Được Nhà Báo Dạy

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2019

Ngay sau khi bị tổng tấn công trên các phương tiện truyền thông đại chúng – trừ phát thanh và truyền hình vì thời gian của hai nơi này là để hốt bạc từ quảng cáo thượng vàng hạ cám nên không ngu gì bầy đàn cùng báo chữ để trở thành kẻ thù mà Hoàng Hữu Phước sẽ phải tiêu diệt bằng mọi giá – vì dám là người đầu tiên trong toàn bộ lịch sử nghị viện Việt Nam dùng vũ khí đấu tranh nghị trường để ứng khẩu hùng biện chống một dự án luật của Đảng và Chính Phủ (Dự án “Luật Biểu Tình”) và dám là người đầu tiên trong toàn bộ lịch sử báo mạng Việt Nam dùng vũ khí đấu tranh không gian mạng để vẫy bút thành văn chống Dự án “Đĩ” thì tôi đã được 13 nhà báo tìm đến thân tình dạy tôi biết những điều bí mật vô cùng bí mật, và năm trong số các nhà báo ấy gồm các vị sau.

1) Nhà Báo Phùng Kim Yến đã dạy tôi rằng tôihãy tiếp tục sự nghiệp đấu tranh nghị trường vì nước vì dân và chị kết luận trong lần đầu tiên gặp tôi và cũng là lần cuối cùng của chị trên thế gian này: “Người dân rất kính trọng anh Phước. Anh không cô độc đâu. Rồi anh sẽ thấy.” 

Khi tôi bịnh nặng phải nằm viện và vắng hai kỳ họp Quốc Hội Khóa XIII, “người dân” nghèo Hồ Thị Kim Chung ở Hà Nội đã bằng cách nào đó có được số điện thoại của tôi và kiên trì gọi để nói chuyện với tôi cho bằng được để báo tin chị đã van vái tứ phương, đến bao đền chùa, và cuối cùng đã được ban cho một phương thuốc thần hiệu theo đó chị sẽ chưng nấu một quả tim lợn cùng các thảo dược và sẽ cho vào tô niêm kín gởi khẩn vào cho tôi ăn trọn trong một ngày. Tất nhiên, tôi thều thào đáp rằng tôi rất biết ơn chị, và sẽ dặn vợ tôi làm y theo lời hướng dẫn của chị chứ chị đừng mất công làm rồi gởi vào gây tốn kém cho chị.

Khi kết thúc một buổi tiếp xúc cử tri Quận 4 sau kỳ họp mà tại buổi tiếp xúc ấy lại có những “đại cử tri” hùng hồn phát biểu chống tôi vì tôi dám chống dự án Luật Biểu Tình, như mọi lần tôi nấn ná trong sân để chờ cho long xa của Triều Đình (chở Chủ Tịch Nước Nghị sĩ Trương Tấn Sang) và xa giá của Quốc Hội (chở Phó Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành Phố Hồ Chí Minh Nghị Sĩ Trần Du Lịch) cùng các quan lại và ngự lâm quân cả chìm và nổi rút đi hết, thì Cô Lại Thu Trúc mới gọi phone kêu taxi Mai Linh vượt qua các chốt chặn hữu hình đã được dỡ bỏ để đến đón chúng tôi. Khi xe đến, tôi ra ngoài cổng thì bất thình lình một nhóm cả chục “người dân” nghèo – vì không phải “đại cử tri” (được chọn lọc sẵn) nên không được an ninh cho phép vào trong hội trường có mặt nguyên thủ quốc gia – gồm tám nam và hai nữ chạy ào đến vây quanh lấy tôi. Như thường lệ, cô Lại Thu Trúc phản ứng tự nhiên một cách dữ dội: tiến lên giang rộng đôi tay bé nhỏ của cô che chắn bảo vệ tôi để sẵn sàng hứng đón một hành vi tấn công bạo lực rất có thể sắp xảy ra; nhưng cô lại xúc động nhanh chóng lùi tránh sang một bên để những “người dân” lam lũ ấy chạm vào vai tôi, vào lưng tôi, khi cô nghe họ thi nhau liếng thoắng: “Bác đại biểu Phước! Chúng cháu là thợ vào từ Nam Định. Chúng cháu đọc báo biết hôm nay bác họp ở đây nên rủ nhau xin nghỉ việc buổi sáng đến chờ để chào bác. Cố lên bác nhé.” Ngay cả bốn nhân viên bảo vệ cầm gậy chạy đến định giải vây cũng phải sựng lại, đứng nhìn cảnh tượng quái lạ chưa từng chứng kiến trong đời. Cũng là lần đầu tiên tôi được vây quanh bởi những “người dân” rộn tiếng cười vui, không bất kỳ ai cầm trên tay các hồ sơ khiếu kiện kèm khăn lau nước mắt khuất oan.

Rồi đến khi “người dân” giàu Lê Hoài Kỳ trên 70 tuổi từ Mỹ Quốc về gặp tôi, gởi tặng tôi cây bút mực “hàng hiệu” lừng danh thế giới tư bản vì thấy tôi là người ngoài Đảng nhưng có dũng khí vì “người dân” rất đáng kính trọng và vì tôi có phong cách cổ điển Sài Gòn (chắc qua hình ảnh trên báo chí) luôn giắt một cây bút trong túi áo sơ-mi. Cùng đi với  “người dân” hải ngoại Lê Hoài Kỳ là ba Việt Kiều trong đó có một vị luật sư và một chị mặt hoa da phấn. “Người dân” giàu Lê Hoài Kỳ cho biết có mẹ là cụ bà đã gần 105 tuổi, trước 30-4-1975 có hàng chục biệt thự ở Sài Gòn, sau giải phóng hiến tặng hết cho Ủy Ban Quân Quản, chỉ giữ lại một căn. Không ngờ đám gia nhân bà đem vào từ quê nhà ở một tỉnh Miền Trung vào nuôi nhiều chục năm từ trước 30-4-1975 không biết bằng cách nào đó nắm được “giấy chủ quyền” căn biệt thự rồi xúm lại khiêng bà bỏ ngoài đường. Khi nghe hàng xóm điện tín khẩn báo, ông Kỳ vội về nước, đưa mẹ đến ở một căn nhà nhỏ thuê ở Bình Thạnh, thuê người hầu hạ, rồi kiên trì đội đơn khiếu kiện với chính quyền Thành Phố Hồ Chí Minh trong hàng chục năm  vẫn không quan chức nào ngó đến. Trước mặt ba Việt Kiều có học thức caonói trên, ông Kỳ tuyên bố ông tìm gặp tôi không phải để nhờ tôi “giúp đỡ” vì ông nói “Chế độ này sẽ không có ông Đảng nào giúp dân biểu Phước đâu”, ông chỉ đơn giản muốn gặp “con người chơn chánh xuất hiện bất ngờ trên chính trường Việt Nam Cộng Sản”, và muốn gởi gắm tâm sự rằng ông “muốn đám gia nhân phản phúc phải bị quả báo bởi luật pháp Việt Nam và muốn thành ý hiến tặng tài sản của mẹ ông phải được Nhà Nước Việt Nam công nhận công lao”, còn căn biệt thự nếu ngày nào đó công lý Việt Nam xét trả lại cho mẹ của ông thì ông “không cần biết nó giá bao nhiêu triệu đô-la Mỹ, chỉ xin đưa hết cho dân biểu Phước để nhờ dân biểu Phước đem giúp đỡ dân nghèo và giúp nước”. Tôi đã xin ông một bộ hồ sơ khiếu kiện để hiểu vụ việc chứ không để “can thiệp”. Hồ sơ có cả bản thu thập chữ ký của hàng trăm bô lão dân cư ở tỉnh ấy chứng nhận gia đình bà cụ đã là cư dân tỷ phú ở địa phương ấy, đã giúp đỡ bao người trong chiến tranh, và những người tên ấy tên ấy tên ấy là gia đình người giúp việc mà bà cụ đã cưu mang đem toàn bộ về nuôi cho hàng chục con cái ăn học mấy chục năm trời, v.v. Sau đó, tôi đã tự ý chuyển hết hồ sơ cho lãnh đạo Đoàn Nghị Sĩ Thành Phố Hồ Chí Minh và Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang để “nhắc nhở” một vụ việc lẽ ra đã nên được giải quyết hay giải đáp từ nhiều nhiệm kỳ trước đó. Tất nhiên, nói theo kiểu hành văn của “Giã Từ Vũ Khí” thì sự im lặng thật ầm vang chát chúa đinh tai điếc óc deafening xiết bao.

Gần 10 năm đã trôi qua. “Người dân” giàu là cụ bà thân mẫu của ông Kỳ ắt đã không còn. Tôi cũng không còn nhận được tin nhắn Viber của người đàn ông mà tuổi tác nay ắt đã hơn 80 ấy. Tôi có đăng trên trang mạng Blog.com ảnh chụp hai trong số nhiều tin nhắn ông gởi tôi bằng tiếng Anh (ông Kỳ chỉ dùng tiếng Anh khi viết tin nhắn), nhưng blog ấy nay đã không còn, mà tôi chưa lục tìm ra ảnh lưu trong tàng thư cá nhân hàng tỷ mục để kèm trong bài viết này, và cũng tiếc là cô Lại Thu Trúc thủa ấy chưa biết cách chụp lại màn hình máy vi tính, chắc cũng có thể vì cô chỉ quan tâm đến những bài nào của tôi về kinh tế chính trị mà thôi chứ các thư từ/email/tin nhắn “người dân” nghèo và “người dân” giàu gởi đến tôi thì nhiều quá. Tin thứ nhất có nghĩa tiếng Việt như sau: “Tôi đã gởi thêm thư khiếu kiện đến ông Lê Thanh Hải, nhưng tất nhiên tất cả lại là sự im lặng. Mẹ tôi ắt sẽ không thể sống mãi để chờ nghe tin gì về công lý ở xứ sở này.” Tin cuối cùng viết: “Thưa Ngài (Sir), Ngài thực sự là một triết nhân, một nhà trí thức, một người Việt yêu nước. Ngài không phải là một chính trị gia, vì chính trị gia phải là kẻ gian hùng. Tôi và thân hữu của tôi bên này rất tôn kính Ngài.”

Lời dạy của nhà báo Phùng Kim Yến đã giúp tôi nhận ra một điều rằng dù cho có bị toàn thiên hạ “ném đá” thì phía xa đằng sau những kẻ hừng hực hùng hục ném đá ấy là những “người dân” chơn thiện mà tôi thay vì bỏ chạy hãy cứ xông pha tiến lên đối mặt với đá vì có như vậy tôi mới có ngày đến được gần hơn nơi những “người dân” đang đứng đợi chờ.

Lời dạy của “người dân” giàu tên Lê Hoài Kỳ đã làm tôi chỉ dám thỉnh thoảng “khôi hài” gọi mình là “nhà chính trị” (nghị sĩ đương nhiên là “nhà chính trị”) chứ không bao giờ dám đụng đến chữ “chính trị gia” vì từ ấy đã bị “người dân” giàu này gán ghép với “đức tính” gian hùng.

2) Nhà báo L đã dạy tôi rằng báo chí ở Việt Nam là một thực thể chẳng trên nền tảng của sự sáng suốt công minh trung thực.

L đã gởi email đến tôi những “bài viết” ủng hộ tôi vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”. Anh ấy bảo rằng tất cả các tòa soạn đều từ chối đăng bài của anh, nên anh đành gởi tôi “xem cho biết” rằng đã có những nhà báo như anh nhìn nhận tôi đúng nhưng các “tổng biên tập” chính thống đều chỉ đạo phải đánh cho Phước cút, đánh cho Phước nhào ra khỏi Quốc Hội Khóa XIII. Qua tổ chức của nhà báo L tôi đã có những buổi họp mặt với vài nhà báo trẻ đa tài thuộc hàng con cháu của anh để biết thêm rằng tôi được họ – và cha mẹ của họ, những người đã bắt họ phải in ra tất cả các bài viết của tôi để gởi về quê cho họ đọc, lưu, và đóng tập – mến như thế nào vì tôi đã làm báo mạng bừng lên bùng khởi theo nẽo mới mà trước đó chưa từng tồn tại ở Việt Nam.

3) Nhà báo H đã dạy tôi rằng nữ quyền chính đạo đã mạnh mẽ ra sao trên truyền thông mạng.

Nhà báo H đã rất tích cực cùng nhà báo L trong …“ủy lạo thương binh” Hoàng Hữu Phước sau các trận ném đá tơi bời ấy. Hiện chị là một blogger…“Đỏ” với các quân đoàn tinh nhuệ chứ không là blogger đơn độc như tôi, đến độ có lần tôi phải buộc miệng nói: “Thấy cô có đông người hỗ trợ viết blog tưng bừng mà tôi phát thèm”. Qua thực lực, nhà báo H chứng minh nữ giới thu hút đến dường nào khi theo chánh đạo vì nước vì dân.

4) Nhà báo P đã dạy tôi rằng sự kính trọng được dành cho một người bắt nguồn từ tư cách vì nước vì dân của người ấy.

Là một nữ phóng viên Báo Tuổi Trẻ, P mỗi khi trò chuyện cùng tôi bên tách cà phê sáng đều gọi tôi là “Thầy”. Những ý kiến của tôi lần lượt được cô đưa vào các bài viết của cô trên tờ báo giấy ấy. Một sáng nọ, cô phone cho tôi, và sau đây là đoạn hội thoại:

P: “Thầy ơi. Có mấy anh của báo mạng PhốBolsaTV ở Cali nhờ em xin Thầy cho họ gặp để phỏng vấn. Vậy được không Thầy?”

Tôi: “Cô nghĩ sao về họ?”

P: “Em thấy họ được, Thầy.”

Tôi: “Nếu vậy, tôi đồng ý tiếp và trả lời phỏng vấn.”

P: “Mà họ nói sẽ không đưa câu hỏi trước nhe Thầy. Mà Thầy cho họ gặp Thầy lúc nào và trong bao lâu vậy Thầy?”

Tôi: “Có sao đâu. Biết trước câu hỏi chỉ làm tôi mất hứng. Họ muốn gặp tôi lúc nào thì họ phone vô số này của cô Lại Thu Trúc cho cô ấy biết. Họ muốn phỏng vấn bao lâu cũng được. Cả ngày cũng được. Từ nay bất kỳ phóng viên nào của nước ngoài hay nước trong muốn nhờ cô giới thiệu để gặp tôi phỏng vấn thì cô cứ tự nhiên quyết định luôn rồi báo tôi biết nếu cô chịu cho họ gặp tôi. Miễn cô thấy họ được là…được.”

Về sau, nhà báo P bỏ tòa soạn báo Tuổi Trẻ để đầu quân cho nơi khác. Không có lời giới thiệu của P thì tôi không thể biết nhà báo nào “được” và nhà báo nào “bất được” nên tôi từ chối tất tần tật. Tất nhiên, nếu nhà báo L và nhà báo H giới thiệu “được” thì tôi vẫn sẽ tiếp. May mắn cho tôi là hai nhà báo L và H không như nhà báo P thích “vác tù và hàng tổng” nên tôi cũng không còn mặn mà gì với mấy vụ phỏng vấn cả. 

5) Nhà báo Hoàng Hữu Hiệp đã dạy tôi rằng sự giận dữ bất kính thóa mạ mà “người dân” dành cho lãnh đạo nếu xuất phát từ các oan khuất của họ sẽ chỉ mang một ý nghĩa duy nhất rằng vị lãnh đạo ấy không là hạng mà đất nước dân tộc này cần có. Nếu ngay cả lãnh đạo tiền nhiệm – hoặc nay đã quá cố – sai, chứ không phải mình sai, mà mình là lãnh đạo đương nhiệm vẫn không dám “xúc phạm”, nghĩa là thà “xúc phạm” dân, “xúc phạm” luật pháp, “xúc phạm” luật trời, “xúc phạm” quốc thể, chứ không dám luận tội lãnh đạo tiền nhiệm, thì không phải là hạng lãnh đạo đáng vất sọt rác thì còn là giống gì đây?

Nếu bản thân ta làm lãnh đạo mà sai, thì hãy vác mặt lên trời tự hào cha mẹ đã sinh ra ta công chính mà nói chính ta sai rồi xin lỗi “người dân” bị hại. Đó là nêu gương, là…tuyên giáo, mà không cần Ban Tuyên Giáo.

Nếu lãnh đạo tiền nhiệm mà sai, thì ta vác mặt lên trời tự hào cha mẹ đã sinh ra ta công chính mà nói chính lãnh đạo tiền nhiệm ấy sai rồi thay mặt “hệ thống chính trị” mà xin lỗi “người dân” bị hại. Đó là nêu gương, là…tuyên giáo, mà không cần Ban Tuyên Giáo.

Nếu có chứng cớ chứng minh “người dân” sai, thì vác mặt lên trời tự hào cha mẹ đã sinh ra ta công chính mà nói chính “người dân” sai rồi dùng luật pháp bắt “người dân” sai ấy phải chịu hình phạt theo luật định. Đó là nêu gương, là…tuyên giáo, mà không cần Ban Tuyên Giáo.

Chẳng bao giờ làm một trong ba điều duy nhất đúng trên mà dám ngồi ghế lãnh đạo, mỗi cuối năm tổng kết huênh hoang về thành quả công tác tuyên giáo để duy trì ban bệ quyền lực vô dụng mang tên tuyên giáo trong Đảng Cộng Sản ư?

Tôi đã tích cực đề xuất biện pháp giải quyết vụ khiếu kiện trường thiên của nhà báo Hoàng Hữu Hiệp (a) không phải vì tôi nịnh bợ giới báo chí vì giới báo chí phải nịnh bợ tôi mới đúng luân thường đạo lý con người và vì chỉ có nhà báo khỉ đột đười ươi hắc tinh tinh khỉ đỏ đít mới làm trò khỉ ném đá tôi, (b) không phải vì tôi sợ bị nhà báo Hoàng Hữu Hiệp chưởi bới thóa mạ y như ông đã nhiều chục năm nay chưởi tướt luốt mọi lãnh đạo và chỉ có tôi còn sót lại là người ông chưa chưởi bới, (c) không phải vì tôi mơ màng danh vọng phù hoa vì tôi là một lão phu được “người dân” Lê Hoài Kỳ xưng tụng là “triết nhân” nên còn khuya tôi mới “làm chính trị” với đức tính “gian hùng”, và (d) không phải vì tôi muốn “lấn sân” các đại quan khi thấy các đại quan cứ đóng vai người khuyết tật khi giả mù giả điếc trước các khiếu kiện của “người dân”.

Lời kết:

Một cựu sinh viên của tôi cách nay 30 năm có lần sử dụng tài kinh doanh chữ nghĩa của anh ta (lĩnh vực in ấn) để cố khuyên tôi nên dịch tập thơ tiếng Anh The Thawing Whiteness (Giá Băng Tàn) của tôi ra tiếng Việt để có nội dung giúp Nhà Nước “hiểu” ý tứ của thơ, kiểm duyệt, cấp giấy phép cho anh ta xuất bản rồi tôi gởi tặng các quyển có nguyên tác tiếng Anh cho Nữ Hoàng Anh và hoàng gia Anh, thế nào cũng có ngày tôi được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ và được toàn thế giới và toàn hệ thống chính quyền Việt Nam phải cung kính khom mình gọi tôi là “Sir”.

Tất nhiên, tôi có rỗi đâu mà làm cái chuyện đội đá vá trời đó! Sáng tác tiếng Anh là hơi thở của tôi, một người khỏe mạnh không có vấn đề gì về hệ hô hấp. Nhưng đem những gì mình viết ra dịch sang tiếng Việt thì thà tôi đi bộ từ Thành Phố Hồ Chí Minh ra tuốt lên đỉnh Mã-Pì-Lèng (không ở truồng mà ăn vận thời trang với bộ veston và giày tây mũi nhọn cổ điển quý tộc Anh) còn dễ hơn nhiều. Nhất là cần quái gì tôi phải lao lung xin xỏ giấy phép và bị cắt xén loại bỏ một số bài thơ để rồi mặc áo đuôi tôm đen đến cung điện hoàng gia Anh quỳ gối để Nữ Hoàng Anh tuốt bảo kiếm đặt lên vai phải rồi sang vai trái tôi để phong tôi tước “Hiệp Sĩ” để muôn đời gắn chặt chữ “Sir” vào ngay trước tên Hoàng Hữu Phước, trong khi tôi đã được Giảng sư Lê Văn Diệm phong tước “Thi Bá Văn Vương”, đã được “người dân” tên Lê Hoài Kỳ làm gia tăng số lượng người Việt và người nước ngoài quen gọi tôi bằng tiếng Anh là “Sir” lên thêm một người, mà ở Việt Nam còn khuya các lãnh đạo toàn quốc mới chịu cúi gập người để cung kính chào tôi, người có chữ “Sir” dính khắn trước tên.

Xin cảm ơn các nhà báo đã dạy dỗ tôi những điều tuyệt diệu, và xin đội ơn những người dân đã giúp chứng minh các nhà báo ấy đã hoàn toàn đúng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII.

Tham khảo (theo thứ tự alphabet)

Ăn vận thời trang: Thời Trang 20-11-2019

Bầy đàn: Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam  30-8-2013

Dự án Đĩ: Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Dự án Luật Biểu Tình: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đã Ngăn Chặn Thành Công Một Cuộc “Biểu Tình” Ngay Từ Trong Trứng Nước  10-3-2018

Giảng sư Lê Văn Diệm: Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm  22-02-2015

Khôi hài: Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”  30-11-2015

Lại Thu Trúc: Tôi Và Cô Lại Thu Trúc  22-12-2015

Luân thường đạo lý con người: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Mã-Pì-Lèng: Ở Truồng Ở Mã-Pì-Lèng 17-10-2019

Nhà báo Hoàng Hữu Hiệp: Vụ Khiếu Tố Của Hoàng Hữu Hiệp 17-10-2016

Nhà báo Phùng Kim Yến: Tôi Và Nhà Báo Phùng Kim Yến  25-10-2018

Hồ Thị Kim Chung: Công Dân Hồ Thị Kim Chung 16-4-2018

Ở truồng: Ở Truồng Với Sen  22-6-2019

PhốBolsaTV ở Cali: Hoàng Hữu Phước Ứng Khẩu Trả Lời Phỏng Vấn Của PhốBolsaTV 29-8-2019

Quỳ gối: Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu  11-9-2016

Thi Bá Văn Vương: Bạn Hữu Rộng Lượng  05-5-2018 và Vì Sao Là Tannhäuser Beowulf Thor 24-3-2015

Thời trang: Thời Trang  20-11-2019

Trần Du Lịch: Nghị Sĩ Trần Du Lịch  22-4-2019

Trương Tấn Sang: Trương Tấn Sang và Vương Đình Huệ  02-12-2018

Both comments and trackbacks are currently closed.