Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2017

(Bài đăng trên hoanghuuphuocvietnam.blog.com ngày 29-4-2012)

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2012

Sẽ là điều bất thường nếu tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn lại chưa từng có quan hệ thân quen nào với các anh lính Việt Nam Cộng Hòa, nên nếu đã có bài viết về hai anh lính Cộng Sản tức “bộ đội” thì cũng nên có bài về các anh lính Cộng Hòa, vừa để nhớ những hồi ức về những con người thật việc thật vừa để ghi lại thời khắc lịch sử của những người mà việc kể ra ngày hôm nay sẽ có cơ hội kiểm chứng nhiều hơn do một số bậc bô lão ở khu phố Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn đang an hưởng cảnh thọ nhàn cùng con cháu.

1- Đại Tá Viên

Lúc làm “giáo sư” Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước (do tôi chỉ hơn sinh viên học trò tôi có hai tuổi, nên những học trò ấy gọi tôi là “giáo sư” và “giảng sư” do quen dùng từ ngữ những người dân Sài Gòn trước 1975 dùng để gọi các thầy cô dạy bậc trung học và đại học), tôi được Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật mời tham gia giảng dạy các lớp Trung cấp Anh văn buổi tối, với đa số học viên là “người lớn”, có vài người hơn tôi từ 10 đến 20 tuổi (trừ các học viên khác của tôi ở Trung Tâm Sinh Ngữ Số 1 thuộc Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh đa số là học sinh cấp 3, trong đó rất nhiều người đã thành đạt, như có những cô hiện nay là chức sắc tại các ngân hàng nhà nước, hay Hội Đồng Anh The British Council, v.v.), gồm những người sắp đoàn tụ với gia đình ở hải ngoại, kể cả các nhà sư. Có một học viên là nhà sư tu ở một chùa trên đường Phạm Thế Hiển, Quận 8 (lúc cả khu vực ấy còn toàn là ao rau muống chứ không phải phố thị sầm uất như hiện nay) đi bộ đến trường với chân trần không giày dép, khoác bộ y phục xám bạc thếch. Nhưng tên của nhà sư và tên ngôi chùa tôi quên mất, dù đã được mời đến ăn cơm chay dăm ba lần với các sư, biết các sư trước có “đi lính” Cộng Hòa, và xuất gia hoàn toàn không để… “trốn  lính” hay trốn… “cải tạo” vì giải ngũ xong là đi tu luôn trước ngày giải phóng ắt để xa rời những ám ảnh kinh hoàng của chiến trận; trong khi đó tôi lại còn nhớ như in tên và gương mặt của Đại tá Viên, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, nói giọng miền Nam.

Ông Viên học chăm chỉ nhưng nói tiếng Anh thì chưa như công sức đã bỏ ra. Một hôm Ông gặp tôi ở bãi giữ xe ở sân trường lúc 21g khi tan học để nói rằng vợ con Ông đã sang Mỹ một hai tuần trước ngày giải phóng, rằng Ông đã ra trại cải tạo được vài năm, rằng Ông đang chờ ngày sang Mỹ, rằng trong mấy năm trong “trại” Ông đã ở chung phòng với một linh mục, rằng linh mục này đã ở tù thời Tổng Thống Thiệu do hăng say chống Ông Thiệu tham nhũng, rằng linh mục ấy đã ở tù chung phòng với một nhà sư bị Ông Thiệu tống giam do phạm tội nuôi dấu “cán bộ Việt Cộng”, rằng vị sư thương Cộng đã dạy cho vị cha xứ ghét Thiệu các biến hóa diệu kỳ của thuật bói toán tử vi tướng số, rằng do vị cha xứ vừa tích cực chống Thiệu tham nhũng vừa có chức vụ “đại úy…tuyên úy” lo về “đạo” trong quân đội Cộng Hòa, thuộc Tâm Lý Chiến của Chiến Tranh Chính Trị tích cực … chống Cộng sau giải phóng nên được đưa vào trại cải tạo sau giải phóng, tình cờ ở chung phòng với Đại tá Viên; và rằng vị cha xứ Công Giáo đã truyền tiếp thuật bói toán tử vi và tướng số cho viên đại tá tín đồ Công Giáo. Nói tóm lại là Đại tá Viên nói xin được đến nhà tôi vào sáng Chủ Nhật để xem tử vi cho tôi, vì Ông cho rằng tôi là ông thầy giáo trẻ mà Ông rất kính trọng, rằng Ông đã “xem kỹ” cái “tướng và diện mạo” của tôi mấy tuần nay nên mong muốn xem luôn cái “số tử vi” cho đủ bộ, và rằng cái “sở học” lưu truyền từ vị sư nuôi dấu Việt Cộng sang vị linh mục chống Thiệu, rồi từ vị linh mục chống Cộng sang vị đại tá đã hết chống Cộng sẽ chỉ được Ông thi thố với tôi mà thôi do có lời dặn “thiên cơ bất khả lậu” mà Ông tuân theo do lời hứa chứ không phải do Ông tin vào cái lậu hay không lậu ấy. Tất nhiên, tôi đồng ý, một phần vì tò mò, một phần vì  tôi luôn giúp đỡ mọi học trò nên nếu Ông Viên muốn “thử nghiệm tay nghề” thì tôi cũng sẵn lòng giúp Ông thi thố.

Hôm Ông Viên đạp xe đến nhà tôi (lúc ấy tôi vẫn chưa lập gia đình), Ông vẫn như thường lệ: ăn vận chỉnh tề, áo sơ mi bỏ trong, đi giày săng-đan, xách cặp da màu nâu không còn mới. Ba Má tôi mời Ông cùng dùng bửa cơm trưa đạm bạc với gia đình. Sau đó, Ông hỏi tôi ngày sinh âm lịch (may mà Ba tôi có thói quen rất tốt là luôn giữ lại những tờ lịch đúng ngày sinh của các con mình để lưu trong hồ sơ cá nhân từng đứa, nên tôi mới cho Ông Viên xem, chứ thủa ấy làm gì có vi tính để gỏ vài cái là biết ngày âm lịch), giờ sinh, và Ông tỉ mĩ vẽ vẽ gạch gạch viết viết thành tờ có nhiều ô chữ nhật trước khi điền từ ngữ vào những chỗ trống. Ông giải thích tên các vì sao, ý nghĩa của các đường sao …xẹt, và nói rất nhiều điều mà tôi không sao nhớ hết được, ngoài nhiều tính từ quá đẹp đẽ của tiếng Việt mà một gentleman như Ông dùng để nói về tôi. Nhưng với Chị Hai và các em của tôi thì Ông chỉ xem tay và xem tướng chứ không xem tử vi, vì theo Ông, xem cho tôi là đủ biết cả gia đình phúc đức như thế nào rồi, vì trong tử vi có các cung cha mẹ và anh chị em. Tôi cố nhớ những lời Ông nói về tôi vì Ông nói rất nhiều, nhưng tôi lại dễ hiểu vô cùng khi Ông nói ngắn gọn súc tích rằng bà Chị Hai rụt rè, không lanh lợi, nhút nhát của tôi sẽ lấy chồng và xuất ngoại cùng chồng; rằng cô em út mới lên mười tuổi của tôi sẽ lấy chồng nước ngoài và xuất ngoại theo chồng; rằng tôi và em trai sẽ làm việc ở nước ngoài nhưng tôi đi ít hơn em tôi. Còn hai cô em khác của tôi vắng mặt ngày hôm ấy nên Ông không “xem” được. Vào thời điểm kinh tế khủng hoảng lạm phát đến ba chữ số, những lời của Ông giống như điều huyễn hoặc, thần kỳ, chỉ có tác dụng duy nhất như một định mức khuây khỏa cho những mơ mơ màng màng siêu thực.

Tôi dạy lớp Ông thêm hai khóa trước khi Ông đạp xe đên chào chia tay tôi lên đường sang Mỹ. Tôi không còn nhớ đến Ông cho đến Tết 2012 này khi em gái út của tôi từ New Zealand về và trong bữa cơm đoàn tụ nó nhắc đến Đại tá Viên, khen Ông nức nở, và nhắc luôn chuyện Chị Hai tôi đang là công dân Mỹ, cũng y như lời “coi bói” của viên đại tá. Tiếc là tôi không nhớ gì những phân tích của Ông về các vì sao và về tôi, ngoại trừ việc mà em gái tôi nhân tiện nhắc luôn là “Anh Năm đúng là đi nước ngoài liên tục, còn Anh Ba thì lâu lâu đi một lần”. Tôi là…Anh Ba trong gia đình gồm 7 chị em này.

Lúc đại tá Viên đi Mỹ, Ông khoảng 50 tuổi. Nay Ông ắt đã 80. Cho dù tin tức cuối cùng tôi biết từ Ông là dường như vợ Ông đã đi theo đường khác trong thời gian Ông còn học tập cải tạo ở Việt Nam, tôi vẫn tin và mong là Ông nhờ có tài bói toán để chiêm nghiệm các bể dâu của cuộc đời thiên hạ, và nhờ đó đã có cái nhìn triết nhân hơn đối với những bể dâu của chính cuộc đời mình. Nếu Ông còn sức khỏe để đọc được bài này, ắt Ông sẽ vui vì chị và các em gái của tôi nói Ông “coi bói đúng quá xá!” Tôi mong sao các anh chị là con của Đại tá Viên đọc bài này sẽ biết rằng viên sĩ quan Cộng Hòa dáng gầy quắc thước ấy đã rất yêu đời vì chiến tranh kết thúc, vì chương trình cải tạo rất thắm đượm tình người của những người chiến thắng, vì có sức khỏe tốt để lao động tốt được ra trại sớm hơn, và vì được cho phép sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông là một người học trò chăm chỉ, chiến đấu với bài học với tư thế một chiến binh, chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa mới nơi đất nước mới mà Ông tin rằng bao thử thách gian lao sẽ đón chờ. Ông là khuôn mẫu một chiến binh thực thụ: có lý tưởng, và có công tâm, vì rằng nếu chỉ có lý tưởng, người ta không còn ranh giới ngăn cách với khủng bố cực đoan. Ông là khuôn mẫu một đấu sĩ chuyên nghiệp thực thụ trên võ đài: tung các chiêu đấm uy lực, áp dụng các tiểu xảo nếu qua mắt được trọng tài, nhưng khi kết thức trận đấu, chấp nhận nhìn giải vô địch được trao cho đối thủ thắng trận, và hài lòng với vị trí thực sự của mình, vì chỉ có kẻ lưu manh đánh nhau ở đầu đường xó chợ không phải là đấu sĩ chuyên nghiệp mới nuôi lòng hận thù đối thủ đã đoạt cúp.

2-  Các Chiến Sĩ Canh và Heo

Anh Canh thuộc gia đình người Bắc di cư, tên thật là Phạm Văn Canh, và các Anh Heo gồm Heo Lớn, Heo Bụng, Heo Đời, và nhiều Heo khác là các con trai của Bà Tám Cháo Vịt, người Nam Bộ. Tất cả đều ở ngõ hẽm đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đối diện với nhà Ba Má tôi. Hiện chỉ còn Anh Canh ở nơi chốn cũ. Anh Heo Bụng là sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa, người to vạm vở giống đô vật, tính tình nghiêm khắc, đã theo chiến hạm đang neo đậu ngoài khơi bỏ chạy sang Mỹ ngày giải phóng. Vài anh Heo khác sau đó được Anh Heo Bụng bảo lãnh sang Mỹ, chỉ có Anh Heo Lớn còn ở Việt Nam, hiện ở gần Cà Phê Cheo Leo sau lưng Nhà Hàng Sinh Đôi đường Lý Thái Tổ, và một Anh Heo mất hai chục năm trước vì đạp xích lô bị tai nạn giao thông. Bà Tám cũng có người cháu là Anh Thân, lính dù “thiên thần mũ đỏ” nhưng là… “lính kiểng” vì Bà Tám chạy lo tiền để Anh Thân cùng các Anh Heo khác khỏi ra mặt trận (chỉ có Anh Heo Bụng là lính thật), ở nhà mặc quân phục rằn ri và giày bốt…phụ Bà Tám nấu cháo lòng và đẩy xe cháo ra khu Lý Thái Tổ bán từ trưa đến tối.

Anh Canh là một người lính binh nhì của Quân Đội Cộng Hòa, hiền lành, ít nói, không phải ra chiến trận. Cha mẹ anh có quá nhiều con, nhà lại nghèo, nên sau giải phóng, khi Anh Canh lấy vợ người Đà Lạt, hai vợ chồng anh phải xin ở trú dưới mái hiên của ngôi nhà đối diện nhà Ba Má tôi. Vậy mà những tấm bìa cứng, những tấm tole cũ che chắn tạm bợ cho cái tổ ấm ấy đã là nơi nhiều chục năm qua vợ chồng anh sống hạnh phúc với một đàn con bụ bẫm, học hành giỏi giang, nhờ thu nhập từ chiếc xe bán bánh mì “thịt nai” dạo của anh. Những lúc cơ cực khó khăn, vợ anh qua gặp Má tôi, và nhiều năm nay Anh Canh trở thành người hàng xóm tốt bụng luôn bảo vệ gia đình tôi, chăm sóc Ba Má tôi khi Ba Má tôi đau ốm, và khi Ba tôi mất, Anh Canh ngày ngày trông chừng an ninh an toàn cho nhà Má tôi, không để bất kỳ kẻ gian người xấu nào động đến chúng tôi. Thỉnh thoảng Chị Canh về quê thăm mộ cha mẹ mà Má tôi đã trợ giúp quy kết xây dựng lại mộ phần, và khi trở vào hay tặng Má tôi các thứ cây nhà lá vườn như chuối Đà Lạt, bơ Đà Lạt, v.v. Các con anh lập gia đình và anh đã có cháu. Một cậu con của anh rất đẹp trai, thường xuất hiện trên TV trong những clip quảng cáo dầu gội đầu hay mỹ phẩm. Và đầu năm 2012 này vợ chồng anh dọn về ngôi nhà 4 hay 5 tầng gần đó, còn mái hiên mà Anh Chị cùng đàn con núp mưa mấy chục năm qua nay dùng làm tiệm sửa đồ điện tử cho một chàng con rể. Chúng tôi rủ nhau kiếm tìm đồ hư vật hỏng trong nhà để đưa đến sửa mở hàng giúp cậu con rể ấy, thay vì theo thói quen bấy lâu nay là tặng các món không dùng cho những người lấy rác hay những bà cụ mua ve chai. Còn anh thì sáng sớm nào cũng rảo bước tạt ngang nhà Má tôi để hỏi thăm sức khỏe của Má tôi và xung phong mua đất về bón cho các chậu cây của Má tôi ở trước sân và trên sân thượng.

Trước 1975, khu phố nhà Ba Má tôi là khu có dân “anh chị” tức … “dân dao búa” trú ngụ. Nhiều phen cảnh sát đô thành phải bủa vây, lùng sục, tấn công sâu vào ngõ, bắt trói thúc ké giải đi vài “anh chị” (tất nhiên, các “anh chị” này vài ngày sau tiếp tục đi qua đi lại trong xóm dạo chơi). Một đặc điểm rất hay của Sài Gòn thời trước 1975 là: ‘anh chị” ở đâu thì cứ “anh chị”, chứ đừng có mà giở thói “anh chị” ở tại xóm nhà. Vì vậy, gia đình Ba Má tôi vững như bàn thạch: được bảo vệ bởi các chiến sĩ Cộng Hòa và các…“anh chị”, đơn giản vì các chiến sĩ và các “anh chị” này có…cha mẹ, những người rất kính trọng gia đình học thức, luôn gọi Ba Má tôi là Thầy Hai, Cô Hai, và chúng tôi là con của Ba Má nên cũng được…ăn theo. Hiện chỉ còn Bà Năm Vé Số là còn mỗi sáng được con dâu đẩy xe ra ngồi phơi nắng ở đầu ngõ, còn Bà Tám Cháo Lòng đã mất hai mươi năm trước. Nếu các con của Bà Tám đều là quân nhân mà Bà gọi là Heo cho dễ nuôi theo dị đoan của dân Nam Bộ, thì các con của Bà Năm đều là… “anh chị”! Thế nhưng cả hai bà đều kính trọng Ba Má tôi không chỉ vì Ba tôi là Thầy, mà còn vì Má tôi cả đời lăng xăng cứu giúp thiên hạ. Và thế là cái xóm nhỏ ấy chung sống như những người tốt với nhau. Nhiều năm nay, sáng nào trước khi rời nhà Má tôi để ra về, tôi đều đi bộ vài bước đến xe lăn của Bà Năm để hỏi thăm sức khỏe của Bà, rồi giơ tay chào một đứa con “anh chị” của Bà nếu gặp … “ảnh” đi ngang, hoặc chào các anh Tâm, anh Hải, là những quân nhân Cộng Hòa, con Bà Bảy Mè (cũng đã mất), hiện hành nghề xe ôm, và nhiều anh khác nữa. Khi tôi ra ứng cử quốc hội năm 2011, cả xóm khi nhìn thấy hình tôi trên các bản tin giới thiệu ứng cử viên, đã tự động đi vận động khắp nơi khiến nhiều người quen đã dời sang quận khác cũng biết, và phone nói với Má tôi là khi họ đến tất cả các chùa vận động mới được các ni sư giải thích là “ông ấy” đâu thuộc khu vực bầu cử quận của các chùa đâu mà bỏ phiếu cho “ổng” được, nhưng hứa là sẽ phone cho các chùa ở các quận thuộc khu vực của “ổng” để vận động thiện nam tín nữ bỏ phiếu cho “ổng”, tức là tôi, con của “Cô Hai” và “Thầy Hai”.

Đó là những người lính Cộng Hòa, những người bình dân, ít học, bộc trực, những người trước đây bảo vệ gia đình tôi trước kẻ xấu, không cho kẻ lưu manh từ nơi khác đến quấy rầy, và hiện nay là những người lao động mạnh khỏe, nghèo, lương thiện, mà tôi kính trọng xưng em và gọi họ là anh vì họ lớn tuổi hơn tôi, còn họ đến giờ vẫn xem tôi như cậu Trọng thư sinh trói gà không chặt ngày xưa (dù xưa tôi chừng 48 ký, sau này lên 84 ký và nhờ giữ gìn sức khỏe nên còn 70 ký) để luôn bảo vệ, đỡ đần tôi trong những việc mang vác vật nặng mỗi khi thấy tôi chở lủ khủ đồ đạc về nhà Má tôi.

Những con người bình dị đáng kính ấy chưa bao giờ có một ngày nào nghĩ đến từ “chống Cộng”, đơn giản vì cái họ thích là đời sống không có chiến tranh, đời sống dành cho sum họp và sinh kế gia đình, đời sống giữa một cộng đồng xóm làng dù nhỏ nhưng miễn sao thấm nhuần ý nghĩa của tương trợ, thọ ơn và đáp nghĩa. Chính họ qua đời sống và cách sống của họ chứ không phải các tác phẩm văn học cách mạng đã giúp tôi không những nghiệm ra được ý nghĩa cao vời của hòa bình, tự do, hạnh phúc, mà còn hiểu ra rằng những “chiến sĩ” thực thụ của Việt Nam Cộng Hòa như Đại tá Viên chỉ ngoan cường trên chiến trận khi đối diện với đối phương chứ không căm thù người chiến thắng, vì họ là những đấu sĩ chuyên nghiệp.

Những con người bình dị đáng kính ấy không “chống Cộng”, đơn giản vì họ căm ghét chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, nuôi giấc mơ xây dựng gia đình hạnh phúc bên đàn con, và có cuộc sống ngày càng tốt hơn mà chỉ có hòa bình mới đem đến cho họ.

Một đội bóng thuộc FIFA thua trận chung kết World Cup không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đội vô địch. Họ còn được hưởng huy chương bạc vẻ vang.

Một đấu sĩ thuộc liên đoàn quyền anh quốc tế thua trận chung kết quyền anh hạng nặng thế giới không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đấu sĩ được đeo đai vô địch. Anh còn được hưởng số tiền thưởng không ít hơn người ấy là bao.

Một “chiến sĩ” Việt Nam Cộng Hòa cùng thuộc dân tộc Việt Nam, nhận lệnh đầu hàng của đương kim tổng thống, không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đoàn quân chiến thắng. Anh còn được hưởng cuộc sống mới trong hòa bình không còn máu chảy thịt rơi, hạnh phúc giã từ vũ khí để về xum họp lại với gia đình, và danh dự người dân một quốc gia thống nhất ngày càng cường thịnh.

Đội bóng thua hận thù đội bóng thắng, quay ra chống phá, bôi nhọ đội bóng thắng: dứt khoát đó là đội kiểu các trẻ em lang thang ở các đường hẻm tồi tàn khu ổ chuột xứ miền lạc hậu khổ nghèo nào đó trên thế giới chứ không trong hàng ngũ FIFA.

Đấu sĩ thua trận hận thù đấu sĩ thắng trận, quay ra chống phá, bôi nhọ đấu sĩ thắng trận: dứt khoát đó là tay mặc “tà lỏn” tham gia trận đánh nhau ở giữa đồng trống phục vụ cho nhóm cá độ đã chán xem đá gà.

“Chiến sĩ” thua trận và căm thù đoàn quân chiến thắng, quay ra chống phá bôi nhọ đất nước của bên chiến thắng, ngụy biện là chống Cộng sản, thì dứt khoát đó không thể nào có tư cách ngẫng cao đầu tự nhận bản thân đã từng là chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thậm chí những kẻ chống phá và bôi nhọ bên thắng trận lại toàn là những đấng trong chiến tranh đã là lính kiểng, lính ma, sĩ quan chuyên núp sau lưng binh đoàn viễn chinh Mỹ và đồng minh nên kinh nghiệm thu dọn chiến trường luôn trỗi vượt kinh nghiệm chiến đấu cận chiến giáp-lá-cà, và vì vậy chỉ phát huy lòng anh dũng can đảm chường mặt ra với đời khi đứng trên xe jeep thuê, duyệt “binh” ngày “quốc hận” trên đất nước Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…

Tôi và Bùi Giáng September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội September 27, 2017

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng January 9, 2015

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.