Pharma

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-9-2019

Như đã nêu trong Thư gởi Giám đốc Sở Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lanthủa cuối những năm 80 của thế kỷ trước tôi ở CIMMCO International hoạt động cực mạnh trong cung cấp nguyên liệu dược bulk drug cho toàn quốc Việt Nam. Lúc ấy Việt Nam vẫn dưới áp lực kinh tế của sự bủa vây dưới lịnh cấm vận thương mại của Mỹ, mọi thanh toán nhập khẩu bằng USD từ hoặc đến Việt Nam bị cấm đoán trên toàn thế giới và sẽ bị Mỹ tịch thu. Chỉ có CIMMCO International với thế lực của Tập Đoàn Công-Kỹ-Kinh-Thương-Du-Tài Birla Ấn Độ cùng các công ty của nó như  CIMMCO LTD Singapore, CIMMCO LTD Anh Quốc, CIMMCO LTD Đông Đức, CIMMCO LTD Nga, v.v. (trừ CIMMCO Cuba, CIMMCO Kampuchia, và CIMMCO Nepal), đã phối hợp nhịp nhàng với sự giúp sức bí mật của các Ngân Hàng HSBC Anh Quốc và BNP Pháp Quốc để cung cấp trang thiết bị phụ tùng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất của tất cả các ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam từ bất kỳ xuất xứ nào mà Việt Nam cần có và vẫn có thể thanh toán luồn lách cho CIMMCO bằng USD (hoặc bất kỳ đồng ngoại tệ mạnh chuyển đổi nào khác mà Việt Nam đang có như Đồng Bảng Anh, Đồng Đức Mã, Đồng Phật Lăng Pháp, và Đồng Yên Nhật). Là công ty nước ngoài duy nhất ở Việt Nam vào thời điểm chưa hề có Luật Đầu Tư, Luật Doanh Nghiệp, Luật Lao Động, Luật Thuế Thu Nhập, v.v., và cũng là công ty hùng mạnh của một nước hữu hảo cực kỳ đặc biệt với Việt Nam có đường dây chiến thuật xé toang hàng rào cấm vận bủa vây tứ phía Việt Nam, CIMMCO International đã kinh doanh trên cả thành công ở Việt Nam với mỗi hợp đồng ký với một công ty xuất nhập khẩu Nhà Nước thì luôn là hợp đồng nhập “gối đầu” số lượng cho trọn năm tài khóa hoặc hợp đồng xây dựng nhà máy “chìa khóa trao tay”, v.v., nên mỗi hợp đồng luôn có trị giá nhiều triệu USD, cũng là lý do Việt Nam không hề thiếu thốn nguyên phụ liệu cho sản xuất – kể cả sản xuất dược phẩm – và CIMMCO International cũng trở thành chủ nợ lớn của các công ty xuất nhập khẩu Nhà Nước, giúp Hoàng Hữu Phước trở thành nhân vật được tiếp đón niềm nở tại Vietcombank/Eximbank và Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh/Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, cũng như tại các tỉnh có các nhà máy công nghiệp do CIMMCO xây dựng và chuyển giao công nghệ.

Ngoài bulk drug (tức nguyên liệu thí dụ như bột Paracetamol đóng bằng thùng phuy nhập về Việt Nam để các xí nghiêp dược phẩm đập viên ép vỉ) của Châu Âu theo tiêu chuẩn Anh, CIMMCO International còn cung cấp các phụ liệu khác phục vụ bao bì dược phẩm như giấy nhôm (đa số từ hãng Daihan Eunpakgy Hàn Quốc), màng nhựa, vỏ nhộng, v.v., và kể cả thuốc viên thành phẩm vào những thời điểm Việt Nam có nhu cầu khẩn cấp mà khan hiếm. Đây là lý do tôi có quan hệ tốt đẹp với tất cả các nhà sản xuất dược hàng đầu Ấn Độ thời ấy và qua họ đến các nhà sản xuất nước khác; và đương nhiên với thế mạnh bậc thầy tuyệt đỉnh về tiếng Anh duy nhất ở Việt Nam, tôi nắm bắt được những kinh nghiệm đặc thù liên quan đến ngành dược mà không bất kỳ ai trên toàn thế giới này có tương tự như kể ra dưới đây.

Sau nhiều năm đóng đô ở Khách Sạn Majestic số 1 Đồng Khởi, văn phòng tôi dọn sang phía đối diện là tòa nhà Seaprodex số 2 Đồng Khởi. Một hôm, có một Việt Kiều Mỹ phone cho trợ lý của tôi là cô nữ sinh Đại Học Khoa Học Trần Thị Thu Vân xin đăng ký được đến bàn chuyện kinh doanh dược với tôi. “Thương vụ” hắn bàn với tôi là hắn sẽ sản xuất thuốc Tây (không hiểu sao Việt Nam gọi là “tân dược”) ở Ấn Độ rồi tôi nhập về Việt Nam “ăn lời rất to”. Săm soi ngắm nghía cái hộp giấy mẫu in sẵn màu mè hắn đem từ Mỹ sang, tôi thấy tên công ty, địa chỉ công ty, hình lá cờ Mỹ, và dòng chữ nổi to đùng “Made in USA”. Tất nhiên, nhà ái quốc Hoàng Hữu Phước còn khuya mới “làm ăn” với bọn giặc dù là giặc Việt hay giặc ngoại hoặc giặc Việt-ở-ngoài.

Ở nhà thuốc tây số 334 Phan Đình Phùng, Phú Nhuận, lúc ấy có một nữ sinh viên Dược tóc ngắn nới giọng Miền Nam một mình đứng bán thuốc. Tôi là khách hàng của cô trong 30 năm qua, mua rất thường xuyên, và đã mua thì mua với số lượng lớn (mua chia cho mọi gia đình từ nhà Ba Má đến nhà các em, hoặc mua gởi về các miền quê, hoặc mua để sẵn ở nhà với phương châm thà hết date thì hốt cho vào bao bố vác bỏ xe rác chứ dứt khoát không để khi cần lại không có để dùng ngay mà phải chờ chạy đi mua). Hiện cô là một dược sĩ kinh đoanh thành công với 5 nhân viên dược sĩ đàn em/dược tá bán hàng, còn nhà thuốc tay của cô nay khang trang đầy đủ tiện nghi.

Tôi nhớ lần đầu tiên đến mua thuốc ở tiệm của cô cách nay 30 năm, khi cô đon đả chào giới thiệu “thuốc Mỹ này tốt lắm”, tôi đã bảo cô giới thiệu thuốc Mỹ khác, rồi cuối cùng nói muốn mua thuốc Việt hoặc thuốc ngoại chứ không mua thuốc của Việt Kiều hay ngoại tép riu. Cô đã rẩt rất ngạc nhiên không hiểu sao lại là “Việt Kiều” và sao lại là “ngoại vô danh tiểu tốt”, rồi trố mắt nghe tôi giải thích với những nội dung ngữ nghiên hàn lâm sau mà cô chưa từng nghe bất kỳ thầy cô nào của cô ở Đại Học Y Dược giảng dạy tương tự:

1) Chỉ có thuốc Việt Kiều mới có tên nhà sản xuất đặt theo công thức thuần Việt rất quê mùa;

2) Chỉ có thuốc Việt Kiều – hoặc thuốc giả hay thuốc “dỏm” – mới có in dòng chữ “Made in USA” to tổ bố rất quê mùa;

3) Chỉ có thuốc Việt Kiều – hoặc thuốc giả hay thuốc “dỏm” – mới có in hình lá cờ Mỹ rất quê mùa;

và thời gian sau tôi còn nêu lên ý tiếp theo là

4) Tất cả những hãng thuốc nước ngoài nào có chữ “Pharma’ đều là đám sinh sau đẻ muộn, thiếu ánh sáng trí tuệ trong đặt tên, không thuộc đội ngũ nhà sản xuất hàng trăm năm tuổi, nên chất lượng ắt cũng nớt non thiếu tháng.

Các giải thích tương ứng cho 4 điểm ở trên như sau (Việt Nam hiện có khoảng 500 người là học trò của Hoàng Hữu Phước tại các trung tâm ngoại ngữ và các đại học ở Thành Phố Hồ Chí Minh là có nghe về các điểm này):

1) Đặt tên kiểu Việt là kiểu “khỏe re” bằng cách nhanh tay lẹ chân chộp ngay tên của địa phương để khoe mẽ chiếm lĩnh độc quyền vùng miền với sự vô tình hoặc thờ ơ dung dưỡng của Nhà Nước Việt Nam, (địa danh chẳng hạn Saigontourist, Cholimex, Sobexim, v.v., và toàn quốc chẳng hạn như Vietnamtourism, Vinataba, Vinashin, Vinalines, v.v. cứ như thể doanh nghiệp này là cấp độ cao nhất vì là toàn quốc toàn dân toàn Việt Nam vậy) nên chỉ cần nghe Calipharco, Americo, v.v. , là biết chủ nhân của “công ty dược California” là Việt Kiều, mà Hoàng Hữu Phước tôi đây nắm thông tin trong lòng bàn tay biết tại Mỹ không hề có (i) nhà sản xuất dược nào là tầm cỡ danh tiếng mà do “Việt Kiều” làm chủ cả, và (ii) bất kỳ công ty thuộc bất kỳ lĩnh vực nào của người Mỹ không-gốc-Việt mà lại có tên địa danh thành phố Mỹ/tiểu bang Mỹ lồng trong tên công ty của họ cả.

Các công ty dược của người Mỹ – hoặc Âu Mỹ – có những cái tên rất ngạo nghễ kiểu Mỹ như Johnson&Johnson, Pfizer, Merck & Co., AbbVie Inc., Bristol-Myers Squibb, Eli Lilly and Company, Biogen, Abbott Laboratories, Stryker Corporation, Regeneron, Bayer HealthCare, Bausch & Lomb, GlaxoSmithKline, v.v., thậm chí các công ty không hùng mạnh bằng và sinh sau đẻ muộn hoặc hoạt động thu gọn vẫn đặt tên theo kiểu thuần Mỹ như nào là Puritan’s Pride hay nào là Nature’s Bounty, v.v. và v.v.

Vì vậy, Hoàng Hữu Phước của Việt Nam từ 1980 đến nay không bao giờ đến một phạc-ma-xi mà không xem kỹ hộp thuốc do tiệm chìa ra đễ từ chối mua bất kỳ thứ gì có chữ phạc-ma hay phạc-cô tức viết tắt của Pharmaceuticals hay Pharmaceutical Company trong tên của “nhà sản xuất” cả.

2) Made in USA là dòng chữ in rất nhỏ cùng cỡ chữ với địa chỉ nhà sản xuất và/hoặc nhà phân phối trên bao bì dược phẩm xuất xứ từ Mỹ. Chỉ có thuốc Việt Kiều – hoặc thuốc giả hay thuốc “dỏm” – mới có in dòng chữ “Made in USA” to tổ bố rất quê mùa do bộc lộ ý muốn đập vào mắt người mua mà như vậy đã khinh thường người Việt là dân quê.

3) Hình Lá Cờ Mỹ: Chỉ có thuốc Việt Kiều – hoặc thuốc giả hay thuốc “dỏm” – mới có in hình lá cờ Mỹ rất quê mùa do bộc lộ ý muốn đập vào mắt người mua mà như vậy đã khinh thường người Việt là dân quê.

4) “Pharma” tất nhiên là từ xuất hiện của các công ty dược nước ngoài sinh sau đẻ muộn, bắt đầu từ những công ty Việt Kiều, sau được các công ty dược nhược tiểu ở Đông Nam Á bắt chước, rồi trở thành cái chữ xuất hiện tràn lan khắp hang cùng ngõ hẻm của thị trường dược toàn cầu.

Tất nhiên, một doanh nghiệp nào đó có tên “Xí Nghiệp Dược Núi Tản” chẳng hạn hoàn toàn không sai nếu đặt tên kinh doanh là Nui Tan Pharma hoặc Nui Tan Pharco tùy theo trí hóa cao hay thấp của chủ nhân. Song, điều kỳ quái ở đây là ở vùng Núi Tản Sông Đà có bao cư dân và họ có quyền bình đẳng tuyệt đối như nhau trong hưởng thụ văn hóa và kinh doanh làm giàu đoan chính, thế tại sao chính quyền lại để cho cái tên “Núi Tản” (hoặc “Núi Tản Viên”) thuộc quyền sở hữu độc quyền của một công ty dược để rồi từ chối tất cả các đơn xin thành lập công ty dược của vạn người dân còn lại nếu trong đơn của họ có ghi tên dự kiến là “Núi Tản”? Tương tự, địa danh “Sài Gòn” nay đã tự dưng trở thành sở hữu độc quyền của Saigontourist, và chục triệu cư dân có hộ khẩu ở “Sài Gòn” bị tước mất quyền “khởi nghiệp du lịch thời bốn-chấm-không” nếu dám hỗn láo mạo phạm vuốt râu hùm đặt tên doanh nghiệp “du lịch” của mình có chữ “Sài Gòn” trong đơn xin gởi Sở Kế Hoạch & ĐầuTư Thành Phố Hồ Chí Minh.

Giải phóng đất nước thống nhất giang san luôn khó khăn gian khổ, luôn cần đến mưu lược và lý tưởng cùng vũ khí hủy diệt, và những công trạng lẫy lừng là danh dự luôn dành cho những người chiến thắng mà thành công của họ là đã gây ra sự tàn phá trên quy mô lớn nhất và khủng khiếp nhất, còn “xây dựng” trong thời chiến luôn thiên hẳn về nghĩa bóng của ngôn từ như xây dựng đội ngũ, xây dựng lòng tin nơi nhân dân, xây dựng “cơ sở trong lòng địch” mà tất nhiên “cơ sở” không phải là tòa nhà vật chất cụ thể.

Song, việc tái thiết kiến thiết đất nước Việt Nam sau chiến thắng thì khó khăn gian khổ trên bình diện khác, hoàn toàn mới lạ với người chiến thắng, hoàn toàn xa lạ với người chiến thắng, và luôn vấp phải 5 vấn nạn của

(a) không ai trong họ hiểu khó khăn gian khổ của tái thiết kiến thiết vật chất cụ thể,

(b) không ai trong họ có kinh nghiệm tái thiết kiến thiết vật chất cụ thể,

(c) không ai trong họ có lòng tin vào lực lượng khác nên giao trọng trách tái thiết kiến thiết vật chất cụ thể chỉ cho chính họ vốn đã có bao công trạng lừng lẫy xây dựng trừu tượng quy mô định tính lớn và phá hoại cụ thể quy mô định lượng lớn,

(d) không có lòng tin vào lực lượng khác nên giao trọng trách xây dựng chính sách thể chế luật pháp tái thiết kiến thiết vật chất cụ thể chỉ cho chính họ với niềm tin họ  đã rất ưu tú trong xây dựng chính sách thể chế luật pháp tập trung phá hủy làm sụp đổ tiềm lực tổng thể của quân thù, và

(e) nếu các lực cản của giải phóng đất nước thống nhất giang san là những kẻ thù mà những chiến binh giải phóng lao tới hạ gục nhanh tiêu diệt gọn để có nhiều hơn những vị anh hùng, những trang liệt sĩ; thì các lực cản của tái thiết kiến thiết quốc gia là những thứ bôi trơn óng ánh màu hổ phách đầy mê hoặc mà vô số người có quyền lực trong lực lượng giải phóng nhào đến ôm chầm mơn trớn vuốt ve để tạo nên nhiều hơn những thằng những con tội phạm chốn pháp đình/tại ngục tù/trên các thông báo truy nã toàn cầu của Interpol.

Chính cái điểm (d) ở trên đã khuyến khích lòi nhú ra cái VN Pharma và những thứ tương cận từ sân trước, sân thượng, sân hông, và “sân sau”.

VN Pharma ư?

Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước cho rằng Chính Phủ Việt Nam từ 30-4-1975 tức lúc bắt đầu đại nghiệp tái thiết kiến thiết quốc gia đến nay vẫn thiếu một đấng tham mưu đẳng cấp thượng hạng nên mới cho phép một thứ xoàng xỉnh (thí dụ như “Pharma” là từ ngữ đẳng cấp rất bình dân) được tự tiện mang cái chữ quan trọng của quốc gia (chẳng hạn chữ “Việt Nam” hoặc “VN”) vào tên để nay có một VN Pharma – mà người bình dân sẽ nghĩ ngay đến “dược phẩm đẳng cấp quốc gia Việt Nam”, còn người hý hước sẽ nghĩ đến “Công ty Dược Vú Nở chuyên sản xuất kem xoa bóp vú” – để rồi hóa ra cái công ty mà cái tên dễ được hiểu thành “công ty dược phẩm quốc gia Việt Nam” ấy là cái tiệm của một dúm kẻ làm giả hồ sơ nâng giá nhập thuốc làm giàu khủng bạo trên sức khỏe và sinh mạng của những người dân mà định mạng đã bắt họ vướng bịnh nan y như án tử hình.  

Giá như luật do những “nghị sĩ” bị Đảng cưỡng ép phải vào Quốc Hội rồi dẫy nẫy chống lại Đảng khi nằng nặc bám víu quyền lợi quyền hành quyền lực ở địa phương chứ không chịu làm “chuyên trách”, đừng có các quy định ngu khùng rằng kinh doanh dược phải có bằng cấp dược sĩ và lãnh đạo đại học phải có bằng tiến sĩ, thì lẽ ra ngày nay chí ít thì ở Việt Nam ngành xuất nhập dược đã có ít nhất một công ty còn ngành giáo dục đại học đã có ít nhất một trường đại học lừng danh nêu gương sáng đạo đức kinh doanh cho hai cái ngành ấy, chứ có đâu mà nhục đớn chề ê như cái trường Đống Đồ (hay Đống Đô) và cái công ty Vú Nở Phạc Ma thế này!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết về chủ đề Y Khoa của cùng tác giả (theo thứ tự trước-sau về thời gian):

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ  nguyên bản 23-8-2013

Thực Phẩm Chức Năng 30-4-2014

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam 10-4-2016

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan 26-8-2017

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng 28-8-2017

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi”  30-8-2017

Hoàng Hữu Phước và Đời Sống Tình Dục – Phần 1  11-01-2019

Hoàng Hữu Phước và Đời Sống Tình Dục – Phần 2  01-02-2019

Both comments and trackbacks are currently closed.