Monthly Archives: October 2018

Nhà Hát Thủ Thiêm

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế Thực Thụ

30-10-2018

HHPGreat

Bài này có tựa đề gốc (original) là Niệm Khúc Cuối Cho Nhà Hát Thủ Thiêm.

Bài có hình thức phá cách: phần ý chính của tiêu đề được nói đến sau rốt.

Bài được viết nên bởi một thạc sĩ kinh doanh quốc tế thực thụ.

Mới đây trên Googletienlang2014.blogspot.com có bài viết về việc Chu Hảo Vô Lò. Chao thì phải đựng trong Hủ. đương nhiên rồi, bởi vậy người ở Miền Nam mới gọi là Chao Hủ, chớ ai gọi là Chao Hộp, Chao Chén, Chao Chai, Chao Bịch, v.v., bao giờ. Và mọi vật dụng đều có vị trí riêng của nó, thế cho nên đặt Chao Hủ vô lò cũng là cách đặt để một món vật vào một nơi cất ủ thích hợp cho sự lên men sản xuất chao cúng Phật.

Tuy nhiên, một nhà hàn lâm có học vị thạc sĩ thứ thiệt như tôi lại muốn nói về một khía cạnh khác: bài viết trên Googletienlang2014.blogspot.com đã hoàn toàn đúng đối với sự thật rằng đã là tiến sĩ mà không có công trình nghiên cứu nào thì đó vẫn còn là đứa học trò chứ chưa thể là nhà trí thức.

Xưa kia, khi còn là thầy giáo, tôi đã bảo với sinh viên rằng (a) các em có những lợi thế trời ban khi được cho giáng hạ phàm trần làm người Việt, vì các em chỉ cần lấy được cái bằng Tiến Sĩ là các em coi như được làm Tiến Sĩ trọn đời, trong khi ở các cường quốc văn hóa văn minh thì những ai có bằng cấp tiến sĩ phải liên tục viết lách, nghiên cứu, công bố nghiên cứu, mới duy trì được cái danh tiến sĩ ấy; và rằng (b) đó là lý do của một kết quả và một hậu quả khi đời sống hàn lâm khoa học ở nước họ tiến như vũ bão chiếm lĩnh các giải Nobel mà cũng đồng thời xuất hiện các đại công trình nghiên cứu như chế ra công thức khác nhau để đo diện tích chính xác bề mặt lớp da của một con voi đực và một con voi cái trưởng thành để chiếm đoạt tất cả các giải Ig Nobel đầy vinh diệu.

Cũng vì lòng tự trọng cao hơn ngọn Sagarmatha (mà tôi đã dùng làm tên cho bài thơ  tiếng Anh “Em Là Đỉnh Non Caođể ngợi ca và cảm ơn Cô Lại Thu Trúc đã làm người chứng của chân lý tận tụy tận trung tận tín với tôi) mà tất cả những bậc trí thức hàn lâm thứ thiệt bằng cấp thực thụ đều đồng lòng thể hiện: tất cả đều không bao giờ ngừng thi thố năng lực chí ít để chứng minh bản thân đã thực sự có đam mê học tập và thực sự đã kinh qua vô số các sinh hoạt hàn lâm như tranh biện qua khẩu ngữ (thuyết trình và khẩu chiến luận) cũng như qua phương tiện hàn lâm (trình bày bằng ngôn ngữ viết các nghiên cứu và bút chiến luận) nên đã hình thành thói quen liên tục ứng khẩu thành thơ hạ bút thành văn. Nghĩa là một khi bị là một trong 3 hạng người sau – gồm:

(a) người có học vị cao nhưng do không những ở ngoài Đảng mà lại còn mang thân phận không phải con-ông-cháu-cha, không có quyền năng kêu tài xế tỉnh bơ kéo hết va li này đến va li kia mỗi va li chục tỷ đồng về nhà hoặc đưa nhiều triệu đô-la Mỹ cho một thằng đồng nát bán nhôm mà chẳng cần nhớ lý do tại sao phải đưa nó tiền đi thu mua phế liệu nhôm (trong khi chỉ cần nói đại là để giúp nó khỏi phải “chà đồ nhôm” là xong mà cũng không nói nên lời), nên không thể tiếp tục học lên cao hơn để đất nước này có thêm một nhà giáo lương thiện xuất chúng tài ba;

(b) người có học vị cao nhưng tại quá xui xẻo nên bị Đảng và Nhà Nước cưỡng bách ấn vào các chiếc ghế ngôi cao định sẵn để làm lãnh đạo các Đại Học, lãnh đạo các Viện này Viện nọ, các lãnh đạo chính trị đó chính trị kia, chứ bản thân chỉ thèm muốn phục vụ nhân dân, khuông phò xã tắc, tránh xa lợi ích nhóm

(c) người có học vị cao nhờ tại quá “xui xẻo” bị Đảng và Nhà Nước cưỡng bách đi học bằng tiền thuế của dân chứ bản thân ngu muội cứ học một tỷ điều thì biết đến phân nửa của một góc tư điều;

thì hạng ‘a’ ở trên sẽ gồm những người không ngừng viết lách hàn lâm nghiên cứu đa ngành đa lĩnh vực trên mạng chùa (tức internet) từ văn thơ, ngôn ngữ, chính trị, quân sự, giáo dục, tôn giáo, …bói toán (tức thấu thị), đến…biểu tình, v.v., mà đại diện cho nhóm này là một vị ẩn sĩ nghe đâu đã viết nên bài thơ … “Em Là Đỉnh Non Cao”;

trong khi đó hạng ‘b’ gồm những người 2 Có 3 Không, gồm có bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ, có ghế vinh diệu, không tham gia giảng dạy thực thụ, không viết lách nghiên cứu gì dù là viết bằng tiếng Việt hay ngoại ngữ trên báo/tạp chí hải ngoại hay lô-can (nội địa) hay thậm chí viết trên blog chùa để thực hiện tác phong duy nhất đúng của đẳng cấp thạc sĩ/tiến sĩ là thường xuyên phô trương kiến thức đầy tự hào và kết quả hành trạng tư duy chuyên môn chuyên ngành chuyên chú để tham gia đại cuộc vừa mở mang trí hóa cho cộng đồng vừa bảo vệ quốc gia, và không có thần kinh ổn định khi tuổi cao thì đột nhiên ú ớ nói láp giáp về cái đồng bóng hoàn toàn thình lình trên trời rơi xuống như nhân quyền/dân chủ/đa đảng/lương tâm/xã hội dân sự/ký tên bầy đàn bọ xít cho các vấn đề như bô-xít, hoặc công bố cái tầm phào vớ vẩn tự “nổ” rằng sau 40 hay 50 năm dày công nghiên cứu từ thủa zero-chấm-không đến bốn-chấm-không (như các gã gì gì đó tên Hồ Ngọc gì gì đó và Bùi gì gì đó);  mà đám đại diện cho nhóm này thì vô thiên lủng không sao đếm xuể; và

cái nhóm ‘c’ gồm những người thuộc đẳng cấp…lưỡng đảng Huê Kỳ tức na ná giống nhóm ‘b” ở chỗ “xui xẻo”, nhưng khác ở chỗ trong khi nhóm ‘b’ được ban cho bọt xà phòng phun ra tạo nên hình chữ trí thức của Đảng thì nhóm ‘c’ toàn là bọn hề rẻ tiền, mà đại diện là chủ tiệm bán chao loại Chao Hủ.

Do là một thạc sĩ kinh doanh quốc tế thực thụ, tác giả muốn vặn vẹo nhà cầm quyền Thành Phố Hồ Chí Minh – và cả cái vị Phó Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV của Thành Phố Hồ Chí Minh, người khét tiếng trước khi xui xẻo bị Đảng và Nhà Nước cưỡng bách ấn vào chiếc ghế ngôi cao định sẵn để làm Phó Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhanh tay ký ngay các quyết định bổ nhiệm cho phe nhóm dù đã không còn thực quyền ký tên đóng dấu, với sự kính trọng dành cho các vị cũng là những người có “học vị” hẵn hoi 5 vấn đề như sau về cái Nhà Hát Thủ Thiêm của quý vị – không phải của…”cử tri”:

1) Nếu bảo rằng ngân sách đã có sẵn từ lâu, vậy tại sao đã không xây cái nhà hát ấy? Nếu không lạm dụng ngân sách thì vậy tiền cột bó chất đống tại Văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh hay Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh? Nếu tiền gởi ngân hàng thì nay số tiền lãi có đã được chia chác giữa những ai hay đã gộp chung vào con số mà quý vị báo cáo với “cử tri”?

2) Các vị đâu phải trẻ nít thiếu học chờ đợi Thầy Hoàng Hữu Phước đến dạy cho mới nhớ rằng tất cả các dự án công trình đầu tư của Thành Phố Hồ Chí Minh đều luôn luôn đội vốn ít nhất là gấp ba lần. Vậy khi xây Nhà Hát Thủ Thiêm, quý vị phải chăng đã âm thầm có kế hoạch sẽ bán luôn số 2bis Lê Duẩn (Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh), 59-61 Lý Tự Trọng (“Dinh Thượng Thơ”), và 324 Hòa Hưng (Khám Chí Hòa) để bổ sung tiền cho cái đội vốn của Nhà Hát Thủ Thiêm ấy; mà kế hoạch dự phòng ấy có đã được phép Quốc Hội và Chính Phủ hay chưa, và đã tính toán cộng trừ nhơn chia ra sao để bổ sung vào danh sách trên các địa chỉ khác nếu đội vốn quá cao – chưa kể chi phí bảo quản duy tu công trình luôn cao ngất – và liệu khu đất kim cương 86 Lê Thánh Tôn (trụ sở Hội Đồng Nhân Dân-Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh) có sẽ được rao bán luôn không, vì quý vị thay vì chỉ có “quyền giữ đất” cho nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì lại nhanh nhanh lẹ lẹ thực thi chăm bẳm vào cái “quyền bán đất” ? Nếu không bán thêm gì cả vì bị Trung Ương mắng chưởi, thì phải chăng kế hoạch vĩ đại của quý vị là đòi lại tiền đã lỡ ưu ái đưa cho Rác Đa Phước?

3) Quý vị lãi nhãi hoài về bốn-chấm-không, vậy vợ của tôi mê nhạc giao hưởng nên thường nhờ tôi kiếm tìm mua dĩa giao hưởng/hoa tấu/thính phòng Âu Châu cổ điển rồi thao tác hoán đổi giữa WAV và MP3 để chép vào phone của nàng các kiệt tác giao hưởng chứ không bao giờ phí thời gian để chèo ghe hoặc đi xuồng máy đuôi tôm bì bỏm rẽ nước từ Phú Nhuận đến Nhà Hát Thủ Thiêm chuyên giao hưởng, còn tôi mê nhạc đồng quê Mỹ và Rock nên thường tự kiếm tìm mua dĩa ngoại rồi thao tác hoán đổi giữa WAV và MP3 để chép vào phone của tôi các kiệt tác ấy chứ không bao giờ phí thời gian kêu GrabGhe hay GrabXuồng hay GrabThuyền hoặc GrabCa-nôGrabTắcRáng để bì bỏm từ Phú Nhuận đến Nhà Hát Thiểm Thu chuyên nhạc đồng quê Mỹ và Rock mà tôi biết chắc chắn sẽ được quý vị sẽ bán nốt cái gì đó để đầu tư xây dựng tiếp, mà nếu không lội sình tới cái Nhà Hát Thủ Thiêm quỷ quái của quý vị (không phải của “cử tri”) thì sẽ không được quý vị công nhận vợ chồng tôi biết cảm thụ nghệ thuật hàn lâm ư?

4) Tất cả các ca sĩ “hàn lâm” (opera) có thực tài và các ban nhạc “hàn lâm” (giao hưởng) có thực tài trên thế giới đã hòa chung nhịp sống sôi động của âm nhạc nói chung bằng cách cũng phát hành những album nhạc “hàn lâm” ra toàn thế giới, và họ đã chủ động tạo nên danh tiếng cùng tài lực kinh tế vững mạnh tự thân. Các ban nhạc “hàn lâm” Việt Nam mà quý vị đang nỉ non kêu gọi lòng trắc ẩn cảm thương của bá tánh khi nêu lên tình trạng nhạc cụ đắt tiền (mà quý vị mua cho ban nhạc?) phải gởi ở tầng hầm nơi này nơi nọ thì đã vang danh bốn bể chưa, mà nếu đã chưa vang danh thì chẳng có album dĩa để bán nên chẳng ai biết đến, vậy mà quý vị cho rằng sẽ có du khách nước ngoài nước trong sẽ tấp nập đến thưởng lãm ư? Các văn bằng quản trj kinh doanh và kinh doanh quốc tế của các vị hoặc các nhân sự cấp cao như các vị chẳng lẽ đã vất sọt rác ngay sau khi được cấp cho các vị hay sao?

5) Cứ mở miệng là nói đến kinh tế thị trường, đến hội nhập, đến bốn-chấm-không, vậy mà quý vị lại hành xử một cách tuyệt đối bao cấp. Ban nhạc giao hưởng gì gì đó là của Nhà Nước (tức của Thành Phố Hồ Chí Minh), vậy họ là công chức mà tiền thuế của dân sẽ được dùng để trả lương/phúc lợi/bảo hiểm cho họ. Là bên sử dụng lao động, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ biết xây nhà hát cho ban nhạc, mua sắm nhạc cụ cho ban nhạc, trả lương cho ban nhạc, đặt ra các chức danh lãnh đạo cho nhà hát, sẽ hào phóng mua sắm công (các ô tô cho các lãnh đạo, trang thiết bị văn phòng, trang thiết bị ánh sáng âm thanh) cho nhà hát và ban nhạc, v.v., mà tất cả là từ tiền thuế của dân. Là bên sử dụng lao động và tất nhiên là chủ đầu tư cho một cơ ngơi khổng lồ, Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh lại xem như đó là công việc từ thiện nuôi sống một “đơn vị quốc doanh” hay sao mà lại nói “Không” với hiệu quả đầu tư, nói “Không” với hiệu quả kinh doanh, nghĩa là đầu tư bất kể có hay không có sinh lời thực chất thực tế tangible, chỉ biết ăn nói hò hét ồn ào về cái sinh lời trừu tượng intangible về “hưởng thụ nghệ thuật nhạc giao hưởng bất kể chất lượng”.  Chính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh quả thực đã hành xử theo cách bao cấp tuyệt đối và theo thói quen kinh niên bịnh hoạn xài tiền như nước một cách vô tội vạ và phung phí như qua bao đời Bí Thư Thành Ủy và Chủ Tịch Thành Phố. Cách hành xử theo kiểu bao cấp tuyệt đối và theo thói quen kinh niên bịnh hoạn xài tiền như nước một cách vô tội vạ và phung phí ấy hoàn toàn không được phép tiếp diễn trong thời đại bốn-chấm-không này vì sẽ làm Thành Phố Hồ Chí Minh lụn bại suy đồi suy tàn suy kiệt suy vong.

Đó là lý do vì sao Hoàng Hữu Phước tôi đây trong bài Luật Đặc Khu – Phần 2 đã gọi bốn-chấm-không là thứ bùa chúchính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh sử dụng lộn lạc lầm trong mê sảng để mê hoặc nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Thực-thụ, T-lũy-thừa-7 (Thầy Tiên-tri Thấu-thị Thực-thụ)

Tham khảo:

Sagarmatha – Em Là Đỉnh Non Cao

Lại Thu Trúc

Người Chứng Của Chân Lý

Nhân Quyền

Dân Chủ

Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam

Rác Đa Phước

Thấu Thị

Luật Đặc Khu – Phần 2

Đất Chóe Thủ Thiêm

Tất Thành Than

Báo Động Về Năng Lực Của Lãnh Đạo Thành Phố Hồ Chí Minh

Advertisements

Phùng Kim Yến

Nhà Báo Chánh Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-10-2018

Nhiều bạn hữu, học trò ruột, nhân viên trung thành, người quen thân tình, và người dân hiền lương bấy lâu nay tự xưng là “fan ái mộ” của tôi hỏi phải chăng tôi rất có ác cảm đối với các nhà báo chính thống Việt Nam. Câu trả lời của tôi luôn gồm ba nội dung rằng

(a) cái gọi là báo chí cách mạng là vũ khí của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà chỉ có bọn ngu đần học trăm biết một và bọn chống Cộng mới chống cái báo chí cách mạng ấy;

(b) tôi chỉ chống báo chí cách mạng Fake, tức báo chí cách mạng đội lốt, tức báo chí cách mạng phản Đảng, tức báo chí cách mạng biến thái, báo chí cách mạng ăn cướp; và

(c) tôi là người tuyệt đối công chính liêm minh và cái đạo đức rộng lượng hào phóng đặc biệt nơi tôi luôn được thể hiện rõ nét bất di dịch theo hai slogan tôi thường nhắc đến nơi này nơi khác trong các bài viết là “ơn có vạn kiếp vẫn đền, oán có muôn đời vẫn trả”, và “nhận một luôn đáp lại ngàn, dù cái nhận là sự giúp đỡ hay quả đấm”;

Cho nên, ác cảm nơi tôi – nếu có – tùy thuộc hoàn toàn và tuyệt đối vào mỗi cá nhân nhà báo đang đứng trong hàng ngũ báo chí cách mạng Việt Nam đang chìa ra cho tôi tình tương thân tương trợ hay quả đấm.

Giải thích rõ hơn nội dung phần (b) ở trên, tôi cần nhấn mạnh thêm rằng:

1- Báo chí xạo Fake thì chỉ có người đang dự lớp xóa mù chữ mới đọc. Báo xạo Fake Tuổi Trẻ ở Việt Nam đã từng nhét/nhấn/thồn/tọng chữ vào mồm Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước vu vạ rằng ông ta mắng dân tộc Việt Nam dân trí thấp đối với Luật Biểu Tình trong khi trong thực tế ông ta chỉ nêu lên sự thật 100% rằng trên đời dưới thế chỉ có mỗi một ông cố tổ tiên sư của báo chí xạo Tuổi Trẻ sở hữu đủ bộ Tứ Đại Ngu. Thậm chí Ông Trần Đại Quang có bao giờ bảo ông cố tổ tiên sư của báo chí xạo Tuổi Trẻ  ngu hồi nào đâu vậy mà chúng cũng nỡ lòng nào tự tung tự tác tự tiện tự nhiên tự do nhét/nhấn/thồn/tọng chữ vào mồm Ông Trần Đại Quang rằng chính ông ấy không những ủng hộ việc ra Luật Biểu Tình mà còn hứa sẽ thúc Quốc Hội cho ra cái luật ấy. Xem ra cái gọi là Luật Biểu Tình được báo xạo Tuổi Trẻ đặc biệt ưa chuộng vì xã hội phải có loạn lạc đập phá tứ tung thì từ Tổng Biên Tập đến phóng viên báo xạo Tuổi Trẻ mới không bị thất nghiệp. Những bậc đại trí luôn chống báo xạo, chà đạp báo xạo xuống bùn nhơ, và trong số những bậc đại trí quyết liệt chống báo xạo nhất thế giới có Tổng Thống Hoa Kỳ Thứ XLV Donald John TrumpNghị sĩ Việt Nam Khóa Thứ XIII Hoàng Hữu Phước.

2- Báo chí cách mạng ăn cướp là tên gọi bọn báo chí – nhất là bọn báo online và báo hình – nào đã tuyệt đối câm lặng bưng bít thông tin để ăn cướp một kỳ tích của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước: chúng không hề đưa tin về một sự việc chưa có tiền lệ vô tiền khoáng hậu suốt chiều dài lịch sử nghị viện Việt Nam khi phát biểu dài 6 phút 59 giây của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tại nghị trường về Luật Biểu Tình đã được cả hội trường vỗ tay ầm vang hơn sấm.

Tương tự, báo chí cách mạng ăn cướp là tên gọi bọn báo chí – nhất là bọn báo online và báo hình – nào đã tuyệt đối câm lặng bưng bít thông tin ăn cướp một kỳ tích khác của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước: chúng không hề nói gì về ý nghĩa vĩ đại của một sự việc chưa có tiền lệ vô tiền khoáng hậu suốt chiều dài lịch sử nghị viện Việt Nam khi phát biểu của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tại nghị trường về Luật Biểu Tình đã được cả hội trường vỗ tay ầm vang hơn sấm, mà các nghị sĩ ai lại không là đại biểu do dân bầu lên cơ chứ, cho nên mặc nhiên có ý nghĩa rằng Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đã được tuyệt đại đa số nhân dân toàn quốc ủng hộ, tức được dân tộc ủng hộ.

Tương tự, báo chí cách mạng ăn cướp là tên gọi bọn báo chí – nhất là bọn báo online và báo hình – nào đã tuyệt đối câm lặng bưng bít thông tin ăn cướp một kỳ tích của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước rằng trong một sự việc chưa có tiền lệ vô tiền khoáng hậu suốt chiều dài lịch sử nghị viện Việt Nam khi phát biểu của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tại nghị trường về Luật Biểu Tình đã được cả hội trường vỗ tay ầm vang hơn sấm do Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là nghị sĩ đầu tiên suốt chiều dài lịch sử nghị viện Việt Nam đã thực thụ là nhà hùng biện với giọng phát biểu dũng mãnh, vang rền như sấm, trong khi toàn bộ các nghị sĩ của Đảng tại Quốc Hội Việt Nam từ xưa đến nay đều đọc bài phát biểu với giọng ngái ngủ chứ không với đẳng cấp Fidel Castro.

Chỉ với một nghị sĩ quèn không ô dù che đầu, không phe nhóm chống lưng, chẳng Đảng tịch lận lưng, vậy mà chỉ trong một lần phát biểu có non 7 phút thôi mà báo chí đã ăn cướp của nghị sĩ ấy những ba sự vẻ vang nêu trên, cấm triệt để nhân dân không được tiếp cận sự thật chốn nghị trường, thì cái báo chí ấy tất nhiên còn ăn cướp của “thiên hạ không quèn” (tức các chủ doanh nghiệp giàu có) nhiều đến dường nào.

Thế còn các nhà báo trung thực thì sao?

Tất nhiên, nhà báo trung thực không thể không dành thiện cảm cho nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Thậm chí khi nhà báo chủ nhân Phố BolsaTV dù đã vào Việt Nam vẫn không được cho phép vào tác nghiệp tại Quốc Hội, phải nhờ tôi can thiệp giúp. Khi phone cho Bộ Ngoại Giao thấy quả bóng trách nhiệm bị chuyền sang nơi khác, tôi đã gặp trực tiếp một người có trách nhiệm về báo chí của Chính Phủ, được nghe lý do rằng vị nhà báo chủ nhân ấy do bị nhận diện rất nhiều năm trước đây đã từng hùng hổ biểu tình la hét chửi mắng phái đoàn lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đến thăm Washington. Tôi vội tìm gặp một nhân vật quan trọng khác để thuyết phục và đã thành công trong vệc cho nhà báo Việt Kiều ấy vào tác nghiệp quay phim và phỏng vấn ngay tại Quốc Hội. Hãy tôn trọng Việt Nam và đồng thời hãy tôn trọng tôi – đó là nguyên tắc tôi đưa ra cho nhà báo nào muốn được tôi tôn trọng và giúp đỡ.

Đã có tất cả 6 nhà báo ra mặt (tức có gặp gỡ, có họp mặt) ủng hộ tôi. Và Chị Phùng Kim Yến là một trong hai nhà báo nữ trong số 6 vị đó. Tất nhiên, còn có 8 nhà báo nam khác ủng hộ tôi bằng những lời động viên, khen ngợi, và an ủi, qua email, tin nhắn, hoặc bằng cái vỗ-vai-kèm-động-tác-đưa-ngón-tay-cái-lên ở các điểm tiếp xúc cử tri. Và tôi biết chắc chắn rằng rất nhiều người trong báo giới Việt Nam cùng cơ quan an ninh chính trị Việt Nam biết rất rõ nhà báo Phùng Kim Yến là ai.

Lần đầu tiên tôi gặp Chị Phùng Kim Yến là khi chị mời tôi cùng một nhà báo nữ và một nhà báo nam khác đến họp mặt tại một nhà hàng Nhật Bản ở Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh. Nhà báo nam là người đầu tiên đã liên lạc với tôi ngay khi những người biết-tiếng-Việt-không-biết-tiếng-Anh trên toàn thế giới khởi động đại cuộc ném đá khủng bố tôi trong vụ Luật Biểu Tình, để cho tôi xem bài viết của anh ủng hộ tôi song đã bị tòa soạn của anh loại bỏ. Nhà báo nữ là người tôi chưa quen. Còn Chị Phùng Kim Yến thì tôi đã biết từ lâu trước đó qua chuyên mục Chị viết về Phật Giáo và Phật pháp trên một báo mạng của Việt Kiều Mỹ, mà trang báo online ấy thỉnh thoảng có đăng lại các bài viết của tôi trên các blog Emotino và WordPress.

Chị đã cuốn hút tình thân quen của tôi qua lời nói đầu tiên ngay sau khi chào hỏi xong rằng Chị có đọc bài  Tuyệt Thực của tôi và nhờ đó biết tôi là học trò tiếng Anh của Cô Lý Kim Hà tại USA (tức Hội Liên Trường – United Schools Association – của Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước 1975, đối thủ cạnh tranh với VAA tức Hội Việt Mỹ – Vietnam-America Association), em gái dân biểu đối lập Lý Quý Chung, mà Cô Lý Kim Hà là bạn học thân tình của Chị Phùng Kim Yến. “Hà nó đúng là đẹp thiệt,” Chị nói, nhìn tôi mĩm cười ý nhị, ắt ngầm nhắc đến đoạn tôi viết rằng Cô Lý Kim Hà mãi tuyệt đẹp trong trái tim tôi, cậu học trò lớp 9.

Chị Phùng Kim Yến có khuôn trung đôn hậu, quý phái. Là nhà báo, nhưng Chị nói chuyện với phong cách một nhà trí thức hàn lâm, chỉ như tâm sự với người đối diện cùng đẳng cấp, chứ không để tìm hiểu, lấy tin. Đó là nét đặc biệt nơi Chị mà tôi rất nể trọng, chẳng qua vì tôi cũng y như vậy: không bao giờ nói chuyện với người khác để tìm hiểu (vì tôi đã hiểu hay sẽ hiểu tất sau) cũng như không bao giờ để lấy thông tin (vì tôi đã có hay sẽ có tất sau). Chị khiến tôi tin vào một điều rằng một khi Chị mời tôi đến gặp mặt, nghĩa là Chị đã biết tôi như thế nào và Chị muốn tôi cảm nhận được sự tôn trọng và trân trọng Chị dành riêng cho tôi do đã quá hiểu rõ về tôi.

Tất nhiên, một trong những chủ đề Chị nói đến – để sẻ chia sự đồng cảm – có nhắc về việc tôi tự ra ứng cử Quốc Hội mà Chị đánh giá rất cao với sự thích thú; việc tôi khẳng khái bộc trực vì an nguy của nước, của dân, mà trở thành lẻ loi đơn độc trước sự ném đá tàn nhẫn rất nhịp nhàng một cách kỳ lạ của báo chí “quốc doanh” và báo chí “lề đường” khiến Chị ngạc nhiên nể trọng tôi; cũng như việc tôi không những không từ chức mà còn viết lách mạnh mẽ hơn khiến Chị bất ngờ trước “bản lĩnh của Anh Phước.” (Chị luôn gọi tôi là “anh” một cách trọng thị, còn tôi luôn xưng “em” khi đối đáp với Chị.)

Với đẳng cấp thượng thừa của một nhà báo trí thức – như tôi đã có nêu ở trên rằng – Chị không đặt câu hỏi gì với tôi cả. Chị như đã biết tất, đã hiểu tất, và những đối thoại của Chị trở thành những sẻ chia, những lời khuyên từ thành ý, thiện chí, và thiện tâm. Chị bảo Chị biết tôi có lòng tin vào những người công chính trong nhân dân, thế nên tôi hãy vì những người dân công chính ấy bất kể họ yếu thế và ít ỏi đến đâu chăng nữa mà tiếp tục con đường không bằng phẳng tôi đã chọn. Chị khuyên tôi nếu sức khỏe còn cho phép thì nên cứ tiếp tục tự ra ứng cử thêm vài nhiệm kỳ để nghị viện Việt Nam còn có được một đại biểu thực sự vì nước vì dân.

Trong hoàn cảnh hai nhà báo một nữ một nam kia thỉnh thoảng góp vào đôi lời khen tôi cho phù hợp với các nội dung sẻ chia của Chị Phùng Kim Yến, tôi lắng nghe là chính, và thỉnh thoảng mới lí nhí “Cảm ơn Chị vì Chị đã hiểu cho em và đánh giá em cao như vậy”; “Dạ em chỉ đơn giản làm những gì bản thân em tin rằng có lợi cho đất nước mình”; “Được Chị và hai anh chị ở đây quan tâm đến em, em rất biết ơn”; “Dạ em biết sẽ luôn khó khăn, nhưng em cũng thấy được an ủi nhiều vì được Chị và hai anh chị đây hiểu và động viên”; v.v.

Như đã nêu trong một bài viết trước, tôi đã phải nằm viện một thời gian dài, không thể dự hai kỳ họp Quốc Hội, và đã phải dấu mọi người vì không muốn làm phiền mọi người. Ngoài gia đình, chỉ có Cô Lại Thu Trúc là trợ lý trung tín trung thành trung hậu của tôi, gia đình một nữ nhân viên ở cơ quan cũ, và gia đình một cô học trò cũ, là biết tình trạng sức khỏe của tôi để thường xuyên đến chăm sóc tôi tận tình bên giường bịnh. Trong thời gian này, tôi nhận nhiều cuộc gọi của anh nhà báo “cầu nối của Chị Phùng Kim Yến với tôi”, nói Chị Yến muốn mời tôi dùng bữa tối. Và tôi cứ phải nói dối rằng tôi đang ở tỉnh này, tỉnh nọ, nước đó, nước kia. Tôi không muốn những người thân quen phải bỏ công ăn việc làm tốn tiền mua sắm quà cáp hay phong bì ngân phiếu này nọ đến thăm tôi. Tôi định sau khi xuất viện và tĩnh dưỡng xong sẽ mời họ cùng dùng bữa – tất nhiên gặp riêng từng nhóm như nhóm học trò, nhóm nhân viên, và nhóm nhà báo.

Lần sau cùng, anh nhà báo “cầu nối” phone cho biết Chị Yến không được khỏe nhưng hỏi thăm tôi hoài và rất muốn gặp tôi, thậm chí nếu tôi không đến nhà hàng ăn tối với Chị được thì Chị xin được đến nhà tôi để gặp tôi. Rất tiếc là lần ấy tôi bận thực sự sau khi xuất viện, sau khi chống gậy ra Hà Nội dự kỳ họp chót của Quốc Hội Khóa XIII đầu năm 2016 để bầu Tân Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang, và sau khi giải quyết nhiều việc quan trọng khác trong năm 2017. Tôi đã nói với anh nhà báo ấy rằng tôi sẽ cố gắng thu xếp và khi xong sẽ liên lạc với anh để cùng gặp Chị Yến.

Đến khi anh nhà báo và chị nhà báo ngỏ ý muốn đến thăm tôi vì đã rất lâu rồi tôi cứ bận bịu công việc mãi, tôi phải nhận lời. Và hai anh chị nhà báo tôi đã gặp trước đây ấy dẫn theo một nhà báo trẻ đến gặp tôi. Hai anh chị cho tôi biết Chị Phùng Kim Yến đã qua đời do bịnh nan y kéo dài nhiều năm. Hai anh chị tiếc là tôi đã không thể đáp ứng mong muốn của Chị Yến được trò chuyện lần cuối với tôi, người mà Chị Yến cảm mến, muốn căn dặn gởi gắm điều gì đó.

Tôi  đã buồn xiết bao khi biết hung tin về Chị. Bị vùi dập gần như suốt cuộc đời, tôi đã cảm động vô cùng mỗi khi nhận được những lời thông hiểu, động viên, tình cảm, cậy tin, kỳ vọng, mến yêu của từng người từng người nhân hậu tôi may mắn được gặp trên đường đời. Và Chị Phùng Kim Yến là một trong số những người ấy, những người đã cho tôi sự an ủi lớn lao như một nhắc nhở nghiêm túc rằng tôi cứ hãy bước đi trên con đường mình đã chọn nhưng hãy với nhận biết rằng hành trang của mình chất chứa bao tình thương và kỳ vọng của họ đặt vào.

Cứ mỗi lần gặp mặt bên ly cà phê với hai anh chị nhà báo kia – có khi có cả sự tham gia của anh bạn nhà báo trẻ nọ – chúng tôi đều nhắc về Chị Phùng Kim Yến với sự trầm mặc. Khi tôi bảo tôi đã bị bọn phá hoại loại tên ngay từ đầu nên không thể tiếp tục hiện diện ở Quốc Hội Khóa XIV, hai anh chị nhà báo ấy cau mày lắc đầu nín thinh theo phong cách của Chị Phùng Kim Yến, còn bạn nhà báo trẻ nhanh nhảu hỏi – trong tư thế nắm bắt thông tin – rằng thế tôi có định sẽ tiếp tục ra ứng cử Khóa XV hay không.

Chị Phùng Kim Yến ơi, em xin lỗi đã không xem việc ăn tối cùng Chị đủ quan trọng để dẹp bỏ các buổi họp khác, khiến đã để Chị chờ trông, còn em thì lỡ cơ hội được gặp Chị lần cuối, dù em đã một lần lỡ cơ hội như vậy với một người bạn Đức nhiều năm trước.

Em kính cầu chúc Chị hưởng những an nhàn tốt đẹp nơi cõi Phật như những chân thiện mỹ Chị hằng nói đến trong những bài viết về Phật giáo và Phật pháp của Chị.

Kính đến Chị lòng biết ơn sâu sắc em gìn giữ mãi trong trái tim em trong suốt cuộc đời này

Em của Chị,.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Báo Blog

Tham khảo:

Báo xạo Fake

Tổng Thống Hoa Kỳ Thứ XLV Donald John Trump

Nghị sĩ Việt Nam Khóa Thứ XIII Hoàng Hữu Phước

Tuyệt Thực

Cô Lý Kim Hà

Cô Lại Thu Trúc

Bọn Phá Hoại Loại Tên Ngay Từ Đầu

Lỡ Cơ Hội Như Vậy Với Một Người Bạn Đức

Đinh Thị Hồng Ánh

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-10-2018

Thật không dễ chịu khi viết về những người thân thương của tôi dưới mái trường đại học. Đã thân thương sao lại còn “không dễ chịu”? Thật khó hiểu.

Chẳng qua cái thói của báo chí chính thống bịnh hoạn của Việt Nam là muốn bôi nhọ ai thì kiếm đại vài kẻ nào đó từng học chung hay làm việc với vị ấy để moi tin bất lợi nhất về vị này. Nhưng cái ép-phê-ngược ở đây là báo chí chính thống ấy đã không từng biết Hoàng Hữu Phước là ai, mà một khi đã không từng biết đó là đấng trong sạch thanh liêm trí dũng duy nhất ở đất nước này thì không cách chi hiểu được rằng thế gian chỉ có 4 hạng người biết về Hoàng Hữu Phước, gồm (a) những người tuyệt diệu tốt lành luôn khẳng khái ra mặt thán phục Hoàng Hữu Phước; (b) những người tuyệt diệu tốt lành thán phục Hoàng Hữu Phước nhưng không muốn công khai với bên thứ ba bất kỳ; (c) có học chung hoặc công tác chung hoặc cả hai với Hoàng Hữu Phước nhưng ganh ghét Hoàng Hữu Phước vì không sao vói lên bằng Hoàng Hữu Phước trong việc học, cứ hễ si mê nữ sinh nào là nữ sinh ấy lại quay sang yêu thương Hoàng Hữu Phước, hoặc từng bị Hoàng Hữu Phước mắng thẳng vào mặt là ngu đần, hoặc cả ba; và (d) có học chung hoặc công tác chung hoặc cả hai với Hoàng Hữu Phước và cũng chẳng ganh ghét Hoàng Hữu Phước do bản thân vừa sống triết nhân vừa có đạo đức tu hành lánh xa sắc giới hỷ nộ ái ố bi lạc dục nên chẳng biết gì về Hoàng Hữu Phước cả, trừ mỗi cái tên họ Hoàng Hữu Phước.  Mà nhà báo muốn moi tin bất lợi để sử dụng mặt trận tỷ đô đầu tư của Đảng phục vụ mưu đồ đen tối cá nhân, thì cách chi mà moi tin được từ nhóm a gồm những người chỉ biết tán dương công đức tài năng Hoàng Hữu Phước, nhóm b gồm những nhà thông tuệ muốn bảo vệ Hoàng Hữu Phước xa khỏi bọn báo chí rác rưởi, nhóm d gồm những bậc đại đạt nhân không quen méo miệng bẻ cong ngòi bút; nên chỉ có thể móc miệng lôi nước dãi từ nhóm c mà cứ đụng vô nhóm này thì bó buộc dẫn đến ba phạm trù gồm (i) buộc Hoàng Hữu Phước tung bửu bối nhận được từ thầy cô và bạn hữu mà không bất kỳ một chính khách, nhà chính trị, nhà trí thức, đảng viên cao cấp nào có thể có được tương tự; (ii) buộc Hoàng Hữu Phước tung các bí mật để khóa mồm báo chí, chẳng hạn bí mật về việc được mời vào ngành an ninh tình báo để vặn họng bọn viết láo rằng Hoàng Hữu Phước đã bị “lưu ban” vì học “dỡ òm”; và (iii) một khi Hoàng Hữu Phước đã mắng báo chí chính thống Việt Nam là Fake News thì chỉ còn một cách duy nhất để Hoàng Hữu Phước gỡ bỏ cái tên đó là báo chí phải vừa đăng sự thật về việc cả Nghị Trường Quốc Hội Khóa XIII vỗ tay vang rền ngay sau khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước phát biểu xong về đại cuộc ngăn chặn Luật Biểu Tình và vừa đăng xin lỗi chính thức trên báo chí rằng báo chí đã sai khi xách động ném đá nghị sĩ Hoàng Hữu Phước vì đã dám là nghị sĩ đầu tiên của Quốc Hội Việt Nam được vỗ tay tán thưởng khi chống lại một chủ trương của Đảng và Chính Phủ trong dự án Luật Biểu Tình.

Mà cũng tại bị vì bởi bọn báo chí Fake News Mỹ vừa dấu nhẹm tất cả các điều vĩ đại của Tổng Thống Donald Trump, vừa chế tạo ra tin xạo về những điều xấu xa của tổng thống ấy, khiến tổng thống ta phải luôn tự mình nhắc về những công trạng của mình.

Tương tự, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước để chống lại Fake News Việt buộc phải luôn tự mình nhắc về những công trạng của chính mình; và vì vậy mà có cái sự ‘không dễ chút nào” mỗi khi viết về nhũng người thân quen thuộc nhóm ab kể trên,mà bài về Đinh Thị Hồng Ánh như dưới đây không phải là một ngoại lệ.

Bức ảnh dưới đây được chụp tại chân cột cờ giữa sân trường Đại Học Văn Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh (Faculty of Letters) vào thời điểm Đại Học Văn Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh sắp sáp nhập vào Đại Học Khoa Học Thành Phố Hồ Chí Minh (Faculty of Science) để hình thành Đại Học Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh  (University of Hochiminh City). Bức ảnh gồm năm người bốn nam một nữ mà từ trái qua phải gồm Nguyễn Đình Tuân, NĐS, ĐXM, Đinh Thị Hồng Ánh, và Hoàng Hữu Phước – mà vì lý do riêng xin không để nguyên hình có Tuân, M và S.  NĐS, ĐXM, và Hoàng Hữu Phước thuộc Nhóm Don Juans. Đinh Thị Hồng Ánh học chung lớp với Don Juans. Như luôn được lập đi lập lại trong nhiều bài viết trước bài viết này, thời điểm của bức ảnh chụp sau khi Hoàng Hữu Phước bị Chi Bộ Đảng Ngữ Văn Việt Nam vu cáo phản động, phải bị đình chỉ học tập vào thời điểm đang thi Học Kỳ 2 Năm Thứ III, khiến khi Chi Bộ lòi đuôi khỉ đỏ đít thì Hoàng Hữu Phước phải chờ lớp của Nguyễn Đình Tuân lên năm III, học đến Học Kỳ 2, thì mới có thể bước vào thi chung. Cũng từng được nhắc lại như vậy, hai thành viên còn lại của Don Juans cũng vì đại nghĩa mà bỏ thi để cùng tụ hội với Hoàng Hữu Phước tại lớp của Nguyễn Đình Tuân. Và bức ảnh cho thấy Đinh Thị Hồng Ánh cứ mỗi lúc ra chơi đều rất hồn nhiên và minh bạch tìm đến với nhóm Don Juans tức những bạn học cũ của mình và là những vị mà mình kính trọng để trò chuyện vui vẻ ngay giữa sân trường.

DTHA

Là người lúc học lớp 12 ở Sài Gòn trước 1975, tôi có thói quen đêm đêm lén bắt đài phát thanh của “Việt Cộng” để đánh giá tình hình chung. Phải đánh giá tìm hiểu đâu là sự thật, vì tôi là học sinh duy nhất của chế độ Việt Nam Cộng Hòa biết rõ là tin tức trên báo giấy, báo hình, và báo âm thanh của Việt Nam Cộng Hòa toàn láo toét khi nói về chiến sự. Báo giấybáo âm thanh tối nào cũng ra rả đưa tin trong mấy cuộc tấn công trong ngày thì binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đánh cho “Việt Cộng” tơi bời tan nát phải tháo chạy bỏ lại chiến trường hàng trăm xác “Cộng Quân” mà nếu tin vào những lời tin xạo ấy mà Tổng Thống Donald Trump 50 năm sau này đặt tên tiếng Anh là Fake News thì chỉ cần 3 năm thôi Cộng Sản có cả triệu binh sĩ hy sinh chẳng còn đến một người lính, cách chi mà chiến tranh kéo dài đến thế. Còn báo hình thì tất nhiên do phóng viên chiến trường dày dạn quay khi xông pha lửa đạn, nhưng sao lại hoàn toàn phản khoa học, hoàn toàn ngu đần khi phóng viên chắc chắn đã chạy lên xa phía trước mặt quân Cộng Hòa, chọn chỗ thoáng đãng tốt đẹp đưa lưng mình về phía đạn AK của “Cộng Quân” tức đưa mặt mình về phía đạn M16 của Chiến Sĩ Cộng Hòa , đặt máy quay phim hướng về phía đạn M16 của Chiến Sĩ Cộng Hòa, quay cảnh xác “Cộng Quân” mặc quần tà lỏn nằm la liệt, còn các Chiến Sĩ Cộng Hòa xông lên vừa chạy vừa cười vui vẻ vừa khom mình lượm giằng tịch thu súng AK chiến lợi phẩm từ tay các xác “Cộng Quân”, cứ như thể phóng viên chiến trường có bùa Mỹ nên cứ cắm đầu chạy phía trước họng súng các tiểu đoàn quân Cộng Hòa, có quay lưng lại Cộng Hòa thì đạn Mỹ từ phía sau sẽ tự động né tránh không phập vào ót vào lưng trong khi đạn Nga Tàu từ phía trước sẽ sợ hãi Cộng Hòa mà tự động né tránh không phập vào trán vậy; và khi đã chạy quá xa lên phía trước rồi thì có đứng lại, quay lưng về phía “Cộng Quân” và đưa mặt về phía Cộng Hòa thì đạn Mỹ và đạn Nga/Tàu cũng cứ thế mà né anh phóng viên chiến trường ấy. Chính vì lén nghe tin “Việt Cộng”, tôi dần có cảm nhận rằng giọng người nữ phát thanh viên miền Bắc sao mà chua lè chua lét cay xé cay nồng rổn ra rỏn rảng đến thế, không giống giọng Bắc dễ thương của các cô gái thuộc gia đình người Bắc “di cư” ở Sài Gòn chút nào. Khi ngày 30-4-1975 đến, thời gian sau đó vẫn càng củng cố cái kinh nghiệm nơi tôi về giọng nữ Miền Bắc mà tôi đã có từ dạo lén nghe ấy.

Lớp Anh Văn tại đại học của tôi năm 1976 ấy có hai nữ sinh từ Miền Bắc được cử vào học chung. Một cô cao gầy,   đằng đằng sát khí, mà tôi xin được dấu tên. Còn cô kia là Đinh Thị Hồng Ánh.

Với hiểu biết rằng trong chiến tranh, Miền Bắc áp dụng chế độ học 9 Năm (nghĩa là chỉ cần học xong lớp 9 Trung học là học sinh vào hệ Đại học) trong khi Miền Nam áp dụng chế độ học 12 năm (gồm 5 năm Tiểu Học và 7 năm Trung học, tức phải học xong lớp 12 mới thi Tú Tài rồi thi Đại Học), hầu như các sinh viên gốc Sài Gòn đều khó thấy dành cho hai cô gái ấy sự chào đón. Chưa kể, trước sự thật là đã có vài sinh viên Miền Nam thi đỗ vào khoa Việt Văn hoặc Sử nhưng do có quá trình “tham gia cách mạng” hoặc “gia đình cách mạng nằm vùng” nên bị bắt buộc phải vào học Ban Anh Văn do (a) lãnh đạo cách mạng rất duy ý chí, cho rằng khó như đánh thắng Mỹ Ngụy mà còn thắng được huống hồ thắng cái môn học tiếng Anh, và (b) nhu cầu phải có người của cách mạng theo dõi sát quản lý sát những sinh viên Sài Gòn học cái thứ tiếng của tư bản mà lãnh đạo không hiểu gì cả, nên tôi thấy đa số sinh viên có thành kiến, thường mặc định rằng hai cô gái ấy không thể giỏi hoặc không biết gì về tiếng Anh, rằng hai cô gái ấy ắt là con cháu cán bộ lãnh đạo cấp cao được cử vào học để sau này nắm quyền các cơ quan trọng yếu ở Miền Nam, và rằng hai cô gái ấy đương nhiên sẽ cậy nhờ sinh viên Sài Gòn chung lớp làm bài giúp.

Tất nhiên, tôi là ai chứ? Hoàng Hữu Phước đấy. Do đó, tôi đã là một thực thể đặc thù, đặc biệt, độc lập, tự chủ, và đầy cá tính. Những nhận xét và thiện cảm tôi dành cho Đinh Thị Hồng Ánh không như sự ban ơn từ sự hào phóng rộng lượng vốn có thiên bẩm nơi tôi, mà tất cả vì Đinh Thị Hồng Ánh tự thân xứng đáng có được như một lẽ đương nhiên.

Nếu so đo cái gọi là “hệ 9 năm” với “hệ 12 năm” thì ắt Hồng Ánh thua tôi 4 tuổi. Thế nhưng, nếu suốt từ lúc ra trường đến nay tôi luôn gọi tất cả các nữ nhân viên là “cô” và xưng “tôi” để chứng tỏ sự đoan-chính-có-hàng-rào-ngăn-cách của bản thân, thì suốt thời gian quen biết Hồng Ánh, tôi chưa từng gọi Ánh là “em”, chưa từng xưng “anh” với Ánh, mặc cho Ánh gọi tôi là “anh” và xưng “em”. Tất nhiên, tôi dùng chữ “tôi” khi nói chuyện với Ánh, và gọi Ánh bằng tên của Ánh.

Chưa bao giờ khen tặng Ánh dù chỉ một lời, tôi lại thường trò chuyện với nhóm Don Juan cùng Nguyễn Đình Tuân về những gì tôi nhận ra nơi Hồng Ánh. Đó là một cô gái lạ thường, sinh trưởng ở Miền Bắc nhưng giọng nói nhẹ nhàng, dáng đi thướt tha yểu điệu như thục nữ quý tộc Miền Nam, chưa kể lại là hiện thân cụ thể minh họa cho một số từ ngữ tiếng Việt mà nếu không có Hồng Ánh thì tôi sẽ không rõ ý nghĩa cụ thể sẽ như thế nào, như: cười khúc khíchcười bẽn lẽn. Còn những nét đẹp khác như nghiêm trang, nghiêm túc, nghiêm nghị, thùy mỵ, đoan trang, thì Hồng Ánh sở hữu y như nhiều cô gái khuôn mẫu nữ nhi Sài Gòn trước 1975 hằng mơ ước và tự luyện rèn để có được.

Cũng cần nói rõ ở đây là dù tất nhiên Hồng Ánh không là sinh viên xuất sắc về tiếng Anh, Hồng Ánh chưa bao giờ cầu cứu hay nhờ vã tôi làm bài giúp. Chỉ khi tôi phải chịu mất một năm học và vào lớp Nguyễn Đình Tuân, Hồng Ánh mới hay đến thăm tôi khi thấy tôi ngồi chờ thời gian trôi qua ở cột cờ giữa sân trường. Lòng tốt của Hồng Ánh khi tự tin đến ngồi với tôi, ban tặng cho tôi nụ cười bẽn lẽn của Ánh và tiếng cười khúc khích của Ánh mỗi khi tôi tấu xong một câu hài chọc cười Ánh, đã cho tôi thứ cảm nhận không chỉ là thấy mình được động viên, được an ủi, mà chính là sự công nhận rằng tôi là người tốt, người giỏi, mà Ánh kính trọng hơn cả, cứ như lời tuyên chiến thách thức đám đông gian giảo đang tì người vào các lan can lầu nhìn xuống mục tiêu lồ lộ công khai hai mái tóc…dài giữa sân trường. Cần nói thêm rằng để phản kháng sự bất công của lãnh đạo khi chỉ đơn giản tuyên bố các cáo buộc tôi là vô căn cứ mà không hề trừng phạt Chi Bộ Ngữ Văn Việt Nam, tôi quyết định không hớt tóc, chẳng cạo râu, trong suốt thời gian còn lại của tôi ở Đại Học Tổng Hợp, tức kể từ lúc bước vào lớp Nguyễn Đình Tuân để thi Học Kỳ 2 Năm Thứ III cho đến khi tốt nghiệp. Chính trong thời gian tôi trở thành nam sinh viên có mái tóc dài nhất Việt Nam, tôi nhận được thật nhiều những thông cảm, ủng hộ, thiện cảm của những người thật tốt đẹp, trong đó có Đinh Thị Hồng Ánh, cô gái “Bắc Kỳ” xinh đẹp quý phái trong trắng thanh cao hơn cả thiên thần.

Viết về Đinh Thị Hồng Ánh, tôi duy trì mạch bài về những người mà tình cảm của họ tôi phải thọ ơn. Và nếu câu an ủi của Ánh khi nghe tôi ngậm ngùi tự ví von mình như hòn đá nhỏ vô dụng lăn rơi mất hút dưới vực sâu unnoticed (chẳng có ai biết đến), rằng “Anh Phước cứ nói thế! Anh đang hài phải không? Hihihi. Ngọc quý thì luôn hiếm. Ngọc mà đầy đường thì ngay cả Ánh cũng chẳng thèm nhặt. Còn ngọc như anh mà có rơi xuống vực cũng có khối người notice nhảy xuống nhặt lên ấy chứ dại gì không nhặt. Toàn là nữ đấy Hi hi hi. Và dù chẳng được ai tìm thấy thì ngọc vẫn là ngọc. Anh lì xì cho Ánh đi thì Ánh sẽ kể tên những ai trong lớp Ánh, những ai trong lớp mới của anh, và những ai trong lớp Khoa khác quý mến anh còn hơn cả ngọc đấy. Hi hi hi.” đã làm tôi trở thành một triết nhân khi tôi nhại lời của Khuất Nguyên (“Cả đời đục cả, chỉ mình ta trong sạch”) để gào lên (tất nhiên chỉ trong giấc ngủ thôi) rằng “Cả đời đục cả, chỉ mình ta mới có bao người trong sạch ở quanh mình”.

Bao người trong sạch ấy đã cho tôi diễm phúc được họ trực tiếp hay gián tiếp công nhận sự trong sạch và năng lực của tôi từ lúc bước chân vào Đại Học Văn Khoa cho đến ngày nay, như các thầy/cô Lê Văn Diệm, Vũ Thị Thu, Trương Tuyết Anh, Nguyễn Tiến Hùng; các bạn “lớp Ánh” như Hồng Thị Lan, Đinh Thị Hồng Ánh, v.v.; các bạn “lớp mới” như Nguyễn Đình Tuân, Vũ Thị Liên; các bạn “lớp Khoa khác” như Lâm Mỵ Tiên, Ngô Thị Phương Thiện, v.v.; kể cả các người lạ như Trưởng Phòng Tổ Chức Cán Bộ Sở Công An Thành Phố Hồ Chí Minh Lê Văn Toan (vì đã cố chiêu mộ sinh viên tóc dài khủng khiếp vào ngành An Ninh Tình Báo bất kể quá khứ anh ta từng bị Chi Bộ Đảng vu cho tội phản động phải bị đình chỉ học tập hết một học kỳ) và một người phái nữ ẩn danh của Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã kiên trì xin đến ba lần cho bằng được mỗi một Hoàng Hữu Phước về giảng dạy cho trường, v.v.

Đinh Thị Hồng Ánh thân mến:

Bài viết này dành cảm ơn Hồng Ánh thật nhiều. Mong sao được bạn đọc đến để biết tôi đã quý bạn biết bao và biết ơn bạn đến dường nào trong cuộc đời này. Viết về bạn, tôi nghĩ ít ra có thể đem lại cho bạn dịp để bạn vừa đọc vừa cười khúc khích và bẽn lẽn để các con và các cháu của bạn được thực tế nhận ra từ ngữ tiếng Việt của ta đẹp biết bao với nét chấm phá mỹ từ của tượng thanh, tượng hình qua nụ cười hihihi của bạn.

Mến chúc bạn và gia đình luôn được an vui, hạnh phúc, Hồng Ánh nhé.

Luôn biết ơn bạn với lòng trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

Giải Thích:

Từ “Cộng Quân” và “Việt Cộng” hoàn toàn là từ lóng mang ý miệt thị do Việt Nam Cộng Hòa chế ra để gọi các chiến sĩ giải phóng quân bất kể từ quân đội chính quy từ Miền Bắc thâm nhập vào Miền Nam hay lực lượng du kích ở Miền Nam. Vì vậy, tác giả bài viết này phải dùng các từ trên giữa hai dấu ngoặc kép. (Tương tự, “Cờ Hoa” là tiếng lóng miệt thị Hoa Kỳ do các nhà báo thân Cộng và đối lập với Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chế ra. Hoàng Hữu Phước đã luôn khẳng định rằng việc báo chí giấy/hình/tiếng/mạng dùng “Cờ Hoa” trong “xứ sở Cờ Hoa” là hoàn toàn sai, hoàn toàn kệch cỡm, hoàn toàn thiếu giáo dục khi công khai sử dụng tiếng lóng slang để thành một từ chính thức gọi một quốc gia.

Tham khảo:

Những Người Khẳng Khái Tuyệt Diệu Tốt Lành

Bôi Nhọ

Thế Nào Là University

Nguyễn Đình Tuân

Thầy Lê Văn Diệm

Cô Trương Tuyết Anh

Cô Vũ Thị Thu

Thầy Nguyễn Tiến Hùng

Xiếu Mẫu Hồng Thị Lan

Vũ Thị Liên

Lâm Mỵ Tiên

Cô Ngô Thị Phương Thiện

Lê Văn Toan

Cụm bài về Biểu Tình:

Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình  05-6-2013

Biểu Tình và Ô Danh  20-5-2014

Luật Biểu Tình 26-5-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”  Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.  02-4-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”  Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Phải Có Luật Biểu Tình  18-8-2016

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đã Ngăn Chặn Thành Công Một Cuộc “Biểu Tình” Ngay Từ Trong Trứng Nước  10-3-2018

Thư Gởi Tổng Thanh Tra ChÍnh Phủ

Hoàng Hữu Phước,MIB

22-10-2018

Thư Gởi Tổng Thanh Tra ChÍnh Phủ

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 10 năm 2018

VĂN PHÒNG NGHỊ SĨ QUỐC HỘI KHÓA XIII HOÀNG HỮU PHƯỚC Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

CV Số:  008/CV-NSP-2018

V/v Chuyển Đơn Khiếu Nại của Công dân Hoàng Hữu Hiệp

 

Kính gởi: Tổng Thanh Tra Chính Phủ

 

Kính thưa Tổng Thanh Tra Chính Phủ:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ Khóa XIII thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, có nhận được Đơn Khiếu Nại ký ngày 10-10-2018 của công dân nhà báo Hoàng Hữu Hiệp ngụ tại số 207/7 đường Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 8, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, như đính kèm theo công văn này.

Đơn Khiếu Nại nói trên ngoài liên hệ đến Thông Báo Số 2949/TB-TTCP ngày 21-11-2017 của Thanh Tra Chính Phủ còn nêu lại những vụ việc mà công dân nói trên đã hàng thập kỹ qua liên tục đặt vấn đề khiếu nại với các lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, Chính Phủ, và Chính Quyền về các vụ tranh chấp đòi bồi thường giải tỏa căn nhà số 182E Hàm Tử, Quận 5, Tp HCM; vụ đòi lại căn nhà số 181 Đề Thám, Quận 1, Tp HCM; vụ tranh chấp quyền sử dụng đất tại Xã An Phước, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai; vụ kiện dân sự theo bản án 148/2009/DSPT ngày 07-7-2009 của Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Đồng Nai; vụ lừa đảo chiếm đoạt căn nhà số 128B Nguyễn Đình Chính, Quận Phú Nhuận, Tp HCM; và vụ hủy hoại tài sản tại số 6B Trần Cao Vân, Quận 1, Tp HCM.

Căn cứ Hiến pháp năm 2013 về trách nhiệm của Đại biểu Quốc hội đối với cử tri và nhân dân như được cụ thể hóa tại (a) Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội năm 1997; (b) Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội năm 2010; (c) Luật Tổ Chức Quốc Hội năm 2014; (d) Quy Chế Hoạt Động Của Đại Biểu Quốc Hội Và Đoàn Đại Biểu Quốc Hội năm 2002; và (e) Luật Hoạt Động Giám Sát Của Quốc Hội năm 2003, vốn không quy định tổ chức bàn giao công việc của nghị sĩ khóa trước cho nghị sĩ khóa tiếp theo, do đó mặc nhiên thừa nhận rằng trách nhiệm của Đại Biểu Quốc Hội trước cử tri và nhân dân sẽ được tiếp tục duy trì chừng nào nghị sĩ tiền nhiệm còn được nhân dân tín nhiệm tín thác các bức xúc cụ thể để hoặc bản thân được hướng dẫn hoặc vụ việc được chuyển lên lãnh đạo cơ quan công quyền có liên quan.

Vì vậy, tôi kính chuyển Đơn Khiếu Nại của công dân Hoàng Hữu Hiệp đến Ông Tổng Thanh Tra Chính Phủ để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

Trường hợp cần đến sự tham gia của cá nhân tôi tại buổi xem xét giải quyết với nguyên đơn nhằm giải quyết nhanh vụ khiếu nại, xin Tổng Thanh Tra Chính Phủ có công văn thông báo thời gian và địa điểm đến văn phòng của tôi theo chi tiết bên dưới.

Kính chào trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-Sĩ Khóa XIII

Địa chỉ Thư tín: Công ty MYA BizCorp, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Bản sao kính gởi:

– Công dân Hoàng Hữu Hiệp (thay thư xác nhận tiếp nhận chấp nhận can thiệp)

– Chủ tịch Quốc Hội và các Phó Chủ Tịch Quốc Hội (để tường)

– Bộ phận tàng thư

TTCP2018

Tin Quảng Bá

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-10-2018

ThauThi

Nội dung tờ rơi gần đây được phát hiện do máy bay không người lái rãi đầy ở sân bay bến cảng chợ lớn chợ nhỏ chợ dân sinh cổng trường cổng chùa nhà bảo sanh và để chất đống bên cạnh thùng nước đá như sau:

Kính mời quý độc giả đón đọc tiếp phần tiếp theo của Chùm 10 Bài Tiên Tri Của Nhà Thấu Thị Hoàng Hữu Phước:

Bài Số 2: Thấu Thị Về Chính Trị Việt Nam

Các bài Tiên Tri Thấu Thị đã đăng:

1- Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

2- Bài Số 1: Thấu Thị Về Chính Trị Mỹ  30-4-2018

» Tin quảng bá »

Sấm Trạng Trình là một tác phẩm tệ hại về ngôn ngữ Tiếng Việt và văn học Việt Nam (chí ít là qua tất cả các bản tiếng Việt Quốc Ngữ đang ngang nhiên tồn tại mà thiên hạ gọi một cách tôn kính là “bản dịch”); còn về chất lượng “tiên tri” thì mơ hồ, mông lung, kiểu “sao cũng được”, “nói hú họa quét nhà thế nào cũng ra rác”. Thời hiệu của Sấm Trạng Trình sắp chấm dứt vào năm 2019 thế mà trong 499 năm đã trôi qua chưa hề có bất kỳ dòng sấm nào được hậu thế nghiệm ra là đã đúng gần hay đã đúng sát hay đã đúng xa đúng tít mù khơi với bất kỳ vật thể hay nhân vật nào đã từng trôi vun vút trong giòng chảy cuồn cuộn đục ngầu phù sa của lịch sử Việt Nam. Sấm được cho rằng được viết nên từ sự ắt thấy cái gì đó trong phạm vi tương lai 500 năm của Trạng Trình, một vị quan không hề hành nghề bói toán chiêm tinh chuyên nghiệp mà chỉ được cho là đã từng buột miệng thốt ra lời ám mật “đái đại”(Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân), không hề để lại bút tích, láu cá để cho lời nói gió bay, vào thời đại zero-chấm-không chưa có máy ghi âm, thế mà không hiểu sao sử sách và hậu thế lại biết thật rõ cứ như nghe tận tai cái ám mật của “đái đại” (…nhất đái vạn đại…) ấy – phải chăng tổ tiên của Báo Tuổi Trẻ đã có mặt từ lúc đó để nhét chữ vào mồm Tuyết Giang Phu Tử tức Trạng Trình theo kiểu đã hành xử với Bảo Giang Phu Tử tức Thạc Phước 492 năm sau đó chăng?

Sấm Nostradamus Sấm Vanga tiên đoán cụ thể về thời điểm và sự việc; mà một số các tiên đoán tuy không cụ thể vẫn được chứng minh gần sát sàn sạt với sự việc này nọ kia của giòng chảy cuồn cuộn trong ve trong vắt của lịch sử nhân loại và thế giới sử siêu cường; và chí ít thì thời hiệu của hai áng sấm này cái thì còn đến năm 3797, cái thì đến tận Ngày Tận Thế tức kéo dài đến tận năm 5079, nên hậu thế tha hồ nghiệm tới nghiệm lui nghiệm ngang nghiệm dọc cho đủ thể loại 4D thời thượng bốn-chấm-không. Sấm được cho rằng được viết nên từ sự thấy cái gì đó ở trong tương lai xa vời vợi nhiều ngàn năm của Tiên Tri Nostradamus và Tiên Tri Vanga, những người dân bình dị hành nghề chuyên nghiệp bói toán chiêm tinh công khai danh tiếng rõ ràng với người đương thời (so với cái “đái đại” của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được một quan hầu bí mật đến gặp riêng mới được nghe mà thôi).

Hoàn toàn khác với các “sấm” ở trên, Thấu thị Hoàng Hữu Phước (hổng phải Sấm Thạc Bày Hoàng Hữu Phước, em của Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) luôn là những thấu thị về người đương thời có thật với tên thật và sự việc thật bảo đảm sẽ xảy ra trong thời hiệu từ 1 năm đến chậm nhất là 5 năm – cá biệt, có vài ba thấu thị đến 10 năm hoặc 20 năm mới xảy ra – kể từ ngày Hoàng Hữu Phước công bố thấu thị ấy. Thấu thị được Hoàng Hữu Phước … thấu thị từ việc đọc thấy/nghe thấy/nhìn thấy lời phát biểu cụ thể và/hay việc làm cụ thể nào của bản thân người cụ thể hay kẻ “nổi tiếng” cụ thể nào ở bất kỳ quốc gia cụ thể nào trên thế giới. Nhà thấu thị Hoàng Hữu Phước không thậm thà thậm thụt như Nhà Sấm Nguyễn Bỉnh Khiêm cả đời được cho là đã thốt lên mỗi một câu “đái đại” còn tác phẩm “Sấm” nổ rền vang chả rõ viết lách như thế nào mà toàn bộ các bản dịch tiếng Việt Quốc Ngữ cho ra toàn lời đá cá lăn dưa mạt hạng nhiều trăm dòng mà dòng chữ Hán duy nhất được những kẻ thất chí thất thời thất thế thất trận thất kinh bấu víu vào thì chỉ võn vẹn loanh quanh cái tương cận với con Vịt Xiêm Lai tức cái con gà laiDậu Lai” thì chả rõ nó ám mật chỉ tới cái sự việc gì của “Kiến Thái Bình” trong khi hạn chót là 2019 đã quá cận kề chỉ còn có vài tháng nữa. Nhà Thấu Thị Hoàng Hữu Phước cũng không hành nghề bói toán chiêm tinh chuyên nghiệp như các Nhà Tiên Tri Nostradamus và Vanga. Nhà Thấu Thị Hoàng Hữu Phước chỉ nhìn vào cái gì có thật ngay trước mặt như sự việc/sự vật/con người, để nói về cái sẽ xảy đến cho cái sự việc/sự vật/con người ấy trong từ 1 đến 5 năm sắp đến, nghĩa là tín thác vào công chúng cái quyền năng tột đỉnh hãy phê phán mắng sa sả xỉa xói ngay vào mặt ông rằng ông chỉ là thằng lếu láo xạo sự xạo ke sau khi thời hiệu 1-5 năm đã qua mà chả xảy ra gì đúng với lời thấu thị của ông về sự việc/sự vật/con người mà ông khoe khoang khoác lác rằng bản thân mình thấu thị cả.

Hãy đón đọc toàn bộ chùm 10 bài về thấu thị của Nhà Thấu Thị Hoàng Hữu Phước.

Các bài Tiên Tri Thấu Thị đã đăng:

1- Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

2- Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị

3- Bài Số 1: Thấu Thị Về Chính Trị Mỹ

Bài Tiên Tri Thấu Thị sắp đăng trong năm 2018:

Bài Số 2: Thấu Thị Về Chính Trị Việt Nam

Bài Số 3: Thấu Thị Về Doanh Nhân Đại Gia Thế Giới

Bài Số 4: Thấu Thị Về Doanh Nhân Đại Gia Việt Nam

Các bài Tiên Tri Thấu Thị sẽ đăng trong năm 2019:

Từ Bài Thấu Thị Số 5 đến Bài Thấu Thị Số 10 về các chủ đề Số Phận Bốn-Chấm-Không Trên Thế Giới, Số Phận Thất Bại Của Bốn-Chấm-Không Ở Việt Nam, Số Phận Kinh Tế Việt Nam, Số Phận Kinh Tế Toàn Cầu, Số Phận Luật Pháp Việt Nam, và Số Phận Thất Bại Của Việc Dạy Và Học Tiếng Anh ở Việt Nam

Giá Bán Sách “Thấu Thị Đại Toàn” Tại Nhà Xuất Bản Lăng Tần Thư Quán (không có chi nhánh):

Giá Siêu Ưu Đãi (Early Bird) Dành Cho Độc Giả Đặt Hàng Sớm Trước 12-2018: miễn phí

Giá Sau Thời Gian Siêu Ưu Đãi: miễn trả tiền

Nhân Tâm: Thiện Nhân và Quyết Tâm

Vấn Đề Thiểm Thu

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-10-2018

Trong bài viết trước, tôi có chế ra cái tên Thiểm Thu cho cái “nhà hát” mà Lãnh Đạo Thành Phố Hồ Chí Minh (hoàn toàn không phải Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh) quyết tâm thông qua việc xây dựng.

Theo ngôn phong thời phong kiến kéo dài từ xa xưa cho đến thời đại Nguyễn Văn Thiệu, các từ ngữ trong công văn các quan phát hành đều sử dụng các tự xưng như “bổn chức”, “bổn quan” v.v. và v.v. Nếu như lời tự xưng “quả nhân” của các vua thời phong kiến mang nghĩa hạ mình nhún nhường trước dân, thì lời tự xưng “thiểm ty” của các trưởng ty thời Đệ Nhất Cọng Hòa (không phải Cộng Hòa) của Ngô Đình Diệm cũng mang nghĩa hạ mình nhún nhường trước dân. Vậy “quả” và “thiểm” đều mang nghĩa xấu, thấp kém, ít ỏi. Nhà Hát Thủ Thiêm được tác giả bài viết này gọi là Nhà Hát Thiểm Thu nghĩa là thu nhập của nhà hát sẽ rất xấu, rất kém, rất ít ỏi, rất hẻo. Cứ hỏi mọi người trên khắp cõi ta bà này sẽ biết nhà hát mà thiểm thu thì chả ai xây, mà nếu đã xây thì đó là hậu quả của một sự ngu xuẩn.

Nguyễn Thiện Nhân chưa hề và sẽ không bao giờ vang danh trí tuệ, uyên bác, làm được những điều ích lợi cụ thể cho nước cho dân (còn nếu làm lợi cho Đảng thì chỉ có Đảng biết, Đảng giữ bí mật quốc gia chưa hề công bố cho nhân dân biết – trừ phi Nguyễn Thiện Nhân quy tiên). Cái rối loạn hệ thống giáo dục đại học ngày nay là tác phẩm quái đản cực kỳ tồi tệ của Nguyễn Thiện Nhân thời làm Bộ Trưởng Giáo Dục. Và việc nhà báo Hoàng Hữu Hiệp nhiều chục năm qua kiên trì khiếu kiện việc nhiều tài sản nhà cửa đất đai bị chiếm đoạt có gồm luôn cả thời gian ngự trị trước đây của Nguyễn Thiện Nhân tại Thành Phố Hồ Chí Minh, đến độ nhà báo ấy mất kiên nhẫn, kiên trì gởi tin nhắn làm nhức đầu lãnh đạo toàn Đảng, toàn Quốc Hội, toàn Chính Phủ nhiều nhiệm kỳ qua, như thể hiện gần đây nhất là tin nhắn mắng mỏ nặng nề sau:

viber image

Để cứu nguy cho Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thiện Nhân vừa tuyên bố rằng việc xây cái nhà hát thiểm thu Thủ Thiêm “không ảnh hưởng tiền đền bù cho người Thủ Thiêm.”

11

Cái đại ngu trong khẩu ngữ hùng biện của Nguyễn Thiện Nhân nằm ở chỗ tất nhiên chỉ có bọn điên mới muốn Đảng xử trảm vì lấy tiền đền bù dùng vào việc khác, thí dụ như mua chiếc Quái Thú cho Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh ngồi suy nghĩ chuyện an bang định quốc. Thế nên, đừng có vì đã có tiền đủ đền bù mà cứ tự nhiên bán đất vàng lấy tiền xây nhà hát trên cơ sở rằng “em chả dám đụng vô tiền đền bù đâu nên đừng có lo!”. Đừng dại dột nhìn nhận “thực tế việc xây Nhà hát tại Thủ Thiêm cho thấy sự quan tâm của chính quyền đối với lĩnh vực văn hóa

111

vì như thế chỉ chứng minh rằng chính quyền không quan tâm đến dân sinh, giáo dục, y tế, an ninh trật tự, và rằng chính quyền xây nhà hát là quan tâm đến văn hóa chứ hoàn toàn không biết văn hóa bao trùm mọi thứ của đời sống trong đó có thể hiện lòng hiếu thảo, sự toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, tác phong chuyên nghiệp, quyết tâm xóa sạch tiêu cực, vân vân và vân vân. Lẫn lộn văn hóa với ngành công nghiệp giải trí là điều cố tình ngụy biện. Ngành công nghiệp giải trí (tức phải có thu, không được thiểm thu mà phải thu dồi dào) phải có văn hóa. Xây nhà hát để phục vụ ngành công nghiệp giải trí mà cho rằng để tỏ sự quan tâm đến lĩnh vực văn hóa thì rõ ràng là toàn Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh vì không do dân bầu lên tức qua quá trình chọn lọc xét đến đẳng cấp “văn hóa” mà chỉ do Đảng đưa lên chỉ xét đến đẳng cấp “trung với Đảng” nên các vị trong Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh đã thiếu hiểu biết về “văn hóa” mà vừa nảy ra mấy cái ung nhọt “bất trung” như Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín, v.v. Những người như vậy mà có trình độ thông qua hay sao, vì họ chỉ có “quyền lực thông qua” mà sự xuyên suốt cốt lõi lồ lộ ở đây là Đảng viên phải tuyệt đối làm theo lời Đảng, nghĩa là Đảng muốn có nhà hát thì toàn Đảng Bộ phải hét lên rằng xây nhà hát là chăm lo cho đời sống văn hóa của người dân và thét lên rằng thống nhất với chủ trương của Thành Phố. Xin hỏi Thành Phố naò ở đây, và ai trong Thành Phố ấy? Thành Phố nghĩa là ban lãnh đạo Thành Phố. Mà Ban Lãnh Đạo Thành Phố là Thành Ủy Viên Thành Phố Hồ Chí Minh, hiện diện lù lù trong Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh, từ đó suy ra lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh và Đảng Bộ chỉ là một mà thôi. Từ đó suy ra Đảng đã quyết định xây nhà hát thiểm thu Thủ Thiêm chứ không phải người dân Thành Phố Hồ Chí Minh nêu ý nguyện muốn Đảng xây cái nhà hát ấy.

Nguyễn Thị Quyết Tâm chưa hề và sẽ không bao giờ vang danh trí tuệ, uyên bác, làm được những điều ích lợi cụ thể cho nước cho dân (còn nếu làm lợi cho Đảng thì chỉ có Đảng biết, Đảng giữ bí mật quốc gia chưa hề công bố cho nhân dân biết – trừ phi Nguyễn Thị Quyết Tâm cưỡi hạc). Toàn bộ công trạng hiển hách của Nguyễn Thị Quyết Tâm trong toàn bộ Khóa XIII Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ có mỗi ba đại công gồm (a) quyết tâm chặn ngăn không cho Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước phát biểu, (b) quyết tâm không đến văn phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh tiếp dân bất cứ ngày nào từ 2011 đến 2016, và (c) quyết tâm không tiếp nhà báo công dân Hoàng Hữu Hiệp trong suốt nhiệm kỳ Khóa XIII từ năm 2011 đến năm 2016.

Cái đại ngu trong khẩu ngữ hùng biện của Nguyễn Thị Quyết Tâm nằm ở chỗ đã cùng vài chức sắc khác nhao nhao lên rằng nếu không xây nhà hát bây giờ thì đợi đến bao giờ.

Kiểu cách ăn nói như thế luôn – và chỉ bởi – cha mẹ đối với con cái của chính mình, hoặc cấp trên với cấp dưới của chính mình. Chẳng hạn như mẹ nói với con trai: “Con không lấy vợ bây giờ thì còn phải chờ tới bao giờ vậy chớ hả?”. Hoặc sếp nới với cô nhân viên lễ tân: “Giờ này chưa đặt mua mấy chục chai rượu ngoại mắc tiền nhứt để gởi tặng mấy cha mấy mẹ ở Thành Ủy vậy chờ tới lúc nào vậy chớ hả?

Người xưa có câu thương dân như con đỏ. Chỉ có nghĩa: người dân đa số yếu thế, nghèo khó, nạn nhân trực tiếp gánh chịu thiên tai, và cũng là nguồn nuôi sống vương triều qua việc đóng sưu cao thuế nặng, thế nên đạo làm vua là phải nâng niu cái nguồn yếu thế nhưng mạnh khủng khiếp ấy, nâng niu cứ như thể dân yếu ớt như hài nhi đỏ hỏn, để vuốt ve lấy lòng dân để dân nai lưng đóng sưu cao thuế nặng hoặc đẻ nhiều con gái hầu các quan bắt lùa hết về cung cho vua thỏa lạc thú dâm tình. Như vậy, thương dân như con đỏ hoàn toàn không phải như Mẹ Nguyễn Thị Quyết Tâm và Bố nào đó xem dân như con cái nên mới ra uy Bố Mẹ mà vặn vẹo rằng nếu không xây nhà hát bây giờ thì đợi đến bao giờ.

Dù đó là việc đặt câu hỏi hoàn toàn sai nội dung, hoàn toàn sai ngữ cảnh, hoàn toàn sai đối tượng, hoàn toàn hỗn láo với dân, và do đó hoàn toàn của quân ngu phu xuẩn phụ xó chợ đầu đường, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước tôi đây cũng lấy đức hiếu sinh làm trọng, xin đem cái sở học ngàn năm mà thay mặt triệu triệu “con đỏ” trả lời Bố Mẹ, mong vạn vạn thạc sĩ tiến sĩ được Đảng lấy tiền thuế của dân cho đi ăn học nước ngoài nhưng vì phải tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của Đảng nên không hề dám mở miệng trả lời Bố Mẹ dù trong kiến thức trong đầu đã có nghĩ đến 4 điều y hệt như tôi như sau:

a) Muốn xây nhà hát thiểm thu Thủ Thiêm thì rất đơn giản: hãy chờ đến khi cái Nhà Hát Thành Phố (mà Lê Thanh Liêm cho rằng vẫn “còn giá trị là một nhà hát đúng nghĩa”) cho xem bản báo cáo “thường niên” (trong 5 năm liên tục vừa qua) đã tổ chức bao nhiêu buổi diễn, đã thu được bao nhiều tiền bán vé, đã thu bao nhiêu tiền điện nước hay bao cấp tuyệt đối cho các đoàn diễn, đã thu bao nhiêu tiền cho thuê mặt bằng để diễn, danh sách các đoàn đã đến diễn chùa hoặc thuê nơi diễn, danh sách ban quản lý Nhà Hát và tổng quỹ lương đã chi, tổng kết năm lời bao nhiêu hoặc lỗ bao nhiêu, đã phải từ chối bao nhiều đoàn vì lịch diễn đã hoàn toàn ngập cứng, và đã nhận bao nhiêu thư kiến nghị của nhân dân gởi trực tiếp đến Ban Quản Lý Nhà Hát yêu cầu hãy đầu tư mở rộng nhà hát để đáp ứng nhu cầu thụ hưởng của nhân dân. Việc này nhằm đảm bảo việc xây dựng nhà hát sẽ đáp ứng nhu cầu thực của nhân dân chứ không từ cơn ngủ sảng mê của lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh.

b) Muốn xây nhà hát thiểm thu Thủ Thiêm thì rất đơn giản: hãy chờ đến khi chứng minh nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã hoàn toàn sai khi cho rằng Việt Nam hoàn toàn không có kỹ sư tài đức vẹn toàn, nghĩa là cứ chứng minh rằng Thành Phố Hồ Chí Minh không có ngập nước, Thành Phố Hồ Chí Minh không có kẹt xe, Thành Phố Hồ Chí Minh không có cháy toàn do chập điện mà ở đâu lại không có điện, Thành Phố Hồ Chí Minh không có ăn gian đất đai hủy diếm biệt bản đồ quy hoạch, Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ không như “ai đó” làm các cột mốc quốc lộ bằng lõi tre mặc áo xi-măng/khánh thành đường cao tốc chưa đầy tháng đã đầy lỗ chó/lỗ trâu/lỗ voi, Thành Phố Hồ Chí Minh không bao giờ có việc sập giàn giáo cửa ngõ Hầm Thủ Thiêm chỉ vì thi công mà hoàn toàn sai chuyên nghiệp do không có biển báo/biển cấm ở ngay các cửa ngõ xe cộ hướng đến khu vực đường hầm/biển thông báo chiều cao từ mặt đất đến giàn giáo để cấm xe vượt quá/không có người đứng cảnh giới ở các ngã tư đường nào hướng xe đến khu vực thi công. Việc này nhằm đảm bảo việc xây dựng nhà hát sẽ ra hồnra cái chi chi chứ không có cái nhà hát bê tông cốt tre sập giàn giáo ván ép vì bị khán giả sớn sác đi húc đầu vào.

c) Muốn xây nhà hát thiểm thu Thủ Thiêm thì rất đơn giản: hãy chờ đến khi chứng minh Thành Phố Hồ Chí Minh đang sở hữu đội ngũ lãnh đạo các dự án hoàn toàn thanh liêm, không chấm mút, miệng không nhai cát đá sỏi xi-măng sắt thép. Việc này nhằm đảm bảo việc xây dựng nhà hát sẽ không bị đội giá theo thói quen tham nhũng ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

d) Muốn xây nhà hát thiểm thu Thủ Thiêm thì rất đơn giản: hãy chờ đến khi Thành Phố Hồ Chí Minh xử xong tội của Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín, và các tham quan ô lại khác, để nhân dân xem khoản thu hồi được so với khoản thất thoát sẽ ở mức nào, để từ đó yên tâm tiền đổ vào việc xây dựng nhà hát nếu bị tham ô tham nhũng thì sẽ có khoản thu hồi xứng đáng không đến nỗi bị dè bỉu rằng thất thoát ngàn tỷ chỉ cần khắc phục tí ti là vừa thoát án tử hình vừa được sớm tự do vì có cái gọi là tinh thần khắc phục hậu quả.

Nhân tâm là cái tối quan trọng trong trị quốc. Song Thiện Nhân mà phối hợp với Quyết Tâm thì chỉ là một thí dụ khác của Đảng Loạn ở Thành Phố Hồ Chí Minh mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Tham khảo:

Nguyễn Thiện Nhân

Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm

Thiểm Thu

Vụ Khiếu Tố Của Hoàng Hữu Hiệp

Tất Thành Cang

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-10-2018

Bài viết sau đây đăng trên trang mạng doanh nhân Emotino lúc 11g09 ngày 01-10-2010 về nội dung khẩu ngữ hoàn toàn kém của một vài lãnh đạo Việt Nam dựa theo một bài viết của Hoàng Hữu Phước đã phê phán trên báo chí tháng 9-2008.

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước của Hoàng Hữu Phước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên mạng doanh nhân Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, hoặc thành “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” hoặc thành “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi mô phỏng theo câu khẩu hiệu của tôi để cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dùng đại trà trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng cái nội dung được “nhà nước hóa” ấy vẫn né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức …“chất lượng cao” mà các khẩu hiệu khởi thủy của tôi luôn nhấn mạnh đến. Ắt người dân Việt Nam được Nhà Nước mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu…thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế “chủ trì triển khai cuộc vận động ‘Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam’, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác nếu cũng gặp khó khăn thì Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân lại sẽ đề ra các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (a) có nhận thức đầy đủ rằng bọn chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (b) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động ‘Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam’, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”.

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn nan giải trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

a) Bài viết trên đăng ở http://www.emotino.com/m.php?p=17004, ngày 11-9-2008. (Emotino nay đã đóng cửa).

b) Bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước của Hoàng Hữu Phước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008). (Báo Sài Gòn Tiếp Thị đã đình bản).

c) Các bài viết có chủ đề tương tự (khuyên răn các lãnh đạo Việt Nam nhất thiết phải cẩn trọng về ngôn từ):

Nguyễn Thiện Nhân  10-6-2016

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương  18-11-2016

Sự Lộng Quyền Của Nguyễn Thị Quyết Tâm  22-01-2016

Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm  05-3-2016

d) Các bài viết có chủ đề y tế:

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Thực Phẩm Chức Năng

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi”

Nguyễn Đình Tuân

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-10-2018

Vũ Thị Liên là sinh viên Ban Anh Văn tại Đại Học Văn Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh (năm 1978 sáp nhập với Đại Học Khoa Học thành Đại Học Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh) ban đầu học sau tôi một năm, rồi về sau học chung lớp với tôi vì tôi bị ông sinh viên Bí Thư Chi Bộ (cán bộ từ Miền Bắc, nhập học cùng năm 1976 với tôi, nhưng ông ta học lớp Ngữ Văn Việt Nam) vu cáo phản động phải bị đình chỉ học tập để phục vụ điều tra ngay kỳ thi Học Kỳ II năm Thứ III như đã thuật chi tiết trong một bài viết trước đây. Mặc dù phải mất một năm (tuy chỉ mất ba tuần “đình chỉ” không được thi Học kỳ II, nhưng đương nhiên phải chờ qua năm sau có lớp đàn em lên Năm III học xong Học Kỳ I rồi khi họ học gần xong Học Kỳ II thì vào nhập lớp để thi chung với họ, nên tất nhiên mất đứt một năm Dương Lịch) ngồi chơi ở quán cà phê cổng trường, và mặc cho sự thật là tôi tốt nghiệp đại học hạng trung bình (bằng cấp màu xanh) do hoàn toàn kém điểm các môn Lịch Sử Đảng, Kinh Tế Chính Trị Mác-Lênin, và Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, tôi tự hào tự tôn tự cao tự đại có dư thừa bằng chứng không bao giờ có bất kỳ ai trên đời này có thể phản bác được rằng tôi là sinh viên kiệt xuất đầu tiên và duy nhất được Ngành An Ninh Tình Báo và trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh cùng lúc đến chen lấn tranh nhau xin tôi về. Trong khi đó, Vũ Thị Liên là sinh viên tốt nghiệp hạng giỏi (bằng cấp màu đỏ) cũng trở thành nhân vật kiệt xuất thứ nhì được Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đến chọn lọc xin về làm cán bộ giảng dạy Anh Văn sau tôi một năm.

Tương tự, Nguyễn Đình Tuân cũng là sinh viên Ban Anh Văn tại Đại Học Văn Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh học chung niên khóa với Vũ Thị Liên, tức là học sau tôi một năm. Về sau, Tuân học chung lớp với tôi vì tôi bị vu cáo phản động phải bị đình chỉ học tập để phục vụ điều tra hết một học kỳ như đã nêu ở đoạn trên. Khi là giảng viên Anh Văn diện “biên chế” tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi có giới thiệu bảo lãnh Nguyễn Đình Tuân vào làm giảng viên Anh Văn diện “hợp đồng” (tức không thuộc diện “biên chế” vào thủa Việt Nam chả ai biết “hợp đồng lao động” là cái gì, vì cứ “vào biên chế” tức được Tổ Chức Chính Quyền phân công là làm việc một mạch cho tới lúc nghỉ hưu được “Nhà Nước” nuôi suốt đời) và Tuân dạy học được hai năm. Sau đó, Tuân bỏ qua công tác văn phòng tại Tổng Công Ty Thuốc Lá Vinataba Thành Phố Hồ Chí Minh trước khi cùng gia đình định cư tại Mỹ.

Nếu như Vũ Thị Liên trở thành đồng nghiệp của tôi rồi trở thành vợ của tôi khi thấy tôi bị lãnh đạo Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh trừng trị tôi do đã dám tố cáo họ gian lận thi cử tuyển sinh như đã thuật chi tiết trong một bài viết trước đây, và việc “dám làm vợ Hoàng Hữu Phước” như lời đanh thép của Vũ Thị Liên có tầm cỡ tung xích xiềng quất thẳng vào mặt “dân gian” (tức “bọn gian tà”, chứ không phải “người trên thế gian”) rằng tôi là người cao quý cao thượng cao đẹp nhất thế gian này trong lòng đấng anh thư trượng nghĩa như nàng;

Thì Nguyễn Đình Tuân cũng là tiếng vọng âm thầm của một sợi xích xiềng khác tung ra tương tự vào mặt “dân gian”.

Tuân dáng người cao gầy, nước da ngâm đen, gương mặt hốc hác, cận thị nặng như tôi – tức cỡ 7 đi-ốp.

Khi tôi được cho tiếp tục việc học sau khi các cáo buộc tôi “phản động chống Cộng, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh, lập kế hoạch giết hại bộ đội, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng” được chứng minh chỉ là sự phiên dịch đầy hỏng hóc của các vị Bí Thư và Đảng Viên Chi Bộ Ngữ Văn Việt Nam (lúc ấy chưa có Chi Bộ Ngữ Văn Nước Ngoài nên phải đặt Khoa Ngoại Ngữ dưới sự giáo dục quản lý của Chi Bộ Ngữ Văn Việt Nam) khi nhìn thấy các nguyên liệu lạ lùng lẽ ra đã tuyệt chủng tuyệt diệt tại Việt Nam Cộng Hòa từ lâu và hiếm khi được phát hiện ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhưng lại đã hình thành tập trung một cách dồi dào đầy ắp hun đúc tràn trề nên con người tôi bao gồm – và chỉ có bấy nhiêu đây thôi chứ không còn thêm gì khác – sự lương thiện, tính liêm khiết, chí kiêu hùng, lòng ái quốc vì nước vì dân của-bậc-hiền-tài (để phân biệt với ai đó có lòng ái quốc của-giới-quyền-lực-hoặc-giới-rắp-tâm-chiếm-quyền-lực), năng lực quản trị, tài hùng biện, trí tuệ bao trùm, năng lực ngất ngút đứng đầu thiên hạ, và tâm hướng thượng khi-mặt-trời-mọc-lúc-không-giông-bão (để phân biệt với ai đó có lòng hướng-thượng-giữa-ban-ngày-khi-mây-đen-đang-vần-vũ-tối-mù-tối-mịt-tối-thui-tối-mò-chớ-thấy-mặt-trời-ở-nơi-mô), thì cũng đã hết năm học nên tôi phải phí một năm rong chơi cuối trời quên lãng rồi mới vào lớp của Vũ Thị Liên và Nguyễn Đình Tuân để thi Học Kỳ 2 Năm Thứ Ba rồi học chung với họ trong lớp của họ.

(Cần lập lại chi tiết đã kể trong bài viết trước đây rằng khi tôi bị vu vạ phải bị đình chỉ học tập, có hai người bạn thuộc nhóm Don Juans của tôi cũng đã vì tôi mà tự động bỏ thi để rồi cùng vào học với tôi tại lớp đàn em tức lớp của Vũ Thị Liên – Nguyễn Đình Tuân.)

Với lợi thế là thành viên Nhóm Lục Súc, “Rùa” Vũ Thị Liên nhanh nhảu liếng thoắng bày tỏ lòng kính phục và ngưỡng mộ dành cho “thi bá” Tannhauser Beowulf Thor Hoàng Hữu Phước khi hội ngộ người anh quen thuộc thân thương này tại Phòng Giáo Viên Ban Anh Văn Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.

Không có lợi thế là thành viên bất cứ nhóm nào, Nguyễn Đình Tuân với tính trầm lặng trầm mặc đã bày tỏ sự thông hiểu hoàn cảnh “hiền tài gặp nạn oan” theo một cách khác ngay từ khi thấy “văn vương” Tannhauser Beowulf Thor Hoàng Hữu Phước xuống học chung lớp với mình.

Trong một tập thể lớp đàn em đầy nhóc những sinh viên mà tôi không muốn trở thành bạn học với, tôi chỉ nói chuyện vui vẻ với Nhóm Lục Súc (gồm Vũ Thị Liên tức Rùa, Mai Thị Hoài Châu tức Châu-Ngố , Nguyễn Thị Kiều Liên tức Ba-Ba, Nguyễn Thị Hồng Hoa tức Hoa-Lùn, Cao Thị Hồng Nhung tức Nhung-Già, và Lê Thị Ngọc Ánh tức Ánh-Ngố – hiện ngoài RùaChâu-Ngố thì tất cả đã định cư ở nước ngoài), lớp trưởng Nguyễn Huỳnh Đạt (cán bộ Đoàn, tức Đạt-Già vì tóc bạc phơ, rất thán phục “đàn anh” Hoàng Hữu Phước), và Nguyễn Đình Tuân.

Nếu như trong Nhóm Don Juans tôi là người ít nói – tôi chỉ thích nói chuyện với phái nữ và tôi rất bất công do đặc biệt thiên vị phái nữ: ở nhà thì chăm sóc các em gái từng li từng tí một, ở trường lớp hoặc cơ quan thì chăm sóc bảo vệ bạn gái/nữ nhân viên từng li từng tí một – thì mỗi khi ngồi tụ tập trước cỏng trường có sự tham gia của Nguyễn Đình Tuân, tôi nhận thấy Tuân cũng là người ít nói. Phần lớn thời gian nhâm nhi ly cà phê đắng nghét có chất lượng khả nghi, Tuân lắng nghe là chính, thỉnh thoảng đóng góp một tiếng cười ủng hộ lời tiếu lâm hào sảng của một Don Juan nào đó. Tuân không dấu diếm sự đánh giá cao trình độ tiếng Anh của tôi, cá tính hào hùng của tôi, và tình bạn đầy nghĩa dũng của hai người bạn đã vì tôi mà tình nguyện bỏ thi để cùng vào học với tôi ở lớp “đàn em”. Song, điều đặc biệt của Tuân mà tôi kính trọng Tuân nhất lại là ở chỗ chưa bao giờ Tuân cầu cứu tôi giúp Tuân về tiếng Anh, mặc cho thực tế là luôn có nhiều sinh viên lớp của Tuân không thân tình gì với tôi cả nhưng không chút ngại ngùng ngỏ lời nhờ tôi cứu nguy bài luận văn tiếng Anh. Mà tôi thì khoái trổ tài do có danh “Vua Luận”, nên có hôm thi viết một bài luận tiếng Anh tại lớp trong 3 giờ, tôi thảo nháp xong 4 bài hoàn toàn khác nhau chuyền tuần tự cho 4 người chép lại vào giấy thi của họ rồi tôi mới bắt đầu viết một bài khác cho bản thân, với điều đương nhiên là cả 5 bài đều được điểm A.

Là người cao-ngạo-kiêu-ngạo-kiêu-căng-ngạo-mạn vì biết quá rõ mình đang có gì và đã thực sự chiếm lĩnh đỉnh cao cụ thể nào, thậm chí còn dám mắng luôn các giảng viên nào trình độ đã kém mà còn bày đặt phơi bày tư cách kém, tôi không bao giờ để lộ sự quẫn bách của gia đình mình như đã nói đến trong bài Xiếu Mẫu Hồng Thị Lan. Đến trường luôn với khuôn trung tươi tỉnh, áo quần tươm tất, tác phong trưởng thượng, cốt cách quý phái, thi thố sức vóc xông xáo, tôi chỉ khi rời trường mới tất tả ngược xuôi dạy học đầu trên xóm dưới kiếm tiền để nuôi gia đình có cha thất nghiệp, mẹ cả đời nội trợ, đàn em gái còn thơ dại, trợ cấp cho em trai du học Ngôn Ngữ Học ở Liên Xô, và chu cấp cho Ông Bà Ngoại ở Trà Ôn.

Thế nhưng, một buổi tối nọ Tuân đến nhà tôi lần đầu tiên. Ngừng chiếc xe đạp ngoài cổng, Tuân vói tay đưa tôi một phong thư qua tường rào, nói: “Cho tui gởi cái này lì xì mấy đứa em của ông. Tết tới nơi rồi”. Và Tuân phóng xe bỏ đi. Đó là một xấp tiền dày cộm mà tôi chưa từng nhận được nhiều đến như thế từ các nơi dạy kèm mỗi khi nhận xong gom về đưa hết cho Má tôi. Đến tận bây giờ tôi cũng không rõ bằng cách nào Tuân biết hoàn cảnh gia đình của tôi, chắc chắn không phải một tên trong nhóm Don Juan đã lỡ lời lúc tửu hậu trà dư quây quần nào đó mà không có mặt tôi, vậy chắc Tuân hoặc tình cờ chứng kiến việc Thầy Lê Văn Diệm lén tiếp tế gạo hay bột mì cho tôi, hoặc tình cờ chứng kiến việc Hồng Thị Lan thầm lặng tiếp tế cơm cho tôi, hoặc Tuân đã đứng trong bóng tối để nhìn vào nhà tôi chăng.

Khi gặp Tuân ở trường, tôi nói hãy xem như tôi mượn Tuân số tiền lớn đó, qua Tết sẽ hoàn lại. Tuân xua tay, cho biết đó là Tuân lì xì các em tôi, chứ không phải giúp tôi hay cho tôi vay mượn gì cả, nên sẽ là quái dị nếu tôi trả lại tiền, vì trả lại nghĩa là tôi cấm các em tôi nhận lì-xì, mà cấm như thế thì tôi quá “vô duyên”, “theo Tây học nên chống đối truyền thống ông cha ta”. Thế là tôi câm hẳn, không thể nói gì. Tuân thậm chí cho biết số tiền đó chỉ là từ việc nhỏ bán một thùng nhỏ gồm chục cây kem đánh răng Colgate do chị ruột của Tuân đang tu hành ở một ngôi chùa lớn tại California từ trước 1975 gởi về tiếp tế. Mà chị ni cô ấy tiếp tế thường xuyên, tiếp tế cho từng người trong gia đình, nên Tuân chỉ xài những thùng nào thuộc phần của Tuân chứ nào có phạm đến thùng của cha mẹ hay các em, và do đó tôi hãy yên tâm rằng Tuân không có…chôm chỉa của ai cả. “Tiền trong sạch mà!” Tuân vừa nói vừa xỉa ngón tay trỏ sượt lên sống mũi nâng gọng kính.

Thế rồi giòng đời cứ trôi. Tuân không tiếp tục lì-xì khi đã yên tâm thấy tôi trở thành giảng viên Anh Văn danh tiếng lẫy lừng của Cao Đẳng Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, được tất cả các trung tâm ngoại ngữ săn đón. Tôi có giới thiệu Tuân vào dạy hợp đồng tại Cao Đẳng Sư Phạm trong hai năm. Khi thấy tôi lại bị hại do tính khí kiên quyết chống tiêu cực, ngày trước bị đình chỉ học tập, còn nay bị đình chỉ giảng dạy, Tuân buồn bực, nhưng nhanh chóng ngay sau đó đã mừng vui khi thấy tôi dù bỏ trường ra đi sau khi đã uy dũng mắng Hiệu Trưởng một trận, lại được Vũ Thị Liên vừa bảo vệ thanh danh của tôi vừa “bảo vệ cuộc đời đầy Tsunami” của tôi bằng một cái đám cưới. Tuân đã tham dự tiệc cưới mừng cho hai người bạn học của Tuân đã nên nghĩa vợ chồng. Tuân càng mừng hơn khi thấy sau đám cưới, vợ chồng tôi hạnh phúc cùng nhau dạy học tại các trung tâm ngoại ngữ dù chồng bỏ dạy ở Cao Đẳng Sư Phạm còn vợ cũng phải bỏ dạy ở Cao Đẳng Sư Phạm do bị Khoa Ngoại Ngữ trừng trị tội dám làm vợ Hoàng Hữu Phước, cái tên nhà giáo không ô dù không ai chống lưng lại dám cả gan tố cáo Hiệu Trưởng gian lận thi cử tuyển sinh khiến Khoa Ngoại Ngữ bị Hiệu Trưởng cho “mất điểm thi đua ABC”. Và khi tôi không còn bị ràng buộc với “phe Nhà nước”, tôi trở thành nhân vật được các văn phòng đại diện công ty nước ngoài săn đón, nhanh chóng từ nhà giáo 48 ký trừ bì trở thành VIP 84 ký kể cả bì. Lúc ấy, Tuân cũng bỏ nghề giáo để công tác tại phòng kinh doanh Vinataba.

Chúng tôi có dự lễ cưới của Tuân. Thời gian ngắn sau, Tuân và cả gia đình đi định cư theo hồ sơ bảo lãnh của người chị ni cô.

Ba mươi năm đã trôi qua, tôi không có tin tức gì từ Tuân. Đơn giản vì trước đây làm gì có internet, có fax, có điện thoại thông minh. Đã vậy, ngay cả khi internet xuất hiện, dù vợ tôi thông qua Nhóm Lục Súc trên thế giới được 30 bạn học lớp của vợ tôi từ khắp nơi liên lạc ì xèo bằng email thì vẫn có một trỡ ngại kép: tôi như đã nói ở trên không thân cận với đám đông sinh viên trong lớp “đàn em” đó nên dù họ tự động cho địa chỉ email của tôi vào group của họ, tôi vẫn trong nhiều chục năm qua xóa ngay chứ chưa hề click xem mỗi trong hàng ngàn email đó nhắn nhủ kêu gọi điều chi đến độ lắm đứa bạn của nàng gọi tôi là kiêu ngạo kiêu căng ỷ mình số một tiếng Anh, còn vợ tôi tuy cũng có địa chỉ email nhưng nàng chưa hề một lần nào tự mở máy vi tính để check mail do không hề nhớ password, không cách chi thuộc cách gõ chữ tiếng Việt (do các người bạn ấy quái gở: tốt nghiệp tiếng Anh nhưng phê phán bạn bè nào gởi email bằng tiếng Anh!), cũng như thấy không cần thiết phải đọc mail của bất kỳ tên bạn học nào ganh tỵ ghen tài với chồng mình, tức xấu xa vì đã không tôn vinh tôn sùng chồng của mình. Cũng vì vậy mà tôi không thể hỏi ai về địa chỉ email của Nguyễn Đình Tuân.

Đầu năm nay, trong lúc chọn bôi đen để xóa một lúc mấy trăm email không phải của thân nhân hay học trò ruột, tôi tình cờ thấy dòng Subject của một email mang dòng chữ tiếng Việt “Xin Chia Buồn Cùng Bạn Nguyễn Đình Tuân”. May mà tôi ngưng xóa kịp, và click đọc email ấy, hóa ra đó là của một người thuộc lớp “đàn em” gởi đúng là đến Nguyễn Đình Tuân có c/c cho toàn nhóm mà trong nhóm của họ đã có sẵn địa chỉ của tôi mấy chục năm nay. Khi biết Ba của Tuân vừa qua đời, tôi gởi ngay một bức thư dài cho Tuân theo địa chỉ email mà tôi vừa tình cờ có được ấy.

NDT

Đọc bức thư dài tôi nhắc lại những chuyện ngày xưa, Tuân trả lời ngay rằng (a) Tuân rất vui khi nhận email của tôi; rằng (b) ủa vậy mà Tuân không nhớ đã đến đưa tiền cho tôi lì xì các em tôi mà lại không phải đưa một lần; rằng (c) mấy năm trước xem các video clip trên Phố Bolsa TV phỏng vấn tôi thì Tuân có kêu vợ Tuân ra cùng xem, vợ của Tuân bảo tôi sao trông vẫn vậy còn Tuân già hơn và tôi ăn nói hay quá. Tuân bảo đã giải thích với vợ rằng tôi trông trẻ hơn Tuân tại làm nghị sĩ Việt Nam lương cao khủng như bên Mỹ nên sướng quá mà, còn ăn nói hay thì chắc tại làm nghị sĩ nên nói chính trị tiếng Việt trơn tru chớ hồi ở Đại Học Tổng Hợp chỉ nghe “ảnh” nói tiếng Anh giỏi chớ còn nói tiếng Việt chỉ để dụ kiến trong hang xếp hàng thứ tự bò ra thôi chớ chả hay ho gì về chính chị chính em cả.

Nguyễn Đình Tuân là như vậy đấy: chân chất, sâu sắc, hào sảng, nghĩa khí.

Bạn đã đến làm bạn với tôi như một cách tung xiềng vào mặt dân gian rằng bạn quý  trọng tôi vì tôi là người tốt.

Bạn đã khéo léo giúp tôi nên bạn đã làm tôi hiểu bạn sâu sắc y như Thầy Lê Văn Diệm của chúng ta, Hồng Thị Lan ở lớp cũ của tôi, và Vũ Thị Liên ở lớp của bạn.

Bạn đã khéo léo giúp tôi trong bí mật, thậm chí chẳng cần nhớ đến những nghĩa cử bạn đã thực hiện vì tôi, nhưng tôi luôn nhớ và không thể không nhắc đến trong email đầu tiên tôi vừa gởi bạn trong năm 2018 này.

Nguyễn Đình Tuân ơi, như một số người tốt và học trò tốt cùng nhân viên tốt khác đã đến bên cuộc đời tôi, bạn và Vũ Thị Liên đã giúp tôi tự tin rằng tôi đã không sai khi đã chọn đi theo con đường trở thành người tốt, mặc cho sự thật là nẻo đường ấy lắm gian nan, hiếm có phần tưởng thưởng, còn sự động viên khích lệ đa số đãi bôi, và cách chi thấy được cộng đồng ngày càng đông đúc hơn của những con người chân chất, sâu sắc, hào sảng, và nghĩa khí như bạn – như nhóm bạn ít ỏi của chúng ta.

Cảm ơn bạn Nguyễn Đình Tuân. Chúc bạn và gia đình luôn được an vui, hạnh phúc.

Thân mến.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Được Ngành An Ninh Tình Báo Mời Gia Nhập

Thầy Lê Văn Diệm

Hồng Thị Lan

Nhật Ký Tình Yêu Của Cô Giáo Vũ Thị Liên

Nguyễn Đình Tuân Trong Danh Sách Khách Mời Dự Tiệc Cưới Phước-Liên

Vũ Thị Liên Và Lục Súc

Đám Cưới Hoàng Hữu Phước Vũ Thị Liên

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Ông Bà Ngoại Của Hoàng Hữu Phước

Phố Bolsa TV Phỏng Vấn Hoàng Hữu Phước (xem tại phần cuối mục “Tham Khảo”

Đất Chóe

Hoàng Hữu Phước, MIB, Thầy Phù-Thủy Ngôn-Từ

09-10-2018

Tiếng Việt có từ “vàng chóe”.

Đất vàng Thủ Thiêm đã bị Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh và Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh xẻ bán tháo bán đổ chia năm xẻ bảy vì lợi-ích-nhóm và lợi-ích-từng-cá-nhân-trong-nhóm thuộc nhiều nhiệm kỳ liên tiếp. Mọi chuyện đang tầy huầy, đầy điếm nhục, bị gây ra bởi đám người ngợm hùa nhau mạo danh “học trò Hồ Chí Minh” và ẩn nấp sau tấm khiên mang logo vinh diệu “Vì Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh”.

Để cứu nguy cho (a) danh tiếng Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh mà rất rất nhiều người từ đó đã vươn ra Trung Ương Đảng để trở thành lãnh đạo Đảng và lãnh đạo Chính Phủ, và đồng thời qua đó cứu nguy (b) các vị lãnh đạo đang bị búa rìu dư luận  cùng luật pháp săm soi;

Mới đây Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh họp khẩn “bất thường” để “bình thường hóa” dự án dựng xây Nhà Hát Thiểm Thu nhằm một mũi tên xuyên thấu bốn con chim mập ú “Nhất Tiễn Xuyên Tứ Đại Chim” mà ngay cả Dưỡng Do Cơ thời Chiến Quốc Xuân Thu cũng phải bái phục ngẫng mặt mẹt lên trời cao mà than rằng “Ôi cái sở luyện thần tiễn của Trung Nguyên ta đã di cư xuống Miền Nam Nước Việt hết trơn hết trọi rồi!” sau:

1) Sử dụng công cụ truyền thông của Đảng để ngợi ca miếng đất dành xây Nhà Hát Thiểm Thu là tuyệt đẹp, cứ như thể nhiều chục năm qua Đảng và Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh luôn thiết tha ngày quên ngủ đêm quên ăn nghĩ đến dân chúng Thành Phố Hồ Chí Minh nên kiên trì kiên quyết giữ gìn miếng đất tuyệt đẹp cỡ “đất chóe” ấy chứ nào có đã xẻ chia bán rẻ hết đất vàng “hết chơn hết chọi” đâu?

2) Do đất của dự án Thủ Thiêm đã bị xẻ bán tháo bán đổ chia năm xẻ bảy nên những kẻ đại gian đại ác đã nhanh trí nghĩ đến tuyệt chiêu rằng nhất thiết phải nhịn cơn đói khát thèm cạp đất ăn mà nhín ra một miếng tự phong là “đất rất đẹp” ở đâu đó để đó dành khi trong tương lai gần hoặc xa có thể dùng để cứu nguy thanh danh của Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh.

3) Do đất của dự án Thủ Thiêm đã bị xẻ bán tháo bán đổ chia năm xẻ bảy nên những kẻ đại gian đại ác đã nhanh trí nghĩ rằng nhất thiết phải nhịn cơn đói khát thèm cạp đất ăn mà nhín ra một miếng đất đẹp ngay vùng Thủ Thiêm chứ không được phép ở bất kỳ xó xỉnh nào khác của quận huyện nào khác để dành khi trong tương lai gần hoặc xa có thể dùng để cứu nguy thanh danh của Đảng Bộ Thành Phố Hồ Chí Minh, và cái tuyệt chiêu ở đây là dùng xây dựng ngay tại Thủ Thiêm cái gì đó cũng thuộc Thiểm Thu mang danh làm đẹp cho Thủ Thiêm thành điểm nhấn văn hóa cho toàn Thành Phố Hồ Chí Minh – nghĩa là những nơi nào không có Nhà Hát cỡ Thiểm Thu thì không có điểm nhấn văn hóa mà thời đại 4.0 của vi tính sẽ nói ngắn gọn thành không có văn hóa.

4) Theo đại dự án mà việc lập phác thảo thôi đã tốn bao tỷ đồng của Thành Phố Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng các cái gọi là Thành Phố Nam, Thành Phố Bắc, Thành Phố Tây, Thành Phố Đông trong Thành Phố Hồ Chí Minh, trong vòng 20 năm nữa Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ có mấy mươi phần trăm đất ngập chìm trong nước do hệ quả của vấn nạn nước biển dâng cao toàn cầu, mà siêu dự án ấy đã bị nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cười chộ kịch liệt đã phá, nay Đảng Bộ và Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh sau khi đã thành công trong việc chơi bẩn can thiệp vào cuộc bầu cử Quốc Hội Khóa XIV loại được ứng cử viên Hoàng Hữu Phước ngay từ “vòng gởi xe”, nay lại mơ tưởng đến việc hoang đường sẽ chiến thắng nhà thấu thị Hoàng Hữu Phước bằng cách chứng minh sẽ không có việc ngập nước qua việc xây dựng cái Nhà Hát Thiểm Thu ấy chình ình tại chính nơi trước đó trong bản vẽ siêu dự án bị lọt thỏm vào vùng sẽ bị ngập lụt do nước biển dâng, bất kể xây xong thì người dân nào sẽ lái xe lội nước bì bỏm đến xem nhạc giao hưởng và cái Nhà Hát Thiểm Thu có bị thay đổi công năng năm 2022 thành Nhà Hát Xiếc Cá Heo hay không.

Nhà hát Sydney Opera House tuyệt đẹp của Úc-Đại-Lợi do chính quyền bang New South Wales xây. Cái gì hoành tráng lại không do cấp chính quyền xây cơ chứ? Nó có nhiều phòng, trong đó phòng hòa tấu Joan Sutherland Theatre có 1,507 ghế, phòng  kịch nghệ Drama Theatre 544 ghế, phòng Playhouse 398 ghế, phòng The Studio 400 và phòng Utzon 210 ghế tổng cộng 5738 ghế cho nhiều loại hình trình diễn khác nhau cùng lúc.

Sự khác biệt của Nhà hát Sydney Opera House thành công và Nhà Hát Thiểm Thu thất bại ở chỗ sau khi Úc-Đại-Lợi trở thành cường quốc, người ta mới động thổ Nhà Hát ấy ngày 01-3-1959 và hoàn tất xây dựng năm 1973 sau 17 năm xây dựng trên một diện tích gần 2 héc-ta, để rồi được UNESCO vinh danh Di Sản Thế Giới năm 2007. Mỗi năm trung bình Nhà Hát có hơn 1.500 buổi diễn, với sự dự khán của hơn 1.200.000 người, cùng với hơn 8 triệu du khách tham quan, trong đó có khoảng 350.000 du khách mua-tour. Ba “công ty” thuê ở thường trực tại Nhà Hát Sydney Opera House do chính quyền quản lý này là Opera Australia (Nhà Hát Opera Úc-Đại-Lợi), Sydney Theatre Company (Công Ty Hý Viện Sydney), và Sydney Symphony Orchestra (Ban Nhạc Giao Hưởng Sydney).

Trong khi đó, Nhà Hát Thiểm Thu được đem ra thực hiện đầy “quyết tâm” khi Việt Nam chưa là cường quốc, Thành Phố Hồ Chí Minh không có tiền và không có tài cũng như không có người để lo giải quyết 10 vấn nạn của

(a) nạn ngập lụt kẹt đường xe chạy và kẹt chỗ đậu xe,

(b) đền bù cho các khiếu kiện đất đai ở chính Thủ Thiêm,

(c) siêu dự án Trung Tâm Hành Chính Thành Phố,

(d) siêu dự án Thành Phố Đông/Tây/Nam/Bắc,

(e) siêu dự án mở rộng Phi Trường Tân Sơn Nhất,

(f) số lượng nhà trẻ, trường học,bịnh viện,

(g) vệ sinh công (tại công sở, bịnh viện công, trường học công),

(h) tiện nghi cho người khuyết tật ra vào chốn cơ quan công quyền,

(i) công nợ đang gánh, và

(j) vốn tự tạm ứng để lo xây dựng cái gọi là “đường vành đai” chiến lược.

Với dự định sẽ xây nhà hát trong…5 năm gồm 2 phòng với tổng cộng 1700 chỗ tức gộp lại sẽ lớn hơn phòng Joan Sutherland của Nhà Hát Sydney Opera House, Nhà Hát Thiểm Thu chắc có một phòng lớn sẽ đặt tên Văn Cao hay Bí-Thồ-Ven mỗi năm tổ chức hòa tấu hay hát opera một đôi lần cho đa số là khách quan chức có vé mời (miễn phí) và phòng nhỏ hơn ắt tên Bố-Lề-Rô mỗi tháng tổ chức một buổi tối ca hát nhạc Bolero mà tổng số chỉ có vài chục bài cũ xì hát đi hát lại. Còn nhạc hay kịch cách mạng thì cứ đẩy qua Nhà Hát Quân Đội hoành tráng trên đường Cộng Hòa (Quận Tân Bình) ghế ắt không một vết trầy vì chục năm qua chưa hề thấy có quảng cáo cho buổi diễn nào kể cả của quân đội. Còn ca sĩ cỡ không giàu bằng Mr Đàm thì chịu khó diễn ở Nhà Hát Hòa Bình cũng được rồi. Vấn đề là “công ty biểu diễn” nào sẽ được Chính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh cho vào ở thường trực trong nhà hát ấy theo dạng làm nghèo đất nước tức hoặc ở thuê miễn phí hoặc với giá cao hơn miễn phí vài Việt Nam Đồng.

Tổ chức họp bất thường để lo xây Nhà Hát Thiểm Thu để lo cho cái “người dân cần”, Đảng Bộ và Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh đã phớt lờ những cái khác mà “người dân cũng cần” như đường hết ngập lụt, đường hết kẹt xe thường xuyên, đường có chỗ đậu xe, các khiếu kiện đất đai ở nhiều quận và ở chính Thủ Thiêm được giải quyết đền bù nhanh và thỏa đáng, số lượng nhà trẻ/trường học/bịnh viện, vệ sinh công, tiện nghi cho người khuyết tật ra vào chốn cơ quan công quyền để được gặp các “đầy tớ của dân”, sự trong sạch hóa hàng ngũ đảng viên, v.v. và v.v. Những cái khác mà “người dân cần” theo Đảng Bộ và Chính Quyền Thành Phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu Nhà Hát Thiểm Thu ắt sẽ là các dự án Nhà Hát Cưởng Lai, Nhà Hát Rốc-Kần-Rôn, v.v., mà công năng phụ trợ sẽ bao gồm phục vụ các nghị sĩ đến tiếp xúc cử tri trước hoặc sau mỗi kỳ họp Quốc Hội chăng.

Đề ra dự án để gom tiền ngân sách, rồi dùng tiền đó vào việc khác, tiếp tục neo dự án để tiếp tục hứng ngân sách từ Kho Bạc Nhà Nước, là thói quen của tất cả các lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh, để rồi nay lập tức tung ra khoe đã giữ dự án Chóe ấy hàng chục năm nay vì thiết thực chăm lo cho đời sống giàu hơn về cảm thụ nhạc hòa tấu Tây của người dân.

Đấu tranh chống Mỹ gian khổ, hy sinh biết bao sinh mạng người dân và chiến sĩ, giành cho được thống nhất, độc lập, tự do, để có toàn quyền lập dự án Nhà Hát Thiểm Thu lo cho đời sống tinh thần của người dân. Đó là đạo lý cao vời của những Đảng Viên Cộng Sản thuộc giai cấp lãnh đạo ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

Hoan hô Chóe.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII, Thầy Phù-thủy Ngôn-từ

Nguyễn Minh Luân

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-10-2018

Có lần khi chờ đến giờ vào hội trường tiếp xúc cử tri Quận 3, nghị sĩ Khóa XIII Trương Tấn Sang vui miệng thuật cho các ông Trần Du Lịch và Hoàng Hữu Phước cùng là bạn đồng liêu (tức là nghị sĩ đồng khóa) biết giai thoại thủa ông là cậu bé trần trụi ngâm mình dưới bùn đen tanh tưởi tanh hôi ở Quận 4 Sài Gòn để làm nhiệm vụ cảnh giới cho các lãnh đạo Đảng đang họp về các nhiệm vụ biệt động thành như phá hoại và ám sát. Trước 1975, Khu Tôn Đản Khánh Hội Quận 4 Sài Gòn là khu mà tiếng bình dân gọi là khu dao búa hay khu anh chị, khét tiếng đến độ lương dân thì khiếp sợ còn lực lượng an ninh cảnh sát mật vụ Sài Gòn thì khiếp đảm bạt vía kinh hồn. Sự thật rằng nghị sĩ Trương Tấn Sang trước 1975 có quá trình hoạt động cách mạng tại Quận 4 Sài Gòn là nội dung mà nghị sĩ Hoàng Hữu Phước sau 1975 khi phục vụ nhân dân Quận 4 Thành Phố Hồ Chí Minh muốn nhân cơ hội nói lên sự thật tốt đẹp về đời sống dữ dội Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa mà tiếc thay nay đã hóa thành dữ ác.

Và cũng nhiều lần trong thế kỷ XXI này trực tiếp chứng kiến hoặc gián tiếp nắm tin qua báo chí, tác giả bài viết này biết các hành vi chạy xe chầm chậm sớt lấy một nãi chuối từ một xe ba gác bán chuối dạo rồi chầm chậm bóc ăn và ném võ chuối xuống đường Hoàng Hoa Thám (Bình Thạnh) hoặc chạy xe ào vụt giật xấp vé số của một người mù ngồi trên ghế có cắm cây dù hỏng méo bạc màu ở sát đường Nguyễn Thông (Quận 3), mà trong những trường hợp như vậy thì bản thân người viết và những người đi đường không hiểu sao đều buột miệng thốt lên cùng một chữ: “Đồ lưu manh!

Nhưng khoan đã! Hey, please wait a minute! Có phải sự tốt đẹp đầy lý tưởng của một chế độ mới đã làm cho mọi thứ của chế độ trước đó bị miệt thị và nhơ bẩn hóa hay chăng, khiến ngay cả “lưu manh” cũng bị hạ đẳng hóa thành hành vi mất dạy cướp nãi chuối nhỏ của cậu bé 15 tuổi đẩy xe ba gác trưng bày có mỗi năm nãi chuối cao tí tẹo, mất dạy giật vé số của người mù 50 tuổi đang đếm đi đếm lại xấp vé số Tây Ninh bán ế, và mất dạy nhét chữ vào mồm vị nghị sĩ không Đảng tịch chẳng ô dù và hò reo ầm ỹ trên mạng xã hội chùa để ném đá trấn áp ông ta chỉ vì ông ta không do cơ quan Đảng giới thiệu ứng cử và tại ông ta trong sạch tuyệt đối ư?

Nội dung tôi muốn nêu lên ở đây là về thế giới anh chị dao búa dữ dội của Quận 4 Sài Gòn vốn đậm nét hảo hán trượng nghĩa hơn là lưu manh mạt hạng. Dân dao búa dữ dội ở Quận 4 Sài Gòn hoặc nơi này nơi khác là một thế giới rất riêng, rất kín. Dân lưu manh mạt hạng ngày nay là sự hòa trộn không sao phân biệt được vì hiện diện lồ lộ công khai từ hẻm nhỏ dẫm nát lương dân đến thênh thang chốn công quyền phục vụ nhân dân mà cả hai đều rủng rỉnh bạc tiền mất hút nghĩa dũng lòng nhân. Chính vì hảo hán trượng nghĩa mà các tay anh chị dao búa dữ dội thường ra tay vừa bảo vệ những ai có vẻ thuộc lực lượng nằm vùng/đặc công “Việt Cộng” tức lực lượng đương nhiên tốt, vừa ngăn chặn các bố ráp của an ninh cảnh sát mật vụ Sài Gòn tức lực lượng đương nhiên xấu, khiến những người gồm “sếp” của Trương Tấn Sang và lính canh gác như Trương Tấn Sang được bình an vô sự hoạt động tấn công từ sâu trong nội đô Sài Gòn làm tan nát chính quyền dẫn đến biến cố lịch sử mà Phương Tây gọi là Sài Gòn Thất Thủ (The Fall of Saigon).

Nguyễn Minh Luân là học sinh trường Tân Việt (trước 1975 trên đường Yên Đỗ gần ngã tư Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3,Sài Gòn (nay là Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên, đường Lý Chính Thắng, Quận 3,Thành Phố Hồ Chí Minh).

Vào năm 1974, lúc tôi là trưởng lớp 12C1 (chuyên khoa Ngoại Ngữ – Triết Học) thì Luân là học sinh lớp 11A2 (chuyên khoa Sinh – Hóa).

Lớp 12C1 trường Tân Việt lừng danh vì có hoa khôi Lý Quỳnh Hoa, nữ sinh đã làm các giáo sư như Tạ Ký (Việt Văn), Nguyễn Xuân Hoàng (Phân Tâm Học), Trần Hữu Lộc (Tâm Lý Học), và một giáo sư môn Anh Văn (mà tôi quên mất tên vì ông ta không giỏi bằng tôi), mê say đắm đuối công khai bày tỏ sự đắm đuối mê say ấy ngay mỗi lần bước vào lớp bắt đầu tiết dạy, và cũng là nữ sinh danh vang quốc ngoại (nghĩa là nhan sắc của Lý Quỳnh Hoa vượt ngoài biên giới của…Tư Thục Tân Việt để chinh phục con tim khối óc nam sinh các trường công lập hàng đầu của Sài Gòn). Nhưng nếu bó buộc phải nói cho đúng sự thật nhất và khiêm nhường nhất thì Lớp 12C1 còn lừng danh vì có chàng trưởng lớp danh trấn quốc nội (nghĩa là khuôn trung ngự trị vững vàng trong lòng các nữ sinh nội địa Tân Việt đã vậy còn được hoa khôi Đinh Thị Mai Trâm của Nguyễn Bá Tòng Gia Định lân bang mỗi ngày đều đến đậu xe PC xanh đứng chờ nơi cổng trường Tân Việt để trao tay cho chàng những bức thư tình nhung nhớ. Uy thế của chàng trưởng lớp ấy lại còn được vun đắp cao hơn bằng nắm đấm của nhân vật Nguyễn Minh Luân.

Nguyễn Minh Luân tuy thấp hơn tôi (Luân cao 1m5, còn tôi 1m7) nhưng dáng người lực lưỡng, và những chiếc áo sơ mi trắng học trò chật bó làm bật thân trên của một vận động viên thể hình nghiêm túc với phần cơ bụng thuộc hình thể mà trước 1975 chúng tôi gọi bằng tiêng Anh là 6-pack (tiếng bình dân ngày nay gọi là “6 múi”). Luân có đôi mắt “tam bạch đản” khiến gương mặt nam tính khôi ngô của Luân có phần bị phá cách. Chưa kể, Luân thuộc hàng “anh chị bự” ở  trường Tân Việt, và mọi học sinh nam nữ đều cho rằng tốt hơn hết là nên né Luân từ xa để có được hai chữ bình an. Nói một cách tôn trọng sự thật thì tôi rất “ớn lạnh” mỗi khi bắt gặp Luân đang hướng ánh mắt long lên sòng sọc đến một kẻ đáng thương nào đó, còn các học sinh trong lớp của tôi thì người nào anh dũng lắm mới dám cả gan hùng hồn gọi lí nhí sau lưng Luân rằng Luân là “quân lưu manh”.

Nhưng dù Luân có “lưu manh” hay không, vẫn có một thực tế mà một nhà sử học Việt Nam Cộng Hòa duy nhất ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như tôi nhân đây xin nhắc lại sự thật 100% về “dân anh chị” của Sài Gòn trước 1975:

(a) đã là dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt thì chỉ ra tay lưu manh/anh chị/côn đồ với dân lưu manh/anh chị bự/côn đồ ở nơi khác, chứ tuyệt đối không bao giờ động đến người dân ở khu dân cư nơi mình/cha mẹ anh chị em mình sinh sống/học tập/làm việc;

(b) đã là dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt mà giở thói lưu manh/anh chị/côn đồ với người ở khu dân cư nơi mình/cha mẹ anh chị em mình sinh sống/học tập/làm việc thì do đích thị bản thân hèn hạ, súc vật “lộn chuồng”;

(c) đã là dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt thì luôn kính trọng và bảo vệ bằng nắm đấm những gia đình “có học thức” + “hiền lương” + “yếu thế”, và

(d) dân “anh chị bự” Sài Gòn thứ thiệt thì luôn khoái cái danh “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng” nên không những thường ra tay cứu độ bảo vệ người ở khu dân cư nơi mình/cha mẹ anh chị em mình sinh sống/học tập/làm việc mà còn lên tiếng chửi tục xé nát tờ báo mỗi khi đọc thấy có tin côn đồ bức hiếp lương dân hay côn đồ hiếp dâm tập thể một nữ sinh hay phụ nữ nào đó.

Cũng vì vậy mà chẳng mấy ai lấy làm lạ khi trước 1975 nhiều dân “lưu manh” tức dân “anh chị bự” tức dân “côn đồ” Sài Gòn thứ thiệt sẵn sàng vì “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng” mà ra tay (tức ra…chân) ngáng đường để hất ngã cảnh sát/an ninh/mật vụ Sài Gòn nhằm giải vây cho bất kỳ ai đang bị dí bắt mà họ tin đó là đặc công Việt Cộng hoặc sinh viên học sinh chống Mỹ.

Cái anh chàng Luân ấy dường như ngụ tại khu dân cư nghèo khổ Kênh Trương Minh Giảng, sau lưng nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, sau 1975 gọi là Kênh Nhiêu Lộc, ở Quận 3. Còn khi tôi làm trưởng lớp 11 ở Tân Việt thì lớp tôi có nữ sinh Thái Thị Liên Hoa tuyệt đẹp có chữ viết bảng đẹp tuyệt và cốt cách sang trọng – tất nhiên sang trọng không đồng nghĩa với giàu có – ngụ cư tại Quận 4 khét tiếng.

Là người theo trường phái quý phái quý tộc (noble) sẵn có cốt cách sang trọng tự thân, ghét bọn theo trường phái trưởng giả chảnh chọe học làm sang (snob) luôn có tác phong hạ đẳng, tôi ít nói (chỉ nói liên tu bất tận khi trần thuyết tức thuyết trình trước lớp về các đề tài phân tâm học/tâm lý học/siêu hình học/đạo đức học/luận lý học), ít giao tiếp (chỉ ngắm nhìn thầm thương trộm nhớ Lý Quỳnh Hoa), ít cười (chỉ cười khi nhìn thấy Đinh Thị Mai Trâm chờ ở cổng trường hoặc khi được Thầy Tổng Giám Thị Đỗ Văn Phương khen ngợi), tôi đã dùng quyền phủ quyết của trưởng lớp để bác bỏ tất cả các kế hoạch tổ chức ăn chơi kiểu Mỹ của bọn nam sinh nhà giàu trong lớp. Ăn chơi kiểu Mỹ trong giới học sinh nhà giàu Sài Gòn luôn gồm phì phèo thuốc lá, nốc bia, nhảy đầm, và không hề thiếu những hành vi đê tiện bẩn thỉu mạt hạng sử dụng thuốc kích dục đắt tiền hoặc thuốc ngủ rẻ tiền để phá trinh những nữ sinh thuộc các nhóm nhà nghèo học đòi ăn chơi, nhóm nhà giàu khờ khạo ngu đần, nhóm nhà giàu nết na bất cẩn. Để bảo vệ Lý Quỳnh Hoa và do bản thân khinh miệt tất cả các thứ ăn chơi kiểu Mỹ, tôi luôn bác bỏ các đề nghị tôi hãy đứng ra tổ chức các buổi tụ tập như vậy dù của riêng lớp 12C1 Tân Việt hay phối hợp với lớp 12C Petrus Trương Vĩnh Ký mỗi khi sắp có Lễ Giáng Sinh, Tết Tây, Tất Niên, Tân Niên, tức những dịp mà bọn con trai nhà lành thường lắc đầu than rằng “ôi lại sẽ có biết bao nữ sinh bị phá trinh”.

Cho đến khi có một tên học sinh nhà giàu lớp tôi căm giận bày tỏ thái độ với tôi, tôi mới có dịp may biết rõ hơn về Nguyễn Minh Luân.

Tên học sinh nhà giàu ấy thuộc gia đình “người Bắc di cư”, thường lảm nhảm khoe rằng ở biệt thự nhà hắn tại thư phòng riêng của hắn có tấm bảng sơn son thếp vàng ròng 24K to đùng mang dòng chữ Hữu Chí Cánh Thành bằng tiếng Hán-Việt do bố của hắn tặng ban, kỳ vọng hắn sẽ trở thành vị Tổng Thống Việt Nam Cọng Hòa (không phai Cộng Hòa) trẻ tuổi nhất và đẹp trai nhất thế giới. Hắn đi học với áo sơ mi lụa mỏng in hoa màu hồng, tóc chải dầu bóng đứng tóc (thời ấy gọi là bờ-ri-lăng-tin còn ngày nay gọi là gel) láng mướt, mang giày Tây bóng láng đế cao (vẫn chỉ đứng cao đến vai tôi).

Vào hôm “định mạng” đó, lúc chuông ra chơi, như thường lệ tôi ở lại trong lớp để đọc một quyển tiểu thuyết tiếng Anh dường như của Nan Maynard thì phải. Tuy lấy làm lạ không hiểu vì sao tất cả mọi người đồng loạt bỏ xuống lầu chứ không như mọi hôm luôn có ít nhất ba bốn học sinh – kể cả Lý Quỳnh Hoa – ở lại lớp tán gẫu, tôi nhún vai điềm nhiên không chút lắng lo.

Khi nghe tiếng giày lộp cộp đến gần, tôi ngẫng lên và thấy thằng học trò công tử nhà giàu hữu chí cánh thành đó đang tiến đến bàn của tôi. Hắn rít lên trong lúc tôi chưa kịp nhận ra tình cảnh: “Mày dám chọc gậy bánh xe hử?” Một quả đấm vung ngay vào mặt tôi. Chuyện có thực này hoàn toàn không là chuyện phim hành động Hollywood hay phim kiếm hiệp Tàu hoặc phim tình cảm Hàn. Nhưng nếu sử dụng camera điện ảnh chuyên dùng quay phim tốc độ cực nhanh để phát hình bình thường nhằm tạo hiệu ứng slo-mo cho ra cảnh quay cử động cực chậm, thì diễn biến slo-mo sẽ như sau: trước khi quả thôi sơn hữu chí cánh thành ấy kịp chạm vào giữa sống mũi tôi thì nó đã bị một bàn tay chém ngang hất ra với tiếng hét Kiai giọng miền Nam ngắn gọn đặc thù: “Đù Mẹ mầy!” Đó là tiếng gầm của Nguyễn Minh Luân.

Hóa ra tại phòng vệ sinh nam đông đúc, trơn trợt, nồng nặc mùi a-mô-ni-ắc xú uế, Luân tình cờ nghe mấy nam sinh vừa tưới nước vừa kháo với nhau rằng có phải đã được yêu cầu rời phòng học để ai đó sắp tiến hành trừng trị trưởng lớp Hoàng Hữu Phước hay không. Thế là Luân lao ra khỏi toilet chạy bay lên cầu thang cao vút (tất nhiên, đã kéo phẹc-ma-tuya, hoặc chí ít thì cũng vừa chạy vừa kéo phẹc-ma-tuya) phi thân vào lớp tôi để hét lên một tiếng Kiai hào sảng ra tay đập thằng hữu chí cánh thành một trận. Tôi phải cản ngăn Luân lại để ngoài lổ mũi sẽ không có nơi nào khác trên mặt thằng hữu chí cánh thành có thêm dịch tiết màu đỏ hồng như hình in trên áo nó. Cần nhấn mạnh rằng cho tới lức đó tôi mới lần đầu trong đời nói chuyện với Luân, dù chỉ có một hai câu ngắn gọn.

Kể từ hôm ấy, ngày nào vào lúc ra chơi, Luân cũng đều đến lớp tôi, đứng yên ngoài hành lang lườm lườm ném qua hai khung cửa sổ những cái nhìn giận dữ, sòng sọc, hù dọa, răn đe đến các nam sinh nhà giàu thuộc nhóm hữu chí cánh thành. Luân bảo làm thế để yên tâm sẽ không còn ai dám động đến tôi, “anh” Trưởng lớp 12C1 hào hoa và đào hoa. Hóa ra, dù không quen biết tôi, Luân vẫn để ý đến mọi sự việc xảy ra tại Tân Việt là “địa bàn” mà Luân hùng cứ và không cho phép xảy ra những việc chướng tai gai mắt nhất là khi đó là những hành động dám…“lưu manh côn đồ” ra tay hạ thủ với những người mà Luân ngưỡng mộ.

Thời điểm ngày 30-4-1975, các giáo sư biến mất, các lãnh đạo và chủ nhân trường biến mất, các học sinh biến mất, Lý Quỳnh Hoa biến mất. Khi trở lại trường Tân Việt vài ngày sau đó, tôi gặp Anh Ba Châu (Nguyễn Minh Châu) là cán bộ cách mạng tiếp quản Quận 3. Nhanh chóng đánh giá con người qua “khuôn trung” chứ không qua cái gọi là “bản lý lịch” (vì lức ấy làm gì có “chính quyền” để chứng “lý lịch”), Anh Ba Châu ngỏ lời nhờ tôi giúp quản lý trường Tân Việt để giữ chân những học sinh nào còn trở lại trường, chờ Ủy Ban Quân Quản cử cán bộ quản lý giáo dục thích hợp. Toàn bộ 30 học sinh lớp 12C1 của tôi – trừ tôi – đã rời khỏi Việt Nam. Tôi chỉ tụ tập được 4 học sinh lớp khác nhưng ngang với tôi tức đã học xong lớp 12 để hình thành đội giảng viên để dạy các lớp 10 và 11 nào đã có học sinh trở lại. Tất nhiên chỉ có tôi phụ trách dạy môn Anh Văn, còn môn thứ nhì cũng là môn cuối cùng là…ca hát nhạc cách mạng thì do bốn vị học-sinh-làm-thầy-giáo kia gồm ba nam một nữ phụ trách mà tôi chỉ còn nhớ tên của Lâm Lễ Trí (luôn xách cây đàn guitar) và Hà Thị Kim Ngân (tập ca hát) hình như là học sinh lớp 12A1 tức chuyên khoa Sinh Hóa mà tôi nghe đồn rằng họ sẽ nên nghĩa vợ chồng sau khi thi đỗ Tú Tài và bước chân vào đại học. Tất nhiên 5 người chúng tôi dạy học không lương, không hưởng bất kỳ quyền lợi vật chất nào. Thứ duy nhất chúng tôi nhận được là cơ hội trở thành … lãnh đạo trẻ tuổi nhất dù của một ngôi trường nhỏ xíu xìu xiu.

Khi thấy Luân đến trình diện, tôi trổ tài tuyên giáo, đề nghị Luân ở hẳn trong khuôn viên trường để bảo vệ tài sản chờ bàn giao cho Ủy Ban Quân Quản. Thế là Luân quy tụ về dưới trướng của Luân bốn “học sinh” khác (dù tôi không chắc họ đã là “học sinh” của trường) hình thành đội bảo vệ. Tôi đến gặp Anh Ba Châu báo cáo tình hình, và xin Anh cấp cho đội bảo vệ tiêu chuẩn lương thực. Anh bảo nếu những học sinh “trông mặt mũi dữ dằn” đó được tôi tin cậy thì anh sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của tôi và chấp nhận giao cơ sở vật chất trường cho Luân và nhóm của Luân bảo vệ đêm ngày. Nhiều hôm, tôi đến trường vào buổi tối, thấy Luân chỉ đạo “quân sĩ” lấy sách báo thu được (từ những chuyến “Bài Trừ Văn Hóa Phẩm Đồi Trụy Phản Động” quanh trường kể cả khu vực Chùa Miên gần Cầu Trương Minh Giảng và quanh Chợ Trương Minh Giảng) để nhóm lửa nấu cơm. Tôi phải “làm việc” với Luân, giải thích với Luân rằng ắt do thành phần trí thức trong chính quyền quân quản thiếu trầm trọng nên ủy ban mới vì không hiểu biết mà yêu cầu thu gom tịch thu tất tần tật các sách vở có tiếng nước ngoài (kể cả từ điển và bách khoa toàn thư) hoặc tiếng Việt vì…do Việt Nam Cộng Hòa xuất bản (kể cả bản dịch tiếng Việt các tác phẩm vĩ đại như …Chiến Tranh Và Hòa Bình), nên hãy giúp tôi bảo quản các núi văn hóa phẩm quý giá tài sản nhân loại ấy, còn muốn có nhiên liệu nấu ăn thì cứ lấy báo chítạp chí ở truồng khiêu dâm như Playboy Soho mà đốt thoải mái. Luân nói Soho thì đốt được, nhưng Playboy thì khó nhóm lửa quá do bằng giấy láng khó bắt lửa và nếu bén chút lửa thì lại tạo ra khói xám bốc mùi hôi sặc sụa. Tôi bảo Luân xé vụn các quyển Playboy cho vào bao tải. Luân có tự ý cất giấu vài quyển tự điển Tiếng Anh bọc da to đùng nặng chình chịch – chắc tịch thu từ Thư Viện Anh tức The British Council Library cũng trên đường Yên Đỗ cách Tân Việt 6 căn biệt thự – và sau đó ngỏ ý muốn giao lại cho tôi vì tôi là người duy nhất gọi sách là kho tàng và là bậc …“thầy” tiếng Anh (đang dạy tiếng Anh tại Tân Việt mà!). Đến giờ tôi vẫn tiếc vì đã từ chối ý tốt của Luân, bảo Luân rằng đó là tài sản của cách mạng, hãy giữ để sau này giao cho cách mạng thành lập thư viện. Vài tháng sau, tôi vào đại học, Luân ở lại học lên lớp 12, và tôi không còn gặp lại Luân. Nhưng tôi biết cả núi sách chất đầy 57 chuyến xe ba gác đã biến mất vì các vị ban giám hiệu quản lý trường Tân Việt năm học đầu tiên của cách mạng (1976-1977) từ chối trả lời câu hỏi của tôi về số phận của kho tàng ấy, khiến tôi không thể biết chúng đã tất thành than hay thành nguồn thu cho trường từ việc bán cho vựa giấy vụn ve chai.

Học chữ bậc trung học không phải là chuyện giỡn chơi như thời 2018. Ắt Luân khó học xong lớp 12. Và bọn Tàu và bọn Kampuchea tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược ở toàn tuyến biên giới phía Bắc và toàn tuyến biên giới phía Tây Nam, khiến bao đấng hùng anh và trang hảo hán Việt Nam phải hy sinh trên chiến trường vệ quốc. Tôi không rõ hảo hán Nguyễn Minh Luân đã ra sao.

Minh Luân thân mến, tôi tự hào đã được một trang hảo hán Sài Gòn trượng nghĩa – người mà thế giới bình dân thành thị gọi là dân “anh chị bự” Sài Gòn – như Luân bảo vệ, được Luân nghe theo lời khuyên để ra sức giữ gìn tài sản cho cách mạng trong những tháng đầu giải phóng.

Tôi không rõ Minh Luân nếu sống còn qua cuộc chiến tranh tàn khốc chống bọn giặc Tàu chó đẻ và bọn giặc Kampuchea chó ghẻ, đã có cuộc sinh nhai sinh tồn ra sao tại Thành Phố Hồ Chí Minh hay ở miền quê nào đó.

Anh mong sao những khó khăn – nếu có – trong cuộc sống của em đã không khuất phục được em trong thủa hòa bình này, dù chính thời bình đầy ngán ngẩm lắm vô duyên này không ủ ấp trong nó mầm xanh tươi tỏa lan hy vọng và sự cao thượng như từng hun đúc từ tàn phá hủy diệt của chiến tranh.

Nếu em còn sống trên đời – và anh cầu mong như vậy – hãy bảo con cháu của em viết cho anh vài chữ, Luân nhé.

Nếu em đã hy sinh hoặc quy tiên, bài viết này sẽ như nén hương thô dâng tặng em  với lòng tưởng nhớ chân thiết về em và những điều trượng nghĩa em đã làm để bảo vệ anh, người yếu thế, tay hàn sĩ trói gà không chặt.

Cuộc đời anh ắt đã không phải gặp quá nhiều những điều bĩ cực, nếu như anh đã được bảo vệ bởi nhiều hơn những người dân “nghèo, dữ dội, và trượng nghĩa” Sài Gòn thứ thiệt như em, Nguyễn Minh Luân ạ.

Cảm ơn em, trang hảo hán Sài Thành.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa

Tham khảo:

Lý Quỳnh Hoa  04-01-2018

Đinh Thị Mai Trâm  21-01-2018

Luật Đặc Khu – Phần 2

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nhà Lập Pháp & Lập Hiến Khóa XIII Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

01-10-2018

 LDK2LuatDacKhu2 (1)

Dẫn Nhập Cho Phần 2

Một tên tiến sĩ óc bùn đại ngu khi trả lời phỏng vấn của Tuổi Trẻ, một tờ báo chính thống đại đại ngu của Đảng Cộng Sản Việt Nam từng dám cả gan tấn công nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, đã nói về sự cố bạo loạn gây ra từ Luật Đặc Khu rằng: “Luật đặc biệt nhưng giải thích không rõ nên dân bức xúc”.

LuatDacKhu2 (2)

Tên đại ngu trên đang là nghị sĩ Khóa XIV Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh mà sự tồn tại của nó trong Quốc Hội đã trở nên khét tiếng qua các chi tiết như đã nêu tại Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Tên đại ngu trên còn đang là cố vấn cho Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc. Khoan nói đến việc một tên đại bất tài đại vô dụng đại vô hạnh như nó mà tư vấn kinh tế cho Thủ Tướng thì đất nước này chỉ có con đường duy nhất là suy vong suy kiệt suy tàn về kinh tế, chỉ cần qua lời phát biểu ngu đần của nó đã thấy lồ lộ bốn điều kinh khủng rằng:

(a) nó bất tài vô dụng không hề biết gì về những hiễm họa khôn lường trong cái gọi là Luật Đặc Khu để tư vấn cho Thủ Tướng các biện pháp phòng ngừa/hóa giải/tuyệt trừ mà cái khả năng thấu thị ấy thì bất kỳ ai thực sự thuộc tầm cỡ cố vấn nhà nước loại kinh bang tế thế dứt khoát phải sở hữu dưới dạng thiên phú tức có-không-do-thọ-giáo-từ-bất-kỳ-ai-khác, rằng

(b) nó bất tài vô dụng không hề phát biểu hoặc – như Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hay làm là – gởi thư cho lãnh đạo Quốc Hội để cảnh báo về những hậu quả khôn lường về an ninh quốc gia chắc chắn sẽ xảy ra nếu nó và đám người ngợm như nó không biết phải giúp Đảng và Quốc Hội giải thích về Luật Đặc Khu như thế nào cho người dân khỏi bức xúc, rằng

(c) nó dám xúc phạm toàn dân tộc khi ám chỉ rằng dân trí của dân tộc Việt Nam này kém đến độ thông tin về Luật Đặc Khu được in bằng tiếng Việt mà vì đọc vẫn không hiểu gì sất nên mới bức xúc làm loạn, và rằng

(d) nó dám bao che cho bọn lưu manh phản loạn bằng cách đổ tất tần tật lỗi cho sự “giải thích không rõ” mà toàn Đảng, toàn Chính Phủ, toàn Quốc Hội phải chịu tội về cái sự “giải thích không rõ” ấy.

Ở một xó xỉnh khác thì một tên thạc sĩ óc sình đại đần nghị sĩ Đoàn Thành Phố Hồ Chí Minh Khóa XIV – lại là Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng! – khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo chính thống khác đã tư vấn rằng “nên làm trước một đặc khu để rút kinh nghiệm”.

LuatDacKhu2 (3)

Tên nghị sĩ đại đần này phải chăng muốn ám chỉ rằng:

(a) cái đặc khu kinh tế đầy quan trọng vì phải thọ nhượng biết bao tài nguyên hữu hình tangible như cảnh quang thiên nhiên và tài nguyên vô hình intangible như toàn bộ hệ thống luật pháp hiện hành của quốc gia và tương lai bất định/vô định/phi định của cả dân tộc lại có thể cứ hoạt động mà không cần phải có bộ luật chính thức về đặc khu kinh tế hay sao, rằng

(b) cái đặc khu kinh tế mà muốn có nó thì Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải bỏ ra toàn bộ của cải kho tàng ngân khố quốc gia để xây dựng thành thiên đường vật chất tuyệt mỹ hạ giới trước để dâng cho nhà đầu tư tà tà bước vô hưởng thụ vui chơi trác táng cờ bạc đỉ điếm trong “99 năm” lại chỉ để rút kinh nghiệm sau “99 năm” – hoặc 98 năm – ư, và rằng

(c) nếu như sau “99 năm” có cuộc tụ họp đại hội nghị ở tòa nhà Quốc Hội đúc rút kinh nghiệm mà thấy thất bại thì Quốc Hội sẽ hùa nhau tuyên bố hủy bỏ kế hoạch thông qua Luật Đặc Khu rồi kéo nhau đến mộ phần những đứa nào trong Trung Ương Đảng Cộng Sản, những đứa nào trong Chính Phủ, những đứa nào trong Quốc Hội mà cách đó “99 năm” – hay 98 năm – đã cổ súy cho cái Luật Đặc Khu, để chưởi cha vào bia mộ của chúng hoặc tổ chức đóng xiềng xích sắt quanh mộ của chúng – y như kiểu Nhà Nguyễn đã hành xử đối với mộ phần Lê Văn Duyệt – do có đại tội với nhân dân đã làm mất sạch của dân tộc toàn bộ kho tàng ngân khố quốc gia và đại tội chuyển hóa thời gian “99 năm” – hay 98 năm – thành rác thải ư?

Vì vậy, (a) trước sự ngu-muội-có-pa-tăng-cầu-chứng-tại-tòa-thương-mại-quốc-tế của hai tên nghị sĩ nêu trên của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh khét tiếng, (b) trước thực tế không bao giờ có chuyện người dân Việt Nam do dân trí thấp đã không hiểu cái dự án Luật Đặc Khu nó nói cái gì và đặc biệt chỗ nào mà Toàn Đảng/Toàn Chính Phủ/Toàn Quốc Hội khinh rẻ dân chúng chẳng thèm giải thích nên bức xúc vùng lên đốt phá, và (c) cũng như trong Phần 1 của bài Luật Đặc Khu có giải thích kỹ về mọi ngóc ngách của ngôn từ như một thói quen cố hữu – dù khi viết hay nói bằng tiếng Anh hay tiếng Việt – mang tính chuyên-cá-nghiệp personal professional signature  của Thầy Phù Thủy Ngôn Từ Hoàng Hữu Phước, Phần 2 này có tiêu đề “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” cũng không thể không cần đôi lời giải thích như dưới đây.

Ở đây, tiêu đề được đặt ở trên là “Luật Đặc Khu Tại Việt Nam” chứ hoàn toàn không phải và không đồng nghĩa với “Luật Đặc Khu Của Việt Nam” đơn giản vì tác giả bài viết này chưa hề cầm trong tay bản copy nào của cái dự thảo luật ấy để đọc xem nó tròn méo như thế nào. Ngay cả khi có toàn văn bản dự thảo ấy trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật của Giám Đốc Luật Sư Vũ Ngọc Dũng là vị tôi trước đây hay xướng họa thơ ca trên trang mạng doanh nhân Emotino thì tôi cũng không click vào để đọc xem cái dự thảo luật ấy nó tròn méo ra sao.

Lý do của “chưa hề cầm trong tay bản dự thảo ấy để đọc xem nó tròn méo ra sao” vì như đã nêu trong bài viết trước đây về chi phí hàng năm cao khủng khiếp của Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh cho khâu in ấn các dự thảo dự án luật để gởi sâu rộng đến các cơ quan/ban/ngành/đoàn thể/địa phương để lấy ý kiến đóng góp sâu rộng của chuyên gia và các tầng lớp nhân dân cho từng dự thảo dự án luật rồi Văn Phòng tổng hợp chuyển tải cho Thường Vụ Quốc Hội nghiên cứu xem xét hoàn thiện dự án luật, thế nhưng kể từ khi kết thúc nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII chưa bất kỳ một bản in nào như thế được Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh gởi đến Nghị sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước cả – tất nhiên, bảo đảm các nghị sĩ khác của các khóa tiền nhiệm đều đã và đang nhận được các bản photocopy các dự thảo dự án luật ấy do các ông các bà nghị sĩ này là đảng viên chức sắc cao cấp của Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh trong khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là nghị sĩ ngoài Đảng.

Trên là chi tiết đơn giản nhất giải thích vì sao tiền của của nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã đổ sông đổ biển trong rất rất nhiều thập kỷ qua, mà bằng chứng hiển nhiên nhất là do cái dự thảo dự án Luật Đặc Khu ấy dù tiêu tốn tỷ tỷ tiền thuế của người dân để “lấy ý kiến” của người dân và các ban ngành đoàn thể Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn lồ lộ cái tiêu cực hiển nhiên của

(a) hao tốn điện/giấy/mực/môi sinh/bưu gửi,

(b) ắt có sự gia tăng thu nhập của cơ sở in ấn lợi ích gia đình – nếu như sự in ấn được thực hiện bên ngoài Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh,

(c) tất cả các ý kiến đóng góp của đại diện các ban/ngành/đoàn thể tại buổi họp ở Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh – tức những người dự họp đều có nhận phong bì tiền bồi dưỡng – đều vô bổ và vô ích vì té ra chả có gì ra hồn để “chuyển tải” ra chốn Nghị trường Quốc Hội cả, mà bằng chứng lồ lộ là cái nguyên nhân chính được chính mồm một tên nghị sĩ Khóa XIV của Thành Phố Hồ Chí Minh nêu lên trên báo nhằm lý giải cho sự thúc thủ (tức bó tay chịu trận) toàn diện – may mà  chưa thất thủ (tức bị lật đổ) – của Thành Phố Hồ Chí Minh và những tỉnh có “biểu tình” là do người dân chưa nắm rõ hay hiểu biết rõ về cái Luật Đặc Khu ấy;

(d) tất cả các bài vở thông tin trên báo chí về Luật Đặc Khu đã đều vô bổ và vô ích vì té ra ngay tại Thành Phố Hồ Chí Minh cực lớn và tại vài tỉnh có danh tiếng đã có nhũng cuộc “biểu tình” làm ô danh chính quyền, hóa ra báo chí Việt Nam chính thống tại Thành Phố Hồ Chí Minh rõ ràng hoàn toàn thất bại, hoàn toàn vô dụng, hoàn toàn là thứ vất sọt rác, không còn là vũ khí chính trị ra hồn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thông tin, giáo dục, tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân của Thành Phố Hồ Chí Minh ủng hộ các quyết sách của Đảng, nên mới có chuyện càng đọc báo giấy và báo mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam người dân càng chẳng hiểu gì hết về Luật Đặc Khu và luật pháp nói chung nên mới bức xúc rồi tự do biểu tình tự do đốt phá.

Vì tất cả các vấn nạn trên, các nội dung bình thường sau xin khép nép được rón rén nêu ra đây trên trang blog bình dân này cho công luận đồng bào nghiền ngẫm cuộc vuông tròn của vấn đề Luật Đặc Khu tại Việt Nam, còn để vấn đề Luật Đặc Khu của Việt Nam tôi xin nhân đây giao nhiệm vụ cho các nhân-sĩ-trí-thức-tiến-sĩ-thạc-sĩ là đảng viên của Đảng đang hiện diện lúc nhúc trong các viện/cơ quan hoành tráng sang trọng của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ phải giải thích cho quốc dân đồng bào được rõ.

Phần 2

Luật Đặc Khu Tại Việt Nam

A- Thế Nào Là Đặc Khu Kinh Tế

1) Đặc Khu Kinh Tế Là Gì?

Đặc Khu Kinh Tế thoát thai từ cụm từ tiếng Anh Special Economic Zone viết tắt là  SEZ.

Đặc Khu Kinh Tế (viết hoa, với chữ viết tắt là SEZ) ở trên là theo phạm trù từ nguyên học.

Còn theo thực tế ngữ nghĩa học thì đặc khu kinh tế tức khu kinh tế đặc biệt (viết thường, không viết tắt là SEZ) đã xuất hiện từ lâu, lan tràn, rộng khắp, và dưới các tên gọi quen thuộc khác nhau như Free Port FP, Free Zone FZ, Bonded Area, Foreign-Trade Zone hoặc Free Trade Zone FTZ, Free Economic Zone FEZ, Free Economic Territory FET, Export Processing Zone EPZ, Special Customs Control Area, Customs Zone, hay International Zone, v.v. và v.v. Trong rừng tên gọi trên, ắt đại đa số người Việt nhận ra ngay cái khu kinh tế đặc biệt mang tên Export Processing Zone EPZ (tức “khu chế xuất”) đã có mặt ở Việt Nam từ nhiều thập kỷ nay. Trong khi đó, dù Hoa Kỳ có hơn 230 khu kinh tế đặc biệt chính với 400 khu kinh tế đặc biệt phụ mà khu đầu tiên xuất hiện năm 1937, họ vẫn cứ vui vẻ với tên gọi tiếng Anh Foreign-Trade Zone FTZ, tức Khu Ngoại Thương, với một phong cách triết nhân rằng con người hay dùng thời gian nhàn rỗi của kẻ thất nghiệp để đẻ ra các tên gọi mỹ miều, biến thiên từ manager sang general manager sang director sang managing director sang general director sang cái mới nhất là CEO cho oách rồi sang cái quái gì nữa thì cũng chỉ là tên gọi khác nhau của anh giám đốc, mà cái chính duy nhất là công ty có ra chi không, và tương tự, cái khu kinh tế đặc biệt có ra chi không chứ chẳng phải nó nên có chữ tiếng Anh viết tắt là gì, EPZ, FTZ, hay mới nhất là SEZ cho thật oách mà chỉ để lùng bùng lổ tai.

Thế là sau thời gian dài loài người tạo ra hết hình thức khu kinh tế đặc biệt này đến khu kinh tế đặc biệt kia, người Tàu không cam tâm bắt chước thiên hạ nên đã ra sức  kiếm tìm, thiết kế, rồi hình thành một hình thức mới khác của khu kinh tế đặc biệt và lần này họ đặt tên là Special Economic Zone SEZ mà tiếng Việt dịch sát nghĩa đen luôn thành Đặc Khu Kinh Tế với nội hàm chủ đạo rằng cả công việc kinh doanh và luật pháp kinh doanh đều khác biệt so với phần còn lại của quốc gia.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ là một khu vực trong một quốc gia, bản thân nó có những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt so với luật pháp chung/chính/chuẩn của chính quốc gia đó. Những luật pháp riêng biệt, khác biệt, chuyên biệt như vậy nhằm – và chỉ nhằm – thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, với món quà ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng mang tên nhà đầu tư đương nhiên được giảm thuế rất rất nhiều và nhà đầu tư đương nhiên gia tăng thu nhập cùng lợi nhuận rất rất nhiều.

Sự khác biệt giữa các Đặc Khu Kinh Tế SEZ và các khu kinh tế đặc biệt là ở chỗ:

(a) Các khu kinh tế đặc biệt có trước các Đặc Khu Kinh Tế SEZ;

(b) Các khu kinh tế đặc biệt ở Việt Nam không được gọi là đặc khu kinh tế, mà được gọi theo cách dịch ra tiếng Việt các cụm từ tiếng Anh của EPZ trong tập thể các cụm FP, FZ, FTZ, FEZ, FET, EPZ, v.v.

(c) Các khu kinh tế đặc biệt cũng nhận được các ưu tiên ưu ái ưu đãi ưu hạng về thuế và lợi nhuận nhưng phải hoạt động bên trong tường rào của một khu đất riêng mà theo địa giới hành chính địa phương được gọi là “Khu”, trong khi các Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoạt đông tại một vùng mà theo địa chính trị trung ương quốc gia được gọi là “Đặc Khu”;

(d) “Khu” của các khu kinh tế đặc biệt có một “ban quản lý” do địa phương của thành phố hay tỉnh lập nên các “Khu” ấy cử đến làm công tác quản lý bình thường của các công chức cấp cao bình thường; trong khi Đặc Khu Kinh Tế SEZ có “ban lãnh đạo” với luật pháp riêng; và

(e) Các nhà đầu tư tại các khu kinh tế đặc biệt chỉ có những nghĩa vụ về trả tiền thuê đất, đóng thuế – kỳ dư, không có bất kỳ quyền hành nào khác vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp chung của nước sở tại; trong khi đó, các nhà đầu tư tại các Đặc Khu Kinh tế SEZ được hành xử quyền hạn vượt ngoài sự điều chỉnh của luật pháp

2) Đặc Khu Kinh Tế SEZ Trên Thế Giới Có Giá Trị Gì?

(a) Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên:  Như đã sơ giải ở trên, Đặc Khu Kinh Tế SEZ đầu tiên trên thế giới được cho là do Trung Quốc hình thành tại Shenzhen (Sen Gien – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Thâm Quyến” hoặc “Thẩm Quyến”) dưới thời Deng Xiaoping (Đen Xạo Bình – không hiểu sao Việt Nam tự tiện gọi là “Đặng Tiểu Bình”) vào những năm đầu của thập kỷ 1980. Mô thức này thành công vượt bậc và dần được lũ lượt noi theo bởi Ấn Độ năm 2007 và lan ra nhiều nước trên thế giới.

(b) Sự Bùng Nổ Của Các Đặc Khu Kinh Tế SEZTheo số liệu không đồng nhất về năm thống kê ở từng quốc gia thì đơn cử vài ba  nước sau có nhiều Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Tên Quốc Gia  –  Số Lượng Đặc Khu Kinh Tế SEZ  – Ghi Chú

Bangladesh   46

Cambodia     22

Ấn Độ          187    ngoài 634 SEZ đã được cấp giấy phép thành lập

Philippines   208

Ba Lan          44

Thái Lan       14

Ukraine         12

(c) Chủ Nhân Các Đặc Khu Kinh Tế SEZCần lưu ý rằng nhiều quốc gia khác như Bắc Hàn (Triều Tiên), Cuba, Congo,  Indonesia, Iran, Jamaica, Malaysia, Mexico, Myanmar, Nigeria, Pakistan, Panama, Ai Cập, Hy Lạp, v.v. mỗi nước đều có từ 1 đến vài chục các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động. Tuy nhiên, nhiều quốc gia trong đó đơn cử Uzbekistan và Zambia có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nhưng tất cả nằm hoàn toàn trong tay Trung Quốc vì không bất kỳ nhà đầu tư quốc tế nào khác chịu tìm đến “đầu tư” cả.

(d) Tên Gọi Đặc Khu Kinh Tế SEZ:  Cũng cần lưu ý rằng hơn 70 quốc gia khác (8 ở Châu Phi, 19 ở Châu Á, 29 ở Châu Âu, và 14 ở Châu Mỹ) trong đó có nhiều cường quốc và siêu cường quốc đơn cử như Hàn Quốc, Anh, Nga, và Hoa Kỳ đều không màng đến việc mở ra cái gọi là Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì họ xem những khu kinh tế đặc biệt đang có mà họ gọi là Khu Kinh Tế Tự Do/Khu Kinh Tế Ngoại Thương FEZ là đã quá đủ cho đại cuộc chấn hưng kinh tế nước nhà. Ngay cả một tiểu quốc như Bahamas nằm trong số các quốc gia giàu nhất Châu Mỹ cũng tự hào có Khu Kinh Tế Tự Do FEZ tên Freeport thành lập từ năm 1955 mà không hề đoái hoài đến việc bắt chước dựng xây Đặc Khu Kinh Tế SEZ mô hình Trung Quốc.

(e) Những Đặc Khu Kinh Tế SEZ Như Shenzhen Thành Công Như Shenzhen: Điều oái oăm là không bất kỳ ai có thể nêu tên một Đặc Khu Kinh Tế SEZ nào khác thành công tương tự cái SEZ tại Trung Quốc, trong số hơn 4300 Đặc Khu Kinh Tế SEZ đang hoạt động trên toàn cầu cả.

(f) Tuyên Bố Của Chuyên Gia Về Số Phận Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: Nhà tư vấn chính sách quốc gia Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước cả quyết rằng Đặc Khu Kinh Tế SEZ hoàn toàn không có giá trị chung đồng nhất đồng dạng đồng phục trên toàn cầu. Mục A.2.b. ở trên chứng minh hùng hồn rằng số lượng nhiều trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở một quốc gia không hề làm quốc gia ấy cường thịnh mà trái lại dường như đẩy chính quốc gia đó vào nẽo đường vô định bấp bênh.

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được đặt kỳ vọng sẽ cuốn hút đầu tư nước ngoài, phát triển kỹ nghệ nội địa, và thúc đẩy cải cách thể chế, mà tất cả nhằm đến sự tham gia tích cực vào nền kinh tế toàn cầu. Nhân tố hỗ trợ sự thành công của SEZ bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam có chấp nhận mô thức quyền lực cai trị độc lập và khuôn khổ pháp luật độc lập áp dụng cho nhân vật được phân công quản lý một Đặc Khu Kinh Tế SEZ; và (ii) nếu không chấp nhận nguy cơ phát sinh nhà nước trong nhà nước/chính quyền trong chính quyên/lãnh thổ trong lãnh thổ từ thói quen táy máy tiêu cực lạm quyền của tuyệt đại đa số các cán bộ cao cấp một khi lọt thỏm vào môi trường quyền lực kinh tài, liệu Việt Nam sẽ hủy bỏ kế hoạch Đặc Khu Kinh Tế SEZ, biến đổi SEZ thành một mô thức mới với tên mới, hay chấp nhận sự tham vấn của chuyên gia Hoàng Hữu Phước như nêu ở phần D dưới đây về hình thức SEC?

B- Đảng Cộng Sản, Chính Phủ, Và Quốc Hội Việt Nam Đã Sai Ra Sao Đối Với Dự Án Luật “Đặc Khu Kinh Tế?

1) Sai Về Nhận Thức Thực Tế

Trước sự thành công của Trung Quốc khi đẻ ra mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ với cái tên Shenzhen chấn động thế giới kinh tài, hầu như quốc gia nào cũng cố mở ra cho mình ít nhất là một SEZ. Thậm chí có những quốc gia mở từ 200 SEZ trở lên ở nước mình, trong đó có Ấn Độ là nước đang sở hữu bom nguyên tử và Philippines quốc gia công giáo đang dưới quyền cai trị của vị tổng thống từng chửi “đù mẹ Đức Giáo Hoàng”.

Việc Việt Nam bắt chước mở SEZ sau thiên hạ cho thấy đã có sự cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu phục vụ quốc gia đại sự chỉ có thể được tiến hành bởi những đấng anh tài trí hóa cao, trong khi Đảng chỉ có các viện nghiên cứu hoành tráng có nhiều bàn ghế cho nhiều người ngồi làm việc mà tất cả những người này không ai là bậc anh tài trí hóa cao, mà bằng chứng là Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội đã bị dắt mũi vào mớ lùng nhùng rối ren rối rắm rối tung rối loạn của dự án Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Thực tế Shenzhen thành công đã cung cấp 6 thực tế sau mà tiếc thay chỉ có Hoàng Hữu Phước nhận ra được từ lâu:

a) Thực Tế 1: Chỉ Có Shenzhen Của Trung Quốc Thành Công

Trên blog Aspiration của nền Yahoo!3600 của Hoàng Hữu Phước cách nay 20 năm viết các tiểu luận kinh tế/chính trị/giáo dục/xã hội/kinh doanh chỉ bằng tiếng Anh, thì bài “People Say Chindia, I Say Vietnam” (tạm dịch: Quý Vị Cứ Khen Chindia! Tôi Khuyên Quý Vị Nếu Khôn Hãy Vào Việt Nam!) nêu rõ nhận định của Hoàng Hữu Phước rằng giới hàn lâm quản trị kinh doanh quốc tế Âu Mỹ đã hoàn toàn sai khi đánh giá Trung Quốc và Ấn Độ (China + India = Chindia) là hai thị trường duy nhất mà giới sản xuất tư bản toàn thế giới nên đổ xô vào ngay để chụp lấy thời cơ vàng lúc hai nước bảo thủ này trải thảm đỏ mở toang cửa mời đón đầu tư. Thời cơ vàng ấy là: sản xuất tại Chindia với ưu đãi về thuế quan thấp với lượng “khách hàng” sẵn có tại chỗ mỗi nơi có hàng tỷ người dân, khỏi phải đi bán ở đâu xa. Hoàng Hữu Phước đã biện giải rằng đó là nhận định ngu xuẩn của giới hàn lâm Âu Mỹ, vì rằng việc đổ xô vào Chindia sẽ dẫn đến hai nghịch lý và một kết luận sau:

(i) Ấn Độ thất bại và Âu Mỹ thất bại vì môi trường văn hóa đặc thù của Ấn tự thân chất chứa những bất an xung đột thường trực thường xuyên về chính trị/xã hội/tôn giáo/an ninh, chưa kể mưu lược của Ấn chỉ nhằm vào điều “sản xuất thay thế nhập khẩu” mà Hoàng Hữu Phước luôn cho là ngu đần tự hủy, còn tư thế của Ấn Độ luôn cho rằng ta đây giỏi giang uy trấn thiên hạ nên luôn xét nét các hoạt động của nhà đầu tư hải ngoại, cộng với việc lãnh đạo quốc gia hoặc không có thực quyền, hoặc có quyền hạn luôn bị các đảng đối lập chính trị thách thức gây cản trở hoặc dọa đe thay thế;

(ii) Trung Quốc thành công và Âu Mỹ thất bại vì thuận lợi tuyệt hảo của Trung Quốc là ở chỗ chính quyền Trung Quốc nắm toàn quyền lãnh đạo quốc gia, tạo thế ổn định tuyệt đối về chính trị mà Hoàng Hữu Phước khi trả lời phỏng vấn của Đài Châu Á Tự Do kể cả khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và gần đây là trả lời phỏng vấn của Đài Phố BolsaTV đã từng nêu rằng các nhà đầu tư Mỹ ưa chuộng sự ổn định chính trị, không có biểu tình bạo loạn ở Việt Nam và do đó sẽ giúp Việt Nam nắm bắt thông tin tình báo hầu đập tan các manh động của bọn chống Cộng nhằm gây rối loạn tại Việt Nam gây hại cho đại cuộc làm ăn của họ. Suy ra tương tự, Âu Mỹ hóa ra giúp sức cho Trung Quốc ổn định hơn, dần có uy hơn trên trường kinh tế thế giới một khi hàng hóa hàng hiệu Âu Mỹ tràn ra thế giới với dòng chữ Made in China vinh diệu. Còn mưu lược của Trung Quốc dễ thành công ở chỗ Trung Quốc trong tư thế hoàn toàn yếu về sản xuất công nghiệp và sản xuất tiêu dùng nên các nhà đầu tư tiến vào đã mất cảnh giác khi thấy mình được kính trọng và mình đến để truyền dạy kinh nghiệm của các bậc thầy. Các dự án đầu tư đều ở quy mô từ lớn đến rất lớn đã nhanh chóng đem đến các nhà đầu tư nước ngoài những nguy cơ loại một lần và mãi mãi tức mang hệ lụy kết liễu như bổng dưng giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu lực lượng lao động khổng lồ có tay nghề cao, còn việc ăn cắp công nghệ tại các nhà máy Âu Mỹ đang mọc lên hơn nấm giúp Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều xuất hiện các tổ hợp sản xuất hoặc các công ty tư nhân nội địa tung ra các sản phẩm có thiết kế tương tự với quảng cáo chúng tốt hơn các sản phẩm của các nhà máy Âu Mỹ và ở mức giá hủy diệt; và khi đã mất khách hàng thì các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải bán tháo bán đổ nhà xưởng thiết bị chạy khỏi Trung Quốc khiến Trung Quốc chỉ trong một sớm một chiều sở hữu các nhà máy hiện đại sản xuất hàng hóa tung ra tràn ngập ASEAN, vừa biến Trung Quốc chính thức thành quốc gia công nghiệp hàng hóa hiện đại lấn chiếm thị trường hàng hóa từng có của các hãng thương hiệu lớn của Âu Mỹ, vừa lũng đoạn khống chế thị trường hàng hóa các nước ASEAN, biến Trung Quốc chính thức thành cường quốc kinh tế,bước đầu cho đại cuộc biến đồng Nhân Dân Tệ thành đồng tiền tự do chuyển đổi trong giỏ tiền tệ của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB, ngang hàng với các Đồng Mỹ Kim, Đồng Đức Mã, Đồng Bảng Anh, Đồng Phật Lăng, và Đồng Yên Nhật, v.v.

(iii) Trung Quốc thành công và Việt Nam thất bại vì mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ là do Trung Quốc đề ra trên cơ sở quyền năng thực tế, quyền năng tiềm tàng, quyền lực thực tế, quyền lực tiềm tàng của riêng Trung Quốc trong thế lực tuyệt hảo của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, vào đúng thời điểm các siêu cường Âu Mỹ đột nhiên ngu xuẩn rơi vào bẫy của thiên định rằng phải ngu xuẩn để tạo đà cho sự vùng lên của Trung Quốc. Mô hình ấy hoàn toàn không phù hợp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Bài tập cho trận đấu của võ sĩ quyền anh hạng nặng hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp tham dự Grand Slam không bao giờ dành cho trẻ em mười tuổi tập quyền anh tại nhà văn hóa thiếu nhi Thành Phố Hồ Chí Minh hoặc tuyển thủ tennis đẳng cấp Challenger. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Trung Quốc phát triển đè bẹp thế giới trong đó có Việt Nam. Đặc Khu Kinh Tế SEZ là để Việt Nam mời mọc thêm các đầu tư nước ngoài mà “nước ngoài” ấy có cả Trung Quốc vốn sẽ đương nhiên chiếm lĩnh vị trí hoặc mạnh nhất hoặc độc tôn khi lấy thịt đè người đuổi xua toàn bộ các nhà đầu tư các nước khác ra khỏi các SEZ ấy của Việt Nam.

b) Thực Tế 2: Không Nên Có Các Đặc Khu Kinh Tế SEZ Ở Bất Kỳ Quốc Gia Nào Khác

Từ thực tế số 1 ở trên, có thể nói Đặc Khu Kinh Tế SEZ do Trung Quốc khai sinh chỉ có thể thành công tại Trung Quốc. Sự thành công tương tự Shenzhen có thể lặp lại tại tối đa từ một đến hai SEZ khác cũng tại Trung Quốc với điều kiện những SEZ này cũng xuất hiện hoặc cùng thời hoặc không có khoảng cách lớn về thời gian so với Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mạnh mẽ sắt máu như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có chính quyền mưu lược và có thế mạnh kinh tài tự thân như chính quyền Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có lượng khách hàng nội địa khổng lồ như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực đàm phán “ngang cơ” với các siêu cường trong giải quyết các vấn đề địa chính trị như Trung Quốc, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như không có năng lực trấn áp làm chủ khu vực về kinh tế như Trung Quốc đối với ASEAN, không thể có các SEZ thành công tương tự Shenzhen.

Vì vậy, nếu như thiên hạ sau khi đọc các phân tích này của Hoàng Hữu Phước, sẽ hoặc không đoái hoài đến các SEZ ở Việt Nam hoặc sẽ tận dụng các ưu ái ưu đãi ưu tiên của Việt Nam để vào Việt Nam hưởng thụ, hưởng lợi, rửa tiền, bần cùng hóa Việt Nam, thay đổi chế độ Việt Nam trước thời điểm “99 năm” chỉ bằng cách rời bỏ các SEZ sau vài năm nghĩa là khiến Việt Nam sụp đổ về kinh tế do mất trắng toàn bộ ngân khố ngân sách quốc gia đã bỏ vào đầu tư hạ tầng cho các SEZ và phải chịu khối nợ công khổng lồ của quốc gia, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ, biến Việt Nam con nợ thành một thứ “chư hầu” hoặc của chủ nợ Mỹ hoặc của chủ nợ Tàu hoặc của bất kỳ ai – kể cả Cambodia – mà đã từ lâu họ không còn quan tâm đến việc mở các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì Đảng/Chính Phủ/Quốc Hội Việt Nam nay trước các thấu thị của Hoàng Hữu Phước có sẽ làm một việc duy nhất đúng là quẳng dự án Luật Đặc Khu vào sọt rác hay không?

c) Thực Tế 3: Shenzhen Thành Công Vì Không Có 4.0

Cuối cùng, song lại có tính thời sự bậc nhất: Shenzhen thành công nhờ là một SEZ của các tập trung đầu tư vào những phạm vi công nghệ kỹ thuật của thời đại cách xa thời 4.0. Cần lưu ý rằng không phải cứ do Đen Xạo Bình Deng Xiaoping chi đạo là các Đặc Khu Kinh Tế SEZ cùng thời và cùng khu vực với Shenzhen như Zhuhai, Shantou và Xiamen tức ven bờ biển phía Nam gần Hong Kong và Macao, cũng thành công tương tự Shenzhen.

Từ một làng chài với dân số chưa đến 30.000 người, Shenzhen trở thành một thành phố với 12 triệu dân theo số liệu năm 2015. Như vậy, dân số gia tăng đáp ứng nhu cầu lao động tại các cơ sở sản xuất chế tác y phục, đồng hồ, nữ trang, thiết bị điện tử, kim khí điện máy, v.v., tức những ngành có nhu cầu từ cao đến rất cao về lực lượng lao động.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) những ngành Việt Nam đang tưởng tượng ra rằng các nhà đầu tư sẽ mang vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam là gì, có thuộc loại cần nhiều lao động không; (ii) có cần phải dành cho họ sự ưu đãi kéo dài “99 năm” cho các ngành nghề đó không; và (iii) nếu các Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Việt Nam thành công thành công đại thành công thì quy mô hạ tầng của Bắc Vân Phong, Vân Đồn, và Phú Quốc sẽ cơi nới lấn ra như thế nào khi dân số “đất lành chim đậu” tăng lên mỗi nơi hàng chục triệu con người như Shenzhen? Trung Quốc phát triển SEZ để biến làng chài thành thành phố vĩ đại tầm cỡ trung tâm tài chính thế giới. Việt Nam xây dựng SEZ để có các sòng bạc và động đĩ phục vụ 4.0 chăng?

d) Thực Tế 4: Shenzhen Không Phải Là Thiên Đường

Shenzhen đang đối mặt với những vấn nạn nhức nhối về nhân mãn với 9 triệu dân lao động nhập cư, và nhiều dân ngụ cư bất hợp pháp, tệ nạn tham nhũng, tình trạng ô nhiễm môi sinh, sự mọc lên các khu ổ chuột, điều kiện lao động tệ hại, và sự bất lực của chính quyền trong xử lý các vấn nạn này. Thậm chí, cách xử lý bao gồm cả biện pháp ngăn chặn gia tăng nhập cư bằng cách bãi bỏ các cắt giảm thuế từ năm 2000 khiến từ dạo ấy đã không còn tồn tại khái niệm hay ý niệm gì về Đặc Khu Kinh Tế SEZ ở Shenzhen. Với một Trung Quốc phát triển kinh tế toàn diện và đa dạng, các Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã không còn có ý nghĩa gì trong thực tế.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) Việt Nam phải chăng đang quan tâm đến cái thứ mà ngoài Shenzhen chưa có bất kỳ SEZ nào khác trên toàn thế giới thành công tương tự, và (ii) Việt Nam với những nhà lãnh đạo tài ba như của Thành Phố Hồ Chí Minh bó tay thúc thủ – không phải thất thủ – trước kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch nhưng sẽ đột biến trở thành nhà lãnh đạo “mĩu” tài ba thực thụ nếu được Đảng treo trước mặt miếng mỡ to tướng mang dòng chữ SEZ đảm bảo cái vấn nạn muôn đời của kẹt xe/ngập đường/xuống đường/ô nhiễm/cướp đất của dân/thủ tiêu bản đồ quy hoạch sẽ là chuyện lạ của ai khác chứ không phải của lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ?

e) Thực Tế 5: Shenzhen Thành Công Vì Là Đối Trọng Ý Chí Quyền Lực Của Trung Quốc Với Hong Kong

Đặc Khu Kinh Tế SEZ được khai sinh tại Trung Quốc dựa theo chiến lược tạo nên một đối trọng mang tính ý chí quyền lực đầy ngạo nghễ đối với Hong Kong, làm hạ phẩm giá của Vương Quốc Anh và thế giới tư bản phương Tây khi cận kề thời diểm giao trả “nhượng địa” Hong Kong cho Trung Quốc. Ý chí quyền lực không bao giờ là vũ khí của bất kỳ ai. Lịch sử nhân loại đã chứng minh ý chí quyền lực chỉ có nơi những nhà độc tài bẩm sinh. Thế thì, ý chí của Việt Nam là gì, và liệu đó có phải là xây dựng Phú Quốc thành một đối trọng với Singapore? Thế còn Vân Đồn là đối trọng với ai, và Bắc Vân Phong là đối trọng với ai? Thiếu vắng một đối trọng cụ thể, không thể có được chất xúc tác cho manh nha một thành công,như đã được minh chứng từ 4.300 SEZ trên toàn thế giới, mà số lượng mới nhất có thể là 4.303 nếu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, và Phú Quốc được hình thành và xuất hiện trong danh sách cập nhật của thế giới.

f) Thực Tế 6: Shenzhen Thành Công Nhờ Sức Mạnh Nội Tại Của Trung Quốc

Với sức mạnh nội tại tổng hợp của kinh tài, kế hoạch, quyết tâm chính trị, nguồn nhân lực lao động, dư địa tài nguyên, và ý chí khởi nghiệp, Shenzhen đã ươm nghén thành công các đại công ty lừng danh thế giới như Shenzhen Electronics Group SEG, Beijing Genomics Institute BGI, Build Your Dreams BYD, Zhongxing New Telecommunications Equipment ZTE, Huawei, và Tencent, v.v. Có thời điểm 70% tổng lượng điện thoại thông minh toàn thế giới được sản xuất tại các Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Trung Quốc và 80% điện thoại thông minh toàn Trung Quốc xuất phát từ Shenzhen.

Đặc biệt, Shenzhen thành công do Trung Quốc sẵn có vô số các cơ sở cung ứng công nghiệp phụ trợ khiến những nhà đầu tư vào Shenzhen không bao giờ phải tự thân vận động kiếm tìm hay nhập khẩu nhiêu khê.

Cần lưu ý rằng Shenzhen thành công hoàn toàn không có nghĩa tất cả các mục tiêu đều đã đạt được. Những thất bại của Shenzhen đã được che đậy bằng (i) tài lực dồi dào khổng lồ của Trung Quốc, và (ii) hình ảnh “phần cứng” hoành tráng của cơ sở hạ tâng. Thất bại của Shenzhen bao gồm – song không chỉ giới hạn ở – không bảo đảm có công việc tốt, không bảo đảm có lương cao, không bảo đảm có phát triển công nghiệp hiện đại; chưa kể phát sinh vấn nạn quản lý kém đầy tiêu cực.

Tất cả làm bật một chân lý hiển nhiên rằng việc bỏ tiền khổng lồ đầu tư vào hạ tầng chuẩn bị cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thu thuế cực ít từ việc hạ mức thuế thấp nhất trong thời gian cực dài kèm các ân hạn, và hy sinh quyền lợi/phúc lợi của người lao động do luật pháp chung của quốc gia không thể can thiệp vào hoạt động của nhà đầu tư trong các SEZ, v.v., khiến gia tăng khủng khiếp nợ công, và việc kinh tế địa phương cùng kinh tế quốc gia phát triển nhờ có các Đặc Khu Kinh Tế SEZ chỉ là ảo tưởng để dối người và lừa mỵ nhân dân.

Từ thực tế này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: (i) sức mạnh nội tại của Việt Nam là gì, (ii) các doanh chủ đại gia Việt Nam có vào Đặc Khu Kinh Tế SEZ của Việt Nam hay Việt Nam chỉ chầu chờ các nhà đầu tư nước ngoài bất kể đó là nhà đầu tư nhỏ hay nhà đầu tư lớn của Tàu, và (iii) liệu các SEZ Việt Nam sẽ ươm nghén thành công các đại công ty Việt Nam lừng danh thế giới tương tự kỳ công của Shenzhen?

2) Sai Về Nhân Lực

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện hoàn toàn không có bất kỳ ai là nhân sự phù hợp cho các chức danh quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

Từ khi Việt Nam thống nhất 1975 đến nay, Đảng chưa hề công bố thành quả xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân và trong nội bộ cán bộ Đảng/Đoàn. Chưa hề có bất kỳ ai được vinh danh và tưởng thưởng. Tất cả các lãnh đạo, tân lãnh đạo, ứng viên nghị viện, v.v., đều đột nhiên xuất hiện với bản lý lịch chỉ ghi những chức vụ đã kinh qua mà đạo đức cao nhất chỉ được thể hiện bằng con số bao nhiêu năm tuổi Đảng trên chiếc huy hiệu mà thôi.

Con người mới xã hội chủ nghĩa nơi cộng đồng nhân dân tất nhiên phải trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình chứ không trên cơ sở hủy phá toàn bô nền tảng đạo đức truyền thống gia đình để xây dựng con người hoàn toàn mới hoàn toàn “thoát ly” có đặc điểm lạ xa với và phỉ nhổ vào nền tảng đạo đức truyền thống gia đình vốn bao gồm các thứ đạo đức đạo lý đạo nghĩa của lòng hiếu thảo, sự hiếu thuận, đức thanh liêm, tâm hướng chân thiện mỹ và bi trí dũng. Những con người trên nền tảng gốc của đạo đức truyền thống gia đình ấy tiếp nhận và công nhận định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa để nâng lên tầm vóc cụ thể vì nước vì dân, và đó là con người mới xã hội chủ nghĩa mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa hề có được dù chỉ một người, bất kể đó là trong xã hội hay trong Đảng/Đoàn/Hội/Đội hay Mặt Trận.

Đảng đã không xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tuyệt đối ưu việt của chủ nghĩa xã hội dân tộc thiên Khổng do Hoàng Hữu Phước khởi xướng và cổ súy. Thiếu vắng yêu tố cốt lõi của bản sắc hiền nhân, con người do Đảng tuyên giáo từ các đội hậu bị của Đảng đã có những lỗ hổng và chỗ khuyết nên thiếu vắng  lòng ái quốc, tính liêm khiết kiên trung, đạo nghĩa vì nước vì dân, cùng trí dũng chính đạo, dẫn đến tất cả các Đảng viên chức sắc cao cấp của Thành Phố Hồ Chí Minh là hoặc tội phạm hoặc quân bất tài vô dụng vô tâm bó tay để mặc cho Thành Phố Hồ Chí Minh lụn bại suy đồi dưới sức nặng thống khổ của người dân nạn nhân của các mưu đồ chiếm đoạt đất đai từ những dự án chiến lược cấp quốc gia, mà ngày nay giới lãnh đạo Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ giỏi mỗi việc ăn nói hùng hồn về chính quyền đô thị, về thành phố thông minh, về cái bùa chú huyễn hoặc mông muội bốn chấm không, về tự chủ tài chính, về xây dựng các thành phố trong Thành Phố Hồ Chí Minh, v.v., tức toàn những thứ vô dụng không bao giờ biến Thành Phố Hồ Chí Minh thành một Tân Singapore, đơn giản vì Thành Phố Hồ Chí Minh chỉ có toàn những cán bộ Đảng bất tài vô đức, hoàn toàn thiếu vắng cán bộ thuộc đẳng cấp tài đức vẹn toàn.

Đã không thể có nhân lực tài đức vẹn toàn, có sự giáo dục của gia đình (tức được cha mẹ hiền đức giáo dục) và có giáo dục gia đình (tức giáo dục con cái nên người trong gia đình mình), có kinh qua kinh nghiệm duy nhất đúng để rèn luyện trở thành lãnh đạo quốc gia trong tư thế là chiếc chìa khóa của cường thịnh của quốc gia, thì Đảng không thể bổ nhiệm bất kỳ nhân lực nào vào vị trí lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ – nếu chúng vẫn được Đảng cho hình thành.

Và nếu Đảng vẫn bất chấp lời khuyên thấu thị luôn luôn chính xác của Hoàng Hữu Phước, vẫn cứ cho thực hiện việc thành lập các Đặc Khu Kinh Tế SEZ, Đảng nhất thiết phải công bố danh sách nhân lực dự kiến cho các chức vụ quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ để lấy ý kiến của người dân nhằm phát hiện những chi tiết tiêu cực từng nảy sinh nhưng đã bị dấu nhẹm trong quá trình học tập và công tác của mỗi nhân sự, và đối với nhân sự Đảng buộc phải lựa chọn do không thể có nguồn khá hơn thì nhân sự ấy nhất thiết phải được Hoàng Hữu Phước phỏng vấn và trực tiếp làm công tác tuyên giáo, thứ công tác đã được thực tế chứng minh là thất bại cả ở cơ quan tuyên giáo của Đảng và ở Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Các tổng công ty nhà nước, các ngân hàng của nhà nước, các cơ quan hành chính công quyền đều đã thất bại hoàn toàn với bao nhân sự cấp cao của Đảng đào thoát, bị bắt giam, bị kết án, v.v.

Sự thật ấy không được phép xảy ra với nhân sự lãnh đạo các Đặc Khu Kinh Tế SEZ vì đã có lợi ích từ sự rút những kinh nghiệm nhãn tiền ngay trong thập kỷ này vốn có thể giúp chặn ngăn hữu hiệu sự bần cùng hóa quốc dân từ sự sụp đổ các dự án lớn của quốc gia này nếu đặt vào tay những phiên bản điếm nhục mang tên Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín, Vũ Đình Duy, v.v., cùng những con tương cận.

3) Sai Về Ngôn Ngữ

Thật là rồ dại khi Quốc Hội nhũn xèo không tát vào mồm thằng nghị sĩ đần độn nào đã phát âm trọn vành rõ chữ cụm từ “nhượng địa”. Việc sử dụng cụm từ ấy cho thấy hoặc (a) thằng ấy dốt tiếng Việt, hoặc (b) thằng ấy dốt Sử, hoặc (c) thằng ấy không hề nhận ra mức độ nhạy cảm của ngôn từ hắn sử sụng tác động lên tình hình an ninh chung – thậm chí bản thân có bị Hoàng Hữu Phước mắng là “ngu hơn chó” thì hắn ắt cũng đực mặt ra cười ngu dại, hoặc (d) thằng ấy cố tình mớm cho bọn chống Việt/Đảng/Chính Phủ cơ hội bằng vàng chống đối cụ thể làm lung lay tận gốc rể chế độ làm nhục chế độ sẽ tiến tới lật đổ chế độ sau khi chứng kiến lực lượng an ninh vũ trang vất bỏ quân trang quân phục vũ khí run sợ đầu hàng trước đám người đang hùng hổ xuống đường đốt phá, hoặc (e) thằng ấy hội đủ cả 4 nội dung trên.

Ngoài ra, việc bày ra nội dung “99 năm” trong dự thảo để chứng minh Việt Nam quá ưu ái ưu đãi ưu tiên đối với các nhà đầu tư đã cho thấy Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV  đã lâm vào tình trạng hoàn toàn thiếu vắng một nghị sĩ có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Dộ/Người Dân/Dân Tộc để chặn ngăn trên hội trường tất cả những gì thuộc vô tình ngu xuẩn hoặc cố ý gian tà của bất kỳ nghị sĩ nào khác.

Thêm vào đó, việc đề ra cụm từ “99 năm” ngay cả khi chẳng bị lợi dụng để lái sang nội hàm “nhượng địa” cũng cho thấy trình độ làm luật của các nghị sĩ Khóa XIV đang có vấn đề nghiêm trọng do rời xa các thực tế sau:

(a) Thời gian dài cỡ 99 năm là cách nhà quê nhất để thể hiện sự ưu ái ưu đãi ưu tiên của một quốc sách;

(b) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy tư duy hồng hoang lạc hậu trước tình hình phát triển công nghệ toàn cầu;

(c) Thời gian dài cỡ 99 năm cho thấy hoặc sự ngu khờ hoặc sự thơ ngây hoặc sự giả nai của các nhà làm luật cố tình lờ đi sự thật là tính theo xác xuất-thống kê thì vẫn có khả năng hoặc (i) các SEZ Việt Nam sẽ vắng bóng các nhà đầu tư, hoặc (ii) các SEZ Việt Nam chỉ có các nhà đầu tư Trung Quốc tức những thế lực hùng mạnh nhất thê giới về vốn đầu tư; mà nếu rơi vào trường hợp thứ nhì thì điều gì sẽ xảy ra sau một thế kỷ các nhà đầu tư ấy của Trung Quốc ăn nằm dầm dề tại các SEZ với sự sinh sôi nảy nở các hậu duệ công dân Việt Nam lai Tàu hình thành những tân địa phương mang bản sắc phi Việt nơi những địa danh mà thế kỷ trước đó còn thuần Việt;

(d) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam, cùng tận dụng lợi thế tiếp giáp hai “nhượng địa” Hong Kong và Macao theo cách tay đua xe đạp chuyên nghiệp luôn núp bóng tay đua phía trước để tận dụng lợi thế quán tính tự nhiên lao lên với ít sức lực và ít sức cản phá hơn, thì Việt Nam lại theo lối tư duy cũ rích muốn mỗi khu vực Bắc – Trung – Nam mỗi nơi có một SEZ như Vân Đồn – Bắc Vân Phong – Phú Quốc để làm lực đẩy cho toàn khu vực. Cách của Việt Nam sẽ thất bại vì không tạo thế núp gió đua xe đạp cho các Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Đen Xạo Bình quan tâm đến việc bắt buộc phải có ít nhất một SEZ thành công mỹ mãn, tương tự quan tâm đến việc đội đua xe đạp Trung Quốc phải có 4 cua-rơ mà nhiệm vụ của 3 trong số đó phải bảo đảm 1 còn lại sẽ đoạt cúp – và Shenzhen đã thành công. Còn lãnh đạo Việt Nam – theo vấn kế của các nhà tư vấn thuộc đẳng cấp bị Hoàng Hữu Phước khinh miệt – lại quan tâm đến việc cử 3 cua-rơ mỗi người tham dự một giải đua xe đạp khác nhau và mạnh ai nấy hãy tự thân vận động để may ra có ai đó sẽ đoạt được cúp.

(e) Trong khi Đen Xạo Bình thành lập Shenzhen và ba SEZ khác tập trung cùng trên một địa bàn khu vực duyên hải phía Nam hoàn toàn tránh xa vùng biển Đông Hải (East China Sea – Biển Hoa Đông) và Hoàng Hải (Yellow Sea) luôn căng thẳng với Nhật Bản và Hàn Quốc, thì Việt Nam lại tự nguyện đưa đầu vào tử địa. Khi căng thẳng ở Biển Đông (tức South China Sea – Biển Hoa Nam) trở thành đỉnh điểm xung đột vũ trang, Vân Đồn có nguy cơ bị Trung Quốc xóa sổ chỉ sau bảy phút tấn công, Bắc Vân Phong có nguy cơ bị san thành bình địa từ sự tấn công của hỏa tiễn và bom đạn Trung Quốc từ các chiến hạm/hàng không mẫu hạm/trận địa pháo phía các hải đảo Trung Quốc đã chiếm đóng thuộc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, còn Phú Quốc vẫn còn đó chứng tích lịch sử bi tráng của sự xâm lược từ Kampuchea năm 1975 nghĩa là Phú Quốc vẫn thuộc loại vulnerable tức phơi mình trần trụi trước hiểm họa xâm lược. Shenzhen thành công nhờ núp gió và hoàn toàn không có nguy cơ bị tác động hủy phá từ bên ngoài.

99 năm”, do đó, là một điểm sai nghiêm trọng trong sử dụng ngôn từ lập pháp của Quốc Hội Khóa XIV.

4) Sai Về Tổ Chức & Quy Trình Luật Hóa

Quy trình luật hóa tức quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam để tự động đưa ra ấn nút thông qua một dự án luật cho thấy đã không có sự phân biệt về tầm quan trọng khác nhau của từng dự án luật.

Quy trình hai kỳ họp của Quốc Hội Việt Nam đã hoàn toàn bị phá sản đối với dự án “Luật Đặc Khu”.

Quốc Hội Việt Nam từ khi đã để mặc cho Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh giỡ trò đê tiện với ứng cử viên Hoàng Hữu Phước trong mùa bầu cử Quốc Hội Khóa XIV nay đã lâm vào tình trạng hoàn toàn tê liệt do thiếu vắng vị nghị sĩ duy nhất có trí tuệ cao nhất, có hùng tâm cao nhất, có dũng khí cao nhất, và có tài hùng biện cao nhất luôn bảo vệ Đảng/Nhà Nước/Chế Độ/Người Dân/Dân Tộc để đứng lên yêu cầu Quốc Hội cẩn trọng tuyệt đối khi xem xét dự án Luật Đặc Khu.

5) Sai Về Quy Trình Chuyên Nghiệp

Quốc Hội Việt Nam cũng đã sai về quy trình chuyên nghiệp.

Khi một lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng, dứt khoát Việt Nam phải cậy nhờ đến sự chữa trị của chuyên gia, bất luận chuyên gia ấy là người nước ngoài và thuộc quốc gia thù địch. Lãnh đạo Việt Nam vướng bịnh nặng mà phải yêu cầu được chữa trị bỡi một y sĩ đảng viên Cộng Sản do Đảng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, và do Đảng dùng tiền thuế của dân để cử sang nước ngoài học tập, và đang là lãnh đạo cao cấp một bịnh viện hàng đầu của Nhà nước tại Việt Nam, thì đó không là quy trình chuyên nghiệp.

Quốc Hội Việt Nam là cơ quan lập pháp, nhưng không vì vậy mà cho rằng các nhà lập pháp đều biết rõ tất cả các vấn đề có liên quan đến mỗi dự án luât. Do vậy, việc tham vấn ý kiến chuyên gia chính là quy trình chuyên nghiệp của công tác lập pháp. Song, vấn nạn của Việt Nam gồm (a) tất cả các cơ quan của Đảng và Nhà Nước Việt Nam đều cho rằng đã có sẵn lực lượng “chuyên gia” lúc nhúc dưới trướng bất kể sự thật là các “chuyên gia” này là đảng viên và không hề được mời mọc phỏng vấn lựa chọn từ những nhân vật nổi tiếng mà nhân dân biết tiếng, và (b) Quốc Hội Việt Nam đã mời một doanh nhân luật gia nước ngoài đến báo cáo với Thường Vụ Quốc Hội về Hiệp Định TPP bất kể sự thật rằng chính doanh nhân luật gia nước ngoài ấy đã thỉnh mời nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đến phát biểu bằng tiếng Anh về Hiệp Định TPP tại buổi họp mặt với 100 doanh chủ Âu Mỹ ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

Không thỉnh mời tham vấn của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước về dự thảo Luật Đặc Khu, Thường Vụ Quốc Hội Việt Nam phải chịu liên đới trách nhiệm về các biến động xã hội làm nhục quốc thể trong thời gian vừa qua, có liên quan đến dự thảo Luật Đặc Khu ấy.

6) Vấn Đề Trách Nhiệm Đối Với Các Sai Lầm Nghiêm Trọng Của  Đảng, Quốc Hội, Và Chính Phủ

Khi việc đưa ra dự án Luật Đặc Khu với quá nhiều những sai lầm sai sót sai quấy cực kỳ nghiêm trọng tạo thời cơ cho phía chống đối ra tay chống phá quốc gia, đặt quốc gia vào tình thế bị dọa đe với nguy cơ cái đặc tính cố hữu lẽ ra vững như bàn thạch không thể bị thách đố thách thức tách rời khỏi chế độ nay lại lung lay tận gốc rể qua nỗi nhục lực lượng vũ trang an ninh quốc gia vất bỏ quân trang quân dụng quân phục đầy sân, tái lập hình ảnh quân trang quân dụng quân phục của “Ngụy Quân” vất bỏ đầy đường;

Thì việc duy nhất phải làm một cách đúng đắn là phải vất bỏ dự án Luật Đặc Khu;

Còn nếu như luôn kiên định duy ý chí rằng sức mạnh của Trung Ương Đảng đủ lấp biển dời non bách chiến bách thắng để đi đến quyết định lao tới trước, bất chấp lời răn thấu thị của tác giả bài viết này, thành lập cho bằng được ba Đặc Khu Kinh Tế SEZ – hoặc một Đặc Khu Kinh Tế SEZ theo gợi ý rút kinh nghiệm của thằng nghị sĩ đần độn cốt luật sư của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh như đã dẫn ở đầu bài – thì phải bảo đảm đáp ứng các quy định sau:

a) Kê khai chi tiết và đầy đủ toàn bộ tài sản vật chất của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ), của các thành viên gia đình của họ, để làm cơ sở sau này có thể khẳng định rằng tài sản kếch sù họ có được là chỉ từ tiền lương cao ngất của các Toàn Quyền/Sứ Quân;

b) Cấm xuất cảnh trong suốt thời gian tại vị của các Toàn Quyền/Sứ Quân (tức các lãnh đạo Đặc Khu Kinh Tế SEZ) các vị ấy và tất cả các thành viên gia đình của họ – kể cả cấm xuất cảnh du học, để bảo đảm hai điều rằng Toàn Quyền/Sứ Quân (i) chỉ có mỗi chức năng quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ chứ không tận dụng được thời cơ làm một nhà nước trong nhà nước để gây ra nguy cơ tự phong chức năng ngoại giao cấp nhà nước với nước ngoài tại nước ngoài, và (ii) không tận dụng được thời cơ quyền lực để gây ra nguy cơ tự do đào thoát khỏi Việt Nam trường hợp gây ra điều tệ hại cho Đặc Khu Kinh Tế SEZ.

c) Cứ mỗi Đặc Khu Kinh Tế SEZ phải có văn bản ghi rõ và đầy đủ tên những ai trong Trung Ương Đảng (tất nhiên các vị trong Bộ Chính Trị đều thuộc Trung Ương Đảng) biểu quyết thông qua quyết định thành lập Đặc Khu Kinh Tế SEZ ấy. Việc này nhằm văn minh hóa phương thức quy trách nhiệm, để vừa (i) chấm dứt sự ẩn nấp của những kẻ bất tài vô hạnh trong áo choàng trách nhiệm tập thể chỉ làm Đảng bị ô danh, vừa (ii) thuận lợi hóa quy trình xử tội theo hướng tự động tự nhiên bất luận vị trí quyền lực của kẻ đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm hay ký chấp nhận sự bổ nhiệm phân công.

d) Ngay cả khi một Đặc Khu Kinh Tế SEZ vào cuối niên hạn “99 năm” của nó xảy ra điều tệ hại, việc luận tội những kẻ trong Đảng đã ký tên thông qua thành lập/bổ nhiệm “99 năm” trước đó vẫn phải được tiến hành để chính thức ghi rõ vào sử sách kẻ hay những kẻ phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với đại cuộc quốc gia, từ đó tước bỏ các danh hiệu danh dự danh xưng đã từng ban, thu hồi các quyền lợi truyền lưu hậu thế mà con cháu của họ được hưởng trong thời gian dài từ ngân khố quốc gia tức tiền thuế quốc dân.

e) Sửa đổi Luật Hình Sự (i) xử tử hình những Toàn Quyền/Sứ Quân nào phạm các tội tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ như biển thủ tài sản Đặc Khu Kinh Tế SEZ, tham nhũng từ quyền lực quản lý Đặc Khu Kinh Tế SEZ, đào thoát thất bại, v.v.; và (ii) tịch thu tài sản của các Toàn Quyền/Sứ Quân bị án tử hình và của tất cả các thành viên gia đình của họ. Nội dung tịch thu tài sản và áp án phạt tiền có thể theo các đề xuất năm 2015 trong các bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự”Diệt Tham Nhũng.

C- Khẳng Định Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước Về Số Phận Của Tất Cả Các Đặc Khu Kinh Tế ở Việt Nam

Tất cả các Đặc Khu Kinh Tế SEZ nếu được xây dựng ở Việt Nam sẽ hoàn toàn thất bại. Đây là một nhận định mang tính thấu thị chính xác và khẳng định tuyệt đối đúng của Hoàng Hữu Phước thuộc phạm trù toàn diện, có thể kiểm chứng được, và không thể đảo ngược. Thấu thị này dựa trên các luận cứ khoa học chính xác như đã nêu ở trên và như sẽ nêu ở phần tiếp theo dưới đây.

D- Tư Vấn Cộng Sản Chủ Nghĩa Của Thạc Sĩ, Nhà Lập Pháp, Chính Trị Gia Hoàng Hữu Phước Về Mô Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế

1) Thực Trạng Nhãn Tiền Về Đặc Khu Kinh Tế SEZ:

Theo tờ Economist thì Đặc Khu Kinh Tế chả có quái gì là đặc biệt cả. Ngày nay Đặc Khu Kinh Tế SEZ đã mọc lên hơn nấm, và cứ mỗi bốn quốc gia thì đã có tới ba quốc gia có ít nhất một Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Châu Phi đang có lúc nhúc những Đặc Khu Kinh Tế SEZ chẳng biết phải nên xử trí thế nào vì để thì vẫn không thể phát triển được, mà bỏ cũng chẳng xong. Ấn Độ thì có hàng trăm Đặc Khu Kinh Tế SEZ không thể phát triển, mà chỉ nội Bang Maharashtra đã có tới 60 Đặc Khu Kinh Tế suy vong.

2) Bản Chất Của Đặc Khu Kinh Tế SEZ: 

Như đã nêu ở trên về lý do thành công của Đặc Khu Kinh Tế Shenzhen của Trung Quốc, Đặc Khu Kinh Tế mang nội hàm đặc thù của một quốc gia cộng sản do run sợ không dám thực thi chính sách tự do hóa nền kinh tế quốc gia nên đã áp dụng hình thức kiểu miếng vải khác màu vá chằng vá đụp nơi này nơi khác làm biến dạng loang lổ tấm vải chung của cả nền kinh tế, ngõ hầu có thể kỳ vọng vào một sự thành công vật chất khả dĩ có thể lấy đó nuôi sống phần còn lại của nền kinh tế đang lất lây tồn tại trên nền tảng kinh tế yếu ớt hơn trong tay quản trị và điều hành của Nhà Nước.

3) Những Nguy Cơ Vĩnh Viễn Không Bao Giờ Là Thời Cơ:

Như vậy, cùng với những điều kiện đặc thù khác – chỉ có ở Trung Quốc như đã được Hoàng Hữu Phước luận giải ở trên – mô hình Đặc Khu Kinh Tế SEZ sẽ không những không thể thành công ở Việt Nam mà còn không thể thành công ở bất kỳ quốc gia nào khác.

Ba Đặc Khu Kinh Tế tương lai của Việt Nam sẽ đương nhiên thất bại do những nguy cơ vĩnh viễn, bất biến, mà sự liệt kê đầy đủ hơn ngoài hai nguy cơ tạm đơn cử sau có thể được nhà tư vấn chính sách Hoàng Hữu Phước thực hiện theo yêu cầu hợp đồng đặt hàng chính thức của Đảng/Quốc Hội/Chính Phủ Việt Nam.

Điện năng cung cấp là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu mang tính sống còn. Và chỉ những kẻ mông muội mơ hồ hạ đẳng mới không xem có tiềm tàng nguy cơ thiếu điện năng cho Phú Quốc khiến Đặc Khu này vỡ trận, và cho rằng Phú Quốc không cần có một nhà máy điện hạt nhân riêng công suất cực lớn vẫn có thể cung cấp đủ điện cho sự hoạt động của các nhà đầu tư công nghiệp và công nghệ.

Quyền lực thiết lập luật lệ riêng tại Đặc Khu Kinh Tế SEZ luôn tạo nên nguy cơ hình thành một thứ Nhà Nước trong Nhà Nước, Quốc Gia trong Quốc Gia, Lãnh Thổ trong Lãnh Thổ.

Như đã phân tích sâu sắc sâu sát về cố tật của những kẻ được Đảng và Chính Phủ mời mọc làm cố vấn luôn rặn đẻ ra những vật thể từ mạt cưa cây giậu có xịt mùi hương chiến thuật hay chiến lược như Đi Tắt Đón Đầu, Hợp Tác Bốn Nhà, v.v. mà giá trị thực sự của các cụm từ ấy thì chỉ ngang bằng với mạt cưa mạt hạng vì thoát thai từ cây cối rẻ tiền chỉ được trồng làm rào giậu thấp chỉ có thể làm kinh tế trở thành tàn mạt.

Tương tự, đã có sự phấn khích giả tưởng nơi các nhà lãnh đạo quốc gia bằng cái mồm nhằm tung hỏa mù phủ che các liều lĩnh sặc mùi lợi ích nhóm hùa nhau xẻ thịt kinh tế nước nhà bằng cách luôn sử dụng điệp khúc dỡ òm ngu xuẩn của “trong nguy cơ có thời cơ”, “trong chữ nguy cơ có chữ cơ là thời cơ” mà bất kỳ bậc đại trí nào cũng dễ dàng nhận ra ngay cái nội hàm ẩn dấu của “đục nước béo cò” và “xúi trẻ ăn cứt gà”. Đơn giản vì công việc của tất cả các lãnh đạo đại trí là triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ chứ không phải là chụp lấy các thời cơ như bọn đầu cơ tích trữ và lũng đoạn. Và khi luôn trong tư thế luôn dợm triệt tiêu hoặc gia giảm các nguy cơ, các bậc đại trí sẽ cho rằng hãy cẩn trọng với thời cơ, đừng hấp ta hấp tấp khi thấy cái thời cơ tiềm tàng hay tưởng tượng, vì rằng chữ trong thời cơnguy cơ, nghĩa là trong thời cơ luôn có nguy cơ, vì vậy phải vạch mặt chỉ tên tất cả các nguy cơ tiềm ẩn hay lộ diện để bày binh bố trận quyết liệt triệt phá, ngăn chặn, vô hiệu hóa, biến dạng nguy cơ, vận dụng cái chân lý muôn đời của người nông dân nhổ cỏ rằng phải triệt tiêu nguy cơ để may ra có thể có được một thời cơ.

Một Thời Cơ Luôn Có Nhiều Nguy Cơ.

Bán tạp hóa là một hình thái làm kinh tế. Song, làm kinh tế không phải là bán tạp hóa.

Nhà cố vấn kinh tế nhà nướcViệt Nam, do đó, không được dùng ngôn ngữ bán tạp hóa để có thời cơ mê hoặc lãnh đạo Việt Nam và mê hoặc nhân dân Việt Nam; bằng không, sẽ đối mặt với nguy cơ bị lột truồng bỡi Hoàng Hữu Phước của Việt Nam.

4) Hình Thay Thế Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu:

Do vậy, khi phải đối mặt với quá nhiều những nguy cơ không bao giờ là thời cơ,  Việt Nam nếu khôn ngoan phải lưu ý đến mô hình sau vốn dành riêng cho Việt Nam mà Việt Nam chỉ có thể áp dụng để trở thành cường quốc kinh tế thực thụ: thay mô thức Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu bằng mô hình Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác.

(a) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Vá Đụp Khác Màu là hình thức Đặc Khu Kinh Tế/Khu Kinh Tế Đặc Biệt SEZ như nội dung phân tích của bài viết này.

(b) Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác  là đại cuộc biến Việt Nam – chứ không phải vài địa điểm nào đó của Việt Nam – thành một Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) với nền tự do thương mại đồng nhất và cao nhất, cắt giảm đồng nhất và cao nhất các rào cản thương mại, tăng khả năng cạnh tranh đồng nhất và cao nhất qua cắt giảm thuế quan đồng nhất và cao nhất, dưới sự điều chỉnh của các khung luật lệ đồng nhất và thông thoáng nhất hấp dẫn nhất.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến cả đất nước Việt Nam thành một “đặc khu kinh tế quy mô quốc gia” nghĩa là hoàn toàn theo luật pháp chung dưới sự quản lý chung của Nhà Nước mà không hề tạo ra tình trạng nguy cơ quái gở của nhà nước trong nhà nước, quốc gia trong quốc gia, lãnh thổ trong lãnh thổ.

SEC có nghĩa dù là doanh nghiệp Việt Nam nội địa hay nhà đầu tư nước ngoài, dù đầu tư vào lĩnh vực nào tại bất kỳ địa phương nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì tất cả đều hưởng như nhau các ưu ái ưu tiên ưu đãi cao nhất về hoạt động, sản xuất, kinh doanh, thuế quan, v.v. Với ý nghĩa này, SEC biến tất cả các địa phương trên toàn đất nước Việt Nam tự động thành những “đặc khu kinh tế không ranh giới hành chính”  hoàn toàn tùy thuộc sự quan tâm lựa chọn của nhà đầu tư nội địa hay nước ngoài, làm bất kỳ địa phương nào cũng có điều kiện phát triển kinh tế/xã hội/tri thức theo hướng công bằng nhất. SEC còn biến các EPZ tức Khu Chế Xuất đang hoạt động ở Việt Nam tự động hưởng chung các ưu tiên ưu đãi ưu ái do mô thức SEC đem lại mà không lũ lượt rời bỏ các Khu Chế Xuất EPZ để chen chúc vào một trong 3 Đặc Khu Kinh Tế SEZ. Nghĩa là nếu SEZ tạo nên sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư co cụm bên trong các Đặc Khu Kinh Tế SEZ với các nhà đầu tư hoạt động tại các Khu Chế Xuất EPZ và các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động bên ngoài tường rào của Khu Chế Xuất EPZ hay bên ngoài Đặc Khu Kinh Tế SEZ, thì SEC biến tất cả các nhà đầu tư trở thành chủ thể chủ động bình đẳng trong hưởng lợi nhiều nhất tại quốc gia Việt Nam.

Đặc Khu Kinh Tế Miếng Vải Mới Cùng Màu Khác là một yêu cầu cách mạng kinh tế đòi hỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam phải công nhận và áp dụng quy trình tự do hóa nền thương mại và kinh tế nước nhà như các cường quốc kinh tế và áp dụng các hình thức mang tính cạnh tranh cao hơn hấp dẫn hơn để thu hút các nhà đầu tư bất kể đó là nhà đầu tư nội địa Việt Nam hay nước ngoài. Miếng vải mới không là miếng vải cũ với các miếng vá đụp mới khác màu mang tên SEZ. Miếng vải mới cùng màu khác là hình thành áp dụng chung một mô hình duy nhất hoàn toàn mới về kinh tế gọi bằng tên quen thuộc là “kinh tế thị trường” thay thế cho mô hình đang tồn tại là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” với đặc điểm nếu như nền “kinh tế thị trường” quen thuộc của thế giới là môi trường cho sự hình thành các Khu Tự Do Thương Mại FTZ (Free-Trade Zone) hay những thứ tương đương như đã liệt kê ở các phần trên, thì chính nền “kinh tế thị trường” quen thuộc này của thế giới sẽ là môi trường mới để Việt Nam hình thành Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) đầu tiên của thế giới.

Đặc Quốc Kinh Tế/Quốc Gia Kinh Tế Đặc Biệt SEC (Special Economic Country) là sáng kiến của riêng Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc-Đại-Lợi, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Trên thế giới chưa từng có quốc gia nào là một SEC.

Phụ Lục: Nhượng Địa và Thọ Nhượng

(xin xem tại Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng)

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế Úc, Nhà Tư-vấn Chính-sách Lãnh-đạo Quốc-gia, Nhà Lập-Hiến & Lập-Pháp Việt-Nam, Nhà Chính-trị Cộng-sản Chủ-nghĩa.

Ghi Chú:

a) Tất cả các số liệu tất nhiên được thu thập từ nguồn tài liệu trên xa lộ thông tin, chủ yêu là Wikipedia (Tiếng Anh) và các trang web của các tổ chức và báo chí từ kết quả gợi ý của Google Search (Tiếng Anh) cho nội dung từ khóa “SEZ”.

b) Tất cả các nhận định phê phán đương nhiên là từ ý kiến rất riêng và duy chỉ của Hoàng Hữu Phước. Việc trích dẫn toàn phần hay một phần của bài viết hoặc của nhận định & phê bình được mặc nhiên đồng ý cho tùy nghi sử dụng như đã nêu tại Thùng Nước Đá Và Blog.

Tham khảo:

a) Luật Đặc Khu – Phần 1 20-7-2018

b) Luật Đặc Khu – Phụ Lục Cho Phần 2: Nhượng Địa và Thọ Nhượng 03-8-2018

e) Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc 29-12-2015

d) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân 14-6-2017

e) Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị 25-4-2018

f) Bài Số 1 Về Thấu Thị Của Hoàng Hữu Phước: Chính Trị Mỹ 30-4-2018

g) Toàn văn bản dự thảo Luật Đặc Khu trên trang web của Công ty Bắc Việt Luật

h) Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng 11-5-2012

i) Thùng Nước Đá Và Blog 14-02-2013

j) Đi Tắt Đón Đầu 08-9-2017

k) Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm,  Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà? 28-01-2016

l) Diệt Tham Nhũng 30-10-2015

m) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” 14-10-2015

n) Chìa Khóa Của Cường Thịnh 05-11-2016

o) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA

p) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

q) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn của Đài Phố Bolsa TV năm 2012:

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.” http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.” http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.” http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”  http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.” http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.” http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.” http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!” http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

r) Quyền Lực Nhũn Xèo 09-11-2017