Thầy Đỗ Văn Nghĩa

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-11-2019

Tôi thường nói với mỗi người con gái tôi yêu là tôi nghĩ đến nàng mỗi ngày trong suốt cuộc đời tôi, hôn nàng mỗi ngày trong suốt cuộc đời tôi – mỗi khi gặp nhau, và làm thơ tặng nàng mỗi ngày trong suốt cuộc đời tôi – mỗi khi gặp nhau. Trừ ngày Valentine nghèo nàn bầy đàn của văn hóa Phương Tây.

Tôi thường ca ngợi những thầy cô đáng kính của tôi mỗi ngày trong suốt cuộc đời tôi, trừ Ngày Nhà Giáo kỳ lạ bầy đàn của văn hóa Việt Nam. Như tôi đã bao lần nhắc lại trên blog này thì theo ngôn ngữ Việt Nam Cộng Hòa, Thầy Cô cấp tiểu học được gọi là giáo viên, Thầy Cô cấp trung học gọi là giáo sư, và Thầy Cô cấp đại học gọi là giảng sư. Còn thế nào là Thầy Cô thì tôi đã giải thích đầy đủ trong bài Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai. Thế nên, Thầy Cô tôi tôn kính tôn trọng tôn vinh tôn sùng luôn là những Thầy Cô tài ba và có đạo đức thiên Khổng. Và hôm nay đã qua cái gọi là “Ngày Nhà Giáo Việt Nam” nên tôi mới viết bài này về một đấng Thầy Cô khác của tôi, đó là Giáo Sư Đỗ Văn Nghĩa.

Thầy Đỗ Văn Nghĩa là giáo sư Việt Văn trường trung học Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn, thủa trường này có hai học khu gồm học khu nữ bên cánh trái và học khu nam bên cánh phải từ ngoài cổng vào. Trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn là của các tu sĩ Công Giáo, nay là trường trung học Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh. Cách dùng từ thời Việt Nam Cộng Hòa rất chính xác do dựa theo logic công thức tạo từ, nghĩa là có môn Việt Văn thì có môn Anh Văn, Pháp Văn, cũng như có môn Việt Sử vậy – chưa kể Việt Văn có hai phân nhánh chính xác là Kim Văn tức văn xuôi/văn vần gồm tiểu thuyết thơ ca thời cận đại/hiện đại và Cổ Văn tức văn xuôi/văn vần thời trước đó gồm các loại hịch và thi phú. Trong khi cách gọi thời nay là Tiếng Việt thì bản thân từ “Tiếng Việt” có nhiều hơn một nghĩa và do đó không thích hợp để đặt tên cho một môn học.

Thầy Đỗ Văn Nghĩa dạy tôi khi tôi là học sinh Lớp Đệ Lục (nay gọi là Lớp 7) ở Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn. Thầy người Bắc, nhà ở Chung Cư Nguyễn Thiện Thuật, gần Chợ Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn. Thầy rất gầy, và tất nhiên Thầy là một giáo sư tài đức.

Thủa ấy trên đất Sài Gòn, các trường tiểu học và trung học bất luận công hay tư đều có những điểm chung như sau từ lớp 1 đến lớp 12:

1) Học sinh nam học lớp riêng, học sinh nữ học lớp riêng;

2) Học sinh nam mặc đồng phục áo sơ mi trắng ngắn tay hoặc dài tay bỏ trong quần dài bằng vải ka-ki màu xanh dương hoặc bằng vải may quần tây màu đen, đi giày vải (hiệu Bata) màu trắng hoặc “săng-đan” có quai hậu màu nâu;

3) Học sinh nữ trung học mặc đồng phục áo dài màu trắng với quần dài màu trắng hoặc đen, có mặc “áo lót” (tức áo mặc bên trong áo dài, có cổ tròn, loại sát nách, thân dài đến eo), hoặc áo sơ mi màu trắng dài tay với quần tây màu đen;

4) Học sinh các trường phân biệt nhau qua huy hiệu bằng vải khổ 2cm x 5cm có dệt tên của trường (và người nhà của mỗi học sinh thêu thêm tên của học sinh bên dưới tên trường) may hẵn vào trên ngực trái áo dài tức trên túi áo sơ mi (riêng trường Nguyễn Bá Tòng đặt ra huy hiệu riêng khung hình chiếc lá kim loại màu vàng bên trong đổ nhựa trong suốt màu đỏ tươi);

5) Thầy Cô ở các trường luôn giỏi xuất sắc và có danh tiếng vì (a) không giỏi không thể theo ngành sư phạm, (b) thầy cô giỏi nhất mới được giảng dạy ở các trường công, (c) thầy cô đều là tác giả các sách giáo khoa cá nhân, và (d) thầy cô giỏi nhất ở các trường công ấy đều 100% có dạy thêm “ban ngày và chính thức” ở các trường tư và được các trường tư quảng bá rầm rộ tên tuổi các thầy cô trong ban giảng huấn của mỗi trường nên không hề có sự chênh lệch về trình độ học tập của học sinh trường công hay tư.

6) Trưởng Lớp luôn phải là học sinh hội đủ cùng lúc 6 yêu cầu gồm (a) học lực giỏi, (b) hạnh kiểm tốt, (c) tính tình nghiêm, (d) uy tín trấn áp cao, (e) sức khỏe tốt, và (f) giọng nói to rõ.

Thầy Đỗ Văn Nghĩa – cũng như bất kỳ giáo sư Việt Văn nào khác của Việt Nam Cộng Hòa vốn đương nhiên giỏi hơn “thạc sĩ Văn của Ngộ Quá Phải Hông Anh” – thường sau mỗi lần chấm xong bài văn bình giảng của học trò là ứng khẩu một bài luận mẫu. Đây là lý do các trưởng lớp phải có giọng nõi rõ và to để lập lại hai lần mỗi câu của thầy cô để cả lớp chép kịp.

Tôi là trưởng lớp suốt 12 năm học là do hội đủ cả 6 yêu cầu ấy, trong đó có giọng nói rõ và to mà tôi đã từng thi thố giữa nghị trường Quốc Hội Khóa XIII khi phát biểu về Luật Biểu Tình.

Giáo sư Đỗ Văn Nghĩa rất thương yêu tôi. Nhưng thầy cô nào đàng hoàng trưởng thượng đức tài mà lại không thương yêu tôi chứ; thế nên, khi viết về Thầy Đỗ Văn Nghĩa, tất nhiên phải có lý do rất riêng như sau, trở thành ấn tượng sâu sắc về Thầy mà bản thân tôi quyết phải vươn lên để được giống như Thầy và đã thực sự hành xử như giáo sư Đỗ Văn Nghĩa khi tôi trở thành “giảng sư” Hoàng Hữu Phước.

Nguyên tôi rất kém về khâu “học thuộc lòng”. Có lần giáo sư Đỗ Văn Nghĩa kêu tôi lên trả bài, đọc lại nguyên văn một bài thơ, và tất nhiên tôi đã thất bại hoàn toàn, nếu không muốn nói là … hoàn toàn thất bại. Sau đây là đoạn đối thoại giữa Thầy và tôi:

Thầy: Sao Phước không học thuộc bài này vậy? Con phải biết là mọi sự lớn lao trên đời đều bắt đầu từ việc học thuộc lòng ở cấp học thấp. Có học thuộc lòng mới rèn được trí nhớ, để sau này thành thói quen nhớ, tự động nhớ mà không cần phải học thuộc lòng.

Trò: Dạ con có cố lắm Thầy, nhưng vẫn không thể học thuộc lòng văn thơ của người khác. Con chỉ nhớ ý chính để viết bình giảng và chỉ nhớ vài câu quan trọng để ghi chú trong bài, chứ con không thuộc lòng hết cả bài được.

Thầy: Vậy con thế nào cũng giỏi Việt Văn! Vì con sẽ không thể giỏi môn nào mà con dễ học thuộc lòng.

Và Giáo sư Đỗ Văn Nghĩa đã giúp tôi…giỏi Việt Văn bằng cách mỗi khi phải gọi tôi lên trả bài mà tôi lắp bắp đọc được có vài câu lí nhí thì Thầy vẫn cho tôi điểm 19 hoặc 20 để các bài luận của tôi luôn có điểm cao sẽ không bị điểm kém của “trả bài thuộc lòng” kéo rơi xuống thảm hại.

Cuối năm học ấy, Giáo sư Đỗ Văn Nghĩa kêu tôi đến hỏi xin tôi những quyển tập môn Việt Văn của tôi. Thầy cho biết mỗi năm học qua đi, Thầy luôn xin quyển tập của học sinh xuất sắc nhất của mỗi lớp Thầy dạy để giữ làm kỹ niệm cho một đời dạy học của Thầy.

Tôi đã rơi nước mắt khi nghe Thầy bảo vậy.

Tôi không biết sau một đời dạy học của Thầy, đã có bao nhiêu quyển tập của những học sinh nào đang được chất chồng trong căn hộ nhỏ bé của Thầy. Nhưng tôi biết rất rõ: trên đời này không từng có vị Thầy Cô nào sống như Thầy cả.

Khi trở thành giảng sư Anh Văn, tôi không hỏi xin các sinh viên xuất sắc các quyển tập của họ để tôi giữ làm kỹ vật, đơn giản vì họ cần có những quyển tập ghi lại những tâm huyết tuyệt hảo tôi truyền thụ cho họ để họ có nguồn tài liệu tham khảo trên bước đường trở thành giáo sư của họ. Tôi đã biến thể từ hình ảnh Thầy Đỗ Văn Nghĩa nâng niu như báu vật một quyển tập của mỗi học trò xuất sắc của Thầy cho chính cuộc đời nhà giáo của Thầy, để trở thành hình ảnh Thầy Hoàng Hữu Phước miệt mài chong đèn viết tặng nhiều trang văn tiếng Anh da diết thiết tha trên mỗi quyển lưu bút mà những sinh viên có tấm lòng chân thiện muốn có bút tích của Thầy để nâng niu như báu vật trên bước đường lập nghiệp của họ.

Thầy Đỗ Văn Nghĩa đã biết các “quy định” “quy trình” là để trói buộc những thường nhân. Thầy Đỗ Văn Nghĩa đã biết thế nào là “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để áp dụng với bậc kỳ nhân. Và do vậy, Thầy đã lẵng lặng không áp dụng việc “học thuộc lòng” với học sinh Hoàng Hữu Phước.

Tôi cũng biết các “quy định” “quy trình” là để trói buộc những sinh viên. Tôi biết thế nào là “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để áp dụng với những con người mình tôn trọng. Và do vậy, trước quy định của Khoa Ngoại Ngữ rằng sinh viên đến lớp sau tiếng trống phải bị Thầy Cô đuổi ngay xuống gặp Phó Khoa Đoàn Viết Bửu để ngồi viết bản tự kiểm điểm gồm 10 trang viết “Tôi đã sai khi đi học trể, tôi sẽ không đi học trể” và coi như vắng mặt một tiết học trong Sổ Điểm Danh, tôi đã bảo sinh viên các lớp tôi dạy nếu vào giờ của tôi mà họ vì đi dạy kèm kham khổ mất ngủ kém ăn đến trường muộn thì cứ hãy nhanh chóng tự nhiên vào lớp mà không cần phải cúi đầu chào tôi với câu chào tiếng Anh và xin lỗi tiếng Anh vì học được phút nào hay phút nấy không được phí phạm thời gian cũng như không để bị làm nhục ở Văn Phòng Khoa.

Tôi cũng biết các “quy định” “quy trình” là để trói buộc những thường nhân. Và do  đã học từ Thầy Đỗ Văn Nghĩa để biết thế nào là “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để áp dụng với bậc kỳ nhân, tôi nhiều lần giới thiệu người giỏi đẳng cấp người tài cho nhiều quan chức cấp cao của nước  Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để họ khỏi phải cất công trai tịnh tắm gội đến tận nơi thỉnh mời, và tất nhiên các quan chức ấy đã bảo tôi hãy bảo các người giỏi đẳng cấp người tài ấy hãy thường xuyên theo dõi các thông báo tuyển dụng công chức để nộp đơn xin việc theo đúng “quy định” “quy trình”.

Giáo sư Đỗ Văn Nghĩa là như vậy đấy. Thầy đã cùng các Thầy Cô khác đã hình thành nơi tôi những 6 kho báu vật gồm (a) những ký ức quá tốt đẹp về các Thầy Cô đễ tự hào bản thân được là người học trò may mắn nhất thế gian này; (b) những đức tính hình thành nhân cách con người thiên Khổng; (c) những kỹ niệm quá đẹp để làm niềm an ủi mỗi khi phải đối mặt với trùng điệp những bất công và xấu xa tệ hại của cuộc đời; (d) những tôn kính tôn trọng tôn vinh dành cho chánh đạo; (e) những bảo bối như những bút tích của các Thầy Cô để phòng thân mà tôi đã tung ra khi thế gian này bôi nhọ tôi vụ Luật Biểu TìnhTứ Đại Ngu; và (f) những đánh giá cao từ những học trò tuyệt vời, những nhân viên xuất sắc, và những người dân đạo đức lương thiện tuyệt hảo.

Kính đội ơn Thầy suốt kiếp, Thầy ơi!

Hoàng Hữu Phước, Học trò xuất sắc của các Thầy Cô xuất chúng

Tham khảo (theo thứ tự alphabet):

Bầy đàn: Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam  20-8-2013

Cựu nhà giáo Hoàng Hữu Phước: Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Dĩ bất biến, ứng vạn biến: Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”  27-10-2015

Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật.  14-4-2015

Ngày Nhà Giáo: Ngày Nhà Giáo Việt Nam  20-11-2018

Người giỏi đẳng cấp người tài: Hiền Tài 22-5-2019

Những bút tích của các Thầy Cô làm bảo bối:

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô  22-02-2015

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm  22-02-2015

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh  22-02-2015

Tôi Và Cô Vũ Thị Thu  07-5-2018

Không giỏi không thể theo ngành sư phạm: Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai   09-4-2015

Thạc sĩ Văn của Ngộ Quá Phải Hông Anh: Đất nước mình ngộ quá phải không anh  29-5-2016

Tứ Đại Ngu: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Valentine:  Valentine  15-02-2018

Both comments and trackbacks are currently closed.