Hoàng Hữu Phước Và Tôn Giáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-10-2017

Dẫn Nhập

Có hai thứ tự do luôn gặp sự cố: tự do tư tưởngtự do ngôn luận hay biểu đạt.

Tự do tư tưởng luôn bị đa số nhân loại bỏ quên đến độ chẳng hề cổ súy, ít sử dụng đến độ bản thân mụ mị, thậm chí chưa từng nghĩ rằng đó là thứ tự do có thật để nói về nó, nhớ đến tên nó, hoặc chứng thực nó có thiệt. Tự do tư tưởng luôn là hành trạng tư duy vượt-ra-ngoài-chiếc-hộp của những triết nhân, những vĩ nhân, những trí nhân, và những đạt nhân. Karl Marx là con chiên ngoan đạo, không bao giờ vắng mặt tại những buổi lễ cầu kinh hàng tuần ở nhà thờ; và tự do tư tưởng đã giúp ông hình thành những đại tác phẩm của muôn đời mà thậm chí thiên hạ còn ngu muội đến độ cho rằng ông là kẻ vô thần phản Chúa. Tự do tư tưởng là quá trình tư duy hoặc trong khuôn khổ, hoặc vượt ngoài khuôn khổ, hoặc trộn lẫn các khuôn khổ, hoặc hủy phá biến tan khuôn khổ, hoặc không hề lọt thỏm trong khuôn khổ bất kỳ. Tư duy là suy nghĩ, nhưng suy nghĩ chẳng bao giờ được mặc định là cách gọi khác của tư duy. Tự do tư tưởng đã đem đến cho nhân loại những kiệt tác mỹ thuật, học thuật, khoa học, công nghệ, v.v.

Trong khi chẳng hiểu gì hoặc chẳng hiểu gì đúng về tự do tư tưởng, thiên hạ dù ở nước siêu cường hay lạc hậu lại tự cho rằng bản thân rất rành rọt về tự do ngôn luận hay biểu đạt để rồi hoặc ngây thơ hoặc giả dại hoặc ngu đần cho rằng đó là muốn nói gì thì cứ nói, muốn làm gì thì cứ làm. Chính vì vậy mà cái chất liệu luôn có trong tự do ngôn luận hay biểu đạt gồm những ngây thơ/giả dại/ngu đần ấy đã đem đến xã hội loài người những xáo loạn, những xảo biện, những xạc xào nhớn nhác của những gói phạm trù như “phạm thánh”, phạm luật, và phạm tội. Kẻ ngu tự tiện vác “Thánh Kỳ Vatican” để xuống đường gây rối mà chẳng biết Thánh Kỳ không được phép lộ trần (xuất hiện nơi trần tục bên ngoài Nhà Thờ), và rằng Thánh Kỳ không thể tùy tiện tự chế lúc thì màu trắng nằm trên, lúc thì màu vàng nằm trên, lúc thì có thánh giá đỏ lòm ở giữa, cũng như không được phép tung phất Thánh Kỳ ngoài dọc đường gió bụi cứ như phất cờ trên sân bóng đá hay sân đua Formula One Thể Thức Một, cũng như không được cắm sau xe máy để “Thánh Kỳ” phần phật đập quấn ép vào đôi mông con chiên nữ ngồi sau. Bọn ác tu thì tự do ngôn luận hay biểu đạt bù lu bù loa về một Nhà Nước đàn áp tôn giáo. Còn kẻ ngu đồ thì tự do ngôn luận hay biểu đạt mồm loa mép dãi ra sức bóp miệng một cá nhân nào đó bằng băng keo in nhãn hiệu “phạm thánh”.

Trong khi đó, “tôn giáo” lại thuộc bảy kiểu hành xử văn hóa hoàn toàn độc lập với nhau gồm (a) các gia đình và các cá nhân văn hóa cao, tri thức cao, đều chủ động dạy dỗ con cái mình biết tôn trọng các tôn giáo khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, tín đồ khác nhau, cũng như sử dụng tự do ngôn luận về đề tài tôn giáo với đúng người nghe; (b) các gia đình và các cá nhân khôn ngoan đều chủ động dạy dỗ con cái mình không bao giờ được mở miệng thực thi tự do ngôn luận về đề tài tôn giáo; (c) các gia đình và các cá nhân khôn ngoan đều chủ động dạy dỗ con cái mình biết láu cá sử dụng tự do ngôn luận để bù lu bù loa tuyên bố bản thân bị đàn áp tôn giáo bởi chính phủ mình đang chống đối; (d) các tu sĩ hổ mang giỡ trò láu cá sử dụng tự do ngôn luận để bù lu bù loa tuyên bố bản thân bị đàn áp tôn giáo bởi chính phủ mình đang chống đối; (e) các chính phủ siêu cường tương tự Mỹ luôn có vũ khí luật pháp mạnh mẽ hiệu quả để bắt trói giải đi ngay các tu sĩ nào xuống đường biểu tình dám bất tuân yêu cầu giải tán của cảnh sát; (f) các chính phủ nhược tiểu thì với vũ khí luật pháp nhụt cùn luôn run rẩy như gà mắc tóc mỗi khi bị bọn tu sĩ biểu tình ra mặt chống đối; còn (g) bọn giáo gian hay dùng từ “phạm thánh” để chụp mũ người nào dám vạch trần cái sự giáo gian của mình.

Cũng vì quá run sợ trước chiêu trò chụp mũ “phạm thánh” của bọn giáo gian, tác giả bài viết này phải cẩn trọng tỉ tê dẫn nhập dài dòng như trên và tỉ tê thố lộ dòng dài như sau để được những người chống Cộng tức chống Việt và các tu sĩ cùng giáo dân cho phép sử dụng tự do ngôn luận hay biểu đạt mà họ cho là thứ mà Thượng Đế chỉ ban riêng cho họ mà thôi chứ không là thứ mà Hiến Pháp của cái Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này minh định như quyền công dân.

Thố Lộ

Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao lùn tức dwarf star nên ánh sáng lu mờ khiến mắt thì cận thị nặng, thân thì chịu lắm gian truân đi đến đâu là bị “đì” tức “đè đầu cưỡi cổ” cho lùn thêm đến đó dù đi lạc vô chốn môi trường giáo dục nước nhà đầy nhóc viên phấn vàng hay chúi nhũi vô cơ quan nhà nước đầy các quan đại tài cử đỉnh bạt sơn tức bưng đỉnh vàng về biệt phủ và làm sụt lún sạt lùn hết mấy núi non vàng.

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi, Má tôi theo chồng lên Sài Gòn lúc nhúc sậy lau lập nghiệp. Một hôm Ba tôi từ cơ quan là Công ty Moistessieurs của Pháp Lang Sa đạp xe về đến nhà định bước tới ôm chầm người vợ đang bụng mang dạ chửa thì không ngờ người vợ ấy cũng đang dấn thân bước đến ôm chồng theo kiểu Tây không ngờ trượt chân vì sân xi măng ướt ẩm do nước giặt gyạ (chứ chẳng phải triều cường Nguyễn Hữu Cảnh bị máy bơm khủng ngắc ngứ gây ngập lụt). Ba tôi lập tức kêu phu xe kéo đẩy đưa Má tôi đến bảo sanh viện gần đó của người Pháp (hình như là nơi sau này là bảo sanh mang tên Hồng Đức trên đường Cao Thắng, Quận 3) cấp cứu. Thấy sản phụ máu me đầy người, vị bác sĩ Pháp vội xua tay đuổi ra vì không muốn bịnh viện ô danh. Lập tức phu xe đẩy má tôi đi chéo sang bên kia đường đến nhà bảo sanh “thí” dành cho phụ nữ nghèo hoặc phụ nữ không chồng mà chửa (nay là Bịnh Viện Phụ Sản Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh) là nơi duy nhất nhận mọi trường hợp hoặc cấp cứu hoặc thầy chạy.

Screen Shot 10-23-17 at 10.12 PM

Khi nghe xướng tên mẹ tròn như bánh dầy con vuông như bánh chưng, Ba tôi mừng rỡ chạy vào ngắm đứa đứa con trai đầu lòng vàng ngọc, nhưng lại lật bật quay ra ngồi bệt xuống hành lang mà khóc, trách trời xanh sao nỡ hẹp dạ thế kia. Đứa con trai vàng ngọc ấy do từ sự sảy thai của mẹ, chưa đầy 7 tháng tuổi đã buộc ra đời, nên hình dong một dúm, đầu nhỏ như trái chanh thuần Việt, da nhăn nheo mỏng dính như màng trong suốt gói thức ăn cất tủ lạnh nên ai cũng nhìn thấy cả phèo phổi ruột gan đỏ đỏ đen đen. Đặc biệt phản khoa học do không mở mắt chào đời và không hề khóc để thở sau khi lọt lòng mẹ. Cái duy nhất cản ngăn cô y tá không lấy giấy báo gói đứa hài nhi ấy lại để xếp gọn vào thùng gỗ chung với mấy gói khác đem đến kho thiêu hủy chung là vì qua làn da mỏng manh ấy cô thấy một trái sê-ri đỏ hỏn vẫn đang khoan thai lâu lâu nhúc nhích bơm đập một lần. Từ mép thùng chung chạ, đứa hài nhi ấy được đặt riêng vào chiếc lồng ấp duy nhất của Từ Dũ để tiếp tục tự nhúc nhích tìm sự sống. Nhờ vậy mà từ cái tên đặt sẵn từ trước là Hoàng Ngọc Ẩn thật anh hùng hảo sảng phỏng theo nhân vật trừ gian diệt bạo trong tiểu thuyết Châu Về Hợp Phố của Phú Đức, Ba tôi đổi tên thằng nhóc đó thành Hoàng Hữu Phước.

Nghe tin tai nạn, Bà Ngoại tôi từ Trà Ôn đi ghe lên Sài Gòn ngay để chăm sóc mẹ tôi và tôi khi Từ Dũ bảo Ba tôi là không thể để Má tôi nằm hoài ở đó chiếm chỗ người nghèo. Bà Ngoại ngày đêm châu rơi lả tả, cầu khấn Phật Bà Quan Âm cứu nhân độ thế phù hộ cho mẹ tôi và tôi được nạn khỏi tai qua.

Thủa ấy, khu Bàn Cờ chưa định hình, nhà cửa lác đác thớt thưa. Có một nữ tu viện Công Giáo gần đấy và là dãy nhà gỗ duy nhất cao một tầng, sơn màu xanh lá cây, không có bảng ghi tên gì cả. Biết tin Má tôi được đưa về nhà, hai nữ tu (gọi là hai bà “sơ”) đến thăm với nghĩa hàng xóm láng giềng. Các “sơ” nói với Ba Má tôi rằng Má tôi vẫn đang ốm nặng, mà cứ nhìn thấy tôi trong tình trạng dật dờ như thế càng thêm rầu buồn đau khổ càng có hại cho sức khỏe, nên xin gia đình hãy cho các “sơ” đem tôi về tu viện để chăm nom hộ, để – theo lời “sơ’ mà Má tôi vẫn còn nhớ rõ – nếu như đứa bé không được sống làm con của ông bà thì hãy để cho nó được ra đi dưới mái nhà của Chúa. Thế là đã có một điều bí mật cho đến tận ngày nay: không rõ các nữ tu đã cho tôi bú gì, uống gì, chăm sóc ra sao, nguyện cầu những gì với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mà nhiều tháng sau, lúc tôi được các “sơ” bế về giao lại, thì tôi đã có đà theo đó mà nhảy vọt để rồi một lèo tiến nhanh tiến mạnh trở thành người cao nhất nhà (1m70), đầu to nhất nhà (Ba tôi mà tự một mình đi mua nón cho tôi là chẳng bao giờ tôi đội vừa), dũng cảm nhất nhà, hùng hục nhất nhà, và …nặng cân nhất nhà (lúc “hoàng kim” nặng 84kg trừ bì, lúc “suy thoái” thì 70kg chưa trừ bì).

Thời gian căng thẳng đầy nhang khói nguyện cầu Phật Bà Quan Âm Cứu Khổ Cứu Nạn của Bà Ngoại tôi và lời cầu nguyện Đức Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp của các “sơ” đã hình thành nơi Ba Má tôi sự thờ kính hết lòng dành cho Phật Bà Quan Âm và Đức Mẹ Maria, khiến Ba Má tôi từ thuần thờ tổ tiên và thiên về Phật Giáo đã có cái nhìn rộng mở cõi lòng đối với các tôn giáo khác, đặc biệt là Đạo Chúa.

Thế là khi Chị Hai của tôi và tôi lên trung học, Ba Má cho chúng tôi học ở trường Nguyễn Bá Tòng (nay là trường Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) của Công Giáo để con cái được tốt hơn dưới ngọn roi của các hiệp sĩ áo đen. Tôi học giáo lý rất chăm (vì thích xem phim về Chúa) nên các Lớp 6 tức Đệ Thất dự học Thánh Kinh Cựu Ước, Đệ Lục tức lớp 7 dự học Thánh Kinh Tân Ước, Đệ Ngũ tức lớp 8 dự học lớp Phụng Sự, Đệ Tứ tức lớp 9 dự học lớp Đức Tin, thì lớp nào chị em tôi cũng đoạt Bằng Giáo Lý Toàn Niên Hạng Nhất được giảm 50% học phí niên học sau, kèm với lớp nào chị em tôi cũng có Bằng Danh Dự Toàn Niên Hạng Ưu được giảm 50% học phí khóa sau, nên năm học nào chúng tôi cũng được học miễn phí 100%, trừ tháng đầu tiên phải đóng đủ vì trường chưa kêu nộp bản sao hai “bằng” ấy để bắt đầu “hưởng chế độ”.

Một hôm, Chị Hai tôi lúc lên lớp 10 tức lớp Đệ Tam về thỏ thẻ xin Ba Má tôi cho vô đạo. Thế là Má tôi nói “ừ, đạo nào cũng là đạo tốt” rồi cầm chổi lông gà, leo lên ghế quét bụi đầu tủ quần áo vốn là nơi cao nhất làm bàn để thờ chư Phật. Khi Chị Hai tôi đem về tượng Chúa Jesus, Má tôi đặt tượng Chúa giữa tượng Phật Thích Ca ngồi và tượng Phật Bà Quan Âm đứng. Má chỉ nói: “Chúa của mầy đứng giang tay choáng chỗ quá! Tay phải gác lên đầu Phật Ông, tay trái quạt vô ngực Phật Bà!” Và trong nhiều chục năm, hàng đêm hoặc Má tôi hoặc Ba tôi thắp nhang cho Phật, Chúa, và ông bà tiên tổ, để rồi hơn chục năm sau Chị Hai khoe….Tòa Thánh Vatican cho phép tín đồ được đốt nhang cho Chúa. Rốt cuộc, nhà tôi có Chị Hai và một em gái trở thành tín đồ Đạo Chúa: một Công Giáo, một Tin Lành, một chủ động xin theo đạo, một theo đạo chồng. Còn tôi học xong các lớp về “đạo”, luôn là ngôi sao mà các linh mục vừa quất roi vun vút vào mặt những nam sinh có đạo nhưng bê bối ít điểm môn Giáo Lý, vừa nêu tên tôi ngoại đạo nhưng trở thành tấm gương, thế nhưng tôi vẫn duy trì “thờ tổ tiên” chứ dứt khoát không vào “đạo” dù đó là Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, hay Hồi Giáo. (Ba Má tôi có tự đến Chùa Phước Trường ở khu Bàn Cờ để tự xin cho tôi quy y Tam Bảo, mang pháp danh An Thiện mà tôi chẳng bao giờ dùng làm bút hiệu; còn nữ tu viện Công Giáo đã nói ở trên thì bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm lấy giao cho trường Phan Đình Phùng lập thành khu phụ bên cánh trái cách khu trường chính bằng một ngõ hẻm, nay được xây khang trang và vẫn là một cánh của trường Phan Đình Phùng ngày nay).

Lý do tôi không vào “đạo” vì tôi nhận ra những điều trái với đạo đức thuần Việt không thể chấp nhận được trong Kinh Thánh. Và đó là “tự do tư tưởng” của tôi. Chưa từng có bất kỳ ai nghe tôi lạm dụng “tự do ngôn luận và biểu đạt” để bô bô cái miệng nói ra chi tiết những “tự do tư tưởng” chõi lại Kinh Thánh ấy. Tôi chỉ biểu hiện lồ lộ ra ngoài một thứ thiên vị mà ai cũng dễ dàng nhận thấy: tôi chỉ thân tri kỷ với mỗi một anh bạn ở đại học rất lương thiện là người Công Giáo mà vợ chồng tôi đều thân quen còn vợ chồng anh ây tỏ bày muốn được kết thông gia chỉ với tôi người ngoại đạo, tình yêu đầu đời còn gắn bó duy nhất trong tâm tưởng tôi là cô bạn học người Công Giáo thánh thiện thơ ngây trong sáng trường Nguyễn Bá Tòng, và tôi dành sự thương yêu chăm sóc nhiều hơn cho đứa em gái Thứ Sáu cùng Chị Hai của tôi đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Khi làm Giám Đốc Nhân Sự một công ty Bắc Mỹ có 500 nhân viên và 7.000 đại lý, có lần tôi được cô trợ lý báo cáo rằng có một nữ đại lý chờ gặp tôi cả buổi sáng không gặp được do tôi đi thị sát Văn Phòng Đồng Nai đến chiều mới về nên đã để lại tờ giấy ghi như sau: “Thầy ơi, cứu em với Thầy. Em là……., tổ trưởng đại lý số ….số phone……Một khách hàng của em là nữ tu …… ở Nhà Thờ ….. Nữ tu ấy muốn bỏ đạo vì có những khúc mắc không hiểu được khi đọc Kinh Thánh, mà hỏi các Cha thì ai cũng mắng sơ ấy là không có đức tin, là quỷ ám, v.v. Thầy chịu nói chuyện với sơ ấy nhe Thầy, để giúp sơ hiểu. Chứ em có đạo mà trong đạo không có ai giúp em được hết.” Tôi phone yêu cầu cô đại lý tín đồ Công Giáo ấy khẳng định cho tôi biết cô nữ tu Công Giáo kia thật lòng muốn bỏ đạo hay muốn ở lại với đạo, vì tùy vào mong muốn ấy mà tôi sẽ hùng biện để cô bỏ đạo trở về đời sống dân sự hoặc hùng biện để giải tỏa bất kỳ khúc mắc nào của cô khi đọc Kinh Thánh hay đối với các vấn nạn trong cuộc đời thực. Thế là hai hôm sau cô đại lý đưa cô nữ tu ấy đến gặp tôi tại phòng làm việc ở cơ quan. Sau khi giới thiệu xong, cô đại lý ra ngoài chờ đợi. Trong hai tiếng đồng hồ trò chuyện với cô nữ tu trẻ, gầy, thấp người, nói tiếng Miền Nam, bẻn lẻn như xấu hổ về cái “thiếu đức tin” của mình trước một người ngoại đạo xa lạ mà cô buộc phải gặp do sự thuyết phục đầy chất quảng cáo ngợi ca của cô đại lý, tôi đã lần lượt giải thích cho cô mọi câu hỏi “tại sao” của cô, cũng như giải thích những tình tiết nào đó của Kinh Thánh, chỉnh lại các trả lời không logic của các “cha”, nêu vì sao các “cha” né tránh, giải đáp lý do có hành vi xấu hổ nào đó của linh mục “bề trên” của cô, hay những bất công của Giáo Hội đối với nữ tu mà cô bức xúc, cũng như câu hỏi cực kỳ tế nhị của cô  “em cứ bất mãn với hiện trạng của Nhà Thờ như vậy thì em có nên rời đi không Thầy?”, v.v.

Kết quả là sau đó cô đại lý cảm ơn tôi rối rít vì vị nữ tu tiếp tục toàn tâm hiến dâng cuộc đời vì Đạo Chúa.

Còn khi tôi làm giáo viên Anh Văn ở Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, xã hội có xảy ra việc gây rối phản loạn phản động của một hay hai thằng linh mục nào đó muốn lật đổ chế độ. Thế là lãnh đạo Khoa Ngoại Ngữ vốn toàn là “trí thức chế độ cũ học ở Mỹ” đã nhanh nhảu lập đại công bằng cách đình chỉ giảng dạy giáo viên Anh Văn Nguyễn Thi Vinh vì cô là tín đồ Công Giáo. Cô Vinh đã tìm gặp tôi ở sân trường vào giờ giải lao để…khóc. Cô khóc vì cô sợ. Cô khóc vì cô đơn. Cô cô đơn vì là một phụ nữ đơn thân đi dạy học nuôi một đàn cháu là con cái của các em, cô lại sắp nghỉ hưu đang không biết phải sở xoay ra sao cho cuộc sống một đại gia đình đang nương náu cùng cô tại căn nhà mặt tiền đường Trần Bình Trọng ở Quận 5. Cô cô đơn vì mọi giáo viên đồng nghiệp với cô học chung ở Mỹ về dạy từ trước giải phóng nay lại hèn hạ xa lánh cô như thể cô là thứ dịch bệnh mà họ không muốn bị vạ lây. Cô cô đơn vì mọi giáo viên đồng nghiệp trẻ mới về trường đã biết khôn ngoan nịnh bợ lãnh đạo để xa lánh dè bỉu cô dù khi họ mới về thì cô đã là người dẫn dắt để họ thử việc thành công trở thành giáo viên biên chế chính thức. Thế là tôi an ủi cô rồi về nhà cặm cụi viết thư tay gởi khắp nơi, van xin Nhà Nước hãy có các chính sách tôn giáo phù hợp vì tội ai người đó chịu chứ đừng quy chụp một tôn giáo nào là đối nghịch với chế độ, vì chỉ có tu sĩ gian manh khốn nạn mới chống đối chế độ dựa trên những xảo trá không bao giờ có ghi trong Thánh Kinh hay kinh kệ. May mà trong số các cơ quan tôi gởi thư đến, thì Báo Sài Gòn Giải Phóng có thư viết tay phúc đáp ký ngày 26-11-1988 mà tôi đưa ảnh chụp minh họa trong bài Báo Sài Gòn Giải Phóng nên tôi mới có bằng chứng để không bị những người chuyên bôi nhọ tôi cho rằng tôi đã “tưởng tượng” ra những cảnh hào hùng nghĩa hiệp bất chấp mọi thứ để cứu người. Báo Sài Gòn Giải Phóng hứa sẽ chuyển thư của tôi đến những lãnh đạo có trách nhiệm như Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Nước Nguyễn Hữu Thọ, và Ban Tôn Giáo Trung Ương để xem xét. Và trước khi Cô Vinh được dạy trở lại cũng như các chủng viện được phép tiếp tục đào tạo linh mục, thì tôi đã tự nhiên bị Khoa Ngoại Ngữ “hạ tầng công tác” bắt làm tạp vụ quét dọn và…trừ mối phòng thính thị trước mắt hàng ngàn sinh viên của tôi, rồi khi sinh viên gởi thư đến các tòa soạn tôi được “đặc cách” cho bỏ cây chổi cùng nùi giẻ để cầm lại viên phấn dạy các môn…..Văn và Sử, đến độ tôi thấy mình tài hèn sức mọn sợ không dạy nổi do không tài nào viết được bài hay bằng bài “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” mà cũng không tài nào sủa ồn ào về “luật hóa mại dâm” to tiếng  bằng “nhà sử học”, tôi phải làm đơn xin thôi việc, giắt giò lên cổ mà chạy khỏi ngành giáo dục, đến độ không kịp kiếm Cô Vinh chào từ biệt, cứ thế mà cậu em nhà giáo “vô thần” Hoàng Hữu Phước rời xa bà chị nhà giáo Công Giáo Nguyễn Thị Vinh. May mà có cô giáo Phật Tử Vũ Thị Liên thấy tôi bị “xử đẹp” như vậy cũng tức giận tức mình tức tốc giắt giò lên cổ chạy theo bén gót để trở thành Giám Đốc Tài Chính Tại Nhà kiêm Thủ Quỹ Tại Gia cho nhà giáo “vô thần” sinh thiếu tháng đầu lớn như trái chanh thuần Việt ấy.

Bài viết này đặc biệt ở chỗ toàn bộ 3.906 chữ ở trên chỉ là phần nhập đề cho phần thân bài kiêm kết luận võn vẹn 2 đoạn có 90 chữ như sau:

Thân Bài Kiêm Kết Luận

1- Tu sĩ chỉ được “phục vụ lý tưởng chính trị” khi xếp áo tu anh dũng gia nhập quân đội kháng chiến của một nhà cách mạng để đánh giết quân xâm lược. Đây là điều duy nhất đúng. Bất kỳ sự nhúc nhích nào khác có mục đích chính trị đều là việc của bọn giáo gian hèn nhát.

2- Chỉ có kẻ ngu mới răm rắp nghe theo lời xách động của bọn tu sĩ bẩn thỉu mất dạy xuống đường gây rối chống đối chế độ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết được nhắc đến trong bài:

Báo Sài Gòn Giải Phóng  21-7-2013

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học  26-01-2014

Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Bôi Nhọ  02-12-2015

Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Tham khảo các bài viết về đề tài Tôn Giáo:

Pháp Luân Công  07-10-2015

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017

Letter to His Holiness Pope Francis  01-8-2017

Advertisements
Both comments and trackbacks are currently closed.