Xuất Khẩu Gạo

Sử Liệu Duy Nhất Chính Xác Và Duy Nhất Đúng

Hoàng Hữu Phước, MIB, Ciceronian Orator, Supremo Logographer, Rice Historian

05-01-2021

A- Dẫn Nhập: Chân Lý Hoàng Hữu Phước

Đâu đó trên blog này tôi có đã nhắc lại lời dạy minh triết nhất Việt Nam của Ba của tôi rằng phải luôn kính sợ nhân tài và chỉ có 4 cách áp dụng duy nhất đúng (tôi gọi là Tứ Đại Khôn) để hành xử với nhân tài là (a) phải cố thu phục người ấy về dưới trướng của mình, (b) nếu không muốn thu phục hoặc thất bại không thu phục được một nhân tài nào thì phải để yên người ấy vì bất kỳ sự gây thù chuốc oán nào với nhân tài ấy cũng đều là việc cực kỳ ngu xuẩn, (c) phải công khai công nhận toàn phần hoặc một phần những tài năng thành tích của nhân tài ấy, và (d) nếu không muốn công khai công nhận toàn phần hoặc một phần những tài năng thành tích của nhân tài ấy thì cũng đừng dại dột tước công đoạt trạng của người ấy.

Vốn xưa kia đã là một học sinh có thiên khiếu, tôi có một chân lý hữu hạn đã-và-đang-đúng-nhưng-có-thể-sẽ-bớt-đúng-trong-tương-lai-vời-xa rằng không  bất kỳ ai trên đời có thể thắng tôi về khẩu ngữ nói hoặc khẩu ngữ viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh; song, tôi luôn tôn trọng những chân lý đương-nhiên-đúng-đến-muôn-đời, chẳng hạn như về Tứ Đại Khôn nêu trên của Ba tôi trong công tác quản trị doanh nghiệp/quốc gia, và nội dung tối thượng của Bi-Trí-Dũng trong Phật Pháp.

Thể hiện Bi-Trí-Dũng vào đời sống, tôi đã lấy Từ Bi làm kim chỉ nam để giữ mình trước các cám dỗ tiền tài để vì lợi ích sống còn trong phát triển kinh tế của người dân và của quốc gia mà tận tụy giữ gìn danh tiếng chất lượng hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế; cũng như tâm đắc Kinh Pháp Cú Dhammapada để biết người Đại Trínhư ngọn núí kiên cố chẳng bao giờ bị giông gió chuyển lay, còn những lời phỉ báng thị phi hoặc tán dương chẳng bao giờ làm dao động được người thông tuệ sâu sắc” để hiểu rõ công thức bất biến của thói đời tình đời sự đời rồi thành người Đại Trí; và khi hội tụ hòa quyện những Từ BiĐại Trí, tất phát sinh hùng tâm Dũng Mãnh kiên định trước mọi quyền uy thế lực, ra sức phò nguy cứu khổn nạn dân và người yếu thế.

Với lòng Từ Bi, thi ân bất cầu báo, trong gần 25 năm từ sau chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam (năm 1989), tôi chẳng bao giờ nói gì viết gì nhắc gì kể gì khoe gì về “công trạng xuất khẩu lô gạo đầu tiên của Việt Nam”. Chỉ đến khi Báo Sài Gòn Giải PhóngBáo Tuổi Trẻ tự tìm đến xin phỏng vấn tôi nhân kỹ niệm mấy chục năm xuất khẩu lô gạo đầu tiên, tôi mới kể lại những chi tiết có liên quan. Danh xưng “người đầu tiên góp phần đưa hạt gạo đi xa” v.v. là những mỹ từ do báo chí tự đặt cho tôi.

Với tư thế bậc Đại Trí, tôi hiểu rõ cái thói đời tình đời sự đời của sự nâng bợ khúm núm giả lả xun xoe và hùng hổ hò hét đạp chà của bọn hèn hạ lúc nhúc hơn sâu bọ trong xã hội, nên tôi thu thập tài liệu chứng cứ đầy ắp tàng thư cá nhân để phòng thân.

Và khi đã làm chủ Từ Bi cùng Đại Trí, tôi đương nhiên có sự Dũng Mãnh để khẳng định công khai rằng (a) Mụ Bà Ba Thi bất tài vô dụng bị Hoàng Hữu Phước ngoãnh mặt khinh thường không chọn ký hợp đồng mua gạo cho chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam; rằng (b) bất kỳ ai chỉ vì chống Hoàng Hữu Phước mà trở mặt bảo Việt Nam đã xuất khẩu gạo từ trước 1989 là bọn đần độn không phân biệt sự khác nhau giữa chở gạo cứu đói hay trả nợ vay thời chiến tranh cho Cuba/Nga/Bắc Triều Tiên/v.v., với xuất khẩu gạo có giá trị thương mại qua hợp đồng kinh tế có tín dụng thư cùng hàng loạt các yêu cầu khắc khe kể cả bảo lãnh ngân hàng và phạt vạ; rằng (c) Mặt Trận Tổ Quốc Quận Phú Nhuận là lũ mất dạy nên đã mớm ý cho mấy thằng “cử tri” già tại buổi tiếp xúc cử tri “hiệp thương lần 1” cho kỳ bầu cử Quốc Hội Khóa XIV đầu  năm 2016 nhao nhao ầm lên rằng “dân đen ngoài Đảng” Hoàng Hữu Phước cướp công của Thành Ủy Viên Thành phố Hồ Chí Minh Giám đốc công ty quốc doanh FOOCOSA Bà Ba Thi; và (d) khi thấy không bất kỳ ai ở báo chí tryền thông tuyên giáo tôn vinh những người thực sự đã giúp thực hiện thành công chuyến xuất khẩu gạo của Việt Nam, tôi viết bài này với tư cách một “Nhà…Cốc Sử Học” Rice Historian để từ nay về sau hậu thế Việt Nam nắm bắt những thông tin độc đáo độc nhất vô nhị này.

B- Bảng Biểu Thông Tin Chi Tiết Về Chuyến Xuất Khẩu Gạo Đầu Tiên Của Việt Nam

Minh họa một trong những chứng thư cho lô gạo xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam, trích xuất từ tàng thư cá nhân của Hoàng Hữu Phước:

C- Bảng Biểu Danh Mục 16 Nhóm Người Có Công Nhất Thiết Phải Được Ghi Vào Sử Sách

Ghi chú:

Các tư thương chân chính: do toàn bộ các công ty Nhà Nước xuất khẩu gạo không bất kỳ ai có kho gạo hay số lượng gạo thuộc quyền sở hữu của họ, toàn bộ lượng gạo cho chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam đều của các tư thương, tích trữ tại nhiều kho rải rác dọc các kênh rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Vì vậy đã xảy ra trường hợp nhiều công ty xuất nhập khẩu khác nhau đã tranh nhau mời đưa Hoàng Hữu Phước thăm các “kho gạo của họ” để thuyết phục Hoàng Hữu Phước về “ngồn hàng dồi dào của họ” để chịu ký hợp đồng với họ, mà họ lại không biết rằng Hoàng Hữu Phước trước đó đã được các công ty khác đưa đến đúng cũng những kho ấy. Vì vậy, tôi đã phải gặp riêng từng tư thương “chủ kho” để hỏi xem theo họ ai trong số các công ty xuất nhập khẩu quốc doanh đó là uy tín hơn cả, và yêu cầu mỗi tư thương “chủ kho” phải tạo uy tín chất lượng gạo Việt Nam ngay trong chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên này, không được pha trộn gạo từ các nguồn trữ trước 1988 hoặc gạo chất lượng kém từ các địa phương chưa phát triển ngành lúa gạo, và hãy nhớ tôi có thể ngưng cho nhận các “cây gạo” của kho để chọn gạo của kho khác nếu phát hiện chất lượng gạo đang kiểm kiện có vấn đề về chất lượng hay số lượng.

D- Bảng Biểu Danh Mục 8 Người Có Công Không Cần Được Ghi Vào Sử Sách

Ghi chú:

Cự tuyệt các hối lộ của các công ty xuất nhập khẩu quốc doanh: Thời điểm 1989 chỉ có một số công ty quốc doanh cấp Bộ hoặc cấp tỉnh/thành phố lớn mới được xuất nhập khẩu trực tiếp. Chi tiết được kể trong bài 15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần.

Thuyết phục các công ty Việt Nam còn chần chừ chỉ vì các điều khoản nhỏ nhặt: Như cứ so sánh thiệt-hơn giữa điều khoản WWDSHEXUU WWDSHEXEIU về cách có tính hay không được tính những ngày công bốc xếp hàng lên tàu vào các ngày Chủ Nhật và Nghỉ Lễ.

Leo thang dây chão cặp mạn tàu: Khi Cảng có nhiều tàu vào dỡ hàng hoặc nhận hàng, tàu Sea Jade thay vì được ưu tiên cặp bờ đã phải neo giữa sông và các xà lan chở gạo lên hàng từ hai bên mạn tàu (chậm hơn so với cặp bờ có thể dùng cả cần cẩu của tàu và cần cẩu của bờ để bốc gạo từ xe tải và xà lan); do đó, tôi phải được ca-nô Cảng Vụ Port Operation Authority đưa ra tàu mỗi ngày để giám sát.

Dùng thần uy cá nhân: Vào thời điểm 1989 tôi là người Việt Nam duy nhất trên toàn quốc đi làm việc luôn trang phục chỉnh tề với áo sơ mi trắng dài tay, thắt vạt, quần tây (không bao giờ dùng quần khaki hay Jeans vốn không được các công ty Âu Mỹ xem là trang phục công sở nghiêm túc) sậm màu, giày bốt có vớ, bất kể đến thăm các nhà máy dệt như Việt Thắng/Thắng Lợi/Thành Công làm việc với các kỹ sư và thợ cơ khí, hay đến kho hoặc lên tàu kiểm tra hàng hóa, v.v. Tất cả phối hợp với khuôn trung, ngôn ngữ cử chỉ, ngôn phong, ngôn từ, v.v., tạo nên “thần uy” khiến mọi người tự động làm việc nghiêm túc khẩn trường.

Tổ chức tập huấn: Do là chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên, các lãnh đạo và chuyên viên VINACONTROL chưa nắm bắt các yêu cầu giám định, tôi đã phải tổ chức một tuần tập huấn tại Majestic Hotel (nơi CIMMCO International đóng văn phòng từ lâu) đường Đồng Khởi, Quận 1, mỗi ngày trọn hai buổi, có đài thọ ăn trưa tại nhà hàng ở tầng trên cùng của Majestic Hotel. (Trần Hùng Việt, cựu Tổng Giám Đốc Saigontourist, vào thời điểm Hoàng Hữu Phước xuất khẩu lô gạo đầu tiên của Việt Nam phụ trách quầy lễ tân Majestic Hotel.) Nội dung tập huấn bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các chỉ tiêu chất lượng, sự phân biệt admixture với foreign matters, các yêu cầu kiểm dịch/hun trùng, cách sử dụng máy cầm tay đo ẩm độ gạo do CIMMCO cung cấp, v.v., mà Hoàng Hữu Phước dịch ra Tiếng Việt từ tài liệu Tiếng Anh.

Tự quản lý mọi việc: như đã nêu trong bài Trường Chuyên Ở Việt Nam: Trường Lắm Chuyện, không một ai xuất thân là học sinh thiên khiếu mà lại hoạt động hiệu quả dưới quyền sai khiến của người khác hoặc trong một tập thể những người không cùng đẳng cấp thiên khiếu.

Nguyễn Văn Huấn: Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh

Amit Kumar Saxena: Resident Manager (Giám Đốc Hải Ngoại) của CIMMCO International tại Thành phố Hồ Chí Minh, chức danh mà Việt Nam tự gọi Ông Amit Saxena là “Trưởng Đại Diện” (cũng như Secretary của CIMMCO International tại các văn phòng hải ngoại có ý nghĩa Giám Đốc Địa Phương hoặc Phó Giám Đốc Chi Nhánh, nhưng Việt Nam chỉ luôn gọi là “Thư Ký” – xin đón đọc bài viết về Secretary ở kỳ sau)

Không một ai ở cơ quan Đảng: Hoàng Hữu Phước không bao giờ nhờ cậy bất kỳ ai ở Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kể lúc ấy cả thành phố và cả nước chẳng ai biết gì về chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên này.

Không một ai ở cơ quan Nhà Nước: Hoàng Hữu Phước không bao giờ nhờ cậy bất kỳ ai ở các cơ quan tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kể lúc ấy cả thành phố và cả nước chẳng ai biết gì về chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên này.

Không một ai ở công ty GENERALIMEX, IMEXCO, LICIDO: Hoàng Hữu Phước không bao giờ nhắc nhở các lãnh đạo của các công ty này vì đã là dân chuyên nghiệp thì các hoạt động đều nghiêm túc dựa theo các điều khoản của hợp đồng đã ký kết, chưa kể không bất kỳ ai dám giỡn mặt với Hoàng Hữu Phước, trừ một kẻ sau này là đại gia một tỉnh Miền Tây tỷ phú đô-la mà trước đây đã trốn núp Hoàng Hữu Phước trong văn phòng ở Quận 6 mấy ngày không dám bước ra đường vì không giữ chữ tín với Hoàng Hữu Phước, bị Hoàng Hữu Phước cử tài xế đậu xe mai phục trước mặt tiền công ty. Tất cả các nhân viên của Hoàng Hữu Phước ở tất cả các công ty Hoàng Hữu Phước công tác đều biết đại gia đó là ai.

Không một ai thuộc giới nông dân: Gạo tất nhiên do nông dân trồng, nhưng nông dân bán gạo cho tư thương và đã nhận xong phần giá trị tương xứng với hàng hóa họ tạo ra. Hoàng Hữu Phước luôn phản đối cái gọi là “Ngày Nhà Giáo” tung hê cái “Nhớ Ơn Thầy Cô”; do đó, không chấp nhận việc phải kể công lao trồng lúa của nông dân như một đóng góp vào đại cuộc xuất khẩu chuyến gạo đầu tiên.

Không một ai thuộc giới truyền thông báo chí tuyên giáo: Năm 1989 tuyệt đối không có bất cứ mẫu tin nào trên báo chí, phát thanh, truyền hình về sự nhộn nhịp ở Cảng Sài Gòn khi có chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên ở Việt Nam. Chỉ sau khi xuất khẩu gạo trở nên thường xuyên, Nhà Nước nhày vào tổ chức cái gọi là Hiệp Hội Xuất Khẩu Gạo, thì lúc đó truyền thông mới viết sơ kết, lộ ra nhu cầu về cái gọi là “lần xuất khẩu gạo đầu tiên” nên Hoàng Hữu Phước trở thành cứu tinh cung cấp tư liệu cho báo chí viết bài. Chỉ đến khi Hoàng Hữu Phước trở thành nghị sĩ vì Bi-Trí-Dũng chống lại dự án  Luật Biểu Tình và vì đạo đức truyền thống Việt viết Tứ Đại Ngu thì truyền thông lập tức lờ luôn “đại công” của Hoàng Hữu Phước, còn Mặt Trận Tổ Quốc thì lấy cái đại công ấy gán cho con mụ Bà Ba Thi khét tiếng, biến Hoàng Hữu Phước dân đen ngoài Đảng thành kẻ dám cướp giật công lao của một phụ nữ đảng viên chức sắc cấp cao mà Trương Tấn Sang cùng Quận Ủy Quận 3 cũng chỉ dám cười cợt sau lưng lúc trà dư tửu hậu.

E- 11 Câu Hỏi Quan Trọng Và Những Tiết Lộ Quan Trọng Của Hoàng Hữu Phước

Câu 1: Cơ duyên nào đưa Ông Hoàng Hữu Phước đến công việc một Phó Trưởng Đại Diện Công ty Cimmco International tại Việt Nam?

Sau thời gian làm giảng viên Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1982 đến 1988, tôi trở thành đại diện Văn Phòng TICO LTD của Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh, trước khi chính thức làm việc cho Công Ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài FOSCO trực thuộc Sở Ngoại Vụ Thành phố Hồ Chí Minh và được công ty này phân công đến công tác tại CIMMCO International là một công ty xuất nhập khẩu và chuyển giao công nghệ của Tập Đoàn Birla Ấn Độ có văn phòng đại diện tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Phnom Penh (Kampuchea), Berlin (Đông Đức), Moscow (Liên Xô), Havana (Cuba), Singapore, Anh Quốc, Nepal, v.v. Cần nói thêm về Tiếng Anh của Ấn Độ sử dụng tại CIMMCO International: Tổng Giám Đốc là General Manager, Trưởng Đại Diện là Resident Manager, và Phó Đại Diện Người Bản XứSecretary. Ở Tổng Hành Dinh của CIMMCO tại Ấn Độ hoàn toàn không có các chức danh như Director, General Director, Chief Representative, CEO, v.v. tức những tên gọi chức danh mà thế giới kinh doanh lẹt đẹt sinh sau đẻ muộn ngày nay sử dụng. Tôi làm việc cho CIMMCO International trong 7 năm từ năm 1989 đến 1996. Lúc ấy ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có vài ba văn phòng đại diện chính thức của công ty nước ngoài như CIMMCO International của Ấn Độ, Ciba Geigy của Thụy Sĩ, và một công ty của Singapore do Cựu Bí Thư Thứ Nhất Đại Sú Quán Ấn Độ ở Việt Nam là ông Shantanu Srivastava làm Trưởng Đại Diện ngay sau khi hết nhiệm kỳ ở Bộ Ngoại Giao Ấn Độ.

Câu 2: Vào thời điểm trước năm 1989, Ông Hoàng Hữu Phước sống ở đâu tại Việt Nam và tình hình lương thực thực phẩm lúc ấy có thiếu thốn không? Người dân có dễ dàng mua gạo ở ngoài chợ không?

Tôi được sinh ra ở Bảo Sanh Viện Từ Dũ và sống ở Sài Gòn và Thành phố Hồ Chí Minh từ lúc mới chào đời năm 1957 cho đến nay. Theo tôi nhớ thì tình hình lương thực ở Thành phố Hồ Chí Minh có khó khăn vào thời điểm từ sau ngày thống nhất đất nước cho đến cuối những năm 1970, vì thời gian tôi là sinh viên Đại Học Tổng Hợp học quân sự tại Thủ Đức vẫn còn ăn độn bobo, còn khi tôi là giảng viên Anh Văn ở Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh 1981 thì dù tôi vẫn xếp hàng chờ nhận khẩu phần thịt heo ở canteen trường, tình hình gạo và thực phẩm đã có thể nói là không còn thiếu thốn. Gia đình tôi và mọi người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1981 đã có thể mua gạo dễ dàng ngoài chợ, không còn chờ mua theo tiêu chuẩn ở các hợp tác xã phường. Bobo thì biến mất trên các quầy các sạp ngoài chợ và trong các bữa ăn.

Câu 3: Xin kể lại chi tiết thương vụ xuất khẩu lô gạo đầu tiên của Việt Nam ra thế giới.

Tôi lúc ấy chưa quan tâm đến việc đó là thương vụ xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam. Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng Ấn Độ đang có nhu cầu mua gạo Việt Nam và tôi phải tìm hiểu xem Việt Nam có cung ứng được hay không. Tôi đến gặp anh Nguyễn Văn Huấn tức Anh Ba Huấn Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để vừa thông tin vừa nắm thông tin năng lực cung ứng hàng, và anh rất vui mừng, nói Thành phố Hồ Chí Minh dư sức đáp ứng nhu cầu của CIMMCO. Anh quay điện thoại, gọi Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Thành phố Hồ Chí Minh IMEXCO, cho chỉ thị bảo mời tôi đến bàn bạc việc xuất khẩu gạo. Tôi gặp anh Dương Kỳ Hiếu ở đấy. Với suy nghĩ đây là chuyến nhập khẩu gạo đầu tiên của Ấn Độ, tôi bằng mọi giá phải bảo đảm thương vụ thành công tốt đẹp, nên sau khi đã yên tâm vào IMEXCO, tôi bàn với CIMMCO ý tư vấn của tôi nên chia đều tổng số lượng gạo sẽ mua ra ba đơn vị, và tôi liên hệ thêm được hai nơi khác là GENERALIMEX tức Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Chi Nhánh Miền Nam của Bộ Ngoại Thương do anh Tân phụ trách xuất nhập khẩu, và LICIDO tức Liên Hiệp Xuất Nhập Khẩu Tỉnh Đồng Tháp lúc ấy do anh Võ Hùng Dũng làm Tổng Giám Đốc, xem như có thể yên tâm rằng dưới sự trực thuộc vào Thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Ngoại Thương cùng nguồn cung ứng chủ lực của vựa lúa gạo Đồng Tháp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, chuyến xuất khẩu gạo sẽ được bảo đảm thành công nhờ sự cạnh tranh cao độ của ba công ty nên sẽ an toàn về số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng.

Các hợp đồng với GENERALIMEX, IMEXCO, và LICIDO đều được ký ngày 08-7-1989 và các tín dụng thư được CIMMCO LIMITED Singapore mở cùng ngày 20-7-1989 từ Ngân Hàng BFCE Banque Française du Commerce Exterieur ở Singapore cho cả ba công ty Việt Nam tại Ngân Hàng Ngoại Thương VIETCOMBANK Chi Nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, với giá FOB HCMC là USD235/Tấn, quy định giao hàng chậm nhất ngày 31-8-1989 tại Cảng Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi chuyến xuất khẩu gạo hoàn tất, nhiều triệu USD được thanh toán đủ và đúng cho các công ty xuất khẩu ở Việt Nam, anh Ba Huấn Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh và anh Sáu Hậu tức Chánh Văn Phòng Nguyễn Hậu đã tổ chức một buổi lễ tại Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để trao tặng Huy Hiệu Công Dân Danh Dự Thành phố Hồ Chí Minh cho anh Amit Kumar Saxena, Trưởng Đại Diện CIMMCO International, và chính tại buổi lễ này khi nghe anh Ba Huấn cảm ơn anh Amit đã tạo điều kiện giúp “Thành phố Hồ Chí Minh xuất khẩu chuyến gạo đầu tiên của Việt Nam” và cảm ơn tôi đã “tác động giúp Thành phố Hồ Chí Minh và giúp nước Việt Nam” tôi mới bắt đầu quan tâm đến nội dung gọi là “xuất khẩu gạo đầu tiên” đó.

Câu 4: Được biết là năm 1988 Việt Nam vẫn còn phải đi nhập khẩu lương thực, tại sao chỉ trong 1 năm, sang đến năm 1989 chúng ta đã có thừa gạo để xuất khẩu. Phải chăng khi ấy được mùa hay nhà nước ưu tiên xuất khẩu gạo để lấy ngoại tệ?

Theo tôi, trên bình diện chiến lược quốc gia thì việc nhập khẩu lương thực năm 1988 chỉ là thực hiện kế sách “gối đầu” thường niên để không lâm vào thế bị động, chứ không vì Việt Nam vẫn đang thiếu gạo, và chính năm 1988 cũng là năm Việt Nam có vụ mùa gạo thành công, mở đường cho một năm 1989 tự túc lương thực có thặng dư để ngưng nhập khẩu, nhưng lại trùng hợp với hai điều may mắn là năm 1989 cũng lại là năm tiếp tục trúng mùa gạo, đồng thời Ấn Độ lần đầu tiên có nhu cầu về chủng loại gạo mà Việt Nam đang bội thu, và cái nhu cầu nhập khẩu đầu tiên của Ấn Độ giúp tạo nên cơ hội làm nên cuộc xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam. Gạo là mặt hàng chiến lược nên không phải Nhà Nước ưu tiên xuất khẩu để lấy ngoại tệ mà chính là những cơ may đã hội tụ đến với đất nước Việt Nam của chúng ta.

Câu 5: Phía Ấn Độ lúc đó muốn mua bao nhiêu gạo, Ông đã phải đi đến những nơi nào để tìm đủ nguồn cung cấp gạo cho Ấn Độ? Khi đó loại gạo Việt Nam xuất khẩu là loại gạo gì? Chất lượng ra sao?

Tôi không biết tổng nhu cầu gạo của phía Án Độ, chỉ biết Ấn Độ năm ấy vẫn được mùa gạo cao cấp Basmati cho thị trường Châu Âu nhưng thất bát vụ mùa gạo loại thường cho thị trường trong nước nên Chính Phủ phải nhập khẩu khẩn cấp. Do là công ty xuất nhập khẩu của Tập Đoàn Birla lớn nhất Ấn Độ, CIMMCO Limited giao CIMMCO International nhiệm vụ tìm nguồn nhập khẩu và thử nghiệm nhập khẩu lô gạo đầu tiên cho Ấn Độ và chuyến đầu tiên để thử nghiệm là từ 10.000 đến 15.000 tấn gạo tẻ trắng loại 35% tấm của vụ niên vụ 1988/1989.

Tôi đã không phải đi nhiều nơi vì nguồn cung gạo lúc ấy không thiếu. Tôi có lấy các mẫu gạo tại rất nhiều kho và gởi mẫu cùng quy cách sang Ấn Độ. Tất cả đều được Ấn Độ chấp nhận về chất lượng.

Câu 6: Khi ấy các nhà cung cấp gạo của Việt Nam đã làm quen với việc xuất khẩu gạo như thế nào? Họ có gặp bỡ ngỡ gì khi đáp ứng yêu cầu của phía khách hàng?

Thật ra, việc xuất khẩu gạo ở Việt Nam lúc ấy có 4 đặc điểm và cũng là lợi điểm chung gồm:

1) Số lượng công ty trực tiếp xuất nhập khẩu không nhiều và toàn là công ty lớn của Nhà Nước nên sự hỗ trợ đến từ toàn hệ thống kể cả vốn ngân hàng Nhà Nước ứng giúp họ dễ dàng ký hợp đồng với các tư thương chủ nhân các kho gạo.

2) Các công ty xuất nhập khẩu đa số thực hiện việc xuất khẩu để có ngoại tệ và dùng số ngoại tệ kiếm được này nhập khẩu hàng hóa và tư liệu sản xuất “gối đầu” cho và theo kế hoạch hàng năm của Nhà Nước; thí dụ Công ty Seaprodex Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên ký hợp đồng mua của CIMMCO số lượng rất lớn hạt nhựa, sắt xây dựng, phẩm màu dệt nhuộm, hóa chất công nghiệp, gas điện lạnh, v.v., và Imexco cùng Generalimex cũng không là ngoại lệ, trong khi CIMMCO thường xuyên mua của họ tơ tằm, sắn lát, nghệ nhánh, trà đen, hạt điều thô, v.v., nên giữa các công ty này và CIMMCO đã có thời gian rất dài là khách hàng thân quen của nhau, hình thành nên uy tín và sự tin cậy vào nhau. Khi có việc xuất khẩu gạo là việc rất lớn, CIMMCO và các công ty Việt Nam dễ dàng hợp tác rất hiệu quả, nhanh chóng, bài bản, để cùng thành công.

3) Các công ty trực tiếp xuất khẩu thường không trực tiếp sản xuất hàng và không có kho lẫm riêng. Họ dựa vào các chủ hàng là tư thương nên các tư thương chỉ lo việc thu mua đủ hàng, trữ hàng, và xuất hàng ra khỏi kho của họ theo hợp đồng họ ký với công ty xuất nhập khẩu Nhà Nước, và công ty xuất nhập khẩu Nhà Nước phụ trách xuất khẩu hàng. Với mặt hàng gạo thì các tư thương chủ các kho gạo rất quen thuộc với việc chuyên chở gạo từ kho của họ ra cảng để bốc hàng lên tàu, v.v., chỉ với một khác biệt duy nhất: nếu như bao lần khác họ chất xếp hàng lên tàu để tàu ra khơi đến Cảng Hải Phòng hoặc đến cứu trợ một “nước anh em” nào đó, thì lần này phải theo một quy trình nghiêm ngặt hơn mà hợp đồng và tín dụng thư đã nêu chi tiết áp đặt phải theo đúng về chất lượng, số lượng, đạt hệ số chất xếp, giám định, kiểm dịch thực vật, khử trùng, v.v., nhưng những công đoạn này do các công ty chuyên trách thực hiện theo yêu cầu của công ty xuất khẩu chứ không do tư thương chủ hàng chịu trách nhiệm.

4) Đối với các công ty xuất nhập khẩu của Nhà Nước thì ngay cả khi họ lần đầu tham gia xuất khẩu gạo thì đội ngũ nhân lực của họ không bở ngỡ vì (a) đã có các cơ quan chuyên trách và (b) đã có bên mua cung cấp tài liệu và hướng dẫn cụ thể.

Câu 7: Những khó khăn của thương vụ này là gì?

Việc thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam đã có những điều phải giải quyết sau:

1) Điều Tàu: Do hàng được mua theo giá FOB HCMC, CIMMCO phải chủ động thuê cả chiếc tàu tức charter vessel và điều tàu đến Việt Nam ăn hàng đúng thời gian theo quy định trong tín dụng thư. Vào thời điểm đó, các công ty hàng hải Việt Nam đã không thể giúp giới thiệu được con tàu nào của nước ngoài có tải trọng 10.000 tấn. Do hàng hóa là gạo nên tàu không được quá bao nhiêu năm sử dụng, không chuyên chở phế liệu hoặc chất độc hại trước đó. Cuối cùng, CIMMCO đã thuê được tàu Sea Jade quốc tịch Liberia qua trung gian một công ty hàng hải Đài Loan.

2) Giám Định: Do giá trị hợp đồng quá lớn và do chưa có kinh nghiệm về chất lượng giám định gạo của Công Ty Giám Định Hàng Hóa Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Vinacontrol, phía Ấn Độ đòi hỏi sử dụng dịch vị giám định SGS của Thụy Sĩ. Tôi đã phải thuyết phục CIMMCO trên cơ sở rằng CIMMCO đã nhiều năm mua trà đen, tơ sợi, ớt, hạt cau, sắn lát, hạt điều nhân, v.v. và tất cả đều do Vinacontrol giám định mà chưa có bất kỳ các tranh chấp khiếu nại nào về chất lượng và số lượng, chứng minh uy tín của Vinacontrol. Còn Vinacontrol chưa nắm rõ các yêu cầu khắt khe của giám định gạo, thì tôi sẽ nhanh chóng dịch các tài liệu và sau đó tổ chức tập huấn tại Khách Sạn Majestic trong một tuần để phó giám đốc Vinacontrol Thành phố Hồ Chí Minh cùng các trưởng phó phòng và chuyên viên nắm các yêu cầu về ẩm độ, tạp chất foreign matter, tạp chất admixture, mật độ sợi ngang/dọc của bao đay phải do Nhà Máy Đay Indira Gandhi ở Thủ Đức sản xuất, chất lượng cót lót hầm tàu, hệ số chất xếp gạo, v.v.

3) Tiến Độ: Do Cảng Sài Gòn có mật độ tàu ra vào bốc dỡ hàng hóa dày đặc nên tàu do CIMMCO điều vào cần được ưu tiên cặp bến để việc bốc hàng lên tàu được thực hiện cùng lúc từ xe tải trên bờ và từ xà lan cặp mạn bên phía sông sẽ nhanh hơn là nếu tàu bị neo giữa sông và toàn bộ việc bốc hàng lên tàu đều từ các xà lan cặp hai bên mạn tàu sẽ gây chậm trể. Thực tế thì cảng vụ Port Operation đã phải cho tàu canoe đưa tôi ra tàu neo giữa sông do việc thu xếp của các công ty xuất khẩu gạo nhằm đoạt ưu tiên cặp bờ đã không thành.

4) Điều Khoản: Cũng liên quan đến công tác bốc hàng lên tàu, giữa CIMMCO và các công ty xuất khẩu gạo đã phải tranh luận nhiều về lựa chọn giữa WWDSHEXEIU và WWDSHEXUU để ghi vào hợp đồng vì theo lẽ thường thì bên thuê tàu muốn áp dụng cái trước để không phải trả tiền thưởng, còn bên bốc hàng muốn áp dụng cái sau để được thưởng nếu hoàn tất việc bốc hàng sớm hơn hạn định. Tôi đã thuyết phục các công ty xuất nhập khẩu hãy vì đại cuộc và tương lai xuất khẩu gạo mà thuận theo ý muốn của bên mua.

5) Chủ Hàng: Như đã nói ở trên, các công ty xuất khẩu gạo không có gạo và kho gạo riêng mà gạo và kho là của tư thương nên các công ty lần lượt tổ chức đưa tôi đi thực tế về số lượng và chất lượng gạo, nhưng tôi nhận ra rằng công ty sau đưa tôi đến cùng kho mà công ty khác đã đưa tôi đến trước đó rồi nói đó là kho của công ty họ. Tôi đã phải yêu cầu mỗi công ty phải đưa tôi thực tế các kho gạo khác nhau để tôi ghi nhận, tránh việc chỉ khi đến lúc tàu sắp vào họ mới hợp đồng mua đứt lô gạo với tư thương để không bị “ngâm vốn”.

Câu 8: Ông có thể kể lại ngày mà tấn gạo đầu tiên của Việt Nam xuống tàu xuất đi Ấn Độ là ngày nào, tại cảng nào? Và cảm xúc của ông với sự kiện này là như nào?

Hợp đồng và tín dụng thư đều ghi hạn chót giao hàng ngoài cảng là 31-8-1989, nhưng với thực tế toàn bộ hàng hóa đã được chất xếp lên tàu theo điều khoản FOB của Incoterms, và do các Giấy Chứng Nhận Kiểm Dịch Thực Vật, Giấy Chứng Nhận Khử Trùng, cùng các giấy chứng nhận giám định khác theo yêu cầu, đều được cấp cùng ngày 23-8-1989 và trình nộp xong toàn bộ cho Vietcombank ngày 23-8-1989, nên theo đúng nguyên tắc thì bên bán được xem như đã hoàn tất việc giao hàng, và bên mua được xem như đã là chủ nhân mới của toàn bộ lô hàng dù tàu vẫn còn neo ở Cảng Sài Gòn, và ngày 23-8-1989 được tôi ghi nhận như ngày chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam đã hoàn tất mỹ mãn, 10.000 tấn gạo ấy thuộc quyền sở hữu của CIMMCO, và ngân hàng của CIMMCO có trách nhiệm thanh toán cho các công ty xuất khẩu gạo theo các quy định của tín dụng thư mà ngân hàng của CIMMCO đã mở.

Câu 9: Theo ông sự kiện Việt Nam lần đầu xuất khẩu gạo có ý nghĩa như thế nào đối với ngành lương thực cũng như nền nông nghiệp của Việt Nam? Nó mở ra một thời cơ như thế nào?

Đã từ rất lâu, CIMMCO đã mua rất nhiều hạt điều, trà đen, tơ tằm, sắn lát, v.v., của Việt Nam. Dần dần nhiều công ty nước ngoài cũng trở thành những nhà nhập khẩu lớn tìm mua các mặt hàng ấy. Tuy nhiên, dù việc thiếu lương thực phải ăn độn khoai và bobo đã qua đi vào năm 1980, không một ai từng nghĩ đến việc chủng loại gạo thường 35% tấm sẽ có giá trị gì hơn một nguồn lương thực cho nhu cầu nội địa hoặc “trả nợ” cho “các nước anh em không khó tính” hoặc cứu trợ cho “anh em khác”. Thế rồi chính loại gạo 35% tấm giá rẻ ấy của Việt Nam lại trở thành vị cứu tinh cho cả nền nông nghiệp và nền kinh tế Việt Nam. Uy tín từ chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên đã mở ra một chân trời mới: Việt Nam xuất khẩu nhiều gạo hơn, đời sống người dân khá hơn, nhu cầu người dân cao hơn, các loại gạo chất lượng cao hơn được quan tâm đầu tư, và giá xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao ấy cao hơn. Từ giá gạo loại thường 35% tấm ở mức 235USD/tấn FOB HCM lần đầu tiên xuất khẩu đến năm 2017 đã tăng lên 440USD/tấn FOB HCM, gạo 5% tấm lên đến 490 USD /tấn FOB HCM năm 2011, và gạo cao cấp của Việt Nam đạt mức 1.500 USD/tấn, v.v.

Câu 10: Ông có thấy sự kiện này ảnh hưởng gì tới tâm lý của người nông dân nói riêng cũng như người dân Việt Nam nói chung thời điểm đó?

Vào thời điểm 1989, việc xuất khẩu lô gạo đầu tiên có giá trị thương mại ra thị trường thế giới đã làm nhà nông nhận ra sự thật rằng hạt gạo họ gặt hái được trong lao nhọc từ đồng ruộng tanh bùn hóa ra lại trở thành niềm tự hào dân tộc và sức mạnh quốc gia, rằng họ có quyền bắt đầu kỳ vọng sớm có cuộc sống tốt đẹp hơn mà họ xứng đáng được hưởng trong một nông thôn tốt đẹp hơn của một ngành nông nghiệp tốt đẹp hơn, và rằng công sức đóng góp vào sự hung thịnh của quốc gia còn có từ những người chân lấm tay bùn như họ.

Vào thời điểm 1989, việc xuất khẩu lô gạo đầu tiên có giá trị thương mại ra thị trường thế giới cũng đã làm người dân Việt Nam chợt nhận ra rằng thời kỳ gian khó ăn độn với khoai và bobo đã là quá khứ, rằng Đảng và Chính Phủ đã thành công bước đầu trong xây dựng kinh tế, và rằng chính hạt gạo chứ không phải loại hàng hóa nào khác đã trở thành đại cuộc thứ nhì tiếp theo đại cuộc Thống Nhất Đất Nước để Việt Nam thêm một lần được thế giới biết đến.

Câu 11: Cá nhân ông cảm thấy thế nào khi mình là một trong những người được trực tiếp tham gia vào một sự kiện lịch sử này? Ông có kỳ vọng gì vào ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tương lai?

Dù gạo có được là do công sức của các nhà nông với những hỗ trợ của Nhà Nước từ các chương trình khuyến nông, tôi thấy nhất thiết phải làm rõ sự thật rằng những người sau đây mới đúng là đã trực tiếp thực hiện thành công chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam:

Chính họ đã thực hiện thành công chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam.

Tôi rất tự hào được chứng kiến công trạng của họ để luôn nhớ về họ và nay kể lại với mai sau.

Sau chuyến đầu tiên ấy, tương lai tốt đẹp của xuất khẩu gạo Việt Nam đã không còn là kỳ vọng mà là sự thật, thậm chí cái tương lai ấy cũng đã trở thành quá khứ, nhường đường cho những tương lai mới khác tốt đẹp hơn. Biến đổi khí hậu gia tăng nguy cơ đe dọa nền nông nghiệp Việt Nam. Một khi chúng ta nhận ra điều đó, thế là đã có động lực để tìm những lối ra và lối đi thích hợp hơn. Cuộc sống luôn là như vậy.

F- Kết Luận: Tứ Đại Đức Của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước đã có bốn đạo đức Tứ Đại Đức sau đây từ “thương vụ” xuất khẩu lô gạo đầu tiên của Việt Nam:

1) Không Hám Danh Tiếng: 25 năm không màng đến cái danh “người đầu tiên giúp đưa hạt gạo đi xa”, và để chứng minh lời dạy của thân phụ là Ông Hoàng Trọng Cương là chân lý rằng “nếu không muốn công khai công nhận toàn phần hoặc một phần những tài năng thành tích của nhân tài ấy thì cũng đừng dại dột tước công đoạt trạng của người ấy” khi tôi bị các cử tri già được mớm ý của Mặt Trận Tổ Quốc Quận Phú Nhuận la hét gây ồn ào rối loạn buổi Hiệp Thương Lần 1 rằng tôi cướp công Bà Ba Thi, nhằm loại tôi khỏi danh sách ứng cử viên tự do cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), tôi cho những kẻ khốn nạn ấy biết họ đã dại dột đần ngu ra sao khi dám động đến một người tàingười tài ấy sẽ đương nhiên mắng chưởi nguyền rủa họ công khai trên mạng xã hội mà không có bất cứ một quyền lực chính trị nào của Việt Nam có thể buộc được tôi xóa bỏ các lời nguyền rủa miệt thị ấy.

2) Không Hám Tiền Hối Lộ (xin xem bài 15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần )

3) Nghiêm Khắc Vì Tiền Đồ Tổ Quốc

4) Dũng Cảm Bảo Vệ Chân Lý

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế (Curtin University), Giảng-sư Anh-văn (English Lexicology, British Civilization, British & American Literature, English Composition, English Grammar, TranslationSpeaking, Interpretation, Debating, và Business Contracts) tại các trường Cao Đẳng Sư Phạm TP HCM, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Đại Học Văn Lang, Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan, American Business College – California, Trường Sinh Ngữ Số 1 Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Tâm Ngoại Ngữ -Tin Học FOSCO KM, Trung Tâm Ngoại Ngữ Lý Phong, v.v.; Nhà Biện-thuyếtNghị-sĩ Khóa XIII; Supremo Logographer; Ciceronian Orator.

Twitter: @HoangHuuPhuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh), @RealHoangHPhuoc (tham gia từ 2017 bằng tiếng Anh)

Parler: @hoanghuuphuoc (tham gia từ 2020 bằng tiếng Anh)

GAB: @HoangHuuPhuocVietnam (tham gia từ 2020 bằng tiếng Anh)

Anphabehttps://www.anphabe.com/profile/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Việt)

LinkedInhttps://vn.linkedin.com/in/hoanghuuphuoc (tham gia từ 2008 bằng tiếng Anh và Việt)

WordPress: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com (tham gia từ 2013 bằng tiếng Anh và Việt)

Tham khảo:

Ba của tôi: Ba Tôi  18-6-2019

Báo Sài Gòn Giải Phóng: Báo Sài Gòn Giải Phóng 21-7-2013

Báo Tuổi Trẻ: Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi Trẻ  16-10-2014

Học sinh có thiên khiếu: Trường Chuyên Ở Việt Nam: Trường Lắm Chuyện 16-12-2020

Không hám tiền hối lộ: 15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần 26-12-2008

Mụ Bà Ba Thi: Bà Ba Thi 18-6-2020

Nạn dân và người yếu thế: Hoàng Hữu Phước Sống Trong Lòng Người Dân 22-9-2019

Nguyễn Văn Huấn: Anh Ba Nguyễn Văn Huấn 12-12-2015

Nhân tài: Hiền Tài 22-5-2019

Ngoài Đảng: Ngoài Đảng 13-4-2020

Trường Chuyên: Trường Chuyên Ở Việt Nam: Trường Lắm Chuyện 16-12-2020

Both comments and trackbacks are currently closed.