Category Archives: Bài của tác giả khác

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Lại Thu Trúc

05-5-2017

(Đăng trên Emotino ngày 23-9-2012)

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Thông tin về Thủy điện Sông Tranh 2 cho thấy những vấn đề nghiêm trọng cần phải được xử lý trên cơ sở “an toàn sinh mạng người dân là ưu tiên hàng đầu”, bao gồm tiếp tục nghiên cứu các giải pháp khắc phục và các kịch bản được đề ra quanh việc có nên hay không việc tích nước ở Thủy điện Sông Tranh 2, và nếu có thì ở thời điểm nào là giải pháp tình thế thích hợp. Song, chỉ cần có câu trả lời là không, thì xem như toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên cảnh quang thiên nhiên, v.v.) và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.) xem như đổ sông đổ biển.

Những “vấn nạn” trên làm tôi nhớ đến bài viết “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước” đăng trên Emotino.com từ năm 2010 đã đặt vấn đề một cách nghiêm túc về tai họa khủng khiếp mà một đập thủy điện có thể gây ra như:

“…loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

…  …Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường…”

Vẫn với sự lo âu về tình trạng xây dựng các đập thủy điện, Ông Hoàng Hữu Phước năm 2011 cũng có thêm bài viết “Giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia đòi hỏi cái tầm” đăng trên Emotino.com đưa ra thêm các lời cảnh báo như :

“… việc giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia vẫn còn theo phong cách đối phó kiểu du kích, tài tử, không chuyên nghiệp, y như việc trồng bo bo để nhanh chóng giải quyết nhu cầu gạo quốc gia những năm đầu sau giải phóng.

Để làm cho bằng được những dự án thủy điện Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không là diện tích đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ đất nước nào cũng đều vô giá và không bao giờ được định giá dựa trên cân đong đo đếm so sánh những con số vô hồn; và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào đã từng tồn tại trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải vô giá dành cho hậu thế của cả một dân tộc. Ngụy biện hay xảo biện bằng cách nói về nhu cầu năng lượng của quốc gia và của người dân, người ta thậm chí làm ngơ trước nhu cầu lớn hơn: đó là nhu cầu sống, nhu cầu sinh tồn của bao triệu con người hiện nay và mai sau của toàn khu vực hai bên cũng như hạ lưu của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tài sản thiên nhiên và tự hào về tài sản thiên nhiên ấy của người dân hiện nay và mai sau. Các nhà máy thủy điện tất nhiên sẽ cung ứng một phần năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng không vì thế mà cố tình không nói đến những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ các cặn lắng tụ kết tủa ở turbin, khí methane CH4. và carbon dioxide CO2, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhiều triệu con người, thậm chí trong một số trường hợp các đập thủy điện có khi còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường.

Một vấn đề nghiêm trọng khác ít người nói đến là an ninh quốc phòng, đặc biệt khi Việt Nam luôn là đích ngắm của các thế lực thù địch điên cuồng chống cộng, và khi Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với sự đe dọa mang tính bịnh lý thần kinh lăm le táo tợn tấn công quân sự của Trung Quốc. Lịch sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử khi có những xung đột vũ trang hoặc chiến tranh tuyên bố hay không tuyên bố, nhưng vẫn xảy ra những cuộc không kích hay phá hoại các đập thủy điện như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943, các biệt động Đức Quốc Xã đột nhập vào Hoa Kỳ năm 1942 theo Chiến Dịch Pastorius nhằm phá hoại các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là các toán khủng bố Hồi Giáo tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Trong điều kiện tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở toàn Việt Nam chưa trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và khoa học hiện đại, và trên thực tế ngay cả sự cố bất ngờ của thiên tai cũng gây ra thảm họa khủng khiếp như đã xảy ra với đập Vajont của Ý năm 1963, thì bất kỳ sự cố nào xảy ra với bất kỳ đập thủy điện nào trong chuỗi đập thủy điện Đồng Nai cũng có thể tạo ra hồng thủy cao hàng trăm mét cuồn cuộn cuốn phăng Thành phố Hồ Chí Minh ra biển cùng với hàng chục triệu cư dân.

Xây dựng thêm bất kỳ đập thủy điện nào trên sông Đồng Nai là gia tăng sự trực tiếp đe dọa an ninh sinh tồn của Thành phố Hồ Chí Minh, do đó dứt khoát phải bị loại trừ khỏi các dự án quốc gia. Việc đệ trình lên bàn làm việc của Thủ Tướng hay ra nghị trường Quốc Hội, do đó, sẽ là việc làm thiếu trách nhiệm đối với tiền đồ tổ quốc, thiếu suy xét, đặc biệt khi Quốc Hội và Chính Phủ cần nhiều thời gian tập trung cho các vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, trong hoàn cảnh căng thẳng ở Biển Đông, yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, hiện đại hóa quân đội, cách tân giáo dục, v.v. và v.v.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ trọng trách hằn trên chỉ đôi vai của bất kỳ nhà đầu tư nào, nhất là khi nhà đầu tư ấy đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu vớ vẩn đầy tì vết, cẩu thả, vô trách nhiệm về tác động môi trường.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ để bất kỳ ai vin vào đấy để nói về “cái tâm” của mình đối với quốc gia, dân tộc, vì rằng cái tâm đoan chính luôn song hành cùng “cái tầm” mới hướng thượng được, mà cái cao nhất của sự hướng thượng là dành cho hậu thế, cho tiền đồ của tổ quốc, chứ không di hại và di họa cho con cháu mai sau.

Xây dựng nhà máy thủy điện không thể y như trồng bobo cứu đói trong một vụ mùa.”

Cái tâm chính trực của Ông Hoàng Hữu Phước được thể hiện rõ nét nhất qua lời viết mạnh mẽ không sợ làm phật ý nhiều người thuộc giới khoa học, kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp nước nhà, khi cho rằng:

“… Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite…”

cũng như trong đoạn viết cay đắng:

“… Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý… “

Và trên thực tế, khi sự cố nước phun xối xả từ các khe nứt của Thủy điện Sông Tranh 2 bị phát hiện, vị chức sắc chịu trách nhiệm về kỹ thuật đã trả lời báo chí rằng đó chỉ là việc bình thường trong mức độ cho phép. Vâng, “cho phép” nghĩa là cái công trình bê tông vĩ đại và hiện đại đó đã được công nhân dùng tay nhét giẻ vào các khe nước phun và bơm phụt keo và hóa chất cứ như để đóng nút chai vậy; và vì “cho phép” nên đến tận ngày hôm nay người ta đã phải cho ra các kịch bản mà sự thảm hại tồi tệ nhất về đầu tư có thể là bỏ thủy điện này, không cho tích nước, và sự khủng khiếp tồi tệ nhất có thể là kế hoạch sơ tán khẩn cấp dân cư trong khu vực hạ lưu. Sự “cho phép” theo lập luận của một người có trách nhiệm về kỹ thuật như thế cho thấy cái “đức” và cái “tài” của vị ấy ra sao khi tự cứu mình bằng lời trấn an không trung thực và xem nhẹ sinh mạng hàng triệu người dân. Việc gì sẽ xảy ra nếu những lời vàng ngọc của người có trách nhiệm ấy được Chính phủ cậy tin và người dân tin cậy đến độ không cần kiểm tra lại cái công trình mang tên Thủy điện Sông Tranh 2?

Như biết bao công dân Thành Phố Hồ Chí Minh tôi cảm thấy bất an đối với dự án Thủy Điện Đồng Nai đang có nhiều tranh luận và mong sao nước ta sẽ ngày càng có thêm nhiều hơn nữa những nhà ái quốc có tầm nhìn và sự chính trực như Ông Phước.

Lại Thu Trúc

Bài đăng ngày 23-9-2012 trên http://www.emotino.com/bai-viet/19707/trach-nhiem-doi-voi-sinh-mang-nguoi-dan-tam-nhin-su-chinh-truc-cua-mot-nha-ai-quoc

Advertisements

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-5-2016

Bài trước tôi cung cấp bản dịch một bài viết trên Perspective của nhà báo Mỹ James Borton khi ông có mặt ở Hà Nội để viết về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. Từ trước đến nay tôi trả lời các câu hỏi của James Borton toàn bằng email, song thay vì email Việt-Mỹ vượt không gian Thái Bình Dương như trước thì nay là lần đầu tiên email Mỹ-Việt vượt không gian từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bài viết trên tờ Washington Times vài ngày trước khi Air Force One đáp xuống Nội Bài, James Borton có trích đăng ý kiến của tôi về sự “xoay trục” riêng của Việt Nam, và bản dịch tiếng Việt của tôi như dưới đây có thể cung cấp cho bạn đọc sự so sánh giữa những quan ngại hoặc lối mòn tư duy và những kết quả thực sự đã hình thành sau khi Tổng Thống Obama đặt chân đến Việt Nam. Kính mời bạn đọc tham khảo.

*********

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

James Borton – viết riêng cho Thời Báo Hoa Thịnh Đốn, ngày Thứ Tư 18 Tháng 5, Năm 2016.

HÀ NỘI – Từ các quầy hàng trên phố nhộn nhịp  quanh hồ Hoàn Kiếm cho đến khách sạn Motropole kiểu Pháp thực dân, thủ đô Việt Nam đang phô bày sự sầm uất hối hả mang tính thương hiệu của mình trong thời gian cận kề chuyến thăm ba ngày mang tính bước ngoặt của Tổng thống Obama bắt đầu từ Thứ Hai.

Trong khi Việt Nam, một đất nước dạn dày qua chiến tranh, lúc không thể lựa chọn các lân bang của mình thì chắc chắn có thể chọn những bạn bè của mình. Là những kẻ thù một thời không đội chung trời bị hằn nặng bởi một lịch sử đẫm máu và bi thảm, Washington và Hà Nội ngày càng sẻ chia những lợi ích chiến lược chồng chéo nhau có thể chuyển hướng quỹ đạo hợp tác an ninh trong vùng Biển Đông đang tranh chấp.

Các nhà phân tích cho rằng trong sáu tháng tại vị cuối cùng của mình, Ông Obama dự định sẽ nêu rõ Việt Nam là một trung tâm của sự “xoay trục” về Châu Á – Thái Bình Dương của chính quyền Mỹ, bao gồm chuyến thăm Việt Nam như một phần của chuyến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G-7 ở Nhật Bản – lần tham dự thứ tám và cũng là lần tham dự cuối cùng của Ông dưới cương vị Tổng Thống – khai mạc ngày 26 tháng 5.

Ông không quan tâm đến việc giới lãnh đạo Việt Nam có thể cảm thấy không thể tiếp tục hoàn tất công việc do đã bị thay thế vào năm tại vị cuối cùng của Ông. Về cơ bản, Tòa Bạch Ốc thừa nhận rằng chuyến đi này là cơ hội cuối cùng của Ông Obama để thắp lên ánh sáng đối với một ưu tiên đã được thảo luận nhiều nhưng cũng đã bị trì hoãn quá lâu – sự thay đổi trọng tâm của Mỹ từ vùng Trung Đông hỗn loạn sang phía đang vừa là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới vừa là nơi đang trong tiến trình trở thành đấu trường nổi bật tiếp theo cho sự cạnh tranh của các siêu cường.

Hai thập kỷ sau khi bình thường hóa thương mại, Mỹ và Việt Nam đang gắn kết nhau hơn do sự trổi lên về kinh tế và địa chính trị của Trung Quốc, đặc biệt là các đòi hỏi chủ quyền ngày càng quyết đoán hơn của Bắc Kinh ở Biển Đông. Một thước đo của sự gần gũi gia tăng: các tin phát ra của báo chí Việt Nam cho biết phái đoàn Hoa Kỳ, bao gồm các cố vấn của tổng thống, các đội an ninh và các đại diện của các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân, lên đến hơn ngàn người.

Đối với chuyến đầu tiên đến Sân bay quốc tế Nội Bài, một vị khách sẽ thấy dấu hiệu những ảnh hưởng của Mỹ ở khắp nơi. Ngay bên ngoài thủ đô, nơi các máy bay B-52 của Mỹ từng tiến hành những đợt oanh tạc lớn nhất, lại là một nhà máy  mới của hãng xe Ford. Gần đó là những bảng quảng cáo cao ngất giới thiệu Nike – một trong những công ty sử dụng đông lao động nhất Việt Nam. Các chủ nhân đất nước đón tiếp Ông Obama cũng sẽ tổ chức quốc yến để thiết đãi Ông trong thời gian Ông ở Việt Nam.

Trong khi vấn đề an ninh và nhân quyền có thể chi phối chương trình nghị sự chính thức, vẫn có đồn đoán tại Đồi Capitol và giữa các quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ rằng Ông Obama có thể đảo ngược hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đã qua nhiều thập niên của Mỹ, một trong những tàn tích cuối cùng của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Thượng Nghị Sĩ Bang Maryland Ông Benjamin L. Cardin, đảng viên cao cấp của Đảng Dân Chủ thuộc Ủy Ban Quan Hệ Quốc Tế của Thượng Viện, cho biết trong một email rằng ông đã “bày tỏ với chính phủ rằng chúng ta phải quan tâm đảm bảo bất kỳ việc bán vũ khí tiềm năng nào cũng phù hợp với mối quan hệ song phương của chúng ta và hỗ trợ ổn định khu vực. ”

Một đề xuất có thể xảy ra đối với việc giảm bớt hoặc bãi bỏ lệnh cấm vận có thể được thể hiện bằng sự đáp ứng của Hà Nội trước yêu cầu của Hải Quân Mỹ cho được tiếp cận nhiều hơn với Vịnh Cam Ranh, một tiền đồn chủ chốt của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam mà hiện nay có thể cho phép tiếp cận cực kỳ quan trọng trong trường hợp có xảy ra khủng hoảng ở Biển Đông.

Mặc dù bạo lực vẫn tiếp diễn ở Trung Đông và sự không chắc chắn từ sự đấu đá tranh chức Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Obama và các quan chức của Ông được cho là rất quan tâm đến việc trấn an các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương – trong đó Việt Nam là đầu tàu – rằng Mỹ sẽ duy trì các cam kết đối với khu vực. Điều đó bao gồm việc triển khai đến 60% lực lượng hải quân Hoa Kỳ.

Cũng như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang tìm kiếm sự bảo đảm từ Washington rằng Mỹ sẽ cân bằng việc quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Đại Hội lần thứ 12 tổ chức vào tháng Giêng đã chọn vị Tổng Bí Thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng thay vì nhà cải cách Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm lãnh đạo đảng. Ngoài ra, cựu lãnh đạo công an Trần Đại Quang được đưa lên làm Chủ Tịch Nước. Điều này có thể gây quan ngại cho nhiều người ở Phương Tây vốn cho rằng sự việc có thể là dấu hiệu cho sự hướng về quyền lực và gia giảm các quyền tự do.

Song, Ông Hoàng Hữu Phước, một nghị sĩ Quốc Hội, lại khẳng định rằng “Không bao giờ có việc Việt Nam sẽ giảm đà cải cách kinh tế và chính trị, cũng như không bao giờ có việc ngưng sự chuyển hướng của riêng mình về phía Mỹ để quay sang Trung Quốc.”

Trung Quốc so với Hoa Kỳ

Ảnh hưởng mạnh về kinh tế cùng quyền lực mềm ngày càng gia tăng của Trung Quốc mang tính một hấp lực, nhưng các cuộc đàm phán với các quan chức ở Việt Nam lại nêu bật lên rằng lãnh đạo Đảng của Việt Nam thích duy trì sự độc lập của mình và không muốn đi vào quỹ đạo của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Hà Nội đã nhiệt tình tìm các đầu tư của Mỹ và đã ký vào thỏa thuận thương mại Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương của Ông Obama – thỏa thuận rõ ràng không bao gồm Trung Quốc – mặc dù TPP đòi hỏi phải có cải cách nhiều hơn, đặc biệt là tại các doanh nghiệp nhà nước, tính minh bạch, và quyền con người.

Lãnh đạo Ngũ Giác Đài Tướng Ashton Carter và các cố vấn của ông đang tìm kiếm sự hợp tác lớn hơn từ Việt Nam như họ đã đẩy nhanh số lượng các tập trận không chiến đấu vào thời điểm leo thang căng thẳng trong khu vực. Việc Trung Quốc xây dựng các hòn đảo trên các rạn san hô, bố trí các hệ thống radar tiên tiến ở quần đảo Trường Sa, và tên lửa đất đối không cùng chiến đấu cơ ở quần đảo Hoàng Sa đã làm tiến xa hơn và sâu sắc hơn sự hợp tác quân sự Mỹ-Việt.

Sau vụ Trung Quốc vào tháng 5 năm 2014 đưa một dàn khoan dầu của Tổng Công Ty Khai Thác Dầu Trung Quốc CNOOC tại nơi Việt Nam tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình, chính quyền Obama, trong một cử chỉ mang tính biểu tượng, đã nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí, cho phép Hà Nội mua các tàu tuần duyên của Mỹ, một động thái được Chủ Tịch Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Đảng Cộng Hòa John McCain ủng hộ.

Hà Nội đã sử dụng các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông để thúc đẩy quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ

Vào tháng rồi, Đại sứ Phạm Quang Vinh trong diễn văn tại Texas đã phát biểu rằng “Việt Nam kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam và tin rằng yếu tố rào cản này của quá khứ cần được loại bỏ để phản ánh việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ của chúng ta bắt đầu từ hai thập kỷ trước đây và mức độ hiện tại của quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta.”

Và tại một buổi điều trần mới đây của Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ, khi trình ra các bản đồ cho thấy khả năng tấn công của các chiến đấu cơ Trung Quốc đánh vào toàn vùng Biển Đông, phía bắc Philippines và Việt Nam, ông Carter cho biết ông ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí và đẩy mạnh việc bán các khí tài quốc phòng. Các lực lượng Hoa Kỳ đã hỗ trợ xây dựng năng lực các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Việt Nam như Cảnh Sát Biển và Lực Lượng Giám Sát Đánh Bắt Cá của Việt Nam.

“Các gắn bó về quốc phòng và an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển như kết quả của sự hội tụ các quan ngại về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông” như lời Carlyle A.Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, phát biểu tại Học Viện Quốc Phòng Úc.

Nhưng chính phủ chuyên chế của Việt Nam cùng các ghi nhận có vấn đề về nhân quyền có thể là những hòn đá cản ngăn những mối quan hệ chặt chẽ hơn.

Murray Hiebert, lãnh đạo cấp cao và phó giám đốc Chương Trình Đông Nam Á của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế, cho rằng:  “Một trong những yêu cầu hàng đầu của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là cải thiện môi trường nhân quyền. Tình hình đã được cải thiện rất nhiều trong thập niên qua, nhưng Washington ước tính vẫn còn khoảng 100 blogger cùng các nhà hoạt động dân chủ đang bị giam giữ.”

*********

Những quan ngại và dè dặt như của Murray Hiebert đối với cái gọi là rào cản khả dĩ làm lu mờ một sự bình thường hóa quan hệ hoàn toàn và triệt để của Mỹ đối với Việt Nam, cuối cùng đã được minh chứng là không còn cơ sở qua tuyên bỗ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí Mỹ đã áp đặt chống Việt Nam trong 50 năm qua.

Đó là sức mạnh của địa-chính trị.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Source of Origin: James Borton. 18-5-2016. Obama Woos Vietnam amid China’s Economic Rise, South China Sea Aggression. http://www.washingtontimes.com/news/2016/may/18/obama-woos-vietnam-amid-chinas-economic-rise-south/

Tham khảo: Loạt bài viết nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

James Borton, “Commentary: Managing the South China Sea Commons through Science Policy,” Perspectives 10, 2016, Taipei: South China Sea Think Tank. Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước trong bài viết tựa đề: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc, đăng ngày 23-5-2016 tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/23/van-na%CC%A3n-thu%CC%A3c-su%CC%A3-nha%CC%83n-tien-tren-bie%CC%89n-dong-to%CC%A3i-ac-cu%CC%89a-trung-quoc/

Hoàng Hữu Phước, 11-5-2016. Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/11/trang-su-chua-duoc-tiet-lo-ve-hoa-ky/

Hoàng Hữu Phước, 15-5-2016. Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/15/arms-embargo-van-de-hoa-ky-cam-van-vu-khi-viet-nam/

Hoàng Hữu Phước, 20-5-2016. Biển Đông Có Phải Là East Sea? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/20/bien-dong-hay-bien-hoa-nam/

Hoàng Hữu Phước, 22-5-2016. Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/22/vie%CC%A3t-nam-kie%CC%A3n-trung-quoc-ra-toa-an-the-hague/

Lại Thu Trúc, 14-5-2016. Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/

Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-5-2016

Trong bài trước, tôi có nới về những nhiêu khê kéo dài nhiều năm của mỗi vụ kiện tranh chấp chủ quyền biển đảo tại Tòa án Trọng Tài Thường Trực của The Hague, cùng những hiểm nguy tiềm tàng: đó là những diễn biến khó lường của cả quá trình xét xử dài lâu và hành động manh động thiếu kềm chế của các bên liên quan có thể làm bùng nổ chiến tranh. Song, còn một vấn đề nghiêm trọng khác, thực tế nhãn tiền đó là sự hủy hoại sinh thái của Biển Đông từ những hoạt động của Trung Quốc trong “cơi nới”, cải tạo các đảo chìm đảo nổi, mà thời gian càng kéo dài của mỗi vụ xét xử càng dẫn đến sự hủy diệt không bao giờ có thể cứu vãn được nữa của Biển Đông. James Borton có một bài viết nêu lên một vấn đề cấp bách thiết thực dù không bao giờ có thể thực hiện được trong đời sống thực. Tuy nhiên, nội dung bài viết như lời cảnh báo nghiêm túc về một sự việc nghiêm trọng đến nỗi dù cho đến khi phán quyết của The Hague cuối cùng cũng buộc Trung Quốc rút hoàn toàn khỏi Biển Đông một cách hòa bình thì cái mà ta và các nước ở Biển Đông nhận được chỉ là một biển chết.

James Borton là giảng sư tại Viện Walker tại Đại học South Carolina, Hoa Kỳ, và là thành viên ngoại quốc của Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế Sài Gòn tại Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông đồng thời là một nhà báo lão luyện, đặc biệt viết chuyên trang về Biển Đông nhiều năm nay, cũng như là tác giả nhiều quyển sách. Trong chuyến sang Việt Nam tháng 5 này  để viết bài về chuyến thăm Việt Nam chính thức của Tổng Thống Obama, Ông có gởi tôi một bài viết về Biển Đông như lâu nay đã nhiều lần gởi tôi các bài viết khác của Ông. Tôi xin được gởi đến các bạn bản tôi dịch sang tiếng Việt như sau, để chúng ta nhận diện thêm những quan ngại khác nơi các nhà hải dương học đối với môi trường Biển Đông bị tác động bởi những tác hại nhãn tiền gây ra từ các hoạt động “cơi nới”, cải tạo đảo của Trung Quốc.

*********

Bình luận: Quản lý Các Điểm Chung Của Biển Đông Thông Qua Chính Sách Khoa Học

James Borton

Perspective, số 10 năm 2016

Suy thoái môi trường vẫn là trung tâm của các đối thoại khoa học về Biển Đông như nhiều nhà khoa học biển lên tiếng báo động về những hậu quả môi trường từ các hoạt động xây dựng của Trung Quốc tại đấy. Những vấn đề phải đối mặt với biển rộng lớn, sâu, và dường như cũng khó lường như bản thân biển vậy, và sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề của sự axit hóa, tổn thất đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, và sự phá hủy các rạn san hô trở nên cấp bách. Điều quan trọng là hợp tác khoa học quốc tế của các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới để cùng nhau cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những thông tin cần có để đưa ra các quyết định có trách nhiệm về Biển Đông.

Biển Đông (viết tắt là SCS tức South China Sea) là ngôi nhà của những rạn san hô đa dạng nhất thế giới, nhưng những hình ảnh vệ tinh gần đây của khu vực này đã cho thấy có sự phá hủy nhanh chóng của các rạn san hô ấy. Nguyên nhân của sự hủy diệt đang diễn ra ở mức độ của một cảnh tượng tội ác môi trường rộng lớn là do các hoạt động cải tạo đảo mà Trung Quốc (viết tắt là PRC tức People’s Republic of China) thực hiện để cố gắng biến các rạn san hô thành các đảo hầu củng cố tuyên bố mở rộng chủ quyền của mình. Việc cải tạo này dẫn đến hậu quả là sự đa dạng sinh học trở nên ít đi và lượng cá chẳng còn nhiều để nuôi sống sự gia tăng dân số của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền.

Tại Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, các nhà phân tích đang đánh giá tiến độ hiện tại của Trung Quốc trong leo thang quân sự hóa tại các đảo san hô và đảo đá tại vùng đang tranh chấp ở Biển Đông. Trong khi vấn đề quân sự hóa vẫn là một vấn đề quan trọng, thì an ninh môi trường đang định hình các đối thoại mới về những thiệt hơn và những thách thức đang nổi lên trong vùng biển tranh chấp này.

Paul Berkman, nhà hải dương học trước đây lãnh đạo Chương Trình Địa Chính Trị Bắc Băng Dương tại Viện Nghiên Cứu Scott Polar, đã cung cấp một định nghĩa riêng về an ninh môi trường rằng: “Đó là một cách tiếp cận tích hợp để đánh giá và ứng phó với những rủi ro cũng như những cơ hội được tạo ra bởi sự thay đổi trạng thái của môi trường.”

Sự gắn kết của chính sách và khoa học là điều cần thiết để vạch hướng qua các vùng biển địa chính trị nguy hiểm. Khái niệm về ngoại giao khoa học không phải là một mô hình mới. Nó bao gồm sự hợp tác và khéo léo giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường nơi chúng phát sinh. Như vậy, hợp tác khoa học quốc tế có thể tạo ra một cầu nối một cách hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách, như một nguồn lực mềm.

Chỉ thông qua cùng nhau hợp tác liệu sẽ có kỳ  vọng nào trong thực hiện một nền kinh tế xanh có thể giải quyết sự khan hiếm thông qua việc tận dụng hiệu quả các giải pháp khoa học, từ đó phân phối cho tất cả các bên liên quan nhiều lợi ích thu được từ Biển Đông. Sự thành công của bất kỳ nỗ lực nào như thế sẽ phụ thuộc vào đối thoại khoa học đối với cả các nhà lãnh đạo chính trị và người dân tất cả các nước có nêu yêu sách về Biển Đông. Các đại dương của chúng ta là một phần của những điểm chung trên toàn cầu và cần được quản lý và bảo vệ bởi tất cả các bên.

Kiến Thức Tập Thể

Điều này đặc biệt đúng về kiến thức tập thể cần có về các rạn san hô – thứ kiến thức đã kéo dài hơn 150 năm qua từ tác phẩm của Charles Darwin cho đến các nghiên cứu gần đây được tiến hành bởi các nhà khoa học hải dương như Nguyễn Chu Hồi và Edgardo Gomez đã cho rằng sức khỏe của các rạn san hô là một yếu tố quan trọng trong các vấn đề chính sách công như có nguồn thực phẩm, chống bão tố, và giữ gìn bản sắc văn hóa của các cộng đồng ven biển. Cả hai nhà khoa học nói trên đến từ những quốc gia có yêu sách về Biển Đông bị thách thức bởi Trung Quốc – vị đến từ Việt Nam và người kia từ Philippines – và công trình của họ  nâng cao nhận thức về cách mà các rạn san hô giúp bồi dưỡng sự đa dạng của các sinh loài vốn nhiều hơn cả các chủng loài của các khu rừng mưa nhiệt đới. Các rạn san hô cung cấp chỗ ở, thực phẩm, và nơi sinh sản cho khoảng từ 35.000 đến 60.000 chủng loài trên toàn thế giới. Nếu không có các rạn san hô, cá trở nên không còn nơi cư ngụ và không có chốn để sản sinh.

Vì thế rõ ràng rằng hoạt động khai hoang phá hoại đã tạo nên sự ít đi của cá để nuôi sống dân số ngày càng tăng của các quốc gia nêu yêu sách. Ngày nào cũng có số lượng càng gia tăng các tàu thuyền đánh cá và ngư dân ra khơi kiếm tìm thực phẩm cho đồng bào của họ, nhưng họ cũng ngày càng được sử dụng như là công cụ của chính phủ của họ để thử nghiệm các tuyên bố chủ quyền ở vùng biển tranh chấp. Kết quả là, các ngư dân tìm thấy chính mình trên tiền phương của trận chiến sinh thái mới này. Các tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng đang được đấu bởi các tàu đánh cá bị buộc phải ra xa hơn ngoài khơi do sự cạn kiệt của nghề cá ven biển.

Đang lờ mờ hiện ra một cuộc khủng hoảng lương thực, và bất kỳ nỗ lực nhằm cân bằng lợi ích kinh tế với an ninh ở Biển Đông sẽ đòi hỏi có sự đáp ứng phối hợp ở nhiều cấp từ các nhà khoa học, những người có lịch sử tham gia vào hợp tác nghiên cứu và đã nhận diện được các vấn đề về năng suất bền vững và an ninh môi trường trong khu vực.

Đáp Ứng Phối Hợp

Tại một hội nghị chuyên đề được tổ chức mới đây tại Trung Tâm Đông-Tây ở Thủ Đô Washington, giáo sư Hohn McManus của Trường Đại Học Miami, một nhà sinh học biển chuyên gia về các rạn san hô của Biển Đông, đã kêu gọi một tuyên bố khoa học chung đòi hỏi một lệnh cấm vì môi trường đối với việc nạo vét. Ông đã hoàn thành những khảo sát môi trường tại các rạn san hô bị suy thoái ở quần đảo Trường Sa, mà kết quả nghiên cứu củng cố sự cần thiết phải có sự can thiệp của khoa học.

“Có những quan ngại an ninh toàn cầu liên quan đến sự hủy hoại,” Giáo sư McManus phát biểu. “Nó đủ rộng khắp để làm giảm trữ lượng cá tại khu vực phụ thuộc nhiều nhất vào cá này trên thế giới.”

Chuyên gia về rạn san hô không biết mệt mỏi này từ lâu đã tranh luận cho việc thành lập một “công viên hòa bình” trên biển, và các môi giới cho một thỏa thuận quản lý tài nguyên chung bao gồm một bộ quy tắc ứng xử và đóng băng các đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ. McManus tin rằng việc này sẽ bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng sống còn hiện đang lâm cảnh rủi ro.

Việc phá huỷ và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển ở Trường Sa gây hại cho tất cả các nước có yêu sách chủ quyền. Công dân từ khu vực, những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các cuộc tấn công môi trường trên biển và các dãi san hô mỏng manh của họ, phải liên kết với nhau để tạo ra một cái gì đó giống như Mạng Hành Động Vì Rạn San Hô tương tự như các Mạng Hành Động Về Rừng Mưa Nhiệt Đới toàn cầu.

Đã đến lúc tập hợp các nhà khoa học có trình độ cao nhất có kinh nghiệm nghiên cứu Biển Đông đa dạng sinh học và bền vững môi trường Biển Bông để tham gia vào một diễn đàn chính sách khoa học. Việc cộng tác của họ có thể dẫn đến sự phát triển thành công một Ủy Ban Khoa Học Biển Đông. Mô hình của một cơ quan như vậy có thể tương thích như Hội Đồng Cực Bắc đã được thành lập vào năm 1996 để phối hợp chính sách ở Bắc Cực giữa các quốc gia có liên quan và được xem như là một nền tảng cho các nhà khoa học chia sẻ nghiên cứu. Cơ quan dưới sự lãnh đạo của khoa học theo đề xuất này cũng nên được hình thành bên ngoài sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc để cho phép nó tự do hơn trong hoạt động và bảo vệ nó thoát khỏi quyền phủ quyết của Trung Quốc.

Kết quả là, cơ chế mạnh mẽ này của các khoa học gia hàng hải Biển Đông có thể truyền cảm hứng cho các nước thành viên của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) để hợp tác trong quản lý tài nguyên biển trong khu vực bằng cách phát ra lời kêu gọi chính thức đòi có một lệnh cấm việc có thêm những việc cải tạo đầy tai hại. Giáo sư  McManus nêu rõ các bước cần thiết để tập hợp các nhà khoa học để các dữ kiện khoa học có thể được cùng trình bày khúc chiết.

“Tôi cho rằng thay vì lập ra ngay một Ủy ban, sẽ  tốt hơn nếu trước hết khuyến khích Trung Quốc mời các nhà nghiên cứu quốc tế cho một hội thảo về một trong những hòn đảo mới của họ,” Giáo sư  McManus đề nghị trong phát biểu riêng như vậy. “Nếu điều đó không tác dụng thì có thể thực hiện đối với các đảo hay rạn san hô như Taiping (của Đài Loan), Trường Sa (của Việt Nam) hoặc Thitu (của Philippines).”

Can Thiệp Vào ASEAN

Trong khi hợp tác ASEAN về một sáng kiến quản lý tài nguyên biển trong khu vực dựa trên các dữ liệu khoa học vững chắc sẽ là một bước tiến, khả năng một nỗ lực như vậy có thể được khởi sự sớm vào bất cứ lúc nào đã bị giáng một đòn gần đây khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Wang Yi tuyên bố ngày 23 tháng 4 rằng Trung Quốc đã đạt được một sự đồng thuận bốn điểm về vấn đề Biển Đông với Brunei, Campuchia, và Lào. Đại diện từ bốn quốc gia quả quyết rằng các tranh chấp lãnh thổ “không phải là một vấn đề giữa Trung Quốc và ASEAN như một toàn thể,” như đã được ghi lại bởi Hãng Tin Nhà Nước Trung Quốc Xinhua. Thỏa  thuận này được thực hiện để loại vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của ASEAN và đảm bảo rằng chủ đề này đã không được thảo luận tại diễn đàn đa phương ấy.

Theo cựu Tổng Thư Ký ASEAN Ong Keng Yong khi phát biểu tại diễn đàn Cộng đồng ASEAN tại Jakarta ngày 25 tháng 4, thỏa thuận lên tới bốn quốc gia can thiệp vào công việc nội bộ của ASEAN. Ông bày tỏ sự ngạc nhiên, vì Campuchia và Lào chẳng quốc gia nào thuộc nhóm các quốc gia có yêu sách trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc đã trở thành một quyền lực nước ngoài khống chế cả hai nước ấy, nắm ảnh hưởng tài chính và chính trị quan trọng ở Phnom Penh và Vientiane.

Những Cố Gắng Của Trung Quốc

Một trở ngại khác cho việc thành lập một sáng kiến quản lý tài nguyên biển trong khu vực dựa trên khoa học là một sáng kiến như vậy sẽ bao gồm luôn các nhà khoa học từ Trung Quốc mà nhiều người trong số họ dính dáng đến những nỗ lực xây dựng đảo của chính quyền của họ ở Biển Đông và bất đồng hoàn toàn với các nhà khoa học như McManus về những thiệt hại bị cáo buộc đang được thực hiện. Thí dụ như tiến sĩ Wu Shicun, chủ tịch và nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên Cứu Biển Đông tại Haikou, tuyên bố rằng, để bảo vệ hệ sinh thái của khu vực, Bắc Kinh đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật xanh để sử dụng trước, trong, và sau khi tiến hành việc cải tạo ở Biển Đông.

Khi được hỏi về tác động của việc nạo vét đối với các rạn san hô Biển Đông, Wu nói trong một phỏng vấn qua email rằng “Trung Quốc thực hiện các dự án xây dựng trên mặt phẳng rạn san hô phía trong nơi về cơ bản thì san hô đã chết. Trung Quốc tập hợp đất xốp cho việc tạo đảo trên các lưu vực đầm bằng phẳng vốn không phù hợp cho sự phát triển của san hô.

“Trung Quốc đã thông qua ‘mô phỏng tự nhiên’, áp dụng một loại mới của ‘nạo vét cắt hút và phương pháp cải tạo đất’, và đã chú ý đến sự lan ra của các trầm tích nổi trong quá trình xây dựng của mình”, Wu tuyên bố.

Song, sự khẳng định này là không phù hợp với những gì đã được chứng kiến đang diễn ra, với việc ngư dân Trung Quốc đã bị phát hiện sử dụng cánh quạt dài gắn với thuyền tiện ích để chặt nát các rạn san hô, chuẩn bị cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo.

Chính sách khoa học biển đòi hỏi sự bảo tồn và những thực hành bền vững để bảo vệ sự hình thành các thành rạn san hô. Theo Jon Barnett, “nguyên nhân và hậu quả của các ‘xung đột tài nguyên’ là mối quan tâm truyền thống của quan hệ quốc tế và chúng cho biết một cách mạnh mẽ luận cứ về xung đột môi trường” như lời ông viết trong quyển Ý Nghĩa Của An Ninh Môi Trường.

Điều này không phải để cho rằng Trung Quốc không có nhiều nhà khoa học tài giỏi về rạn san hô, những người chắc chắn nhận ra rằng đó là vì lợi ích tốt nhất của Bắc Kinh khi bảo vệ các rạn san hô, duy trì nghề cá bền vững, và cuối cùng là tận dụng du lịch sinh thái thân thiện với môi trường một khi căng thẳng hạ nhiệt. Tuy nhiên, đối với vận động môi trường như vậy để có bất kỳ tác động vào hoạch định chính sách, các nhà khoa học phải được tự do không bị nhà nước đe dọa và có thể trình bày những phát hiện dựa trên kết quả thực tế, ngay cả khi những phát hiện này chống lại vị thế của chính phủ. Các nhà khoa học ở Trung Quốc chỉ đơn giản là chưa được ở mức độ ấy.

Bị Ghi Hình

Một bộ phim BBC gần đây phát sóng chuyên đề những hoạt động phá hoại cao của các ngư dân Trung Quốc đánh bắt sò khổng lồ tại một rạn san hô giữa đảo Thitu và Tieshi Jiao. Do không có tên nhận dạng cho rạn san hô này, nó được gọi là Rặng San Hô Checkmark dựa theo hình thể của nó.

Victor Robert Lee là người đầu tiên khi viết trên The Diplomat tiết lộ rằng các ngư dân Trung Quốc đã neo đậu tàu thuyền nhỏ lại với nhau tạo thành vòng cung rộng rồi khởi động các cánh quạt để đào sâu xuống cát làm bật lên những con sò khổng lồ. Hình ảnh vệ tinh đã xác nhận các hoạt động của hàng trăm những “thuyền cắt xé” như thế trên Rạn san hô Checkmark, dẫn đến việc có những khu vực rộng lớn nơi cát và san hô chết chất chồng thành những rặng cao hình vòng cung.

Tại chương trình Trung Tâm Đông Tây tổ chức vào ngày 03 tháng 5, McManus trình bày các phim slide và phim video được quay chụp khi lặn tự do chỉ mới hai tháng trước đó qua các bãi bằng của rạn san hô ở Thitu, Checkmark, và Tieshi. Bằng chứng hình ảnh này đã xác nhận rằng cát và san hô chết đã thực sự chất đống thành các rặng cao không có dấu hiệu của sự sống.

Hơn thế nữa, hình ảnh vệ tinh chụp lại quần đảo Trường Sa cho thấy rằng đối với mỗi đảo đá xây dựng mới của Trung Quốc, những chiếc thuyền máy cắt đã được hoạt động trên các rạn san hô trước khi xây dựng.

Những đầu cắt này đã xay xới lên cả san hô chết và san hô sống cùng các chất nền cơ bản của chúng. Như vậy, có vẻ như rằng khi các nhà khoa học rạn san hô được yêu cầu đánh giá mỗi điểm tiềm năng, họ đã trung thực báo cáo rằng san hô đã chết. Kiểu nạo vét tàn sát này là những gì các nhà khoa học tin rằng đã cấu thành một cảnh tượng tội ác đối với môi trường tương đương như tội hủy diệt môi trường.

“Những khu vực rạn san hô sống này ắt hẳn đã bị tàn diệt khi cát và phù sa từ việc nạo vét và việc xây dựng đảo bị thoát ra ngoài rồi phủ chụp lên chúng, giống như đang xảy ra xung quanh những chiếc thuyền máy cắt,” McManus phát biểu như thế.  “Phải mất cả ngàn năm một rạn san hô tại các khu vực này mới tạo nên được khoảng một mét sỏi, cát và phù sa, và vì vậy mà những nơi chúng đã bị nạo vét coi như vĩnh viễn không còn như trước nữa.”

Trong khi những thiệt hại từ tàu cắt bắt sò khổng lồ cuối cùng có thể được phục hồi, trong ngắn hạn, thì  khối lượng tuyệt đối của hoạt động này đe dọa làm giảm việc cung cấp ấu trùng cá và nguy cơ tuyệt chủng địa phương đối với hầu hết các vùng bờ biển đánh bắt quá mức của Biển Đông. Thiệt hại về môi trường này biến thành việc lượng cá ít đi không thể nuôi sống dân chúng trong khu vực, làm trầm trọng thêm vấn nạn an ninh lương thực vốn đã gia tăng.

Các rạn san hô là thánh địa của Biển Đông. Đã đến lúc cần thêm nhiều người dân tham gia đồng lòng tập hợp xung quanh các nhà khoa học biển để họ có thể tham gia vào hợp tác khu vực và quản lý đại dương để đem lợi ích cho tất cả trước khi quá muộn.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn:

James Borton, “Commentary: Managing the South China Sea Commons through Science Policy,” Perspectives 10, 2016, Taipei: South China Sea Think Tank.

Ghi chú:

Phần dịch tiếng Việt “tàu cắt” hay “thuyền cắt xé” là do ngay trong bản chính tiếng Anh thì từ “cutter boat” cũng được để trong ngoặc kép với ngụ ý ám chỉ nghĩa đen trụi trần của từ cutter nghĩa là máy cắt như một cách chơi chữ, tận dụng từ tiếng Anh cutter boat chỉ một thứ thuyền buồm nhỏ nhưng cấu tạo từ có chữ cutter là cắt. Tác giả James Borton quả đã rất sâu sắc khiến người đọc hiểu ngụ ý rằng những tàu thuyền “nhỏ” của ngư dân Trung Quốc thực ra đã “cắt” xé tan nát các rạn san hô ở Biển Đông.

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Công Dân Lại Thu Trúc Của Việt Nam Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Tháng 5 Năm 2016

(có bản dịch tiếng Việt bên dưới phần nguyên tác)

Ho Chi Minh City, May 14, 2016

 

The President of The United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this May, wish to present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my proposals as follows.

The USA should consider to timely and completely lift the arms embargo imposed against Vietnam from 1975 extended from a previous one against North Vietnam in 1964.

The bilateral relations between the USA and Vietnam have been well-developed with obvious significant progress on many issues during the past two decades resulting in the diplomatic, economic, and educational activities, and particularly the Comprehensive Partnership Agreement between the two countries. However, the impact on Vietnam from the said arms embargo has not enabled Vietnam to improve its security capabilities, as the country is in dire need of lethal weapons for its defense purposes particularly at the non-stop aggressive actions of China in its territorial claiming in the South China Sea causing constant conflict and tension threatening not only the sovereignty and safety of many countries of ASEAN but also the commercial gateway of the world’s merchant shipping navigation.

In fact, the USA has partly lifted the said embargo for transferring to Vietnam the maritime security-related defense articles, thanks to which the maritime security capabilities of Vietnam could be but partly improved.  But Vietnam needs more than that for its coastal defense and its ground forces as tension and conflict would not arise only at sea.

Issues of say human rights may still be haunting your decision for a total lifting of the embargo; however, the cultural aspects of the differentiation in that matter, the fast progress of reforms of Vietnam, the security of the whole ASEAN, and the positive regional role of the country should be considered to justify the lifting strategically.

I hope that with your kind consideration, influence and power, the total lifting of the arms embargo against Vietnam will soon be materialized to pave the way to the uniformed strengthening of the defense capabilities of the ASEAN countries for the benefits of the region and the world.

Most respectfully,

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Bản dịch tiếng Việt ngày 17-5-2016 của Hoàng Hữu Phước:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2016

Kính gởi  Tổng Thống Hoa Kỳ

Tòa Bạch Ốc

1600 Đại Lộ Pennsylvania, Khu Tây Bắc

Thủ Đô Washington 20500

Hoa Kỳ

 

Kính thưa Tổng Thống:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, nhân sắp có chuyến thăm của Ngài đến đất nước tôi trong tháng Năm này, kính gởi đến Ngài lời chào trân trọng nhất và kính trình bày cùng Ngài khuyến nghị sau:

Hoa Kỳ nên xem xét gỡ bỏ kịp thời và hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đã áp đặt chống Việt Nam từ 1975 sau khi gia hạn lịnh cấm đã có trước đó chống Bắc Việt năm 1964.

Quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với những tiến bộ rõ nét có ý nghĩa về nhiều mặt trong hai thập kỷ qua, dẫn đến kết quả là có những hoạt động trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và giáo dục, đặc biệt là việc ký kết Thỏa Thuận Đối Tác Toàn Diện giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, tác động của lịnh cấm vận đã không giúp Việt Nam tăng cường năng lực phòng vệ vì Việt Nam rất cần có các vũ khí sát thương phục vụ quốc phòng, đặc biệt trong hoàn cảnh Trung Quốc có các hành động không ngừng gây hấn tuyên bố chủ quyền biển đảo ở Biển Đông gây ra những xung đột căng thẳng thường xuyên đe dọa không những chủ quyền và sự an nguy của nhiều quốc gia trong khối ASEAN mà còn đối với cửa ngõ giao thương của tuyến hàng hải này của thế giới.

Trên thực tế, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ một phần lịnh cấm vận để chuyển cho Việt Nam những khí tài liên quan đến an ninh biển, nhờ vậy mà năng lực an ninh biển của Việt Nam được nâng cao dù chỉ một phần. Song, Việt Nam cần nhiều hơn thế để phòng thủ suốt vùng duyên hải cũng như lực lượng mặt đất do các căng thẳng xung đột không chỉ có thể xảy ra ngoài biển khơi.

Những vấn đề như nhân quyền chẳng hạn vẫn làm Hoa Kỳ đắn đo việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí; tuy nhiên, các khía cạnh văn hóa đối với những dị biệt trong vấn đề ấy, tiến bộ vượt bậc trong cải cách của Việt Nam, an ninh của cả khối ASEAN, cùng với vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực nên được xem xét đến như điều kiện đủ để tiến đến việc gỡ bỏ mang tính chiến lược lịnh cấm vận.

Tôi kính mong sự xem xét của Tổng Thống cùng ảnh hưởng và quyền lực của Ngài sẽ giúp sự gỡ bỏ lịnh cấm vận vũ khí Việt Nam sẽ sớm biến thành hiện thực, mở đường cho sự tăng cường đồng bộ về năng lực phòng thủ của các nước ASEAN vì lợi ích của khu vực và thế giới.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Điện thoại: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Địa chỉ thư tín: Doanh Thương MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ

Nhân Chuyến Thăm Việt Nam Và Nhật Bản Của Tổng Thống Mỹ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-5-2016

Hôm nay các phương tiện truyền thông đại chúng ở New Zealand – và tất nhiên cũng ở Việt Nam – đồng loạt đưa tin về chuyến thăm Việt Nam và Nhật Bản của Tổng Thống thứ 44 của Hoa Kỳ Ngài Barack Hussein Obama Đệ Nhị. Chuyến thăm này của Ngài Obama (a) một mặt làm tiu nghỉu những kẻ chống Việt đã loan tin hàm hồ láo xạo về việc hủy bỏ chuyến thăm Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ để phản đối việc Việt Nam bầu lại Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quốc Hội, và Thủ Tướng trước nhiệm kỳ – một việc hoàn toàn phù hợp Hiến Pháp Việt Nam và luật pháp Việt Nam mà tất cả các nguyên thủ của tất cả các nước trên toàn thế giới phải công khai công nhận và công khai tôn trọng, (b) một mặt tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu quốc tế và các nhà báo lão luyện trên thế giới tập trung viết về tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam và Nhật Bản. Một trong vô số các bài viết ấy là của nhà báo Edu Montesanti, tác giả quyển Những Sự Dối Trá Và Tội Ác Của Cuộc Chiến Chống Khủng Bố (Lies and Crimes of “War on Terror”), phỏng vấn độc quyền Giáo sư Peter Kuzinick, công dân New York, Giáo sư Lịch Sử Đại Học Hoa Kỳ và Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Nguyên Tử Hoa Kỳ, mà tôi dịch sang tiếng Việt như dưới đây để cung cấp cho bạn đọc có thêm thông tin về một giai đoạn lịch sử không thể nào quên của nhân loại. Trong bài phỏng vấn này, Giáo sư Peter Kuzinick nói về việc thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagazaki, về tội ác cùng các dối trá của Mỹ đàng sau cuộc chiến tranh tại Việt Nam cũng như về sự thật đằng sau cuộc xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, và vì sao Mỹ có cuộc Chiến Tranh Lạnh với Liên Xô cũng như vì sao cuộc chiến ấy cùng truyền thông chính thống đã ảnh hưởng đến thế giới ngày nay, lợi ích từ cuộc ám sát Tỏng Thống Kennedy, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với Châu Mỹ La Tinh thời Chiến Tranh Lạnh và ngày nay dưới vỏ bọc giả trá của Chiến Tranh Chống Khủng Bố và Chiến Tranh Chống Ma Túy.

*********

Edu MontesantiThưa Giáo sư Peter Kuznick, xin cảm ơn ông rất nhiều vì đã cho phép tôi được phỏng vấn ông. Trong quyển Lịch Sử Chưa Được Nói Đến Của Hoa Kỳ, ông cùng đồng  tác giả Oliver Stone có tiết lộ rằng việc ném các quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki của Tổng thống Harry Truman là không cần thiết về mặt quân sự, cùng những lý do đằng sau nó. Xin Giáo sư vui lòng bình luận về các sự nêu lên này

Peter Kuznick: Thật là thú vị khi tôi nói chuyện với những người ở nước khác thì hầu hết đều cho rằng các vụ thả bom nguyên tử là không cần thiết và không thể biện minh được, trong khi hầu hết người Mỹ vẫn tin rằng việc thả những quả bom nguyên tử ấy là hành động thực sự nhân đạo vì chúng cứu sống hàng trăm hàng ngàn người Mỹ rất có thể sẽ chết trong một cuộc xâm lược của hàng triệu người Nhật.

Đó là một ảo tưởng để tự an ủi mà nhiều người Mỹ hằng tin sâu sắc, đặc biệt nơi những bậc lão niên. Đây là một trong những huyễn hoặc sơ đẳng phát sinh từ Đệ Nhị Thế Chiến. Nó có từ sự cố ý tuyên truyền của Tổng Thống Truman, Bộ Trưởng Chiến Tranh Henry Stimson, và nhiều vị khác, những kẻ loan truyền thông tin sai lạc rằng các quả bom nguyên tử đã buộc Nhật Bản phải đầu hàng. Truman tuyên bố trong cuốn hồi ký của ông rằng các quả bom nguyên tử đã cứu sống nửa triệu người Mỹ. Tổng Thống George H.W. Bush sau đó nâng con số lên thành “nhiều triệu người”. Thực tế là vụ thả các quả bom nguyên tử đã không hề cứu sống người Mỹ cũng như không hề đóng góp đáng kể nào vào sự quyết định đầu hàng của Nhật Bản. Các quả bom nguyên tử ấy lẽ ra đã khiến kéo dài chiến tranh hơn và gây thiệt hại nhân mạng nhiều hơn cho Mỹ. (giải thích thêm của Hoàng Hữu Phước: hai quả bom nguyên tử rất có thể đã làm Nhật Bản nổi giận điên cuồng tập trung báo thù Mỹ nếu như bộ binh Nhật Bản không bị Liên Xô tiêu diệt ở Mãn Châu Quốc). Chỉ có một sự thật là chúng đã giết hàng trăm ngàn người Nhật và gây thương tích cho nhiều người hơn thế.

Theo báo cáo tháng 1 năm 1946 của Bộ Chiến Tranh Hoa Kỳ, các quan chức hàng đầu Nhật Bản đã có rất ít cuộc thảo luận về các vụ đánh bom nguyên tử, nghĩa là chúng không dẫn đến quyết định đầu hàng. Điều này mới đây đã được công nhận một cách khá gây sửng sốt bởi Bảo Tàng Quốc Gia của Hải Quân Hoa Kỳ tại Thủ đô Washington, khi báo cáo rằng “Sự tàn phá rộng lớn bởi các vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki và sự sát hại 135.000 người Nhật đã có rất ít ảnh hưởng đến quân đội Nhật Bản.”

Tuy nhiên, việc Liên Xô đem quân vào Mãn Châu Quốc đã làm Nhật Bản đổi ý. Ít người Mỹ biết rằng trong tổng số 7 vị Đô Đốc và tướng lĩnh năm sao của Mỹ đã có ngôi sao thứ năm trong cuộc chiến ấy thì đã có 6 vị nói rằng các quả bom nguyên tử hoặc không cần thiết về quân sự hoặc đáng bị lên án về mặt đạo đức hoặc cả hai. Các vị ấy gồm có Tướng Douglas MacArthur, Dwight Eisenhower, Henry “Hap” Arnold, và các Đô đốc William Leahy, Ernest King, cùng Chester Nimitz Leahy, chánh văn phòng của tổng thống Roosevelt và Truman. Vị này nói rằng các vụ đánh bom nguyên tử vi phạm “mọi chuẩn mực đạo đức Kitô giáo mà tôi từng nghe nói đến cũng như tất cả các luật thời chiến được biết đến.” Ông phát biểu rằng “Nhật Bản đã đã bị đánh bại và sắp sửa đầu hàng. Việc sử dụng các loại vũ khí man rợ này tại Hiroshima và Nagasaki không trợ giúp cụ thể nào trong cuộc chiến chống Nhật Bản của chúng ta. Là người đầu tiên sử dụng bom nguyên tử, chúng ta đã áp dụng một tiêu chuẩn đạo đức thường thấy của bọn man di thời Tiền Trung Cổ “.

Tổng thống Mỹ Eisenhower đồng ý rằng người Nhật đã bị đánh bại từ trước rồi. Tướng MacArthur nói rằng Nhật Bản lẽ ra đã đầu hàng nhiều tháng trước nếu Mỹ bảo Nhật Bản rằng Nhật Bản có thể duy trì hoàng đế của họ, cái điều mà cuối cùng Mỹ cũng đã cho phép Nhật Bản có được.

Thế thực ra đã đã xảy ra việc gì? Khoảng mùa xuân năm 1945, rõ ràng hầu hết các lãnh đạo Nhật Bản đều biết họ không thể thắng cuộc chiến tranh. Vào Tháng Hai 1945, Hoàng tử Fumimaro Konoe, cựu Thủ tướng Nhật Bản, đã viết thư cho Hoàng đế Hirohito, “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại của Nhật Bản là không thể tránh khỏi.”

Cảm nhận này cũng được thể hiện bởi Hội đồng Chiến Tranh Tối Cao vào tháng Năm 1945 khi họ tuyên bố rằng “Việc Liên Xô tham chiến sẽ giáng một đòn chí tử vào Đế Chế chúng ta” và được lặp đi lặp lại thường xuyên sau đó bởi các nhà lãnh đạo Nhật Bản.

Mỹ, vốn đã giải được bảng mật mã của Nhật Bản và đã chặn được đường dây cáp truyền tin của Nhật Bản, đã hiểu biết đầy đủ về sự tuyệt vọng ngày càng tăng của Nhật Bản muốn chấm dứt chiến tranh nếu Mỹ đồng ý cho họ “đầu hàng.” Nhật Bản đâu chỉ bị đánh bại tơi tả về quân sự, hệ thống đường sắt của Nhật cũng lâm vào cảnh bị phá huỷ còn nguồn cung cấp thực phẩm bị cạn kiệt. Đich thân Tổng Thống Mỹ Truman đã gọi bức điện thu được ngày 18 tháng Bảy là “bức điện của Nhật Hoàng yêu cầu hòa bình.” Nhà lãnh đạo Mỹ cũng biết rằng những gì Nhật Bản thật sự sợ hãi là khả năng của một cuộc xâm lược của Liên Xô mà Nhật Bản không thể nào ngăn chặn được.

Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã không biết rằng tại Hội Nghị Yalta, Stalin đã đồng ý tham chiến tại Thái Bình Dương ba tháng sau khi kết thúc cuộc chiến ở Châu Âu. Nhưng Truman biết và hiểu hết ý nghĩa của nó. Ngay từ ngày 11-4-1945, Phụ trách Cơ Quan Tình Báo Hốn Hợp thuộc Tham Mưu Liên Quân Mỹ đã báo cáo rằng “Nếu bất cứ lúc nào mà Liên Xô tham chiến, tất cả người Nhật Bản sẽ nhận ra rằng thất bại tuyệt đối là không thể tránh khỏi.”

Tại Potsdam vào giữa tháng Bảy, khi Truman nhận được xác nhận của Stalin rằng Liên Xô sắp tham chiến, Truman vui mừng và đã viết trong nhật ký của mình, “Cho bọn Nhật đi đoong khi điều đó xảy ra”. Ngày hôm sau, ông đã viết cho vợ mình rằng, “Chúng ta sẽ kết thúc chiến tranh sớm một năm, và sẽ nghĩ về bọn trẻ sẽ không bị chết. ”

Vì vậy, có hai cách để kết thúc chiến tranh mà không phải thả bom nguyên tử. Thứ nhất là phải thay đổi yêu đầu hàng vô điều kiện và thông báo Nhật Bản rằng họ có thể giữ lại hoàng đế, điều mà hầu hết các nhà làm chính sách Mỹ muốn như vậy do họ biết Nhật Hoàng là chìa khóa cho sự ổn định hậu chiến. Thứ hai là chờ cuộc xâm lược Nhật Bản của Liên Xô sẽ bắt đầu lúc nửa đêm ngày 08 tháng 8.

Chính cuộc đưa quân vào chiếm Nhật ấy mới là đòn quyết định chứ không phải bom nguyên tử, có tác dụng lâu dài và gọn hẹp hơn. Cuộc xâm lược của Liên Xô hoàn toàn làm phá sản chiến lược ketsu-go của Nhật Bản (giải thích thêm của Hoàng Hữu Phước: chiến lược Ketsu-Go tức Chiến Lược Giáng Đòn Quyết Định tiêu diệt lực lượng hải quân Hoa Kỳ trên biển để Hoa Kỳ không thể đổ bộ Nhật Bản, bằng cách ngày đêm tìm diệt các hàng không mẫu hạm Mỹ, và tăng cường phòng vệ bằng hải lục không quân để tiêu diệt bất kỳ đoàn  quân Mỹ nào lọt vào được lảnh thổ Nhật Bản). Hồng Quân Liên Xô hùng mạnh đã nhanh chóng tiêu diệt Đạo Quân Quan Đông của Nhật Bản. Khi Thủ Tướng Kantaro Suzuki được hỏi tại sao Nhật Bản cần thiết phải đầu hàng Hoa Kỳ một cách nhanh chóng, ông trả lời rằng nếu Nhật Bản chậm chân thì “Liên Xô sẽ không những chỉ chiếm Mãn Châu, Hàn Quốc, Karafuto, mà còn chiếm cả Hokkaido. Điều này nếu xảy đến sẽ phá hủy nền tảng của Nhật Bản. Chúng tôi phải kết thúc chiến tranh khi còn có thể thỏa thuận với Hoa Kỳ.” Cuộc tiến quân của Liên Xô đã thay đổi cán cân quân sự, chứ còn những quả bom nguyên tử trông khủng khiếp thế đấy đã không giúp được gì. Người Mỹ đã oanh tạc thiêu rụi các thành phố Nhật Bản trong nhiều tháng trời. Như Yuki Tanaka đã chứng minh cho thấy Mỹ đã oanh tạc thiêu rụi hơn 100 thành phố của Nhật Bản. Sự thiêu hủy đạt mức cao nhất 99,5% tại trung tâm thành phố Toyama. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã chấp nhận để Hoa Kỳ cứ quét sạch các thành phố của Nhật Bản. Hiroshima và Nagasaki chỉ là có thêm hai thành phố bị biến mất mà thôi, mặc cho mức độ tàn phá hay chi tiết khủng khiếp đến đâu. Nhưng cuộc xâm lược của Liên Xô đã chứng minh sức tàn phá sẽ còn ghê gớm hơn rất nhiều như lãnh đạo của cả Mỹ và Nhật Bản đều biết sẽ như thế.

Tuy nhiên, Mỹ muốn sử dụng bom nguyên tử làm lời cảnh báo nghiêm khắc dành cho Liên Xô về những gì đang sẵn chờ đợi họ nếu họ dám can thiệp vào kế hoạch của Mỹ đối với quyền bá chủ hoàn cầu sau chiến tranh. Đó chính xác là điều mà Stalin cùng các lãnh đạo Liên Xô ở Điện Kremlin đã nhận ra qua các vụ ném bom nguyên tử ấy. Việc sử dụng bom nguyên tử của Mỹ ít ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo Nhật Bản, nhưng nó chứng tỏ là nhân tố chính trong khởi động cuộc Chiến Tranh Lạnh. Và nó đặt cả thế giới trên một đường trượt đến sự  hủy diệt. Đã có ít nhất ba lần vào những tình huống khác nhau mà Tổng thống Mỹ Truman suýt khởi động một quá trình có thể dẫn đến sự kết thúc sự sống trên hành tinh này khi ông đã liều lĩnh dấn bươc. Khi ở Postdam, lúc nhận được báo cáo về sức mạnh của việc cho nổ thử nghiệm bom nguyên tử ngày 16 Tháng Bảy tại New Mexico, ông viết trong nhật ký của mình: “Chúng ta đã tạo ra được  quả bom khủng khiếp nhất trong lịch sử thế giới. Nó có thể là sự tiêu diệt trong biển lửa như tiên tri trong Thời Thung Lũng Euphrates sau Nô-Ê cùng con tàu Ark tuyệt vời của ông ấy.” Vì vậy, việc ném bom nguyên tử đã đóng góp rất ít hoặc chẳng đóng góp gì cả vào việc kết thúc chiến tranh, nhưng nó bắt đầu một quá trình tiếp tục đe dọa nhân loại với sự hủy diệt tận ngày nay – những 70 năm sau vụ ném bom. Như Stone và tôi đã nêu trong quyển Lịch Sử Chưa Được Nói Đến Của Hoa Kỳ, giết thường dân vô tội là một tội ác chiến tranh. Đe dọa nhân loại tuyệt diệt còn tồi tệ hơn thế nữa. Đó là tội ác tồi tệ nhất của mọi thời.

Edu Montesanti Trong chương về Chiến Tranh Việt Nam, có tiết lộ rằng các lực lượng vũ trang Mỹ đã tiến hành ở đất nước nhỏ bé ấy việc ném  bom với số lượng lớn hơn nhiều so với tổng số bom đã ném trong Đệ Nhị Thế Chiến. Xin Giáo sư nói rõ hơn và vui lòng cho biết vì sao việc đó lại xảy ra.

Peter Kuzinick: Mỹ ném nhiều bom chống lại đất nước Việt Nam bé nhỏ, so với số bom mà tất cả các bên đã sử dụng trong tất cả các cuộc chiến tranh trước đó trong lịch sử  – tức nhiều hơn gấp 3 lần tổng số bom mà các bên đã sử dụng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Cuộc chiến tranh đó là sự tàn bạo tồi tệ nhất, là thí dụ tồi tệ nhất về sự xâm lược của nước ngoài, kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Mười chín triệu ga-lông chất diệt cỏ đầu độc nông thôn Việt Nam. Rừng rậm ba cấp xinh đẹp của Việt Nam đã biến mất một cách hiệu quả. Mỹ đã phá hủy 9.000 trong số 15.000 thôn ấp của Nam Việt Nam.

Mỹ cũng phá hủy tất cả sáu thành phố công nghiệp ở miền Bắc cũng như 28 trong số 30 thị trấn và 96 trong số 116 thị xã. Mỹ nhiều lần đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Trong số những người đã từng đặt vấn đề sử dụng cũng như có lúc ủng hộ việc sử dụng bom nguyên tử là Henry Kissinger. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara nói chuyện với sinh viên của tôi đã cho biết ông tin rằng 3.800.000 người Việt Nam đã chết trong chiến tranh.

Như vậy, cuộc chiến thực sự rất khủng khiếp và người Mỹ chưa bao giờ chuộc tội. Thay vì được ban cho giải thưởng Nobel Hòa bình cho việc kết thúc chiến tranh Việt Nam, Henry Kissinger phải ở trong chuồng xử án ở Hague cho tội ác chống lại loài người.

Edu Montesanti:  Xin Giáo Sư hãy nói về những kinh nghiệm của ông trong những năm 60 ở Việt Nam, và tại sao Mỹ quyết định tham gia cuộc chiến tranh chống lại quốc gia đó.

Peter Kuznick: Oliver và tôi tiếp cận chiến tranh từ những quan điểm khác nhau. Ông ấy đã bỏ học tại Đại Học Yale để tình nguyện tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Ông bị thương hai lần và được trao tặng một anh dũng bội tinh. Tôi thì khác, từ đầu đã quyết liệt phản đối việc Mỹ xâm lược Việt Nam.

Là một sinh viên đại học năm thứ nhất, tôi bắt đầu lập một nhóm phản chiến. Tôi tích cực tổ chức chống chiến tranh. Tôi ghét chiến tranh. Tôi ghét những kẻ phải chịu trách nhiệm về chiến tranh. Tôi nghĩ rằng tất cả bọn họ là tội phạm chiến tranh và tôi vẫn cho là như vậy. Tôi đã tham dự nhiều cuộc xuống đường tuần hành chống chiến tranh và phát biểu thường xuyên tại các sự kiện công cộng. Tôi hiểu, như anh bạn của tôi là Daniel Ellsberg thích nói như thế, rằng chúng ta đã ở phía sai trái.

Mỹ đã dần dần dấn thân. Trước tiên, Mỹ tài trợ cho chiến tranh thực dân Pháp và sau đó tự mình chiến đấu sau khi người Việt đánh bại người Pháp. Tổng thống Kennedy gửi 16.000 “cố vấn”, nhưng rồi nhận ra chiến tranh là sai lầm và đã lên kế hoạch để kết thúc chiến tranh giá như ông không bị sát hại. Động cơ của Mỹ là lẫn lộn. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà dân tộc chủ nghĩa, ông còn là một người cộng sản. Không nhà lãnh đạo Mỹ nào muốn để thua một cuộc chiến tranh vào tay những người cộng sản bất cứ tại đâu.

Điều này đặc biệt đúng sau chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc vào năm 1949. Nhiều người lo sợ hiệu ứng domino rằng Việt Nam sẽ dẫn đến những chiến thắng của cộng sản khắp Đông Nam Á. Điều đó sẽ khiến Nhật Bản bị cô lập và Nhật Bản cuối cùng rồi cũng sẽ quay sang khối cộng sản để tìm đồng minh và đối tác thương mại. Vì vậy, một động lực khác là địa chính trị.

Một động lực khác nữa là kinh tế. Các nhà lãnh đạo Mỹ không muốn để mất nguồn lao động giá rẻ, nguyên liệu, và các thị trường ở Đông Dương. Một lý do khác là các tổ hợp quân sự-công nghiệp tại  Mỹ – tức các ngành công nghiệp “quốc phòng” và các nhà lãnh đạo quân sự liên minh với chúng – đã được vỗ béo và phát tài từ chiến tranh. Chiến tranh là lý do tồn tại của họ, và họ thu lợi dồi dào từ chiến tranh ở cả lợi nhuận tăng cao và thăng quan tiến chức.

Vì vậy, nó là một sự kết hợp của việc duy trì tính ưu việt của Mỹ trên thế giới, bảo vệ và khai thác lợi ích kinh tế Mỹ, và một đầu óc phi lý nguy hiểm chống cộng muốn đánh bại những người cộng sản ở mọi nơi.

Edu Montesanti: Giáo sư có thể cho biết những lý do thực sự đằng sau cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô là gì?

Peter Kuznick: George Kennan, quan chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã cung cấp cơ sở lý luận cho  lý thuyết ngăn chặn, đặt ra những động cơ kinh tế đằng sau Chiến Tranh Lạnh trong một bản ghi nhớ rất sáng tỏ vào năm 1948, trong đó ông nói: “Chúng ta chiếm khoảng 50% tài sản của thế giới, nhưng chỉ chiếm 6,3% dân số địa cầu…chúng ta không thể không là đối tượng của lòng ghen tị oán giận. Nhiệm vụ thực sự của chúng ta trong thời gian tới là nhằm tạo ra một mối quan hệ mẫu cho phép chúng ta duy trì vị trí quá bất bình đẳng này.” Mỹ theo đuổi công việc này. Đôi khi điều đó khiến Mỹ cần phải hỗ trợ của các chế độ độc tài tàn bạo. Đôi khi Mỹ cần phải hỗ trợ các chế độ dân chủ. Cuộc chiến xảy ra trên các bình diện văn hóa, chính trị, ý thức hệ, và kinh tế.

Henry Luce, nhà xuất bản của tạp chí Time và Life đã phát biểu năm 1941 rằng thế kỷ 20 phải là thế kỷ của Mỹ. Mỹ sẽ thống trị thế giới. Mỹ đã dấn thân để đạt được như vậy. Liên Xô, do đã từng bị xâm lược hai lần qua Đông Âu, muốn có một vùng đệm giữa họ và Đức. Mỹ đã phản đối các lĩnh vực kinh tế và chính trị nào hạn chế sự thâm nhập kinh tế của Mỹ. Mặc dù Hoa Kỳ và Liên Xô đã chưa bao giờ có chiến tranh trực tiếp với nhau, họ đã đấu với nhau trong nhiều cuộc chiến tranh do họ giật dây. Loài người đã may mắn sống sót qua thời kỳ ảm đạm này.

Edu Montesanti: Giáo sư nhận xét thế nào về  chính trị Mỹ đối với Cuba kể từ cuộc Cách Mạng Cuba, và đối với Mỹ Latinh nói chung kể từ khi Chiến Tranh Lạnh?

Peter Kuznick: Mỹ hoàn toàn kiểm soát nền kinh tế và chính trị Cuba từ những năm 1890 cho đến cuộc cách mạng năm 1959. Tổng thống Cuba Batista hỗ trợ các nhà đầu tư Mỹ. Mỹ đã can thiệp nhiều lần vào nội bộ Mỹ Latin giữa năm 1890 và năm 1933 và sau đó tái diễn trong năm 1950. Castro đại diện cho bước đột phá lớn đầu tiên của chu kỳ đó. Mỹ muốn tiêu diệt Castro và bảo đảm  không có ai khác ở Mỹ Latinh theo gương Castro. Mỹ thất bại. Mỹ đã không phá hủy được cuộc cách mạng của Castro, nhưng Mỹ đảm bảo rằng Cuba sẽ không thành công về kinh tế hay tạo ra nền dân chủ của nhân dân mà nhiều người mong mỏi.

Tuy nhiên, Cách mạng Cuba đã thành công trong những cách khác. Cuộc cách mạng đã tồn tại trong suốt Chiến Tranh Lạnh và cho đến nay. Cuba đã truyền cảm hứng cho các cuộc cách mạng Mỹ Latinh khác mặc dù các biệt đội tử thần do Mỹ đào tạo và hậu thuẫn đã tuần tra khắp lục địa sát hại hàng trăm ngàn người.

Các trường học Mỹ cho toàn Châu Mỹ đã tích cực tạo nên các lãnh đạo các thủ lãnh của biệt đội tử thần. Hugo Chavez và những vị khác theo con đường của Fidel trong truyền cảm hứng cho người dân Nam Mỹ đã không còn. Nhiều nhà lãnh đạo tiến bộ đã bị lật đổ trong những năm gần đây.

Hiện nay Dilma Rouseff đang chiến đấu để tồn tại, nhưng Evo Morales và Alvaro Garcie Linera ở Bolivia đang đứng vững tự hào và đứng trên cao để chống lại những nỗ lực của Mỹ đang muốn trở lại  thống trị và bóc lột Mỹ Latinh. Nhưng trên khắp Châu Mỹ Latinh, các nhà lãnh đạo tiến bộ đã hoặc bị lật đổ hoặc đang bị làm cho suy yếu bởi các vụ scandal. Các nhà tân-tiến-bộ do Mỹ hậu thuẫn đang sẵn sàng một lần nữa để cướp các nền kinh tế địa phương phục vụ lợi ích của tư bản nước ngoài và trong nước. Đó không phải là một hình ảnh đẹp. Người dân sẽ phải chịu đựng vô vàn trong khi một số ít trở nên giàu có.

Edu Montesanti: Theo nghiên cứu của Giáo sư thì ai đã giết Tổng thống John Kennedy? Những lợi ích đàng sau vụ ám sát kinh hoàng đó là gì?

Peter Kuznick: Oliver đã làm một bộ phim tuyệt vời về vụ ám sát Kennedy – Phim JKF. Chúng tôi không cho rằng chúng tôi cần phải xem xét lại những vấn đề trong cuốn sách và tài liệu của chúng tôi. Thay vào đó, chúng tôi tập trung vào những gì nhân loại đã mất mát khi Kennedy đã bị cướp khỏi chúng ta. Ông đã phát triển cực kỳ trong thời gian ngắn ngủi tại vị của mình.

Ông đã bắt đầu như một chiến binh thời Chiến Tranh Lạnh. Đến cuối cuộc đời, sau những bài học ông nhận ra trong hai năm đầu tiên cầm quyền và lấn cấn bởi cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba, ông mong muốn một cách tuyệt vọng kết thúc Chiến Tranh Lạnh cùng cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Nếu ông không bị giết, như Robert McNamara nói, thế giới cơ bản đã khác đi rồi. Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam. Chi phí quân sự sẽ giảm mạnh. Mỹ và Liên Xô sẽ đã tìm ra cách để làm việc cùng nhau. Cuộc chạy đua vũ trang sẽ được chuyển đổi thành một cuộc chạy đua hòa bình. Nhưng ông có nhiều kẻ thù trong cộng đồng quân sự và tình báo và trong khu vực quân sự của nền kinh tế. Ông cũng bị ghét bởi những kẻ phân biệt chủng tộc miền Nam, bọn Mafia, và cộng đồng Cuba-kiều lưu vong phản động. Nhưng những kẻ núp đằng sau vụ ám sát của ông có nhiều khả năng đến từ các cánh quân sự và tình báo.

Chúng tôi không biết ai đã làm điều đó, nhưng chúng ta biết quyền lợi của những ai đã được tăng cao nhờ vụ ám sát. Với tất cả các lỗ hổng trong câu chuyện chính thức như chi tiết của Ủy Ban Warren, rất khó để tin rằng Lee Harvey Oswald đã hành động một mình và rằng viên đạn ma thuật đã gây nên tất cả những gì gây ra sự tàn phá ấy.

Edu Montesanti: Giáo Sư có cho rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với khu vực hiện nay, đặc biệt là các cuộc tấn công chống lại các nước tiến bộ, về bản chất là cùng chính sách với thời  Chiến Tranh Lạnh không?

Peter Kuznick: Tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ muốn có một cuộc Chiến Tranh Lạnh mới với một đối thủ thực sự có thể cạnh tranh trên toàn cầu. Như những người tân-bảo-thủ tuyên bố sau sự sụp đổ của Liên Xô, Mỹ thực sự muốn có một thế giới đơn cực, trong đó chỉ có một siêu cường và không có đối thủ.

Ngày nay các nước tiến bộ có ít đồng minh lớn hơn là họ đã có trong thời Chiến Tranh Lạnh. Nga và Trung Quốc tạo ra sự cân bằng nào đó với Mỹ, nhưng hai nước này không thực sự là những nước tiến bộ thách thức trật tự thế giới tư bản chủ nghĩa. Cả hai đều đang bị vướng trong các vấn đề nội bộ của họ và những bất bình đẳng.

Có vài mô hình xã hội chủ nghĩa dân chủ cho thế giới noi theo. Mỹ đã ra tay lật đổ và phá hoại hầu hết các tư duy tiến bộ và các chính phủ có tầm nhìn xa. Hugo, mặc dù có những thái quá, vẫn là một vai trò kiểu mẫu. Ông đã đạt được những điều tuyệt vời cho người dân nghèo Venezuela. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào những gì đang xảy ra tại Brazil, Argentina, Honduras, đó lại là một bức tranh rất u  buồn.

Cần có một làn sóng cách mạng mới trên khắp thế giới thứ ba với các nhà lãnh đạo mới cam kết diệt trừ tham nhũng và đấu tranh cho công bằng xã hội. Riêng tôi phấn khích trước sự phát triển gần đây ở Bolivia, dù cho đã có kết quả của cuộc bầu cử vừa qua.

Edu Montesanti: Giáo sư thấy văn hóa Chiến Tranh Lạnh ảnh hưởng thế nào đến Mỹ và xã hội thế giới ngày nay? Vai trò của chế độ Washington và phương tiện truyền thông chính thống đối với vấn đề đó?

Peter Kuznick: Các phương tiện truyền thông là một phần của vấn đề. Họ đã phục vụ cho sự xáo trộn hơn là giáo dục và khai sáng. Họ truyền bá ý tưởng rằng có những nguy hiểm và kẻ thù rình rập khắp nơi, nhưng họ không đề ra giải pháp tích cực nào. Hậu quả là người ta bị khống chế bởi sự sợ hãi và phản ứng một cách phi lý. Cựu Phó Tổng Thống Mỹ Henry Wallace, một trong những nhà thấu thị hàng đầu của Mỹ trong thế kỷ 20, đáp lại bài phát của Winston Churchill về Bức Màn Sắt năm 1946 bằng cách cảnh báo rằng: “Nguồn gốc của tất cả các sai lầm của chúng ta là sự sợ hãi … Nếu những nỗi sợ này tiếp tục, sẽ đến ngày con và cháu của chúng ta sẽ phải trả giá cho những nỗi lo sợ này với những dòng sông máu …Thoát ra khỏi nỗi sợ hãi, các quốc gia vĩ đại xử sự như loài cầm thú bị dồn vào chân tường, chỉ biết nghĩ duy mỗi đến sự được sống còn“.

Điều này cũng như vậy trên bình diện cá nhân khi người ta sẽ hy sinh tự do của mình để được an ninh lớn hơn. Chúng ta đã thấy nó đã diễn ra như thế tại Mỹ sau sự cố 9/11. Chúng ta đang thấy như vậy tại Pháp và Bỉ.

Thế giới đang chuyển động sai hướng. Sự bất bình đẳng đang gia tăng. 62 người giàu nhất thế giới bây giờ đã giàu có hơn, so với 3,6 tỷ người nghèo nhất. Đó là sự tởm lợm. Không có biện minh nào cho sự nghèo đói trong một thế giới phong phú tài nguyên đến thế. Trong thế giới này, các phương tiện truyền thông phục vụ nhiều mục đích, mà mục đích ít được họ thực thi nhất trong số đó là cung cấp và trang bị cho mọi người thông tin người ta cần có để thay đổi xã hội và thế giới.

Các phương tiện truyền thông thay vì phóng đại nỗi sợ hãi của người dân để họ sẽ chấp nhận chế độ độc tài và các giải pháp quân phiệt cho những vấn đề không cần có giải pháp quân sự, cung cấp những trò giải trí vô hồn để đánh lạc hướng mọi người quên đi vấn đề thực sự, và mê hoặc mọi người vào cơn mộng du với sự thờ ơ. Đây đặc biệt là một vấn nạn ở Hoa Kỳ, nơi nhiều người tin rằng có một nền báo chí “tự do”. Còn nơi nào có sự kiểm soát báo chí, người ta lại tiếp cận truyền thông với sự hoài nghi. Nhiều người Mỹ cả tin không hiểu các hình thức tinh tế hơn của báo chí trong xảo trá và lừa dối.

Tại Mỹ, các phương tiện truyền thông chính thống hiếm khi đưa ra quan điểm thách thức suy nghĩ truyền thống. Ví dụ, tôi liên tục nhận được lời mời phỏng vấn bởi các hãng truyền thông hàng đầu tại Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, và các nơi khác, nhưng tôi hiếm khi được báo chí tại Hoa Kỳ phỏng vấn. Các đồng nghiệp tiến bộ của tôi cũng không được mời đến những chương trình truyền thông chính thống của Mỹ. Vì vậy, đúng là có một biện pháp nhất định của tự do báo chí ở Hoa Kỳ, nhưng sự tự do ấy bị làm suy yếu không phải phần lớn tại chính phủ mà tại báo chí tự kiểm duyệt và tự bịt miệng các tiếng nói tiến bộ. Nhiều người trong phần còn lại của thế giới cũng vậy khi rất cởi mở phê phán Hoa Kỳ nhưng không thẳng thắn như thế khi chỉ trích chính sách của chính phủ của chính họ.

Edu Montesanti: Giáo sư nghĩ sao về ý kiến cho rằng “Chiến Tranh Chống Khủng Bố” và thậm chí “Chiến Tranh Chống Ma Túy” của Mỹ đặc biệt là ở Mỹ Latinh là cách Mỹ đã tạo ra để thay thế Chiến Tranh Lạnh, để mở rộng quyền lực quân sự và thống trị thế giới?

Peter Kuznick: Mỹ bác bỏ các phương pháp của chế độ thực dân cũ. Mỹ đã tạo ra một loại đế chế mới được củng cố bằng từ 800 đến 1000 căn cứ quân sự ở nước ngoài mà từ đó các lực lượng đặc biệt của Mỹ hoạt động tại hơn 130 quốc gia mỗi năm.

Thay cho các lực lượng xâm lược bao gồm các đội quân bộ binh đông đảo mà lịch sử đã chứng minh bất thành ở nước này nước nọ, Mỹ hoạt động theo những cách bí mật hơn và ít vụng về hơn. Phương pháp ưa thích của Obama trong việc giết người là sử dụng máy bay không người lái.

Có biết bao giá trị pháp lý khả nghi cho ra những kết quả đầy nghi vấn. Chác chắn chúng có hiệu quả nhất định trong giết chóc, song có biết bao bằng chứng cho thấy cứ mỗi một “tên khủng bố” bị giết là tạo ra 10 tên khác lấp vào chổ trống của y.

Cuộc Chiến Chống Khủng Bố mà Mỹ và các đồng minh đã tiến hành trong 15 năm qua đã chỉ tạo ra thêm nhiều kẻ khủng bố. Giải pháp quân sự hiếm khi hữu hiệu. Cần có các phương pháp tiếp cận khác nhau và chúng sẽ phải bắt đầu bằng việc phân phối lại các nguồn tài nguyên của thế giới để làm cho mọi người muốn sống chứ không phải muốn giết và muốn chết. Mọi người cần có niềm hy vọng.

Người ta cần có cảm nhận về kết nối. Họ cần phải tin rằng một cuộc sống tốt hơn là điều khả thi cho họ và con cái của họ. Quá nhiều người cảm thấy tuyệt vọng và xa lánh. Sự sụp đổ của mô hình Xô Viết đã để lại một chỗ hỗng. Như Marx đã cảnh báo từ lâu, Nga đã quá lạc hậu về mặt văn hóa và kinh tế để phục vụ như là một mô hình cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa toàn cầu.

Cuộc Cách mạng Nga đã bị thử thách ngay từ đầu bởi các thế lực tư bản xâm lấn. Vấn đề nảy sinh ngay từ đầu. Sau đó, chủ nghĩa Stalin đem đến chuối những kinh hoàng. Trong phạm vi mà mô hình Xô-viết đã trở thành tiêu chuẩn thế giới cho sự thay đổi mang tính cách mạng, đã có rất ít hy vọng cho việc tạo ra một thế giới mỹ mãn. Mô hình Trung Quốc cũng không cung cấp một tiêu chuẩn tốt hơn. Cũng vì vậy mà một số người đã quay sang Hồi giáo cực đoan, đem đến cơn ác mộng của chính nó. Khi chính phủ tiến bộ tiếp tục vấp ngã, sự bá chủ của Mỹ được mạnh lên. Tuy nhiên, Mỹ đã có ít những tích cực đem đến cho thế giới. Thế hệ tương lai sẽ nhìn lại, xem cái Pax Americana tức cái Nền Hòa Bình Giữa Các Siêu Cường Dưới Quyền Mỹ này không phải là thời đại khai sáng mà là một thứ chiến tranh triền miên và sự bất bình đẳng không ngừng gia tăng.

Về nguyên tắc, dân chủ rất tốt nhưng ít thăng hoa trong thực tế. Và bây giờ với các mối đe dọa hạt nhân gia tăng và sự thay đổi khí hậu cũng đe dọa sự tồn tại tương lai của nhân loại, tương lai trở nên không còn chắc chắn. Mỹ sẽ bám vào các cuộc chiến tranh chống khủng bố và chiến tranh chống ma túy để duy trì những sự chênh lệch mà George Kennan vạch ra 68 năm trước. Nhưng đó không phải là con đường tiến lên phía trước.

Thế giới có thể nhìn chính trị nội tình Mỹ như một sự tuột dốc xuống sự điên rồ – một dấu hiệu hý hước của sự thất bại hoàn toàn của nền dân chủ Mỹ – nhưng sự thành công của Bernie Sanders người kém thế, và ngay cả những cuộc nổi dậy phản kháng trong các cơ sở của Đảng Cộng Hòa cho thấy người Mỹ đang khao khát có sự thay đổi. Cả Hillary Clinton và Đảng Cộng Hòa, với mối quan hệ gắn bó của họ với giới tài phiệt Phố Wall và các giải pháp quân sự, sẽ không đòi hỏi có sự tôn trọng bên ngoài của một số thành phần hạn chế của dân chúng.

Họ có thể giành chiến thắng, nhưng thời gian của họ bị hạn chế. Mọi người ở khắp mọi nơi đang tuyệt vọng đợi chờ câu trả lời mới, tích cực, tiến bộ. Rõ ràng là một số người như chúng ta thấy hiện nay trên khắp châu Âu, sẽ thiên về giới mỵ dân cánh hữu vào thời điểm khủng hoảng, nhưng điều này ít nhất một phần do cánh tả đã thất bại trong việc cung cấp thứ lãnh đạo mà thế giới cần đến.

Một cánh tả hồi sinh là chìa khóa để cứu lấy hành tinh này. Chúng ta đang không còn thời gian. Con đường phía trước sẽ không dễ dàng. Nhưng chúng ta có thể chiến thắng và phải chiến thắng.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn nguyên tác (original): http://www.pravdareport.com/opinion/columnists/10-05-2016/134368-peter_kuznick-0/#sthash.V2OZWB1n.dpuf

Tham khảo: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

 

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-4-2016

Rami J. Ronald Viitiemi, nhà tư vấn phát triển tổ chức, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, huấn luyện kỹ năng quản trị cấp cao, sáng tạo chính sách nhân sự và tuyển dụng Công ty Gateway Norway AS của Na Uy, đã có bài viết thú vị trước những người hay luôn ca cẩm phàn nàn về đất nước Việt Nam. Chân lý cuộc sống rất đơn giản: hoặc bạn chấp nhận, hoặc bạn thay đổi, hoặc bạn hãy đi chỗ khác chơi. Ngay cả trong nội hàm thay đổi lại ngụ ý nhiều đến bản thân, từ cách nghĩ, cách làm, với trọng tâm là cống hiến – chứ không phải là lời ca cẩm phàn nàn chê bai hay chống lại – để làm cho mọi thứ hoàn thiện hơn, tốt hơn.

Mới đây, ông R.J.R.Viitiemiđã viết bài sau mà một người quen của tôi là luật sư Oliver Massmann, Tổng Giám Đốc Công ty Duane Moris Vietnam LLC, Chủ Tịch Ủy Ban Pháp Luật Phòng Thương Mại Châu Âu EuroCham, giới thiệu trên LinkedIn. Xin gởi đến bạn đọc bản dịch nghĩa tiếng Việt của bài viết ấy:

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Rami J. Ronald Viitiemi

05-4-2016

Một tuyên bố thật rõ ràng đâu ra đấy, phải không nào? Vâng, tuyên bố ấy đủ mạnh mẽ để được bạn chú ý; vì lẽ ra bạn hẵn đã không nhấp chuột vào đây để đọc, mà bạn sẽ …

Chấp nhận và thay đổi mọi thứ không nhất thiết phải biệt lập với nhau; có rất nhiều điều dễ dàng để chấp nhận và đồng thời có nhiều thứ cần phải thay đổi. Ở Châu Âu cũng thế.

Nếu có người cho rằng cả hai là bất khả, thì coi như bỏ qua sự lựa chọn cuối cùng.

Tôi có nhiều bạn là người nước ngoài mới đến hoặc đã ở lâu tại Việt Nam, và thậm chí có nhiều bạn và người quen là người Việt; thì thoảng tôi nghe họ ca cẩm hết điều này đến điều nọ, hầu hết liên quan đến môi trường kinh doanh hoặc con người. Nếu ca cẩm ấy không về việc thiếu kỹ năng hoặc thái độ thấp kém, thì cũng về sự thay đổi hoặc thiếu sự thay đổi.

Kể từ năm 1997 khi lần đầu tiên đến Việt Nam, tôi tất nhiên đã tham gia chia sẻ các ca cẩm phàn nàn của mình, và rồi tôi dần dần tự sửa sai mình. Trong những năm qua, tôi đã rất tích cực trong việc đóng góp để cải thiện Việt Nam và môi trường kinh doanh của đất nước này thông qua các phòng thương mại và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), và vì vậy đã làm nhiều người khác thật sự yêu mến Việt Nam.

Tình yêu này được sinh ra bởi nhiều thứ, trong đó quan trọng không kém là con người thật thà, thiên nhiên tươi đẹp, cà phê ngon nhất thế giới, và các món ăn tinh tế nhất. Đối với tôi, dù bạn tin hay không tin, tình yêu đó cũng là về sự tự do trong lựa chọn.

Gần đây, và cứ từng ngày qua, tôi thấy bản thân mình khó chịu bởi những người luôn mồm ca cẩm phàn nàn nhưng sẳn sàng chẳng làm gì để thay đổi bất cứ điều gì và cải thiện những vấn đề. Gần đây sau mỗi lần nghe những lời phàn nàn, tôi trước hết tự hỏi “Thế thì anh đã làm gì để thay đổi nó hoặc bạn đang định làm những gì để thay đổi?” – Có khi lời đáp chỉ là sự im lặng với cái nhìn trống rỗng.

Điều sai lầm là chúng ta thường tin rằng chẳng có gì để một người lẻ loi có thể làm được. Trong thực tế, có rất nhiều thứ mà mỗi người chúng ta có thể làm để đóng góp cho một tương lai tốt hơn, đơn cử vài thí dụ như tạo công ăn việc làm, chuyển giao kiến thức và kỹ năng, làm việc từ thiện hay phục vụ công ích, học tập và tự hoàn thiện, v.v.

Có một điều là hãy thực hiện lời nói đi đôi với việc làm. Điều này đúng cho cả người nước ngoài và người dân địa phương. Chúng ta học hỏi lẫn nhau mọi lúc – hoặc chí ít cũng nên thế – và chúng ta tạo ảnh hưởng đến hành vi của nhau. Sự lựa chọn đường hướng là của chúng ta và chỉ của chúng ta. Đạo đức kinh doanh và đạo lý con người đóng một vai trò rất lớn trong việc này, cũng như cách xử thế tốt vậy.

Học tập đòi hỏi một thái độ cầu thị và biết chấp nhận cái mới. Điều này không đến nếu có sự kiêu căng hay thiếu hiểu biết. Tại Singapore, điều này đã được thấu hiểu từ ngày đầu lập quốc. Singapore đã rất thành công trong kiểm soát sức mạnh của sự đa dạng, thu hút những người tốt nhất, và định chuẩn những phương thức thực hành tốt nhất.

Một cách khác là quy tụ sức mạnh và thuộc về một cái gì đó có ý nghĩa, như các phòng thương mại tại Việt Nam. Nhiều phòng thương mại có ảnh hưởng trên thực tế trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh và môi trường sống tốt hơn cho tất cả, người nước ngoài cũng như người trong nước, các cá nhân và các doanh nghiệp. Mạnh nhất là Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) và Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham).

Là dân Châu Âu, tôi có sự lựa chọn tự nhiên là EuroCham, nơi đã thực hiện một công việc tuyệt vời với Sách Trắng, các Ủy Ban chuyên trách, và các ủy ban hỗ tương khác. Nhiều nhân sự giỏi giang tại đó đã tận tụy cống hiến cho công việc xã hội công ích Việt Nam ngoài giờ làm việc. Thật đáng kính trọng!

Tôi nghiêm túc tin rằng làm thành viên của một phòng thương mại có tầm ảnh hưởng lớn là một cách để đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam, cải thiện các điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài cũng như xã hội nói chung.

Là người một nước Bắc Âu, công dân Phần Lan, tôi làm thành viên của EuroCham thông qua Phòng Thương Mại Bắc Âu (NordCham, Chi nhánh Hà Nội) và điều này như đạt cùng lúc hai mục tiêu – hay nhiều hơn thế nữa .

Nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi không làm điều này chỉ để hỗ trợ tốt nhất cho môi trường kinh doanh. Như bất kỳ người thực dụng có hơi vị kỷ nào khác, tôi muốn có những lợi ích cá nhân như các giảm giá, những lời mời tham dự các sự kiện kinh doanh và tiệc tùng. Mà ai lại không thích tiệc tùng cơ chứ?

Tôi có lẽ là một trong những ngoại kiều Âu Châu biếng lười nhất về công tác công ích xã hội, và tôi nhận ra mình cần thiết phải hoạt động trong lĩnh vực này, ngay cả với cảm giác hơi xấu hổ khi thừa nhận điều này do tôi biết rất nhiều người đang cống hiến thật nhiều như vậy.

Nếu vì bất kỳ lý do gì trong tương lai, tôi muốn không phải đóng góp theo những cách khác nhau cho sự thành công của Việt Nam – bao gồm cả các hoạt động trên LinkedIn – thì tôi hứa sẽ bỏ ra đi. Chấp nhận tất cả mọi thứ như vốn dĩ đang là, đó sẽ không bao giờ là một lựa chọn vì điều đó hoặc có nghĩa là tôi không đóng góp mà chỉ biết kiếm ăn, hoặc có nghĩa tôi không còn quan tâm đến nữa.

Một điều đáng ghi nhớ là đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam không phải tại vì chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Có và có rất nhiều sự lựa chọn. Chẳng hạn Myanmar là nước vượt lên rất nhanh.

Một khía cạnh khác của câu chuyện đối với bất kỳ một đầu tư nước ngoài nào tại Việt Nam là để được trở thành một doanh nghiệp công dân tốt, góp phần vào tương lai lành mạnh của Việt Nam. Có rất nhiều những doanh nghiệp công dân tốt như thế tại Việt Nam, tạm kể ra vài tên tuổi như Điện Thoại Di Động Microsoft, ABB, và Mercedes-Benz, v.v.

Hãy bình tĩnh, hãy yêu Việt Nam, và hãy dành sự tốt nhất của bạn cho Việt Nam!

Rami J. Ronald Viitiemi

********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

“Doanh nghiệp công dân tốt”: doanh nghiệp có trách nhiệm cao với xã hội nước sở tại về luật pháp, đạo đức và kinh tế; thể hiện niềm tin sâu sắc và giá trị thực sự qua việc tiến hành hoạt động kinh doanh minh bạch.

Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm

Thư Khẩn Cấp Của Công Dân Lại Thu Trúc Gởi Lãnh Đạo Đảng Và Quốc Hội Về Cái Sai Của Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII (2011-2016), Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Của Quốc Hội, Thành  Viên Hội Hữu Nghị Nghị Sĩ Việt Nam-Philippines

05-3-2016

Công dân Lại Thu Trúc của Thành phố Hồ Chí Minh vừa gởi thư góp ý khẩn cấp đến lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, và Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia, đặt vấn đề về Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh đã cố ý làm trái Nghị Quyết 41 của Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia, gây tác động bất lợi đối với sự kiện chính trị cực kỳ quan trọng của quốc gia.

Theo yêu cầu của công dân Lại Thu Trúc và với lòng tin của Cô vào blog này, tôi xin đăng lại toàn văn như sau. Kính mời bạn đọc tham khảo:

*********

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2016

THƯ GÓP Ý KHẨN CẤP VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIV & ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021

Kính gửi:

–         Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia

Đồng kính gửi:

–         Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

–         Chủ Tịch Quốc Hội và Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

Kính thưa quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, công dân Thành phố Hồ Chí Minh, xin được kính góp ý khẩn cấp đến Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia về việc liên quan đến kỳ bầu cử Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV & Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp Nhiệm Kỳ 2016-2021 với các nội dung chính như sau:

A- Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh Làm Trái với “Nghị Quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử quốc gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử; hướng dẫn về hồ sơ ứng cử và thời hạn nộp hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và ĐB HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”

B-Thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng về nội dung cuộc họp chiều Thứ Sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh gây phản cảm và có tác động xấu về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

1) Sự Tùy Tiện Của Lãnh Đạo Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh

2) Các Lập Luận Vô Lý và Tai Hại trong nội dung cuộc họp do Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì chiều Thứ Sáu ngày 04/03/2016

Phụ Lục Đính Kèm

 

A- Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh Làm Trái với “Nghị Quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử quốc gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử; hướng dẫn về hồ sơ ứng cử và thời hạn nộp hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và ĐB HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”

Theo thông tin được đăng tải trên báo Tuổi Trẻ vào buổi chiều thứ Sáu ngày 04/03/2016, Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí đã có phiên họp báo cáo tiến độ công tác bầu cử Đại Biểu Quốc Hội khóa XIV & Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố nhiệm kỳ 2016-2021. Tại phiên họp này, Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử TP cho biết TPHCM sẽ chính thức đề xuất Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định ứng viên ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND phải có giấy chứng nhận sức khỏe, và TPHCM thống nhất kiến nghị Hội đồng Bầu cử Quốc gia quy định bổ sung giấy chứng nhận sức khỏe vào hồ sơ ứng cử Đại Biểu Quốc Hội và Đại Biểu HĐND. Bên cạnh đó, đề nghị Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá, xác nhận đủ điều kiện sức khỏe cũng như quy định danh mục các cơ sở y tế đủ chức năng cấp giấy chứng nhận sức khỏe” (như phụ lục đính kèm thư này)

Các ý kiến thống nhất thông qua tại phiên họp chiều thứ sáu 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã hoàn toàn trái với nội dung của nghị quyết số 41-NQ-HĐBCQG do Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia ban hành ngày 29/01/2016 đã được công bố rộng rãi đến nhân dân trên toàn quốc. Theo Quy định tại Nghị quyết số 41-NQ- HĐBCQG hạn chót nộp hồ sơ ứng cử và tự ứng cử là chủ nhật 13/03/2016, trong khi đó chiều ngày 04/03/2016 Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh lại đưa ra một đề xuất “đề nghị Hội Hội đồng bầu cử Quốc gia có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá, xác nhận đủ điều kiện sức khỏe cũng như quy định danh mục các cơ sở y tế đủ chức năng cấp giấy chứng nhận sức khỏe” là hoàn toàn không khả thi vì chỉ còn 9 ngày là hết hạn nộp hồ sơ ứng cử trên toàn quốc. Ngoài ra, nếu Thành Phố Hồ Chí Minh có ý định ban hành những quy định riêng cho công dân Thành Phố Hồ Chí Minh thì sẽ trở thành khu tự trị tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tấn công vào tính nghiêm túc của sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

B-Thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng về nội dung cuộc họp chiều thứ sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh gây phản cảm và có tác động xấu về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

1) Sự Tùy Tiện Của Lãnh Đạo Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh:

Trong phiên họp chiều thứ năm 03/03/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia đã có những nội dung chính như “không được phân biệt đối xử với người tự ứng cử”; “đã có 50 người tự ứng cử Đại Biểu Quốc Hội trên toàn quốc” và dự kiến những ngày sắp đến sẽ có thêm nhiều ứng viên tự ứng cử nộp hồ sơ tạo sự phấn khởi cho cử tri trên toàn quốc. Thì ngược lại việc các phương tiện truyền thông đại chúng đăng tải nội dung buổi họp chiều thứ sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ dẫn đến sự hoang mang không đáng có cho nhân dân trên toàn quốc nói chung và những người tự ứng cử nói riêng dù là những người ứng cử đã nộp hay sẽ nộp hồ sơ trong 9 ngày còn lại trước hạn chót nộp hồ sơ ứng cử là 17 giờ chủ nhật ngày 13/03/2016. Và điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là việc Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã đưa ra các đề xuất tại buổi họp này không đúng thời điểm khi ngày hết hạn nộp hồ sơ ứng cử đã gần kề dễ gây ra phản cảm rằng Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã không làm việc nghiêm túc, thiếu cân nhắc đối với sự kiện chính trị trọng đại này.

2) Các Lập Luận Vô Lý và Tai Hại trong nội dung cuộc họp do Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì chiều thứ sáu ngày 04/03/2016

a– Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm cho rằng khi người lao động xin việc phải có hồ sơ khám sức khỏe, thì ứng cử vào cơ quan quyền lực quan trọng như Quốc Hội phải có hồ sơ khám sức khỏe là việc đương nhiên. Đây là kiểu ví von hoàn toàn sai vì:

– Ứng cử viên Đại biểu Quốc hội không “xin việc” tại Quốc Hội, và Quốc Hội không phải là “người sử dụng lao động”

– Đại biểu Quốc hội diện kiêm nhiệm hoàn toàn không hưởng lương của Quốc Hội, hoàn toàn không có quan hệ người sử dụng lao động và người lao động để có các yêu cầu ngoài quy định của Quốc Hội.

– Cái gọi là “giấy khám sức khỏe” mà các nhà tuyển dụng lao động cần có lại chưa bao giờ là thứ tài liệu quan trọng vì trên thực tế nội dung giấy khám sức khỏe rất sơ sài và cũng chưa được chuẩn hóa ở cấp độ quốc gia để có thể đưa ra làm lập luận so sánh trong kỳ bầu cử Quốc Hội khóa XIV.

– Nếu hồ sơ sức khỏe là quan trọng, vậy phải chăng việc khám sức khỏe phải tiến hành hàng năm, vì không bao giờ có mặc định rằng một Đại biểu Quốc hội có sức khỏe tốt năm nay lại sẽ tốt mãi như thế trong suốt nhiệm kỳ, và phải chăng năm nào bị ngã bệnh thì năm đó phải bãi nhiệm Đại biểu Quốc hội ấy để bầu bổ sung Đại biểu Quốc hội khác? Và nếu vậy thì nội dung này được quy định tại điều nào của luật nào.

–  Việc “khám sức khỏe” nhất là “khám sức khỏe tâm thần” có được yêu cầu nơi người được Trung Ương giới thiệu không hay chỉ áp dụng với người tự ứng cử là nội dung cần được cân nhắc một cách nghiêm túc tránh sự hoang mang không đáng có trong nhân dân trên toàn quốc khi Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu trong phiên họp báo tuyên truyền về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

– Tại tất cả các nước văn minh trên toàn thế giới, các chi tiết sức khỏe của cá nhân là tối mật. Vậy Quốc Hội sẽ xử trí ra sao nếu một người bị loại vì lý do sức khỏe và người này đưa ra hai yêu cầu rằng hãy cho biết công khai chi tiết sức khỏe nào của họ không đạt, và hãy cho biết công khai chi tiết sức khỏe một ứng viên khác hay một Đại biểu Quốc hội đương nhiệm khác mà người bị loại ấy cho biết có đủ thông tin về căn bệnh tương tự của vị này như người ấy?

b– Theo Báo Tuổi Trẻ thì nội dung chính của khám sức khỏe mà Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm đề ra là “khám sức khỏe tâm thần”. Tôi cho rằng trên toàn cõi Việt Nam chỉ có các bệnh viện tâm thần chứ khắp các tỉnh thành và địa phương hoàn toàn không có các y bác sĩ chuyên viên khám bệnh tâm lý – tâm thần.

Tóm lại, buổi họp báo của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh vào chiều thứ sáu 04/03/2016 đã có nội dung hoàn toàn trái với nghị quyết 41-NQ-HĐBCQG. Ngoài ra, các lập luận của Chủ Tịch Ủy Ban Bầu Cử TP.HCM-Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm được đăng tải công khai bởi các phương tiện truyền thông gây phản cảm và tạo ra ấn tượng xấu là đang có xu hướng tạo ra những sự phân biệt đối xử, những rào cản đối với những công dân có tâm huyết với đất nước có nguyện vọng tự ứng cử vào Quốc Hội khóa XIV nhiệm kỳ 2016-2021 tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Kính cảm ơn quý lãnh đạo đã dành thời gian đọc bản góp ý khẩn cấp này và xin kính chào trân trọng.

Lại Thu Trúc

Phone: 0903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Phụ lục: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160304/nguoi-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi-hdnd-phai-kham-suc-khoe-tam-than/1061821.html

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kinh mời tham khảo thêm các bài viết của Hoàng Hữu Phước về:

Lại Thu Trúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/22/lai-thu-truc/

Nguyễn Thị Quyết Tâm:  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/nguyen-thi-quyet-tam/

Những Thách Thức Mới Và Khó Khăn Đối Với Các Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững Trong Nghị Trình Phát Triển Hậu 2015 Của Liên Hợp Quốc

Xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn bức thư của Cô Lại Thu Trúc gởi Lãnh đạo Đại Hội Đồng Liên Minh Nghị Viện Thế Giới IPU132. Việc đăng lại này có sự đồng ý của cô Lại Thu Trúc

[- Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước -]

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 3 năm 2015

Những Thách Thức Mới Và Khó Khăn Đối Với Các Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững Trong Nghị Trình Phát Triển Hậu 2015 Của Liên Hợp Quốc

Thư của Lại Thu Trúc, Công dân Việt Nam

Kính gởi Ngài Saber Hossain Chowdhury,

Chủ tịch Liên Minh Nghị Viện Thế Giới

Bản sao kính gởi:

  • Ngài Ban Ki-Moon, Tổng Thư Ký‎ Tổ Chức Liên Hợp Quốc
  • Ngài Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội Nước CHXHCNVN
  • Ngài Trương Tấn Sang, Chủ Tịch Nước CHXHCNVN
  • Ngài Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Nước CHXHCNVN
  • Ngài Trần Văn Hằng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Nước CHXHCNVN
  • Ngài Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Nước CHXNCNVN, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Nước CHXHCNVN

Kính thưa Ngài Chủ Tịch:

Tôi là Lại Thu Trúc, công dân Việt Nam, ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Được khuyến khích bởi vị Thầy khả kính của tôi là Ngài Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Nước CHXNCNVN, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, vốn là người ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam và xuất thân từ vị trí ứng cử viên độc lập, trong việc hãy tự tin tín thác các đóng góp ý kiến xây dựng của bản thân không những đến lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam mà còn đến các lãnh đạo các định chế quốc tế và các phái bộ ngoại giao, đối với các vấn đề đang là những quan ngại toàn cầu với tư cách một công dân toàn cầu có trách nhiệm;

Tôi kính xin được trình bày cùng Ngài ý kiến sau liên quan đến những thách thức khó khăn mới đối với những mục tiêu phát triển bền vững để được Ngài xem xét, có liên hệ đến chủ đề của IPU 132: “Những Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững: Biến Lời Nói Thành Hành Động”.

Như được nêu trong tài liệu phát hành của Rio+20 mang tựa đề “Tương Lai Chúng Ta Muốn Có”, các Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững cần được liên kết chặt chẽ và hợp nhất với Chương Trình Nghị Sự Phát Triển Của Liên Hợp Quốc kể từ 2015 sự phát triển của những mục tiêu này không được gây chệch hướng đối với trọng tâm và các nỗ lực vào thành tựu của Các Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ 1. Chủ đề “Biến Lời Nói Thành Hành Động” của IPU 132 do đó cũng gắn liền vào Chương trình nghị sự của Liên Hợp Quốc.

Tuy nhiên, trong số sáu thách thức chủ yếu trong tương lai 2 như đã nếu trong Chiến Lược Phát Triển Của Liên Hợp Quốc Từ Năm 2015, có thể phát sinh các thách thức mới và khó khăn hơn nhiều như sau:

A- Sự Diễn Giải Sai Của Các Quyền Của Con Người (“Nhân Quyền”):

1)  Trong khi tái khẳng định tầm quan trọng của sự tôn trọng các quyền con người, văn kiện Rio+20 đã không ghi rõ nội hàm thực sự của cái gọi là “nhân quyền” dù sắp xếp theo thứ tự mẫu tự hay theo tầm quan trọng ưu tiên, và thậm chí ngay cả các vấn đề tối quan trọng của “nhân quyền” thí dụ như quyền được học tập phát triển, quyền hưởng chuẩn sống bình đẳng, quyền có thực phẩm, quyền được tiếp cận luật pháp, quyền bình đẳng giới, nữ quyền, v.v., cùng nhiều quyền khác, đã bị cố tình đặt sau từ “cũng bao gồm” chẳng khác nào ngụ ý rằng những nội hàm này có tầm quan trọng thứ yếu so với những “quyền” gì khác đã không được nêu ra

2) Với đà phát triển vũ bão của công nghệ thông tin, khía cạnh tự do ngôn luận trong “nhân quyền” cũng đã được gồm trong các hành vi tự do diễn đạt qua internet, các trang mạng blogs, các diễn đàn đa phương tiện, v.v., và – trong trường hợp của Việt Nam – thông qua các đối thoại trực tiếp và liên hệ trực tiếp với giới chức có thẩm quyền tại các văn phòng tiếp công dân được lập ra vô số khắp cả nước tại các trụ sở cơ quan công quyền các cấp, từ trung ương đến địa phương, từ cấp bộ đến cấp tỉnh, từ các cơ sở Đảng Cộng Sản cầm quyền đến ngay cả các văn phòng cơ quan hành chính cấp thấp nhất. Quyền tự do ngôn luận không thể nào – và không bao giờ nên tiếp tục – được hiểu một cách giản đơn như một đặc quyền đơn giản và lạc hậu hòa quyện với chuyện xuống đường la hét với hoặc không với loa phóng thanh.

3) Như đã được chứng minh trên toàn thế giới, và loại trừ các cuộc bạo loạn và bất ổn xảy ra do cố ý hoặc vô tình từ các cuộc xuống đường, thì ngay cả việc xuống đường trong hòa bình cũng gây ra khó khăn cho các chủ cửa hiệu và những người bán hàng rong, những người mà thu nhập mỗi ngày của họ dù có ít ỏi đến đâu chăng nữa cũng bị ảnh hưởng đương nhiên mà trong một chừng mực nào đó thì tác động thêm vào các nỗ lực của chính phủ nhằm hướng đến các Mục Tiêu Phát Triển Vững Bền.

4) Và điều cuối cùng song không phải là điều kém quan trọng nhất là: không bất kỳ ai có thể dễ dàng phủ nhận sự thật rằng việc xuống đường thể hiện quyền tự do ngôn luận hoàn toàn khác với việc tụ tập của đám người nhằm gây bạo loạn, hôi của, hoặc lật đổ chính phủ. Khuyến khích hoặc hỗ trợ việc bạo loạn, hôi của, hoặc lật đổ chính quyền, dù bằng lời hay bằng tài chính, thì việc xuống đường dẫn đến bất ổn xã hội nhằm lật đổ một chính phủ không bao giờ được xem là việc làm trong sạch của những người đoan chính nào có sự quan tâm thực sự đến mục tiêu phát triển vững bền. 

Với các luận điểm nêu trên, tôi kính đề nghị IPU-132 cần xác định rõ thêm hoặc cập nhật nội hàm của “nhân quyền” trong các công bố hội nghị như một cách có ích lợi trong hỗ trợ việc thực hành tốt nhất đối với công tác trị quốc của các nước thành viên IPU, nhằm loại bỏ hoàn toàn bất kỳ hành vi tiêu cực nào lạm dụng những ý nghĩa không được giải nghĩa của cụm từ “nhân quyền” để mưu đồ gây bất ổn xã hội.

B- Đưa Những Nhóm Chủ Lực Và Các Thành Phần Khác Của Xã Hội Vào Tiến Trình Phát Triển Bền Vững:

Với sự ủng hộ hoàn toàn đối với sự nhấn mạnh rằng sự phát triển bền vững đòi hỏi phải có cả sự tham gia tích cực của các nhóm chủ lực như thanh-thiếu niên, dân tộc thiểu số, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương, công nhân và công đoàn, doanh nghiệp và các ngành, cộng đồng khoa học-công nghệ, và nông gia, cùng người cao tuổi và người khuyết tật 3, tôi tin rằng IPU 132 sẽ có những cam kết về cơ chế cụ thể và chi tiết đối với những thực hiện nào có liên quan đến nông gia, người cao tuổi, và người khuyết tật, đặc biệt tại các nước đang phát triển và chậm phát triển, nơi mà những lời tuyên truyền vẫn chỉ là những lời nói.

C- Việc Tuân Thủ Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển:

Dù Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển được công nhận là một chế định quan trọng đối với sự phát triển bền vững trên toàn thế giới, việc áp dụng đầy đủ các nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc vẫn là vấn đề còn tồn đọng, và một khi các tranh cãi không có sự cương tỏa thì các tranh chấp có thể gây hại đến sự phát triển toàn cầu. IPU132 nên có những quyết sách cụ thể về những biện pháp giải quyết đối với những sự bất tuân thủ thay vì để mặc vấn đề này được nói đến chung chung theo phép lịch sự tu từ.

D- Chiến Tranh Không Gian Mạng

Tât nhiên, vấn đề chiến tranh không gian mạng được các Bộ Quốc Phòng của các quốc gia xử lý; song, các mục tiêu của Tương Lai Chúng Ta Muốn CóChiến Lược Phát Triển Từ Năm 2015 Của Liên Hợp Quốc có thể bị triệt tiêu nếu cuộc tấn công mạng không được xử lý căn cơ và hiệu quả. Sự tàn phá của tấn công mạng đối với hệ thống dữ liệu y tế, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống quản lý công nghiệp, hệ thống truyền tải điện, hệ thống dịch vụ vận chuyển, và hệ thống ngân hàng – và còn nhiều hệ thống khác – sẽ có tác động rộng lớn và nhanh chóng đối với sự bền vững của các chính phủ của khu vực hay trên toàn cầu, và ngay cả đến sự hủy diệt của loài người nếu cuộc tấn công nhằm vào các cơ sở hạt nhân. IPU 132 do đó được đề nghị dự thảo một kế hoạch toàn thể hoàn chỉnh nhằm đến sự hợp tác đầy đủ giữa các quốc gia thành viên, vì rằng vấn đề liên quan đến quốc phòng không thể hoàn toàn nằm ngoài và không bị tác động bởi các mục tiêu kinh tế,chính trị, xã hội của bất kỳ kế hoạch nào của sự phát triển bền vững.

Với tất cả lòng tôn kính, tôi hy vọng các vấn đề nêu trên sẽ được Ngài và Liên Minh Nghị Viện Thế Giới quan tâm xem xét.

Tôi cũng nhân đây muốn tỏ lời cảm ơn Ngài Hoàng Hữu Phước vì đã chấp thuận đọc qua nội dung thư này để giúp tôi hoàn thiện hơn tiếng Anh của mình.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Phone: 84-8-903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Địa Chỉ Thư Tín: Công ty MYA, 399B Trường Chinh, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Tham khảo

1 & 3 The Future We Want. Nghị quyết số A/RES/66/288 do Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 27-7-2012. Truy cập từ http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N11/476/10/PDF/N1147610.pdf?OpenElement ngày 25-3-2015.

2 Bao gồm: (1) sự chuyển dịch sâu sắc về cơ cấu tuổi tác của dân cư, (2) sự phát triển đi kèm theo sự bất bình đẳng dai dẳng ở các cấp quốc gia và toàn cầu, (3) sự gia tăng các áp lực môi trường, (4) sự bất ổn của các thị trường toàn cầu, (5) sự bất túc quyền cai trị, và (6) cơ chế hỗ trợ toàn cầu ngày càng trở nên phức tạp và phân tán

The New Tough Challenges to the Sustainable Development Goals of the UN Post-2015 Development Agenda

Xin giới thiệu với bạn đọc toàn văn bức thư của Cô Lại Thu Trúc gởi Lãnh đạo Liên Minh Nghị Viện Thế Giới IPU132.

Việc đăng lại này có sự đồng ý của cô Lại Thu Trúc. Post

  • Ho Chi Minh City, 25th March, 2015The New Tough Challenges to the Sustainable Development Goals of the UN Post-2015 Development Agenda

    From: Lai Thu Truc (Ms), Vietnamese Citizen

    To:    H.E. Mr. Saber Hossain Chowdhury,

    President of the Inter-Parliamentary Union

    Copy to:

    • H.E. Mr. Ban Ki-Moon, Secretary-General of the United Nation
    • H.E. Mr. Nguyen Sinh Hung, President of the Vietnam National Assembly
    • H.E. Mr. Truong Tan Sang, SRV President
    • H.E. Mr. Nguyen Tan Dung, SRV Prime Minister
    • H.E. Mr. Tran Van Hang, Head of the Vietnam National Assembly Foreign Affairs Committee
    • H.E. Mr. Hoang Huu Phuoc, Vietnam National Assembly Representative and Foreign Affairs Committee Member

    H.E. Mr. Saber Hossain Chowdhury,

    President of the Inter-Parliamentary Union

    Your Excellency:

    I am Lai Thu Truc (Ms.), a citizen of Vietnam, residing in Ho Chi Minh City.

    As encouraged by my respectful mentor H.E. Mr. Hoang Huu Phuoc, the XIII Vietnam National Assembly Representative, cum-Member to the Vietnam National Assembly Foreign Affairs Committee, a non-communist party member and an independent electoral candidate, on confidently entrusting my constructive opinions and proposals not only to the leaders of the State and the Communist Party of Vietnam but also the leaders of international institutions and diplomatic missions, on issues of global concerns as a responsible global citizen, I wish to present to Your Excellency the following opinion on the new tough challenges to the sustainable development goals for your kind perusal, with reference to the thematic aspect of IPU132’s “The Sustainable Development Goals: Turning Words into Action”.

    As mentioned in the Rio+20 outcome document of “The Future We Want” the Sustainable Development Goals should be coherent with and integrated into the United Nations development agenda beyond 2015, and the development of these goals should not divert focus or effort from the achievement of the Millennium Development Goals1. The “Turning Words into Action” theme of IPU 132 is therefore in terms with the UN’s agenda in this regards.

    However, from the six key future challenges2 stated in the United Nations Development Strategy Beyond 2015, there may arise other much tougher challenges as follows:

    A- Mis-interpretation of Human Rights:

    1)  Whilst reaffirming the importance of respect for all human rights, the Rio+20 outcome document fails to specify what are really embodied within the so-called “human rights” either alphabetically or prioritically, and even the crucially important issues of say the right to development, the right to an adequate standard of living, the right to food, the right to rule of law, the right to gender equality, the right to women’s empowerment, etc., naming just a few, are deliberately put after the wording of “including” thus having the connotation of lesser importance to the un-listed.

    2) At the incredibly fast development of information technology, the freedom of speech aspect of “human rights” has been already included in those actions of free expressions via internet, blogs, media forums, and the like, and – in Vietnam’s cases – via direct conversation and contact with people of authority at places of people’s reception abundantly established throughout the country at administrative premises of all levels, be it central or local, ministerial or provincial, and of branches of the ruling Communist Party or even offices of lowest administration levels.  Freedom of  speech cannot – and should never more – be simply understood as a simple and out-dated privileged intertwining of shouting in street demonstration, with or without loud-speakers.

    3) As well-proven the world over and putting aside the riots and unrest arising deliberately or undeliberately from street demonstration, even the peaceful street demonstrations create problems to shop-owners and even street-vendors whose daily earnings however petty they may be are definitely affected which to some extent further threaten the government’s efforts towards the Goals of Sustainable Development.

    4) And last but never the least, no one can easily deny the fact that a street demonstration of freedom of speech of human rights is totally different from a gathering of mobs for rioting, looting, or overthrowing a government. Encouraging or supporting – even through verbally and not financially – a street demonstration to lead to a social unrest to overthrow a government can never be a decent work of righteous people whose true concerns are on a sustainable development cause.

    In view of above, I would suggest that the IPU-132 need further identify or update the norms of “human rights” in its documentation as a helpful move to assist the best practice of governance of the IPU state members, eliminating any negative doing to take advantage of the non-definition of “human rights” to manoeuver unrests to the society.

    B- Engaging Major Groups and Other Stakeholders:

    Whilst totally supporting the underscoring that the sustainable development requires the active participation of all major groups of say women, children and youth, indigenous peoples, non-governmental organizations, local authorities, workers and trade unions, business and industry, the scientific and technological community, and farmers, as well as older persons and persons with disabilities 3, I believe the IPU 132 would provide concrete and detailed framework commitments for whatever materialization relating to farmers, older persons and persons with disabilities could be, particularly at developing and under-developing countries whereat the vocal propagandas remain words and words only.

    C- Obligations Under the UN Convention on the Law of the Sea:

    Though the United Nations Convention on the Law of the Sea is recognized as an important institution for a sustainable development the world over, the full implementation of obligations of State members under the convention remains unsolved, and once such argument goes uncurbed the conflicts may affect the sustainability of the global development. The IPU 132 should address concretely on the measures to handle the non-conformities rather than leaving this in a general mentioning of rhetorical courtesy.

    D- The Cyber Warfare

    The cyber warfare is of course a matter to handle of the Defense Ministry of each country; however, the scopes of The Future We Want and the United Nations Development Strategy Beyond 2015 could go to naught if the problem of a cyber attack is not fundamentally and effectively tackled with. The cyberly destruction of  hospital records systems, sanitary water supply system, industrial management systems, electrical distribution networks, transportation service systems, and banking systems, naming just a few, has a vast and fast affect to the stability of governance regionwide or worldwide, and even the existence of humankind if the attack is at nuclear sites. The IPU 132 is therefore required to draft a comprehensive master plan to full cooperation among its State members as the defense-related matter cannot be totally beyond and remain unaffected to the economic, political, social scopes of any sustainable development plan.

    With all due respect I hope the above contents would be taken into consideration by Your Excellency and the Inter-Parliamentary Union.

    I wish to also hereby to express my gratitude which I owe to H.E. Mr. Hoang Huu Phuoc for his kind reading of my draft of this letter for improvement of my English presentation.

    Respectfully yours,

    Lai Thu Truc

    Phone: 84-8-903 380 207

    Email: laithutruc@myabiz.biz

    Mailing Address: MYA Business Corporation, 399B Truong Chinh, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

    Reference:

    1 & 3 The Future We Want. Resolution adopted by the General Assembly on 27 July 2012. Ref. A/RES/66/288. Retrieved from http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N11/476/10/PDF/N1147610.pdf?OpenElement on 25 March 2015.

    2 Naming: (1) profound transformation of the age structure of populations, (2) growth accompanied by persistent inequalities at the global and national levels, (3) increasing environmental pressures, (4) instabilities of global markets, (5) inadequacies of governance, and (6) global aid architecture becoming more complex and fragmented.

Lòng Người Viễn Xứ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ngoài Chị Lệ Minh là người tôi đã đăng bức thư của chị ấy trong bài Lá Thư Hải Ngoại [1] tôi còn nhận được thư của nhiều bạn khác khắp thế giới, đa số trong đó đều ghi kèm một câu giống nhau ở sự can đảm đại khái rằng “Anh cứ ghi nguyên văn tên tôi và địa chỉ bên này của tôi xem đứa nào bên này dám động đến tôi. Bên này luật rất nghiêm, tôi mà cầm được bằng chứng trong tay việc nó chửi bới đe dọa tôi là nó chết ngay với cảnh sát! Ở đó mà tự do ngôn luận! Tôi đang là công dân Mỹ mà!” Tuy nhiên, với phép lịch sự đẳng cấp quý tộc Ăng-lê chính hiệu, tôi vẫn không vì vậy mà đặt những người bạn trên không gian mạng ảo vào những tình huống khó khăn thật, nên nhân đầu tháng Tết, qua bài viết này, tôi xin kính gởi đến các bạn ấy sự mang ơn chân thành trọn cuộc đời mình.

Hôm nay, tôi xin đăng lá thư khác của Chị Lệ Minh gởi về từ Nhật Bản, để những suy nghĩ của Chị – và của những người Việt xa xứ như Chị – về những sự việc dù nhỏ ở Việt Nam cũng thành những trăn trở lắng lo lớn của tấm lòng người viễn xứ.

Xin cảm ơn Chị Lệ Minh đã cho phép đăng lá thư của Chị.

Kính chúc Chị và gia đình được vạn an, hạnh phúc, nhiều may mắn.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước.

*********

Tokyo, ngày 10 tháng 01 năm 2015

Chào Ông Phước,

Trước hết, chân thành cảm ơn những lời chúc năm mới tốt đẹp của Ông đồng thời thành thật xin lỗi vì bận công việc gia đình, phải đi du lịch nước khác nên mãi hôm nay mới hồi âm thư của Ông được.

Vâng, cũng như tất cả những người  đi xa, còn “nặng lòng” với quê hương, đất nước, biết là mình cũng chẳng làm được gì nhưng không tránh khỏi trăn trở, suy tư. Tiếc cho nước mình, chỉ cần người có TẦM, có TÂM, thực sự biết học hỏi cái hay, cái tốt  nước ngoài một cách chọn lọc,vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để hoạch định các chính sách hoặc ban hành các văn bản quy định về quản lý, điều hành đúng đắn, chặt chẽ, v.v. thì có khi chưa cần làm cái gì cao siêu cũng có khả năng làm cho đất nước vươn lên mạnh mẽ rồi. Tôi lại lấy ví dụ về lĩnh vực thuế: nếu chúng ta biết đồng bộ hóa chính sách về thuế với  các lĩnh vực xã hội khác như cư trú, y tế, giáo dục, v.v., thì ngân sách đã có nguồn thu rất lớn để đầu tư cho phát triển. Ở Nhật, mọi quyền lợi an sinh xã hội người dân Nhật cũng như người nước ngoài làm ăn sinh sống ở Nhật được hưởng đều gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Con tôi đi xin tư cách lưu trú, bảo hiểm y tế, đi nhà trẻ cho cháu mới sinh đều phải có các giấy tờ chứng minh bố (mẹ) đã hoàn thành nghĩa vụ thuế trong tất cả các năm tài khóa trước đó.

Đáng sợ nhất là chúng ta có học cái hay, cái tốt không, hay lại đi du học toàn ở Âu Mỹ, đi tham quan toàn ở Âu Mỹ, khen nức nở cái hay của Âu Mỹ, nhưng đem rước về Việt Nam toàn cái dở lạc hậu của Trung Quốc. Chẳng hạn như chuyện đường sắt trên cao ồn ào thời gian qua. Theo quan sát của tôi, vận tải đường sắt ở Nhật – đặc biệt là vận chuyển hành khách – một loại hình vận tải cực kỳ hiệu quả, có lịch sử phát triển hơn 100 năm, hiện là mạng lưới giao thông rộng khắp cả nước Nhật, đã và đang giải quyết rất nhiều bài toán về giao thông, môi trường, phát triển kinh tế, xã hội, v.v. Nhưng không phải là  loại đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông đang xây dựng ở Hà Nội. Loại đường sắt trên cao ấy rất hiếm gặp ở Nhật, nếu có chỉ là đã xây dựng từ rất lâu lắm rồi, rất kém hiệu quả vì đơn tuyến, tốc độ chậm, đường ngắn không tiện lợi bằng taxi, xe buýt, và ở Việt Nam là xe máy, xe ôm, v.v. Mình xây dựng mà ghi tốc độ tối đa 80km/giờ, nghĩa là đa số trường hợp sẽ là 50km/giờ hoặc 60km/giờ, và cho khoảng cách ngắn chỉ có 13km, thì làm sao mà có hiệu quả kinh tế thiết thực, ắt giá phải thật rẻ để phục vụ người thu nhập thấp và người cao tuổi, vì đa số người ta sẽ chọn đi xe máy cho tiện lợi hơn. Chưa kể xấy từ năm 2011 đến nay vẫn còn ngỗn ngang khắp nơi, gây tai nạn này nọ.

Tôi chưa được đi thăm Trung Quốc, nên không biết loại đường sắt chúng ta đang xây dựng đó thì ở bên Trung Quốc có đang dùng, có đang phát triển tiếp và có hiệu quả hay không. Biết đâu chúng ta học cái hay của Âu Mỹ nhưng rước cái lạc hậu, kém hiệu quả, người ta đã bỏ đi rồi. Bằng chứng là qua thông tin trên mạng chính thống của Việt Nam, tôi biết các công ty xây dựng Trung Quốc trúng thầu toàn không là các tổng công ty xây dựng hàng đầu của họ chuyên về đường sắt trên cao.

Còn đối với điều kiện ràng buộc nhà đầu tư nước ngoài, tôi không nghĩ là nhà  nước Việt của ta lại hạ mình đến vậy! Hay có lẽ là do còn kẽ hở nào đó trong các văn bản pháp lý trong khi Việt Nam có nhiều luật sư và đoàn luật sư mà không thể nhìn ra cái cần góp ý cho luật lệ hay sao? Hoặc quan liêu, hoặc tham nhũng trong quản lý điều hành chăng dẫn đến việc đầu tư kỳ cục như vậy?

Trên đây, có thể chỉ là thiển nghĩ của tôi, xin chia sẻ với Ông như với một người bạn tâm giao. Mặc dù vẫn biết chúng ta chẳng làm được gì cả, dù tôi kỳ vọng Ông sẽ nói lên được điều gì đó giúp nước Việt mình chấn chỉnh lại. Chứ đau xót lắm Ông à. Ở đâu cũng thấy nước mình tạo điều kiện cho Trung Quốc sang gây tác hại, tạo luôn điều kiện cho những kẻ chống phá nước Việt mình, dù chỉ là chống phá ném đá dấu tay trên mạng.

Xin gửi Ông 2 ảnh về 2 loại đường sắt nói trên ở Nhật để dễ hình dung. Trong đó, ảnh có con tàu màu trắng ở đường ray ngoài cùng (có nhiều đường ray khác ở phía trong) đang chạy qua ga nhỏ, ở ngoại ô Tokyo, là loại tàu phổ biến ở khắp nước Nhật, rất hiệu quả mà tôi nói ở trên. Tàu đang chạy trên tầng 3, còn tầng 1 và tầng 2 là tổ hợp siêu thị, quán ăn, giải khát, giải trí, để phục vụ khách lên tàu, xuống tàu và dân chúng ở khu vực đó. Phía trước là bến xe buýt, xe taxi, ủy ban phường, ngân hàng, bưu điện, v.v., đồng bộ luôn, rất  tiện lợi, tiện nghi, vì công ích xã hội. Và đó gần như là mô hình chung cho các nhà ga tại Nhật Bản.

J1Japan b

 Nhìn những bức ảnh trên internet về việc xây dựng đường sắt trên cao ở Hà Nội, tôi thú thật là chẳng thấy an tâm, chưa có tự hào, và rất lo lắng không biết mấy người Nhật bên này nhìn thấy sẽ nghĩ gì về Việt Nam mình, Ông ạ.

Đôi dòng gởi gắm đến Ông. Sẽ vui nếu biết những việc nhỏ nhặt trên không làm Ông mất thì giờ vốn đã rất eo hẹp của Ông để đọc chúng.

Kính chúc Ông năm mới thành công với con đường Ông đã chọn

Trân trọng,

Lệ Minh

Tokyo, Japan

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 08-12-2014. Lá Thư Hải Ngoại. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/08/la-thu-hai-ngoai/

“Tôi Là Người Hồi Giáo…”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vụ tấn công tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo ở Paris ngày 07-01-2015 vừa qua đã cho thấy bằng mắt và nghe bằng tai những đoạn tin cùng những đoạn phim về cuộc tuần hành của nhiều nguyên thủ quốc gia tại Paris tỏ sự đoàn kết chung trong đại cuộc chống Hồi Giáo khủng bố. Và tấm bảng ghi Je Suis Charlie trên tay mỗi người như một thách thức rằng tôi đây là Charlie Hebdo. Thế nhưng, một tấm bảng khác được nói đến bởi Ông Mehdi Hasan, giám đốc chính trị của tờ Huffington Post, Vương Quốc Anh, cộng tác viên của tờ Tân Chính Khách, tờ báo đã cùng đăng tải bài viết sau. Bản dịch tiếng Việt do Hoàng Hữu Phước thực hiện. Kính mời các bạn đọc qua để có thêm cái nhìn khác chiều từ người trong cuộc vì đây là lẽ công bang

*********

Là người Hồi Giáo, tôi ngấy đến tận cổ cái thói đạo đức giả của các nhà chính thống về tự do ngôn luận

 112

13-01-2015

Các bậc thức giả độ lượng tôn kính,

Qu‎ý vị và tôi không ai ưa George W. Bush. Ắt qu‎ý vị  còn nhớ lời tuyên bố trẻ nít của ông ta sau sự cố 9/11 rằng “hoặc là qu‎ý vị  theo chúng tôi, hoặc là qu‎ý vị theo bọn khủng bố”? Ấy vậy mà trước sự trỗi dậy của một cuộc tấn công khủng bố kinh hoàng khác, dường như qu‎ý vị  lại cập nhật cái khẩu hiệu của Dubya rằng hoặc là qu‎ý vị  ủng hộ tự do ngôn luận hoặc qu‎ý vị chống lại nó. Hoặc qu‎ý vị  là Charlie Hebdo, hoặc qu‎ý vị  là kẻ cuồng tín ghét bỏ tự do.

Tôi đang viết cho qu‎ý vị  để nêu một yêu cầu đơn giản: xin hãy đừng như thế nữa. Qu‎ý vị cho rằng mình đang bất chấp bọn khủng bố, trong khi trên thực tế, qu‎ý vị đang đùa bỡn đưa mình vào bàn tay vấy máu của chúng bằng cách tự mình chia rẻ và biến thành quỷ dữ. Ta và chúng. Phe Tây phương được khai sáng tự do, và phe Hồi Giáo man di lạc hậu. Qu‎ý vị  luôn mồm kể với chúng tôi rằng cuộc thảm sát ngày 7 tháng 1 ở Paris là cuộc tấn công vào tự do ngôn luận. Vị cựu tổng thống bảo thủ Pháp Nicolas Sarkozy đồng tình và gọi đó là “cuộc chiến tranh tuyên bố chống lại nền văn minh.” Còn vị dân biểu Jon Snow của tự do cánh tả cũng nói như vậy khi bảo trên Twitter về “sự xung đột giữa các nền văn minh” và liên hệ tới “niềm tin của châu Âu vào tự do ngôn luận“.

Giữa những tang tóc sau cuộc thảm sát ở Paris, thói đạo đức giả và sự điêu ngoa bung ra lúc nhúc. Đúng vậy, vụ tấn công là một hành vi độc  ác không thể biện minh, một sụ tàn sát tàn nhẫn không thể tha thứ nhằm vào những người vô tội. Nhưng đó có thật là “nỗ lực sát hại tự do ngôn luận” (lời Mark Austin của ITV), hoặc là sự “phỉ báng” ý tưởng của chúng ta về “tự do tư tưởng” (lời Stephen Fry)? Đó là một tội ác, chứ không phải là hành động gây chiến, được gây ra bởi những thanh niên bất mãn bị làm cho trở thành cực đoan không phải vì mấy hình vẽ ở châu Âu năm 2006 hoặc 2011 về Nhà Tiên Tri, mà hóa ra bởi vì những hình ảnh tra tấn của Mỹ tại Iraq năm 2004.

Xin hãy hiểu vấn đề như vậy. Chẳng ai trong chúng ta tin tưởng vào một quyền không hạn chế của tự do ngôn luận. Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng sẽ luôn có những lắn ranh giới hạn mà, vì mục đích luật pháp và trật tự, không được vượt qua; hoặc vì mục đích khuôn phép lễ nghi và sự tế nhị tinh tế mà không được xâm phạm. Cái khác biệt giữa chúng ta là ở chỗ những đường ranh ấy nên được vạch ra từ đâu.

Thử hỏi các ấn phẩm của qu‎ý vị  có vẽ tranh biếm họa chế giễu Holocaust nghĩa là về người Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát? Không có chứ gì? Thế có tranh biếm họa chế giễu nạn nhân vụ 9/11 nhày xuống từ tòa tháp đôi? Tôi không cho là qu‎ý vị dám vẽ như thế (và tôi vui vì không có những tranh biếm họa như vậy). Xin qu‎ý vị xét đến cái “thí nghiệm tư duy” do nhà triết học Brian Klug ở Đại học Oxford đề xướng rằng “Hãy tưởng tượng nếu có người nhập vào đoàn diễu hành tại Paris vào ngày 11 tháng 1, mang một biểu ngữ ghi dòng chữ Je suis Cherif , tức tên của một trong những kẻ sát thủ vụ Charlie Hebdo. Vị triết gia này còn nói thêm rằng giả sử ông ấy “mang một tấm bảng có hình biếm họa vẽ chế giễu các nhà báo bị sát hại, thì đám đông sẽ phản ứng ra sao, có cho là vị triết gia đơn thân độc mã này là anh hùng dám đứng lên thể hiện quyền tự do và tự do ngôn luận, hay là đám đông sẽ bị xúc phạm một cách sâu sắc? . “Đám đông ắt đã phản ứng ra sao nhỉ? Liệu họ có nhìn nhận cá nhân đơn độc này là một vị anh hùng, đứng lên thể hiện quyền tự do và quyền tự do ngôn luận? Liệu đám đông có đã bị xúc phạm sâu sắc?” Qu‎ý vị  có đồng ý với kết luận của triết gia Klug rằng ông ta “đã có may mắn đi thoát được khỏi đám đông mà vẫn còn sống” không?

Hãy làm rõ điều này: tôi đồng ý là không có lý do bất kỳ để biện minh cho việc bắn hạ các nhà báo hoặc các họa sĩ vẽ tranh biếm họa. Tôi không đồng ý với quan điểm của qu‎ý vị cho rằng quyền tự do xúc phạm sẽ không dẫn đến việc chịu trách nhiệm tương ứng; và tôi không tin rằng một quyền tự do xúc phạm sẽ tự động được chuyển thành một nghĩa vụ phải xúc phạm.

Khi qu‎ý vị  nói “Je suis Charlie” (Tôi là Charlie đây), liệu đó có là sự tán thành sự mô tả của Charlie Hebdo khi (trước đây) đã vẽ Ông Bộ trưởng Tư pháp Pháp Christiane Taubira, một người gốc Phi, thành một con khỉ? Hay về những biếm họa thô thiển vẽ những người Ả Rập có chiếc mũi to đùng có thể khiến Edward Said phải cựa mình dưới mộ?

Đả kích nạn phân biệt chủng tộc bằng cách tái tạo hình ảnh phân biệt chủng tộc một cách thô bạo là một chiến thuật trào phúng khá khả nghi. Ngoài ra, như cựu nhà báo của Charlie Hebdo là Olivier Cyran đã tranh cãi năm 2013, rằng một “chứng thác loạn thần kinh Bài Hồi Giáo đang dần tràn ngập tạp chí Charlie Habdo từ sau vụ 11/9 (ở Mỹ), mà sau đó tán thành một cách đầy hiệu quả các cuộc tấn công nhằm vào “những thành viên của một tôn giáo thiểu số không có ảnh hưởng nào trong các hành lang quyền lực“.

Đó là những lý do mà tôi không thể “là”, và cũng không muốn “trở thành” Charlie – mà nếu phải là cái gì khác thì chúng tôi muốn là Ahmed, viên cảnh sát đạo Hồi đã bị giết chết trong khi bảo vệ quyền tồn tại của tạp chí Charlie Hebdo. Như tiểu thuyết gia Teju Cole đã nhận xét, “Có thể bảo vệ quyền phát ngôn tục tĩu mà không thúc đẩy hoặc tài trợ cho nội dung của lời phát ngôn đó.”

Thế sao qu‎ý vị đã luôn im lặng về các tiêu chuẩn kép quá lộ liểu đó? Qu‎ý vị  không biết rằng Charlie Hebdo sa thải họa sĩ biếm họa cựu binh người Pháp Maurice Sinet năm 2008 vì đã có phát biểu bị cáo buộc chống Do Thái ư? Thế qu‎ý vị không nhận thức được rằng Jyllands-Posten, tờ báo Đan Mạch đăng tranh biếm hoạ Nhà Tiên Tri Mohamed năm 2005, đã từng cấm đăng các tranh biếm họa Chúa Jesus vì sợ sẽ “gây một làn sóng phản đối” và tự hào tuyên bố “trong mọi trường hợp sẽ không xuát bản các tranh giễu cợt Holocaust (dân Do Thái bị Đức Quốc Xã tàn sát) “ ?

Người Hồi giáo, tôi cho rằng, ắt có bản lĩnh chịu đựng những lời công kích cá nhân hơn so với các người anh em Kitô giáo và Do Thái Giáo của họ. Bối cảnh cũng quan trọng không kém. Qu‎ý vị yêu cầu chúng tôi phải cười với một biếm họa về Đấng Tiên Tri, trong khi lại làm ngơ trước những lăng nhục Đạo Hồi trên toàn  lục địa (qu‎ý vị có đến thăm Đức gần đây chưa?) và sự kỳ thị chống lại người Hồi giáo lan rộng trong giáo dục, việc làm, và đời sống công cộng – đặc biệt là ở Pháp. Qu‎ý vị  đòi người Hồi giáo phải tuyên bố chống lại một dúm phần tử cực đoan xem đó như một mối đe dọa hiện hữu đối với tự do ngôn luận, trong khi vẫn nhắm mắt làm ngơ trước những mối đe dọa lớn hơn nhiều đối với tự do ngôn luận mà các nhà lãnh đạo dân cử đã nêu lên.

Liệu qu‎ý vị  không lấy làm phiền lòng khi thấy Barack Obama, người yêu cầu Yemen tống giam  vào ngục nhà báo Abdulelah Haider Shaye vì tội dám chống lại việc Mỹ sử dụng các máy bay không người lái (trên không phận Yemen), sau khi bị kết tội có liên quan đến khủng bố tại một phiên tòa luật rừng – hùa theo bầy đàn mang tên tự do ngôn luận? Qu‎ý vị không thấy phát ốm khi thấy Benjamin Netanyahu, Thủ tướng của một nước chịu trách nhiệm cho việc sát hại bảy nhà báo ở Gaza năm 2014, tham dự “cuộc diễu hành đoàn kết” ở Paris? Bibi (nickname của Netanyahu) còn được nhập bọn bởi Angela Merkel, Thủ tướng của một nước có luật rằng ai dám phủ nhận Holocaust (cuộc diệt chủng 6 triệu người Do Thái do Đức Quốc Xã tiến hành) sẽ bị phạt tù giam đến năm năm, và David Cameron, người muốn cấm không được xuất hiện trên truyền hình các phần tử cực đoan không bạo lực nào muốn “lật đổ nền dân chủ“.

Và rồi còn độc giả của các qu‎ý vị  nữa chứ. Xin hãy có đôi lời với họ. Theo một cuộc thăm dò dư luận của YouGov năm 2011, có đến 82% cử tri ủng hộ việc truy tố hính sự những người biểu tình nào dám đốt bỏ các cây anh túc (chế thuốc phiện) cơ đấy.

Rõ ràng là không chỉ có người Hồi giáo là bị xúc phạm.

Trân trọng,

Mehdi Hasan Giám đốc chính trị, Huffington Post, Vương Quốc Anh, cộng tác viên của tạp chí chính trị Tân Chính Khách, Vương Quốc Anh.

Bài cùng được đăng tải trên Hufington Post và New Statesman.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Phản Hồi Của Bộ Giao Thông Vận Tải

Lại Thu Trúc

Tôi  đã nhận được thư gửi qua bưu điện  công văn số 12667/BGTVT-VT của Bộ Giao Thông Vận Tải ký ngày 08/10/2014 phản hồi ý kiến đóng góp của tôi liên quan đến đường bay thẳng Hà Nội – Tp.Hồ Chí Minh qua không phận của Lào, Campuchia Ngoài ra, ngày 16/10/2014 Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ cũng gửi email chuyển công văn phản hồi của Bộ GTVT cho tôi.

Mặc dù vẫn bảo lưu chính kiến của mình, tôi đánh giá cao sự trọng thị và phản hồi nhanh của Bộ Giao Thông Vận Tải đối với ý kiến của công dân và tăng thêm sự tín thác đối với Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ vì website này đã trờ thành cầu nối hữu hiệu giữa người dân đối với các Bộ Ngành.

Thông qua bài viết này tôi Kính cảm ơn Bộ Giao Thông Vận Tải và Cổng Thông Tin Điện Tử Chính Phủ.

Với tư cách một công dân, tôi cũng xin Kính cảm ơn Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước đã luôn động viên để tôi luôn có dũng khí nêu lên chính kiến của mình để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Với tư cách là học trò tôi xin Kính cảm ơn Thầy Hoàng Hữu Phước người đã truyền dạy kiến thức  cho chúng tôi-các học trò của Ông- để chúng tôi có nền tảng cơ sở lý luận cho các ý kiến của mình.

Để biểu lộ sự trân trọng đối với phản hồi tích cực và trọng thị của Bộ Giao Thông Vận Tải đối với công dân, xin được đăng tải nguyên văn công văn 12667/BGTVT-VT như sau:

ScreenShot613

ScreenShot614

Lại Thu Trúc

Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài “Thơ Ca và Tâm Thế Nhà Lãnh Đạo Doanh Nghiệp[1] tôi viết trên Emotino có dẫn chứng nhiều ví dụ từ kinh nghiệm của tôi qua nhiều công việc lãnh đạo tại các công ty khác nhau. Nay nhân bài viết mới đây [2] có nhắc đến Luật sư Vũ Ngọc Dũng, CEO của Bắc Việt Luật, tôi nhớ đến có lần tôi đã xướng họa thơ ca với vị luật sư này, dù thực ra cho đến tận hôm nay tôi vẫn chưa từng gặp mặt vị ấy để bắt tay, trò chuyện, bên chén rượu, chung trà.

Tôi xin lập lại dưới đây nội dung những trao đổi giữa chúng tôi với nhau trên Emotino; đặc biệt, nếu bài thơ của Luật sư Vũ Ngọc Dũng [3] tặng tôi đã khơi nguồn cảm hứng cho tôi họa lại bằng một bài thơ khác cùng tên [4], thì bài thơ này của tôi lại tạo nguồn sáng tạo cho viên trợ l‎ý của tôi là Cô Lại Thu Trúc viết nên một bài thơ khác cũng có cùng tên [5] như một chuỗi cảm tác dây chuyền, để tặng các bạn trong thế giới mạng..

 Vu Ngoc DungHoang Huu PhuocLai Thu TrucLai Thu Truc (2)1 VND

Poem HHPPOEM HHP (2)

2 LTT

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tê

Ghi chú:

[1]   Hoàng Hữu Phước. 11-4-2012. Thơ Ca và Tâm Thế Nhà Lãnh Đạo Doanh Nghiệp. Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014. Bài viết này vẫn còn đang được lưu tại  http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/2012/04/11/th%C6%A1-ca-va-tam-th%E1%BA%BF-nha-lanh-d%E1%BA%A1o-doanh-nghi%E1%BB%87p/

[2]  Hoàng Hữu Phước. 24-9-2014. Tôi Và Các Luật Sư. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/24/toi-va-cac-luat-su/

[3]  Vũ Ngọc Dũng. 11-5-2012. Chân Và Đá. http://www.emotino.com/bai-viet/19597/bai-tho-chan-va-da. Trang Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014. .

[4]  Hoàng Hữu Phước. 29-5-2012. Nhân Đọc Bài Thơ Chân Và Đá Của Luật Sư Vũ Ngọc Dũng. http://www.emotino.com/bai-viet/19612/nhan-doc-bai-tho-chan-va-da-cua-luat-su-vu-ngoc-dung. Trang Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014.

[5]  Lại Thu Trúc. 03-6-2012. Nhân Đọc Bài Thơ Chân Và Đá Của Ông Hoàng Hữu Phước. http://www.emotino.com/bai-viet/19613/nhan-doc-tho-chanda-cua-ong-hoang-huu-phuoc. Trang Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014.

Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ

Bài viết ngày 21-11-2013 của Lại Thu Trúc trên mạng emotino.com: http://www.emotino.com/bai-viet/19854/chat-van-thanh-vien-chinh-phu

Lại Thu Trúc

Hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ tại nghị trường Quốc hội Việt Nam ngày càng sôi nổi và có chất lượng cao. Đáp ứng sự quan tâm theo dõi của cử tri trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài, các cơ quan truyền thông đã tích cực đưa tin kịp thời và tạo mọi điều kiện thuận tiện để người dân quan tâm có thể xem lại toàn bộ nội dung các phiên chất vấn tại nghị trường Quốc hội.

Các video về các phiên chất vấn các thành viên Chính phủ tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII có thể được truy cập qua các đường link sau:

1.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ ba 19-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50265/Chieu-19-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

2.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ sáng thứ tư 20-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50392/Ngay-20-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

3.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ tư 20-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50459/Chieu-20-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

4.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ sáng thứ năm 21-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50535/Ngay-21-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

5.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ năm 21-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50592/Chieu-21-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

Lại Thu Trúc