Category Archives: Chính trị

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-01-2017

chat-luong-nghi-si

A- Nhìn qua vài ngôi sao đắc cử Quốc Hội

chattt-luong-nghi-si

Qua báo chí, độc giả biết tin Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) Trịnh Xuân Thanh, Cử nhân Quy Hoạch Kiến Trúc, đào tẩu bị truy nã toàn cầu.

Qua báo chí, độc giả biết tin Đại Biểu Quốc Hội Khóa XII, XIII, XIV Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, hoàn tất thủ tục để gia đình trở thành công dân nước khác để đem gia tài kếch sù bỏ Việt Nam chạy ra nước khác.

Qua báo chí, độc giả biết tin Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV Trần Thị Vĩnh Nghi, Cử Nhân Xã Hội Học, bị kỹ luật vì trốn học, nhờ người học hộ, nhờ người điểm danh hộ – và tất nhiên khó thể không có việc cực kỳ bình thường trong giới lãnh đạo ở các cơ quan địa phương Việt Nam xưa nay là nhờ thi hộ.

Qua báo chí, độc giả biết tin Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Châu Thị Thu Nga, Tiến Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, đang bị cáo buộc lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

B- Nhìn qua vài ngôi sao chuẫn bị sẵn cho Quốc Hội

Nếu không được phanh phui, nhân vật Vũ Minh Hoàng 26 tuổi có 2 bằng thạc sĩ, sắp lấy thêm 1 bằng tiến sĩ, đã có danh phận Vụ Phó Vụ Kinh Tế Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ và Phó Giám Đốc Trung Tâm Xúc Tiến Đầu Tư -Thương Mại-Hội Chợ Triển lãm Cần Thơ, ắt sẽ được Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam giới thiệu để trở thành Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XV (2021-2026) để Việt Nam có niềm tự hào có nghị sĩ “trẻ”, trình độ “tiến sĩ”, vào Quốc Hội cơ cấu làm lãnh đạo một ủy ban của Quốc Hội hoặc lãnh đạo một Bộ trong chính phủ.

C- Vài lời phân bua

Là người ít nói, với tâm niệm và phong cách từ lúc học tiểu học đến nay là

a) Chỉ tiếu lâm lành mạnh và chỉ khi ở giữa người thân và trước lớp hay với học trò thân thiết trung thành, chứ không bao giờ phí lời để nói tạp nham bỡn cợt với đám đông không xứng tầm với mình; tuyệt đối không bao giờ để mồm miệng mình thốt lên bất kỳ lời nói nào về những chủ đề dung tục dâm dật dâm ô dâm tình dâm đãng dâm dục vốn hay có trên miệng lưỡi đàn ông bất kể quốc tịch trên thế gian này kể cả Donald Trump;

b) Luôn xem năng khiếu tiếu lâm là chiêu thức tuyệt diệu giúp giảng dạy tiếng Anh tuyệt đối thành công và thuyết trình tuyệt vời sinh động, chỉ nhằm một mục đích duy nhất: thể hiện “an excellent sense of humour” của hùng biện và sự lành mạnh;

c) Không bao giờ trong đám đông tại tiệc tùng hay hội nghị mà lại nói chuyện với những người Việt Nam nào không phải người thân quen hoặc không phải học trò thân thiết trung thành; và chỉ phát biểu tức thuyết trình trước đám đông hay khi giảng dạy tại giảng đường, lớp học;

d) Đối với cá nhân “người lạ”: chỉ trò chuyện với người dân nào cần đến sự giúp đỡ của tôi với tư cách nghị sĩ hoặc nhà tư vấn hoặc nhà giáo tiếng Anh, hoặc khi trả lời phỏng vấn “cao cấp”; và

e) Đối với cá nhân “đồng nghiệp” trong bất kỳ môi trường nào từ nơi giảng dạy đến nơi làm việc hay cộng đồng doanh giới kể cả Quốc Hội: chỉ trò chuyện với những “đồng nghiệp” nào tôi kính trọng mà số lượng có thể đếm đủ trên hai bàn tay đủ ngón.

D- Vào trọng tâm

Vì vậy, suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh tôi chỉ mở miệng trả lời (vì lịch sự) mỗi khi được hỏi (dù người hỏi là các vị trong Bộ Chính Trị như các nghị sĩ Trương Tấn Sang và Lê Thanh Hải), còn ở Nghị Trường tôi cũng chỉ trò chuyện với dăm ba vị mà thôi – tất nhiên với điều kiện tiên quyết là: các vị ấy phải là người trước đây đã bắt chuyện với tôi trước. Ngay tại các buổi tiệc tùng với các cơ quan trung ương mà mỗi buổi chiêu đãi có hàng trăm thực khách, tôi cũng vẫn luôn luôn lắng nghe, nhận xét, và đánh giá thiên hạ quanh mình, chứ không chủ động tham gia tán chuyện.

Cũng nhờ vậy, tôi quan sát nhiều hơn trong hầu hết thời gian 5 năm làm nghị sĩ, và có thể khẳng định một cách không định kiến hay thành kiến rằng: trình độ tư duy chính trị và trị chính của nhiều nghị sĩ Việt Nam quả rất đáng quan ngại.

Khi dự tiệc do VCCI tại Hà Nội tổ chức khoản đãi các nghị sĩ là doanh nhân, nhân kỳ họp thứ 11 của Quốc Hội Khóa XIII tháng 3 năm 2016, tôi ngồi chung bàn với các nghị sĩ trong đó có các nghị sĩ Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Văn Cảnh. Qua lời Nghị sĩ Nguyễn Hồng Sơn (Đoàn Hà Nội), tôi mới biết Nghị sĩ Nguyễn Văn Cảnh (Đoàn Bình Định), 40 tuổi, Thạc sĩ Kinh tế, là nhân vật tiến rất nhanh tiến rất mạnh khi trở thành Ủy Viên Thường Trực Ủy Ban Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường của Quốc Hội.

Tất nhiên, như đã nói ở trên, tôi hoàn toàn không tham gia trò chuyện với các vị cùng bàn. Việc Nghị sĩ Cảnh “tuổi trẻ” thì đã rõ, song “tài cao” thì hoàn toàn không rõ. Lúc các nghị sĩ khác nói chuyện phiếm về “khoa học-công nghệ”, Nghị sĩ Cảnh đã làm tôi ngạc nhiên khi thốt lên rằng cách hay nhất để kêu gọi kiều bào hải ngoại đầu tư vào Việt Nam và chuyển giao công nghệ cho Việt Nam là Nhà Nước hãy ưu ái cấp nhà cấp đất cho họ.

Tôi hy vọng Nghị sĩ Nguyễn Văn Cảnh nói thế vì ngây thơ, thành thật, chân chất, bụng dạ để ngoài, vì ngay cả đứa bé trung học vẫn có thể nêu lên rằng (a) Việt Nam cụ thể cần cái công nghệ gì cho công nghiệp nào mà dám bảo cái công nghệ ấy bằng giá trị một ngôi nhà, (b) cái công nghệ ấy nếu do Việt Kiều làm chủ nhân thì vì sao nước ngoài không quan tâm mua và vì sao chỉ vì một căn nhà do Nhà Nước cấp cho họ mà họ đồng ý “chuyển giao công nghệ” cho Nhà Nước, (c) nếu họ muốn tặng cái công nghệ quý báu ấy để lấy “Dinh Độc Lập” kèm Thảo Cầm Viên và Chợ Bến Thành thì Nhà Nước có chịu không, (d) Nhà Nước định muốn được tặng quyền sở hữu chỉ 1 công nghệ hay 1001 công nghệ và có đủ đất đai nhà cửa để trao đổi lấy 1001 công nghệ hay không, và (e) sao Nhà Nước không mua công nghệ của bất kỳ ai mà cứ phải vuốt ve dụ dỗ kiều bào bằng cách di dời đền bù giải tỏa đẩy công dân lũ lượt đi chỗ khác nhường đất cho kiều bào như thế?

Oái oăm thay, ngay cả cái đức tính cực kỳ quý báu dễ thương của ngây thơ, thành thật, chân chất, bụng dạ để ngoài, lại không được phép tồn tại nơi một người làm chính trị (làm nghị sĩ là làm chính trị); đã vậy một quan chức cấp cao (nghị sĩ chuyên trách, phụ trách một Ủy ban của Quốc Hội) mà quyền lợi cùng lương bổng tương đương Thứ Trưởng, lại về lĩnh vực “khoa học – công nghệ” mà lại ngây thơ như thế thì bảo đảm nền khoa học – công nghệ của Việt Nam khó thể phát triển được.

Điều may mắn là Nghị sĩ Nguyễn Văn Cảnh còn trẻ, tốt bụng, còn nhiều thời gian để học tập, rèn luyện, bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ, để tiếp tục làm nghị sĩ nhiều nhiệm kỳ tiếp theo; trong khi các vị “nghị sĩ” như (a) Nguyễn Thị Nguyệt Hường và Châu Thị Thu Nga lão luyện phát biểu cực kỳ tích cực tại nghị trường được báo chí tích cực tung hô hóa ra lại là phường mưu đồ phản quốc hại dân nên bị bãi miễn, (b) Trịnh Xuân Thanh thì đắc cử nhưng chưa kịp nhận thẻ nghị sĩ đã bôn đào bôi tro trát trấu vào mặt mũi chế độ, còn (c) Trần Thị Vĩnh Nghi ắt không tồn tại lâu nếu lại chứng nào tật nấy nhờ người điểm danh thay và nhấn nút thay tại Quốc Hội Khóa XIV này.

Điều khủng khiếp là nếu Trịnh Xuân Thanh đừng đi xe Lexus bảng số xanh, Nguyễn Thị Nguyệt Hường tiếp tục vơ vét vàng bạc đá quý nhưng đừng lén xin làm công dân nước khác, Châu Thị Thu Nga tiếp tục “huy động vốn” nhưng đừng hê lên các công trình địa ốc quá khổng lồ, và Trần Thị Vĩnh Nghi đừng làm xấu hổ thêm cái tổ chức chính trị Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh đã trở thành vô dụng trong đại cuộc xây dựng đất nước Việt Nam vĩ đại về kinh tế và học thuật vốn hoàn toàn nằm ngoài tầm với của cái tổ chức ấy, thì không biết Quốc Hội Việt Nam có bị các vị anh hùng Tân Thủy Hử này khuynh đảo khuynh loát cho tanh banh tét bét thành rạp xiếc đã vậy còn sẽ được báo chí tập trung ghi chép lời vàng ngọc của các vị này do các vị được “cử tri” dồn phiếu cao khủng khiếp với sự tín nhiệm và giới thiệu đầy trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Những tầy huầy của Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) này sẽ giúp ích rất nhiều cho Quốc Hội Khóa XV (2021-2026) vì rằng kể từ nay

a) Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam phải hoàn toàn thay đổi cung cách làm việc với trách nhiệm thực sự bởi những chức sắc đàng hoàng thực sự có học thức thực sự khi xét duyệt hồ sơ ứng cử thực sự, trong thực sự “giới thiệu” người ứng cử;

b) Quốc Hội Khóa XIV thực thi việc giám sát chặt chẽ việc tổ chức bầu cử năm 2021 của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở tất cả các địa phương vì việc yên tâm phó thác hoàn toàn cho Mặt Trận ấy là điều hoàn toàn sai lầm;

c) Quốc Hội Khóa XIV thực thi việc cùng nhân dân giám định, giám sát tất cả các hồ sơ ứng cử và nhân thân thực sự – chứ không phải nhân thân trên hồ sơ lưu của tổ chức – của tất cả các ứng cử viên, thí dụ trên cơ sở đã là “thạc sĩ/tiến sĩ” mà không có nhiều bài viết phổ biến kiến thức cho xã hội, v.v., thì dứt khoát loại bỏ dù đó là đảng viên chức sắc tại cơ quan hành chính công quyền hay trong chính phủ đương nhiệm, cũng như giám sát cụ thể và chặt chẽ về gia sản, và thu thập ý kiến của nhiều nơi chứ không chỉ của cư dân một phường mà lãnh đạo phường ấy có thể bố trí người lạ vào khuynh loát khuynh đảo buổi tiếp xúc để cho ra kết quả không trung thực, v.v.

Làm chính trị thì bản thân phải luôn cố giữ mình chói lọi hào quang giá trị cao vời.

Làm chính trị mà do Đảng và tổ chức đẩy ra “làm” nên mới lộ mặt mấy đứa đi đến đâu là mất nhiều ngàn tỷ đến đó, thò tay tới đâu là hốt gom tiền của người dân nhẹ dạ tới đó, vô trường nào là nhờ học dùm điểm danh dùm thi dùm đến đó, và khi tiền gom nhiều quá rồi thì bỏ nước mà đi. Thành tích như thếmà tổ chức bất lực không chặn ngăn được ngay từ khi chưa trầm trọng. Tổ chức bất lực vì những con người chức trọng quyền cao trong tổ chức bất tài bất lực bất trung bất hiếu bất mục.

Bất kỳ việc gì cũng phải đòi hỏi có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhất. Vậy thì ai đã chọn giới thiệu những tên tội phạm làm tanh banh các tổng công ty Nhà Nước, những đứa con nít trong Đoàn Thanh Niên Cộng Sản vô dụng, những kẻ dối gian lừa đảo, và những người thơ ngây không những vào thế giới “làm chính trị” của nước nhà mà còn là ở vị trí lãnh đạo ngay tại cơ quan quyền lực nhất quốc gia là Quốc Hội? Đồng Bệnh Tương Lân chăng? Không trừng trị bọn “giới thiệu” ẩu, để đồng bọn của chúng chiếm ghế của các bậc cao minh vì nước vì dân vì chế độ thì chế độ mà không suy tàn mới là chuyện lạ!

Quốc thể Việt Nam bị xâm hại nghiêm trọng bởi bọn nghị sĩ không chút chất lượng như nêu ở trên mà các tổ chức của Đảng đã tự hào đẩy ra làm chính trị.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-hội Khóa XIII

Tham khảo:

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”  30-11-2015

Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-201

Làm Chính Trị & Làm Loạn

Bài Viết Vỡ Lòng Về Dân Chủ & Dân Quyền Dành Cho Công Dân Trẻ

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-01-2017

Gọi là vỡ lòng vì những vấn đề cụ thể nhất, căn bản nhất, trong toàn thế giới hiện đại văn minh về dân chủ và dân quyền– tất nhiên thắm đượm cả nhân quyền – đối với phạm trù “làm chính trị” lại chưa hề được Việt Nam giảng dạy cho giới trẻ từ tiểu học cho đến sau đại học, mặc cho sự thật là Việt Nam có nhiều công cụ chính trị từ ươm mầm lên đến lão làng như Đội Thiếu Niên Tiền Phong, Hội Thanh Niên  Sinh Viên, và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (trong khi thiên hạ chỉ có công cụ phi-đảng-phái Hướng Đạo Sinh) khiến dẫn đến hệ lụy là ở Việt Nam già trẻ lớn bé thậm chí có đến hai ba bằng thạc sĩ/tiến sĩ ai cũng có quyền tự do tuyên bố “muốn làm chính trị từ nhỏ” hoặc “ghét nói về chính trị”, và việc hô hào dân chủ, nói năng lách chách phản biện xã hội, giương cao ngọn cờ xã hội dân sự, khoe mề-đay tù nhân lương tâm, thực hiện tự do ngôn luận chống chính phủ là để thể hiện ta đây đang “làm chính trị”. Sự hòa âm điền dã của những tên ngoại giao mọi rợ của nước ngoài ở Việt Nam (trong đó có cả tên Đại Sứ Mỹ Ted Odius nghe đâu đang thu dọn đồ tế nhuyễn rời Việt Nam theo lịnh sa thải toàn bộ của Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump) lợi dụng sự thờ ơ của Việt Nam trong giáo dục kiến thức chính trị cho công dân trẻ để làm các công dân này càng tưởng đâu họ đã làm đúng chuẩn Âu Mỹ vậy.

Gọi là công dân nghĩa là chỉ những người có quyền lợi và bổn phận đối với đất nước, bao gồm những quyền lợi nào phải được hưởng trọn vẹn, những bổn phận nào phải chu toàn tất cả, và những yêu cầu năng lực nào phải đáp ứng đầy đủ, mới đạt yêu cầu đầu tiên đối với người muốn“làm chính trị”. Không kể ra được danh mục những quyền lợi và những bổn phận của bản thân, không có gì chứng nhận đã hoàn thành đạt yêu cầu những bổn phận nào để được hưởng những quyền lợi nào thì dứt khoát không là công dân thực thụ, cũng như không có gì chứng nhận đáp ứng đủ đầy các năng lực phải có, để có thể đạt tiêu chuẩn đầu tiên của tuyên bố muốn “làm chính trị”. Chưa kể, “làm chính trị” là một “nghề chuyên nghiệp” nên có những đòi hỏi nghiêm ngặt và cao cấp nào để được “làm chính trị”, và cái “chính trị” mình muốn “làm” có phải đúng là ở nước Việt Nam hay không, hay là tâm thần bất định cứ nghĩ là “làm” ở xứ miền hoa mỹ nào trong mộng. Đó là chuyên nghiệp.

Có sức khỏe và đạt thành tích chạy như ngựa của một vận động viên điền kinh, cộng với sự khéo léo nhanh nhẹn của kỹ thuật vận động thân thể, cộng với việc đã được đào tạo tại “lò” và vượt qua kỳ tuyển chọn, một người mới có thể trở thành một cầu thủ bóng đá để được phép vào thi đấu tại sân vận động chính thức, mà ngay cả có được ra sân trực tiếp đá vào trái bóng trong một cuộc thư hùng chính quy – tức có bán vé cho khán giả – hay vào sân ngồi mãi trên ghế dự bị thì cũng tùy vào sự cho phép của huấn luyện viên trưởng. Mà đã được cho ra sân thì cũng phải nhuần nhuyễn các quy định của luật chơi (chẳng hạn không tiếp tục rê bóng khi bóng đã ra khỏi đường biên vì tâm trí lộn qua bóng chuyền, hay rê bóng vòng ra sau lưng cầu môn vì tâm thần nhầm với khúc côn cầu trên băng, hoặc cầm bóng chọi vô lưới do tâm tính kỳ khôi muốn đem trộn bóng ném vào bóng đá) và chấp nhận tất cả các hậu quả có liên quan (bị phạt thẻ đỏ đuổi ra sân hay giò cẳng bị nhuộm đỏ thì không kêu gào méc mẹ chưởi bới trọng tài vi phạm dân chủ nhân quyền và không cho trọng tài nếm thập bát liên hoàn cước). Đó là chuyên nghiệp.

Bài viết này, do đó, nói về những nguyên tắc để một công dân được “làm chính trị”.

A) Nguyên Tắc 1: Được làm một nghề nghiệp đoan chính là quyền tự do của công dân của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới

Làm một nghề nghiệp đoan chính nào cũng phải theo ít nhất ba yêu cầu của bản thân nghề nghiệp ấy, của nhu cầu của nghề nghiệp ấy, và của quy định liên quan đến nghề nghiệp ấy.

Không học ngành y mà đòi được đè người ta ra giải phẫu ư?

Học xong ngành y với bằng cấp tốt nghiệp hạng tối ưu rồi nằng nặc đòi phải vào làm lãnh đạo ở bịnh viện Nhà Nước lớn nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh bất kể bịnh viện ấy đang có thừa mứa bác-sĩ-đại-tài-nhiều-năm-kinh-nghiệm-danh-tiếng-lẫy-lừng, và không có nhu cầu tuyển dụng thêm “biên chế” ư?

Học chưa xong, chẳng phút giây thực hành thực tế thực địa về chuyên môn của bất kỳ văn bằng nào đã kiếm được trong tay, vậy mà vẫn được bổ nhiệm làm Vụ Phó Vụ Kinh Tế Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam kiêm lãnh đạo Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại của Tỉnh lớn nhất Tây Nam Bộ thì chẳng qua đó là sự hy sinh vô bờ bến của lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ muốn chính mình chịu mắng chưởi để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho toàn  dân trước thực trạng dụng nhân quái gở ở Việt Nam chứ làm gì thực tế có chuyện tự do làm nghề chuyên nghiệp kiểu ấy.

Một nghề nghiệp đoan chính vẫn có thể mang tính bắt buộc – bất kể quyền tự do của công dân – khi trong thời chiến tranh, nghĩa là lịnh tổng động viên sẽ buộc một bộ phận dân chúng nhập ngũ trở thành quân nhân chuyên nghiệp hay trở thành công nhân quốc phòng trong một ngành kỹ thuật hay hậu cần hoặc tiếp liệu, v.v.,  bất kể có hay không có quá trình đào tạo trước khi nổ ra chiến tranh.

B) Nguyên Tắc 2: Được làm chính trị là quyền tự do của công dân của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới

Ở tất cả các quốc gia, thường có mặc định rằng một công dân làm chính trị là khi trở thành nghị sĩ quốc hội hoặc khi trở thành thành viên của nội các chính phủ.

Để trở thành nghị sĩ quốc hội, người công dân thường phải là đảng viên một chính đảng chính trị và có nghề nghiệp chuyên môn, có quá trình công tác đủ thâm niên để được công chúng biết đến.

Một nghị sĩ quốc hội có thể trở thành thống đốc, thủ tướng, hay tổng thống của quốc gia.

Năm điều kiện cần và đủ, luôn luôn đúng tuyệt đối của người “làm chính trị” ở bất kỳ quốc gia nào là phải:

a- tuyệt đối tuân thủ và bảo vệ hiến pháp của quốc gia,

b- tuyệt đối tuân thủ và bảo vệ luật pháp của quốc gia,

c- tuyệt đối bảo vệ thể chế chính trị của quốc gia,

d- được “cử tri” trao quyền “làm chính trị” qua bầu cử vào nghị viện, hoặc được bổ nhiệm bởi tổng thống hay thủ tướng chính phủ, và

e– sinh hoạt trong một đảng chính trị chính thức (tất nhiên tại một vài quốc gia có thành phần ứng viên “tự do” từ những nhà tỷ phú nhưng chỉ thắng cử cho mỗi một chức danh duy nhất là nghị sĩ) và được chính đảng ấy đề cử ra “làm chính trị”.

Như vậy, ở Việt Nam có sự áp dụng đầy đủ 5 yêu cầu mang tính phổ quát toàn cầu trên.

Ba vấn đề tồi tệ thường gặp ở Việt Nam là:

1) 2 Thấp Kém: Đa số các “nghị sĩ” không biết hoặc không dám nhận rằng mình là “chính khách” tức người “làm chính trị” khiến (a) tính đẳng cấp chuyên nghiệp trở nên thấp kém hơn các đồng nghiệp ở nghị viện nước ngoài, và (b) tinh thần trách nhiệm trở nên cực kỳ mơ hồ dù luôn được đánh giá cao cuối mỗi nhiệm kỳ quốc hội.

2) 4 Thụ Động Mơ Hồ: lý do của vấn đề số 1 nêu trên là vì (a) các nghị sĩ tuyệt đại đa số là đảng viên Cộng Sản nên ra làm nghị sĩ là theo mệnh lệnh phân công đặt đâu ngồi đó của Đảng chứ không vì chủ động theo đuổi một cách có ý thức con đường “làm chính trị” khi theo Đảng, (b) các nghị sĩ tuyệt đại đa số hoàn toàn không biết “làm nghị sĩ” tức là “làm chính trị”, (c) các nghị sĩ tuyệt đại đa số là chức sắc cấp cao trong hệ thống công quyền hoặc hệ thống chính trị nên có lương bổng riêng để công tác chính tại địa phương và xem công việc nghị sĩ chẳng khác nào công việc thời vụ không-lương-bổng không toàn thời gian không chính quy dù chính thức theo Hiến Pháp, và (d) các nghị sĩ tuyệt đại đa số là đảng viên Cộng Sản nên ra làm nghị sĩ trong tư thế không được tùy tiện phát biểu những gì chưa được sự cho phép của Đảng dẫn đến các sự trầm lắng trầm mặc trầm ngâm tại nghị trường.

3) 1 Bó Tay: Từ sự không hiểu biết về 5 điều kiện cần và đủ để “làm chính trị” đã nêu, nhiều nghị sĩ và công dân đã không thể phân biệt được ranh giới giữa “làm chính trị” và “làm loạn”, vì “làm chính trị” là một sự nghiệp chuyên nghiệp mang thuộc tính quyền tự do của công dân, còn “làm loạn” hay “làm phản” là đối tượng của mọi biện pháp đàn áp trấn áp tiêu diệt minh định trực tiếp hay gián tiếp trong Hiến Pháp và luật pháp quốc gia, dẫn đến các manh động trong xã hội dưới lớp sơn dân chủ, nhân quyền, dân quyền, mà thực chất là chống chỉnh phủ, chống thể chế chính trị của quốc gia, lật đổ chế độ, biến Việt Nam thành quốc gia lẻ loi đơn độc duy nhất trên toàn thế giới có quá nhiều công dân “làm loạn” vì thơ ngây không hiểu gì về “làm chính trị” dù kẻ ngây thơ có khi là thạc sĩ luật tốt nghiệp ở Hoa Kỳ.

C) Những hành xử mang tính quốc thể cần có:

1) Luật Hình Sự nhất thiết phải mô phỏng thiết chế của Hoa Kỳ và các nước Âu Mỹ văn minh hiện đại khác: sử dụng bạo lực đàn áp trấn áp tiêu diệt các phần tử “làm loạn”, “làm phản”, chống chính phủ, chống chế độ, chống thể chế chính trị quốc gia – vì chống chế độ và chống thể chế chính trị quốc gia là trọng tội vì đó là chống Hiến Pháp.

2) Các phản ứng ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế mỗi khi có sự xúc xiểm của nước khác động đến thể chế chính trị hay chính sách Việt Nam nhất thiết phải chuyển sang phong cách của thời kỳ mới, nghĩa là từ nhún nhường nhỏ nhẹ nhẫn nhịn của thời kỳ xứ sở còn lạc hậu đói nghèo giữa bủa vây cấm vận, tiến sang sử dụng hùng biện ngoại giao đấu khẩu mạnh mẽ dứt khoát của thời kỳ đất nước đã có uy thế về địa-chính-kinh và quân sự. Để có các phản ứng ngoại giao mạnh mẽ này, toàn bộ các lãnh đạo cấp cao của Nhà Nước nhất thiết phải được bồi dưỡng về thuật hùng biện đối ngoại cao cấp thậm chí bằng cả ngôn ngữ khác trong số các ngôn ngữ chính thức sử dụng tại Liên Hợp Quốc và ngôn ngữ cử chỉ của đẳng cấp  bề trên.

Hai điều cực kỳ đơn giản mang tính nguyên tắc sơ đẳng trên nhằm (a) khẳng định vị thế mới của Việt Nam, (b) giữ gìn quốc thể rằng các “chính khách” tức các nhà “làm chính trị” Việt Nam biết thế nào là “làm chính trị” trong đối nội và đối ngoại, (c) giữ gìn quốc thể rằng công dân Việt Nam hiểu rõ các yêu cầu đương nhiên của việc “làm chính trị” cùng nhận thức rõ các trách nhiệm tất nhiên phải chịu từ việc “làm loạn” của cá nhân mình, và (d) thị uy với tất cả các phái bộ ngoại giao tại Việt Nam rằng tất cả các can thiệp – dù bằng lời nói – vào công việc nội trị của Việt Nám sẽ không bao giờ được chấp nhận.

Không có sự thị uy về ngoại giao, Việt Nam mãi bị xếp ở chiếu dưới, còn kẻ “làm loạn” thì mặc sức tung hoành như đang thực hiện quyền tự do dân chủ “làm chính trị”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chính trị gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Tham khảo:

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Thế nào là Đối Lập  06-4-2015

Thế nào là Phản Biện 02-8-2016

Thế nào là Chính Trị  14-01-2016

Thế nào là Chống Cộng  21-10-2015

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Tôi Và Lê Công Định  22-9-2014

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức  05-01-2016

Đại Sứ Mỹ Ted Osius  15-6-2016

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011   18-5-2014

Hướng Đạo  05-11-2015

Điều Luật 258   02-4-2016

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự”   14-10-2015

Sự Cố Luật Hình Sự  28-6-2016

Hậu Sự Cố Luật Hình Sự 2015  03-7-2016

Phải Có Luật Biểu Tình  18-8-2016

Hãy Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tự Do Cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021)  09-01-2016

Nếu Là Donald Trump, Tôi Sẽ…

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-01-2017

Nếu là Donald Trump, sau khi chính thức trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ và trong giới hạn cho phép của luật pháp Hoa Kỳ, tôi sẽ

1) Cho tiến hành truy tố Hillary Clinton để trừng trị kẻ bất tài, vô hạnh, lưu manh, đã gây hiểm nguy cho an ninh quốc gia lại láo xược hùa theo bọn đòi kiểm lại phiếu bầu hầu làm hạ uy thế của tôi, vì rằng nhất thiết phải chà đạp mụ chính khách chuyên nghiệp ấy để mụ – và qua mụ, đám chính khách chuyên nghiệp tinh hoa của chế độ – có bài học nhớ đời;

2) Cho tiến hành điều tra về Quỹ Clinton để trừng trị tận gốc cái thói quen đã bao đời gặm nhấm bào mòn uy lực nền dân chủ quốc gia khi những kẻ bất tài vô hạnh lưu manh trong đám chính khách chuyên nghiệp tinh hoa của chế độ luôn tập trung sử dụng quyền lực trị quốc để làm đầy túi cá nhân và gia đình với các chiêu trò lập quỹ này quỹ nọ trong và sau thời gian tham chính;

3) Cho thay đổi toàn bộ hoặc căn cơ gốc rể của ObamaCare cùng tất cả những gì Barack Obama đã thực hiện để xóa sạch các dấu ấn của tên mọi đã dám lên tiếng bỡn cợt nhạo báng tôi cũng như đã lên mặt bảo ban truyền dạy tôi cách làm tổng thống và cách quản lý quốc gia, vì rằng nhất thiết phải dạy cho Barack Obama biết phải lễ độ với tôi là người đã có khả năng chà đạp bọn chính khách chuyên nghiệp như y và bọn truyền thông chính thống làm tôi mọi của y;

4) Cho thực hiện bất kỳ ý định nào của tôi đã hay nói đến trước đây có liên quan đến TPP, vấn đề “Một Trung Quốc”, vấn đề liên quan đến Nga/Triều Tiên/Syria/Cuba/Iran/Israel, v.v.;

5) Cho định hình lại cái gọi là truyền thông chính thống của quốc gia, loại bỏ 100% những thực thể truyền thông đã từng dám hèn hạ vầy đoàn công kích tấn công bôi nhọ tôi; và

6) Cho Liên Hợp Quốc hoặc nhận thức rõ vai trò vô dụng của nó để phải kính trọng cá nhân tôi hoặc khiến nó bị vô hiệu hóa bởi một định chế thay thế mới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo: Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi 11-9-2011

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

30-12-2016

Dân Chủ” là từ ngữ của người Việt Thế Kỷ XIX có lẽ nhại theo tiếng Tàu, do người Tàu cố gắng diễn nghĩa – không phải tìm từ có nghĩa tương đương – từ chữ Democracy trong tiếng Âu Mỹ, dựa vào sự hân hoan mừng rỡ của dân Âu Mỹ khi họ là “dân đen” nhưng được đích thân đi bỏ phiếu bầu lãnh đạo thay vì lãnh đạo tự nhiên lên ngồi trên đầu mình có quyền chém đầu mình nhưng toàn hoặc (a) do y tự làm loạn, hoặc (b) do y tự rước voi về dày mã tổ để được lên ngôi chẳng khác nào bản thân để đầu mình dưới mông to con voi bự còn bản thân đặt mông lên đầu con voi nhỏ mà mình gọi là dân tộc, hoặc (c) do y được “Thiên Triều” Tàu hay Pháp hay Mỹ chọn từ đám tay sai “phong Vương”, hoặc (d) do y automatically tự động lên ngôi vì được vua cha truyền ngọc tỷ.

“Thiên triều” Tàu tự dưng làm phước bỏ công sức đánh cho Việt tan nát cả ngàn năm để dạy cho Việt biết “tau là chủ” (đọc trại đi thành “Tàu là chủ”) còn “nị là dân“.

“Thiên triều” Pháp tự dưng từ bi bỏ công sức vừa đánh vừa nhét thuốc phiện vào mồm Việt tan nát cả trăm năm để dạy cho Việt biết một sự thật huy hoàng lạ thường là Pháp Lang Sa có thể chế gọi là “cộng hòa dân chủ” vi diệu mà nhờ nó Pháp có sức mạnh xâm chiếm tàn sát tàn phá tàn diệt biết bao Nhà Nước Bảo Hoàng tức quân chủ phong kiến phi dân chủ trong đó có Việt.

“Thiên triều” Mỹ thấy Việt dám lếu láo học đòi Pháp lập thành “dân chủ cộng hòa” bèn bỏ công sức dạy cho Miền Nam tập trung duy chỉ vào “cộng hòa” và “thế giới tự do” thôi để đánh cho sập “dân chủ” Miền Bắc, nhờ vậy mà hầu hết các nhân sĩ trí thức Miền Nam ghét “dân chủ” chỉ thích “tự do”, còn lẻ tẻ vài vị nào ưa  “dân chủ” thì cứ việc vào bưng biền và hễ bị “cộng hòa” tóm được thì bị “cộng hòa” nhét đầu họ vô máy chém một cách “tự do”.

Đến khi Miền Bắc cộng sản đánh cho cộng hòa Mỹ bỏ của chạy lấy người và xóa luôn cộng hòa Việt khỏi bản đồ Atlas, phe thua trận bắt đầu gỡ gạc bằng một cuộc chiến tranh giành giật ngôn từ.

Thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo rằng cộng sản làm quái gì có dân chủ, vì dân chủ là tài sản của tự do mờ!.

Từ đó suy ra: thay vì công nhận dân chủ thắng còn cộng hòa và thế giới tự do thua, họ bảo cộng sản không có tự do, chớ có dân chủ, mà chỉ có nô dịch dân tộc để làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, nên nhờ Liên Xô với Trung Quốc xía vô thành “hai đánh một chẳng chột cũng què” khiến Mỹ tạm thời rút lui chiến lược chớ làm quái gì có cái gọi là “chiến thắng” của dân chủ Bắc Việt, nghĩa là chẳng qua bố mẹ Mỹ của Nam Việt từ bi không ném bom nguyên tử tiêu diệt Bắc Việt đó thôi. Tất nhiên, họ không ngu mà tự đặt câu hỏi rằng tại sao cái tự do dân chủ mà họ tuyên bố chủ quyền nhờ đó mà xâm chiếm thuộc địa vơ vét tài nguyên về trở thành siêu cường quốc lại bị Việt nhà quê phản tự do phản dân chủ đánh cho tan nát làm sụp toàn bộ các đế quốc thực dân trên toàn thế giới, đên độ đế quốc thực dân Anh phải vội vàng lập nên Khối Liên Hiệp Anh của các quốc gia “độc lập” theo thể chế cộng hòa tự do nhờ đó hết hồn hết vía thoát khỏi nạn mất sạch sành sanh các thuộc địa. Còn nếu bảo tại có Liên Xô với Trung Quốc, thì lẽ nào phe “thế giới tự do” hùng hậu tập trung vào Nam Việt để rồi thua Liên Xô và Trung Quốc ngay cả khi hai anh khổng lồ này chẳng hề cử đại binh đến Bắc Việt.

Và khi Việt tuyên bố quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì họ lồng lộn rằng thì là mà cộng hòa có đội chung trời với xã hội chủ nghĩa bao giờ đâu mà dám bạy trò bày vẽ bày biện gán ghép linh tinh!

Còn khi Việt tuyên bố tiến hành sửa Hiến Pháp thì họ đột nhiên chứng tỏ họ yêu “dân chủ”, kêu gào đòi Việt hãy lấy quốc hiệu như cũ, bất kể cái quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũ kỹ ấy chính là quốc hiệu duy nhất của nhân loại đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào 30-4-1975.

Tất nhiên, bài này không cần phải giải thích thêm rằng

(a) dân chủ là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng, và là thuộc từ riêng của “phe xã hội chủ nghĩa” tức “phe thân cộng” nghĩa là “phe” cộng sản đa số có chữ “dân chủ” trong quốc hiệu để dễ nhận diện với nhau,

(b) chủ nghĩa xã hội socialism đồng nghĩa với “chủ nghĩa yêu nước trọng dân hiện đại” Âu Mỹ tương tự như một thứ “tân chủ nghĩa dân túy hiện thực” mà các chính khách Âu Mỹ hiện nay hay tự nhận mình là socialist trong các luận điểm dân túy trên chính trường,

(c) chưa bao giờ có “chủ nghĩa tự do” mà “tự do” cũng không là thuộc tính đặc thù, thuộc bản quyền riêng hay là thuộc từ riêng của “phe thế giới tự do” tức “phe chống cộng” cả – nghĩa là phe “thế giới tự do” không nước nào ngu đần đến mức xài chữ “tự do” trong quốc hiệu của họ vì họ bản chất là độc tài rất kiêng sợ dân chúng họ tự do,

(d) mà như thế thì chủ nghĩa xã hội vừa có sẵn nội hàm dân chủ vừa mang tính thời đại thời thượng tốt đẹp nên Việt chẳng dại gì từ bỏ danh xưng mà Mỹ thòm thèm song sĩ diện ngó lơ,

(e) mà như thế thì Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam vừa có tự do (trong chữ Cộng Hòa) vừa có dân chủ (trong chữ Xã Hội Chủ Nghĩa) nên có uy thế thượng phong đối với cả hai phe như thực tế chính trường thế giới đang minh chứng.

Tặc Chủ” là từ ngữ do một người Việt Thế Kỷ XXI tạo nên dựa vào nền dân chủ Hoa Kỳ.

Mọi sự liên quan đến nền dân chủ Hoa Kỳ đều trông có vẻ ổn suốt mấy trăm năm qua cho đến khi quý ông thanh lịch Donald Trump thắng cử Tổng Thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 2016. Khắp nơi thóa mạ Donald Trump. Khắp nơi “biểu tình” chống Donald Trump. Khắp nơi nhao nhao lên án thể chế gián tiếp thông qua “đại cử tri”. Khắp nơi ồn ào về tầm vóc quan trọng của “phiếu phổ thông của người dân”. Khắp nơi ào ạt kích động ly khai đòi tách khỏi USA để lập quốc. Khắp nơi khuấy động việc bỏ USA sang nước khác. Và khắp nơi hý hửng trước tiến trình đòi kiểm lại phiếu bầu cử. Tất cả chứng minh:

1) Mỹ chưa bao giờ có dân chủ và democracy có ý nghĩa hoàn  toàn khác với từ điển của nhân loại mà ngay cả Mỹ thường tận dụng ý nghĩa từ điển để tấn công kẻ thù.

2) Dân chủ Democracy tại Mỹ có nghĩa là: người dân có quyền làm chủ về chính trị bằng cách bỏ phiếu bầu cho một trong hai ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa hoặc Đảng Dân Chủ với mặc định rằng hai ứng cử viên đó đều là chính khách chuyên nghiệp xuất thân ngành Luật và đang “làm chính trị” tức làm nghị sĩ hoặc “tổng thống cấp tiểu bang “ tức thống đốc.

3) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy của Phương Tây, và do đó hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy tức nền dân chủ đặc thù của từng quốc gia đặc thù trong đó có Việt Nam.

4) Như vậy nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy hoàn toàn phản dân chủ trên thang bậc ngữ nghĩa dân chủ đại đồng.

5) Như vậy khi Mỹ đem nền dân chủ Hoa Kỳ tức US Democracy làm “nền dân chủ chung” để chống lại các quốc gia nào không theo cái “chung” đó, thì đột nhiên kể từ 11-2016 Mỹ mặc nhiên thừa nhận nền dân chủ Mỹ hoàn toàn khác với nền dân chủ thế giới Worldwide Democracy (vì hệ thống quốc gia “Tây Phương” không ai dân chủ một cách “ấn định” độc tài dữ dội như Mỹ) và cũng hoàn toàn khác với nền dân chủ chọn lọc Explicit Democracy (vì Mỹ chống mọi quốc gia này trong đó có Việt Nam).

6) Như vậy, nền dân chủ Hoa Kỳ luôn bình ổn, bất kỳ ai trong hai ứng cử viên trở thành tổng thống cũng được vì Cộng Hòa và Dân Chủ là đảng “song sinh” tức twin party, nghĩa là theo thỏa thuận rằng tổng thống sau không được đổi thay chính sách hay cam kết của tổng thống trước đó để không đe dọa quyền lợi của giới đại tư bản, mà sự thay đổi chỉ được phép tiến hành nếu đương kim tổng thống gây ra sự cố như trong trường hợp các tổng thống liên tục thất bại không tiêu diệt được Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì tổng thống sau phải tuyên bố rút quân Mỹ khỏi Việt Nam và vất bỏ Việt Nam Cộng Hòa vào sọt rác lịch sử.

7) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ bị đe dọa trước sự mất ngôi tổng thống vào tay kẻ ngoại đạo như Donald Trump, bọn chính trị gia thậm chí dám nghi ngờ tính hiệu quả của mô thức đại cử tri, dám phát ngôn xem trọng cái phiếu phổ thông của nhân dân trong khi chính Hiến Pháp Mỹ và chính bọn chúng chưa hề xem trọng phiếu phổ thông ấy nhiều trăm năm qua, đang ra sức làm tổn hại đến uy danh của tân tổng thống Donald Trump bằng cách lịnh cho Barack Obama nhanh chóng phá thối bằng cách cho ra những quyết định gây hấn với Israel và Nga, v.v., nhằm đặt Donald Trump vào sự đã rồi, và biết đâu sẽ làm tổn hại đến sinh mạng của Donald Trump chỉ vì người dân dám dồn phiếu cho người mà Đảng Cộng Hòa sở dĩ phải chọn làm ứng cử viên vì (a) Đảng không còn ai khác, (b) đương nhiên tổng thống sẽ là Hillary Clinton đúng theo kế hoạch, và (c) Donald Trump sẽ trở thành một tên hề giúp minh chứng rằng nhân dân Mỹ chỉ tin cậy các chính trị gia tinh hoa chuyên nghiệp mà thôi.

8) Như vậy, khi nền dân chủ Hoa Kỳ không giống ai và không ai giống, sẽ không bất kỳ ai ở Mỹ có quyền nói về các phạm trù kỳ vĩ như tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền của bất kỳ nước nào khác – ngay cả xứ sở Triều Tiên.

Do tất cả 8 lý do trên, nền dân chủ Hoa Kỳ mang tính cách và bản chất của một lề luật đảng cướp: tất cả phải là của “ta”, “ta” tức là thành phần chính khách tinh hoa của Dân Chủ hay Cộng Hòa, và nhân dân chỉ có quyền làm chủ đất nước khi theo lịnh “ta” trao lá phiếu bầu cho “ta” và chỉ cho “ta”..

Vì tính cách và bản chất đảng cướp trên, nền dân chủ Mỹ là nền dân chủ đạo tặc.

Người dân Mỹ không làm chủ nhân đất nước Hoa Kỳ. Chỉ có bọn đạo tặc đã và đang làm chủ của cái nền dân chủ ấy.

Vì vậy, Mỹ chỉ có nền tặc chủ.

Tiếng Mỹ của nền tặc chủ là Demopiracy.

Còn Democracy Mỹ như họ thường rêu rao hoặc lầm tưởng là lý tưởng kiểu mẫu cho toàn nhân loại thì họ đã tự lột mặt nạ Democracy trước Donald Trump và ném vào trong vật dụng tiện ích dưới gầm bàn này:

demopiracy

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Ghi chú/Note:

Demopiracy do tác giả bài viết này tạo nên. Không áp dụng tác quyền.

The coinage of Demopiracy is by the author of this article and for absolutely free use worldwide.

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People November 14, 2016

Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền March 11, 2016

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ March 24, 2014

Chính Trị January 14, 2016

Bài Viết Mong Được Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng Biết Đến: Đảng Loạn

How the Due Process of Proud Choice Turns into a Turmoil of Devastating Shame

Vì Sao Một Quy Trình Vinh Diệu Biến Thành Sự Hỗn Loạn Nhục Ô

Hoàng Hữu Phước, MIB

Chính Trị Gia (Nghị-sĩ Quốc-hội Việt-Nam Khóa XIII)

14-12-2016

tay-nam-bo%cc%a3-2

Một hai tuần qua dấy lên sự việc của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ (gọi là “Cần Thơ” do cơ quan Đảng tọa lạc tại Cần Thơ, hoặc đối với dân Nam Bộ rặt thì “Hậu Giang” luôn là “Cần Thơ” vì Cần Thơ đã từng thuộc Hậu Giang, cũng như khi khen người Quảng Nam chân chất cũng có nghĩa gồm luôn người Đà Nẵng vậy) có liên quan đến cái tên Vũ Minh Hoàng.

Phải ghi rõ là “lãnh đạo Đảng” Cần Thơ vì (a) bản thân người dân Cần thơ không có lỗi gi cả; (b) nếu như cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh là quan tâm duy chỉ đến tự chủ đặc thù thì cái độc quyền của lãnh đạo Đảng ở Cần Thơ lại là sự quan tâm đến duy chỉ tận dụng quy trình để hủy phá hệ thống; (c) lãnh đạo Đảng ở các tỉnh khác của Miền Tây dưới quyền Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thì không như vậy; và (d) có sự trùng hợp ở mức độ tầy huầy tại Cần Thơ – như vụ Trịnh Xuân Thanh và nay là Vũ Minh Hoàng – nên dù theo công tâm mà nói kỳ này của Vũ Minh Hoàng thì do Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ gây ra nhưng có dính trực tiếp đến địa phương Cần Thơ nên có manh nha cơ sở cho một ngờ vực rằng hoặc đã có sự càn quét bất trị của virus “xin đích danh” của Cần Thơ tác động đến Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoặc do chính Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã “chỉ đạo” Cần Thơ phát huy truyền thống “xin đích danh” để Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tiếp nhận một hậu duệ thế gia vọng tộc của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

Đồng thời, do có vài động thái trong giới báo chí chính thống dường như đang từ bi ra tay “cứu bồ” hoặc “viết theo chỉ đạo” hoặc “viết theo thuê mướn” nên đã có những thủ thuật phỏng vấn bằng cách dâng tặng mớm sẵn “bày cách  trả lời” – một biến cách biến thể biến dạng biến hình của thủ thuật “nét chữ vào mồm” như trường hợp nhét “dân trí thấp” vào mồm Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong đại biến “Luật Biểu Tình” 2011 khiến nghị sĩ ấy đột nhiên thành tên miệt thị nhân dân – nay biến Vũ Minh Hoàng đột nhiên thành đấng thánh nhân tài ba tột đỉnh của dân tộc “biết nhiều thứ tiếng, đẳng cấp tiến sĩ, không chịu làm việc ở nước ngoài”, tác giả bài viết này buộc phải có ý kiến để giúp Đảng, giúp nước, giúp dân, và giúp giữ gìn chân lý trước nguy biến Đảng Loạn đã hiện rõ vì Loạn Đảng đã lộ chân tướng.

Đảng Loạn vì có đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hoàn toàn mất kiểm soát, bị lừa bởi đảng viên cấp cao khác cũng của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mạo danh, mạo nhu cầu, mạo quy trình, mạo thủ tục, mạo hồ sơ, mạo hào quang, để đưa người lạ vào tổ chức cao cấp của Đảng, biến Đảng thành một thành trì khổng lồ vững chắc kiên cố hoàn toàn không có hào nước, không có hào chông, không có cổng, không có cửa, không có lỗ châu mai, không có đạn trong súng, và không có cả lính canh.

Loạn Đảng vì đảng viên cấp cao của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ chà đạp nguyên tắc tổ chức của Đảng, tự biến thành loạn thần tặc tử, tức thành phần cần và đủ cho một Loạn Đảng để chống lại Đảng. Những ai cho rằng một đảng viên Cộng Sản cấp cao làm Đảng Cộng Sản ô danh do “nôn nóng” không phải là trọng tội nên không nhất thiết phải khai trừ khỏi Đảng thì bảo đảm họ đích thị là những đồng bọn của hoặc đồng tình với Loạn Đảng nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Việt Nam.

A- Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ Là Cái Gì?

1- Các Ban Chỉ Đạo: Vai Trò Lịch Sử Hiện Đại

Rất ít người trong xã hội loài người hiện đại chưa từng biết rõ rằng chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết kinh tế.

Được thúc đẩy bởi sự thành công vượt bậc trong xây dựng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nghiệt ngã của tự lực cánh sinh lọt thỏm trong thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu của các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng nhà đất, khủng hoảng ngoại hối, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tín dụng v.v. trên toàn thế giới tư bản trong thập niên đầu tiên của Thế kỷ XXI, cùng với sự đón bắt những thời cơ mới của hội nhập và hợp tác quốc tế, hòa chung nhịp phát triển kinh tế tăng cường ổn định chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khoanh ba vùng chiến lược rốn quốc gia, hình thành các Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên (năm 2002), Ban Chỉ Đạo Tây Bắc (2004), và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ (2004), để chỉ đạo, quản lý, giám sát các tỉnh của ba khu vực này, trong tham mưu cho Bộ Chính Trị của Đảng về phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh chính trị và xây dựng chiến lược quốc phòng của ba vùng.

Những đảng viên cao cấp lãnh đạo quốc gia tuyệt đại đa số nhất thiết phải xuất thân từ chiếc nôi quyền lực lãnh đạo các Ban Chỉ Đạo quan trọng đa năng thuộc Bộ Chính Trị này để từ đó tiến vào Bộ Chính Trị mà những cái tên quen thuộc như các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Văn Bình ở Ban Chỉ Đạo Tây Bắc; Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Trần Đại Quang, Tô Lâm ở Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên; và Nguyễn Sinh Hùng, Vương Đình Huệ ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ. Không có tầm quản lý vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia thì không thể lãnh đạo quốc gia. Đã ở vị trí lãnh đạo thành công vùng chiến lược trọng điểm của quốc gia tất có tầm vóc quản lý cả quốc gia. Đã có tầm vóc quản lý cả quốc gia tất có một tỷ lệ nhất định cơ hội lãnh đạo cả quốc gia. Đây là sự đơn giản trường kỳ tuần tự tiệm tiến vững chãi của những lãnh đạo là danh nhân nước Việt của thời đại Thế Kỷ XXI như Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, và Nguyễn Xuân Phúc.

Từ đó suy ra bài học dành cho tất cả những kẻ hậu sinh khả ố thời hiện đại là: đại kế để trèo lên cao nhất, nhanh nhất, chắc chắn nhất trong hàng ngũ lãnh đạo quốc gia là phải bằng mọi giá nhảy vọt chen ngang ngay lập tức vào hàng ngũ lãnh đạo tại một cơ quan “dưới một người, trên cả vạn người” như Ban Chỉ Đạo, quyết không để mất ghế làm một lãnh đạo trong một Ban Chỉ Đạo vào tay kẻ khác mà số lượng đang rất đông cũng đang áp dụng chiêu trò ào ạt kiếm bằng cấp nước ngoài và chạy chọt chen ngang như mình. Đơn giản hơn theo hướng phản luận đề của trứng-cho-ra-gà và gà-cho-ra-trứng: chỉ cần ở ghế cao trong một Ban Chỉ Đạo là tự nhiên có tầm vóc quản lý cả quốc gia để quản lý cả quốc gia. Đây là sự đơn giản đi tắt đón đầu của những búp bê nhựa tái chế Vũ Minh Hoàng trong thời đại Thế kỷ XXI.

2- Các Ban Chỉ Đạo: Các Chính Phủ Trong Đảng

Tuy nhiên, mô hình các Ban Chỉ Đạo của Bộ Chính Trị có đầy đủ các ban bệ như Vụ Kinh Tế, Vụ Văn Hoá – Xã Hội, Vụ An Ninh – Quốc Phòng, Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo, và Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị, dưới quyền các Vụ Trưởng và Vụ Phó, lại cho thấy có những vấn đề mang tính vấn nạn hiệu quả của cơ cấu tổ chức của Đảng.

Trong thực tế, tổ chức của Trung Ương Đảng Cộng Sản đã sẵn có riêng các Vụ Kinh Tế Tổng Hợp, Vụ Xã Hội, Vụ Công Nghiệp, Vụ Nông Nghiệp – Nông Thôn, và Vụ Địa Phương. Tất nhiên, các Vụ này cũng phải có sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó.

Như vậy, với việc

(a) Chính Phủ có rất nhiều Bộ, mỗi Bộ có rất nhiều Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa;

(b) Trung Ương Đảng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó cùng một vai cơ quan ngang-Vụ dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; và

(c) Bộ Chính Trị có 3 Ban – mỗi Ban cũng có 5 Vụ dưới sự nắm quyền của các vị Vụ Trưởng và Vụ Phó toàn là đảng viên giới tinh hoa tuy không hoàn toàn giống nhau ở 100% lĩnh vực hay tên gọi, cùng một vài cơ quan ngang-Ban cũng dưới sự nắm quyền của toàn các đảng viên giới tinh hoa; thì

hoàn toàn không rõ “vụ trưởng” nào cao hơn “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào chỉ đạo “vụ trưởng” tương tự nào, “vụ trưởng” nào quyết định chiếc ghế “vụ trưởng” tương tự cho “vụ” tương tự ở cơ quan quyền lực khác, và quyền lợi/phúc lợi/chế độ của “vụ trưởng” nào hơn “vụ trưởng” tương tự ở cơ quan quyền lực khác.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Như Nhau thì quả thực cơ chế tổ chức của Đảng đã biến thiên thành Tam Đầu Chế tức cơ quan quyền lực nào cũng có “chính phủ” riêng: Cơ Quan Chính Phủ Trong Trung Ương Đảng, Cơ Quan Chính Phủ Trong Bộ Chính Trị, cùng tồn tại với Cơ Quan Chính Phủ trong Chính Phủ, hình thành môi trường đầy dẫy xung đột quyền năng, đầy tràn xung đột quyền lực, đầy ngập xung đột quyền lợi, đầy đủ xung đột hiệu năng, đầy ắp xung đột cơ chế, và đầy nghẹt xung đột quy trình.

Nếu câu trả lời cho những nội dung “không rõ” nêu trên là Khác Nhau thì quả thực đã có sự bất lực của tổ chức guồng máy theo kiểu tài tử vô tư vô tâm vô bài bản, hoặc không chuyên nghiệp, hoặc bán chuyên nghiệp. Cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” dậy sóng quan liêu như của Mỹ tương tự như hàng tỷ chi tiết “khác nhau” để vận hành một con tàu vũ trụ trên đường vượt Thái Dương Hệ đến Hỏa Tinh. Còn cơ chế cực kỳ phức tạp “khác nhau” không chút lăn tăn quan liêu như của Việt Nam hiện nay tương tự như một chiếc xe ô-tô con 3 chỗ dài 3 mét sơn 3 màu mang 3 nhãn hiệu khác nhau có 3 bánh xe kích cỡ khác nhau, 3 bánh lái vô-lăng khác nhau, 3 côn ly-hợp khác nhau, 3 phanh chân khác nhau, 3 phanh tay khác nhau, 3 bàn đạp ga khác nhau, xài 3 thứ nhiên liệu hiện đại khác nhau của pin-mặt-trời/xăng-hóa-thạch/điện-sạc, do 3 chủ nhân điều khiển khác nhau cùng vận hành cổ xe ấy chạy trên đường vượt Đê La Thành đến Hỏa Lò.

Tất cả, dù Như Nhau hay Khác Nhau, đều dẫn đến một cơ may và một thảm họa.

Cơ may là khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, giúp Đảng nhận ra ngay các bất phù hợp để điều chỉnh hợp lý hóa và thải loại các bất khả phù hợp để Đảng hầu hình thành những best practices tức phương cách thực hành tốt nhất của đẳng cấp ưu thế vốn được tôn tạo từ sự thường xuyên hoàn thiện và/hay không ngừng cải thiện.

Thảm họa là ngay cả khi sự rối rắm đan xen dễ dàng phơi bày lồ lộ các yếu điểm khi các xung động của thời gian, thời cuộc, thời cơ, thời thế, và thời vận làm cho bị bóc tách, mà Đảng vẫn thản nhiên duy trì trong hệ thống tổ chức của Đảng những điểm bất phù hợp cùng những điểm bất khả phù hợp khiến liên tục tạo ra những sự việc như Trịnh Xuân Thanh ở Cần Thơ và mới đây nhất là Vũ Minh Hoàng cũng ở Cần Thơ.

B- Tham Gia Chính Trị

1- Các Vấn Đề Chính Trị Cơ Bản

Việt Nam có hai vấn nạn trầm kha về con người đối với (a) giáo dục/đào tạo và (b) chính trị.

Nền giáo dục/đào tạo dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, tức hướng đến (a) non-stop tức không bao giờ có điểm dừng của học hành mở mang trí hóa và truyền thụ tri thức, và (b) thành phẩm “con người” human beings chứ không phải mục đích là tạo ra “người ngợm” ape-like beings.

Một con người được thụ hưởng – và thụ hưởng thành công – một nền giáo dục/đào tạo hiệu quả hướng đến tầm trí hóa cao hơn, cao hơn nữa, cao hơn mãi, đặc biệt nếu thực sự đã học hành đàng hoàng và thành công khi đi du học ở một trường đại học thực sự danh tiếng Âu Mỹ sẽ có năng lực đồng bộ đồng nhất về bốn nội dung sau của “chính trị”:

(a) Hiểu Biết Toàn Bộ Ý Nghĩa Của Chính Trị:

i- Chính trị tức politics không chỉ là nắm quyền trị quốc như tuyệt đại đa số người Việt lầm tưởng khiến chỉ nghĩ đến “làm chính trị” như nắm quyền lực quốc gia. Politics hiển hiện mọi lúc mọi nơi mọi lĩnh vực mọi khía cạnh của đời sống kể cả chỉ trong nội bộ một doanh nghiệp bất kể nhỏ bé đến đâu chăng nữa. Như vậy, chưa hề làm politics tức làm việc thật sự về quản trị chuyên môn thì không thể làm chính trị. Sự đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ của Donald Trump chỉ là một ngạc nhiên đối với những ai tuân theo sự mặc định lệch lạc bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở công ty luật tư nhân rồi tiến vào nghị viện) chứ không là sự ngạc nhiên đối với những bậc đại trí tuân theo quy luật đúng đắn bất di dịch (rằng làm chính trị phải xuất thân từ quá trình dài lâu làm politics ở doanh nghiệp tư nhân nói chung). Vũ Minh Hoàng có đã làm politics dài lâu tại những đâu mà lại được đưa vào hệ thống làm chính trị quốc gia?

ii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải trước hết tuyệt đối tuân thủ Hiến Pháp mà Hiến Pháp không bao giờ chấp nhận sự ngự trị của bất tài vô hạnh tham quyền tiêu cực chạy vạy chạy tắt. Vũ Minh Hoàng có đã chạy vạy chạy tắt vi phạm Hiến Pháp hay không?

iii- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải biết rằng theo thực hành thường xuyên tốt nhất của các nền dân chủ toàn cầu trong thời điểm hòa bình thì việc “làm chính trị” tất yếu phải qua con đường nghị viện: phải trở thành nghị sĩ – nghĩa là phải có danh tiếng về chuyên môn, có công trình về chuyên môn, có công trạng về chuyên môn, có sự nổi bật chung để được công chúng biết đến rồi từ đó nhận được phiếu bầu của công chúng ấy khi ra ứng cử hoặc được đề cử ứng cử. Vũ Minh Hoàng được bao nhiêu chục người dân biết đến tại Tây Nam Bộ mà được cho chen vào tắt trên bước đường “làm chính trị”?

iv- Chính trị đòi hỏi người “làm chính trị” phải có kiến thức – và thể hiện được bằng hùng biện và thắng tranh biện – về những đề tài “chính trị”, chẳng hạn về từng trong số gần 20 hệ thống chính trị, về việc trong gần 50 loại hình dân chủ thì Việt Nam loại dân chủ nào và vì sao trong các cuộc chiến tranh khủng khiếp giữa các nền dân chủ thì người ta không liệt kê Việt Nam vào danh mục các cuộc chiến tranh giữa Mỹ với các nước khác suốt chiều dài lịch sử của Hoa Kỳ, và về khả năng hùng biện tất cả các nội dung của Hiến Pháp Việt Nam trong đó có vị trí của Đảng Cộng Sản Việt Nam và đường hướng chính trị của đất nước mà người “làm chính trị” bắt buộc không những phải có mà phải ở đẳng cấp cao nhất trong tranh biện ý thức hệ và luật pháp trực tiếp với nước ngoài và bằng tiếng nước ngoài. Vũ Minh Hoàng có dám tranh biện bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt với tác giả bài viết này về tất cả các vấn đề chính trị để khẳng định năng lực và năng lượng “làm chính trị”?

Như vậy, các lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có đã hiểu hết ý nghĩa của politics, có biết người “làm chính trị” phải nắm hết các nội dung trên, và có biết nhân vật Vũ Minh Hoàng “muốn làm chính trị từ nhỏ” ấy đã hiểu biết ra sao về “làm chính trị” hay chưa mà lại khinh miệt dân tộc bằng cách giao “chính trị” cho đứa hài nhi ấy “làm”?

(b) Có Thái Độ 1 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong thực sự hiểu rõ nhân vật hay các nhân vật mình sẽ chọn bỏ phiếu bầu cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương, thực sự có hiểu biết trách nhiệm bản thân trong việc bỏ phiếu bầu cử, thực sự có hiểu biết rằng nhân vật hay những nhân vật mình đã bỏ phiếu bầu cử sẽ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với mình, với “nhóm” mình, với địa phương mình.

(c) Có Thái Độ 2 Đối Với Chính Trị: thực thi quyền lực dân chủ trong tự ứng cử vào Quốc Hội và chính quyền địa phương với sự hiểu biết thực sự về trách nhiệm bản thân trong tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp và nếu là nghị sĩ có trách nhiệm đối với toàn dân chứ không phải với “nhóm” mình và với địa phương mình.

(d) Có Thái Độ 3 Đối Với Chính Trị: hiểu biết rằng mỗi khi có ai phát ngôn “không quan tâm đến chính trị” thì đó dứt khoát là người hoặc chống Cộng, hoặc không còn năng lực tâm thần, hoặc trọn đời sống bám, hoặc chưa từng được giáo hóa về ba điểm a và b và c nêu trên – vì rằng ngay cả người làm việc cơ mật như tình báo hay gián điệp cũng không bao giờ ngu dại tuyên bố kiểu tạo vỏ bọc đầy lộ liễu trước các tình báo viên lão luyện rằng “tôi không quan tâm đến chính trị”.

Hãy lấy công tâm mà nhận định cũng như hãy lấy thực tế từ bản thân đảng viên cốt cán, từ lực lượng hậu bị của Đảng, từ giới trí thức do Đảng “bảo bọc”, từ giới trí thức “tự túc”, từ giới tinh hoa bậc nhất của khoa giáo và truyền thông chính thống để chứng minh và khẳng định đã có hay chưa ai hay những ai trong tất cả các lực lượng này đã từng biết đến bốn điều a và b và c và d về chính trị kể trên. Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ sau khi nhuần nhuyễn về Chủ Nghĩa Cộng Sản, Chủ Nghĩa Mác-Lenin, và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, nắm vận mệnh quốc gia dân tộc, leo lên đỉnh cao quyền lực trong  Trung Ương Đảng và vào Ban Chỉ Đạo, lại tự tung tự tác tự ý sản sinh ra những hài nhi chính trị như Vũ Minh Hoàng, tự tung tự tác tự ý đặt những hài nhi ấy vào ngôi cao lãnh đạo để tái tạo các phiên bản tép riu nội địa Trịnh Xuân Thanh phá hoại thanh danh Đảng Cộng Sản Việt Nam hoặc cho ra phiên bản loại tôm càng nhập khẩu Mikhail Gorbachev đặt dấu chấm hết cho quốc hiệu Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam.

Sẽ không ngoa nếu có kẻ chống Việt muốn tiêu diệt Đảng Cộng Sản lập luận rằng – mà không bất kỳ ai trong toàn Đảng kể cả tác giả bài viết này luôn ra sức bảo vệ Đảng có thể hùng biện chống lại – Trung Ương Đảng đang phó mặc buông xuôi cho các Ban Chỉ Đạo sử dụng quyền lực tối cao để tự quyết đội ngũ vây cánh, tự chủ tài chính, và tự lập lãnh địa hùng cứ một phương chờ ngày ly khai tam tứ ngũ lục phân thiên hạ.

2- Cải Cách Giáo Dục: Học Là Cái Gì? Du Học Là Cái gì? Bằng Cấp Là Cái Gì?

Không những lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mà cả Vũ Minh Hoàng đều không hiểu biết về giáo dục & đào tạo, về ý nghĩa của việc học, về lý do của du học, và về giá trị của các đẳng cấp của bằng cấp.

Do nội dung này đã được viết về rất đầy đủ như trong đường link được cung cấp ở phần tham khảo bên dưới, các điểm chính ngắn gọn sau được nêu lên để báo nguy về sự sụp đổ của tư duy giáo dục & đào tạo của Đảng:

a) Con người nhất thiết phải có lòng tự trọng

b) Vì lòng tự trọng, người ta học chữ hoặc học nghề để có thể tạo lập cuộc mưu sinh

c) Khi điều kiện tự túc có thể đáp ứng được, người tự trọng đi du học vì muốn tiếp cận ngành học không sẵn có ở Việt Nam, tiếp cận cách học hiệu quả để tự phát triển và nhằm áp dụng phương pháp mới lạ ấy vào sự đầu tư cho sự nghiệp chuyên môn của mình, tiếp cận nguồn tài liệu và nguồn giảng viên cao cấp hơn ở Việt Nam, và tiếp cận các cơ hội khác dù là tạo cơ sở tiếp cận các học bổng khác hay đơn giản chỉ để tiếp cận cơ hội việc làm cho một kế sinh nhai. Không ai có trí tuệ mà lại cho rằng đi du học là để có bằng cấp có giá trị hơn bằng cấp của Việt Nam vì đó là lập luận của kẻ bất tài vô hạnh chỉ có thể đi tìm việc tại Việt Nam ở các doanh nghiệp không quan trọng hoặc ở các cơ quan quyền lực mà điển hình là Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

d) Vì mục đích mở mang kiến thức giúp cho cuộc mưu sinh ít đi những khó khăn, người ta học nhiều hơn, chăm chỉ hơn, tập trung đúng năng lực trí tuệ và tài chính hơn, và theo đúng sở thích hơn cũng trên cơ sở năng lực trí tuệ và tài chính

e) Vì phục vụ sự học cao hơn đáp ứng một nhu cầu cụ thể và yêu cầu cụ thể của công việc chuyên môn, người tự trọng sẽ tự lo liệu thu xếp để đạt được đẳng cấp “thạc sĩ” để làm quen với việc nghiên cứu rộng hơn, làm quen với việc hợp tác nhóm qua đó lãnh đạo dự án nhỏ của nhóm và lãnh đạo nhóm, làm quen với việc đưa những kinh nghiệm thực tế làm politics ra trao đổi với các bạn trong nhóm, mà tất cả những động tác nghiên cứu, làm việc nhóm, làm dự án, quản lý công việc từ chương trình thạc sĩ sẽ giúp người đạt đẳng cấp ấy sẽ làm politics tốt hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu cao hơn của nơi thuộc kế sinh nhai ấy.

f) Chỉ với năng lực vượt trội về chuyên môn, thói quen nghiên cứu hàn lâm, kèm với khát khao theo con đường trở thành một nhà nghiên cứu và giảng dạy đại học, người ta sẽ cố đạt trình độ một tiến sĩ.

Vũ Minh Hoàng học lung tung, học không cần hành (học một lèo không cần thời gian tối thiểu bao nhiêu năm làm việc sau tốt nghiệp đại học để đủ tiêu chuẩn học thạc sĩ, vốn là kiểu học truyền nhiễm từ Đông Nam Á hủy phá chất lượng đào tạo toàn bộ các đại học lừng danh Âu Mỹ) và học tiến sĩ vì “làm chính trị” có bằng tiến sĩ sẽ được coi trọng hơn.

Giáo dục, do đó, phải cải cách. Điều quái gở là đã có những đại cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam nhưng tất cả đều chưa bao giờ là cải cách, khiến “con người mới xã hội chủ nghĩa” vẫn chưa hề được sinh ra kể từ 30-4-1975, khiến lạm phát số lượng “trí thức trẻ”, gia tăng số lượng thạc sĩ/tiến sĩ trên báo cáo số liệu của Việt Nam chứ không trên bản đồ tri thức của thế giới, khiến Vũ Minh Hoàng cắm đầu đi học một lèo lấy tiến sĩ chỉ vì thích làm chính trị từ nhỏ, và khiến lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nghĩ rằng:

– Đầu tư có nghĩa là chỉ cần đưa mấy anh Nhật đem tiền về Cần Thơ, bất kể sự thật là nhà đầu tư Nhật phải sinh lời trên điều kiện tiên quyết Cần Thơ phải hy sinh môi trường Cần Thơ, “đất vàng” Cần Thơ, phúc lợi Cần Thơ và cuộc sống Cần Thơ, bất kể sự thật là Cần Thơ chẳng còn gì về “nông nghiệp” để Vũ Minh Hoàng đưa luận án tiến sĩ phát triển nông nghiệp vào cuộc sống Cần Thơ, đưa mấy công ty nông nghiệp Nhật rót tiền vào Cần Thơ không biết để làm gì, bất kể sự thật là những nhà đầu tư nước khác nếu quan tâm đến Cần Thơ buộc phải tránh Cần Thơ do biết Vũ Minh Hoàng được ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cho cắm dùi ở Nhật sẽ thiên vị Nhật Bản, bất kể sự thật là Vũ Minh Hoàng theo con đường “làm chính trị” đúng quy trình nên sẽ sớm chia tay Cần Thơ để  trấn nhậm làm lãnh đạo Tỉnh Ủy ở tỉnh khác rồi từ đó tiến vào Chính Phủ kể cả Bộ Chính Trị, khiến hậu duệ của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại sẽ phải noi gương tiền bối tiếp tục “nôn nóng” chèn ngang đứa hài nhi biết tiếng nước ngoài sắp có bằng cấp tiến sĩ vào làm Vụ Trưởng.

– Vũ Minh Hoàng nhất thiết phải có danh phận để trấn nhậm ở Nhật cuốn hút đầu tư Nhật; song, trước thực tế là luôn luôn có các “bằng cấp hữu nghị” tức không dựa trên thực tài thực lực học hành mà chỉ để tạo điều kiện hình thành tầng lớp lãnh đạo thân mình như Liên Xô cấp cho giới tinh hoa Miền Bắc (nên không có công trình nghiên cứu khoa học nào hữu dụng), Mỹ cấp cho giới tinh hoa Miền Nam (nên tất cả các lãnh đạo giáo dục Sài Gòn đều kém tiếng Anh so với tác giả bài viết này), và Fulbright cấp cho giới tinh hoa dự kiến của Việt Nam (nên đa số phơi bày chống Cộng chứ không trình bày trí tuệ chuyên môn), nên việc phong hàm vụ trưởng/vụ phó cho Vũ Minh Hoàng sẽ đồng nghĩa với việc Nhật sẽ cấp bằng cấp hữu nghị cho Vũ Minh Hoàng, biến Vũ Minh Hoàng thành chức sắc Việt Nam đem lại lợi nhuận và quyền lợi cho Nhật Bản.

3- Cải Cách Tiêu Chuẩn: Tiêu Chuẩn Là Cái Gì?

Vũ Minh Hoàng tuyên bố trình độ văn bằng của y là đáp ứng tiêu chuẩn.

Lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải trả lời bằng văn bản cho Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước câu hỏi: quy định nào của Đảng ghi rằng Học không cần Hành, rằng bằng tiến sĩ không để nghiên cứu chuyên môn phục vụ phát triển kinh tế quốc dân mà để làm chính trị như cách để buộc các chính khách chính đảng nước ngoài phải cung kính “Thưa Tiến Sĩ” khi nói chuyện với đảng viên cao cấp Việt Nam?

4- Cải Cách Tham Gia Chính Trị: Tham Gia Chính Trị Là Cái Gì?

Thời đại mới của Việt Nam đòi hỏi những tư duy mới.

Tư duy mới không phải là về thể chế chính trị vì trên toàn thế giới bất kỳ sự đi ngược lại Hiến Pháp quốc gia đều là trọng tội, phản động, và phản quốc.

Tư duy mới phải theo thông lệ áp dụng toàn cầu: làm chính trị bắt đầu từ vai trò nghị sĩ Quốc Hội, vì rằng để trở thành nghị sĩ thì bản thân một người phải có trình độ học vấn, quá trình công tác chuyên môn, danh tiếng và uy tín với cộng đồng, và đặc biệt là được cử tri đặt vào tay người ấy trọng trách “làm chính trị”.

Theo tư duy mới ấy, sự tích cực sẽ được nâng cao tột đỉnh vì người dân có tài sẽ không phải chịu khuất thân dưới quyền quản lý của người khác chỉ vì người khác ấy có khả năng “học một lèo không cần làm lụng kiếm tiền lương nuôi thân với tư cách người tự trọng, có ô dù chở che tạo điều kiện chen ngang của thế gia vọng tộc tinh hoa của Đảng.

Từ tư duy mới nói trên, tầm vóc uy tín tuyệt đối của Đảng sẽ được nâng cao tột đỉnh vì

– Người công dân là chủ thể đích thực của nền dân chủ Việt Nam nên dù ngoài Đảng cũng không thể bị tập thể khác trong Đảng độc quyền làm lãnh đạo đại cuộc phát triển quốc gia;

– Người công dân là đối tượng đích thực của sự phục vụ của Đảng nên dù ngoài Đảng cũng không thể chỉ ở vị trí phục vụ những đảng viên được ưu ái chọn sẵn;

– Người công dân là đối trọng đích thực với Đảng tức trên cở sở và nền tảng của sự ngang hàng về vị thế, ngang bằng về sự kính trọng, và công bằng về quyền lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân, vì rằng việc chiến đấu hy sinh trên chiến trường khi nổ ra chiến tranh là của người công dân được tổng động viên chứ không phải của Đảng viên trong quân đội hay con em của các Đảng viên, vì rằng việc lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân là của người công dân yêu nước có năng lực cao chứ không phải họ tiếp tục luôn lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân để những đảng viên được ưu ái chọn sẵn làm lãnh đạo họ để hưởng thụ ngôi cao quyền trọng từ thành quả lao động học tập sản xuất cống hiến vì nước vì dân của người dân ngoài Đảng; và

– Từ những lý do trên, việc “làm chính trị” là quyền của các công dân gương mẫu, nhiều thành tích, tuyệt đối tôn trọng Hiến Pháp, bảo vệ thể chế chính trị Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và được đắc cử minh bạch danh chính ngôn thuận vào Quốc Hội, từ đó tham chính, nghĩa là theo quy trinh tuyệt đối đúng của thời bình theo đó “Nghị sĩ (làm chính trị) ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức Chính Phủ (tham chính)“, chứ không phải theo quy trình thời loạn bấy lâu nay của “Đảng viên ==> Quan chức địa phương ==> Quan chức trung ương (tham chính) ==> Quan chức Chính phủ (làm chính trị) ==> Nghị Sĩ“.

C- Vũ Minh Hoàng Muốn Là Được

Vũ Minh Hoàng tuyên bố từ nhỏ đã muốn tham gia chính trị.

Bất kỳ đứa bé thần kinh khỏe mạnh nào cũng nghĩ đến việc mình sẽ làm tổng thống.

Cái ý nghĩ ấy bắt đầu biến mất ở đa số đứa bé nào phát triển khỏe mạnh lên “tuổi teen”.

Phát triển khỏe mạnh ở “tuổi teen” nghĩa là hoặc bận rộn với tình cảm yêu đương, hoặc ý thức về những khó khăn trong cuộc sống gia đình với cha mẹ cùng các em mà mình là một thành viên nhỏ bé có ý thức trách nhiệm.

Tình cảm yêu đương khiến đứa bé không còn bé ấy miệt mài lặn ngụp với mộng mơ, xóa sạch cái việc “làm tổng thống” đã không còn là quan trọng cho cuộc đời.

Ý thức về trách nhiệm trước cuộc sống khó khăn của gia đình khiến người tuổi teen trưởng thành trước tuổi, nhận ra cuộc đời rất khó để có màu hống, và cái chính trong đời sống trở thành sự dằn vặt giữa sự tiếp tục lao vào miệt mài học tập để có được một kế sinh nhai có lý hơn và sự quyết định phải hy sinh việc học tìm một kế sinh nhai cụ thể hơn.

Những quá trình mang tính hành trạng tư duy ấy khiến người trẻ tuổi nhận ra giá trị của thực tế, và cái ước mơ “làm tổng thống” (tức “làm chính trị”) trở nên không bao giờ còn tồn tại hay được xem có giá trị theo đuổi hơn thu nhập cao và cao hơn. Chưa kể, trẻ em Mỹ dần nhận ra rằng không trở thành nghị sĩ giàu có và nổi bật nhất của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ; còn trẻ em Việt Nam dần nhận ra rằng không là đoàn viên cao cấp sẽ không thành đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà không là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì sẽ không thể có 0,001% cơ hội trở thành lãnh đạo Việt Nam.

Từ đó suy ra, việc Vũ Minh Hoàng vẫn còn duy trì ước mong từ nhỏ “tham gia chính trị” sẽ đồng nghĩa với việc:

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nâng niu ưu ái vẫn còn là đứa bé

– Nghiên cứu sinh tiến sĩ Vũ Minh Hoàng được Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trao cho trọng trách chiến lược phát triển đầu tư kinh tế khu vực vẫn là unfinished person tức (a) người chưa trưởng thành do chưa từng yêu đương ai mơ mộng đến ai; (b) người không hấp dẫn về tính cách hào hiệp bản lĩnh do chưa từng được ai yêu đương; (c) người vô trách nhiệm do chưa từng bận tâm cho một công việc có thu nhập để phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhu cầu sống của gia đình, hay nhu cầu làm việc thiện của bản thân và gia đình; và (d) không có định hướng trí tuệ mà chỉ có mưu đồ “tham gia chính trị tắt” tức kiểu bị khinh miệt của political shortcutism như minh chứng của nỗ lực lấy Cử Nhân Chính Trị Quan Hệ Quốc Tế không để xin làm nhân viên Bộ Ngoại Giao, lấy Thạc Sĩ  Phát Triển Quốc Tế không để xin làm nhân viên phục vụ cơ quan Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, lấy Thạc Sĩ Hành Chính Công không để làm giảng viên đại học bộ môn này hay để xin làm công chức phục vụ cho Đảng trong đại cuộc cải cách hành chính quốc gia vốn đang dẫm chân tại chỗ, và đang chờ lấy Tiến Sĩ Kinh Tế không vì theo sự nghiệp nhà nghiên cứu hàn lâm mà muốn dựa hơi Khoa chủ quản của ngành kinh tế ấy là Khoa Nông Nghiệp để phù hợp với chiếc ghế sẵn có (lãnh đạo một Vụ) ở Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ trên đó có chiêu bài “phát triển Miền Tây Nông Nghiệp” tức có cùng chữ “nông nghiệp” vậy.

Tuổi tác luôn có giá trị của nó:

– Lãnh đạo trẻ tuổi hay chuyên gia trẻ tuổi hoàn toàn thích hợp cho các công việc sáng tạo thích táy máy tay chân như trong ngành liên quan đến công nghệ thông tin hay cơ khí dân dụng;

– Lãnh đạo trẻ tuổi dù quy mô cá thể hay tập đoàn khổng lồ hoàn toàn thích hợp cho các đầu tư kinh doanh tự thân tự túc tự vay tự chịu trách nhiệm của bản thân và/hay gia đình ;

– Lãnh đạo trẻ tuổi không bao giờ thích hợp cho các cơ quan nhà nước mà hoạt động của chúng không liên quan đến kinh doanh/sáng tạo/chế tạo công nghệ thông tin hay cơ khí kỹ thuật dân dụng;

– Một giáo sư toán, một nhà đoạt giải toán quốc tế, một nhà đoạt giải Nobel Hòa Bình, một chuyên gia trưởng phòng NASA xuất sắc có thể trẻ tuổi;

– Một giáo sư giải phẫu, một bác sĩ ghép tạng lừng danh, một nhà đoạt giải Nobel khoa học tự nhiên như Vật Lý/Hóa Học/Y Sinh, một nhà đoạt giải Nobel Văn Học hay Nobel Kinh Tế không bao giờ trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một cuộc cách mạng ở một nước nhược tiểu có thể trẻ tuổi;

– Lãnh đạo một nền chính trị đã vững mạnh không thể trẻ tuổi;

– Các nhà tư vấn chính sách và tư vấn phát triển không bao giờ trẻ tuổi,

– Các nhà quản lý các đế chế kinh tài tư bản thế giới không bao giờ trẻ tuổi.

Lãnh đạo một hoạt động có mang tính chiến lược như “phát triển nông nghiệp Tây Nam Bộ” không thể trẻ tuổi.

Quản lý đại cuộc “kêu gọi đầu tư” không thể giao cho một người trẻ tuổi chưa hề thực sự quản lý công việc, chưa hề thực sự quản lý nhân sự, chưa hề thực sự quản lý phát triển thành quả học tập chuyên môn, chưa hề nhận được sự đánh giá khen-chê của bất kỳ “đồng nghiệp” cùng ngành đào tạo nào, cũng như chưa hề được những cư dân địa phương phó thác vận mệnh biết đến và/hay thán phục.

Vũ Minh Hoàng muốn là được, vì Đảng đã có những thành phần Loạn Đảng muốn làm Đảng Loạn nên sẵn sàng triệt hạ tất cả các nhân-tài-dân-dã để đóng sẵn ghế lãnh đạo cho các tinh-hoa-Đảng ngay cả khi nhân vật “Đảng” ấy chưa – và sẽ mãi mãi không – bao giờ là “tinh hoa”.

Tiếc cho người dân Việt Nam vì con em của họ cũng có những ước mơ –thậm chí ước mơ “tham gia chính trị” như Vũ Minh Hoàng – và cũng có những năng lực – thậm chí còn hơn Vũ Minh Hoàng cả vạn bậc ở chỗ có kinh nghiệm làm việc dồi dào và có nhận thức đúng đắn của cống hiến vì Đảng vì Nước vì Dân chứ không vì Ghế như Vũ Minh Hoàng – lại sẽ mãi ở kiếp nhân viên phục vụ nếu không thuộc gia đình Đảng viên cao cấp.

D- Chính Quyền Cần Thơ Muốn Là Được

1) Cần Thơ Tạo Nên Lịch Sử

Trịnh Xuân Thanh là dấu ấn thành công của Cần Thơ: Cần Thơ mà “xin đích danh ai” là sẽ được. Đây là ưu điểm mà tất cả các tỉnh không thuộc Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ thèm muốn mà không được.

2) Cần Thơ Lập Lại Lịch Sử

Vũ Minh Hoàng lại nổi lên như một nhân vật vì Cần Thơ, chứng tỏ Đảng ưu tiên cho Cần Thơ bằng cách lôi từ trong bóng tối ra giao cho Cần Thơ một nhân tài không-cần-làm-cũng-có-sẵn-kinh nghiệm để “đem đầu tư Nhật về Cần Thơ”. Và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ nhất thiết phải đổi tên thành Ban Chỉ Đạo Tây Đô vì đã bỏ mặc tất cả các tỉnh còn lại của Tây Nam Bộ do không có tỉnh nào có tên mang chữ Tây (du học Tây) và Đô (USD tiền đầu tư) như Cần Thơ.

3) Cần Thơ Rút Kinh Nghiệm Lịch Sử

Rất có thể vì sự thất bại ê chề đầy tai tiếng của việc trực tiếp xin Trịnh Xuân Thanh, phải chăng Cần Thơ đã nhờ Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ xin giúp? Tất cả sẽ tồn tại như một thuyết âm mưu vậy.

E- Phải Hủy Bỏ Triệt Để Và Toàn Diện

Việc dựng xây luôn được tiến hành với nhiều hơn một yếu cầu như (a) xây mới từ nơi lựa chọn mới, (b) đào đắp gia cố lại nền móng, (c) khơi thêm tầng, (d) tháo dỡ bớt tầng, (e) mở rộng diện tích mặt bằng, (f) thu hẹp diện tích mặt bằng, (g) tạo khoảng sân vườn và/hoặc sân trời hay giếng trời, (h) lắp thêm mái hiên, (i) dựng cổng dựng rào, và (j) thay màu ngói hay tường.

Chỉ có kẻ dốt nát tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có người thành công vượt bậc mới đủ sức hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng mới mà dù theo cách nào bản thân vẫn là chủ nhân ông quyền lực duy nhất của gia tài.

Chỉ có bọn thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình phủ nhận sự thật là chỉ có một Đảng chính trị thành công vượt bậc mới đủ sức người sức của sức quản trị để hoặc phá bỏ toàn diện kiến trúc hoặc mua thêm vùng đất mới để xây dựng thêm kiến trúc mới mà dù theo cách nào bản thân Đảng vẫn là lãnh đạo duy nhất của quốc gia.

Chỉ có bọn truyền thông ngu đần thất bại đắng cay tỵ hiềm tủi hổ mới cố tình kiếm tìm chiếc mũ “phản động” để chụp lên đầu tác giả bài viết này, người đã như một tiền lệ kiểu Donald Trump đạp đầu dìm cổ truyền thông chính-thống-bất-chính-đạo xuống bùn nhơ.

Vì vậy, nội dung loại bỏ toàn diện sau đối với các Ban Chỉ Đạo là để sử dụng quyền lực ưu việt có thực của Đảng Cộng Sản Việt Nam biến tổ chức Đảng thành siêu việt.

1) Loại Bỏ Tất Cả Các Ban Chỉ Đạo

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của tất cả các Đảng Ủy Khối, Tỉnh Ủy và Thành Ủy. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc các Đảng Ủy hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm các lĩnh vực xã hội, công tác dân tộc, tôn giáo, công tác xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và tất cả các Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ở tất cả các địa phương. Sự nhập nhằng không cần thiết này sẽ khiến hoặc các Ban Chỉ Đạo hoặc Mặt Trận Tổ Quốc hoặc cả hai đều tích cực làm việc dẫn đến dẫm lên nhau hoặc đều tiêu cực không làm gì cả để tránh dẫm lên nhau.

Khi quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban Chỉ Đạo bao gồm luôn cả lĩnh vực bảo đảm an ninh/quốc phòng, đã có sự chồng chéo, trùng lặp, vì đó cũng là chức năng nhiệm vụ của các Bộ đặc thù, và do đó không bao giờ nên – hoặc không bao giờ có thể – đặt ngoài sự giám quản của Bộ Chính Trị, Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng,  Bộ Công An, và tất cả các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu. An ninh/Quốc phòng phải không được – và không bao giờ được phép – xem như thứ mà quá nhiều cơ quan được nhúng tay vào chỉ vì lý do duy nhất của “cùng là cấp cao ngang hàng của Đảng” nên không chịu mất phần quản lý lực lượng vũ trang để tạo vây cánh riêng.

Từ các phân tích xuyên suốt nêu trên,

trước thực tế

(a) Đảng có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(b) Chính Phủ có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(c) Mặt Trận Tổ Quốc có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(d) Các Ban Chỉ Đạo không có vai trò được minh định trong Hiến Pháp 2013

(e) Tổ chức Đảng được minh định trong Điều Lệ Đảng

có thể khẳng định Chính Phủ trực tiếp điều hành đất nước và tổ chức Đảng không hề được hiến định là một Chính Phủ Cấp Trên của Chính Phủ.

Sự cải tổ cơ cấu tổ chức của Đảng do đó cần hợp lý hóa theo sát trào lưu hiệu quả, tinh giản, tiết kiệm, đồng bộ, nghiêm ngặt, khoa học, nhất thiết nên xét đến hướng sau:

a- Trung Ương Đảng sẵn có bộ máy phục vụ Bộ Chính Trị đối với những nội dung như phân định cho các Ban Chỉ Đạo chứ không phải để Bộ Chính Trị thành lập riêng các Ban Chỉ Đạo ấy; do đó, giải thể các Ban Chỉ Đạo Tây Bắc, Ban Chỉ Đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ;

b- Trung Ương Đảng có cơ quan quyền lực mang tên Ban Kinh Tế Trung Ương, và cơ quan này, nếu muốn, có thể thành lập các tiểu ban dưới quyền bao gồm các Ban Tây Bắc, Ban Tây Nguyên, Ban Tây Nam Bộ, Ban Đông Nam Bộ, hay Ban Bắc Trung Bộ, v.v., tùy hoạch định chính sách khi thực sự tối cần thiết;

c- Ban Kinh Tế Trung Ương, do đó, là cơ quan trí tuệ của Trung Ương Đảng và của Bộ Chính Trị mà không phải có sự phân chia ban bệ hình thành những “triều đình” tức những “chính phủ” khác nhau cho những cơ chế dường như chỉ cho cảm nhận tất cả không chịu tự đặt dưới quyền nhau; và như vậy

d- 3 Ban Chỉ Đạo bị loại bỏ do không còn bất cứ lý do chức năng tưởng tượng hay thực tế nào tồn tại vì

– Chuyền chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của 3 Vụ Kinh Tế của 3 Ban Chỉ Đạo về Ban Kinh Tế Trung Ương (trọn gói hoặc phân nhánh thành các tiểu ban hoặc tiểu phòng về Vụ Kinh Tế Tổng Hợp hay Vụ Công Nghiệp và Vụ Nông Nghiệp-Nông Thôn), hoặc giải thể hẳn nếu các nơi này không cho rằng việc thành lập các “tiểu ban chỉ đạo vùng” là cần thiết.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Văn Hoá – Xã Hội của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Xã Hội.

– Giải thể hẳn 3 Vụ An Ninh – Quốc Phòng của 3 Ban Chỉ Đạo vì lý do tối quan trọng của an ninh-quốc phòng do các cơ quan tối quan trọng đặc thù an ninh-quốc phòng đảm trách như Quân Ủy Trung Ương, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An, và các Bộ Tư Lệnh các Quân Khu.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Dân Tộc – Tôn Giáo của 3 Ban Chỉ Đạo vì Trung Ương Đảng đã sẵn có Vụ Địa Phương, chưa kể Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam đang thất bại thảm hại từ việc xao nhãng công tác “dân tộc – tôn giáo” của họ, mà các vụ việc giáo dân “biểu tình” làm loạn không rõ thuộc trách nhiệm của Mặt Trận Tổ Quốc, của Trung Ương Đảng, hay của các Ban Chỉ Đạo.

– Giải thể hẳn 3 Vụ Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị của 3 Ban Chỉ Đạo vì toàn quốc đã có hệ thống dày đặc các Đảng Ủy, Tỉnh Ủy, Thành Ủy vốn mặc định phải chịu luôn trách nhiệm xây dựng hệ thống chính trị của Đảng.

2) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Dụng Nhân Thất Học Kiểu Cần Thơ

Cần Thơ – gộp chung Lãnh Đạo Cần Thơ và Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đóng ở Cần Thơ có những động thái nhét người vào Cần Thơ – đang chứng tỏ đã có sự dụng nhân thất học mang signature thương hiệu đặc thù của Cần Thơ. Các phân tích sau, do đó, cũng để gián tiếp khẳng định Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã chưa hề nhận ra và có bất kỳ động thái nào để tận dụng thời cơ cho Cần Thơ ngoại trừ phí bỏ thời cơ phát triển kinh tế mà chỉ lạm dụng thời cơ phát triển nhân sự kiểu nhét người mà lý do là “nôn nóng” chứ hoàn toàn bất tài vô dụng trong phát triển chiến lược toàn vùng Tây Nam Bộ.

a- Thực Lực Sức Mạnh Kinh Tế Quá Khứ Của Cần Thơ

Vào thời điểm cách nay 28 năm lúc tác giả bài viết này trở thành người “có công” giúp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam – do Báo Sài Gòn Giải Phóng và Báo Tuổi Trẻ tôn vinh – thì những chuyến đi như con thoi đến các vựa gạo ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, và Hậu Giang, trong đó có Cần Thơ đã được ông ta thực hiện. Sau khi lựa chọn kỹ các công ty cung cấp gạo để ký kết các hợp đồng kinh tế bằng USD đầu tiên của Việt Nam về gạo như Imex Đồng Tháp của Tỉnh Đồng Tháp, Generalimex của Bộ Ngoại Thương, và Imexco của Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm điều tàu vào Cảng Khánh Hội để nhận gạo trở thành thời điểm ông theo sát các đoàn xe tải và các đoàn xà lan chở gạo từ Tây Nam Bộ, cho đến khi ba bộ chứng từ giao hàng Bill of Lading được ký xuất, mà hiệu quả của việc thanh toán cả 3 Letter of Credit cùng sự thành công về chất lượng hàng giao đến Ấn Độ đã làm ông được liên tục tiếp cận bởi các nhà nhập khẩu gạo ở nước ngoài – thậm chí từ Mỹ – ngay cả khi ông quản lý văn phòng đại diện CIMMCO International nên không  có quyền tự do tư vấn hay thực hiện môi giới kinh doanh gạo với bất kỳ ai khác ở hải ngoại.

Thế nhưng, sự tích cực tham dự các Hội Nghị Quốc Tế về gạo sau đó dù ở Cần Thơ hay ở Thành phố Hồ Chí Minh (dưới sự chủ trì cũng của Cần Thơ) chỉ khiến tác giả bài viết này nhận ra một điều: các Đảng Ủy chỉ tập trung hình thành đế chế quyền lực của cái gọi là Hiệp Hội Xuất Nhập Khẩu Lương Thực toàn là những vị (a) chưa hề trực tiếp làm việc với nước ngoài về xuất khẩu gạo, (b) chưa hề có uy tín đối thoại đàm phán đối với các nhà nhập khẩu gạo nước ngoài, (c) chưa hề có các nghiên cứu nào có liên quan và có giá trị hữu dụng đến chiến lược nông nghiệp, cũng như (d) chưa hề nắm bắt gì về thị trường lúa gạo thế giới, dẫn đến hai thập kỷ liên tiếp sau đó trở thành đầu têu cho báo chí khi có những quyết định –  vô tình do dốt nát hay cố ý tạo lợi thế cho bàn tay vô hình của tư  bản nước ngoài – khiến Việt Nam mất nhiều cơ hội xuất gạo với giá cao hơn, mất một thị trường nhập khẩu đặc thù nào đó, mất sạch các cơ may để nông nghiệp Tây Nam Bộ trong đó có Cần Thơ cất cánh, và mất sạch các sự bảo đảm cho bất kỳ sự thành công nào của đại cuộc Phát Triển Tam Nông.

b- Sức Mạnh Quá Khứ Kinh Tế Chủ Soái Khu Vực Tây Nam Bộ Của Cần Thơ

Với thực lực trên, cùng với ưu thế của một địa phương được mặc định phát triển sớm nhất cả vùng về cơ sở hạ tầng đô thị hóa, cơ sở thủy lộ truyền thống, cơ sở sản xuất kinh tế nông-công-thương, cơ sở dịch vụ đô thị, và cơ sở sức mạnh tài chính, Cần Thơ lẽ ra đã giữ vị thế chủ soái của Tây Nam Bộ nếu như cơ sở Đảng của Cần Thơ chủ động tích cực tư duy ngoài-chiếc-hộp out-of-the-box đối với phát triển của địa phương trong tương quan vùng miền vì Trung Ương đặt để các vị vào vi trí nào là để các vị cung cấp cho Trung Ương các phân tích mang tính kế sách chứ không phải ngự trị chờ rót ngân sách, chở Trung Ương chỉ dạy phải làm gì, chờ Trung Ương ban cho kế sách gì, và chờ quỳ xin hay vận động Trung Ương rót thêm kinh phí, đưa dự án trọng điểm về địa phương, hoặc phân bổ phần bánh lớn hơn từ nguồn vốn ODA mà cả dân tộc Việt Nam phải cùng chung gánh nợ từ nay đến đầu Thế kỷ XXII.

c- Vấn Đề Ngày Nay Của Cần Thơ Về Kinh Tế Và Nhân Lực

Do nội dung kinh tế nông nghiệp chưa hề được phát triển phát huy;

Do những công ước quốc tế dường như chỉ được xem như mang thuộc tính vĩ mô hoàn toàn không là trách nhiệm nghiên cứu nhằm đưa vào kế sách cụ thể của các lãnh đạo Đảng ở địa phương nên các chi tiết của Công Ước Vienna 1985, Nghị Định Thư Montreal 1990, Công Ước Khung Liên Hợp Quốc Về Biến Đổi Khí Hậu 1992 đã chưa hề được tính đến, mà tình hình tự nhiên tác động hủy phá sự phát triển bền vững nông nghiệp vùng Châu Thổ Sông Cửu Long dù mang tính cảnh báo hiển nhiên từ lâu;

Sự sử dụng nhân sự và đầu tư cho nguồn nhân lực của Cần Thơ đã phát ra những tín hiệu khẩn báo cho sự sụp đổ ngay từ đầu của Cần Thơ.

Miền Tây Nam Bộ đã hài lòng với nhân vật kiệt xuất Giáo sư Tiến Sĩ Võ Tòng Xuân trong tạo ra các giống lúa, dù tác giả bài viết này hai chục năm trước đã viết rằng vị giáo sư ấy rồi sẽ chẳng giúp gì cho nông nghiệp Việt Nam do (a) các vấn nạn có thể hé lộ từ các vấn đề nêu lên trong các Công Ước và Nghị Định Thư nói trên chưa hề mang tính chiến lược rõ nét trong các hoạt động chuyên môn của giáo sư; (b) nông nghiệp không chỉ là cây lúa mà còn là cây ăn trái, thảm thực vật, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, (c) do đó giáo sư đã không ở vị trí tầm cỡ để có bất kỳ đóng góp hiệu quả nào trước thực tế thoái hóa giống tất cả các loại cây trái Tây Nam Bộ cũng như suy thoái môi trường từ hoạt động sản xuất công-nông và biến đổi khí hậu. Do vậy, miền Tây Nam Bộ ngoài có thêm vài giống lúa đã không thể làm nông nghiệp phát triển xanh và phát triển bền vững.

Trong khi một nữ nghị sĩ doanh nhân lớn ở Bình Phước (Quốc Hội Khóa XIII) đã nhận ra tác giả bài viết này tại Nghị trường, nhắc lại kỹ niệm về ông 25 năm trước, lúc ông lăn xả đàm phán và cung cấp tài liệu mật để giải quyết sự cố xuất khẩu hạt điều giữa Việt Nam và Ấn Độ tại 3 cuộc họp căng thẳng giữa đại diện Chính Phủ Việt Nam – cán bộ cao cấp Xích Hồng – và Đại Sứ Ấn Độ, mà kết quả là (a) tác giả đã đấu khẩu hùng biện buộc được tất cả 3 công ty Ấn Độ trong đó có CIMMCO International và Mount-a-Mount phải nhận toàn bộ lượng hạt điều đã ký mua của Việt Nam, (b) nông dân và các doanh nghiệp Sông Bé – nay là Bình Phước – thoát nạn trong đó có công ty của vị nữ chủ nhân sau này là nghị sĩ nói trên, còn hậu quả là (c) tác giả bài viết này mất ghế lãnh đạo văn phòng đại diện CIMMCO International do bảo vệ quyền lợi nông dân Việt Nam chống lại quyền lợi của các nhà nhập khẩu nông sản Ấn Độ; thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ như gà mắc tóc trong công tác nhân sự, không biết ai là ai và ai mới thực là người làm nên đại sự cho đại cuộc phát triển Tây Nam Bộ.

Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ hiện nay đã hoàn toàn không ai có tầm cỡ chiến lược phát triển khu vực. Chính vì sự không biết, không hiểu, không học, không nhận ra các đòi hỏi cao cấp, nghiêm khắc, nguy nàn của thời gian, thời thế, thời cuộc, mà lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã hấp tấp phong vương cho Vũ Minh Hoàng bất kể

i- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự cần gì để phát triển;

ii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để phát triển;

iii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự có thể tạo mới cái gì để phát triển;

iv- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang phải đối phó với các vấn nạn nghiêm trọng nào để phát triển;

v- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài;

vi- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – thực sự đang có gì để đầu tư ngoài nước;

vii- Không biết Cần Thơ – và Tây Nam Bộ – vì điểm iv và v  ở trên mà đòi hỏi nhân sự được phong vương phải là tay kiệt xuất, dồi dào kinh nghiệm, đầy ắp công trạng, và phong phú tri thức cùng uy tín cực cao mới đối phó được chu toàn, mà tất cả những yêu cầu phải có này thì vĩnh viễn không bao giờ có nơi đứa trẻ chưa hề làm việc chưa hề được toàn Đảng biết đến, chưa hề thi thố tức đem ra hành hiệu quả cái đã học quả hiệu, và chưa hề được cả giới hàn lâm và bình dân nghe tên.

3) Loại Bỏ Toàn Bộ Mô Hình Đào Tạo Ngợm Lực

a- Nhân Lực Resources & Nhân Lực Capital:

Từ ngàn xưa tất cả các triều đại – dù chính danh hay ngụy danh – đều dựa vào nguồn nhân lực để hình thành, tồn tại, và phát triển.

Nguồn nhân lực ấy luôn phải đặt trên sự nổ lực tự học, chăm hành, trau giồi đức dục của bản thân (tu thân); trong tạo nên và/hay bổ sung nội lực gia đình (tề gia); trong thể hiện cụ thể lòng hy sinh quyền lợi bản thân cùng hạnh phúc cá nhân để ra tham chính giúp vua với lòng trung quân ái quốc (trị quốc), và trong trở thành phân tử gắn kết đầy hữu ích cho xã hội (bình thiên hạ).

Nguồn nhân lực ấy phải lớn mạnh từ trên nền tảng của luật lệ hà khắc để uốn nắn đúng, giám chế đúng (giám sát và chế ngự), phát triển đúng, tưởng thưởng đúng, và trừng trị đúng. Rèn thép và tôi thép hay luyện cán thép không thể bằng phong thái tay trần nhào bột. Và rường cột chống đỡ cho mái nhà quốc gia không thể nào là cây bột hay thanh bánh bột rán.

Một người xuất thân từ human resources là người bình thường, vì bất kỳ ai cũng có thể là human resources đáp ứng cho một yêu cầu công việc nào đó. Và đó là lý do Phòng Nhân Sự HR tuyển dụng từ giám đốc cho đến tạp vụ.

Một người xuất thân từ human capital tức là viên ngọc quý hội đủ các bảo bối mang tên kiến thức, tài năng, kỹ năng, khả năng, sự thông minh nhạy bén, tài truyền thụ, tài đánh giá, và trí tuệ uyên bác, tất cả biến người đó thành một thứ tài sản quý báu của bất kỳ doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, quốc gia nào.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những đảng viên nguồn nhân lực human capital nên đã chiến thắng.

b- Ngợm Lực:

Tuy nhên, những sự việc diễn ra ngày càng nhiều hơn, thường xuyên hơn về con người của Đảng đã cho thấy nguồn nhân lực của Đảng đã không còn trên cơ sở human capital mà chỉ là human resources tức không thể cao ngang bằng ngay cả với một doanh nghiệp sở hữu human capital.

Đặc biệt khi nguồn lực đã không trên cơ sở tu thân-tề gia-trị quốc-bình thiên hạ mà lại còn trên bãi ươm mầm mang tên nhân đạo và giáo dục làm sinh sôi nẩy nở sự trây lờn tiến đến hòa trộn vào tội ác, thì chỉ có thể là nguồn ngợm lực (sources of ape-like beings) chứ không bao giờ là nguồn nhân lực (resources of human capital).

Khi sự việc Vũ Minh Hoàng bị công khai, các lãnh đạo của Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ đã chống chế bằng 4 luận điểm ngu xuẩn đần độn sau:

(i) “Việc bổ nhiệm ấy không có hại gì cho Đảng, địa phương và nhân dân, mà chỉ vì sự phát triển chung của Đồng Bằng Sông Cửu Long”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Điều duy nhất đúng phải luôn là: Cái Gì Có Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Hãy Làm!

Nghĩa là: Cái Gì Có Bất Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân Thì Cấm Làm!

Cũng có nghĩa là: Cái Gì Không Có Hại Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân, Nghĩa Là Cũng Không Có Lợi Thì Làm Để Làm Cái Quái Gì?

Điều duy nhất chính xác luôn là: lãnh đạo Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ không có gì chứng minh bản thân có tài chiến lược phát triển Đồng Bằng Sông Cửu Long vì đã “sốt ruột nóng lòng” vốn không bao giờ được phép có nơi người giữ vị trí chiến lược của Đảng, của quốc gia.

(ii) “Cơ quan phát hiện Vũ Minh Hoàng giỏi ngoại ngữ, khi sang Nhật có thể kêu gọi đầu tư được, có thể làm tốt vấn đề kinh tế đối ngoại”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ cần phiên dịch nên ban cho phiên dịch viên chiếc ghế lãnh đạo ư?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ tài cán đến đâu về ngoại ngữ mà khẳng định Vũ Minh Hoàng “giỏi” ngoại ngữ?

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ phải chăng sẽ bổ nhiệm thêm 50 Phó Vụ Trưởng để cử đến 50 quốc gia khác để kêu gọi đầu tư? Vậy đó không phải là việc của các Tham Tán Thương Mại các Đại Sứ Quán Việt Nam? Hay các Tham Tán ấy chỉ giỏi tham làm tán gia bại sản quốc gia? Hay quả thực đã có Chính Phủ trong Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ?

– Nếu tác giả bài viết này xung phong không nhận bất kỳ “hàm” nào của Đảng hay Nhà Nước, làm xuất sắc công tác kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại đầu tư phát triển Tây Nam Bộ, thì Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ có vì Lợi Cho Đảng, Cho Địa Phương, Cho Nhân Dân mà sử dụng nguồn human capital này không? Hay chỉ công nhận hậu duệ của các đảng viên cao cấp mới có cái thứ human capital mà thế giới tư bản siêu cường có đày ắp còn ở Việt Nam chỉ có Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ mới có “nguồn” ấy?

(iii) Quy định bổ nhiệm cán bộ cấp vụ có nêu tiêu chuẩn thế này thế kia, nhưng sau văn bản đó cũng nêu “tùy do lãnh đạo ban quyết định và chịu trách nhiệm”.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

Đã làm sai còn vận dụng văn bản quy định mà không biết rằng

– Đó là hành động phơi bày điểm yếu chết người của cái gọi là “Quy Định Bổ Nhiệm” của Đảng

– Chỉ có kẻ thất học mới không hiểu rằng nội dung đó chỉ có nghĩa: ngay cả khi các tiêu chuẩn được đáp ứng đủ đầy thì lãnh đạo ban vẫn phải chịu trách nhiệm khi ký quyết định bổ nhiệm. Làm gì có chuyện trí tuệ của Đảng sau khi đề ra bao thành quách lũy hào lại kết rằng: dù vậy vẫn có thể bất kể các thành quách lũy hào trên và muốn chọn ai thì chọn miễn chịu trách nhiệm cho sự chọn ấy!

(iv) Tiêu chuẩn về chính trị có bằng cao cấp, nhưng còn tùy do lãnh đạo ban xem xét và chịu trách nhiệm chứ không phải cứng nhắc hoàn toàn.

Lý do ngu xuẩn đần độn của kẻ phát biểu:

– Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ lại có kẻ đề ra rồi bắt toàn Ban chịu trách nhiệm ư?

– Tổ chức của Đảng mà xem nhẹ tiêu chuẩn chính trị ư?

– Tiêu chuẩn chính trị mà còn dám xem nhẹ thì ai bảo đảm tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của người được bổ nhiệm?

– Sự linh động luôn cần thiết cho một thực thể sống. Tuy nhiên, trong một cơ thể sống vẫn có những bất di bất dịch mà sự di hay dịch nếu xảy ra sẽ biến thành ung thư. Trong bài viết về Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình, tôi đã có tiến cử hiền tài cho Đảng và Nhà Nước, và Bộ Trưởng đã trả lời rất đúng nguyên tắc công bằng chuyên nghiệp. Nguyên tắc, sự công bằng, và tính chuyên nghiệp là những thứ xa xỉ hoàn toàn không bao giờ có tại Ban Chỉ Đạo Tây Nam Bộ.

F- Kết Luận

Vũ Minh Hoàng không chỉ là một cái tên.

Vũ Minh Hoàng là thí dụ điển hình của sự thất bại của cả hệ thống về giáo dục, đào tạo, tư tưởng, trí hóa, nguồn nhân lực, quy trình dụng nhân, và lạm quyền.

Vũ Minh Hoàng mang tính khái niệm về Đảng Loạn.

Đảng Loạn vì Loạn Đảng.

Loạn Đảng là mầm mống khởi đầu của Diệt Đảng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chính Trị Gia (Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII)

Tham khảo:

Chủ Đề Quy Trình Dụng Nhân Của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

14-9-2016 Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Thái Bình

Chủ Đề Chính Trị Việt Nam:

18-5-2013 Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

02-7-2013 Tuyệt Thực

26-11-2013  Về thực quyền, thực uy

24-3-2014 Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

01-9-2014 Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

06-4-2015 Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập

11-4-2015 Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

11-9-2015 Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam

10-10-2015 Diệt Tham Nhũng

02-12-2015 Bôi Nhọ

16-12-2015 Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII

25-12-2015 Nhân Sự Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XII

14-01-2016 Chính Trị

02-02-2016 Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

27-4-2016 Bầu Cử

29-4-2016 Ngày 30 Tháng 4

19-7-2016 Tứ Trụ Bắc Việt

08-08-2016 Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

11-9-2016 Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Chủ Đề Chính Trị Hoa Kỳ:

15-02-2014 Nước Mỹ Bất Hạnh

29-3-2014 Nước Mỹ Vỡ Vụn

01-01-2016 Tôi Ủng Hộ Donald Trump

15-4-2016 Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam

17-5-2016 Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

19-6-2016 Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

27-9-2016 Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon?

25-10-2016 Hillary Clinton

14-11-2016 Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People

Chủ Đề Chính Trị Thế Giới:

11-3-2016 Vũ Khí Nhân Quyền Nguyên Tử Hay Nguyên Tử Nhân Quyền

12-7-2016 Tôi và Saddam Hussein

25-7-2016 Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

23-7-2016 Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

29-10-2016 Rodrigo Duterte Dạy Cả Thế Giới Âu Mỹ

05-11-2016 Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Việt Nam Cần Một Bức Tường Biên Giới

Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước, MIB

25-11-2016

border-walls-8

C) Kết Luận: Chỉ Có Bậc Đại Trí Mới Muốn Xây Bức Tường Biên Giới

 2- Tính Cách Bậc Đại Trí Nơi Học Sinh & Sinh Viên

30 năm trước, tác giả bài viết này thường dặn dò sinh viên của ông ta rằng đừng bao giờ chỉ tra từ điển khi gặp từ ngữ đáng sợ đầy khiếp sợ quá ư là kinh sợ kiểu “counterrevolutionary” của sách báo cách mạng nước ta, kiểu “honorificabilitudinitatibus” của Shakespeare trong môn Văn Học Anh British Literature, hoặc kiểu “antidisestablishmentarianism” của lịch sử cận đại Anh Quốc trong môn Văn Minh Anh British Civilization, vì những từ ngữ trông hoành tráng nguy nga đồ sộ đó (a) chẳng mấy ai dùng, (b) chẳng mấy ai trong dân chúng Anh Mỹ biết hay nhớ hoặc viết đúng về chúng, (c) vẫn có thể đoán mò được ý nghĩa của chúng bằng cách xẻ chúng trở lại các thành tố nguyên thủy cấu thành, và (d) không ai mà không tránh dùng chúng trong văn nói vì sợ bị cà lăm. Ngược lại, ông căn dặn học trò ông tuyệt đối đề cao cảnh giác trước những bẫy rập đầy đơn giản, lắm thơ ngây, quá thân thương của ngôn từ, vì rằng chỉ cần tự tin vững chắc 1.000% rằng ta đây đã biết “under” là “ở dưới” và “table” là “chiếc bàn” để rồi vô tư  dịch “under the table” thành “ở phía dưới bàn” chứ chẳng thèm quan tâm tra từ điển thành ngữ “under the table” xem nó nghĩa gì, ghê gớm đến đâu thì coi như sập bẫy.

Được giáo huấn như thế nên 30 năm sau, học trò của tác giả bài viết này hiểu ngay lập tức cụm từ “dân trí cao hơn” khi ông ta phát ngôn gì đó tại Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về cái dường như gọi là “Luật Biểu Tình” mà do các nhà báo chính thống do thiếu hiểu biết luật pháp (chứ không vì ác ý) đã diễn giải thành “dân trí thấp” trong khi tại tất cả các nước văn minh tiên tiến tự do dân chủ pháp quyền trên toàn thế giới thì chỉ cần tự tiện tường thuật “xấu” trong khi người phát biểu nói chính xác là “không đẹp” thôi thì kẻ viết đã phải đối mặt với kiện tụng chốn pháp đình mà phần thua dứt khoát là ở phía tự tiện diễn giải bằng từ ngữ họ chủ quan cho là “đồng nghĩa”. Theo học trò của ông thì “dân trí cao hơn” là do có thực tế mà lịch sử rồi sẽ chứng minh rằng (a) Quốc Hội Việt Nam không bao giờ có thể sản xuất ra luật ấy trong thời gian chỉ trong một nhiệm kỳ 5 năm, và (b) ngay cả các nghị sĩ xuất thân “luật sư” tích cực lên tiếng ủng hộ “luật biểu tình” bày tỏ sự nằm trăn qua trở lại đắn đo sầu khổ vì cục nợ với nhân dân sau đó cũng đều bó tay suốt hơn nửa thập kỷ không thể sử dụng sáng quyền lập pháp để tự soạn dự thảo luật ấy nộp Quốc Hội. Thế nên, từ ngữ “cao hơn” hóa ra lại mang hàm ý của bao sự nhiêu khê gian khổ gian nan về đầu tư thời gian có thể đến một thập kỷ, tiền bạc có thể đến nhiêu tỷ đồng nghiên cứu, và trí tuệ của biết bao các bậc tài anh đấu trí với gian tà gian giảo và gian trá.

Rầm rộ đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên viên nguyên tử lực gần xong vậy mà còn phải stop việc xây dựng Nhà Máy Điện Hạt Nhân Ninh Thuận, huống hồ chỉ râm ran múa mép nói dóc rằng “luật biểu tìn là món nợ với nhân dân” thì cách chi mà có nổi “Luật Biểu Tình” cơ chứ.

1- Tính Cách Bậc Đại Trí Nơi…Bậc Đại Trí

Tóm lại, bậc đại trí là người

c) Không vội vàng nói ngay 1 với 1 là 2, nghĩa là không bao giờ cho rằng chất xám con người là thứ không nên phí phạm cho sự nghĩ suy về điều gì đó quá rõ nét quá dễ dàng quá đơn giản quá chân phương, vì biết hậu quả của sự vội vàng này luôn khôn lường trong thế giới học thuật/kinh doanh/công nghệ thông tin toàn cầu hóa, do 1 và 01 hoàn toàn khác biệt với nhau về mục đích sử dụng và mức độ an toàn trong văn bản và hợp đồng kinh tế, v.v;

b) Không bao giờ hấp tấp cho rằng lời phát ngôn quá rõ nét quá dễ hiểu quá chân phương của người khác là chẳng đáng để mình phải phí phạm chất xám để nghĩ suy nghiền ngẫm, vì biết hậu quả của sự hấp tấp này cũng luôn khôn lường trong thế giới học thuật/kinh doanh/đối ngoại/công nghệ thông tin toàn cầu hóa; và

a) Không bao giờ cho rằng bom nguyên tử được hình thành từ những thứ vật chất lóng lánh châu ngọc không có sẵn trên Địa Cầu, vì biết rõ là từ những thứ vật chất sẵn có mà người ta tạo nên các chuỗi phản ứng phân hạch bên trong các nhân “trời sinh” bé nhỏ li ti của các vật chất ấy để tạo nên sức hủy diệt mạnh hơn cả sức tàn phá của Tạo Hóa, cũng như từ đó mà phải luôn thận trọng khi một bậc kỳ tài phát ngôn hoặc viết về, vì vị ấy có khả năng tạo phản ứng phân hạch từ những từ ngữ có sẵn trong ngôn ngữ hàng ngày để gây địa chấn vùi chôn tất cả.

“Bức tường” là một từ ngữ bình thường, chỉ một hình thái vật chất mang tính bảo bọc phân định quyền tư hữu dù là tường nhà, tường rào, hay bờ giậu sân vườn.

“Bức tường” có thể là một hình thái vật chất rộng lớn hơn mang tính cương thổ quốc gia như các dẫn dụ ở trên tại biên giới các nước trên thế giới.

Tuy nhiên, khi một vị ứng cử viên tổng thống siêu cường Hoa Kỳ như Donald Trump nói sẽ xây một “bức tường” ở biên giới Mỹ-Mê, thì (a) những người hoàn toàn kém hiểu biết sẽ bật cười châm chọc châm biếm cái phát ngôn “tửng tửng” của ông ta và gọi ông ta là “thằng khùng”, (b) những “nhà sử học” thực thụ sẽ điềm nhiên bảo đó là việc những quốc gia văn minh giàu có hoặc trường kỳ lâm cảnh xung đột vũ trang thường hay xây dựng tại biên giới của họ để minh định chủ quyền cương thổ trên bộ của quốc gia, còn (c) những người thâm thúy sẽ nghĩ đến nội hàm lấn lướt của chủ nghĩa bảo hộ cực đoan và chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Mỹ mà tác động của nó đối với kinh tế toàn cầu sẽ là không bao giờ nhỏ, dẫn đến đại cuộc điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế của từng quốc gia.

“Bức tường” của đại gia Trump, do đó là một ẩn ngữ của giới thượng lưu trí hóa cao hơn “bức tường”, và có thể nói rằng “bức tường” ấy không phải chỉ là “bức tường” mà chính là “bức tường” vậy.

B) Thân Bài: Sự Thật Chứng Minh Bức Tường Biên Giới Quốc Gia Hiện Diện Khắp Thế Giới

3- Tân Hiện Đại

Vào giữa thập kỷ thứ nhì của Thế Kỷ XXI này, thế giới chứng kiến không phải lời tuyên bố sẽ  dựng xây bức tường biên giới Mỹ-Mê mà là đòn “hồi mã thương” gậy ông đập lưng ông của Châu Âu khi sự lớn tiếng lớn lối lớn mồm rao giảng về tự do và nhân quyền cùng bao thế kỷ họ sử dụng chiến tranh chà đạp tự do và nhân quyền của các nước nhược tiểu đã dẫn đến (a) làn sóng di cư ồ ạt từ toàn vùng chiến sự Trung Đông như những cơn sóng thần di dân Immigration Tsunamis hung hãn cuốn phăng sự vững bền thống nhất của Tây Âu; (b) sự cố Brexit làm rạn nứt Khối EU; (c) nguy cơ nhãn tiền của sự trà trộn của các phiến quân IS tràn ngập Châu Âu; và (d) sự rung lắc các chính phủ, dẫn đến những “bức tường đớn nhục chề ê” của thời kỳ Tân Hiện Đại, thậm chí còn dẫn đến sự nhạo báng rằng Đức, Anh và Pháp đã thi nhau qua mặt Tổng thống Hoa Kỳ Đắc Cử Donald Trump để giành giật việc ra tay xây dựng trước ông các bức tường biên giới mà điển hình là:

c) Đức Quốc:

Với chính sách của Thủ Tướng Angela Merkel khiến hơn 1 triệu người nhập sư đã đổ bộ vào Đức Quốc, sau khi 17.000 dân tỵ nạn thành công trong việc kiện Chính Phủ Đức đã không cấp cho họ quy chế tỵ nạn đầy đủ, và hàng trăm ngàn dân tỵ nạn khác phải được cho tá túc tạm thời tại nhà các công dân Đức, đã xảy ra việc Thẩm phán Thành phố Munich kiên quyết cho phép dựng xây bức tường cao 4 mét (tức cao hơn cả Bức Tường Bá Linh Berlin Wall trước đây ngăn cách phần thủ đô của Đông Đức và Tây Đức) để ngăn cách người di cư với cư dân địa phương, mà có người ví bức tường mới này khi hoàn thành năm 2017 sẽ như một con quái vật.

b) Anh Quốc & Pháp Quốc:

Trong khi Đức cho xây tường ngăn cách đối với những dân tỵ nạn đã vào được Đức, đồng thời đón bắt từ ngoài biển khơi để chủ động ngăn cản không cho người tỵ nạn vào bờ và đưa họ quay ngay về nơi xuất phát, thì Anh Quốc cho triển khai việc dựng xây một bức tường cao 4 mét ở Calais để ngăn chặn làn sóng di cư vượt Eo Biển English  rộng có 30 km từ Pháp đến Anh đổ vào vương quốc này, trước sự bất lực của hàng rào kẽm gai đã dựng lên trước đó. Trong khi miệt thị gọi khu vực dân tỵ nạn đang tạm thời tá túc là “Rừng Rú” (jungle), người dân Pháp và Anh thậm chí còn diễu cợt gọi dự án bức tường là Vạn Lý Trường Thành Calais (The Great Wall of Calais) như nhái theo Vạn Lý Trường Thành Trung Quốc (The Great Wall of China) để ngăn chặn quân xâm lược vậy.

a) Sự Nối Đuôi Lẩn Quẩn Toàn Khối Hiệp Ước Schengen

Tiếp nối Đức, Anh và Pháp, các nước sau đã tuyên bố dựng xây “bức tường biên giới” bất kể bản thân là quốc gia thành viên khối Hiệp Ước Schengen: Áo (tại biên giới Áo-Slovania), Na-Uy (tại biên giới Na Uy- Thụy Điển),  Thụy Điển (tại biên giới Thụy Điển-Đan Mạch), Đan Mạch (tại biên giới Đan Mạch-Đức), Hungary (tại biên giới Hungary-Croatia), Slovenia (tại biên giới Slovenia-Croatia), Pháp (tại biên giới Pháp-Bỉ), v.v., và khu vực hiệp ước Schengen đã trở nên suy đồi suy sụp suy vi suy tàn, dẫn đến một sự thật mang tính chân lý rằng chỉ và luôn chỉ có sự tồn tại của chủ nghĩa dân tộc mà thôi.

2- Hiện Đại & Cận Đại

Trong kỳ tranh cử chức Tổng Thống Hoa Kỳ 2016, trước tuyên bố của Donald Trump sẽ dựng xây “bức tường” biên giới Mỹ-Mê, cả Bill Clinton và Barack Obama khi dồn hết tàn lực vận động tranh cử cho Hillary Clinton đã vừa thúc đẩy truyền thông nhạo báng gọi ý tưởng của Donald Trump là điên rồ, vừa chỉ trích tuyên bố ấy là của kẻ lỗi thời cũ rích cùng đường vô vọng, đối lập với trào lưu tiến bộ của toàn nhân loại trong giao thoa giao tiếp giao kết giao thương, thậm chí Hillary Clinton còn cười thách Donald Trump có giỏi thì hãy xây bức tường dọc biên giới Mỹ-Ca và xây luôn bức tường biển dọc hai bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương cũng như có giỏi thì xây luôn bức tường trên trời để ngăn cản dân nhập cư sử dụng máy bay đi vào nước Mỹ.

Tuy nhiên, các giễu cợt ấy đã chỉ làm người dân Mỹ cho rằng Hillary vừa ngu vừa diễu vô duyên, vì rằng:

d) Bức tường “vật chất” ở biên giới Mỹ-Mê (gọi là US-Mexico Border Fence ở California) đã tồn tại từ cuối Đệ Nhị Thế Chiến dài 3.360 km

border-walls-7border-walls-6border-walls

c) 51 “bức tường” khác trên thế giới cũng đã và đang tồn tại mà đa số là do các nước có tiềm lực tài chính hùng mạnh dựng nên để ngăn chặn sự xâm nhập bất hợp pháp của người dân những nước nghèo hay của tội phạm, trong đó có các “bức trường thành” có độ dài trên 500km như Israel-Bờ Tây (708km), Saudi Arabia-Yemen (1.800km), Trung Quốc-Triều Tiên (1.416km), Mã Lai-Thái Lan (650km), Ấn-Bangladesh (3.268km), Ấn-Myanmar (1.624km), Iran-Pakistan (700km), Saudi Arabia-Iraq (900km), Turkmen-Uzbekistan (1.700km), Ukraine-Nga (2.000km), Uzbekistan-Kyrgyzstan (870km), v.v.

b) Toàn cầu hóa giúp xóa bớt ranh giới kinh thương, nhưng chính toàn cầu hóa lại gây ra hiệu ứng ngược về nhận thức sâu sắc hơn về sự an nguy an toàn an bình dẫn đến việc kích hoạt sự gia tăng số lượng các “bức tường” trên phạm vi thế giới, khiến từ 16 “bức tường” của thời khắc Bức Tường Bá Linh sụp đổ nay đã có 65 tức một phần ba quốc gia trên thế giới có – hoặc đang xây – “bức tường” biên giới, từ hàng rào 4.000 km biên giới Ấn-Bangladesh, các hàng rào suốt tuyến biên giới Tây Ban Nha-Morocco, Morocco-Tây Sahara, Hungary-Serbia, Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia-Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ-Syria, v.v.,

border-walls-3border-walls-5border-walls-4

chưa kể có cả “bức tường biên giới tôn giáo” như ở Belfast ngăn cách khu dân cư Thiên Chúa Giáo và Tin Lành vốn thường xuyên xung đột đẫm máu căm thù căm hận căm ghét căm hờn chống nhau vì không bao giờ chịu đội chung trời.

border-walls-2

a) Khi Trump chỉ nói đến “bức tường Mỹ-Mê” nghĩa là Trump có sự chính xác cao độ vì chỉ có “dân nghèo khổ” Mễ đào địa đạo vượt biên giới vào Mỹ nhanh chóng đẻ con để bắt nước Mỹ công nhận quốc tịch Mỹ của các đứa con “thả neo” ấy chứ không có chuyện “dân nghèo khổ” Canada đào địa đạo vượt biên vào Mỹ kiếm ăn.

1- Cổ Đại & Trung Đại

Bức tường nổi tiếng nhất từ thời cổ đại đến nay là Great Wall tức Đại Tường (cái mà Việt Nam theo cách truyền thống cố hữu của sự thán phục trầm trồ nên đã gọi một cách văn vẻ đầy tôn vinh là “Vạn Lý Trường Thành”). Khó có ai không biết đến bức tường vĩ đại dài 8.850 km băng từ Sa Mạc Gobi đến biên cương Triều Tiên ấy vốn đã được Tần Thủy Hoàng khởi xướng từ gần 300 năm trước Công Nguyên. Đại Tường đã giúp thế giới ngày nay có đất nước tên gọi Trung Quốc China cũng như giúp China có nguồn thu nhập cực lớn từ du lịch. Không có Đại Tường, thế giới ngày nay lẽ ra đã hoặc có một nước Mông Cổ bao la hoặc vài chục nước xử dụng chung gốc nguồn ngôn ngữ tượng hình. Từ đó, bức tường đã minh chứng cho sự ổn định, bình định, khẳng định, cố định, cho sự hình thành và vươn lên của một quốc gia hùng mạnh.

Trong vô số bức tường lừng danh khác có thể tạm kể chỉ một vài tên tuổi lớn – dù giá trị hiệu quả đối với đại cuộc bảo vệ giang sơn của các chủ nhân của chúng không thể sánh bằng Đại Tường của Trung Quốc – như các “bức tường”

a) Aurelias bao bọc quanh 7 ngọn đồi của kinh thành La Mã Rome, xây từ Thế Kỷ III, dài 19 km, cao 6 mét, dày 10 mét, có 383 tòa tháp, 7.020 lỗ châu mai, 18 cổng, và 2.066 cửa sổ.

b) Hadrian dài 135 km do La Mã xây ở Anh Quốc vào Thế Kỷ II băng ngang lãnh thổ Anh từ Bắc Hải sang Biển Ái Nhĩ Lan nhằm bảo vệ thuộc địa Britannia của La Mã trước các bộ tộc Tô Cách Lan từ phương Bắc. Tương tự mục đích trên còn có bức tường Antonine dài 63 km, cao 3 mét và dày 5 mét cũng băng ngang lãnh thổ Anh Quốc.

c) Sacsayhuaman thời Đế Chế Inca ở Peru, ở độ cao gần 4.000 mét.

d) Babylon ở Mesopotamia – nay thuộc Iraq – dựng xây từ năm 575 trước Công Nguyên.

e) Amorite dài hàng trăm km băng ngang Iraq từ sông Tigris đến sông Euphrates được xây vào Thế Kỷ 21 trước Công Nguyên – tức trước 2.000 năm trước Công Nguyên.

f) “Trường Tường Nhã ĐiểnLong Walls of Athens ở Hy Lạp được xây vào khoảng năm 461 trước Công Nguyên nhằm chống lại sự xâm lấn của Sparta.

g) Hồng Xà tức Đại Tường Gorgon Great Wall of Gorgon ở Iran, kéo dài từ bờ biển Caspian đến Dãy Elbuz được xây theo lịnh của A Lịch Sơn Đại Đế của La Mã nhằm chống lại các bộ tộc phương Bắc trong đó có Hephthalite Huns.

Nghĩa là: biện pháp bảo vệ giang sơn của các vương triều “cường quốc” ngay từ thời thượng cổ đã luôn là việc dựng xây các “bức tường” mà tiếng Việt gọi sai – nhưng nghe “bùi tai” hơn – bằng chữ “thành” hoặc “trường thành”.

C) Nhập Đề: Việt Nam Cần Một Bức Tường

2- Chỉ có bậc vĩ nhân về cả bốn lĩnh vực chính trị, trị chính, kinh tế-chính trị, và địa-chính trị mới có tầm nhìn sáng suốt quốc gia tầm cỡ bao trùm quốc tế.

Chỉ có tầm nhìn sáng suốt quốc gia tầm cỡ bao trùm quốc tế mới nhận thức được tầm quan trọng tuyệt đối của bức tường biên giới trên bộ của quốc gia.

Việt Nam cần có bức tường xuyên suốt biên giới trên bộ Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam dài 4.639km.

Bức tường buộc phải có, luôn buộc phải có, dứt khoát phải có, dù bằng đá tảng chất chồng, bằng bê tông cốt thép, bằng hàng rào trùng điệp dây thép gai, bằng đường hào thiên nhiên hay nhân tạo.

Bức tường nêu bật vấn đề cốt lõi của đạo đức, đạo lý, đạo nghĩa, và đạo hạnh – vì rằng (a) sự luông tuồng không bao giờ là thể hiện của lòng đoan chính; (b) sự tuồng luông không bao giờ không dẫn đến những rắc rối kiểu mở toang cửa đón rước giặc vào nhà; (c) sự luông tuồng không bao giờ dùng để bảo vệ tài sản của người dân mà trong đó phẩm giá phẩm hạnh cũng là thứ tài sản dứt khoát phải bảo vệ cho bằng được; và (d) sự luông tuồng không bao giờ đại diện cho nền nếp gia quy, hương ước, luật pháp quốc gia và công pháp quốc tế của bất kỳ thời đại nào, thể chế nào.

1- Chỉ có tầm nhìn sáng suốt quốc gia tầm cỡ bao trùm quốc tế mới nhận thức được tầm quan trọng tuyệt đối của bức tường bảo hộ quyền lợi tuyệt đối của quốc gia.

Quan hệ song phương hay đa phương đều phải luôn có những bức tường; chỉ có những kẻ tay mơ về chính trị, trị chính, kinh tế-chính trị, và địa-chính trị mới hùng hồn tuyên bố về cái quỷ quái gọi là “tự do thương mại” vì rõ ràng là các định chế hiệp định song phương và/hay đa phương đều để chế định các bức tường kiên cố ngoại bất nhập cản ngăn người ngoài cuộc outsiders chẳng khác nào một sòng bạc dành riêng cho một ít người chơi bạc mà không bao giờ có chuyện các tay chơi sở hữu tài sản ngang bằng về số lượng, tài năng, và thời cơ.

Chính vì vậy, Việt Nam cứ tham gia các trò chơi đa phương và/hay song phương; song, đừng bao giờ cổ súy nó mang ánh hào quang của tự do thương mại, vì tự do thương mại là cuộc đỏ đen trên chiếu bạc mà phần thắng chỉ thuộc về ba hạng người gồm (a) kinh nghiệm vượt bậc về đen đỏ, (b) tài lực vượt bậc về tài chính, và (c) đầy đủ mưu lược sát tàn tàn diệt những ai vào ngồi cùng chiếu bạc.

Muốn có hòa bình phải chuẫn bị chiến tranh. Muốn giữ gìn chủ quyền lãnh thổ trên bộ của quốc gia phải có bức tường.

Muốn tham gia một ván bài phải minh định phần tài sản riêng và vị trí ngồi riêng của mỗi người chơi. Ngồi trên đùi của nhau là hành vi trụy lạc chứ không là tư thế của các đại gia tại những casino tầm cỡ mà nơi đó các quý ông buộc phải mặc bộ trang phục thịnh trọng Black Tie với áo sơ mi trắng tuxedo kết rua ngực, thắt nơ đen, và đi giày đen Balmoral hoặc Blucher.

Và đó là vấn đề nhất thiết phải có trong sự nhận thức hiểu biết của người chơi.

Sau đây là phần nói về “bức tường biên giới quốc gia” luôn phải có trên toàn thế giới văn minh của nhân loại, mà sự vắng bóng của nó chỉ có thể được chấp nhận vì một lý do duy nhất: nghèo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đã Mất Kiểm Soát Truyền Thông

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị-sĩ Quốc-hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

16-11-2016

hhp-truyen-thong-3

Như đã nêu trong một bài viết trước đây, tôi có nêu rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có những thứ vũ khí cực kỳ quan trọng, trong đó nổi bật nhất là Quân Đội và Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.

Tuy nhiên, các vũ khí chiến lược trên còn được tăng cường bổ sung thêm sau  Chiến Thắng 30-4-1975 với các thế lực chính trị của Đoàn Thanh Niên, Công Đoàn, và Truyền Thông.

Khi nói vị trí của Đoàn Thanh Niên, Công Đoàn, và Truyền Thông “sau 30-4-1975” mới định hình, đó là vì sự thật lịch sử: Đoàn Thanh Niên  trước 30-4-1975 chỉ tập trung cho nhiệm vụ chính trị duy nhất là làm đội hậu bị của Đảng trên chiến trường trong đại cuộc Giải Phóng Miền Nam.

Công Đoàn trước 30-4-1975 chỉ để khẳng định có một tổ chức chính trị cho giai cấp công nhân cho đúng với triết thuyết của Tư Bản Luận Das Kapital, chứ hoàn toàn không vì nền công nghiệp đã phát triển rộng khắp như tiền đề cho một lực lượng lao động bài bản và hùng hậu.

Truyền Thông của Cách Mạng trước 1975 nếu là báo in thì chỉ xuất hiện hạn chế ở một số nơi Miền Bắc hoàn toàn không thể tồn tại trong sinh hoạt cộng đồng dân cư ở Miền Nam, truyền thanh chỉ của “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” mà số dân Miền Nam lắng nghe đương nhiên không thể là đa số, và truyền đơn chỉ là ở vài nơi trong Sài Gòn mà tác giả bài này có bằng chứng hình chụp trong bài “Tôi Và Lê Hiếu Đằng”.

Bài này sẽ phân tích về các thứ vũ khí siêu việt của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thực tế ngày nay, với phần nói về Truyền Thông ở cuối cùng.

A- QUÂN ĐỘI

Quân Đội là một trong những lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Quân Đội vẫn là lực lượng hùng mạnh dưới quyền quản lý của Đảng Cộng Sản, và luôn được Nhà Nước đầu tư dồi dào về trang bị quân lực. Tuy nhiên, Quân Đội đang phải đối mặt với các vấn nạn sau:

1- Số lượng các tướng lĩnh đã bùng phát dẫn đến quan ngại rằng Quân Đội đang hướng theo “từ chương” trong dụng nhân chứ không hướng theo thực chất thực tài.

2- Trong các chuyến thăm các tiền đồn của Quân Đội, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước của Quốc Hội Khóa XIII nhận thấy rằng nơi nào cũng sử dụng rượu nặng (hoặc mua hoặc tự chưng cất mà không bất kỳ thứ gì trong hai thứ này là đúng đắn cả) để chiêu đãi đoàn nghị sĩ của Ủy Ban Đối Ngoại. Đây là điều cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt là đối với công tác phòng thủ biên cương.

3- Nỗ lực của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội Khóa XIII trong yêu cầu phải ghi nội dung sau vào Hiến Pháp 2013 để bảo vệ Quân Đội và gia tăng quyền lực bất khả xâm phạm của Quân Đội đã không được lắng nghe:

hhp-truyen-thong-1

Nếu lưc lượng vũ trang khác là Công An đã bị làm cho cùn nhụt bởi những quy định ẻo lã, mềm nhũn, nhão nhoét, tước bỏ quyền lực “tiêu diệt tội phạm và trấn áp ngăn chặn phạm tội” để thay vào đó bằng một thứ nhiệm vụ vô nghĩa vô bổ vô dụng vô lý của “bảo vệ nhân dân”, thì Quân Đội đã không được phân quyền, không được bảo vệ, bị tước mất quyền lực “tiêu diệt quân xâm lược và tiếp quản bất kỳ cương thổ nào của quân thù” để phải đeo trên ngực tấm bảng yếu ớt vô nghĩa vô bổ vô dụng của “bảo vệ đất nước” thì rõ ràng là lực lượng vũ trang luôn trung thành với Đảng đã không được Đảng bảo vệ tuyệt đối, từ đó sẽ  đối mặt với kiểu hành xử “không dám mạnh tay” tiến tới “không dám chiến đấu”.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn phủ lên Hiến Pháp sự nhã nhặn nhún nhường để phục vụ đại cuộc chinh phạt thế giới cho nên đã tránh các nội dung sắt máu, thì Đảng cũng nên quy định trong rèn luyện Quân Đội rằng tất cả quân xâm lược – và lực lượng hậu cần của chúng bất kể là thuần quân sự hay bán quân sự hoặc thuần dân sự – đều phải bị tiêu diệt chứ không phải bị bắt giữ, và quân nhân sẽ được bảo vệ tuyệt đối.

B- MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

Nếu như các chức năng của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã ghi rõ trong bài viết “Nguyễn Thiện Nhân”, thì hiện nay đã có thể bổ sung thêm những yếu ớt ẻo lả vô dụng của cái cơ quan ngốn cực nhiều ngân sách quốc gia từ tiền thuế của dân mang tên Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam này.

Loại bỏ – tức không thèm nhắc đến chứ không phải tha thứ – cái tầy huầy làm không nên thân chẳng ra chi của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong kỳ Bầu Cử Quốc Hội 2016 mà nơi nào cũng mang mặt nạ dối lừa có giòng chữ “Thành Công Tốt Đẹp” thì Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã hoàn toàn thất bại rất cụ thể trong:

1) “Giới thiệu” vào Quốc Hội, và “bầu cử” Nguyễn Thị Nguyệt Hường vào làm chức sắc cao cấp trong Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong hai khóa Quốc Hội;

2) “Giới thiệu” vào Quốc Hội, “bầu cử”, và ủng hộ Trịnh Xuân Thanh làm lãnh đạo Cần Thơ;

3) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ “biểu tình” làm loạn đông người của giáo dân;

4) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ  làm loạn đông người của các trung tâm cai nghiện; và

5) Công tác dân vận vì không nắm bắt gì và không vận động gì để xảy ra các vụ cháy các cơ sở Karaoke; v.v. và v.v.

Trước thực tế quá rõ mười mươi không bao giờ có bất kỳ ai trên toàn lãnh thổ Việt Nam dù trong Đảng hay ngoài Đảng có thể phủ nhận hay phản bác lại được là Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam từ trung ương đến địa phương hoàn toàn không bao giờ có cá nhân hay tập thể nào có thể đưa ra bất kỳ danh mục thành tích thực sự cụ thể nào trong “vận động” nhân dân làm cho quốc thái thật và dân an thật, thì

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trở lại thành thứ vũ khí quan trọng của Đảng thì trước hết phải (a) cách chức Chủ Tịch Nguyễn Thiện Nhân và (b) cách chức toàn bộ ban lãnh đạo các Mặt Trận Tổ Quốc ở các tỉnh thành nào có xảy ra bê bối về bầu cử, có “đại biểu đắc cử” bị phát hiện là tội phạm, có “đại biểu đắc cử” hay chức sắc đào thoát đi nước ngoài, có các cuộc “biểu tình”, có các cuộc tụ tập khiếu kiện đông người, có xảy ra các vụ trọng án dù bất kỳ lĩnh vực nào. Duy trì một bộ máy bất tài vô dụng đầy dẫy trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và nuôi dưỡng nó thật dồi dào hào phóng bằng tiền thuế của người dân sẽ không giúp gì cho Đảng trong đại cuộc quần chúng chiến cả.

C- TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG

Điểm yếu của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam trong giai đoạn mới của “hội nhập” theo các Hiệp Định đa phương đã được nêu trong bài viết trước đây trong đường liên kết ở phần Tham Khảo của bài viết này.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn  tồn tại vững mạnh được trong hoàn cảnh mới, Tổng Liên Đoàn cần hợp đồng tư vấn với tác giả bài viết này vì rằng không bao giờ nội bộ Tổng Công Đoàn có thể đề ra bất kỳ kế sách nào cho đại cuộc tồn tại – qua tấm gương diển hình của Chủ tịch Tổng Liên Đoàn của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII đã không đóng góp gì hữu ích cho Luật Công Đoàn để rồi ngay sau khi được thông qua nó bị phát hiện có tỳ vết thì chính vị Chủ Tịch ấy lập tức đăng đàn phê phán, còn sau khi nghĩ hưu thì đột nhiên tích cực đòi Quốc Hội phải truy phong “anh hùng”cho các quân lính Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận dưới họng súng của Trung Quốc tại Hoàng Sa.

D- ĐOÀN THANH NIÊN

Điểm yếu của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có thể được khắc phục qua tham khảo bài viết “Hướng Đạo” và nhiều bài viết khác trong cùng địa chỉ blog này. Tuy nhiên, ngày nào lãnh đạo Việt Nam vẫn còn dụng nhân theo kiểu từ chương – tức không là đoàn viên thì không thể làm đảng viên, hoặc không là đoàn viên thì không thể được cất nhắc trong các cơ quan hành chính công quyền địa phương, tức công tác đoàn chỉ là để cho các mùa hè màu vô dụng hoặc để dự các liên hoan bù khú vô dụng với thanh niên Tàu – và ngày nào công tác Đoàn quan trọng nhất thí dụ như ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là “quản lý Báo Tuổi Trẻ” , thì ngày đó Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh chỉ có nhiều thu nhập rót qua từ “Tuổi Trẻ” chứ vẫn không bao giờ trở thành vũ khí uy lực của Đảng như Đảng hằng mong muốn nhưng sẽ lại mãi mong chờ.

E- TRUYỀN THÔNG

Truyền Thông trở thành thứ vũ khí mới nhất và lợi hại nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời gian từ ngay sau ngày 30-4-1975 đối với (a) phổ biến phổ quát các chủ trương chính sách của Đảng, (b) dựng xây hòa hợp dân tộc qua phân tích tình hình trong và ngoài nước tập trung vào thế thắng của chính nghĩa quốc gia, (c) chống chọi chống cự chống đối chống lại các hình thái chiến tranh tâm lý của kẻ thù, (d) nêu gương người tốt việc tốt trong xã hội, (e) phổ biến phổ quát hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa, và (f) giáo dục tư tưởng quần chúng.

Tuy nhiên, Truyền Thông Việt Nam ngày càng suy yếu, suy đồi, suy vi, suy tàn như đã được tác giả bài viết này nêu lên trong rất nhiều bài viết chuyên đề trước đây.

Một trong những phương pháp để học giỏi tiếng Anh mà tác giả bài viết này truyền thụ cho sinh viên của mình trong những năm 1980 là hãy tìm đọc các bài bình luận bằng tiếng Việt trên báo Sài Gòn Giải Phóng vì (a) không thể giỏi tiếng Anh nếu không xuất sắc tiếng Việt, (b) đọc bài xã luận tiếng Việt của Sài Gòn Giải Phóng để học hỏi về lập luận hùng biện cao cấp mang tính tư duy cao cấp về thời cuộc, và từ đó có thể (c) rèn luyện năng lực hùng biện tiếng Anh đối với tất cả các vấn đề mang tính thời cuộc và tư duy cao cấp.

Còn lời khuyên hiện nay của tác giả bài viết này – nếu trở lại giảng đường đại học tiếp tục giảng dạy các bộ môn tiếng Anh – sẽ là: muốn học giỏi tiếng Anh đạt trình độ tư duy hùng biện cao cấp thì hãy tránh xa tất cả các báo chí của Việt Nam vì báo chí Việt Nam đã suy yếu, suy đồi, suy vi, suy tàn, vì sự thật không bất kỳ ai có thể phản bác lại là: trên tất cả các tờ báo đã không còn tồn tại bất kỳ phần xã luận nào ra hồn.

Suy, vì trong khi trên báo chí nước ngoài các bài viết bình luận đều có tên đầy đủ của người viết kèm theo hình ảnh nhỏ xíu của người viết ở bên cạnh tên người đó thì tất cả các bài báo Việt đều (a) không “nhà báo” nào dám dùng tên thật và đầy đủ như trên Chứng Minh Nhân Dân, (b) không “nhà báo” nào dám bình luận gì mà chỉ dám “phỏng vấn” rồi đưa tin để “an toàn” cho mình và để mình tha hồ cắt xén làm hại kẻ bị mình “phỏng vấn” nếu mình không ưa hắn hoặc có nhận chỉ thị phải “nhét chữ vào mồm” hắn, (c) nếu không ai cho “phỏng vấn” hoặc bí đề tài thì tha hồ sáng tạo láo, và (d) sẵn sàng cóp nhặt tin giật gân nước ngoài hoặc nước trong miễn lấp đầy trang bao hay trang mạng.

Suy, vì tất cả các báo đều là của Đảng nhưng phản Đảng, làm Đảng suy yếu, lợi dụng Đảng để kiếm chác bằng cách de dọa doanh nghiệp, làm hại sản xuất nội địa, cũng như đơm đặt bao chuyện để làm Đảng phải mang nhục, v.v.

Bằng chứng rõ nét nhất của sự suy yếu là qua vụ Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước phát biểu chống cái gọi là “Luật Biểu Tình” khi:

1- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đồng loạt công kích Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước;

2- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam không bất kỳ nhà báo nào có kiến thức và trí tuệ về “biểu tình”;

3- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam không bất kỳ nhà báo nào có tầm nhìn thấu thị về “biểu tình”;

4- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đồng loạt hùa nhau trừng trị “người vì Đảng vì Nước vì Dân”, thay vì lẽ ra cái đạo ý thuần Việt phải luôn là đồng loạt bảo vệ người ấy như hành động rõ nét nhất để bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ. Cụ thể nhất – theo báo cáo của các học trò của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước – thì ngay cả Tạp Chí Xây Dựng Đảng cũng có một bài viết của một tên  nhà báo ngu xuẩn chống lại Nghị sĩ ấy, nghĩa là Tạp Chí Xây Dựng Đảng trở thành tạp chí vất sọt rác vì đã đăng một bài của một tên phản Đảng, vô trí, vô mưu, ngu xuẩn y như tất cả những tên nhà báo đầu bò ngu xuẩn đần độn mất dạy nào đã từng bu lại phỏng vấn để rồi viết bài chống lại Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước trong vụ “Luật Biểu Tình”.

5- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đã hoàn toàn thất bại và chịu nhục nhã do không thể khiến Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước phải từ nhiệm hay bị miễn nhiệm hoặc bị bãi nhiệm khỏi vị trí Nghị Sĩ, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại, và Thành Viên Hội Nghị Sĩ Hữu Nghị Việt Nam – Philippines của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII.

6- Toàn bộ báo chí chính thống Việt Nam đã hoàn toàn thất bại thảm hại vì chỉ một mình Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước đã ngăn chặn thành công tuyệt đối cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong toàn bộ nhiệm kỳ Khóa XIII của Quốc Hội thậm chí qua 1/2 thời gian của nhiệm kỳ Khóa XIV khiến cái mà toàn bộ báo chí chính thống của Việt Nam xúm lại ngợi ca đã bị xếp xó, khiến nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trở thành người có tầm nhìn thấu thị, có hiểu biết thấu đáo về “biểu tình” cũng như về thực tế đất nước, và tất nhiên là có sức mạnh hùng biện chiến thắng tất cả các “nhà báo”.

Lời khuyên của Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước là: nếu như muốn  Truyền Thông trở lại là vũ khí lợi hại của Đảng, Đảng nhất thiết phải loại bỏ toàn bộ  Truyền Thông vô dụng hiện nay để hình thành một đế chế Truyền Thông mới, trung thành tuyệt đối với Đảng, dựa theo kinh nghiệm trị quốc của tất cả các siêu cường tư bản tự do dân chủ là: Báo Chí Phải Và Chỉ Phục Vụ Cho Chế Độ.

Tất cả các vũ khí lợi hại của Đảng đều đã bị suy yếu. Đó là nỗi lo của người viết bài này đối với tiền đồ tổ quốc, tương lai dân tộc Việt Nam vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Tham khảo:

A) Chính Sách Nhân Lực:

Hoàng Hữu Phước. 05-6-2016. Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992

Hoàng Hữu Phước. 29-8-2013. Tôi và Lê Hiếu Đằng

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Hoàng Hữu Phước. 10-6-2016 Nguyễn Thiện Nhân

B) Báo Chí:

Hoàng Hữu Phước. 05-8-2016. Nhà Báo – Vì Đâu Nên Nỗi Thế Này

Hoàng Hữu Phước. 11-11-2016.  Báo Tuổi Trẻ Lại Giỡ Trò Fauxtography

Hoàng Hữu Phước. 27-12-2015. Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2015. Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông

Hoàng Hữu Phước. 21-01-2015. Thư Gởi Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam

Hoàng Hữu Phước. 22-01-2015. Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường QuốcHoàng Hữu Phước. 13-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu

Hoàng Hữu Phước. 16-10-2014. Về Một Ý Kiến Trên Báo Tuổi Trẻ

Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng

Hoàng Hữu Phước. 28-9-2014. Báo Người Lao Động

Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn

Từ Thuyền Nhân Đến Lộ Nhân – From Boat People to Road People

Vấn Nạn Mỹ, Vấn Đề Việt

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-11-2016

us-road-people-1

A) Dẫn Nhập: Bầu Cử 2016

Kỳ bầu cử Mỹ 2016 vừa qua đã dẫn đến những sự sụp đổ kỳ vĩ không những đem đến những bài học đắng cay kèm vinh quang cho Mỹ mà còn tạo cơ hội bằng vàng cho Việt Nam vững vàng hơn trong trị quốc.

B) Nước Mỹ Đáng Thương

Kết quả bầu cử đem thắng lợi đến Donald Trump đồng thời kéo rơi tấm màn nhung đỏ lộng lẫy để lộ ra một nước Mỹ vô cùng đáng thương.

1-  Sự Sụp Đổ Của Tượng Đài Tự Do – Dân Chủ

Như nhận xét ở phần kết luận cuối bài viết này, Mỹ không còn là đất nước khuôn mẫu của “dân chủ – tự do”.

“Dân chủ” sao được khi người dân thực thi “dân chủ” bỏ phiếu bầu Donald Trump Cộng Hòa lại bị người dân bỏ phiếu cho Hillary Clinton Dân Chủ phản đối, chà đạp “dân chủ” của họ bằng cách phát huy “dân chủ biểu tình” khắp nơi?

“Tự do” sao được khi người dân thực thi “tự do bỏ phiếu” bầu Donald Trump Cộng Hòa lại bị người dân bỏ phiếu cho Hillary Clinton Dân Chủ phản đối, chà đạp “tự do” của họ bằng cách “tự do biểu tình” khắp chốn?

2-  Sự Đần Độn Của “Tinh Hoa” Mỹ

Hưởng lợi nhiều thế kỷ nay từ sự độc quyền chính trị và độc tôn đảng phái, “giới tinh hoa” chính trị và truyền thông của Mỹ đã bị sĩ nhục với kết quả chiến thắng của Donald Trump. Sự sĩ nhục ấy phát xuất từ tính cách “đần độn” của giới tinh hoa Mỹ khi đã không hề tự nhận thức về các yếu điểm của đất nước mình trên bình diện chủng tộc và định kiến.

a) Tham Khảo Tố Chất “Tinh Hoa” Việt

Tố chất “tinh hoa’ Việt tuy mang nhiều định kiến sai lầm nhưng rất khác với tố chất “tinh hoa” Mỹ mà các định kiến của Mỹ thuộc loại đần độn.

Người Việt từ ngàn xưa đã xem trọng các thứ bậc của giai tầng như Sĩ Nông Công Thương tức luôn đặt giới sĩ phu lên bậc cao nhất của sự trọng vọng, tất nhiên giới sĩ phu tự động thuộc giai tầng “tinh hoa” Việt, dù công việc của giới này chủ yếu là phục vụ vương quyền và dạy học trò biết chữ Hán từ đó học hỏi được những điều tốt đẹp của người xưa. Khi nói phục vụ vương quyền, nghĩa là có sự chứng minh của lịch sử rằng các bậc “Sĩ” trung thành với chế độ, không làm loạn lật đổ vương quyền, cái mà các nhà “nhân sĩ” hiện đại dường như chưa từng học qua hay biết đến

Không những người dân Việt tôn trọng thần phục “Sĩ” mà “Sĩ” cũng không hề cho rằng các tầng lớp thấp kém hơn mình sánh được bằng mình trong trị quốc dù rằng các vị quân vương sáng lập các triều đại xuất thân từ các thứ hạng thấp hơn “Sĩ” ấy.

Chính vì định kiến mang tính tự tôn trên, các “nhà chí sĩ” Việt Nam khi “ra đi tìm đường cứu nước” đều hướng đến các cường quốc, trông cậy tuyệt đối vào sự nhờ  vả vào các cường quốc này, và tin tưởng duy nhất vào việc “học hỏi” kiến thức của các cường quốc ấy, nghĩa là chỉ tin tưởng vào một tầng lớp “tân sĩ phu” tức “sĩ phu” có du học ở Pháp hay ở Nhật, mặc nhiên tán dương việc học hành chữ nghĩa, mà bằng chứng không thể chối cãi là Phòng Trào Đông Du không hề cung cấp một danh sách nào về những tên tuổi những nhà khoa học, những nhà kỹ thuật, những nhà vật lý hóa học như kết quả của Phong Trào Đông Du ấy để làm Việt Nam cường thịnh..

Cũng vì định kiến mang tính tự tôn trên, ít có “Sĩ” nào ủng hộ cách của Hồ Chí Minh “ra đi tìm đường cứu nước”, cho rằng Ông lại cậy nhờ vào một thứ chủ nghĩa ngoại lai đặt sức mạnh chính trị vào tay Công và Nông mà “Sĩ” chưa từng cho là ngang bằng đẳng cấp với mình.

Tuy tất cả các “Sĩ” của thời Chống Pháp và Chống Mỹ chưa hềcó chút thành công nào cả trên bình diện tư duy, tư tưởng, và thực tế trị quốc (kể cả kẻ “Sĩ” là đại quan Ngô Đình Diệm cũng thất bại thãm hại khi lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa), đa số trong họ vẫn luôn được người dân Việt tôn trọng, tôn thờ, tôn kính, và họ luôn giữ vị trí trang trọng trong lịch sử nước nhà.

“Giới tinh hoa” Việt – tức “Sĩ” – đã không thành công, đã sai trong định kiến; nhưng họ là trí tuệ của dân tộc mà hành trạng tư duy không thể không theo đường hướng mang tính chân lý lịch sử vốn không thể nào khác hơn được.

b) Tố Chất “Tinh Hoa” Mỹ

Trong khi giới tinh hoa “Sĩ có tâm huyết chính trị” của Việt Nam sai, thì giới tinh hoa “Sĩ có nghề nghiệp chính trị ” của Mỹ lại ngu đần.

Họ ngu đần vì không chịu nhớ cho rõ rằng “dân” Mỹ không bao giờ có ý chí đồng tâm trên nền tảng của sự manh mún hoàn toàn không thể gắn kết. Trong khi các “dân tộc” Việt Nam cùng tranh đấu sinh tồn trong toàn chiều dài lịch sử Việt Nam thì các “dân tộc” Mỹ gọi là “hợp chủng” lại hoàn toàn khác nhau, không từng cùng tranh đấu sinh tồn trong toàn chiều dài lịch sử Hoa Kỳ mà chỉ tụ tập về Mỹ để tìm kế sinh nhai, chỉ lo hò hét chống lại “cố quốc”, nên không thể có chất keo kết dính; đã vậy, giềng mối lỏng lẻo ấy còn bị:

us-road-people-2

Họ ngu đần vì không chịu nhớ cho rõ rằng nước Mỹ luôn tồn tại các manh nha cho một sự rạn nứt tan rã vỡ vụn:

us-road-people-3us-road-people-4

Họ ngu đần vì họ đã chưa từng tôn trọng quốc gia Hoa Kỳ của họ mà thứ văn hóa cao cấp của họ nhiều lắm cũng chỉ có thể giúp họ giương cao ngọn cờ vinh diệu của Hoa Kỳ theo cách không vinh diệu của họ tức để chắn che bộ phận quý cao nhất của họ:

us-road-people-5

Image sources: Internet

Từ những ngu đần trên, “giới tinh hoa” chính trị và truyền thông Mỹ đã xem thường những lực lượng yếu thế trong xã hội Hoa Kỳ, dẫn đến mức độ “tức nước vỡ bờ” khi những người bị miệt thị nghèo khổ ít học này phản kháng bằng cách dồn phiếu cho Donald Trump.

Hồ Chí Minh đã đúng. Và kinh nghiệm của Hồ Chí Minh lẽ ra đã có thể giúp giới tinh hoa Mỹ đời đời ngự trị ngôi cao quyền lực nếu như Harry Truman đáp ứng lời Hồ Chí Minh yêu cầu Mỹ giúp đỡ cách mạng Việt Nam.

Giới tinh hoa Mỹ đã bị soán ngôi bởi những người họ xem thường, và đó là lý do họ không bao giờ được sánh ngang hàng với giới tinh hoa Việt vậy.

3-  Bói Toán Chiêm Tinh

Truyền thông của nước Mỹ hùng cường của khoa học tiến bộ nhất thế giới đã đưa ra những liên hệ đến những bói toán chiêm tinh. Dù Donald Trump đã thắng, thì truyền thông Mỹ cũng cần biết rằng ngay cả khi bói toán vớ vẩn rằng Obama là vị tổng thống cuối cùng có hoàn toàn chính xác đi nữa thì nó cũng chỉ có nghĩa đơn giản: đó là một Nước Mỹ Như Từng Là, chứ không là một Nước Mỹ Có Thể Sẽ Là do sự tan tách của các tiểu bang thành các quốc gia mới mà tác giả bài viết này đã có trích dẫn ở trên. Dù đúng hay sai thì các bói toán chiêm tinh lại là một điểm rất đáng thương hại của Các Tiểu Quốc Hoa Kỳ Thống Nhất USA.

C) Đầu Hói Đại Chiến Đầu Đen

“Đầu hói” ở đây là ám chỉ biểu tượng của Hoa Kỳ: Đại Bàng Đầu Hói Bald Eagle hung bạo.

“Đầu đen” ở đây là ám chỉ biểu tượng của Canada: Ngỗng Đầu Đen Branta Canadensis hiền hòa.

us-road-people-6

Gọi là “đại chiến” là nghĩa bóng về sức cuốn hút, chứ sẽ không bao giờ có việc đối đầu trực tiếp về cơ bắp giữa

us-road-people-7

vì rằng “Đại Bàng Đầu Hói” Mỹ xơi tái luôn cả chú nai to

us-road-people-8

thì sá gì Ngỗng Đầu Đen Canada vốn đã ngàn năm qua nằm trong danh mục món tráng miệng của Đại Bàng Đầu Hói

us-road-people-9

mà chẳng qua tác giả bài viết này hình tượng hóa sau khi có tin rằng một lũ celebrity – tức đám “người nổi tiếng” mà đa số là cái bọn thuộc ngành công nghiệp giải trí vốn toàn là bọn triệu phú thất học mà Donald Trump thường kê đặt đôi mông to của ông lên trên đầu bọn chúng – hê lên rằng chúng sẽ bỏ sang Canada nếu Donald Trump đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ

 us-road-people-10

mà nếu chúng bỏ đi thật thì chúng cực kỳ ngu xuẩn do – như đã nói ở trên – chúng đa số thất học nhưng giàu có vốn là hai nét đặc trưng đầy vinh diệu của quân đoàn công nghiệp giải trí.

Dù cho hiện nay đứa celebrity nào cũng muối mặt ngậm tăm không dám nhắc lại lời tuyên bố hào hùng sẽ làm Lộ Nhân tức Road People lũ lượt vượt biên sang Canada, những chi tiết sau sẽ giúp bọn celebrity Mỹ vô lại, giúp người dân Mỹ nào khôn hơn chúng, và giúp người Mỹ gốc Việt hiểu biết hơn về Lịch Sử Mỹ-Ca mà chưa đấng học giả nào của nhân loại từng nói đến:

1- 1800: Lịch Sử Vượt Biên Mỹ-Ca: Tìm Đến Thiên Đường

Năm 1880 tờ Canadian Illustrated News của Canada đã có in trang bìa bức họa Come to Stay (đến định cư) để minh họa tình hình ồ ạt kéo đến của dân nhập cư.

Song, điều cần lưu ý ở đây là:

a) Canada chỉ hân hoan chào đón dân nhập cư da trắng bất kể từ Mỹ, Anh Quốc, Ái Nhĩ Lan hay Ukraine

us-road-people-11

b) Canada chỉ hân hoan chào đón dân nhập cư trong lĩnh vực khai phá nông nghiệp, ngay cả các tiều phu Canada cũng từ những phụ nữ nhập cư từ Ukraine:

us-road-people-12

c) Canada đặc biệt hân hoan thèm thuồng mời gọi phụ nữ da trắng nhập cư

us-road-people-13

mà theo quảng cáo đăng trên báo là do có sự nhục nhã khi quá nhiều đàn ông Canada không thể có vợ (thiếu phụ nữ trầm trọng), đến độ bất kỳ ai mặc váy (tức là phụ nữ) đều được chào đón cho nhập cư, đến độ phụ nữ nào không đến được thì cứ hãy nhanh chóng gởi các cô em gái của họ đi thay.

Tuy nhiên, ngoài số đông người Mỹ đổ xô sang Canada vì phấn khích trước tin tức sẽ được Canada cấp hàng trăm héc-ta đất để lập nông trang, một số người Mỹ giàu có cũng hớn hở tìm sang Canada vì cho rằng sẽ kiếm được bộn tiền hơn

us-road-people-14

ngay cả khi những người Mỹ vượt biên trước lên tiếng báo động rằng đừng sang Canada vì xứ ấy chỉ có toàn là băng với tuyết (lạnh giá)

us-road-people-15

thì cũng chưa từng làm làn sóng Lộ Nhân vượt biên từ Mỹ sang Canada gia giảm, thậm chí năm 1971 chiến tranh Việt Nam làm người Mỹ chiếm đại đa số những người di dân vào Canada và 30% sinh viên Mỹ ngỏ ý sẽ bỏ Mỹ sang Canada để tránh “nghĩa vụ quân sự”

us-road-people-16

Sức cuốn hút từ Canada hoàn toàn không do Canada luôn cần đến sự giúp sức của dân nhập cư, mà theo tờ Daily Colonist của Canada số ra ngyaf 13-11-1976 thì ngay cả khi lúc ấy Canada đang có gần 700.000 người thất nghiệp thì chính phủ vẫn mở rộng vòng tay chào đón dân nhập cư từ Chile chẳng qua vì muốn “càng đông càng vui” nghĩa là mong muốn có thêm người thất nghiệp để người bản xứ thất nghiệp không thấy bị lẻ loi.

us-road-people-17

Tuy nhiên, nói cho công bằng thì Hoa Kỳ cũng có một sức hút nhất định, mà theo thông tin từ tờ báo sau của Canada năm 1926 thì đã có cuộc di dân ồ ạt của non nửa triệu người bỏ Canada sang Mỹ.

us-road-people-18

2- 2016: Phản Lịch Sử: Vượt Biên Từ Bỏ Thiên Đường

Thế nhưng, thay vì nhận thức rõ nét hơn về sức hút Canada

us-road-people-19

Mỹ luôn tự tin vào sức hút Mỹ, với sự ngạo mạn rằng vấn đề chỉ là thời gian thôi (“It’s only a question of time”), nghĩa là sớm muộn gì người Canada cũng sẽ bị hút sang Mỹ hết

us-road-people-20

Và trong đợt bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 vừa qua, truyền thông Mỹ (lại bọn truyền thông khốn kiếp!) cho hay người Mỹ ồ ạt nộp đơn xin qua Canada khiến trang mạng đăng ký online của Canada bị sập. Chưa kể, có khoản mấy chục đứa celebrity hữu danh ngai vàng có mà vô danh tiểu tốt chui cống cũng có đồng thanh tuyên bố sẽ bỏ sang Canada khiến tự nhiên Canada có lại sức hút trước đây của mình. Tuy nhiên, thời đại mới sẽ có hoàn cảnh mới, dẫn đến việc Mỹ Trở Thành Thiên Đường mà độc giả xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

3- 2016: Tân Lịch Sử: Nước Mỹ Trở Thành Thiên Đường

Nếu thật sự nhiều người Mỹ bỏ sang Canada, nước Mỹ sẽ trở thành thiên đường vì những lý do sau:

a) Những người Mỹ bỏ sang Canada toàn là thứ cặn bã: các celebrity bỏ đi vì sợ Donald Trump tăng thuế thu nhập, nghĩa là đám celebrity Mỹ thuộc chung đẳng cấp với thằng trốn thuế Lionel Messi của Barcelona Tây Ban Nha và con trốn thuế Nguyễn Thị Nguyệt Hường của Quốc Hội Việt Nam. Chúng ở lại Mỹ cũng chẳng ích lợi gì cho Mỹ, để chúng sang quậy cho Canada tanh banh, và sẽ có ích cho Mỹ vì Mỹ từng muốn thôn tính Canada. Nước Mỹ sẽ xanh sạch hơn khi thiếu vắng bọn celebrity – trong đó có mụ Lady Gaga là đứa ngồi lỳ trong chiếc Rolls-Royce Phantom tham gia “biểu tình” trước Trump Tower để chống Donald Trump.

b) Những người Mỹ ở lại an tâm hơn về “job” nghĩa là không còn sợ thiếu việc làm.

c) Những du học sinh tại Mỹ có mưu kếở lại Mỹ kiếm ăn sẽ an tâm hơn về tương lai mình vì Mỹ sẽ phải trông cậy vào các du học sinh này do không những chỗ làm trống sẽ nhiều hơn mà còn vì Trump đã tuyên bố đánh giá cao những du học sinh học giỏi có nộp đơn xin nhập cư hợp pháp.

d) Những người Mỹ ở lại sẽ yên tâm hơn vì bất động sản Mỹ sẽ ngày càng có giá trị cao hơn. Người Mỹ sang Canada sẽ không sao mua nổi bất động sản do người Tàu đã sang trong 10 năm qua mua sạch hết các khu đất vàng ở tất cả các tỉnh thành, khiến đẩy giá nhà vọt cao “phi mã” bất thường làm ngay cả dân Canada cũng không còn khả năng làm chủ địa ốc tại các thành phố lớn, và điều này sẽ khiến những người Mỹ lại ùn ùn bổ nhào về Mỹ. Người Mỹ ở lại nên nắm bắt cơ hội này để đầu tư mua sắm đại ốc giá hạ để chỉ trong tối đa 5 năm nữa sẽ kiếm lợi nhuận vọt cao “phi mã” bất thường từ việc bán lại cho các Mỹ Kiều “hồi hương” này.

e) Người Mỹ gốc Việt là cộng đồng hưởng lợi nhiều nhất về tài sản: Nếu ngày xưa người Việt vượt biên trở thành Thuyền Nhân Boat People do bị Mỹ-Thiệu hù dọa rằng Việt Cộng sẽ lấy kềm rút hết móng tay của đàn bà con gái Sài Gòn và bắt nhốt hết phụ nữ để làm nô lệ tình dục phục vụ các chiến binh cộng sản háo sắc háo dâm, thì nay người Mỹ gốc Việt nên sử dụng chiêu trò Made-in-USA đó để tích cực tham gia thúc đẩy người Mỹ chính gốc vượt biên làm Lộ Nhân Road People bằng cách hù dọa rằng Donald Trump dữ dằn hơn cộng sản sẽ bắt lùa hết đàn bà con gái vào Tòa Bạch Ốc cho ông ta sờ soạng quấy rối tình dục. Người Mỹ gốc Việt sẽ có cơ hội có job tốt mới, có tài sản địa ốc mới có giá trị cao hơn, và có vợ đẹp giống như trước đây một số gia đình Sài Gòn chạy khỏi Sài Gòn không kịp nên vội vàng gả con gái cho bất kỳ ai trong xóm để con mình không bị bắt làm nô lệ tình dục cho “Việt Cộng tham tàn khát máu phi nhân”.

f) Người Mỹ gốc Việt là cộng đồng hưởng lợi nhiều nhất về chính trị vì không có giống dân nhập cư nào vào Mỹ lại mê say quyền lực chính trị như người Mỹ gốc Việt. Từ những người không bao giờ có thể làm nên trò trống gì để lật đổ cộng sản ở Việt Nam và không bao giờ có thể trở thành ứng cử viên tổng thống Mỹ của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa, trước cơ hội mười ngàn năm mới có một, khi Donald Trump không thuộc giới chính trị lại xô sập tất cả các tượng đài “tinh hoa chính trị” của Hoa Kỳ, mở ra thời kỳ sau này sẽ có các ứng cử viên không thuộc Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa được dân Mỹ ũng hộ, những người Mỹ gốc Việt nay đã có thể lập kế hoạch 10 năm cho sự tham chính của mình bất kể Hoa Kỳ là Hoa Kỳ hay Hoa Kỳ là Nước Mỹ Vỡ Vụn để trở thành tổng thống Mỹ. Điều khôn ngoan nhất hiện nay cho đại cuộc ấy là hãy kiếm tìm sự ủng hộ của Việt Nam Cộng Sản, đơn giản vì trên quả địa cầu Atlas này không có quốc gia nào khác ủng hộ cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Hoa Kỳ.

g) Những dân nhập cư hợp pháp yên tâm hơn vì việc hồ sơ của họ bị chậm trể cứu xét chẳng qua là do có hàng trăm ngàn dân nhập cư lậu khiến ngân sách Hoa Kỳ hao hụt buộc phải đình đốn việc xem xét các đơn đúng…“quy trình”, nay Donald Trump mạnh tay đối với những kẻ nhập cư bất hợp pháp sống bám vào tiền thuế của dân Mỹ nên tình hình sẽ ổn định trở lại.

h) Những người Mỹ bỏ sang Canada sẽ nhanh chóng nhận ra ngay rằng Canada giống y hệt Việt Nam vì cảnh lụt màn trời chiếu nước này ở Toronto

us-road-people-21

nào có khác gì cảnh triều cường màn trời chiếu nước này ở Thành phố Hồ Chí Minh

us-road-people-22

Nên họ biết chỉ có hai con đường duy nhất để chọn, đó là hoặc nộp đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam để tránh Donald Trump, hoặc giữ nguyên quốc tịch Hoa Kỳ trở về Mỹ sống chung với Trump vì sống chung với Trump còn sướng hơn sống chung với lũ lụt hay chung sống với triều cường.

Tất cả những điều trên cộng với chủ trương của Trump bớt can thiệp vào nội tình khu vực và nội tình quốc gia khác khiến đầu tư của Mỹ vào chính đất nước Mỹ gia tăng, sự phồn vinh có thể quay trở lại, thanh niên Mỹ không bị ném tới tấp vào các lò sát sinh ở Trung Đông, và hơn ai hết chính người dân Mỹ sẽ thừa hưởng các quyền lợi chỉ có ở nước Mỹ thiên đường mà từ thời Washington đến Obama đã chưa hề xây dựng được dù chỉ một giây.

D) Lời Khuyên Dành Cho Lãnh Đạo Hoa Kỳ

1-  POL-Zipperism

POL là một trong những cách viết tắt của “chính trị”. Zipper là dây khóa kéo quần hay áo. POL-Zipperism là Đường Lối Khóa Chính, theo đó Mỹ sẽ kéo dây khóa mồm, không phát biểu linh tinh về chính sách chính trị của nước khác, nhờ vậy Mỹ chung sống chan hòa với tất cả các nước, thêm bạn giảm thù, giúp an ninh chính trị của Mỹ được an toàn bền vững hơn. Việc làm đầu tiên của một POL-Zipperist là ra lịnh cho Đại Sứ Mỹ Ở Việt Nam Ted Osius từ nay chỉ được nói tiếng người, không được sủa như chó về nhân quyền, dân chủ, tự do, tôn giáo, lương tâm, vốn không những là những phạm trù láo xạo tào lao xằng bậy ngu xuẩn của Âu Mỹ cần được Việt Nam giúp định nghĩa lại, mà lại còn là những điều đi ngược lại với chủ trương lúc tranh cử của Donald Trump. Trường hợp Ted Osius không thể nói được tiếng người (do là bầy tôi của Hillary Clinton) thì Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhanh chóng cử người khác thay thế, kẽo đêm dài lắm mộng.

2-  POL-Laissez-faireism

Nếu Laissez-faire là một lý thuyết về tự do kinh doanh thì POL-Laissez-faireism là một hình thái gọi là Đường Lối Chính Tự, dựa vào phát biểu về tự do kinh doanh năm 1736 của chính khách Pháp René Louis de Voyer rằng “Leave it to itself has been the proper motto of public powers since the dawn of civilisation. Leave it to itself, for the love of God! Leave it!“(Phương châm đúng đắn của các quyền lực công ngay từ thời khai sinh ra nền văn minh là hãy để thị trường tự quyết. Hãy vì Chúa mà để nó tự quyết! Hãy để nó yên!).

POL-Laissez-faireism đặt nền móng cho hòa bình thế giới rằng không một quốc gia nào được áp đặt hay tác động vào sự thay đổi về chính trị của bất kỳ quốc gia nào khác: Phương châm đúng đắn của các quyền lực quốc tế từ thời khai sinh ra nền văn minh nhân loại là hãy để quốc gia nào tự quyết cho quốc gia đó. Hãy vì Chúa mà để họ tự quyết! Hãy để họ yên!

Nói theo ngôn ngữ nghị trường Quốc Hội Việt Nam thì POL-Zipperism là “luật hình thức”, còn POL-Laissez-faireism là “luật nội dung”.

Sở dĩ có một vị hoàng đế hoàn hảo vì cùng lúc có những vị hoàng đế khác trên thế giới.

Nếu chỉ có một vị hoàng đế duy nhất trên thế giới thì mầm loạn sẽ đến ngay lập tức từ những sứ quân bầy tôi lúc nhúc bu quanh.

Vì vậy, Donald Trump có thể là một vị hoàng đế hoàn hảo nếu thực hiện đúng khẩu khí tranh cử không xen vào chuyện nội trị của các quốc gia khác.

Hãy để Việt Nam tự quyết! Mô Phật, hãy để Việt Nam yên!

“Hãy để Việt Nam tự quyết! Mô Phật, hãy để Việt Nam yên!” là một mẫu câu (sentence pattern) mà tên quốc gia có thể được thay thế (substitution) bằng tên quốc gia khác, còn thành ngữ “Mô Phật” có thể thay bằng thành ngữ khác của từng tôn giáo khác.

E) Kết Luận: Lời Khuyên Dành Cho Lãnh Đạo Việt Nam

Tình trạng hỗn độn tại Mỹ sau khi Donald Trump đắc cử tổng thống Hoa Kỳ cho thấy:

1) Dân Chủ:

Rõ ràng “dân chủ” (in đậm) không phải là “dân chủ” (in nghiêng). Dân chủ là một hình thái thuần chính trị của Tây gọi là democracy trong đó người dân bầu lãnh đạo qua một cuộc bầu cử mà cách tổ chức tùy thuộc vào mỗi quốc gia riêng biệt chẳng hạn như kiểu của Mỹ thì chẳng giống ai và cũng chẳng ai giống. Trong khi đó, dân chủ lại được diễn giải ở tiếng Việt thành dân làm chủ, và đây là một hình thái thuần ngữ nghĩa của Việt nên hoàn toàn không dính dáng gì đến chính trị mà trở thành vũ khí của nhà cầm quyền Cộng Sản trong công tác tư tưởng về cái sự “dân làm chủ” cũng như là vũ khí của bọn chống Đảng trong tâm lý chiến của chúng về cái sự “Đảng làm chủ của dân”; vì vậy, nhất thiết phải sửa đổi từ điển cho đúng với thế giới, dạy cho học sinh biết cái nghĩa đúng ấy của thế giới, và gia tăng trừng phạt bất kỳ ai lạm dụng cái sai của ngôn từ thuần Việt để xúc xiểm chính quyền.

Ngoài ra, cần làm rõ các ý nghĩa của các đứa con tư duy Âu Mỹ về democarcy vốn đang xung đột dữ dội trong nội tình các nước Âu Mỹ bao gồm nào là capitalist democracy, nào là liberal democracy, nào là social democracy, v.v. và v.v, mà cái democracy nào cũng chõi lại những cái democracy còn lại bằng những ngôn ngữ nguyền rủa miệt thị kiểu out-Trump Trump – mà nói theo kiểu bình dân Việt là “còn quá cha Trump”.

Tỷ phú Mỹ Peter Thiel, nhà đầu tư của Thung Lũng Silicon mà trong hàng trăm khoản đầu tư vào các “khởi nghiệp” thì trung bình ông “chỉ ” rót có vài trăm triệu USD lẻ tẻ cho mỗi doanh nghiệp, vị lãnh đạo của các đại gia áp dụng công nghệ thông tin trong đó có PayPal và Facebook, và là người đã phát biểu tại Đại Hội Đảng Cộng Hòa mạnh mẽ ủng hộ Donald Trump, đã từng viết trong một tiểu luận năm 2009 rằng “Điều quan trọng nhất ở đây là tôi không còn cho rằng rự do và dân chủ tương thích với nhau” (Most importantly, I no longer believe that freedom and democracy are compatible”). Thiel cho rằng mình đã sai khi nghĩ Mỹ là một thể chế democracy vì Mỹ là một quốc gia bị khống chế bỡi những cơ quan mà các lãnh đạo của chúng toàn là giới tư bản quyền lực không do dân – tức Quốc Hội – bầu lên mà tất cả đều do Tổng Thống chỉ định (a state dominated by very unelected, technocratic agencies).

Như vậy, dân chủ rõ ràng đã chưa từng – và sẽ không bao giờ – mang ý nghĩa dân chủ mà tiếng Việt đã luôn từng diễn giải từ khi xuất hiện chữ quốc ngữ cả.

2) Tự Do:

Những diễn biến “biểu tình” sau khi Donald Trump trở thành Tổng Thống Đắc Cử của Hoa Kỳ cho thấy ý nghĩa chính xác mang tính chất đặc thù của tự do Âu Mỹ, đó là hình thái mất dạy và hỗn loạn của Âu Mỹ: tự do chà đạp tự do, tự do chà đạp dân chủ, tự do “ngôn luận chống”, tự do không nhìn nhận Tổng thống đắc cử, v.v. và v.v.

Kinh nghiệm của Việt Nam nên là: hãy tuyệt đối mạnh tay ngay từ bây giờ đối với các lạm dụng tự do, vì sự mạnh tay mới chính là cách duy nhất hữu hiệu để bảo vệ quyền tự do chính đáng được làm công dân đoan chính.

3) Giới Tinh Hoa:

Cái sai cực kỳ trầm trọng của Nhà Nước Việt Nam dẫn đến sự suy sụp mang tính vấn nạn của cả bốn lĩnh vực liên quan hữu cơ chặc chẽ với nhau gồm (a) thực lực học vấn, (b) thực chất học hành, (c) thực tế học hỏi, và (d) thực trạng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam, là đã kiên trì hành xử rất “từ chương” trong dụng nhân.

Cứ nghe loáng thoáng về “Nhà Bếp Của Thế Giới” qua buổi thuyết trình của giáo sư Philip Kotler tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 là ngay lập tức 100% báo chí Việt Nam dù là hình hay giấy hay mạng đều có 100% tin toàn phỏng vấn “Ông Phở 24” ngay cả khi tác giả bài viết này từ trực tiếp tham dự buổi thuyết trình của Philip Kotler mà không sử dụng ear-phone dịch tiếng Việt đã vội vàng viết blog bằng tiếng Việt và tiếng Anh khẳng định rằng Philip Kotler không hề bảo Việt Nam nên trở thành như thế, rằng “phở” chả là cái quái gì đối với ẩm thực thế giới vốn có hơn nửa dân số nhân loại ăn chay trường, cũng như “phở” chẳng có giá trị dinh dưỡng gì trong thời đại của cúm gà, bò điên, heo lỡ mồm long móng. Thế mà giới tinh hoa báo chí Việt vẫn ngu xuẩn tiếp tục bám riết lấy “phở” để rồi sau đó ông vua phở bán luôn thương hiệu phở, bỏ của chạy lấy người, còn khi Obama đến Hà Nội thì chẳng thèm ăn “phở” mà là ăn “bún chả”. Donald Trump nếu sang Việt Nam sẽ gặm ổ bánh mì thịt hoặc làm một dĩa bánh ướt.

Cứ nghe loáng thoáng về nguồn cà phê giảm sút tai hại là ngay lập tức 100% báo chí Việt Nam dù là hình hay giấy hay mạng đều có 100% bài phỏng vấn “Ông Trung Nguyên” ngay cả khi tác giả bài viết này từ trực tiếp nghiên cứu thị trường thế giới cà phê từ những năm 1980 đã viết blog cảnh báo là Ông Trung Nguyên chẳng biết quái gì về chiến lược cà phê đâu, để rồi sau đó ông ấy chỉ biết mỗi có việc thở than tại sao mấy công ty ngoại vào thu mua sạch bách cà phê hạt của nông dân, rồi thở than kiến nghị Nhà Nước phải làm gì đó để “trả lại sự công bằng” cho ông ta, cũng như để rồi bạn hữu của tác giả bài viết này phải chụp gởi một bức ảnh về “khẩu hiệu” của Trung Nguyên mà họ cho là bậc thầy của sự diễu hềcười đã đời trọn kiếp: “Cà Phê Của Hạnh Phúc Và Giàu Sang”.

Cứ nghe loáng thoáng về kinh tế thế giới, về bầu cử Mỹ, về tình hình tranh chấp biển đảo, là ngay lập tức 100% báo chí Việt Nam dù là hình hay giấy hay mạng đều có 100% bài phỏng vấn “chuyên gia” kinh tếX hay “chuyên gia” viện nghiên cứu chiến lược Y hoặc “nhà sử học” Z ,v.v., mà người xem đài, người xem báo đều đã biết quá rõ các bản mặt đến độ nhàm chán của họ, và “nhà báo” không quan tâm đến sự thật rằng tất cả – xin nhắc lại từ “tất cả” – đều hoặc vô dụng do chưa hề giúp gì cho một Việt Nam cất cánh thay thế cho một Việt Nam còn dính lã lơi ở đầu dây thả diều, hoặc trật lấc như các nhận xét hồ đồ tầm bậy tầm bạ về tầm vóc thành công của mụ Hillary Clinton, v.v.

Cứ quy định phải có bằng cấp tiến sĩ – chứ không cần có trình độ tiến sĩ – mới được ngồi vào ghế hiệu trưởng trường đại học nên (a) các sản phẩm của các trường đại học đều chưa bao giờ được dán nhãn “high quality”; (b) mới có chuyện vị hiệu trưởng “tiến sĩ” một đại học giỡ trò lưu manh đá cá lăn dưa đầu đương xó chợ giữ ghịt con dấu hai năm trời, không chịu bỏ ghế hiệu trưởng theo lịnh của hội đồng quản trị, đóng cổng không cho công an và các quan chức cao cấp của Thành phốHồ Chí Minh được bước vào trong trường, mặc cho giáo viên không có lương và sinh viên không có tương lai, đến độ chủ nhân của đại học ấy vì nghe danh đã lâu nên cầu cứu tác giả bài viết này xin hãy nhận ghếhiệu trưởng để lãnh đạo trường vượt qua khủng hoảng, nâng vực dậy trường từ hố sâu sụp đổ, mà tác giả bài viết này là chuyên gia cứu hộ doanh nghiệp xem đó như là chuyện không có gì dễ dàng bằng, nhưng rốt cuộc đại sự cứu hộ không thành vì ông ta chỉ có bằng thạc sĩ kinh doanh quốc tế.

Cứ nghe gì liên quan đến kế sách giáo dục là ngay lập tức 100% báo chí Việt Nam dù là hình hay mạng đều có 100% bài phỏng vấn “nhà giáo” lão thành đầu râu tóc bạc hay nhà giáo “trẻ” ngay cả khi họ chẳng ai từng là nhà nghiên cứu có đẳng cấp tư vấn về chiến lược giáo dục, mà thậm chí có khi cuộc phỏng vấn chỉ lột tả họ như những người đầm đìa nước mắt cất giọng nức nở rằng nếu được chọn lại họ sẽ chẳng theo nghề giáo.

Tương tự, “giới tinh hoa chính trị” của Mỹ đã làm dân chúng Mỹ khinh miệt, dẫn đến tức nước vỡ bờ, dồn phiếu cho Donald Trump vốn là người đứng ngoài danh sách giới tinh hoa ấy, khiến toàn giới tinh hoa chính trị của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đều muối mặt, chịu nhục “một lần và mãi mãi” (once and for all) vì kể từ thời khắc 08-11-2016 vị trí thống soái của giới tinh hoa chính trị chuyên nghiệp của Hoa Kỳ vĩnh viễn bị tước ngôi do đã đánh mất lòng tin của người dân vào những gương mặt tinh hoa của đảng chính trị, dẫn đến viễn cảnh kể từ cuộc bầu cử Tông Thống Mỹ 2021 các ứng viên sẽ bị soi kỹ về các ưu điểm mà trong đó không hề có điểm nào liên quan đến tố chất tinh hoa chính trị cùng kinh nghiệm trị chính. Đảng vẫn còn, vẫn luôn còn, nhưng Đảng sẽ cần lôi kéo những người ngoài cuộc outsiders vào làm đại diện cho đảng trong cuộc chạy đua dành quyền lực tổng thống.

Kinh nghiệm của chính trường Mỹ không thể là bài học quá khó khăn để Việt Nam không thể rút ra được điều gì có lợi cho việc trị quốc và giữ gìn ưu thế của đảng chính trị, mà lời khẩn thiết van xin của tác giả bài viết này dành cho lãnh đạo luôn  là và chỉ là: hãy triệt bỏ phong cách, chính sách, chủ trương, lề lối, “quy hoạch”, dụng nhân trên nền tư duy từ chương;

Vì rằng, “giới tinh hoa” không được – chứ không phải “không chỉ” – gói gọn trong các cụm từ: đảng viên cộng sản cao cấp, đảng viên cộng sản có bằng cấp tiến sĩ từ tiền thuế của dân, đảng viên cộng sản là lãnh đạo các viện nghiên cứu, đảng viên cộng sản là lãnh đạo các đại học, đảng viên cộng sản làm lãnh đạo các sở-ban-ngành, đảng viên cộng sản làm tổng giám đốc ở tất cả các cơ quan từ tổng công ty đến ngân hàng, và đảng viên cộng sản làm “nhà báo”, v.v.;

Vì rằng, một khi đã ban phát thẩm quyền cho “giới tinh hoa của Đảng” như liệt kê ở trên thì sẽ luôn dẫn đến (a) các vụ trọng án kinh tế, (b) các vụ đào thoát, (c) các vụ tự diễn biến tự chuyển hóa, (d) các vụ tự nổi điên sau khi chấm dứt nhiệm kỳ lãnh đạo dù ở cấp ủy ban nhân dân hay Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam như vụ Lê Hiếu Đằng của Mặt Trânj Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh, v.v.

“Giới tinh hoa”, do đó, nên – và chỉ nên – là giới tinh hoa của và từ mọi công dân  Việt Nam mà tiêu chuẩn chỉ bao gồm mỗi hai chữ “ưu tú”, “đức tài”..

4) Bạo Lực Cách Mạng:

Tình hình Hoa Kỳ sau khi Donald Trump trở thành Tổng Thống Đắc Cử (President-elect) cho thấy ngay cả khi Hoa Kỳ là đất nước lòa chói những tia hào quang mang tên tự do cao, dân chủ cao, pháp quyền mạnh, quân đội mạnh, giàu sang bậc nhất, trí tuệ bậc nhất, và giáo dục bậc nhất, thì người dân Mỹ vẫn bắt chước chính phủ Mỹ (luôn chà đạp cả thế giới) để chà đạp luật pháp Hoa Kỳ qua việc không chấp nhận việc ý muốn của mình lại thua ý kiến người khác, nghĩa là “biểu tình” chống việc Donald Trump đắc cử.

Như vậy, ở đất nước Việt Nam đang chịu các vấn nạn của (a) Đảng tự động vất bỏ vũ khí mang tên “bạo lực cách mạng” vốn đã đưa đại cuộc giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước đến thành công tuyệt đối để rồi áp dụng những cái ẻo lả hóa, mềm nhũn hóa, nhão nhoét hóa, cùn nhụt hóa, ma mỵ hóa, khiến hỗn hào hóa “một vài” người dân sẵn sàng đốp chát đánh đập cảnh sát giao thông, tham nhũng hóa “một bộ phận không nhỏ” – mà ông Trương Tấn Sang hình tượng hóa qua cụm từ “bầy sâu” nhưng chẳng ai thấy chúng trườn lũi đi mô  – sẵn sàng chà đạp pháp luật khi gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng và cả tỷ USD rồi ung dung ra khỏi Việt Nam bằng vé máy bay hạng nhất, hoặc ngự trị ngôi cao bên trong cung điện Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam mà ngay cả Chủ Tịch Nguyễn Thiện Nhân của cái trung ương ấy cũng mù tịt về đại kế hoạch của mụ nữ phó tướng của mình đưa cả gia đình cùng tài sản kếch sù của hai vợ chồng mụ sang Đảo quốc Malta làm công dân hạng một, cũng như nhiều sự việc khác của các giới khác, cứ như nhổ toẹt vào mặt thể chế chính trị nước nhà, thì cách chi mà bảo đảm rằng cái “thiểu số thua trận” lại không thể gây ra bạo loạn như dân Mỹ cơ chứ!.

Vì vậy, dù đã quá muộn màng do vũ khí đã đánh mất, Việt Nam cần rèn đúc lại vũ khi bạo lực cách mạng để duy trì sự ổn định chính trị.

Mỹ có thể xử lý các vụ bạo loạn vì Mỹ có bạo lực trị quốc được minh định trong Hiến Pháp Hoa Kỳ.

Việt Nam khó xử lý các vụ bạo loạn vì đã tự nung chảy thanh bảo kiếm bạo lực cách mạng được minh định trong … sách giáo khoa của một thời quá khứ.

5) Không Nhân:

Nếu 30-4-1975 đã dẫn đến cuộc Exodus tức vượt biên ồ ạt của người Việt ở Miền Nam (có sự “ăn theo” của người dân ở Miền Bắc) do khiếp sợ Cộng Sản từ những lời hù dọa của Mỹ-Thiệu, tạo cơ hội vàng cho vô số người của cách mạng Việt Nam trà trộn tham gia vượt biên để danh chính ngôn thuận được hiện diện dễ dàng khắp các nước Âu Mỹ, mà báo giới Âu Mỹ buộc phải chế ra từ ngữ “boat people” tức “thuyền nhân” tức những người vượt biên bằng thuyền (do không thể dùng chữ “refugee” tức “dân tỵ nạn” vì không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy những “thuyền nhân” đã bị ngược đãi về chính trị cũng như không có bất cứ bằng chứng nào cho thấy có sự tồn tại của sự tra tấn giết chóc của cái gọi là Việt Quốc Xã tàn độc như Đức Quốc Xã cả);

Thì kỳ bầu cử Tổng Thống Mỹ tháng 11-2016 lại có sự đe dọa trước đó rằng nhiều người Mỹ sẽ bỏ sang Canada, có thể hình thành cuộc Exodus tức vượt biên ồ ạt của người Mỹ từ những lời hù dọa của truyền thông Mỹ và của những tên tội phạm kinh tởm như bè lũ Barack Obama – Hillary Clinton, mà tác giả bài viết này buộc phải chế ra từ ngữ “road people” tức “lộ nhân” hoặc “xa nhân” tức những người vượt biên bằng đường bộ tức bằng xe, mà những đám người Mỹ vượt biên toàn là hoặc dễ bị lừa phỉnh, hoặc tay trắng không có gì phải khệ nệ mang theo, hoặc tay nắm lắm tiền có nguồn gốc bất minh.

Từ hai sự việc trên, Việt Nam cần quan tâm đến “air people” tức “không nhân” tức những người vượt biên bằng đường hàng không mà bọn Trịnh Xuân Thanh là điển hình cá nhân trót lọt, còn Nguyễn Thị Nguyệt Hường là điển hình của đại gia đình chuẫn bị lọt trót. Việt Nam phải tuyệt đối theo dõi tất cả các quan chức cấp cao của các tổng công ty, các ngân hàng, và các cơ quan quyền lực quốc gia.

Các “không nhân” phải bị tiêu diệt ngay tại phi trường, vì chỉ có ba hạng không nhân: đó là bọn tham nhũng, bọn phản quốc, và bọn khủng bố sau khi gây án hoặc suýt gây án.

Việc bất kỳ ai trong bọn chúng đào thoát thành công là quốc nhục của chế độ này.

6) Cơn Thịnh Nộ Dành Cho Truyền Thông:

Donald Trump (a) đại diện cho vô số người dân nổi giận trước sự suy đồi của giới truyền thông “tinh hoa” của đất nước, (b) đại diện cho chính cơn thịnh nộ của bản thân ông trước các chiêu trò bẩn thỉu của truyền thông chống lại cá nhân ông, (c) lên tiếng công kích thóa mạ truyền thông và ra tay đấm vào mặt truyền thông, và (d) manh nha xây dựng đế chế truyền thông riêng của mình. Truyền thông Mỹ thuộc quyền các trùm truyền thông phục vụ cho một đảng chính trị nắm quyền, sẵn sàng ra tay triệt hạ những tài hoa không thuộc đảng chính trị nắm quyền bằng cách nhét chữ vào mồm hoặc ngụy tạo bằng chứng.

Thế ở Việt Nam truyền thông là công cụ tuyên truyền riêng của Đảng Cộng Sản, được Đảng ban phát quyền lực ngang hàng với cơ quan an ninh quốc gia với nhãn mác “thi hành công vụ”, và được Đảng thương yêu chìu chuộng vuốt ve để trung thành tuyệt đối với Đảng

thì có hay chăng cái Loạn Kiêu Báo?

và có phải chăng khi ai đó nêu việc phóng viên ngụy tạo tin tức kiểu fauxtography, phóng viên vòi tiền doanh nghiệp, phóng viên cứu nguy phe ngoại bằng cách ồ ạt tấn công sản phẩm nội chẳng hạn như vụ nước mắm, phóng viên ra tay phá hoại môi trường đầu tư nước ngoài ở Việt Nam bằng cách fauxtography hình ảnh cá dãy đành đạch chết ngay vì nước biển nhiễm độc từ chất thải của Formosa dù vụ việc đang do chính phủ tích cực xử trí nhanh, xử lý nghiêm, và xử phạt nặng, thì tất cả đều là phản động do dám chống lại công cụ truyền thông tinh hoa của Đảng?

Từ sự việc Donald Trump xô sập đế chế truyền thông của đảng cầm quyền xảy ra trong xã hội Mỹ, không thể không cho rằng đế chế truyền thông của Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ miễn nhiễm trước sự phẫn nộ của doanh nghiệp hay cá nhân người dân bị truyền thông xâm hại?

us-road-people-23us-road-people-24

Lời khuyên cho lãnh đạo Việt Nam, do đó, chính là: phải trừng phạt truyền thông chính thống nào láo xạo tào lao, trừng trị nhà báo đẳng cấp cao-cấp-lý-luận-chính-trị nhưng chẳng thể lý luận được gì ngoài việc phản động “nhét chữ vào mồm” đối tượng chúng hùa nhau căm ghét, và bảo đảm không để bất kỳ nhà báo nào bị phát hiện là hạng hai mang mất dạy, lưu manh, ba que xỏ lá.

7) Ăn Theo Slogan:

Donald Trump đã thắng lợi lớn với slogan “Make America Great Again” (Hãy Làm Hoa Kỳ Vĩ Đại Trở Lại) và tuyệt đại đa số người New Zealand tranh nhau tìm mua chiếc mũ đỏ mang dòng chữ kiêu hùng kiêu sa kiêu kỳ kiêu căng kiêu ngạo đầy kiêu hãnh ấy, mà giá bán tại New Zealand trong thời gian diễn ra tranh cử là 50 USD (hiện nay đã qua tranh cử mà vẫn có các lô hàng sắp về đến New Zealand đáp ứng nhu cầu lớn của khách hàng nam phụ lão ấu).

Sức mạnh nổi bật của slogan của Donald Trump giúp tiêu diệt Hillary Clinton. Nhưng chính sự nổi bật đó cũng tạo nên hiệu ứng ăn theo như đã rộ lên với hàng tỷ người Tàu đội nón “Make China Great Again”

us-road-people-25

Tất nhiên, cái “Ăn Theo Again” ấy là thấp kém, vô duyên, vì Tàu có vĩ đại bao giờ đâu mà có chuyện quay trở lại cơ chứ! Chuyện ngày xưa thì ai mà kiểm chứng được, nên Tàu muốn viết sử sao thì cứ viết, muốn ghi Việt Nam và Indonesia là lãnh thổ Tàu thì cứ ghi, nói chung là muốn sủa gì thì cứ sủa cho đúng thân phận chó dại, chứ thế giới văn minh từ khi phát minh ra điện tín đến nay thì chả thấy Tàu vẻ vang ngày nào cả. “Make China Great Again” chỉ có thể đưa đến ngộ nhận rằng Tàu muốn quay lại thời hoàng kim vì chỉ có trong thời hoàng kim ấy Tàu mới bị cái anh Việt đánh cho tan nát xong là qua quỳ lạy rập đầu xưng thần và cống nạp ôi thôi biết bao trinh nữ tuyệt sắc giai nhân.

Tuy nhiên, với kinh nghiệm rất nhiều năm trước đã từng viết bài trên Emotino.com chê bai kiểu ai đó quá kém cỏi khi chế ra cái hình chữ U có dấu gạch chéo đầy ngộ nhận trong tiếng Anh, tác giả bài viết này muốn khuyến cáo rằng sẽ có thể có việc ai đó nhái thành khẩu hiệu “Make Vietnam Great Again” để hoặc (a) bán mũ nón áo thun kiếm tiền, hoặc (b) “dấy” lên phong trào tru tréo rằng háy làm Việt Nam vĩ đại trở lại như trước khi có Giải Phóng Miền Nam.

Vì vậy, hãy đập tan ngay từ trứng nước nếu có “nhà sản xuất” nào đó nộp đơn xin sản xuất bất kỳ thứ gì có “Make Vietnam Great Again”.

8) Bonanza Cho Những Công Ty Tư Vấn Chính Sách Quốc Gia:

Chiến thắng của Donald Trump làm các chủ nhân các công ty tư nhân chuyên tư vấn chính sách trị quốc và…vận động hành lang mừng quýnh mừng quáng. Có vị CEO đã buột miệng thốt lên rằng Bonanza đã đến, tức thời hoàng kim đã đến, tức thời buổi kiếm ăn “khủng” đã đến, vì rằng Donald Trump không là chính trị gia chuyên nghiệp, nên dù đội ngũ phò tá Donald Trump toàn là các bậc kỳ tài, thì việc Donald Trump sẽ cần đến các công ty này sẽ có tần suất cao hơn là lẽ trên cả đương nhiên, đơn giản (a) vì ngay cả các chính trị gia chuyên nghiệp và gạo cội như Barack Obama vẫn thường xuyên cậy nhờ các công ty này vấn kế, và (b) vì Đảng Cộng Hòa thắng ở tất cả ngôi Tổng Thống, lãnh đạo Thượng Viện và lãnh đạo Hạ Viện, nên việc tư vấn sẽ thoải mái, tập trung, lời to, không sợ “làm mếch lòng” đảng thứ hai nếu Tổng thống và lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ lại thuộc hai đảng khác nhau khiến việc nhận hợp đồng với bên này sẽ đồng nghĩa với việc mất đứt khách hàng của bên kia. Các công ty đại gia đang mừng quýnh mừng quáng phấn khích tột đỉnh có các tên tuổi lớn như Squire Patton Boggs, Corporate America, K Street, CGCN Group, BGR Group, Mehlman Castagnetti Rosen & Thomas, và Brownstein Hyatt Farber Schreck.

Một bonanza như vậy cũng nên được Chính phủ Việt Nam tạo nên cho các công ty tư vấn chính sách, đơn giản vì (a) không bao giờ không đâu trên thế giới lại có chính phủ nào lại dám cho rằng các thành viên của mình “dư sức” đề ra chính sách nên không cần đến các công ty tư vấn tư nhân bên ngoài chính quyền; (b) thực tế Việt Nam ra nhiều chủ trương chính sách hay nghị định thông tư rất yếu về tính khả thi, không có tính tương hợp, thiếu vắng tính phù hợp, và chẳng có tính trường tồn; (c) thực tế Quốc Hội Việt Nam có đầy đủ ban bệ như Ủy Ban Tư Pháp và Ủy Ban Pháp Luật, cộng với nhiều nghị sĩ có bằng cấp luật và/hoặc có nghiệp vụ luật sư nhưng quy trình chặc chẽ của soạn thảo một dự án luật vẫn cho ra nhiều bộ luật đầy tỳ vết được phát hiện ngay sau khi Chủ Tịch Nước ký ban hành khiến chúng vội bước đi ra ngay trước khi “đi vào cuộc sống”; và (d) thậm chí những kế sách giáo dục do nhiều chuyên gia giáo dục “đầu ngành” đề xuất luôn góp phần vào việc dí dìm đầu giáo dục xuống vị trí tệ hại nhất.

Thế nên, các ban bệ cứ việc tồn tại, các lãnh đạo cứ việc giữ ghế, mọi việc sẽ chỉ có thể đâu vào đấy nếu có sự góp mặt của các chuyên gia thực thụ có nhận thù lao của Nhà Nước cho dịch vụ tư vấn qua những hợp đồng tư vấn chuyên nghiệp và cụ thể.

Nhìn qua một công hàm Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã gởi xong cho Đại Sứ Quán Hoa Kỳ có đóng dấu “Mật”, Nghị sĩ Quốc hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước khi dự họp tại Ủy Ban Đối Ngoại nghe Bộ Trưởng Ngoại Giao thuyết trình về mục đích của công hàm, đã phát hiện ra lỗi chính tả được ông khoanh tròn và chụp lại như sau:

us-road-people-26

Đó là một lỗi nhỏ của công đoạn đánh máy gọi là typographical error trong bức công hàm trên. Tuy nhiên, nếu như một bức công hàm có nội dung cực kỳ quan trọng và nghiêm trọng thuộc loại “tối mật” trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của hiểm họa chiến tranh thì một typographical error ở một từ nhạy cảm thuộc loại có nhiều từ khác nghĩa nhưng đồng dạng thì sự cố ngoại giao đặc biệt nghiêm trọng không thể là việc không bao giờ xảy ra.

Như vậy, công tác đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối như ở Bộ Ngoại Giao lại vẫn phạm phải những sơ sót, huống hồ ở các Bộ khác, trong công tác văn thư và kế hoạch.

Tất nhiên có những lãnh địa “ngoại bất khả nhập” như Quốc Phòng, Công An, và Ngoại Giao; kỳ dư, các bộ khác – kể cả Quốc Hội và các ủy ban chuyên trách của Quốc Hội – không thể tự treo bảng “ngoại bất khả nhập”.

Số lượng các chuyên gia tư vấn chính sách Nhà Nước trong xã hội Việt Nam hiện không có nhiều, khoảng một hoặc hai. Tuy nhiên, việc “thử” sử dụng dịch vụ của các vị này cho các nội dung quan trọng (dĩ nhiên là quan trọng vì là chính sách quốc gia) nhưng không đòi hỏi tính bảo mật cao (nội dung an ninh quốc phòng) sẽ giúp chính phủ (a) giải quyết nhanh hơn việc tái thẩm định, với lưu ý rằng nhân viên KCS tức “kiểm tra chất lượng sản phẩm” của dây chuyền sản xuất xe ô tô Mercedes-Benz không bao giờ phải là nhà phát minh chế tạo ra xe ô tô, nghĩa là KCS cho một chính sách kinh tế không bao giờ phải là “tiến sĩ” kinh tế như kiểu từ chương trong lề lối dụng nhân của Việt Nam; (b) tránh được các sự cố chủ quan; và (c) theo “best practice” tức phương cách thực hành thực tế tốt nhất mà tất cả các lãnh đạo chính trị trên thế giới kể cả Hoa Kỳ đều tự nhiên mạnh tay áp dụng mà lãnh đạo Việt Nam không thể tự cho mình thuộc đẳng cấp siêu nhân tài ba hơn các vị ấy của thế giới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo

A) Bài Viết Về Hoa Kỳ:

Hoàng Hữu Phước. 15-02-2014. Nước Mỹ Bất Hạnh

Hoàng Hữu Phước. 29-3-2014. Nước Mỹ Vỡ Vụn

B) Bài Viết Về Liên Hợp Quốc:

Hoàng Hữu Phước. 11-9-2011. Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

C) Bài Viết Về “Chính Trị”:

Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước. 17-10-2011. Chính Trị

Hoàng Hữu Phước. 02-02-2016. Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

D) Bài Viết Về Học Thuật:

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Hoàng Hữu Phước. 30-12-2015. Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức

E) Bài Viết Khác Có Liên Quan:

Hoàng Hữu Phước. 22-01-2015. Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc

Hoàng Hữu Phước. 04-10-2015. Việt Nam Và Vấn Đề Dân Tỵ Nạn

Hoàng Hữu Phước. 29-8-2013. Tôi và Lê Hiếu Đằng

Chú thích:

a) POL-Zipperism và POL-Laissez-Faireism là do Hoàng Hữu Phước cấu tứ, và mnag nghĩa “Đường Lối Trị Quốc Kiểu…” chứ không nên máy móc hễ gặp –ism thì gọi ngay là “Chủ Nghĩa…”.

b) Ảnh chụp một phần nhỏ của công hàm của Bộ Ngoại Giao hoàn toàn không vi phạm pháp luật về bảo mật, nên các nhà báo hai mang của giới truyền thông chính thống không sạch sẽ của Việt Nam khỏi mất công kiếm tìm các quy định pháp luật có liên quan để trừng trị tác giả bài viết này.

Công An Việt Nam Đã Hoàn Toàn Sai

Tấm Gương Sáng Ngời Của  Hoa Kỳ Về Trách Nhiệm Công Vụ

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-11-2016

police-cong-an

A) Tham Khảo Tính Chuyên Nghiệp Của Lực Lượng Bảo Vệ Premier League Giải Bóng Đá Ngoại Hạng Anh

Lực lượng bảo vệ tại các sân bóng của giải bóng đá ngoại hạng Anh đã cực kỳ chuyên nghiệp khi chẳng hề bối rối trước các vụ trần truồng của khán giả nam hay nữ chạy vào sân gây rối: rượt đuổi nhào bắt khống chế mạnh tay ngay lập tức:

police-cong-an-31

Trong suốt trận đấu, đội ngũ bảo vệ luôn luôn dõi mắt theo dõi khán giả để đập tan từ trong trứng nước bất kỳ manh nha một bạo loạn bất kỳ, và đây là lý do vì sao không có những bạo loạn đầy nhục nhã tại các sân vận động Anh:

police-cong-an-30police-cong-an-29

B) Tham Khảo Tính Chuyên Nghiệp Của Lực Lượng Cảnh Sát Hoa Kỳ

Thói quen của những kẻ hoặc mê muội hoặc ngu muội hoặc ám muội là không bao giờ cho những sự thật này là đáng quan tâm nếu cách hành xử của cảnh sát là ở những xứ sở không phải Âu Mỹ thịnh cường, chẳng hạn như:

police-cong-an-28

nữ cảnh sát Ấn Độ túm tóc đè đầu kẻ vi phạm trật tự

police-cong-an-27

hoặc cảnh sát Pakistan có phương pháp vô hiệu hóa một cách hữu hiệu và ngăn chặn manh động của kẻ vi phạm một cách tuyệt đối bằng cách áp dụng kiểu “khuất phục” như trên (khom người, luồn hay tay dưới gối, để loại trừ 3C tức không thể chạy đi, không thể chưởi bới, không thể chống cự) mà tất cả công dân thành thị đều được hướng dẫn tập tành từ nhỏ và biết phải thực hiện ra sao để không bị đánh gậy tới tấp, mà việc quất gậy ấy bất kể kẻ vi phạm là nam hay nữ:

police-cong-an-26

Vì thế cho nên các thí dụ sau đây sẽ chỉ tập trung về cách hành xử thực thi pháp luật của cảnh sát Hoa Kỳ, xứ sở mà lạ thay: những kẻ du học từ đó trở về nước họ đều (a) khiếp sợ vô cùng không dám kể gì về sự thật của quyền lực vô hạn cảnh sát Mỹ mà họ đã nếm trãi, và (b) can đảm vô song khi tỉnh bơ manh động chống lại cảnh sát mà quyền lực bị báo chí truyền thông zero-hóa ở nước mình.

1- Tấn Công Mạnh Tay Đối Với Vi Phạm Bất Kỳ

Thí dụ điển hình nhất là đoạn video clip của trang online của Nữu Ước Nhật Báo New York Daily News (trong đường link ở phần tham khảo) cho thấy trong lúc đám đông dân cư tập trung hai bên Đệ Ngũ Thập Lộ (50th Street) ở New York để chuẩn bị vẫy cờ chào đoàn xa giá của Tổng thống Obama thì một công dân Mỹ 59 tuổi là ông Daniel Provencio lại đạp xe băng băng xẹt tới từ Đại Lộ Park (Park Avenue) đã bị phong tỏa. Ngay lập tức ông ta bị ba cảnh sát túm cổ vật té xuống đường, đè nằm sấp, bẻ quặt hai tay ra sau lưng và một cảnh sát công lộ chạy đến vừa quỳ tấn đầu gối lên lưng ông ta vừa móc còng trói lại. Đám đông hoàn toàn không phản ứng gì, và khi đoàn xa giá của Obama chạy qua, họ reo hò vui vẻ phất cờ. Nếu “ông già” 60 tuổi ấy có bị gảy tay chân, có bị dập mặt, có bị cao huyết áp làm mất mạng, thì không ai trong số cảnh sát ấy mang tội bất kỳ, đơn giản vì họ đang làm nhiệm vụ mà Nhà Nước đã giao phó trong công tác bảo vệ yếu nhân, đơn giản vì một khi cơ quan công quyền đã phong tỏa Đại Lộ Park thì bất kỳ ai vượt qua đều phải bị ngăn chặn ngay lập tức bằng mọi giá, đơn giản vì một khi cơ quan chức năng cho phép cư dân đứng đón chào ở  Đệ Ngũ Thập Lộ thì đó là nơi duy nhất cư dân được “đứng” để vẫy chào chứ không ai được phép “chạy”, và đơn giản vì lực lượng thi hành luật pháp Mỹ được luật pháp Mỹ ưu tiên bảo vệ mà chỉ có công dân loạn trí, công dân ngu xuẩn, và công dân xã hội đen cùng đường mạt vận mới dám động đến cảnh sát.

police-cong-an-16police-cong-an-15

Người Việt muốn sang Mỹ định cư, do đó, nhất thiết phải nghe hiểu được tiếng Anh Mỹ để khi nghe cảnh sát bảo giơ tay lên, bảo nằm sấp xuống đường với hai tay sau gáy, bảo xoạc rộng chân úp hai tay vào xe ô tô, hay gì gì khác, thì phải làm theo ngay, nếu không muốn mình bị nêu tên trên báo vào sáng sớm hôm sau vì đã bị bắn tiêu diệt do “có hành động bất tuân rất có thể sẽ gây phương hại cho sự an toàn tính mạng của nhân viên công lực”.

2- Bắt Trói Các Linh Mục

Ở Hoa Kỳ, pháp luật là tối thượng, và sự nghiêm khắc là nền tảng vững chắc của pháp luật.

Không bảo vệ tuyệt đối được lực lượng thi hành pháp luật thì không bảo vệ được chế độ.

Không bảo vệ được chế độ thì không bảo vệ được đất nước.

Không bảo vệ được đất nước thì không bảo vệ được nhân dân.

Đó là thứ logic tuyệt đối đúng và duy nhất đúng, theo đúng thứ tự trên dưới, trước sau.

Nước nào vừa thiếu nghiêm khắc vừa đặt sai thứ tự của các vế sẽ không bao giờ cường thịnh (thí dụ như đặt “bảo vệ nhân dân” lên hàng đầu là tuyệt đối sai).

Ở đây, khi nói về việc bắt giữ tống giam các linh mục ở Mỹ, sẽ hoàn toàn không liên quan gì đến các vụ ấu dâm đồng giới tức hiếp dâm trẻ em nam của các linh mục, dù cho nhiều người Âu Mỹ hay đặt vấn đề phải chăng Nhà Thờ Công Giáo La Mã là lò sản sinh các kẻ ấu dâm, và dù cho tin tức báo chí Âu Mỹ thường nói về Child Rape tức hiếp dâm trẻ em của các linh mục, cũng như cung cấp kho cơ sở dữ liệu từ A đến Z tên của những tu sĩ phạm tội ấu dâm ở Hoa Kỳ (có nêu ở mục tham khảo bên dưới).

Lý do của việc không nói về tội ấu dâm của các tu sĩ là vì (a) luôn có sự giúp che đậy của cảnh sát Hoa Kỳ tức concealment from police; (b) luôn có sự thông đồng của chính quyền địa phương tức collusion with local government do giáo khu/giáo phận tại một số tiểu bang chẳng hạn như Bang Pennsylvania quyết định ai sẽ trở thành thị trưởng, cảnh sát trưởng, trưởng sở cứu hỏa, và trưởng các ban ngành đoàn thể khác; (c) luôn có lập luận từ các Hồng Y rằng ấu dâm là một bịnh chứ không là một tội, thế nên tu sĩ bị bịnh này cần được quan tâm chăm sóc, thương yêu, và chữa trị thay vì bị khép tội và xử tù, vốn luôn là nét nhân văn nhân bản đặc thù của các xứ sở văn minh tự do; và (d) luôn có sự bảo vệ của luật pháp Hoa Kỳ, chẳng hạn có tiểu bang quy định người bị ấu dâm chỉ được khai báo sau sinh nhật 23 tuổi mà lúc đó thì người phạm tội đã về với Chúa còn người bị phạm tội đã có vợ con nên không muốn nhắc lại nỗi đau – trừ tổng thống Duterte của Philippines, trong khi có bang lại quy định người bị ấu dâm chỉ được tố giác trong thời hạn 2 năm kể từ khi bị các linh mục nào đó hiếp dâm, nhờ vậy các cáo buộc thường không còn thời gian tính và đa số các vị linh lục hay giám mục bị cáo buộc được thoát tội nghĩa là vô tội.

Cũng vì vậy mà thay vì “máu me” xử mạnh tay các linh mục cho tội ấu dâm, cảnh sát Mỹ sẽ “màu mè” xử mạnh tay với các linh mục đối với các tội bất tuân trong các vụ việc liên quan đến trật tự xã hội, mà một vài thí dụ lẻ tẻ dưới đây cho thấy sự trói thúc ké các linh mục giữa dám đông dù “biểu tình ôn hòa”, và sự đứng nhìn trong trật tự và lịch sự biết điều của các linh mục khác cũng như những người dân cùng đoàn “biểu tình”.

a) Cha Louis Vitale bị cảnh sát San Francisco, Bang California, bắt trói giải đi do “biểu tình” đứng áng ngữ lối ra vào của tòa nhà công ty Bechtel Corp.

police-cong-an-14

Cha Louis Vitale là vị tu sĩ bị kết án tù giam nhiều lần nhất tại Mỹ vì tham dự các cuộc “biểu tình” ở bất kỳ giáo phận nào cha trấn nhậm, mà lâu nhất là bản án 5 tháng tù giam tại nhà tù liên bang tại bang Arizona, vì các tội danh “biểu tình” chặn lối ra vào nơi công cộng (cơ quan công quyền) hoặc chốn thuộc quyền sở hữu tư (của các công ty)

police-cong-an-13

Có lần vị linh mục 84 tuổi này đã bị bắt giam cùng với 150 người vì đã gây kẹt xe ở Đường Powell, cũng như bị bắt giam cùng gần 150 người do đã “biểu tình ngồi” trên đường ray trước khách sạn Thánh Francis ở San Francisco, hay tại trước những căn cứ quân sự v.v.

police-cong-an-12

b) Cha George Regas bị bắt ngày 07-10-2011 vì tội tụ tập “biểu tình” và dám phát biểu rằng “41% trẻ em Mỹ sống trong nghèo khổ và 4.000 tỷ USD đổ vào chiến tranh – đây là điều bẩn thỉu nhất trong thời đại của chúng ta. Thượng Đế phải khóc. Thượng Đế phải khóc vì những gì mà bầy con của Người đang làm!

police-cong-an-11

c) Cha George Regas tích cực vì hòa bình thế giới và chống vũ khí hạt nhân. Cha bị bắt do “bất tuân yêu cầu giải tán” của cảnh sát khi tham dự “biểu tình” bên ngoài tòa nhà chính phủ liên bang tại Los Angeles nhân đánh dấu 7 năm Mỹ tấn công vào một quốc gia nghèo khổ nhất hành tinh là Afghanistan. Tại buổi tập trung này 14 tu sĩ và nhiều người dân lớn tuổi khác đã bị cảnh sát bắt giải lên xe tù.

police-cong-an-10

d) Cha Andrew Switzer, 33 tuổi, ở West Virginia bị bắt giam lần đầu tiên ngày 21-5-2013 do tham gia “biểu tình” tại St. Louis ủng hộ tổ chức Công Nhân Mỏ Thống Nhất Hoa Kỳ chống lại các hành vi của công ty sản xuất than đá lớn nhất thế giới là Peabody Energy

police-cong-an-9

Cha Switzer bị bắt vì lên tiếng ủng hộ 26.000 công nhân mỏ đang làm việc hoặc nghỉ hưu bị cắt giảm lương, cắt giảm hưu, cắt giảm quyền lợi bảo hiểm y tế, từ sự bắt tay của các công ty than chủ lực khác như Peabody & Arch Coal vào thời điểm có sự phá sản của công ty than Patriot Coal, mà công nhân cáo buộc rằng các đại gia than đang giỡ trò nhằm tránh né các trách nhiệm về lương hưu và y tế hiện quá đắt đỏ. Là một linh mục hiền từ luôn tránh xa các bát nháo, ông tham gia “biểu tình” vì ký ức đắng cay về người bố ruột của mình đã trải qua khi làm thợ mỏ, và vì biết rằng Mỹ có “truyền thống” các công ty và chính quyền bắt tay nhau chống lại tầng lớp lao động.

e) Và nhiều trường hợp khác như:

Ngày 07-12-2006: Một linh mục trẻ bị bắt giải đi trước hàng trăm người tham gia “biểu tình” ở San Francisco, Bang California, chống sự can thiệp của Mỹ vào Iraq

police-cong-an-8

Ngày 26-8-2008: Một linh mục bị cảnh sát bắt giữ tại Denver, Bang Colorado, do tham gia “biểu tình ngồi” trước Trung Tâm Pepsi phản đối Đại Hội Toàn Quốc Đảng Dân Chủ. Hàng chục người khác cũng bị bắt vì tội tụ tập gây kẹt xe và áng ngữ lối ra vào của tòa nhà Pepsi.

police-cong-an-18

Vân vân và vân vân:

police-cong-an-25

Điều cực kỳ quan trong phải nêu ra ở đây là: (a) không bao giờ có chuyện các tu sĩ Mỹ “biểu tình” chống đối thể chế chính trị của Mỹ, chống đối các chính sách nội trị của Nhà Nước Mỹ và Chính Phủ Mỹ vì đó là những hành vi bạo loạn nhất thiết phải bị quân đội Mỹ và quân của CIA tiêu diệt bằng bạo lực; (b) các nội dung chống đối – nếu có – luôn thiên về các chính sách của Nhà Nước Mỹ và Chính Phủ Mỹ xử sự đối với các nước khác; (c) các nội dung chống đối nếu là nội trị thì thuần túy liên quan đến những vấn đề thuần giáo lý như phá thai hay sinh sản vô tính; (d) các tu sĩ không bao giờ “sách động” “giáo dân” kéo nhau đi gây rối mà chỉ “biểu tình ngồi” và lặng im chịu trận khi bị bắt vì các tu sĩ là những công dân có giáo dục nên có hiểu biết mình làm gì và sẽ phải đối mặt với những gì thuộc xử lý của luật pháp cũng như có hiểu biết về quyền lực bất khả xâm hại của các lực lượng an ninh quốc gia; và (e) các tu sĩ luôn giáo dục giáo dân tôn trọng luật pháp và các “biểu tình” là chỉ để thể hiện quyền tự do biểu đạt tại một địa điểm chứ không kéo đi đâu gây hại cho trật tự xã hội cũng như không bất kỳ ai có quyền bất kỳ buộc Nhà Nước và Chính Phủ phải đáp ứng. Đó là tư cách các tu sĩ Mỹ: có giáo dục, biết giáo dục, có tư cách công dân, và không lưu manh điên loạn.

3- Bắt Trói Các Thiếu Niên

Bất cứ ai vi phạm quy định hay yêu cầu của cảnh sát đều bị bắt trói còng tay, bất kể là thiếu niên – thậm chí vì một lỗi mà loài người trên thế giới văn minh sẽ phải bật cười, chẳng hạn nam sinh 12 tuổi của trường trung học Stuart’s Spectrum ở Bang Florida bị còng tay vì tội “đánh rắm trong lớp học” xâm hại quyền lợi của đa số khiến học sinh mất tập trung học tập, bị khủng bố bởi tiếng rắm to như bom và mùi rắm khủng:

police-cong-an-24

Còn học sinh 14 tuổi Ahmed Mohammed tại Bang Texas bị còng tay sau khi em khoe với thầy giáo trong lớp một chiếc đồng hồ chạy pin có độ chính xác cực cao do em tự chế ở nhà mà vị thầy này khi thấy món đồ có dây điện lòng thòng xanh xanh đỏ đỏ chớp chớp đèn lại do một học sinh Hồi Giáo cầm trong tay đã vội vàng la cầu cứu báo động có khủng bố mang bom phá tan trường học:

police-cong-an-2

Chưa kể các vụ còng tay bắt bớ học sinh mà ai cũng có thể “search” với Google qua các cái tên như nữ sinh 12 tuổi Sarah Bustamantes trường Fulmore Middle ở Austin, Bang Texas, bị còng tay giải đi vì “xịt nước hoa mùi đậm đặc quanh cổ những hai lần” gây phương hại đến quyền tự do của đa số học sinh không thích hay dị ứng với mùi nước hoa ấy; một nam sinh lớp 2 (tên mẹ ruột là Maria Quesada) trường Mary Ann Binfold ở Thị trấn Albuquerque, Bang New Mexico, bị cảnh sát còng tay vào ghế vì “tội” đánh rắm liên tục trong lớp; nữ sinh 12 tuổi Alexa Gonzalez trường trung học Forest Hills, Bang New York, bị còng tay quặt ra sau lưng giải đi vì dám khắc chữ lên bàn học, dù những chữ ấy là “em yêu các bạn Abby và Faith của em”; hoặc những vụ kỳ dị khác như một học sinh Texas bị còng tay vì …xếp nhiều máy bay giấy rồi phóng lung tung, nữ sinh Ashley Smithwick ở Bang North Carolina bị còng tay vì đã xách lộn cà-men đựng cơm trưa của bố vào trường học bị phát hiện có con dao cắt trái cây, một học sinh 11 tuổi Bang Florida bị tống giam và kết tội trọng án cấp độ 3 vì trong cặp có con dao nhựa dùng trét bơ lên bánh mì, một nam sinh 8 tuổi ở bang Massachusetts bị còng tay đưa vào viện tâm thần vì vẽ hình Chúa Jesus trên cây thập ác, v.v. và v.v. Nghĩa là: những “tội” như thế mà còn bị còng tay giải đi ngay, thì các “tội” như  tham gia chống đối chế độ, cự cãi chống đối cảnh sát, vi phạm luật giao thông, của mấy cháu thiếu niên hay vị thành niên hay teen-teen thì vẫn không thể không có các quả đấm hay những đòn roi sắt của cảnh sát Mỹ nện xuống như một mào đầu ra uy trước khi bập chiếc còng số 8 vào cổ tay thiếu niên “phạm tội” nếu thiếu niên ấy không đến nỗi bị bắn hạ.

C) Phê Bình Tính Chuyên Nghiệp Của Lực Lượng Cảnh Sát Việt Nam

1- Sai Lựa Chọn

Để bảo vệ yếu nhân, công an Việt Nam đã lựa chọn sai lực lượng.

Trong chuyến Tổng thống Hoa Kỳ Obama sang thăm chính thức Việt Nam, lực lượng đông nhất là cảnh sát giao thông, tức lực lượng hoàn toàn không được huấn luyện / hoặc hoàn toàn không có khả năng / hoặc hoàn toàn không được trang bị tận răng để trấn áp gây rối, tiêu diệt sát thủ, dẹp tan bạo loạn. Nếu lực lượng đặc nhiệm Hoa Kỳ hộ tống Obama đến Việt Nam bao gồm cả những chiến binh mà nhiệm vụ duy nhất là mắt không rời các vị trí cao tầng để phát hiện và vô hiệu hóa các cử động đáng ngờ xuất hiện từ tất cả các cửa sổ hay tất cả các mái nhà xung quanh

police-cong-an-23

thì chưa từng người Việt Nam nào nhìn thấy những hoạt động tương tự của công an Việt Nam mỗi khi Tổng Bí Thư/Chủ Tịch Quốc Hội/Chủ Tịch Nước/Thủ Tướng vi hành đến các thành phố trong nước, hay khi có các nguyên thủ quốc gia khác đến thăm chính thức Việt Nam.

2- Sai Tư Thế

Nếu như ngay cả các nhân viên bảo vệ chuyên nghiệp tại các sân bóng đá ở giải bóng đá ngoại hạng Anh Champion League đã ở đúng vị trí với đúng tư thế chức trách là mắt không bao giờ rời đám đông khán giả, thì Việt Nam sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân chuyên nghiệp nhưng rất không chuyên nghiệp, chẳng hạn như những hình ảnh mới đây tại một giải bóng chuyền nữ các công an viên hoặc đứng nhìn trận đấu

police-cong-an-36police-coong-an-2

hoặc ngồi chung với khán giả để theo dõi trận đấu và tán chuyện với khán giả

police-cong-an

nên ngay cả nhân viên bảo vệ chuyên nghiệp (hoặc cảnh sát cơ động trang phục đen?) cũng chuyên nghiệp kiểu công an tức tập trung theo dõi trận đấu chắc để xem có cầu thủ nào chơi xấu đối phương chăng

police-coong-an-1

Tác phong đó cũng được minh chứng qua các hình ảnh khi Tổng thống Hoa Kỳ Obama sang thăm chính thức Việt Nam: các công an và những “dân phòng” đều lo nhìn đoàn xa giá Obama, lo nhìn Obama

police-cong-an-22police-cong-an-21police-cong-an-7police-cong-an-6police-cong-an-5

Thậm chí vì bảo vệ an ninh tối đa cho Tổng Thống Hoa Kỳ, Mỹ luôn đưa đoàn xe gồm ba chiếc Dã Thú (The Beast) khi đến đón Obama đều phải đậu trong lồng che trùm kín đáo (để không ai biết Obama sẽ lên xe nào) trước khi cửa được vén cho đoàn xe chạy ra. Song, cảnh sát trong ảnh dưới đây đã hòa nhập vào dòng người hiếu kỳ nôn nao chờ đợi cảnh các chiếc Dã Thú phóng ra, nghĩa là nếu có sát thủ từ trong đám đông giương khẩu RPG-7 vác vai bắn một quả PG-7VR thổi tung Dã Thú thì không cảnh sát nào phát hiện ngăn chặn được:

police-cong-an-4

3- Sai Trang Bị

Trong khi đội đặc nhiệm cận vệ Mỹ đến Việt Nam được trang bị đầy đủ

police-cong-an-19

thì chủ nhà Việt Nam sử dụng đông nhất là cảnh sát công lộ tức cảnh sát giao thông được trang bị với gậy chỉ đường, còi tu huýt, và súng ngắn mà vị trí bao đeo súng rất lạc hậu không bao giờ thuận tiện cho việc rút ra chớp nhoáng:

police-cong-an-20

Trong một bài viết cách đây cả chục năm về trang phục cảnh sát Việt Nam, tác giả bài viết này từng đề nghị Việt Nam sắm trang phục đen cho cảnh sát như đa số các cường quốc Âu Mỹ. Thật ra, lúc tham dự Hội Nghị ACMECS III và CLMV IV tại Hà Nội năm 2008, tác giả bài viết này có thấy những cảnh sát “đặc biệt” mặc trang phục đen tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Mỹ Đình giống như hình dưới đây, nhưng chỉ trang bị gậy thép loại thu ngắn quật dài và bộ đàm, còn “chiến sĩ” thì trắng trẻo, thanh mảnh, cao gầy, nho nhã thư sinh:

police-cong-an-3

4- Sự Tấn Công Hỗn Xược Của Báo Chí Chính Thống

Nhiệm vụ của cảnh sát Âu Mỹ là tiêu diệt tội phạm và ngăn chặn phạm tội,

Để công dân không phạm trọng tội nếu thóa mạ nhân viên công lực, cảnh sát có thể sử dụng liệu pháp “sốc” bằng cách tát công dân để công dân bừng tỉnh.

Để ngăn chặn một trọng tội mà công dân có thể vô ý phạm phải như thí dụ về công dân Mỹ chạy xe đạp vào đường cấm, cảnh sát Mỹ quật ngã công dân ấy và còng tay lại, thay vì để người ấy chạy vào có thể dẫn đến gây nguy hiểm cho xe tổng thống khiến xe tổng thống tông vào đám đông gây ra thảm họa kinh hoàng.

Thế nhưng, khi cảnh sát Việt Nam dùng chân đá vào xe máy những thanh niên đang chạy ngược chiều vi phạm luật giao thông, trong nỗ lực nhằm ngăn chặn các thanh niên này có thể gây ra trọng án khi gây tai họa giao thông cho những người khác hoặc gây ra thảm họa lật xe của những ô-tô đang băng băng chạy đến, báo chí đã ngu xuẩn điên khùng nhao nhao phản đối công an. Thậm chí ngành công an lại khiếp sợ một cách lạ lùng đến độ xử lý kỹ luật các công an viên nào đã đá xe “người dân”.

Còn khi cảnh sát tát người vi phạm giao thông đang lăng mạ cảnh sát để người ấy “tỉnh ra” kẽo dẫn đến trọng án manh động gây náo loạn trật tự xã hội, báo chí lại ngu xuẩn phản động giật tít câu view là cảnh sát “đánh dân”.

Báo chí nào của Đảng mà gây khó khăn cho sự trị quốc của Đảng và Chính Phủ, làm cùn nhụt các vũ khí của Đảng, bôi nhọ tính chính danh của các lực lượng vũ trang Việt Nam trong thực thi quyền hạn chức năng, thì rõ ràng báo chí đó chẳng phải là đã hư đốn, hư hỏng, và mất dạy, vô giáo dục, phải bị loại trừ loại bỏ hẳn khỏi giới truyền thông hay sao?

D) Lời Buông Lơi Phó Mặc Sự Đời

Kết luận ở đây là sự suy vi suy tàn suy sụp của chế độ hoàn toàn tùy thuộc vào việc Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có dám hay không dám học tập Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia tự do dân chủ thịnh cường khác trong Liên Hợp Quốc để

a) Gia tăng loại hình phạt và khung hình phạt trong bộ Luật Hình Sự đối với truyền thông và đối với sự vi phạm quy định trật tự xã hội;

b) Cách chức toàn bộ các Tổng Biên Tập tất cả các tờ báo nào “của Đảng và Nhà Nước Việt Nam” đã từng đăng bất kỳ thông tin nào có nội dung như đã được liệt kê ở trên;

c) Sa thải tất cả các “nhà báo” nào “của Đảng và Nhà Nước Việt Nam” đã từng có hoặc sẽ có bất kỳ những bài viết nào có nội dung hay kiểu dùng từ ngữ hoàn toàn tiêu cực như đã được liệt kê ở trên;

d) Đóng cửa vĩnh viễn bất kỳ trang mạng nào “của Đảng và Nhà Nước Việt Nam” đăng bất kỳ bài viết hay clip nào phê phán cách hành xử trong quyền hạn của các lực lượng vũ trang trong trừng trị nghiêm khắc và ngăn chặn triệt để các vi phạm quy định an ninh trật tự xã hội;

e) Để các lực lượng vũ trang được trao quyền hạn duy nhất đúng mà toàn thế giới không nước tự do dân chủ nào không áp dụng để bảo vệ tuyệt đối an ninh quốc gia;

f) Để các lực lượng vũ trang được bảo vệ tuyệt đối trong thực thi quyền hạn để tuyệt đối bảo vệ đất nước, tuyệt đối bảo vệ chính phủ, tuyệt đối bảo vệ chế độ, tuyệt đối tiêu diệt quân xâm lược, tuyệt đối trừng trị tội phạm, và tuyệt đối ngăn chặn phạm tội;

g) Chấm dứt sự bún hóa tức ỏn ẻn hóa hay nhão nhoét hóa hoặc mềm nhũn hóa trong lập pháp và hành pháp mà bấy lâu nay đã làm hỏng hóc hóa sự bền vững không những của chế độ mà còn của tư cách phẩm cách cung cách của “một bộ phận không nhỏ” người từ cấp lãnh đạo chính quyền đến giới thường dân khi ai cũng thi nhau xem thường luật pháp; và quan trọng nhất là

h) Khẳng định nhiệm vụ của quân đội là “tiêu diệt xâm lược” chứ không phải “bảo vệ đất nước”, và nhiệm vụ của công an là “tiêu diệt tội pham, ngăn chặn phạm tội” chứ không phải “bảo vệ nhân dân”.

                                          Let It Be – Phó Mặc Cuộc Đời.

                                         Lòng này chỉ tỏ với trăng sao.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) Cảnh Sát:

Video clip trên New York Daily News: Cảnh Sát New York Mạnh Tay Ném Người Đi Xe Đạp Xuống Đất Khi Người Này Suýt Đi Vào Tuyến Đường Đoàn Xe Tổng Thống Obama. http://www.nydailynews.com/new-york/bicyclist-arrested-rolls-obama-motorcade-article-1.2667698

Nhà Hoạt Động Mỹ Chuyên Ở Tù: Đức Cha Vitale: http://www.sfgate.com/bayarea/article/Feisty-priest-Vitale-looks-back-on-his-activism-6789152.php

Bắt Giam Vì “Biểu Tình Vì Hòa Bình”. http://www.truth-out.org/opinion/item/3969-arrested-for-peace

Linh Mục Mỹ Bị Bắt Do Biểu Tình Với Công Nhân Mỏ.  http://catholicphilly.com/2013/06/us-world-news/national-catholic-news/west-virginia-priest-sides-with-miners-in-coal-companys-bankruptcy/

Luận Về Trang Phục Và Trang Bị Cảnh Sát Việt Nam – Hoàng Hữu Phước

B) Để thanh minh rằng tác giả bài viết này không xúc xiểm Thiên Chúa Giáo La Mã đối với tội hiếp dâm trẻ em nam, các tư liệu sau được giới thiệu tham khảo:

Bản tin ABC News. 2016. Tổng Giám Mục Boston 71 Tuổi Paul Shanley Bị Bắt Vì Tội Hiếp Dâm Trẻ Em. http://abcnews.go.com/US/story?id=91695&page=1

Murdock, D.M. và Acharya S. 2010. Phải Chăng Nhà Thờ Catholic Nuôi Dưỡng Nạn Ấu Dâm.  http://freethoughtnation.com/does-the-catholic-church-foster-pedophilia/

Kho Dữ Liệu Các Tu Sĩ Bị Cáo Buộc Tội Hiếp Dâm Ở Hoa Kỳ. http://bishop-accountability.org/priestdb/PriestDBbylastName-E.html

Chìa Khóa Của Cường Thịnh

Bài Học Lớn Nhất Cho Mỹ Và Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

5-11-2016

Bài này viết về Key.

Trong tiếng Anh, “key” có nghĩa là chiếc chìa khóa, kể cả trong nghĩa đen và nghĩa bóng.

Trong tiếng Việt, từ “chìa khóa” cũng có nghĩa là… chiếc chìa khóa, kể cả trong nghĩa đen và nghĩa bóng.

Tuy nhiên, bài viết này là về một nhân vật tên Key với sự tình cờ của số phận khi chính Ông Key thực sự là key cho sự phồn thịnh của một quốc gia mà người Mỹ cần được nhắc nhở và người Việt cần phải quan tâm.

Tấm Gương New Zealand

Sinh năm 1961, John Phillip Key trở thành Thủ Tướng New Zealand từ năm 2008 đến nay. Key tốt nghiệp Đại Học Canterbury năm 1981 với bằng Cử nhân Thương Mại, tìm được công việc đầu tiên là nhân viên kiểm toán cho công ty McCulloch Menzies, sau đó quản lý dự án cho nhà máy sản xuất quần áo Lane Walker Rudkin, trước khi theo nghiệp môi giới ngoại hối cho Công ty Tài Chính Elders và chuyển sang Bankers Trust. Năm 1995, Key ra nước ngoài quản lý chi nhánh ngoại hối Châu Á của Merrill Lynch ở Singapore, rồi làm vệc tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang New York Hoa Kỳ cho đến khi trở về nước năm 2001, gia nhập Đảng Dân Tộc, trở thành Nghị sĩ Quốc hội New Zealand năm 2002, và Thủ Tướng New Zealand năm 2008, tiếp tục thắng cử trong các năm 2011 và 2014 cho các nhiệm kỳ tiếp theo cho đến nay.

key-2key

Những điểm nổi bật của Key mà người dân New Zealand hay nói về Key:

1) Chủ tịch Đảng Dân Tộc John Slater đã có đại công (a) phát hiện “nhân tài” Key, (b) ra sức theo sát kiên trì làm công tác tư tưởng để Key chịu gia nhập Đảng, và (c) quyết tâm biến Key thành ngôi sao sáng cho đất nước New Zealand;

2) Với chức danh kiêm nhiệm (đồng thời với chức Thủ Tướng) làm Bộ Trưởng Du Lịch, Key đã biến New Zealand thành một trong những thiên đường du lịch lừng danh hoàn vũ;

3) Với số tài sản 50 triệu đô-la New Zealand, Key là một trong những công dân  giàu có nhất New Zealand, và là nghị sĩ giàu nhất Quốc Hội New Zealand.;

4) Là Thủ Tướng, Key đã đưa New Zealand trở thành cường quốc bất kể thời đại suy thoái kinh tế toàn cầu; và

5) Key được gán cho những cái tên như “Stratospheric” (ý nghĩa: cao vời vợi về nhân cách) và “Teflon John” (ý nghĩa: ông miễn nhiễm trước tất cả các tiêu cực,  giống như lớp “teflon” dùng trong chảo chống dính).

Bài Học Cho Hoa Kỳ

Trong 56 người hình thành nên và ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ (1776), nếu ghi theo nghề nghiệp chính của họ thì có 20 luật sư, 18 thương nhân. Nếu tính theo tôn giáo thì chỉ có 1 người đạo Thiên Chúa Giáo La Mã, và 13 người không theo tôn giáo nào.

Trong 55 người hình thành nên và ký tên vào Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ (1787), nếu ghi theo nghề nghiệp chính của họ thì những nghề có hơn 1 “đại biểu” là: 30 luật sư, 11 thương nhân, và 4 chính trị gia. Nếu tính theo tôn giáo thì chỉ có 1 người đạo Thiên Chúa Giáo La Mã.

Bài học cho Mỹ từ lịch sử Hoa Kỳ:

Từ các điểm sau

1) Các “trường luật” cho đến cuối thế kỷ XIX (19) vẫn còn hiếm hoi tại Hoa Kỳ

2) 20 “luật sư” trong danh sách soạn thảo và thông qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ năm 1776 không là “luật sư” theo định nghĩa của thời đại hiện nay, vì cho đến năm 1784 Hoa Kỳ mới có trường luật đầu tiên là Litchfield Law School và đến năm 1793 mới có vị giáo sư luật đầu tiên.

3) 30 “luật sư” trong danh sách soạn thảo Hiến Pháp Hoa Kỳ năm 1787 cũng không là “luật sư” theo định nghĩa của thời đại hiện nay.

4) Các “luật sư” soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và Hiến Pháp Hoa Kỳ là những người mà “nghiệp vụ” chỉ là những người biết chữ biết nghĩa về vài  luật cơ bản của Anh Quốc để làm dịch vụ áp dụng vào đời sống dân sự.

có thể khẳng định rằng: Hoa Kỳ cường thịnh vì trên nền móng của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp không có sự đóng góp của các “luật sư chuyên nghiệp kiểu Thế Kỷ XX (20)”.

Ngoài ra, Hoa Kỳ cường thịnh vì trên nền móng của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp có sự đóng góp của nhiều thương nhân và không có hoặc có sự góp mặt của chỉ một hai  “chính trị gia”.

Từ đó suy ra: Hoa Kỳ ở Thế Kỷ XX đã trở nên ngày càng đồi bại vì xã hội đã hình thành những trường “Luật” hiện đại mà những “ngôi sao” của nó trở thành nguyên thủ quốc gia, tạo nên một mặc định rằng luật mang thuộc tính quyền lực khống chế và áp chế, để rồi Hoa Kỳ buộc phải chấp nhận (a) nghề luật sư bị dân chúng Mỹ chính gốc gọi là “dirty job” tức “nghề bẩn”, (b) chính trường Mỹ dành riêng cho những ai tốt nghiệp “luật”, và (c) Hoa Kỳ từ đất nước vùng lên đấu tranh giành độc lập trở thành đất nước do những “luật sư” làm tổng thống tiến hành xâm lược các nước khác, gây chiến tranh khắp chốn, cứ như thể ban ơn cho các nước ây có cơ hội vùng lên đấu tranh giành độc lập như Hoa Kỳ đã được hưởng năm 1776.

Bài học cho Mỹ từ New Zealand:

Với đất nước Mỹ bị các tổng thống “luật sư” làm cho suy vi suy tàn suy sụp đến độ Mỹ bị Trung Quốc đè xuống chiếu dưới, Mỹ bị tiểu quốc Philippines xua đuổi, Mỹ bị Campuchia làm nhục tại Hội Nghị Quốc Tế ở Campuchia, Tổng thống Mỹ bị tổng thống Philippines mắng chửi lăng mạ, Đồng dollar Mỹ bị đồng Yuan Renminbi Trung Quốc lấn lướt trong giỏ tiền tệ của IMF, thì

điều người Mỹ nên làm là hãy có Key!

Muốn có Key, Mỹ phải có Trump, vì

a) Chính trị: Key không là đảng viên cốt cán trung thành kỳ cựu của Đảng Dân Tộc. Trump không là đảng viên cốt cán trung thành kỳ cựu của Đảng Cộng Hòa.

b) Học vấn: Key không thuộc giới hàn lâm vì chỉ có bằng Cử Nhân Thương Mại. Trump không thuộc giới hàn lâm vì chỉ có bằng Cử Nhân Kinh Tế.

c) Nghề chính trị: Key không là chính trị gia chuyên nghiệp. Trump không là chính trị gia chuyên nghiệp.

d) Nghề nghiệp: Key là doanh nhân. Trump là doanh nhân.

e) Tài chính: Key là doanh nhân có tên trong danh sách những người giàu nhất New Zealand. Trump là doanh nhân có tên trong danh sách những tỷ phú Hoa Kỳ.

f) Tài lực: Key là nghị sĩ giàu nhất Quốc Hội New Zealand. Trump – nếu là Tổng Thống Mỹ – sẽ là người giàu nhất trong lịch sử các lãnh đạo Chính Phủ Hoa Kỳ.

Kết luận cho Mỹ:

Donald Trump sẽ là chiếc chìa khóa (Key) để Mỹ quay trở lại thành cường thịnh nếu Mỹ thực sự muốn thịnh cường.

Bài Học Cho Việt Nam

Từ những sự thật lịch sử nhãn tiền nêu trên của Mỹ và New Zealand,

Thay vì ăn nói vớ vẩn quàng xiên láo xạo về các tấm gương của Nhật Bản và Singapore mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong các bài viết trước đây (có ghi đường liên kết ở phần tham khảo bên dưới)

Việt Nam có thể tiến lên đường cường thịnh bằng cách:

1- Các lãnh đạo Đảng Cộng Sản tích cực chủ động đích thân phát hiện “nhân tài Key”, ra sức theo sát kiên trì làm công tác tư tưởng để “nhân tài chìa khóa” chịu gia nhập Đảng, và quyết tâm biến các “chìa khóa” Key mới chiêu mộ được ấy thành ngôi sao sáng để giúp đất nước Việt Nam cường thịnh hoặc lãnh đạo đất nước Việt Nam trở thành cường thịnh.

2- Để làm đươc điều trên, Đảng Cộng Sản nên giảm bớt các đầu tư hào quang luôn dành cho các “vườn ươm” của Đội Thiếu Niên và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản vì thực tế đã chứng minh là suốt nửa thế kỷ qua chưa hề có một ngôi sao nào từ số ươm mầm ấy làm Việt Nam cường thịnh, trong khi sự “ươm mầm” lại cho ra nhiều tác giả của (a) các bạo lực học đường, (b) trọng án kinh tế trầm trọng trầm kha, (c) các biến thái “tự chuyển hóa” và “tự chuyển biến”, và (d) các “bầy sâu” tham nhũng gây hình tượng của sự lúc nhúc, v.v.

3- Chính phủ Việt Nam phải xóa sạch tàn dư của việc sử dụng nhân lực một cách “từ chương” –  xin xem bài Từ Chương ở phần Tham Khảo – nghĩa là (a) không phí phạm hàng trăm triệu USD tiền thuế của dân để gởi cán bộ “trẻ” đi du học chỉ để về làm lãnh đạo; (b) không áp dụng cái quái gỡ rằng phải là “tiến sĩ” mới được làm hiệu trưởng trường đại học, hoặc phải là dược sĩ hay bác sĩ mới được mở doanh nghiệp dược phẩm – dược liệu, phải đi du học nhiều nước đem về nhiều bằng cấp mới làm Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, v.v.

4- Đối với các lĩnh vực xây dựng kinh tế nước nhà, Chính phủ Việt Nam phải bổ nhiệm nhân sự dựa trên quá trình kinh nghiệm dạn dày thực tế dài lâu của những công dân có thật trong lĩnh vực tư nhân, vì rằng Chính phủ đã

(a) luôn có nhiều chuyên gia kinh tế “tiến sĩ” làm cố vấn nhưng các vị này chỉ làm mỗi việc là cung cấp cho báo chí các phát biểu hay các bài viết chỉ có giá trị duy nhất là lấp đầy khoảng trống trang báo;

(b) luôn có các “chủ tịch tập đoàn Nhà Nước”, các “tổng giám đốc tổng công ty nhà nước”, các “tổng giám đốc ngân hàng quốc doanh” có các đặc điểm con ông cháu cha, thạc sĩ/tiến sĩ trẻ măng chưa từng có kinh nghiệm làm việc căn cơ của chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo theo văn bằng ở khu vực tư nhân, mà chỉ có mỗi kinh nghiệm thâm thúy làm thâm hụt mỗi nơi hàng ngàn tỷ đồng vốn Nhà Nước; và

(c) luôn có các lãnh đạo ở các địa phương mang danh đầu tàu kinh tế của cả nước có kinh nghiệm dày dạn làm đầu tàu trật đường ray do đường ray ngày càng trơn trợt và sụp lún nhờ triều cường ngày càng ngập bạo hơn, thường xuyên hơn, rộng khắp hơn, mạnh mẽ hơn (cuốn phăng xe máy nặng hơn 100kg và cuốn phăng trẻ em trôi tuột xuống cống mất tăm).

“Phi chính trị hóa” dù trong nội dung quân đội hay lãnh đạo quốc gia là luận điệu kêu gào của kẻ ngu đần, điên loạn, hoang tưởng, vô chính phủ, và…chống Mỹ.

Chính vì vậy, hãy kiếm tìm người đạo đức tài danh thực sự đã qua kiểm chứng trong xã hội để mời mọc, thuyết phục, đưa vào làm đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam để hình thành đội ngũ lãnh đạo Việt Nam.

Vì rằng người ta ra sức kiếm tìm mõ kim cương, mõ hồng ngọc đã được hình thành trong thiên nhiên để khai thác, vì rằng kim cương nhân tạo chỉ để phục vụ cho mục đích khác – chẳng hạn như làm đầu mũi khoan mõ dầu khí – chứ không để làm bảo ngọc quốc gia. Việc ươm mầm Đội Thiếu Niên và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản là để phục vụ mục đích làm đội “hậu bị” của Đảng (để Đảng có những đảng viên “cơ hữu” kế tục lãnh đạo các tổ chức Đảng) và làm đội ngũ duy trì tổ chức Đoàn khắp nơi, chứ không để làm lãnh đạo quốc gia Việt Nam tiến lên cường thịnh.

5- Cần làm cho mọi người dân hiểu rằng nghề nghiệp nào cũng chỉ để phục vụ việc mưu sinh tức sinh nhai tức kiếm tiền của cá nhân, chứ không mang ánh hào quang “cứu độ” hay “cao quý” – trừ binh nghiệp tức các lực lượng vũ trang. Luật sư là để bảo vệ thân chủ thoát được các trừng phạt nghiêm khắc nhất của luật pháp, chứ không phải phục vụ cái gọi là “công lý”. Quốc Hội là cơ quan soạn thảo các bộ luật, và các nghị sĩ nếu có nghiệp vụ luật chỉ có thể giúp tư vấn về hình thức các chương mục và về liên hệ đến các nội dung bộ luật đã có từ trước đó để tránh các xung đột. Do đó, sự có mặt của quá nhiều “luật sư” trong Quốc Hội là điều không cần thiết, đặc biệt Hiến Pháp Hoa Kỳ làm cơ sở cho một Hoa Kỳ cường thịnh do nhờ đã không hề có các “luật sư” – trên thực tế đào tạo hàn lâm đúng nghĩa – và Hoa Kỳ ngày nay lụn bại do chính trường dù trên bình diện quốc gia hay tiểu bang đã nhường hẳn “sân chơi” cho giới luật sư. Việt Nam ngày càng bất ổn do có quá nhiều nghị sĩ có bằng cấp luật nhưng đã làm các đạo luật tầy huầy yếu kém đầy sai sót không thích hợp với cuộc sống xã hội khi được thông qua, và quá nhiều luật sư đột biến muốn làm “chính trị” bằng cách chống phá chính phủ, như một thể hiện căn bịnh trầm kha của giới luật sư Âu Mỹ: khát khao quyền lực tham chính.

Năm điểm trên là cẩm nang cho Việt Nam cường thịnh, chứ không phải mô hình độc tài tàn bạo của Singapore hay biểu thức chinh phạt thế giới của Nhật Bản.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Thế Nào Là “Từ Chương”

Báo Động Về Năng Lực Của Lãnh Đạo Thành Phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-10-2016

Nội dung khủng khiếp sau được chụp từ trang web của Báo Tuổi Trẻ:

su-bat-luc-1

Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đã hoặc bất cẩn trong phát ngôn, hoặc thực sự thiếu năng lực trong lãnh đạo một thành phố quá lớn khiến cư dân Thành phố Hồ Chí Minh ắt sẽ phải đối mặt với hiểm nguy cực kỳ nghiêm trọng!

TRỞ TAY KHÔNG KỊP

 su-bat-luc-6

Mới đây, Tổng Thống Vĩ Đại của Nga Vĩ Đại Vladimir Putin ra lệnh mỗi thành phố ở Nga tham gia tập dượt phòng thủ dân sự khẩn cấp. 40 triệu người dân – tức 1/3 dân số Nga – sẽ thao dượt nhằm đối phó với nguy cơ tiềm tàng các trận ném bom nguyên tử từ kẻ thù. Thủ đô Moscow đã sẵn có các hầm trú ẩn hữu hiệu đối với các cuộc tấn công hạt nhân cho 12 triệu người tức cho toàn bộ cư dân của Moscow. Lương thực và các nhu yếu phẩm cùng những phương tiện y tế đủ cho ngần ấy cư dân dưới lòng đất được sinh tồn trong thời gian kịp cho tác hại của phóng xạ chết người qua đi. Và không hề có tin chính phủ Nga sẽ chu cấp thêm bao nhiêu ngân sách cho mỗi thành phố để thực hiện chỉ thị ấy của tổng thống.

Phải chăng ngân sách các địa phương Nga nhờ được “tự chủ” nên đã quá dồi dào, đã tự lo được mọi thứ nên bất kể nước Nga có đã và đang bị cấm vận nghiệt ngã và cuộc tham chiến ở Syria nhằm tiêu diệt IS đang làm Nga thêm cạn kiệt tài chính, Moscow vẫn bình tỉnh đối phó với nguy cơ khủng khiếp của chiến tranh?

KHÔNG BAO GIỜ LÀ NHƯ VẬY!

Nga làm được vì lãnh đạo từng địa phương đã thực sự là lãnh đạo chuyên nghiệp: luôn “tự chủ” trong tư duy, trong “liệu cơm gắp mắm”, và trong “biết lo trước cái lo của người dân” – mà trong các cái lo ấy có cả cái lo về ngân sách thâm hụt, lo về tham nhũng, lo về đầu tư không hiệu quả trong sử dụng ngân sách và giám sát việc sử dụng ấy, lo về thiếu vắng “người tài”, và lo về tất cả những gì liên quan đến sự an nguy sinh tồn của từng địa phương.

Thử hỏi, với ngân sách chưa bị cắt giảm thì trong hai mươi năm qua tình hình ngập ở Thành phố Hồ Chí Minh có đã khả quan hơn chưa, hay ngày càng trầm trọng hơn? Khoan nói tới chuyện tham nhũng, móc ngoặc, lại quả, đơn giản vì dễ bị phản pháo mạnh mẽ bằng câu nói hoàn toàn đúng luật pháp: “Bằng chứng đâu? Bôi nhọ à?” Hãy nói đến việc tồi tệ về năng lực thiết kế, tồi tệ về năng lực thực hiện công trình, tồi tệ về năng lực giám sát công trình, tồi tệ về năng lực nghiệm thu công trình, đơn giản vì các nội dung này sẽ không bao giờ bị phản pháo bằng câu nói: “Hãy chứng minh đi!” với thực tế quá hiển nhiên: NGẬP.

ĐÃ LÀ LÃNH ĐẠO, KHÔNG AI NÓI “TRỞ TAY KHÔNG KỊP”

Đã là lãnh đạo phải có năng lực về “management of change” hoặc “change management” tức CM tức “quản lý các đổi thay” bất kể sự đổi thay ấy là tốt hay xấu, nghĩa là đột nhiên trung ương ban cho thêm 1.000 tỷ USD thì phải không được luống ca luống cuống chả biết xài vào việc gì, và ngược lại khi trung ương đột nhiên cắt giảm 1.000 tỷ USD thì không được luống ca luống cuống chả biết phải duy trì hoạt động ra sao.

Đã là lãnh đạo phải có năng lực về “management of crisis” hoặc “crisis management” tức “quản lý khủng hoảng”, và phải có sẵn BCP tức “Business Continuity Plan” tức cẩm nang phòng bị được áp dụng bảo đảm hoạt động “gần mức bình thường nhất có thể được” của công việc khi có phát sinh sự cố hay sự việc. Thành phố Hồ Chí Minh đã có BCP cho trường hợp bị cắt giảm ngân sách chưa?

Nếu bị cắt giảm ngân sách mà lãnh đạo đã hoang mang trước tiên, than thở “trở tay không kịp”, thì đừng nói đến chiến tranh nguyên tử đắt tiền đánh vào từ Biển Đông,

su-bat-luc-2

chỉ cần kẻ thù chống Việt từ biên giới trên bộ cách Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 100 km tấn công bằng cơn mưa hỏa tiển (tên lửa) rẻ tiền ào ạt nhắm Thành phố Hồ Chí Minh chúc đầu xuống thì lãnh đạo thành phố sẽ hoảng sợ trước tiên hay sao?

su-bat-luc-5

Người dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ra sao? Tiền thì yêu cầu Chính Phủ rót thêm ngân sách trong khi chưa hề chứng tỏ đã sử dụng ngân sách ấy hiệu quả ra sao, trong khi đó lại giám sát chẳng ra chi khiến có những tầy huầy trọng án kinh tế.

Nếu được cho đủ tiền hoặc dư tiền mới làm được việc thì (a) bài học thường ca hát “với sức người, sỏi đá cũng thành cơm” đã vất đi đâu, (b) cần quái gì có đầy đủ các quan chức, và (c) phải chăng Thành phố Hồ Chí Minh không có nhiều chuyên gia kinh tế luôn được báo chí chính thống của thành phố đón săn để hứng các lời nhả ngọc phun châu nhằm lấp đầy trang báo trống đó hay sao?

Nghị Quyết 16 của Bộ Chính Trị là ý chí, là định hướng cho tập trung mọi nổ lực.

Nghị Quyết 16 của Bộ Chính Trị không là ấn định phải thực hiện bằng mọi giá bất kể hoàn cảnh mới phát sinh.

Tạo điều kiện cho phát triển” không chỉ có mỗi một ý nghĩa rằng phải gia tăng ngân sách. Bố trí “người tài” của trung ương về địa phương cũng là “tạo điều kiện cho phát triển”. Chưa kể, “tự tạo điều kiện cho phát triển” mới là năng lực tuyệt diệu của nhà lãnh đạo.

Cắt giảm ngân sách không bao giờ là đại họa hay thảm họa – nếu so với bùng phát chiến tranh.

Chỉ có thể đưa ra chuyện nhỏ nhặt “không mua sắm ô tô mới cho lãnh đạo mới” để chứng minh xài tiền của dân cẩn trọng để xin đừng cắt gảm ngân sách nhiều quá, thì quả là chuyện đau đớn quá cho năng lực lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh!

Chỉ nêu sự cấp bách của chống ngập để xin đừng cắt giảm nhiều ngân sách, thì quả là chuyện đớn đau vì nhiều năm qua Thành phố Hồ Chí Minh không bị cắt ngân sách vẫn có chống được ngập đâu?

Cắt giảm ngân sách là cơ hội mà Trung Ương ban cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ thực tài quản trị vì nước vì dân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-9-2016

quy-goi-hay-quy-dau

A) Giải Thích Từ Ngữ

Tất nhiên, lời giải thích từ ngữ sẽ là điều cần thiết cho tiêu đề phi truyền thống của bài viết này vì sự thâm thúy của tiếng Việt chứ không vì một “méo mó nghề nghiệp” của tác giả mà ắt chẳng ít người rất có thể đã cho rằng cái gì lão ta cũng viện dẫn tiếng Anh cứ như để khoe khoang hoặc do “ngộ chữ” vậy.

“Quỳ gối” thì ai cũng biết, dù là dân ở bất kỳ xứ miền nào và sử dụng bất kỳ hệ ngôn ngữ nào, chẳng hạn người Trung Hoa đã luôn quỳ gối trước các hùng binh Nhật Bản

quy-goi-hay-quy-dau-1

Thậm chí tiếng Anh còn có cả từ ngữ du nhập là động từ “kowtow” để nói về kiểu “quỳ lạy khấu đầu” của người Tàu tức “quỳ lạy phủ phục dập đầu” khi mông thì chổng lên trời còn trán thì chạm mặt đất như khi ở chốn công quyền, lúc diện kiến quân vương, hay để bày tỏ sự trọng thị đối với bậc trưởng thượng

quy-goi-hay-quy-dau-2

Như vậy, dù “quỳ gối’ thì vẫn dính dáng tới hai khu vực có chữ “đầu”, đó là…“đầu gối” và “đầu”…đội nón.

Tuy nhiên – và tất nhiên – bài này không nói gì về những loại bình thường như trên mà ai ai cũng biết đến, nghĩa là không có sự dính dáng cộng hưỡng tương hợp của “quỳ gối” với “quỳ khấu đầu” trong cụm từ “quỳ đầu” do tác giả bài viết này tạo ra. Bài viết, do đó, chỉ muốn nói về hai cụm từ đối nghĩa hoàn toàn giữa một bên là “quỳ gối” thuần hình tượng ngoại vi rõ nét của sự thực hiện đáp ứng một lễ nghi hoặc của sự áp dụng một chiến thuật hay dưới áp lực từ bên ngoài thường mang tính đối phó hữu hạn, còn một bên là “quỳ đầu” thuần trừu tượng nội vi của sự quy phục quy hàng tự nô dịch tự vong thân tự nguyện tự hoan hỷ vô hạn từ bên trong.

B) Nhà Sử Học

1- Bản Chất Chuyên Nghiệp Âu Tây

Trong một số bài viết trước đây, tôi có nêu nhiều giá trị đặc thù cao vời vợi cụ thể của nghề nghiệp một sử gia tại các siêu cường Âu Mỹ để phê phán hiện trạng Sử của Việt Nam – mà tiếc thay ở Việt Nam chưa hề có bất kỳ ai nêu được bất kỳ điều gì tương tự khiến cả nghề sử và môn Sử trở thành nỗi nhục nhã khôn khuây của riêng chỉ Việt Nam – cũng như những tùy tiện hủy phá Sử hoặc lạm dụng Sử nhằm (a) bảo vệ cái gọi là thể diện quốc gia, hay (b) che dấu cái tinh thần nô dịch “quỳ đầu”, hoặc (c) phục vụ mưu đồ phản loạn.

Thử đưa ra một thí dụ cực kỳ nhỏ nhoi ở đây về “nhà sử học” đồng thời là nghị sĩ Vương Quốc Anh Chris Skidmore, thường xuyên thực hành điều bình thường của tất cả các “nhà sử học” Âu Tây là nghiên cứu các khúc mắc, những nghi án, hay những khoảng còn mờ, còn xám, còn tối, còn nhòe nhoẹt nhập nhằng để hình thành các tác phẩm khảo cứu đồ sộ, như bật một que diêm – chứ không nhất thiết phải là ngọn đèn pha hàng ngàn watt – soi rọi một phần, ngay cả khi cái phần được le lói soi rọi chập chờn ấy không nhất thiết phải mang ý nghĩa một khẳng định chân lý ngay lập tức, chúng ta sẽ thấy thế nào là tính-chuyên-nghiệp-không-ngừng-nghỉ của bất kỳ ai mang danh “sử gia” hay “nhà sử học” của thế giới học thuật Âu Tây.

quy-goi-hay-quy-dau-3

Trong tác phẩm dày 448 trang mang tựa đề Death and The Virgin: Elizabeth, Dudley and the Mysterious Death of Amy Robsart (Tử Thần và Trinh Nữ), Chris Skidmore đã khảo cứu về nghi án mà vị “nữ hoàng trinh nguyên” Elizabeth rất có thể do dan díu với Robert Dudley đã khiến vị này gây ra cái chết đầy bí ẩn của vợ ông là công nương Amy Robsart.

quy-goi-hay-quy-dau-5

Dựa theo những chứng cớ gom nhặt diễn giải từ tàng thư, những nghiên cứu thực nghiệm ngay tại lâu đài Cumnor gần Oxford cũng như tại vị trí những bậc thang nhỏ hẹp nơi xác công nương Amy Robsart được tìm thấy sáng ngày 08-9-1560 mà đoàn pháp y hoàng gia chứng thực sự tử thương là do nạn nhân sơ ý té lăn xuống những bậc thang uốn khúc, Chris Skidmore đã cho ra những hoài nghi, chẳng hạn như khu vực cầu thang đá nhỏ hẹp, không cao, nhiều uốn khúc dành cho gia nhân đó trong lâu đài không phải là nơi một vị mệnh phụ phu nhân một mình thẩn thơ đi giám sát để rồi té lăn xuống với vết tử thương cứ như đã bị sát hại rồi bị quẳng xác xuống từ một lầu  cao nào khác trước khi lôi đến bỏ tại chân cầu thang tăm tối, hoặc nữ hoàng Elizabeth dù si mê hoan lạc với tình nhân Robert Dudley cũng đã quyết định “ở vậy” chứ không kết hôn cùng ông sau cái chết của vợ ông, do cái chết đầy bí ẩn ấy râm ran hình thành những hồ nghi đơm đặt về sự nhúng tay đạo diễn của chính Robert Dudley, mà điều này có thể gây phương hại đến thanh danh Elizabeth và hoàng gia Vương Quốc Anh.

quy-goi-hay-quy-dau-4

Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu từ bình thường đến phi thường tương tự của nhiều “nhà sử học” đối với các khuất tất trong lịch sử hoặc của nước họ hoặc của nhân loại từ thời Cổ La Hy; chưa kể, không hề có mặc định là chỉ có “nhà sử học” Ai Cập mới có quyền nghiên cứu về Sử Ai Cập, hoặc phải là “nhà sử học” Việt Nam mới có quyền nghiên cứu về Việt Sử, v.v. Đây là lý do có số lượng ngồn ngộn các tác phẩm sách Sử và tác phẩm phim tài liệu về Sử, giúp trí hóa nhân loại được mở mang, giúp ngành Sử phát triển hùng mạnh, và giúp “nhà sử học” luôn bội thu cả về danh vọng lẫn tác quyền. Tất cả những điều “bình thường” này chưa hề thấy có ở Á Đông – trong đó có Việt Nam.

2- Bản Chất Trá Ngụy Á Đông

Để phục vụ mục đích chiến thắng thuần tâm lý chiến và ý thức hệ, Âu Mỹ luôn ra sức bóp méo lịch sử để biến công trạng vĩ đại riêng của Liên Xô đối với toàn nhân loại trong quyết định số phận toàn bộ Đệ Nhị Thế Chiến khi một mình Liên Xô chỉ riêng trên mặt trận trực diện Đức-Liên Xô đã tiêu diệt 507 sư đoàn tinh nhuệ chủ lực Đức Quốc Xã,100 sư đoàn Phát Xít, loại khỏi vòng chiến đấu 74% quân đội Đức, phá hủy 75% lực lượng xe tăng, 70% lực lượng không quân và 74% lực lượng pháo binh, bị phủ che mờ nhòe trong sử sách Âu Mỹ khiến cái “công trạng” tổng hợp của Mỹ và các nước đồng minh trong đánh bại 176 sư đoàn Quốc Xã và Phát Xít cùng việc thả hai quả bom nguyên tử xuống Nagasaki và Hiroshima trở thành duy nhất “hiển hách” trong đại cuộc “giải phóng Châu Âu”.

Tuy nhiên, sự bóp méo kể trên đã được thực hiện và đã thực hiện được chỉ nhờ vào có sự đồng tình đồng thuận đồng tâm đồng đẳng theo lợi ích nhóm của thế lực chính trị Âu Mỹ đối với thế giới sử nhằm (a) hòa âm điền dã với đại cuộc ngăn chặn nguy cơ khủng khiếp tràn lan ảnh hưởng của Liên Xô xô ngã thành trì của cái gọi là thế giới tự do; (b) tự cứu nguy thể diện của các quốc gia tư bản Tây Âu như Anh đã “đi đêm” với Hitler, Pháp “bán nước” cho Đức Quốc Xã, Thụy Sĩ “bán thân” cho Đức Quốc Xã, và hàng loạt các quốc gia Âu Tây quỳ gối và quỳ đầu trước lá cờ Chữ Thập Ngoặc, nên nhất thiết phải có cho bằng được tấm áo khoác mang dòng chữ lấp lánh kim tuyến dạ quang của “vùng lên giải phóng quốc gia khỏi gót giày xâm lược của Đức Quốc Xã”; và (c) các pho sử khác nhau của các nước Tây Âu khác nhau lại kể cùng một sự việc giống nhau đến lạ lùng nhưng đầy sức thuyết phục với những kẻ bàng quan về cái gọi là đại công của các nước Tây Âu này trong Đệ Nhị Thế Chiến do đó đã chứng minh rằng chính họ và Mỹ chứ không phải Liên Xô đã giải phóng Châu Âu.

Song, riêng với lĩnh vực Sử chuyên biệt của mỗi quốc gia Âu Tây thì tính chuyên nghiệp là bản chất thuần nhất hừng hực bung ra của nghiên cứu Sử Tây Âu, trong khi đó tiếc thay sự trá ngụy lại là bản chất hỗn tạp thu mình thâm căn cố đế của nghiên cứu Sử Á Đông như được thể hiện ở bảy dạng đặc thù sau.

a) Gắn Hào Quang Cho Sử

Sử Tàu là minh chứng hùng hồn nhất cho cái thói cố tình gắn hào quang cho Sử chẳng hạn như truyền thuyết về một vị sử quan bị xử trảm vì khăng khăng không chịu sửa lại những tình tiết mà chính mình đã hàng ngày ghi chép lại từ những “điều có thật” đã xảy ra tại triều đình. Chuyện tầm phào này nhằm phục vụ cho một mục đích ngụy trang dài lâu – có khi xuyên thiên niên kỷ – rằng tất cả những gì đã ghi trong sử sách Tàu đều trung thực và là chân lý. Việc này chẳng khác gì để lờ đi sự thật về thói tà dâm loạn luân kinh tởm của toàn bộ các mệnh phụ phu nhân của tất cả các vương triều Trung Hoa, bọn sử gia Tàu đã nêu ra một “gương tiết liệt” của một góa phụ thời Đông Chu Liệt Quốc đã hươi đại đao chặt đứt lìa cánh tay của mình sau khi cánh tay ấy bị một gã đàn ông sàm sở sờ mó mân mê. Sử Tàu đã được gắn hào quang kiểu ấy để qua thiên niên kỷ sau đó, Tàu hê lên rằng Tàu có chứng cớ sử liệu về sự ghé thăm của các thương thuyền Tàu đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông, từ đó xác quyết chủ quyền lịch sử “không thể chối cãi” của Tàu đối với toàn bộ Biển Đông, theo kiểu: nếu sử quan A thời Đông Chu Liệt Quốc bị bêu đầu vì không chịu viết Sử sai sự thật thì tất tần tật mọi thứ từ B đến Z được ghi trong Sử Tàu – bất kể là Sử cổ hay Sử mới chế biến xào nấu – đều là thật tuốt tuồn tuột bất khả “chái cổi”.

Môn học Lịch Sử chỉ là một môn học về nhiều thứ, từ dã sử đến chính sử, từ truyền khẩu đến những bằng chứng thư tịch gọi là “sử liệu” vốn thuần túy mang tính hoạt động hành chính hàn lâm tại triều đình của bất kỳ quốc gia nào, của bất kỳ dân tộc nào.

Sử không hề có hào quang.

Sử là về những sự kiện, dù đó là về những cuộc ồ ạt di dân Exodus bi thảm hay bi tráng trong lịch sử nhân loại: từ cuộc Exodus vạn lý trường di của người Việt về phương Nam rời bỏ vùng Động Đình Hồ rộng lớn để lánh nạn giặc Tàu; cuộc Kansas Exodus của người Mỹ da đen năm 1879; cuộc Mormon Exodus xuyên lục địa vì lý do đàn áp tôn giáo vượt miền Trung Tây Hoa Kỳ tiến về Thung lũng Salt Lake; cuộc Exodus của người Do Thái; và các cuộc Exodus 1948, 1949-1956, và 1967 của người Palestin bị quốc tế xua đuổi khỏi quê hương, khỏi Dãy Gaza, khỏi Bán Đảo Sinai, khỏi Cao Nguyên Golan, và khỏi Bờ Tây; cũng như cuộc Exodus 1975 vượt biển của người Việt khi Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên vĩnh viễn trên bản đồ thế giới.

Bản thân các Exodus không hề có hào quang, vì Sử không bao giờ có hào quang. Tất cả các Exodus đều là sự bôn đào từ bản chất, không bao giờ là sự “tìm đến miền đất hứa của tự do” chói lòa chói lọi chói chang hào quang bất kỳ.

Chăm chỉ gắn hào quang cho Sử là việc làm điểm tô nhan sắc cho Sử, mà sự tô son trát phấn đó chính là sự lạm dụng Sử, việc trá ngụy thứ nhất đặc thù của Á Đông.

b) Dùng Sử Làm Hào Quang

Sử gồm những gì (a) là sự thật, (b) được cho là giống sự thật hơn, (c) là kết quả của các khảo cứu khoa học bổ sung gần nhất tức còn đợi chờ các bổ sung của tương lai, và (d) thậm chí những gì hoàn toàn không bao giờ có thể kiểm chứng được. Tất cả dựa vào những pho Sử chủ lực của mỗi quốc gia, mà sự khách quan của các “sử gia” khi chấp bút viết nên các pho Sử ấy không bao giờ được mặc định là luôn tồn tại.

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.

c) Phủ Nhận Lịch Sử

Tàu phủ nhận lịch sử nên không bao giờ có các thiên tiểu thuyết lịch sử về các thời kỳ Tàu bị Việt Nam đánh cho đại bại, thậm chí có lần bị Lý Thường Kiệt xua đại quân tràn ngập non sông Tàu, phá tan thành bình địa bao thành quách khiến Sử Tàu mãi mãi không bao giờ còn có thể biết đến vị trí chính xác của các di tích lịch sử ấy. Toàn bộ nền văn học Tàu chỉ có các thiên “anh hùng ca” như Tiết Nhân Quý Chinh Đông đại thắng Đại Hàn, hoặc La Thông Tảo Bắc, hoặc Tiết Đinh San Chinh Tây, v.v. mà thôi.

Nhật phủ nhận lịch sử nên thường xuyên thay đổi sách sử, không công nhận các “tội ác” đã gây ra trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Những người Việt Nam của cuộc Exodus 1975 và những người chống Việt phủ nhận lịch sử khi bôi nhọ Hồ Chí Minh và phủ nhận tất cả các chiến thắng của cộng sản Việt Nam bất kể đó là chiến thắng Thực Dân Pháp hay chiến thắng Đế Quốc Mỹ hoặc chiến thắng Bá Quyền Bành Trướng Tàu. Ắt họ cũng đã soạn sẵn nội dung để tung ra nhằm phủ nhận ngay vinh quang của Trận Điện Biên Phủ Trên Biển của cộng sản Việt Nam khi biến Biển Đông thành Huyết Hải vùi chôn toàn bộ hải quân Tàu trong trận chiến vệ quốc của tương lai.

Nhiều “nhà nghiên cứu” Việt mang học hàm “tiến sĩ” khi viết về Sử đã lộ rõ nguyên hình là những tay mơ ngu ngốc một cách đáng thương hại khi lầm lẫn giữa sĩ diện đối với một hành vi vô nghĩa và sách lược sáng suốt của tất cả các đấng minh quân. Trong các bài viết trước đây, tôi có kể về “lễ bão tất” khi Vua Quang Trung sang Tàu phủ phục quỳ ôm gối Vua Càn Long để hành lễ như đối với phụ hoàng. Các vị tiến sĩ viết nghiên cứu Sử kiểu gì mà lại ghi rằng họ “không khỏi bẽ bàng”, rằng “vua nước mình chạy lại quỳ xuống ôm gối ông vua già nước Tàu thật còn gì là quốc thể”, và rằng “dù là vua Quang Trung thật hay vua giả thì nghi lễ đó cũng là một thái độ sĩ nhục đất nước mình”. Chính các “nhà nghiên cứu” này là sự sĩ nhục quốc gia Việt Nam, làm xâm hại quốc thể Việt Nam, khiến giới sử học Âu Tây phải cảm thấy bẽ bàng trước sự xuẩn ngốc bất chuyên nghiệp của những kẻ tiếm danh “nghiên cứu Sử”. Vì rằng trong toàn bộ lịch sử Việt Nam tất cả các vị vua đều phải quỳ gối xưng “thần” với “thiên triều Tàu”, dù cho có đánh cho Tàu đại bại cũng phải ngay lập tức “xin lỗi mạo phạm”, lạy xin Hoàng Đế Tàu phong cho tước Vương để làm An Nam Quốc Vương, hối hả lùa bắt trinh nữ quốc sắc thiên hương, vơ vét tài nguyên quốc gia, để dâng Hoàng Đế Tàu, xoa dịu và cứu vãn uy danh Hoàng Đế Tàu, và khi chiếu sắc phong của Hoàng Đế Tàu về đến thì Vua Việt phải lập bàn hương án quỳ gối khấu đầu đón nhận “thiên ân” – tất cả nhằm để cứu đất nước được toàn vẹn và dân tộc được sinh tồn. Đó là “quỳ gối” để che dấu sự thật là không bao giờ “quỳ đầu”. “Quỳ Gối” như một sách lược vì đại cuộc tránh sự đối đầu kéo dài của “lấy trứng chọi đá”. Và chính sự không bao giờ “Quỳ Đầu” đã được thể hiện suốt chiều dài lịch sử của nước Việt mỗi khi “người quỳ gối xưng Thần” vùng lên đánh cho tan tác thiên binh thiên tử, di xú vạn niên, vạn đời ô uế, muôn kiếp ô nhục trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ nghi lễ mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam tận dụng để tung hỏa mù trước đối phương.

“Quỳ Gối”, do đó, là thứ hành động mà tất cả các đấng quân vương của Việt Nam phải thực hiện, tự mình nuốt nhục thực hiện để chỉ bản thân lặng câm chịu tội trước dân tộc – nếu dân tộc không thấu hiểu – chứ quyết không để một người dân Việt nào phải quỳ gối trước ngoại bang như kiểu người dân Tàu phải quỳ gối bên vệ đường lịch sử trước quân đội Thiên Hoàng.

“Quỳ Gối”, do đó, là một thế xuống tấn của võ thuật Việt để khi cần thì xuất chiêu hất “đầu” hoặc lộn “đầu” đánh vòng hai chân ngược lên trấn đạp ngay vào đỉnh “đầu” tử huyệt đối phương.

Phủ nhận lịch sử để miêu tả nặng nề về việc “quỳ gối” là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử để lờ đi sự thật hào hùng không bao giờ “quỳ đầu” của tất cả các lãnh đạo Việt Nam từ xưa đến nay cũng là sự trá ngụy đớn hèn.

Phủ nhận lịch sử, do đó, chính là một trá ngụy quái gở đặc thù Á Đông.

d) Sáng Tạo Lịch Sử

Từ cái thói phủ nhận lịch sử như đã nêu trên, các “sử gia” Á Đông sáng tạo ra lịch sử. Và sự xào nấu chế biến này là một trá ngụy khác của giới gọi là “sử gia”, “nhà sử học” hay “nhà nghiên cứu Sử” Á Đông.

Vì cái sĩ diện mà “sử gia” Việt chế tạo ra giai thoại Vua Quang Trung cử người giả đóng vai mình để sang chầu vua Tàu Càn Long. Đã là bí mật cử một “giả vương” tức là một việc làm “khi quân” đối với Vua Tàu, có thể dẫn đến họa binh đao, thế mà sao tên thật của “giả vương” lại đường đường chính chính được ghi vào sử sách, chưa kể theo lề lối thực hành thực thi thực hiện của muôn đời và muôn nơi thì (a) vị “giả vương” ấy sẽ bị thủ tiêu sau khi hoàn thành sứ mệnh trở về, (b) sự thật về việc “giả vương” chỉ có thể được phát hiện sau đó nhiều trăm năm từ các nguồn kể cả kém chính thống qua các nghiên cứu độc lập, và (c) chẳng có sử liệu gì ghi lại cuộc đời sau đó của “giả vương” sau khi lập “đại công” lừa gạt Vua Tàu khiến “giả vương” tự dưng tan biến trong sử sách.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra sự “hào hùng tuẫn tiết” của các bại tướng Việt Nam Cộng Hòa vốn chỉ biết tiến quân lúp xúp sau lưng các chiến binh viễn chinh Mỹ và đồng minh.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” nhằm che dấu sự thật rằng Mỹ đã (a) vừa cấm Việt Nam Cộng Hòa không được cho hàng trăm oanh tạc cơ xuất kích dù đã tập kết đầy đủ bom đạn tại Đà Nẳng sẵn sàng nhấn chìm toàn bộ các chiến hạm Tàu xuống đáy Biển Đông, (b)  vừa lịnh cho Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ mặc để các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Tàu tiêu diệt cho thêm phần bi tráng, và (c) vừa cho Đệ Thất Hạm Đội trấn giữ Biển Đông lẳng lặng rút lui và án binh bất động để Tàu thực hiện hoàn tất việc chiếm giữ Hoàng Sa ngay sau chuyến thăm Mỹ của Đặng Tiểu Bình – tất cả chỉ để bêu xấu Bắc Việt “bán nước” dù Hoàng Sa do Việt Nam Cộng Hòa quản lý đã bỏ mặc chủ quyền để dâng cho Tàu theo lịnh Mỹ.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ gốc Việt chế tạo ra chuyện Bắc Việt định tuyên bố đầu hàng thì Mỹ đột nhiên chấm dứt ném bom Miền Bắc, nghĩa là chỉ cần Mỹ ném bom thêm một ngày là Hồ Chí Minh giương cờ trắng quỳ gối quy hàng.

Vì cái sĩ diện mà các “nhà sử học” Mỹ và Mỹ gốc Việt áp dụng ngay từ ngữ “xâm lược Campuchia” để Mỹ thực thi lịnh cấm vận Việt Nam.

Thật là sự suy vi suy đồi suy tàn của ngành Sử ở thế giới Á Đông, nơi có sự “quỳ đầu” rõ nét nhất, nhục nhã nhất của sự vong thân.

e) Tiêu Hủy Sử Liệu

Chi tiết hùng biện của tác giả bài viết này lúc đối đáp với các phóng viên báo chí đổ xô đến “tra tấn” về sự việc “Tứ Đại Ngu” năm 2011 đã chưa từng được bất kỳ tờ báo nào – dù in hay mạng – kể lại cho khách hàng tức độc giả của họ trên toàn quốc được biết đến. Tất cả chứng minh báo chí chính thống Việt Nam (a) không bao giờ để độc giả biết sự thật đặc biệt khi sự thật ấy gây bất lợi cho báo chí, (b) không bao giờ phơi bày bản thân hoàn toàn thất bại về hùng biện trước “đối tượng” mà họ phải tiêu diệt, (c) luôn có sự đồng tâm hợp lực trong ra sức tiêu diệt “kẻ thù chung” của báo giới, (d) luôn có sự lộng hành của báo chí khi mặc định rằng một cá nhân nào đó khi ngăn cản Luật Biểu Tình tức đồng nghĩa với việc chống Thủ Tướng và Chống Đảng nên nhất thiết phải bị tiêu diệt, và (e) luôn góp phần “tiêu hủy sử liệu” như đã không bao giờ nói gì đến “sử liệu” rằng lần đầu tiên đã có sự vỗ tay tán thưởng rầm rộ của cả hội trường quốc hội khi một nghị sĩ đứng phát biểu tại chỗ chứ không trên “sân khấu” khi nghị sĩ này hùng biện ngăn cản Luật Biểu Tình.

Tác giả bài viết này giữa vòng vây tấn công điên dại của báo chí đã hùng biện rằng (a) điều nào của luật nào ghi rõ không được phép dùng từ “đại ngu”, rằng (b) người viết xuất thân là nhà giáo nên học tính khẳng khái của Thầy Chu Văn An, rằng (c) tuy noi gương Thầy Chu Văn An vẫn không quá quắc cực đoan như Thầy khi nằng nặc đòi chém đầu cho bằng được bảy nịnh thần, rằng (d) có nhà báo nào biết tờ Thất Trảm Sớ hiện ở đâu không để có thể chứng minh lời lẽ của Thầy Chu Văn An khi giận dữ đòi chém đầu người khác vẫn viết với văn phong ôn hòa đôn hậu lịch lãm dịu dàng nhẹ nhàng, và rằng (e) có nhà báo nào biết tên bảy vị nịnh thần ấy cùng các tội cụ thể của từng vị hay không để yên tâm rằng các vị đó có thực tội để phải chịu tội theo chuẩn văn minh văn hóa cao vời của Ân Mỹ – trong khi tác giả bài viết chỉ ghi ra bốn điều ngu của một kẻ đại ngu chứ không kể bốn điều tội của kẻ đại tội thì sao các phóng viên lại phải quan tâm cứu nguy kẻ đại ngu đến thế.

Chi tiết có thật 100% trên nhằm chứng minh một sự thật khác cũng có thật 100% tại Việt Nam đối với sử liệu: thói hủy phá sử liệu. Ngoài một chi tiết lẻ loi bằng tiếng Việt hoàn toàn không đáng tin cậy trên Wikipedia ghi rằng trong Thất Trảm Sớ Chu Văn An đã xin vua Trần Dụ Tông chém đầu 7 vị quan mà ông cho là “nịnh thần” gồm Mai Thọ Đức, Châu Canh, Bùi Khâm, Văn Hiến, Nguyễn Thanh Lương, Tâm Đức Ngưu, và Đoàn Nhữ Cầu, thì (a) không bất kỳ một pho chính Sử nào của Việt Nam có ghi nội dung tương tự, (b) không bất kỳ ai từng thấy cái gọi là “Thất Trảm Sớ”, (c) không bất kỳ ai biết chức danh và tội danh của từng vị trong số “7 nịnh thần”, (d) không bất kỳ ai chứng thực Chu Văn An nắm rõ Luật Hình Sự nước nhà để dám quy chụp tất cả 7 vị đó đều phạm tội phải chịu bị xử trảm cũng như việc tố cáo có đã theo đúng trình tự tố tụng hay chưa hay chỉ cần muốn chém ai thì cứ tự tung tự tác viết sớ gởi thẳng cho vua, và (e) hệ thống lưu trữ tàng thư của Nhà Trần cụ thể ra sao mà để xảy ra việc lộng hành làm biến mất hoàn toàn và triệt để của tờ “Thất Trảm Sớ”.

Việc hào quang hóa một nhân vật lịch sử còn dẫn đến việc Chu Văn An được ngợi ca là “bậc trung thần dũng cảm phi thường, có uy tín cao trong triều đình, người Thầy chuẩn mực của muôn đời” dù sử liệu có cái thì ghi Thầy là Tiến Sĩ, có cái lại ghi Thầy chẳng đỗ đạt gì, thậm chí có cái còn ghi rằng “nội dung dạy học của Thầy ngày nay không còn được biết đến đầy đủ nhưng chắc chắn đã nổ lực giảng dạy học thuyết kinh điển của Nho gia tạo điều kiện cho lý thuyết Khổng-Mạnh dần chiếm thế độc tôn.” Chỉ cần làm sớ xin chém đầu 7 vị quan mà hậu thế không rõ phạm tội cụ thể nào là đã được danh dũng cảm phi thường. Mặc cho Thất Trảm Sớ không đủ sức hùng biện thuyết phục vua, người viết vẫn được cho là có uy tín cao trong triều đình. Và mặc cho không ai biết rõ nội dung dạy học của Chu Văn An, Thầy vẫn được tôn vinh thành bậc Thầy của muôn đời. Tất cả những điều này chỉ được chấp nhận trong khung cảnh và hoàn cảnh Việt Nam, trong khi các chuẩn mực khoa học chuyên nghiệp Âu Tây luôn trên cơ sở “hữu bằng, hữu chứng” sẽ không cho là như vậy.

Tiêu hủy sử liệu là tội tày trời của nhà cầm quyền đối với lịch sử của dân tộc.

f) Không Bao Giờ Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Sử

Thay vì nghiên cứu khoa học, hình thành các khảo cứu lịch sử có giá trị về nội-dung-ắt-là của Thất Trảm Sớ hay của vị trí cụ thể chính xác của các đoạn sông cắm cọc từng nhuộm đỏ tanh tưởi máu giặc Tàu, cùng biết bao các điểm mờ, điểm xám, và điểm tối hay điểm nhòe nhoẹt lẫn lộn trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam từ cuộc Exodus Vạn Lý Trường Di rời xa Động Đình Hồ, các “nhà sử học” Việt Nam hoặc (a) chỉ chuyên kể lại những tình tiết sẵn có trong các pho Việt Sử chính thống mà bất kỳ ai cũng có thể đọc được trong sách hay trên mạng, hoặc (b) áp hiện tại vào quá khứ để giải thích quá khứ – như khi nói về Hội Nghị Diên Hồng như cách lấy ý kiến nhân dân của “trưng cầu dân ý” về chuyện “nên đánh hay nên hòa” trong khi Hội Nghị Diên Hồng thuần túy chỉ để nhà vua phổ biến các yêu cầu toàn dân phải đáp ứng cho đại cuộc đánh tan giặc xâm lược, hoặc (c) chẳng bao giờ xem là “sử liệu” nếu đó là nội dung nghiên cứu chẳng hạn về tên họ của những mỹ nữ thuộc những gia đình nào của những địa phương nào đã bị bắt để đưa về kinh đô dâng cho các vua Việt hưởng lạc hoặc triều cống vua Tàu, hoặc (d) tận dụng danh “nhà sử học” để tuyên bố ngay mà không qua nghiên cứu khoa học hàn lâm rằng “mại dâm” là một “nghề” đã có từ ngàn xưa nên nhất thiết phải được ngày nay luật hóa, v.v.

g) Nghiên Cứu Sử Phục Vụ Ý Đồ Chính Trị

Từ việc không bao giờ nghiên cứu Sử phục vụ Sử tức phủ nhận giá trị sử liệu những thứ mà giới sử gia thế giới luôn quan tâm nghiên cứu tìm tòi, các “nhà nghiên cứu Sử” người Mỹ gốc Việt tập trung cho những thứ cũng là “sử liệu” nhưng phục vụ được ý đồ chính trị, chẳng hạn như chi tiết về cái gọi là “Công thư Phạm Văn Đồng” hay “Hội Nghị Thành Đô”, v.v., mặc cho đây là những sử liệu còn nguyên vẹn, mới tinh, có nội dung hoàn toàn dễ hiểu. Tất nhiên nội hàm của Công Thư Phạm Văn Đồng và Hội Nghị Thành Đô mang tính sách lược chiến lược quốc gia nhằm (a) dùng làm chiến thuật hóa giải một tình thế chiến lược và (b) xuất chiêu “cao tay ấn” nhằm thực hiện một mưu trí “thả bóng, bắt mồi” nhằm đưa kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc vào bẫy rập ngoại giao trong thiên niên kỷ mới.

Nhưng chính bởi nội hàm không bao giờ được “bô bô cái miệng” nói về như trường hợp “giả vương” trong sử liệu về Vua Quang Trung nên chẳng mấy ai hiểu thấu đáo, mà đám chống Việt có cớ để tận dụng, để “nghiên cứu” phục vụ ý đồ chính trị nhằm bôi nhọ cho bằng được Cộng Sản Việt Nam bằng những danh xưng như “bán nước” hay “làm tôi mọi cho Tàu” mà nếu dưới thời Vua Quang Trung hay bất kỳ vị vua nào khác trong toàn bộ lịch sử Việt Nam thì những kẻ “nghiên cứu Sử” kiểu ấy trong đám chống Việt đương nhiên không bao giờ thoát được cơn thịnh nộ của nhà vua.

Thói sử dụng sử liệu phục vụ cho mưu đồ chính trị gần đây còn được thể hiện bởi những kẻ thậm chí không cần ngay cả tấm áo khoác của “nhà nghiên cứu Sử”, như bởi đám người đang bối rối cùng đường mạt vận không biết bấu víu vào đâu đã cùng tung hô Ngô Đình Diệm một cách đáng thương hại, khiến các sử gia Âu Tây chuyên nghiên cứu về Ngô Đình Diệm cũng phải sửng sốt ngạc nhiên.

C) Lộng Giả Thành Chơn

Một gã nọ có background ngành Luật, thuộc đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh, có lần đã “chất vấn” trực tiếp Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại nghị trường, yêu cầu Thủ Tướng cho biết kế sách đối đầu với Trung Quốc tại Biển Đông.

Gã ngu ngốc đó không biết rằng (a) trên toàn thế giới nghị viện không bao giờ có bất kỳ một nghị sĩ nào đặt câu hỏi tương tự, rằng (b) trên toàn thế giới không bao giờ có bất kỳ nguyên thủ nào mở miệng bô bô nói về sách lược quốc gia thực sự trong đối đầu với một siêu cường, và rằng (c) sách lược thực sự trong đối đầu với Trung Quốc không bao giờ là chi tiết được đem ra công khai công bố bên ngoài ngưỡng cửa cấm điện hoàng gia hay phòng họp tối mật của Bộ Chính Trị.

Đặt câu hỏi mà không biết câu hỏi ấy sẽ không bao giờ có câu trả lời, mà vẫn đặt câu hỏi, thì hoặc (a) y là kẻ ngốc thật sự hoặc (b) y nghĩ Thủ Tướng là kẻ đại ngu.

Ở đây chỉ nhằm nêu lên một sự thật rằng sách lược 5000 năm nay của Việt Nam vẫn không bao giờ thay đổi, gồm

1) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bọn Tàu

2) Không bao giờ “quỳ đầu” trước bất kỳ quyền lực nào, bất kể đó là quyền lực cứng của vũ khí tối tân hay quyền lực mềm của triết thuyết hay văn hóa hoặc tài chính. Quyền lực cứng đã muôn đời thất bại tại Việt Nam mà kẻ bại trận gần đây nhất là bọn Tàu trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc cùng với bọn theo đóm ăn tàn của chúng là Campuchia trong cuộc ồ ạt xâm lược toàn tuyến biên giới phía Tây Nam. Quyền lực mềm cũng nếm mùi thất bại mà rõ nét nhất là tại Việt Nam Mác-Lê Nin chỉ là một hệ thống nghiên cứu mang tính cơ sở triết học hiện đại nên Việt Nam không trở thành một xứ miền của giáo điều, thậm chí còn sáng tạo thành công mô hình đầy sáng tạo “nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa” có sự điều tiết cần thiết của Nhà Nước trong giai đoạn phôi thai.

3) Sách lược quốc gia đối với Tàu luôn được chủ động đề ra bởi các lãnh đạo, chỉ được thể hiện khi có nạn ngoại xâm, không bao giờ là thứ để ghi rõ trong sử sách để tránh bị tiết lộ, không bao giờ được nói thật trong các phát ngôn chính thức của lãnh đạo, cũng như không bao giờ được đem ra hỏi ý kiến toàn dân. Hội Nghị Diên Hồng không bao giờ là để hỏi ý kiến người dân xem triều đình nên hòa hay nên chiến, vì chưa từng ai đưa ra được sử liệu về (a) thể thức lấy ý kiến bằng cách giơ tay hay bằng viết phiếu, (b) mẫu của phiếu – nếu là bỏ phiếu bằng cách viết phiếu, (c) danh sách các “bô lão”, và (d) kết quả bỏ phiếu.

Đem cái sự việc giông giống như một sự nhún nhường “quỳ gối” của giới lãnh đạo Việt Nam để bô bô về cái gọi là “bán nước”, ấy là mưu kế “lộng giả thành chơn” của bọn gian tà gian trá gian manh gian xảo gian hùng.

Tóm lại, tất cả những ai nói Cộng sản Việt Nam “quỳ gối” trước Tàu chính là những kẻ “quỳ đầu” trước bất kỳ ai chống Việt kể cả khi kẻ chống Việt chính là Tàu.

Và tóm lại, đây là phần giữa bài được lập lại làm phần kết cho bài viết này:

Cái tinh thần tự hào dân tộc hiện nay được thể hiện ra sao trong (a) hiệu quả cụ thể của thượng tôn luật pháp của mỗi người dân, (b) tích cực đóng góp xây dựng quốc gia cụ thể của mỗi người dân trong làm việc kỹ luật cao và lao động chất lượng cao, (c) giữ gìn quốc thể nơi công cộng của mỗi người dân, (d) việc tự nâng dân trí lên đỉnh cao nhất của mỗi người dân, (e) sự tự xây dựng nếp sống gia đình hiếu đạo thân thiện ngăn nắp vệ sinh, và (f) sự không “quỳ đầu” mới là sáu điều phải có để chứng minh cái hào quang của Sử nước họ là có thật. Dân tộc nào thiếu cả sáu điều này trong khi luôn tích cực vận dụng Sử để chứng minh họ có bao điều tốt đẹp thì đó chỉ là việc dùng Sử như một thứ hào quang tự gắn lên ót của họ mà thôi.   

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thế Nào Là Sử Gia

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc!

Đả Đảo Tập Cận Bình Xi Jinping!

Sát Tàu

900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975

Trăm Trứng

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Ê Bồ! Sao Muốn Về?

Phải Có Luật Biểu Tình

Gương Sáng Chứng Thực Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII

18-8-2016

Protest1

A) Nỗi Nhục Quốc Thể

Gọi là nỗi nhục quốc thể e là có sự lạm dụng cách thậm xưng trong gia đình mỹ từ pháp, đặc biệt là khi số lượng đe dọa tới quốc thể chỉ đếm được trên đầu ngón tay  của một bàn tay đủ ngón. Chẳng hạn ở Thành phố Hồ Chí Minh, đoàn nghị sĩ Khóa XIII gồm 30 vị nhưng chỉ có một vị có danh “luật sư” và cũng chỉ có mỗi vị này luôn hùng hồn nói về “món nợ với nhân dân” tức “luật biểu tình” trong khi 28 vị còn lại luôn đồng tình với nghị sĩ thứ 30 là tác giả bài viết này vốn dĩ đã phát biểu khẳng định chưa thể cho ra dự án luật ấy.

Vị nghị sĩ “luật sư” nói trên vừa thiếu ánh sáng trí tuệ vừa thiếu năng lực chuyên môn luật. Thiếu ánh sáng trí tuệ vì y chẳng hiểu gì về “biểu tình”, chỉ mở miệng nói rằng phải có luật ấy do dính đến nhân quyền và tự do dân chủ chứ bản thân y không thể viết bài nào thật chi tiết thật thuyết phục về cái gọi là “biểu tình” nhằm cũng cố đòi hỏi thuần túy cá nhân của y cho người dân được tỏ tường. Thiếu năng lực chuyên môn luật vì y lãng tránh một sự thật rằng tất cả các nghị sĩ đều có sáng quyền lập pháp để nếu ai muốn thì cứ tự đề ra dự án luật, nhận tiền đài thọ của Quốc Hội và sử dụng nhân lực của Quốc Hội để thực hiện biên soạn dự án luật ấy, trình bày dự án luật trước Thường Vụ Quốc Hội để Quốc Hội nghiên cứu thông qua theo đúng quy trình “hai kỳ họp”. Là “luật sư’ mà bản thân y không có khả năng soạn dự thảo “Luật Biểu Tình.” Trong khi đó, một hai vị nghị sĩ khác ở một hai đoàn nghị sĩ khác ở một hai tỉnh khác cũng hê lên cái “nợ với nhân dân” tức “luật biểu tình”; song, một hai vị này chỉ đáng thương hại do họ chỉ có sự thiếu ánh sáng trí tuệ chứ không thể nói họ thiếu năng lực chuyên môn luật do họ không là “luật sư” nghĩa là cái sáng quyền lập pháp hoàn toàn ở ngoài tầm với từ dưới lên của họ.

Tác giả bài viết này

(a) vào thời gian đầu của Quốc Hội Khóa XIII, đã phát biểu chống lại việc đưa “Luật Biểu Tình” vào chương trình nghị sự “làm luật” do chẳng ai biết gì về “biểu tình” như được minh chứng qua sự phát biểu của một hai  nghị sĩ khác cho thấy rõ ràng họ hoàn toàn không biết gì về “biểu tình” với lập luận khờ khạo trẻ nít chưa hề trưởng thành rằng “các nước khác biểu tình đàng hoàng được thì Việt Nam cũng biểu tình đàng hoàng được”, rằng “biểu tình đã có từ thời Chicago”, rằng “món nợ với nhân dân là luật biểu tình” – nghĩa là chỉ cần có luật ấy thì Quốc Hội đã trả xong nợ chứ không phải việc làm Việt Nam thành cường quốc, nhân dân Việt Nam hạnh phúc thịnh vượng, luật pháp Việt Nam nghiêm minh, cơ quan công quyền Việt Nam trong sạch minh bạch, và người tài giỏi trong xã hội được trọng dụng công bằng, mới là món nợ đời đời với dân tộc – không biết gì về “biểu tình” mà đòi phải có “luật biểu tình” thì chẳng phải luật ấy sẽ do những kẻ không hiểu biết về “biểu tình” soạn ra rồi đồng loạt nhấn nút thông qua sao;

(b) sau khi được toàn thể Quốc Hội vổ tay tán thưởng ủng hộ, đã tập trung nghiên cứu viết nhiều bài blog về nội dung “biểu tình” để cung cấp cho nhà cầm quyền, cơ quan lập pháp, và người dân các thông tin chính xác và đầy đủ về “biểu tình”; và

(c) khi nhận thấy việc cung cấp tư liệu của bản thân khá đầy đủ, đã tuyên bố năm 2014 rằng sẽ sử dụng sáng quyền lập pháp để trình dự thảo dự án Luật Biểu Tình vào năm 2015.

Tuy nhiên, việc trình dự thảo dự án Luật Biểu Tình như tuyên bố đã không thể thực hiện được do

(a) tác giả bài viết này phải nằm viện và vắng mặt trong hai kỳ họp 9 và 10 của Quốc Hội Khóa XIII trong cả năm 2015; và

(b) Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức phân công cho Bộ Công An chủ trì soạn thảo dự án Luật Biểu Tình nên việc một cá nhân nghị sĩ khăng khăng vận dụng sáng quyền lập pháp sẽ không những không còn cần thiết mà lại còn tạo ra sự hoài phí chất xám cho một sự “đụng đầu” hoàn toàn vô lý.

Trước sự thật rằng một hai nghị sĩ “luật sư” của Quốc Hội Khóa XIII tuy đã không có khả năng sử dụng sáng quyền lập pháp đối với việc chủ động soạn thảo dự án luật biểu tình (trong khi các nghị sĩ “luật sư” khác hoàn toàn đồng tình với tác giả bài viết này về sự thật rằng chưa hề có đầy đủ các điều kiện để soạn thảo luật ấy), vẫn lặng thinh hớn hở tùy tiện nhấn nút thông qua Luật Hình Sự ngập ngụa các sai sót một cách đầy nhục nhã, và rằng đã có vài nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIV mới tinh lại lải nhải lép nhép nhóm từ hôi thiu “món nợ với nhân dân” sau khi Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên bố dời việc soạn dự án luật biểu tình lại sau năm 2017, tôi thấy không thể trông cậy gì vào các vị nghị sĩ “luật sư” khét tiếng ấy nên buộc phải viết thêm bài này để bổ sung thông tin chính xác thực tế thực sự về “Luật Biểu Tình”.

B) Gương Sáng Chứng Thực Dân Chủ: Singapore và Thổ Nhĩ Kỳ

1- Cường Quốc Kinh Tế Singapore: Gương Sáng Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu)

Singapore là một nước dân chủ.

Singapore là một cường quốc kinh tế.

Vấn đề đầy bịnh hoạn là thiên hạ chỉ tập trung nghiên cứu về vế thứ hai để có cớ dè bỉu Đảng Cộng Sản Việt Nam bất tài vô dụng không thể dựng xây đất nước giàu mạnh như Singapore.

Lý Quang Diệu đã xây dựng Singapore thành một cường quốc trên cơ sở “dân chủ đặc biệt” đối với nội dung”biểu tình” như sau:

a) Ngày 04-5-2015 hai công dân Singapore “biểu tình” trước Istana (Dinh Tổng Thóng) tuổi 24 và 25 đã bị bắt giam. Hai người này chống đối chính phủ đã đàn áp tự do ngôn luận, bằng hai tấm bảng nhỏ, một ghi “Bất Công” và một viết “Mấy Ông Không Thể Làm Câm Họng Nhân Dân”

Protest (1)Protest (2)

Cái mà ở Việt Nam có bao kẻ cứ mè nheo gọi là “luật biểu tình” thì ở Singapore nó nằm lọt thỏm trong Luật Trật Tự Công Cộng. Nếu như xưa kia Đạo Luật Về Giải Trí Và Tụ Tập Nơi Công Cộng 2001 (thay thế Sắc Lệnh Số 40 năm 1958) và Đạo Luật Hành Vi Phạm Tội & Gây Rối Nơi Công Cộng 1997 (thay thế Sắc Lệnh Số 13 năm 1906) quy định “tụ họp” nghĩa là khi có từ 5 người trở lên thì trong Luật Trật Tự Công Cộng 2009 hiện hành đã bỏ hẳn về giới hạn số lượng người tham gia; do đó, tại Singapore, ngay cả khi chỉ có một người lẻ loi giơ biểu ngữ “biểu tình” thì đó cũng bị mặc định xem như một sự “tụ tập”. Hai người “biểu tình hòa bình” như trong ảnh trên bị xem như đã “tụ tập bất hợp pháp” nên bị bắt giam là hoàn toàn đúng theo luật định hiện hành của Singapore mà không bất kỳ quốc gia nào khác trên toàn thế giới dám công khai chỉ trích. Dù cho sự “biểu tình” của hai công dân trên khó thể nói là sẽ gây phương hại đến trật tự an ninh công cộng, họ vẫn sẽ đối mặt với cáo buộc vi phạm Điều 16(1)(a), Chương 257A, Luật Trật Tự Công Cộng 2009 và án phạt mỗi người 5.000 đô-la Singapore (tương đương 83.000.000 đồng Việt Nam theo tỷ giá ngày 18-8-2016).

b) Tại Singapore, tất cả các cuộc tụ tập “biểu tình” đều là bất hợp pháp ở mọi nơi, trừ bên trong khuôn viên Vườn Hong Lim là nơi duy nhất người dân Singapore có thể “tự do” tổ chức “biểu tình nơi công cộng một cách hợp pháp,” chỉ cần gởi trước thông báo về thời gian tiến hành “biểu tình” cho cơ quan cảnh sát.

c) Theo luật, người dân phải nộp đơn xin phép cảnh sát để được “biểu tình ngoài trời” tức bên ngoài Công Viên Hong Lim. Theo quyền lực được ủy nhiệm, cảnh sát Singapore có quyền xem xét cho phép nếu tin tưởng tuyệt đối rằng sẽ không có xảy ra bất kỳ một sự manh động nào, và do đó cảnh sát Singapore chưa hề cho phép “biểu tình ngoài trời” đối với các “đơn xin”. Tất nhiên, các thế lực thù địch muốn phá vỡ sự “ổn định chính trị để phát triển kinh tế thần kỳ” của Singapore luôn nhạo báng rằng luật pháp Singapore về “biểu tình” chẳng khác nào quy định cực kỳ đúng đắn và dễ hiểu là muốn vào rạp xem phim phải có vé nhưng ở quầy rạp chiếu phim chẳng bao giờ bán vé.

d) Ngoài ra, luật pháp Singpore bảo vệ quyền lực của các đạo luật phải được tuân thủ nghiêm minh. Do đó, khi có người dân gởi đơn khiếu kiện năm 1989 vì đơn xin “biểu tình” đã không được cho phép, Thẩm phán Chan Sek Keong trả lời rằng Tòa Án không có quyền định hướng “nên cấp phép cho dân” để tác động vào quan chức cảnh sát đã được luật pháp ủy nhiệm, mà Tòa Án chỉ có quyền đề nghị quan chức cảnh sát xem xét lại lần nữa đơn xin ấy nếu như người khiếu kiện tiến hành thủ tục xin xem xét lại.

e) Thêm vào đó, dù theo luật pháp Singapore, người dân khi bị từ chối cấp phép “biểu tình” có thể khiếu nại lên Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ, và Luật Trật Tự Công Cộng có chế định rằng quyết định của vị này có giá trị cuối cùng, thì điều này vẫn chỉ chứng minh quyền lực tập trung trong tay hành pháp của Chính phủ và tất cả các “biểu tình nơi công cộng” đều là bất hợp pháp.

f) Thái độ của người dân Singapore cũng là một đặc trưng: họ đồng tình với sự tinh anh của Lý Quang Diệu khi Ông tuyên bố vào những năm 1960 của thế kỷ trước rằng người dân hãy tránh xa đường phố và Ông sẽ bảo đảm công ăn việc làm cho họ. Sự ủng hộ ấy vẫn kéo dài cho đến tận ngày nay. Ngoài ra, công chúng Singapore xem các cuộc “biểu tình” như một cách thấp kém chống lại quyền lực Đảng Hành Động Nhân Dân của Lý Quang Diệu và là một đe dọa nguy hiểm cho trật tự xã hội. Đối với trường hợp hai công dân “biểu tình” như nêu trên, một số người cho đó “chẳng khác gì một hành động ngu xuẩn” (anything more than a foolish move), trong khi đa số chẳng thấy việc bắt bớ của Chính phủ có dính dáng gì đến “đàn áp tự do ngôn luận” (Government’s repression on free speech) cả.

g) Người Singapore đặc biệt thích việc bày tỏ chính kiến qua mạng online hoặc các điều tra ý kiến cũng trên online như một phương cách văn minh hiện đại, chứ hoàn toàn không mặn mà với việc tụ tập trên đường phố. Đây là một quan điểm trùng khớp với quan điểm của tác giả bài viết này như thể hiện trong các thư gởi các lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, và Chính Phủ Việt Nam khi nói về “Luật Biểu Tình”. Tất nhiên, những kẻ muốn xô ngả tượng đài kinh tế Singapore lại luôn hy vọng tình hình giá nhà cửa tăng cao, nạn thất nghiệp lan tràn, và bất bình đẳng trong thu nhập rồi sẽ lôi người dân Singapore ra ngoài đường phố để chống lại Chính Phủ.

h) Để được phép “biểu tình ngoài trời,” người dân Singapore nếu được cho phép cũng biết rõ mình không được tổ chức “biểu tình” tại các khu vực đã được công bố mà Singapore gọi là Gazetted Areas, như khuôn viên quanh Quốc Hội, quanh Dinh Tổng Thống, quanh tư dinh Lý Quang Diệu trên Đại Lộ Clemenceau, quanh các đại sứ quán và tổng lãnh sự quán, quanh các cơ quan cảnh sát/đồn cảnh sát, và quanh các cơ quan nhà nước, v.v. Nghĩa là nếu một người dân Singapore đột biến muốn kêu gào về sự bất công xã hội trước một sự thật là Lý Quang Diệu và con của ông ấy đã tự quyết ngân sách phải trả lương cho mình mỗi người số tiền cao hơn gấp 5 lần lương tổng thống Hoa Kỳ thì người ấy phải đến Công Viên Hong Lim cách thành phố 15 dặm về hướng Nam để tự do căng biểu ngữ “Đã Đảo Bọn Độc Tài Tham Nhũng Ăn Cướp” (Down Down With Thieves and Corrupt Dictators).

i) Nói tóm lại, bài trả lời của Toh Yong Chuan, Vụ Phó Vụ Quan Hệ Quốc Tế, Bộ Nội Vụ Singapore, tháng 10 năm 2007, trên tờ Straits Times, có thể được dùng làm đúc kết phần nói về “biểu tình” ở Singapore như sau (nguyên văn):

i- Tại Singapore, các nhà lãnh đạo kiệt xuất của chúng ta biết cái gì tốt đẹp nhất cho chúng ta nên chẳng phát sinh nhu cầu phải “biểu tình” (our extraordinary leaders always know what is best for us, so there is no need to protest).

ii- Người Singapore có khuynh hướng bạo lực hơn người ở các nước khác nên không bao giờ hoàn toàn chắc chắn rằng “biểu tình” sẽ không biến thành manh động (one cannot be completely assured that it will not turn violent).

iii- Người dân các nước vì không có lãnh đạo kiệt xuất như Singapore nên họ không viết thư mà phải “biểu tình” để tiếng nói của họ được lắng nghe (without the extraordinary leadership in Singapore, citizens of other countries have to resort to protests to have their voices heard).

iv- “Biểu tình” ngăn trở các cải cách. Khi thấy chúng ta có khung Thuế Hàng Hóa & Dịch Vụ quá tuyệt vời, cuốn hút giới đầu tư thế giới, Hong Kong muốn bắt chước để vươn lên bằng chúng ta; song, dân Hong Kong theo tác động của các nhóm lợi ích đã xuống đường “biểu tình” để chống đối khiến phá sản kế hoạch của chính quyền Hong Kong. Và khi Hong Kong muốn bắt chước Singapore chúng ta về luật trật tự công cộng, 60.000 dân Hong Kong đã “biểu tình” chống lại “luật biểu tình”, mà không biết rằng chính quyền của họ muốn ra các luật ấy để bảo vệ người dân Hong Kong (it was foiled by 60,000 protesters – these people do not understand that those laws are meant to protect them).

v- “Biểu tình” là việc phí phạm thời gian ở Singapore. Bất cứ điều gì mà lãnh đạo chúng ta đã quyết thì cũng vì điều tốt cho chúng ta. Luôn có cơ nguy một cuộc “biểu tình” biến thành bạo loạn; do đó, nó phải bị cấm. Nhiều năm nay tôi thường phát biểu rằng phải cấm các trận đấu bóng đá vì không bao giờ tuyệt đối chắc chắn rằng sẽ không có bọn hooligan trong đám đông cuồng nhiệt sẽ trở nên manh động (for many years, I have insisted that soccer matches be banned in Singapore because there is no complete assurance that there are no soccer hooligans among the emotive crowd who will turn violent)

vi- Người Singapore chúng ta thật may mắn vì có những đạo luật bảo vệ chúng ta khỏi các hiểm nguy. Không có “biểu tình”. Không có tình dục đồng giới nam. Không có chuyện ở truồng đi lung tung trong quê nhà của bạn (Singaporeans are so lucky to have laws that protect them from harm. No protests, no gay sex, no walking around naked in your own home).

2- Cường Quốc Quân Sự Chiến Lược: Gương Sáng Recep Tayyip Erdogan

Nếu như “nền dân chủ” của Singapore chưa hề bị Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh hay EU hoặc Úc bêu rếu nên mặc nhiên được thừa nhận là tốt đẹp, nhưng vì (a) sự mặc nhiên thừa nhận ấy của “thế giới tự do” đã tồn tại hơn nửa thế kỷ nay nên không ai nhận ra còn chút cỏn con nào lạ lẫm, (b) “thế giới tự do” không dại gì mắng mỏ Singapore để rồi cà lăm trước nền dân chủ tự do tuyệt vời của Việt Nam cộng sản, (c) thiểu số ngu muội ngu đần ngu dốt ngu si ngu xuẩn trong số du học sinh Việt Nam chỉ biết hít hà cái hào nhoáng của Singapore để rồi về Việt Nam khen nhặng lên cái ngọn, và (d) sự ma mảnh của những “nhân sĩ trí thức” chống Cộng luôn vơ lấy cái hào nhoáng của Singapore để làm cớ bôi nhọ, xúc xiểm Đảng Cộng Sản Việt Nam bất tài vô dụng không xây dựng được đất nước “như Singapore”;

Thì Thổ Nhĩ Kỳ vừa xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới để tạo cơ sở thuận lợi mới tinh về lý luận cho Việt Nam Cộng Sản đối với ý nghĩa duy nhất của “dân chủ”, đó là: một thể chế chính trị mà trong đó người dân bỏ phiếu theo hiến định và theo các quy định của luật pháp hiện hành riêng của mỗi quốc gia để bầu lên đội ngũ lãnh đạo của mỗi quốc gia, chứ không phải kiểu giải thích ngô nghê thuần Hán-Việt thành “dân làm chủ” mà những kẻ mỵ dân sử dụng để đánh lừa dân chúng.

NATO là một thực thể quân sự của các quốc gia Tây Âu và Mỹ. Thực thể đại tư bản ấy của “thế giới tự do” đã kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ đầu năm 1952 để làm tiền đồn ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô. Và cái đất nước Thổ Nhĩ Kỳ có đóng góp quân lực cho cuộc chiến tranh Nam-Bắc Hàn trở thành đồng minh quý báu của NATO, không thể nào không là một quốc gia “dân chủ”. Không những thế, để triệt hậu hoạn Thổ Nhĩ Kỳ có thể rơi vào tầm ảnh hưởng của Nga, miếng mồi EU được đưa ra nhữ để trói buộc hẳn Thổ Nhĩ Kỳ vào “thế giới tự do”. Nền “dân chủ” của Thổ Nhĩ Kỳ được đánh bóng, tôn vinh, nâng cao đồng dạng đồng bộ đồng hành đồng đẳng cùng các quốc gia đại tư bản Âu Mỹ, nên mặc nhiên trở thành khuôn mẫu trác tuyệt của “democracy”.

Thế nhưng, việc “neo” hoài cả chục năm việc kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU đã khiến lộ nguyên hình cái trạng thái “mồi nhữ” khiến Recep Tayyip Erdogan vỡ mộng, và cuộc đảo chính mới đây do NATO và Mỹ giật dây đã khiến Recep Tayyip Erdogan trở nên hung hãn, ra tay đàn áp đảo chính, bắt giam gần trăm ngàn quân nhân và quan chức tòa án, lăm le tái lập án tử hình để xử tử hàng loạt, chiếm giữ căn cứ không quân hạt nhân chiến lược Incirlik của Mỹ trên đất Thổ Nhĩ Kỳ, đóng cửa hàng trăm tòa soạn báo chí, tái lập đối thoại với Tổng thống Nga Putin, kết tội giáo sĩ  Fethullah Gulen nhiều ngàn năm tù và đòi Mỹ phải cho dẫn độ Gulen về Thổ Nhĩ Kỳ để thi hành án, v.v. Không bất kỳ nước nào trong NATO hay EU dám tuyên bố Erdogan độc tài hay phản dân chủ cả, trong khi Erdogan tuyên bố với nhân dân rằng nền dân chủ quốc gia bị các thế lực thù địch xâm hại bằng cuộc đảo chính quân sự.

Điều trên cung cấp một khẳng định rằng (a) dân chủ là một thể chế như đã diễn giải ở trên; rằng (b) Thổ Nhĩ Kỳ được Âu Mỹ trân trọng như một quốc gia dân chủ cho đến tận ngày đăng bài viết này trên WordPress.com; rằng (c) như Singapore và Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ là một quốc gia dân chủ tự thân; rằng (d) “dân chủ” là từ ngữ mang tính vũ khí chiến lược và chiến thuật của Âu Mỹ để ban ơn cho các thể chế không rõ ràng về dân chủ hoặc để đánh phá những thể chế nào quá dân chủ nhưng đứng ngoài hệ thống mà Âu Mỹ mong muốn; và rằng (e) Việt Nam có quyền tuyên bố bất kỳ ai – dù là công dân Việt Nam hay là công dân nước ngoài – khi nói về tình trạng “thiếu dân chủ” ở Việt Nam đều là lời xúc xiểm láo toét láo xược láo xạo đầy láu cá, và do đó có quyền đề ra những luật quy định các biện pháp chế tài đối với những xúc xiểm mang tính chất “lợi dụng tự do dân chủ” đó.

C) Chính Phủ Hãy Làm Đúng

1- Bảo Vệ Ý Nghĩa Của Luật Pháp

Luật là để điều chỉnh – bao gồm giới hạn cùng chế tài – một nội dung chứ không phải để cho phép có nội dung đó. Đây là khẳng định mặc định về luật pháp trên toàn cầu.

Luật Hôn Nhân & Gia Đình không để cho phép công dân được lập gia đình mà để quy định các điều chỉnh – bao gồm giới hạn cùng chế tài – đối với những vấn đề có liên quan.

Khi Tổng thống Nga Putin ban hành luật về “biểu tình”, tất nhiên có những người chống đối nhao nhao lên rằng đó là “luật chống biểu tình”. Họ đã hoàn toàn sai do thiếu ánh sáng trí tuệ vì đã có ý nghĩ trẻ nít khi lập luận rằng “luật biểu tình” là “cho phép biểu tình”, chẳng khác nào khi nói công dân có quyền cư trú bất kỳ nơi nào trên toàn lãnh thổ quốc gia thì công dân có quyền tự do đem chiếu dựng lều trước Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh hoặc tự tiện xông vào phòng ngủ trong nhà hàng xóm.

Nội dung này phải được bảo đảm quán triệt bởi tất cả.

2- Bảo Vệ Ý Nghĩa Của Ngôn Từ

Từ thí dụ điển hình của Singapore, nhất thiết phải đồng thời ghi nhận bốn điều bất khả tách rời rằng (a) “biểu tình là quyền hiến định” của Việt Nam, rằng (b) “biểu tình” hoàn toàn không có nghĩa là “biểu tình ngoài đường phố” hay “biểu tình nơi công cộng”, rằng (c) các khu vực tuyệt đối cấm “biểu tình” phải được liệt kê đầy đủ, và rằng (d) các biện pháp chế tài nghiêm ngặt nhất đối với sự vi phạm bất kỳ luật nào trong toàn bộ hệ thống luật pháp quốc gia chính là các nền tảng vững chắc dựng xây nên các cường quốc mà không bao giờ có bất kỳ ngoại lệ nào trong toàn bộ lịch sử sự hình thành các cường quốc trong toàn bộ lịch sử nhân loại.

3-Bảo Vệ Ý Nghĩa Hàn Lâm Duy Nhất Đúng Của Dân Chủ

4- Bảo Vệ Thể Chế Theo Cách Của Những Cường Quốc Mà Đa Số Người Dân Ái Mộ – Đối Với “Luật Biểu Tình”

Nếu ý kiến của người dân như biểu đạt qua các diễn đàn đa số lại tập trung ngợi ca Singapore giàu mạnh như một so sánh mong muốn Việt Nam phải noi theo, thì Việt Nam nhất thiết phải nghiên cứu để mô phỏng tất cả các hình thái phương tiện và luật pháp hà khắc tương tự mô hình dân chủ Singapore để làm nền tảng cho tất cả những sự cất cánh, đáp ứng các nguyện vọng chính đáng đó của người dân. Một tiêm kích siêu thanh không thể chạy lấy đà cất cánh trên cát sa mạc, bãi bùn lầy, hay vùng cát lún. Sự cất cánh như vậy chỉ có thể có đối với máy bay trực thăng có giới hạn về tốc độ và tầm hoạt động, nghĩa là trên nền tảng ẻo lả của luật pháp thì sự vụt cao lớn mạnh là điều dù chậm rãi vẫn bất khả.

D) Hãy Dũng Cảm Lên!

1- Các Du Học Sinh

Nếu có đến Singapore hay một cường quốc nào khác để du học, hãy nhìn vào nền móng của sự lớn mạnh của họ để nhận thấy rằng tất nhiên không bất kỳ một nền móng nào mang tên “dân chủ” theo định nghĩa của Việt Nam cả. Và khi đã nhận ra điều cốt lõi ấy, hãy dũng cảm không sợ bị “ném đá” khi trở về dám viết thỉnh nguyện thư yêu cầu Đảng và Nhà nước Việt Nam hãy áp dụng những quy định cứng rắn tương tự để làm bệ phóng cho sự cất cánh của kinh tế nước nhà.

2- Các Vị “Nổi Cộm”

Hãy dũng cảm lên, những ai vỗ ngực tự xưng mình là “luật sư đòi có luật biểu tình”, là “nghị sĩ đòi có luật biểu tình”, là “nhân sĩ”, là “trí thức”, là “tù nhân lương tâm tranh đấu cho mấy cái gọi là dân chủ và nhân quyền” để tuyên bố chính mình đại ngu muội đại ngu si đại ngu đần đại ngu dại đại ngu ngốc khi to mồm đòi hỏi đất nước phải trở thành một Singapore thứ hai mà lại không biết gì về nền dân chủ dân quyền, nhân quyền, và pháp quyền của cường quốc Singapore vĩ đại ấy.

Quý vị hãy dũng cảm tuyên bố mình chống Cộng sản Việt Nam vì có “ý thức hệ” khác, chứ không phải vì nước Việt Nam này không có tự do, dân chủ, dân quyền và nhân quyền.

Quý vị hãy dũng cảm như vậy để chứng tỏ bản thân đúng là đang muốn “làm cách mạng”, đơn giản vì sự hèn hạ không bao giờ là chất liệu tế bào lộ liễu của những ai đang học đòi “làm cách mạng”.

Và để nói rõ hơn ý nghĩa từ vựng: quý vị chẳng ai “làm chính trị” cả mà cũng chẳng ai đang “làm cách mạng”.

Đơn giản vì “làm chính trị” luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt Hiến pháp cùng hệ thống luật pháp hiện hành của quốc gia, trong khi “làm cách mạng” là nhằm mục đích duy nhất: lật đổ chế độ. “Làm chính trị” rất giống “nghề” của những luật sư: (hiểu rõ luật và nắm rõ luật để hoặc đi theo cho đúng luật hoặc lách luật an toàn – chỉ khác nhau ở chỗ “làm chính trị” dứt khoát phải vì “đảng chính trị”, còn làm luật sư dứt khoát phải vì “thân chủ”).

“Làm cách mạng” phải hy sinh xương máu cho một cuộc chống chế độ hiện hữu, chống hiến pháp hiện thời, chống luật pháp hiện hành, và nhằm lật đổ chế độ ấy, bãi bỏ thế hiến pháp cùng vô hiệu hóa luật pháp ban hành dưới thời của chế độ ấy.

Không hiểu mình đang làm phản (chống chế độ) mà cứ mồm loa mép dãi về cái quỷ quái bùa chú dân chủ nhân quyền “biểu tình chống nước khác vì yêu nước này” vớ vẩn gì đó thì rõ là thứ mê muội thì làm sao mà có tư thế của một “nhà cách mạng”! “Làm cách mạng” nghĩa là vẫn tiến tới dù đã biết luật, nên biết mình vi phạm luật nào, bị bắt xử tù có đúng luật ấy không, và có chấp nhận hy sinh không, hay lại bù lu bù loa mong mỏi được cứu vớt qua Mỹ?

Đối với tôi, những nghị sĩ có cốt luật sư đòi có “luật biểu tình” với những ai hăm hở “biểu tình” đều cần biết rằng (a) Việt Nam rất cần có “Luật Biểu Tình” hay luật tương tự “Luật Trật Tự Công Cộng” của Singapore, và rằng (b) tác giả bài viết này luôn cho rằng phải kinh qua những nghiên cứu hải ngoại và trải nghiệm thực tế quốc nội thì “Luật Biểu Tình” mới có thể được soạn thảo mang tính tầm cỡ bệ phóng vững chắc cho an ninh nội địa và trật tự công cộng như tại tất cả các cường quốc kinh tế.

E) Hãy Khôn Ngoan Lên, Những Nhà Khởi Nghiệp!

Gần đây có sự xôn xao một cách không cần thiết và thật quê mùa về sự việc những công ty khởi nghiệp Việt Nam sang Singapore để “khởi nghiệp” vì các ưu đãi liên quan đến thời gian cực nhanh trong xét cấp giấy phép cùng phí tổn cực thấp. Gọi là quê mùa và không cần thiết vì việc sang Singapore hay đâu đó có những 8 điểm  gồm (a) đó là sự việc cực kỳ bình thường, (b) đó là một việc không bao giờ buộc phải mang nội hàm rằng Việt Nam kém cỏi vì mấy cái công ty “khởi nghiệp” đó đâu có qua Thái Lan hay Nhựt Bổn nên phải chăng cũng có nghĩa là Thái Lan cùng Nhựt Bổn kể cả Huê Kỳ ngang hàng với Việt Nam trong kém thế so với Singapore, (c) mấy cái vụ khởi nghiệp đó có chắc chắn 100% sẽ thành công nổi bật hay không mà cho dù có thành công ngay ở Việt Nam thì cũng nào có chắc chắn sẽ đóng góp ghê gớm vào cải thiện GDP, (d) mấy cái công ty khởi nghiệp ở Singapore có đã lường trước tình hình Singapore đắt đỏ về thuê mướn nhân lực và đời sống xã hội, (e) mấy cái công ty khởi nghiệp ở Singapore có đã lường trước tình hình Singapore nay khởi sự trở thành tầm ngắm cửa khủng bố quốc tế với những đe dọa đã thoát khỏi giưới hạn của sự tiềm tàng để trở thành hiển nhiên, (f) mấy cái công ty khởi nghiệp ở Singapore có đã biết các quy định hà khắc và độc tài ở Singapore đặc biệt trong tuyệt đối cấm “biểu tình” nên sự đột nhiên ngu muội nghe lời xui giục của không gian mạng xuống đường bày tỏ “lòng yêu nước” chống Tàu lấn chiếm Biển Đông chắc chắn sẽ khiến giám đốc và/hay nhân viên Việt Nam của mấy cái khởi nghiệp ấy đối mặt với sự giam cầm nhiều chục năm không bao giờ thông qua xét xử khiến tiêu tùng cái doanh nghiệp “khởi nghiệp”, (g) gắn hào quang cho “khởi nghiệp” là việc không bao giờ khôn ngoan do không lưu ý đến sự thật rằng dư luận thế giới đang đổ lỗi cho mấy cái khởi nghiệp về công nghệ thông tin đã phá vỡ truyền thống những đại gia công nghiệp đã dựng xây đế chế hàng trăm năm trên phạm vi toàn cầu dẫn đến các bất mãn cùng bạo loạn xã hội, và (h) vì tất cả 7 lý do trên mà hãy để yên cho các “khởi nghiệp” muốn đi đâu thì đi thay vì tốn giấy mực nói về nó như một yếu kém của Việt Nam này.

Cũng vì vậy mà hỡi những nhà khởi nghiệp hãy khôn ngoan đọc bài viết này trước  khi quyết định ở lại Việt Nam hay sang Singapore “mần ăn”, và cũng nên khôn ngoan thường xuyên tìm đọc các bài viết trên blog này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII.

Nguồn thông tin & tham khảo:

SINGAPORE:

Vì Sao Cấm Biểu Tình Hòa Bình Ở Singapore (bài tiếng Anh): http://singaporemind.blogspot.com/2007/10/why-peaceful-protests-are-not-allowed.html

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

THỔ NHĨ KỲ:

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ (

8 Nội Dung Lăng Tần Tư Vấn Cho Recep Tayyip Erdogan)

Trò Hèn Của Thổ Nhĩ Kỳ

Âm Mưu Thế Giới Đại Chiến III

LUẬT BIỂU TÌNH:

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên.

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật

Biểu Tình và Ô Danh. May 20, 2014

Luật Biểu Tình. May 26, 2014

Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam – The Trio of Iron Ladies of Vietnam

Tam Đầu – The Triumviri

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-8-2016

QH Iron Ladies (2)

Tôi không ưa kiểu gọi nội bộ của Việt Nam ngay sau ngày Giải Phóng Miền Nam, thống nhất đất nước: “Bộ Tứ”, vốn được sử dụng ở khắp mọi nơi, từ cơ quan quyền lực, đến doanh nghiệp quốc doanh, tại mọi nơi, và ở mọi lúc, để chỉ cơ sở Đảng, cơ sở Phụ Nữ, cơ sở Thanh Niên, và cơ sở Công Đoàn của những nơi ấy. Tất nhiên, “Bộ Tứ” là một cơ chế giám sát vô hiệu, vô duyên, vô ích, và vô dụng nên đã bị đào thải một cách âm thầm với thời gian; chẳng qua vì quyền lực quyết định nằm trong tay duy chỉ người có chức danh giám đốc hay vị đứng đầu của một cơ quan. Thí dụ như khi tôi bị Công ty FOSCO trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh xử bức (tiếng bình dân gọi là “đì”) thì Thanh Niên ngó lơ vì tôi không còn là thanh niên, Phụ Nữ ngó lãng vì tôi vừa không là…phụ nữ vừa dành tình cảm sâu đậm chăm sóc chỉ có vài nữ nhân viên cấp dưới diện yếu thế chứ không màng đến tập thể nữ cấp trên lộng lẫy uy quyền, Công Đoàn thì chỉ “bảo vệ” nhân viên trong khi tôi lại là lãnh đạo, và Đảng thì bảo tôi không phải là đảng viên để Đảng phải bảo vệ do tôi là mầm mống đe dọa các chiếc ghế quyền lực với bằng chứng là tất cả các đảng viên là nhân viên cấp dưới của toàn công ty đều ủng hộ giới thiệu tôi vào Đảng. Rốt cuộc, thời của “Bộ Tứ” là thời xuất hiện bao điều hư hại hư hỏng hư đốn hư banh bét của cả bốn thành phần cấu thành “Bộ Tứ”.

Tôi cũng chớ biết kiểu gọi “Tứ Trụ Triều Đình” là do ai sáng chế, có phải là dân hải ngoại chống Việt hay không, vì nghe qua thấy có vẻ giễu cợt như ngụ ý thâm hiểm (a) rằng có sự “cha truyền con nối” của hoàng tộc, dứt khoát không để quyền uy lọt vào tay con đỏ, dân đen, ngoài chốn hoàng triều; và (b) rằng Đảng chẳng khác nào một triều đình phong kiến phi dân chù. Bốn cột trụ lãnh đạo Việt Nam, tuy nhiên, vẫn là một thực thể thực tế tổ chức đúng đắn, nhờ đó đất nước trụ vững và phát triển, bất kể cái danh xưng giễu cợt của “tứ trụ triều đình” mà từ ngữ ấy vốn không được tạo nên một cách chính danh chính thức bởi nội bộ Việt Nam.

Tôi cũng khinh thường kiểu gọi hoàn toàn kém và thiếu tầm nhìn của báo chí Việt Nam khi gọi Thủ Tướng Margaret Thatcher của Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan là “Bà Đầm Thép” từ nguyên ngữ tiếng Anh của “The Iron Lady”. Hoàn toàn kém và thiếu tầm nhìn vì phải gọi thế nào nếu sau này một phụ nữ Á Đông – trong đó có Việt Nam – cũng được báo giới Âu Mỹ gọi là Iron Lady, vì những vị nữ nhân này không phải là “bà đầm” do “bà đầm” là dành gọi phụ nữ Phương Tây. Lẽ ra họ đã nên gọi bằng tiếng Việt là “nữ lãnh đạo thép” để có thể sử dụng đại trà, rộng khắp, phi biên giới, vô biên cương, bất biên chế.

Song, may mà tiếng Việt có từ “anh thư” để chỉ những vị nữ nhi hào hùng. Do đó, các “Iron Ladies” của hàng ngũ lãnh đạo sau đây của Việt Nam sẽ được tôi gọi là những vị “Anh Thư Thép”.

Riêng chữ “Tam Đầu” thì tôi tạo ra, nhưng không ám chỉ thể chế lãnh đạo chính trị của Đế Chế La Mã “The Triumvirate”, mà chỉ dựa vào đấy để gọi ba vị nữ anh thư thép lãnh đạo Việt Nam là “The Triumviri” với ý nghĩa ba vị đứng đầu riêng biệt với những đặc điểm và nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau trên nền chung của phục vụ nhân dân.

Vị Iron Lady thứ nhất của Việt Nam: Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân.

Những ưu điểm nỗi trội của Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã được tôi nêu rõ trong bài viết trước đây về Bà, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – thần uy thiên bẩm, biệt tài hùng biện, kinh nghiệm trị quốc, và khả năng quán xuyến bao trùm đối với cơ quan quyền lực tột đỉnh của quốc gia. Có thể nói với tất cả sự kính trọng và công tâm rằng chưa hề có vị nữ lãnh đạo chính trị nào trên toàn thế giới có thể sánh được với Bà về nhan sắc. Chính tất cả những điều tuyệt diệu tập trung nơi Bà đã khiến Bà thích hợp nhất với vai trò lãnh đạo Quốc Hội Việt Nam trong tương quan Nghị Viện Thế Giới để nâng cao vị thế không những của Quốc Hội Việt Nam mà còn của tổ quốc Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

Bà là “The Iron Lady” như đã ra uy qua lời phê phán mạnh mẽ nhất đối với những thứ không giúp ích gì cho tổ quốc mà chỉ gây rối loạn dân tâm, lúc bà phát biểu về cái gọi là “biểu tình”.  Bà đã thể hiện quyền lực cực kỳ đúng đắn và ở đỉnh cao của sự cần thiết qua tuyên bố đó. Việt Nam cần có một Iron lady như Bà để tồn tại và phát triển, để vang danh và được vinh danh, để đất nước sẽ được Bà bảo vệ chốn nghị viện các châu lục, bằng khả năng hùng biện của Bà, bằng sự cứng rắn tối cần thiết của Bà trong tư thế một nhà lãnh đạo, và bằng dung nhan của Bà mà thế giới nghị viện sẽ luôn phải cung kỉnh lắng nghe, ngưỡng mộ. Bà đã xô ngả hoàn toàn cái mặc định rằng phụ nữ Việt Nam ở giai tầng lãnh đạo phải luôn thể hiện sự mềm yếu, dễ bị “bắt nạt”, không thể “tự vệ” trước các chiêu trò bẩn thỉu bôi nhọ rên rỉ hung hãn của kẻ thù của đất nước và chế độ. Dân tộc này muốn rằng khi người phụ nữ Việt Nam ở đỉnh cao quyền lực sẽ uy dũng, mạnh mẽ, kiên quyết, và cứng rắn như Nhị Trưng Vương và Nhụy Kiều Tướng Quân, nhất là khi sự an nguy của tổ quốc hiện đang bị dọa đe bởi bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc cùng các thế lực thù địch khác từ bên ngoài biên giới hay bên trong cương thổ nước nhà.

Vị Iron Lady thứ nhì của Việt Nam: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng.

Tất cả các nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam đều dễ dàng nhận ra những điểm đặc biệt rằng nếu như Bà Nguyễn Thị Kim Ngân sử dụng thần uy thiên bẩm để lãnh đạo Quốc Hội đặc biệt trong đối ngoại làm vinh danh Quốc Hội Việt Nam chốn nghị trường quốc tế, thì Bà Tòng Thị Phóng sử dụng tài năng quản trị để lãnh đạo hoạt động nội bộ Quốc Hội đưa các hoạt động đối nội vào vị thế tối ưu bằng tính cách mềm mỏng nhưng cương quyết, dịu dàng nhưng dứt khoát, linh hoạt nhưng nguyên tắc, điềm đạm nhưng cứng rắn, và thân thiện nhưng nghiêm khắc của Bà.

Điểm đặc biệt của Bà Tòng Thị Phóng là giọng nói trầm ấm với nụ cười hiền hòa luôn nở trên môi, bất kể nghị trường đang có sự đồng thuận hay bất đồng chính kiến. Chính Bà lúc chủ trì các phiên họp toàn thể của Quốc Hội đã trổ tài quán xuyến, lèo lái các nội dung tranh luận vào đúng các quỹ đạo, và hóa giải mọi sự việc phát sinh bằng tất cả những thế mạnh của Bà như đã kể ở trên.

Bà Tòng Thị Phóng là “The Iron Lady” theo một cách đặc biệt, vì nếu như sự cứng rắn là để bảo vệ nguyên tắc cùng chân lý, thì nụ cười hiền hòa của Bà lại chính là sự cứng rắn ấy. Chính Bà là “Đầu Chế” thứ hai, vị anh thư thép thứ hai, một vị “Tể Tướng”, và Bà đã cùng Bà Nguyễn Thị Kim Ngân bảo đảm sự phân công phân quyền tuyệt diệu giữa một bên là cột trụ chống vững Quốc Hội Việt Nam về nội trị, và một bên là cột trụ không những đỡ nâng vị thế của Quốc Hội Việt Nam trên trường Quốc Tế mà còn thu hút sự ủng hộ của nghị viện thế giới dành cho Việt Nam, đem thần thái cùng nét đẹp Việt Nam tỏa lan ra thế giới.

Vị Iron Lady thứ ba của Việt Nam: Bà Trương Thị Mai, Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận sự thật rằng Bà Trương Thị Mai chính là “Đầu Chế” thứ ba, vị anh thư thép thứ ba, một vị “Nguyên Nhung” thực thụ, mà sự tình cờ của lịch sử nước nhà đã khiến quy tụ trong cùng thời gian cả ba vị anh thư thép cùng lãnh đạo nước nhà.

Trong thời gian làm Chủ Nhiệm Ủy Ban Các Vấn Đề Xã Hội của Quốc Hội, Bà Trương Thị Mai đã chứng tỏ tài hùng biện, sự xông xáo, trực ngôn, và trí tuệ trong tranh luận các dự án luật, mà những vấn đề Bà nêu ra luôn là những điểm lõi quan trọng, nêu bật lòng kiên trì đấu tranh vì sự phát triển của đất nước và ý chí vì cuộc sống của nhân dân. Là một chính khách tài ba, Bà đã khiến tất cả các nghị sĩ phải nể phục, và là điều tự nhiên khi Bà trở thành Ủy Viên Bộ Chính Trị, một vị trí chỉ dành cho các nhà lãnh đạo nổi bật của Đảng.

Bà Trương Thị Mai là “The Iron Lady” theo một cách đặc biệt, vì nếu như Bà Nguyễn Thị Kim Ngân “cứng rắn” bảo vệ uy thế của Quốc Hội Việt Nam trên trường quốc tế một cách vươn rộng vươn xa  vươn cao và bao trùm, Bà Tòng Thị Phóng “cứng rắn’ bảo vệ hoạt động nội bộ của Quốc Hội Việt Nam từ trên xuống dưới, thì Bà Trương Thị Mai “cứng rắn” từ ngay bên trong nội bộ Quốc Hội nhằm bảo đảm sự vũng chắc của các cơ sở của nội bộ ấy từ dưới lên trên.

Bà Trương Thị Mai là chính khách duy nhất ở Việt Nam hiện nay thích hợp nhất để lèo lái con thuyền Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay (a) sự an nguy của tổ quốc đang dưới sự dọa đe của chiến tranh xâm lược khiến công tác dân vận trở nên quan trọng sống còn; (b) sự phát triển của đất nước trước ngồn ngộn những thời cơ khiến công tác dân vận trở nên tối quan trọng; (c) lòng dân đang bị thử thách trước tổng hợp của sự chống phá tư tưởng từ bên ngoài, sự chống phá tư tưởng từ bên trong, sự thiểu năng quản trị của các cơ quan hành chính công quyền mà toàn bộ nguồn nhân lực đều do có sự thông qua đầy tắc trách của tất cả các cơ sở Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam; và (d) sự yếu kém triền miên đã trở thành đặc điểm thâm căn cố đế kinh niên của Trung Ương Mặt Trân Tổ Quốc Việt Nam trên tất cả mọi phương diện, từ quản trị nhân sự của chính Mặt Trân Tổ Quốc, đến sai sót nghiêm trọng trong công tác bầu cử 2016, thất bại trong các nhiệm vụ lõi của Mặt Trận Tổ Quốc, và sự buồn cười của các chương trình hành động mà Chủ tịch Nguyễn Thiện Nhân mới đệ trình Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, trong đó nêu toàn là những “dự án vận động” không có gì đặc sắc, chẳng một chút khả thi, và không hề thực tế, bảo đảm sẽ thất bại tuyệt đối, hoàn toàn.

The Triumviri: Ba Vị Anh Thư Thép Lãnh Đạo Việt Nam

Một nữ lãnh đạo của Thành phố Hồ Chí Minh là Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, đã phát biểu tại nghị trường Quốc Hội khi Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc trình danh sách các Bộ trưởng trong kỳ họp thứ 11 Quốc Hội Khóa XIII đầu năm 2016, nêu thắc mắc tại sao không có nữ nghị sĩ nào làm Phó Thủ Tướng hay Bộ Trướng. Tôi cho rằng Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm đã không có tầm nhìn chính trị, thiếu hiểu biết tổ chức, chẳng phân minh luật pháp, đã có tư tưởng hoàn toàn hạn hẹp cục bộ giới tính chủ nghĩa, và đã không nhận thức về trách nhiệm tuyệt đối cũng như quyền lực tuyệt đối Hiến Định của Thủ Tướng trong việc lựa chọn các thành viên chính phủ phù hợp nhất để cùng Ông gánh vác các phần việc nặng nề giải quyết các vấn nạn quốc gia.

Bình đẳng giới không có nghĩa là bắt buộc phải chia đều theo kiểu 50/50 hay chia sẻ bớt các chiếc ghế cho nữ giới để đạt tỷ lệ số học.

Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới luôn phải tôn trọng nữ giới, dành lấy những phần việc nặng nhọc hiểm nguy nhất để nữ giới được phát huy khả năng trong hoàn cảnh nhiều thuận lợi hơn.

Bình đẳng giới không có nghĩa là buộc phải có một phụ nữ làm “phó” cho Thủ Tướng cho bằng được.

Bình đẳng giới mang ý nghĩa rằng tất cả các “nam giới” khi làm lãnh đạo đều phải ưu tiên đầu tư tâm lực và trí lực dựng xây cho bằng được nền móng luật pháp và luật lệ thích hợp cho sự phát triển ưu tiên của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. (Tất nhiên, khi nói về “nam giới” và “nữ giới” là nói trên bình diện ngữ nghĩa phổ thông phổ quát và phổ biến, chứ không để tạo cớ cho sự lao xao láo xạo của bọn chống Việt rêu rao về các “giới” khác trong xã hội thực sự tôn trọng nhân quyền và dân quyền.)

Bình đẳng giới thực sự sẽ luôn có nghĩa rằng vào thời điểm đặc thù của quốc gia khi thực sự xuất hiện các bậc hiền tài nữ giới thì tất cả các vị anh thư này đều ưu tiên nắm giữ quyền uy trị quốc, như làm Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quốc Hội, Thủ Tướng, Bộ Trưởng Quốc Phòng, v.v. và v.v., như từng diễn ra y như vậy tại các quốc gia khác trên toàn thế giới.

Chính vận nước hiện nay đã đưa đến sự xuất hiện của ba ngôi sao sáng nhất thuộc về nữ giới mà không bất kỳ vị nam giới nào trong toàn Đảng và trên toàn quốc có thể sánh bằng: đó là ba vị anh thư thép của Việt Nam, “The Trio of  Iron Ladies of Vietnam”: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bà Tòng Thị Phóng, và Bà Trương Thị Mai:

QH Iron Ladies (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Phản Biện

Thế Nào Là Phản Biện

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-8-2016

Phan Bien

(Bài đăng trên Emotino.com ngày 27-3-2011)

A- Dẫn Nhập: Hiểu Đúng Về Hành Trình Phản Biện

Phản biện là thuật ngữ cực kỳ quen thuộc của giới hàn lâm và chỉ nghe thấy chốn giảng đường đại học, theo đó, khi một sinh viên làm luận án tốt nghiệp sẽ có những giảng viên bảo trợ và những giảng viên phản biện, người giúp đỡ giải đáp các thắc mắc và “vẽ đường cho hươu chạy”, vị sẽ dựa vào luận án hoàn tất do sinh viên thuyết trình để ra các câu hỏi mà mục đích là tạo cơ hội cho sinh viên trình luận án chứng tỏ tài hùng biện, tri thức nghiên cứu hiểu biết thâm sâu về đề tài luận án, cũng như khả năng ứng biến trước các tình huống giả định. Thường thì các câu hỏi phản biện được trao trước cho sinh viên trình luận án. Từ đó suy ra: một luận án dù do một sinh viên thực hiện cũng hội đủ các yếu tố:

a) chủ đề có liên quan đến bộ môn hàn lâm (như một tác giả, một tác phẩm, một học thuyết, một định đề, một dị biệt, một vấn đề);

b) được các giảng viên hàn lâm bảo trợ giúp hoàn thiện công trình; và

c) được các giảng viên phản biện giúp hoàn tất thành công khâu cuối cùng của buổi trình luận án: chủ nhân thuyết trình thể hiện “tài” của chính mình còn kết quả trình bày ở mức mỹ mãn có thể được.

Như vậy, một luận án được trình có quy mô gần như một tác phẩm “đẳng cấp cao” về một đề tài “đẳng cấp cao” được bảo trợ bởi một đội ngũ chuyên gia hàn lâm “đẳng cấp cao”, gần như không có cửa cho bất kỳ sai sót lớn nào, và bên phản biện vốn là một đội ngũ chuyên gia hàn lâm “đẳng cấp cao” không bao giờ trong tư thế hạ cấp của những kẻ “vạch lá tìm sâu” và “bới lông tìm vết” để cải lẫy, đôi co, làm câm họng đối tượng đang bảo vệ luận án hay cho ra đề nghị khiếm nhã đòi dẹp bỏ hoặc thay đổi đề tài luận án. Phản biện trong ý hướng chuẩn mực, đúng đắn, nghiêm túc, trí hóa cao như vậy, chỉ là khâu thứ yếu để giúp hoàn thiện một sản phẩm tri thức chứ không phản bác nó.

Phản biện còn là hoạt động mà sự hiện diện của nó chỉ để làm gia tăng thêm giá trị của một vấn đề đúng đắn có giá trị cao đã và/hay đang tồn tại. Tự thân phản biện không có giá trị riêng bất kỳ.  Tự thân phản biện không tự xuất hiện nếu không được phân công và/hay yêu cầu từ chủ nhân hay đơn vị chủ quản đề tài, chẳng hạn:

a) Hội đồng khoa học đánh giá một luận án tiến sĩ dựa vào công trình về một đề tài đã được đăng k‎ý và chấp thuận nhiều năm trước đó, trong giới hạn đề tài hàn lâm có điểm mấu chốt có giá trị, thông qua khả năng trình bày của chủ đề tài trước hội đồng cũng như khả năng ứng đối trước các câu hỏi của ban phản biện khi hóa giải và/hoặc phát triển những giá trị cộng thêm đối với công trình luận án của mình;

b) Chủ đầu tư một công trình có thể hợp đồng thuê một công ty tư vấn danh tiếng để thực hiện nghiên cứu phản biện nhằm kiểm tra chất lượng lần cuối cùng chỉ để xem có còn cần thêm những nét chấm phá nhỏ nào không để hoàn thiện công trình, chứ không bao giờ nhằm phát hiện các lỗi tày trời để hủy bỏ công trình, tìm lấy một thay thế khác. Phản biện là dành cho một công trình đã được phác thảo hoàn chỉnh xong

c) Một chính phủ có thể nêu yêu cầu phản biện để các tổ chức hợp pháp và/hoặc người dân có quan tâm tham gia góp các công trình nghiên cứu tập thể hay cá nhân nhằm hoàn thiện một chủ trương – chính sách sẽ được ban hành. Những giải thưởng cụ thể rất có thể sẽ được thông báo ngay từ đầu trong lời mời phản biện. Không có lời mời, tất cả chỉ là việc nêu ý kiến không có yêu cầu cao mang tính hàn lâm về biện pháp tiến hành nghiên cứu, số liệu tham khảo, nguồn tham khảo, và trách nhiệm cũng như vị thế của người tham gia phản biện.

Giải phẫu không được tiến hành bởi toàn dân mà được thực hiện bởi những bác sĩ chuyên khoa có thể là công dân nước này hoặc nước khác, đáp ứng yêu cầu và lời mời của người có yêu cầu. Phản biện không là việc hay quyền của người dân nói chung mà là của các tổ chức hay cá nhân trong nước hay ngoài nước đáp ứng các yêu cầu về đẳng cấp tư vấn nhất định và theo lời mời của đơn vị tổ chức.

Người dân có quyền – trong bất kỳ lúc nào – nêu ý kiến về tình hình y tế hay những câu hỏi cần có giải đáp về y học.

Người dân có quyền – trong bất kỳ lúc nào – nêu ý kiến về một vấn đề xã hội trong khuôn khổ luật pháp quốc gia về thông tin.

Phản biện là nêu ý kiến; song, nêu ý kiến không là phản biện.

B- ‎Ý Nghĩa Ngôn Từ

Ngôn ngữ nói luôn có trước ngôn ngữ viết. Sự thật này có khi đưa đến một hệ quả là sự diễn giải trong từ điển sẽ có tính chủ quan đậm nét hơn; chẳng hạn định nghĩa sau về phản biện của Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia: Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng, lô-gíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm. Nội dung của Wikipedia tuy vốn không được các giáo sư trên toàn thế giới chấp nhận cho sinh viên dùng làm nguồn tham khảo chính thức, cũng chí ít nêu bật được sáu điểm mấu chốt tất nhiên phải có của phản biện, mà thiếu một hay nhiều hơn một thành tố sẽ chỉ dẫn đến sự góp ‎ý bình thường hay sự loạn ngôn có chủ tâm chứ không thể là phản biện.

Ngoài ra, sự khác biệt về ngôn ngữ cũng làm giới hạn sự hiểu biết của người dân của một nước liên quan, chẳng hạn người Việt Nam hay cho rằng phản phải mang nghĩa đối nghịch như phản chiếu, phản công, phản xạ, phản đối, phản ứng, v.v. , trong khi trong tiếng Anh các từ như amoral, immoral, nonmoral, unmoral, v.v. có thể được xếp vào hàng ngũ antonym tức từ phản nghĩa của moral(đạo đức)  trong khi ý nghĩa của chúng khác nhau, không nhất thiết phải “đối nghĩa” hay “chỏi nhau”, mà có khi chỉ cần nghĩa … “chẳng dính dáng gì đến đạo đức”.  Tất cả dẫn đến một giải thích cặn kẽ hơn để chứng minh phản biện đang bị lợi dụng bởi những người cố tình hủy phá ý nghĩa ngôn từ, làm ô uế việc làm hàn lâm nghiêm túc để đậy che hành vi phản nghịch chống chính quyền, phản đối chế độ, phản bác chính sách chủ trương nhà nước, phản động phản quốc.

C- Vì Sao Nên Nỗi: Bỏ Roi, Dẹp Vọt; Ngồi Trên, Ăn Trước; Thấy Lệch, Nhìn Sai

Do không được gia đình giáo hóa và do bài bản nhà trường có những lệch tâm, nhiều người ngay từ thời còn là học sinh lớp 9 đã tập tành phát biểu những lời chê bai Đảng, Chính Phủ, Thủ Tướng, tự hào bản thân dám phản biện và khoe sẽ đi du học như một tránh xa sự thấp kém, lạc hậu, không có tự do ngôn luận, của một đất nước Cộng sản điêu linh, mà không biết là mình chưa có trí hóa, chẳng có tri thức, chẳng hiểu thế nào là phản biện, để rồi với mớ tiếng Anh một dúm trong túi quần thủng đáy rụt rè ra hải ngoại, cày ải đóng thêm tiền trần ai đánh bóng tiếng Anh, đạt yêu cầu tham gia chính khóa, như kẻ mông muội vào toilet Tây trân mình hít thở thật sâu thật lâu cái không khí có hương hoa hồng đậm đặc từ mấy cục sáp thơm rồi thấy mình là nhân tài hình như xưa kia mẹ sinh ra có hương thơm ngào ngạt như Tử Vi giáng hạ phàm trần, đủ sức làm tổng thống ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, tìm đến những nhà tài trợ và trở về quê thực hiện giấc mộng mưu bá, đồ vương, an bang, định quốc.

Thế nhưng ngoài mấy kẻ trẻ người non dạ như du học sinh trung học hay thạc sĩ  bái tổ vinh quy do không thấy roi hay vọt của pháp luật nước nhà; do nghĩ con đường tắt đi đến vinh quang của mình sẽ được Phương Tây và “cộng đồng” người Việt hải ngoại đùm bọc, tài trợ, chở che; và do lầm tin rằng mình có…chân mạng đế vương nên đã như thiêu thân lao vào hào quang ảo mộng; vẫn có vài Thầy Cô đạo cao đức trọng chưa hiểu cái chân, cái chính, và cái thực của phản biện. Có thể trong thời chiến tranh chống Mỹ, các Thầy Cô được Đảng và Nhà Nước gởi qua Liên Xô và các nước Đông Âu Xã Hội Chủ Nghĩa học tập, chuẩn bị cho lớp người trí thức kế thừa sự nghiệp xây dựng đất nước một khi cuộc giải phóng thành công nên dù bao triệu người đã nằm xuống cho ngày thống nhất đất nước, các Thầy Cô còn chưa biết tiếng súng nổ ra sao. Và khi Đảng áp dụng chính sách mở cửa xây dựng đất nước độc lập – tự do – hạnh phúc, các Thầy Cô choáng ngợp trước những kiến thức mới lạ và những kỳ tích của trời Âu Mỹ, mà không biết rằng chúng chẳng lạ lẫm gì đối với những người đã thực sự sống, thực sự trải nghiệm với thực tế của các kiến trúc và kỳ tích ấy, và rằng tòa nhà cao nhất thế giới sẽ không bao giờ có thể được dựng xây tại Thành phố Hồ Chí Minh trên nền Sài Gòn vốn đầm lầy xưa cũ đất nền địa tầng nhão nhoét. Các Thầy Cô đáng kính tự thấy mang trách nhiệm của những nhà trí thức trước việc phải làm sao cho đất nước nhanh chóng hùng mạnh như các siêu cường, từ đó quan niệm tích cực đóng góp ý kiến (gọi lầm thành phản biện) là vũ khí sắc bén của nhà trí thức đối với vận mệnh quê hương, thôi thúc nhất thiết phải tận dụng với khát vọng cống hiến những kiến thức và hiểu biết hàn lâm “mới biết ” của mình cho sự phát triển kinh tế của quê hương.

D- Những Nguyên Tắc Đúng Không Bao Giờ Cần Đến Phản Biện Bất Kỳ

Ngoài ý nghĩa bất di bất dịch là phản biện phải thông qua cơ chế tổ chức bài bản – khác với đóng góp ý kiến – phản biện còn nhất thiết phải không nói về những nguyên tắc luôn đúng vốn không bao giờ cần đến phản biện bất kỳ.

1) Quản L‎ý Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Đảng Cộng Sản Việt Nam quản l‎ý nhân sự thành công, quản l‎ý đấu tranh chính trị thành công, quản l‎ý công tác đối ngoại thành công, quản l‎ý bảo vệ đất nước thành công và quản l‎ý kinh tế thành công.

Phản biện rằng kinh tế nên phát triển kiểu này kiểu nọ chỉ có thể đúng đắn nếu như đó ở dạng các ý kiến đóng góp, vì phản biện theo đúng ý nghĩa hàn lâm chỉ dùng để làm rõ nét hơn, bổ sung chi tiết cho, và khẳng định đúng nội dung Đảng Cộng Sản Việt Nam quản l‎ý kinh tế thành công. Một tổng giám đốc người Singapore đồng thời là chủ nhân một công ty Singapore sản xuất tại Việt Nam 100% xuất khẩu sang thị trường Ý và Úc đã nói với người viết bài này như lời tâm sự nghiêm túc chỉ giữa hai người: “Tổng Thống Hồ Chí Minh là người giỏi nhất thế giới về Human Resources Development (dùng người). Có nhiều nhà lãnh đạo dựng xây cả đế chế hùng mạnh, nhưng chỉ có Hồ Tổng Thống là nhà lãnh đạo duy nhất từ tay trắng dựng xây một quân đội hùng mạnh, tập thể nhân dân hùng mạnh, một đất nước hùng mạnh từ con số không, và có chiến thắng to lớn trong danh dự, vẻ vang; có uy với nhân loại và làm thay đổi cả dòng chảy lịch sử nhân loại. Ông Phước chắc đồng ý với tôi là không ai khác từ cổ chí kim làm được như Hồ Tổng Thống.”  Tất nhiên, mọi phản biện – nếu có – đều là vô nghĩa, vì không ai bật một que diêm để giúp làm sáng hơn một mặt trời ngùn ngụt nhật quang, hay đặt câu hỏi xem có phải mặt trời phát ra ánh sáng mạnh hơn cả hay không.

2) Đạo L‎ý Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Người chiến thắng có thể làm bất kỳ điều gì. Đó là lẽ đương nhiên. Do đó, cái khác biệt là ở đạo l‎ý văn hóa của người chiến thắng, phân định rạch ròi giữa con người và loài thú. Một vị vua của Trung Quốc phong kiến của giáo dục Khổng Mạnh chôn sống cả vạn tù binh. Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý của tư bản thời cận đại – những quốc gia có đa số dân thờ phụng Chúa – xua bao triệu tù nhân kể cả phụ nữ và trẻ em vào các lò thiêu, lò hơi ngạt. Quân Phiệt Nhật của chế độ quân chủ lập hiến tự do – đất nước thiên về Phật Giáo, đẻ ra xã hội có hào quang xây dựng kinh tế thần kỳ – chặt đầu cả vạn tù binh các nước Đông Bắc Á và Đông Dương – trong đó có Việt Nam. Việt Nam Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm đàn áp Phật tử , dùng máy chém chặt đầu tù binh và tù nhân thuộc nhóm những ai yêu chuộng sự tự do theo Cộng sản, xúc xiểm gọi nhà sư tự thiêu là món thịt nướng barbecue. Hoa Kỳ của thế giới tự do, của dân quyền và nhân quyền, chủ nhân ông của các chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã không cho phép thường dân Việt Nam tại Sơn Mỹ có tự do, dân quyền, cả nhân quyền. Cộng sản Việt Nam – những người bị kẻ thù gán cho danh xưng lệch lạc “vô thần khát máu” – đã đưa hàng vạn quân nhân khiếp sợ của Việt Nam Cộng Hòa, những người đã vứt bỏ vũ khí, quân trang, quân dụng, đồng phục quân nhân đầy đường đến nỗi tắt nghẽn giao thông cả tuyến quốc lộ, vào những trại cải tạo để cất công cố gắng dạy cho họ biết nẻo chánh đường tà, thể hiện vai trò chuyên nghiệp của những nhà tâm l‎ý học và tư vấn tâm l‎ý nhân bản để giúp tù binh và hàng binh nhận thức đúng về vị trí mới và vô cùng quan trọng của họ trong việc cùng góp công xây dựng đất nước thống nhất xã hội chủ nghĩa. Quyền uy tối thượng mà Cộng sản Việt Nam, những người chiến thắng, đã thị uy không phải là cuộc tắm máu trừng trị như tuyên truyền của Việt Nam Cộng Hòa, mà là đức độ, lòng nhân, đại nghĩa, l‎ý tưởng hòa hợp dân tộc, vì dân quyền và nhân quyền, thực sự vì quốc gia Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Đạo l‎ý ấy của Đảng Cộng Sản Việt Nam quá lớn lao, quá vĩ đại, quá riêng biệt chưa quốc gia nào khác trên thế giới từng áp dụng, nên sẽ không tạo được bất kỳ một cơ hội nào – dù cỏn con – để manh nha một phản biện bất kỳ.

3) Lịch Sử Của Việt Nam Và Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Những gì của lịch sử bao gồm – nhưng không chỉ giới hạn bởi – những chiến tích, những biến cố, những bài học, những di vật, di chỉ, v.v., mà những nghiên cứu dù có cho ra những nội dung trái ngược nhau, vẫn chỉ có giá trị tham khảo đơn thuần.

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đánh thắng giặc Nguyên Mông. Phản biện hàn lâm đối với đề tài này có thể là về những tình tiết mới phát hiện trong tàng thư cổ hay di tích mới được khai quật cho thấy có sự khác biệt về kích thước và chất liệu các cọc chông cắm dưới lòng Bạch Đằng Giang. Ý kiến nào cho rằng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn lẽ ra đã thua xiểng liểng nếu giặc Nguyên Mông đừng gia tăng thêm hai tay chèo mỗi tàu thuyền có thể đủ chậm để kịp thấy cọc chông nhú lên không bao giờ là phản biện mà là một lảm nhảm điên rồ nhằm bôi nhọ thực tế lịch sử Việt Nam.

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã đánh thắng với trận Điện Biên Phủ trên không, khiến phá sản toàn bộ quá trình tham chiến của Mỹ tại Việt Nam, trói ghịt Mỹ vào thế phải rút khỏi Việt Nam. Phản biện hàn lâm đối với đề tài này có thể là về những tình tiết mới phát hiện trong tàng thư Mỹ hay vật chứng mới được phát hiện cho thấy có khác biệt về số hiệu phi đội, thời gian và địa điểm rơi, của chiếc máy bay cuối cùng bị bắn hạ, còn một cánh hay một phần tư của một cánh khi chạm đất. Ý kiến nào nói rằng Mỹ chỉ cần ném bom thêm một ngày là đã nhận được cờ trắng đầu hàng của Cộng Sản Bắc Việt không bao giờ là phản biện mà là một lảm nhảm điên rồ nhằm bôi nhọ thực tế lịch sử Việt Nam.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đạt những kỳ tích chưa bao giờ Việt Nam có được từ thời Hùng Vương dựng nước, đặc biệt duy trì sự bền vững ổn định tối cần thiết cho sự phát triển kinh tế nước nhà, trở thành chỗ dựa chiến lược cho sự sinh tồn của các dân tộc toàn Đông Nam Á, và mô hình độc đáo của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần quyết định vào sự phát triển kinh tế thành công của Việt Nam. Phản biện hàn lâm đối với đề tài này có thể là về những tình tiết mới có từ thực tế thế giới tài chính run rẩy sụp đổ và biện pháp cứu nguy chỉ có thể là đặt cái gọi là kinh tế thị trường dưới sự giám sát hay can thiệp nhiều hơn từ chính phủ, cho thấy giá trị của đột phá tiên phong của Việt Nam đối với nội dung “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ý kiến nào nói rằng kinh tế Việt Nam sẽ lâm vào khủng hoảng nếu nhà nước Cộng sản Việt Nam không nhanh chóng mạnh dạn áp dụng các bài bản Âu Mỹ không bao giờ là phản biện mà là một lảm nhảm điên rồ nhằm bôi nhọ thực tế lịch sử Việt Nam.

E- Kết Luận: Phản Biện Diên Hồng

Phản biện là hành động chuyên nghiệp của người có học thức, có tri thức, có nghiên cứu thâm thúy về một đề tài thực sự mới để bổ sung hỗ trợ cái tốt đẹp đang có (như về một bài sonnet của Shakespeare, hay công trình 15 năm của các chủ nhân giải Nobel kinh tế) mà các bổ sung ấy đã có người nêu bật ra song chưa đủ đầy trước đó.

Phản biện không bao giờ là đối kháng, đối nghịch, hay làm loạn vì đó là phản động hay phản nghịch.

Phản biện ủng hộ tích cực và tuyệt đối một vấn đề thực sự lớn lao để các tồn tại – nếu chứng minh bằng các công trình khoa học chi tiết dài hạn rằng thực sự có – được khắc phục, và các yếu kém – nếu chứng minh bằng các công trình khoa học chi tiết dài hạn rằng thực sự có – được nâng cấp.

Phản biện không bao giờ là chuyện những tên hề lén lút biên soạn cương lĩnh chính trị, lén lút tụ họp ở ngoài nước với các phần tử chống phá quốc gia, mà mục đích là tiến hành lật đổ và đoạt các ngôi vị Tổng Thống hay Bộ Trưởng Kinh Tế. Phản biện ở đây hóa ra là một xảo biện đậy che phản động.

Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam mới bảo vệ được Việt Nam an toàn trước siêu cường Trung Quốc và mới xây dựng được kinh tế Việt Nam phát triển thần kỳ. Phản biện, do đó, có nghĩa là trên nền tảng đất nước Việt Nam phải có trước hết và trên hết sự ổn định về chính trị, chủ nghĩa xã hội được Việt hóa chỉnh chu, được đổi mới theo tiến trình hội nhập toàn cầu, sự đóng góp ‎ý kiến qua các công trình nghiên cứu khoa học công phu giúp chính phủ cộng sản Việt Nam mạnh hơn, chủ nghĩa xã hội Việt Nam ưu việt hơn, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát huy ưu thế hơn, các chính sách của Đảng và Nhà Nước Việt Nam được ủng hộ triệt để hơn.

Phản biện với ý nghĩa chống lại Đảng Cộng Sản, Chính phủ Việt Nam, thể chế hiện nay của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đó dứt khoát là sự xảo trá bẻ cong ngôn từ và phản quốc. Không có Đảng Cộng Sản, Chính phủ Cộng sản, thể chế hiện nay của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đất nước Việt Nam sẽ không bao giờ có thể tồn tại, kéo theo sự sụp đổ hiệu ứng domino của toàn Đông Nam Á.

Mỗi quốc gia trải nghiệm khác nhau trong suốt cuộc hành trình tồn tại của riêng mình. Chỉ có vài điểm chung hoàn toàn giống nhau giữa các dân tộc thí dụ như: cùng nhau không nín thở trọn đời, cùng nhau không uống nước biển trọn đời khi khát, cùng nhau không trọn đời nhai sỏi thay cơm. Kỳ dư, không còn bất kỳ điểm giống nhau nào khác, kể cả trong một tôn giáo (chẳng hạn gia đình thờ Chúa thường muốn con dâu con rể tương lai nếu ngoại đạo phải vào đạo, trong khi gia đình văn minh theo đạo Chúa ở Âu Mỹ thì tuyệt đối tôn trọng tín ngưỡng của người phối ngẫu). Người Việt Nam dùng dao gọt vỏ trái cây từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài; trong khi người Mỹ dùng dao gọt ngược lại, tức từ phải qua trái, từ dưới lên trên, và từ ngoài vào trong. Người Việt sẽ cắt đứt tay nếu làm theo kiểu Mỹ; còn người Mỹ làm vỡ dĩa mẻ bàn gây sát thương người trước mặt nếu làm theo kiểu Việt.

Người Việt chưa hiểu phản biện là gì, còn lầm lạc giữa đóng góp ý kiến với phản biện, và nhất thiết cần hiểu rằng Chính phủ đang luôn sáng suốt xem bảo vệ đất nước là trên hết và rằng sự ổn định chính trị của Việt Nam có giá trị quyết định không những đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế Việt Nam mà còn đối với sự tồn tại của cả khu vực Đông Nam Á.

Người Mỹ luôn phát biểu ý kiến chỏi (không phải phản biện) thoải mái vì chính phủ của họ một mặt chẳng thèm quan tâm đến các phản đối của cá nhân họ, một mặt rất chuyên nghiệp trong đối phó hữu hiệu bất kỳ các phản đối tập thể nào nhằm chống lại thể chế liên bang: đó là đưa quân liên bang (Vệ Quân Quốc Gia) và quân CIA càn quét tiêu diệt như đã xảy ra khi có các phản đối tập thể lập ra các tuyên ngôn ly khai đòi độc lập của “nước” Cộng Hòa Vermont và “nước” Cộng Hòa Texas.

Quyết định 97/2009/QĐ-TTg ngày 24/7/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ quy định các ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước cần được gởi về cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, chính là sự khẳng định chuyên nghiệp rất hàn lâm của Đảng và Nhà nước đối với các phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước; vì rằng

– đã là phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước ắt phải là công trình rõ ràng, lô-gíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm, hình thành từ một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước theo các cách nhìn khác nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của đường lối, chủ trương, chính sách ấy của Đảng, Nhà Nước;

– đã là phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước ắt phải là công trình đáp lại lời kêu gọi của Đảng và Nhà Nước cho một đề tài thật cụ thể do Đảng và Nhà Nước đặt ra; và

– đã là phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước do Đảng và Nhà Nước mời người dân tham gia tư vấn, thì tất nhiên phải gởi về cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền vì đây vừa là sự trân trọng chính đáng của cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền đối với người gởi phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước được Đảng và Nhà Nước chính thức mời trên các phương tiện truyền thông đại chúng trước đó, vừa là cách chứng minh người gởi phản biện thực sự chuyên nghiệp, thực sự có tri thức, thực sự có hiểu biết, thực sự có tinh thần và ‎ý thức trách nhiệm bản thân đối với việc phản biện đúng yêu cầu mà gởi phản biện đúng nơi là một trong những yêu cầu chính quy và chuyên nghiệp ấy.

Việt Nam đã là dân tộc đầu tiên trên thế giới đưa vào thực hiện quy trình phản biện khi các bô lão được Vua Trần Thánh Tông mời tham dự Hội Nghị Diên Hồng. Không phải Vua Việt bó tay không biết phải làm gì nên đùn đẩy trách nhiệm quyết định cho dân già; ngược lại, chính vì đã quyết tâm đánh giặc nên Vua mới tổ chức trọng thể Hội Nghị Diên Hồng như diễn đàn phản biện chính quy để hoàn thiện chiến lược đánh giặc và thắng giặc. Các bô lão không phải bỏ phiếu chọn Hòa hay Chiến, Đánh hay Đàm, nói Yes hay No. Các bô lão phản biện để thống nhất ý chí. Các bô lão không bàn lui vì phản biện không bao giờ là bàn lui, và vì các bô lão không có trình độ và kinh nghiệm quản l‎ý nhà nước hay hoạch định chính sách chiến lược cấp nhà nước. Các bô lão Việt Nam cuối thế kỷ 13 đã phản biện theo đúng tinh thần của giải nghĩa từ ngữ của Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia đầu thế kỷ 21: nghe cho biết, hỏi cho rõ để biết đúng và để ủng hộ cho hiệu quả, còn các nhà lãnh đạo tái kiên định chiến lược hoặc bổ sung chiến thuật qua sự trả lời các câu hỏi.

Góp ý kiến đúng đắn và nghiêm túc là quyền tự do của công dân có năng lực hành vi, thực hiện bằng cách gởi thư trực tiếp cho cơ quan chịu trách nhiệm hay gián tiếp nhờ báo đài chuyển. Ý kiến đóng góp không nhất thiết phải hàn lâm,  đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm nhặt và chuyên nghiệp của phản biện. Góp ý kiến đúng đắn và nghiêm túc không có nghĩa là buộc Đảng và Nhà nước phải thực hiện các góp ý kiến đúng đắn và nghiêm túc đó, với nhận thức rằng 80 triệu người dân khác của Việt Nam cũng đều có quyền góp ý kiến, nghĩa là tối thiểu 80 triệu ý kiến của tối thiểu nửa triệu chùm (category) ý kiến khác nhau. Góp ý kiến đúng đắn và nghiêm túc không có nghĩa không cần có trách nhiệm cá nhân đối với sự an nguy của tổ quốc và thể chế của tổ quốc, vô tâm đặt vấn đề chẳng màng xem bản thân vấn đề có sẽ tạo cơ hội cho kẻ thù của quốc gia. Góp ý kiến đúng đắn và nghiêm túc càng không có nghĩa là cứ thấy bức xúc là nói, đặt giải tỏa cá nhân trọng hơn an nguy cộng đồng.

Còn phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước là quyền tự do của công dân có năng lực hành vi và năng lực chuyên môn khi đáp ứng lời kêu gọi của cơ quan nhà nước cho một chính sách hay dự thảo luật đã soạn xong, với ý nghĩa người dân được mời tham gia cho ý kiến giúp những nhà lãnh đạo xem xét để sử dụng hay không sử dụng các góp ‎ý ấy trong hoàn thiện chính sách hay dự thảo luật trước khi đem ra thảo luận chính thức tại Quốc Hội Việt Nam và ban hành.

Phản trong phản biện chưa bao giờ và sẽ không bao giờ là phản.

Hoàng-Hữu-Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

ScreenShot096

Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên – Hillary Clinton Ư?

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-7-2016

Nhân có cô học trò đọc mấy bài viết vừa qua của tôi thấy tôi than rằng đã không còn bản lưu nhiều bài viết nhiều năm trước do máy vi tính bị hỏng, đã gởi lại cho tôi bài sau, tôi xin lập lại nguyên văn như dưới đây (cuối bài có đăng thêm 5 hình ảnh mới, không có trong bản đăng trước trên emotino.com). Bài này được đăng khoảng đầu năm 2011 lúc Gaddafi vẫn còn tại vị (Mỹ và NATO tấn công Libya tháng 3-2011, giết Gaddafi tháng 10 cùng năm). Không bất kỳ báo chí Âu Mỹ Á Phi nào trên toàn thế giới lúc ấy dám vẽ ra “kịch bản Gaddafi bị sát hại” do Obama đã tuyên bố khẳng định “sẽ không lấy mạng Gaddafi” mà chỉ cùng Anh, Pháp “hỗ trợ phe dân chủ ôn hòa vùng lên nhằm phế truất nhà độc tài Gaddafi, tái lập nền dân chủ tự do, dựng xây đất nước Libya hùng mạnh.”

Hoàng Hữu Phước Luận Về Thế Giới Thời Kỳ Hậu Chó Điên

(Thế Giới Sẽ Ra Sao Nếu Không Còn Gaddafi)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Xu thế hiện nay là…người ta sính dùng từ “xu thế” mỗi khi nói về sự yêu chuộng hòa bình khi có xung đột vũ trang, hiểm họa chiến tranh, hay bùng phát chiến sự, mà quên rằng hòa bình không tự nhiên có, không tuân theo bất kỳ công thức nào để có thể được gọi là “xu thế”, không tự nhiên tồn tại, và nhất là không thể tồn tại vĩnh hằng. Voi, trâu, bò, hươu, nai, hoẵng không xé xác ăn thịt sống của nhau ngay cả khi có sự cạnh tranh thực phẩm xảy ra làm vơi đi nguồn cây lá; song hổ, báo, mãnh sư, và linh cẩu không vì cây cỏ bị ăn tranh vẫn cứ xé thịt cộng đồng động vật ăn cỏ. Tương tự, hòa bình chỉ mang ý nghĩa hạn hẹp hoặc trong tâm tưởng mỗi cá nhân hoặc duy chỉ cho một đất nước nào đó đang không xảy ra nội chiến hoặc xung đột vũ trang với lân bang hay chiến tranh với … viễn bang, chứ không bao giờ có một thế giới hòa bình giữa những con người đang còn sống. Vì vậy, nội dung sau đây về Đại tá Gaddafi (hay Qaddafi hoặc Kadhafi) của Libya, nhân vật thời thượng đang là tâm điểm của báo giới quốc tế cùng lúc với đại họa tsunami và cháy nổ các nhà máy điện nguyên tử ở Nhật Bản, nhằm nêu những nét đặc biệt về Ông mà khó có nhiều người còn nhớ, cùng những nhận định phi-xu-thế của người viết.

Chó Điênlà tên mà Tổng thống Mỹ Reagan đã dùng để gọi con người này :

Libya (6)

Ở đây xin miễn bàn về văn hóa đẳng cấp thấp trong ngôn từ của rất nhiều tổng thống Mỹ như Reagan gọi Gaddafi là “Chó Điên” còn Bush lập đi lập lại “Tao sẽ đá đít thằng Saddam Hussein” khi manh nha cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thậm chí còn du côn khi nói “Tao là Tổng Tư Lịnh, sao lại phải trả lời câu hỏi của mấy người hử! Mọi người mới phải trả lời khi tao hỏi chớ!” khi trở thành vị cựu tổng thống buộc phải ra điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ do đã gây ra hậu quả nghiêm trọng tai hại đến uy danh, uy tín, sức mạnh quân sự và kinh tế Hoa Kỳ sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh ấy), đơn giản vì chính Mỹ cũng bắt đầu không cho kiểu ăn nói dung tục vốn là thói quen của người Mỹ (do khinh thị toàn thiên hạ) còn thích hợp với “Châu Á Đại Gia” mà kinh tế nước Mỹ đang phải cầu cạnh nương nhờ (trong tất cả các game show phát tại Châu Á tất cả những lời chửi tục đều bị chêm ô mờ ngay mồm diễn viên kèm theo một tiếng bip, còn trong phim truyện thì chỉ các vai lưu manh thất học mới được thốt nên từ chửi tục), mà xin nêu vài ý kiến cá nhân thật ngắn gọn ở dạng các ghi chú và phân tích riêng của người viết liên quan đến Đại tá Muammar Gaddafi, qua các mục sau:

A) Gaddafi Ông Là Ai

B) Sự Khôn Ngoan Của Gaddafi

C) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của Gaddafi

D) Sai Lầm Tai Hại Của Mỹ Và Phương Tây Khi Tấn Công Libya

E) Kịch Bản Còn Thiếu Cho Gaddafi

F) Thế Giới Hậu Gaddafi.

A) Gaddafi – Ông Là Ai?

1- Người từ trước đến nay vẫn giữ nguyên cấp Đại Tá trong khi uy quyền có thể tự phong – hay sai khiến quân đội tấn phong –  Đại Tướng.

2- Người mỗi đêm ngủ tại một nơi khác nhau ngay cả vợ Ông cũng không biết nơi chốn, khiến các đội biệt kích tinh nhuệ của Mỹ trong hàng chục năm trời không tài nào ám sát được, kể cả các đội thám báo cũng chỉ có thể cung cấp các vị trí không-có-Gaddafi cho những cuộc không kích đầy tốn kém.

B) Sự Khôn Ngoan Của Gaddafi:

Đưa được tất cả các cường quốc Âu Mỹ vào bẫy qua mưu kế đồng ý giao nộp nhóm tình nghi can phạm gây ra vụ nổ máy bay kinh hoàng trên vùng trời Lockerby (Tô Cách Lan, Anh Quốc), và  bồi thường vài tỷ USD cho gia đình các nạn nhân vụ Lockerby, để thoát nạn cấm vận, được Âu Mỹ chào đón như thượng khách:

Libya (1)

thậm chí có được cả bức ảnh đương kim tổng thống Hoa Kỳ kính cẩn dùng hai tay khi được vinh hạnh bắt tay “Chó Điên”

Libya (8)Libya (7)

để rồi sau đó làm Mỹ và Phương Tây muối mặt khi bắt đầu lên tiếng tuyên bố công kích Mỹ và Tây Phương tại các diễn đàn quốc tế quan trọng.

C) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của Gaddafi:

1- Không tấn công tổng lực ngay từ đầu để tiêu diệt bạo loạn thật dứt khoát và thật nhanh.

2- Cho phép con trai là Saif al-Islam Gaddafi tuyên bố Nicolas Sarkozy lén nhận tiền tài trợ của Libya trong chiến dịch tranh cử tổng thống Pháp năm 2007 và gọi Sarkozy là “thằng hề” nhưng không nhanh chóng trưng ngay bằng chứng tài liệu chuyển ngân.

3- Không tích cực và chủ động lôi kéo người bạn thân là Thủ tướng Ý Berlusconi vào cuộc để trói chặt tay chân Berlusconi ngay từ giây phút đầu tiên.

4- Chính mưu kế đồng ý giao nộp nhóm tình nghi can phạm gây ra vụ nổ máy bay Lockerby, không bảo vệ công dân mình đến cùng, đã là con dao hai lưỡi đã dần xóa hình ảnh Gaddafi vị anh hùng dân tộc khỏi lòng kính trọng của một bộ phận người dân

D) Sai Lầm Tai Hại Của Mỹ Và Phương Tây Khi Tấn Công Libya:

1- Hấp tấp công nhận về mặt pháp lý chính trị phe nổi dậy ở Libya khẳng định Âu Mỹ chỉ biết một điều: ai chiếm được khu vực đang khai thác dầu hỏa của Libya đương nhiên là chính phủ mới của Libya.

2- Nga và Trung Quốc dùng mồm kịch liệt công kích Âu Mỹ khi có việc đệ trình kế hoạch lập vùng cấm bay ở Libya và tấn công quân sự nhằm lật đổ Gaddafi, nhưng Nga và Trung Quốc đã không sử dụng quyền phủ qu‎yết vì ý đồ thâm độc của Nga và Trung Quốc là muốn Âu Mỹ ngoài vũng lầy Afghanistan và Iraq phải sa lầy thêm trong cuộc chiến tranh Libya để Âu Mỹ suy sụp thêm về kinh tế, dẫn đến việc không thể theo đuổi các chương trình quân sự bủa vây Nga, còn Trung Quốc sẽ tự do xâm chiếm Đông Nam Á.

3- Anh Quốc tích cực tấn công Libya nhằm cứu vãn danh dự của đất nước Anh từ yếu hèn thỏa hiệp với Hitler bán đứng Đông Âu để Hoàng Gia Anh được Hitler bảo đảm bình an đến thuận răm rắp làm theo lời Mỹ để trả ơn đã chi viện bảo vệ Hoàng Gia Anh trước Quốc Xã Hitler.

4- Pháp Quốc tích cực tấn công Libya nhằm khoe sức mạnh quân sự của một nước Pháp đã tắt ngúm hào quang cường quốc, đồng thời muốn tỏ vị thế chính trị trên trường quốc tế và không muốn mất phần lợi về dầu hỏa như trong Chiến Tranh Iraq.

5- Mỹ chậm chạp để mong chờ Nga và Trung Quốc dùng quyền phủ quyết, hầu không phải trực tiếp tham gia chiến tranh với Libya, nhưng đã bị sập bẫy nên phải tuyên bố tham chiến bằng không quân mà không có bộ binh.

E) Kịch Bản Còn Thiếu Cho Gaddafi

Người ta đã vẽ nên gần chục kịch bản cho Gaddafi và không ai lấy làm lạ khi nội dung nhiều kịch bản khác nhau này lại có cùng đoạn kết là sự sụp đổ của chế độ Gaddafi. Người viết bài này đã nói cùng vài người bạn cách nay hai tuần về bốn kịch bản khác, đó là

1- Gaddafi có thể tấn công tổng lực tiêu diệt phía bạo loạn đủ nhanh chóng an bài trước khi Mỹ và Phương Tây kịp trở tay;

2- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi sẽ bị tiêu diệt y như nhưng sớm hơn Saddam Hussein;

3- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi vừa tấn công tiêu diệt phe nỗi loạn, vừa khích động “lòng dân” để biến cuộc chiến tranh với Liên Quân Âu Mỹ thành cuộc chiến tiêu hao và lâu dài, biến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc và Tổng Thư K‎ý Liên Hợp Quốc bị thương tổn uy danh, khuấy động binh biến lan rộng Trung Đông và Châu Phi; và

4- Âu Mỹ có thể tấn công Libya do Nga và Trung Quốc không dại gì sử dụng quyền phủ quyết giúp Mỹ tránh tham chiến, và Gaddafi vừa tấn công tiêu diệt phe nổi loạn, vừa khích động “lòng dân” để biến cuộc chiến tranh với Liên Quân Âu Mỹ thành cuộc thánh chiến, dẫn đến tình trạng Âu Mỹ phải đồng ý đàm phán đình chiến, tái lập hòa bình tại Libya, “thực thi dân chủ” tổ chức bầu cử “tự do và công bằng” trong tình thế “phe nổi dậy” do bị tiêu hao lực lượng không thể có thế mạnh lãnh đạo  tân chính phủ, khiến Libya trở thành quốc-gia-Gaddafi-có-Gaddafi-về hưu.

F) Thế Giới Hậu Gaddafi:

1- Sự thiếu khôn ngoan của Âu-Mỹ dẫn đến bị sập bẫy Nga-Trung Quốc tấn công Libya đã cung cấp cho thế giới một phương pháp mới vô cùng hữu hiệu để vô hiệu hóa Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc để áp dụng từ nay cho đến khi Liên Hợp Quốc cáo chung và bị thay thế bằng một tổ chức quốc tế khác – như lịch sử đã từng thay Hội Quốc Liên thành Liên Hợp Quốc – đó là: từ nay bất kỳ quốc gia nào có các cuộc nổi dậy, nhà cầm quyền quốc gia đó sẽ sử dụng toàn bộ binh lực thần tốc tiêu diệt ngay lập tức, không để Liên Hợp Quốc kịp có bất kỳ nghị quyết nào và không bất kỳ thế lực quân sự nước lớn nào và nước theo đóm ăn tàn nào kịp điều binh can thiệp hay bàn bạc cho việc lập “vùng cấm bay”.

2- Sự đàn áp các cuộc bạo loạn từ nay sẽ diễn ra dứt khoát hơn, tàn bạo hơn tại các nước Trung Đông và Châu Phi hầu tránh việc kéo dài dẫn can thiệp quân sự từ Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.

3- Nước Mỹ suy tàn, bắt đầu từ thái độ ngay trước chiến tranh Libya: cầu mong Nga và/hay Trung Quốc sử dụng quyền phủ quyết, khi chẳng được như ý thì vừa tiến hành không kích, vừa lập đi lập lại rằng sẽ nhanh chóng trong vài ngày chuyển quyền điều phối cho Anh hay Pháp, và rằng sẽ không sử dụng lục quân, sẽ không sát hại Gaddafi, sẽ tuân thủ nghị quyết Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, v.v., khiến cả thế giới – nhất là thế giới Hồi Giáo – nhận ra ngay là Hoa Kỳ đã biến đổi từ một siêu cường quân sự thao túng thế giới thành một quốc gia dễ bị tổn thương và dễ bị cho vào rọ đễ bị thao túng, từ đó kích thích sự trỗi dậy của tất cả các thế lực chống Mỹ, trong đó có cả các nhóm khủng bố quốc tế.

4- Từ sự suy tàn của Mỹ như nêu trên đến việc kiếm tìm hư danh của Anh và Pháp khi tung quân – tức tài lực ngân khố quốc gia – vào cuộc tấn công Gaddafi, sẽ là sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bành trướng lãnh thổ bằng quân sự khiến phần còn lại của thế giới sớm đối mặt với sự đe dọa từ Trung Quốc.

5- Số lượng quốc gia sẽ gia tăng đáng kể một cách cơ học, cụ thể là có sự xuất hiện của các “tân quốc gia” từ những vết thương quá khứ của những lần vùng lên đòi độc lập hay ly khai chẳng hạn của Xứ Basque, Tô Cách Lan và nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ vốn đã luôn bị dìm trong biển máu, nay sẽ nương theo “xu thế” thiểu-số-nổi-loạn-được-Liên-Hợp-Quốc-hậu-thuẫn-ngay của loạn quân Libya để thành một “tân xu thế” khi vùng lên xé nhỏ Tây Ban Nha, cắt khoanh Hoa Kỳ, hất tung Tô Cách Lan và Bắc Ái Nhĩ Lan khỏi cái tên ngạo nghễ Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan.

 

Gaddafi, vị phúc tinh đang ban cho Trung Quốc cơ hội quý hơn kim cương trở thành Chủ Tể Nhân Loại.

Gaddafi, chất xúc tác kỳ bí của Thượng Đế để thúc đẩy sự lộ diện hèn yếu suy tàn của những đầu óc thiếu thông minh của Mỹ, Anh, và Pháp, dẫn đến Đệ Tam Thế Chiến, một thế chiến kỳ quái không phải giữa hai bên rõ nét như Khối Trục đối với phần còn lại của thế giới, mà là một Thế Chiến mới giống như võ đài đô vật đánh hội đồng kiểu Mỹ với nhiều chục võ sĩ thượng đài cùng lúc đánh nhau tán loạn từng cặp, khi chiến tranh xảy ra khắp nơi một cách riêng biệt. Thế giới tối đen không vì tro núi lửa của Ngày Tận Thế hay do bùng bức xạ từ vụ va đập thiên thạch, mà vì khói từ hàng tỷ họng súng tiểu liên và những đám cháy của lốp xe.

Các hình ảnh bổ sung cho kỳ đăng lại năm 2016 này:

 Libya (5)Libya (4)LibyaLibya (3)Libya (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi và Saddam Hussein

Tứ Trụ Bắc Việt

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Quả Thôi Sơn: Nghịch Chiến Song Kỳ

Đệ Tam Thập Thất Kế – Phần 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-7-2016

Phan2

I) Thế Nào Là “Quái Vật” – Giải Thích Từ Ngũ

Tương tự như “Chó Điên” là tên do chính Mỹ và Anh dùng để gọi sau lưng Gaddafi, “Quái Vật” là tên do Mỹ chắc chắn đã luôn dùng để gọi những ai do Mỹ dựng nên trong Kế 37 qua sự thể rằng chỉ có những kẻ được Mỹ dựng nên mới là những “Chó Điên” và “Quái Vật” (a) cực kỳ tàn bạo với chính dân của chúng một cách vô lý để bảo vệ quyền lợi của Mỹ, (b) trở nên bất trị đối với Mỹ, và (c) Mỹ đã phải ra tay trừ diệt.

Trong phần giải thích “a” ở trên, sự “tàn bạo” khủng khiếp của Stalin là có thể chấp nhận được vì Stalin (a) không do Mỹ dựng nên, (b) không phục vụ lợi ích của Mỹ, (c) buộc phải sắt máu để bảo vệ được đất nước và dân tộc trong Đệ Nhị Thế Chiến vốn không hề “có cửa’ cho bất kỳ một cố ý lệch tâm lệch hướng lêch đường của bất kỳ kẻ phản quốc nào dưới mặt nạ tự do dân chủ nhân quyền, (d) đã chứng minh chiến thắng tuyệt đối cuối cùng để xây dựng nên siêu cường Liên Xô tồn tại trong nhiều thập kỷ sau đó mà sức mạnh thế lực còn duy trì đến tận ngày nay, và (e) cũng đã chứng minh Âu Mỹ luôn tìm cách tiêu diệt Nga bất kể Nga theo thể chế chính trị nào. Do đó, sự độc tài tàn bạo của Stalin Liên Xô đối với kẻ thù của đất nước Liên Xô hay của chế độ Cộng sản Xô Viết hay của đất nước Nga đều phục vụ cho một sự chính danh và khôn ngoan do đó không dẫn đến việc sử dụng tên gọi “Quái Vật” cho nhân vật vĩ đại này, dù toàn bộ hệ thống truyền thông Âu Mỹ cùng bọn nô gia tay sai Âu Mỹ tại Châu Á đặc biệt tại tất cả các quốc gia nhược tiểu luôn ra rả để làm vui lòng Âu Mỹ về sự tàn ác tàn độc tàn nhẫn của nhà độc tài Joseph Stalin, người đã dựng xây nên Liên Xô vĩ đại làm nền tảng cho siêu cường nguyên tử Nga của thời hiện đại.

Phan2 (15)

Trong khi đó, sự độc tài tàn bạo của Francisco Franco, tên bạo chúa ở Tây Ban Nha dưới sự hậu thuẫn của Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý, với sự chống Cộng điên cuồng của y từng sát hại gần nửa triệu dân Tây Ban Nha “thân Cộng” tại gần 200 trại tập trung chính y xây dựng tại Tây Ban Nha, lại dẫn đến việc y được “mời” gia nhập Liên Hợp Quốc để thành một trong những nhà lãnh đạo thế giới chống Cộng hàng đầu thời Chiến Tranh Lạnh, đưa Tây Ban Nha vào chiếc ô bảo vệ của khối Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (tức Khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO) để tiếp tục cai trị bạo tàn cho đến khi qua đời 7 tháng sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị tiêu diệt, cũng được Mỹ và NATO chấp nhận đầy tự hào nên cũng sẽ không bao giờ bị gọi là tên “Quái Vật”, cũng như luôn được hòa âm điền dã bởi toàn bộ hệ thống truyền thông Âu Mỹ cùng bọn nô gia tay sai Âu Mỹ tại Châu Á đặc biệt tại tất cả các quốc gia nhược tiểu do khiếp sợ Âu Mỹ đã luôn không bao giờ dám nói gì về sự tàn ác tàn độc tàn nhẫn của nhà độc tài “Quái Vật” Francisco Franco, người xây dựng nên đất nước Tây Ban Nha mà nếu không có mấy con bò tót thỉnh thoảng húc tiêu mấy ngưu-sát-sĩ matador và tay vợt tennis ỏn ẻn hà-tiện-thà-mất-ngôi-hạng-nhất-chứ-quyết-không-bỏ-một-xu-thuê-huấn-luyện-viên-ngoài-gia-đình Rafael Nadal thì chẳng ai biết xứ sở ấy ở đâu trên bản đồ địa chính trị thế giới.

Phan2 (14)

II) Đối Nghịch Song Kỳ

A- Sự Cáo Chung Của Kế Thứ 37

Trong phần số 1 của Đệ Tam Thập Thất Kế, để chống lại 4 cột trụ Bắc Việt, trong Thế kỷ XX Mỹ đã phải huy động 7 cột trụ để có thể đứng lên trên đó mà chiến đấu chống Bắc Việt và đã chiến bại.

Để đánh giá lại Kế Thứ 37 ấy, bản tóm tắt sau về công thức chung của Kế Thứ 37 bao gồm:

1) Mỹ sẽ tạo nên tại một quốc gia chư hầu một Quái Vật A theo Phương Án A để đạt chiến thắng.

Phan2 (13)

2) Trường hợp Quái Vật A kém cỏi hoặc bắt đầu dở chứng hoặc cần phải thí để bảo toàn thanh danh của Mỹ, Mỹ sẽ áp dụng Phương Án B bằng cách đưa Quái Vật B có đẳng cấp “quái” hơn Quái Vật A những 37 lần để triệt Quái Vật A, và cũng nhằm đạt được chiến thắng, như trường hợp cho phép “Quái Vật Dự Phòng” đảo chánh giết chết “Quái Vật” Ngô Đình Diệm.

Phan2 (12)

Các phương án như nêu trên đã phát huy tác dụng tại các nước đồng minh (tiếng bình dân gọi là “chư hầu”) của Mỹ tại Đông Nam Á và Đông Bắc Á, trừ ở Nam Việt thì Mỹ đại bại cả nghĩa đen và nghĩa bóng khi Mỹ phải lần đầu tiên Mỹ phải tháo chạy nhục nhã theo tối hậu thư do Bắc Việt ném vào mặt và trong thời gian khẩn cấp do Bắc Việt ấn định, còn Nam Việt thì vĩnh viễn biến mất trên bản đồ thế giới.

3) Tuy nhiên, biến cố mà báo chí Âu Mỹ gọi là “Sài Gòn Thất Thủ” đã cung cấp cho các khu vực khác trên thế giới những kinh nghiệm khiến những Quái Vật A do Mỹ tạo nên đã biến hóa thành những Siêu Quái Vật tiêu diệt tất cả các Quái Vật “nằm vùng” khác khiến tất cả các phương án dự phòng khác của Mỹ bị triệt tiêu làm Mỹ không thể áp dụng “biện pháp thay thế” bất kỳ. Và chính những Siêu Quái Vật này đã quay sang gây họa trực tiếp cho Hoa Kỳ, như trường hợp của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi.

Phan2 (11)

mà hậu quả là chính Mỹ phải cho ra một phương án “hậu 37” hoàn toàn bất lợi cho Mỹ, đó là từ vi trí bảo đảm luôn đứng hậu (sau lưng) để ủng hộ Quái Vật mà mình tạo ra, Mỹ đích thân ra tay tiêu diệt nó từ phía hậu (sau lưng) hoặc phía trước ngay trục của phía sau:

Phan2 (10)

Tuy nhiên, tình hình thế giới hiện nay cho thấy các Siêu Quái Vật lại biết rút kinh nghiệm từ số phận của Saddam Hussein và Muammar Gaddafi để thay vì tiêu diệt các thế lực “dự phòng” lại dang rộng tay dung dưỡng các Quái Vật công khai hợp lực bủa vây gây họa cho Mỹ và Âu Tây, như Thổ Nhĩ Kỳ dung dưỡng các tổ chức Hồi Giáo tương đương IS

Phan2 (3)

mà thí dụ rõ ràng nhất là Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ vung quả đấm thép vào Barrack Obama của Hoa Kỳ, tạo nên Nghịch Chiến Song Kỳ của 2016

Phan2 (2)

B- Quả Đấm Của Thổ Nhĩ Kỳ Đối Với Hoa Kỳ: Nghịch Chiến Song Kỳ

Quả đấm của Thổ Nhĩ Kỳ dành cho Hoa Kỳ để trừng trị Hoa Kỳ tội đã bật đèn xanh kích hoạt cuộc chính biến vừa qua ở Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm 9 đòn của

1) yêu cầu Mỹ dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen đang tỵ nạn chính trị tại Mỹ về Thổ Nhĩ Kỳ;

2) tuyên bố Hoa Kỳ không phải là bạn của Thổ Nhĩ Kỳ;

3) tiếp nhận cuộc gọi sẻ chia an ủi của Tổng Thống Nga Vladimir Putin để hẹn cuộc gặp sớm nhất có thể được giữa hai nguyên thủ;

4) thách thức NATO khi mạnh tay dụng nhục hình với và đe dọa tử hình các tướng lĩnh Thổ Nhĩ Kỳ vốn hình thành lực lượng chung sức lãnh đạo các quân đoàn NATO, đặt NATO vào tình thế sẽ có một lực lượng các tướng lĩnh mới của Thổ Nhĩ Kỳ trung thành với Erdogan và thân thiện với Nga;

5) đặt NATO vào bẫy rập do Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên NATO nhưng từ nay đơn phương giao kết với Nga là đối trọng mà NATO đang ra sức áp sát toàn tuyến biên giới phía Đông;

6- làm bỉ mặt EU với hành vi sẵn sàng chà đạp nguyên tắc cốt lõi “tự do – dân chủ – nhân quyền” của EU với tuyên bố Thổ Nhĩ Kỳ sẽ xem xét tái lập án tử hình để trừng trị tất cả những ai cầm đầu cuộc đảo chính vừa qua;

7- chứng minh cho EU biết EU đang nằm trong quyền sinh sát của Erdogan;

8- có thể làm phá sản toàn bộ các nổ lực của Mỹ và NATO trong việc lật đổ Bashar al-Assad của Syria; và

9- làm nhục Mỹ công khai khi ngưng cho Mỹ sử dụng căn cứ không quân hạt nhân Incirlik, khiến vô hiệu hóa không những lực lượng không quân tham gia đảo chính mà còn chặn đứng  lực lượng không quân Mỹ tham gia tấn công IS.

Mỹ đã lúng túng trước sự thất bại của cuộc đảo chính, như thể hiện ở chố nhanh nhảu lên tiếng không dự phần, nhanh chóng thanh minh với Erdogan, từ tốn nói sẽ dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen nếu Thổ Nhĩ Kỳ có đủ bằng chứng về sự xách động của giáo sĩ này đối với cuộc đảo chính, và nhẹ nhàng khuyên Thổ Nhĩ Kỳ hãy vì đại cuộc chống IS mà cho Mỹ sử dụng căn cứ Incirlik.

C- 4 Nhận Xét Của Lăng Tần

1) Dân Thổ Nhĩ Kỳ khôn ngoan, không để bị sập bẫy tự do dân chủ nhân quyền của Mỹ để chống lại Erdogan, nhờ chứng kiến sự ngu muội của người dân các nước khác đã phạm phải khi nghe sự rù quến của Mỹ vùng lên triệt hạ những Quái Vật và Siêu Quái Vật do Mỹ dựng nên để rồi quốc gia suy vong suy kiệt suy tàn.

2) Erdogan khôn ngoan, biết dựa thế Mỹ và NATO để trở thành Siêu Quái Vật, kết hợp với các Quái Vật khác để vô hiệu hóa mọi can thiệp thay ngựa giữa giòng của Mỹ, bắn hạ siêu chiến đấu cơ của Nga làm Mỹ lúng túng đồng thời sử dụng làn sóng di cư để đầy EU vào hỗn loạn để ép buộc EU không được câu giờ trong kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU tiến đến tiêu diệt EU, và khi chậm được đáp ứng lại nhanh chóng quay sang xin lỗi Nga để từ đó được Nga hỗ trợ ra tay củng cố quyền lực, ra tay tiêu diệt đảo chính.

3) Cuộc đảo chính vừa xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ 1.000% là do Mỹ đã bật đèn xanh theo bài bản  áp dụng Kế Thứ 37. Vĩnh viễn không bao giờ có việc cuộc đảo chính xảy ra tại một nước có sự hiện diện của Đại Sứ Quan Mỹ – đặc biệt là sự có mặt của các cố vấn quân sự Mỹ hoặc quân đội Mỹ hoặc căn cứ quân sự Mỹ hoặc sự tham chiến của Mỹ – lại không được sự cho phép của Mỹ hoặc nằm ngoài sự nắm tình hình của thông tin tình báo tại chỗ của Mỹ hoặc là sự cố làm Mỹ ngạc nhiên bất ngờ.

4) Nếu như Ngô Đình Diệm và những tên tương cận là Monster thì Saddam Hussein cùng Muammar Gaddafi là những Super Monster mà Mỹ phải đích thân ra tay mới diệt được, còn Taliban/Al-Qaeda/IS là những Super Monster “lũy thừa 37” vượt ngoài tầm hủy diệt của Mỹ, trong khi Erdogan đã trở thành một thứ Super Monster “lũy thừa 9999” có thể cùng lúc hủy diệt cả EU, NATO, và USA.

D- 8 Nội Dung Tư Vấn Của Lăng Tần Dành Cho Recep Tayyip Erdogan

1) Cứng rắn buộc Mỹ phải dẫn độ giáo sĩ Fethullah Gulen đang tỵ nạn chính trị tại Mỹ về Thổ Nhĩ Kỳ vì theo Kế Thứ 37 chính y là thế lực dự phòng để gây bất ổn cho Thổ Nhĩ Kỳ nhằm lật đổ Erdogan trường hợp Erdogan vượt tầm kiểm soát của Hoa Kỳ.

2) Cứng rắn tái lập án tử hình, đừng để sập bẫy EU vì EU hàng chục năm nay vẫn chưa chịu kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ vào EU, nay lại lấy EU ra dẫn dụ để Erdogan không xử tử các tướng lĩnh và sĩ quan tham gia đảo chính. Mỹ và EU muốn cứu mạng những kẻ đã nghe lịnh Mỹ và NATO tổ chức lật đổ Erdogan. Erdogan nhất thiết phải áp dụng án tử hình để loại trừ hậu hoạn, đồng thời răn đe sự nhen nhóm tương tự trong tương lai, cũng như dạy Mỹ và NATO một bài học.

3) Nhanh chóng nắm bắt dựng xây liên kết với Nga vì lý do cực kỳ đơn giản: khi Quái Vật do Mỹ hậu thuẫn trở thành Siêu Quái Vật thì Mỹ dứt khoát phải tiêu diệt bằng cách sử dụng các Quái Vật dự phòng khác. Đây là bài học kinh nghiệm giản đơn từ vụ Ngô Đình Diệm: đã nghịch với Mỹ thì dứt khoát phải có ngay lập tức một thế lực khác để nương tựa. Ngô Đình Diệm chõi lại Mỹ nhưng lại chống Cộng nên là một tên đại ngu.

4) Nhanh chóng tích cực để yên cho Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria được tồn tại vì một bài học kinh nghiệm giản đơn từ vụ Saddam Hussein và Muammar Gaddafi là những nhà độc tài đã tiêu diệt tất cả các Quái Vật dự phòng của Mỹ để cuối cùng Mỹ đích thân ra tay diệt gọn. Để Bashar al-Assad tồn tại nghĩa là khiến Mỹ và NATO phải lưỡng đầu thọ địch. Đừng bao giờ trở thành thế lực cứng đầu duy nhất, tạo điều kiện cho Mỹ và NATO dễ dàng bẻ gảy.

5) Nhanh chóng tích cực để yên cho Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria được tồn tại vì một bài học kinh nghiệm giản đơn: nhất thiết phải cùng nhau làm phá sản tất cả các manh nha cho các cuộc “cách mạng màu” như Mỹ và EU ủng hộ xúi dục tài trợ tại khu vực Châu Phi và Trung Đông cũng như ở Ukraine.

6) Cần nhận thức rõ ràng một điều minh bạch rằng: người dân đã ủng hộ Erdogan và chống đảo chính không những vì Erdogan vừa chính thức xin lỗi Nga, mở ra triển vọng tốt đẹp hơn về kinh doanh tiếp tục thu siêu lợi nhuận từ Nga, mà còn vì họ đã quá rõ từ các bài học của Thế Giới Sử rằng bất kỳ sự lật đổ nào đối với một nhà độc tài do Mỹ hậu thuẫn để đưa lên một nhà độc tài khác cũng do Mỹ hậu thuẫn thì người sau luôn tồi tệ hơn người trước, còn đất nước sẽ chắc chắn điêu linh. Do đó, Erdogan nhất thiết phải chụp lấy cơ hội này để thiết lập ngay cùng lúc 4 việc gồm

a- điểm c nêu trên – tức liên kết với Nga

b- áp dụng hình luật sắt, bảo đảm tiêu diệt tất cả các “lực lượng kế thừa” của Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ hoặc đang do Mỹ chứa chấp

c- phải để cho một nhà độc tài khác của nước khác tồn tại như trường hợp phần d nêu trên của Bashar al-Assad và

d- phải ủng hộ sự song hành tồn tại của Iran để tạo thế chân vạc vững bền Turkey-Iran-Syria tại khu vực.

7) Cuối cùng, việc EU dấy lên vấn đề cuộc đảo chính rất có thể do Erdogan đạo diễn, chính là cách hoặc EU cùng Mỹ vừa ăn cướp vừa la làng để né tội, hoặc đó là do những nhà bình luận lạm dụng “thuyết âm mưu” mà giá trị chẳng đáng một xu teeng (a dime a dozen) để bôi nhọ Erdogan, tạo dư luận hồ nghi trên thế giới, lại nên là động lực cho Erdogan xiết chặt và trừng trị truyền thông Âu Mỹ hiệu quả hơn.

8) Tóm lại, nếu Mỹ đã ngu dại ghi vào Hiến Pháp của họ quyền tự do sở hữu vũ khí sát thương, thì EU đã ngu xuẩn giương cao ngọn cờ tự do – dân chủ – nhân quyền – thiên chúa để hủy bỏ án tử hình; nhờ vậy dựa vào sự ra tay của Mỹ và NATO phá tan nát hạ tầng giềng mối dân sinh của khu vực, các chiến binh Hồi Giáo ngập tràn lòng căm thù báo oán đã hăng hái đổ bộ vào EU để ra tay tàn phá EU với niềm tin vững chắc là sẽ sống còn trọn đời trong tù ngục sang trọng tiện nghi nếu không bị bắn hạ lúc đấu súng với cảnh sát EU. Erdogan nên tận dụng thời cơ này để một mặt tái lập án tử hình tại Thổ Nhĩ Kỳ để dạy cho phần còn lại của thế giới nhược tiểu biết thế nào là kỷ cương, thế nào là bã tự do – dân chủ – nhân quyền – nhân đạo – thiên chúa, đồng thời thả cho rừng chiến binh Hồi Giáo mặc sức tràn ngập EU mở rộng bờ cõi Hồi Giáo lên nửa diện tích địa cầu.

III) Tứ Trụ Chống Nga

 Phan2 (1)

Khi thấy tư tưởng cộng sản chủ nghĩa hấp dẫn thế giới Hồi giáo Trung Đông và Phi Châu, Mỹ đã lập một vành đai ngăn chặn vừa bao vây Liên Xô (nay là Nga) vừa gây xung đột khu vực để làm thế giới Hồi Giáo chống phá nhau không còn quan tâm đến chủ nghĩa cộng sản. Kế thứ 37 đã khiến Mỹ dung dưỡng một số nhà độc tài để khống chế khu vực, chẳng hạn như Iraq nhận được sự ủng hộ về tài chính và vũ khí của Mỹ để gây hấn với Iran. Đến khi khu vực đã trở thành một mớ hỗn độn chìm đắm trong các xung đột vũ trang đúng theo ý muốn của Mỹ và NATO, Mỹ và NATO sẵn sàng ra tay triệt tiêu các Super Monster nào không còn ích lợi hoặc có manh nha chống đối. Saddam Hussein của Iraq và Muammar Gaddafi của Libya lần lượt chịu chung số phận.

Cái sai của Mỹ và NATO là ở chỗ đã quên rằng các chỉ có các Super Monster mới khống chế dìm đầu các Monster, nghĩa là chỉ có Saddam Hussein và Muammar Gaddafi mới tiêu diệt, khống chế được khủng bố mà thôi. Chính sự yên tâm rằng chỉ còn lại các Monster rất dễ bị tiêu diệt đã khiến Mỹ cùng thế giới thân Mỹ trở nên yếu ớt hơn bao giờ hết, phơi mình trước các sự tấn công tàn khốc đầy nhục nhã. Một ví von đơn giản có thể dễ được hiểu hơn: một mình đánh nhau trên một võ đài với võ sĩ quyền anh vô địch hạng nặng thế giới Mike Tyson rất khó khăn để chiến thắng anh ta, còn một mình đánh nhau cùng lúc với nhiều chục ngàn chiến binh Hồi giáo ở khắp các hang cùng ngõ hẻm sử dụng vũ khí sát thương thì lại là một việc bất khả chiến thắng.

Cái sai của Nga là đã yên lặng để Saddam Hussein cùng Muammar Gaddafi bị Mỹ và NATO tiêu diệt, với suy nghĩ quá đơn giản rằng dù các Super Monster do Mỹ tạo ra này đã có thiện cảm với Nga, thì họ vẫn là thứ vũ khí hủy diệt của Mỹ, hoặc sự thân mật với Nga rất có thể chỉ để làm yêu sách thêm với Mỹ, hoặc có khi các Super Monster này chỉ đơn giản bốc đồng muốn lôi kéo Nga vào cuộc choảng nhau với Mỹ. Lẽ ra Nga đã nên dùng quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc hoặc ưu thế quân sự đối trọng với NATO để ngăn chặn các cuộc tấn công Iraq và Libya của liên quân do Mỹ đứng đầu, vì nhờ đó mà duy trì sự đối nghịch giữa Mỹ và các Super Monster do Mỹ tạo dựng nên, lợi dụng sự đối nghịch ấy, và lẽ ra đã có thể tránh cho nhân loại thảm họa khủng bố của ngày nay vốn sẽ không bao giờ còn có thể chế ngự được nữa.

IV) Nhân Tố Bí Ẩn

A- Thành Công Trong Chống Mỹ và NATO:

Ngoài việc Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ mà cuộc đảo chánh vừa qua chỉ làm Ông chính thức trở thành một đẳng cấp cao hàng ngàn lần so với một Super Monster nay ra mặt hù dọa cả EU như bức biếm họa bìa của tạp chí dưới đây cho thấy Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã trở nên e sợ thế nào trước đòn thị uy của Erdogen sau khi ông ta bị đâm sau lưng bằng chiếc tàu bay giấy (tương đương cuộc đảo chính thất bại của không quân vô dụng bị Mỹ và EU giật dây):

Phan2 (8)

thì thế giới vẫn không vì thế mà quên rằng sự tồn tại của Bashar al-Assad của Syria mới chính là minh chứng cho sự thất bại của Mỹ và NATO. Chính sự giúp đỡ tích cực của Nga – từ kinh nghiệm tiêu cực của sự bình chân như vại không tận tình giúp đỡ Saddam Hussein và Muammar Gaddafi – đã duy trì chính quyền Bashar al-Assad để làm thành trì chống IS, đặt Mỹ và NATO vào tình thế không thể không tham gia chống IS.

Phan2 (9)

Không có Bashar al-Assad, khủng bố sẽ tiêu diệt Hoa Kỳ cùng EU, dù Bashar al-Assad không là Monster do Mỹ dựng nên cũng như không biến thành Super Monster, mà chỉ đơn giản vì nếu còn Bashar al-Assad thì mới có sự dấn thân cứu nguy chống IS của Nga, từ đó buộc Mỹ và NATO cũng phải tham gia diệt IS.

Nguy cơ IS tuyệt diệt nhân loại chỉ có thể được loại trừ nếu Bashar al-Assad còn tại vị và khi Recep Tayyip Erdogan đồng ý ủng hộ Bashar al-Assad cùng Iran được tồn tại theo cách của chính Erdogan mà không là cách của Mỹ cùng NATO.

Phan2 (7)

B- Tuyệt Diệt Mỹ và NATO:

Ngoài sự biến thể của Super Monster trở thành Invincible Monster không thể bị đánh bại – như trường hợp của Erdogan đang trở thành kẻ dọa nạt Mỹ và EU – còn có một nhân tố bí mật sẽ đưa Mỹ cùng EU đến bờ tuyệt diệt đó là chế độ Tân Quốc Xã mà Mỹ cùng NATO và EU hậu thuẫn ở Ukraine.

Muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Nga, Mỹ và EU đã đòi hỏi phải có một cuộc bầu cử dân chủ minh bạch tại Ukraine dưới sự giám sát trực tiếp của Mỹ và EU đối với bầu cử, bỏ phiếu và kiểm phiếu. Kết quả là Tổng Thống Viktor Yanukovych chính thức nắm quyền.

Phan2 (6)

Nhưng ngay khi Viktor Yanukovych không chống Nga, Mỹ và EU cùng NATO giật dây cho cuộc cách mạng màu lật đổ chế độ Viktor Yanukovych mà trước đó đã thực sự do dân bầu lên bằng một cuộc bầu cử có sự giám sát của EU cũng như được EU công nhận kết quả bầu cử hoàn toàn tự do dân chủ. Mọi cáo buộc, bôi nhọ rằng Viktor Yanukovych tham nhũng, ăn cướp công quỹ, sống đời trụy lạc xa hoa, ăn nói quàng xiên, v.v., được toàn hệ thống Mỹ và EU loan truyền, hoặc diễu cợt rằng Tổng Thống Viktor Yanukovych của Ukraine và Tổng Thống Alexander Lukashenko của Belarus là “đàn con” của Tổng Thống “độc tài phát-xít” Nga Vladimir Putin đã xuất hiện nơi nơi ngay cả trên ấn bản tiếng Nga của tạp chí The Economist để chứng minh sức mạnh của truyền thông tư bản hoàn toàn dễ dàng xô ngã bất kỳ một chính quyền hợp pháp hợp hiến hợp lòng dân nào dám đi ngược lại ý chí của Mỹ và EU

Phan2 (4)

Trong khi cuộc “biểu tình Maidan” được dàn dựng đầy khủng khoảng và khủng bố khiến Viktor Yanukovych phải tỵ nạn tại Nga, còn Mỹ và NATO chấp nhận sự lên ngôi của bọn Tân Quốc Xã Petro Poroshenko

Phan2 (5)

mặc cho sự thật quái dị là chính đám Tân Quốc Xã này ngay trước đó từng khét tiếng với các chiêu trò chống EU, chống Mỹ, và chống nhân loại. Để rồi sự điên rồ của bọn Poroshenko trong chính sách bài Nga triệt để hầu làm vừa lòng “bố mẹ” Mỹ và NATO đã làm bán đảo chiến lược Crimea cực kỳ quan trọng mà NATO thèm thuồng tự dưng rơi vào tay Nga mà không tốn một viên đạn kể cả của súng lục; còn mới đây các phóng viên truyền hình Pháp lại cho ra bộ phim tài liệu của “người trong cuộc” khẳng định rằng “biểu tình cách mạng Maidan” chỉ là sự dàn dựng, rằng tất cả chính phủ Poroshenko đều là Tân Quốc Xã, rằng dân chúng đã bị thảm sát không bởi vị tổng thống dân cử hợp pháp Yanukovych bị Mỹ và EU lật đổ mà chính bởi vị Tổng Thống Tân Quốc Xã do Mỹ hậu thuẫn Poroshenko.

C- Cải Số Trời: 8 Lời Khuyên Của Lăng Tần Dành Cho Mỹ và EU:

1- Mỹ + NATO + EU hãy chấp nhận sự đồng tồn tại với Nga. Lý do đơn giản: (a) khuyết một cột trụ chống trời chỉ dẫn đến nghiêng lệch và đổ sập của bầu trời, và (b) không bao giờ tiêu diệt được Nga.

2- EU hãy mô phỏng luật pháp hà khắc của Hoa Kỳ bằng cách tái lập ngay lập tức án tử hình cũng như gia tăng phạm vi phạm tội chịu sự điều chỉnh của án tử hình. Lý do đơn giản: (a) bỏ án tử hình chỉ là thứ màu mè đậy che cái lịch sử tàn bạo tham tàn khủng bố ghê tởm của Đức Quốc Xã, Phât-xít Ý, Chuyên chế Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha – Hà Lan, Thực dân Pháp và Đế Quốc Anh đã gây ra cho nhân loại tại Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh; và (b) bỏ án tử hình chỉ dẫn đến hậu quả là tạo ra chính xiềng xích tự trói mình trước làn sóng thâm nhập báo thù rửa oán của khủng bố.

3- Mỹ+EU hãy ngay lập tức STOP rao giảng về những cái gọi là giá trị tự do – dân chủ – nhân quyền đầy thiu thối, vô khả dụng, bất khả thi đối với sự sinh tồn của chính EU, vì nó (a) chỉ đem lại thứ bùa mê thuốc lú cho các nước nhược tiểu yếu bóng vía và cực kỳ lạc hậu tự động rời xa mãi mãi nẽo tiến vững chắc đến văn minh, và (b) bản thân nó bị vô hiệu hóa bởi chính Hoa Kỳ do Mỹ không là quốc gia đang có tự do – dân chủ – nhân quyền.

4- Mỹ + NATO + EU hãy để yên cho Bashar al-Assad và Syria vì chỉ có việc STOP can thiệp vào Syria nhằm lật đổ Bashar al-Assad mới STOP được việc di cư tỵ nạn ồ ạt của dân Syria vào EU đe dọa sự tồn tại của EU.

5- Mỹ + EU hãy STOP áp dụng Kế Thứ 37 vì đó là thứ hạ sách. Hãy nhớ công thức thuần túy tiếng Anh của Out-Langtan Langtan nghĩa là nhân vật đến sau sẽ y hệt và vượt quá nhân vật trước đó, nghĩa là nếu Mỹ + EU dựng nên những con Quái Vật thì thứ thay thế nó sẽ tàn bạo bất trị hơn thứ mà nó được dùng để thay thế. Quái Vật Ngô Đình Diệm ngu xuẩn. Quái Vật Saddam Hussein tinh ranh làm chao đảo Hoa Kỳ. Và Quái Vật Reccep Tayyip Erdogan dọa nạt đạp đầu Mỹ Quốc.

6- Mỹ và NATO hãy để yên Iran, đơn giản vì việc chống Iran chỉ thuần túy dựa trên một lý do duy nhất là bảo vệ Israel, còn lý do phát triển vũ khí hạt nhân của Iran chỉ là lý do gạt người ngu muội cùng trẻ nít.

7- Mỹ và EU hãy biết phân biệt chính – phụ để từ đó xác định (a) Trung Quốc là mối hiểm nguy của nhân loại, và (b) Nga là mối hiểm nguy của riêng Mỹ+EU. Trung Quốc mới là chính, Nga chỉ là phụ. Tấn công cả Nga và Trung Quốc nghĩa là gia tăng sức mạnh bất khả chiến bại của tổ hợp Nga+Trung Quốc.

8- Cuối cùng, Mỹ và EU hãy STOP tất cả các hỗ trợ dành cho Ukraine vì chính Ukraine (a) làm mất “chính nghĩa” của Mỹ và EU, (b) sống bám hoàn toàn vào Mỹ và EU, (c) chính sự cưu mang Hy Lạp cùng các nước yếu kém trong EU đã làm dân tình EU tan rả dấn đến các trào lưu “exit” nên sự cưu mang một chính quyền Ukraine rõ mười mươi bọn Tân Phát Xít điên cuồng sẽ lại nhanh chóng làm rả tan EU, tiến đến sự sụp đổ của NATO, và làm chao đảo vị thế của Hoa Kỳ trên trường quốc tế.

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết cùng chủ đề Thổ Nhĩ Kỳ:

Trò Hèn Của Thổ Nhĩ Kỳ

ISIS

Vladimir Putin Và Sự Ngu Xuẩn Triền Miên Của Phương Tây

Âm Mưu Thế Giới Đại Chiến III

Các tham khảo khác:

Tôi và Saddam Hussein

Ghi chú: 

– Nội dung đánh giá và tư vấn: thuần túy của Hoàng Hữu Phước

– Các hình vẽ do Hoàng Hữu Phước dựng chế từ các ảnh vẽ riêng rẻ thu từ Internet.

Viexit

Rexit và Brexit: Bọn Trẻ Con “Liên” Học Đòi Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-7-2016

1) Rexit là khi bọn trẻ con Liên Xô ngu xuẩn miệng còn chua loét mùi sữa thiu học đòi làm chính trị lên tiếng bảo bánh mì chấm muối cộng sản gây ra cao huyết áp nên ba-chớp-ba-nháng ùn ùn tán dương kẹo mút tư bản mang nhãn hiệu Perestroika tức “đổi mới, tự do, dân chủ” của chủ tiệm kẹo Góc-Ba-Chớp dẫn đến sự kiện tanh banh Liên Xô, các nước tách ra khỏi Liên Xô thành các quốc gia độc lập. Hầu như ngay sau sự tan rã của Liên Xô, người dân nước Nga Mới nhận ra (a) rằng hóa ra Âu Mỹ không bao giờ “chống Cộng” mà chỉ có muôn đời “chống Nga”, (b) rằng hóa ra kẹo mút làm họ mắc bịnh sâu răng và tiểu đường, và (c) rằng cuộc sống của họ thời Liên Xô sao mà hào hùng quá, sung sướng quá, ít te tua quá. Từ đó xuất hiện (a) nào là mấy bậc anh tài gốc cộng sản trung kiên như Putin trở thành lãnh đạo tối cao của quốc gia, (b) nào là các công luận công khai công bố công nhận sự nhung nhớ Liên Xô, (c) nào là sự cứng đầu cứng cổ của nhân dân Nga chọi lại Âu Mỹ bằng cách ủng hộ Putin bất kể kinh tế có te tua vì sự cấm vận của Mỹ Âu, và (d) nào là luôn tổ chức đại lễ vinh danh công trạng hào hùng của Liên Xô trong giải phóng thế giới khỏi chùm tư bản gồm Quốc Xã Đức, Phát-Xít Ý và Quân Phiệt Nhật.

Tóm lại, chỉ những người Nga kiên định tin vào Perestroika mới có thể là những người trưởng thành biết chịu trách nhiệm với lá phiếu của mình.

Tóm lại, tất cả người dân Nga nào ủng hộ Perestroika rồi ân hận cho việc đã làm thì toàn là bọn trẻ con ngu xuẩn.

Tóm lại, không bao giờ Nga trở lại thành Liên Xô, và không bao giờ Nga thoát khỏi các mưu đồ tiêu diệt Nga của Âu Mỹ.

2) Brexit là khi bọn trẻ con Vương Quốc Anh ngu xuẩn miệng còn chua loét mùi sữa thiu học đòi làm chính trị thực hiện tự do dân chủ lên tiếng đòi rút khỏi Liên Minh Châu Âu, để rồi hầu như ngay sau kết quả trưng cầu dân ý thiên về phía thuận tách khỏi EU thì nhao nhao khóc thét dãy dụa (a) mếu máo khóc lóc đòi tái trưng cầu dân ý, (b) hào hùng mạnh mẽ lên tiếng ì xèo đòi ở lại EU, (c) dũng cảm hiên ngang từng “xứ” chủ động liên hệ với EU để xin tiếp tục ở lại EU, và (d) trật tự văn minh chen chúc xin làm dân Ireland để tiếp tục làm dân EU. Tất cả nói lên năm điều tệ hại gồm (a) dân Vương Quốc Anh ngu xuẩn không biết tôn trọng luật chơi, (b) dân Vương Quốc Anh làm chính trị kiểu ngẫu hứng, (c) chính phủ Vương Quốc Anh ngu xuẩn do mồm loa mép dãi luôn lảm nhảm nôn ọe bùa chú lên đồng về tự do dân chủ nên chịu quả đắng khi tự do dân chủ bị lạm dụng, (d) Vương Quốc Anh với việc các “xứ” quay sang tự làm việc với EU hóa ra không là một thể thống nhất mà chính tác giả của bài viết này mấy năm trước viết về sự tan rã của Mỹ cùng Vương Quốc Anh trong bài Nước Mỹ Vỡ Vụn đã từng đề cập đến, và (e) người dân Vương Quốc Anh chống Brexit đã không biết đến sự thật đánh dấu số d trong đoạn nêu dưới đây.

Tóm lại, chỉ những người dân nào của Vương Quốc Anh kiên định tin vào Brexit mới có thể là những người trưởng thành biết chịu trách nhiệm với lá phiếu của mình.

Tóm lại, tất cả người dân nào của Vương Quốc Anh đã không đi bỏ phiếu cùng với những người đã bỏ phiếu ủng hộ Brexit rồi lại ân hận cho việc đã làm thì toàn là bọn trẻ con ngu xuẩn.

Tóm lại, không bao giờ có việc Vương Quốc Anh tồn tại trong EU (a) ngay cả khi Quốc Hội Vương Quốc Anh phủ quyết kết quả trưng cầu dân ý, (b) ngay cả khi Chính phủ Vương Quốc Anh không kích hoạt tiến trình rời khỏi EU, (c) vì việc rời khỏi EU dù kéo dài hơn 2 năm cũng phải khẩn trương theo thúc giục của EU do EU muốn nhanh chóng tống khứ Vương Quốc Anh, và (d) do EU buộc phải mạnh tay dứt khoát với Vương Quốc Anh không phải như báo chí thường nói đến như giảm thiểu tác hại về kinh tế của EU mà chính là sự răn đe đối với phần còn lại trong EU cũng như giữ thể diện EU và sự chán nãn của EU đối với Vương Quốc Anh là thành viên luôn luôn ỏn ẻn đòi yêu sách linh tinh lung tung từ nhiều thập kỷ nay.

3) Viexit thì trái ngược với Rexit và Brexit, vì đây là phong trào của tương lai khi (a) phát sinh đòi hỏi phải có cuộc trưng cầu dân ý đòi rút Việt Nam ra khỏi ASEAN, (b) nếu dẫn đến cuộc chia tay của Việt Nam khỏi ASEAN thì đó là từ quyết định sáng suốt khôn ngoan đầy bản lĩnh của người dân Việt Nam, và (c) ASEAN bị sụp đổ mà không thể ngẫng mặt cao đầu như EU để lên mặt yêu cầu Việt Nam nhanh chóng “kích hoạt” tiến trình ra khỏi ASEAN.

Lý do của Viexit là vì người dân Việt Nam không thể chấp nhận việc khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam chỉ là nơi cho thiên hạ ASEAN tự do đến buôn bán, tự do đến làm việc, trong khi ASEAN lặng thinh chấp nhận có những con ngựa bẩn thỉu mất dạy thành Troy tự do công kích Việt Nam, tự do bắt tay với Trung Quốc để chống Việt Nam trong vấn nạn Biển Đông.

Tóm lại, ASEAN là một tổ chức ngu xuẩn như minh chứng qua việc hình thành cái gọi là ASEAN-Trung Quốc.

Tóm lại, ASEAN không là một thực thể hùng mạnh như EU để người dân Việt Nam sau Viexit sẽ phải mếu máo khóc lóc đòi tái trưng cầu dân ý như bọn trẻ con Vương Quốc Anh sau Brexit.

Tôi là một Viexiter.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Việt Nam XIII, Viexiter

Ghi chú:

1) Vương Quốc Anh có tên đầy đủ là Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan, bao gồm Xứ Wales, Xứ Scotland, Xứ England, và Xứ Bắc Ái Nhĩ Lan. Xứ England tức Xứ Anh. Đại Anh tức Great Britain bao gồm ba xứ England, Scotland, và Wales. Người Việt hay gọi sai Vương Quốc Anh là Nước Anh. Tất nhiên, sẽ đúng khi gọi English là tiếng Anh, thậm chí có gọi là tiếng Mỹ cũng không sai. Nhưng gọi “Nước Anh” là sai vì xúc phạm Scotland và Wales nếu họ biết ở Việt Nam xem họ là “xứ” tức xứ miền trong khi lại dành cho England từ ngữ “nước” tức quốc gia.

2) Nhiều báo ghi sai rằng tiến trình để ra khỏi EU là 2 năm kể từ khi kích hoạt (tức chính thức nộp đơn xin ra khỏi EU). Điều này không được quy định trong Hiệp Ước Lisbon hay Hiệp Ước Maastricht, khi một nước thành viên rời bỏ EU. 2 năm là dựa theo thời gian thực tế mà Greenland phải mất mới kết thúc được các đàm phán với EU để chính thức rời EU (trước đây là EEC) và cũng dựa theo Điều 50 Hiệp Ước Lisbon, theo đó nếu sau 2 năm mà vẫn chưa đạt được một thỏa thuận nào giữa quốc gia xin rời bỏ EU với EU thì tư cách thành viên của quốc gia đó tự động chấm dứt (trừ phi có thỏa thuận giữa quốc gia đó và Eu về việc gia hạn thời gian thêm để đàm phán tiếp). Cần nhớ rằng Greenland là một quốc gia nhỏ, gắn kết kinh tế với EU chỉ có mặt hàng cá; trong khí đó, Vương Quốc Anh là một cường quốc với các gắn kết đa dạng rộng khắp với EU nên để kết thúc dứt điểm từng gắn kết một phải mất có khi hàng thập kỷ cũng khó thể kết thúc tất cả các đàm phán chi li với 27 nước thành viên khác. Ngoài ra, khi EU lớn tiếng yêu cầu Vương Quốc Anh nhanh chóng rời EU, điều này càng nêu bật ý nghĩa rằng đã chưa từng có quy định nào trong Điều 50 ấn định thời gian 2 năm cho một “exit” cả. Đã có quy định thì EU không bao giờ có quyền thúc giục Vương Quốc Anh hãy mau mau kết thúc mọi thứ để ra khỏi EU.

Tham khảo:

Andy McSmith. 24-6-2016. EU referendum result: What is Article 50? How long will it take for Britain to leave the EU. http://www.independent.co.uk/news/uk/home-news/eu-referendum-result-what-is-article-50-how-long-will-it-take-for-britain-to-leave-the-eu-a7099966.html

Hoàng Hữu Phước. 29-3-2014. Nước Mỹ Vỡ Vụn. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/29/nuoc-my-vo-vun/

Hoàng Hữu Phước. 01-5-2012. Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/06/17/su-thieu-khon-ngoan-cua-asean/

Trung Quốc Phải Thua Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 7 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 23 giờ

(Sáu bài sau đã đăng cùng ngày hôm nay:

Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê  đã đăng lúc 11 giờ

Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn đã đăng lúc 14 giờ

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt  đã đăng lúc 18 giờ

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta đã đăng lúc 20 giờ

Văn Tế Tướng Tàu La Viện  đã đăng lúc 21 giờ

Giặc Tàu Mọi Rợ  đã đăng lúc 22 giờ)

*********

Năm 1985 khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên Âu Mỹ nhân đại lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố:

“Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn luôn sang xâm lược Việt Nam. Nhân dân  Việt Nam là người chống xâm lược và cũng luôn luôn là người chiến thắng. Nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay đang đi theo vết xe đó.

Như mọi người đều biết, chính Trung Quốc cách đây không lâu đã dùng 60 vạn quân xâm lược biên giới phía bắc của Việt Nam, và hiện nay vẫn tiếp tục vi phạm biên giới Việt – Trung, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam, gây nên tình hình căng thẳng giữa hai nước, họ cũng đang tiến hành một kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống nhân dân chúng tôi. Ở Cam-pu-chia, nhà cầm quyền Trung Quốc câu kết với Thái-lan dùng bọn diệt chủng Pôn Pốt chống lại sự hồi sinh của nhân dân Cam-pu-chia và đe dọa nền an ninh của Việt Nam. Do đó việc Trung Quốc nói chúng tôi khiêu khích và xâm phạm lãnh thổ của họ chỉ là điều vu khống bỉ ổi. Không bao giờ chúng tôi làm như vậy. Đây chẳng qua chỉ là thủ đoạn quen thuộc của Trung Quốc ‘vừa ăn cướp vừa la làng’. ”

Trong khi đó, viên đại tướng Văn Tiến Dũng của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhận định:

“Bắc Kinh đã leo một nấc thang mới hết sức nguy hiểm. Họ đang tiến hành một dạng chiến tranh lấn chiếm biên giới hòng gặm nhấm từng phần đất đai của chúng tôi, kết hợp với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt trên cả nước nhằm làm suy yếu để tiến tới thôn tính Việt Nam. Họ còn lớn tiếng đe dọa chúng tôi với giọng lưỡi nước lớn trịch thượng quen thuộc của họ.”

Tất cả cho thấy ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam đã phải đương đầu – hay nói đúng hơn là: tiếp tục con đường của tổ tiên đương đầu – với Trung Quốc, kẻ “luôn luôn” mong muốn xóa sổ Việt Nam, thực thể duy nhất trên thế gian này “luôn luôn” đánh bại Trung Quốc ngay từ đời tiên đời tổ Trung Quốc, và “luôn luôn” ngáng đường bành trướng của Trung Quốc về phương Nam khiến vẫn chưa ngày nào trong 5.000 năm qua đoàn quân cháu con lũ giặc Lương Sơn Bạc tiến được đến Châu Úc bao la và vùng Cực Nam băng giá tiềm tàng tài nguyên phong phú.

Nicolai Stepanovic Kuleisov trong tác phẩm Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc đã nhắc nhở nhân loại rằng để thực hiện những tham vọng địa chính trị của họ, Bắc Kinh tiến hành những hành động xâm lược chống lại Ấn Độ, Việt Nam, và những nước láng giềng khác; họ in những tấm bản đồ địa lý mà trên đó những lãnh thổ của các nước Nam Á và Đông Nam châu Á – như Ấn Độ, Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Lào, và những nước khác – lại được ghi thuộc Trung Quốc. Họ thậm chí ghi rằng vùng đảo đá ngầm gần bờ biển bang Sarawak của Malaysia là điểm cực nam của lãnh thổ Trung Hoa. Những việc ngang ngược mang tính bá đạo bá quyền nước lớn cho thấy Đông Nam Á đã luôn là đối tượng chiến lược hàng đầu của chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh.

Trước sự tháo chạy của Mỹ khỏi Việt Nam dẫn đến sự sụp đổ của Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO khiến giềng mối của các nước đàn em dưới tên gọi đồng minh Mỹ trong khu vực không còn kết dính vững chắc, Trung Quốc với tư tưởng Đại Hán đã nhanh tay triển khai các hoạt động quân chính của họ tại Đông Nam Á với kỳ vọng sự phân hóa của các dân tộc trong vùng mà đặc điểm là đa số chưa sẵn sàng thân thiện với Việt Nam Cộng Sản sẽ giúp Trung Quốc dễ dàng tiến quân mở rộng bờ cõi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nuốt trọn tất cả các quốc gia này. Tuy nhiên, “việc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thống nhất hùng mạnh bước lên vũ đài quốc tế đã tăng thêm khuynh hướng hợp tác tương trợ trong nội bộ” các nước Đông Nam Á của khối mới ASEAN, giúp ngăn chặn được chủ nghĩa bá quyền Đại Hán càng thúc giục “những lãnh tụ của Trung Quốc đã làm tất cả để làm suy yếu vị trí của Việt Nam” tiến đến loại bỏ Việt Nam, trở ngại duy nhất trên con đường bành trướng của Bắc Kinh.

Cũng theo Kuleisov, những tham vọng của Bắc Kinh thoạt đầu được biểu hiện ra vào năm 1974 khi quân Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã chính thức tuyên bố những đảo này “mãi mãi thuộc về Trung Quốc”. Những “sự kiện và tư liệu” được sử dụng để biện bạch cho việc chiếm đóng trái phép những hòn đảo ấy đã xuất hiện trên báo chí Trung Quốc, rằng chúng đã thuộc về Trung Quốc từ thế kỷ XV, rằng chúng đã được những người đi biển Trung Quốc phát hiện ra từ triều đại nhà Hán, đã liên tục được các thương nhân cùng những du khách từ Trung Quốc ghé thăm, và những đồng tiền Trung Quốc do các nhà khảo cổ học phát hiện đã nói lên điều đó, v.v. Trong khi thực chất là nhằm chiếm giữ khu vực dồi dào dầu hỏa chất lượng cực tốt so với dầu hỏa họ khai thác tại vùng dầu hỏa lớn nhất Trung Quốc là Đại Khánh lại có chất lượng thua kém và giá trị thấp hơn nhiều.

Ngày 17-02-1979, biển người hơn nửa triệu quân chính quy tinh nhuệ Trung Quốc cùng hàng ngàn xe tăng và chiến xa cùng pháo binh hạng nặng đã ồ ạt tràn ngập toàn tuyến biên giới trải dài hơn 1.200 km của Việt Nam, man rợ tàn sát, hãm hiếp, cướp bóc, tàn phá, nhằm nhanh chóng thôn tính Việt Nam, hoặc ít ra là làm suy kiệt tiềm năng quân sự và suy tàn nền kinh tế èo uột của Việt Nam, phá hoại sự ổn định nội bộ của đất nước này, đe dọa và trấn áp nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần, bắt Việt Nam phải phục tùng thiên triều Trung Quốc. Song, cuộc chiến tranh 16 ngày ở Việt Nam đã không đưa lại cho Trung Quốc một kết quả nào cả về mặt quân sự lẫn chính trị. Các chiến sĩ biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân địa phương Việt Nam đã phá tan không những toàn bộ chiến dịch xâm lược của Trung Quốc mà còn cả cái dự định lăm le sờ mó các nước khác ở Đông Nam Á. Tờ Wall Street Journal của Mỹ số tháng 3-1979 trong bài xã luận “Ai Dạy Cho Ai Một Bài Học?” đã viết một cách châm biếm rằng: “Trung Quốc ra khỏi cuộc chiến tranh này với sự ô danh tồi tệ hơn cùng cái mũi bị giập.” Hơn nửa triệu quân chính quy Trung Quốc đã bị Việt Nam đánh cho tan tác chỉ trong hai tuần, một chiến tích vẻ vang tuy chưa phá được kỷ lục của Chiến Dịch Hồ Chí Minh (chỉ trong 5 ngày đã đánh tan nửa triệu quân của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, thống nhất đất nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ sau hơn 100 năm bị nước ngoài chiếm đóng và chia cắt).

Tháng Tết 2012 là thời khắc người dân Việt Nam chân chính nhớ đến tháng Tết 1979 để nghe ngân vang lời thề phục hận. Đã 33 năm kể từ ngày 17-02-1979 khi bọn giặc Tàu tràn qua biên giới Việt Nam mà sự man rợ không chỉ là tàn diệt người dân Việt mà còn qua sự giật mìn phá sập các di tích lịch sử như Hang Pắc Pó nhằm xóa sạch bất kỳ các vết tích nào mang tính tự hào dân tộc Việt Nam, nhất là khi di tích ấy lại liên quan đến Hồ Chí Minh, con người gầy gò đã khôn ngoan lèo lái cuộc kháng chiến giành độc lập tự do cho đất nước mà vẫn không lệ thuộc vào bọn bá quyền nước lớn.

Tháng Tết 2012 của Việt Nam lại phải chứng kiến việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.

Kết hợp cách dùng từ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thì Trung Quốc “luôn luôn gặm nhấm” các vùng lãnh thổ của Việt Nam.

Kết hợp cách dùng từ của hiện nay và của Nicolai Stepanovic Kuleisov thì cái lưỡi bò của Trung Quốc rất dài vì không những liếm láp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà còn thè ra đến tận các dãi san hô đá ngầm ven biển Bang Sarawak của Malaysia trên đảo Borneo.

Tháng Tết 1979. Tháng Tết 2012. Thời gian 33 năm không ngừng gia tăng cơn thịnh nộ của lời thề phục hận!

Trung Quốc đã đi vào vết xe đổ của Mỹ:

Tau (2)Tau (1)Tau (3)

Và Trung Quốc rất có thể đang lầm tưởng rằng một cuộc xâm chiếm vùng Biển Đông của Việt Nam hầu tránh né đương đầu trực diện trên đất Việt, trên không Việt, trên sông Việt, trên núi Việt, sẽ an toàn hơn và bảo đảm hơn cho một thắng lợi quân sự, mà không nhận ra một sự thật rằng chúng sẽ không thể nào chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Chỉ 5 năm sau khi cướp đoạt Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa với sự hợp tác tích cực làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với sự hợp tác tích cực tuyên bố ủng hộ của Mỹ.

Đã 33 năm từ cuộc xâm lược ấy của Trung Quốc trên đất liền Việt Nam.

33 năm còn nguyên đó lời thề phục hận.

Lời thề ấy độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử nhân loại, vì đó là lời thề phục hận của người luôn luôn chiến thắng!

Những bài thơ mới với hình ảnh kèm theo sẽ tiếp tục được viết nên, có thể với cảnh lính Tàu bị trói thúc ké ngồi chồm hổm thu lu bên trong lưới cá trên thúng mủng do một nữ ngư dân áp giải vào bờ trong vùng biển huyện đảo Hoàng Sa vậy.

                            Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn

                            Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết trên được đăng lần đầu ngày 02-02-2012 trên blog.com, tức vào đầu năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Nicolai Stepanovic Kuleisov. Bắc Kinh Chống Lại Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc. Người dịch: Hùng Thắng. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1982. Trang 56-70.

Vì Sao Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Tranh Xâm Lược Việt Nam. Nhà Xuất Bản Sự Thật, Hà Nội, 1986. Trang 11-12.

Trung Quốc Ngông Cuồng Và Hành Động Của Chúng Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 4 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 20 giờ

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ. Tôi còn dị ứng trước bất kỳ những gì của Trung Quốc, từ phim cổ trang về bọn gióc tóc đến phim xã hội tầm phào (tất nhiên trừ vài phim họ làm để chinh phục Holywood), từ mấy thứ thuốc cao đơn hoàn tán khả nghi đến thực phẩm không đáng tin cậy, từ đồ chơi kém chất lượng đến hàng điện tử đầy hỏng hóc, v.v., tất cả không do bất kỳ một thái độ kỳ thị nào cả, mà từ sự miệt mài say sưa đọc sử Trung Quốc để rồi nghiệm ra rằng sở dĩ nước ấy có Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử xuất hiện chẳng qua vì tổ tiên Trung Quốc cực kỳ tàn độc, vô lễ, vô chính, vô hạnh, vô đức, vô duyên, vô trí như thể hiện đầy dẫy trong các chi tiết ở các triều đại phong kiến như vua cha cướp vợ của con, thái tử lấy vợ của vua cha, cha con/anh em giết nhau vì ngôi báu, v.v., và hậu duệ của một giống nòi như vậy không thể khiến người ta tin rằng đã nhờ văn hóa văn minh hiện đại ngày nay xóa tan được những gien vô sĩ, bất nghĩa, tàn độc của tổ tiên.

Thế nhưng, rất nhiều hàng hóa tồi tệ của Trung Quốc vẫn tràn vào Việt Nam, và nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn “đặt hàng” Trung Quốc chế tạo hàng kim khí điện máy. Tất nhiên điều này cho thấy Việt Nam có cơ chế thị trường mở, tự do, phù hợp với các cam kết khi gia nhập WTO, không dùng bất kỳ biện pháp hành chính nào để cản trở. Vấn đề do đó nằm trong cái tâm, cái tầm, và cái tình của người đi buôn và của người tiêu dùng.

Vấn nạn của Trung Quốc ngày nay bao gồm nhiều điểm nóng bỏng, nhưng nổi cộm nhất và mang tính dân tộc cụ thể nhất là vấn đề bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc không thể bành trướng lãnh thổ trên đất liền do phía Bắc bị Nga đè bẹp với vùng đệm khó chịu của Mông Cổ và Kazakhstan; phía Tây sừng sững kẻ thù bất cộng đái thiên Ấn Độ với vũ khí nguyên tử cùng vòng cung khó chịu của Pakistan, Afghanistan và vài quốc gia cựu-Liên-Xô khác; phía Đông bị Hàn Quốc án ngữ với vành đai khó chịu của Nhật Bản; còn phía Nam bị ngăn chặn vĩnh viễn bởi bức tường thép Việt Nam. Không thể tiến lên phương Bắc vì vùng Siberia ngàn năm băng giá của Nga, không thể vượt qua tường lửa phía Tây để nuốt Châu Âu, không thể vượt sự kềm tỏa phía Đông để đụng độ Hoa Kỳ và Châu Mỹ, Trung Quốc chỉ còn một cách duy nhất là đánh xuống phương Nam. Sự ra quân hối hả của Trung Quốc từ cơn khát thèm di truyền từ tổ phụ xua quân tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam năm 1979 đã cũng cố tính chính xác của công thức phản ứng hóa học bất di bất dịch: quân đội nào vào tiếp xúc với đất Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học thăng hoa khiến quân đội ấy bốc hơi, tan biến, mà không thu hồi được ngay cả các khí thứ phẩm (công thức khác thì cần thời gian xác minh củng cố thêm, đó là: quân đội nào vào tiếp xúc với nước Việt Nam thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học lắng tụ khiến quân đội ấy thân chìm đáy biển mà không thu hồi được ngay cả các thứ bùn thứ phẩm). Trung Quốc chỉ còn cách hạ mình tránh né lục quân Việt Nam, cực chẳng đã phải buộc quên mình là Con Trời, muối mặt làm con kỳ nhông với lưỡi thè dài ra liếm láp các hòn đảo Biển Đông và tự an ủi là lưỡi mình là lưỡi bò chứ không phải lưỡi thạch sùng, cắc ké, kỳ nhông. Việc đi tắt bằng đường biển xuyên Biển Đông này không phải như hầu hết nhân loại đã nghĩ (chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì tài nguyên dầu hỏa phong phú), hay phần lớn nhân loại đã nghĩ (khống chế các nước ASEAN), mà chính là xuyên qua ASEAN làm chủ Biển Đông, thẳng tiến đánh chiếm Châu Đại Dương, sở hữu Nam Cực, khống chế Mỹ La Tinh và tất nhiên biến Bắc Mỹ thành búp bê Barbie hữu danh vô thực (Mỹ đấy – tức là…Đẹp đấy, nhưng không nhúc nhích cục cựa gì được).

Cái đói khát thèm thuồng của Trung Quốc đã rất thảm hại khi tung tiền mua một hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) thời Liên Xô cũ của Ukraine đang chờ bán sắt vụn để kéo về nước “tân trang”, rồi bắn tin là một doanh nhân Trung Quốc cũng sắp tậu một hàng không mẫu hạm khác, loại phế thải của Anh Quốc về làm nhà hàng, khách sạn. Hoàng Sa và Trường Sa, do đó, chỉ là nơi phải chiếm giữ để xây dựng căn cứ hải quân hậu cần cho những cuộc hải trình chinh phục phương Nam.

Việc làm của chúng ta, do đó, nhất thiết nên là:

1) Ủng hộ Chính phủ Việt Nam trong những cách chính quy, chuyên nghiệp mà Chính Phủ luôn áp dụng thành công với đối ngoại, ngoại giao, chính trị, và quân sự.

2) Kinh nghiệm cho thấy các cuộc xuống đường rầm rộ trên toàn thế giới và ngay trên đất Mỹ đòi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam vẫn không có tác dụng gì đối với Chính phủ Hoa Kỳ, và chỉ khi bị Việt Nam đánh bại về quân sự, Mỹ mới rút quân khỏi Việt Nam. Việc làm hiệu quả nhất để đòi lại chủ quyền hải đảo đã bị Trung Quốc chiếm đóng là phải đánh bại Trung Quốc về hải quân, mà để có sức mạnh hải quân sẽ cần đến nguồn tài chính dồi dào do dân đóng góp. Sự đóng góp này phải có tên gọi cụ thể là “đóng góp hiện đại hóa quân đội và xây dựng hải quân hùng mạnh” chứ không dưới một danh xưng mềm mỏng yếu ớt như “góp đá cho Trường Sa”.

3) Trong khi Chính phủ Việt Nam sử dụng sức mạnh công luận của ASEAN và thế giới, người dân Việt Nam nên sử dụng sức mạnh của dân Trung Quốc đối với Chính phủ của họ, nghĩa là nhất thiết phải cho người dân nghèo khổ Trung Quốc cùng các nhà sản xuất nhỏ Trung Quốc hiểu ra rằng bao năm qua Việt Nam nuôi sống họ bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ, và họ nay phải phản đối việc Chính phủ của họ gây hấn ở Biển Đông; bằng không, Việt Nam tẩy chay hàng hóa của họ, đẩy lùi họ về thời kỳ cùng khổ của cuộc Vạn Lý Trường Chinh.

4) Phải làm cho các nước ASEAN và các nước Châu Đại Dương hiểu rằng Trung Quốc đang nhắm đến họ chứ không phải mấy hòn đảo ở Biển Đông, do đó họ nhất thiết phải cùng Việt Nam dùng sức mạnh ngoại giao và quân sự để đè bẹp ý chí bá chủ của Trung Quốc.

5) Nhất thiết phải có nhà biện sĩ thuyết khách cỡ Trương Lương hay Tô Tần sang du thuyết với lãnh đạo Trung Quốc, cho họ những lời khuyên khôn ngoan (a) rằng lẽ ra Nhật Bản không phải là đảo quốc nhỏ bé bị thiên tai tàn phá liên tục mà là một đại siêu cường có lãnh thổ rộng lớn nhất thế giới nếu sau khi chiếm Trung Quốc họ biết dừng lại ngay tại biên giới Việt Nam; (b) rằng lẽ ra Đế Quốc Pháp ngày nay vẫn còn danh dự như Đế Quốc Anh đang còn tồn tại nhiều “thần dân” như Canada, Úc, v.v., nếu Pháp biết dừng lại bên ngoài hải phận Việt Nam; (c) rằng Đại Tống lẽ ra đã không bị Tây Hạ và Liêu Đông dày xéo đến phải mất nước về tay Nhà Kim và Nhà Nguyên nếu họ đừng xâm lấn nước Việt để bị Lý Thường Kiệt đánh cho suy tàn, cũng như nhiều triều đại khác trong lịch sử Trung Hoa; (d) rằng Hoa kỳ lẽ ra đã không mất ngôi vị lãnh đạo thế giới, không biến thành kẻ lụn bại về kinh tế lẫn uy danh nếu biết dừng lại ngoài lãnh hải Việt Nam mà không ngụy tạo sự kiện Vịnh Bắc Bộ để đổ bộ vào Đà Nẵng; (e) rằng Trung Quốc hãy vì đại cuộc mà rút quân khỏi Biển Đông để tập trung trấn quốc do việc xâm lấn ngày nay sẽ khiến Trung Quốc đối mặt cùng lúc bốn đại nguy cơ gồm thứ nhất là sự tẩy chay của thế giới khiến tác động tai hại đến kinh tế Trung Quốc, thứ hai là việc tung quân rời xa vùng cương thổ sẽ khuyến khích các cuộc tổng nổi dậy xé tan nát sự toàn vẹn của Trung Quốc, thứ ba là khuyến khích cắt cáp và gây hấn với tàu Việt Nam là hành động tương tự sự ngu xuẩn của bậc làm cha mẹ nào xui giục con giở thói côn đồ cướp bóc khiến đàn con sẽ trở nên bại hoại, mất dạy, bất lương, bất hiếu, quay ra đánh lại mẹ cha, tàn diệt Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, và thứ tư là Trung Quốc tất nhiên phải đại bại do lịch sử chưa bao giờ có bất kỳ sự kiện gì chứng minh Trung Quốc đánh thắng bất kỳ một quốc gia nào ở khu vực ASEAN; và (f) rằng Trung Quốc hãy chấp nhận vị trí siêu cường kinh tế vì không bao giờ “có cửa” cho Trung Quốc làm siêu cường quân sự cả.

6) Cảng Cam Ranh nên là một quân cảng cho Nga hoặc Mỹ thuê, do Cam Ranh thuộc chủ quyền của Việt Nam và Việt Nam có toàn quyền quyết định việc sử dụng Cam Ranh, chứ không phải Việt Nam buộc sử dụng cho mục đích phi quân sự chỉ để nhằm khoe hay chứng minh với phần còn lại của thế giới rằng Việt Nam “yêu hòa bình” hay chỉ để làm yên tâm kẻ đang gây căng thẳng nơi Biển Đông. Kiểu cách bất di bất dịch của tất cả các vương triều nước Việt suốt chiều dài lịch sử 4.500 năm lúc nào cũng nhún nhường quỳ mọp xin lỗi “thiên triều” Tàu thì nay nhất thiết phải được thay đổi triệt để và ráo riết. Nhờ sự quỳ gối quỳ mọp quỳ lụy Tàu của tất cả các bậc minh quân nước Việt trong lịch sử mà dân tộc Việt đã được trường tồn. Đã đến lúc nhờ sự vùng lên nắm đầu đè cổ dí đầu Tàu xuống bùn nhơ của chính phủ Việt Nam trong tạo nên lịch sử mới cho dân tộc Việt mà dân tộc Việt sẽ được trường tồn.

7) Và cuối cùng – song không kém phần quan trọng – là chúng ta nên bảo đảm mọi hành động đều phát xuất từ lòng yêu nước tự thân, sự hiểu biết đúng đắn tự thân, quá trình tư duy tự thân, khả năng nhận định đúng đắn và phân tích đúng đắn tự thân, và trên cơ sở lợi ích chung của đất nước, trật tự xã hội, an ninh quốc gia, để không dễ bị xui giục, khích động, lôi kéo bởi những tên chống Cộng thâm hiểm. Đất nước chỉ có thể được bảo vệ bởi quân đội đã chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 09-6-2011 tức trước khi tác giả chính thức trở thành Nghị sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại

China: From the Greatest to the Worst

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-6-2016

A) Từ Vĩ Đại

Trung Quốc vĩ đại nhờ nhiều yếu tố, trong đó không thể không kể đến những nguyên nhân chính như:

1- Do thói quen mang tính vĩ cuồng truyền thống khoái tự phong mình vĩ đại, thừa hưởng cá tính của một giống nòi tự hào chế ra pháo nổ, nên đã “nổ” từ nhiều ngàn năm trước rằng vua toàn là “sao” giáng hạ phàm trần, là thiên tử tức con của trời (mà không nói rõ mình là con ruột, con nuôi, con hoang, con ngoan, con hiền, con hư, con hỏng, hay con bất hiếu loạn tặc đã bị “trời” đăng bố cáo từ con trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tước quyền thừa kế), còn thần thánh trên thế gian này cũng nói toàn tiếng Tàu vì nếu điểm danh mà không phát âm “dzạ có ngộ” thì cách chi được vào bảng Phong Thần mà xưng thần xưng thánh, bọn cướp cạn lưu manh giết người lấy thịt làm nhân bánh bao thì được gọi là Anh Hùng Lương Sơn Bạc, còn những cuộc hành quân xâm lược thì sơn phết lên ấy những cái tên toàn pháo đại như Tảo Bắc (đánh rợ phương Bắc), Chinh Đông hay Chinh Tây (trừng phạt phương Đông và phương Tây), hay Bình Nam (dẹp loạn phương Nam), ý nói ta là cái rốn lồi của vũ trụ (Trung Quốc), còn các nước thì toàn mọi rợ man di.

2- Do luôn được Bà Nữ Oa phù hộ nên trong

a) lịch sử trung đại dù bao lần bị Việt Nam đánh cho đại bại, vẫn được tất cả các vua Việt Nam yêu hòa bình, thay vì thừa thắng xông lên mở rộng bờ cõi để Việt Nam có chung đường biên giới với Mông Cổ của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn hay Nga La Tư của Ivan Đại Đế Kinh Hoàng, Việt Nam tự nhiên thay đổi thái độ dùng sự ngọt ngào thương thảo cùng châu ngọc và mỹ nữ triều cống hàng năm, xoa dịu nỗi đau muôn kiếp, nên danh dự “con trời” thì luôn được bảo toàn, còn ngân khố thì không lúc nào vơi, nhờ vậy mà chủng tộc người được cải thiện đôi chút để còn dự thi hoa hậu, còn vật chất thì có Tử Cấm Thành cho thế giới mua vé đến tham quan;

b) lịch sử cận đại dù bị Nhật chiếm hết đất đai, Trung Quốc vẫn trở lại là Trung Quốc vì Nhật tự nhiên bị Nga đánh cho tan tác lục quân và bị Mỹ tiêu diệt hải quân phải ù té chạy khỏi Trung Hoa, khiến Trung Hoa “bất chiến tự nhiên thành”; và

c) lịch sử hiện đại toàn thế giới tư bản với bản chất hám lợi ngu xuẩn đã đổ xô đầu tư vào thị trường Trung Quốc, biến nó thành “công xưởng của thế giới”, ca ngợi nó với Ấn Độ như một Chindia tiềm năng, xúm lại công kênh đẩy nó lên hàng siêu cường thứ nhì thế giới, để rồi nay phải quỳ lạy nó, trông chờ nó bỏ tiền ra cứu nguy suy thoái toàn cầu, thậm chí còn ra sức hàn lâm phân tích để nói rằng nó sẽ soán ngôi Hoa Kỳ trong thập niên sắp đến.

3- Do cực giỏi…tiếng Anh. Chẳng qua vì hàng năm Hoa Kỳ có việc làm ngu xuẩn chọc giận thế giới – kể cả dân chúng nước Anh – khi công bố cái gọi là Bản Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước để nhận định, đánh giá, phê phán, cho điểm từng quốc gia một về nhân quyền. Đây là món quà của Hoa Kỳ ban cho Trung Quốc, vì trong khi dân Anh bỉu môi khinh bỉ Mỹ, Chính phủ Việt Nam tuyên bố Mỹ không đúng khi nêu vấn đề nhân quyền của Việt Nam, thì Trung Quốc “trên cơ” công bố hàng năm một tài liệu gọi là Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ với năm điểm mà tôi phải gọi là ưu thế thượng phong gồm (a) chữ tiếng Anh của tên gọi Hồ Sơ tức Record thì hay tuyệt hơn Báo Cáo tức Report vì theo mặc định ngữ nghĩa thì Hồ Sơ chứa toàn dữ liệu cụ thể, đã thu thập qua điều tra, xác minh, có tính xác thực cao hoặc có sức mạnh thuyết phục, hoặc cả hai, trong khi Báo Cáo chỉ mang ý trung tính nghĩa là có khi do ý kiến chủ quan của một cá nhân viết nên, thí dụ bản báo cáo của Đại Sứ Mỹ về tình hình khả quan đánh thắng “Việt Cộng” ở Việt Nam mà tính quyết định và chính xác không bao giờ là đặc điểm của thể loại “báo cáo”; (b) cơ hội châm biếm Mỹ là bản Báo Cáo luôn thiếu phần nói về nước Mỹ nên Trung Quốc phải bổ sung nhằm giúp Mỹ hoàn thiện bản Báo Cáo Nhân Quyền ấy một cách hữu hảo và miễn phí; (c) cung cấp các chi tiết vụ việc đăng rành rành suốt năm trên báo chí Mỹ mà dân Mỹ phải công nhận là “đúng sự thật vì đã đọc báo và xem đài ra rả suốt mười hai tháng qua, để chứng minh Mỹ vi phạm nhân quyền và dân quyền ngay tại nước Mỹ; (d) tài “đốp chát” bằng tiếng Anh của kẻ mạnh hơn về ngôn ngữ tiếng Anh; và (e) cung cấp cho học sinh sinh viên trên toàn thế giới tài liệu luyện viết tiếng Anh và từ vựng tiếng Anh – đặc biệt về Formal English – tuyệt hảo.

Cần nói thêm rằng trong bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra hàng năm ngay sau khi Hoa Kỳ công bố Báo Cáo Thực Thi Nhân Quyền Ở Các Nước, Trung Quốc luôn chia thành 6 phần gồm (a) các xâm hại đến an ninh đời sống, an ninh tài sản, và an ninh cá nhân của dân Mỹ, (b) các xâm hại đến quyền dân sự và quyền chính trị của dân Mỹ, (c) các xâm hại đến quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của dân Mỹ, (d) phân biệt chủng tộc với dân Mỹ, (e) các xâm hại đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em Mỹ, và (f) những vi phạm của Mỹ đối với nhân quyền trong chống phá các quốc gia khác. Những bản Hồ Sơ Về Nhân Quyền Tại Mỹ do Trung Quốc tung ra ngày càng mạnh mẽ hơn, dồi dào tư liệu chứng minh hơn, cụ thể qua tổng số từ ngữ tiếng Anh của các Hồ Sơ thí dụ như năm 1999, 2000, 2001, 2008, 2009, 2010 gia tăng lần lượt là 5769, 7743, 7222, 8768, 8832, và 8731 chữ.

B) Đến Tệ Hại

Có dân tộc tính ưu việt đến dường ấy, được tổ tiên ếm bùa đến dường ấy, giỏi tiếng Anh đến dường ấy, ấy vậy mà Trung Quốc đã phá hỏng tất cả để lần đầu tiên trong lịch sử 5000 năm của họ trở thành tên hề tệ hại bị ghẻ lạnh và khinh bỉ trên toàn thế giới. Vậy đối chọi với 3 nội dung vĩ đại đã nêu thì Trung Quốc đang vấp phải 3 điều tệ hại nào báo hiệu sự diệt vong của Trung Quốc thống nhất?

1- Bần Cùng Vô Sĩ

Sau nhiều thập kỷ lếu láo vẽ bản đồ thế giới trong sách giáo khoa các cấp không có nước nào mang tên Việt Nam mà chỉ có lãnh thổ Trung Quốc tô màu đỏ lòm kéo dài đến tận Mũi Cà Mau, nay bị thua Việt Nam trên mặt trận ngoại giao khiến phải đặt bút k‎ý hiệp định phân định đường biên giới Hoa-Việt trên đất liền, công nhận chủ quyền biên cương quốc gia Việt Nam, chấm dứt biết bao thiên niên kỷ rỏ dãi thòm thèm xâm chiếm, Chính phủ Trung Quốc đã vì tiếc ngẩn ngơ mà hóa dại, mất khôn, tự lột tả chân bộ mặt bần cùng vô sĩ của mình khi tuyên bố làm chủ Biển Đông vì … ngộ chỉ mới phân định biên giới trên bộ với Việt Nam chớ có công nhận biên giới Biển Đông đâu hử, chứng tỏ mình đúng là hậu duệ Cái Bang khi mếu máo như hành khất bù lu bù loa rằng bị các nước (trong đó có Việt Nam) uy hiếp lấy mất mấy hải đảo, rằng ấy là đường lưỡi bò (của kẻ “ngu như bò” hay “ngu hơn bò”), rằng xâu chuỗi ngọc trai của tổ quốc bị xâm hại (một ví von hạ đẳng chứng tỏ tinh túy văn học Trung Hoa đã suy đồi tệ hại, do các hòn đảo không thể là xâu chuổi ngọc vì các đảo nào có dính nhau, mà nếu xem mỗi đảo giống như viên ngọc thì ắt xâu chuỗi bị đứt do dây đeo bằng sợi thun Made in China, hoặc do chưa bao giờ có khả năng mua sắm được một dây đeo đâu mà tuyên bố chủ quyền xâu chuỗi) nên nước nhà biết làm thế nào được nay đành phải uất ức dùng que xua chó (đã cẩu bổng) của bọn Cái Bang bất tài vô dụng võ lâm Trung Hoa (toàn bộ các môn phái – kể cả Thiếu Lâm – đã bị nòng súng mút-cơ-tông bắn đạn viên sau rời nòng sau viên trước đúng bốn phút hai mươi nhăm giây của Bát Quốc Liên Quân đánh chạy tán loạn chứ nào có võ nghệ gì mà gọi là cao cường xạo sự như trong tiểu thuyết kiếm hiệp trường giang) để cắt cáp tàu nghiên cứu của Việt Nam, phùng mang trợn mắt đòi dạy các tiểu quốc như Việt Nam một bài học cứ như để “mắng vốn” Âu Cơ sao cứ để con cái bức hiếp cháu chắt còn thò lò mũi xanh của Nữ Oa, trong khi chưa bao giờ dám mắt trợn mang phùng với đại gia Mỹ cả. Như kẻ đói nghèo vô sĩ hay trộm cắp hoặc nhận bá vơ của cải của người khác, Trung Quốc ngày nay đã đến cùng cực suy vi. Ô hô Trọng Ni ơi hỡi Trọng Ni, lẽ nào Ông chỉ giỏi ở ấp Trâu nước Lỗ còn bất tài không dạy được con dân Trung Quốc hay sao mà họ lại để yên cho chính phủ của họ tự do làm nhục quốc thể đến dường ấy, thậm chí còn không lấy quê Ông để đặt thành “đường lưỡi trâu” vinh diệu mà gọi là “đường lưỡi bò” hạ đẳng thế kia?

2- Bất Ổn Vô Trí

Gây thù chuốc oán với thiên hạ, ấy vậy mà Chính phủ Trung Quốc lại vô trí khi gây hấn tại Biển Đông thay vì tập trung quản trị quốc gia, chặn ngăn tạo phản. Mua sắm hàng không mẫu hạm loại  phế thải nhằm khoe ta đây mạnh về quân sự như gã nhà quê, mà không theo bài bản sách lược đẳng cấp đại gia, khiến đưa chính mình vào tròng vòng dây thít chặt của dây niêm container không còn lối thoát. Ấn nhét hàng không mẫu hạm với lèo tèo vài chục chiến đấu cơ vào Biển Đông chật chội nào phải là hành động mưu trí của đẳng cấp Khổng Minh Gia Cát vì bản thân chiến hạm không phải là pháo đài bất khả xâm phạm. Thêm vào đó, sự quậy phá gây rối của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ nhanh chóng khơi mào cho sự đồng thuận trên toàn thế giới trong việc cho phép Nhật Bản tái vũ trang, tái lập quân đội, và tái lập lực lượng hải quân trấn trị Hoàng Hải và Đông Hải, cùng với sự tái xuất hiện của các hạm đội Hoa Kỳ (và có khi của cả Nga) tại Biển Đông sẽ giam hãm vĩnh viễn sự bành trướng hải quân của Trung Quốc, biến các đầu tư sai lệch của Trung Quốc vì Biển Đông sẽ hóa bùn, dẫn đến suy giảm kinh tế và gia tăng bất ổn nội tình Trung  Quốc. Thay vì xây dựng hải quân hùng hậu để hỗ trợ Liên Hợp Quốc gìn giữ hòa bình an ninh trật tự thế giới, tạo thanh thế uy danh, Chính phủ Trung Quốc lại qua việc vô trí gây hấn ở Biển Đông đã vĩnh viễn đánh mất cơ may duy nhất để trở thành lãnh đạo nhân loại. Thế giới đã tụ họp lại trước nguy cơ đe dọa quân sự từ Trung Quốc, và từ nay không có bất kỳ một tuyên bố nào của Trung Quốc được xem trọng, không có bất kỳ sự hỗ trợ nào từ Trung Quốc được đón nhận mà không với sự nghi ngại đề phòng, và không có bất kỳ điều hay nào của Trung Quốc được viết tiếp vào Thế Giới Sử. Trung Quốc đã lâm vào thế đường cùng của kẻ cùng đường, không lối thoát, từ nay cho đến ngày tận thế.

3- Bất Hiếu Vô Tri

Trung Quốc đã sai khi chọn cách “Oderint, dum metuant!” có nghĩa là “Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi”, vì đã có sự đảo chiều cơ bản: xưa kia tương quan giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới là giữa tinh hoa vũ trụ (Trung Hoa) với man di mọi rợ, còn ngày nay tương quan giữa phần còn lại của thế giới và Trung Quốc là giữa văn minh tiến bộ với mọi rợ man di. Để đất nước và dân tộc gánh chịu sự miệt thị, đớn hèn, đó rõ là điều bất hiếu của chính phủ Trung Quốc đối với tổ tiên Trung Quốc, và là sự vô tri trước tiền đồ dân tộc Trung Hoa.

Oderint, dum metuant!” của Trung Quốc suy tàn sẽ nhanh chóng đối mặt với tiếng gầm dũng mãnh Censeo China delendam esse!” của phần còn lại của thế giới.

Delenda est China!

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh doanh Quốc tế

Ghi chú:

– Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 27-6-2011 tức vào kỳ họp thứ nhất của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.

Oderint, dum metuant = Ai ghét ta thì cứ ghét, miễn sợ ta là được rồi. (trích bi kịch Atreus của Lucius Accius, năm 170 trước Công Nguyên)

Censeo China delendam esse = Delenda est China = Tàu Phải Bị Tiêu Diệt (trích hài kịch Tabilu của Tannhauser Beowulf Thor, năm 2011 sau Công Nguyên)

Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

Bằng Cách Dạy Binh Sỹ Biết Rằng Sát Hại Thường Dân Là Phạm Tội Ác Chiến Tranh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-6-2016

Tôi, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đầu nhiệm kỳ XIII đã viết bài sau đăng trên Emotino.com. Nay xin đăng lại trên blog này để sau hai mươi năm nữa mọi người trong thiên hạ nghiệm xem ai trong số những binh sỹ Mỹ phạm tội ác chiến tranh bị nêu tên trong bài viết này có sẽ được thưởng Huân Chương Sao Đồng, có trở thành Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, có là ứng cử viên Tổng Thống Mỹ, và có là Chủ tịch Trường Đại Học Fulbright Afghanistan hay không.

Tất nhiên, bài viết này còn để nhắc nhở có biết bao thường dân Việt Nam đã bị sát hại nhất là hàng ngàn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị chặt đầu bởi binh sỹ Trung Quốc và binh sỹ Kampuchea. Những tên cầm thú Khmer Đỏ hôi hám sau khi sát hại dã man 3.157 thường dân Việt Nam mà núi đầu lâu còn lưu chứng tích ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, đã bị Việt Nam đưa vạn hùng binh kéo rốc đánh đến tận hang ổ Phnom Penh giết sạch bọn chó dại để thực hiện truyền thống Việt: ân vạn kiếp vẫn đền, oán vạn đời vẫn trả. Tương tự, bọn giặc man di mọi rợ thối hôi Trung Quốc đã bị đánh cho tan tác phải để lại núi thây binh sỹ chất chồng trận địa chốn biên cương Việt. Không ai trong bọn chúng bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh, đơn giản vì toàn bộ đã bị Việt Nam bắt phải đền tội trực tiếp trên chiến trường tử địa.

Ngoài ra, bài viết này còn để nhắc nhở các chiến binh Việt hãy luôn khắc cốt ghi tâm rằng trong trận chiến của tương lai nếu buộc phải kéo rốc truy sát đến tận hang ổ Bắc Kinh, không được phép sát hại bất kỳ người Trung Quốc nào không cầm vũ khí, không mặc quân phục, để không bao giờ bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.

*********

Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2012

George Santayana tức Jorge Agustín Nicolás Ruiz de Santayana y Borrás (1863-1952), triết gia, tiểu thuyết gia và nhà thơ Tây Ban Nha, học tập thành tài tại Mỹ và ở lại giảng dạy tại Đại học Harvard cho đến năm 48 tuổi thì bỏ về Tây Ban Nha thề không bao giờ trở lại, được biết đến toàn thế giới với câu nói lừng danh “Those who do not remember the past are condemned to repeat it” tức “Kẻ nào lãng quên quá khứ (sai lầm xằng bậy của mình) sẽ phải lập lại quá khứ (sai lầm xằng bậy) ấy.” Hai bức ảnh dưới đây gồm bức đen trắng ảnh một binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần trên thân thể một chiến binh Việt Cộng và bức ảnh màu chụp cảnh các binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần dưới thân thể một chiến binh Afghanistan. Khoảng cách nửa thế kỷ của hai bức ảnh giữa một bên là vào những năm 60 của thế kỷ trước và năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ này (2010) vẫn cho ra một điều giống y nhau về thú tính bất nhân mọi rợ của những binh sĩ Hoa Kỳ ít – hoặc chẳng bao giờ được – học về nhân quyền, vốn là một sự thật mà bài viết này muốn nói đến, với sự trùng hợp của định mệnh khi tháng 4 năm nay là tháng của Lễ Chiến Thắng của Việt Nam – tức ngày chiến bại của Hoa Kỳ, đất nước của binh sĩ trong ảnh đen trắng bên trái – và tháng 4 năm 2012 này cũng là tháng mà tờ báo Los Angeles Time Hoa Kỳ đăng tải hàng chục bức ảnh bất nhân mọi rợ của các binh sĩ Mỹ đối với xác “đối phương” và người dân vô tội Afghanistan với bức ảnh màu bên phải là một thí dụ. Vậy lập lại sai lầm là như thế nào.

US Army 1

Khi người thợ săn hạ được con thú, người ấy đứng chụp hình bên chiến lợi phẩm (y như nhà vua Vương Quốc Bỉ vừa bị “bỉ’ mặt vì lén qua Phi Châu dùng tiền thuế của dân bắn hạ một con voi, chụp hình với xác voi, rồi bị hồn thiêng của voi vật té ngựa bị trặc hông phải nhập viện làm bại lộ chuyến đi). Khi các binh sĩ Mỹ chụp hình với xác đối phương, ấy là họ xem đối phương là con thú. Họ xúc phạm Đức Chúa Trời nếu họ vẫn tin rằng ông ta tạo ra vạn vật và loài người. Họ xúc phạm tổ tiên Hoa Kỳ, những người bị lưu đày, những tên tội phạm, những kẻ thất thế sa cơ ở Châu Âu đổ về vùng đất mới (nay gọi là Hoa Kỳ) để được sống kiếp người, với khát vọng con cháu họ sẽ được là con người và biết tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền. Hãy thử xem đó là do sự dốt nát của vài chiến binh, hay là sự lập lại, sự lây lan, sự lưu luyến những lề thói cũ của những kẻ cho mình là người và những kẻ gần những kẻ cho mình là người nên cũng nghĩ chỉ có mình mới là người và bắt chước bọn tự cho mình là người ấy để xem kẻ thù chung là con vật.

Trong khi dân quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vội nhào xuống nước bơi nhanh đến cứu sống viên phi công John McCain ngày 26-10-1967 khi máy bay ném bom Mỹ sau khi tàn phá Hà Nội bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với Ông với tình người và tinh thần nhân quyền, tôn trọng tù binh chiến tranh theo đúng công ước quốc tế, để sau này Ông trở thành Thượng Nghị Sĩ, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ

US Army 2

hoặc võng cáng đưa tù binh Mỹ bị thương đi sơ tán tránh bom Mỹ

US Army 3

thì các chiến binh Hoa Kỳ lái xe thiết giáp kéo lê xác một “Việt Cộng” như xác một con vật,

  US Army 4

hoặc xúm lại tra tấn tù binh cộng sản (hai chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đầu để đổ nước vào mũi tù binh, còn chiến binh Hoa Kỳ dùng đầu gối ấn vào bụng cho tù binh ói nước)

US Army 5

còn khi gặp phải “tên Việt Cộng” trung kiên với Đảng, không khai báo, họ lôi “hắn” lên trực thăng bay cao vài cây số rồi xô xuống

 US Army 6

Đối với tù binh cộng sản, các quân nhân Mỹ đã làm những điều điều tàn ác như thế, thì chỉ có dân lành mới đúng là số đông lý tưởng cho một cuộc đi săn thú mà thôi, như cuộc thảm sát ở Mỹ Lại năm nào:

 US Army 7

Học tập từ quân trường Quang Trung theo các bài bản của Mỹ, viên đại úy Việt Nam Cộng Hòa này đã đằng đằng sát khí lăm lăm ngọn lưỡi lê chực chọc vào bụng một tù binh cộng sản trong khi các quân nhân Cộng Hòa khác ái ngại thảng thốt đứng nhìn

US Army 8

Tương tự vị sĩ quan, người lính Cộng Hòa này đã dùng lưỡi lê cắt họng người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)

US Army (3)

lưỡi lê luôn là dụng cụ tra tấn và sát hại tù binh cộng sản

 US Army 10

sự sợ hãi lồng căm thù khiến người chiến binh Cộng Hòa xem người phụ nữ già không khác gì một tên giặc

US Army 11

đến độ sự vô cảm với người dân còn được ống kính một phóng viên nước ngoài ghi cảnh một nông dân bế xác con thơ, với những gương mặt hoặc tò mò hoặc cười vui vẻ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trên xe thiết giáp, tháng 3 năm 1964

US Army 12

Nhưng trong khi các sĩ quan Mỹ giở trò thú tính và vị tư lệnh Mỹ phải cố phân trần để không kết tội họ, thì tình hình rất khác trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tước khẩu AK của chiến binh cộng sản Bảy Lốp

US Army 13

dẫn Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh hoàng hoảng hốt của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài

US Army 14

viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường phố Sài Gòn, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh

US Army 15

Thế đấy, trong khi những người cộng sản Việt Nam biết tuân thủ các công ước quốc tế về tù binh chiến tranh thì các chiến binh của họ đã không được kẻ thù đối xử tương tự. Họ: những kẻ cho mình là người, và xem kẻ thù là súc vật, khiến bức ảnh sau trên tạp chí Life số ra ngày 26-11-1965 đã khiến người dân các nước trên thế giới phản đối

US Army 16

Sau khi xảy ra vụ tồi tệ tại Mỹ Lại, Mỹ đã phủ nhận “quá khứ”, để rồi tháng 4 năm 2012 này lại phải đối mặt với vụ tồi tệ mà các binh sĩ Mỹ đã gây ra với tù binh và dân thường Afghanistan.

US Army 17

Sau khi giết em Mudin, một thiếu niên đang chạy bộ kiếm mua thức ăn cho gia đình, các quân nhân Mỹ đã lột trần truồng thi thể của Mudin. Andrew Holmes và Jeremy Morlock thay phiên nắm tóc dựng đầu xác chết của Mudin. Việc chụp hình cứ như thể đó là một chiến công đã bắn hạ một quân phiến loạn tức một con vật. Tệ hại hơn, Holmes đã cắt mấy ngón tay của cậu bé Mudin, cất vào túi có dây kéo và bảo các chiến hữu rằng sẽ phơi khô đem về làm bộ sưu tập sau này.

US Army 18US Army 19

Morlock còn khét tiếng với màn chụp hình vui vẻ với vài trẻ em Afghanistan dạn dĩ rồi lên xe quân sự Stryker vừa lái vừa ném kẹo để các trẻ này cùng rất đông trẻ em rụt rè khác túa ra từ nhà dân ra lượm kẹo, còn Morlock xả súng ra phía sau, tàn sát các em bé này, trong khi các chiến hữu khác cho xe Stryker cán dày xéo lên người các em.

US Army 20

Andrew Holmes, Michael Wagnon, Jeremy Morlock và Adam Winfield đã làm ô danh nước Mỹ và tất nhiên nếu luật pháp Mỹ tha tội cho chúng như đã từng tha tội cho những kẻ gây ra cuộc thảm sát ở Mỹ Lại (Việt Nam), thì chúng cũng sẽ kết thúc phần đời còn lại trong tủi nhục vì bị khinh rẻ bởi người dân Mỹ chân chính. Nhưng chính quân đội Mỹ mới phải chịu phần trách nhiệm lớn nhất vì đã đào tạo ra những anh hùng cá nhân bịnh hoạn, không mô phỏng mô hình giáo dục quân đội cộng sản Việt Nam, nơi đào tạo ra những chiến binh anh hùng cách mạng. Ngay từ ngữ phân trần của tư lệnh Mỹ tại Afghanistan rằng quân nhân Mỹ được học điều lệnh rằng phải handle remains (xử lý xác chết hoặc phần thi thể còn lại) của quân thù một cách nhân văn nhất có thể được mà không hiểu rõ tiếng Mỹ tiếng Anh rằng “handle” không mang nội hàm duy chỉ có nghiêm túc, còn “nhất có thể được” luôn mang nội hàm không bao giờ cao nhất, không bao giờ tốt nhất, và thậm chí có cũng được mà không thì cũng chẳng hề chi. Một quân đội lại dùng thứ tiếng Anh thô thiển đầy sai sót như thế trong quân lệnh, thì sao lại có thể trách các binh sĩ nếu họ đột xuất thành thú vật như người sói lúc tròn trăng?

Vì sai lầm muốn hạ “Bắc Việt” bằng mọi giá, năm 1974 Mỹ đã làm ngơ, bỏ mặc cho các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh tan tác, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc sát hại, và Quần Đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, nhằm làm Bắc Việt hoặc phải lo đánh nhau với Trung Quốc không thể tiếp tục chống Mỹ, hoặc bị ô danh mang tiếng “bán nước” vì để yên cho Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sai lầm này của Mỹ đã khiến Trung Quốc chiếm ưu thế mưu bá đồ vương làm chủ Biển Đông, về sau đe dọa an ninh các quốc gia đồng minh của Mỹ trước kia thuộc khối quân sự SEATO tức Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, cái tổ chức đã tan rã cùng với sự tháo chạy của Mỹ, sau đó đã  kết hợp lại với Việt Nam hình thành khối kinh tế ASEAN ngày nay, mà Mỹ dù có muốn quay lại cũng đã muộn màng về chiến lược trước thế lực hải quân hùng mạnh của Trung Quốc.

Vì sai lầm muốn hạ Việt Nam cộng sản bằng mọi giá, thay vì nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1976, viện trợ Việt Nam, bồi thường chiến phí, giúp Việt Nam nhanh chóng giàu mạnh như Nhật Bản để bảo vệ an nguy cho toàn vùng Đông Nam Á vốn toàn là đồng minh của Mỹ, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Cam Ranh, cho phép chiến hạm Hoa Kỳ ngang dọc Biển Đông triệt tiêu tham vọng của Trung Quốc tràn xuống phương Nam chiếm đóng Đông Nam Á và xâm lược Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực, Mỹ vừa bật đèn xanh tuyên bố ủng hộ Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam năm 1978, vừa đánh bồi bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam khi thấy Việt Nam không những tồn tại trước sự xâm lược của Campuchia mà còn tiêu diệt luôn chế độ Khmer Đỏ, khiến Việt Nam chậm phát triển hơn trong thời điểm Trung Quốc phát triển nhanh hơn, và nay đe dọa uy thế của chính Hoa Kỳ, hù dọa các nước Đông Nam Á, thách thức sức mạnh hải quân Mỹ trong khu vực trọng yếu này của thế giới.

Vì tất cả những sai lầm trên, việc đầu tiên Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai là giáo dục lại quân đội Hoa Kỳ về nhân quyền, để họ biết phân biệt thế nào là văn minh và mọi rợ, thế nào là chiến binh anh hùng và sát thủ man di, nhất là thế nào là danh dự quốc gia vốn là điều mà binh sĩ Hoa Kỳ hầu như không biết đến; đồng thời, các tướng lĩnh Mỹ phải rà soát lại các điều lệnh, sử dụng những nội dung tiếng Anh mang nội hàm rõ ràng, minh bạch, nhằm triệt tiêu bất kỳ sự vi phạm nào mang tên do-không-hiểu-biết hoặc tại-bị-vì-bởi-ngôn-ngữ-chứa-sẵn-lời-động-viên-làm-bậy. Nếu không chấn chỉnh, sự có mặt của Hoa Kỳ ở Biển Đông thay vì đáp ứng sự kỳ vọng của người dân ASEAN, hành vi thú tính mất dạy về nhân quyền của binh sĩ Mỹ sẽ đưa Mỹ lâm vào bước đường mạt vận nếu các hạm đội Trung Quốc từ phương Bắc tràn xuống và các chiến binh Hồi giáo cảm tử Indonesia tức giận vì thi thể chiến hữu bị làm nhục ở các nước Hồi Giáo anh em sẽ từ phía Nam đánh lên bằng xuồng cao tốc.

Hãy học hỏi Việt Nam về nhân quyền để đừng bị lời nguyền lập lại sự thất trận của quá khứ.

US Army 21US Army 22US Army 23

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Trăm Trứng

Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-6-2016

Trước sự việc Tuyên Bố Chung của Hội Nghị Ngoại Trưởng Đặc Biệt ASEAN-Trung Quốc đã bị rút lại để tiến hành các “điều chỉnh khẩn cấp” có liên quan đến tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, cho thấy (a) Trung Quốc đã khống chế hoàn toàn ASEAN bằng kinh tế, và (b) ASEAN không thể nào là một tổ chức ra hồn có bất kỳ tí chút danh giá nào do chất chứa trong bản thân nó những đống bùn nhão trộn lẫn nơi nền móng giả-bê-tông tạo dựng ra nó, mà thứ bùn nhão ấy còn được ví như những con ngựa thành Troy – Trojan Horses – phản phúc phản trắc phản loạn phản bội, tôi nhớ lại trước đây đã có đăng một bài trên blog.com mang tựa đề “Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN”, nay xin đăng lại dưới đây để thêm một lần nữa trình bày cùng bạn đọc.

 Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-5-2012

Việc thành lập ACFTA – tức Khu Vực Thương Mại Tự Do ASEAN -Trung Quốc – là điều dại dột nhất trong toàn bộ lịch sử tồn tại của Khối ASEAN.

Nhiều năm trước, khi học lớp thạc sĩ kinh doanh quốc tế, tôi đã làm vị giáo sư Mỹ ngạc nhiên khi Ông hào hứng giảng về CHINDIA như tương lai xán lạn của một khối kinh tế hùng mạnh sẽ thống trị thế giới vì “Văn Phòng Của Thế Giới” Ấn Độ sẽ liên kết với “Công Xưởng Của Thế Giới” Trung Quốc (China + India = Chindia) hình thành một thực thể thị trường khổng lồ với tổng dân số của hai quốc gia đông dân nhất thế giới này lên đến nhiều tỷ người, thì tôi lại viết bài tiểu luận nộp giáo sư Mỹ để đã phá cái phát kiến điên rồ ấy (đồng thời tóm tắt qua bài “People Say Chindia, I say Vietnam” trên Yahoo!360), cho rằng nó sẽ không bao giờ hình thành, với những viện dẫn không thể hùng biện hơn về các yếu tố lịch sử, chủng tộc, văn hóa-xã hội, và tầm vóc tư duy, v.v., tất cả sẽ khiến cái thực thể mang tên Chindia chỉ có thể xuất hiện 30 năm sau Ngày Tận Thế. Tất nhiên, cho đến nay, Chindia vẫn còn nằm yên trên trang giấy trong những tác phẩm đã từng được bán chạy của những nhà trí thức tư bản của những học viện kinh tế luôn lừng danh kim cổ.

Tương tự, khi toàn bộ hệ thống truyền thông đại chúng ở Việt Nam lên cơn sốt với thương hiệu quốc gia “Nhà Bếp Của Thế Giới” từ ngay sau buổi thuyết trình ngày 22/8/2007 của Philip Kotler, với từ Phở được lập đi lập lại tràn ngập trong các bài viết và các buổi phỏng vấn đến độ giở trang báo đã ngữi thấy mùi Phở và ngay cả tivi cũng toát ra mùi Phở, thì tôi khẳng định trên Yahoo!360 rằng đó không bao giờ là nội hàm trong lời nói của Kotler (tôi biết rất rõ nhờ tôi có tham dự buổi thuyết trình của Kotler và nhờ tôi … không dùng headset nghe nội dung dịch thuật tiếng Việt), rằng không bao giờ đó là danh xưng của Việt Nam, và rằng Phở chỉ là món ăn tầm thường trong danh mục ẩm thực quốc tế. Tất nhiên, cho đến nay, “Nhà Bếp Của Thế Giới” chẳng là của Việt Nam, Phở chẳng là kiệt tác ẩm thực của Việt Nam, và cả “Nhà Bếp Của Thế Giới” cùng Phở đã mất tích trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào kể từ đầu năm 2009.

Năm 2010 khi nghe sự hình thành ACFTA, tôi đã tiếc sao mình chẳng thể làm gì để ra tay can ngăn sự ký kết dại dột của ASEAN với Trung Quốc. Khối ASEAN với mười quốc gia gồm Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thailand, và Việt Nam, đã kỳ vọng sai lầm rằng việc ký kết với Trung Quốc sẽ hình thành nên một khối tự do mậu dịch kỳ vĩ lớn hàng thứ ba thế giới, một khu vực tự do thương mại đông dân nhất hành tinh, và cũng là một vùng tự do thương mại hàng đầu của thế giới các quốc gia đang phát triển. Đó là sự vụng tính Lose-Win hơn là một kế sách Win-Lose nghiêm túc, khôn ngoan, nhất là trên thực tế không bao giờ tồn tại bất kỳ tình thế thực chất nào mang tính Win-Win. Đó là việc rước voi về dày mã tổ chứ nào phải mình được cùng ngự cưỡi lưng voi. Tôi đành tắc lưỡi nói với các cộng sự thân tín rằng ACFTA chỉ là một thực thể trên giấy để trang trí cho một bức tường chứ không bao giờ có giá trị trong đời sống thật, và Khối ASEAN hỡi hãy chống mắt mà xem mình Lose toàn diện ra sao và Trung Quốc Win tuyệt đối thế nào! Thiết tưởng không cần luận giải gì thêm vì Phở có giá hơn ACFTA nhiều nên nếu giải thích vì sao ACFTA sẽ thất bại, hóa ra tôi ban cho ACFTA cái diễm phúc được ngang hàng với món Phở hay sao? Và tất nhiên, cho đến nay, ACFTA cũng chẳng là cái thực thể kinh tế kinh khủng kinh hồn kinh nhỉ kinh thiên động địa gì cả, và trang web của nó cũng chỉ cập nhật các thông tin kinh tế bình thường của các nước trong khu vực y hệt như những gì lẽ ra đã xảy ra y hệt như thế mà không cần có cái ACFTA, như bằng chứng rõ nét nhất là  ACFTA bặt vô âm tín trên bề mặt và bề trong và cả bề sau hay bề trên cùng bề dưới của bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào ở Việt Nam kể từ đầu năm 2011.

Giá như trước đây tôi chịu khó theo đuổi chương trình tiến sĩ thì ắt những phân tích mang tính tiên đoán về số phận của ACFTA ngay từ 2010 đã có thể là nội dung bài luận án của tôi để các giáo sư Mỹ lại thêm phen sửng sốt, tâm phục khẩu phục, và ngữa mặt lên trời mà than rằng: “Hỡi ôi, cái sở học của Nước Mỹ thân yêu của ta nay đã đổ hết cả về Việt Nam Quốc rồi!”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

HHP Poem (1)

Nguyễn Thiện Nhân

                    Dụng Nhân Sai Lầm & Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-6-2016

NTNNTN1

A) Tôi Và Ông Nguyễn Thiện Nhân

Ông Nguyễn Thiện Nhân là một thí dụ điển hình về vấn nạn dụng nhân tại Việt Nam.

Trong tiểu sử của Ông công bố chính thức trên website của Quốc Hội Việt Nam, Ông có thời gian làm nghiên cứu sinh tại Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Tuy nhiên, sự thật lại không là như vậy.

Trong thời gian công tác ở Văn phòng Đại diện Công ty CIMMCO International (vốn là bộ phận xuất khẩu-nhập khẩu-dự án kỹ nghệ ngoài nước của CIMMCO Limited trực thuộc tập đoàn công-kỹ-thương-du Birla lừng danh của Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh), tôi thường đến Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc với Phó Chủ Tịch Nguyễn Văn Huấn (Anh Ba Huấn) và Chánh Văn Phòng Nguyễn Hậu (Anh Sáu Hậu). Trong một lần thực hiện một gói GOI Credit (viện trợ của Chính phủ Ấn Độ – Government of India), theo ý của Chủ tịch D.K. Goyal tôi lập kế hoạch đưa  Giám Đốc Amit Kumar Saxena đến gặp một lãnh đạo Sở, và thư ký của tôi đã phone liên lạc với một công chức ở Sở ấy để lên lịch cuộc hẹn. Vị công chức giúp thu xếp cuộc gặp ấy là Nguyễn Thiện Nhân.

Một thời gian sau, khi làm giám đốc điều hành cho Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ 100% vốn nước ngoài của Mỹ (Bang California), trở thành hội viên của Phòng Thương Mại Mỹ AmCham ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được mời tham dự một sự kiện do AmCham tổ chức ở Khách Sạn Caravelle. Tại buổi gặp với một trăm doanh nhân các công ty Mỹ này, viên chức Mỹ đứng đầu AmCham đã giới thiệu Ông Nguyễn Thiện Nhân với mọi người. Ông đã nói về Ông Nguyễn Thiện Nhân như một ngôi sao học thành tài từ Mỹ về trở thành lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, và khiến mọi người cười ầm lên khi nói “Ngài Nhân đây có bằng cấp tiến sĩ về một cái ngành gọi là Cybernetics mà tôi chẳng hiểu nó là về cái mô tê gì sất.” Ông Nguyễn Thiện Nhân sau đó đã phát biểu bằng tiếng Anh với cử tọa, trước khi mọi người dùng tiệc trưa.

Như vậy, Ông Nguyễn Thiện Nhân là Tiến sĩ Cybernetics của Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Đông Đức chứ không phải là “nghiên cứu sinh” như chi tiết lý lịch trên web. Không rõ vì sao có sự dấu giếm này về học vị tiến sĩ của Ông, khiến có sự hồ nghi rằng Ông đã không có bất kỳ công trình nghiên cứu nào sau đó để thực hành xây dựng kỹ thuật tiên tiến cho đất nước, phát triển ngành Cybernetics tại Việt Nam, làm Ông trở thành người Việt Nam duy nhất biết thế nào là Cybernetics.

B) Cybernetics Kỹ Thuật Điều Khiển Học

Cybernetics là ngành Kỹ Thuật Điều Khiển Học. Đây là ngành được ứng dụng bởi quân đội Hoa Kỳ để chế tạo các vũ khí mà người ta ngày nay vẫn lầm tưởng chỉ là hư cấu do chưa thấy xuất hiện ngoài đời mà chỉ có thể thấy được trên các phim viễn tưởng hoành tráng kiểu Star Wars – Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao, hoặc gần đây nhất là những phim khoa học giả tưởng vĩ đại kiểu Avatar. Từ thực tế đã chế tạo xe bốn chân sử dụng trong quân đội Hoa Kỳ như các dòng CAM (cybernetic anthropomorphous machine của công ty General Electric) có chiến sĩ “lái” (cổ xe to có 4 chân) nếu để tấn công,

NTN0

hoặc không người lái (to như một chú ngựa) nếu để tiếp liệu vũ khí đạn dược quân trang quân dụng ra chiến trường:

NTN3

đến những thăng hoa lấn vào tất cả các thiết kế dữ dội của phim ảnh Hollywood như những thứ vũ khí tấn công của tương lai với một chiến binh sử dụng không phải xe tăng mà là robot tăng cử động chính xác theo từng cử động tay (để sử dụng hỏa lực trên hai tay của robot) và chân (để đi, bò, chạy) của chiến binh bên trong “buồng điều khiển” tức “cabin”, người ta đều thấy hiện thực và tương lai của Cybernetics

NTN4NTN5NTN6

khiến từ chiếc CAM thành phẩm của thực tế người ta đã thiết kế ra mô hình các “chiến xa” hai chân, bốn chân, hay sáu chân mang tên AT-AT (Thiết Giáp Địa Hình), AT-ST (Trinh Sát Địa Hình), AT-DP (Phòng Thủ Địa Hình), AT-TE (Tiếp Viện Chiến Lược Địa Hình), AT-PT (Chuyển Quân Địa Hình), AT-AA (Phòng Không Địa Hình), AT-TR (Tấn Công Địa Hình), AT-XT (Thám Sát Địa Hình), AT-OT, AT-RT, v.v., mà chắc chắn sẽ tiến từ viễn tưởng sang thực tế như đã luôn xảy ra trước đó với tiềm thủy đỉnh, phi cơ, phi thuyền, hỏa tiển hành trình, và “drone” sát thủ bay không người lái, v.v., để phục vụ chiến tranh.

C) Dụng Nhân Sai Lầm

Thế mà thay vì Việt Nam có một nhà vũ khí học Nguyễn Thiện Nhân hoặc một giáo sư giảng dạy khai sinh ra ngành điều khiển kỹ thuật học Cybernetics lợi nhuận hàng triệu tỷ USD cho Việt Nam chỉ mới tính cho mỗi việc chế tạo thiết bị phục vụ người khuyết tật chi vận động trên toàn thế giới, người ta lại thấy con đường bình thường cực kỳ tầm thường mang tính cố tật cố hữu của cách “dụng nhân” của Việt Nam: hễ có bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ là được bố trí làm…lãnh đạo, dù là lãnh đạo quản lý trường đại học hay lãnh đạo quản lý trái ngành. Đây là lý do mang tính vấn nạn khiến Việt Nam

(a) thiếu chuyên gia công kỹ nghệ bậc cao,

(b) tạo tâm lý phổ biến nhanh lan tỏa rộng của thói hám hư danh thuần túy từ chương: học để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(c) học thạc sĩ hay tiến sĩ không để theo đuổi con đường nghiên cứu mà cũng chỉ để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(d) khiến chất lượng giáo dục đại học ngày càng xuống cấp vì các tiến sĩ lo giữ ghế quản lý và dành thời gian đi phát biểu ở các hội nghị,

(e) các tiến sĩ làm nhà tư vấn đẳng cấp quốc gia chỉ có thể cho ra các phát biểu sâu sắc phục vụ cho các bản tin báo chí hay phát hình chứ không có giá trị thực tiễn dựng xây phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và nghiêm trọng nhất là

(f) giáo sư tiến sĩ ngồi sai ghế.

Ông Nguyễn Thiện Nhân là thí dụ điển hình của sáu số chữ cái trên.

Vấn nạn lớn nhất ở đây còn là vì sao bao tiền bạc và cơ hội học tập chuyên ngành lại đổ dồn cho cá nhân một cán bộ, mà ở đây điển hình là Ông Nguyễn Thiện Nhân được ban cho các học bổng (dù cho sự tài trợ là của Đảng hay của nước ngoài) đi học tiến sĩ kỹ thuật điều khiển học hiện đại Cybernetics ở Đông Đức, học Kinh Tế Thị Trường tại Tây Đức, học Thạc sĩ Quản Lý Cộng Đồng ở Hoa Kỳ, học Thẩm Định Dự Án Đầu Tư ở Mỹ, thay vì dành cho 4 cán bộ khác nhau để Việt Nam có được một kỹ sư Cybernetics ra hồn, một chuyên gia kinh tế thị trường ra ngô, môt chuyên viên quản lý cộng đồng ra khoai, một nhà thẩm định dự án ra trò. 4 cơ may cho 4 ngành học khác nhau đã dồn về duy chỉ Ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ để ông lên làm Ủy Viên Trung Ương Đảng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Phó Thủ Tướng. Đây là sự sai lầm nghiêm trọng trong đào tạo nhân sự và sử dụng nhân sự để rồi nhân sự tiếp tục đi lên, khoa học kỹ thuật cùng học thuật hàn lâm nước nhà thì tiếp tục đi xuống, và Đảng liên tục bị bể kế hoạch thời gian đối với “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ Trưởng Giáo Dục, các trường đại học mọc lên hơn nấm, khiến di họa cho đến tận ngày nay khi gần nửa ngàn trường đại học khó tuyển được sinh viên đến độ Bộ Giáo Dục phải cứu nguy bằng cách bỏ hầu hết các kỳ thi ở trung học và đại học để trường nào cũng có được người đi học, khiến số lượng cử nhân mà người ta ban tặng cho danh xưng “trí thức trẻ” gia tăng trong bảng thống kê không có việc làm “phù hợp” hoặc không có việc làm. Ông Nguyễn Thiện Nhân lẽ ra đã không nên được giao cho trọng trách Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Phó Thủ Tướng, mọi sự dưới quyền giám quản của Ông cũng không có gì để lưu danh hậu thế, để rồi Ông trở thành Chủ tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cho đến tận ngày nay.

D) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Điều cần đặc biệt quan tâm ở đây là: sức mạnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam được duy trì nhờ vào ba thế lực quan trọng của (a) các lực lượng vũ trang, (b) Tổng Liên Đoàn Lao Động, và (c) Mặt Trận Tổ Quốc.

Nếu như các lực lượng vũ trang vẫn luôn là thế lực hùng mạnh của Đảng, thì hai phần còn lại đã, đang, và sẽ có những vấn đề nan giải như sau:

1) Tổng Liên Đoàn Lao Động:

Đây là một tổ chức mang tính chính trị đặc biệt quan trong trong hệ tư tưởng chính trị Cộng sản Mác-xít Lê-nin-nít vốn xem trọng lực lượng lao động nói chung và công nhân nói riêng. Tuy nhiên, vấn nạn ở đây là (a) giới lãnh đạo Tổng Liên Đoàn hầu như chẳng ai xuất thân hay đang thuộc tầng lớp công nhân lao động để danh chính ngôn thuận là thế lực bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân lao động toàn quốc; và (b) với quy trình hội nhập toàn cầu, tham gia các hiệp định khổng lồ, trong đó có những hiệp định mới nhất và to nhất như Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP cùng Hiệp Định Đối Tác Thương Mại Việt Nam – EU, v.v., thì tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải có quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn riêng, khiến lung lay vị thế của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, đặt Tổng Liên Đoàn từ vị trí độc tôn độc quyền xuống vị trí phải cạnh tranh ngang bằng bình đẳng lành mạnh với các tổ chức công đoàn khác của vô số doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam. Vấn đề này có nghĩa là Tổng Liên Đoàn phải hóa thân thành một thực thể đem lợi ích thực tế đến người lao động để thu hút người lao động xin vào hoặc muốn tiếp tục tồn tại dưới sự đùm bọc bảo vệ chở che của Tổng Liên Đoàn; tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với sự thật rằng sẽ có một bộ phận hoặc nhỏ hoặc lớn trong tầng lớp lao động sẽ hoạt động tại những công đoàn khác, tại nơi họ làm việc, công tác.

2) Mặt Trận Tổ Quốc:

Đây là một tổ chức cực kỳ quan trọng, vì rằng nếu lực lượng vũ trang là những chiến sĩ chuyên nghiệp đặc thù và tổng liên đoàn lao động quy tụ toàn bộ lực lượng công nhân lao động của chế độ, thì Mặt Trận Tổ Quốc quy tụ toàn bộ dân chúng còn lại dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa. Với những chức năng đã được luật hóa, cộng với những thách thức khủng khiếp của thời đại, thời cuộc, thời gian, và thời thế, vai trò của Mặt Trận Tổ Quốc và lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc càng trở nên cực kỳ nặng nề, cực kỳ đa dạng, cực kỳ cấp bách, cực kỳ quan trọng, cực kỳ quyết định. Lãnh đạo Mặt Trận, do đó, phải là những người mạnh mẽ, trí tuệ, uy tín, tài năng, có tầm nhìn thấu thị chiến lược được thể hiện cụ thể qua sự “biết lo trước cái lo của người dân”, những yêu cầu mà Ông Nguyễn Thiện Nhân không thể nào đáp ứng đủ đầy.

Trước tình hình mới và nhiều thách thức, Mặt Trận Tổ Quốc dường như biến mất tăm mỗi khi có tụ tập khiếu kiện bức xúc đông người, cứ như phó mặc cho ai khác phải chịu trách nhiệm, chứ hoàn toàn không thể hiện chức năng dân vận, và biến việc gần gũi với nhân dân bị đơn giản hóa thành công đoạn thu thập ý kiến của cử tri để đúc kết chờ đến kỳ họp Quốc hội bảo đảm vị Chủ tịch Mặt trận có nhiều chi tiết để báo cáo, trong khi bất kỳ người dân – cử tri – nào cũng có thể nêu ý kiến bằng thư bưu chính, bằng thư điện tử, bằng phát biểu tại các buổi tiếp xúc cử tri, hay qua báo chí và ở tất cả các phòng tiếp dân của tất cả các cơ quan hành chính các cấp, v.v., chứ không buộc phải gởi đến Mặt Trận để Mặt Trận mỗi năm chuyển tổng kết ra Quốc hội hai lần.

Mặt trận chỉ xuất hiện rầm rộ mỗi năm năm một lần vào dịp bầu cử toàn quốc.

Thậm chí có vị lãnh đạo Mặt trận của Thành phố Hồ Chí Minh lúc đương nhiệm thì chẳng ai biết đến, khi về hưu thì đột nhiên phát hành những bức tâm thư “viết trên giường bệnh” chống đối chế độ.

Dưới đây là một bài viết về Ông Nguyễn Thiện Nhân tôi đã đăng trên Emotino năm 2010 tức trước khi tôi trở thành nghị sĩ Quốc hội khóa XIII (2011-2016); xin đăng lại để chứng minh tầm lãnh đạo của Ông:

E) Bài Viết Năm 2010: 

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên — Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2010

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” và “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dựa trên câu đề xuất của tôi nhưng lại né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức … “chất lượng cao”. Người dân được mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác gặp khó khăn lại sẽ có các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào của Việt Nam không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng, để rồi sau cừng chục năm nữa sẽ phải chứng kiến toàn bộ hàng hóa của ngành công nghiệp bán lẻ ở Việt Nam sẽ tràn ngập hàng hóa của ngoại bang.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (1) có nhận thức đầy đủ rằng nhóm chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (2) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” .

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn là nan y trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

F) Giải Cứu Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Vì vậy, Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nhất thiết phải (a) hiểu rõ trách nhiệm của Mặt Trận trong hoàn cảnh mới đặc thù của Việt Nam và (b) có vị chủ tịch mới để thay thế Ông Nguyễn Thiện Nhân là người chưa hề có chút công trạng cụ thể nào trong thực tiễn quản lý nhà nước của mình.

Bà Trương Thị Mai nên là tân Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ngoài Bà Trương Thị Mai, Việt Nam không có bất kỳ ai đủ tầm, đủ tâm, đủ lực, đủ thần uy bằng Bà Trương Thị Mai để nắm quyền đưa một tổ chức đã có quá khứ vĩ đại như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam quay trở lại vị thế đáng tự hào như ban đầu của nó.

Đừng để một thế lực từng hùng mạnh vốn đã là chủ thể của đại cuộc giải phóng miền Nam nay chỉ còn là một tổ chức chỉ có hư danh mà người dân chỉ biết đến mỗi năm năm một lần qua cuộc bầu cử quốc gia – mà thậm chí ngay cả cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các câp nhiệm kỳ 2016-2021 này cũng không tổ chức ra hồn, không giám sát ra ngô, cho ra kết quả luộm thuộm chẳng ra khoai, và để lại vết nhơ chẳng ra thể thống gì cả của các sai sót và vi phạm pháp luật bầu cử sau ngần ấy thập kỷ tồn tại của mình.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghi-sĩ Đương-nhiệm Quốc-Hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Tham khảo:

Tôi và Lê Hiếu Đằng của Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh  (bài đăng ngày 29-8-2013)

Phim tài liệu về “Xe Đi” của hãng GE Hoa Kỳ thử nghiệm năm 1965: https://www.youtube.com/watch?v=coNO9FpDb6E

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Để Đoạt Giải Nobel Văn Chương

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-5-2016

Screen Shot 05-29-16 at 12.45 PM 001

A) Kẻ Bận Rộn

Tôi có thói quen hay tìm đọc những bài báo nước ngoài, những tác phẩm nước ngoài, về những đề tài tôi đã biến thành thói quen tìm tòi từ những năm đại học để có tư liệu và kiến thức phục vụ công việc một giảng viên Anh Văn, đó là về quân sự, vũ khí, thế giới sử, triết sử, tôn giáo, chính trị, môi trường sinh thái, cổ sinh vật học, và văn học nước ngoài. Những nội dung này của thói quen ấy gần đây càng trở nên vừa dễ dàng vừa ít tốn kém nhờ vào phương tiện internet và các công cụ kiếm tìm online. Song, cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà tôi chẳng có thời gian để đọc bất kỳ những gì trái lề trái lẽ trái đạo của bất kỳ ai.

Thời gian trong ngày có hạn nên tôi lại có thêm một thói quen khác để phục vụ thói quen trên, đó là chẳng quan tâm đọc những bài viết chê bai Việt Nam bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của người trong nước hay người ngoài nước viết, do nội dung toàn bộ các chủ đề chê bai của các bài viết ấy đều nằm gọn trong sự hiểu biết của tôi, chẳng hạn khi cựu giám đốc Sở Tư Pháp Thành phố Hồ Chí Minh nhân buổi tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu số 1 gồm ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch, và tôi, tại Quận 3 cuối năm 2011 cầm micro lớn tiếng chống tôi rồi gởi cho cả ba người bức thư mà theo ông nêu rõ các lý do chính đáng cần phải có Luật Biểu Tình, thì tôi phải trung thực thú thật rằng do biết hết các kiểu lập luận tung hê ý nghĩa của Luật Biểu Tình của bất kỳ ai trên toàn thế giới, tôi đã để bức thư còn trong phong bì niêm kín ấy nơi nào mà đến nay tôi cũng chẳng rõ. Tôi chỉ biết rõ một điều là khi ông ấy tại vị, ông ấy vì giữ ghịt lấy chiếc ghế quyền lực mà chẳng mở mồm đề nghị Nhà Nước sớm cho ra Luật Biểu Tình bao giờ, cũng như chẳng hề viết dự thảo Luật Biểu Tình giúp Nhà Nước đẩy nhanh tiến độ ra Luật Biểu Tình, và ông chẳng làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh không còn tầy huầy các vụ khiếu kiện kéo dài hàng thập kỷ của người dân.

Gần đây, các nhà giáo là học trò tôi có cho tôi biết tin cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền Thành phố Hồ Chí Minh đã gởi 8 thỉnh cầu đên bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ, tôi cũng không đọc nội dung mà học trò tôi chuyển bằng email đến, chẳng qua vì tôi có thể hiểu tất cả các thỉnh cầu có thể có cho nền giáo dục Việt Nam, nên dù rất kính trọng cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, tôi vẫn không quan tâm dành thời gian để đọc xem 8 thỉnh cầu ấy gồm những gì.

Và trước cái gần đây ấy, tôi cũng được các học trò cho biết về vụ một giáo viên Văn ở tỉnh nào đó có bằng cấp Thạc sĩ đã đăng một bài thơ lên Facebook mang tựa đề Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh. Tôi cũng theo phong thái cố hữu là sau khi rối rít cảm ơn các em đã không ngừng báo cáo các sự việc diễn ra trong xã hội dân sự, tôi lại tiếp tục tìm đọc trau giồi kiến thức chứ chẳng xem bài thơ đó theo thể nào, gồm mấy câu, gieo vần có chuẩn không. Tôi không cần xem nội dung vì chẳng lẽ tôi lại chưa nắm hết tất tần tật những gì mà những kẻ bất tài vô dụng thường càm ràm ca cẩm về đất nước Việt Nam, về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Chính phủ Việt Nam, về con người Việt Nam, nhất là mới có những sự cố mới tinh xảy ra như tin tức tivi loan tải? Đối với tác giả bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh, tôi có các ý kiến sau, mà tôi biết chắc chắn rằng nếu cô giáo tác giả ấy đọc được bài viết này của tôi sẽ có cơ may tuyệt diệu trở thành văn tài đất Việt đoạt giải Nobel Văn Chương, vì đẳng cấp Thạc Sĩ tại một quốc gia hám chuộng hư danh như Việt Nam luôn máy móc mặc định Tiến Sĩ giỏi hơn Thạc Sĩ, Thạc Sĩ giỏi  hơn Cử Nhân, và ai có mấy cái bằng cấp đại học và trên đại học sẽ tự động trở thành “trí thức”, thì hơn ai hết cô giáo Văn có bằng Thạc Sĩ như tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh lẽ nào không thuộc hàng ngũ đại tài hiếm hoi của ngành giáo không những bản thân sẽ đoạt Nobel Văn Chương mà còn khiến môn Văn trở thành ngành học mũi nhọn ở Việt Nam nhiều nghìn năm văn vật này.

B) Một Ngày Trong Đời

Cuối năm học lớp Nhất (nay là lớp 5) trường Tiểu học Phan Đình Phùng ở Quận 3 Sài Gòn, tôi đoạt giải thưởng toàn niên hạng nhất, với danh dự là Trưởng Đội dự thi Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn (tương tự như Đường Lên Đỉnh Olympia của VTV hiện nay) đã cùng các bạn khác là Tống Kim Lan (nay ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sơn Hải (nay ở Hoa Kỳ) thắng đội nữ sinh áo đầm hồng của trường Hồng Bàng, tôi thấy trong núi phần thưởng ôm về nhà có quyển truyện dịch của tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà lời nói đầu cho biết tác giả là Alexander Solzhenitsyn của Nga Sô (cách Sài Gòn gọi Liên Xô) đã trốn khỏi Nga Sô và được nhận giải Nobel Văn Chương cho tác phẩm ấy. Tác phẩm dày cộm đó bắt đầu câu truyện vào sáng sớm khi các tù nhân lũ lượt ra công trường lao động khổ sai và kết thúc vào buổi chiều tà trong cùng ngày hôm ấy khi các tù nhân lê lết trong tuyết giá trở lại trại giam, cho thấy mức độ khủng khiếp của chỉ một ngày thôi đã ra sao trong suốt thời gian lao động chung thân tại địa ngọc trần gian đó.

Thế nhưng, nay với phương tiện internet, tôi biết bảy chi tiết quan trọng từ thông tin nội khối tư bản phương Tây rằng (a) sự cứng rắn tuyệt đối thời Stalin là có thật do bàn tay sắt có thật đã phát huy tác dụng tối đa có thật trong cai trị đất nước để có thể đơn thương độc mã thật sự đánh thắng Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, và Quân Phiệt Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến; (b) bản thân Alexander Solzhenitsyn chỉ huy một cánh quân Hồng Quân chiến đấu trên các chiến trường chính trong Đệ Nhị Thế Chiến với 2 lần được thưởng huy chương và một Huân Chương Sao Đỏ năm 1944; (c) bản thân Alexander Solzhenitsyn từng bị tù đày từ 1945 đến 1953 tại trại Karaganda ở Bắc Kazakhstan do viết lách chống đối, gọi Stalin là Lão Già Râu Kẽm; (d) sau khi mãn hạn tù đày, Alexander Solzhenitsyn dự theo kinh nghiệm bản thân viết nên tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich để tả lại những hà khắc tại trại lao động mà bản thân ông đã kinh qua, và bản thảo này đã được lãnh đạo Cộng Sản Nga là Nikiti Khrushchev duyệt cho phép in ấn phát hành; (e) Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel Văn Chương năm 1970 cho tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nhưng ông chỉ gửi bài phát biểu nhận giải chứ quyết định không đi nhận giải tại Stockholm vì sợ bị cấm trở về nước; (f) Alexander Solzhenitsyn bị lên án là kẻ thù của quốc gia, bị tước quốc tịch, và bị trục xuất khỏi Liên Xô năm 1974 sang Tây Đức và trở về Nga năm 1994 khi Liên Xô tan rả; và (g) tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich được nước Anh dựng thành phim nhưng bị nước Phần Lan cấm chiếu.

Screen Shot 05-29-16 at 11.25 PM

Như vậy, không như tuyên truyền hoàn toàn xằng bậy của Việt Nam Cộng Hòa, Alexander Solzhenitsyn (a) không đào thoát trốn khỏi Liên Xô, (b) không bị Cộng Sản “đì” vì viết Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà tác phẩm này được chính lãnh tụ cứng rắn Khrushchev cho phép ấn hành, (c) bản thân rất sợ không được cho ở lại đất nước Liên Xô, (d) bản thân không đến Stockholm nhận giải Nobel nên không có chuyện buộc phải sống lưu vong vì Liên Xô phong tỏa đường về, (e) bản thân là người yêu nước chiến đấu trên mặt trận lửa đạn kinh hoàng của Thế Chiến II dưới quân lệnh nghiêm ngặt khủng khiếp của Stalin và có chứng kiến những sự hành quyết quân thù mà sau đó các địa điểm mồ chôn đều được kiểm chứng, và (f) bản thân là tù nhân của trại cải tạo lao động khét tiếng mà bản án còn ghi sau mãn án lưu đày viễn xứ sẽ bị quản thúc suốt đời nơi vùng sâu vùng xa biên cương Kok-Terek.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ câu chuyện về văn hào Alexander Solzhenitsyn là:

Nếu muốn sáng tác rùm beng một vụ việc “tiêu cực” hoặc “đáng sợ” hay “đáng tởm” ở Việt Nam chẳng hạn như vụ “cá thối” thì bản thân cô giáo thạc sĩ nên có thâm niên bản thân hành nghề săn bắt cá, có thực tế bản thân bần cùng khốn khổ do hết nẻo sinh nhai do cá chết sạch mà nhà nước cộng sản Việt Nam chẳng ra tay cứu tế chẩn bần, có thực tế bản thân bị hỗn bệnh tức bệnh hỗn hợp của tịt mũi, tắt tiếng, sưng họng, loét ruột và tiêu chảy vì ăn cá chết ngay tại vùng biển bị nhiểm độc hóa chất ấy, có thực tế bản thân từng nhiều lần được nhà nước trao tặng huy chương vì sự nghiệp bảo vệ môi sinh, có thực tế bản thân yêu đất nước rất sợ bị tước quốc tịch Việt Nam để phải sang Mỹ lưu vong, v.v. Và chỉ cần hội đủ các điều ấy – cộng với việc nhờ một nhà dịch thuật tài hoa nào đó không rõ có ở Việt Nam không để chuyển tải bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh ra tiếng Anh thơ ca hàn lâm – thì bảo đảm Giải Nobel Văn Chương không thể nào rơi khỏi tay cô giáo Văn có bằng cấp thạc sĩ ấy.

Do chỉ lo sáng tác toàn tưởng tượng, đơm đặt về đất nước, về chế độ cộng sản, hoặc nêu những sự thật có mức độ tiêu cực bình thường nước nào chẳng có, nên các “nhà văn” hầu như chỉ viết lên những chi tiết điên khùng như chuyện anh bộ đội sau chiến tranh về ôm hít chiếc quần xì-líp phụ nữ, thậm chí nhai nuốt chiếc quần ấy, như sự bung ra của dồn nén tình dục mà đời sống khắc khổ khiến các chiến sĩ giải phóng quân nào cũng bị ức chế hóa điên, chứ không như các chiến sĩ Cộng Hòa lành mạnh tinh thần vì mỗi lần xả trại là đến ngay các khu vực như Ngã Ba Chú Ía tấp nập cung cấp dịch vụ giải quyết sinh lý với giá cả phải chăng cho những anh hùng chống Cộng bảo vệ quê hương. Cũng vì vậy mà tất cả – xin nhắc lại là tất cả – những cái gọi là “tác phẩm” văn thơ mang hơi hướm tấn công tiêu cực hay “hiện thực phê phán” xuất phát từ Việt Nam đều là thứ thậm chí không có được ngay cả cái danh dự được nằm trong sọt rác của ban xem xét giải Nobel Văn Chương mà chỉ cung cấp cho giới chống Cộng có tư liệu bằng vàng để hả hê cười nhạo chế độ Cộng sản Việt Nam, cười nhạo nhiều chục triệu người dân Việt Nam đang sống tự hào tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nghĩa là ngoài sự được ngợi ca bởi những kẻ thù của chế độ và những kẻ không bao giờ nằm trong danh sách những nhà xuất bản danh tiếng hàn lâm toàn cầu, các “tác phẩm” ngay cả có được in ra ở nước ngoài thì cũng chỉ phục vụ một bộ phận không lớn những người gốc Việt hoặc những người ngoại quốc tò mò, rồi quyển này quyển nọ cũng tự động xếp hàng tuần tự trước sau nghiêm chỉnh bước lùi hết vào quên lãng.

C) Trong Trại Tập Trung

Screen Shot 05-29-16 at 03.57 PM

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm văn học nào của nước ngoài để hiểu tính nhân văn nhân đạo luôn là chuẩn mực cao nhất, quyết định sự sinh tồn miên viễn của một tác phẩm với thời gian. Chỉ cần đọc các nhật ký viết trong các trại tập trung Đức Quốc Xã của những bé gái mà ngay cả mộng ước được trở thành cô giáo cũng bốc hơi trong lò thiêu diệt chủng, nói gì đến chuyện được ăn học thành tài, có bằng thạc sĩ, được sống với nghề giáo trong một đất nước hòa bình, ổn định, hào hùng như cô giáo dạy Văn có bằng thạc sĩ nhà ta.

Hãy tìm đọc các quyển nhật ký được viết trên những tờ giấy vàng bẩn được các đoàn quân giải phóng của Mỹ và Liên Xô moi ra được từ những hốc kẹt trong vách tường, như của các cô bé Helga Weiss, Helga Deen, Regina Honigman, Miriam Watternberg, Irena Gluck, Renia Knoll, Halina Nelken, Elsa Binder, Luthka Leiblich, Ilya Gerber, Tamara Lazerson, Gertrude Schneider, mà đặc biệt là Ann Frank, v.v., hay của các cậu bé Alexander Mayer, Dawid Sierakowiak, Dawid Rubinowicz, Yitskhok Rudashevski, Gabik Heller, v.v., để biết rằng sự bất tử của các “tác phẩm” ấy là do (a) được viết nên một cách chân phương chân thật chân chất chân thiết chân thành bởi những người thực sự trong cuộc, thực sự nếm trải mà kết cuộc thực sự của sự nếm trải thực sự đó là thân thể héo hắt trơ xương trần truồng của họ chất chồng trong các lò hơi ngạt; (b) được viết nên với sự trong sáng yêu đời dù trong hàng rào kẽm gai của lao động khổ sai đói lạnh khi chưa bị kêu xếp hàng để tiến đến lò thiêu; (c) nội dung toàn là những sự thật được kiểm chứng qua số liệu kinh hoàng của núi răng bọc vàng nhổ từ các đầu lâu mà các sĩ quan Đức Quốc Xã thu gom; và (d) nội dung về những sự kinh hoàng giống nhau dù được lén viết bởi những bé khác nhau tại các trại tập trung khác nhau ở nhiều nước khác nhau mà quân đội Đức chiếm đóng.

Screen Shot 05-29-16 at 03.54 PM

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương, từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, là: hãy cứ sáng tác các bài thơ bài viết bươi móc các thối hôi của các thùng rác nếu như khẳng định rằng (a) bản thân không thể viết gì tốt hơn, (b) bản thân hiểu rõ nước nào cũng có những thùng rác, và (c) bản thân viết để đừng quên từ vựng tiếng Việt và chỉ để trữ lưu cho cá nhân chứ không để tung lên mạng xã hội vì đã có sự hiểu biết rằng người nghèo khổ có thể bới thùng rác để tìm thứ vẫn còn hữu dụng chứ chỉ có kẻ vô giáo dục mới lấy các rác ấy đi vất khắp hẽm các đường phố như ném một thứ gì đó tiêu cực lên không gian mạng vậy.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, còn là: nếu thực sự người ta có linh hồn thì các cô bé cậu bé ấy ắt sẽ ngạc nhiên không thể hiểu vì sao trong lúc các em vẫn yêu đời, vẫn làm thơ ngợi ca cuộc sống, vẫn cố kiếm màu để vẽ các cảnh vật xung quanh, thì các bác các chú các cô các dì các mợ ở Việt Nam ăn ngon, mặc đẹp, đi xe tốt, giải trí đủ đầy, tiện nghi thừa mứa, lướt web kết bạn bốn phương tám hướng, học hành tới nơi tới chốn, có người thân ở gần, có đồng bào ở quanh, được dân chủ tự do mà vẫn không nhìn thấy bất kỳ cái gì hay cái gì đẹp ở quanh mình.

Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 001Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 002

D) Gương Báu Ngàn Xưa

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cùng các em bé tận dụng những ngày trước khi bị ném vào lò hơi ngạt để tập tành làm nhà văn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ và những người như cô giáo đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm của các danh nhân thuộc gương báu ngàn xưa của lịch sử Việt Nam.

Đặng Dung trong hoàn cảnh cha của ông là Đặng Tất bị vua (tức…“chế độ” quân chủ) xử trảm, nhưng ông vẫn ra giúp vua cứu nước, và khi cất tiếng ngâm bi tráng “Thù trả chưa xong, đầu đã bạc; Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài”, Ông đã nói “thù” với nghĩa “thù” quân xâm lược, với nỗi lòng khắc khoải muộn phiền tuổi tác chất chồng mà vẫn chưa giúp vua hoàn tất đại cuộc bảo vệ quê hương. Đó là nghĩa khí nghĩa dũng nghĩa nhân của bậc hiền nhân quân tử Việt Nam. Đó là cung cách sống của tất cả những người Việt Nam có giáo dục.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những gương báu của ngàn xưa của các danh nhân lịch sử Việt Nam mà Đặng Dung làm biểu tượng là:  không phút giây nào đặt danh dự nước nhà thấp hơn sự ngẫu hứng cá nhân, thấp hơn quyền lợi cá nhân, thấp hơn định kiến cá nhân, và thấp hơn chủ quan cá nhân.

Alexander Solzhenitsyn đoạt giải Nobel Văn Chương vì tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nói lên sự thật mà bản thân ông thực sự trải nghiệm, được lãnh đạo Liên Xô công nhận giá trị, được đất nước cộng sản của ông nhìn nhận giá trị, từ đó lan ra thế giới. Ông không là kẻ hèn hạ viết vớ va vớ vẩn lén lút gởi ra nước ngoài cho những kẻ chống lại đất nước của ông.

Cô giáo dạy văn có bằng cấp thạc sĩ – tuy không rõ bằng thạc sĩ về cái gì – ắt không khó khăn để hiểu bức thông điệp ngắn gọn gởi đến cô qua bài viết không ngắn gọn ở trên, đó là sự kỳ vọng rằng trình độ của cô sẽ giúp cô hiểu vấn đề, thi thố tài năng để cho ra đời những áng văn thơ ngợi ca cuộc đời, làm bật ra được những tốt đẹp mà người đời chưa nhận ra được, để làm cho học trò của cô yêu môn Văn, giỏi môn Văn nhờ thán phục thực tài của cô, giúp môn Văn trở thành môn đỉnh của các anh tài nước Việt, củng cố cho học thuyết của tôi rằng muốn giỏi ngoại ngữ trước hết phải giỏi Văn tiếng Việt, và chẳng thể yêu nước nếu không giỏi Văn tiếng Việt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giới thiệu vài bài đọc thêm:

Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Tuyệt Thực 02-7-2013

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 26-10-2013

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phụng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa – Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt 01-9-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập 06-4-2015

22-8-1972

Cô Gái Mỹ Bảo Vệ Việt Nam

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Mỹ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-5-2016

Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước về lời phát biểu tiếng Anh trên Đài Phát Thanh Hà Nội ngày 22-8-1972:

*********

Tôi là Jane Fonda.

Trong chuyến thăm hai tuần của tôi đến nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tôi đã có cơ hội đến thăm rất nhiều nơi và trò chuyện với rất nhiều người từ tất cả các tầng lớp xã hội: công nhân, nông dân, sinh viên, nghệ sĩ và vũ công, nhà sử học, nhà báo, nữ diễn viên điện ảnh, chiến sĩ, nữ dân quân, thành viên của hội phụ nữ, nhà văn.

Tôi đến thăm Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Tầm Xuân, nơi nuôi tằm và kéo tơ. Tôi đã đến thăm một nhà máy dệt, một nhà trẻ ở Hà Nội. Ngôi Văn Miếu tuyệt đẹp là nơi tôi xem những điệu múa truyền thống và nghe các bài hát kháng chiến. Tôi cũng xem một vỡ ba lê không thể nào quên về các du kích quân huấn luyện ong ở Miền Nam tấn công quân địch. Những con ong do các nữ vũ công thể hiện và họ đã múa hay.

Trong bóng râm của Văn Miếu, tôi thấy diễn viên nam và nữ của Việt tập dượt màn thứ nhì của vỡ thoại kịch Các Con Trai Của Tôi của  Arthur Miller, làm tôi rất cảm động – trước sự thực rằng nơi đây các nghệ sĩ đang dịch thuật và diễn các vỡ kịch của Mỹ trong lúc đất nước của họ đang bị các nhà đế quốc Mỹ dội bom.

Tôi yêu mến ký ức về những cô gái dân quân mặt đỏ hây hây trên nóc nhà máy của họ, động viên các chị em của mình khi cất tiếng ngợi ca bầu trời trong xanh của Việt Nam – những phụ nữ dịu dàng và thơ mộng, có giọng hát cũng  rất đẹp, nhưng khi máy bay Mỹ dội bom lên thành phố các cô trở thành những chiến binh tinh nhuệ biết bao.

Tôi trân trọng cách mà một nông dân sơ tán khỏi Hà Nội đã không do dự nhường cho tôi,  một người Mỹ, chỗ trú bom cá nhân tốt nhất  trong khi bom Mỹ rơi sát đó. Thật ra thì đứa con gái của ông đã cùng tôi núp chung trong hầm trú bom ấy đã ôm lấy nhau và áp gò má vào nhau. Đó là trên đường tôi trở về từ Nam Định, nơi tôi đã chứng kiến sự tàn phá có hệ thống các mục tiêu dân sự như bệnh viện, chùa chiền, nhà máy, nhà dân, và các hệ thống đê điều.

Khi tôi rời Hoa Kỳ cách nay hai tuần, Nixon đã một lần nữa nói với người dân Mỹ rằng ông đang hạ nhiệt chiến tranh, nhưng trong các đường phố đổ nát của Nam Định, lời nói của ông ngân vang những nham hiểm của kẻ sát nhân thực sự. Và cũng giống như cô bé Việt Nam tôi đang ôm đã bấu chặt vào tôi – và tôi đã áp sát gò má của mình vào gò má của cô bé ấy – tôi nghĩ đây có lẽ là một cuộc chiến tranh chống lại Việt Nam, song bi kịch lại là của Mỹ.

Một điều mà tôi đã học được vượt qua cái bóng của sự nghi ngờ kể từ khi tôi đã ở đất nước này là Nixon sẽ không bao giờ có thể phá vỡ tinh thần của những người dân nước này; ông sẽ không bao giờ có thể biến Việt Nam, cả miền Bắc và miền Nam, thành tân thuộc địa của Hoa Kỳ bằng cách ném bom, bằng cách xâm lược, bằng cách tấn công bằng bất kỳ cách nào. Người ta chỉ có đi vào các vùng nông thôn và lắng nghe những người nông dân mô tả cuộc sống họ đã có trước cách mạng để hiểu tại sao mỗi quả bom ném xuống càng củng cố quyết tâm chống lại của họ. Tôi đã nói chuyện với nhiều nông dân và họ đã nói về những ngày khi cha mẹ của họ đã phải bán thân để làm gia nhân cho giới chủ, trong khi có rất ít trường học và có rất nhiều người mù chữ, thiếu thốn về chăm sóc y tế, một khi họ không làm chủ cuộc sống của mình.

Nhưng giờ đây, mặc cho bom rơi, mặc cho tội ác xảy ra qua quyết tâm của Richard Nixon chống lại họ, những người dân này sở hữu đất đai của mình, xây dựng trường học của mình, trẻ em học hành, nạn mù chữ đang bị xóa sổ,  không có tệ nạn mại dâm như đã có dưới thời  thuộc địa của Pháp. Nói cách khác, người dân đã nắm lấy sức mạnh, và đang làm chủ cuộc sống của mình.

Và sau 4000 năm đấu tranh chống lại thiên nhiên và ngoại xâm – và trong 25 năm cuối cùng, trước cách mạng, chống chủ nghĩa thực dân Pháp – tôi không cho rằng nhân dân Việt Nam lại nhượng bộ bằng bất kỳ cách nào, thể thức hay hình thức, đối với nền độc lập tự do của đất nước họ, và tôi cho rằng Richard Nixon nên làm tốt hơn qua việc đọc lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thơ ca của họ, nhất là thơ ca sáng tác bởi Hồ Chí Minh.

*********

Nội dung trên được dịch từ nguyên văn bản báo cáo tiếng Anh gởi Ủy Ban An Ninh Nội Địa của Quốc Hội Hoa Kỳ, liên quan đến “tội” Đến Các Vùng Thù Địch, mang ký hiệu HR16742 từ ngày 19-25/9/1972, trang 761.

Jane Fonda khi trở về Mỹ đã bị lên án là kẻ phản quốc, bị đặt “nickname” là Hanoi Jane, bị bêu rếu mỉa mai bằng cách quen thuộc mang tính toàn cầu của “đâu là bộ mặt thật”, bị báo chí đưa ảnh cô chụp chung với các bộ đội phòng không bên cạnh khẩu cao xạ từng bắn rơi các chiến đấu cơ Hoa Kỳ khiến dư luận đặc biệt là thân nhân các quân nhân Mỹ tử trận tại Việt Nam phẫn nộ công kích cô, v.v.

Khi báo chí Mỹ viết rằng các tù binh chiến tranh Mỹ bị giam tại “Hanoi Hilton” tức Hỏa Lò phải chịu đựng sự tra tấn dã man như theo lời kể của phi công Roger Ingvalson, cô Jane Fonda đã gọi những tù binh chiến tranh được trao trả về Mỹ ấy là “những kẻ đạo đức giả và dối trá” (hypocrites and liars) rồi nói thêm rằng các vị ấy không phải là những người đã bị tra tấn, không phải bị bỏ đói, không phải bị tẩy não. 16 năm sau, dưới sức ép ghê gớm của Tổng thống Ronald Reagan, Jane Fonda đã phải lên tiếng xin lỗi các cựu tù binh chiến tranh và gia đình của họ về những nỗi đau mà cô đã gây nên nơi họ.

Khi trả lời phỏng vấn của Tạp chí Wall Street năm 1995, kẻ đào tẩu Bùi Tín còn mắng Jane Fonda và John Kerry là những con rối của Xô-viết.

Qua Thế Kỷ XXI, với sự thật lịch sử, chứng minh của chân lý, đà tiến của công nghệ và tiến trình dân chủ tự do của Hoa Kỳ, Jane Fonda đã trả lời phỏng vấn năm 2005 của đài CBS rằng cô không hối tiếc gì về việc cô đã thăm Bắc Việt năm 1972, khẳng định đó chẳng là việc mà tôi phải xin lổi cả (“It’s not something that I will apologize for”).

Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 5 năm 2016 đã nhắc đến lịch sử Việt Nam và thơ ca Việt Nam trong phát biểu của Ông.

Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 5 năm 2016 có sự tháp tùng của Ngoại Trưởng John Kerry.

Trong cơ chế quyền lực cao nhất của Hoa Kỳ, Ông Obama ở vị trí số một và Ông Kerry ở vị trí số hai.

Sự nhắc đến lịch sử Việt Nam và thơ ca Việt Nam của Ông Obama và những bước sải chân của Ông Kerry trên đường phố Thành phố Hồ Chí Minh khiến tất cả những người Việt Nam thực sự yêu nước nhớ đến lời nhắn nhủ của Jane Fonda.

Và lời mắng chửi của Bùi Tín đối với Jane Fonda người đoan chính và can đảm nhất của nước Mỹ dám đến Bắc Việt thời chiến tranh dưới mưa bom của Mỹ và John Kerry người quyền lực thứ nhì của Hoa Kỳ đã từng là tù binh chiến tranh ở Hỏa Lò đến Việt Nam thời hậu chiến vì sự bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam và gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, đã cho thấy Bùi Tín cùng những con tương cận luôn có những phát ngôn có giá trị như thế nào, nghĩa là chuyên bôi nhọ những con người vĩ đại và luôn ngợi ca thứ phản nghĩa của con người vĩ đại.

Screen Shot 05-25-16 at 01.53 PMScreen Shot 05-25-16 at 01.54 PMScreen Shot 05-25-16 at 01.58 PM

Jane Fonda đã chiến thắng. Vietnam. Victory.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-5-2016

Bài trước tôi cung cấp bản dịch một bài viết trên Perspective của nhà báo Mỹ James Borton khi ông có mặt ở Hà Nội để viết về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. Từ trước đến nay tôi trả lời các câu hỏi của James Borton toàn bằng email, song thay vì email Việt-Mỹ vượt không gian Thái Bình Dương như trước thì nay là lần đầu tiên email Mỹ-Việt vượt không gian từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Trong một bài viết trên tờ Washington Times vài ngày trước khi Air Force One đáp xuống Nội Bài, James Borton có trích đăng ý kiến của tôi về sự “xoay trục” riêng của Việt Nam, và bản dịch tiếng Việt của tôi như dưới đây có thể cung cấp cho bạn đọc sự so sánh giữa những quan ngại hoặc lối mòn tư duy và những kết quả thực sự đã hình thành sau khi Tổng Thống Obama đặt chân đến Việt Nam. Kính mời bạn đọc tham khảo.

*********

Hoa Kỳ Chiếm Cảm Tình Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Trung Quốc Tăng Trưởng Kinh Tế Và Tăng Cường Gây Hấn Ở Biển Đông

James Borton – viết riêng cho Thời Báo Hoa Thịnh Đốn, ngày Thứ Tư 18 Tháng 5, Năm 2016.

HÀ NỘI – Từ các quầy hàng trên phố nhộn nhịp  quanh hồ Hoàn Kiếm cho đến khách sạn Motropole kiểu Pháp thực dân, thủ đô Việt Nam đang phô bày sự sầm uất hối hả mang tính thương hiệu của mình trong thời gian cận kề chuyến thăm ba ngày mang tính bước ngoặt của Tổng thống Obama bắt đầu từ Thứ Hai.

Trong khi Việt Nam, một đất nước dạn dày qua chiến tranh, lúc không thể lựa chọn các lân bang của mình thì chắc chắn có thể chọn những bạn bè của mình. Là những kẻ thù một thời không đội chung trời bị hằn nặng bởi một lịch sử đẫm máu và bi thảm, Washington và Hà Nội ngày càng sẻ chia những lợi ích chiến lược chồng chéo nhau có thể chuyển hướng quỹ đạo hợp tác an ninh trong vùng Biển Đông đang tranh chấp.

Các nhà phân tích cho rằng trong sáu tháng tại vị cuối cùng của mình, Ông Obama dự định sẽ nêu rõ Việt Nam là một trung tâm của sự “xoay trục” về Châu Á – Thái Bình Dương của chính quyền Mỹ, bao gồm chuyến thăm Việt Nam như một phần của chuyến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G-7 ở Nhật Bản – lần tham dự thứ tám và cũng là lần tham dự cuối cùng của Ông dưới cương vị Tổng Thống – khai mạc ngày 26 tháng 5.

Ông không quan tâm đến việc giới lãnh đạo Việt Nam có thể cảm thấy không thể tiếp tục hoàn tất công việc do đã bị thay thế vào năm tại vị cuối cùng của Ông. Về cơ bản, Tòa Bạch Ốc thừa nhận rằng chuyến đi này là cơ hội cuối cùng của Ông Obama để thắp lên ánh sáng đối với một ưu tiên đã được thảo luận nhiều nhưng cũng đã bị trì hoãn quá lâu – sự thay đổi trọng tâm của Mỹ từ vùng Trung Đông hỗn loạn sang phía đang vừa là khu vực kinh tế năng động nhất thế giới vừa là nơi đang trong tiến trình trở thành đấu trường nổi bật tiếp theo cho sự cạnh tranh của các siêu cường.

Hai thập kỷ sau khi bình thường hóa thương mại, Mỹ và Việt Nam đang gắn kết nhau hơn do sự trổi lên về kinh tế và địa chính trị của Trung Quốc, đặc biệt là các đòi hỏi chủ quyền ngày càng quyết đoán hơn của Bắc Kinh ở Biển Đông. Một thước đo của sự gần gũi gia tăng: các tin phát ra của báo chí Việt Nam cho biết phái đoàn Hoa Kỳ, bao gồm các cố vấn của tổng thống, các đội an ninh và các đại diện của các tập đoàn doanh nghiệp tư nhân, lên đến hơn ngàn người.

Đối với chuyến đầu tiên đến Sân bay quốc tế Nội Bài, một vị khách sẽ thấy dấu hiệu những ảnh hưởng của Mỹ ở khắp nơi. Ngay bên ngoài thủ đô, nơi các máy bay B-52 của Mỹ từng tiến hành những đợt oanh tạc lớn nhất, lại là một nhà máy  mới của hãng xe Ford. Gần đó là những bảng quảng cáo cao ngất giới thiệu Nike – một trong những công ty sử dụng đông lao động nhất Việt Nam. Các chủ nhân đất nước đón tiếp Ông Obama cũng sẽ tổ chức quốc yến để thiết đãi Ông trong thời gian Ông ở Việt Nam.

Trong khi vấn đề an ninh và nhân quyền có thể chi phối chương trình nghị sự chính thức, vẫn có đồn đoán tại Đồi Capitol và giữa các quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ rằng Ông Obama có thể đảo ngược hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đã qua nhiều thập niên của Mỹ, một trong những tàn tích cuối cùng của thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Thượng Nghị Sĩ Bang Maryland Ông Benjamin L. Cardin, đảng viên cao cấp của Đảng Dân Chủ thuộc Ủy Ban Quan Hệ Quốc Tế của Thượng Viện, cho biết trong một email rằng ông đã “bày tỏ với chính phủ rằng chúng ta phải quan tâm đảm bảo bất kỳ việc bán vũ khí tiềm năng nào cũng phù hợp với mối quan hệ song phương của chúng ta và hỗ trợ ổn định khu vực. ”

Một đề xuất có thể xảy ra đối với việc giảm bớt hoặc bãi bỏ lệnh cấm vận có thể được thể hiện bằng sự đáp ứng của Hà Nội trước yêu cầu của Hải Quân Mỹ cho được tiếp cận nhiều hơn với Vịnh Cam Ranh, một tiền đồn chủ chốt của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam mà hiện nay có thể cho phép tiếp cận cực kỳ quan trọng trong trường hợp có xảy ra khủng hoảng ở Biển Đông.

Mặc dù bạo lực vẫn tiếp diễn ở Trung Đông và sự không chắc chắn từ sự đấu đá tranh chức Tổng Thống Hoa Kỳ, Ông Obama và các quan chức của Ông được cho là rất quan tâm đến việc trấn an các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương – trong đó Việt Nam là đầu tàu – rằng Mỹ sẽ duy trì các cam kết đối với khu vực. Điều đó bao gồm việc triển khai đến 60% lực lượng hải quân Hoa Kỳ.

Cũng như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang tìm kiếm sự bảo đảm từ Washington rằng Mỹ sẽ cân bằng việc quân sự hóa của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Đại Hội lần thứ 12 tổ chức vào tháng Giêng đã chọn vị Tổng Bí Thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng thay vì nhà cải cách Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm lãnh đạo đảng. Ngoài ra, cựu lãnh đạo công an Trần Đại Quang được đưa lên làm Chủ Tịch Nước. Điều này có thể gây quan ngại cho nhiều người ở Phương Tây vốn cho rằng sự việc có thể là dấu hiệu cho sự hướng về quyền lực và gia giảm các quyền tự do.

Song, Ông Hoàng Hữu Phước, một nghị sĩ Quốc Hội, lại khẳng định rằng “Không bao giờ có việc Việt Nam sẽ giảm đà cải cách kinh tế và chính trị, cũng như không bao giờ có việc ngưng sự chuyển hướng của riêng mình về phía Mỹ để quay sang Trung Quốc.”

Trung Quốc so với Hoa Kỳ

Ảnh hưởng mạnh về kinh tế cùng quyền lực mềm ngày càng gia tăng của Trung Quốc mang tính một hấp lực, nhưng các cuộc đàm phán với các quan chức ở Việt Nam lại nêu bật lên rằng lãnh đạo Đảng của Việt Nam thích duy trì sự độc lập của mình và không muốn đi vào quỹ đạo của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Hà Nội đã nhiệt tình tìm các đầu tư của Mỹ và đã ký vào thỏa thuận thương mại Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương của Ông Obama – thỏa thuận rõ ràng không bao gồm Trung Quốc – mặc dù TPP đòi hỏi phải có cải cách nhiều hơn, đặc biệt là tại các doanh nghiệp nhà nước, tính minh bạch, và quyền con người.

Lãnh đạo Ngũ Giác Đài Tướng Ashton Carter và các cố vấn của ông đang tìm kiếm sự hợp tác lớn hơn từ Việt Nam như họ đã đẩy nhanh số lượng các tập trận không chiến đấu vào thời điểm leo thang căng thẳng trong khu vực. Việc Trung Quốc xây dựng các hòn đảo trên các rạn san hô, bố trí các hệ thống radar tiên tiến ở quần đảo Trường Sa, và tên lửa đất đối không cùng chiến đấu cơ ở quần đảo Hoàng Sa đã làm tiến xa hơn và sâu sắc hơn sự hợp tác quân sự Mỹ-Việt.

Sau vụ Trung Quốc vào tháng 5 năm 2014 đưa một dàn khoan dầu của Tổng Công Ty Khai Thác Dầu Trung Quốc CNOOC tại nơi Việt Nam tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình, chính quyền Obama, trong một cử chỉ mang tính biểu tượng, đã nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí, cho phép Hà Nội mua các tàu tuần duyên của Mỹ, một động thái được Chủ Tịch Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Đảng Cộng Hòa John McCain ủng hộ.

Hà Nội đã sử dụng các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông để thúc đẩy quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ

Vào tháng rồi, Đại sứ Phạm Quang Vinh trong diễn văn tại Texas đã phát biểu rằng “Việt Nam kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam và tin rằng yếu tố rào cản này của quá khứ cần được loại bỏ để phản ánh việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ của chúng ta bắt đầu từ hai thập kỷ trước đây và mức độ hiện tại của quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta.”

Và tại một buổi điều trần mới đây của Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ, khi trình ra các bản đồ cho thấy khả năng tấn công của các chiến đấu cơ Trung Quốc đánh vào toàn vùng Biển Đông, phía bắc Philippines và Việt Nam, ông Carter cho biết ông ủng hộ việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí và đẩy mạnh việc bán các khí tài quốc phòng. Các lực lượng Hoa Kỳ đã hỗ trợ xây dựng năng lực các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải của Việt Nam như Cảnh Sát Biển và Lực Lượng Giám Sát Đánh Bắt Cá của Việt Nam.

“Các gắn bó về quốc phòng và an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển như kết quả của sự hội tụ các quan ngại về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông” như lời Carlyle A.Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, phát biểu tại Học Viện Quốc Phòng Úc.

Nhưng chính phủ chuyên chế của Việt Nam cùng các ghi nhận có vấn đề về nhân quyền có thể là những hòn đá cản ngăn những mối quan hệ chặt chẽ hơn.

Murray Hiebert, lãnh đạo cấp cao và phó giám đốc Chương Trình Đông Nam Á của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế, cho rằng:  “Một trong những yêu cầu hàng đầu của Hoa Kỳ đối với Việt Nam là cải thiện môi trường nhân quyền. Tình hình đã được cải thiện rất nhiều trong thập niên qua, nhưng Washington ước tính vẫn còn khoảng 100 blogger cùng các nhà hoạt động dân chủ đang bị giam giữ.”

*********

Những quan ngại và dè dặt như của Murray Hiebert đối với cái gọi là rào cản khả dĩ làm lu mờ một sự bình thường hóa quan hệ hoàn toàn và triệt để của Mỹ đối với Việt Nam, cuối cùng đã được minh chứng là không còn cơ sở qua tuyên bỗ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí Mỹ đã áp đặt chống Việt Nam trong 50 năm qua.

Đó là sức mạnh của địa-chính trị.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Source of Origin: James Borton. 18-5-2016. Obama Woos Vietnam amid China’s Economic Rise, South China Sea Aggression. http://www.washingtontimes.com/news/2016/may/18/obama-woos-vietnam-amid-chinas-economic-rise-south/

Tham khảo: Loạt bài viết nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

James Borton, “Commentary: Managing the South China Sea Commons through Science Policy,” Perspectives 10, 2016, Taipei: South China Sea Think Tank. Bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước trong bài viết tựa đề: Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc, đăng ngày 23-5-2016 tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/23/van-na%CC%A3n-thu%CC%A3c-su%CC%A3-nha%CC%83n-tien-tren-bie%CC%89n-dong-to%CC%A3i-ac-cu%CC%89a-trung-quoc/

Hoàng Hữu Phước, 11-5-2016. Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/11/trang-su-chua-duoc-tiet-lo-ve-hoa-ky/

Hoàng Hữu Phước, 15-5-2016. Arms Embargo – Vấn Đề Hoa Kỳ Cấm Vận Vũ Khí Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/15/arms-embargo-van-de-hoa-ky-cam-van-vu-khi-viet-nam/

Hoàng Hữu Phước, 20-5-2016. Biển Đông Có Phải Là East Sea? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/20/bien-dong-hay-bien-hoa-nam/

Hoàng Hữu Phước, 22-5-2016. Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/22/vie%CC%A3t-nam-kie%CC%A3n-trung-quoc-ra-toa-an-the-hague/

Lại Thu Trúc, 14-5-2016. Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/

Vấn Nạn Thực Sự Nhãn Tiền Trên Biển Đông – Tội Ác Của Trung Quốc

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-5-2016

Trong bài trước, tôi có nới về những nhiêu khê kéo dài nhiều năm của mỗi vụ kiện tranh chấp chủ quyền biển đảo tại Tòa án Trọng Tài Thường Trực của The Hague, cùng những hiểm nguy tiềm tàng: đó là những diễn biến khó lường của cả quá trình xét xử dài lâu và hành động manh động thiếu kềm chế của các bên liên quan có thể làm bùng nổ chiến tranh. Song, còn một vấn đề nghiêm trọng khác, thực tế nhãn tiền đó là sự hủy hoại sinh thái của Biển Đông từ những hoạt động của Trung Quốc trong “cơi nới”, cải tạo các đảo chìm đảo nổi, mà thời gian càng kéo dài của mỗi vụ xét xử càng dẫn đến sự hủy diệt không bao giờ có thể cứu vãn được nữa của Biển Đông. James Borton có một bài viết nêu lên một vấn đề cấp bách thiết thực dù không bao giờ có thể thực hiện được trong đời sống thực. Tuy nhiên, nội dung bài viết như lời cảnh báo nghiêm túc về một sự việc nghiêm trọng đến nỗi dù cho đến khi phán quyết của The Hague cuối cùng cũng buộc Trung Quốc rút hoàn toàn khỏi Biển Đông một cách hòa bình thì cái mà ta và các nước ở Biển Đông nhận được chỉ là một biển chết.

James Borton là giảng sư tại Viện Walker tại Đại học South Carolina, Hoa Kỳ, và là thành viên ngoại quốc của Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế Sài Gòn tại Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông đồng thời là một nhà báo lão luyện, đặc biệt viết chuyên trang về Biển Đông nhiều năm nay, cũng như là tác giả nhiều quyển sách. Trong chuyến sang Việt Nam tháng 5 này  để viết bài về chuyến thăm Việt Nam chính thức của Tổng Thống Obama, Ông có gởi tôi một bài viết về Biển Đông như lâu nay đã nhiều lần gởi tôi các bài viết khác của Ông. Tôi xin được gởi đến các bạn bản tôi dịch sang tiếng Việt như sau, để chúng ta nhận diện thêm những quan ngại khác nơi các nhà hải dương học đối với môi trường Biển Đông bị tác động bởi những tác hại nhãn tiền gây ra từ các hoạt động “cơi nới”, cải tạo đảo của Trung Quốc.

*********

Bình luận: Quản lý Các Điểm Chung Của Biển Đông Thông Qua Chính Sách Khoa Học

James Borton

Perspective, số 10 năm 2016

Suy thoái môi trường vẫn là trung tâm của các đối thoại khoa học về Biển Đông như nhiều nhà khoa học biển lên tiếng báo động về những hậu quả môi trường từ các hoạt động xây dựng của Trung Quốc tại đấy. Những vấn đề phải đối mặt với biển rộng lớn, sâu, và dường như cũng khó lường như bản thân biển vậy, và sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề của sự axit hóa, tổn thất đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, và sự phá hủy các rạn san hô trở nên cấp bách. Điều quan trọng là hợp tác khoa học quốc tế của các nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới để cùng nhau cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những thông tin cần có để đưa ra các quyết định có trách nhiệm về Biển Đông.

Biển Đông (viết tắt là SCS tức South China Sea) là ngôi nhà của những rạn san hô đa dạng nhất thế giới, nhưng những hình ảnh vệ tinh gần đây của khu vực này đã cho thấy có sự phá hủy nhanh chóng của các rạn san hô ấy. Nguyên nhân của sự hủy diệt đang diễn ra ở mức độ của một cảnh tượng tội ác môi trường rộng lớn là do các hoạt động cải tạo đảo mà Trung Quốc (viết tắt là PRC tức People’s Republic of China) thực hiện để cố gắng biến các rạn san hô thành các đảo hầu củng cố tuyên bố mở rộng chủ quyền của mình. Việc cải tạo này dẫn đến hậu quả là sự đa dạng sinh học trở nên ít đi và lượng cá chẳng còn nhiều để nuôi sống sự gia tăng dân số của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền.

Tại Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, các nhà phân tích đang đánh giá tiến độ hiện tại của Trung Quốc trong leo thang quân sự hóa tại các đảo san hô và đảo đá tại vùng đang tranh chấp ở Biển Đông. Trong khi vấn đề quân sự hóa vẫn là một vấn đề quan trọng, thì an ninh môi trường đang định hình các đối thoại mới về những thiệt hơn và những thách thức đang nổi lên trong vùng biển tranh chấp này.

Paul Berkman, nhà hải dương học trước đây lãnh đạo Chương Trình Địa Chính Trị Bắc Băng Dương tại Viện Nghiên Cứu Scott Polar, đã cung cấp một định nghĩa riêng về an ninh môi trường rằng: “Đó là một cách tiếp cận tích hợp để đánh giá và ứng phó với những rủi ro cũng như những cơ hội được tạo ra bởi sự thay đổi trạng thái của môi trường.”

Sự gắn kết của chính sách và khoa học là điều cần thiết để vạch hướng qua các vùng biển địa chính trị nguy hiểm. Khái niệm về ngoại giao khoa học không phải là một mô hình mới. Nó bao gồm sự hợp tác và khéo léo giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường nơi chúng phát sinh. Như vậy, hợp tác khoa học quốc tế có thể tạo ra một cầu nối một cách hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách, như một nguồn lực mềm.

Chỉ thông qua cùng nhau hợp tác liệu sẽ có kỳ  vọng nào trong thực hiện một nền kinh tế xanh có thể giải quyết sự khan hiếm thông qua việc tận dụng hiệu quả các giải pháp khoa học, từ đó phân phối cho tất cả các bên liên quan nhiều lợi ích thu được từ Biển Đông. Sự thành công của bất kỳ nỗ lực nào như thế sẽ phụ thuộc vào đối thoại khoa học đối với cả các nhà lãnh đạo chính trị và người dân tất cả các nước có nêu yêu sách về Biển Đông. Các đại dương của chúng ta là một phần của những điểm chung trên toàn cầu và cần được quản lý và bảo vệ bởi tất cả các bên.

Kiến Thức Tập Thể

Điều này đặc biệt đúng về kiến thức tập thể cần có về các rạn san hô – thứ kiến thức đã kéo dài hơn 150 năm qua từ tác phẩm của Charles Darwin cho đến các nghiên cứu gần đây được tiến hành bởi các nhà khoa học hải dương như Nguyễn Chu Hồi và Edgardo Gomez đã cho rằng sức khỏe của các rạn san hô là một yếu tố quan trọng trong các vấn đề chính sách công như có nguồn thực phẩm, chống bão tố, và giữ gìn bản sắc văn hóa của các cộng đồng ven biển. Cả hai nhà khoa học nói trên đến từ những quốc gia có yêu sách về Biển Đông bị thách thức bởi Trung Quốc – vị đến từ Việt Nam và người kia từ Philippines – và công trình của họ  nâng cao nhận thức về cách mà các rạn san hô giúp bồi dưỡng sự đa dạng của các sinh loài vốn nhiều hơn cả các chủng loài của các khu rừng mưa nhiệt đới. Các rạn san hô cung cấp chỗ ở, thực phẩm, và nơi sinh sản cho khoảng từ 35.000 đến 60.000 chủng loài trên toàn thế giới. Nếu không có các rạn san hô, cá trở nên không còn nơi cư ngụ và không có chốn để sản sinh.

Vì thế rõ ràng rằng hoạt động khai hoang phá hoại đã tạo nên sự ít đi của cá để nuôi sống dân số ngày càng tăng của các quốc gia nêu yêu sách. Ngày nào cũng có số lượng càng gia tăng các tàu thuyền đánh cá và ngư dân ra khơi kiếm tìm thực phẩm cho đồng bào của họ, nhưng họ cũng ngày càng được sử dụng như là công cụ của chính phủ của họ để thử nghiệm các tuyên bố chủ quyền ở vùng biển tranh chấp. Kết quả là, các ngư dân tìm thấy chính mình trên tiền phương của trận chiến sinh thái mới này. Các tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng đang được đấu bởi các tàu đánh cá bị buộc phải ra xa hơn ngoài khơi do sự cạn kiệt của nghề cá ven biển.

Đang lờ mờ hiện ra một cuộc khủng hoảng lương thực, và bất kỳ nỗ lực nhằm cân bằng lợi ích kinh tế với an ninh ở Biển Đông sẽ đòi hỏi có sự đáp ứng phối hợp ở nhiều cấp từ các nhà khoa học, những người có lịch sử tham gia vào hợp tác nghiên cứu và đã nhận diện được các vấn đề về năng suất bền vững và an ninh môi trường trong khu vực.

Đáp Ứng Phối Hợp

Tại một hội nghị chuyên đề được tổ chức mới đây tại Trung Tâm Đông-Tây ở Thủ Đô Washington, giáo sư Hohn McManus của Trường Đại Học Miami, một nhà sinh học biển chuyên gia về các rạn san hô của Biển Đông, đã kêu gọi một tuyên bố khoa học chung đòi hỏi một lệnh cấm vì môi trường đối với việc nạo vét. Ông đã hoàn thành những khảo sát môi trường tại các rạn san hô bị suy thoái ở quần đảo Trường Sa, mà kết quả nghiên cứu củng cố sự cần thiết phải có sự can thiệp của khoa học.

“Có những quan ngại an ninh toàn cầu liên quan đến sự hủy hoại,” Giáo sư McManus phát biểu. “Nó đủ rộng khắp để làm giảm trữ lượng cá tại khu vực phụ thuộc nhiều nhất vào cá này trên thế giới.”

Chuyên gia về rạn san hô không biết mệt mỏi này từ lâu đã tranh luận cho việc thành lập một “công viên hòa bình” trên biển, và các môi giới cho một thỏa thuận quản lý tài nguyên chung bao gồm một bộ quy tắc ứng xử và đóng băng các đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ. McManus tin rằng việc này sẽ bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng sống còn hiện đang lâm cảnh rủi ro.

Việc phá huỷ và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển ở Trường Sa gây hại cho tất cả các nước có yêu sách chủ quyền. Công dân từ khu vực, những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các cuộc tấn công môi trường trên biển và các dãi san hô mỏng manh của họ, phải liên kết với nhau để tạo ra một cái gì đó giống như Mạng Hành Động Vì Rạn San Hô tương tự như các Mạng Hành Động Về Rừng Mưa Nhiệt Đới toàn cầu.

Đã đến lúc tập hợp các nhà khoa học có trình độ cao nhất có kinh nghiệm nghiên cứu Biển Đông đa dạng sinh học và bền vững môi trường Biển Bông để tham gia vào một diễn đàn chính sách khoa học. Việc cộng tác của họ có thể dẫn đến sự phát triển thành công một Ủy Ban Khoa Học Biển Đông. Mô hình của một cơ quan như vậy có thể tương thích như Hội Đồng Cực Bắc đã được thành lập vào năm 1996 để phối hợp chính sách ở Bắc Cực giữa các quốc gia có liên quan và được xem như là một nền tảng cho các nhà khoa học chia sẻ nghiên cứu. Cơ quan dưới sự lãnh đạo của khoa học theo đề xuất này cũng nên được hình thành bên ngoài sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc để cho phép nó tự do hơn trong hoạt động và bảo vệ nó thoát khỏi quyền phủ quyết của Trung Quốc.

Kết quả là, cơ chế mạnh mẽ này của các khoa học gia hàng hải Biển Đông có thể truyền cảm hứng cho các nước thành viên của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) để hợp tác trong quản lý tài nguyên biển trong khu vực bằng cách phát ra lời kêu gọi chính thức đòi có một lệnh cấm việc có thêm những việc cải tạo đầy tai hại. Giáo sư  McManus nêu rõ các bước cần thiết để tập hợp các nhà khoa học để các dữ kiện khoa học có thể được cùng trình bày khúc chiết.

“Tôi cho rằng thay vì lập ra ngay một Ủy ban, sẽ  tốt hơn nếu trước hết khuyến khích Trung Quốc mời các nhà nghiên cứu quốc tế cho một hội thảo về một trong những hòn đảo mới của họ,” Giáo sư  McManus đề nghị trong phát biểu riêng như vậy. “Nếu điều đó không tác dụng thì có thể thực hiện đối với các đảo hay rạn san hô như Taiping (của Đài Loan), Trường Sa (của Việt Nam) hoặc Thitu (của Philippines).”

Can Thiệp Vào ASEAN

Trong khi hợp tác ASEAN về một sáng kiến quản lý tài nguyên biển trong khu vực dựa trên các dữ liệu khoa học vững chắc sẽ là một bước tiến, khả năng một nỗ lực như vậy có thể được khởi sự sớm vào bất cứ lúc nào đã bị giáng một đòn gần đây khi Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Wang Yi tuyên bố ngày 23 tháng 4 rằng Trung Quốc đã đạt được một sự đồng thuận bốn điểm về vấn đề Biển Đông với Brunei, Campuchia, và Lào. Đại diện từ bốn quốc gia quả quyết rằng các tranh chấp lãnh thổ “không phải là một vấn đề giữa Trung Quốc và ASEAN như một toàn thể,” như đã được ghi lại bởi Hãng Tin Nhà Nước Trung Quốc Xinhua. Thỏa  thuận này được thực hiện để loại vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của ASEAN và đảm bảo rằng chủ đề này đã không được thảo luận tại diễn đàn đa phương ấy.

Theo cựu Tổng Thư Ký ASEAN Ong Keng Yong khi phát biểu tại diễn đàn Cộng đồng ASEAN tại Jakarta ngày 25 tháng 4, thỏa thuận lên tới bốn quốc gia can thiệp vào công việc nội bộ của ASEAN. Ông bày tỏ sự ngạc nhiên, vì Campuchia và Lào chẳng quốc gia nào thuộc nhóm các quốc gia có yêu sách trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc đã trở thành một quyền lực nước ngoài khống chế cả hai nước ấy, nắm ảnh hưởng tài chính và chính trị quan trọng ở Phnom Penh và Vientiane.

Những Cố Gắng Của Trung Quốc

Một trở ngại khác cho việc thành lập một sáng kiến quản lý tài nguyên biển trong khu vực dựa trên khoa học là một sáng kiến như vậy sẽ bao gồm luôn các nhà khoa học từ Trung Quốc mà nhiều người trong số họ dính dáng đến những nỗ lực xây dựng đảo của chính quyền của họ ở Biển Đông và bất đồng hoàn toàn với các nhà khoa học như McManus về những thiệt hại bị cáo buộc đang được thực hiện. Thí dụ như tiến sĩ Wu Shicun, chủ tịch và nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên Cứu Biển Đông tại Haikou, tuyên bố rằng, để bảo vệ hệ sinh thái của khu vực, Bắc Kinh đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật xanh để sử dụng trước, trong, và sau khi tiến hành việc cải tạo ở Biển Đông.

Khi được hỏi về tác động của việc nạo vét đối với các rạn san hô Biển Đông, Wu nói trong một phỏng vấn qua email rằng “Trung Quốc thực hiện các dự án xây dựng trên mặt phẳng rạn san hô phía trong nơi về cơ bản thì san hô đã chết. Trung Quốc tập hợp đất xốp cho việc tạo đảo trên các lưu vực đầm bằng phẳng vốn không phù hợp cho sự phát triển của san hô.

“Trung Quốc đã thông qua ‘mô phỏng tự nhiên’, áp dụng một loại mới của ‘nạo vét cắt hút và phương pháp cải tạo đất’, và đã chú ý đến sự lan ra của các trầm tích nổi trong quá trình xây dựng của mình”, Wu tuyên bố.

Song, sự khẳng định này là không phù hợp với những gì đã được chứng kiến đang diễn ra, với việc ngư dân Trung Quốc đã bị phát hiện sử dụng cánh quạt dài gắn với thuyền tiện ích để chặt nát các rạn san hô, chuẩn bị cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo.

Chính sách khoa học biển đòi hỏi sự bảo tồn và những thực hành bền vững để bảo vệ sự hình thành các thành rạn san hô. Theo Jon Barnett, “nguyên nhân và hậu quả của các ‘xung đột tài nguyên’ là mối quan tâm truyền thống của quan hệ quốc tế và chúng cho biết một cách mạnh mẽ luận cứ về xung đột môi trường” như lời ông viết trong quyển Ý Nghĩa Của An Ninh Môi Trường.

Điều này không phải để cho rằng Trung Quốc không có nhiều nhà khoa học tài giỏi về rạn san hô, những người chắc chắn nhận ra rằng đó là vì lợi ích tốt nhất của Bắc Kinh khi bảo vệ các rạn san hô, duy trì nghề cá bền vững, và cuối cùng là tận dụng du lịch sinh thái thân thiện với môi trường một khi căng thẳng hạ nhiệt. Tuy nhiên, đối với vận động môi trường như vậy để có bất kỳ tác động vào hoạch định chính sách, các nhà khoa học phải được tự do không bị nhà nước đe dọa và có thể trình bày những phát hiện dựa trên kết quả thực tế, ngay cả khi những phát hiện này chống lại vị thế của chính phủ. Các nhà khoa học ở Trung Quốc chỉ đơn giản là chưa được ở mức độ ấy.

Bị Ghi Hình

Một bộ phim BBC gần đây phát sóng chuyên đề những hoạt động phá hoại cao của các ngư dân Trung Quốc đánh bắt sò khổng lồ tại một rạn san hô giữa đảo Thitu và Tieshi Jiao. Do không có tên nhận dạng cho rạn san hô này, nó được gọi là Rặng San Hô Checkmark dựa theo hình thể của nó.

Victor Robert Lee là người đầu tiên khi viết trên The Diplomat tiết lộ rằng các ngư dân Trung Quốc đã neo đậu tàu thuyền nhỏ lại với nhau tạo thành vòng cung rộng rồi khởi động các cánh quạt để đào sâu xuống cát làm bật lên những con sò khổng lồ. Hình ảnh vệ tinh đã xác nhận các hoạt động của hàng trăm những “thuyền cắt xé” như thế trên Rạn san hô Checkmark, dẫn đến việc có những khu vực rộng lớn nơi cát và san hô chết chất chồng thành những rặng cao hình vòng cung.

Tại chương trình Trung Tâm Đông Tây tổ chức vào ngày 03 tháng 5, McManus trình bày các phim slide và phim video được quay chụp khi lặn tự do chỉ mới hai tháng trước đó qua các bãi bằng của rạn san hô ở Thitu, Checkmark, và Tieshi. Bằng chứng hình ảnh này đã xác nhận rằng cát và san hô chết đã thực sự chất đống thành các rặng cao không có dấu hiệu của sự sống.

Hơn thế nữa, hình ảnh vệ tinh chụp lại quần đảo Trường Sa cho thấy rằng đối với mỗi đảo đá xây dựng mới của Trung Quốc, những chiếc thuyền máy cắt đã được hoạt động trên các rạn san hô trước khi xây dựng.

Những đầu cắt này đã xay xới lên cả san hô chết và san hô sống cùng các chất nền cơ bản của chúng. Như vậy, có vẻ như rằng khi các nhà khoa học rạn san hô được yêu cầu đánh giá mỗi điểm tiềm năng, họ đã trung thực báo cáo rằng san hô đã chết. Kiểu nạo vét tàn sát này là những gì các nhà khoa học tin rằng đã cấu thành một cảnh tượng tội ác đối với môi trường tương đương như tội hủy diệt môi trường.

“Những khu vực rạn san hô sống này ắt hẳn đã bị tàn diệt khi cát và phù sa từ việc nạo vét và việc xây dựng đảo bị thoát ra ngoài rồi phủ chụp lên chúng, giống như đang xảy ra xung quanh những chiếc thuyền máy cắt,” McManus phát biểu như thế.  “Phải mất cả ngàn năm một rạn san hô tại các khu vực này mới tạo nên được khoảng một mét sỏi, cát và phù sa, và vì vậy mà những nơi chúng đã bị nạo vét coi như vĩnh viễn không còn như trước nữa.”

Trong khi những thiệt hại từ tàu cắt bắt sò khổng lồ cuối cùng có thể được phục hồi, trong ngắn hạn, thì  khối lượng tuyệt đối của hoạt động này đe dọa làm giảm việc cung cấp ấu trùng cá và nguy cơ tuyệt chủng địa phương đối với hầu hết các vùng bờ biển đánh bắt quá mức của Biển Đông. Thiệt hại về môi trường này biến thành việc lượng cá ít đi không thể nuôi sống dân chúng trong khu vực, làm trầm trọng thêm vấn nạn an ninh lương thực vốn đã gia tăng.

Các rạn san hô là thánh địa của Biển Đông. Đã đến lúc cần thêm nhiều người dân tham gia đồng lòng tập hợp xung quanh các nhà khoa học biển để họ có thể tham gia vào hợp tác khu vực và quản lý đại dương để đem lợi ích cho tất cả trước khi quá muộn.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn:

James Borton, “Commentary: Managing the South China Sea Commons through Science Policy,” Perspectives 10, 2016, Taipei: South China Sea Think Tank.

Ghi chú:

Phần dịch tiếng Việt “tàu cắt” hay “thuyền cắt xé” là do ngay trong bản chính tiếng Anh thì từ “cutter boat” cũng được để trong ngoặc kép với ngụ ý ám chỉ nghĩa đen trụi trần của từ cutter nghĩa là máy cắt như một cách chơi chữ, tận dụng từ tiếng Anh cutter boat chỉ một thứ thuyền buồm nhỏ nhưng cấu tạo từ có chữ cutter là cắt. Tác giả James Borton quả đã rất sâu sắc khiến người đọc hiểu ngụ ý rằng những tàu thuyền “nhỏ” của ngư dân Trung Quốc thực ra đã “cắt” xé tan nát các rạn san hô ở Biển Đông.

Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-5-2016

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, Philippines đã kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người dân, nhiều bài báo, thậm chí kể cả vị luật sư là nghị sĩ Quốc Hội, chưa nắm rõ quy trình cẩn trọng tối đa tại Tòa án The Hague, đều cùng lên tiếng đề nghị Chính phủ Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người gốc Việt ở nhiều nước trên thế giới như Úc, Thụy Điển, v.v., kể cả ở Đài Loan, đã cùng bạn bè nước sở tại đã xuống đường giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mong muốn Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người Mỹ gốc Việt “chống Cộng” mừng rở hung hăng lấn chiếm các trang mạng “chùa” và các đài phát thanh “có tài trợ” để lập tức ra rả bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam “bán nước”, “làm tay sai Trung Cộng”, v.v. và v.v., mà cụ thể là một bức ảnh trên internet hình đám đông giương cờ vàng ba sọc đỏ (mà những người cộng sản trên đài phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam luôn gọi mỉa là cờ “ba que”) với tấm bảng ghi dòng chữ ngô nghê ngu xuẩn điên dại “Muốn Chống Tầu Cộng Xâm Lược Phải Diệt Việt Cộng Bán Nước” (nghĩa là muốn chống Trung Quốc “xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa” thì trước hết phải giết sạch sành sanh nhiều chục triệu người ở Việt Nam bao gồm cả quân đội Việt Nam cùng các tướng lĩnh, tất cả các đảng viên cùng gia đình của họ, tất cả đoàn viên thanh niên, và sau khi giết sạch, xác chất thành núi, máu chảy thành sông thì mấy anh “cờ ba que” sẽ về dùng núi xác và sông máu đó làm chướng ngại vật chặn đường xe tăng Trung Quốc rồi lên làm tổng thống đuổi đi vùng “tân kinh tế” những ai còn sống để lấy lại nhà cửa mà cha ông đã bỏ lại khi bại trận phải chạy ra nước ngoài), đồng thời gởi các chiếc mặt nạ có in dòng chữ “yêu nước, chống Trung Quốc” về Việt Nam cho một số người có cái để đeo lên mặt mỗi khi tụ tập đông người hoặc gây ách tắc giao thông hoặc manh động đốt phá, đòi phải kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Tất nhiên, đối với mấy cái trò la hét vớ vẩn của cái cộng đồng hạng bét chống Cộng ở hải ngoại thì Đảng Cộng Sản và Chính Phủ Việt Nam chẳng xem ra thể thống gì để mà quan tâm, để ý.

Tuy nhiên, đối với người dân yêu nước cùng những kiều dân vốn là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, thì trước quan tâm chính đáng đầy lòng ái quốc của họ, những bài viết và các phát biểu từ những người có trách nhiệm của quốc gia, từ những người có hiểu biết thực tế và sâu rộng về thực thi thực hành bài bản công pháp quốc tế, từ những người có tâm huyết luôn đặt an nguy quốc gia là trên hết, và từ những người có tầm nhìn chiến lược vốn luôn là thứ gien sinh học đặc thù sẵn có nơi tất cả các vị minh quân thực sự và tướng tài thực sự của Việt Nam suốt chiều dài gần 5000 năm lịch sử thực sự của Việt nam cũng như các hậu duệ thực sự chưa thoái hóa của Việt Nam thực sự, luôn là hình thức giải bày cụ thể, khoa học, chính đáng, và thích hợp hầu chứng tỏ lòng tôn trọng của họ đối với người dân yêu nước thực sự và các Việt kiều thực sự yêu nước.

Một trong những bài viết ấy nêu những chi tiết công pháp quốc tế mà thậm chí đa số các nghị sĩ xuất thân ngành luật cũng chưa hề biết đến, là bài của Tiến sĩ Bành Quốc Tuấn thuộc trường Đại Học Kinh Tế-Luật Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Luật Pháp số thứ 9 năm 2016 mang tựa đề “Phán Quyết Điển Hình Của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye Về Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đảo Và Bài Học Kinh Nghiệm” mà những chi tiết tổng kết cho thấy các điểm chính cực kỳ quan trọng từ một án lệ của The Hague có giá trị tham khảo như sau:

Screen Shot 05-21-16 at 01.07 PMScreen Shot 05-21-16 at 01.09 PM

 

Từ các chi tiết trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng:

1) Chính phủ Việt Nam đã đúng khi đầu tư thời gian tập trung nghiên cứu, thu thập tài liệu, nghiên cứu các tiền lệ, không chủ quan cho rằng những tài liệu đang có là đã đầy đủ thich hợp, đã có giá trị pháp lý đúng tuyệt đối, và đã có đội ngũ nhân sự chuyên gia chuyên viên cao cấp về công pháp quốc tế có khả năng trực tiếp làm việc với các luật sư và thẩm phán của The Hague bằng ngoại ngữ. Không bao giờ vội vàng đưa vụ kiện Trung Quốc ra The Hague.

2) Phán quyết của The Hague là cuối cùng, song lại không ràng buộc và tùy thuộc vào ý thức của các quốc gia thành viên trong tuân thủ phán quyết của The Hague, chứ The Hague không có cơ chế chế tài bất kỳ nếu có sự bất tuân phán quyết. Trong vụ kiện Palmas nói trên, Hoa Kỳ và Hà Lan thậm chí ký thỏa thuận đồng ý đưa vụ việc cho The Hague xử lý và cam kết tuân thủ phán quyết của The Hague. Đối với vụ kiện của Philippines tại The Hague, ngay từ đầu Trung Quốc dù là quốc gia thành viên của The Hague đã ngạo mạn tuyên bố sẽ không dự các phiên xử nếu bị triệu tập (tức được “mời”) và sẽ phủ nhận giá trị phán quyết của The Hague nếu gây bất lợi cho Trung Quốc.

3) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, nghĩa là Việt Nam phải chuẩn bị chấp nhận tình thế rằng trong thời gian dài The Hague đang thụ lý hồ sơ, nếu có sự manh động của Trung Quốc trong cải tạo, khai thác, chiếm đóng thêm các đảo khác tại Trường Sa, thì Việt Nam phải (a) vừa đương đầu ngoại giao với các manh động ấy, (b) vừa bị trói buộc bởi tư thế thành viên nghiêm túc của The Hague tức là phải chờ đợi sự phán quyết của The Hague, (c) vừa chuẩn bị nhiều hồ sơ khởi kiện mới đối với một hay những hòn đảo mới bị Trung Quốc lấn chiếm thêm, và (d) thậm chí vừa thực hiện lệnh tổng động viên toàn quốc và áp dụng thiết quân luật để chuẩn bị chiến tranh.

4) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, và khi có phán quyết của The Hague nhưng Trung Quốc không tuân thủ thì Việt Nam phải làm gì hay làm những gì, phải chăng sẽ bắt đầu sử dụng lực lượng đã tổng động viên vào cuộc chiến tranh cục bộ đánh chiếm lại các đảo hay tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện tổng lực chống Trung Quốc với nguy cơ những con ngựa thành Troy đánh tập kích cùng lúc từ phía Tây để hỗ trợ Trung Quốc, và sẽ đánh trả ra sao nếu Trung Quốc sử dụng vũ khí nguyên tử tiêu diệt ngay Hà Nội, Đà Nẵng, và Thành phố Hồ Chí Minh?

5) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, và khi có phán quyết của The Hague nhưng lại công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn Biển Đông, Việt Nam với tư cách vừa là thành viên nghiêm túc của The Hague vừa là nguyên đơn khởi kiện tại The Hague tức mặc nhiên phải 100% tuân thủ phán quyết của The Hague, phải chăng sẽ chấp nhận mất biển, mất toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, vì tòa án The Hague không phải là tòa án xã phường quận thành phố tỉnh quốc gia để có thể chống án xin phúc thẩm tái thẩm giám đốc thẩm.

6) Do khả năng có xác suất của mục số 5 nêu trên, liệu Việt Nam có sẽ tiến hành trưng cầu dân ý để dân quyết định việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan, để nếu phán quyết theo hướng của mục số 5 thì xem như toàn dân Việt Nam đã chấp nhận cùng chịu trách nhiệm dâng đảo dâng biển cho Trung Quốc và công nhận chủ quyền của Trung Quốc, chấm dứt việc chống Trung Quốc “xâm lược”?.

7) Vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc là một cơ hội bằng vàng do Việt Nam (a) yên tâm không đơn độc khi phải đương đầu với Trung Quốc về mặt công pháp quốc tế; (b) có thời gian chuẩn bị cho chính mình từ những tài liệu thu thập được từ khắp nơi trên thế giới; (c) kết luận phán quyết của The Hague trong vụ Philippines sẽ giúp Việt Nam có kinh nghiệm phải xử lý ra sao đối với những nội dung trùng lặp đã có kết quả như ý ,cũng như đối với các nội dung trùng lặp có kết quả không như ý, đồng thời dự liệu tốt hơn đối với những nội dung không trùng lặp với vụ kiện của Philippines; và (d) kết luận phán quyết của The Hague nếu tuyệt đối đáp ứng đúng các nội dung Philippines kiện Trung Quốc, dẫn đến các phản đối, bất tuân phán quyết của The Hague, hoặc manh động của Trung Quốc tại Biển Đông làm cộng đồng quốc tế có những phản ứng mạnh mẽ, hiệu quả, có thể sẽ làm Trung Quốc hoặc bị cô lập hoặc do Trung Quốc là một trong số 117 quốc gia thành viên của The Hague sẽ phải buộc lòng tuân thủ để từ đó trở nên “biết điều” hơn trong đàm phán đàng hoàng với Việt Nam trong giải quyết cụ thể từng trường hợp của từng hòn đảo một ở Biển Đông mà Việt Nam có tuyên bố chủ quyền khiến sự việc của “tiền lệ” Palmas của thế kỷ XX và “tiền lệ” Biển Đông của thế kỷ XXI mang cơ chế quyết định cho các tranh chấp lãnh thổ trên toàn thế giới, nhờ đó Việt Nam vừa bảo vệ được chủ quyền biển đảo quốc gia, tránh được những xung đột chiến tranh, vừa thực hiện đúng vai trò một thủ lính của khu vực đã biết khôn khéo đặt sự an nguy toàn cục song hành với ổn định phát triển kinh tế, vì  an ninh khu vực và thế giới.

Tóm lại, 7 điểm nêu trên chứng minh Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam hoàn toàn đúng khi đã không vội vàng nhanh nhảu kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Sự cân nhắc, đắn đo, khôn ngoan, của “Việt Cộng” luôn nhằm vào chiến thắng triệt để, cuối cùng.

Võ Nguyên Giáp đã cho đẩy đại bác lên các đỉnh đồi Điện Biên Phủ, rồi lại lịnh cho tất cả các khẩu đại bác phải được đem trở xuống, trước khi ra lịnh đẩy chúng lên trở lại và từ đó cấp tập bắn chụm xuống khống chế, tiêu diệt đại quân Pháp, chiến thắng nước Đại Pháp, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân Pháp trên toàn thế giới.

Chính vì vậy mà “Việt Cộng” chỉ bằng một trận Điện Biên Phủ “đưa pháo vào, lại rút pháo ra, rồi đưa pháo vào, bắn” đã tiêu diệt ngay lập tức sự tồn tại hàng trăm năm của chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam.

Chính vì vậy mà “Việt Cộng” một khi đã dùng tên Hồ Chí Minh để đặt cho Chiến Dịch Hồ Chí Minh – vào năm 1975 chứ không phải trước đó – là đại thắng ngay sau một tuần, vĩnh viễn xóa tên Việt Nam Cộng Hòa trên bản đồ thế giới.

Đối đầu với một siêu cường nguyên tử mọi rợ điên dại lưu manh như Trung Quốc cùng đám lâu la của nó dù về quân sự hay tại chốn pháp đình trên bình diện quốc gia nào phải là việc hát karaoke chỉ cần cầm micro đơn giản nhấn nút kê mồm vào micro tại nghị trường hay trên vĩa hè hùng dũng kêu gào đòi đánh kẻ này kiện kẻ nọ là đã có thể giải quyết được, mà phải dùng trí lực, chí lực, tâm lực, thể lực, thế lực, tài lực, nhân lực, nội lực, ngoại lực, thời lực, và vũ lực, mà cả mười một thứ lực này đều phải là ở mức cao nhất – theo phong cách của cộng sản Việt Nam – vậy.

Võ Nguyên Giáp đã dùng “quyết chiến và toàn thắng” trong mệnh lệnh ban ra cho Chiến Dịch Hồ Chí Minh: “Thần Tốc, Thần Tốc Hơn Nữa, Táo Bạo, Táo Bạo Hơn Nữa,Tranh Thủ Từng Phút, Từng Giờ, Xốc Tới Mặt Trận, Giải Phóng Miền Nam, Quyết Chiến Và Toàn Thắng.” Võ Nguyên Giáp không dùng cụm từ cực kỳ quen thuộc của tất cả các lãnh đạo: “quyết chiến và quyết thắng” vì “quyết chiến và quyết thắng” là một khẩu hiệu mang tính động viên, kêu gọi, được dùng trong nhiều chục năm chỉ nói lên 2 thứ “lực” là chí lực và tâm lực. “Toàn thắng” là một mệnh lệnh mang tính kết quả dứt khoát, tuyệt đối, cuối cùng, nghĩa là sau khi đã có đầy đủ cả 11 thứ “lực”.

Việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan phải là một “toàn thắng” kiểu Võ Nguyên Giáp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Đả Đảo Tập Cận Bình!  (bài blog đăng ngày 01-12-2015 của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước)

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc! (bài blog đăng ngày 30-12-2015 của Nhà viết blog  Hoàng Hữu Phước)

Công Dân Việt Nam Lại Thu Trúc Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Công Dân Lại Thu Trúc Của Việt Nam Đã Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ Obama

Nhân Chuyến Thăm Chính Thức Việt Nam Của Tổng Thống Hoa Kỳ Tháng 5 Năm 2016

(có bản dịch tiếng Việt bên dưới phần nguyên tác)

Ho Chi Minh City, May 14, 2016

 

The President of The United States

The White House

1600 Pennsylvania Avenue, N.W.

Washington, DC 20500

 

Dear Mr. President:

I the undersigned Lai Thu Truc (Ms.) from Ho Chi Minh City, Vietnam, on the threshold of your visit to my country this May, wish to present to you my compliments and would like to take this opportunity to convey to you my proposals as follows.

The USA should consider to timely and completely lift the arms embargo imposed against Vietnam from 1975 extended from a previous one against North Vietnam in 1964.

The bilateral relations between the USA and Vietnam have been well-developed with obvious significant progress on many issues during the past two decades resulting in the diplomatic, economic, and educational activities, and particularly the Comprehensive Partnership Agreement between the two countries. However, the impact on Vietnam from the said arms embargo has not enabled Vietnam to improve its security capabilities, as the country is in dire need of lethal weapons for its defense purposes particularly at the non-stop aggressive actions of China in its territorial claiming in the South China Sea causing constant conflict and tension threatening not only the sovereignty and safety of many countries of ASEAN but also the commercial gateway of the world’s merchant shipping navigation.

In fact, the USA has partly lifted the said embargo for transferring to Vietnam the maritime security-related defense articles, thanks to which the maritime security capabilities of Vietnam could be but partly improved.  But Vietnam needs more than that for its coastal defense and its ground forces as tension and conflict would not arise only at sea.

Issues of say human rights may still be haunting your decision for a total lifting of the embargo; however, the cultural aspects of the differentiation in that matter, the fast progress of reforms of Vietnam, the security of the whole ASEAN, and the positive regional role of the country should be considered to justify the lifting strategically.

I hope that with your kind consideration, influence and power, the total lifting of the arms embargo against Vietnam will soon be materialized to pave the way to the uniformed strengthening of the defense capabilities of the ASEAN countries for the benefits of the region and the world.

Most respectfully,

Lai Thu Truc

Phone: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Mailing Address: MYA BizCorp, 399B Truong Chinh, P14, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Bản dịch tiếng Việt ngày 17-5-2016 của Hoàng Hữu Phước:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2016

Kính gởi  Tổng Thống Hoa Kỳ

Tòa Bạch Ốc

1600 Đại Lộ Pennsylvania, Khu Tây Bắc

Thủ Đô Washington 20500

Hoa Kỳ

 

Kính thưa Tổng Thống:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, nhân sắp có chuyến thăm của Ngài đến đất nước tôi trong tháng Năm này, kính gởi đến Ngài lời chào trân trọng nhất và kính trình bày cùng Ngài khuyến nghị sau:

Hoa Kỳ nên xem xét gỡ bỏ kịp thời và hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí đã áp đặt chống Việt Nam từ 1975 sau khi gia hạn lịnh cấm đã có trước đó chống Bắc Việt năm 1964.

Quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với những tiến bộ rõ nét có ý nghĩa về nhiều mặt trong hai thập kỷ qua, dẫn đến kết quả là có những hoạt động trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và giáo dục, đặc biệt là việc ký kết Thỏa Thuận Đối Tác Toàn Diện giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, tác động của lịnh cấm vận đã không giúp Việt Nam tăng cường năng lực phòng vệ vì Việt Nam rất cần có các vũ khí sát thương phục vụ quốc phòng, đặc biệt trong hoàn cảnh Trung Quốc có các hành động không ngừng gây hấn tuyên bố chủ quyền biển đảo ở Biển Đông gây ra những xung đột căng thẳng thường xuyên đe dọa không những chủ quyền và sự an nguy của nhiều quốc gia trong khối ASEAN mà còn đối với cửa ngõ giao thương của tuyến hàng hải này của thế giới.

Trên thực tế, Hoa Kỳ đã gỡ bỏ một phần lịnh cấm vận để chuyển cho Việt Nam những khí tài liên quan đến an ninh biển, nhờ vậy mà năng lực an ninh biển của Việt Nam được nâng cao dù chỉ một phần. Song, Việt Nam cần nhiều hơn thế để phòng thủ suốt vùng duyên hải cũng như lực lượng mặt đất do các căng thẳng xung đột không chỉ có thể xảy ra ngoài biển khơi.

Những vấn đề như nhân quyền chẳng hạn vẫn làm Hoa Kỳ đắn đo việc gỡ bỏ hoàn toàn lịnh cấm vận vũ khí; tuy nhiên, các khía cạnh văn hóa đối với những dị biệt trong vấn đề ấy, tiến bộ vượt bậc trong cải cách của Việt Nam, an ninh của cả khối ASEAN, cùng với vai trò tích cực của Việt Nam trong khu vực nên được xem xét đến như điều kiện đủ để tiến đến việc gỡ bỏ mang tính chiến lược lịnh cấm vận.

Tôi kính mong sự xem xét của Tổng Thống cùng ảnh hưởng và quyền lực của Ngài sẽ giúp sự gỡ bỏ lịnh cấm vận vũ khí Việt Nam sẽ sớm biến thành hiện thực, mở đường cho sự tăng cường đồng bộ về năng lực phòng thủ của các nước ASEAN vì lợi ích của khu vực và thế giới.

Kính chào trân trọng,

Lại Thu Trúc

Điện thoại: 84-903380207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Địa chỉ thư tín: Doanh Thương MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Trang Sử Chưa Được Tiết Lộ Về Hoa Kỳ

Nhân Chuyến Thăm Việt Nam Và Nhật Bản Của Tổng Thống Mỹ Obama

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-5-2016

Hôm nay các phương tiện truyền thông đại chúng ở New Zealand – và tất nhiên cũng ở Việt Nam – đồng loạt đưa tin về chuyến thăm Việt Nam và Nhật Bản của Tổng Thống thứ 44 của Hoa Kỳ Ngài Barack Hussein Obama Đệ Nhị. Chuyến thăm này của Ngài Obama (a) một mặt làm tiu nghỉu những kẻ chống Việt đã loan tin hàm hồ láo xạo về việc hủy bỏ chuyến thăm Việt Nam của Tổng Thống Hoa Kỳ để phản đối việc Việt Nam bầu lại Chủ Tịch Nước, Chủ Tịch Quốc Hội, và Thủ Tướng trước nhiệm kỳ – một việc hoàn toàn phù hợp Hiến Pháp Việt Nam và luật pháp Việt Nam mà tất cả các nguyên thủ của tất cả các nước trên toàn thế giới phải công khai công nhận và công khai tôn trọng, (b) một mặt tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu quốc tế và các nhà báo lão luyện trên thế giới tập trung viết về tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam và Nhật Bản. Một trong vô số các bài viết ấy là của nhà báo Edu Montesanti, tác giả quyển Những Sự Dối Trá Và Tội Ác Của Cuộc Chiến Chống Khủng Bố (Lies and Crimes of “War on Terror”), phỏng vấn độc quyền Giáo sư Peter Kuzinick, công dân New York, Giáo sư Lịch Sử Đại Học Hoa Kỳ và Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Nguyên Tử Hoa Kỳ, mà tôi dịch sang tiếng Việt như dưới đây để cung cấp cho bạn đọc có thêm thông tin về một giai đoạn lịch sử không thể nào quên của nhân loại. Trong bài phỏng vấn này, Giáo sư Peter Kuzinick nói về việc thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagazaki, về tội ác cùng các dối trá của Mỹ đàng sau cuộc chiến tranh tại Việt Nam cũng như về sự thật đằng sau cuộc xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, và vì sao Mỹ có cuộc Chiến Tranh Lạnh với Liên Xô cũng như vì sao cuộc chiến ấy cùng truyền thông chính thống đã ảnh hưởng đến thế giới ngày nay, lợi ích từ cuộc ám sát Tỏng Thống Kennedy, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với Châu Mỹ La Tinh thời Chiến Tranh Lạnh và ngày nay dưới vỏ bọc giả trá của Chiến Tranh Chống Khủng Bố và Chiến Tranh Chống Ma Túy.

*********

Edu MontesantiThưa Giáo sư Peter Kuznick, xin cảm ơn ông rất nhiều vì đã cho phép tôi được phỏng vấn ông. Trong quyển Lịch Sử Chưa Được Nói Đến Của Hoa Kỳ, ông cùng đồng  tác giả Oliver Stone có tiết lộ rằng việc ném các quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki của Tổng thống Harry Truman là không cần thiết về mặt quân sự, cùng những lý do đằng sau nó. Xin Giáo sư vui lòng bình luận về các sự nêu lên này

Peter Kuznick: Thật là thú vị khi tôi nói chuyện với những người ở nước khác thì hầu hết đều cho rằng các vụ thả bom nguyên tử là không cần thiết và không thể biện minh được, trong khi hầu hết người Mỹ vẫn tin rằng việc thả những quả bom nguyên tử ấy là hành động thực sự nhân đạo vì chúng cứu sống hàng trăm hàng ngàn người Mỹ rất có thể sẽ chết trong một cuộc xâm lược của hàng triệu người Nhật.

Đó là một ảo tưởng để tự an ủi mà nhiều người Mỹ hằng tin sâu sắc, đặc biệt nơi những bậc lão niên. Đây là một trong những huyễn hoặc sơ đẳng phát sinh từ Đệ Nhị Thế Chiến. Nó có từ sự cố ý tuyên truyền của Tổng Thống Truman, Bộ Trưởng Chiến Tranh Henry Stimson, và nhiều vị khác, những kẻ loan truyền thông tin sai lạc rằng các quả bom nguyên tử đã buộc Nhật Bản phải đầu hàng. Truman tuyên bố trong cuốn hồi ký của ông rằng các quả bom nguyên tử đã cứu sống nửa triệu người Mỹ. Tổng Thống George H.W. Bush sau đó nâng con số lên thành “nhiều triệu người”. Thực tế là vụ thả các quả bom nguyên tử đã không hề cứu sống người Mỹ cũng như không hề đóng góp đáng kể nào vào sự quyết định đầu hàng của Nhật Bản. Các quả bom nguyên tử ấy lẽ ra đã khiến kéo dài chiến tranh hơn và gây thiệt hại nhân mạng nhiều hơn cho Mỹ. (giải thích thêm của Hoàng Hữu Phước: hai quả bom nguyên tử rất có thể đã làm Nhật Bản nổi giận điên cuồng tập trung báo thù Mỹ nếu như bộ binh Nhật Bản không bị Liên Xô tiêu diệt ở Mãn Châu Quốc). Chỉ có một sự thật là chúng đã giết hàng trăm ngàn người Nhật và gây thương tích cho nhiều người hơn thế.

Theo báo cáo tháng 1 năm 1946 của Bộ Chiến Tranh Hoa Kỳ, các quan chức hàng đầu Nhật Bản đã có rất ít cuộc thảo luận về các vụ đánh bom nguyên tử, nghĩa là chúng không dẫn đến quyết định đầu hàng. Điều này mới đây đã được công nhận một cách khá gây sửng sốt bởi Bảo Tàng Quốc Gia của Hải Quân Hoa Kỳ tại Thủ đô Washington, khi báo cáo rằng “Sự tàn phá rộng lớn bởi các vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki và sự sát hại 135.000 người Nhật đã có rất ít ảnh hưởng đến quân đội Nhật Bản.”

Tuy nhiên, việc Liên Xô đem quân vào Mãn Châu Quốc đã làm Nhật Bản đổi ý. Ít người Mỹ biết rằng trong tổng số 7 vị Đô Đốc và tướng lĩnh năm sao của Mỹ đã có ngôi sao thứ năm trong cuộc chiến ấy thì đã có 6 vị nói rằng các quả bom nguyên tử hoặc không cần thiết về quân sự hoặc đáng bị lên án về mặt đạo đức hoặc cả hai. Các vị ấy gồm có Tướng Douglas MacArthur, Dwight Eisenhower, Henry “Hap” Arnold, và các Đô đốc William Leahy, Ernest King, cùng Chester Nimitz Leahy, chánh văn phòng của tổng thống Roosevelt và Truman. Vị này nói rằng các vụ đánh bom nguyên tử vi phạm “mọi chuẩn mực đạo đức Kitô giáo mà tôi từng nghe nói đến cũng như tất cả các luật thời chiến được biết đến.” Ông phát biểu rằng “Nhật Bản đã đã bị đánh bại và sắp sửa đầu hàng. Việc sử dụng các loại vũ khí man rợ này tại Hiroshima và Nagasaki không trợ giúp cụ thể nào trong cuộc chiến chống Nhật Bản của chúng ta. Là người đầu tiên sử dụng bom nguyên tử, chúng ta đã áp dụng một tiêu chuẩn đạo đức thường thấy của bọn man di thời Tiền Trung Cổ “.

Tổng thống Mỹ Eisenhower đồng ý rằng người Nhật đã bị đánh bại từ trước rồi. Tướng MacArthur nói rằng Nhật Bản lẽ ra đã đầu hàng nhiều tháng trước nếu Mỹ bảo Nhật Bản rằng Nhật Bản có thể duy trì hoàng đế của họ, cái điều mà cuối cùng Mỹ cũng đã cho phép Nhật Bản có được.

Thế thực ra đã đã xảy ra việc gì? Khoảng mùa xuân năm 1945, rõ ràng hầu hết các lãnh đạo Nhật Bản đều biết họ không thể thắng cuộc chiến tranh. Vào Tháng Hai 1945, Hoàng tử Fumimaro Konoe, cựu Thủ tướng Nhật Bản, đã viết thư cho Hoàng đế Hirohito, “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại của Nhật Bản là không thể tránh khỏi.”

Cảm nhận này cũng được thể hiện bởi Hội đồng Chiến Tranh Tối Cao vào tháng Năm 1945 khi họ tuyên bố rằng “Việc Liên Xô tham chiến sẽ giáng một đòn chí tử vào Đế Chế chúng ta” và được lặp đi lặp lại thường xuyên sau đó bởi các nhà lãnh đạo Nhật Bản.

Mỹ, vốn đã giải được bảng mật mã của Nhật Bản và đã chặn được đường dây cáp truyền tin của Nhật Bản, đã hiểu biết đầy đủ về sự tuyệt vọng ngày càng tăng của Nhật Bản muốn chấm dứt chiến tranh nếu Mỹ đồng ý cho họ “đầu hàng.” Nhật Bản đâu chỉ bị đánh bại tơi tả về quân sự, hệ thống đường sắt của Nhật cũng lâm vào cảnh bị phá huỷ còn nguồn cung cấp thực phẩm bị cạn kiệt. Đich thân Tổng Thống Mỹ Truman đã gọi bức điện thu được ngày 18 tháng Bảy là “bức điện của Nhật Hoàng yêu cầu hòa bình.” Nhà lãnh đạo Mỹ cũng biết rằng những gì Nhật Bản thật sự sợ hãi là khả năng của một cuộc xâm lược của Liên Xô mà Nhật Bản không thể nào ngăn chặn được.

Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã không biết rằng tại Hội Nghị Yalta, Stalin đã đồng ý tham chiến tại Thái Bình Dương ba tháng sau khi kết thúc cuộc chiến ở Châu Âu. Nhưng Truman biết và hiểu hết ý nghĩa của nó. Ngay từ ngày 11-4-1945, Phụ trách Cơ Quan Tình Báo Hốn Hợp thuộc Tham Mưu Liên Quân Mỹ đã báo cáo rằng “Nếu bất cứ lúc nào mà Liên Xô tham chiến, tất cả người Nhật Bản sẽ nhận ra rằng thất bại tuyệt đối là không thể tránh khỏi.”

Tại Potsdam vào giữa tháng Bảy, khi Truman nhận được xác nhận của Stalin rằng Liên Xô sắp tham chiến, Truman vui mừng và đã viết trong nhật ký của mình, “Cho bọn Nhật đi đoong khi điều đó xảy ra”. Ngày hôm sau, ông đã viết cho vợ mình rằng, “Chúng ta sẽ kết thúc chiến tranh sớm một năm, và sẽ nghĩ về bọn trẻ sẽ không bị chết. ”

Vì vậy, có hai cách để kết thúc chiến tranh mà không phải thả bom nguyên tử. Thứ nhất là phải thay đổi yêu đầu hàng vô điều kiện và thông báo Nhật Bản rằng họ có thể giữ lại hoàng đế, điều mà hầu hết các nhà làm chính sách Mỹ muốn như vậy do họ biết Nhật Hoàng là chìa khóa cho sự ổn định hậu chiến. Thứ hai là chờ cuộc xâm lược Nhật Bản của Liên Xô sẽ bắt đầu lúc nửa đêm ngày 08 tháng 8.

Chính cuộc đưa quân vào chiếm Nhật ấy mới là đòn quyết định chứ không phải bom nguyên tử, có tác dụng lâu dài và gọn hẹp hơn. Cuộc xâm lược của Liên Xô hoàn toàn làm phá sản chiến lược ketsu-go của Nhật Bản (giải thích thêm của Hoàng Hữu Phước: chiến lược Ketsu-Go tức Chiến Lược Giáng Đòn Quyết Định tiêu diệt lực lượng hải quân Hoa Kỳ trên biển để Hoa Kỳ không thể đổ bộ Nhật Bản, bằng cách ngày đêm tìm diệt các hàng không mẫu hạm Mỹ, và tăng cường phòng vệ bằng hải lục không quân để tiêu diệt bất kỳ đoàn  quân Mỹ nào lọt vào được lảnh thổ Nhật Bản). Hồng Quân Liên Xô hùng mạnh đã nhanh chóng tiêu diệt Đạo Quân Quan Đông của Nhật Bản. Khi Thủ Tướng Kantaro Suzuki được hỏi tại sao Nhật Bản cần thiết phải đầu hàng Hoa Kỳ một cách nhanh chóng, ông trả lời rằng nếu Nhật Bản chậm chân thì “Liên Xô sẽ không những chỉ chiếm Mãn Châu, Hàn Quốc, Karafuto, mà còn chiếm cả Hokkaido. Điều này nếu xảy đến sẽ phá hủy nền tảng của Nhật Bản. Chúng tôi phải kết thúc chiến tranh khi còn có thể thỏa thuận với Hoa Kỳ.” Cuộc tiến quân của Liên Xô đã thay đổi cán cân quân sự, chứ còn những quả bom nguyên tử trông khủng khiếp thế đấy đã không giúp được gì. Người Mỹ đã oanh tạc thiêu rụi các thành phố Nhật Bản trong nhiều tháng trời. Như Yuki Tanaka đã chứng minh cho thấy Mỹ đã oanh tạc thiêu rụi hơn 100 thành phố của Nhật Bản. Sự thiêu hủy đạt mức cao nhất 99,5% tại trung tâm thành phố Toyama. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã chấp nhận để Hoa Kỳ cứ quét sạch các thành phố của Nhật Bản. Hiroshima và Nagasaki chỉ là có thêm hai thành phố bị biến mất mà thôi, mặc cho mức độ tàn phá hay chi tiết khủng khiếp đến đâu. Nhưng cuộc xâm lược của Liên Xô đã chứng minh sức tàn phá sẽ còn ghê gớm hơn rất nhiều như lãnh đạo của cả Mỹ và Nhật Bản đều biết sẽ như thế.

Tuy nhiên, Mỹ muốn sử dụng bom nguyên tử làm lời cảnh báo nghiêm khắc dành cho Liên Xô về những gì đang sẵn chờ đợi họ nếu họ dám can thiệp vào kế hoạch của Mỹ đối với quyền bá chủ hoàn cầu sau chiến tranh. Đó chính xác là điều mà Stalin cùng các lãnh đạo Liên Xô ở Điện Kremlin đã nhận ra qua các vụ ném bom nguyên tử ấy. Việc sử dụng bom nguyên tử của Mỹ ít ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo Nhật Bản, nhưng nó chứng tỏ là nhân tố chính trong khởi động cuộc Chiến Tranh Lạnh. Và nó đặt cả thế giới trên một đường trượt đến sự  hủy diệt. Đã có ít nhất ba lần vào những tình huống khác nhau mà Tổng thống Mỹ Truman suýt khởi động một quá trình có thể dẫn đến sự kết thúc sự sống trên hành tinh này khi ông đã liều lĩnh dấn bươc. Khi ở Postdam, lúc nhận được báo cáo về sức mạnh của việc cho nổ thử nghiệm bom nguyên tử ngày 16 Tháng Bảy tại New Mexico, ông viết trong nhật ký của mình: “Chúng ta đã tạo ra được  quả bom khủng khiếp nhất trong lịch sử thế giới. Nó có thể là sự tiêu diệt trong biển lửa như tiên tri trong Thời Thung Lũng Euphrates sau Nô-Ê cùng con tàu Ark tuyệt vời của ông ấy.” Vì vậy, việc ném bom nguyên tử đã đóng góp rất ít hoặc chẳng đóng góp gì cả vào việc kết thúc chiến tranh, nhưng nó bắt đầu một quá trình tiếp tục đe dọa nhân loại với sự hủy diệt tận ngày nay – những 70 năm sau vụ ném bom. Như Stone và tôi đã nêu trong quyển Lịch Sử Chưa Được Nói Đến Của Hoa Kỳ, giết thường dân vô tội là một tội ác chiến tranh. Đe dọa nhân loại tuyệt diệt còn tồi tệ hơn thế nữa. Đó là tội ác tồi tệ nhất của mọi thời.

Edu Montesanti Trong chương về Chiến Tranh Việt Nam, có tiết lộ rằng các lực lượng vũ trang Mỹ đã tiến hành ở đất nước nhỏ bé ấy việc ném  bom với số lượng lớn hơn nhiều so với tổng số bom đã ném trong Đệ Nhị Thế Chiến. Xin Giáo sư nói rõ hơn và vui lòng cho biết vì sao việc đó lại xảy ra.

Peter Kuzinick: Mỹ ném nhiều bom chống lại đất nước Việt Nam bé nhỏ, so với số bom mà tất cả các bên đã sử dụng trong tất cả các cuộc chiến tranh trước đó trong lịch sử  – tức nhiều hơn gấp 3 lần tổng số bom mà các bên đã sử dụng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Cuộc chiến tranh đó là sự tàn bạo tồi tệ nhất, là thí dụ tồi tệ nhất về sự xâm lược của nước ngoài, kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Mười chín triệu ga-lông chất diệt cỏ đầu độc nông thôn Việt Nam. Rừng rậm ba cấp xinh đẹp của Việt Nam đã biến mất một cách hiệu quả. Mỹ đã phá hủy 9.000 trong số 15.000 thôn ấp của Nam Việt Nam.

Mỹ cũng phá hủy tất cả sáu thành phố công nghiệp ở miền Bắc cũng như 28 trong số 30 thị trấn và 96 trong số 116 thị xã. Mỹ nhiều lần đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Trong số những người đã từng đặt vấn đề sử dụng cũng như có lúc ủng hộ việc sử dụng bom nguyên tử là Henry Kissinger. Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara nói chuyện với sinh viên của tôi đã cho biết ông tin rằng 3.800.000 người Việt Nam đã chết trong chiến tranh.

Như vậy, cuộc chiến thực sự rất khủng khiếp và người Mỹ chưa bao giờ chuộc tội. Thay vì được ban cho giải thưởng Nobel Hòa bình cho việc kết thúc chiến tranh Việt Nam, Henry Kissinger phải ở trong chuồng xử án ở Hague cho tội ác chống lại loài người.

Edu Montesanti:  Xin Giáo Sư hãy nói về những kinh nghiệm của ông trong những năm 60 ở Việt Nam, và tại sao Mỹ quyết định tham gia cuộc chiến tranh chống lại quốc gia đó.

Peter Kuznick: Oliver và tôi tiếp cận chiến tranh từ những quan điểm khác nhau. Ông ấy đã bỏ học tại Đại Học Yale để tình nguyện tham gia chiến đấu tại Việt Nam. Ông bị thương hai lần và được trao tặng một anh dũng bội tinh. Tôi thì khác, từ đầu đã quyết liệt phản đối việc Mỹ xâm lược Việt Nam.

Là một sinh viên đại học năm thứ nhất, tôi bắt đầu lập một nhóm phản chiến. Tôi tích cực tổ chức chống chiến tranh. Tôi ghét chiến tranh. Tôi ghét những kẻ phải chịu trách nhiệm về chiến tranh. Tôi nghĩ rằng tất cả bọn họ là tội phạm chiến tranh và tôi vẫn cho là như vậy. Tôi đã tham dự nhiều cuộc xuống đường tuần hành chống chiến tranh và phát biểu thường xuyên tại các sự kiện công cộng. Tôi hiểu, như anh bạn của tôi là Daniel Ellsberg thích nói như thế, rằng chúng ta đã ở phía sai trái.

Mỹ đã dần dần dấn thân. Trước tiên, Mỹ tài trợ cho chiến tranh thực dân Pháp và sau đó tự mình chiến đấu sau khi người Việt đánh bại người Pháp. Tổng thống Kennedy gửi 16.000 “cố vấn”, nhưng rồi nhận ra chiến tranh là sai lầm và đã lên kế hoạch để kết thúc chiến tranh giá như ông không bị sát hại. Động cơ của Mỹ là lẫn lộn. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà dân tộc chủ nghĩa, ông còn là một người cộng sản. Không nhà lãnh đạo Mỹ nào muốn để thua một cuộc chiến tranh vào tay những người cộng sản bất cứ tại đâu.

Điều này đặc biệt đúng sau chiến thắng của cộng sản ở Trung Quốc vào năm 1949. Nhiều người lo sợ hiệu ứng domino rằng Việt Nam sẽ dẫn đến những chiến thắng của cộng sản khắp Đông Nam Á. Điều đó sẽ khiến Nhật Bản bị cô lập và Nhật Bản cuối cùng rồi cũng sẽ quay sang khối cộng sản để tìm đồng minh và đối tác thương mại. Vì vậy, một động lực khác là địa chính trị.

Một động lực khác nữa là kinh tế. Các nhà lãnh đạo Mỹ không muốn để mất nguồn lao động giá rẻ, nguyên liệu, và các thị trường ở Đông Dương. Một lý do khác là các tổ hợp quân sự-công nghiệp tại  Mỹ – tức các ngành công nghiệp “quốc phòng” và các nhà lãnh đạo quân sự liên minh với chúng – đã được vỗ béo và phát tài từ chiến tranh. Chiến tranh là lý do tồn tại của họ, và họ thu lợi dồi dào từ chiến tranh ở cả lợi nhuận tăng cao và thăng quan tiến chức.

Vì vậy, nó là một sự kết hợp của việc duy trì tính ưu việt của Mỹ trên thế giới, bảo vệ và khai thác lợi ích kinh tế Mỹ, và một đầu óc phi lý nguy hiểm chống cộng muốn đánh bại những người cộng sản ở mọi nơi.

Edu Montesanti: Giáo sư có thể cho biết những lý do thực sự đằng sau cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô là gì?

Peter Kuznick: George Kennan, quan chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã cung cấp cơ sở lý luận cho  lý thuyết ngăn chặn, đặt ra những động cơ kinh tế đằng sau Chiến Tranh Lạnh trong một bản ghi nhớ rất sáng tỏ vào năm 1948, trong đó ông nói: “Chúng ta chiếm khoảng 50% tài sản của thế giới, nhưng chỉ chiếm 6,3% dân số địa cầu…chúng ta không thể không là đối tượng của lòng ghen tị oán giận. Nhiệm vụ thực sự của chúng ta trong thời gian tới là nhằm tạo ra một mối quan hệ mẫu cho phép chúng ta duy trì vị trí quá bất bình đẳng này.” Mỹ theo đuổi công việc này. Đôi khi điều đó khiến Mỹ cần phải hỗ trợ của các chế độ độc tài tàn bạo. Đôi khi Mỹ cần phải hỗ trợ các chế độ dân chủ. Cuộc chiến xảy ra trên các bình diện văn hóa, chính trị, ý thức hệ, và kinh tế.

Henry Luce, nhà xuất bản của tạp chí Time và Life đã phát biểu năm 1941 rằng thế kỷ 20 phải là thế kỷ của Mỹ. Mỹ sẽ thống trị thế giới. Mỹ đã dấn thân để đạt được như vậy. Liên Xô, do đã từng bị xâm lược hai lần qua Đông Âu, muốn có một vùng đệm giữa họ và Đức. Mỹ đã phản đối các lĩnh vực kinh tế và chính trị nào hạn chế sự thâm nhập kinh tế của Mỹ. Mặc dù Hoa Kỳ và Liên Xô đã chưa bao giờ có chiến tranh trực tiếp với nhau, họ đã đấu với nhau trong nhiều cuộc chiến tranh do họ giật dây. Loài người đã may mắn sống sót qua thời kỳ ảm đạm này.

Edu Montesanti: Giáo sư nhận xét thế nào về  chính trị Mỹ đối với Cuba kể từ cuộc Cách Mạng Cuba, và đối với Mỹ Latinh nói chung kể từ khi Chiến Tranh Lạnh?

Peter Kuznick: Mỹ hoàn toàn kiểm soát nền kinh tế và chính trị Cuba từ những năm 1890 cho đến cuộc cách mạng năm 1959. Tổng thống Cuba Batista hỗ trợ các nhà đầu tư Mỹ. Mỹ đã can thiệp nhiều lần vào nội bộ Mỹ Latin giữa năm 1890 và năm 1933 và sau đó tái diễn trong năm 1950. Castro đại diện cho bước đột phá lớn đầu tiên của chu kỳ đó. Mỹ muốn tiêu diệt Castro và bảo đảm  không có ai khác ở Mỹ Latinh theo gương Castro. Mỹ thất bại. Mỹ đã không phá hủy được cuộc cách mạng của Castro, nhưng Mỹ đảm bảo rằng Cuba sẽ không thành công về kinh tế hay tạo ra nền dân chủ của nhân dân mà nhiều người mong mỏi.

Tuy nhiên, Cách mạng Cuba đã thành công trong những cách khác. Cuộc cách mạng đã tồn tại trong suốt Chiến Tranh Lạnh và cho đến nay. Cuba đã truyền cảm hứng cho các cuộc cách mạng Mỹ Latinh khác mặc dù các biệt đội tử thần do Mỹ đào tạo và hậu thuẫn đã tuần tra khắp lục địa sát hại hàng trăm ngàn người.

Các trường học Mỹ cho toàn Châu Mỹ đã tích cực tạo nên các lãnh đạo các thủ lãnh của biệt đội tử thần. Hugo Chavez và những vị khác theo con đường của Fidel trong truyền cảm hứng cho người dân Nam Mỹ đã không còn. Nhiều nhà lãnh đạo tiến bộ đã bị lật đổ trong những năm gần đây.

Hiện nay Dilma Rouseff đang chiến đấu để tồn tại, nhưng Evo Morales và Alvaro Garcie Linera ở Bolivia đang đứng vững tự hào và đứng trên cao để chống lại những nỗ lực của Mỹ đang muốn trở lại  thống trị và bóc lột Mỹ Latinh. Nhưng trên khắp Châu Mỹ Latinh, các nhà lãnh đạo tiến bộ đã hoặc bị lật đổ hoặc đang bị làm cho suy yếu bởi các vụ scandal. Các nhà tân-tiến-bộ do Mỹ hậu thuẫn đang sẵn sàng một lần nữa để cướp các nền kinh tế địa phương phục vụ lợi ích của tư bản nước ngoài và trong nước. Đó không phải là một hình ảnh đẹp. Người dân sẽ phải chịu đựng vô vàn trong khi một số ít trở nên giàu có.

Edu Montesanti: Theo nghiên cứu của Giáo sư thì ai đã giết Tổng thống John Kennedy? Những lợi ích đàng sau vụ ám sát kinh hoàng đó là gì?

Peter Kuznick: Oliver đã làm một bộ phim tuyệt vời về vụ ám sát Kennedy – Phim JKF. Chúng tôi không cho rằng chúng tôi cần phải xem xét lại những vấn đề trong cuốn sách và tài liệu của chúng tôi. Thay vào đó, chúng tôi tập trung vào những gì nhân loại đã mất mát khi Kennedy đã bị cướp khỏi chúng ta. Ông đã phát triển cực kỳ trong thời gian ngắn ngủi tại vị của mình.

Ông đã bắt đầu như một chiến binh thời Chiến Tranh Lạnh. Đến cuối cuộc đời, sau những bài học ông nhận ra trong hai năm đầu tiên cầm quyền và lấn cấn bởi cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba, ông mong muốn một cách tuyệt vọng kết thúc Chiến Tranh Lạnh cùng cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Nếu ông không bị giết, như Robert McNamara nói, thế giới cơ bản đã khác đi rồi. Mỹ sẽ rút khỏi Việt Nam. Chi phí quân sự sẽ giảm mạnh. Mỹ và Liên Xô sẽ đã tìm ra cách để làm việc cùng nhau. Cuộc chạy đua vũ trang sẽ được chuyển đổi thành một cuộc chạy đua hòa bình. Nhưng ông có nhiều kẻ thù trong cộng đồng quân sự và tình báo và trong khu vực quân sự của nền kinh tế. Ông cũng bị ghét bởi những kẻ phân biệt chủng tộc miền Nam, bọn Mafia, và cộng đồng Cuba-kiều lưu vong phản động. Nhưng những kẻ núp đằng sau vụ ám sát của ông có nhiều khả năng đến từ các cánh quân sự và tình báo.

Chúng tôi không biết ai đã làm điều đó, nhưng chúng ta biết quyền lợi của những ai đã được tăng cao nhờ vụ ám sát. Với tất cả các lỗ hổng trong câu chuyện chính thức như chi tiết của Ủy Ban Warren, rất khó để tin rằng Lee Harvey Oswald đã hành động một mình và rằng viên đạn ma thuật đã gây nên tất cả những gì gây ra sự tàn phá ấy.

Edu Montesanti: Giáo Sư có cho rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ đối với khu vực hiện nay, đặc biệt là các cuộc tấn công chống lại các nước tiến bộ, về bản chất là cùng chính sách với thời  Chiến Tranh Lạnh không?

Peter Kuznick: Tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ muốn có một cuộc Chiến Tranh Lạnh mới với một đối thủ thực sự có thể cạnh tranh trên toàn cầu. Như những người tân-bảo-thủ tuyên bố sau sự sụp đổ của Liên Xô, Mỹ thực sự muốn có một thế giới đơn cực, trong đó chỉ có một siêu cường và không có đối thủ.

Ngày nay các nước tiến bộ có ít đồng minh lớn hơn là họ đã có trong thời Chiến Tranh Lạnh. Nga và Trung Quốc tạo ra sự cân bằng nào đó với Mỹ, nhưng hai nước này không thực sự là những nước tiến bộ thách thức trật tự thế giới tư bản chủ nghĩa. Cả hai đều đang bị vướng trong các vấn đề nội bộ của họ và những bất bình đẳng.

Có vài mô hình xã hội chủ nghĩa dân chủ cho thế giới noi theo. Mỹ đã ra tay lật đổ và phá hoại hầu hết các tư duy tiến bộ và các chính phủ có tầm nhìn xa. Hugo, mặc dù có những thái quá, vẫn là một vai trò kiểu mẫu. Ông đã đạt được những điều tuyệt vời cho người dân nghèo Venezuela. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào những gì đang xảy ra tại Brazil, Argentina, Honduras, đó lại là một bức tranh rất u  buồn.

Cần có một làn sóng cách mạng mới trên khắp thế giới thứ ba với các nhà lãnh đạo mới cam kết diệt trừ tham nhũng và đấu tranh cho công bằng xã hội. Riêng tôi phấn khích trước sự phát triển gần đây ở Bolivia, dù cho đã có kết quả của cuộc bầu cử vừa qua.

Edu Montesanti: Giáo sư thấy văn hóa Chiến Tranh Lạnh ảnh hưởng thế nào đến Mỹ và xã hội thế giới ngày nay? Vai trò của chế độ Washington và phương tiện truyền thông chính thống đối với vấn đề đó?

Peter Kuznick: Các phương tiện truyền thông là một phần của vấn đề. Họ đã phục vụ cho sự xáo trộn hơn là giáo dục và khai sáng. Họ truyền bá ý tưởng rằng có những nguy hiểm và kẻ thù rình rập khắp nơi, nhưng họ không đề ra giải pháp tích cực nào. Hậu quả là người ta bị khống chế bởi sự sợ hãi và phản ứng một cách phi lý. Cựu Phó Tổng Thống Mỹ Henry Wallace, một trong những nhà thấu thị hàng đầu của Mỹ trong thế kỷ 20, đáp lại bài phát của Winston Churchill về Bức Màn Sắt năm 1946 bằng cách cảnh báo rằng: “Nguồn gốc của tất cả các sai lầm của chúng ta là sự sợ hãi … Nếu những nỗi sợ này tiếp tục, sẽ đến ngày con và cháu của chúng ta sẽ phải trả giá cho những nỗi lo sợ này với những dòng sông máu …Thoát ra khỏi nỗi sợ hãi, các quốc gia vĩ đại xử sự như loài cầm thú bị dồn vào chân tường, chỉ biết nghĩ duy mỗi đến sự được sống còn“.

Điều này cũng như vậy trên bình diện cá nhân khi người ta sẽ hy sinh tự do của mình để được an ninh lớn hơn. Chúng ta đã thấy nó đã diễn ra như thế tại Mỹ sau sự cố 9/11. Chúng ta đang thấy như vậy tại Pháp và Bỉ.

Thế giới đang chuyển động sai hướng. Sự bất bình đẳng đang gia tăng. 62 người giàu nhất thế giới bây giờ đã giàu có hơn, so với 3,6 tỷ người nghèo nhất. Đó là sự tởm lợm. Không có biện minh nào cho sự nghèo đói trong một thế giới phong phú tài nguyên đến thế. Trong thế giới này, các phương tiện truyền thông phục vụ nhiều mục đích, mà mục đích ít được họ thực thi nhất trong số đó là cung cấp và trang bị cho mọi người thông tin người ta cần có để thay đổi xã hội và thế giới.

Các phương tiện truyền thông thay vì phóng đại nỗi sợ hãi của người dân để họ sẽ chấp nhận chế độ độc tài và các giải pháp quân phiệt cho những vấn đề không cần có giải pháp quân sự, cung cấp những trò giải trí vô hồn để đánh lạc hướng mọi người quên đi vấn đề thực sự, và mê hoặc mọi người vào cơn mộng du với sự thờ ơ. Đây đặc biệt là một vấn nạn ở Hoa Kỳ, nơi nhiều người tin rằng có một nền báo chí “tự do”. Còn nơi nào có sự kiểm soát báo chí, người ta lại tiếp cận truyền thông với sự hoài nghi. Nhiều người Mỹ cả tin không hiểu các hình thức tinh tế hơn của báo chí trong xảo trá và lừa dối.

Tại Mỹ, các phương tiện truyền thông chính thống hiếm khi đưa ra quan điểm thách thức suy nghĩ truyền thống. Ví dụ, tôi liên tục nhận được lời mời phỏng vấn bởi các hãng truyền thông hàng đầu tại Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Châu Âu, và các nơi khác, nhưng tôi hiếm khi được báo chí tại Hoa Kỳ phỏng vấn. Các đồng nghiệp tiến bộ của tôi cũng không được mời đến những chương trình truyền thông chính thống của Mỹ. Vì vậy, đúng là có một biện pháp nhất định của tự do báo chí ở Hoa Kỳ, nhưng sự tự do ấy bị làm suy yếu không phải phần lớn tại chính phủ mà tại báo chí tự kiểm duyệt và tự bịt miệng các tiếng nói tiến bộ. Nhiều người trong phần còn lại của thế giới cũng vậy khi rất cởi mở phê phán Hoa Kỳ nhưng không thẳng thắn như thế khi chỉ trích chính sách của chính phủ của chính họ.

Edu Montesanti: Giáo sư nghĩ sao về ý kiến cho rằng “Chiến Tranh Chống Khủng Bố” và thậm chí “Chiến Tranh Chống Ma Túy” của Mỹ đặc biệt là ở Mỹ Latinh là cách Mỹ đã tạo ra để thay thế Chiến Tranh Lạnh, để mở rộng quyền lực quân sự và thống trị thế giới?

Peter Kuznick: Mỹ bác bỏ các phương pháp của chế độ thực dân cũ. Mỹ đã tạo ra một loại đế chế mới được củng cố bằng từ 800 đến 1000 căn cứ quân sự ở nước ngoài mà từ đó các lực lượng đặc biệt của Mỹ hoạt động tại hơn 130 quốc gia mỗi năm.

Thay cho các lực lượng xâm lược bao gồm các đội quân bộ binh đông đảo mà lịch sử đã chứng minh bất thành ở nước này nước nọ, Mỹ hoạt động theo những cách bí mật hơn và ít vụng về hơn. Phương pháp ưa thích của Obama trong việc giết người là sử dụng máy bay không người lái.

Có biết bao giá trị pháp lý khả nghi cho ra những kết quả đầy nghi vấn. Chác chắn chúng có hiệu quả nhất định trong giết chóc, song có biết bao bằng chứng cho thấy cứ mỗi một “tên khủng bố” bị giết là tạo ra 10 tên khác lấp vào chổ trống của y.

Cuộc Chiến Chống Khủng Bố mà Mỹ và các đồng minh đã tiến hành trong 15 năm qua đã chỉ tạo ra thêm nhiều kẻ khủng bố. Giải pháp quân sự hiếm khi hữu hiệu. Cần có các phương pháp tiếp cận khác nhau và chúng sẽ phải bắt đầu bằng việc phân phối lại các nguồn tài nguyên của thế giới để làm cho mọi người muốn sống chứ không phải muốn giết và muốn chết. Mọi người cần có niềm hy vọng.

Người ta cần có cảm nhận về kết nối. Họ cần phải tin rằng một cuộc sống tốt hơn là điều khả thi cho họ và con cái của họ. Quá nhiều người cảm thấy tuyệt vọng và xa lánh. Sự sụp đổ của mô hình Xô Viết đã để lại một chỗ hỗng. Như Marx đã cảnh báo từ lâu, Nga đã quá lạc hậu về mặt văn hóa và kinh tế để phục vụ như là một mô hình cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa toàn cầu.

Cuộc Cách mạng Nga đã bị thử thách ngay từ đầu bởi các thế lực tư bản xâm lấn. Vấn đề nảy sinh ngay từ đầu. Sau đó, chủ nghĩa Stalin đem đến chuối những kinh hoàng. Trong phạm vi mà mô hình Xô-viết đã trở thành tiêu chuẩn thế giới cho sự thay đổi mang tính cách mạng, đã có rất ít hy vọng cho việc tạo ra một thế giới mỹ mãn. Mô hình Trung Quốc cũng không cung cấp một tiêu chuẩn tốt hơn. Cũng vì vậy mà một số người đã quay sang Hồi giáo cực đoan, đem đến cơn ác mộng của chính nó. Khi chính phủ tiến bộ tiếp tục vấp ngã, sự bá chủ của Mỹ được mạnh lên. Tuy nhiên, Mỹ đã có ít những tích cực đem đến cho thế giới. Thế hệ tương lai sẽ nhìn lại, xem cái Pax Americana tức cái Nền Hòa Bình Giữa Các Siêu Cường Dưới Quyền Mỹ này không phải là thời đại khai sáng mà là một thứ chiến tranh triền miên và sự bất bình đẳng không ngừng gia tăng.

Về nguyên tắc, dân chủ rất tốt nhưng ít thăng hoa trong thực tế. Và bây giờ với các mối đe dọa hạt nhân gia tăng và sự thay đổi khí hậu cũng đe dọa sự tồn tại tương lai của nhân loại, tương lai trở nên không còn chắc chắn. Mỹ sẽ bám vào các cuộc chiến tranh chống khủng bố và chiến tranh chống ma túy để duy trì những sự chênh lệch mà George Kennan vạch ra 68 năm trước. Nhưng đó không phải là con đường tiến lên phía trước.

Thế giới có thể nhìn chính trị nội tình Mỹ như một sự tuột dốc xuống sự điên rồ – một dấu hiệu hý hước của sự thất bại hoàn toàn của nền dân chủ Mỹ – nhưng sự thành công của Bernie Sanders người kém thế, và ngay cả những cuộc nổi dậy phản kháng trong các cơ sở của Đảng Cộng Hòa cho thấy người Mỹ đang khao khát có sự thay đổi. Cả Hillary Clinton và Đảng Cộng Hòa, với mối quan hệ gắn bó của họ với giới tài phiệt Phố Wall và các giải pháp quân sự, sẽ không đòi hỏi có sự tôn trọng bên ngoài của một số thành phần hạn chế của dân chúng.

Họ có thể giành chiến thắng, nhưng thời gian của họ bị hạn chế. Mọi người ở khắp mọi nơi đang tuyệt vọng đợi chờ câu trả lời mới, tích cực, tiến bộ. Rõ ràng là một số người như chúng ta thấy hiện nay trên khắp châu Âu, sẽ thiên về giới mỵ dân cánh hữu vào thời điểm khủng hoảng, nhưng điều này ít nhất một phần do cánh tả đã thất bại trong việc cung cấp thứ lãnh đạo mà thế giới cần đến.

Một cánh tả hồi sinh là chìa khóa để cứu lấy hành tinh này. Chúng ta đang không còn thời gian. Con đường phía trước sẽ không dễ dàng. Nhưng chúng ta có thể chiến thắng và phải chiến thắng.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn nguyên tác (original): http://www.pravdareport.com/opinion/columnists/10-05-2016/134368-peter_kuznick-0/#sthash.V2OZWB1n.dpuf

Tham khảo: Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

 

Ngày 30 Tháng 4

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2016

Nhân ngày Lễ Chiến Thắng 30 tháng 4 năm nay 2016, tôi xin kính chuyển đến các độc giả đường link các bài viết sau của tôi:

Ngày 30-4-1975:

Hoàng Hữu Phước: Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/01/nhan-quoc-khanh-nuoc-nha-tai-dang-bai-viet-song-ngu-viet-anh-truoc-day-ve-dat-nuoc/

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/11/ngay-chien-thang-30-4-1975/

Ngày 30-4-1970:

Hoàng Hữu Phước: Hoa Kỳ Và Cuộc Thảm Sát Đại Học Kent https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/12/3041970-3042015-45-nam-tu-cuoc-dan-ap-cua-ve-binh-quoc-gia-hoa-ky-tieu-bang-ohio-tham-sat-sinh-vien-tai-truong-dai-hoc-kent/

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bầu Cử

Tởm Lợm

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2016