (Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tổng Thống Phác-Chánh-Hy) như nêu trong bài viết Tứ Trụ Bắc Việt xấn sổ hừng hực hùng hục ùa vào Việt Nam Cộng Hòa xa xôi để tiêu diệt cộng sản, nhằm giúp Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng thực hiện đại cuộc Bắc Tiến tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xem đó như cuộc tập dượt cho những kế hoạch hành động bạo tàn tương tự tiêu diệt Triều Tiên sát nách. Các cuộc thảm sát dân Việt do binh sĩ Nam Hàn thực hiện là minh chứng rõ nét nhất về sự khát máu của quân đội Nam Hàn trước đó đã từng tàn sát người dân Nam Hàn nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự Nam Hàn Phác-Chánh-Hy do Mỹ hậu thuẫn. Y hệt như kẻ ra lịnh tàn sát người dân nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự “Nam Việt” do Mỹ hậu thuẫn, sẽ không bao giờ có chuyện Nam Việt từ bỏ đại cuộc giết sạch dân chúng “Bắc Việt” thậm chí còn cầu mong Mỹ sẽ ném bom nguyên tử để xóa sạch một lần và mãi mãi “Bắc Việt”. Bắc Hàn chưa nếm mùi bom nguyên tử chẳng qua Mỹ lo sợ phóng xạ tràn lên Trung Quốc kích hoạt sự trả đủa biến Hoa Kỳ thành hỏa ngục và phóng xạ tràn xuống tiêu diệt luôn cả Nam Hàn tiền đồn tử thủ của Hoa Kỳ làm trống hoác tuyến phòng thủ phía Đông.

Thế thì cái việc đơn giản mà không những Bắc Hàn và “Bắc Việt” cũng như bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ nhà lãnh đạo nào của bất kỳ quốc gia nào bị lâm vào hoàn cảnh tương tự luôn là phải tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn. Ai phản bác điều đơn giản mang tính chân lý này chỉ có thể là kẻ ngu khờ. Nếu các bạn lãnh đạo một quốc gia phải đối mặt với bọn hiếu chiến thề nguyền tiêu diệt bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, với sự giúp sức của siêu cường cũng đang quyết tâm xóa sổ bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, phải chăng bạn sẽ nhanh chóng đầu hàng ngay, dâng ngay thủ cấp của bạn, dâng nước cho kẻ thù?

Còn nếu bạn tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn để tự vệ, để cứu quốc, để cứu sống cả dân tộc, thì xin kính mời bạn thành tâm học hỏi từ Triều Tiên và các lãnh đạo của Triều Tiên.

B- Che Đậy

Triều Tiên là đất nước bí mật vì luôn có sự che đậy từ hai phía.

1) Triều Tiên đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên:

Che đậy và tung hỏa mù là binh pháp hữu hiệu từ ngàn xưa để tự vệ của tất cả các “con” từ con thú đến con người.

Hoa Kỳ đã che đậy và tung hỏa mù và áp dụng cơ chế kỹ luật sắt nhằm bảo vệ nghiêm nhặt tất cả các căn cứ quân sự và tình báo ngay trên đất Mỹ.

Việt Nam Cộng Hòa luôn gắn bảng cấm chụp hình và “Vượt Qua Binh Sĩ Sẽ Nổ Súng” trước các vị trí đóng quân, ngay cả phía đối diện với trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký (tức trường Lê Hồng Phong, đường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay).

Trong thế bị Mỹ và Nam Hàn chực chờ tiêu diệt, Triều Tiên đã luôn cấm du khách tự do đi lại, tự do chụp hình, cũng như không mặn mà khoe sức mạnh kinh-tài của đất nước, vì không muốn các thông tin chính xác về vị trí các cơ quan đầu não chính trị-kinh-tài bị tiết lộ, trở thành mục tiêu tấn công bằng hỏa tiễn của kẻ thù.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chiến thắng tuyệt toàn (tuyệt đối và toàn diện) trước Mỹ.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Triều Tiên đã tồn tại cho đến ngày nay một cách không sao tưởng tượng nổi – nếu dựa trên tỷ tỷ thông tin hết sức đáng tin cậy của truyền thông Âu Mỹ nhiều thập niên qua.

2) Âu Mỹ đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên.

Trước sự thật là đã hoàn toàn thất bại về tình báo, gián điệp, và phản gián chống Triều Tiên;

Trước sự thật là Triều Tiên đã thành công trong giữ bí mật tuyệt đối;

Để che đậy sự bất lực của mình, Âu Mỹ đã nương theo đó loan truyền về sự tàn bạo khát máu của giới cầm quyền Triều Tiên, sự khiếp sợ và đói khổ của người dân Triều Tiên, sự chà đạp nhân quyền và tự do ngôn luận ở Triều Tiên, như những lý do hùng hồn chứng minh vì sao không thể có thông tin và hình ảnh cụ thể của Triều Tiên lọt ra ngoài để Âu Mỹ có thể chạm vào Triều Tiên.

Âu Mỹ chỉ có thể tung hê những phát biểu của một kẻ bôn đào nào đó từ Triều Tiên tố cáo chế độ Triều Tiên, xem đó như những lời đáng tin cậy nhất từ nguồn tin đáng tin cậy nhất của người dũng cảm nhất trong toàn bộ dân tộc Triều Tiên. Song, ngay cả tác giả bài viết này khi đọc một tải đăng trên Tweeter về phát biểu của một kẻ bôn đào từ Triều Tiên, đã có thể “tweet” ứng khẩu ngay bằng tiếng Anh trong phạm vi võn vẹn 140 ký tự tại @HoangHuuPhuoc rằng tất cả bọn bôn đào “chính trị” hiện nay trên toàn thế giới đều thực chất là hoặc đi kiếm ăn ngoài nước vì đói, hoặc trốn vì đã là tội phạm ở quê hương, hoặc đào tẩu vì là kẻ phản quốc hèn hạ; đồng thời nêu tên các kẻ bôn đào mà Mỹ đang quyết tâm phải truy nã bắt về trị tội cho bằng được như chuyên gia Edward Snowden của CIA là công dân Mỹ Quốc và chủ nhân Julian Assange của Wikileak là công dân Áo Quốc; huống gì các bậc tài trí vĩ đại của thiên hạ còn hùng biện đến đâu để dễ dàng vạch mặt “tiêu chuẩn kép” hèn hạ của bọn truyền thông Âu Mỹ.

C- Tự Thú Bất Ngờ

1) Triều Tiên Tự Thú:

Nhận thức được những gớm ghê của công nghệ của thời đại thông tin trong thám sát thám báo không gian, Triều Tiên biết rằng toàn bộ lãnh thổ của mình đã nằm gọn trong tầm nhìn chi tiết, rõ nét, thường xuyên của kẻ thù. Cũng vì vậy, một mặt Triều Tiên phát triển công nghệ cao về thông tin để mạnh mẽ bước chân vào mặt  trận chiến tranh công nghệ thông tin toàn cầu, một mặt nới lỏng các nội dung trước đây tuyệt đối cấm đoán, nhờ đó nhân loại bắt đầu có những hình ảnh về những nữ sĩ quan văn công sắc nước hương trời vác đàn vilon và cello đi lưu diễn hải ngoại cho nước ngoài biết thế nào là lễ độ với văn hóa Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (7)

Đặc biệt, các hình ảnh công khai của truyền thông Triều Tiên cũng như qua các ảnh chụp của các du khách Âu Mỹ cho thấy một Triều Tiên với thủ đô “Bình Nhưỡng” mà National Geographic phải tán thưởng là tuyệt đẹp, mà với sự công tâm thì người Việt Nam có thể phải thừa nhận trong tủi hổ tủi thân tủi nhục rằng không bất kỳ một thành phố lớn nào của Việt Nam cường thịnh no đủ có thể sánh bằng:

Wordpress Triều Tiên (8)Wordpress Triều Tiên (9)Wordpress Triều Tiên (10)Wordpress Triều Tiên (11)Wordpress Triều Tiên (18)

Chưa kể, tòa nhà Ryugyong Hotel 105 tầng cao sừng sững như một Kim Tự Tháp do một tập đoàn Ai Câp thiết kế – dù việc xây dựng nhiều năm vẫn chưa hoàn tất do tác động của cấm vận kinh tế – cũng đủ cho thấy sức mạnh kinh tế của Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (12)Wordpress Triều Tiên (13)

Phải chăng Triều Tiên nghèo đói lạc hậu chuyên môn diễu binh bằng hỏa tiễn cao su bong bóng nên đã xây một thành phố với những tòa nhà vĩ đại bằng cách lắp ghép các tấm tôn chất lượng mỏng dính thua sản phẩm của Tôn Hoa Sen và bằng những tấm bìa các-tông sơn bằng loại phẩm màu đặc biệt đến nỗi mưa không làm phai màu và gió bão cuồng phong không thể thổi bay tứ tán xuống thủ đô Seoul của Nam Hàn rồi tan thành bột giấy lọt xuống cống trôi ra Biển Hoa Đông?

Còn việc thiếu lương thực do đất nông nghiệp ít, mùa màng thất bát, cấm vận chặn ngăn, không thiếu mới là chuyện lạ. Vấn đề là thiếu thốn nhưng bản thân chính phủ Triều Tiên đã vận dụng khoa học vào sản xuất lương thực thay thế như thế nào, thành công ra sao. Tương tự, cường quốc nguyên tử Ấn Độ vì danh dự quốc gia đã tuyên bố không bao giờ nhận cứu trợ nhân đạo bất kỳ, và chỉ có thảm họa động đất kinh hoàng Latur ngày 30-9-1993 tàn phá tiểu bang Maharashtra giết chết 10.000 dân cư và làm bị thương 30.000 người (theo số liệu của cơ quan chức năng, trong khi số liệu không chính thức thì chỉ riêng số người chết đã là 30.000) mới làm ý chí ngạo nghễ đó sụp đổ dù Nhà Nước vẫn dựng nên rào cản rằng Ấn Độ nay muốn tạo điều kiện cho nhà từ thiện Âu Mỹ được thỏa lòng mong đợi nên xem xét chấp nhận cứu trợ nhưng với điều kiện tiên quyết rằng hàng cứu trợ thiên tai phải là hoặc mới nguyên, không nhận quần áo đã qua sử dụng, hoặc bằng hiện kim, theo đúng danh mục hàng hóa cần đến do Chính Phủ Ấn Độ chính thức phát hành.

Không phải tự nhiên trong tất cả các phim bộ truyền hình Nam Hàn (tức Hàn Quốc) chiếu ở Việt Nam hiện nay luôn có cảnh các món ăn đa số là rau, còn thịt luôn dùng làm quà tặng quý, cũng như mỗi khi thấy có thịt là mọi nhân vật trong phim đều phải diễn sao cho bật sự suýt xoa. Bắc Hàn và Nam Hàn đều chịu chung số phận những quốc gia nhiều đồi núi, ít đất canh tác lương thực, lại lắm thiên tai. Chương Trình Lương Thực Liên Hợp Quốc WFP đã phải tích cực tập trung tăng cường viện trợ lương thực cho Nam Hàn (tức Hàn Quốc) trong 20 năm liên tục (từ 1964 đến 1984) và kể từ năm 2000 Nam Hàn mới tự túc được lương thực, giảm tỷ lệ tử vong vì suy dinh dưỡng ở trẻ em, không những vậy còn bắt đầu đóng góp cho WFP cho đến nay được 140 triệu USD. Nếu Bắc Hàn (tức Triều Tiên) thiếu thốn lương thực nan giải hơn do cấm vận của Mỹ và Liên Hợp Quốc và chỉ dựa vào viện trợ lương thực vừa phải của một hai “nước anh em” thì đâu phải là chuyện lạ mà lại sử dụng việc “thiếu lương thực” để bôi nhọ chế độ Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên một cách u mê kém hiểu biết đến dường ấy?

Tất cả những người có danh dự, có lòng tự trọng, và có biết tôn trọng danh dự, luôn kính trọng tư cách giữ gìn quốc thể của Ấn Độ và tư thế tự lực sinh tồn của Triều Tiên trước bủa vây cấm vận của kẻ thù.

2) Thế Giới Tự Thú:

Sau khi tuyên bố chỉ có Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh Quốc và Pháp Quốc là những quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử NWS và xem phần còn lại của thế giới là các quốc gia không có vũ khí nguyên tử NNWS trong Hiệp Ước Không Phổ Biến Vũ Khí Nguyên Tử NPT năm 1970, cơ quan quốc tế có liên quan đã ngu xuẩn không nhìn nhận Ấn Độ, Pakistan, và Israel cũng là NWS, đồng thời từ chối yêu cầu của Triều Tiên đòi phải ghi Triều Tiên vào danh sách NWS. Sự ngu xuẩn ấy đã khiến Triều Tiên rút tên khỏi Hiệp Ước, và cùng Ấn Độ, Pakistan, và Israel mặc sức theo đuổi các chương trình quốc gia để chạy đua vũ trang chế tạo vũ khí nguyên tử.

Khi cười cợt nhạo báng sự điêu linh của Triều Tiên từ chuỗi các lịnh cấm vận, Mỹ và Liên Hợp Quốc đã lâm vào thế kẹt do Triều Tiên chưa từng được họ công nhận là quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử, nên do vậy các lịnh cấm vận đều bị Triều Tiên có quyền nguyền rủa, liệt Mỹ và Liên Hợp Quốc vào vị thế những kẻ làm càn, vô duyên, vô lý, bá đạo, khiến Mỹ và Liên Hợp Quốc chưa bao giờ có danh chính nghĩa trong “xử lý” Triều Tiên “tội” sở hữu vũ khí nguyên tử. Chưa kể, Triều Tiên đã rút ra khỏi Hiệp Ước nên không cơ quan quốc tế nào trên nguyên tắc có quyền sử dụng quyền trừng phạt “thành viên” áp đặt lên Triều Tiên. Đó là lý do dù Triều Tiên đã tuyên bố hủy bỏ hiệp ước, Hiệp Ước vẫn đôi co tranh cãi rằng Triều Tiên đã vi phạm…quy định về thời gian nộp đơn xin rút tên, và do đó mặc nhiên Triều Tiên vẫn là “thành viên” mặc cho mấy chục năm qua chẳng đi họp bao giờ.

Khi tần suất thử bom nguyên tử của Triều Tiên dày hơn, thường xuyên hơn, và khi thấy các tầm bắn của các hỏa tiển Triều Tiên ngày càng kinh khiếp hơn, như Nodong có bán kính đe dọa toàn diện tích Nhật Bản và các đảo của Mỹ; Musudon quét trùm 2/3 diện tích Nga; KN-14 ôm gọn toàn lãnh thổ Canada, 50% diện tích nội địa Hoa Kỳ, toàn bộ Châu Âu, toàn bộ Châu Đại Dương, và toàn bộ Đông Nam Á; và KN-08 bao trùm toàn bộ Hoa Kỳ và toàn bộ Mexico cùng các châu nằm trong bán kính tương tự, Mỹ và Châu Âu mới buộc phải thú nhận rằng Triều Tiên là một cường quốc nguyên tử.

Báo Politico còn thừa nhận rằng Triều Tiên là một trong những mục tiêu tình báo bấy lâu nay Âu Mỹ hoàn toàn không thể xâm nhập được, trong khi các cơ quan an ninh tình báo Mỹ lại bó tay trước các tin tặc tài ba mà họ cáo buộc là các cuộc tấn công xuất phát từ Nga và Triều Tiên:

Wordpress Triều Tiên (14)

Còn Mỹ tự nhiên lần đầu tiên tự đặt mình ở thế chiếu dưới khi Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley vừa qua đã phải tuyên bố tại Hội Đồng Bảo An ở New York rằng “Đã đủ rồi đấy. Chiến tranh không bao giờ là thứ Hoa Kỳ muốn có. Song sự nhẫn nhục của chúng tôi không phải là không có giới hạn”. Khi mà Mỹ phải “nhẫn nhục” chịu đựng thì rõ là tư thế của Mỹ đã không còn khí thế ngang tàng như bấy lâu nay.

Khi Mỹ tuyên bố lắp đặt các hệ thống tên lửa đánh chặn THAAD ở Hàn Quốc còn Nhật hùng hổ triển khai các hệ thống PAC-3 hùng mạnh sẵn sàng bắn hạ tất cả các hỏa tiển Triều Tiên không để chúng rơi xuống Hàn, Nhật hay đảo Guam của Mỹ, Triều Tiên lập tức khai hỏa bắn hỏa tiển bay băng ngang lãnh thổ Nhật Bản và rơi xuống biển sau hành trình 1.700 dặm sau những 9 phút chứ không phải 9 giây:

Wordpress Triều Tiên (15)

mà cả THAAD và PAC-3 trở nên vô dụng hoàn toàn thất bại không thể phát hiện bắn hạ ngăn chặn dù chỉ một hỏa tiển tấn công của Triều Tiên suốt quãng đường gần 2.000 dặm, nói chi đến lúc Triều Tiên khai hỏa bắn cấp tập hàng chục hỏa tiển túa ra khắp nơi đánh cùng lúc vào các mục tiêu ở Mỹ và Châu Âu!

Để cứu gỡ thể diện, Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley tuyên bố Triều Tiên đang lạy lục xin xỏ – với động từ dành cho kẻ ăn mày “beg” – chiến tranh (“begging for war”) ra vẻ như Triều Tiên là kẻ ăn mày thèm khát chiến tranh còn Mỹ sẽ xem xét bố thí cho một cuộc chiến tranh. Truyền thông Việt Nam để ghi điểm với Mỹ đã nhanh nhảu dịch rồi giúp Mỹ loan tin với từ ngữ miệt thị bỡn cợt Triều Tiên rằng:

Wordpress Triều Tiên (16)

Tất nhiên, giống với tất cả các cơ quan truyền thông trên toàn thế giới thực sự có uy lực biết giữ gìn quốc thể – trong đó hoàn toàn thiếu vắng truyền thông Việt Nam – truyền thông Triều Tiên đã dõng dạc tuyên bố: “Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley là một con đĩ chính trị chỉ biết xum xoe tốc váy…hãy biết giữ cái mồm kẽo…” (North Korea on Friday called U.S. Ambassador to the United Nations Nikki Haley a “political prostitute” and derided her as “crazy swishing her skirt” after Haley said the rogue regime was “begging for war”…).

Tất nhiên, toàn hệ thống truyền thông chính thống Việt Nam không hề phổ biến khẩu khí đốp chát tuyệt hảo trên cơ này của truyền thông Triều Tiên.

Trong khi đó, Thủ Tướng Đức Angela Merkel xun xoe tuyên bố sẵn sàng đứng ra giúp đàm phán với Triều Tiên ngay lập tức nếu được mời tham gia (‘I would say yes immediately if we were asked to join talks.’)

Báo The Guardian của Anh Quốc đột nhiên trỡ giọng lễ độ, có bài ghi rằng nền kinh tế Triều Tiên tăng trưởng 3,9% năm 2016 với tốc độ nhanh nhất trong 17 năm qua, rằng ông Kim Jong-un làm gì là để chiến thắng chứ không chấp nhận huề, rằng nếu bị dồn vào chân tường ông sẽ y như Nhật Hoàng tấn công luôn Trân Châu Cảng, rằng sở dĩ phải sở hữu vũ khí hạt nhân vì ông ấy phải đối mặt với sự xâm lược của Mỹ do ý định không đổi của Mỹ là thay đổi chế độ Triều Tiên cũng như ông không muốn chịu chung số phận của Saddam Hussein là người đã vì nghe lời Mỹ hủy các vũ khí giết người hàng loạt mà sau đó bị Mỹ sát hại, và rằng ông Kim chỉ dữ dằn hiếu chiến chứ không có điên khùng điên loạn điên rồ gì sất.

Không hề thua kém đồng nghiệp, tờ Telegraph danh tiếng cũng của Anh Quốc ngày 10-9-2017 đưa tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Anh Quốc Ngài Michael Fallon phân trần với Đài BBC rằng “Mỹ có quyền bảo vệ lãnh thổ của Mỹ và người dân Mỹ, nhưng họ sẽ làm ta bị liên lụy, vì cần nhớ là Thủ đô Luân Đôn gần với hỏa tiễn Triều Tiên hơn là Los Angeles“, nghĩa là nếu Mỹ gây sự với Triều Tiên thì Anh Quốc bị tiêu diệt trước cả Mỹ, và rằng “bằng mọi giá phải tránh cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Triều Tiên.” Telegraph cũng ghi lại phát biểu của Tổng Thư Ký NATO Jens Stoltenberg rằng chế độ Bình Nhưỡng giờ đây nổi lên như một sự đe dọa toàn cầu.

Vậy là đã xuất hiện những lời tự thú của những kẻ đã biết thế nào là lễ độ với Triều Tiên, đã phải điều chỉnh ngôn ngữ vì lợi ích an ninh của chính quốc gia họ mà bắt đầu nêu những lời tốt đẹp về con người Triều Tiên, xã hội Triều Tiên, phúc lợi hạnh phúc Triều Tiên, phát triển kinh tế Triều Tiên, cảnh đẹp Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo vững vàng tài ba của Kim Jung-un!

D- Nhận Định

1) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về An Ninh Quốc Gia:

Chọc giận “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” (lời bài hát của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong chiến tranh chống Mỹ) và chọc giận lãnh đạo đoan chính anh hùng bất khuất Kim Jong-un không bao giờ có thể là sự khôn ngoan.

Có một tên tự xưng là “nhà sử học” và một tên tướng lĩnh quèn phản phúc đã tuyên bố rằng “chính Kim Nhật Thành và Triều Tiên đã ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam” mà không hề đưa ra được các liên kết sử liệu nào chứng minh xuất xứ thông tin. Mặc cho cả hai  tên này đều ngu dốt ngang nhau ở chỗ các sử liệu chỉ có giá trị sau khi nghiên cứu từ tất cả các nguồn trên thế giới sau từ 50 đến 90 năm (nghĩa là phải chờ Mỹ, Trung Quốc, Nga, và Triều Tiên công bố sử liệu có liên quan trực tiếp đến Việt Nam theo quyết định của họ là sau 50 hay 90 năm) nên các tuyên bố vung vít của chúng là rác rưởi, thì tác giả bài này cũng nhân đây nêu rõ thêm các nguyên tắc khác sau đây:

a- Triều Tiên có quyền có quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam và Ấn Độ cực kỳ hữu hảo, nhưng Ấn Độ không bao giờ lên tiếng trách Việt Nam hữu hảo cả tá “chữ vàng” với Trung Quốc là kẻ thù không đội trời chung của Ấn Độ cả.

b- Việc Kim Nhật Thành đón tiếp trọng thị phái đoàn của Campuchea và trao tặng “đồng chí” Pol Pot danh hiệu Anh Hùng Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là chuyện thù tạc thuộc chủ quyền của Triều Tiên.

c- Thậm chí trong nguồn tin chính thức gần như là duy nhất có liên quan đến sự việc trên qua công bố của nhà báo Nate Thayer thì trong bài viết dài 2.282 từ tiếng Anh của ông đã có 30 lần sử dụng chữ Việt Nam, nhưng chẳng có lời bất kỳ nào viết rằng chính Kim Nhật Thành ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam cả. Nhét chữ vào mồm người khác – mà người khác ở đây là một nhà báo nước ngoài có thế lực hẳn hoi chứ không phải nghị sĩ Hoàng Hữu Phước không phải đảng viên luôn bị Đảng “đì” ngay từ lúc còn dưới mái trường đại học, không phe nhóm chẳng ô dù nào của “Tứ Trụ Triều Đình” che bớt nắng mưa – là hành động điên rồ ngu xuẩn của kẻ thất học.

Vì vậy người dân Việt Nam nhất thiết phải cảnh giác trước những kẻ vì đần độn mà láo xạo về Ông Nội của Kim Jong-un để rồi Việt Nam có nguy cơ có ngày đón chào tên lửa nguyên tử KN-14 của Triều Tiên dội xuống Huế-Sài Gòn-Hà Nội.

2) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về Kinh Tế – Chính Trị:

Khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đang xem xét việc ngưng các hoạt động thương mại với bất kỳ quốc gia nào “mần ăn” với Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (17)

thì tất nhiên Việt Nam sẽ có lúc vì “Việt Nam Trên Hết” mà phụ nghĩa với Triều Tiên, chấm dứt quan hệ kinh tế với Triều Tiên, chấm dứt cứu trợ nhân đạo Triều Tiên, tuân theo lịnh của Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc.

Tất nhiên “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” và lãnh tụ anh hùng Kim Jong-un sẽ không bao giờ trách móc Việt Nam. Chính vì vậy mà Việt Nam nhất thiết phải nghiêm cấm báo chí truyền thông (có quyền cấm báo chí truyền thông vì báo chí truyền thông là công cụ tuyên truyền của Đảng chứ không phải là bọn báo chí tư nhân mà có quyền đòi tự do ngôn luận) có bất kỳ bài báo nào vô đạo đức hùa theo Âu Mỹ mà xúc xiểm Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên, để ít ra Việt Nam còn le lói sót lại một chút ánh sáng nhân văn.

3) Mưu Kế Lăng Tần:

Vài học trò hỏi tôi rằng vào thời của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein tôi đã cho rằng Triều Tiên nắm vận mạng thế giới mà Saddam nên dựa dẫm vào để duy trì cân bằng quyền lực toàn cầu; còn vào thời thịnh trị lấn lướt tuyệt đối của Đảng Dân Chủ Mỹ tôi vẫn cho rằng ứng cử viên đầy tai tiếng về những hành vi bất nhã đối với phụ nữ không tí kinh nghiệm chính trường Donald Trump sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ, thế thì nay vào thời kỳ của “Tổng Thống” Triều Tiên Kim Jong-un tôi có nhận định thế nào cho thời gian đang đến.

Tôi đã trả lời rằng lần này tôi sẽ nói trực tiếp riêng với các em chứ không phơi bày gan ruột sự thấu thị của mình trên mạng xã hội “chùa” mà vài chục người đọc nín thinh lại phải đối chọi với quân đoàn báo chí hùng hậu có kiểu cách thấp kém chỉ biết chửi bới chê bai chứ không có khả năng bút chiến luận. Do đó, dù việc thấu thị là sự đương nhiên sẵn có về phân tích chính trị thế giới trong hiễm họa đao binh nguyên tử đang làm cả Châu Âu run sợ, tôi vẫn sẽ không để bản thân tạo điều kiện cho chúng ghét. Tôi chỉ có thể nói nương theo bài Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi để cảnh báo Liên Hợp Quốc rằng đừng dại dột tụ năm tụ ba ra hết nghị quyết này đến nghị quyết khác trừng phạt Triều Tiên vì rằng chỉ cần Kim Jong-un mưu lược rút ra khỏi Liên Hợp Quốc là đã đủ triệt tiêu danh dự Liên Hợp Quốc, làm tiêu tan quyền lực Liên Hợp Quốc, tiến tới xóa sổ Liên Hợp Quốc. Hãy học theo truyền thông chính thống Châu Âu khi ngày hôm trước còn nói Triều Tiên nghèo đói lầm than dưới sự lãnh đạo của một tên điên loạn khát máu thì sang ngày hôm sau đã dịu giọng rằng Triều Tiên phát triển kinh tế nhanh nhất tạo phúc lợi tốt đẹp cho người dân dưới sự lãnh đạo sắt đá của một vị tổng tư lệnh chỉ biết phải chiến thắng để bảo vệ danh dự quốc gia và bảo vệ nhân dân chứ không chấp nhận ngay cả điểm huề trước siêu cường Hoa Kỳ cùng tổ chức Liên Hợp Quốc; rằng du khách đã được phép chụp hình Thủ Đô Bình Nhưỡng từ trên máy bay nên thế giới nay biết Bình Nhưỡng đẹp mê hồn; rằng nơi đâu cũng thấy nhi đồng vui chơi dưới sự chăm sóc của một chế độ mà từ y tế đến giáo dục và nhà cửa đều được cấp miễn phí, v.v., tức những điều nghe qua cứ ngỡ phải mất thêm một thiên niên kỹ nữa may ra mới có thể có ở Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cảnh báo: Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

Mưu kế Lăng Tần về Iraq-Triều Tiên: Tôi và Saddam Hussein

Sự điên loạn của Nam Hàn: Tứ Trụ Bắc Việt

Khẳng định về Donald Trump: Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Thông tin về sự lo lắng của Châu Âu đối với uy lực Triều Tiên trên báo The Telegraph: http://www.telegraph.co.uk/news/2017/09/10/britain-threat-north-korean-nuclear-missiles-says-defence-secretary/

Báo The Guardian nói tốt về Kim Jong-un: https://www.theguardian.com/world/2017/sep/08/in-the-court-of-kim-jong-un-ruthless-bellicose-despot-not-mad

Nạn đói ở Triều Tiên: http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:https://vn.sputniknews.com/asia/20151112865043/

Nạn đói ở Nam Hàn: http://www.wfp.org/news/news-release/wfp-executive-director-commends-republic-korea-taking-zero-hunger-challenge

Đi Tắt Đón Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-9-2017

Đi Tắt Đón Đầu – Định Nghĩa Đầu Tiên

(bài được đăng lần đầu tiên ngày 05-3-2009 trên Emotino tại http://www.emotino.com/m.php?p=17539)

Nhóm từ “đi tắt đón đầu” đã được sử dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây với một ứng dụng mới khi gắn kết vào trong hoạch định chính sách quốc gia; song như một thông lệ trầm kha ở Việt Nam, chưa bao giờ có một phần định nghĩa mới bất kỳ cho nhóm từ mới hay nhóm từ mang tính thành ngữ được cho thêm một ý mới, khiến không thể đem lại sự thông hiểu tự động tự nhiên đồng nhất nơi mỗi người đọc, nghe, thấy, viết lại cụm từ.

Trước hết, cần phải hiểu “đi tắt đón đầu” là một khả năng siêu việt chỉ có nơi những người mạnh khỏe, cường tráng, có sức chịu đựng cực cao, tinh khôn, nhanh nhẹn, quyết đoán, sáng tạo, và quả cảm khi lao vào nơi cực kỳ gian khó mà thành hay bại chỉ là một đường ranh nhỏ chứ không phải trên một tỷ lệ hên xui may rủi 50/50. Thừa hưởng một gia tài kếch sù – từ cha mẹ hay từ Nhà Nước – rồi nhàn hạ chạy lung tung, đầu tư lung tung, hoàn toàn không phải “đi tắt đón đầu” mà là “lấy thịt đè người” của giới đầu cơ speculator không hơn không kém.

Một vài thí dụ nhất thiết cần được đưa ra để làm rõ lập luận trên.

Trong nhiều phim hành động, diễn viên chính loại cơ bắp như ngài Thị trưởng California hoặc bậm trợn như Clive Owen hay lạnh lùng diễm tuyệt như Matt Damon không bao giờ rượt kịp chiếc tàu hỏa cao tốc nên phải “đi tắt đón đầu” bằng cách chạy như bay lên đồi cao, bị cây cối quất vào thịt vào da vào mặt bật máu, rồi lúc chạy xuống dốc đồi phía bên kia có khi té lăn đùng qua các bụi gai góc, để rồi có khi té xuống hướng ngay trước đầu máy xe hỏa đang vùn vụt lao tới (may mà níu được bờ tường của đường hầm xuyên núi tích tắc trước khi đầu xe lao ra, và sau đó buông tay rơi xuống một toa áp chót để có mặt trên cùng chuyến tàu cao tốc của những người đã mua vé danh chính ngôn thuận từ nhà ga khởi hành xa lắc xa lơ). Đó là “đi tắt đón đầu”. Không cơ bắp, không nhanh nhẹn, không tính toán cân đối sức lực và thời gian một cách khoa học, không lao vào ngõ tắt chưa dấu chân người thì sẽ cứ mãi chạy chân rượt đuỗi trên đường ray các đại gia làm sẵn cho các toa tàu của họ  trong khi con tàu bon bon trên đường ray của chính nó mãi mãi rời xa.

Trong cuộc chiến tranh Chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, lớp lớp đoàn quân dưới sự lãnh đạo của các tướng lĩnh Cộng sản Việt Nam, đã chôn vùi tận đáy bùn đen tên tuổi các tướng lĩnh đối phương làm đời đời hoen ố uy danh của học viện quân sự West Point Hoa Kỳ và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung Việt Nam Cộng Hòa, khi đã đưa bao binh đoàn áp sát tiền đồn đối phương, thọc sâu vào trung tâm thị tứ đối phương, chiếm đóng ngay Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, mà đối phương với kỷ thuật hiện đại và tình báo tinh nhuệ vẫn không sao phát hiện được bụi, khói, tiếng động, bóng người của những cuộc hành quân. Đó là một công trình “đi tắt đón đầu” đích thực và hoàn mỹ. Một cuộc “đi tắt” để đón đầu diệt địch. Một cuộc “đi tắt” kéo dài đến mấy mươi năm, hy sinh biết bao, gian khổ biết bao, để “đón đầu” thời kỳ độc lập, tự chủ, hòa bình, phát triển.

“Đi tắt đón đầu” do đó phải mang tính “bí mật”, có tính chiến lược, với đầy sách lược cụ thể cho từng giai đoạn, tận dụng hết sức lực, để cuối cùng có mặt trên con tàu cao tốc không chịu dừng đón khách dọc đường để cùng nó lao đến vinh quang, hoặc giúp người “đi tắt đón đầu” từ từ bò trên nóc các toa tàu tiến lên phía trước, leo xuống buồng lái, rồi trở thành đầu tàu của các toa tàu đại gia.

Việt Nam vừa được xóa cấm vận, mọi người ùa vào thì sao mà gọi họ là “đi tắt đón đầu”? Phải hùng dũng như Pepsi-Cola vào Việt Nam khi vòng vây cấm vận vẫn còn, nằm gai nếm mật với Việt Nam, để rồi khi cấm vận vừa được tuyên bố xóa bỏ thì Pepsi-Cola đã có ngay (sản xuất vài tuần trước đó) sản phẩm Pepsi-Cola bày ra khắp nơi tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh để mời người qua đường ghé vào uống miễn phí, với cờ hoa biểu ngữ đón mừng sự kiện xóa cấm vận Việt Nam. Đó mới là “đi tắt đón đầu” nghĩa là đi vào con đường chưa có lối đi (khung luật pháp của chính quốc Hoa Kỳ) và chưa ai nghĩ đến việc “đi tắt đón đầu” (Coca-Cola vẫn còn ẩn núp bên Thái Lan dõng tai nghe ngóng).

Tóm lại, “đi tắt đón đầu” là một thành ngữ tuyệt diệu, không phải là chuyện giản đơn như kẹt xe thì chui vô các ngõ, các hẻm, các ngách, các “kiệt”, một cách tự phát, không chuyên nghiệp, lấn dùng lối đi nhỏ hẹp có nhiều trẻ em gia đình không khá giả đứng chơi, gây thêm hỗn loạn và hạ thấp tư cách công dân.

“Đi tắt đón đầu” phải là như trong thời cực thịnh của máy vi tính, IBM quyết định bán hết cơ ngơi cho một hãng vi tính Trung Quốc, còn mình tập trung cho các giải pháp quản trị và tư vấn.

“Đi tắt đón đầu” hoàn toàn không phải là thấy người ta phát triển nhãn hiệu điện thoại di động thì nhanh tay tung tiền mở công ty và mua nhiều cơ ngơi mở nhiều chi nhánh bán điện thoại của các hãng điện thoại hầu nắm nhiều khách hàng hơn đối thủ cạnh tranh nghĩa là thực chất chỉ là đầu tư địa ốc chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển sản xuất điện thoại di động; cũng không phải thấy nước ngoài có nhiều đại gia siêu thị là tung tiền nhà nước mua đất vàng ở khắp các tỉnh thành để mở siêu thị trước mà thực chất chỉ là chụp giựt vị trí đắc địa chứ không phải phát triển kinh doanh bán lẻ giá sĩ; cũng không phải nghe nói nước ngoài phát triển công nghệ thông tin là vội vàng cho trường lớp trang bị máy vi tính mà thực chất chỉ là kiếm cớ xin xỏ xài sạch tiền ngân sách.

“Đi tắt đón đầu” mà cứ bô bô cái miệng nói về cái “quốc sách đi tắt đón đầu” của ta thì rõ là ta cực kỳ thiếu thông minh, công bố cho toàn thiên hạ biết rõ về “âm mưu” của ta để từ đó thiên hạ né lạng qua chỗ khác cho chúng ta mặc sức tha hồ đi tắt để đón đầu dĩ vãng.

Chừng nào ý nghĩa sâu xa của thành ngữ “đi tắt đón đầu” còn chưa được nghiêm túc hiểu đúng, chừng đó việc “đi tắt đón đầu” vẫn sẽ còn là câu cú cho sự cười cợt và nước ta bao giờ mới có được con đường tắt đúng nghĩa để dồn toàn lực lao đi đón đầu để cùng có mặt trên con tàu của các siêu cường sau 20 năm nữa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cùng chủ đề “hãy cẩn trọng khi sử dụng thành ngữ”:

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Quốc Nhục

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-9-2017

Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành?

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-8-2009

(bài đã đăng trên Emotino.com ngày 30-8-2009)

Trong hai ngày dự Hội Nghị Xúc Tiến Đầu Tư – Thương Mại – Du Lịch Vào Thành Phố Cần Thơ vừa qua (ngày 27/8/2009 chính quyền Cần Thơ tổ chức đưa gần 200 doanh chủ và nhà đầu tư tham quan các công trình trọng điểm của Thành phố và dự yến tiệc tại nhà hàng Hoa Sứ, còn Hội Nghị diễn ra cả ngày 28/8), cũng như những lần tham dự hội nghị tương tự nơi này nơi khác, tôi thường nghe nhắc nhiều đến cụm từ “Đất Lành Chim Đậu” đầy phấn khích tự hào; song, chắc ít ai nghĩ đến những đòi hỏi cực kỳ ghê gớm của cái sự lành và cái chuyện đậu này, cứ tự động cho rằng đất lành giống như vườn thượng uyển trống hoác nhà lâu đài hoang ai muốn đậu vào thì cứ tự nhiên mà đáp xuống vậy.

Nhiều năm qua, đàn bồ câu xinh đẹp biểu tượng của hòa bình và nhân ái đã trở thành thảm họa cho Italy (tức nước Ý hay Ý-Đại-Lợi – theo cách gọi Hán-Việt ở Miền Nam trước 1975 – mà nay dùng cách không giống ai rất vô tổ chức ở Việt Nam là I-ta-li-a hoặc Italia). Quảng Trường Thánh Mark ở trung tâm Venice (tức quảng trường Piazza San Marco) và nhiều nơi tương tự trên đất Ý đã từng là nơi đặc biệt khi du khách và chim câu là bạn thiết. Nhưng chính ngài Thị Trưởng Venice lại đã ra lệnh phạt bất kỳ ai cho bồ câu ăn (ở mức phạt từ 80 USD đến hơn 700 USD) cũng như đề ra kế hoạch bẫy lưới triệt bồ câu với hy vọng giảm thiểu số lượng nhiều chục ngàn con hàng ngày phóng uế trắng xóa trơn trợt đường phố, làm ô uế các thánh tích cung đình, vấy bẩn đầu tóc du khách, và vô tư thả vào các tách cà phê đen của khách quán vĩa hè những chất lỏng màu sữa trắng tanh hôi. Người Ý và hơn hai triệu du khách đến Quảng Trường Thánh Mark mỗi năm đã phải che dù hay mặc áo đi mưa trong tiết trời nóng bức để tránh thảm họa từ loài bồ câu mà nay họ thóa mạ gọi là chim bẩn (dirty birds). Chim khác thì không bẩn, đơn giản vì chăng có giống chim nào dám sống đàn sống lũ giữa chốn đông người như bồ câu.

Tương tự, khi nói “đất lành, chim đậu” tất phải phân định rạch ròi đó là chim gì, phượng hoàng minh vũ Nghê Thường Khúc, hay kên kên quà quạ kêu ré điếc tai; số lượng bao nhiêu; và sự tiêu hao nguồn sống sẽ như thế nào, việc vấy bẩn của thứ mà chim đậu bài tiết sẽ tính sao. Đủ thứ, và trăm công ngàn chuyện…

Nói xa nói gần, chẳng bằng nói thiệt, rằng ở Việt Nam dường như mới duy chỉ có thành phố Đà Nẵng biết rõ thế nào là “đất lành, chim đậu”, nên ở từng ngõ phố đều có treo bảng “cấm bán hàng rong”, “cấm đánh giày”, cấm nhiều thứ, và tuyệt nhiên chớ thấy cảnh bán rong hay đánh giày – nghĩa là người ở các nơi khác đừng có mà đổ xô vào Đà Nẳng “kiếm ăn” trong nhếch nhác, nghĩa là không có chuyện người nghèo khổ sống lang thang ăn xin, ngủ bờ ngủ bụi, và phóng uế bừa bải như chim bồ câu Ý.

Ấy vậy mà Đà Nẵng chỉ có thể gia giảm những tai họa xảy đến cho cái danh “đất lành” chứ không thể giữ gìn sự trinh nguyên của vùng đât tuyệt diệu, vì con người từ nơi khác đến dù là công dân tốt, dù không phạm pháp, tìm đến nơi “đất lành” sinh sống, vẫn có thể thả chó phóng uế ngoài đường chung, hút thuốc phà khói ra bầu không khí chung, và giở trò ma mảnh không-bất-hợp-pháp, vân vân và vân vân.

Đầu tháng 8 này (2009), tôi đi công tác tại Đà Nẵng, và đã gặp những con chim làm vấy bẩn Đà Nẵng một cách hợp pháp: một phụ nữ nói giọng Bắc chèo kéo tôi trong siêu thị Big C luôn mồm nói nhận ra tôi là người quen xưa cũ ở …Huế hồi thế kỷ trước sao nay lại nỡ hững hờ, rồi xin tôi ít tiền tức năm trăm ngàn đồng mua vé tàu lửa về đất Thần Kinh; và khi tôi đi bộ nhanh như đô lực sĩ (mà thực chất là bỏ chạy ra khỏi Big C trốn tránh một phụ nữ chim bồ câu thần kinh từ đâu đáp xuống xứ sở Sông Hàn) và chui vào một chiếc taxi trước Big C để rồi chạm trán một anh tài xế bản xứ đã ô nhiễm do sống theo chim bồ câu nhập cư (khi xe vừa chuyển bánh, nghe tổng đài nói có khách ở một khu phố có nhu cầu, anh vội chộp lấy máy và nói như hét rằng anh ta sẽ đến đón khách ấy ngay lập tức, trong khi hotel Bamboo tôi ở bên bờ Sông Hàn gần đó mà anh tưởng tôi không biết đường nên giở mánh chạy lòng vòng hết hơn 15 phút, vừa chạy vừa trả lời bộ đàm khi tổng đài nói khách chờ sốt ruột rằng anh “sắp đến” rồi). Anh tài xế nói giọng người Đà Nẵng, và anh ta đã phải chụp giựt như thế, rất có thể vì những đàn bồ câu từ nơi khác đã bu đến giở các chiêu trò tiểu xảo giựt giành miếng cơm manh áo của anh. Tôi nín thinh, trả tiền, lòng buồn khôn tả.

Nghe nói dân Hà Thành (Hà Nội) thanh lịch. Với tư cách người được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ của đất Sài Gòn và sống ở Sài Gòn hơn 50 năm qua, tôi khẳng định dân Sài Thành (Saigon) trước đây cũng rất thanh lịch (ngay cả sĩ quan quân đội Cộng Hòa đóng quân ở Quận 3 khu nhà tôi lúc nào cũng nghiêm chỉnh, tóc húi cua thật cao, quân phục cực kỳ tề chỉnh, chứ không phải như trong phim truyện luôn tạo hình ảnh sai bét cho diễn viên để tóc dài và ria mép, đi đứng cà khệnh cà khạng, quân phục cà xộc cà xệch  – chúng ta chiến thắng vì chúng ta kiệt xuất, mạnh hơn kẻ thù, chứ không phải vì kẻ thù chỉ biết để tóc dài, nhậu nhẹt ở quán bar với đĩ điếm, đánh bài, chửi tục). Nay thì tôi nghĩ dân Hà Thành ắt vẫn còn thanh lịch, chứ ở đất Sài Côn này (tức Sài Gòn) khó thấy người thanh lịch.

Chim đã đậu quá nhiều lên vùng đất lành, khiến đất chẳng còn lành. Trong khi đó, những vùng nguyên sơ bảo tồn sinh quyển nhờ không có chuyện chim bầy đàn đậu kiếm ăn nên vẫn chưa có diễm phúc được gọi là đất lành; song, ấy lại là cái phước của giống nòi Vạn Xuân này vậy.

Khi có một đứa con gái xinh đẹp, người ta thường không lo che chắn, bảo bọc, bảo vệ, nên ít thấy ai trời cho nhan sắc xinh đẹp mỹ miều hoa khôi hoa hậu mà lại có học lực tri thức hơn người cả. Dưỡng Nam Bất Giáo Như Dưỡng Lư, Dưỡng Nữ Bất Giáo Như Dưỡng Trư (có con trai mà không lo tập trung dạy dỗ thì chẳng khác nào nuôi chú lừa, còn có con gái mà không lo tập trung dạy dỗ thì chẳng khác nào nuôi một ả lợn) – thánh nhân đã phán như thế trong Minh Tâm Bảo Giám – Gương Báu Soi Sáng Tấm Lòng.

Có vùng đất lành, nên tập trung bảo vệ cực kỳ, che chắn kín kẽ, đầu tư chính đáng, chọn lọc kỹ càng, luật lệ nghiêm khắc đủ đầy, quyết tâm ngăn chặn chim muốn đậu đâu thì cứ đậu, thì sự lành của đất may ra sẽ được dài lâu hơn.

Hãy chọn lọc chim.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú thêm vào ngày 06-9-2017:  Hoàng Hữu Phước vào tháng 8-2009 đã nói về “đất lành, chim đậu” như trên, báo đài Việt Nam vào tháng 8-2017 đã nói về ô nhiễm và nhiều thứ lung tung ở Đà Nẵng, và Tổng Thống Mỹ Donald Trump vào tháng 9-2017 đã rất thông tuệ ra  quyết định hủy cái gọi là DACA do Barack Obama ban hành. Khi nói Obama ban hành, nghĩa là DACA chưa hề được các tổng thống Mỹ tiền nhiệm chấp nhận, và Donald Trump chỉ đơn giản bãi bỏ cái DACA xằng bậy mà Obama đã thực hiện khi mở tung cửa cho chim chóc tự do ùa vào đậu đầy nhóc đất lành.

Đất Lành Chim ĐậuĐất Lành Chim Đậu (2)Đất Lành Chim Đậu (3)Đất Lành Chim Đậu (4)Đất Lành Chim Đậu (5)

Vì vậy, lời khuyên của tác giả bài viết trên là: Hãy luôn cẩn trọng khi vận dụng các tục ngữ/thành ngữ/cách ngôn/châm ngôn vì một khi đã là “văn chương bình dân” thì hoàn toàn thiếu hùng biện, kém thuyết phục, khá lạc hậu, thường không còn thích hợp; cụ thể hãy ngừng sử dụng “đất lành, chim đậu” cũng như các câu khác liệt kê trong bài Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương trên blog này.

Tham khảo:

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/11/18/loi-khuyen-danh-cho-cac-thuo%CC%A3ng-tuong-nguye%CC%83n-chi-vi%CC%A3nh-va-le-quy-vuong/ 18-11-2016

Người Đà Nẵng  05-01-2009

Suy Nghĩ Trong Ngày

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-9-2017

Nguyên tác Tiếng Anh: Suy Nghĩ Trong Ngày

Bản dịch Tiếng Việt: Suy Nghĩ Trong Ngày.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hội Chứng Hoàng Sa  28-7-2014

Tứ Đại Đần

Bọn “Nhà Sử Học” Đần

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-9-2017

Nghe đâu có một dúm mấy thằng tự phong – hoặc được phong bởi phe nhóm Sử Đần, thân nhân Sử Đần, hoặc bọn đần đột nhập vào trong Đảng hay bọn đần đột nhập truyền thông – “nhà sử học” làm ô danh “nhà sử học”, không rõ bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ bọn chúng có phải được cấp bởi các “viện hàn lâm khoa học” Việt Nam (tức cái máy sinh sản vô tính rặn đẻ ra nhiều ngàn thằng tiến sĩ mỗi năm chất lượng như rác vừa bị soi bởi đài VTV) hay không mà chúng chỉ chuyên cần tỉ mỉ làm 9 điều vớ vẩn chỉ để chứng minh bản thân chúng cũng đang tồn tại đầy vinh diệu như ai, gồm

(a) có lần đòi quốc hội phải có luật đĩ – may mà nhờ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước chưởi cho một trận ngay tại Nghị Trường nên mới “yên ắng” từ 2012 đến nay;

(b) luôn vác cuốc đập tanh banh đền đài miếu mạo cao trọng của Sử để biến nó thành môn bị khinh thường không ai thèm học;

(c) luôn hiên ngang thề nguyền quyết không bao giờ đẻ ra các công trình biên khảo nào về Thế Giới Sử/Đông Dương Sử/Cam-Pu-Chia Sử thậm chí về Mỹ Sử bằng tiếng Việt dù đó là công việc dành cho đẳng cấp đầu một “nhà sử học” thực thụ theo chất và chuẩn Mỹ Âu tức phải nghiên cứu tất tần tật;

(d) luôn hiên ngang thề nguyền quyết không bao giờ viết các công trình biên khảo nào về Việt Sử bằng tiếng Anh hay ngoại ngữ khác để thế giới đừng hòng biết gì đúng về Việt Nam;

(e) luôn hiên ngang ký tên vào các kiến nghị tập thể về dân chủ nhân quyền để tự động được danh “nhân sĩ”;

(f) luôn hiên ngang tru tréo đòi sự công bằng cho các triều vua và quan lại Nhà Nguyễn thối tha do bất tài vô dụng không biết phải làm gì với Sử;

(g) luôn hiên ngang tréo tru về “Hải Chiến Hoàng Sa” thối hoắc;

(h) luôn hiên ngang sủa nhặng về Việt Nam Cộng Hòa thối nát; và

(i) luôn hiên ngang nhặng sủa đòi loại trừ chữ Ngụy thối rùm.

Bài viết này, do đó, nhằm dạy cho bọn “nhà sử học” mất dạy chưa từng học xong đại học đúng nghĩa về môn Sử biết bốn cái đại đần của chúng về lĩnh vực Sử như sau:

A- Đệ Nhất Đại Đần: Công Nhận Việt Nam Cộng Hòa

Bọn soạn sách Sử – không phải các nhà viết Sử – hân hoan hả hê hoan ca hoan lạc ồn ào đú đởn về cái gọi là “công nhận Việt Nam Cộng Hòa” như một thành tích ghê gớm tuyệt đỉnh hợp ca của chúng đối với quyển sách sử do chúng biên soạn từ tiền thuế của dân.

Bọn chúng – và những tờ báo nào hoan hỷ y như chúng – đã cực kỳ đần độn do không biết 6 sự thật lịch sử cùng sự thật thực tế mang tính công pháp toàn cầu rằng:

1) Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều không hề là thành viên Liên Hợp Quốc.

Cả hai đều không được nhận vào làm thành viên Liên Hợp Quốc, trong khi quy chế thành viên Liên Hợp Quốc lại được chấp nhận áp dụng cho Đông Đức và Tây Đức (18-9-1973) cũng như Hàn Quốc và Triều Tiên (17-9-1991). Lý do đơn giản là: bốn “nước” này được các siêu cường nhất trí phân chia, trong khi Việt Nam được “quốc tế” ấn định ngay từ đầu là phải tổ chức tổng tuyển cử thống nhất hai miền thành một quốc gia duy nhất, mà sự phá hoại tiến trình đó của bọn chống Cộng đã dẫn đến việc Liên Xô dùng quyền phủ quyết để chặn ngăn các nổ lực xằng bậy của Mỹ và đồng minh trong cố gắng trong vô vọng nhằm hợp thức hóa vị thế của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hợp Quốc để chia cắt vĩnh viễn Việt Nam thành hai “quốc gia”. Cũng vì vậy mà chỉ khi Việt Nam thống nhất thì Liên Hợp Quốc mới kết nạp Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam ngày 20-9-1977 theo Nghị Quyết số 413 ngày 20-7-1977 nhất trí 100% của Hội Đồng Bảo An, dù rằng trước đó trong cơn bấn loạn hốt hoảng mang tên Việt Nam Giải Phóng, Hội Đồng Bảo An đã run lập cập công bố Nghị Quyết ngày 08-8-1975 ghi rằng “chấp thuận bản dự thảo của 9 nước gồm Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết Byelorussia, Trung Quốc, Guyana, Iraq, Mauritania, Thụy Điển, Liên Xô, Cộng Hòa Thống Nhất Cameroon và Cộng Hòa Thống Nhất Tanzania, nay kiến nghị Đại Hội Đồng xem xét cho …. Việt Nam Cộng Hòa làm thành viên Liên Hợp Quốc” quên phéng chuyện lẽ ra đã phải gạch bỏ cụm từ Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi các bộ óc siêu cường Âu Mỹ:

Wordpress Tứ Đại Đần

Như vậy tất cả các chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều tự động trở thành tài sản thống nhất và của duy chỉ Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam một cách không bao giờ có thể tranh cãi được về mặt pháp lý ngay khi Việt Nam thống nhất.

Như vậy, tất cả các hải đảo do Việt Nam Cộng Hòa “quản lý” và “tuyên bố chủ quyền” đều tự động trở thành tài sản thống nhất và của duy chỉ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một cách không bao giờ có thể tranh cãi được về mặt pháp lý ngay khi Việt Nam thống nhất.

Như vậy, việc bọn Sử đần nêu lên rằng nhất thiết phải công nhận Việt Nam Cộng Hòa để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa chỉ chứng tỏ bọn Sử Đần thực sự đần và chỉ là một đám trẻ con chưa hề cắp sách đến trường học môn Sử.

Tất nhiên, việc không là thành viên Liên Hợp Quốc cũng chẳng là điều quan trọng, vì không những hai bên có riêng cho mình những sự “công nhận” của các quốc gia khác về ngoại giao và như một thực thể ngoại giao, mà còn vì Liên Hợp Quốc cũng chỉ là một tổ chức vô duyên – chẳng hạn dù Đài Loan là một trong những thành viên chính thức đầu tiên từ năm 1945 và là một trong số 5 ủy viên thường trực vĩnh viễn của Hội Đồng Bảo An, Liên Hợp Quốc vẫn ra Nghị Quyết số 2758 năm 1971 tống cổ Đài Loan để lấy ghế thành viên Liên Hợp Quốc cùng ghế ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An dâng tặng Trung Quốc, chứ không như trường hợp Đông Đức-Tây Đức và Triều Tiên-Hàn Quốc. Đài Loan bị Liên Hợp Quốc từ chối xem như “quốc gia” mà chỉ là một tỉnh lỵ thuộc Trung Quốc; tuy nhiên, Mỹ và 18 nước thành viên cùng Vatican và Việt Nam Cộng Hòa là 21 thực thể “chính thức công nhận” Đài Loan để có các quan hệ ngoại giao đồng minh dù không ai dám gọi Đài Loan là “quốc gia”, còn Đài Loan thì duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức với gần 100 quốc gia khác.

Tương tự, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được các nước Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba, và các nước Đông Âu cùng Trung Á “công nhận” (như Hung Gia Lợi, Ba Lan, Tiệp Khắc, Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, Nam Tư, v.v.). Ngoài ra, còn có một số các nước Tây Âu như Thụy Điển cũng đã với công tâm và lòng nể trọng Hồ Chí Minh công nhận quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ những năm 1960. Richard Sackett Thompson, quan chức Mỹ tại Hòa Đàm Paris 1972-1974, khi trả lời phỏng vấn đã nói rằng: “Trận ném bom Giáng Sinh 1972 đã có quả rơi nhầm Đại Sứ Quán Pháp ở Hà Nội khiến bạn gái của Đại Sứ tử vong, thật là một việc thất lễ (killed the ambassador’s mistress, which is very unkind indeed). Đây là lần đầu tiên B52 bị bắn hạ. Không rõ có mấy chiếc bị rơi. Nhưng bên tình báo cho biết phía địch hết trọi hỏa tiễn rồi nên chúng sẽ tuyệt vọng trước các trận ném bom của chúng ta” với ngụ ý B52 bị rơi tại vì cộng sản đem hết hỏa tiển ra bắn tua tủa như mưa nên không trúng ruồi sao được, mà có trúng thì phải trả giá đắt cực kỳ vì phải xài sạch bách cả kho vũ khí.

Còn Việt Nam Cộng Hòa dù không được “toàn thế giới công nhận” vẫn trở thành thành viên của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Cảnh Sát Quốc Tế, Hội Hồng Thập Tự Và Trăng Lưỡi Liềm Đỏ Quốc Tế, và vài tổ chức của Liên Hợp Quốc như UNESCO và Liên Minh Bưu Chính, v.v., vì những tham gia này chẳng dính dáng gì đến “công nhận” hay “không công nhận” cả.

Như vậy, chỉ có bọn Sử Đần mới hô hào hoan hỷ đòi Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam phải “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa trong sách về Sử, mặc cho sự thật là Việt Nam Cộng Hòa khi còn tồn tại đã thường xuyên ngay từ đầu hô hào “Bắc Tiến” tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tàn sát thường dân và tu sĩ Phật Giáo “thân Cộng”, và năn nỉ Mỹ hãy sử dụng bom nguyên tử biến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành Hiroshima và Nagasaki để không những cộng sản bị tiêu diệt mà còn để thế gian năm 2017 không thể có sự xuất hiện của bọn Sử Đần do đã bị phóng xạ hủy diệt  từ lâu.

2) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” là một hành vi ngoại giao giữa hai “quốc gia” hoặc hữu hảo hoặc với dụng ý khác, mà Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một thực thể sinh sau đẻ muộn tồn tại chỉ có 20 năm từ 1955 đến 1975, đã bị tiêu diệt, có còn đâu mà Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thực hiện được trò tuyên bố “công nhận”. Chỉ có bọn Sử Đần mới mở miệng nói điêu không sợ các nhà hàn lâm ngoại giao và sử gia thế giới khinh bỉ khinh miệt khinh thường khinh khi khinh rẻ và khinh khỉnh.

3) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì tất cả các sử gia trên thế giới sẽ cho đó là hành vi quái đản không bao giờ tồn tại hoặc không bao giờ có tiền lệ ở thế giới văn minh.

4) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” là một cái bẫy để ngay khi có nhân vật lãnh đạo cấp cao nào đó của Nhà nước mất cảnh giác tuyên bố “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa thì bọn phản động hải ngoại lập tức hình thành một thực thể đấu tranh đòi Liên Hợp Quốc bắt Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam phải “trả lại” đất đai tài sản toàn Miền Nam cho chúng trở về “lập quốc”, tiến hành hành quyết bằng máy chém của Ngô Đình Diệm các quan chức công chức chế độ cộng sản và xua đuổi nam phụ lão ấu công dân Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía Nam ra đường phố để thu hồi tất cả các nhà cửa đất đai trước đó thuộc quyền sở hữu các cư dân Việt Nam Cộng Hòa đã đào thoát bỏ lại. Há miệng mắc quai là cái mà bọn “nhà sử học” đần mong Đảng Cộng Sản Việt Nam đủ ngu để phạm phải.

5) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” chẳng dính dáng gì đến việc khôi hài “đòi lại Hoàng Sa” mà bọn Sử Đần đang sủa. Trung Quốc đã “công nhận” Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam từ khuya, và còn khuya Trung Quốc mới giao trả Hoàng Sa, Trường Sa, cùng các vùng đất mà chúng chiếm đóng trên đường tháo chạy sau Chiến Tranh Biên Giới 1979. Đất của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mà nó còn chiếm, không bao giờ trả lại cho chủ nhân, sá gì trò hề “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa để có tư cách làm chủ mà đòi lại Hoàng Sa? Trung Quốc sẽ đơn giản nói rằng “Nị công nhận Việt Nam Cộng Hòa, vậy thì hãy để nó tới đây thương thảo với ngộ, hoặc nị chừng nào có công văn ủy quyền của nó thì hãy cho ngộ biết nhe. Chào tạm biệt bạn hiền. Ngộ còn lo đánh thằng Ấn Độ kiếm thêm vài miếng đất đây!” Chưa kể, trước 1955 thì Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại vậy phải chăng Hoàng Sa nói riêng và toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thuộc chủ quyền của Pháp nên giờ đây chỉ có Pháp mới có quyền đòi lại Hoàng Sa vì Pháp chưa hề ký giấy giao Hoàng Sa cho Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Cộng Hòa chưa ký giấy giao lại cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam?

6) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì sao lại phải “công nhận” khi chân lý tự ngàn xưa đến nay luôn là: toàn bộ tài sản – kể cả “nợ” và “có” – của kẻ thua sẽ tự động thuộc về bên thắng trận. Toàn bộ khí tài quân sự và quân trang quân dụng kể cả kho tàng ngân khố của Việt Nam Cộng Hòa, các tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại, v.v, đều tự động thuộc về chủ quyền của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mà không cần bất kỳ sự “công nhận” nào cả, và thậm chí dù không “công nhận” Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì tất cả các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Cộng Hòa cũng tự động bỏ ngân sách ra mà bảo quản, giữ gìn tất cả các tài sản của Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại cho đến ngày nào đó của tương lai khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì trao hoàn lại đầy đủ 100% cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam trong tình trạng bảo quản tốt nhất có thể được. Không bất kỳ quan chức nào của Việt Nam Cộng Hòa bị đánh đuổi chạy sang các nước đồng minh lại được các nước đồng minh ấy cho vào sống tại các đại sứ quán của Việt Nam Cộng Hòa hoặc đem bán các tòa nhà đó để bảo đảm Cộng Sản đừng hòng hưởng được gì. Chỉ có bọn Sử Đần mới không biết về khoản này.

B- Đệ Nhị Đại Đần: Ngụy Quân – Ngụy Quyền

Ngoài nội dung ngữ nghĩa mang tính lịch sử của “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” mà tác giả bài viết này đã nêu kỹ trong bài đăng tuần trước trên blog này, bọn Sử đần nhất thiết phải được dạy về các chi tiết lịch sử và thực tế sau:

1) Tất cả các guồng máy quản trị một quốc gia, một lãnh thổ, một địa phương đều được dùng chung bởi một từ duy nhất trong tiếng Anh là “government” mà tiếng Việt gọi là “chính phủ”.

2) Như đã bao lần được nêu trong blog này chẳng hạn đối với các từ ngữ như “dân chủ” chẳng hạn, thì luôn có sự bất tương thích giữa tiếng Việt và tiếng Anh, khiến “dân chủ” bị người Việt hiểu nhầm thành “dân làm chủ” dẫn đến việc vô tư lạm dụng để làm nhặng lên chống Cộng, trong khi tiếng Anh của nó là “democracy” chỉ nêu lên nội dung duy nhất là thể chế mà nơi đó người dân bỏ phiếu bầu nên chính phủ tùy theo quy định của Hiến Pháp chứ không phải cái thể chế trên trời rơi xuống một đấng quân vương làm vua trọn kiếp rồi truyền ngôi cho con cái. Ở đây, chữ “chính phủ” trong tiếng Việt lại bị vướng chữ “chính” mà người Việt hiểu nhầm rằng mang nghĩa “danh chính ngôn thuận” trong khi từ ngữ tiếng Anh của nó là “government” chỉ mang nghĩa tập thể điều hành cai trị đất nước/lãnh thổ/địa phương chứ chẳng có chính chính phụ phụ chính chính tà tà chính chính ngụy ngụy gì cả.

Do hiểu theo kiểu Việt, những con người đoan chính nghĩa khí tuân thủ luật pháp quốc tế và các thỏa thuận quốc tế ở Miền Bắc đã giận dữ trước sự tráo trở của “phe Miền Nam” phá hoại Tổng Tuyển Cử tự lập nên “government” ở Miền Nam, nên không cam chịu chữ “chính” cao trọng của Hán Việt lại được dùng gọi bọn tay sai phá hoại nên thay vì chọn chữ “tà” cho đối chọi với “chính”, đã tự chế ra từ “ngụy quyền” để thay cho “chính quyền,”  do chữ “tà” trong “tà quyền” có hơi hướm tôn giáo, còn quân đội của “ngụy quyền” ấy là “ngụy quân” vì quân đội luôn cao quý bảo vệ sự toàn vẹn thống nhất đất nước chứ ai lại làm tay sai cho Mỹ chia cắt đất nước bao giờ.

Cái nghĩa khí ấy khi cặp chung với cái hạn chế muôn thủa về tương quan tiếng Việt với tiếng nước ngoài  đã khiến hình thành nên các từ “ngụy quân” và “ngụy quyền”. Thế nhưng, về mặt ngôn ngữ toàn cầu thì dù là chính quyền, phụ quyền, hay ngụy quyền hoặc… giả trá quyền hay ba xạo quyền thì chung quy vẫn chỉ có một từ tiếng Anh duy nhất là government. Về mặt ngôn ngữ hàn lâm, “chính quyền” là từ ngữ chính thức chính quy tức “formal”, còn “ngụy quyền” là từ ngữ không chính thức chính quy tức “informal” hoặc “colloquial” hoặc tiếng lóng tức “slang”.

Như vậy, do tiếng lóng không bao giờ được xem như thích hợp trong ngôn ngữ hàn lâm, Việt Nam có quyền sử dụng “ngụy quyền” tùy thích ở nội bộ Việt Nam vì đó là tiếng Việt đặc thù được chế tạo ra trong thời gian chiến tranh để phân định chính với tà. Còn khi dịch “ngụy quyền” ra tiếng Anh thì vẫn phải dùng chữ “government”. Từ đó, việc sử dụng từ “chính phủ” để gọi giới cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng là lẽ thường tình do chữ “chính” trong “chính quyền” đâu có nghĩa là chính đạo chính thức chính quy chính nghĩa gì cả.

Tóm lại, việc sách dạy Sử bằng tiếng Việt nên dùng chữ “chính quyền” để nếu chẳng may quyển sách ấy bất ngờ có giá trị toàn cầu thì các học giả nước ngoài khi tự dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước họ thì họ sẽ biết chữ đó là chữ “government”, chứ nếu ghi là “ngụy quyền” thì họ hoàn toàn không sao hiểu nổi. Đối với tiếng Anh, chỉ có các cụm từ chính quyền dân cử, chính quyền dân sự, chính quyền quân sự, và chính quyền bù nhìn, chứ thế giới hàn lâm không bao giờ có khái niệm chính quyền chính và chính quyền tà (tức chính quyền ngụy, gọi tắt là ngụy quyền).

Tóm thêm lần nữa, việc dùng “chính quyền” để gọi giới cầm quyền của chế độ Sài Gòn là chuyện nhỏ, chuyện bình thường, chuyện chuyên nghiệp, chuyện đương nhiên, chuyện ngôn ngữ (do thiếu dấu gạch nối để biết chính-quyền tức “government” hoàn toàn khác với chính quyền tức “main power”) chứ làm quái gì có liên quan đến “công nhận” hay “không công nhận” mà tru tréo rỡ mừng như vừa gặp khúc xương trong tô bánh canh giò heo trên nắp cống Kênh Nhiêu Lộc.

C- Đệ Tam Đại Đần: Làm Chính Trị

Cái đần của bọn “nhà sử học đần” là không hiểu sự khác biệt của sử gia chính trị và sử gia làm chính trị.

Sử gia chính trị là những sử gia tri thức uyên bác chỉ có ở Âu Mỹ, chuyên nghiên cứu thâm sâu để có các công trình biên khảo xuất chúng về lịch sử chính trị các nước các khu vực các thời kỳ từ trung cổ đến cận đại của nước này nước nọ.

Tại sao cận đại mà không hiện đại? Đơn giản vì những gì của hiện đại chỉ có giá trị ghi vào sử sách sau một thời gian tối thiểu 50 năm hoặc 100 năm. Soạn sách mà la lối về Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai vì chưa được 50 năm hay 100 năm hạn định đó, chưa kể 50 năm hay 100 năm không phải là số năm của số học mà là 50 năm hay 100 năm nghiên cứu thu thập sử liệu và tài liệu cũng như là 50 năm hoặc 100 năm có sự ra đời của vô số công trình biên khảo, phản biện, bút chiến, khẩu chiến, để chờ thời điểm đến là đem ra tranh luận lần cuối để thống nhất ghi vào sử sách hoặc điều chỉnh sử sách. Từ Giải Phóng Miền Nam đến nay đã gần 50 năm, song đã có những pho sách nghiên cứu nào về Việt Nam Cộng Hòa đã ra đời mà bọn Sử đần lại tự tung tự tác ghi vào quyển sách mới in về môn Sử vậy?

Tại sao nước này nước nọ mà không là nước mình? Đơn giản vì “nước mình” là công việc của giáo viên dạy Việt Sử, không cần nghiên cứu quái gì cả mà phải dựa 100% vào sách giáo khoa vốn dựa theo quyển lịch sử chính thức chính thống của các tiền nhân đã ra người thiên cổ; còn công việc của sử gia thứ thiệt là hoặc nghiên cứu các vấn đề chưa rõ để góp phần thắp thêm ngọn nến soi rọi lịch sử cho hậu thế quyết định chứ dứt khoát không có quyền đòi sửa chữa sử liệu, hoặc nghiên cứu các vấn đề sử tương tự hay dị biệt của các nền văn minh khác để làm giàu thêm cho kho tàng lịch sủ vì Thế Giới Sử luôn là phần quan trọng của bộ môn lịch sử.

Tu sĩ mà “làm chính trị” là chuyện đần độn.

Nhà sử học mà làm chính trị là chuyện độn đần.

Tu sĩ vẫn có thể “làm chính trị”, song không bao giờ được phép bảo là Kinh Phật hay Kinh Thánh dạy là phải chống chế độ cộng sản, chống chính phủ, chống…Formosa. Đó là lý do các giám mục và tổng giám mục Đức Quốc Xã “làm chính trị” ủng hộ tàn sát Dân Do Thái mà không bị trừng trị vì đơn giản các giám mục/tổng giám mục ấy nào có chống chế độ Quốc Xã, chống chính phủ Quốc Xã, chống công ty Ý Mussolini mần ăn với Quốc Xã, mà trái lại đã tỏ lòng yêu nước yêu chế độ yêu lãnh tụ cực kỳ cực điểm và cực đỉnh. Việt Nam là quốc gia duy nhất của nhân loại dám để yên cho bọn tu sĩ chống đối chế độ, chống đối Hiến Pháp, chống đối chính phủ; trong khi thế giới văn minh chỉ cho phép tu sĩ chống một cá nhân bất kỳ của chính phủ. Linh mục Mỹ chỉ biểu tình chống đích danh Donald Trump đối với  đích danh một đạo luật cụ thể như quyền phá thai chẳng hạn vì có dính dáng đến giáo huấn của tôn giáo, chứ chẳng có thằng tu sĩ ngu nào dám chống Hiến Pháp Hoa Kỳ và Chính Phủ Hoa Kỳ để nhận lấy các đòn trừng trị khủng khiếp của FBI nơi chốn ngục tù.

Nhà sử học có thể “làm chính trị” nhưng không bao giờ được phép bảo là chính phủ phải …”công nhận” thể chế này quốc gia nọ cũng như bỏ chữ này dùng chữ kia để “lấy lại Hoàng Sa” với lý do Sử nó dạy thế rành rành trong sách sử. Theo chuẩn chất của Âu Mỹ, khi “làm chính trị” thì bất kỳ ai kể cả “nhà sử học” đều phải bỏ nghề, bỏ luôn tòa soạn tạp chí gì đó mà mình làm chủ, bỏ luôn các hợp đồng soạn sách sử để không mang tiếng dựa hơi chính trị kiếm thu nhập cá nhân, đồng thời để không phạm phải điều tối kỵ rằng lời phát biểu về chính trị của ta một nhà sử học đương nhiên phải là lịch sử quốc gia.

Dùng kinh kệ để làm cầu thang chính trị gây loạn quốc gia là bọn tu sĩ đần độn dám khinh nhờn luật pháp quốc gia.

Dùng chức năng biên soạn sách sử để làm cầu thang chính trị gây loạn quốc gia là bọn “nhà sử học” đần độn dám khinh lờn luật pháp quốc gia.

Các thiền sư đã vung đao chém bay biết bao đầu của giặc Tàu và hết lòng phò tá chế độ nước nhà giúp Việt Nam có những triều đại hoàng kim. Các linh mục đã hỗ trợ Ngô Đinh Diệm chém rơi biết bao đầu của “bọn thân Cộng” mà tuyệt đại đa số không là tín đồ Đạo Chúa, nhưng không để hết lòng phò tá chế độ mà để thực thi mệnh lệnh của vị Hồng Y tại Hoa Kỳ nên Ngô Đình Diệm bị giết cũng không sao và Việt Nam Cộng Hòa bị mất về tay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng không sao tuốt.

Thế nên, các bậc chân tu đạo hạnh và các sử gia thực thụ trong lịch sử quốc gia không bất kỳ ai “làm chính trị” nhờ vậy mà thiên hạ còn có người lương thiện và kho tàng văn hóa nước nhà còn có các tác phẩm kinh kệ hay lịch sử vĩ đại cho hậu thế.

D- Đệ Tứ Đại Đần: Rắn Đầu Biếng Học

Và cuối cùng, song lại là điều quan trọng nhất là bọn “nhà sử học đần” đã (a) không tìm đọc tất cả các lời giáo huấn của tác giả bài viết này về Sử và tư cách “nhà sử học” như có liệt kê ở phần tham khảo dưới đây, và (b) không biết rằng tất cả các vấn đề về Việt Sử và Thế Giới Sử nhất thiết phải tham khảo ý kiến của và trình các bản thảo sách về môn Sử cho tác giả bài viết này hiệu đính trước khi xuất bản.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử  31-5-2016

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Ngụy Quyền 20-8-2017

Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Hoàng Sa  30-3-2016

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Dấu Gạch Nối: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến  25-10-2015