Category Archives: Đạo Đức

Tha Thứ : Chiếc Mặt Nạ Thời Thượng Giảo Gian

Vạn Thoáng Mê Lầm

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-01-2016

me-lam-2

Thời nay thiên hạ hay nghe nói về “tha thứ”. Sở dĩ “nghe nói” vì thiên hạ nào có cổ súy cho “tha thứ”, mà chính vì hai ba cái ý kiến lẻ tẻ của những kẻ không có dung mạo từ bi và cũng chẳng có cuộc sống đạo hạnh bám víu vào hai chữ “tha thứ” như chủ đề duy nhất có thể nói mà không sợ bị bút chiến luận để làm mặt nạ đẹp xinh cho mình; và hai ba cái ý kiến lẻ tẻ ấy được cơ quan truyền thông chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam lợi dụng quyền lực báo chí để tải đăng nhằm “nhét chữ vào mắt” độc giả để làm độc giả cứng người băng giá sau khi đã thử nghiệm thành công chiêu thức “nhét chữ vào mồm” Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước vụ “dân trí thấp” để làm độc giả tuôn trào phún thạch.

Bài viết này, do đó, nhằm khơi gợi một sự thật mà nhiều ngàn năm qua chưa hề có ai nói đến về nội hàm “tha thứ” vì chưa ai hiểu, vì chưa ai từng cố gắng nghĩ sâu  hơn, vì ai cũng tin tưởng tuyệt đối vào những phát ngôn của giới tu hành cứ như thể các phát ngôn ấy tương đương lời Chúa/Phật, hoặc ai đó trong giới tu hành cho rằng đừng nên dại dột tiết lộ để bản thân tiếp tục hành nghề cho một cuộc sinh nhai sinh kế sinh tồn và sau khi đầy túi thì dục xúi và động xách nhằm dọa đe phủ chính.

A- Những Ai Sính Nói Về “Tha Thứ”:

Có nhiều hạng người thường được thấy là hay mở miệng nói về “tha thứ”.

1) Tu Sĩ:

Các tu sĩ thì có bốn yếu điểm nỗi bật gồm:

a- Sự khách quan hoàn toàn bị triệt tiêu do cái gọi là đức tin tôn giáo nên các phát biểu về “tha thứ” – nếu có – chỉ có giá trị tham khảo bên trong chốn tu hành và với các tín đồ chứ không bao giờ có giá trị tuân thủ với toàn thể chúng sinh hay nhân gian khắp chốn.

b- Trình độ học vấn không luôn cao out-of-the-box (đứng trong hộp vươn cao hơn bờ thành của hộp để nhìn ra khắp chốn ta bà từ quanh ta đến cao vời trụ vũ) mà chỉ cao stuck-in-the-box (ngồi thu lu trong hộp đậy nắp xem chỏm đầu ai cao đụng nắp hộp hơn), nghĩa là có nhiều tu sĩ là tiến sĩ thần học nhưng chẳng mấy ai nghe nói đến tu sĩ tiến sĩ y khoa, tu sĩ tiến sĩ vật lý thiên văn, tu sĩ tiến sĩ môi trường, tu sĩ tiến sĩ địa chất, tu sĩ tiến sĩ cổ sinh vật học, v.v., dù tất cả đều được mặc định là do Chúa/Thượng Đế tạo nên, từ con người, Địa Cầu, tinh tú, môi trường sống, cho đến Khủng Long Bạo Chúa Tyrannosaurus và Cá Sấu Khủng Khiếp Deinosuchus, nghĩa là mọi thứ của Chúa/Thượng Đế tạo nên lẽ nào không đáng để các tu sĩ quan tâm nghiên cứu, hoặc lẽ nào các tu sĩ cho rằng nghiên cứu sẽ đồng nghĩa với “không có đức tin vào Chúa” chẳng khác gì con cái đem Bố Mẹ ra thử DNA để xác định cha-con như trong phim xã hội trường thiên Hàn Quốc?

c- Cũng vì vấn đề b ở trên, việc rao giảng kinh thánh/kinh kệ của các tu sĩ có những lúc trái với lời dạy của kinh thánh/kinh kệ.

Làm trái lời thì có thể qua những vụ về các sư hổ mang (mà báo chí Việt Nam Cộng Hòa thường đưa tin) chuyên làm tín nữ mang bầu hoặc phá trinh con gái cùng em gái các thiện nam, hoặc các sư khác cũng do báo chí Việt Nam Cộng Hòa thường đưa tin chuyên dụ dỗ các tín nữ lớn tuổi đem toàn bộ gia sản vào chùa “cúng dường Tam Bảo” vì “đời là bể khổ, Phật lại luôn thử thách khiến con cái sẽ gấu ó tranh giành gia tài gây ra thảm cảnh bất hạnh, vì vậy tốt nhất hãy vì con cháu mà triệt tiêu hết các tham sân si ấy để Phật ban phước cho mình, ban phước cho con cháu hòa thuận, vì mình tạo phước cho bá tành bằng cách vô chùa ở luôn trong chùa để cùng chùa đem tài sản ấy làm công quả công đức bố thí cho bá tánh và sửa sang nơi thờ chư Phật”.

Còn ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì nghe đâu có vài ba vị linh mục lờ đi các lời dạy của Chúa về hãy yêu kẻ thù của mình, như “Nếu ai tát con bên gò má này thì hãy chìa luôn gò má bên kia cho kẻ ấy; và nếu ai lấy áo khoác của con thì hãy đưa luôn áo xống” (Luke 6:29 và  Matthew 5:39) và “Hãy trả lại cho Caesar những gì của Caesar và trả về Thượng Đế những gì của Thượng Đế” (Mark 12:17) qua việc xách động giáo dân tham gia chống chính sách của chính phủ – nói ngắn gọn và an toàn hơn cụm từ chống chính phủ – và đòi chủ quyền đất đai mà họ cho rằng xưa kia thuộc về giáo hội của họ do thực dân Pháp giao cho họ. Có thể họ thực tâm không thể thương Cộng Sản vì không xem Cộng Sản là kẻ thù (Chúa dạy hãy yêu kẻ thù) nên không thể chìa ra gò má bên còn lại dù họ cáo buộc Cộng Sản tát họ tức đàn áp tôn giáo của họ, và có thể họ tin rằng đất đai ấy là của Thượng Đế nên Cộng Sản phải trả lại cho họ là những người được Thượng Đế sang tên chủ quyền Sổ Đỏ chăng?

d- Cũng vì vấn đề b ở trên, việc suy diễn sai kinh thánh/kinh kệ của các tu sĩ có những lúc làm các tu sĩ phạm tội trần gian kiểu chạy xe hai bánh phóng lên lề đường để tránh kẹt xe mà vẫn đến nơi đến chốn đạt yêu cầu kinh thánh/kinh kệ.

Phóng lên lề thì có thể kể đến các tu sĩ của Chúa (tức các linh mục Cơ Đốc và mục sư Tin Lành) mà báo chí Âu Mỹ – báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không bao giờ dám khai thác lập lại các tin này từ báo chí Âu Mỹ – thường đưa tin như có các hành vi dâm ô đối với các bé trai đang học tu tại chủng viện hoặc con trai của các tín đồ. Tại sao lại là ấu dâm nam? Đây là câu hỏi chưa từng được ai giải đáp. Theo Lăng Tần Tiên Sinh, đó là vì Thánh Kinh Cựu Ước bắt đầu bằng sự tầm thường hóa phụ nữ (Chúa Trời không phí thời gian thiết kế design nặn ra phụ nữ mà đơn giản rút một thanh xương sườn của quý ông Adam rồi hóa thành mụ đàn bà Eva lệ thuộc và là vật sở hữu giải trí của quý ông Adam, nghĩa là phụ nữ không có thân phận chính danh quý báu), và tội phạm hóa phụ nữ (tại mụ đàn bà Eva ăn trái cấm khiến nhân loại biết mặc quần và có trí tuệ nên khiến nhân loại bị trừng phạt, chứ không phải tại quý ông Adam ngu đần mê say tình dục nên vợ bảo gì cũng nghe ráo, nghĩa là phụ nữ là tội phạm và do đó là kẻ thù của nhân loại khiến nhân loại không những phải sinh-lão-bịnh-tử mà còn phải làm xác sống zombie để chịu phán xét Ngày Tận Thế), còn Thánh Kinh Tân Ước kết thúc bằng sự tàn tệ hóa phụ nữ (Chương Khải Huyền gọi kẻ tồi tệ dâm đãng gây ra Ngày Tận Thế là Con Đĩ Babylone cũng như xuyên suốt Kinh Thánh Tân Ước các lăng mạ cho sự dâm ô phản trắc đều đổ lên phụ nữ  nghĩa là hễ sai quấy tàn tệ đều đổ lên đầu phụ nữ, biến phụ nữ thành hình tượng của sự bẩn nhơ).

Các lý giải vì sao các tu sĩ của Chúa chọn ấu dâm nam khi không thể dùng lời tối thượng của Chúa để đè nén sự thèm khát tối cần của tình dục gồm (i) phụ nữ tội lỗi dơ dáy nên quan hệ tình dục với họ sẽ mang tội với Chúa; (ii) Kinh Thánh chỉ ghi tội thông dâm toàn là liên quan tới phụ nữ; (iii) nam giới là chất liệu thượng đẳng  của Thượng Đế; (iv) nam thiếu niên là tinh túy nhất của nam giới và đặc biệt là nam thiếu niên không bị thụ thai nên dễ dấu diếm phụ huynh, dễ kéo dài lập lại sự xâm hại tình dục mà không bị lộ, dễ dùng sự dọa đe khống chế, và chỉ có bé gái mới có việc khóc lóc và tự sát; (v) tư liệu giáo sử của Vatican có chi tiết những Đức Giáo Hoàng nào – trong đó có Sergius III, John X, John XII, Benedict IX, Paul II, Sixtus IV, Alexander VI, Julius III, v.v. – đã dâm loạn với các nữ nhân trong gia đình càng chứng minh quan hệ tình dục khó tránh khỏi, và (vi) tư liệu giáo sử của Vatican cho đến thời hiện đại vẫn luôn là phải bằng mọi giá bảo vệ tất cả các linh mục và giám mục nào bị cáo buộc xâm hại tình dục ấu dâm nam bằng cách bổ nhiệm chức danh cao hơn tại địa phương khác, khiến ấu dâm nam có khi là cách đi tắt hữu hiệu lên hàng giáo phẩm cao hơn.

Tóm lại, tu sĩ hay nói về “tha thứ” vì muốn bảo vệ các đồng nghiệp phạm tội.

me-lam

Trong khi kinh/kệ nói về “tha thứ” đơn giản chỉ vì tôn giáo đã có sẵn các công cụ trừng trị khủng khiếp và hiệu quả – dù trừu tượng – về Địa Ngục, Hỏa Ngục, Luyện Ngục, Ngày Phán Xét, Ngày Tận Thế, nên điều tín đồ cần làm là hãy để “thân tâm thường lạc”, đừng bận tâm đến hận thù và báo oán, do “ác giả ác báo, thiện giả thiện lai” và nhân quả là luật Trời không bao giờ suy suyển; thì các nhà tu hành chỉ đơn giản lái sự “tha thứ” vào duy chỉ ý nghĩa của một thứ lòng tốt đầy nhân hậu nên có ở con người.

Cần nhớ một điều rõ ràng rằng tất cả các vị chủ tể các tôn giáo đều rất dứt khoát trong sự trừng phạt và trừng trị, nghĩa là không bao giờ có sự bao dung, không bao giờ có sự rộng lượng, không bao giờ có sự tha thứ bất kỳ. Thậm chí Thánh Kinh Cựu Ước còn có giai thoại Chúa Trời sai thiên sứ bay đến hai thành Sodom và Gomorrah vung gươm giết sạch nam phụ lão ấu để trị tội sa đọa. Ngay cả ý nghĩa của việc xưng tội và được tha tội của một tôn giáo cũng không thể trả lời câu hỏi vậy người đã xưng tội và được tha tội có lên thẳng thiên đàng hay lại sẽ trong một ngày xa thẳm nào đó ở tương lai phải ngồi dậy trong hình hài một zombie trong Ngày Phán Xét của Ngày Tận Thế.

Vì vậy, sự trừng trị và trừng phạt của xã hội loài người luôn là một cụ thể buộc phải có; còn tha thứ thuộc phạm trù ý tưởng đơn thuần, không thể bị đánh lận con đen vào đời sống thật trong một cộng đồng thật nhất là trong thời đại văn minh.

2) Kẻ Chơi Trội: Dã Nhân Giả Nhân

Lăng Tần Tiên Sinh có lời khuyên dành cho các học trò của ông là ngay khi nghe bất kỳ ai nói về chủ đề “hãy tha thứ” thì hãy lập tức tìm hiểu rõ nhân thân của người ấy vì bảo đảm đó là (a) kẻ giả nhân giả nghĩa có cuộc sống bất nhân bất nghĩa ngay tại khu dân phố và nơi làm việc của người ấy, hoặc là (b) người có cậy nhờ sự lăng xê của một “nhà báo”, hoặc là (c) người chưa giả nhân giả nghĩa nhưng là dã nhân tức chưa hề được cộng đồng con người biết đến nên phải tự phát ngôn trên blog về “tha thứ” để chào hàng với cư dân mạng chứ không thể chào hàng bằng thứ kiến thức gì khác cao siêu hơn.

3) Kẻ Lạm Quyền:

Lạm quyền vì chỉ có những người được liệt kê ở Phần C bên dưới mới có quyền “tha thứ”. Ở đây cần nói rõ về chữ “người” – nghĩa là “công dân” chứ không phải thánh thần gì cả – để triệt tiêu mọi mưu đồ chụp mũ “báng bổ” bởi những kẻ luôn cho rằng chỉ có Chúa mới có quyền “tha thứ”.

4) Kẻ Phạm Tội:

Tất nhiên, những kẻ phạm tội bao giờ cũng xin được “tha thứ” khi tội đã phạm bị phanh phui, trừ những tên tội phạm như Bob Kerrey tại Đại Học Fulbright Việt Nam vì Bob Kerrey có sự bảo vệ của những kẻ lạm quyền.

5) Kẻ Mê Lầm:

Và tất nhiên, những kẻ mê lầm là những kẻ lầm tưởng (a) mình có quyền nói về “tha thứ”, (b) thiên hạ sẽ bị mình tùy thích tung hỏa mù “nhét chữ vào mắt” viết  nhăng viết cuội mà vẫn tin, và (c) hễ nói về “tha thứ” thì tự động mình sẽ được thiên hạ tôn lên thành bậc hiền nhân quân tử.

B- Quyền Căm Thù Tuyệt Đối Chính Đáng:

Do “tha thứ” là đặc quyền chỉ thuộc về những người được liệt kê ở Phần C bên dưới, mà “tha thứ” luôn là phần không thể tách rời nguồn cơn của “căm thù”, Phần B này nhằm nêu rõ “căm thù” nào là chính đáng cho một quyền tha thứ với sự hiểu biết rằng quyền tha thứ có nghĩa tha thứ hay không tha thứ, là đặc quyền của người có căm thù chính đáng.

1- Căm Thù Chính Đáng

Lòng căm thù nói chung là thứ tình cảm có nơi tất cả, bất kể người tốt hay kẻ xấu.

Gia đình một tên cướp của giết người căm thù người hào hiệp nào đã khiến tên cướp bị bắt phải đền tội. Gia đình tên cướp ấy thậm chí có thể ra tay báo oán ngoài khuôn khổ luật pháp đối với người hào hiệp ấy. Trong trường hợp này tập thể kẻ xấu có lòng căm thù.

Gia đình một tên đại quan tham nhũng căm thù người hào hiệp nào đã khiến tên đại quan ấy phải đền tội và toàn gia đình bị tịch biên tài sản. Gia đình tên đại quan ấy thậm chí có thể ra tay báo oán ngoài khuôn khổ luật pháp đối với người hào hiệp ấy. Trong trường hợp này tập thể kẻ xấu có lòng căm thù.

Gia đình một lương dân căm thù bọn báo chí nào đã khiến lương dân ấy thành nạn nhân – từ nội dung liên quan đến kinh doanh đến nội dung bị vu vạ “nhét chữ vào mồm” –  khiến thành đối tượng của đe dọa, bôi nhọ, chặn ngăn sự nghiệp. Gia đình của lương dân ấy thậm chí có thể ra tay báo oán trong phạm vi luật pháp chưa cấm đối với bọn báo chí ấy. Trong trường hợp này tập thể người tốt có lòng căm thù.

Như vậy, với sự thể rằng bất kỳ ai cũng có lòng căm thù, sự rành mạch hóa nhằm phân định ai mới có quyền căm thù vì chỉ khi có quyền căm thù thì người ta mới có quyền tha thứ.

2-  Những Người Có Toàn Quyền Với Căm Thù Chính Đáng:

Sự lầm lẫn về ngữ nghĩa ngôn từ là vấn nạn cực kỳ phổ biến ở Việt Nam.

“Không căm thù” hoàn toàn không có nghĩa là “tha thứ”.

Quyền căm thù tuyệt đối chính đáng là đặc quyền bất khả xâm phạm của những người sau đây:

a) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Thiên Tai Và Thân Nhân

Bao triệu người Việt là nạn nhân của thiên tai. Họ có quyền căm thù chính đáng. Nhưng như toàn nhân loại, họ không căm thù thiên nhiên. Họ cũng không hề có phút giây nào nghĩ rằng minh đã hay đang tha thứ thiên nhiên. Đơn giản vì có bản tính thuần Việt: họ cho đó là tai họa của số kiếp dù đó là biệt nghiệp hay cộng nghiệp, dù đó là quả báo hay oan khiên tiền định của nghiệt duyên.

b) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Một Biến Cố Lịch Sử Và Thân Nhân

Bao triệu người Việt là nạn nhân của chiến tranh xâm lược.

Họ có quyền căm thù chính đáng.

Đạo lý tự nhiên của người Việt: chiến thắng một cuộc chiến tranh thì đã mặc nhiên là sự trừng trị thỏa đáng thích đáng mà “Trời” giáng xuống kẻ thù của họ.

Nhưng như toàn nhân loại trong tất cả các cuộc chiến tranh khác và Thế Chiến, họ không căm thù bên nào của chiến tranh đã biến họ thành nạn nhân. Lúc hậu chiến, họ cũng không hề có phút giây nào nghĩ rằng mình đã hay đang tha thứ chiến tranh. Đơn giản vì có bản tính thuần Việt: họ cho đó là tai họa của số kiếp dù đó là biệt nghiệp hay cộng nghiệp, dù đó là quả báo hay oan khiên tiền định của nghiệt duyên. Đó là lý do dân Việt như một tập thể chung của bên chiến thắng thì không căm thù Tàu cũng không tha thứ Tàu, không căm thù Pháp cũng không tha thứ Pháp, không căm thù Mỹ cũng không tha thứ Mỹ, không căm thù Campuchia cũng không tha thứ Campuchia – vì căm thù là chịu đựng số kiếp còn tha thứ là không cần thiết vì đã trả được oán thù qua bàn tay của “Trời”.

Dù vậy, họ và thân nhân của họ – vì đa số họ đã bị chiến tranh tước đi mạng sống – có toàn quyền căm thù chính đáng và toàn quyền tha thứ. Như bản tính thuần Việt, họ không có căm thù và không có thứ tha; song, khi bất kỳ ai tự hối tìm đến xin lỗi họ vì những tội ác đã gây nên trong chiến tranh, họ sẽ ngay lập tức nói lời tha thứ, chỉ vì họ biết hai điều rằng (a) đó là nghiệt duyên của họ mà họ phải âm thầm chịu đựng, và rằng (b) “kẻ chạy lại” luôn đáng được họ đón chào như thượng khách chứ không với sự thứ tha họ ban cho  kẻ tội đồ.

Đối với Bob Kerrey của Đại Học Fulbright Việt Nam thì chỉ có nạn nhân vụ thảm sát cùng thân nhân của họ mới có quyền căm thù chính đáng để tha thứ Bob Kerrey. Bất kỳ ai đặt vấn đề Bob Kerrey nên được tha thứ thì đó là sự lạm quyền, vô duyên, vô đạo, bất chính, bất khả tư nghị.

c) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Tai Nạn, Tai Họa Và Thân Nhân

Nhiều người đã là nạn nhân của những tai nạn, những vu oan, những vụ cướp của giết người và/hoặc hiếp dâm, v.v.

Rất có thể một số người trong họ đã cam chịu, xem đó như một thứ nghiệt duyên, quả báo của một kiếp trước mơ hồ, hay một oan khuất mang tính thử thách của hiện tại, v.v.

Rất có thể một số người trong họ đã cam chịu vì tránh một thiệt hại lớn hơn nếu phải khai báo, tố cáo, kiện thưa khi công khai thực hiện quyền căm thù và quyền đòi trừng trị thích đáng.

Chỉ có họ và thân nhân của họ mới có quyền căm thù chính đáng. Nhưng họ sẽ không bao giờ nghĩ đến “báo oán” nhất là nếu xã hội có cơ chế trừng trị thích đáng và hữu hiệu kẻ gây tai nạn/tai họa cho họ hay người thân của họ. Không “báo oán” nghĩa là sự “tha thứ” được mặc nhiên đi kèm không kèn không trống. Trong ý nghĩa này, sự “tha thứ” đã bị hình phạt trừng trị nghiêm khắc của luật pháp triệt tiêu.

c) Công Dân Đối Với Nghĩa Vụ Lịch Sử

Bất kỳ công dân nào cũng có nghĩa vụ đối với lịch sử.

Quyền căm thù chính đáng là quyền của những công dân thực thụ của một quốc gia đối với những biến cố đã chính thức minh định trong lịch sử chính thức của quốc gia mình về những tai họa mà một thực thể từ bên ngoài quốc gia mình đã gây ra cho quốc gia mình, dân tộc mình, mà bản thân mình vẫn đang là công dân của quốc gia đó, dù thậm chí tổ tiên mình không chắc hoặc chắc không đã có ai hay những ai đã là nạn nhân của các tai họa do ngoại nhân gây ra trong lịch sử ấy.

Với ý nghĩa này, mọi công dân Việt Nam có quyền căm thù chính đáng và có quyền báo thù chính đáng đối với Tàu, với Thái, với Pháp, với Mỹ, với Campuchia.

Tuy nhiên, với luận điểm chỉ có người có quyền căm thù chính đáng mới có quyền tha thứ, thì quyền căm thù chính đáng trong phạm trù nghĩa vụ lịch sử lại không bao giờ mặc định có kèm quyền tha thứ, mà chỉ liên quan đến quyền trả thù hoặc quyền không trả thù.

Bất kỳ ai bảo rằng người Việt có lòng rộng lượng, bao dung, tha thứ những tội ác lịch sử của Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Campuchia, thì đó là những phát ngôn xằng bậy.

Chính xác về ngữ nghĩa tu từ, người Việt không nghĩ đến khai thác lòng căm thù chính đáng để báo oán hay trả thù đối với các biến cố lịch sử gây ra bởi các quốc gia khác, mà cũng chẳng nghĩ đến việc tha thứ, đơn giản vì công lý đã được thực thi, luật Trời đã tỏ, phần thắng đã thuộc về nước Việt.

C- Quyền Tha Thứ:

Khi ngợi ca sự công bằng và hướng đến điều cao thượng muốn không ai khác phải gánh chịu cùng tai họa từ cùng kẻ gây tai họa, quyền tha thứ, tóm lại, nằm trong tay hai thực thể và với những điều kiện sau:

1) Nạn nhân trực tiếp của tai nạn, tai họa cùng thân nhân của họ, nếu kẻ gây tai nạn/tai họa cho họ bị luật pháp trừng trị thích đáng, khó thể tiếp tục làm hại những người vô tội khác trong xã hội. Tha thứ là sự ban ra khi sự trừng phạt của công lý đã được thực thi. Không ai được phép gây tác động đến quyền này của nạn nhân cũng như thân nhân của họ đối với kẻ thủ ác nhằm kêu gọi động tác bãi nại dành cho kẻ thủ ác.

2) Nạn nhân trực tiếp của một cuộc xâm lược trong lịch sử quốc gia cùng thân nhân của họ, bất kể quốc gia xâm lược gây ra thảm cảnh cho họ và thân nhân của họ có đã bị trừng trị thích đáng hay chưa. Quyền báo oán của họ và thân nhân của họ là vĩnh viễn, và quyền tha thứ của họ cùng thân nhân của họ dành cho quốc gia xâm lược hay cá nhân quốc gia xâm lược là bất khả xâm phạm. Không ai được phép gây tác động đến quyền này của nạn nhân cũng như thân nhân của họ đối với quốc gia thủ ác cũng như nhân lực thực hiện hành vi thủ ác của quốc gia thủ ác.

Công dân đối với nghĩa vụ lịch sử tuy có toàn quyền căm thù và toàn quyền báo oán đối với quốc gia xâm lược cùng các cá nhân của quốc gia ấy, nhưng lại không có quyền tha thứ quốc gia xâm lược cùng các cá nhân của quốc gia ấy. Không ai được phép nói về sự tha thứ đối với các quốc gia xâm lược cũng các cá nhân của các quốc gia ấy.

D- Danh Mục Những Kẻ Tiếm Quyền

1) Những người không là công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhưng lại luôn mồm nói về lòng hận thù hay sự tha thứ có liên quan đến các cuộc chiến tranh của Việt Nam với các nước khác trong lịch sử Việt Nam.

2) Những công dân không là nạn nhân trực tiếp của tai nạn, tai họa hay thân nhân của nạn nhân, nhưng lại phát ngôn gợi ý nạn nhân/thân nhân nạn nhân thực thi quyền tha thứ hung thủ.

3) Những công dân không là nạn nhân trực tiếp của một cuộc xâm lược trong lịch sử quốc gia, hay thân nhân của nạn nhân, nhưng lại phát ngôn gợi ý nạn nhân/thân nhân nạn nhân thực thi quyền tha thứ quốc gia xâm lược cùng cá nhân thực hiện tội ác của quốc gia ấy.

4) Những công dân có nghĩa vụ tự nhiên đối với lịch sử quốc gia nhưng không biết mình không có quyền nói về hay kêu gọi cho sự tha thứ đối với quốc gia xâm lược cùng cá nhân thực hiện tội ác của quốc gia ấy.

5) Những cơ quan truyền thông nào hỗ trợ loan truyền ý kiến của bốn loại tiếm quyền trên và ý kiến của cơ quan truyền thông khác có hỗ trợ loan truyền ý kiến của bốn loại tiếm quyền trên.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Trăm Trứng October 29, 2014

Tội Ác Của Bob Kerrey June 3, 2016

Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon? September 27, 2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân

Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội

dress 

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

27-12-2016

dress-2

A) Báo Chí Và Giới Tinh Hoa Việt Nam

Chính quyền Hà Nội vừa ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử dành cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước thuộc thành phố Hà Nội.

Ngay lập tức, đã có những phản xạ trên một số tờ báo thuộc truyền thông đại chúng chính thống cho thấy những phản xạ mang tính vấn nạn có thể liệt kê như sau.

1- Phản Xạ Chống Đối

Gọi là chống đối vì bất cứ khi nào cơ quan chức năng của Chính Phủ Việt Nam như một Bộ nào đó chẳng hạn, hoặc cơ quan chức năng của một địa phương lớn, ban hành một quy định nào đó là ngay lập tức các câu hỏi được báo chí nêu lên theo kiểu chõi lại thay vì chung sức giải thích cho người dân hoặc chí ít làm tỏa lan chủ trương chính sách tân kỳ mà bổn phận báo chí cùng các “viện” lẽ ra đã phải biết đó là nhiệm vụ của riêng mình mà bản thân mình đã ngữa tay nhận tiền lương tháng hậu hĩ để thực hiện mỗi việc giản đơn ấy. Đặc biệt dưới tác động của độc tố mang tên tự do dân chủ nhân quyền phiên bản Mỹ Âu BSE (bovine spongiform encephalopathy) thì kiểu nêu tương tự như “…liệu có vi phạm quyền tự do cá nhân của mỗi công dân?” là thứ mang bản chất của sự xách động chống đối cực kỳ quen thuộc của báo chí chính thống Việt Nam nhằm tạo nên một phản ứng tự nhiên nơi độc giả mỗi khi nghe nói có quy định bất kỳ, dẫn đến phản ứng chống đối tự nhiên nơi độc giả đối với Chính phủ và chế độ như một tập thể chỉ biết sản sinh những quy định hay luật lệ thuộc hạng tồi, kém, vất đi.

2- Phản Xạ Công Thức

Gọi là công thức vì ngay lập tức phóng viên sẽ chạy đến – hoặc phone đến – những vị mà tên của họ đã sẵn có trong danh bạ “việc nào thì phỏng vấn ai” chẳng hạn luât sư nào, nhà sử học nào, nhà giáo nào, nhà văn nào, v.v., đến độ độc giả thì phát ngấy với những cái tên nhàm chán của giới tinh hoa vô dụng được báo chí tinh chọn từ số người tinh quái nhất song kém tinh túy nhất, nhưng tờ báo thì phát phì vì có bài vỡ lấp đầy chỗ trống. Thậm chí có nhiều lúc phỏng vấn bất kỳ ai miễn “cùng phe” nên hoàn toàn không có chút chất lượng nào trong các mẫu đưa tin có kèm phỏng vấn.

3- Phản Xạ Kiến Thức Zero

Thay vì cung cấp cho độc giả những lý giải sâu sắc, báo chí chỉ giáng thêm những câu hỏi, và bồi thêm những câu trả lời của những đấng tinh hoa mà những câu trả lời ấy hòa âm điền dã với câu hỏi của báo chí khiến câu hỏi – nếu có, hoặc bị báo chí khuấy động lên thành có – của độc giả từ giản đơn trở thành vấn đề. Sự việc của Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội vốn là điều cực kỳ bình thường của thế giới tư bản văn minh hiện đại lại trở thành lỗ hổng kiến thức của báo chí và của giới tinh hoa nào chấp nhận trả lời phỏng vấn của báo chí ấy theo hướng mà báo chí uốn nắn, biến cả báo chí cùng cơ quan của giới tinh hoa “Viện” Việt trở thành loại tầm thường không có kiến thức – tức kiến thức bằng không tức kiến thức zero – vì tất cả các cơ quan từ nhà nước đến công ty dù lớn dù nhỏ của tư nhân trong thế giới tư bản văn minh toàn cầu đều có Bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt để nâng tôn giá trị của chính mình và có thêm công cụ pháp lý trong đối nội và đối ngoại.

Sự thiếu vắng của các Bộ Quy Tắc Ứng Xử – vốn tương đương với cái gọi là Bộ Quy Tắc Đạo Đức Làm Việc – ở các cơ quan báo chí chính thống Việt Nam đương nhiên giúp lý giải cho (a) việc vì sao họ không hề đánh giá cao cái Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính Quyền Hà Nội, (b) vì sao các cơ quan truyền thông này vẫn chưa thể sánh vai với các cơ quan truyền thông Âu Mỹ về uy tín và “đạo đức”, và (c) sự vô đạo đức và/hoặc bất chuyên nghiệp và/hoặc vô chuyên môn của các nhân sự của họ từ tổng biên tập cho đến phóng viên lại quá hiển nhiên lồ lộ trơ trẻn đến trần truồng.

B) Thế Nào Là Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct

Khi nói nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt, có nghĩa là có sự phân định rạch ròi rõ ràng y như đối với “miễn thuế” và “thuế suất bằng không” vì bản thân hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau trong hoạt động xuất nhập khẩu, không dính dáng với nhau – nghĩa là ngay cả khi có sự thoáng cực kỳ thì vẫn phải ghi rõ nội dung chi tiết của và lý do cho cái sự thoáng cực kỳ ấy trong bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục của đơn vị, cơ quan, công ty, tổ chức.

Thế thì nếu lãnh đạo báo chí chính thống của Việt Nam và các vị ở “viện” của Việt Nam vốn đều đi nước ngoài như đi chợ Đồng Xuân, có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có bằng cấp nước ngoài, lại không biết gì về Code of Conduct và Dress Code của ngôi trường mà các vị ắt đã có đến “nhận” bằng cấp, các cơ quan hàn lâm mà quý vị ắt đã có đến họp hành “công vụ” bằng tiền thuế của nhân dân, nên phát biểu linh tinh trật lấc về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội thì ắt các vị ấy thuộc một hoặc hơn một những loại sau: (a) học viên mất nết vô kỹ luật đi chơi nhiều hơn đến lớp nhưng chưa từng bị kỹ luật vì học viện ngoại chuyên cấp văn bằng “hữu nghị” cho “chức sắc tiềm năng làm lãnh đạo” của Việt Nam, (b) học viên đút đầu vào học viện đầu hàng chẳng thuộc danh mục các học viện/đại học hàng đầu, (c) học viên học quá giỏi  nên chỉ được chui đầu vào thực tập tại cơ sở hạng tai tiếng đầu hàng tức không thuộc danh mục các cơ quan/công ty danh tiếng hàng đầu.

Đã không đủ khôn ngoan che dấu sự thấp kém của mình, thay vì ngậm tăm đừng phê phán gì về “Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội” lại phô trương cái thấp kém đó trên mặt báo khiến di họa cho giới trẻ Việt Nam, các vị đã buộc tác giả bài viết này phải cứu nguy xã tắc bằng cách làm phiền những bậc thức giả khi diễn giải dài dòng các vấn đề cực kỳ sơ đẳng sau mà tất cả các bậc thức giả thực thụ của giới tinh hoa thực thụ đều đã tường tỏ vì đã thực sự “có đi làm việc đàng hoàng”, trong khi tất cả những ai đã thực sự “muốn đi làm việc đàng hoàng” đều đã tỏ tường từ lúc còn ở nhà trường.

1- Nội Dung Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct ở Âu Mỹ

Tại mỗi công ty/cơ quan/tổ chức, Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức Code of Conduct (còn được gọi là Code of Ethics hoặc Ethical Code, được phổ biến dưới tên gọi Code of Business Conduct hoặc Governance & Ethics) là bộ quy tắc phải có, không thể tách rời khỏi hoạt động của công ty/cơ quan/tổ chức, nhằm nêu bật các giá trị, đạo đức làm việc, mục tiêu, trách nhiệm, và danh tiếng của cơ quan, xây dựng nên văn hóa cơ quan, cũng như phản ảnh phong thái làm việc của công ty/cơ quan/tổ chức ấy.

Các công ty/cơ quan/tổ chức khi đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử là nhằm để nhân viên/viên chức/công chức quán triệt các kỳ vọng của lãnh đạo đối với tập thể nhân lực, cùng những chuẫn mực về phong cách làm việc mà tập thể phải bảo đảm đạt được trong làm việc hàng ngày tại công ty/cơ quan/tổ chức và tại bất kỳ đâu dưới danh nghĩa nhân lực của công ty/cơ quan/tổ chức, đồng thời cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn phải xử trí ra sao trong những tình huống đạo đức nhất định.

Việc tham khảo các Code of Conduct của các công ty quá lớn như Roche, Kraft, Verizon, Colgate-Palmolive, Baylor, Johnson&Johnson, Boeing, hoặc của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tuân thủ ICoCA), và của bất kỳ công ty quá nhỏ nào của Âu Mỹ, là cần thiết cho các lãnh đạo cơ quan/doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nào ở Việt Nam chưa từng nhận biết về tầm quan trọng đối nội và đối ngoại của một Code of Conduct (không thể được đối tác nước ngoài xem trọng nếu bản thân đơn vị thiếu vắng Code of Conduct minh định chi tiết trên trang web và trong brochure của đơn vị) để hiểu biết thêm về quan niệm chung và khác của các công ty/cơ quan/tổ chức ấy, từ đó nắm bắt được những yếu tố trọng tâm nào được đưa ra làm kim chỉ nam cho lĩnh vực hoạt động và dịch vụ, tính liêm chính của từng cá nhân, sự liêm chính của công ty/cơ quan/tổ chức, quy trình tuyển dụng, tài sản công ty, tinh thần trách nhiệm, những tiêu chuẩn hành xử thích hợp đối với cơ quan/đối tác của cơ quan/khách hàng của cơ quan/các nhân viên khác của cơ quan, và sự tuân thủ toàn vẹn với ý thức rằng các hành xử khác đi sẽ ảnh hưởng không những đến hình ảnh cơ quan mà còn cả đến sự nghiệp của nhân viên tại cơ quan, toát lên từ Code of Conduct còn mạnh mẽ hơn những lời quảng cáo phóng đại đầy tốn kém trên truyền thông.

Các Code of Conduct có khi chỉ dài 1 trang giấy khổ A4, có khi đến gần 20 trang, nội dung có thể nêu cả – song không chỉ giới hạn bởi – các vấn đề như quan hệ trung thực với nhà cơ quan nhà nước, tôn trọng môi trường, minh bạch sổ sách và báo cáo,  không đem bí mật kinh doanh nội bộ ra giao dịch với bên ngoài, quan hệ với đồng nghiệp/công ty/khách hàng/cơ quan Nhà Nước/luật pháp/xã hội. Code of Conduct còn quy định cách ứng xử của cá nhân các lãnh đạo cơ quan đối với nhân sự cơ quan và các nội dung khác tương tự như những gì nhân viên phải tuân thủ, khiến chặn ngăn các hành vi không phù hợp và buộc lãnh đạo phải chịu trách nhiệm quản lý nhân sự tuân thủ Code of Conduct. Khi công ty/cơ quan/tổ chức phát triển mạnh, Quy Tắc Ứng Xử tức Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc của công ty/cơ quan/tổ chức có thể được được lồng ghép vào trong các thông điệp hoành tráng về sứ mệnh và giá trị của mình.

2- Vấn Đề Nước Ngoài

Nhân viên khi được tuyển dụng sẽ được yêu cầu nghiên cứu Code of Conduct của cơ quan và được yêu cầu ký tên xác nhận đã đọc và cam kết tuân thủ, biến chữ ký đó thành  văn bản thỏa thuận được trữ lưu trong hồ sơ nhân sự mang tính ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động, dựa vào đó các hình thức kỹ luật và/hoặc các biện pháp kiện tụng ra tòa án được tiến hành.

3- Vấn Nạn Việt Nam

Sự thiếu vắng các Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức không có bất kỳ sự cương tỏa nào minh bạch hóa minh định hóa trong nội bộ các công ty/cơ quan/tổ chức ở Việt Nam, đã làm phát sinh 7 vấn nạn thường thấy như (a) tác phong phục vụ khách hàng kiểu ta-là-chúa còn khách-hàng-là-hành-khất, (b) khẩu ngữ trong phục vụ khách hàng kiểu ban-ơn-mưa-móc hay thí-cô-hồn, (c) khẩu ngữ trong sinh hoạt nội bộ như bác/cháu/em/anh Hai/chị Tư luông tuồng phi chuyên nghiệp, (d) tác phong làm việc gia-đình-trong-công-sở, (e) nhận thức xem danh tiếng của công ty/cơ quan/tổ chức là vấn đề vĩ mô của công ty/cơ quan/tổ chức mà mình không phải là ốc vít trong guồng máy ấy, (f) tính quan liêu, (g) sự bất minh/bất liêm/bất chính/vô văn hóa đơn vị/vô giá trị cơ quan ở từ cấp lãnh đạo cho đến nhân viên.

Với tính cách trên-dưới của quyền lực quản trị cơ quan/doanh nghiệp Nhà Nước/tổ chức luôn kèm theo quyền lực chính trị – nghĩa là chỉ có đảng viên cấp cao mới được bổ nhiệm quản trị cơ quan/công ty/tổ chức – việc có một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trở thành điều bất khả thi do giới lãnh đạo – và giới “con ông cháu cha” – không chịu để mình bị kềm tỏa bởi cái gọi là Bộ Quy Tắc đầy minh bạch và quá cụ thể ấy.

Vấn nạn còn ở chỗ:

a) Ngay cả truyền thông chính thống lại tự hỏi không rõ Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội có “vi phạm quyền tự do cá nhân”, mà không hiểu rằng trong thế giới văn minh Âu Mỹ thì cái quyền tự do cá nhân chỉ được thực thi ở trong nhà riêng, trong cộng đồng riêng, và khi chẳng đang làm việc không riêng. Làm việc tại cơ quan là làm việc riêng ư? Đi bộ ngoài đường là sinh hoạt riêng trong cộng đồng riêng nên muốn ăn mặc sao cũng được mà không cần đếm xỉa đến người xung quanh ư? Ngay cả người xứ “mọi” cũng không ai phát biểu như truyền thông chính thống Việt Nam đối với Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội.

b) Trong khi đó một tên giáo sư nguyên viện trưởng một viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại khuyên nên xem Bộ Quy Tắc là “phần cứng” để “ai có điều kiện, có thể theo được thì cứ theo, còn nếu ai vì lý do nào đó mà không theo được, thì có thể dùng những quy tắc ấy để tham khảo”. Giống như một nhà sử học Việt Nam vừa không bao giờ có kiến thức về thế giới sử và các ngành sử đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển môn Sử ở Việt Nam và tỏa lan môn Sử ấy ra khắp bốn bể năm châu, viện nghiên cứu văn hóa Việt ắt cũng vừa không bao giờ có kiến thức về tương quan văn hóa thế giới và các ngành văn hóa đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển văn hóa Việt Nam và tỏa lan văn hóa Việt Nam ấy ra khắp năm châu bốn bể.

Quy tắc là để hoặc tuân theo hoặc bị trừng phạt nếu vi phạm (kỹ luật, sa thải hoặc tù tội).

Quy tắc không là thứ chỉ để tham khảo mà là thứ phải thuộc nằm lòng để tồn tại và phát triển cá nhân.

Quy tắc là sức mạnh của đơn vị.

Ông nguyên viện trưởng đã làm viện trưởng vì đi ngang đi tắt vô bài bản, bất chuyên nghiệp, kiểu đang áp dụng ở Ban Quản Lý Tây Nam Bộ nên ăn nói nghô nghê thất học về “phần cứng”.

C) Thế Nào Là Quy Định Trang Phục Dress Code

1- Khách Hàng:

Một trong những nội dung của bất kỳ Bộ Quy Tắc Ứng Xử nào là nâng lên cao nhất vị trí của “khách hàng” như một thứ đạo đức cao nhất của làm việc (business = làm việc, kinh doanh, v.v.).

Khách hàng bao gồm: khách hàng theo nghĩa đen và khách hàng theo nghĩa bóng.

Theo nghĩa đen, khách hàng là bất kỳ ai sử dụng dịch vụ của mình, cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho mình, mua hàng hóa của mình.

Theo nghĩa bóng, khách hàng là bất kỳ ai tìm đến mình, và với ý nghĩa này thì lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình cũng đều là khách hàng của mình.

Khách hàng là vua. Vì thế, khi tiếp khách hàng thì mình phải cúc cung tận tụy y như nhau dù đó là lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình, nhân viên cấp dưới của mình, hay khách đến từ bên ngoài.

Do khách hàng là vua, sự cúc cung tận tụy của mình là chính, và trang phục của mình là quan trọng. Đó là lý do Bộ Quy Tắc Ứng Xử – nếu không có Bản Quy Định riêng và rời về trang phục gọi là Dress Code – sẽ kèm theo các nội dung liên quan đến trang phục.

2) Đừng Đùa Với Lửa Dress Code:

Vào Tháng 7 năm nay, tại Anh Quốc, biên tập viên Lauren Tuck của Yahoo! Style có đưa tin về việc một nhóm nữ sinh viên thực tập bị đuổi khỏi nơi thực tập vì vi phạm Dress Code. Họ bị triệu tập vào phòng nhân sự, được yêu cầu phải nộp lại ngay thẻ ra vào (ID badge), thu dọn hết đồ đạc cá nhân, rồi rời khỏi khuôn viên công ty ngay lập tức.

Khi các nữ sinh này biện minh rằng họ đâu có được phân công tiếp khách hàng nên sao lại bó buộc phải tuân theo Dress Code, và sở dĩ họ mang dép đi làm dù biết Dress Code cấm, là vì họ thấy có một bà nhân viên cũng đi dép. Câu trả lời của lãnh đạo dành cho họ là: (a) nếu hiểu “khách hàng” chỉ là người từ bên ngoài đến thì rõ ràng các nữ sinh này không chuyên nghiệp và việc đào tạo ở đại học có khiếm khuyết, và (b) bà nhân viên ấy là cựu chiến binh bị mất một chân khi phục vụ quân đội Anh ở nước ngoài nên được ưu tiên mang bất kỳ loại giày dép nào có thể giúp người nhân viên khuyết tật ấy dễ dàng công tác hiệu quả nhất.

Sau bài blog trên Yahoo, nhiều người đã “comment” rằng công ty ấy đã xử lý thật tuyệt hảo (“the company handled it perfectly”), rằng cuộc sống thực sẽ có nhiều tàn khốc hơn vậy mà không giữ được mình theo các quy định giản đơn đối với trang phục thì phải bị loại thôi, v.v.

Không khuyết tật, không theo tôn giáo đặc thù, dứt khoát đừng hòng giỡn mặt với Quy Định Trang Phục Dress Code của nơi làm việc (“You better not be slacking with the dress code”).

3- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: định nghĩa rõ các loại trang phục

Từ sau những năm 1990, nhân viên ở Mỹ không còn được yêu cầu mặc trang phục trang trọng (formal attire) khi đến cơ quan làm việc, một phần do biến đổi khí hậu làm những tháng hè thêm oi bức, một phần do phát sinh những ngành nghề như công nghệ thông tin (mà sự giao tiếp với khách hàng – nội bộ và từ bên ngoài – gần như bằng không, và yêu cầu công việc đòi hỏi nhân viên ngồi tại chổ với máy vi tính suốt thời gian) và thị trường chứng khoán vốn liên tục tranh giành sôi động trên thực địa, v.v. Song, như đã nói, đã là nơi làm việc chuyên nghiệp thì không thể thiếu Dress Code; do đó, các loại trang phục được định nghĩa rõ hơn để phân định giữa nội hàm cho phép và không cho phép, bất kể Dress Code có thoáng hay không, khiến một thứ “trang phục trang trọng formal attire” duy nhất của ngày trước thì nay được phân biệt thật chi tiết chẳng hạn đối với nam nhân viên thành:

a) Trang Phục Dạo Phố Dân Sự (Street Wear): như áo thun ba lổ bỏ ngoài, quần đến gối, dép hay sandal. Cấm mặc khi đi làm.

b) Trang Phục Thường Nhật Dân Sự (Casual): như áo thun tay ngắn bỏ trong, quần dài, giày thể thao. Cấm mặc khi đi làm.

c) Trang Phục Thường Nhật Nhân Viên (Mainstream Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, quần tây dài vải thường, giày tây thoải mái.

d) Trang Phục Công Sở Bình Thường (Business Casual): áo sơ mi dài tay màu sáng hoặc sọc, bỏ trong, không cravat, quần tây dài, áo khoác jacket (không cùng màu với quần), giày tây. Đây là nội dung được ghi rõ nhất vì “bình thường” nghĩa là “bình thường để làm việc chuyên nghiệp” chứ hoàn toàn không có nghĩa là “bình thường bình dân vui chơi” thành áo có hình hoa văn màu sắc lòe loẹt theo kiểu thổ dân Hawaii hoặc đi dép lê khi đứng báo cáo, thuyết trình.

e) Trang Phục Công Sở Tươm Tất (Smart Business Casual hoặc Executive Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, đeo cravat, quần tây dài sậm màu, giày tây đen có vớ đen. Trong các loại “thoải mái tại công sở” (tức “casual”) thì Smart Business Casual thường được giới lãnh đạo thích nam nhân viên mặc hơn là Business Casual ngay cả khi Business Casual được cho phép trong Dress Code.

f) Trang Phục Đối Ngoại (Business Formal hay Business Attire): sơ mi dài tay, bỏ trong, đeo cravat, nguyên bộ veston hai phần (áo “vét” jacket và quần cùng loại vải cùng màu) sậm màu, giày tây đen, nâu sậm hoặc xanh đen, vớ đen.

g) Trang Phục Họp Hội Đồng Lãnh Đạo (Boardroom Attire): sơ mi trắng dài tay, cravat thanh lịch, bộ veston ba phần (áo “vét” jacket, quần tây dài, và áo “ghi-lê” waitcoat), giày tây đen có vớ đen.

h) Trang Phục Dự Lễ Nghi (Black Tie): áo sơ mi tuxedo kết ren ở ngục, thắt nơ đen, nguyên bộ veston ba phần đen, giày tây đen có vớ đen.

Tất nhiên,

– Không nơi làm việc nào chấp nhận cho nhân viên mặc Street Wear hay Casual vào cơ quan làm việc;

– Dress Code tùy cơ quan sẽ ghi rõ cho nam nhân viên được mặc Business Casual (khá thoải mái hơn) hay phải là Smart Business Casual (vẫn thoải mái nhưng trang trọng hơn);

– Dress Code có thể không ghi gì về Business Formal vì đây là trang phục tự động mặc bởi cấp quản lý, tự động mặc bởi dân đối ngoại chuyên nghiệp, và tự động mặc bởi bất kỳ nhân viên nam nào nghiêm túc muốn được thăng tiến.

– Dress Code sẽ không ghi về Black Tie vì văn hóa Âu Mỹ được mặc định là tất cả người nam đều hiểu rằng khi thay mặt công ty dự một lễ nghi trọng đại họ phải mặc bộ Black Tie .

– Dress Code có thể quy định trang phục thế nào trong các ngày làm việc và trong các ngày cuối tuần (“dress down day”) nếu phải làm việc tại công ty. Trong những ngày “dress down day”, các trang phục jeans, giày các loại, đều được cho phép miễn phải lành lặn, nếu công việc không gồm tiếp khách, và phải luôn ghi nhớ rằng áo nữ kiểu “thun dây” (tank/halter tops) và trang phục thun bó chạy bộ jogging dù kiểu nam hay nữ đều không được phép mặc vào làm việc tại công ty trong ngày cuối tuần/ngày lễ nghĩ.

4- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: Những Vấn Đề Quan Tâm Chính

Dựa theo các chi tiết nổi bật nhất của Bản Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội, những điểm sau như nêu trong các Dress Code ở Âu Mỹ được liệt kê dưới đây cho độc giả Việt Nam tham khảo với lưu ý rằng “khách hàng luôn là vua”:

a- Xâm Mình / Xiên Xỏ Mình (Tattoos & Piercings)

Xâm mình hay xiên mình là một thứ văn hóa mang tính sở thích và tự do cá nhân. Không bao giờ có Dress Code nào lại nghiêm cấm nhân viên xâm mình/xiên mình. Tuy nhiên, Dress Code có quyền quy định nhân viên có xâm mình/xiên mình phải che dấu các xâm mình/xiên mình ấy trong giờ làm việc. Lý do đơn giản: khách hàng là vua, và có thể có những khách hàng không thiện cảm với người xâm mình/xiên mình, có thể có khách hàng có chấn động tâm lý đối với những hình xâm/kiểu xiên đặc thù, và có thể con nhỏ tháp tùng của khách hàng khiếp sợ trước những hình xâm/kiểu xiên đặc thù ấy.

b- Nước Hoa (Perfume & Cologne)

Việc sử dụng nước hoa là một vấn đề quan trọng vì hương nước hoa đậm đặc có thể gây dị ứng khứu giác của khách hàng hoặc đồng nghiệp. Tốt nhất là sử dụng với lượng thật ít hoặc không sử dụng. Các nhà tư vấn Âu Mỹ còn cảnh báo rằng nhà tuyển dụng có toàn quyền từ chối tuyển dụng những ứng viên nào sử dụng nước hoa đậm đặc – thậm chí loại bỏ luôn ứng viên nào sử dụng đúng loại nước hoa mà bạn gái của nhà tuyển dụng đã dùng song người bạn gái ấy đã bội phản gây sốc nơi nhà tuyển dụng ấy – mà không vi phạm pháp luật về “kỳ thị”.

Tương tự, việc trang điểm đậm cũng được khuyến cáo nên tránh vì “khách hàng là vua” chứ không phải “ta đây là thượng đế”.

c- Hở Hang (Too Revealing Skin)

Trong khi có sự thông cảm cho nhân viên làm việc mùa Hè nóng nức không cần phải mặc veston mà chỉ cần mặc áo sơ mi ngắn tay cài đủ khuy, Dress Code lại nghiêm ngặt đối với việc nhân viên ăn mặc hở hang (vai, ngực, bụng, đùi), mỏng manh.

d- Trang Sức (Bling)

Đối với đa số công ty, việc đeo trang sức không là điều không nên, nếu như số lượng   vừa phải.

e- Jeans

Dù được dùng trong một số nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp cao như trong các lao động chân tay và các ngành kỹ thuật cơ khí, jeans không bao giờ được chấp nhận đối với những nhân viên ở các chức danh lãnh đạo và đối với nhân viên nói chung tại nơi làm việc trong giờ làm việc. Nói chung, các Dress Code xem mặc trang phục jeans như một điều kiêng kỵ tại nơi làm việc.

f- Trang Phục

Nhăn nheo: Trang phục không được nhăn nheo do không được ủi thẳng thớm vì sẽ được các Dress Code xem như biểu hiện của sự kém chuyên nghiệp của nhân viên, gây ấn tượng nơi khách hàng rằng nhân viên đã không có khả năng giữ cân bằng giữa làm việc và cuộc sống riêng, không quản lý thời gian tốt, không quan tâm đến thẩm mỹ chung, không quan tâm đến cảm nhận của khách hàng, và không quan tâm đến cuộc sống bản thân.

Trang Trọng: Khi dự các buổi hội họp quan trọng, các hội nghị, những triển lãm thương mại, hay gặp gỡ khách hàng, hầu hết công ty nào cũng muốn nhân viên mặc trang phục Business Formal.

Mũ (Headwear): Dress Code có thể quy định nhân viên không được đội mũ tại văn phòng trong giờ làm việc như là fan hâm mộ một đội bóng nào đó. Tuy nhiên, nhân viên là tín đồ một tôn giáo nào đó như nam nhân viên theo Đạo Sikh của người Sikh Ấn Độ có quyền đội turban, hay nữ nhân viên Đạo Hồi có quyền đội hijab, al-amira, shayla, khimar, và chador. Tuy nhiên đối với nữ ứng viên theo Hồi Giáo mang mạng che mặt  niqab hay trùm đầu burkas thì cần có giải thích rõ về quy định nhận dạng trên thẻ ra vào nên không thể được chấp nhận để tránh các khiếu kiện kỳ thị tôn giáo chốn pháp đình.

Giày: Dress Code cũng có thể quy định về loại giày, màu giày, cho nam và cho nữ nhân viên khi làm việc tại cơ quan.

D) Giới Trẻ Việt Nam Khôn Ngoan

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa đọc đến đoạn “Đó là quyền tự do cá nhân của mỗi người. Dù là công chức Nhà nước thì họ cũng là công dân nên họ vẫn phải có những quyền cơ bản của công dân chứ” của một nhà văn nọ có tên trong “cẩm nang tìm người phỏng vấn” của các nhà báo truyền thông chính thống, thì có thể bật nói ngay rằng: “Thôi đi ông! Nhà văn là chuyên gia của thể loại tưởng tượng Fiction, biết quái gì về cuộc sống thực và pháp luật thiệt! Ai muốn thi thố quyền cơ bản của công dân thì hãy thi thố ở nhà, còn vào một công ty là thực hiện chuyên nghiệp nhất một ràng buộc hợp đồng lao động nghiêm ngặt nhất của những công dân trưởng thành trong một thế giới sinh nhai có thật mà các nội quy và quy định chính là quyền cơ bản đặc thù dành riêng cho nhân viên chứ người ngoài đường hoàn toàn không có cái đặc quyền tuân thủ đó.”

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa nghe tin về một quy định nào đó mới được chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương ban hành thì hoặc (a) sử dụng kiến thức sẵn có để nghiệm ra tính đúng đắn của các quy định đó, hoặc (b) kiếm tìm ngay các thông tin để so sánh với những tương tự ở nước ngoài, hoặc (c) đề nghị tác giả bài viết này giải đáp thắc mắc.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ đã biết rằng không bao giờ có cái “tự ý thức” (qua câu nói của nhà văn lếu láo: “tôi nghĩ bản thân mỗi công chức, viên chức cũng tự ý thức được phải ăn mặc thế nào khi đi làm việc, khi tiếp xúc với công dân cho phù hợp”) tự nhiên có nơi công dân bất kỳ siêu cường quốc nào, mà cái “tự ý thức” đó chỉ có khi “tự ý” tuân theo những quy định cực kỳ nghiêm ngặt sẵn có của quốc gia. Không có các quy định, quy tắc đầy uy lực trừng phạt thì sẽ không tạo ra tâm lý lo sợ vi phạm, không có tâm lý lo sợ vi phạm thì không có tâm lý tuân thủ, không có tâm lý tuân thủ thì không đời nào có tinh thần tự giác. Ý thức không từ trên trời rơi xuống như món quà Trời ban cho người này nhưng keo kiệt không bố thí cho người khác. Ý thức luôn đến từ một vô thức kết tụ từ sự kinh qua trải nghiệm nhuộm màu kinh sợ.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ không những không đọc các thông tin “chùa” trên không gian mạng mang tính chống đối mà còn biết miệt thị báo chí truyền thông chính thống nào không thể giải đáp thắc mắc mà chuyên đặt câu hỏi trống không để cùng hòa nhập vào số lượng độc giả nào mà báo chí hy vọng sẽ cùng không hiểu hoặc sẽ cùng không đồng tình – tức cùng chống đối – với các quy định ấy.

E) Đảng Cộng Sản Việt Nam Khôn Ngoan

Chính quyền Hà Nội đã đi đầu trong đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử chung của các cơ quan công quyền tại Hà Nội, biến Hà Nội thành thành phố đầu tiên đẳng cấp thế giới về nhận thức đối với tầm quan trọng tự thân của một Bộ Quy Tắc Ứng Xử.

Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội sẽ thúc đẩy mỗi Sở, mỗi doanh nghiệp Nhà Nước, của Hà Nội tiến đến thành lập các Code of Conduct và Dress Code cho chính mình.

Nếu các Code of Conduct và Dress Code của các công ty lớn nhỏ của Âu Mỹ để gia tăng tính chuyên nghiệp và giá trị của công ty ấy cũng như tạo sự tin tưởng nơi khách hàng, thì Code of Conduct của Hà Nội sẽ đẩy nhanh tiến trình cải tổ hành chính của Hà Nội, đưa nội hàm bình thường của “Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc” trở thành một nội hàm mang tính bình thường, tự nhiên, để rồi sau một thập niên sẽ là thứ vốn có, sẵn có của con người Hà Nội văn hiến văn minh thanh lịch và kỹ luật cao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khôn ngoan khi khuyến khích và chuẩn thuận việc ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính quyền Hà Nội, qua đó đã (a) giúp làm lộ diện lỗ hổng kiến thức của giới tinh hoa, (b) giúp làm lộ diện các phản ứng mang tính công thức chung rất vô dụng của báo giới chính thống, (c) giúp toàn quốc trong cả hai khối quốc doanh và tư doanh quan tâm đến thế mạnh tự thân từ Code of Conduct khiến sự đoan chính nhiều và tiêu cực ít trong hoạt động kinh doanh sẽ dần được dựng xây theo năm tháng, và (d) giúp giới trẻ quan tâm đến các giá trị đủ đầy của tính chuyên nghiệp từ các Code of Conduct và Dress Code để trở thành công dân chuyên nghiệp và đạo đức.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

Tham khảo:

Fiction & Non-Fiction: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Sự Thương Hại Dành Cho “Chuyên Gia Chuyên Nghiệp” 20-11-2016

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự 27-8-2014

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng 08-02-2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bậc Vĩ Nhân Đã Đấm Vào Mặt Hoa Kỳ Ngay Tại Liên Hợp Quốc

Tiến Sĩ Fidel Castro: Chất Thử Của Bất Tài Và Bần Tiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-11-2016

fidel2fidel1

A- Vấn Nạn Truyền Thông

Fidel Alejandro Castro Ruz là nạn nhân của vấn nạn truyền thông.

Báo chí Âu Mỹ luôn miêu tả một chiều về ông như một “nhà độc tài”. Danh từ “nhà độc tài” là thứ ngôn từ thuộc độc quyền sở hữu của truyền thông Âu Mỹ.

1) Ý Nghĩa Thứ Nhất Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những…“nhà độc tài” mà thiên hạ trên thế giới đã tự động gọi sẵn như thế trước đó, chẳng hạn “nhà độc tài” Adolf Hitler của Đức Quốc Xã, “nhà độc tài” Benito Mussolini của Phát xít Ý, hay “nhà độc tài” Francisco Franco của Tây Ban Nha, và “nhà độc tài” Fulgencio Batista của Cuba mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này chỉ gói gọn trong một từ duy nhất: tàn bạo.

2) Ý Nghĩa Thứ Hai Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những nhà lãnh đạo nào không thuộc khối “Thế Giới Tự Do”, từ đó có các “nhà độc tài” mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này là … không theo thể chế dân chủ Âu Mỹ và chẳng tôn trọng tư tưởng Âu Mỹ dành cho nhân quyền. Thế là các lãnh đạo các quốc gia “phe” cộng sản bị gọi là “nhà độc tài”. Còn các “nhà độc tài” chính hiệu, hàng hiệu, có cầu chứng tại tòa thương mại thương hiệu thương quyền quốc tế đàng hoàng, có tàn bạo khát máu y như các đấng của Ý Nghĩa Thứ Nhất, nhưng thuộc phe Thế Giới Tự Do thì truyền thông tẩy xóa mất tiêu mất biệt mất tích cái cụm từ “nhà độc tài”, thí dụ như Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, Park Chung Hee của Đại Hàn Dân Quốc, Suharto của Indonesia, Lý Quang Diệu của Singapore, và Ferdinand Marcos của Philippines, cùng các vị khác ở Trung Đông, v.v. Oái oăm ở chỗ truyền thông gọi Fulgencio Batista của Cuba là “nhà độc tài” trong Ý Nghĩa Thứ Nhất nhưng khi Fidel Castro đánh đuổi Fulgencio Batista ra khỏi Cuba thì truyền thông lập tức gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” theo Ý Nghĩa Thứ Hai, khiến kẻ đem Cuba làm tôi mọi cho Mỹ và người giải phóng Cuba khỏi sự tôi mọi ấy đều là “nhà độc tài” cả.

Dần dà, thấy đàn em trong giới truyền thông tiểu quốc lạm dụng chữ “độc tài” để gọi lung tung, thí dụ như Cu Kiều gọi cá nhân Tiến Sĩ Fidel Castro là “nhà độc tài” (dictator), còn Việt Kiều thì gọi cả đất nước Việt Nam là “độc tài Đảng trị” khiến truyền thông Âu Mỹ khó chịu khó ăn khó nói với Việt Nam là xứ sở mà họ rất kiêng sợ kiêng dè kiêng kỵ nên họ – mà cụ thể như tờ Telegraph của Anh Quốc – gọi Fidel Castro là “tên bạo chúa” (tyrant), với hy vọng Cu Kiều sẽ gọi y như vậy, còn Việt Kiều có khi sẽ chế ra từ mới chẳng hạn như “bạo chúa Đảng” chăng.

3) Vấn Nạn: Như vậy, ở Việt Nam các sĩ phu “nhà giáo Hán-nho” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương nên chỉ thèm đi du học (Phong trào Đông Du), không thèm đi lao động lao lung lao nhọc lao khổ làm thợ thuyền “tìm đường cứu nước”, ra mặt oán giận Ông Hồ khi thấy Ông Hồ cũng là Sĩ “nhà giáo Hán-nho” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông. Đến khi mấy ông không thuộc Sĩ-Nông-Công-Thương mà là quân nhân như tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu độc tài độc quyền nắm quyền trị quốc thì mấy Sĩ nhà ta ở Việt Nam Cộng Hòa mới hoặc nín thinh hoặc hình thành các nhóm “nhân sĩ dân biểu đối lập” chống Nguyễn Văn Thiệu, thậm chí chống luôn cả Mỹ vì oán giận Mỹ không xem trọng Sĩ.

Như vậy, ở Âu Mỹ các sĩ phu “luật sư” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương và các Sĩ khác, nên ra mặt oán giận Ông Castro khi thấy Ông Castro là Sĩ  “luật sư” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông.

Hậu quả là truyền thông Âu Mỹ của tự do dân chủ nhân quyền văn minh đã luôn dùng các từ ngữ miệt thị dành cho Fidel Castro.

Còn truyền thông Việt thì lúc Fidel Castro về cõi vĩnh hằng tải đăng rất nhiều bài về những gì tốt đẹp mà Fidel Castro đã dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, tầm vóc kỳ vĩ của con người vĩ đại ấy đối với toàn nhân loại trên bình diện thế giới sử, uy thế, uy tín, uy lực, và thần uy, lại chưa hề được nói đến, trở thành lý do cho bài nghiên cứu này về ông được hình thành.

B- Quả Đấm Của Tiến Sĩ Fidel Castro

fidel3

Trong phiên họp ngày 26-9-1960 tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, Fidel Castro đã lập kỷ lục với bài phát biểu ứng khẩu dài nhất lịch sử Liên Hợp Quốc: 4 giờ 29 phút không ngưng nghỉ, được đánh giá như một bản anh hùng ca.

Fidel Castro nói về cuộc cách mạng ông tiến hành cách đó 20 tháng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Cuba là một thuộc địa của Mỹ nhưng Mỹ vẫn cho mình cái quyền thúc đẩy và thúc giục sự lật đỗ chính quyền cách mạng của Cuba. Castro cũng phản đối việc ông và đoàn đại biểu Cuba bị gây khó khăn, bị phân biệt đối xử và bị miệt thị tại New York kể cả bị đuổi ra khỏi tất cả các khách sạn không được cho thuê cư trú khi đến Mỹ họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc.

Đặc biệt, Fidel Castro tuyên bố rằng quan hệ của Cuba với Liên Xô là đúng đắn và là quyền tự do của Cuba, rằng chính phủ “đế quốc” Mỹ có thể sẽ xâm lược Cuba, và rằng Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy là “một thằng triệu phú thất học và đại ngu” (“an illiterate and ignorant millionaire”).

Fidel Castro đã không chống Mỹ bằng những bài báo, những tiểu luận, những tác phẩm hay truyền đơn.

Fidel Castro đã sử dụng diễn đàn chính thức của Liên Hợp Quốc trên đất Mỹ để vung nắm đấm vào mặt chủ nghĩa đế quốc Mỹ, vạch trần bộ mặt thật Mỹ, xưng tụng vai trò của Liên Xô, khẳng định chủ quyền cương thổ quốc gia Cuba, và cảnh báo với thế giới về nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

fidel4

Tiến Sĩ Fidel Castro đã đường đường chính chính vào tận hang ổ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ với tư cách lãnh đạo tối cao của Cuba, quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc từ ngày 24-10-1945, và đã trong nhiều lần đến dự họp với Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đều sử dụng diễn đàn này để ra sức hùng biện miệt thị Hoa Kỳ suốt nửa thế kỷ qua.

Tiến Sĩ Fidel Castro cùng với Cuba đã chứng minh hai điều rõ ràng rằng (a) Mỹ đã thất bại trước Cuba trong hơn 50 năm, và (b) trong khi Cuba là quốc gia có chủ quyền thành viên Liên Hợp Quốc từ năm 1945 thì cũng từ năm 1945 đến tận ngày nay Mỹ vẫn không hề dám công nhận ngoại giao chính thức với Đài Loan mà Mỹ xem như đồng minh của mình khiến Đài Loan vẫn không thể nào trở thành quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc. Dùng sức mạnh “lấy thịt đè người” để công khai chống lại một quốc gia bé nhỏ như Cuba suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Liên Xô – Nga, nhưng lại hèn hạ lén lút bắt tay với một “lãnh thổ” bé nhỏ như Đài Loan suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Trung Quốc mà Mỹ khiếp sợ: đó là tư cách của nước lớn Hoa Kỳ mà chỉ có Tiến Sĩ Fidel Castro mới là người duy nhất trên thế gian này kiên trì giáng bao nắm đấm dồn dập vào mặt Mỹ.

C- Lời Tiên Tri Của Tiến Sĩ Fidel Castro

Có thể người Việt Nam khi nói về sự việc không bao giờ xảy ra thường dùng thành ngữ “khi nào Mặt trời mọc ở Hướng Tây thì…”

Nhưng khi Fidel Castro từng tuyên bố năm 1973 rằng

fidel5

thì tuyên bố ấy lại không là sự ví von cho điều bất khả mà mang tính tiên tri với sự ứng nghiệm: Hoa Kỳ có Barack Obama là Tổng Thống người gốc Phi vào thời điểm cuối nhiệm kỳ đã có những bước tháo gỡ một số lịnh cấm vận chống Cuba và sang thăm Cuba tháng 3 năm 2016, đòng thời cũng trong năm 2016 này Đức Giáo Hoàng Francis là người nước Nam Mỹ Argentina đã sang thăm Cuba vào tháng 9

fidel6

Trong khi đó thì đối thủ đầu tiên và trực tiếp của Fidel Castro là Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy chỉ để lại một lời tuyên bố rằng

fidel7

cho dù tuyên bố ấy bị truyền thông Mỹ vội vàng dán nhãn phủ nhận tính xác thực với kiểu gán cho đó là một “thuyết âm mưu” bằng một lý luận rất trẻ con rằng nếu đó đích thị là lời Tổng Thống nói thì tại sao không báo nào của Mỹ dám đăng tin xác nhận sau đó cả. Việc duy nhất mà J.F. Kennedy đã làm để giúp đỡ người nông dân nghèo khổ Cuba là ra lịnh cho quan chức thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc ngay lập tức nhập khẩu cho ông 1.200 điếu xì-gà Cuba và khi hàng về đến nơi thì phải báo ông hay tin để ông ngay lập tức chìa ra lệnh cấm vận Cuba đã ký sẵn tháng 02-1962 với lý do nêu sẵn: Cuba đã không chịu chuyển dịch nền dân chủ và không cải thiện tình hình nhân quyền. Việc cấm vận Cuba khiến nước Mỹ thiệt hại mỗi năm gần 5 tỷ USD và người dân Mỹ mất 6.000 việc làm, mà tính đến 2013 thì Liên Hợp Quốc đã 22 năm liên tục ra Nghị quyết chống lại lịnh cấm vận Cuba của Mỹ mà cũng ngần ấy năm chỉ có hai nước chống lại nghị quyết ấy là Mỹ và Israel.

Lời phát biểu của Fidel Castro năm 26-9-1960 tại Liên Hợp Quốc về cuộc xâm lăng Cuba có thể có từ Mỹ, đã dẫn đến một sự thật là ngày 17-4-1961 Mỹ đã dùng các chiến hạm đưa 1.200 Cu Kiều lưu vong do Mỹ huấn luyện và trang bị vũ khí tận răng ào ạt đổ bộ vào Vịnh Con Lợn của Cuba. Tuy nhiên, “đại cuộc vùng lên của nhân dân Cuba hưởng ứng đoàn quân giải phóng lật đổ chế độ của tên độc tài khát máu Fidel Castro” đã không hề xảy ra như Mỹ mong đợi, quân đội ít quân số của Cuba đã phản công thần tốc loại hơn 100 quân giặc ra khỏi vòng chiến đấu và bắt cầm tù trên 1.000 tên, còn không quân bé nhỏ với vài ba chiến đấu cơ cổ-lổ-xỉ của Cuba tấn công đánh đắm tất cả các tàu hậu cần của quân xâm lược khiến ngay cả cái trò Con Heo đó cũng làm không nên cơm nên cháo gì sất. Và để được cho phép gởi các phi cơ dân sự DC6 bay sang Cuba nhận lại hơn 1.000 tù hàng binh Cu Kiều về Mỹ kịp đón Giáng Sinh 1962, Mỹ đã phải chấp nhận chuyển giao trước cho Cuba số lương thực chất lượng cao và thuốc men đặc hiệu trị giá 53 triệu USD.

Lời tiên tri của Fidel Castro đã đúng: 55 năm Mỹ cấm vận Cuba vẫn không làm Cuba sụp đổ.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ chỉ nhận được mỗi sự đồng tình của Israel đối với lịnh cấm vận ấy.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ buộc phải xét dến các bước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cuba.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ đã phải tìm đến Cuba với một Cuba như vốn là chứ không phải một Cuba lẽ ra phải là.

D- Phong Cách Đại Chủ Nhân Thế Giới

Nếu chỉ tính từ thời điểm Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy ký ban hành lịnh cấm vận Cuba cho đến tháng 11-2016 thì Fidel Castro đã ngạo nghễ sinh tồn vượt qua 638 cuộc ám sát “chính thức” của CIA Mỹ, ngắm nhìn thế sự bão tố xoay vần đổ ập lên đầu 96 vị nguyên thủ các cường quốc thân Mỹ – mà trong số các vị này nhiều người tái đắc cử từ 2 đến 5 nhiệm kỳ liên tiếp hoặc không liên tiếp – gồm 10 Tổng Thống Mỹ (John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barack Obama), 11 Thủ Tướng Anh (Harold Macmillan, Sir Alec Douglas-Home, Harold Wilson, Edward Heath, James Callaghan, Margaret Thatcher, John Major, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron, và Theresa May), 8 Thủ Tướng Đức (Konrad Adenauer, Ludwig Erhard, Kurt Georg Kiesinger, Willy Brandt, Helmut Schmidt, Helmut Kohl, Gerhard Schröder, và Angela Merkel), 9 Tổng Thống Pháp (Charles de Gaulle, Alain Poher, Georges Pompidou, Alain Poher, Valéry Giscard d’Estaing, François Mitterrand, Jacques Chirac, Nicolas Sarkozy, và François Hollande), 23 Thủ Tướng Ý (Fernando Tambroni, Fanfani, Giovanni Leone, Aldo Moro, Giovanni Leone, Mariano Rumor, Emilio Colombo, Giolio Andreotti, Francesco Cossiga, Amaldo Forrlani, Giovanni Spadolini, Giovanni Goria, Ciriaco De Mita, Giuliano Amato, Carlo Azeglio Ciampi, Silvio Berlusconi, Lamberto Dini, Romano Prodi, Massimo D’Alema, Giuliano Amato, Mario Monti, Enrico Letta, và Matteo Renzí), 11 Thủ Tướng Tây Ban Nha (Francisco Franco, Luis Carrero Blanco, Torcuato Fernández-Miranda, Carlos Arias Navarro, Fernando de Santiago, Adolfo Suárez, Leopoldo Calvo-Sotelo, Felipe González, José Maria Aznar, José Luis Rodriguez Zapatero, và Mariano Rajoy), 13 Thủ Tướng Israel (David Ben-Gurion, Levi Eshkol, Yigal Allon, Golda Meir, Yitzhak Rabin, Menachem Begin, Yitzhak Shamir, Shinon Peres, Yitzhak Shamir, Benjamin Netanyahu, Ehud Barak, Ariel Sharon, và Ehud Olmert), và 11 Thủ Tướng Canada (John G. Diefenbaker, Lester B. Pearson, Pierre Elliott Trudeau, Charles Joseph Clark, John Turner, Brian Mulroney, Kim Campbell, Jean Chrétien, Paul Martin, Stephen Harper, và Justin Trudeau).

Trừ Israel là quốc gia hèn hạ do là quốc gia duy nhất luôn bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc ủng hộ Mỹ duy trì cấm vận chống Cuba, các cường quốc Âu Mỹ khác dù nắm binh quyền trong khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO dưới ngọn cờ thống soái của Hoa Kỳ vẫn luôn bày tỏ sự tôn kính và thân tình với cá nhân lãnh tụ Fidel Castro, trong đó có Hoàng Đế Tây Ban Nha Juan Carlos, Thủ Tướng Tây Ban Nha Felipe González, các Tổng Thống Pháp François Mitterrand và François Hollande, v.v. và v.v.

Trong nhiều lần phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ở Hoa Kỳ, Fidel Castro luôn là nhà hùng biện kiệt xuất mà các ứng khẩu nảy lửa hùng hồn dài nhiều giờ của ông đã trở thành một thương hiệu nỗi bật và quen thuộc của riêng ông. Tuy nhiên, tại Kỳ họp Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ ở Liên Hợp Quốc, khi đăng đàn phát biểu ngày 06-9-2000, Fidel Castro đã để lại một ấn tượng khác cũng rất bất ngờ. Để ngăn chặn việc Fidel Castro có thể tái chiếm lĩnh khống chế diễn đàn, Liên Hợp Quốc quy định mỗi nguyên thủ quốc gia sẽ chỉ có 5 phút phát biểu và dàn đèn xanh-vàng-đỏ trên mặt bục phát biểu sẽ chớp đèn báo hiệu thời gian – tất nhiên đèn vàng là báo tin sắp hết thời gian và đèn đỏ nghĩa là micro đã bị ngắt điện. Vị nguyên thủ 74 tuổi của Cuba đã điềm nhiên tung một khăn tay trắng dày to bản phủ trùm lên dàn đèn khiến toàn hội trường bật cười ầm lên thú vị. Fidel Castro bắt đầu vung nắm đấm tuyên bố kết tội các nước giàu đã mỗi ngày kiếm chác hàng tỷ USD trên xương máu của các nước nghèo, và kết luận: “Sự hỗn loạn ngự trị thế giới của chúng ta. Những thứ luật pháp mù lòa cứ như thể đó là điều thiêng liêng khả dĩ sẽ đem đến những thứ thái bình, trật tự, thịnh vượng và an ninh mà hành tinh của chúng ta xiết bao cần có vậy”. Fidel Castro kết thúc bài phát biểu ứng khẩu hùng biện của mình, thu lại chiếc khăn tay, để lộ ra dàn đèn đang nhấp nháy ánh đèn vàng, rồi nghiêm nghị đường bệ rời bục diễn giả trong tiếng cười vang ngưỡng mộ và vỗ tay tán thưởng vang dội của các nguyên thủ thế giới trước tài hùng biện, sự lém lỉnh khôi hài, cung cách chủ nhân diễn đàn, và độ chính xác độc đáo về thời gian của Fidel Castro gói gọn trong 300 giây ấy, ở nơi hội trường rộng lớn mà các nhà báo ghi nhận rằng vốn lúc nào cũng yên ắng đầy ngáy ngủ trong tất cả các phiên họp đông người.

 fidel8

E- Chất Thử Của Bất Tài & Bần Tiện

fidel9

Dựa vào phân tích đã nêu ở đầu bài, có thể nói không bao giờ có thứ truyền thông chính thống nào ra hồn trên toàn thế giới, (a) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc Âu Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, (b) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, và (c) vì rằng truyền thông chính thống các nước còn lại hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ ngu xuẩn tập trung vừa công kích chính phủ nước mình vừa giúp tái rao truyền các sứ điệp của truyền thông chính thống và phi chính thống hay bất chính thống hoặc vô chính thống của các cường quốc ý-thức-hệ-giống-Mỹ và các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ. Tất cả dẫn đến một thực tế là: người khôn ngoan trí hóa cao không bao giờ tin tưởng vào bất kỳ thông tin nào của bất kỳ cơ quan truyền thông chính thống nào của nước mình hay nước khác, ngay cả nếu các cơ quan ấy có loan báo rằng Tổng Thống Mỹ là người có quốc tịch Mỹ.

Đối với con người được 52 nước trao tặng tổng cộng 79 huân chương và huy chương  như Fidel Castro, thi chỉ cần đọc xem cơ quan truyền thông chính thống nói gì về ông là đủ để nhận ra ngay nó có đặc tính BT4 tức bất tài-bần tiện-bạo tàn-bại thất hay không, vì rằng chỉ có quân rác rưởi bất tài vô hạnh mới xúc xiểm bậc đạo cao đức trọng như Fidel Castro.

Khi Fidel Castro qua đời, bọn Cu Kiều ở Miami hân hoan nhảy múa vui mừng rộn rịp

fidel10

mà hành động của bọn chúng chỉ giúp nhân loại nhìn rõ hơn về ba sự cố sau có liên quan đến sự điên cuồng, bạo tàn, và thất bại của bọn Cu Kiều lưu vong:

1)  Cubana 455

Theo nhà báo Tim Padgett của tạp chí Time thì bọn cực đoan Cu Kiều ở Miami là thuộc phe chế độ độc tài tàn bạo Batista do Mỹ hậu thuẫn nhưng đã bị Fidel Castro đánh bại, biến thành bọn điên cuồng chống lại Fidel (anti-Castro fanaticism) tích cực hưởng ứng các âm mưu sát hại các lãnh đạo Cuba, thần thánh hóa các tàn bạo của Batista cùng đám lưu vong, thậm chí điên cuồng đăng tin reo hò mừng rỡ trên báo chí Miami khi bọn khủng bố đã cho nổ bom thành công phi cơ dân sự Cuba số 455 ngày 06-10-1976 giết chết toàn bộ 73 hành khách và phi hành đoàn 5 người, khoe rằng đó là đòn giáng nặng nề quý giá vào mặt Fidel Castro. Trong số tử nạn có 24 vận động viên thiếu niên Olympic 1975 của Cuba đang hân hoan kiêu hãnh đeo sẵn các huy chương vàng để chờ đợi phút giây về đến Cuba trong cuộc đón tiếp đầy vinh diệu tại phi trường với sự có mặt của Chủ tịch Fidel Castro đang trông ngóng đợi chờ. Bản tin chính thống Mỹ-Ca cho biết máu của họ đã loang đến tận bờ biển Canada. Hai quả bom từ chất nổ C4 được chế tạo bỡi tên Cu Kiều Luis Posada Carilles do Mỹ bảo trợ và bảo vệ tại Miami, Bang Florida. Việc chúng khui champagne ăn mừng tại Miami khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

2) Rubio-Cruz

Các tên Cu Kiều ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2016 thất bại Marco Rubio (Thượng Nghị Sĩ Bang Florida) và Ted Cruz (Thượng Nghị Sĩ Bang Texas) đều lên tiếng nguyền rủa Fidel Castro khi nghe tin ông qua đời. Chúng nhanh nhảu tuyên bố sẽ bắt tay với Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump để tư vấn cho ông này các biện pháp thích hợp để trừng phạt Cuba, lật ngược thế cờ của Barack Obama. Việc chúng hớn hở vừa ăn uống nhồm nhoàm vừa trả lời phỏng vấn khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

3) Elian Gonzales

 fidel10a

Sự bất tài bần tiện bạo tàn của bọn Cu Kiều lưu vong còn được nhắc đến đối với Sự Cố Elian Gonzales. Mẹ của bé 6 tuổi Elian Gonzales là Elizabeth Brotons Rodriguez đã bồng con lên tàu cùng tình nhân và 12 người khác vượt biển sang Mỹ. Xuồng máy bị đắm do bão tố ngày 21-11-1999 và các ngư dân Mỹ chỉ cứu được Elian cùng hai người khác. Elian được giao cho thân nhân của mẹ đang sống tại Miami. Cộng đồng Cu Kiều làm dậy lên phong trào ngăn cản Mỹ trao trả Elian lại theo yêu cầu của cha ruột của Elian tại Cuba là Juan Miguel Gonzalez Quintana. Các luận điệu cho rằng chính Juan đã tổ chức cuộc vượt biên cho vợ con đi trước và mình sẽ đi sau, do đó không có lý do gì để trao trả Elian về Cuba, mặc cho Juan lên tiếng cáo buộc vợ mình đã tự ý đem theo con trai khi lẻn bỏ ra đi cùng tình nhân. Một luận điệu khác là Cuba không phải là quốc gia tự do dân chủ nên bé Elian cần ở lại Hoa Kỳ thay vì về Cuba rồi trở thành thằng nhóc cộng sản tay sai Fidel Castro (grow up as a little Communist puppet of Fidel Castro). Tuy nhiên, Fidel Castro đã một mặt hỗ trợ Juan đấu tranh pháp lý trong đòi lại con mình, một mặt đập tan luận điệu trên bằng cách (a) xác nhận sẽ chấp nhận phán quyết bất kỳ của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ và (b) yêu cầu Mỹ cho phép Juan sang Mỹ ở chung với con trong suốt thời gian chờ có phán quyết của tòa án Mỹ nghĩa là Fidel không hề có hành vi giam chân Juan ở Cuba. Tháng 6 năm 2000, Tòa Án Tối Cao Mỹ ra phán quyết bác yêu cầu của thân nhân Elian cùng cộng đồng Cu Kiều tại Miami, và lực lượng phản ứng nhanh SWAT đã đột kích tấn công vào nhà của các thân nhân này để khống chế giải thoát Elian đang bị nhốt giấu trong tủ áo, giao trả Elian về với Bố Juan trở lại Cuba ngày 28-6-2000

fidel11

khiến bùng phát bạo động chống đối của Cu Kiều tại Miami

fidel12

Để giữ thể diện, bọn Cu Kiều lưu vong còn yêu cầu Chính phủ Mỹ buộc Fidel Castro không được sử dụng Elian làm công cụ tuyên truyền cho “chiến thắng” của Fidel, và đã rêu rao bôi nhọ Fidel “bội tín” khi thấy cậu bé Elian thường xuyên xuất hiện vui vẻ cạnh Fidel tại các lễ lộc trọng đại của Cuba

fidel13fidel14

Thế nhưng, cậu bé Elian sau đó còn “đỏ” hơn, khi trở thành đoàn viên thanh niên Cộng sản Cuba

fidel15

tốt nghiệp Đại Học Matanzas năm 2015, trở thành kỹ sư cơ khí và có vị hôn thê là Ilianet Escano đã yêu nhau từ thời học chung ở bậc trung học

fidel16

Nhiều phát biểu nổi tiếng của Elian về Fidel Castro thường được báo chí nước ngoài nhắc đến như:

– Tôi không thú nhận là tôi theo tôn giáo nào cả; nhưng nếu có theo đạo nào thì Thượng Đế chính là Fidel Castro. Ông như một con tàu biết rõ mình đưa đội ngũ thuyền viên đi đúng hướng.

 fidel16a

Fidel Castro đối với tôi như một người cha vậy.

– Đây là điều ít nhất mà một người như tôi có thể làm, tức người đã thọ ơn nhân dân này và thọ ơn cách mạng, đó là học hành chăm chỉ, và còn hơn thế nửa là dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bảo vệ nhân dân cùng cách mạng.

Khi Fidel Castro qua đời, Elian đã thổn thức: “Ông là Bố của tôi, giống như Bố tôi, tôi đã luôn muốn trình Ông mọi điều tôi đạt được, muốn Ông tự hào về tôi. Đó là cách tôi nghĩ về Fidel. Nếu tôi học được điều gì đó và muốn khoe với Ông, mà vẫn còn có nhiều thứ tôi muốn khoe với Ông quá…. Và khoe rằng tại một sự kiện khi Ông bảo Ông xem tôi như là một người bạn của Ông, đó là vinh dự của tôi…

Đạo đức, tư cách, ý chí, của Elian Gonzales đã tôn vinh sự cao thượng, cao trọng, cao vời của đạo đức, tư cách, và ý chí vì nước vì dân của Fidel Castro.

Bọn thượng nghị sĩ Cu Kiều như Mario Rubio và Ted Cruz khi nói lếu láo về sự điêu linh của Cuba dưới sự cai trị tàn bạo của nhà độc tài Fidel Castro, chúng đã hoặc ngu đần ngu xuẩn ngu si ngu dại, hoặc đã không có chút lòng tôn trọng tôn kính nào dành cho cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter

fidel17fidel18

người đã viết như sau, khi nghe tin Fidel Castro qua đời:

“ Rosalynn và tôi sẻ chia tình cảm cùng gia đình Ông Castro và nhân dân Cuba về sự qua đời của Fidel Castro. Vợ chồng tôi vẫn nhớ với lòng trìu mến đến những lần thăm Ông tại Cuba cũng như đến lòng yêu nước của Ông. Chúng tôi chúc các công dân Cuba hòa bình và thịnh vượng trong những năm sắp đến.”

Tất nhiên, nếu DailyWire cay cú vì cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đã luôn tôn kính và thân tình cùng Fidel Castro nên đã chua rằng Jimmy Carter đã “có những lời tử tế cho tên độc tài cộng sản tàn bạo Cuba Fidel Castro” (kind words to the brutal Cuban Communist dictator Fidel Castro) và thậm chí nhắc khéo là trước đây Jimmy Carter đã từng ôm “tên sát nhân chúa trùm khủng bố Yasser Arafat của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (arch-terrorist murderer PLO chief Yasser Arafat), thì bọn rơm rác như Cu Kiều Marco Rubio và Ted Cruz có sủa nhặng lên về Fidel Castro cũng là sự hòa âm điền dã cùng thế giới truyền thông chính thống bịnh hoạn trầm kha vậy.

F- Mộ Chí

Vĩnh biệt Tiến sĩ Fidel Alejandro Castro Ruz, nhà lãnh đạo duy nhất của toàn nhân loại đã luôn là sự thể hiện đồng bộ đồng loạt rõ nét nhất và cụ thể nhất của tính kiên cường, sự bất khuất, tài hùng biện bão tố ngay trong hang ổ quân thù

fidel19fidel20fidel21

tính cách hỏa diệm sơn, thái độ chủ nhân ông đầy ngạo mạn kiêu kỳ trước tất cả các kẻ thù của dân tộc, sức khỏe vô song

fidel22

cốt cách anh hùng xông pha xông xáo, mưu trí mưu lược, ý chí hùng anh, hình tượng chính xác của một “kẻ sĩ dấn thân” như Hồ Chí Minh

fidel23

chinh phục thế giới với sự tỉnh táo quyền biến khuôn mẫu signature Hồ Chí Minh trong trị quốc theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng sự lịch lãm cuốn hút đầy nam tính

fidel24

nụ cười thân tình thân hữu thân ái

fidel25

dành cho và đón nhận tình cảm từ các nguyên thủ tư bản Âu Tây, các vị anh hùng như Yasser Arafat, Nelson Mendela, Yuri Gagarin hay Tạ Thị Kiều

fidel26fidel27

và cách hành xử hóm hỉnh đầy lém lỉnh

fidel28

Tiến sĩ Fidel Castro, người cha tôn kính của dân tộc Cuba, đã luôn đồng hành cùng dân tộc Cuba vượt qua những gian nan không bút mực nào tả xiết

fidel29fidel30

và bậc vĩ nhân ấy đã an nghĩ chốn vĩnh hằng sau khi để lại cho nhân gian muôn đời sau một thí dụ điển hình nhất của đấng hùng anh

fidel31

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(Dual Language: English & Vietnamese – Song ngữ Anh – Việt )

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2016

Lúc trang mạng doanh nhân Việt Nam Emotino.com còn hoạt động, tôi có tham gia Anphabe.com của chủ nhân là Cô Thanh Nguyễn (xin lỗi tôi đã không nhớ tên đầy đủ của Cô trong khi hiện nay trang mạng của Cô cũng chỉ ghi “Thanh Nguyen”) sau khi nhận được lời mời của Cô vốn cũng là một gương mặt sáng giá trên Emotino.com.

Có lần tôi thấy có lời bình phẩm của một tên ngoại kiều làm việc tại Việt Nam (tôi biết thế qua nội dung ý kiến của hắn) trên LinkedIn.com và ngay cả trong “comments” của Anphabe.com để nhạo báng hoạt động của Anphabe trong “tổ chức mời diễn giả” trong nước hoặc ngoài nước, tôi đã viết nội dung sau cho Cô Thanh Nguyễn tại Anphabe và đồng thời trên Emotino. Tôi không viết comments mắng y ngay dưới comment của y, đơn giản vì sáu lý do gồm (a) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại đối đáp trực tiếp với tên mạt hạng bẩn dơ như y sao, (b) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại để lời comment của tôi bên dưới comment “hạ đẳng” của y sao, (c) tôi phải viết trên Emotino để nhiều người Việt Nam biết đến nội dung hơn, (d) tôi phải viết trên Emotino để người học tiếng Anh ở Việt Nam có dịp đọc bài viết tiếng Anh của tôi vốn hoàn toàn vắng bóng từ khi Yahoo! đột xuất ngu xuẩn đóng cửa 3600 , (e) tôi phải viết trên Emotino vì muốn các doanh nhân Việt Nam biết tôi vẫn hữu thủy hữu chung tức trước sau như một đối với bảo vệ danh dự quốc gia, và (f) đặc biệt tôi viết trên cả Anphabe cùng Emotino để Cô Thanh Nguyễn biết Cô – cũng như qua đó đến các doanh nhân doanh nghiệp khác sinh hoạt trên Emotino – biết sẽ được tôi bảo vệ về biện luận đối với các xúc xiểm của ngoại nhân.

Kính mời các bạn tham khảo nội dung nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt tiếp theo sau.

Kính cảm ơn đã quan tâm đọc và kính chào trân trọng.

Phần Nguyên Bản Tiếng Anh

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(originally posted on Emotino.com at http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen)

Hoang Huu Phuoc, MIB

14-4-2011

aaa-1aaa-2

Dear Ms Thanh Nguyen:

I have read a message from Mr David E giving a strong comment on your list of 100 speakers. Obviously his wordings are not strange to Vietnamese people and other people of nations suffering the racial discrimination from those coming from Western countries boasting about their super power even in the thinking modes, ignoring the fact that all strong representatives of capitalism have become shameful culprits of all world’s economic crises including the most recent economic downturns as well as the huge bailouts at economic giants.

Since his saying that Vietnam is so tied to old-school techniques is so ambiguous, I wonder if he can clarify the field or fields in or of Vietnam he wishes to refer to, as in this very world of complicacy the notion should be as much specific as possible. Even once the field or fields can be specified by his good self, nobody on earth – let alone the Vietnamese sages – is so much foolish to reveal the “new ideas” to him or to anybody else just to satisfy the thirst for knowledge just for free. Furthermore, things depend on various factors, among which those of suitable time, suitable situations and suitable personnel and/or personages are naturally decisively included and never ignored. To make Vietnam better, all of these factors need be incorporated into one “something”. The old Vietnam hands are said by him to know something about the old Vietnam, this would literally and figuratively mean he and the old and young foreign hands will never know anything about that old Vietnam. The Bible is much old, but wise people never say something new should be posed by priests and clergymen to make the Bible better.

Vietnam needs new ideas, of course. However, he seems illogically intentionally ignoring one crucial fact that ideas are just ideas. To overphilosophize or exagerate the “importance” of ideas will obviously expose the messy mode of thinking of irrational people. Additionally, it never means everything is in need of new-fangled ideas at the same time. Therefore, Vietnam is having tremendously new ideas for many fields, and leaves some others intact for the new generations to come to explore and exploit. Please also note that “new” never automatically means “good”, and never indicates that everybody must follow the “new” everywhere. To make it easier to understand, let me prove this: communism comes into existence after capitalism, i.e. communism is “new”. Has he ever tried to do his best to convince the USA and all Western countries to establish communist society to replace capitalist ones? Vietnam applies the so-called socialist-oriented market economy to successfully help itself sustainable throughout the worldwide economic downturn of the 2007-2009 crises damaging the proud image of the USA and others; hence, would he and people like him be assumed to laboriously try to convince the Western governments and the US administration to have the same modus operandi applied?

Every wise man on earth now is talking about customization. Only he says the market in Vietnam should not replicate Western ideas in a Vietnamese context. If he participates in an MBI academic program, he will have to study a lot about China, its market, its ways of doing business, and what Westerners should do to satisfy the Chinese if he goes partnering with them. When he comes to Vietnam to do business, his only option for a survival is to do as per Vietnamese terms, and vice versa, when the Vietnamese people go global, they have to follow the common practice, rules and regulations internationally imposed.

He may think he has the right to call those Vietnamese experts a “bunch of old Vietnamese managing directors and Navigos people” who make him “bored”. It is a pity for him. Speakers will deliver suitable notes to suitable audience. If he participates in a paid seminar then gets bored, it may simply mean either he selects a wrong topic or subject or his boss thinks he needs further training on a topic/subject he is considered inadequately qualified. It is a pity also because he has not had any opportunity to participate in any seminar lectured by me. Those names mentioned by him e.g. Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, and Hillary Clinton are to me of good-for-nothing wretched. Who is Bill Gates then? He means the illiterate person failing to complete college years then playing a dirty monopoly game to annihilate all Western IT talents? Who is Hillary Clinton? He means the old woman proudly having a photo taken with the tall proud son of Muammar Gaddafi at the White House, then two years later bombing Tripoli? He can buy books by or of (i.e. autobiography or biography) them to know their life and their ideas – if they can have “new ideas” for their own countries. Personally, the names as mentioned by him are not worth a tinker’s dam. I want to remind him of this information: General Vo Nguyen Giap of Communist Army of Vietnam was just a high school teacher of history, but he humiliated all the noble generals of France and proud generals from Army Academies like West Point of the USA simply by winning all the wars to wipe out the French from Indochina for good then to chase the US troops out to the open sea, burying them all under the thick slimy mud of dishonor.

In short, the advice is that he should respect the Vietnamese people (and any other local people of places on earth whereat he is an expatriate) because they have a bigger advantage over him a foreigner: they know well (a) their country and people and culture and all odds, and (b) his own; whereas he knows only whatever his. This is the reason why the proverb of “When in Rome, do as the Romans do” comes as a suitable guidance for amateur businessmen. He may have a better chance for survival in Vietnam if he spends time to make himself more competitive by learning the Vietnamese ways instead of nonsensically grumbling about the imaginary “old” and the meaningless “new”.

Very truly yours,

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bản Dịch Tiếng Việt

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2011

Tuần trước tôi có đọc “công thư” (thư “công cộng” viết cho bá tánh chứ không phải thư dạng “công hàm” ngoại giao) của Mr David E trên LinkedIn gởi Cô Thanh Nguyên, CEO của Anphabe, và thấy thật khó lòng cưỡng lại sự “cám dỗ” phải chống lại y đối với nội dung bá láp y đã viết.

aaa

Tuy nhiên, để thể hiện mình đã có sự giáo dục quý phái trọng sang đối với kẻ được cho là một thương nhân Âu Mỹ có “nền tảng” văn hóa đáng ngờ, tôi cho rằng thay vào đó tốt hơn hết nên gởi cho Cô Thanh Nguyên một bức thư mà nội dung xin được lập lại như dưới đây:

Cô Thanh Nguyễn kính:

Tôi có đọc đoạn viết nặng nề của Mr David E đối với danh mục 100 diễn giả của  Cô. Rõ ràng là lời lẽ của y chẳng xa lạ gì đối với người dân Việt Nam cũng như người dân các nước phải hứng chịu cảnh bị phân biệt chủng tộc từ những nước Âu Mỹ luôn khoe khoang về sức mạnh siêu việt của chúng ngay cả trong hành trạng tư duy, nhưng lại luôn lờ đi một sự thật rằng tất cả những đại diện manh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản đã luôn trở thành những tên tội phạm đầy nhục nhã gây ra tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kể cả những suy thoái kinh tế gần đây cùng với sự cứu nguy khổng lồ (mà chính phủ của chúng phải ra tay cứu) các tên khổng lồ kinh tế.

Do ý của hắn khi bảo “Việc kinh doanh ở Việt Nam quá bám víu vào những cung cách trường phái cũ mèm” quá mơ hồ, tôi không rõ hắn có thể vạch ra lĩnh vực hoặc những lĩnh vực nào ở Việt Nam mà y muốn nói đến hay không, vì rằng trong thế giới phức tạp ngày nay thì mọi ý kiến đều cần phải cụ thể cao nhất có thể được. Ngay cả khi một hay nhiều hơn một lĩnh vực có thể được y nêu ra đích danh thì không ai trên thế giới này – nói chi đến các nhà thông thái Việt Nam – lại ngu đần đến độ tiết lộ miễn phí các “tư tưởng mới” cho y hay bất kỳ ai chỉ để thỏa mản sự khát khao kiến thức. Thêm vào đó, cái gì cũng còn tùy vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự vào đúng thời điểm, lúc đúng tình thế hoàn cảnh, và có đúng nguồn nhân lực thực hiện và nhân lực cốt cán (tức “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”)  phải luôn được bao gồm với vai trò quyết định tự nhiên mà không bao giờ được lờ đi. Để làm Việt Nam tốt đẹp hơn, tất cả những nhân tố này cần phải được lồng ghép vào một điều cụ thể. Khi y cho rằng “mấy tay người Việt cũ xì vốn là những kẻ có thể biết gì đấy về Việt Nam cũ xì”, thì về cả nghĩa đen và nghĩa bóng bản thân y cùng những tay ngoại nhân trẻ và già sẽ chẳng đời nào biết gì về Việt Nam cũ xì cả. Kinh Thánh rất rất rất cũ, nhưng những người khôn ngoan không bao giờ bảo cái gì đó mới hơn nên được đề ra bởi các linh mục và mục sư để làm Kinh Thánh tốt hơn.

Tất nhiên là Việt Nam cần có các ý tưởng mới. Song cái anh chàng trên dường như đã lờ đi một cách cố tình và xằng bậy một sự thật cực kỳ quan trọng rằng ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Triết lý hóa quá mức hoặc phóng đại “tầm quan trọng” của ý tưởng chỉ sẽ làm bộc lộ rõ hơn cái phong cách tư duy hỗn độn của những kẻ vô trí. Ngoài ra, không bao giờ có việc tất tần tật mọi thứ đều cùng lúc cần phải có các ý tưởng mới xì (phản nghĩa của…“cũ xì”). Do đó, Việt Nam đang có biết bao ý tưởng mới cho nhiều lĩnh vực, nhưng gác lại một bên để các thế hệ sau này tìm tòi và khai thác. Cũng cần lưu ý rằng “mới” không bao giờ tự động có nghĩa là “tốt”, cũng như không bao giờ hàm ý rằng mọi người đều phải theo cái “mới” ở mọi nơi. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ chứng minh như sau: chủ nghĩa cộng sản xuất hiện sau chủ nghĩa tư bản, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản thuộc loại “mới”. Thế thì cái anh chàng trên có đã từng dốc hết sức để thuyết phục các quốc gia Âu Mỹ hãy dựng xây xã hội cộng sản chủ nghĩa thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa? Việt Nam áp dụng cái gọi là nền kinh tế thị trường theo định hường xã hội chủ nghĩa vốn đã giúp Việt Nam tồn tại thành công suốt cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong những cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 vốn làm tổn hại thanh danh của Hoa Kỳ và các nước khác; vậy thì, liệu hắn ta và những tên tương cận có nên được cho rằng đang miệt mài ra sức thuyết phục các chính phủ Âu Mỹ áp dụng cùng mô hình hoạt động kinh tế ấy?

Mọi người khôn ngoan trên thế giới đang nói về sự tùy biến cho tương thích với  hoàn cảnh thực tế. Chỉ có hắn là nói “Thị trường ở đây không phải là để sao chép các ý tưởng Phương Tây vào bối cảnh Việt Nam”. Nếu hắn có học một chương trình hàn lâm Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, y sẽ biết rằng y sẽ phải học rất nhiều về Trung Quốc, về thị trường Trung Quốc, về cách “làm ăn” ở Trung Quốc, và về những gì mà thương nhân Âu Mỹ nên thực hiện để làm hài lòng người Trung Quốc nếu muốn làm đối tác với Trung Quốc. Khi hắn đến Việt Nam “làm ăn”, cái tùy chọn duy nhất mà y phải chọn để tồn tại là phải làm theo các thông lệ của Việt Nam; và ngược lại, khi người Việt Nam tiến ra thế giới họ phải theo các thông tục, các luật lệ và quy định được áp đặt toàn cầu.

Có thể hắn cho rằng hắn có quyền gọi các chuyên gia Việt Nam là “một dúm những giám đốc điều hành người Việt cũ xì” làm y “phát ngấy”. Y thật đáng thương hại. Các diễn giả luôn phát biểu những nội dung phù hợp với khán-thính giả phù hợp. Nếu hắn tham dự một hội thảo có đóng tiền để rồi “phát ngấy” thì đơn giản có nghĩa là hoặc y đã chọn sai chủ đề để tham dự, hoặc ông chủ của hắn cho rằng hắn vẫn chưa đạt yêu cầu cơ bản nên bỏ tiền ra cho hắn đi đào tạo thêm về điều cơ bản chăng. Y cũng đáng thương hại ở chỗ hắn đã chưa từng có bất cứ cơ hội nào dự bất kỳ buổi thuyết trình nào của tôi. Những cái tên mà y gợi ra như Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, và Hillary Clinton tôi đều sem như đám vất đi. Bill Gates là ai nhỉ? Chắc y muốn nói đến người đã không học xong đại học rồi giỡ chiêu trò nhơ bẩn độc chiếm thiên hạ bằng cách triệt đường sống của các bậc kỳ tài công nghệ thông tin ở Châu Âu? Và còn Hillary Clinton là ai vậy cà? Y muốn nói đến cái mụ già đã tự hào chụp hình chung với “hoàng tử” cao to đẹp trai đầy tự hào của Muammar Gaddafi tại Tòa Bạch Ốc (tức…”Nhà Trắng”), để rồi hai năm sau tự hào dội bom thủ đô Tripoli giết Muammar Gaddafi? Y có thể mua những quyển viết bởi họ hoặc viết về họ (tức là hồi ký tức do chính đương sự viết về chính mình hoặc tiểu sử tức do các nhà nghiên cứu khác viết về một nhân vật nổi tiếng) để biết về cuộc đời và ý tưởng của họ – nếu những kẻ ấy có “ý tưởng” mới nào dành cho xứ sở của họ. Tôi cho rằng những cái tên do y kể ra chẳng đáng một xu teeng. Tôi muốn y nhớ đến thông tin này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam chỉ là một giáo viên Việt Sử nhưng đã làm nhục tất cả các tướng lĩnh quý tộc của Pháp và các tướng lĩnh vinh diệu xuất thân từ các học viện quân sự như West Point của Hoa Kỳ bằng cách cực kỳ đơn giản: chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh quét hất Pháp vĩnh viễn khỏi Đông Dương rồi sau đó dí đuổi quân đội Mỹ bỏ chạy ra biển khơi, vùi chôn tất cả dưới bùn sâu quánh đặc của sự nhục nhã.

Tóm lại, lời khuyên ở đây là hắn ta nên kính trọng người dân Việt Nam (cùng tất cả các cư dân địa phương của các xứ miền trên thế giới mà y đến để làm ngoài kiều) vì rằng những cư dân địa phương của các nước này có một thuận lợi lớn hơn  rất nhiều so với ngoại kiều như y vì họ biết rất rõ (a) xứ sở của họ, người dân của họ, văn hóa của họ, cùng mấy thứ linh tinh của họ; và (b) mọi thứ về y, người dân của y, văn hóa của y, cùng mấy thứ linh tinh của y; vậy mà y chỉ biết mỗi có những gì của y mà thôi. Đây cũng là lý do có thành ngữ “nhập gia tùy tục” như một kim chỉ nam phù hợp cho các thương nhân tay mơ. Y sẽ có cơ may tốt hơn để tồn tại ở Việt Nam nếu bỏ thời gian làm sao cho y tăng thêm tính cạnh tranh bằng cách học hỏi các kiểu cách Việt thay vì càu nhàu xằng bậy về cái “cũ mèm” hoang đường và cái “mới” vô nghĩa.

Trân trọng kính chào Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Thế Nào Là Hèn Hạ

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-9-2016

Dường như tất cả những người có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản (không phải “chống cộng” nói chung hoặc chống một nước nào đó đang theo “chủ nghĩa” ấy vì nếu chống cái nước ấy sẽ biến mình thành thứ phản tự do, phản nhân quyền, phản văn minh, vô văn hóa) vốn toàn là những nhà trí thức đáng kính, những nhà tư tưởng, những người có học thức thực thụ, và những người có tư cách trưởng thượng, đều chưa có ai từng tham gia viết blog bôi nhọ một nước cộng sản cụ thể nào đó, đơn giản vì họ thuộc đẳng cấp cao của trí tuệ khi hành trạng tư duy của họ nhận biết rõ giá trị cao vời của chủ nghĩa cộng sản khiến họ biết rằng nhất thiết phải có một trí tuệ cao vời tương tự hoặc cao hơn để từ đó suy tư triết học về cuộc diện ý thức hệ vốn đòi hỏi biết bao thứ gọi là “chủ nghĩa” từ chính trị đến hội họa và sáng tác thơ ca, để hình thành những diễn giải các bất hợp lý nào đó trong triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà họ đã tư duy đến, những cao kiến để đề xuất nhằm hoàn thiện chủ nghĩa cộng sản, hoặc những dự toán về tương lai kinh tế thế giới, hoặc đúc rút ra những điều tốt đẹp nào của chủ nghĩa cộng sản để có thể áp dụng mà không nhất thiết phải có cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, hoặc đề ra những biện pháp khắc chế đối với  các công kích mang tính tiên đoán nhưng quá đúng của chủ nghĩa cộng sản. Chính nhờ bản chất trí hóa đó của những bậc trí thức “chống chủ nghĩa cộng sản” mà một số nước chẳng hạn tại Bắc Âu đã tự hào thực hiện được những điều kỳ vĩ về phúc lợi thật lý tưởng cho dân họ theo những lý tưởng khai sinh bởi Karl Marx năm xưa, hoặc những siêu cường tư bản cũng biết hạn chế những bất công xã hội mà Karl Marx cảnh báo có thể trở thành mầm mống làm sụp đổ chế độ tư bản. Họ đã chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách ra sức rút tỉa các bài học hoặc cảnh báo hoặc lời khuyên hoặc lý luận của chính chủ nghĩa cộng sản để làm cho phúc lợi xã hội gia tăng, người lao động được hưởng mức độ thù lao cao hơn, mà tất cả nhằm thay da đổi thịt chủ nghĩa tư bản để chủ nghĩa tư bản hấp dẫn hơn và có cơ may trường tồn với lịch sử nhân loại. Đó là cung cách chống chủ nghĩa cộng sản của bậc trưởng thượng trong chứng minh rằng (a) nếu đó là những điều tốt đẹp lý tưởng cần có cho xã hội thì chính họ sẽ là người thực hiện được và thực hiện trước; và (b) qua đó họ đã chống chủ nghĩa cộng sản một cách thắng lợi mà không cần phải bỏ ra nhiều năm để đẻ ra một chủ nghĩa mới chỉ để chống lại chủ nghĩa cộng sản trên bình diện triết học mà chưa chắc thành công, có khi mất thời gian tính để kịp cứu nguy cho một sự sụp đổ mà chủ nghĩa cộng sản đã cảnh báo.

Chắc cũng vì cái sự “dường như” nêu trên vậy mà có ba dấu hiệu cực kỳ giống nhau đáng kinh ngạc nơi những kẻ “chống cộng” chung chung hoặc chống một nước cộng sản như Việt Nam hoặc chống một nước có quá khứ lẫy lừng cộng sản chủ nghĩa như Nga, bất kể họ thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và đang mang quốc tịch bất kỳ, qua những gì họ viết blog hoặc viết comments bằng bất kỳ ngôn ngữ gì, đó là (a) không phải họ chống triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chống bất kỳ ai đã dựa vào cái chủ nghĩa ấy để làm nhục họ khi đánh bại họ triệt để hoàn toàn, (b) không bao giờ đưa ra được bất kỳ điều gì mang tính sự thật hữu bằng hữu chứng có thể kiểm chứng được khi chống lại cái kẻ “dựa hơi” chủ nghĩa cộng sản đó, và (c) không bao giờ biết thế nào là lòng tự trọng.

Từ những bức ảnh tịch thu được trên xác quân thù tại những phần lãnh thổ Liên Xô bao la rộng lớn mà quân Đức Quốc Xã đã tiến chiếm được trong Đệ Nhị Thế Chiến, Liên Xô tìm thấy những bức ảnh được ghi chụp ngày 30-6-1941 bởi trung đoàn Đức Quốc Xã Tyrolean Gebirgsjäger-Regiment Sư Đoàn Gebirgskorps cảnh xử tử tại chỗ hai tù binh Liên Xô mà không qua xét xử tại một chốn núi cao nào đó. Ngày chụp ghi sau bức ảnh cho thấy vụ xử tử hai tù binh Liên Xô ấy xảy ra chỉ hai tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. Dựa theo hình ảnh đen trắng mờ nhòe đó, Nga đã tiến hành rà soát kiếm tìm, và đã tìm ra di hài của hai chiến sĩ ấy tại một đài nguyên thuộc vòng cung Cực Bắc giáp biên giới Na-Uy năm 2013, để đưa về an táng sau hơn 70 năm phơi mình trong giá rét. Dựa theo di vật quân dụng và mẫu giấy tờ mục nát còn lưu trong một thi hài nằm bên trái, người ta mới biết được đó là của anh lính hiên ngang tên Sergey Korolkov, sinh năm 1912 tại làng Hmelishche, nông trang Serezhinsky, Khu Velikoluksky, Vùng Kirov, gia nhập quân đội Liên Xô ngày 22-6-1941 và hy sinh một tuần sau đó khi quân Đức vượt biên giới Na-Uy tấn công Liên Xô (Đức bắt đầu xâm lược Na-Uy ngày 09-4-1941 và hai tháng sau Na-Uy quỳ đầu quỳ gối đầu hàng ngày 10-6-1940 khi Quốc Vương và hoàng gia Na-Uy chạy trốn bình an sang Anh Quốc). Di hài bên cạnh anh không còn lưu một chứng tích nào nên được đưa về an táng như một chiến sĩ trẻ vô danh đã hy sinh khi bảo vệ biên cương.

Trong bức ảnh dưới đây người chiến sĩ trẻ vô danh nói trên đang bị quân Đức áp giải lên để đứng cạnh bên Sergey Korolkov:

2-6

Sergey Korolkov chống nạnh hiên ngang, trong khi hai sĩ quan Đức chỉ vào mặt anh ắt đang quát tháo, còn các binh sĩ Đức vây quanh có một tên đang trong tư thế nện báng súng vào gáy anh như để làm anh phải quỳ xuống trước viên chỉ huy:

2

Các sĩ quan Đức Quốc Xã ra lịnh xử tử hai chiến sĩ Liên Xô này nên lính Đức lùi lại sẵn sàng cuộc xả súng, trong khi đó Sergey Korolkov vẫn chống nạnh hiên ngang còn người lính trẻ cạnh anh tuy không hào hùng ngang tàng bằng anh vẫn đứng thẳng lưng chứ không sụm xuống vì run sợ trước họng súng kẻ thù trước giây phút lâm chung:

2-2

Vụ xử tử đã được thực thi, hai chiến sĩ Liên Xô đứng cách nhau một mét nhưng khi ngả xuống đã như úp mặt vào nhau để bắt đầu sự tồn tại gần một thế kỷ gắn bó tri kỷ của những vị anh hùng đơn độc trên đỉnh núi cao giá buốt hoang vu:

2-3

Dựa vào hình ảnh của núi, đá, cảnh quang, trong những bức ảnh tịch thu được, Nga đã ra sức “càn quét” suốt 72 năm và cuối cùng đã tìm ra chính xác địa điểm này:

2-4

Sự tìm ra nơi chốn cuộc hành hình càng được củng cố khi nơi đó còn có hai hài cốt  cùng những di vật hư hại còn sót lại trong quân phục của di hài bên trái để biết đó là Sergey Korolkov, người chiến sĩ đã đứng ngang tàng chống nạnh trước quân thù, trong khi chiến sĩ trẻ cạnh bên thì tiếc thay thời tiết và thời gian đã làm tất cả di vật hóa bụi trần gian.

2-52-1

Thế nhưng, khi trên trang web của Anh Quốc ghi nhận về sự dũng cảm của sự việc về hai người lính Xô Viết ấy, thì có kẻ nào đó viết comment dưới dạng nặc  danh rằng “Sự giả định rằng hai người lính Xô Viết bị vô cớ bắn chết thật là rác rưởi. Quân Nga gây ra tội ác tày trời chống mọi người ở Châu Âu nên thật đáng ngạc nhiên tại sao không có thật nhiều hơn mấy vụ bắn bỏ như vậy. Tôi thấy chẳng có hình chụp nào về tội ác của Nga và phe của nó, 98% hình ảnh của Nga là do ngụy tạo để thành cái mà chúng muốn, và kẻ ngu khờ dường như bị dính bẩy hết.

Sự hèn hạ của kẻ nặc danh ở chỗ hắn ta hay ả ta (a) làm như Liên Xô không hề bị Đức tấn công nên không có chuyện đã có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô mà chỉ có chuyện Liên Xô điên cuồng xua quân tràn ngập Châu Âu gây chiến với toàn Châu Âu trong đó có nước Đức hiền hòa, (b) làm như Liên Xô đang diễn tuồng cho người giả đóng vai lính Đức chứ chẳng lính Đức nào xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, (c) làm ngơ trước sự thật là lẽ nào Mỹ và Châu Âu thất bại đến độ không có được hay không dàn dựng lên được bức ảnh chụp nào về tội ác của Nga trong trực tiếp xử tử tại chỗ các tù binh chiến tranh Đức hay ai đó, và (d) đốn mạt đến độ chấp nhận bản thân mình mọi rợ khi cho rằng lẽ ra đã nên có thật nhiều vụ hành quyết như thế với tù binh chiến tranh Nga.

Tuy có vị tên Roelf Turksema (dường như là người Thụy Sĩ gốc Na-Uy) đã phản bác rằng “Sao lại là nặc danh hử? Mi đã không dám lương thiện với tên đầy đủ để bày tỏ luận điệu của mi ư? Người Nga đã luôn đối xử tốt với tao, luôn lương thiện, và luôn chăm sóc tao tốt đấy”;

Tôi vẫn buộc lòng comment thêm cho có đủ sức mạnh của ngôn từ, cái mà thiên hạ trong toàn thế giới nói tiếng Anh hoặc trên thế giới sính dùng tiếng Anh rất kém trong đối đáp hùng biện khi phản pháo, rằng “Anh Quốc, Pháp và tất cả các quốc gia Tây Âu đã quỳ đầu quỳ gối một cách đầy nhục nhã trước Đức Quốc Xã như thực tế lịch sử đã chứng minh. Ngay cả những quốc gia như Thụy Sĩ đã hèn hạ trở thành thiên đường cất giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Để đậy che sự muối mặt đớn hèn ấy, họ đã cố kiếm tìm và khai thác mọi thứ nào chúng cho rằng có thể giúp làm hạ phẩm giá của đất nước lúc ấy gọi là Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến”.

2-7

Hèn hạ ẩn danh để hèn hạ dùng những lời hèn hạ nói về một sự hèn hạ tưởng tượng nhằm hèn hạ hóa một đất nước của một dân tộc đã không bao giờ hèn hạ trước những tên Quốc Xã và Phát Xít hèn hạ thì quả là việc hèn hạ của chỉ bọn hèn hạ “chống Nga” mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Note: Source of all photos: from Internet (www.militaryphotos.net)

Các bài viết cùng mẫu câu tiêu đề “Thế Nào Là”:

Thế Nào Là Doanh Nhân

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ

 

Hậu Sự Cố Luật Hình Sự 2015

9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Đương Nhiệm Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

03-7-2016

LamLuat

Như đã nêu trong bài Sự Cố Luật Hình Sự 2015 đăng vào tuần trước, tôi có nêu các quy trình cực kỳ chi li, cực kỳ tốn kém tiền bạc, cực kỳ tốn kém thời gian, cực kỳ mang tính huy động nguồn lực nhân sự toàn xã hội cho mỗi dự án luật. Cũng vì vậy mà tôi có thể khẳng định rằng tất cả những lời bào chữa của các quan chức đối với sự cố Luật Hình Sự 2015 đều hoàn toàn sai khi trả lời phỏng vấn của báo chí rằng sắp tới đây để rút kinh nghiệm cho sự cố Luật Hình Sự 2015 các quy trình tham vấn cần được tiến hành lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và cử tri. Quy trình đã và đang có. Quy trình đã và đang rất bao trùm đối với khâu lấy ý kiến. Quy trình đã và đang rất tốn kém. Và tôi đoan chắc rằng nếu các quan chức Quốc Hội “rút kinh nghiệm” kiểu này thì mọi sự vẫn sẽ y như cũ vì “quy trình” đã chặt chẽ đủ đầy bao trùm rồi và hậu quả vẫn sẽ là những sai sót được lập đi lập lại trong công tác lập pháp. Chín lý do duy nhất gây ra “sự cố Luật Hình Sự 2015” và các Luật khác là như sau:

1- Tư Tưởng Cầu An: Chuyên Gia Tất Không Sai

Chuyên gia của Quốc Hội đã hoặc tự cao tự đại (ta là chuyên gia nên luôn đúng) hoặc giáo điều (những kỹ thuật văn bản mà Quốc Hội áp dụng từ thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn đúng) hoặc cầu xin hai chữ bình an (công việc đa đoan nên chẳng dại gì động vào hệ thống cho rách việc trước khi ta nghĩ hữu hưởng nhàn từ bổng lộc dồi dào thụ hưởng từ Nhà Nước), nên đã không làm gì khi được Chủ Tịch Quốc Hội chuyển đến họ công văn sau của tôi, cho thấy họ sẵn sàng chấp nhận cái sai dù cái sai ấy chỉ là về kỹ thuật văn bản dự án Luật chứ chưa nói đến nội dung dự án Luật:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Cách Đánh Số Trong Các Đạo Luật

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về cách đánh số trong các đạo luật của Việt Nam:

1) Hiện nay tại tất cả các trường đại học ở Việt Nam dù đội ngũ giảng viên cơ hữu đều có danh xưng học vị thạc sĩ, tiến sĩ – mà đa số tốt nghiệp từ các trường tư bản – nhưng không hiểu sao trong các giáo trình họ soạn hay viết, các văn bản hay thông báo nội bộ trường, các hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên, v.v., đều không theo bài bản khoa học chuyên nghiệp của nước ngoài trong cách đánh số. Chẳng hạn họ sử dụng rất nhiều những ký hiệu như dấu hoa thị (*) và dấu chấm (.) trước vô số những chi tiết dẫn giải phụ, thay vì phải dùng đến mức độ thí dụ như  IV.A.a.8.iii. chẳng hạn, khiến sinh viên sau này có ra nước ngoài học cao hơn sẽ gặp khó khăn về lập bố cục luận án.

2) Trong khi đó, các đạo luật ở Việt Nam lại vướng vấn đề khác, có thể do tự ái dân tộc hay vì hiểu nhầm ý nghĩa của “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên mặc định sử dụng thứ tự mẫu tự tiếng Việt để đánh dấu các đoạn trong văn bản pháp luật, pháp quy, của nhà nước, đặc biệt xuất hiện trong các đạo luật, theo đó thứ tự thí dụ tuần tự là A, B, C, D, Đ, E, G,… hay a, b, c, d, đ, e, g, …, v.v, (sử dụng đ nhưng không rõ lý do cho phép dùng đ trong khi lại không sử dụng các chữ như ă/â/ê/ơ/ô/ư trong đánh số thứ tự) khiến các bản tiếng Anh (hay tiếng nước ngoài khác) sẽ gây khó khăn cho sự tham khảo của người nước ngoài do không có từ tương đương trong tiếng Anh để họ hiểu ký hiệu đ đó là gì và phải phát âm ra sao trong quá trình tranh tụng của họ tại tòa án Việt Nam, hoặc khi đánh máy dẫn chứng trong văn bản của họ gởi cơ quan nước ta.

Với sự thể như trên, tôi kính đề nghị Quốc hội quy định sử dụng thống nhất mẫu tự bảng chữ cái tiếng Anh để “quốc tế hóa” cách đánh số văn bản pháp luật, pháp quy của Việt Nam, theo đó các số thứ tự sẽ là A, B, C, D, E, F, G…,J, …,W, Y, Z, và a, b, c, d, e, f, …, j, …, w, y, z. Sự sử dụng theo cách này hoàn toàn không xa lạ với người Việt hay vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào về văn hóa Việt, khi mà chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hay dùng các mẫu tự như F và Z trong các bản thảo của Người, còn văn bản của Trung Ương Đảng luôn dùng ký hiệu TW, trong khi xã hội đã quen với J từ tên quốc gia Nhật Bản (Japan).

Ngoài ra, xin quy định cấm sử dụng các ký hiệu như dấu hoa thị (*) hay dấu chấm (.) trong đánh số các đoạn trong văn bản pháp luật/pháp quy để sự dẫn chứng tham khảo trở nên chuyên nghiệp và thực tế hơn, thí dụ như:

– theo nội dung điều II.A.1.c.ix

vì không thể nào dẫn chứng bằng cách nói rằng

–  theo điều II Khoản A Mục 1 dấu hoa thị thứ ba, dấu chấm thứ 9

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

2- Tư Tưởng Cực Đoan Duy Ý Chí: Thiếu Linh Hoạt Hấp Ta Hấp Tấp

Sự cố Luật Hình Sự 2015 được bào chữa là do phải “tuân theo” quy trình thảo luận tại một kỳ họp toàn thể của Quốc Hội và thông qua tại kỳ họp toàn thể tiếp theo. Đây vừa thể hiện (a) sự không nghiêm túc nhận khuyết điểm ngay, (b) sự dối trá với nhân dân vì thực tế đã có sự linh hoạt đối với Luật Đất Đai vốn trải qua ba kỳ họp toàn thể của Quốc Hội cũng như bộ luật “gốc” là Hiến Pháp kéo dài nhiều kỳ họp toàn thể Quốc Hội, (c) sự chạy theo thành tích bằng mọi giá, và (d) sự sùng bái ý kiến lãnh đạo.

Đối với phần “sùng bái ý kiến lãnh đạo” nêu trên, dẫn chứng ở đây là chỉ cần Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thực hiện Nghị quyết Trung Ương Đảng tuyên bố khởi động soạn thảo dự án Luật Biểu Tình, là mọi sự phải răm rắp tuân theo. Khi tôi phát biểu ứng khẩu tại nghị trường Quốc Hội về sự hấp ta hấp tấp đối với đề xuất dự thảo dự án Luật Biểu Tình, tôi đã dựa trên sự thật rằng (a) nội dung “biểu tình” chưa hề được Việt Nam làm rõ về ngữ nghĩa, (b) vẫn có nghị sĩ chưa hiểu biết gì về sử liệu “biểu tình” nên phát biểu sai sự thật, (c) vẫn chưa nghị sĩ nào lưu ý đến một sự thật là quyền “biểu tình” không thể được thực thi bởi toàn dân mà chỉ đối với thị dân các đô thị lớn nên nhất thiết phải qua trưng cầu dân ý, (d) đa số nghị sĩ bất tài vô dụng đã luôn xem “luật biểu tình” là cái phao để bấu víu vào đấy như “trả xong nợ với nhân dân” hầu tránh sự thật rằng sự chậm đưa đất nước thành cường quốc mới là cái nợ duy nhất đối với toàn dân tộc, và nhất là (e) khi cái gọi là quy trình “hai kỳ họp” sẽ khiến có sự hấp ta hấp tấp trong soạn thảo và thông qua tại Quốc Hội bất chấp yêu cầu “phải biết lo trước cái lo của người dân” nơi mỗi chính khách thực thụ khiến sẽ dẫn đến một sự cố lớn hơn sự cố “Luật Hình Sự”. Chính sự “sùng bái ý kiến lãnh đạo” này mà báo chí hùa nhau lập công, xách động cuộc tấn công toàn diện nhằm vào tôi không những trên báo in mà còn trên không gian mạng. Chân lý bao giờ cũng chiến thắng, vì nhân dân – qua sự đại diện của các nghị sĩ – đã ủng hộ tôi nên tôi đã thành công trong việc ngăn chặn được sự hấp tấp đối với cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016). Tất nhiên, cũng trong suốt nhiệm kỳ này tôi đã tích cực viết blog các bài nghiên cứu sâu về “biểu tình” cả về ngữ nghĩa và thực tế, nhằm giúp Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) có thể có đủ các tham khảo cần thiết cho sự soạn thảo dự án “Luật Biểu Tình”.

Tóm lại, dự án “Luật Biểu Tình” đã tránh được vết xe đổ của dự án “Luật Hình Sự 2015”.

3- Tự Tung Tự Tác Của Chuyên Gia

Có một sự cố đã bị dấu giếm tại Kỳ họp thứ 11 của Quốc Hội Khóa XIII đối với  Dự Thảo Luật Dược Sửa Đổi mà tôi có chống gậy ra Hà Nội tham dự . Người dân chỉ biết rằng ngày 06 tháng 4 năm 2016 Quốc Hội đã biểu quyết thông qua Luật Dược Sửa Đổi với hiệu lực thi hành từ tháng 7 năm 2016. Sự thể là sau khi đã họp Tổ, thảo luận lần chót tại phiên họp toàn thể Quốc Hội tại nghị trường, cũng như lấy phiếu góp ý về những điều khoản “nhạy cảm”, Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội đã được “chuyên gia” trình ký bản tiếp thu giải trình của Ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội. Song, khi bản in cuối cùng dự án luật trên cơ sở các điểm mà các nghị sĩ đã viết phiếu góp ý và được ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội chấp nhận để thường Vụ thông qua, được gởi đến các đoàn nghị sĩ thì các nghị sĩ của đoàn Thành phố Hồ Chí Minh như Bà Phạm Khánh Phong Lan (Giám Đốc Sở Y Tế) và Ông Nguyễn Đông Phong (Giám đốc Sở Công An) phát hiện nội dung của vài điều đã bị sửa đổi khác với nội dung kiến nghị của họ đã được Thường Vụ chấp nhận. Sự nghiêm trọng ở chỗ nếu không phát hiện sự tự  tung tự tác tự ý sửa đổi các điều luật ấy, cơ quan an ninh trên cả nước sẽ bó tay trước các tội phạm ma túy, còn cơ quan y tế trên toàn quốc sẽ bó tay đối với việc kinh doanh tự do các tiền chất ma túy. Khoan hãy nói đến nghi án là các “chuyên gia” văn bản pháp luật của Quốc Hội đã “ăn tiền” của Mafia để sửa nội dung Luật nhằm trói tay Quốc Hội với mặc định là luật đã ban hành thì phải có hiệu lực thực hiện ít nhất là 10 năm mới được sửa đổi, mà chỉ cần nêu sự việc họ tự ý sửa điều khoản Luật đã là hành vi phạm pháp cực kỳ nghiêm trọng.

Đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đã phải hỏa tốc gởi công văn đến Tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân để báo cáo sự việc, chưa kể phải tranh luận thuyết phục vị chủ nhiệm ủy ban có liên quan vì vị này do sợ bị trách nhiệm liên đới nên cố gắng biện minh rằng “tuy đúng là mấy em đó có lỡ tay sửa đổi nhưng tôi thấy nội dung vẫn có thể hiểu được là tương đồng”.

4- Chạy Theo Hư Danh

Cái mang tính “thời thượng” ngày nay là nghị sĩ Việt Nam hay nói về “nhân quyền” như một thứ trang sức à-la-mode. Hàng chục năm trước, khi nghe Quốc Hội nói về “tính nhân đạo” trong xóa bỏ nhiều tội danh tử hình, tôi đã than với đồng sự rằng luật pháp nước ta đã hỏng bét rồi vì tội phạm sẽ gia tăng, và các đồng sự đã khuyên tôi rằng “anh nên cố ra làm nghị sĩ một lần đi”. Đến khi tôi làm nghị sĩ thì cái thứ trang sức ấy đã quá choáng ngợp đến độ người ta thi nhau nói về “biểu tình”, về “nhân quyền”, và về “tiêm thuốc độc”. Rốt cuộc, cái việc “tiêm thuốc độc” sau khi luật đã ban hành lại không thực hiện được vì Việt Nam không sản xuất được, còn các viện bào chế thế giới không chịu bán cho Việt Nam vì họ viện lý do…nhân đạo! Thế là Quốc Hội lại họp toàn thể để bàn việc lùi ngày áp dụng Luật hoặc ra Nghị Quyết sửa đổi Luật.

5- Cung Cách Lãnh Đạo “Camouflage” Ở Đoàn Đại Biểu Quốc Hội

Như đã nêu trong một trong những bài “tư vấn các nghị sĩ mới” về công việc một nghị sĩ Việt Nam, tôi có ngụ ý về cung cách “camouflage” của lãnh đạo Đoàn Nghị Sĩ. Ở đây, tất nhiên, tôi chỉ nói về Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh chứ không dám nói nội dung sau đây có ở tất cả các đoàn của các tỉnh thành trên cả nước.  Lãnh đạo Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn nói thẳng rằng Đoàn Nghị Sĩ Thành phố Hồ Chí Minh phải luôn luôn phát biểu hay nhất tại nghị trường. Hay nhất, tất nhiên chỉ mang nội hàm liên quan đến cái sự “nghe lọt lổ tai” của người dân và của báo chí, chứ không bao giờ mặc định phải luôn kèm sáu thuộc tính quan trọng hơn là (a) đúng thực tế thực hành, (b) có sức thuyết phục đối với chính phủ và quốc hội, (c) có tính khả thi cao đối với Nhà nước, (d) áp dụng được đối với toàn hệ thống, (e) có tính định tính, và (f) sau đó định lượng được với kết quả minh bạch như ý.

Để đạt yêu cầu về “hay”, sau mỗi lần họp Tổ, Trưởng Đoàn dựa vào hai biện pháp  duy nhất là Thu Hút (phải là người mà báo chí luôn tập trung ghi chép ý phát biểu để dăng báo) và Từ Chương (phải là chức sắc của ngành) để chỉ định nghị sĩ nào sẽ nhấn nút đăng ký phát biểu trước ở nghị trường, và nếu thời gian cũng như số lượng đăng ký ít thì các nghị sĩ khác trong Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh có thể nhấn nút đăng ký tiếp. Điều này khiến các nghị sĩ khác hoặc không làm gì cả hoặc như tôi miệt mài viết kiến nghị gởi email đến lãnh đạo Quốc Hội.

Suy ra, việc đóng góp ý kiến cho các dự thảo dự án Luật đã không thể nào có chất lượng cao khi các nghị sĩ dù họp Tổ hay họp toàn thể ở Nghị Trường chỉ được phát biểu trong 7 phút, thay vì lẽ ra họ nên soạn thảo bằng văn bản để các ý kiến được trình bày đầy đủ hơn, khoa học hơn, dễ tham khảo hơn đối với các ủy ban chuyên trách có liên quan, và đặc biệt là phục vụ tốt nhất cho công tác lưu trữ tàng thư cực kỳ quan trọng như tại tất cả các Nghị Viện trên thế giới.

“Camouflage” tức là đội lốt, ngụy trang.

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn có bộ “camouflage” hào nhoáng trong phát biểu 7 phút phục vụ cho các trang báo in vốn là công cụ tuyên truyền của Nhà Nước, và sự phồn vinh thịnh vượng của đất nước thì vẫn chưa thấy dù ở chân trời, trong khi sự phát triển tốt đẹp của Thành phố Hồ Chí Minh chỉ thuần ở ngôn từ tổng kết.

6- Cung Cách Đại Biểu Quốc Hội Là Chức Sắc Địa Phương

Cũng tại Thành phố Hồ Chí Minh, do tuyệt đại đa số các nghị sĩ đều là chức sắc cùng đứng dưới mái nhà của Thành Ủy, mà điều lệ của Đảng rất nghiêm ngặt về tính phục tùng, nên dù muốn dù không thì sự sinh hoạt nội bộ thiên nhiều về phe nhóm quyền lực của thứ tự trên dưới chứ không của đẳng cấp ngang bằng tức cùng là nghị sĩ đại diện cho dân.

Như dẫn ra trong thí dụ dưới đây, tôi đã gởi ngay cho Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm một công văn khẩn cấp, ngay khi đến dự phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân, được phát tập tài liệu các nghị quyết sẽ được thông qua, và nhận ra ngay những lỗi nghiêm trọng trong một dự thảo:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 12 năm 2013

Kính gởi : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Đồng kính gởi: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Bản sao kính gởi:

-Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

-Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

-Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

-Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v.: Thư góp ý khẩn cấp về Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Báo cáo số 790/BC-VHXH ngày 05-12-2013 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm tra tờ trình nói trên.

Kính thưa Quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh,

Qua tham dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh  Khóa VIII sáng Thứ Hai 09-12-2013, và tham khảo Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin kính gởi đến Quý Lãnh đạo các ý kiến đóng góp khẩn cấp theo thứ tự nội dung sau:

A- Về 8 Tên Nhân Vật Người Nước Ngoài:

1- Những điểm không đúng và các kiến nghị (về xem xét lại sự lựa chọn, và phương pháp viết tên):

a) Marie Cuirie: Tên viết đúng phải là Marie Curie (tên đầy đủ là Marie Sklodowska-Curie) và thích hợp theo cách dùng của tên tiếng Anh.

b) Nêru. J – Jawaharlãl Nehru: Tên viết đúng nên là Jawaharal Nehru vì kiểu Việt hóa phiên âm thành Nêru không nên tiếp tục tồn tại ở Việt Nam trong thế kỷ XXI này, nhất là khi các tên khác trong danh mục của tờ trình lại không ở dạng Việt hóa phiên âm tương tự. Đồng thời loại bỏ dấu ngã trên chữ cái “a” như thể hiện trong báo cáo, để cho đúng theo cách dùng của tên tiếng Anh.

c) Hô-xê Mác-ti: Việc Việt hóa phiên âm này là điều không nên tiếp tục tồn tại như trường hợp ở trên của “Nêru”. Dù tên viết bằng tiếng bản xứ của nhân vật này là José Martí với hai từ và mỗi từ có một dấu sắc (tên đầy đủ là José Julián Martí Pérez tức là có bốn từ và mỗi từ đều có một dấu sắc) thì chúng ta cũng nên sử dụng cách viết trong tiếng Anh là Jose Marti. Đặc biệt nên chấm dứt kiểu phiên âm cho đúng với bản ngữ đặc thù thí dụ Mê-hi-cô, vua Hoan Các-lốt, Hô-xê, v.v., thay vì sử dụng tiếng Anh chung với toàn nhân loại là Mexico, vua Juan Carlos, Jose, v.v. Lập luận một cách khác: từ “Hồ Chí Minh” ở tiếng Việt không bao giờ được phát âm đúng ở tiếng Nga (phiên âm thành “khô-si-min”) vậy thì Việt Nam không có lý do gì lại phải tự trói buộc rằng mình phải phát âm (thậm chí viết ra cho giống y như cách phát âm) cho đúng ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đối với chữ cái “J” trong Jose và Juan, thành Hô-xê và Hoan, v.v…

d) Kovalevskaya: Trong khi tên của những nhân vật khác được viết quá đầy đủ thì tên của nữ nhân vật này lại bị bỏ hết phần tên và chữ lót. Tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya theo kiểu dùng tiếng Anh viết lại y cách phát âm tiếng Nga Со́фья Васи́льевна Ковале́вская. Đây là trường hợp củng cố lập luận đối với Hô-xê Mác-ti ở trên, nghĩa là khi chữ cái một ngôn ngữ – ở đây là tiếng Nga – không thể được thể hiện bằng bàn phím của đa số nhân loại, người ta chấp nhận sử dụng cách ghi tên theo tiếng Anh. Ngoài ra, đối với trường hợp của Sofia Kovalevskayacần phải để ý thêm đến chi tiết Bà thích dùng tên Sophie Kowalevski (hay Sophie Kowalevsky) trên tất cả các tác phẩm nghiên cứu của Bà và đó cũng là cách giới khoa học quen viết về tên Bà, nên cần cân nhắc lựa chọn giữa việc “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga thành tên tiếng Anh Kovalevskaya” hay “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga để cho ra Kowalevski/Kowalevsky thuần Anh.” Diễn giải theo cách khác, nếu chúng ta “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga thành tên tiếng Anh Moskva” thì e là đa số nhân loại không hiểu ta đang nói về ai hay về cái gì, nhưng nếu ta “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga để cho ra Moscow” thì đa số nhân loại sẽ hiểu ngay. Vì vậy, trong trường hợp này, tôi đề nghị nên xem xét sử dụng Sophie Kowalevsky (hoặcSophie Kowalevski) là tên danh chính ngôn thuận của Bà khi dời sang sống và làm việc ở Đức và Thụy Điển.

e) Albert Bruce SabinRobert Koch tuy là hai nhà y học có công lớn đối với nhân loại (Sabin chế tạo ra vắc xin ngừa bại liệt, còn Koch tìm ra vi khuẩn bịnh than, bịnh tả, và bịnh lao), nhưng vẫn dễ gây tranh cải về vai trò của nhiều người cũng có tầm quan trọng tương tự như Alexander Fleming đã chế ra Penicillin hay các vị chế ra các thứ thuốc khác cho những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, dẫn đến yêu cầu có thể có nơi cử tri đối với việc đưa thêm nhiều tên tuổi y học khác cũng đoạt giải Nobel Y học như Koch vào danh sách này.

f) Jean Baptiste Louis Pierre: Xin xem lại trường hợp này vì nếu vị này có “công” xây dựng Thảo Cầm Viên Sài Gòn thì sẽ không tránh khỏi chất vấn rằng sau này sẽ có những đường phố mang tên các vị đã có “công” xây Nhà thờ Đức Bà, Nhà Hát Lớn, Vườn Tao Đàn, và tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.v.v..

2) Tôi xin giới thiệu thêm tên 7 nhân vật người nước ngoài thật sự có giá trị giáo dục cao, mang ý nghĩa chính trị lịch sử cách mạng Việt Nam sâu sắc

a) Francis Henry Loseby (Luật sư Anh đã làm thất bại âm mưu của chính quyền Hong Kong muốn giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho thực dân Pháp)

b) Norman Morrison (Công dân Mỹ tự thiêu ngày 02-11-1965 trước Ngũ Giác Đài, nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, để phản đối Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Norman là nhân vật trong bài thơ “Emily” của Tố Hữu)

c) Olof Palme (Thủ tướng Thụy Điển, ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ, bị ám sát ngày 28-02-1986). Tên đầy đủ là Sven Olof Joachim Palme

d) Jeffrey Glenn Miller (Nam sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

e) Allison B. Kraus (Nữ sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

f) William Knox Schroeder (Nam sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

g) Sandra Lee Scheuer (Nữ sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

B- Về 19 Tên Nhân Vật Lịch Sử Trước Thế Kỷ XX:

– Vũ Phạm Hàm: Xin xem lại trường hợp này vì theo chú thích của Tờ trình thì vị danh sĩ này nhờ “quán” tờ báo “Đông Văn” nên được đánh giá là “tuy chưa bộc lộ rõ nét nhưng qua đó cũng đã thể hiện lòng yêu nước kín đáo của ông”. Tôi cho rằng nếu dựa vào chi tiết đây là vị thi đỗ thủ khoa Thi Hương và tiến sĩ Thi Hội và Thi Đình rồi làm quan thì nhất thiết phải đưa vào danh sách rất nhiều vị khoa bảng khác. Riêng ghi chú rằng ông có “nhiều tác phẩm được nhiều người tìm đọc và đánh giá cao” thì rất vô nghĩa do các nhà nho đều có các tác phẩm xướng họa thi văn, và vấn đề ở đây là chỉ có kiệt tác mới được đưa vào chương trình văn học ở các cấp lớp trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu thêm về danh sĩ này và viết lại nội dung về ông trong tờ trình để việc đề nghị dùng tên ông đặt tên đường mới không gây những phản ứng không có lợi từ cử tri.

C- Về 45 Tên Nhân Vật Lịch Sử Sau Thế Kỷ XX

Trần Sĩ Hùng: Kính đề nghị điều tra thêm về năm mất của vị anh hùng cách mạng này, vì ghi chú rằng ông “về nhận công tác ở Cục Bảo Vệ Chính Trị 1 – Bộ Công An cho đến khi nghỉ hưu” có thể sẽ gây ra thắc mắc vì sao Bộ Công An không biết cán bộ của mình mất lúc nào, và vì sao “nghỉ hưu” vốn liên quan đến nhiều cơ quan giải quyết chế độ chính sách mà không nơi nào biết vị này ở đâu, mất lúc nào, để lo việc hậu sự long trọng cho người anh hùng cách mạng này.

D- Về 27 Tên Nhà Nghiên Cứu, Nhà Hoạt Động Văn Hóa Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật:

1- Đề xuất cách lựa chọn:

a) Đối với các “nhà nghiên cứu, hoạt động văn hóa-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật” nên đặt ra các thang bậc để đánh giá những đóng góp (ưu tiên lựa chọn nhân vật thuộc bậc thang “cao”):

– Trung bình: làm tốt công việc chuyên môn, phẩm hạnh tốt

– Khá: phát triển được chuyên môn của bản thân có lợi cho nước cho dân và cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, kinh tế, v.v.

– Cao: rạng danh nước Việt Nam với thế giới (ở nước ngoài ngay cả một cá nhân ca sĩ hay một ban nhạc cũng có thể gây ảnh hưởng đến cả thế giới)

b) Đối với tác phẩm văn hóa phải theo cách nhìn nhận giá trị thông lệ là qua thử thách của thời gian bao nhiêu chục năm

2- Đề nghị xem lại các trường hợp sau:

a) Phạm Trọng Cầu: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

b) Thanh Nga: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

c) Út Trà Ôn: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

d) Xuân Quỳnh: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng các tác phẩm  chưa qua thẩm định của đủ thời gian thông lệ để được nhìn nhận giá trị văn học cũng như vị trí cao trọng trong văn học sử nước nhà để từ đó làm vẻ vang cho tên tuổi của tác giả.

E- Về 2 Tên Địa Danh:

Xin giới thiệu thêm tên địa danh:

– Phong Nha : đây là nơi được Hiệp Hội Hang Động Hoàng Gia Anh Quốc đánh giá là đẹp nhất thế giới và được tạp chí National Geographic phát hành số chuyên khảo giới thiệu với nhân loại. “Làm rạng danh Việt Nam trên thế giới” cũng nên là tiêu chuẩn xét đưa vào danh sách tên đặt cho đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh.

F- Kiến Nghị:

Kính đề nghị Quý Lãnh Đạo Thành phố Hồ Chí Minh cho phép tôi được tham gia tham khảo đóng góp ý kiến đối với những chương trình, dự tính, dự án, của địa phương về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, học thuật, an ninh-trật tự, v.v., nếu không thuộc loại tối mật của Thành phố, để giúp được nhiều hơn cho Thành phố.

Kính mong nhận được sự quan tâm của quý lãnh đạo.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, bà Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã không cho sửa sai cũng như chưa hề cảm ơn tôi dù là bằng lời nói hay bằng công văn.

Tương tự, tôi đã có thư gởi Nghị sĩ Phạm Khánh Phong Lan (Phó Giám Đốc Sở Y Tế) để nêu những tồi tệ trong việc kê toa thuốc tắc trách đầy nguy hiểm nơi các bịnh viện lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thay vì nhận được ý kiến phản hồi của vị chức sắc ấy, tôi lại nhận được lời nhắc nhở của Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh rằng tôi đã làm mếch lòng nghị sĩ Phong Lan; cũng như khi tôi gởi thư đến Nghị sĩ Huỳnh Ngọc Ánh (Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị can thiệp vụ làm ngơ kéo dài việc khiếu kiện của vị bô lão trên 90 tuổi Lý Vĩnh Bá ở Quận Phú Nhuận thì tôi chỉ làm cụ Lý Vĩnh Bá phải chịu đựng thêm sự “hành hạ” của Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh mà thôi.

Đấy là ở phạm vi một Thành phố. Liệu ở phạm vi Quốc Hội thì có chăng việc tương tự trong cách hành xử đối với các góp ý của các nghị sĩ địa phương – nhất là khi đó là nghị sĩ ngoài Đảng, không thế lực, chẳng ô dù?  Vì rằng nếu cung cách này phổ biến thì các dự án Luật sẽ luôn có vấn đề về nội dung sau khi được Chủ Tịch Nước ban hành.

7- Sự Bất Cập Trong “Tạo Điều Kiện” Cho Đại Biểu Quốc Hội

Có vị mới đây đã trả lời phỏng vấn rằng Quốc Hội có khoản trợ cấp để giúp các nghị sĩ có tiền làm việc với chuyên gia khi nghiên cứu về luật.

Trên thực tế: có mục trợ cấp ấy. Đây là việc bình thường, vì trên toàn thế giới không phải cứ là nghị sĩ thì biết tất tần tật mọi thứ.

Trên thực tế: trên cơ sở định mức của Quốc Hội cho mỗi lần sử dụng chuyên gia, nghị sĩ phải điền vào một biểu mẫu hợp đồng và phải nộp hợp đồng ấy cùng bài viết của chuyên gia cho Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội để được nhận vài triệu đồng trả công cho chuyên gia.

Tôi đã gởi thư đến Chủ Tịch Quốc Hội để nêu các luận điểm sau:

1- Hợp đồng quá sơ sài

2- Ai mới được gọi là “chuyên gia” và Quốc Hội có danh sách “chuyên gia” trên toàn quốc cho mỗi lĩnh vực không?

3- Nếu “chuyên gia” về một lĩnh vực đặc thù không sẵn có ở địa phương thì phải làm sao?

4- Nếu chỉ có một “chuyên gia” của một lĩnh vực đặc thù nào đó thì phải chăng Quốc hội cho phép chi trả cho một “chuyên gia” ấy bất kể anh ta nhận “viết bài” cho 450 nghị sĩ và gởi cùng một bài viết cho 450 vị ấy để nhận 450 phần tiền do các nghị sĩ không thể biết ngoài mình ra còn có ai sử dụng dịch vụ của “chuyên gia” ấy?

5- Tại sao phải nộp “bài viết” kèm theo, vì đó là thứ mà nghị rất cần giữ để “đọc” tại hội trường vào những buổi “trực tiếp truyền hình”?

6- Tôi – và chắc nhiều nghị sĩ khác cũng thế – không bao giờ cần thuê mướn “chuyên gia” kiểu đó, mà chính tôi phác thảo các yêu cầu cho một đề tài và rất cần thuê người dựa theo đó mà tìm các tài liệu giúp tôi, dịch các tài liệu ấy nếu từ nguồn nước ngoài, in ấn các tài liệu ấy để tôi đọc và đánh dấu các đoạn cần thiết, đánh máy tổng hợp các phần tôi đã đánh dấu để in ra nộp lại cho tôi dùng trong công văn góp ý do chính tôi soạn. Vậy những nhu cầu này có được xem là sử dụng “chuyên gia” không?

7- Do không phải tất cả các tư vấn của “chuyên gia” đều có giá trị sử dụng nên Quốc hội có sẽ đồng ý thanh toán cho “chuyên gia” ấy không nếu “công trình” của “chuyên gia” bị nghị sĩ có liên quan quyết định bỏ, không dùng đến?

Tất nhiên, tôi chưa từng nhận được phúc đáp của Chủ Tịch Quốc Hội, và suốt từ năm 2011 đến nay tôi luôn xuất tiền túi ra để thanh toán cho “chuyên gia” của tôi chứ không dại gì làm hồ sơ xin thanh toán cho “chuyên gia” vì tôi luôn thận trọng không bao giờ để bản thân bị mang tiếng đối với bất kỳ việc gì có liên quan đến tiền bạc một khi hợp đồng quá yếu kém dù do Bộ Tài Chính chấp bút, còn điều kiện thì quái gở.

Như vậy, các nghị sĩ khác nếu có sĩ diện giống tôi nhưng lại không muốn bỏ tiền túi ra thuê “chuyên gia” thì bảo sao mà không thụ động trong nghiên cứu các dự án luật mà đóng góp cụ thể được, khiến dự án luật cứ có nhiều hạt sạn từ nhỏ đến to.

8- Sự Hợp Tác Của “Dân”

Thật là lý tưởng tuyệt đối khi dùng hai chữ nhân dân trong việc lấy ý kiến toàn dân. Song, có một thực tế hiển nhiên ai cũng biết là Việt Nam sau năm 2000 rất khác với Việt Nam của thời 1975-1990.

Vào thời 1975-1990 việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc, luôn đông đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ dù không đặc sắc vẫn hàm chứa các nội dung chính quyền cần phổ biến và các hộ cần nắm thông tin.

Vào thời từ 2000 cho đến nay, việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh trở thành sự gượng gạo, không bao giờ đầy đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ vẫn không đặc sắc với nội dung chính quyền cần phổ biến lại không là thứ thông tin các hộ cần nắm bắt. Ba trong những nguyên nhân chính là (a) thông tin không hề thiếu trên truyền thông mạng cũng như báo in và truyền hình, (b) người dân có nhiều nhu cầu giải trí và có nhiều tiện nghi giải trí ở khắp nơi để tham gia sau giờ làm việc khiến khó thể có mặt để tham dự họp Tổ, và (c) đa số người dân không còn quan tâm đến sinh hoạt Tổ Dân Phố mà họ xem như một cực hình. Thậm chí khi “vận động” mọi người dân trong tuổi “cử tri” đi họp “tiếp xúc ứng cử viên đại biểu quốc hội” thì ngay cả việc có một người đại diện cho cả hộ dù hộ ấy có rất nhiều người trong độ tuổi luật định làm cử tri có mặt cũng là điều bất khả ở nhiều nơi.

Vì vậy, việc “lấy ý kiến” của người dân đối với một dự án luật không bao giờ đạt yêu cầu, trừ phi “người dân” đó là cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc ở phường xã đứng lên phát biểu để ghi vào biên bản biến thành “đóng góp ý kiến của nhân dân khu phố” rồi nộp lên cấp cao hơn. Đây là lý do đã, đang, và sẽ khiến việc “lấy ý kiến đóng góp của nhân dân” tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với một dự án luật không bao giờ giúp dẫn đến việc dự án luật ấy được nghiên cứu sâu sắc hơn để được hoàn thiện hơn.

9- Tranh Luận Về Dự Án Luật

Như đã nêu trong công văn sau tôi gởi đến Chủ tịch Quốc Hội và cũng như đã luôn được nêu lên bởi các cơ quan ngôn luận, việc tranh luận tại Quốc Hội về một dự án luật đã chưa hề được diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử của Quốc Hội:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về việc phát biểu tại Hội trường Quốc hội trong các kỳ họp.

1) Tình hình thực tế:

Qua các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII tôi nhận thấy quy trình phát biểu của đại biểu như sau:

a- Đại biểu vào hội trường bấm nút đăng ký

b- Lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp mời đại biểu phát biểu

c- Đại biểu phát biểu (chủ yếu đọc bài viết soạn sẵn để chủ động bảo đảm thời lượng quy đinh 7 phút)

Quy trình trên hoàn toàn công bằng theo mặc định (người trước người sau theo thứ tự ấn nút đang ký trước-sau) và theo tổ chức (lãnh đạo chủ trì sẽ điều tiết để tránh nhiều đại biểu cùng đơn vị cùng đăng ký trước nếu phát biểu theo thứ tự trước-sau sẽ không ành thời gian cho các đại biểu ở đơn vị khác).

Tuy nhiên, hai yếu điểm bộc lộ từ quy trình trên là người dân hoàn toàn không thấy có sự tranh luận bất kỳ tại Quốc hội mà chỉ có việc mạnh ai nấy đọc bản tham luận của mình, trong khi đó lại chứng kiến (qua trực tiếp truyền hình) việc lãnh đạo Quốc hội yêu cầu đại biểu không lập lại nội dung trùng ý của đại biểu khác đã phát biểu trước đó nhưng các đại biểu vẫn vô tư đọc đầy đủ và trọn vẹn các bài viết sẵn có các đoạn trùng ý.  Hai yếu điểm này sẽ được người dân nhận ra, làm gia giảm sự quan tâm đến các buổi trực tiếp truyền hình, khiến nỗ lực gia tăng thời lượng phát sóng trực tiếp bớt hiệu quả chính trị, trong khi đó lại gia tăng cơ hội cho bọn chống Việt Nam lợi dụng để chỉ trích.

2) Kiến nghị:

Để sự phát biểu mang ý nghĩa ích lợi thực tế, tôi kính đề nghị:

a- Trước kỳ họp, các đại biểu gởi bài phát biểu đến Quốc hội để được đăng tải trên trang web Quốc hội. Do đại biểu đã biết kỳ họp sẽ có nội dung nào, về các luật gì, và các đoàn đều có tổ chức mời giới luật gia và ban ngành đoàn thể đến tập trung góp ý cho từng dự án luật hay từng vấn đề một nên các đại biểu đều nắm thông tin, nghiên cứu thêm, và hình thành trước các bản góp ý hay phát biểu. Vấn đề là đem theo các bài soạn sẵn chờ đến kỳ họp đúng ngày đúng buổi để nhấn nút phát biểu và gặp phải sự phát biểu trùng ý sẽ khiến sinh hoạt như vậy kém hiệu quả và thiếu chuyên nghiệp. Việc đăng bài lên trang web Quốc hội (mỗi đại biểu có quyền gởi  hàng chục bài cho hàng chục đề tài khác nhau theo chương trình dự kiến của Quốc hội) giúp người dân theo dõi, và giúp các đại biểu đọc của nhau, từ đó phát hiện những vấn đề nào cần phải tranh luận thêm vì chưa đồng thuận để ghi nhận và chờ đến kỳ họp để tranh luận trực tiếp tại hội trường.

b- Tại kỳ họp, việc nhấn nút của đại biểu là để tranh luận về chi tiết ý kiến mà đại biểu khác đã thể hiện trong bài viết đã đăng tải trên web Quốc hội mà người dân đã đọc và đã nắm thông tin. Việc theo dõi tranh luận – nếu nhằm phiên có trực tiếp truyền hình – của người dân do đó sẽ có hứng thú trước nội dung tranh luận, khả năng hùng biện, hiệu quả thuyết phục, để qua đó nhận xét về khả năng của từng đại biểu của dân. Theo cách này, thời gian mỗi kỳ họp có thể ngắn hơn, hoặc có nhiều thời gian hơn cho những vấn đề trọng đại khác mà từng thời điểm có thể đặt, thay vì chỉ là việc đọc các bài soạn sẵn để góp ý cho một dự án luật nào đó mà sự góp ý có thể thực hiện sớm hơn (gởi email để được đăng ngay lên web Quốc hội), ít tốn kém cho Nhà nước hơn (chi phí cho thời lượng phát sóng trực tiếp để dành giúp dân nghèo).

c- Ngoài ra, về vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin (xin được gọi tắt là IT) cũng cần nâng cấp hợp lý, theo đó, khi một đại biểu đang phát biểu (theo hướng b ở trên), các đại biểu khác nếu thấy nhất thiết phải tham gia phản bác thì có thể nhấn nút để “chen ngang”, theo đó, sau khi đại biểu ấy phát biểu xong, lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp sẽ mời đại biểu nhấn nút “chen ngang” phát biểu thay vì mời đại biểu đã đăng ký tiếp theo trước đó. Theo cách này, sự tranh luận sôi nổi tại hội trường sẽ được hình thành, và đó là điều cần thiết trong sinh hoạt Quốc hội. Việc thêm một chức năng như vậy vào hệ thống IT, theo tôi, không phải là điều có khó khăn về kỹ thuật và tài chính.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Như vậy, có thể nói rằng các phát biểu của nghị sĩ về một dự án luật tại Nghị Trường – đặc biệt vào những buổi có trực tiếp truyền hình – chưa bao giờ giúp hoàn thiện một dự thảo dự án luật do đa số các vị đọc các bài soạn sẵn mà nhiều khi lập lại ý kiến trùng lặp với nghị sĩ đã phát biểu trước đó, đến độ có khi chủ tọa phiên họp phải chen ngang nhắc khéo là hãy bỏ các ý trùng lặp để dành thời gian cho nghị sĩ khác thì vị nghị sĩ đang đọc cũng không thể loại bỏ phần nào cả vì không rõ đoạn nào mới là đoạn trùng lặp vì đã không tập trung lắng nghe bài phát biểu của vị khác trước mình. Đã không có tranh luận sâu sắc để hùng biện đả phá những điều khoản của từng điều khoản quan trọng của mỗi dự thảo dự án luật thì việc một đạo luật ban hành đạt yêu cầu hoàn hảo lại tùy phần lớn vào sự may mắn.

Làm luật mà đặt vấn đề quan trọng nhất là rà soát xem dự thảo có phù hợp với chủ trương không, có phù hợp với trào lưu “tiến bộ văn minh” của thế giới không, có phù hợp với “nhân quyền” không, trong khi phớt lờ chín điều nêu trên thì quả là khiến việc lập pháp sẽ luôn đối mặt với những vấn nạn này nọ.

Với các hiểu biết thấu đáo và kinh nghiệm va chạm thực tế tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lẽ ra đã có thể ra tay chấn chỉnh đoàn Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong Khóa XIV để đem Đoàn từ căn bịnh trầm kha thâm căn cố đế camouflage tiến vào thực tế chuyên nghiệp nghị viện. Tuy nhiên, tôi sẽ dõi mắt quan tâm đến hoạt động của từng thành viên trong Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) của Thành phố Hồ Chí Minh để có thể viết các góp ý mới khác để tiếp tục gởi Chủ Tịch Quốc Hội nhằm xây dựng một Quốc Hội Việt Nam lành mạnh thực chất hơn trong chức năng lập pháp và giám sát.

HHP Poem (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) QUỐC HỘI

1) Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng November 9, 2013

2) Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện.  November 14, 2013

3) Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. 26 November 2013

4) Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 April 29, 2014

5) Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc May 11, 2014

6) Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội May 31, 2014

7) Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm” July 1, 2014

8) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường. July 18, 2014

9) Thư Gởi Thủ Tướng August 20, 2014

10) Hành Trang Nghị Sĩ September 17, 2014

11) Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam October 4, 2014

12) Phản Hồi Của Bộ Giao Thông Vận Tải November 4, 2014

13) Bài 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội December 21, 2014

14) Bài 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam December 24, 2014

15) Bài 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam January 20, 2015

16) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội – Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp January 21, 2015

17) Bài 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội February 5, 2015

18) Báo cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước December 4, 2015

19) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi Của Người Dân December 13, 2015

20) Bài 5: Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. February 24, 2015

21) Bài 6:  Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang” December 27, 2015

22) Bài 7:  Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân December 28, 2015

23) Phải Biết Lo Trước Cái Lo Của Người Dân December 31, 2015

24) Bài 8: Công Tác Tiếp Dân January 2, 2016

25) Bài 9: Công Tác Giám Sát Của Nghị Sĩ January 3, 2016

26) Bài 10: Công Tác Ủy Ban Quốc Hội January 4, 2016

27) Hãy Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tự Do Cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) January 9, 2016

28) Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021) March 8, 2016

29) Quyền Lực Của Cử Tri March 24, 2016

*** Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương January 21, 2015

B) PHÁP LUẬT

1- Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình  June 5,2013

2- Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992. 05 June 2013

3- Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp July 25, 2013

4- Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân  November 22, 2013

5- Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi) November 26, 2013

6- Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 November 26, 2013

7- Biểu Tình và Ô Danh. May 20, 2014

8- Luật Biểu Tình. May 26, 2014

9- Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

10- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên. April 2, 2015

11- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. April 14, 2015

12- Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? September 18, 2015

13- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” October 14, 2015

14- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)” October 18, 2015

15- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)” October 18, 2015

16- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân” November 14, 2015

17- Huỳnh Văn Nén December 6, 2015

18- Điều Luật 258 April 2, 2016

19- Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague May 22, 2016

20- Hình Sự Hóa Quan Hệ Hợp Đồng Kinh Tế June 8, 2016

21- Sự Cố Luật Hình Sự June 28, 2016

*** Pháp Luân Công October 7, 2015

Trích từ Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016

Lam Luat 1Lam Luat 2Lam Luat 3Lam Luat 4

Giặc Tàu Mọi Rợ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 6 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 22 giờ

Sử ghi lại rằng vào đời Hậu Lê, hai đại thần Giang Văn Minh (Phúc Lộc Hầu) và Nguyễn Duy Hiểu (Thiêm Đô Ngự Sử) được vua cử cùng làm chánh sứ đi với bốn vị phó sứ lên đường sang Tàu cầu phong và tiến cống nhà Minh.

Để làm nhục sứ thần nước Việt, hoàng đế Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm trong lễ tiếp đón phái đoàn ngày 02-6-1639 đã ra vế đối “Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục” ý nói trụ đồng đến nay đã rêu xanh, nhắc đến tích Mã Viện chiếm đóng nước Việt sau khi bức hạ Hai Bà Trưng đã cho dựng một cột đồng với lời đe dọa dân Nam hãy khôn hồn mà giữ cho cột đứng vững thiên thu, bằng không thì ngày nào trụ ngã ngày đó dân Nam sẽ bị tuyệt diệt, ý nói người Việt ắt đã vì run sợ mà giữ cột trụ đứng yên qua quá nhiều năm tháng đến nỗi phải xanh rêu mà vẫn chưa dám chống lại thiên triều. Chánh sứ Giang Văn Minh đã hiên ngang dõng dạc trước triều đình Đại Minh mà đối rằng “Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” ý nói Sông Bạch Đằng sau ba lần quân Tàu đại bại cho đến nay nước vẫn còn đỏ máu Tàu tanh. Minh Sùng Trinh nộ khí xung thiên, bất chấp nghi lễ ngoại giao cấm chém sứ thần, đã ra lệnh gắn trám đường vào miệng và mắt của Giang Văn Minh rồi mổ bụng tại chỗ để xem gan to mật lớn đến dường nào mà dám nói chõi với thiên triều, đồng thời thảm sát chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu do tội dám lên tiếng đồng lòng giữ gìn quốc thể. Không rõ do ân hận vì hành động tàn bạo làm điếm nhục uy phong hoàng triều Đại Minh đối với các chư hầu, hay do khiếp sợ dân Việt nhổ trụ đồng Mã Viện tiến quân qua đánh cho Dương Tử Giang nhuộm đỏ máu Nhà Minh, Sùng Trinh đã lật đật cho ướp xác các quan chánh sứ bằng bột thủy ngân và long trọng dùng đại lễ cho đưa thi hài về nước Việt.

Phái đoàn “tiểu quốc” lặn lội vượt đường xa quan san diệu vợi mất hàng năm trời mới đến đặng kinh đô mà dâng cống với biết bao trân châu bảo ngọc, sừng tê ngà voi, mỹ nữ, nghệ nhân, lương y, thảo dược, cùng vô số của cải khác theo lệ “thiên triều” và “xuống nước” xưng “thần” để cầu mong vua Tàu ban cho vua Việt một tước vương, thế mà hoàng đế nước Tàu tuy lớn lối trấn giữ “trung tâm vũ trụ” (Trung Hoa), vẫn là đứa thất phu khinh thế ngạo vật ngồi xổm trên chồng sách Tứ Thư Ngũ Kinh, mồm rống ta đây hào quang thiên mệnh thiên tử, gác chân lên đầu bao bậc “thánh nhân” như lão Khổng và lão Lão, xỉa ngón tay trỏ khoe bao điều kỳ vĩ khác, dùng thói lưu manh đàng điếm, xó chợ đầu đường, khát máu bạo tàn, đớn hèn ti tiện, mổ bụng phanh thây sứ thần thám hoa Giang Văn Minh và sát hại sứ thần tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu. Tuy dân tộc Việt tôn kính nhị vị chánh sứ hy sinh giữ gìn quốc thể, đã đưa tên hai cụ vào bia đá thứ 32 tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, song thù này có người Việt chân chính nào lại dám giây phút lãng quên, có bậc nghĩa khí hào kiệt nào của đất Nam không trỏ tay về phương Bắc nghiến răng thề quyết không đội chung trời, và có chính nhân quân tử nào hậu duệ Hùng Vương không hứa với tiền nhân sẽ có ngày diệt tiêu Tàu giặc con cháu Từ Hy.

Nay đến bọn lóc chóc Đài Loan cũng dựa hơi giặc mọi, tuy thân tàn ma dại (vì ngay đến Mỹ cũng không dám công nhận là quốc gia do sợ Tàu nộ khí xung thiên cho mổ bụng xem gan, trám đường vô họng, nên tuy bán cho vũ khí cực kỳ hiện đại y như với đồng minh thân cận khác, vẫn cứ muôn đời gọi Đài Loan chỉ là “lãnh thổ” mà thôi), cũng bày trò chiếm đóng hải đào Trường Sa (vừa làm Việt nổi trận lôi đình, vừa làm Mỹ cà lăm lắp bắp trong trận đấu khẩu với Tàu), cứ tưởng ta đây nòi giống Mã Viện trụ đồng, mà dốt Sử nên chớ biết Bạch Đằng Giang còn tanh đỏ máu của tổ sư tổ mẹ tổ cha Mã Viện *.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: * tổ sư, tổ mẹ, tổ cha là những từ viết tắt của “tổ tiên của…thầy”, “tổ tiên của…mẹ”, và “tổ tiên của…cha”.

Ghi chú: Bài viết trên đã đăng lần đầu ngày 14-9-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tài liệu tham khảo:

Văn Long. 20-8-2012. Sứ Thần Vì Quốc Thể. Báo Đại Biểu Nhân Dân, trang 5.

Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

Bằng Cách Dạy Binh Sỹ Biết Rằng Sát Hại Thường Dân Là Phạm Tội Ác Chiến Tranh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-6-2016

Tôi, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đầu nhiệm kỳ XIII đã viết bài sau đăng trên Emotino.com. Nay xin đăng lại trên blog này để sau hai mươi năm nữa mọi người trong thiên hạ nghiệm xem ai trong số những binh sỹ Mỹ phạm tội ác chiến tranh bị nêu tên trong bài viết này có sẽ được thưởng Huân Chương Sao Đồng, có trở thành Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, có là ứng cử viên Tổng Thống Mỹ, và có là Chủ tịch Trường Đại Học Fulbright Afghanistan hay không.

Tất nhiên, bài viết này còn để nhắc nhở có biết bao thường dân Việt Nam đã bị sát hại nhất là hàng ngàn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị chặt đầu bởi binh sỹ Trung Quốc và binh sỹ Kampuchea. Những tên cầm thú Khmer Đỏ hôi hám sau khi sát hại dã man 3.157 thường dân Việt Nam mà núi đầu lâu còn lưu chứng tích ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, đã bị Việt Nam đưa vạn hùng binh kéo rốc đánh đến tận hang ổ Phnom Penh giết sạch bọn chó dại để thực hiện truyền thống Việt: ân vạn kiếp vẫn đền, oán vạn đời vẫn trả. Tương tự, bọn giặc man di mọi rợ thối hôi Trung Quốc đã bị đánh cho tan tác phải để lại núi thây binh sỹ chất chồng trận địa chốn biên cương Việt. Không ai trong bọn chúng bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh, đơn giản vì toàn bộ đã bị Việt Nam bắt phải đền tội trực tiếp trên chiến trường tử địa.

Ngoài ra, bài viết này còn để nhắc nhở các chiến binh Việt hãy luôn khắc cốt ghi tâm rằng trong trận chiến của tương lai nếu buộc phải kéo rốc truy sát đến tận hang ổ Bắc Kinh, không được phép sát hại bất kỳ người Trung Quốc nào không cầm vũ khí, không mặc quân phục, để không bao giờ bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.

*********

Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2012

George Santayana tức Jorge Agustín Nicolás Ruiz de Santayana y Borrás (1863-1952), triết gia, tiểu thuyết gia và nhà thơ Tây Ban Nha, học tập thành tài tại Mỹ và ở lại giảng dạy tại Đại học Harvard cho đến năm 48 tuổi thì bỏ về Tây Ban Nha thề không bao giờ trở lại, được biết đến toàn thế giới với câu nói lừng danh “Those who do not remember the past are condemned to repeat it” tức “Kẻ nào lãng quên quá khứ (sai lầm xằng bậy của mình) sẽ phải lập lại quá khứ (sai lầm xằng bậy) ấy.” Hai bức ảnh dưới đây gồm bức đen trắng ảnh một binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần trên thân thể một chiến binh Việt Cộng và bức ảnh màu chụp cảnh các binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần dưới thân thể một chiến binh Afghanistan. Khoảng cách nửa thế kỷ của hai bức ảnh giữa một bên là vào những năm 60 của thế kỷ trước và năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ này (2010) vẫn cho ra một điều giống y nhau về thú tính bất nhân mọi rợ của những binh sĩ Hoa Kỳ ít – hoặc chẳng bao giờ được – học về nhân quyền, vốn là một sự thật mà bài viết này muốn nói đến, với sự trùng hợp của định mệnh khi tháng 4 năm nay là tháng của Lễ Chiến Thắng của Việt Nam – tức ngày chiến bại của Hoa Kỳ, đất nước của binh sĩ trong ảnh đen trắng bên trái – và tháng 4 năm 2012 này cũng là tháng mà tờ báo Los Angeles Time Hoa Kỳ đăng tải hàng chục bức ảnh bất nhân mọi rợ của các binh sĩ Mỹ đối với xác “đối phương” và người dân vô tội Afghanistan với bức ảnh màu bên phải là một thí dụ. Vậy lập lại sai lầm là như thế nào.

US Army 1

Khi người thợ săn hạ được con thú, người ấy đứng chụp hình bên chiến lợi phẩm (y như nhà vua Vương Quốc Bỉ vừa bị “bỉ’ mặt vì lén qua Phi Châu dùng tiền thuế của dân bắn hạ một con voi, chụp hình với xác voi, rồi bị hồn thiêng của voi vật té ngựa bị trặc hông phải nhập viện làm bại lộ chuyến đi). Khi các binh sĩ Mỹ chụp hình với xác đối phương, ấy là họ xem đối phương là con thú. Họ xúc phạm Đức Chúa Trời nếu họ vẫn tin rằng ông ta tạo ra vạn vật và loài người. Họ xúc phạm tổ tiên Hoa Kỳ, những người bị lưu đày, những tên tội phạm, những kẻ thất thế sa cơ ở Châu Âu đổ về vùng đất mới (nay gọi là Hoa Kỳ) để được sống kiếp người, với khát vọng con cháu họ sẽ được là con người và biết tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền. Hãy thử xem đó là do sự dốt nát của vài chiến binh, hay là sự lập lại, sự lây lan, sự lưu luyến những lề thói cũ của những kẻ cho mình là người và những kẻ gần những kẻ cho mình là người nên cũng nghĩ chỉ có mình mới là người và bắt chước bọn tự cho mình là người ấy để xem kẻ thù chung là con vật.

Trong khi dân quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vội nhào xuống nước bơi nhanh đến cứu sống viên phi công John McCain ngày 26-10-1967 khi máy bay ném bom Mỹ sau khi tàn phá Hà Nội bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với Ông với tình người và tinh thần nhân quyền, tôn trọng tù binh chiến tranh theo đúng công ước quốc tế, để sau này Ông trở thành Thượng Nghị Sĩ, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ

US Army 2

hoặc võng cáng đưa tù binh Mỹ bị thương đi sơ tán tránh bom Mỹ

US Army 3

thì các chiến binh Hoa Kỳ lái xe thiết giáp kéo lê xác một “Việt Cộng” như xác một con vật,

  US Army 4

hoặc xúm lại tra tấn tù binh cộng sản (hai chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đầu để đổ nước vào mũi tù binh, còn chiến binh Hoa Kỳ dùng đầu gối ấn vào bụng cho tù binh ói nước)

US Army 5

còn khi gặp phải “tên Việt Cộng” trung kiên với Đảng, không khai báo, họ lôi “hắn” lên trực thăng bay cao vài cây số rồi xô xuống

 US Army 6

Đối với tù binh cộng sản, các quân nhân Mỹ đã làm những điều điều tàn ác như thế, thì chỉ có dân lành mới đúng là số đông lý tưởng cho một cuộc đi săn thú mà thôi, như cuộc thảm sát ở Mỹ Lại năm nào:

 US Army 7

Học tập từ quân trường Quang Trung theo các bài bản của Mỹ, viên đại úy Việt Nam Cộng Hòa này đã đằng đằng sát khí lăm lăm ngọn lưỡi lê chực chọc vào bụng một tù binh cộng sản trong khi các quân nhân Cộng Hòa khác ái ngại thảng thốt đứng nhìn

US Army 8

Tương tự vị sĩ quan, người lính Cộng Hòa này đã dùng lưỡi lê cắt họng người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)

US Army (3)

lưỡi lê luôn là dụng cụ tra tấn và sát hại tù binh cộng sản

 US Army 10

sự sợ hãi lồng căm thù khiến người chiến binh Cộng Hòa xem người phụ nữ già không khác gì một tên giặc

US Army 11

đến độ sự vô cảm với người dân còn được ống kính một phóng viên nước ngoài ghi cảnh một nông dân bế xác con thơ, với những gương mặt hoặc tò mò hoặc cười vui vẻ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trên xe thiết giáp, tháng 3 năm 1964

US Army 12

Nhưng trong khi các sĩ quan Mỹ giở trò thú tính và vị tư lệnh Mỹ phải cố phân trần để không kết tội họ, thì tình hình rất khác trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tước khẩu AK của chiến binh cộng sản Bảy Lốp

US Army 13

dẫn Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh hoàng hoảng hốt của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài

US Army 14

viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường phố Sài Gòn, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh

US Army 15

Thế đấy, trong khi những người cộng sản Việt Nam biết tuân thủ các công ước quốc tế về tù binh chiến tranh thì các chiến binh của họ đã không được kẻ thù đối xử tương tự. Họ: những kẻ cho mình là người, và xem kẻ thù là súc vật, khiến bức ảnh sau trên tạp chí Life số ra ngày 26-11-1965 đã khiến người dân các nước trên thế giới phản đối

US Army 16

Sau khi xảy ra vụ tồi tệ tại Mỹ Lại, Mỹ đã phủ nhận “quá khứ”, để rồi tháng 4 năm 2012 này lại phải đối mặt với vụ tồi tệ mà các binh sĩ Mỹ đã gây ra với tù binh và dân thường Afghanistan.

US Army 17

Sau khi giết em Mudin, một thiếu niên đang chạy bộ kiếm mua thức ăn cho gia đình, các quân nhân Mỹ đã lột trần truồng thi thể của Mudin. Andrew Holmes và Jeremy Morlock thay phiên nắm tóc dựng đầu xác chết của Mudin. Việc chụp hình cứ như thể đó là một chiến công đã bắn hạ một quân phiến loạn tức một con vật. Tệ hại hơn, Holmes đã cắt mấy ngón tay của cậu bé Mudin, cất vào túi có dây kéo và bảo các chiến hữu rằng sẽ phơi khô đem về làm bộ sưu tập sau này.

US Army 18US Army 19

Morlock còn khét tiếng với màn chụp hình vui vẻ với vài trẻ em Afghanistan dạn dĩ rồi lên xe quân sự Stryker vừa lái vừa ném kẹo để các trẻ này cùng rất đông trẻ em rụt rè khác túa ra từ nhà dân ra lượm kẹo, còn Morlock xả súng ra phía sau, tàn sát các em bé này, trong khi các chiến hữu khác cho xe Stryker cán dày xéo lên người các em.

US Army 20

Andrew Holmes, Michael Wagnon, Jeremy Morlock và Adam Winfield đã làm ô danh nước Mỹ và tất nhiên nếu luật pháp Mỹ tha tội cho chúng như đã từng tha tội cho những kẻ gây ra cuộc thảm sát ở Mỹ Lại (Việt Nam), thì chúng cũng sẽ kết thúc phần đời còn lại trong tủi nhục vì bị khinh rẻ bởi người dân Mỹ chân chính. Nhưng chính quân đội Mỹ mới phải chịu phần trách nhiệm lớn nhất vì đã đào tạo ra những anh hùng cá nhân bịnh hoạn, không mô phỏng mô hình giáo dục quân đội cộng sản Việt Nam, nơi đào tạo ra những chiến binh anh hùng cách mạng. Ngay từ ngữ phân trần của tư lệnh Mỹ tại Afghanistan rằng quân nhân Mỹ được học điều lệnh rằng phải handle remains (xử lý xác chết hoặc phần thi thể còn lại) của quân thù một cách nhân văn nhất có thể được mà không hiểu rõ tiếng Mỹ tiếng Anh rằng “handle” không mang nội hàm duy chỉ có nghiêm túc, còn “nhất có thể được” luôn mang nội hàm không bao giờ cao nhất, không bao giờ tốt nhất, và thậm chí có cũng được mà không thì cũng chẳng hề chi. Một quân đội lại dùng thứ tiếng Anh thô thiển đầy sai sót như thế trong quân lệnh, thì sao lại có thể trách các binh sĩ nếu họ đột xuất thành thú vật như người sói lúc tròn trăng?

Vì sai lầm muốn hạ “Bắc Việt” bằng mọi giá, năm 1974 Mỹ đã làm ngơ, bỏ mặc cho các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh tan tác, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc sát hại, và Quần Đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, nhằm làm Bắc Việt hoặc phải lo đánh nhau với Trung Quốc không thể tiếp tục chống Mỹ, hoặc bị ô danh mang tiếng “bán nước” vì để yên cho Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sai lầm này của Mỹ đã khiến Trung Quốc chiếm ưu thế mưu bá đồ vương làm chủ Biển Đông, về sau đe dọa an ninh các quốc gia đồng minh của Mỹ trước kia thuộc khối quân sự SEATO tức Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, cái tổ chức đã tan rã cùng với sự tháo chạy của Mỹ, sau đó đã  kết hợp lại với Việt Nam hình thành khối kinh tế ASEAN ngày nay, mà Mỹ dù có muốn quay lại cũng đã muộn màng về chiến lược trước thế lực hải quân hùng mạnh của Trung Quốc.

Vì sai lầm muốn hạ Việt Nam cộng sản bằng mọi giá, thay vì nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1976, viện trợ Việt Nam, bồi thường chiến phí, giúp Việt Nam nhanh chóng giàu mạnh như Nhật Bản để bảo vệ an nguy cho toàn vùng Đông Nam Á vốn toàn là đồng minh của Mỹ, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Cam Ranh, cho phép chiến hạm Hoa Kỳ ngang dọc Biển Đông triệt tiêu tham vọng của Trung Quốc tràn xuống phương Nam chiếm đóng Đông Nam Á và xâm lược Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực, Mỹ vừa bật đèn xanh tuyên bố ủng hộ Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam năm 1978, vừa đánh bồi bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam khi thấy Việt Nam không những tồn tại trước sự xâm lược của Campuchia mà còn tiêu diệt luôn chế độ Khmer Đỏ, khiến Việt Nam chậm phát triển hơn trong thời điểm Trung Quốc phát triển nhanh hơn, và nay đe dọa uy thế của chính Hoa Kỳ, hù dọa các nước Đông Nam Á, thách thức sức mạnh hải quân Mỹ trong khu vực trọng yếu này của thế giới.

Vì tất cả những sai lầm trên, việc đầu tiên Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai là giáo dục lại quân đội Hoa Kỳ về nhân quyền, để họ biết phân biệt thế nào là văn minh và mọi rợ, thế nào là chiến binh anh hùng và sát thủ man di, nhất là thế nào là danh dự quốc gia vốn là điều mà binh sĩ Hoa Kỳ hầu như không biết đến; đồng thời, các tướng lĩnh Mỹ phải rà soát lại các điều lệnh, sử dụng những nội dung tiếng Anh mang nội hàm rõ ràng, minh bạch, nhằm triệt tiêu bất kỳ sự vi phạm nào mang tên do-không-hiểu-biết hoặc tại-bị-vì-bởi-ngôn-ngữ-chứa-sẵn-lời-động-viên-làm-bậy. Nếu không chấn chỉnh, sự có mặt của Hoa Kỳ ở Biển Đông thay vì đáp ứng sự kỳ vọng của người dân ASEAN, hành vi thú tính mất dạy về nhân quyền của binh sĩ Mỹ sẽ đưa Mỹ lâm vào bước đường mạt vận nếu các hạm đội Trung Quốc từ phương Bắc tràn xuống và các chiến binh Hồi giáo cảm tử Indonesia tức giận vì thi thể chiến hữu bị làm nhục ở các nước Hồi Giáo anh em sẽ từ phía Nam đánh lên bằng xuồng cao tốc.

Hãy học hỏi Việt Nam về nhân quyền để đừng bị lời nguyền lập lại sự thất trận của quá khứ.

US Army 21US Army 22US Army 23

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Trăm Trứng

Nguyễn Thiện Nhân

                    Dụng Nhân Sai Lầm & Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-6-2016

NTNNTN1

A) Tôi Và Ông Nguyễn Thiện Nhân

Ông Nguyễn Thiện Nhân là một thí dụ điển hình về vấn nạn dụng nhân tại Việt Nam.

Trong tiểu sử của Ông công bố chính thức trên website của Quốc Hội Việt Nam, Ông có thời gian làm nghiên cứu sinh tại Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Tuy nhiên, sự thật lại không là như vậy.

Trong thời gian công tác ở Văn phòng Đại diện Công ty CIMMCO International (vốn là bộ phận xuất khẩu-nhập khẩu-dự án kỹ nghệ ngoài nước của CIMMCO Limited trực thuộc tập đoàn công-kỹ-thương-du Birla lừng danh của Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh), tôi thường đến Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc với Phó Chủ Tịch Nguyễn Văn Huấn (Anh Ba Huấn) và Chánh Văn Phòng Nguyễn Hậu (Anh Sáu Hậu). Trong một lần thực hiện một gói GOI Credit (viện trợ của Chính phủ Ấn Độ – Government of India), theo ý của Chủ tịch D.K. Goyal tôi lập kế hoạch đưa  Giám Đốc Amit Kumar Saxena đến gặp một lãnh đạo Sở, và thư ký của tôi đã phone liên lạc với một công chức ở Sở ấy để lên lịch cuộc hẹn. Vị công chức giúp thu xếp cuộc gặp ấy là Nguyễn Thiện Nhân.

Một thời gian sau, khi làm giám đốc điều hành cho Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ 100% vốn nước ngoài của Mỹ (Bang California), trở thành hội viên của Phòng Thương Mại Mỹ AmCham ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được mời tham dự một sự kiện do AmCham tổ chức ở Khách Sạn Caravelle. Tại buổi gặp với một trăm doanh nhân các công ty Mỹ này, viên chức Mỹ đứng đầu AmCham đã giới thiệu Ông Nguyễn Thiện Nhân với mọi người. Ông đã nói về Ông Nguyễn Thiện Nhân như một ngôi sao học thành tài từ Mỹ về trở thành lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, và khiến mọi người cười ầm lên khi nói “Ngài Nhân đây có bằng cấp tiến sĩ về một cái ngành gọi là Cybernetics mà tôi chẳng hiểu nó là về cái mô tê gì sất.” Ông Nguyễn Thiện Nhân sau đó đã phát biểu bằng tiếng Anh với cử tọa, trước khi mọi người dùng tiệc trưa.

Như vậy, Ông Nguyễn Thiện Nhân là Tiến sĩ Cybernetics của Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Đông Đức chứ không phải là “nghiên cứu sinh” như chi tiết lý lịch trên web. Không rõ vì sao có sự dấu giếm này về học vị tiến sĩ của Ông, khiến có sự hồ nghi rằng Ông đã không có bất kỳ công trình nghiên cứu nào sau đó để thực hành xây dựng kỹ thuật tiên tiến cho đất nước, phát triển ngành Cybernetics tại Việt Nam, làm Ông trở thành người Việt Nam duy nhất biết thế nào là Cybernetics.

B) Cybernetics Kỹ Thuật Điều Khiển Học

Cybernetics là ngành Kỹ Thuật Điều Khiển Học. Đây là ngành được ứng dụng bởi quân đội Hoa Kỳ để chế tạo các vũ khí mà người ta ngày nay vẫn lầm tưởng chỉ là hư cấu do chưa thấy xuất hiện ngoài đời mà chỉ có thể thấy được trên các phim viễn tưởng hoành tráng kiểu Star Wars – Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao, hoặc gần đây nhất là những phim khoa học giả tưởng vĩ đại kiểu Avatar. Từ thực tế đã chế tạo xe bốn chân sử dụng trong quân đội Hoa Kỳ như các dòng CAM (cybernetic anthropomorphous machine của công ty General Electric) có chiến sĩ “lái” (cổ xe to có 4 chân) nếu để tấn công,

NTN0

hoặc không người lái (to như một chú ngựa) nếu để tiếp liệu vũ khí đạn dược quân trang quân dụng ra chiến trường:

NTN3

đến những thăng hoa lấn vào tất cả các thiết kế dữ dội của phim ảnh Hollywood như những thứ vũ khí tấn công của tương lai với một chiến binh sử dụng không phải xe tăng mà là robot tăng cử động chính xác theo từng cử động tay (để sử dụng hỏa lực trên hai tay của robot) và chân (để đi, bò, chạy) của chiến binh bên trong “buồng điều khiển” tức “cabin”, người ta đều thấy hiện thực và tương lai của Cybernetics

NTN4NTN5NTN6

khiến từ chiếc CAM thành phẩm của thực tế người ta đã thiết kế ra mô hình các “chiến xa” hai chân, bốn chân, hay sáu chân mang tên AT-AT (Thiết Giáp Địa Hình), AT-ST (Trinh Sát Địa Hình), AT-DP (Phòng Thủ Địa Hình), AT-TE (Tiếp Viện Chiến Lược Địa Hình), AT-PT (Chuyển Quân Địa Hình), AT-AA (Phòng Không Địa Hình), AT-TR (Tấn Công Địa Hình), AT-XT (Thám Sát Địa Hình), AT-OT, AT-RT, v.v., mà chắc chắn sẽ tiến từ viễn tưởng sang thực tế như đã luôn xảy ra trước đó với tiềm thủy đỉnh, phi cơ, phi thuyền, hỏa tiển hành trình, và “drone” sát thủ bay không người lái, v.v., để phục vụ chiến tranh.

C) Dụng Nhân Sai Lầm

Thế mà thay vì Việt Nam có một nhà vũ khí học Nguyễn Thiện Nhân hoặc một giáo sư giảng dạy khai sinh ra ngành điều khiển kỹ thuật học Cybernetics lợi nhuận hàng triệu tỷ USD cho Việt Nam chỉ mới tính cho mỗi việc chế tạo thiết bị phục vụ người khuyết tật chi vận động trên toàn thế giới, người ta lại thấy con đường bình thường cực kỳ tầm thường mang tính cố tật cố hữu của cách “dụng nhân” của Việt Nam: hễ có bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ là được bố trí làm…lãnh đạo, dù là lãnh đạo quản lý trường đại học hay lãnh đạo quản lý trái ngành. Đây là lý do mang tính vấn nạn khiến Việt Nam

(a) thiếu chuyên gia công kỹ nghệ bậc cao,

(b) tạo tâm lý phổ biến nhanh lan tỏa rộng của thói hám hư danh thuần túy từ chương: học để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(c) học thạc sĩ hay tiến sĩ không để theo đuổi con đường nghiên cứu mà cũng chỉ để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(d) khiến chất lượng giáo dục đại học ngày càng xuống cấp vì các tiến sĩ lo giữ ghế quản lý và dành thời gian đi phát biểu ở các hội nghị,

(e) các tiến sĩ làm nhà tư vấn đẳng cấp quốc gia chỉ có thể cho ra các phát biểu sâu sắc phục vụ cho các bản tin báo chí hay phát hình chứ không có giá trị thực tiễn dựng xây phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và nghiêm trọng nhất là

(f) giáo sư tiến sĩ ngồi sai ghế.

Ông Nguyễn Thiện Nhân là thí dụ điển hình của sáu số chữ cái trên.

Vấn nạn lớn nhất ở đây còn là vì sao bao tiền bạc và cơ hội học tập chuyên ngành lại đổ dồn cho cá nhân một cán bộ, mà ở đây điển hình là Ông Nguyễn Thiện Nhân được ban cho các học bổng (dù cho sự tài trợ là của Đảng hay của nước ngoài) đi học tiến sĩ kỹ thuật điều khiển học hiện đại Cybernetics ở Đông Đức, học Kinh Tế Thị Trường tại Tây Đức, học Thạc sĩ Quản Lý Cộng Đồng ở Hoa Kỳ, học Thẩm Định Dự Án Đầu Tư ở Mỹ, thay vì dành cho 4 cán bộ khác nhau để Việt Nam có được một kỹ sư Cybernetics ra hồn, một chuyên gia kinh tế thị trường ra ngô, môt chuyên viên quản lý cộng đồng ra khoai, một nhà thẩm định dự án ra trò. 4 cơ may cho 4 ngành học khác nhau đã dồn về duy chỉ Ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ để ông lên làm Ủy Viên Trung Ương Đảng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Phó Thủ Tướng. Đây là sự sai lầm nghiêm trọng trong đào tạo nhân sự và sử dụng nhân sự để rồi nhân sự tiếp tục đi lên, khoa học kỹ thuật cùng học thuật hàn lâm nước nhà thì tiếp tục đi xuống, và Đảng liên tục bị bể kế hoạch thời gian đối với “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ Trưởng Giáo Dục, các trường đại học mọc lên hơn nấm, khiến di họa cho đến tận ngày nay khi gần nửa ngàn trường đại học khó tuyển được sinh viên đến độ Bộ Giáo Dục phải cứu nguy bằng cách bỏ hầu hết các kỳ thi ở trung học và đại học để trường nào cũng có được người đi học, khiến số lượng cử nhân mà người ta ban tặng cho danh xưng “trí thức trẻ” gia tăng trong bảng thống kê không có việc làm “phù hợp” hoặc không có việc làm. Ông Nguyễn Thiện Nhân lẽ ra đã không nên được giao cho trọng trách Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Phó Thủ Tướng, mọi sự dưới quyền giám quản của Ông cũng không có gì để lưu danh hậu thế, để rồi Ông trở thành Chủ tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cho đến tận ngày nay.

D) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Điều cần đặc biệt quan tâm ở đây là: sức mạnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam được duy trì nhờ vào ba thế lực quan trọng của (a) các lực lượng vũ trang, (b) Tổng Liên Đoàn Lao Động, và (c) Mặt Trận Tổ Quốc.

Nếu như các lực lượng vũ trang vẫn luôn là thế lực hùng mạnh của Đảng, thì hai phần còn lại đã, đang, và sẽ có những vấn đề nan giải như sau:

1) Tổng Liên Đoàn Lao Động:

Đây là một tổ chức mang tính chính trị đặc biệt quan trong trong hệ tư tưởng chính trị Cộng sản Mác-xít Lê-nin-nít vốn xem trọng lực lượng lao động nói chung và công nhân nói riêng. Tuy nhiên, vấn nạn ở đây là (a) giới lãnh đạo Tổng Liên Đoàn hầu như chẳng ai xuất thân hay đang thuộc tầng lớp công nhân lao động để danh chính ngôn thuận là thế lực bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân lao động toàn quốc; và (b) với quy trình hội nhập toàn cầu, tham gia các hiệp định khổng lồ, trong đó có những hiệp định mới nhất và to nhất như Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP cùng Hiệp Định Đối Tác Thương Mại Việt Nam – EU, v.v., thì tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải có quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn riêng, khiến lung lay vị thế của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, đặt Tổng Liên Đoàn từ vị trí độc tôn độc quyền xuống vị trí phải cạnh tranh ngang bằng bình đẳng lành mạnh với các tổ chức công đoàn khác của vô số doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam. Vấn đề này có nghĩa là Tổng Liên Đoàn phải hóa thân thành một thực thể đem lợi ích thực tế đến người lao động để thu hút người lao động xin vào hoặc muốn tiếp tục tồn tại dưới sự đùm bọc bảo vệ chở che của Tổng Liên Đoàn; tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với sự thật rằng sẽ có một bộ phận hoặc nhỏ hoặc lớn trong tầng lớp lao động sẽ hoạt động tại những công đoàn khác, tại nơi họ làm việc, công tác.

2) Mặt Trận Tổ Quốc:

Đây là một tổ chức cực kỳ quan trọng, vì rằng nếu lực lượng vũ trang là những chiến sĩ chuyên nghiệp đặc thù và tổng liên đoàn lao động quy tụ toàn bộ lực lượng công nhân lao động của chế độ, thì Mặt Trận Tổ Quốc quy tụ toàn bộ dân chúng còn lại dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa. Với những chức năng đã được luật hóa, cộng với những thách thức khủng khiếp của thời đại, thời cuộc, thời gian, và thời thế, vai trò của Mặt Trận Tổ Quốc và lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc càng trở nên cực kỳ nặng nề, cực kỳ đa dạng, cực kỳ cấp bách, cực kỳ quan trọng, cực kỳ quyết định. Lãnh đạo Mặt Trận, do đó, phải là những người mạnh mẽ, trí tuệ, uy tín, tài năng, có tầm nhìn thấu thị chiến lược được thể hiện cụ thể qua sự “biết lo trước cái lo của người dân”, những yêu cầu mà Ông Nguyễn Thiện Nhân không thể nào đáp ứng đủ đầy.

Trước tình hình mới và nhiều thách thức, Mặt Trận Tổ Quốc dường như biến mất tăm mỗi khi có tụ tập khiếu kiện bức xúc đông người, cứ như phó mặc cho ai khác phải chịu trách nhiệm, chứ hoàn toàn không thể hiện chức năng dân vận, và biến việc gần gũi với nhân dân bị đơn giản hóa thành công đoạn thu thập ý kiến của cử tri để đúc kết chờ đến kỳ họp Quốc hội bảo đảm vị Chủ tịch Mặt trận có nhiều chi tiết để báo cáo, trong khi bất kỳ người dân – cử tri – nào cũng có thể nêu ý kiến bằng thư bưu chính, bằng thư điện tử, bằng phát biểu tại các buổi tiếp xúc cử tri, hay qua báo chí và ở tất cả các phòng tiếp dân của tất cả các cơ quan hành chính các cấp, v.v., chứ không buộc phải gởi đến Mặt Trận để Mặt Trận mỗi năm chuyển tổng kết ra Quốc hội hai lần.

Mặt trận chỉ xuất hiện rầm rộ mỗi năm năm một lần vào dịp bầu cử toàn quốc.

Thậm chí có vị lãnh đạo Mặt trận của Thành phố Hồ Chí Minh lúc đương nhiệm thì chẳng ai biết đến, khi về hưu thì đột nhiên phát hành những bức tâm thư “viết trên giường bệnh” chống đối chế độ.

Dưới đây là một bài viết về Ông Nguyễn Thiện Nhân tôi đã đăng trên Emotino năm 2010 tức trước khi tôi trở thành nghị sĩ Quốc hội khóa XIII (2011-2016); xin đăng lại để chứng minh tầm lãnh đạo của Ông:

E) Bài Viết Năm 2010: 

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên — Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2010

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” và “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dựa trên câu đề xuất của tôi nhưng lại né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức … “chất lượng cao”. Người dân được mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác gặp khó khăn lại sẽ có các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào của Việt Nam không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng, để rồi sau cừng chục năm nữa sẽ phải chứng kiến toàn bộ hàng hóa của ngành công nghiệp bán lẻ ở Việt Nam sẽ tràn ngập hàng hóa của ngoại bang.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (1) có nhận thức đầy đủ rằng nhóm chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (2) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” .

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn là nan y trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

F) Giải Cứu Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Vì vậy, Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nhất thiết phải (a) hiểu rõ trách nhiệm của Mặt Trận trong hoàn cảnh mới đặc thù của Việt Nam và (b) có vị chủ tịch mới để thay thế Ông Nguyễn Thiện Nhân là người chưa hề có chút công trạng cụ thể nào trong thực tiễn quản lý nhà nước của mình.

Bà Trương Thị Mai nên là tân Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ngoài Bà Trương Thị Mai, Việt Nam không có bất kỳ ai đủ tầm, đủ tâm, đủ lực, đủ thần uy bằng Bà Trương Thị Mai để nắm quyền đưa một tổ chức đã có quá khứ vĩ đại như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam quay trở lại vị thế đáng tự hào như ban đầu của nó.

Đừng để một thế lực từng hùng mạnh vốn đã là chủ thể của đại cuộc giải phóng miền Nam nay chỉ còn là một tổ chức chỉ có hư danh mà người dân chỉ biết đến mỗi năm năm một lần qua cuộc bầu cử quốc gia – mà thậm chí ngay cả cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các câp nhiệm kỳ 2016-2021 này cũng không tổ chức ra hồn, không giám sát ra ngô, cho ra kết quả luộm thuộm chẳng ra khoai, và để lại vết nhơ chẳng ra thể thống gì cả của các sai sót và vi phạm pháp luật bầu cử sau ngần ấy thập kỷ tồn tại của mình.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghi-sĩ Đương-nhiệm Quốc-Hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Tham khảo:

Tôi và Lê Hiếu Đằng của Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh  (bài đăng ngày 29-8-2013)

Phim tài liệu về “Xe Đi” của hãng GE Hoa Kỳ thử nghiệm năm 1965: https://www.youtube.com/watch?v=coNO9FpDb6E

Tội Ác Của Bob Kerrey

Tôi Và Fulbright

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-6-2016

Screen Shot 06-03-16 at 06.51 PM

1) Google Tiên Lãng:

Trong một bài viết mới đây, tôi có viết rằng tôi chả thèm đọc bài của mấy cái blog vớ vẩn chống Việt (tức chống Cộng, chống Chính phủ Việt Nam, chống Đảng Cộng Sản Việt Nam, chống thể chế chính trị Việt Nam, và cổ súy cho mấy thứ bị Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã gián tiếp xem là thứ vớ vẩn vô hiệu vô dụng chẳng hạn như “nhân quyền”).

Điều này cũng có nghĩa là tôi chỉ đọc – và thậm chí chăm chỉ đọc – các bài viết của các blog hay web tích cực như Sách Hiếm, Google Tiên Lãng, Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa, v.v., và v.v. Đọc vì..hợp “gu”, đọc để biết các vị này đang “mắng” ai hay việc gì, đọc vì để “né” hầu không viết trùng lặp nội dung, và đọc vì “phục.”  Sao lại không “phục” các vị như Thầy Trần Chung Ngọc và “Cô” Lê Hương Lan cơ chứ?

Cũng nhờ đọc Google Tiên Lãng, tôi biết đến vụ về Bob Kerrey. Và bài viết này không vì “không né” mà vì “hợp gu” nên cách tiếp cận của tôi đối với vụ Bob Kerrey là để làm rõ hơn những góc cạnh khác về Fulbright và về Bob Kerrey. Và do ở Việt Nam cụm từ “nhà sử học” không dành riêng cho người có bằng cấp cao về “Sử”, nên tôi với tư cách một “nhà sử học” thấy mình có thể nói về “Sử” như từ trước đến nay qua bài viết này, đặc biệt nhằm hỗ trợ “nhà sử học” nào chưa dám học tiếng Anh nhưng dám bạo mồm xem tội ác của quân Mỹ không đáng là một phần nên được ghi vào sử sách.

2) Tôi Và Fulbright

Vào những năm 1990 của thế kỷ trước, trong số 27 sinh viên cũ và nhân viên cũ tìm đến tôi để xin tôi giúp một thư tiến cử nộp vào hồ sơ xin học bổng Fulbright, tôi đã nhận giúp đúng 20 người, và cả 20 người đều thành công, được sang Mỹ du học, đã trở về nước, và gần hai thập kỷ nay chưa ai trong số họ phụ lòng tôi khi tất cả đều đi lên với sự nghiệp riêng và không bất kỳ ai chống đối chế độ hay phải đứng trước vành móng ngựa vì trở thành tội phạm.

Lý do để 27 người đó đã xin tôi giúp vì hồ sơ xin học bổng Fulbright cực kỳ chi tiết, đòi hỏi phải được một giáo sư trực tiếp giảng dạy viết lời phê và thư tiến cử, nhưng tất cả các giáo sư phụ trách bộ môn của họ đều (a) không ai viết được tiếng Anh, (b) có thể có vị biết tiếng Anh nhưng không thể nào viết đánh giá sâu sắc và thư tiến cử thuyết phục bằng tiếng Anh, (c) không ai chịu viết thư đánh giá sâu sắc bằng tiếng Việt dù sinh viên lạy lục cầu xin rằng sẽ đem các thư ấy đi nhờ dịch sang tiếng Anh rồi quay lại trình Thầy/Cô ký, và (d) là những vị khét tiếng ở trường đại học ấy do chuyên vòi vĩnh gợi ý sinh viên nên “biết điều” để được đánh giá tốt trong các luận văn tốt nghiệp nên sinh viên e sợ phải tốn kém khủng nếu như hồ sơ học bổng lại là đẳng cấp cao sang cỡ Fulbright cho học vị thạc sĩ.

Tôi đã giúp 20 người vì tôi biết rõ về tư cách của họ. Và tôi viết nhận xét cùng thư tiến cử rồi cho vào phong bì niêm kín (tùy trường hợp có yêu cầu như thế của hồ sơ), trao cho mỗi sinh viên để họ kèm vào đơn xin học bổng. Phong thư dày, vì tôi chưa bao giờ viết ngắn – nhất là viết bằng tiếng Anh. Nội dung tôi viết rất trung thực ngay cả về bản thân mình. Tôi có viết rằng tôi giảng dạy đại học sinh viên ấy nhưng tôi chưa có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, rằng tôi dạy đại học cho sinh viên ấy nhưng không dạy bộ môn mà sinh viên ấy đang xin Fulbright cấp học bổng, hoặc tôi viết rằng người ấy chỉ là học viên lớp tối của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nhưng tôi biết rõ tư cách người học viên ấy cùng quá trình làm việc của người ấy tại các công ty khác, hoặc tôi viết rằng người ấy đã là nhân viên của tôi tại công ty nào, hoặc tôi viết đó là đồng nghiệp của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nào nhưng là vai vế đàn em của tôi, v.v. Tôi cũng trả lời câu hỏi theo tôi thì người ấy khi trở về Việt Nam với thành tích học tập bên Mỹ về môn ấy môn ấy sẽ đóng góp được những gì cụ thể cho Việt Nam theo sự kỳ vọng của tôi. Tất cả tùy vào sự thật mỗi người ấy là ai. Và dù là phong bì niêm kín hay đánh máy ngay trên hồ sơ thì tôi biết chắc chắc rằng Fulbright phải công nhận – từ tàng thư của họ – một điều là không bất kỳ ai trên thế giới này có thể viết các nhận xét chi tiết với chất lượng ý tứ, ngôn ngữ Anh, và độ dài tương tự như sớ Táo Quân. Đó là lý do dù không đáp ứng đúng yêu cầu “giáo sư thực thụ đảm trách bộ môn mà ứng viên xin Fulbright cấp học bổng theo học thạc sĩ hay tiến sĩ tại Mỹ”, thư đánh giá và tiến cử của “thầy giáo đại học môn Anh Văn có bằng cấp cử nhân hạng trung bình màu xanh lè của Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh ” Hoàng Hữu Phước lại khiến Fulbright buộc phải xé rào chấp nhận cấp học bổng cho các anh tài nước Việt.

Tôi đã làm “công tác tư tưởng” đối với các em mà tôi đã viết thư tiến cử rằng (a) học bổng Fulbright là cơ hội quý hơn vàng vì Fulbright chỉ cấp học bổng toàn phần cực kỳ hậu hỉ cho việc theo học chỉ tại những đại học Mỹ nào lừng danh thế giới, (b) người ta cấp học bổng chỉ nhằm tạo nên những người có khả năng khi trở về Việt Nam sẽ trở thành những người có lợi cho Hoa Kỳ, (c) các em được tôi giúp vì tôi kính trọng tư cách của các em cũng như kỳ vọng vào các em đối với những gì các em có thể phục vụ đất nước tốt hơn hay tốt nhất tức những gì bản thân tôi đã không thể thực hiện được do đã không có cơ hội học lên cao như các em, (d) các em phải biết tôi là người như thế nào đối với đất nước này nên đừng bao giờ trở thành thứ ăn bã “dân chủ” hay “nhân quyền” rồi trở thành phạm pháp hay phản quốc, và (e) đừng bao giờ nuôi ý định ở lại Mỹ vì Fulbright cần tất cả trở về Việt Nam để “giúp” Việt Nam thân Mỹ hơn nên do đó trốn ở lại Mỹ sẽ bị chính Fulbright trừng trị.

Đã có những thạc sĩ Việt trở về từ Mỹ nhờ học bổng Fulbright và trở thành những “tù nhân lương tâm”, cứ như thể Fulbright có cấp văn bằng thạc sĩ có giá trị toàn cầu ắt mang tên MCP tức thạc sĩ môn học…“tù nhân lương tâm” vậy, cũng như nếu có “thạc sĩ Luật” nào đó từ học bổng Fulbright về Việt Nam ắt người ta sẽ thấy vị ấy không soạn được dự án Luật nào ngay cả khi có trở thành nghị sĩ Quốc Hội mà trở thành nhà quay phim chuyên rình bấm máy mỗi khi thấy có “xuống đường” ắt để tải lên Facebook minh họa cho lời y đòi “dân chủ” trong “bày tỏ lòng yêu nước”. Và do không thể kỳ vọng gì nơi các luật sư trở về từ học bổng Fulbright, tôi đành dịch bài viết dưới đây của Bill Vann đã đăng cách nay gần 15 năm để bạn đọc biết Bill Vann ngay từ thủa ấy đã viết gì về Bob Kerrey, cũng như từ đó biết luật sư Mỹ John DeCamp đang làm gì khi sang Việt Nam tìm đến Thạnh Phong thu thập chứng cứ để lôi Bob Kerrey ra chịu tội cho cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, một việc mà chỉ có luật sư Mỹ học tại Mỹ như John DeCamp mới làm cho nạn nhân các cuộc thảm sát của Hoa Kỳ, đơn giản vì chỉ có các luật sư Mỹ như John DeCamp mới không bị “tẩu hỏa nhập ma” do biết cái nào là cao lương mỹ vị và cái nào là “bã”.

3) Bài Viết Chống Bob Kerrey Của Bill Vann (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước)

Việt Nam Khép Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Kerrey Vào Tội Ác Chiến Tranh

Bill Vann
06-6-2002

Chính phủ Việt Nam đã cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Bob Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự khép tội này để đáp lại cuốn tự truyện phát hành gần đây mang tựa đề Thủa Tôi Là Thanh Niên, trong đó Kerrey trốn tránh trách nhiệm của mình đối với một vụ thảm sát được thực hiện bởi một đơn vị Hải quân SEAL (biệt kích Thủy Quân Không-Lục Chiến) mà y đã chỉ huy cách nay 33 năm.

“Chúng tôi hiểu sâu sắc và chia sẻ những nỗi đau, nỗi mất mát vô bờ bến mà các gia đình nạn nhân vô tội phải chịu đựng trong vụ thảm sát Thạnh Phong, những người đã bị thẳng tay hạ sát bởi đơn vị Thủy quân của Bob Kerrey,” Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết. “Dù cho Thượng nghị sĩ Kerrey có nói gì đi nữa cũng không thể thay đổi được sự thật. Chính Kerrey tự thừa nhận nỗi xấu hổ của mình về tội ác mà y đã gây ra”, bà Thanh nhấn mạnh.

Theo một bài báo trên Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao tuyên bố rằng Kerrey và “những ai đã phạm tội ác chiến tranh” nên có những bước thực hiện thiết thực để “giúp hàn gắn những vết thương họ đã gây ra.”

Bài báo lên án Kerrey, người hiện là Chủ Tịch của Đại học New School danh tiếng ở thành phố New York, đã tạo ra các mâu thuẫn trong những tuyên bố trong quyển sách y viết năm ngoái thừa nhận vai trò của y trong vụ thảm sát.

Trong một phần cực kỳ ngắn gọn nêu rằng Kerrey có nói sự việc ấy đã làm thay đổi cuộc đời  mình, Kerrey chỉ nêu một cách mơ hồ về những hành động của chính y vào cái đêm 25-2-1969 ấy khi y chỉ huy đội SEAL Hải Quân tiến vào một thôn ấp nhỏ ở Đồng Bằng sông Cửu Long tại Miền Nam. Y viết: “Người chỉ điểm của tôi dẫn đường. Anh ta tiến đến một ngôi nhà mà anh ta bảo mình tin rằng quân giặc đang ở đấy. Chúng tôi đã được huấn luyện rằng trong những tình huống như thế sẽ là quá mạo hiểm để tiếp tục hành quân vì mấy người này sẽ cảnh báo cho quân trong làng trừ phi chúng ta hoặc giết họ hoặc hủy bỏ nhiệm vụ. Tôi đã không phải ra lệnh bắt đầu giết chóc, song tôi lẽ ra đã có thể ngăn chặn và đã không ngăn chặn.”

Liệu y có ra lệnh hay không? Liệu y có tham gia vào việc giết chóc, hay chỉ là một người ngoài cuộc vô tội? Độc giả bị y bỏ rơi trong bóng tối.

Câu chuyện của Kerrey tránh né sự mô tả chi tiết của sự bắt đầu đẫm máu tấn công vào Thạnh Phong như đã đăng trên tạp chí New York Times năm ngoái. Một chiến binh Hải quân phục vụ dưới quyền Kerrey báo cáo rằng đã có năm người trong căn nhà ấy. Một bô lão chống cự và, theo lời kể lại, Kerrey đã quỳ đè lên lưng cụ để một chiến binh khác cắt cổ họng. Bốn người khác, gồm một phụ nữ và ba trẻ em, bị đưa ra ngoài và sát hại từng người một.

Tiếp tục câu chuyện trong cuốn sách mới của mình, Kerrey nói rằng y và quân của mình tiến vào ngôi làng nơi họ thấy chỉ có phụ nữ và trẻ em, thức dậy bởi sự ồn ào nên ra đứng trước cửa. Có người đã bắn một phát súng, Kerry nói, và toán SEAL đáp trả bằng “một loạt súng chát chúa.”

“Tôi thấy phụ nữ và trẻ em trước mặt chúng tôi bị đạn bắn trúng và xé toạt ra nhiều  mảnh. Tôi nghe thấy tiếng kêu thét của họ và những giọng nói khác trong màn đêm khi chúng tôi rút lui về hướng kênh đào.”

Đây là đoạn mô tả duy nhất về vai trò của Kerrey trong cái đêm mà y cùng quân lính do y chỉ huy đã tàn sát 21 phụ nữ, trẻ em và bô lão.

Một trong những quân lính tham gia cuộc tấn công là Gerhard Klann đã kể lại chi tiết hơn với tờ Times về vụ thảm sát. Ông nhấn mạnh rằng không phát súng nào bắn vào các biệt kích SEAL và chẳng có “màn đấu súng” nào cả. Thay vào đó, quân Mỹ lùa các thường dân vào giữa làng và tàn sát họ trực diện. Những người Việt Nam sống sót từ đó đến nay đã ra mặt kể lại câu chuyện giống như nội dung của Klann hơn là phiên bản của Kerrey về cuộc tấn công ấy.

Kerrey hiện đang lưu diễn trong nước nhằm quảng bá cho quyển tự truyện của y, xuất hiện tại các hiệu sách và tổ chức các cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh và truyền hình. Y đã né tránh các thắc mắc của báo chí về tuyên bố của Chính phủ Việt Nam, nhưng lại giận dữ đáp lại một câu hỏi được nêu ra tại một buổi xuất hiện ở hiệu sách tại Thủ đô Washington.

“Tôi đã nói rõ rồi, và bây giờ tôi nói rõ, rằng cả hai phía đều đã gây ra rất nhiều thiệt hại trong chiến tranh Việt Nam,” y nói. “Bạn phải vượt qua điều này. Tôi tin chắc chắn rằng đa số người dân ở Việt Nam muốn tiếp tục cuộc sống của họ.”

Tuyên bố này phù hợp với những nỗ lực phối hợp của các phương tiện truyền thông và chính trị gia cùng phe với Kerrey để dập tắt những tranh cãi về sự tham gia của y trong vụ thảm sát Thạnh Phong. Tờ New York Times thậm chí còn không nói gì đến tuyên bố của Việt Nam tố cáo Kerrey là tội phạm chiến tranh.

Trong khi lúc đầu làm sống lại những cáo buộc về những hành động tàn bạo, cuốn sách của Kerrey dường như được phát hành như một bài tập kiểm soát thiệt hại, nhằm làm chìm xuồng toàn bộ vấn đề. Trong cuốn hồi ký, Kerrey nói về chính mình như là một nạn nhân chính của sự kiện Thạnh Phong, chứ không phải 21 nạn nhân vụ thảm sát và gia đình của họ.

Việc Kerrey nói rằng “cả hai bên đã gây ra rất nhiều thiệt hại” và rằng người Việt Nam nên “vượt qua điều đó” chẳng khác nào một sự tởm lợm viện dẫn tính chất của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và vai trò của mình trong đó. Hơn ba triệu người Việt Nam đã bị sát hại, hầu hết trong số họ là nạn nhân của Mỹ trong các vụ rải bom thảm, bom napalm, và kiểu thảm sát như được thực hiện bởi Kerrey ở Thạnh Phong. Vụ khét tiếng nhất trong số này là do trung úy William Calley thực hiện ở Mỹ Lại, nơi 567 người già, phụ nữ và trẻ em bị sát hại, hầu hết bị bắn chết chung trong một đường mương.

Các cuộc tấn công mà Kerrey tiến hành trong thời gian ngắn y đóng quân ở vùng châu thổ sông Cửu Long là một phần của một chương trình ám sát bí mật của CIA mang tên Chiến Dịch Phượng Hoàng, nhằm tìm và diệt những lãnh đạo chính trị của cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam ở miền Nam. Chiến Dịch Phượng Hoàng gây ra cái chết của hàng chục ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Mục tiêu trong cuộc tấn công vào Thạnh Phong là nhằm vào vị trưởng thôn, người được biết là có thiện cảm với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia chứ không phải là chế độ Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn.

Còn về việc “vượt qua việc đó,” hàng triệu người Việt Nam vẫn gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Chất độc da cam, các loại thuốc diệt cỏ phun từ máy bay Mỹ tiêu diệt rừng cây hầu khiến các chiến binh giải phóng không còn nơi ẩn nấp, đã làm khu vực rộng lớn của đất nước bị ô nhiểm. Là hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học này, chất dioxin độc hại ngấm vào chuỗi thức ăn khiến hàng triệu người bị vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, bao gồm cả nửa triệu trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Washington đã bác bỏ tuyên bố bồi thường, khẳng định rằng không có đủ bằng chứng và, giống như Kerrey, bảo người Việt hãy “vượt qua việc ấy đi.”

Động cơ Kerrey trong đánh bóng vai trò của chính y trong chiến tranh và làm sai lệch bản chất phạm tội của sự can thiệp của Mỹ là hiển nhiên. Là một chính trị gia sáng giá của đảng Dân Chủ, y đã cố giành sự đề cử của đảng Dân Chủ trước đây, và hiện thường được nói đến như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng cho năm 2004. Y vẫn chưa ngừng cuộc đua vào Nhà Trắng.

Trên một mức độ rộng lớn thì nhờ có chiến tranh Việt Nam mà Kerrey thăng tiến sự nghiệp chính trị của y, nhận được sự ủng hộ như một vị anh hùng chiến tranh được thưởng huân chương – y đã được trao Huân Chương Sao Đồng cho chiến công láo khoét về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong được tung hê rằng những kẻ bị giết toàn là “Việt Cộng” – và Huy Chương Danh Dự Của Quốc Hội cho trận đột kích sau đó khi một quả lựu đạn làm y mất phần dưới gối của một bên chân. Trong khi các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam phản đối chiến tranh đã ném vất bỏ huy chương qua hàng rào Nhà Trắng để phản đối sự xâm lăng của Mỹ, thì Kerrey sau khi giải ngũ khỏi Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Washington nhận các giải thưởng từ Richard Nixon.

Kerrey giờ đây tuyên bố đã từ lâu luôn bị ám ảnh bởi cuộc chạm trán đẫm máu ở Thạnh Phong, nhưng y cứ ngậm tăm cho tới khi năm ngoái xuất hiện các sự tiết lộ về vai trò của y. Trong các chiến dịch chính trị thành công của mình cho ghế Thống Đốc Bang Nebraska và một ghế trong Thượng Viện, cũng như sự thất bại trong cuộc chạy đua giành sự đề cử của đảng Dân Chủ năm 1992, y đã dựa hẳn vào một quá trình tham chiến đã miêu tả xằng bậy gọi một hành động tàn bạo chống lại thường dân không vũ trang là một hành động quả cảm anh hùng.

John DeCamp, một đồng nghiệp cũng là chính trị gia Bang Nebraska và cũng là một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, cựu thượng nghị sĩ bang, đã đến thăm Thạnh Phong hồi đầu năm nay, gặp gỡ các gia đình của những người thiệt mạng trong vụ thảm sát. Ông đã kêu gọi Bộ Quốc Phòng mở một cuộc điều tra đối với cuộc tấn công, và đe dọa sẽ thay mặt những người sống sót để khởi kiện đòi bồi thường. Ông nói rằng Kerrey đã từ chối các đề nghị giúp lập nên một quỹ hỗ trợ những người sống sót.

Kerrey đã bác bỏ và gọi các yêu cầu của DeCamp là “vô lý và nực cười.”

Tại sao như vậy? Thành viên của quân đội Serbia đang phải đối mặt với các phiên xử tội ác chiến tranh tại The Hague vì đã thực hiện tội ác không ghê gớm như Kerrey đã làm ở Việt Nam. Đối với vấn đề đó, binh sĩ quèn và vệ binh tuy chỉ “làm theo mệnh lệnh” của quân SS Đức Quốc Xã vẫn phải đối mặt với lệnh trục xuất khỏi nước Mỹ và bị xét xử dù đã 60 năm sau khi gây ra tội ác.

Vấn đề thực sự là vì sao dù cho có sự phơi bày sự dính líu của Kerrey trong vụ thảm sát máu lạnh cùng hành vi che dấu sau đó của y, lại có quá ít yêu cầu mở cuộc điều tra. Tại sao vẫn chưa có một phản đối kịch liệt đòi bãi nhiệm Kerrey khỏi chức vụ chủ tịch New School, một đại học nổi tiếng trong quá khứ về truyền thống giáo dục dân chủ và tiến bộ của nó?

Sau những tiết lộ đầu tiên, hội đồng quản trị của New School mới công bố “hỗ trợ vô điều kiện” họ dành cho Kerrey mà không cần có cuộc điều tra độc lập nào dù nhỏ nhất. Họ vẫn lặng thinh đối với các cáo buộc gần đây của Chính phủ Việt Nam cũng như đối với việc làm giả tài liệu lịch sử trong cuốn sách của Kerrey.

Việc nín thinh của các đồng sự quanh Kerrey bởi phe nhóm chính trị bao gồm những kẻ từng tự gọi mình là những người tự do và phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Nam Á đã có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Các nỗ lực miêu tả một tội phạm chiến tranh, xem y là “nạn nhân” chẳng thua gì những người mà y đã giết chết, không phải là kết quả của sự cảm thông dành cho một cá nhân.

Thay vào đó, giai cấp cầm quyền đã chộp lấy vụ việc của Kerrey làm cơ hội để giáng một đòn mạnh vào di sản của sự phản đối rộng khắp chống lại sự xâm lược bằng quân sự của Mỹ, với số thương vong khủng khiếp của nó nhằm vào thường dân vô tội, cũng như sự hy sinh tàn bạo những chiến binh Mỹ đã được biết đến dưới tên gọi “hội chứng Việt Nam”.

Hơn thế nữa, trong khi Kerrey bị cáo buộc là một cá nhân phạm tội ác chiến tranh, thì vẫn còn có cả phe nhóm chính trị và quân đội – từ Henry Kissinger cho đến Tướng William Westmoreland cùng cựu giám đốc CIA Richard Helms – những kẻ đã trực tiếp ra lịnh thực hiện những tội ác lớn chống lại nhân loại mà chưa bao giờ được đem ra xét xử.

Với sự bùng nổ của chủ nghĩa quân phiệt Mỹ sau vụ 11 tháng 9, vụ Kerrey mang lại ý nghĩa chính trị thậm chí còn to lớn hơn. Lập luận bao che tội ác mà y đã gây ra – cùng vô số những hành động tàn bạo khác đã gây ra trong hơn ba thập kỷ trước – và cố gắng để hợp pháp hóa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam sẽ giúp mở đường cho những cuộc tàn sát mới và khủng khiếp hơn của quân đội Mỹ.

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam buộc Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” và nỗ lực của y trong cuốn tự truyện của mình để một lần nữa bao che cho vai diễn của mình, phải dẫn đến lời kêu gọi hành động của những sinh viên và giảng viên tại New School, những người coi trọng sự thật lịch sử và phản đối chủ nghĩa quân phiệt .

Yêu cầu bãi nhiệm Kerrey khỏi vị trí Chủ tịch của New School là một biện pháp cần thiết để sạch hóa xã hội: cho phép một tên tội phạm chiến tranh làm người đứng đầu một tổ chức hàn lâm lớn chỉ làm hạ phẩm giá của trường đại học và làm ô uế bầu không khí trí tuệ nói chung.

Chiến dịch đòi sa thải Kerrey, tuy nhiên, phải được dẫn dắt không chỉ ở những hành động của một cá nhân. Nó phải được sử dụng như một phương tiện nhằm giáo dục các thế hệ mới của sinh viên, người lao động, và giới trẻ đối với những bài học thật sự về Chiến Tranh Việt Nam, chuẩn bị cho họ chống lại các tội ác chiến tranh mới tại Afghanistan, Colombia, Iraq, và những nước khác.

*********

4) Kết Luận Về Bob Kerrey

Trong bài viết tựa đề Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức đăng trên Emotino, tôi có đưa hình ảnh sau về một cuộc tàn sát khác ở Bến Tre, và hình ảnh cũng do một phóng viên Mỹ thực hiện để tố cáo tội ác của quân đội Hoa Kỳ:

……..Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Screen Shot 06-03-16 at 07.35 PM

…..

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong tỉnh Bến Tre. Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh.

Khi bị lôi ra ánh sáng, Bob Kerrey qua quyển tự truyện của y và các trả lời phỏng vấn đã phạm thêm năm trọng tội gồm

(a) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã nhục mạ ý nghĩa cao quý của các huân chương quốc gia và huy chương quốc hội vốn chỉ dành cho các hành động anh hùng dũng cảm vị quốc vong thân. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(b) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã hợp pháp hóa các hành vi gây tội ác chống loài người, khiến giới trẻ Hoa Kỳ nhập ngũ sẽ lại vướng vào các trọng tội tương tự, có thể đưa Hoa Kỳ vào tình thế nghiêm trọng trước phản ứng của phần còn lại của nhân loại. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(c) Đối với Việt Nam: y tuyên bố rằng cả hai bên – tức Mỹ và “Việt Cộng” – đều đã gây ra những thiệt hại to lớn như nhau, với ngụ ý cả hai đều gây ra những cuộc thảm sát. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(d) Đối với gia đình nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám ngụ ý rằng y mới là nạn nhân của vụ thảm sát Thạnh Phong chứ không phải 21 người Việt bị y sát hại cũng như gia đình của 21 người này. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(e) Đối với gia đình các nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám cười cợt gọi đề xuất của luật sư DeCamp đòi phải bồi thường cho các gia đình của 21 nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong là “vô lý và buồn cười”. Đây là sự ngạo mạn, vô phương cứu chữa, xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

Với tư cách người đã được Fulbright kính trọng – qua việc chấp nhận cấp học bổng cho những người Việt Nam nào có thư đánh giá và tiến cử của tôi, giáo viên Cử Nhân Anh Văn – tôi có lời khuyên ngắn gọn đến Fulbright rằng với thực tế nhiều người có học bổng Fulbright trở thành những “tù nhân lương tâm” do chống chính phủ Việt Nam sau khi “vinh quy bái tổ”, Fulbright nên khôn khéo dấu cái đuôi của mình bằng cách hãy thay thế Bob Kerrey bằng người khác. Trường hợp Đại học Fulbright cần phải có “sớ Táo Quân” tiếng Anh của tôi mới chịu thay thế Bob Kerrey thì cứ lục kiếm tàng thư của chính Fulbright sẽ biết phải gởi yêu cầu ấy đến đâu.

Cựu chiến binh nào của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cũng có thể trở lại Việt Nam thăm chiến trường xưa và làm tất cả những gì mà sự ân hận có thể được diễn đạt bằng lý trí và với khả năng nhận thức sai trái của bản thân trong quá khứ thể hiện bằng sự thực tâm tưởng niệm các nạn nhân, bằng những lời nói đậm ấm tình người, chứ không nhất thiết phải bằng những đóng góp tài chính cụ thể. Vì người Việt rộng lượng và độ lượng, giàu tình cảm và dồi dào sự tha thứ như đã luôn thể hiện từ xưa đến nay.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam do (a) đã bị Chính Phủ Việt Nam cáo buộc tội ác chiến tranh; (b) xuyên tạc, xúc xiểm, xúc phạm Việt Nam; và (c) xuyên tạc, xúc phạm, xúc xiểm các nạn nhân của vụ thảm sát ở Thạnh Phong.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam vì y chỉ là một tên man rợ không đáng được dành cho sự tiếp đón chỉ dành cho con người.

Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế,  Nhà Lập Pháp – Nghị Sĩ Đương Nhiệm Của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Nguồn tham khảo & đọc thêm:

Nguồn bài viết tiếng Anh của Bill Vann trên trang web của tổ chức WSWS của Anh Quốc: https://www.wsws.org/en/articles/2002/06/kerr-j06.html

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Để Đoạt Giải Nobel Văn Chương

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-5-2016

Screen Shot 05-29-16 at 12.45 PM 001

A) Kẻ Bận Rộn

Tôi có thói quen hay tìm đọc những bài báo nước ngoài, những tác phẩm nước ngoài, về những đề tài tôi đã biến thành thói quen tìm tòi từ những năm đại học để có tư liệu và kiến thức phục vụ công việc một giảng viên Anh Văn, đó là về quân sự, vũ khí, thế giới sử, triết sử, tôn giáo, chính trị, môi trường sinh thái, cổ sinh vật học, và văn học nước ngoài. Những nội dung này của thói quen ấy gần đây càng trở nên vừa dễ dàng vừa ít tốn kém nhờ vào phương tiện internet và các công cụ kiếm tìm online. Song, cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà tôi chẳng có thời gian để đọc bất kỳ những gì trái lề trái lẽ trái đạo của bất kỳ ai.

Thời gian trong ngày có hạn nên tôi lại có thêm một thói quen khác để phục vụ thói quen trên, đó là chẳng quan tâm đọc những bài viết chê bai Việt Nam bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của người trong nước hay người ngoài nước viết, do nội dung toàn bộ các chủ đề chê bai của các bài viết ấy đều nằm gọn trong sự hiểu biết của tôi, chẳng hạn khi cựu giám đốc Sở Tư Pháp Thành phố Hồ Chí Minh nhân buổi tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu số 1 gồm ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch, và tôi, tại Quận 3 cuối năm 2011 cầm micro lớn tiếng chống tôi rồi gởi cho cả ba người bức thư mà theo ông nêu rõ các lý do chính đáng cần phải có Luật Biểu Tình, thì tôi phải trung thực thú thật rằng do biết hết các kiểu lập luận tung hê ý nghĩa của Luật Biểu Tình của bất kỳ ai trên toàn thế giới, tôi đã để bức thư còn trong phong bì niêm kín ấy nơi nào mà đến nay tôi cũng chẳng rõ. Tôi chỉ biết rõ một điều là khi ông ấy tại vị, ông ấy vì giữ ghịt lấy chiếc ghế quyền lực mà chẳng mở mồm đề nghị Nhà Nước sớm cho ra Luật Biểu Tình bao giờ, cũng như chẳng hề viết dự thảo Luật Biểu Tình giúp Nhà Nước đẩy nhanh tiến độ ra Luật Biểu Tình, và ông chẳng làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh không còn tầy huầy các vụ khiếu kiện kéo dài hàng thập kỷ của người dân.

Gần đây, các nhà giáo là học trò tôi có cho tôi biết tin cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền Thành phố Hồ Chí Minh đã gởi 8 thỉnh cầu đên bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ, tôi cũng không đọc nội dung mà học trò tôi chuyển bằng email đến, chẳng qua vì tôi có thể hiểu tất cả các thỉnh cầu có thể có cho nền giáo dục Việt Nam, nên dù rất kính trọng cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, tôi vẫn không quan tâm dành thời gian để đọc xem 8 thỉnh cầu ấy gồm những gì.

Và trước cái gần đây ấy, tôi cũng được các học trò cho biết về vụ một giáo viên Văn ở tỉnh nào đó có bằng cấp Thạc sĩ đã đăng một bài thơ lên Facebook mang tựa đề Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh. Tôi cũng theo phong thái cố hữu là sau khi rối rít cảm ơn các em đã không ngừng báo cáo các sự việc diễn ra trong xã hội dân sự, tôi lại tiếp tục tìm đọc trau giồi kiến thức chứ chẳng xem bài thơ đó theo thể nào, gồm mấy câu, gieo vần có chuẩn không. Tôi không cần xem nội dung vì chẳng lẽ tôi lại chưa nắm hết tất tần tật những gì mà những kẻ bất tài vô dụng thường càm ràm ca cẩm về đất nước Việt Nam, về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Chính phủ Việt Nam, về con người Việt Nam, nhất là mới có những sự cố mới tinh xảy ra như tin tức tivi loan tải? Đối với tác giả bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh, tôi có các ý kiến sau, mà tôi biết chắc chắn rằng nếu cô giáo tác giả ấy đọc được bài viết này của tôi sẽ có cơ may tuyệt diệu trở thành văn tài đất Việt đoạt giải Nobel Văn Chương, vì đẳng cấp Thạc Sĩ tại một quốc gia hám chuộng hư danh như Việt Nam luôn máy móc mặc định Tiến Sĩ giỏi hơn Thạc Sĩ, Thạc Sĩ giỏi  hơn Cử Nhân, và ai có mấy cái bằng cấp đại học và trên đại học sẽ tự động trở thành “trí thức”, thì hơn ai hết cô giáo Văn có bằng Thạc Sĩ như tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh lẽ nào không thuộc hàng ngũ đại tài hiếm hoi của ngành giáo không những bản thân sẽ đoạt Nobel Văn Chương mà còn khiến môn Văn trở thành ngành học mũi nhọn ở Việt Nam nhiều nghìn năm văn vật này.

B) Một Ngày Trong Đời

Cuối năm học lớp Nhất (nay là lớp 5) trường Tiểu học Phan Đình Phùng ở Quận 3 Sài Gòn, tôi đoạt giải thưởng toàn niên hạng nhất, với danh dự là Trưởng Đội dự thi Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn (tương tự như Đường Lên Đỉnh Olympia của VTV hiện nay) đã cùng các bạn khác là Tống Kim Lan (nay ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sơn Hải (nay ở Hoa Kỳ) thắng đội nữ sinh áo đầm hồng của trường Hồng Bàng, tôi thấy trong núi phần thưởng ôm về nhà có quyển truyện dịch của tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà lời nói đầu cho biết tác giả là Alexander Solzhenitsyn của Nga Sô (cách Sài Gòn gọi Liên Xô) đã trốn khỏi Nga Sô và được nhận giải Nobel Văn Chương cho tác phẩm ấy. Tác phẩm dày cộm đó bắt đầu câu truyện vào sáng sớm khi các tù nhân lũ lượt ra công trường lao động khổ sai và kết thúc vào buổi chiều tà trong cùng ngày hôm ấy khi các tù nhân lê lết trong tuyết giá trở lại trại giam, cho thấy mức độ khủng khiếp của chỉ một ngày thôi đã ra sao trong suốt thời gian lao động chung thân tại địa ngọc trần gian đó.

Thế nhưng, nay với phương tiện internet, tôi biết bảy chi tiết quan trọng từ thông tin nội khối tư bản phương Tây rằng (a) sự cứng rắn tuyệt đối thời Stalin là có thật do bàn tay sắt có thật đã phát huy tác dụng tối đa có thật trong cai trị đất nước để có thể đơn thương độc mã thật sự đánh thắng Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, và Quân Phiệt Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến; (b) bản thân Alexander Solzhenitsyn chỉ huy một cánh quân Hồng Quân chiến đấu trên các chiến trường chính trong Đệ Nhị Thế Chiến với 2 lần được thưởng huy chương và một Huân Chương Sao Đỏ năm 1944; (c) bản thân Alexander Solzhenitsyn từng bị tù đày từ 1945 đến 1953 tại trại Karaganda ở Bắc Kazakhstan do viết lách chống đối, gọi Stalin là Lão Già Râu Kẽm; (d) sau khi mãn hạn tù đày, Alexander Solzhenitsyn dự theo kinh nghiệm bản thân viết nên tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich để tả lại những hà khắc tại trại lao động mà bản thân ông đã kinh qua, và bản thảo này đã được lãnh đạo Cộng Sản Nga là Nikiti Khrushchev duyệt cho phép in ấn phát hành; (e) Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel Văn Chương năm 1970 cho tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nhưng ông chỉ gửi bài phát biểu nhận giải chứ quyết định không đi nhận giải tại Stockholm vì sợ bị cấm trở về nước; (f) Alexander Solzhenitsyn bị lên án là kẻ thù của quốc gia, bị tước quốc tịch, và bị trục xuất khỏi Liên Xô năm 1974 sang Tây Đức và trở về Nga năm 1994 khi Liên Xô tan rả; và (g) tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich được nước Anh dựng thành phim nhưng bị nước Phần Lan cấm chiếu.

Screen Shot 05-29-16 at 11.25 PM

Như vậy, không như tuyên truyền hoàn toàn xằng bậy của Việt Nam Cộng Hòa, Alexander Solzhenitsyn (a) không đào thoát trốn khỏi Liên Xô, (b) không bị Cộng Sản “đì” vì viết Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà tác phẩm này được chính lãnh tụ cứng rắn Khrushchev cho phép ấn hành, (c) bản thân rất sợ không được cho ở lại đất nước Liên Xô, (d) bản thân không đến Stockholm nhận giải Nobel nên không có chuyện buộc phải sống lưu vong vì Liên Xô phong tỏa đường về, (e) bản thân là người yêu nước chiến đấu trên mặt trận lửa đạn kinh hoàng của Thế Chiến II dưới quân lệnh nghiêm ngặt khủng khiếp của Stalin và có chứng kiến những sự hành quyết quân thù mà sau đó các địa điểm mồ chôn đều được kiểm chứng, và (f) bản thân là tù nhân của trại cải tạo lao động khét tiếng mà bản án còn ghi sau mãn án lưu đày viễn xứ sẽ bị quản thúc suốt đời nơi vùng sâu vùng xa biên cương Kok-Terek.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ câu chuyện về văn hào Alexander Solzhenitsyn là:

Nếu muốn sáng tác rùm beng một vụ việc “tiêu cực” hoặc “đáng sợ” hay “đáng tởm” ở Việt Nam chẳng hạn như vụ “cá thối” thì bản thân cô giáo thạc sĩ nên có thâm niên bản thân hành nghề săn bắt cá, có thực tế bản thân bần cùng khốn khổ do hết nẻo sinh nhai do cá chết sạch mà nhà nước cộng sản Việt Nam chẳng ra tay cứu tế chẩn bần, có thực tế bản thân bị hỗn bệnh tức bệnh hỗn hợp của tịt mũi, tắt tiếng, sưng họng, loét ruột và tiêu chảy vì ăn cá chết ngay tại vùng biển bị nhiểm độc hóa chất ấy, có thực tế bản thân từng nhiều lần được nhà nước trao tặng huy chương vì sự nghiệp bảo vệ môi sinh, có thực tế bản thân yêu đất nước rất sợ bị tước quốc tịch Việt Nam để phải sang Mỹ lưu vong, v.v. Và chỉ cần hội đủ các điều ấy – cộng với việc nhờ một nhà dịch thuật tài hoa nào đó không rõ có ở Việt Nam không để chuyển tải bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh ra tiếng Anh thơ ca hàn lâm – thì bảo đảm Giải Nobel Văn Chương không thể nào rơi khỏi tay cô giáo Văn có bằng cấp thạc sĩ ấy.

Do chỉ lo sáng tác toàn tưởng tượng, đơm đặt về đất nước, về chế độ cộng sản, hoặc nêu những sự thật có mức độ tiêu cực bình thường nước nào chẳng có, nên các “nhà văn” hầu như chỉ viết lên những chi tiết điên khùng như chuyện anh bộ đội sau chiến tranh về ôm hít chiếc quần xì-líp phụ nữ, thậm chí nhai nuốt chiếc quần ấy, như sự bung ra của dồn nén tình dục mà đời sống khắc khổ khiến các chiến sĩ giải phóng quân nào cũng bị ức chế hóa điên, chứ không như các chiến sĩ Cộng Hòa lành mạnh tinh thần vì mỗi lần xả trại là đến ngay các khu vực như Ngã Ba Chú Ía tấp nập cung cấp dịch vụ giải quyết sinh lý với giá cả phải chăng cho những anh hùng chống Cộng bảo vệ quê hương. Cũng vì vậy mà tất cả – xin nhắc lại là tất cả – những cái gọi là “tác phẩm” văn thơ mang hơi hướm tấn công tiêu cực hay “hiện thực phê phán” xuất phát từ Việt Nam đều là thứ thậm chí không có được ngay cả cái danh dự được nằm trong sọt rác của ban xem xét giải Nobel Văn Chương mà chỉ cung cấp cho giới chống Cộng có tư liệu bằng vàng để hả hê cười nhạo chế độ Cộng sản Việt Nam, cười nhạo nhiều chục triệu người dân Việt Nam đang sống tự hào tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nghĩa là ngoài sự được ngợi ca bởi những kẻ thù của chế độ và những kẻ không bao giờ nằm trong danh sách những nhà xuất bản danh tiếng hàn lâm toàn cầu, các “tác phẩm” ngay cả có được in ra ở nước ngoài thì cũng chỉ phục vụ một bộ phận không lớn những người gốc Việt hoặc những người ngoại quốc tò mò, rồi quyển này quyển nọ cũng tự động xếp hàng tuần tự trước sau nghiêm chỉnh bước lùi hết vào quên lãng.

C) Trong Trại Tập Trung

Screen Shot 05-29-16 at 03.57 PM

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm văn học nào của nước ngoài để hiểu tính nhân văn nhân đạo luôn là chuẩn mực cao nhất, quyết định sự sinh tồn miên viễn của một tác phẩm với thời gian. Chỉ cần đọc các nhật ký viết trong các trại tập trung Đức Quốc Xã của những bé gái mà ngay cả mộng ước được trở thành cô giáo cũng bốc hơi trong lò thiêu diệt chủng, nói gì đến chuyện được ăn học thành tài, có bằng thạc sĩ, được sống với nghề giáo trong một đất nước hòa bình, ổn định, hào hùng như cô giáo dạy Văn có bằng thạc sĩ nhà ta.

Hãy tìm đọc các quyển nhật ký được viết trên những tờ giấy vàng bẩn được các đoàn quân giải phóng của Mỹ và Liên Xô moi ra được từ những hốc kẹt trong vách tường, như của các cô bé Helga Weiss, Helga Deen, Regina Honigman, Miriam Watternberg, Irena Gluck, Renia Knoll, Halina Nelken, Elsa Binder, Luthka Leiblich, Ilya Gerber, Tamara Lazerson, Gertrude Schneider, mà đặc biệt là Ann Frank, v.v., hay của các cậu bé Alexander Mayer, Dawid Sierakowiak, Dawid Rubinowicz, Yitskhok Rudashevski, Gabik Heller, v.v., để biết rằng sự bất tử của các “tác phẩm” ấy là do (a) được viết nên một cách chân phương chân thật chân chất chân thiết chân thành bởi những người thực sự trong cuộc, thực sự nếm trải mà kết cuộc thực sự của sự nếm trải thực sự đó là thân thể héo hắt trơ xương trần truồng của họ chất chồng trong các lò hơi ngạt; (b) được viết nên với sự trong sáng yêu đời dù trong hàng rào kẽm gai của lao động khổ sai đói lạnh khi chưa bị kêu xếp hàng để tiến đến lò thiêu; (c) nội dung toàn là những sự thật được kiểm chứng qua số liệu kinh hoàng của núi răng bọc vàng nhổ từ các đầu lâu mà các sĩ quan Đức Quốc Xã thu gom; và (d) nội dung về những sự kinh hoàng giống nhau dù được lén viết bởi những bé khác nhau tại các trại tập trung khác nhau ở nhiều nước khác nhau mà quân đội Đức chiếm đóng.

Screen Shot 05-29-16 at 03.54 PM

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương, từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, là: hãy cứ sáng tác các bài thơ bài viết bươi móc các thối hôi của các thùng rác nếu như khẳng định rằng (a) bản thân không thể viết gì tốt hơn, (b) bản thân hiểu rõ nước nào cũng có những thùng rác, và (c) bản thân viết để đừng quên từ vựng tiếng Việt và chỉ để trữ lưu cho cá nhân chứ không để tung lên mạng xã hội vì đã có sự hiểu biết rằng người nghèo khổ có thể bới thùng rác để tìm thứ vẫn còn hữu dụng chứ chỉ có kẻ vô giáo dục mới lấy các rác ấy đi vất khắp hẽm các đường phố như ném một thứ gì đó tiêu cực lên không gian mạng vậy.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, còn là: nếu thực sự người ta có linh hồn thì các cô bé cậu bé ấy ắt sẽ ngạc nhiên không thể hiểu vì sao trong lúc các em vẫn yêu đời, vẫn làm thơ ngợi ca cuộc sống, vẫn cố kiếm màu để vẽ các cảnh vật xung quanh, thì các bác các chú các cô các dì các mợ ở Việt Nam ăn ngon, mặc đẹp, đi xe tốt, giải trí đủ đầy, tiện nghi thừa mứa, lướt web kết bạn bốn phương tám hướng, học hành tới nơi tới chốn, có người thân ở gần, có đồng bào ở quanh, được dân chủ tự do mà vẫn không nhìn thấy bất kỳ cái gì hay cái gì đẹp ở quanh mình.

Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 001Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 002

D) Gương Báu Ngàn Xưa

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cùng các em bé tận dụng những ngày trước khi bị ném vào lò hơi ngạt để tập tành làm nhà văn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ và những người như cô giáo đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm của các danh nhân thuộc gương báu ngàn xưa của lịch sử Việt Nam.

Đặng Dung trong hoàn cảnh cha của ông là Đặng Tất bị vua (tức…“chế độ” quân chủ) xử trảm, nhưng ông vẫn ra giúp vua cứu nước, và khi cất tiếng ngâm bi tráng “Thù trả chưa xong, đầu đã bạc; Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài”, Ông đã nói “thù” với nghĩa “thù” quân xâm lược, với nỗi lòng khắc khoải muộn phiền tuổi tác chất chồng mà vẫn chưa giúp vua hoàn tất đại cuộc bảo vệ quê hương. Đó là nghĩa khí nghĩa dũng nghĩa nhân của bậc hiền nhân quân tử Việt Nam. Đó là cung cách sống của tất cả những người Việt Nam có giáo dục.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những gương báu của ngàn xưa của các danh nhân lịch sử Việt Nam mà Đặng Dung làm biểu tượng là:  không phút giây nào đặt danh dự nước nhà thấp hơn sự ngẫu hứng cá nhân, thấp hơn quyền lợi cá nhân, thấp hơn định kiến cá nhân, và thấp hơn chủ quan cá nhân.

Alexander Solzhenitsyn đoạt giải Nobel Văn Chương vì tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nói lên sự thật mà bản thân ông thực sự trải nghiệm, được lãnh đạo Liên Xô công nhận giá trị, được đất nước cộng sản của ông nhìn nhận giá trị, từ đó lan ra thế giới. Ông không là kẻ hèn hạ viết vớ va vớ vẩn lén lút gởi ra nước ngoài cho những kẻ chống lại đất nước của ông.

Cô giáo dạy văn có bằng cấp thạc sĩ – tuy không rõ bằng thạc sĩ về cái gì – ắt không khó khăn để hiểu bức thông điệp ngắn gọn gởi đến cô qua bài viết không ngắn gọn ở trên, đó là sự kỳ vọng rằng trình độ của cô sẽ giúp cô hiểu vấn đề, thi thố tài năng để cho ra đời những áng văn thơ ngợi ca cuộc đời, làm bật ra được những tốt đẹp mà người đời chưa nhận ra được, để làm cho học trò của cô yêu môn Văn, giỏi môn Văn nhờ thán phục thực tài của cô, giúp môn Văn trở thành môn đỉnh của các anh tài nước Việt, củng cố cho học thuyết của tôi rằng muốn giỏi ngoại ngữ trước hết phải giỏi Văn tiếng Việt, và chẳng thể yêu nước nếu không giỏi Văn tiếng Việt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giới thiệu vài bài đọc thêm:

Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Tuyệt Thực 02-7-2013

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 26-10-2013

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phụng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa – Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt 01-9-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập 06-4-2015

Nhà Giáo Mỹ

“National Teacher of the Year 2016” 

Thử Ngẫm Về Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-5-2016

Bản dịch tiếng Việt từ một email tiếng Anh:

*********

Ngày 06 tháng 5 năm 2016 lúc 2 giờ sáng

From:  …….@……gov.com

To: hhphuoc@yahoo.com

Chào Thầy:

Em là………….. và tuần này em có vinh dự thật lớn lao được vinh danh Quốc Sư  Năm 2016 của Hoa Kỳ.

Em muốn Thầy đọc email của Bộ Trưởng Giáo Dục John King gởi cảm ơn các nhà giáo trên toàn quốc. Cả Thầy và em đều biết vai trò quan trọng mà các nhà giáo đảm trách trong việc xây dựng tương lai cho đất nước, và rằng các nhà giáo nên đi đầu trong sự thay đổi có ý nghĩa vì lợi ích của học trò.

Học trò của Thầy trong nghề giáo,
……………….
From:   John King, Bộ trưởng Giáo dục
Date:   Thứ Hai 2 tháng 5, 2016
Subject: Cảm ơn các bạn nhà giáo

Bạn thân mến,

Tuần này, đất nước chúng ta công nhận và tôn vinh các nhà giáo trên toàn quốc cho những nỗ lực không mệt mỏi của họ vì học trò của chúng ta ở khắp nơi, từ các thị trấn và vùng ngoại ô, cho đến các cộng đồng nông thôn và vùng bộ tộc cùng các thành phố lớn. Các nhà giáo làm một trong những công việc đầy thách thức và hoàn chỉnh: định hình và thay đổi những cuộc đời.

Nếu bạn là một nhà giáo, hoặc nếu bạn quen biết một nhà giáo, bạn sẽ biết những thời gian dài và công sức nhà giáo đã dành ra để thiết kế những bài học đầy thách thức, hướng dẫn học trò và cung cấp thông tin phản hồi, gắn bó với bố mẹ và gia đình học trò, cộng tác với đồng nghiệp, thể hiện qua giảng dạy, và không ngừng cập nhật nghiên cứu.

Song, nhiều việc bạn cũng thực hiện lại mang tính phi vật thể – đó là củng cố ngọn lửa gần như không thể tả được nhưng không thể nhầm lẫn giữa bạn và học trò của bạn. Ngọn lửa ấy hiện hữu khi bạn nhìn thấy được tiềm năng của mỗi học trò nào bước vào qua cánh cửa của bạn, ngay cả khi học trò ấy có thể chưa nhận ra năng lực bẩm sinh của riêng mình.

Đối với tôi, tầm quan trọng của giáo viên mang tính cá nhân. Thầy Cô của tôi đã cứu cuộc đời tôi qua việc dành cho tôi sự yêu thương, sự hỗ trợ, sự an toàn, và những kỹ năng đặt nền móng cho rất nhiều những cơ hội tôi đã may mắn có được trong suốt sự nghiệp của mình trong ngành giáo dục.

Dạy học thực sự là một nghề nghiệp đặt bệ phóng cho mọi sự nghiệp. Cảm ơn các bạn đã chia sẻ với các học trò của mình niềm đam mê của bạn dành cho các ngôn ngữ, âm nhạc, văn học, toán học, khoa học, kịch nghệ, lịch sử, và vô số các môn học khác. Cảm ơn các bạn đã trao quyền cho giới trẻ của chúng ta và thúc đẩy hơn nữa công bằng xã hội bằng cách không bao giờ hài lòng cho đến khi tất cả trẻ em được tiếp cận với một nền giáo dục tuyệt hảo.

Chúng tôi hiểu rằng tiếng nói của nhà giáo là một phần quan trọng của những đối thoại ảnh hưởng đến học trò cũng như nghề giáo của bạn, và chúng tôi cam kết đảm bảo các bạn được hỗ trợ để bạn có thể hàng ngày làm tốt nhất công việc của bạn thay mặt cho trẻ em của chúng ta.

Hôm nay và từng ngày một, chúng tôi chào mừng và cảm ơn các bạn vì vai trò quan trọng các bạn đã giữ trong việc hỗ trợ học trò và tăng cường sức mạnh cho tương lai của đất nước chúng ta.

Với lòng biết ơn to lớn,

John B. King, Jr.
Bộ trưởng Giáo dục
Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ

*********

Hình thức cùng nội dung của bức email trên đã nêu bật rằng

1) Vai trò của Bộ Trưởng Giáo Dục Mỹ rất to lớn, rất thực quyền và thực uy, rất mang tính trách nhiệm cá nhân, cũng như quan trọng bậc nhất và duy nhất trong nền giáo dục Hoa Kỳ; và rằng

2) Tương tự, vai trò của nhà giáo Mỹ rất to lớn, rất mang tính trách nhiệm cá nhân trong đáp ứng các yêu cầu của nghề giáo, kể cả hai việc bình thường luôn có của không ngừng nghiên cứu cập nhật kiến thức và truyền tải được niềm đam mê học tập từ bản thân lan tỏa sang các học trò đối với tất cả các môn học.

 

Thử ngẫm và thử nghĩ:

Tại sao học trò Việt Nam không đam mê học Sử? Việt Sử và Thế Giới Sử?

Và tại sao học trò Việt Nam bị tước đoạt quyền được tiếp cận đại dương kiến thức qua việc “bị” miễn / giảm số lượng môn học và môn thi để nhóm từ “and myriad other subjects” tức “và vô số các môn học khác” vĩnh viễn không bao giờ tồn tại trong các diễn văn của lãnh đạo nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Khởi Nghiệp Entrepreneurship hay Intrapreneurship

Nhận Định Duy Nhất Đúng Về Khởi Nghiệp – Bài Viết Dành Cho Giới Trẻ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-5-2016

A- Vấn Nạn

Như đã được đề ra trong các phát biểu bởi những vị lãnh đạo nhà nước hay tại các hội thảo chuyên đề được tải đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam đã và đang có vấn nạn về số lượng bội thực của “đào tạo” cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, số lượng gần như bằng zero những “công trình nghiên cứu” của các vị này trên các tạp chí quốc tế khoa học chuyên ngành, cũng như số tỷ lệ cao ngất ngút hàng năm về thất nghiệp của các vị này.

Từ những gì đã được đề ra trong các phát biểu bởi những vị lãnh đạo nhà nước hay tại các hội thảo chuyên đề được tải đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam dường như đã và đang rất phấn khích đối với chủ đề “khởi nghiệp” mà nội hàm của “khởi nghiệp” bị vô tình hay cố ý nhầm lẫn để chỉ ôm gọn trong nó ý nghĩa duy nhất của “khởi nghiệp doanh nghiệp”, khiến người người sau khi nườm nượp tiến vào các trường đại học, nườm nượp giơ cao tấm bằng đại học, lại nườm nượp mơ màng nuôi mộng trở thành những nhà khởi nghiệp entrepreneur.

Như đã được tác giả bài viết này phân tích trong bài viết trước đây về chủ đề “cẩm nang khởi nghiệp”, lẽ ra người ta đã phải có sự phân định rạch ròi giữa “khởi nghiệp sự nghiệp” tức “khởi nghiệp cá nhân”, “khởi nghiệp doanh nghiệp” và “khởi nghiệp quốc gia” trước khi quảng bá hay hô hào về cái gọi là “khởi nghiệp” để giới trẻ tránh được sự lầm lạc trong ma trận mê cung mà kiếm hiệp gọi là tẩu hỏa nhập ma, vì đối với mọi con người có sự lành mạnh trong cả sức khỏe tinh thần và tâm thần thì khởi nghiệp sự nghiệp mới là điều duy nhất quan trọng cho cả cuộc đời mỗi người.

Khởi Nghiệp Sự Nghiệp còn gọi là khởi nghiệp cá nhân khi một con người có (a) tâm huyết, (b) ý chí, (c) sở thích, (d) sở trường năng lực, (e) hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội, đã dựa trên tất cả năm thứ tương tự hành trang hay trang bị cần và đủ này để lập kế hoạch thích hợp ngay khi còn dưới mái trường trung học cho chính tương lai của mình. Tâm huyết cho biết ý nghĩ của bản thân đã hướng thượng ra sao đối với một lý tưởng – đặc biệt khi phạm trù “lý tưởng” chỉ có thể phát sinh, dưỡng nuôi, phát triển, và tồn tại chỉ khi người ta còn rất trẻ để từ đó hoặc thui chột biến mất theo tuổi tác hoặc thăng hoa bất kể tác động tàn phá của thời gian. Sở thích còn gắn liền với sở trường năng lực trong trường hợp sở thích đồng thời có kèm theo năng lực năng khiếu đáp ứng tương hợp với sở thích. Và hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội để giúp một người đi đến quyết định lựa chọn hợp lý theo đạo lý, từ đó bản thân (a) không vướng vào tình cảnh nhẫn tâm khi buộc cả cha mẹ và anh chị em phải hy sinh để cung ứng cho mình điều kiện trèo lên bậc thang có gắn chữ “đại học” hào nhoáng hữu danh vô thực, (b) không đặt bản thân vào tình cảnh gia nhập đoàn quân thất nghiệp của tập đoàn quân cử nhân – thạc sĩ – tiến sĩ, (c) chủ động cho cuộc mưu sinh của bản thân đáp ứng đúng nhu cầu của xã hội từ đó có thể cưu mang sự sống của đấng sinh thành cùng tương lai của các em mình cũng như gia đình riêng của mình.

Đặc biệt, khi một cá nhân trở nên xuất chúng với nghiệp vụ của mình – nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao đặc thù – được một công ty tầm cỡ tuyển dụng để có môi trường phát triển mạnh mẽ nhất về tài năng, người ấy có thể được gọi là một nhà khởi nghiệp sự nghiệp tức intrapreneur.

Như vậy, đâu là sự khác biệt giữa nhà khởi nghiệp entrepreneur mà quá nhiều bạn trẻ Việt Nam trong thời hiện đại mơ màng đến, và nhà khởi nghiệp intrapreneur mà hầu như chỉ có tất cả các bạn trẻ thời Việt Nam Cộng Hòa đều sống theo như thế để rồi hện nay trở thành trào lưu của các tổng công ty hùng mạnh ở Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao và y-sinh-dược học?

B- Nhận Diện Vấn Đề

1) Entrepreneurship

Khởi nghiệp Entrepreneurship là khi một nhà khởi nghiệp entrepreneur chấp nhận “lời ăn, lỗ chịu” đứng ra mở một doanh nghiệp nhỏ để làm chủ nhân doanh nghiệp ấy, trên cơ sở bản thân vững tin vào ý tưởng kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ của mình, nhất là khi ý tưởng ấy mang tính đột phá, sáng tạo, có khả năng kiến tạo lợi nhuận, dù không thể phủ nhận có sự tiềm tàng những rủi ro thất bại cho sự dấn thân này.

2) Intrapreneurship

Khởi nghiệp Intrepreneurship là khi một người tài giỏi được thuê làm việc cho một công ty lớn và công ty này cung cấp các phương tiện làm việc tối ưu và tối tân phục vụ cho việc nghiên cứu sáng tạo của người tài giỏi ấy, chấp nhận các rủi ro thất bại bất kể các đầu tư tài chính khổng lồ.

Thật ra từ ngữ nhà khởi nghiệp intrapreneur xuất hiện từ năm 1978 và trở nên phổ biến khi được giới truyền thông sử dụng năm 1985 qua phát ngôn của Steve Jobs, Chủ Tịch Apple, và chính thức được ghi vào quyển từ điển The American Heritage Dictionary of the English Language năm 1992. Nếu như entrepreneur là một doanh nhân làm chủ một doanh nghiệp nhỏ, tự lo vốn để hoặc thực hiện sáng kiến của mình hoặc chạy theo thời cùng thị hiếu của thị trường, thì intrapreneur là một doanh nhân làm việc cho một doanh nghiệp lớn để phát huy sáng kiến, sáng tạo, thực hiện biến các sáng kiến, sáng tạo ấy của mình thành những đột phá lợi nhuận cho doanh nghiệp cưu mang mình, theo sự chu cấp tài chính dồi dào của doanh nghiệp lớn ấy. Có thể nói rằng một intrapreneur là một entrepreneur nội bộ của một công ty lớn, tại đó một intrapreneur được chủ động như một entrepreneur nhưng với nguồn cung cấp tài chính dồi dào cùng nguồn nhân lực của công ty lớn ấy để thực hiện sáng kiến sáng tạo của mình cho đến khi thành công mà không bị lâm vào hoàn cảnh của entrepreneur do entrepreneur phải gánh chịu trách nhiệm về tài chính cho mọi thất bại.

Những thí dụ điển hình cho sự động viên “người tài” nội bộ trở thành intrapreneur chủ động theo đuổi dự án riêng, phát huy sáng kiến sáng tạo và thực hiện sáng kiến sáng tạo ấy bằng tiền của công ty thường được đưa ra làm dẫn chứng như tại các công ty Lockheed Martin, 3M, HP, Intel, Google, Xerox, Siemens, và Microsoft, v.v., có nơi lập hẳn một chương trình dài hạn nhằm biến 300 manager (cấp quản lý cấp cao) của họ thành những intrapreneur có khả năng nhận diện cơ hội kinh doanh mới, có tiềm năng lợi nhuận cao, và thực hiện các dự án “tự tìm ra” mang tính đột phá mới lạ hấp dẫn ấy.

Tránh né rủi ro, khiếp sợ thất bại, và trừng phạt sự thất bại là những đặc thù của doanh chủ entrepreneur khiến những điều lý tưởng như phát huy sáng kiến kinh doanh của bản thân hoặc chỉ thực hiện được ở giai đoạn “khởi nghiệp doanh nghiệp” hoặc khó trở thành hiện thực hoành tráng cụ thể về sau do thiếu tài lực chịu đựng các rủi ro, thất bại. Điều này lý giải vì sao mặc cho trên lý thuyết luôn có sự ngợi ca hô hào động viên phát huy các sáng kiến sáng tạo đột phá siêu lợi nhuận tại tất cả các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp vẫn thất bại về mặt phát huy này.

C- Đặc Thù Việt Nam

Như đã nêu ở trên, dạng thức Intrapreneurship đã tồn tại đương nhiên mặc định nơi giới trẻ của Việt Nam Cộng Hòa. Thế nhưng, vì sao hiện nay Intrapreneurship lại trở thành vấn đề thời thượng tại siêu cường Hoa Kỳ? Từ sự tồn tại đương nhiên mặc định, Intrapreneurship trở thành bài bản phát triển chuyên nghiệp mang tính thế lực trỗi vượt cạnh tranh cực cao của các đại gia tư bản do tác động tích cực của Intrapreneurship đối với sự phát triển tổ chức cùng gia tăng lợi nhuận của tổ chức qua thực tế chứng minh rằng các đại gia tư bản nào hình thành cơ cấu và cơ chế ủng hộ sự dấn thân của các doanh nhân Intrapreneur sẽ biến đại công ty thiên hẳn về Intrapreneurship và có cơ hội lớn hơn đối với sự phát triển so với các đại công ty khác có hoạt động Intrapreneurship kém được quan tâm hơn.

Tại Việt Nam Cộng Hòa, học sinh như có khả năng thiên phú trong vô thức tự thân sẵn có các trang bị của năm vũ khí như đã liệt kê ở trên trong phần A nói về Khởi Nghiệp Sự Nghiệp tức khởi nghiệp cá nhân bao gồm (a) tâm huyết, (b) ý chí, (c) sở thích, (d) sở trường năng lực, (e) hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội. Từ những nhận thức mang tính vô thức này, học sinh chủ động khôn ngoan lựa chọn con đường dấn thân của mình để hoặc đi theo con đường trường kỹ thuật (mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay đã hoàn toàn sai khi hạ phẩm giá thành “trường nghề hay trường cao đẳng nghề”) từ năm học lớp 9 để nhanh chóng tốt nghiệp dấn thân cho sự nghiệp thiên năng khiếu kỹ thuật này với danh xưng đầy danh dự của các “cán sự”, hoặc tiếp tục đi theo con đường nhiêu khê mất thời gian hơn để kết thúc lớp 12 với kỳ thi Tú Tài lắm rủi ro trước khi đối mặt với kỳ thi đại học cực kỳ khó khăn, hoặc đi theo đường binh nghiệp.

Tại Việt Nam ngày nay, học sinh hầu như không còn khả năng thiên phú trong vô thức tự thân như trên, dẫn đến hiện trạng học sinh lớp 12 vẫn chưa thể khẳng định sự liên kết chặt chẽ giữa cái mình muốn trở thành gì, mình có năng lực cho cái mình muốn trở thành ấy không, xã hội có chào đón cái mình muốn trở thành ấy không, và gia cảnh có đòi hỏi mọi người phải hy sinh tất cả để mình được vào đại học – chứ không phải để mình trở thành cái mình muốn trở thành. Đại học trở thành từ ngữ duy nhất chứ không là một thành tố của các sự lựa chọn cân đong đo đếm của học sinh, do có sự xuất hiện tràn lan của các trường đại học cùng cả ngàn phân khoa đói khát sinh viên, cũng như do việc thi cử hoặc bị tầm thường hóa thành “chỉ hỏi những gì đã học trong chương trình học” thay vì kén chọn năng khiếu người tài, hoặc bị triệt tiêu không cần thi cử để “đáp ứng nhu cầu học đại học của toàn dân”. Và chính sách giáo dục như thế của nhà nước đã triệt tiêu tất cả nỗ lực của chính nhà nước trong các kế sách phát triển các “trường nghề” nhằm đáp ứng nhu cầu quá cao trong xã hội khi công nghệ kỹ thuật dù được vinh danh trong quốc sách “hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước” ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước vẫn chưa bao giờ được đặt ở vị trí trang trọng đúng ra luôn là của nó.

Với sự khập khiểng như thế từ khâu đào tạo và cấp phát văn bằng, người thụ  hưởng – tức các học sinh – lại bị huyễn hoặc bởi các hào quang giả trá của “quản trị kinh doanh” và bởi sự ra rả mọi lúc mọi nơi về “tinh thần khởi nghiệp”, nên vô tư hăng hái trả lời phỏng vấn rằng “Em muốn trở thành Bill Gates”, rằng “Em sẽ mở doanh nghiệp”, rằng “Em muốn làm một doanh nhân”, v.v. và v.v.

Với sự khập khiểng như thế từ khâu đào tạo và cấp phát văn bằng, người thụ  hưởng – tức các học sinh – hưởng thêm lợi lộc từ sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại của tất cả các trường đại học nước ngoài (như giảm học phí, cấp học bổng bán phần, chấp nhận cho học thêm tiếng Anh sau do kém tiếng Anh, chấp nhận cho học thạc sĩ quản trị kinh doanh mà không cần phải có tối thiểu bao nhiêu năm làm việc thực tế sau tốt nghiệp đại học, v.v.) nên việc du học luôn ở trong tầm tay của đa số, dẫn đến việc trí hóa chưa kịp hoặc không thể trưởng thành khiến vừa sang nước ngoài du học đã lớn tiếng chê bai nước nhà, to giọng mắng nước nhà không biết trọng dụng nhân tài do bản thân học xong chẳng biết nước nhà có việc gì làm không và thù lao có tương xứng hay không, v.v. và v.v.

D- Kết Luận

Vì vậy, bạn trẻ hỡi, hãy là người tài để bản thân mình làm một intrapreuneur và khi đã trở thành một intrapreuneur thành công, bạn hãy lựa chọn một trong hai con đường rộng mở trước mặt:

1) Tiếp tục là một intrapreuneur ngày càng thành công hơn, danh tiếng lẫy lừng hơn; hoặc

2) Chuyển sang làm một entrepreuneur trên cơ sở đã hội đủ cùng lúc bốn yếu tố của (a) vốn liếng nghiệp vụ cao trên thương trường sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, (b) vốn liếng uy danh cao trên thị trường sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, (c) vốn tài chính cao trong “chiến trường” sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, và (d) khả năng thành công gần như tuyệt đối từ ba loại vốn trên.

Tương tự bất kỳ quốc gia lành mạnh nào khác, Việt Nam cần có thật nhiều những người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur để làm cơ sở mang tính nền tảng cho sự phát triển các entrepreuneur thành công.

Tương tự bất kỳ quốc gia lành mạnh nào khác, Việt Nam không cần có quá nhiều người khởi nghiệp doanh nghiệp entrepreuneur trong khi xã hội đang có vấn nạn thiếu vắng các người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur.

Một cách lành mạnh, bạn hãy rèn luyện – dù ở Việt Nam hay ở nước ngoài – để  trở thành một người tài cho một sự nghiệp cá nhân của bạn tại một đại công ty. Cần nhớ rằng tấm văn bằng bạn đạt được dù do năng lực cao thật sự của chính bản thân bạn, thì cũng chẳng nói lên được điều gì vì “học giỏi” còn đòi hỏi thời gian “hành giỏi”, vì qua “hành” bạn mới chứng minh được năng lực của bạn trong biến tri thức thành thực tiễn hiệu quả trong một môi trường làm việc phức tạp của một tập thể đa dạng với tính cạnh tranh khắc nghiệt, tất cả minh chứng cho sự thành công của bạn để tồn tại, qua đó bạn trở thành kết quả cụ thể của một quá trình học hành thành công.

Ngay cả khi bạn học thành tài tại Việt Nam nhưng rời Việt Nam làm việc cho nước ngoài, hoặc bạn học thành tài ở nước ngoài nhưng không về Việt Nam thì đây vẫn là chuyện bình thường, đặc biệt nếu như bạn là ngôi sao về Vật Lý Nguyên Tử, Vật Lý Thiên Văn, Vật Lý Vũ Trụ, Công Kỹ Nghệ Hóa Sinh, v.v. mà ở Việt Nam bạn không thể phát huy sự nghiệp khoa học cũng như không thể có các tài trợ và phương tiện phục vụ tối ưu cho các nghiên cứu của bạn. Bạn hãy làm việc cho Cơ Quan Nghiên Cứu Vũ Trụ NASA của Hoa Kỳ. Bạn hãy làm việc cho công ty sản xuất chiến đấu cơ phản lực chiến thuật Lockheed Martin. Bạn hãy làm việc cho bất kỳ ai, miễn bạn luôn là người Việt Nam tốt lành. Thầy Trần Chung Ngọc, sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, giảng sư Vật Lý đại học Mỹ, cố vấn chính phủ Singapore, luôn là người tả xung hữu đột đơn thương độc mã tại Hoa Kỳ viết hàng ngàn bài blog bảo vệ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chống lại bất kỳ kẻ chống Việt Nam nào dù đó là thế lực phản động hay thế lực tôn giáo chống Cộng. Thầy Trần Chung Ngọc không “đóng góp” công sức giảng dạy đại học cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không “đóng thuế” cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bạn hãy làm sao trở thành bậc kỳ tài như Thầy Trần Chung Ngọc: luôn vì đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chỉ cần như vậy thôi là bạn đã làm vinh danh đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam rồi vậy.

Hãy là một intrapreneur thành công tại một đại công ty trước khi làm một entrepreneur của một công ty nhỏ bạn ạ, vì rằng có như thế bạn với tư thế một người tài mới có nhiều cơ may thành công hơn khi quyết định “ra riêng”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết của Hoàng Hữu Phước:

Khởi Nghiệp:

  1. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Khởi Nghiệp
  2. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore
  3. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Người Tài:

  1. Thầy Trần Chung Ngọc: http://hhphuoc.blog.com/?p=89
  2. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!
  3. Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh
  4. Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Giáo Dục:

  1. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai
  2. Tấm Lòng Cựu Nhà Giáo
  3. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân
  4. Thế Nào Là Doanh Nhân
  5. Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam
  6. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Ngày 30 Tháng 4

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2016

Nhân ngày Lễ Chiến Thắng 30 tháng 4 năm nay 2016, tôi xin kính chuyển đến các độc giả đường link các bài viết sau của tôi:

Ngày 30-4-1975:

Hoàng Hữu Phước: Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/01/nhan-quoc-khanh-nuoc-nha-tai-dang-bai-viet-song-ngu-viet-anh-truoc-day-ve-dat-nuoc/

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/11/ngay-chien-thang-30-4-1975/

Ngày 30-4-1970:

Hoàng Hữu Phước: Hoa Kỳ Và Cuộc Thảm Sát Đại Học Kent https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/12/3041970-3042015-45-nam-tu-cuoc-dan-ap-cua-ve-binh-quoc-gia-hoa-ky-tieu-bang-ohio-tham-sat-sinh-vien-tai-truong-dai-hoc-kent/

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-4-2016

Rami J. Ronald Viitiemi, nhà tư vấn phát triển tổ chức, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, huấn luyện kỹ năng quản trị cấp cao, sáng tạo chính sách nhân sự và tuyển dụng Công ty Gateway Norway AS của Na Uy, đã có bài viết thú vị trước những người hay luôn ca cẩm phàn nàn về đất nước Việt Nam. Chân lý cuộc sống rất đơn giản: hoặc bạn chấp nhận, hoặc bạn thay đổi, hoặc bạn hãy đi chỗ khác chơi. Ngay cả trong nội hàm thay đổi lại ngụ ý nhiều đến bản thân, từ cách nghĩ, cách làm, với trọng tâm là cống hiến – chứ không phải là lời ca cẩm phàn nàn chê bai hay chống lại – để làm cho mọi thứ hoàn thiện hơn, tốt hơn.

Mới đây, ông R.J.R.Viitiemiđã viết bài sau mà một người quen của tôi là luật sư Oliver Massmann, Tổng Giám Đốc Công ty Duane Moris Vietnam LLC, Chủ Tịch Ủy Ban Pháp Luật Phòng Thương Mại Châu Âu EuroCham, giới thiệu trên LinkedIn. Xin gởi đến bạn đọc bản dịch nghĩa tiếng Việt của bài viết ấy:

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Rami J. Ronald Viitiemi

05-4-2016

Một tuyên bố thật rõ ràng đâu ra đấy, phải không nào? Vâng, tuyên bố ấy đủ mạnh mẽ để được bạn chú ý; vì lẽ ra bạn hẵn đã không nhấp chuột vào đây để đọc, mà bạn sẽ …

Chấp nhận và thay đổi mọi thứ không nhất thiết phải biệt lập với nhau; có rất nhiều điều dễ dàng để chấp nhận và đồng thời có nhiều thứ cần phải thay đổi. Ở Châu Âu cũng thế.

Nếu có người cho rằng cả hai là bất khả, thì coi như bỏ qua sự lựa chọn cuối cùng.

Tôi có nhiều bạn là người nước ngoài mới đến hoặc đã ở lâu tại Việt Nam, và thậm chí có nhiều bạn và người quen là người Việt; thì thoảng tôi nghe họ ca cẩm hết điều này đến điều nọ, hầu hết liên quan đến môi trường kinh doanh hoặc con người. Nếu ca cẩm ấy không về việc thiếu kỹ năng hoặc thái độ thấp kém, thì cũng về sự thay đổi hoặc thiếu sự thay đổi.

Kể từ năm 1997 khi lần đầu tiên đến Việt Nam, tôi tất nhiên đã tham gia chia sẻ các ca cẩm phàn nàn của mình, và rồi tôi dần dần tự sửa sai mình. Trong những năm qua, tôi đã rất tích cực trong việc đóng góp để cải thiện Việt Nam và môi trường kinh doanh của đất nước này thông qua các phòng thương mại và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), và vì vậy đã làm nhiều người khác thật sự yêu mến Việt Nam.

Tình yêu này được sinh ra bởi nhiều thứ, trong đó quan trọng không kém là con người thật thà, thiên nhiên tươi đẹp, cà phê ngon nhất thế giới, và các món ăn tinh tế nhất. Đối với tôi, dù bạn tin hay không tin, tình yêu đó cũng là về sự tự do trong lựa chọn.

Gần đây, và cứ từng ngày qua, tôi thấy bản thân mình khó chịu bởi những người luôn mồm ca cẩm phàn nàn nhưng sẳn sàng chẳng làm gì để thay đổi bất cứ điều gì và cải thiện những vấn đề. Gần đây sau mỗi lần nghe những lời phàn nàn, tôi trước hết tự hỏi “Thế thì anh đã làm gì để thay đổi nó hoặc bạn đang định làm những gì để thay đổi?” – Có khi lời đáp chỉ là sự im lặng với cái nhìn trống rỗng.

Điều sai lầm là chúng ta thường tin rằng chẳng có gì để một người lẻ loi có thể làm được. Trong thực tế, có rất nhiều thứ mà mỗi người chúng ta có thể làm để đóng góp cho một tương lai tốt hơn, đơn cử vài thí dụ như tạo công ăn việc làm, chuyển giao kiến thức và kỹ năng, làm việc từ thiện hay phục vụ công ích, học tập và tự hoàn thiện, v.v.

Có một điều là hãy thực hiện lời nói đi đôi với việc làm. Điều này đúng cho cả người nước ngoài và người dân địa phương. Chúng ta học hỏi lẫn nhau mọi lúc – hoặc chí ít cũng nên thế – và chúng ta tạo ảnh hưởng đến hành vi của nhau. Sự lựa chọn đường hướng là của chúng ta và chỉ của chúng ta. Đạo đức kinh doanh và đạo lý con người đóng một vai trò rất lớn trong việc này, cũng như cách xử thế tốt vậy.

Học tập đòi hỏi một thái độ cầu thị và biết chấp nhận cái mới. Điều này không đến nếu có sự kiêu căng hay thiếu hiểu biết. Tại Singapore, điều này đã được thấu hiểu từ ngày đầu lập quốc. Singapore đã rất thành công trong kiểm soát sức mạnh của sự đa dạng, thu hút những người tốt nhất, và định chuẩn những phương thức thực hành tốt nhất.

Một cách khác là quy tụ sức mạnh và thuộc về một cái gì đó có ý nghĩa, như các phòng thương mại tại Việt Nam. Nhiều phòng thương mại có ảnh hưởng trên thực tế trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh và môi trường sống tốt hơn cho tất cả, người nước ngoài cũng như người trong nước, các cá nhân và các doanh nghiệp. Mạnh nhất là Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) và Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham).

Là dân Châu Âu, tôi có sự lựa chọn tự nhiên là EuroCham, nơi đã thực hiện một công việc tuyệt vời với Sách Trắng, các Ủy Ban chuyên trách, và các ủy ban hỗ tương khác. Nhiều nhân sự giỏi giang tại đó đã tận tụy cống hiến cho công việc xã hội công ích Việt Nam ngoài giờ làm việc. Thật đáng kính trọng!

Tôi nghiêm túc tin rằng làm thành viên của một phòng thương mại có tầm ảnh hưởng lớn là một cách để đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam, cải thiện các điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài cũng như xã hội nói chung.

Là người một nước Bắc Âu, công dân Phần Lan, tôi làm thành viên của EuroCham thông qua Phòng Thương Mại Bắc Âu (NordCham, Chi nhánh Hà Nội) và điều này như đạt cùng lúc hai mục tiêu – hay nhiều hơn thế nữa .

Nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi không làm điều này chỉ để hỗ trợ tốt nhất cho môi trường kinh doanh. Như bất kỳ người thực dụng có hơi vị kỷ nào khác, tôi muốn có những lợi ích cá nhân như các giảm giá, những lời mời tham dự các sự kiện kinh doanh và tiệc tùng. Mà ai lại không thích tiệc tùng cơ chứ?

Tôi có lẽ là một trong những ngoại kiều Âu Châu biếng lười nhất về công tác công ích xã hội, và tôi nhận ra mình cần thiết phải hoạt động trong lĩnh vực này, ngay cả với cảm giác hơi xấu hổ khi thừa nhận điều này do tôi biết rất nhiều người đang cống hiến thật nhiều như vậy.

Nếu vì bất kỳ lý do gì trong tương lai, tôi muốn không phải đóng góp theo những cách khác nhau cho sự thành công của Việt Nam – bao gồm cả các hoạt động trên LinkedIn – thì tôi hứa sẽ bỏ ra đi. Chấp nhận tất cả mọi thứ như vốn dĩ đang là, đó sẽ không bao giờ là một lựa chọn vì điều đó hoặc có nghĩa là tôi không đóng góp mà chỉ biết kiếm ăn, hoặc có nghĩa tôi không còn quan tâm đến nữa.

Một điều đáng ghi nhớ là đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam không phải tại vì chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Có và có rất nhiều sự lựa chọn. Chẳng hạn Myanmar là nước vượt lên rất nhanh.

Một khía cạnh khác của câu chuyện đối với bất kỳ một đầu tư nước ngoài nào tại Việt Nam là để được trở thành một doanh nghiệp công dân tốt, góp phần vào tương lai lành mạnh của Việt Nam. Có rất nhiều những doanh nghiệp công dân tốt như thế tại Việt Nam, tạm kể ra vài tên tuổi như Điện Thoại Di Động Microsoft, ABB, và Mercedes-Benz, v.v.

Hãy bình tĩnh, hãy yêu Việt Nam, và hãy dành sự tốt nhất của bạn cho Việt Nam!

Rami J. Ronald Viitiemi

********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

“Doanh nghiệp công dân tốt”: doanh nghiệp có trách nhiệm cao với xã hội nước sở tại về luật pháp, đạo đức và kinh tế; thể hiện niềm tin sâu sắc và giá trị thực sự qua việc tiến hành hoạt động kinh doanh minh bạch.

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-4-2016

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

(Đã post ngày 29-01-2009 trên Emotino.com)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm mới nói về những người của thế hệ y khoa trước, về những nhân tài hiếm hoi không phải ai cũng còn nhớ đến sau những cơn giông ba bão táp của thời gian và dưới lớp bụi mờ của lãng quên. Bác sĩ Đặng Minh Chiếu, Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô, và Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa của Sài Gòn hoa lệ, và Bác Sĩ Ngươn của Thành phố Hồ Chí Minh cường thịnh. Những cái tên không thể nào quên với gia đình họ Hoàng chúng tôi.

ScreenShot1147

Bác sĩ thì ai lại không có phòng mạch riêng. Đó là cách nghĩ của người trong cuộc và người đời. Song, có hai thực tế tại Sài Gòn trước 1975 là (a) bác sĩ có phòng mạch riêng là những bác sĩ tài danh thực thụ vì chẳng có tài danh thực thụ thì chẳng bịnh nhân nào tìm đến, mà “tài danh” ấy không do quảng cáo hay do treo bảng hiệu hoành tráng; (b) xem việc mở phòng mạch không bao giờ là để kiếm thêm thu nhập mà chỉ để đem tài ra “cứu nhân độ thế” như những bậc thầy của chính mình đã luôn học, luôn sống, và luôn làm theo lời thề thiêng liêng của chức nghiệp; và không những thế (c) không nhất thiết phải có phòng khám riêng, đơn giản vì còn tận tụy dành trọn thời gian quy định tại bịnh viện nơi làm việc chính.

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô là nguyên khoa trưởng Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, có phòng mạch tại 39C đường Cao Thắng, Quận 3, Sài Gòn, nay là tòa nhà dường như hai năm trước trở thành Kinh Đô Bakery. Nha Sĩ Mô chỉ khám chữa răng buổi sáng, còn buổi chiều do nha sĩ Đoàn Ân phụ trách, còn phòng răng 39C Cao Thắng ấy là tư thất của gia đình nha sĩ Đoàn Ân. Đó là một phòng chữa răng trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ như máy lạnh và máy chụp quang tuyến X. Nha sĩ Mô không có trợ tá mà tự mình làm tất cả mọi việc kể cả việc chụp hình răng bằng máy quang tuyến ấy. Bác sĩ Mô đến phòng mạch bằng xe Mercedes đen, tự lái, đậu trong sân (vì nhà nào ở mặt tiền đường cũng luôn xây thụt vào trong khoảng 5 hay 10 mét để chừa khoảng không khoáng mát phía trước để đậu xe, chứ không như bây giờ ai cũng xây áp sát đường để nhà rộng lớn hơn, cảnh quang tầm thường hơn, đường chật chội xấu xí hơn, còn ô tô thì hoặc đậu nơi lòng đường, trên lề đường, hoặc chui tọt vào bên trong căn nhà).

Khi em trai tôi lên 6 tuổi, có một răng cửa hàm trên bị sâu; như thường lệ đối với thành viên toàn gia đình, Má tôi đưa em đến Nha Sĩ Mô để nhổ răng, tất nhiên rồi – và tất nhiên có tôi đi kèm theo. Nha sĩ Mô nhẫm hát là lá la một đoản khúc nhạc cổ điển dường như là Fantasia của Liszt Ferenc. Ông nhìn chiếc răng rồi bảo Má tôi rằng Ông nhất thiết phải đưa em tôi vào Đại Học Nha Khoa giải phẫu cho sinh viên học tập, vì đây là một ca hiếm theo y văn thế giới. Theo Ông, răng cửa trên bị hỏng không do bị sâu, chẳng do bị răng khác mọc chêm mà tiếng trong Nam gọi là “lòi xỉ”, mà Ông nhìn là biết ngay do răng khác mọc thẳng hàng vào giữa chân răng đang tồn tại, nghĩa là có răng khác ẩn ở dưới “ngạc” tức vòm miệng, và phải rạch để gắp ra, cứu răng cửa. Ông trấn an Má tôi rằng đấy là chuyện nhỏ. Với sự lo âu vì một khi đã là “ca hiếm” phải giải phẫu biểu diễn dạy các sinh viên đại học thì đúng là đại sự hiểm nguy và tốn kém, Má tôi rụt rè hỏi về chi phí, Ông bật cười, nói (giọng Bắc) rằng Ông đài thọ  toàn bộ chi phí, và khôi hài nói thêm rằng lẽ ra Ông phải trả thật nhiều tiền để Má tôi cho phép Ông đuợc giải phẫu ấy chứ, vì em tôi cho Ông có cơ hội bằng vàng dạy cho sinh viên Nha Khoa biết thực tế một ca mà chỉ có thể bắt gặp trong một trong các pho tài liệu tiếng Pháp dày cộm trong thư viện trường mà thôi! Và em trai tôi được lên lịch giải phẫu tại Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, tất nhiên cuộc giải phẩu có kết quả tốt đẹp. Tôi vẫn còn giữ hai chiếc răng mọc sâu bên trong “ngạc” của em tôi.  Thật là một nha sĩ đại tài, thay vì nhổ ngay răng sâu, chỉ cần nhìn cách mà răng bị sâu là đã biết ngay đó không là sâu răng: răng sâu không bị nhổ bỏ mà hai răng thủ phạm ẩn núp trong “ngạc” khiến chặn đường dinh dưỡng làm răng giống như bị sâu thì được gắp ra! Phòng khám tư của Ông treo khoảng sáu văn bằng y khoa của Mỹ, Anh và Pháp. Nhiều trang thiết bị hiện đại thời ấy, kẻ cả máy chụp X-quang nha khoa. Nhưng Ông đã không dùng máy X-quang khi định bệnh cho em tôi. Ông không nhổ phức chiếc răng sâu của chú bé 6 tuổi, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông cũng sẽ làm. Ông không thu một xu chi phí, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông và đặc biệt thời nay không ai làm thế, trái lại họ có thể thu tiền cao nếu bịnh nhân trực tiếp đến phòng khám của họ, hoặc nếu bịnh nhân tìm đến bịnh viện công nơi nha sĩ công tác thì nha sĩ thường sẽ thuyết phục họ hoặc đến phòng mạch tư của ông ta, hoặc ra một bịnh viện tư để nha sĩ này sẽ đến đó phẫu thuật giúp – tất nhiên nhằm thu tiền nhiều hơn sau khi trả hoa hồng cho bịnh viện tư ấy, thay vì để bịnh viện nhà nước “hưởng” còn bản thân chỉ có chút ít phụ cấp theo quy định. Đơn giản: Ông là Nguyễn Tư Mô, một Nha Sĩ tài danh, một Nha Sĩ đích thực, một bậc Thầy luôn xem việc phục vụ y học là mục đích cuộc sống và việc đào tạo ra cho đời những nha sĩ giỏi là ý nghĩa cao trọng nhất của sự nghiệp một bậc thầy.

Giá như Ông ở lại với đất nước Việt Nam thống nhất, đừng ra hải ngoại ngày 30-4-1975, Ông đã có thể giúp ngành Nha Việt Nam và “người” Nha Việt Nam tốt đẹp và phát triển mạnh đến dường nào, vì Ông là tấm gương.

Không có gương báu và gương sáng để soi, người ta sẽ chẳng biết mình sáng và tốt  ra sao để mà chỉnh đốn mình cho đẹp, răn mình có được thứ gọi là “y đức” mà trước đây tự nhiên ai cũng có tự thân và tự nhiên, còn ngày nay trở thành thứ trang sức lệ thuộc tuyệt đối vào giáo dục ý thức mà cái sự giáo dục ấy thường được chứng minh là tương đối có hiệu quả.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Nếu Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô cứu một chiếc răng cửa cầu kỳ của em trai tôi, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cứu mạng em gái Thúy Hồng của tôi ngay tại phòng mạch – cũng là tư gia của Bà – tại biệt thự xinh đẹp cây cối um tùm hoa giấy đỏ ngay đầu ngã ba Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện Vuờn Tao Đàn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Do em gái tôi bị sốt dài ngày, Ba và Má tôi đưa em tôi đến nhiều phòng mạch bác sĩ tư để đem về bao thuốc hạ sốt, thuốc cảm cúm, thuốc viêm họng, thuốc viêm phổi, mà em tôi vẫn không thuyên giảm. Má tôi chợt nhớ tới Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và tất cả lập tức đưa em tôi đến phòng mạch của Bà, tất nhiên có tôi đi kèm. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là một phụ nữ tuyệt đẹp, dáng người không cao, nhưng phong thái quyến rũ, dịu dàng. Bà mặc đầm hồng phấn khi khám bịnh. Khi nhìn thấy em tôi, Bà chợt mím môi, tức giận, nói lớn tiếng: “Sao ai lại ác vậy? Khám vậy mà khám! Chết đứa nhỏ còn gì! Đây là bịnh thương hàn!” Bà lập tức viết toa thuốc trong lúc nói chuyện hướng dẫn Ba tôi bằng tiếng Pháp, rồi dặn Má tôi bằng tiếng Việt phải nấu súp gì cho em tôi uống, tuyệt đối không được ăn gì, v.v. và v.v. Em tôi được cứu sống chỉ với cái nhìn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà không cần thử máu hay chụp hình gì cả!

Sau đó gia đình tôi nghe tin Bà vào Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Sau 1975, chúng tôi mừng vui thấy Bà là Bộ Trưởng Y Tế. Nhưng chúng tôi không có dịp gặp lại Bà, và Bà cũng đâu có nhớ thằng bé tên Phước đã đứng lặng trân chiêm ngưỡng sắc đẹp của Bà. Sau này không còn tin tức gì về Bà, cho đến ngày Bà mất. Một bác sĩ đại tài, tự mình nghe bịnh, tự mình khám bịnh, và tự mình chỉ định chính xác bịnh án cùng phác đồ điều trị, chứ không sai bảo bất kỳ ai trong số hai y tá phục vụ tại phòng mạch riêng ấy.

Bác sĩ Đặng Minh Chiếu

Trong khi đó, bác sĩ Đặng Minh Chiếu có phòng mạch tư và biệt thự gần rạp hát Long Phụng (trên đường Gia Long, ngày nay gọi là đường Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh), lừng danh về phụ khoa tại Sài Gòn. Ông đã tư vấn cho Ba Má tôi phải bảo vệ thai nhi thế nào mỗi khi Má tôi mang thai một đứa con. Mỗi khi theo Má tới phòng khám của Bác sĩ Chiếu, tôi thấy có nhiều sản phụ nước ngoài cùng chồng ngồi chờ ngoài sảnh. Nói tiếng Pháp điêu luyện, Ông có tài làm tất cả mọi người an tâm, vui vẻ, bình yên, hạnh phúc, xem như thai sản là chuyện dễ dàng, tự nhiên, trong một giai đoạn thời đại mà những ân cần chi tiểt như vậy vẫn chưa là tiêu chuẩn cả trời Âu. Tất cả những chỉ dẫn của Ông dành cho Má tôi đã được gia đình áp dụng cho đến sau ngày giải phóng, khi các em tôi lập gia đình và trở thành sản phụ đều được Má tôi lập lại những lời dặn dò của vị bác sĩ đại tài Đặng Minh Chiếu. Đặc biệt, những căn dặn của Ông là tổng hợp của kiến thức uyên bác Tây Y trên cơ sở không phản bác kinh nghiệm dân gian nào Ông cho là lành mạnh đáng tin cậy dù không bao giờ được Tây Y nghiên cứu. Chúng tôi không còn nghe tin về Ông sau ngày 30-4-1975, ắt Ông đã theo dòng thác người cuồn cuộn di tản của thời biến động ấy.

Bác Sĩ Ngươn

Bác sĩ Ngươn, trưởng khoa ngoại thần kinh Bịnh Viện Chợ Rẫy Tp Hồ Chí Minh, lại là một trường hợp khác. Sau 1975, lúc Việt Nam vẫn còn chịu đựng sự cấm vận của Chính phủ Hoa Kỳ, tôi công tác tại Văn phòng đại diện Công ty CIMMCO International thuộc tập đoàn Công-Thương-Kỷ Birla lừng danh toàn Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh. Có lần tôi đưa Trưởng Đại Diện người Ấn Độ của CIMMCO đến Chợ Rẫy khám bịnh tim mạch. Bác Sĩ Ngươn lúc ấy phụ trách khoa khám ngoại kiều. Tài năng chẩn định bệnh và khẩu ngữ tiếng Anh của Bác sĩ Ngươn làm Ông Trưởng Đại Diện ngạc nhiên, thán phục. Ông nói với tôi là Việt Nam thực sự có bác sĩ giỏi đến thế sao! Thậm chí, khi thấy sự chậm chạp của con rùa hành chính của bịnh viện với hàng chục lần thân nhân phải liên tục chạy xuống lầu đóng tiền lấy hàng chục biên nhận đóng tiền cho những xét nghiệm khác nhau, có thể gây phản cảm nơi bịnh nhân nước ngoài, bác sĩ Ngươn đã “phá luật”, viết lịnh tay để Ông Trưởng Đại Diện được xét nghiệm ngay lập tức, nghĩa là việc thanh toán thì tôi từ từ thực hiện trọn gói sau, và cũng nghĩa là nếu tôi không thực hiện thì bác sĩ Ngươn sẽ phải bị kỷ luật thật nặng! Để có thể “đền ơn”, tôi hỏi xin địa chỉ phòng mạch thì Bác sĩ Ngươn nói Ông và vợ Ông cũng là một bác sĩ đều không có phòng mạch riêng và không bao giờ muốn có phòng mạch riêng. Tôi xin số phone nhà thì bác Sĩ Ngươn bảo nhà không có phone. Tôi xin địa chỉ nhà, thì Bác sĩ Ngươn nói hai vợ chồng thường xuyên vắng mặt. Ông Trưởng Đại Diện nhờ tôi đến Chợ Rẩy tìm bác sĩ Ngươn để trao tặng vợ bác sĩ Ngươn một món nữ trang bằng vàng theo thói quen của người Ấn, thì bác sĩ cười bảo với tôi rằng “Tôi không nhận đâu. Tôi làm vì danh tiếng Chợ Rẩy và vì danh dự một bác sĩ. Anh Phước mà đặt vấn đề đền ơn nữa là tôi không coi anh là bạn đâu. Chúng tôi không mở phòng mạch vì đã dành hết sức lực phục vụ bịnh nhân ở bịnh viện, còn đâu hơi sức mà lo phòng mạch. Với lại vợ chồng tôi nhất trí không để danh tiếng bị tổn hại vì nếu mở phòng mạch sẽ bị tai tiếng là không tận tụy với bịnh viện và dẫn dụ bịnh nhân của bịnh viện về phòng khám tư của mình. Thành ra, chỉ biết lui về nhà với gia đình sau khi ở bịnh viện về thôi Anh Phước ạ. ” Tôi trả lại Trưởng Đại Diện chiếc hộp nhung đỏ với món nữ trang bên trong, thuật lại nội dung. Hai vợ chồng ông tần ngần hồi lâu, cảm động, rồi cười to: “Tưởng chỉ có Ông từ chối vàng, bây giờ biết thêm Ông ấy là hai!” Sau này ông Trưởng Đại Diện làm Chủ tịch Hội Hữu Nghị Ấn-Việt, còn vợ ông giảng dạy tiếng Anh tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh. Còn bác sĩ Ngươn, vị bác sĩ tài ba ấy, vì áy náy trước sự ân cần kính trọng thái quá của người nước ngoài đã phải buộc lòng phá lệ khi lịch sự nhận lời chạy xe máy Honda đến dùng cơm tối tại nhà ông Trưởng Đại Diện trên đường Phùng Khắc Khoan. Tôi cũng có mặt, vì đó là sự đương nhiên ở CIMMCO, và vì bác sĩ Ngươn bảo cần có tôi để có chứng nhân rằng Ông không nhận bất kỳ vật chất nào của ông Trưởng Đại Diện cả. Con người thanh liêm đức độ ấy chỉ đến ăn cơm cà ri và trò chuyện.

Có lẽ Bác sĩ Ngươn đã nghỉ hưu. Tôi thậm chí không nhớ tên đầy đủ của Ông sau 16 năm đằng đẵng vì Ông không cho danh thiếp chắc vì không in danh thiếp. Một vị bác sĩ tài ba, tận tụy với nghề đến nỗi không sao còn dư thời gian để có phòng mạch tư dù cũng để cứu người.

 

Cung cách sống đặc biệt của những bậc y khoa tài hoa ấy, luôn xem Lời Thề Hippocrate trước Thần Chữa Bệnh Apollon, Thần Y Học Esculape, Thần Hygie và Panacée cùng các nam nữ thiên thần là lời thề của con tim và từ khối óc, để cứu nhân độ thế, và vì danh dự chức nghiệp cao trọng của một đời.

Chúng tôi – và hy vọng là chúng ta – gọi họ là những con người thanh liêm, những y sĩ có y đức; vì rằng y đức không phải là một chủ đề cho một lời kêu gọi hay một kế hoạch đầy tốn kém để giáo dục và dựng xây – nhất là nơi khởi xướng nếu lại là từ Ngành Y thì quả là sự nhức nhối khôn khuây với muôn đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hoàng Sa

Tàu Mỹ Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-3-2016

Hoàng Sa gần đây đã trở thành phao cứu sinh cho bất kỳ ai đột ngột muốn hùng biện về lòng yêu nước vì sẽ là luôn là điều đội đá vá trời hay vượt tầm vói hoặc quá tầm với nếu lồng ghép lòng yêu nước với  việc tu thân, tề gia, luyện trí, phát triển kinh tế dựng xây quốc gia cường thịnh. Song, muốn hùng biện cho hay về Hoàng Sa, nhất thiết phải hiểu đúng về Hoàng Sa trong tương quan hiểu rõ về thế giới sử mà từ đó rất có thể sẽ có những cái nhìn tường tận về Tàu, về Mỹ, về ta.

Tàu

Từ cuộc chiến tranh xâm lược Ấn Độ của Tàu nhằm “dạy cho Ấn một bài học” do Ấn đã cho Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng tỵ nạn chính trị khi Tàu chiếm Tây Tạng 1959, khi ngày 20-10-1962 Tàu ồ ạt tấn công theo thế gọng kìm suốt chiều dài 3.225 km dọc biên giới tự nhiên của dãy Hy Mã Lạp Sơn đánh vào hai trận tuyến Ladakh và McMahon chiếm lấy Rezang La ở phía Tây và Tawang ở phía Đông, thế giới sử đã cho thấy có những sự thật sau:

1- Sự giao tranh đã nổ ra trên quy mô rộng lớn trên nóc nhà của thế giới với điều kiện núi non trùng điệp và hiểm trở cao hơn 4.000 mét đầy băng giá, với một bên là quân Tàu ồ ạt biển người và một bên là quân Ấn với số quân tuần tra ít ỏi trang bị thô sơ. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp tấn công bất ngờ và vào nơi khó ngờ.

2- Cả hai bên chỉ sử dụng bộ binh; và trong khi sự vắng bóng của hải quân hai bên là sự đương nhiên, thì điều kỳ lạ là Ấn Độ hoàn toàn sai lầm khi đã không sử dụng không quân. Vào thời điểm đó, không quân Ấn mạnh hơn, và Tàu đã không thể sử dụng không quân do (a) Tàu chưa phát triển không quân hùng mạnh, (b) địa hình núi non hiểm trở, (c) quân đội Ấn tại dãy Himalaya chỉ có số ít, và (d) vững tin vào chiến thuật biển người tràn ngập dồn Ấn vào thế lưỡng đầu thọ địch theo binh pháp cổ Tàu. Cũng vào thời điểm đó, Ấn chỉ sử dụng không quân để tiếp tế lương thực và đạn dược cho đoàn quân đã bị Tàu đánh cho tan tác, vì (a) lãnh đạo Ấn là Thủ Tướng Nehru bối rối và lúng túng với dàn tướng lĩnh không biết phải đối phó ra sao cũng như chưa bao giờ cho rằng biên cương Himalaya thiên nhiên khắc nghiệt sẽ không làm chùn bước bất cứ mưu đồ xâm chiếm nào, (b) run sợ việc ném bom và không kích sẽ gây nên tội ác lớn vì giết quân Tàu đang ồ ạt xông lên đông hơn kiến trên mặt đất chết như rạ, (c) bàng hoàng vẫn không tin là nước cộng sản mà Ấn đã nhanh chóng công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao và ủng hộ lại bất ngờ tấn công mình, và (d) đợi chờ sự ra tay cứu viện của Mỹ và Liên Xô. Điều này cho thấy Tàu đã biết rõ về cung cách của đối phương “dám làm gì” và “không dám làm gì” để xuất chiêu chiếm thế thượng phong.

3- Cuộc tấn công của Tàu nổ ra cùng ngày với biến cố mà thế giới Sử gọi là “Cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba” khi Mỹ và Liên Xô đối đầu nhau với sự chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp cổ Tàu trong chớp lấy thời cơ bành trướng ngay khi hai siêu cường Mỹ và Liên Xô (nay là Nga) có vấn đề căng thẳng về quân sự.

4- Ngày 20-11-1962 tức sau 32 ngày xâm lược Ấn Độ, Tàu đơn phương tuyên bố rút quân ngay khi hay tin đáp lời kêu gọi của Ấn, Mỹ bắt đầu đưa hàng không mẫu hạm và các chiến đấu cơ đến Ấn. Việc “rút quân” này khiến đặt Mỹ vào tình trạng không thể triển khai chiến đấu gây tổn thất nặng nề cho Tàu, thậm chí làm Tàu tránh nguy cơ bị đại bại phải mất các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Ấn. Điều này cho thấy Tàu chỉ tuyên bố “rút quân vì đã dạy xong cho kẻ thù một bài học” khi đã đại bại hoặc khi đánh hơi thấy sắp có nguy cơ đại bại.

5- Vào ngày 03-10-1962 tức chỉ chục ngày trước khi xua quân xâm lược Ấn, Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai thăm New Delhi và đã hứa với Thủ Tướng Ấn Jawaharlal Nehru rằng hai nước hữu hảo tốt đẹp sẽ không bao giờ có chiến tranh với nhau. Điều này cho thấy Tàu mỗi khi mở miệng hứa điều gì là chỉ để che đậy một mưu đồ ngược lại.

6- Liên tục trong các năm 1951 và 1952, Tàu tái khẳng định Tàu không có vướng mắc gì về lãnh thổ với Ấn. Tháng 11-1956 Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai tái tuyên bố  rằng Tàu không có tranh chấp gì về lãnh thổ với Ấn nhưng bản đồ chính thức sử dụng toàn quốc của Tàu luôn vẽ nước Tàu gồm luôn 120.000 km2 bên trong lãnh thổ của Ấn. Để rồi sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu lặng lẽ xây dựng hệ thống đường sá cùng các tiền đồn tại vùng Aksai Chin của Ấn từ năm 1956 mà đến 12 năm sau, lúc tất cả đã hoàn tất thì Ấn mới hốt hoảng phát hiện. Thậm chí gần đây vào ngày 15-4-2013 Tàu chiếm 640km lãnh thổ Ấn dọc theo biên giới Depsang, Chumar và Pangong Tso của Ấn; và năm 2014 Tàu lấn sâu vào vùng Burtse ở Ladakh đến 30km và khi binh sĩ Ấn tiến đến, lính Tàu cầm bảng ghi câu tiếng Anh “This is Chinese Territory. Go Back!” (Đây là lãnh thổ Tàu. Hãy lùi lại!). Điều này cho thấy Tàu không bao giờ có tranh chấp lãnh thổ với bất kỳ quốc gia nào cả, mà Tàu chỉ xây dựng cơ sở tại những nơi Tàu bảo đó là của Tàu.

7- Năm 1954 Tàu đề ra khẩu hiệu Hindi-Chini bhai bhai (Ấn-Hoa huynh đệ) cùng Năm Nguyên Tắc Chung Sống Hòa Bình với Ấn Độ, theo đó hai nước sẽ hữu hảo giải quyết các bất đồng . Thủ Tướng Nehru bỏ ngoài tai lời khuyên của Thủ Tướng Ba Swe của Miến Điện (tức Burma, nay là Myanmar) rằng đừng tin những hứa hẹn của Chu Ân Lai. Nehru bị huyễn hoặc bỡi những lời hoa mỹ của Tàu, và thậm chí nhân nhượng Tàu về vấn đề Tây Tạng để hy vọng nhận được từ Tàu sự hình thành một liên minh khối trục Á Châu giữa Ấn và Tàu trên cơ sở đối tác chiến lược hùng mạnh. Hậu quả là sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu tuyên bố vùng Arunachal Pradesh 90.000km2 của Ấn có tên gọi Nam Tây Tạng nên thuộc về Tây Tạng tức thuộc về Tàu do Ấn đã công nhận Tây Tạng thuộc Tàu. Khi đã quá muộn lúc biết được bộ mặt thật của Tàu, Nehru vào năm 1959 chấp nhận cho Đức Dalai Lama tỵ nạn chính trị sau khi Dalai Lama đào thoát khỏi Lhasa vì cuộc khởi nghĩa chống Tàu thất bại. Điều này cho thấy Tàu không bao giờ muốn làm bạn với bất kỳ ai, và chuyên đề ra các khẩu hiệu để sử dụng các khẩu hiệu này như thứ bùa mê thuốc lú để săn mồi.

8- Tàu đã dồn Ấn vào thế bị lấn chiếm, đến độ Ấn sẵn lòng không tiếp tục đòi chủ quyền với phần diện tích 38.000km2 Jammu và Kashmir trong vùng Aksai Chin nếu Tàu không tiếp tục bảo phần diện tích 90.000km2 trong vùng Arunachal Pradesh kể cả Tawang là của Tàu. Điều này cho thấy Tàu luôn giở thủ đoạn chây lỳ tức kéo dài thời gian cho mọi sự trở thành việc đã rồi trong bành trướng xâm lược để những khi không thể ra tay sáp nhập bằng vũ lực thì cứ tự động vẽ bản đồ gồm thâu luôn lãnh thổ hay lãnh hải nước khác mà không cần tài liệu chứng minh chủ quyền, và tự động đổ quân đến đồn trú xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự và dân dụng.

Mỹ

Việc Mỹ đã không có tầm nhìn chiến lược quân-địa-chính-kinh-tài đã quá hiển nhiên không thể nào chối cãi. Vì không có tầm nhìn xa tối thiểu 50 năm, Mỹ đã xem Việt Nam như kẻ thù phải diệt tiêu bằng mọi giá, kể cả ủng hộ Tàu (mà Việt Nam dũng cảm gọi thẳng là Trung Quốc) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và ủng hộ chư hầu của Tàu là Campuchia (mà Việt Nam hay ỏn ẻn gọi là Khmer Đỏ chứ không dám gọi tên nước) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Khi 70.000 dân quân Việt Nam đánh tan 700.000 chiến binh tinh nhuệ Tàu bỏ chạy về bên kia biên giới, Mỹ không có cớ cấm vận Việt Nam vì Việt Nam không bước qua đường biên giới Việt-Tàu trên dường truy sát giặc Tàu. Mỹ vội có nhiều bài báo nói Tàu đã rút quân sau khi dạy cho Việt Nam một bài học. Khi dân quân Việt Nam đánh bật Campuchia ra khỏi lãnh thổ, đồng thời nhận thấy nhân dân Campuchia bị nạn diệt chủng do chính phủ Campuchia điên loạn mà thế giới làm ngơ, Việt Nam đành tiến quân qua bên kia đường biên giới truy sát tiêu diệt chính phủ quái vật của Campuchia “once and for all” (kiểu Mỹ: một lần cho tuyệt mối họa về sau), thì Mỹ lập tức xem như có cơ hội bằng vàng để tuyên bố cấm vận kinh tế Việt Nam vì tội xâm lược Campuchia. Mỹ sau đó tăng cường viện trợ cho Campuchia, giúp Campuchia đoạt các đơn hàng khổng lồ về may mặc do Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO tận tình tận tụy tận tâm chỉ dẫn chỉ bảo chỉ dạy Campuchia đáp ứng các yêu cầu về tổ chức công đoàn kiểu Mỹ và tổ chức sản xuất để cấp cho Campuchia giấy thông hành ưu tiên bán hàng vào Âu Mỹ. Cấm vận Việt Nam để bần cùng hóa Việt Nam, giúp đỡ Campuchia để tước luôn khả năng kiếm sống bằng nghề may mặc của Việt Nam, Mỹ đã như kẻ thất học không nhìn xa trông rộng. Việt Nam yếu đi, dẫn đến sự lấn lướt của Tàu, đe dọa cả ASEAN. Campuchia mạnh hơn, và Campuchia trở về cạnh Tàu để phản phúc Mỹ, trở thành con ngựa thành Troy làm Mỹ muối mặt ở hội nghị thượng đỉnh ASEAN.

Nhận ra việc Việt Nam là chỗ dựa về an ninh cho cả khu vực ASEAN từ đó bảo vệ được Châu Đại Dương với vùng Nam Cực có nhiều căn cứ nghiên cứu tối mật của Mỹ, Mỹ đã có những bước đi đúng nhưng muộn màng. Đúng, chẳng hạn như mời Việt Nam làm một thành viên của Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. Đúng, chẳng hạn như đã nhận ra tầm quan trọng cực kỳ của Biển Đông. Muộn màng vì Việt Nam bây giờ mới được Mỹ xem trọng để yên thân leo lên được ngưỡng đầu tiên của  sự phát triển, thay vì đã hùng mạnh hùng cường từ nhiều chục năm trước – với sự giúp đỡ của Mỹ. Muộn màng, vì Tàu đã quá mạnh đối với Mỹ và thế giới khi đầu tư Tàu tràn ngập thế giới từ Châu Phi ngập tràn khoáng sản đến khu vực Nam Mỹ trực tiếp đe dọa Mỹ từ phía Nam, từ thực tế đồng tiền Tàu đã thành tự do chuyển đổi, và từ thực tế Tàu thành lập hệ thống các ngân hàng cạnh tranh với cả các định chế tài chính như Ngân Hàng Thế Giới World Bank, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, hay Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ADB, v.v.

Việc Mỹ đưa các chiến hạm đến Biển Đông với chiêu bài xoay trục về hướng Đông đã không tôn được vị thế và vai trò của Mỹ ở khu vực này của thế giới. Khi Mỹ hùng dũng tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý đối với các đảo trên Biển Đông mà Trung Quốc chiếm hữu tiến hành xây dựng sân bay bến cảng, Mỹ đã chỉ làm Tàu cười to nhạo báng, vì rằng “khi anh tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý, nghĩa là anh tuần tra cách các đảo chìm đảo nổi của tôi 12 hải lý, cũng có nghĩa là anh mặc nhiên thừa nhận rằng các đảo ấy là của tôi, thuộc chủ quyền của tôi! Ngay cả một tuyên bố thôi mà Mỹ cũng hoặc bất cẩn hoặc do biết chính mình bó tay không thể làm gì khác hơn được.

Ta

Sau khi đã biết Tàu đốn mạt như thế và Mỹ thiếu tầm nhìn như thế, ta sẽ nói gì – hay làm gì – về Hoàng Sa?

Nói Hoàng Sa đã là lịch sử, thì thế nào cũng có kẻ hê lên rằng: “Thế mầy dâng cho Tàu luôn à, thằng tay sai Tàu?

Nói Hoàng Sa mãi mãi là của Việt Nam, thì thế nào cũng có kẻ hét lên rằng: “Thế sao không kiện Tàu? Không đánh Tàu để đòi lại?”

Nói bây giờ Tàu tiến xuống chiếm mấy đảo của Trường Sa, thế nào cũng có kẻ gầm lên rằng: “Chính phủ vô dụng. Đảng vô dụng. Hèn nhát. Không dám làm gì.”

Chẳng ai đặt câu hỏi khi tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc, bị đánh cho đại bại phải rút về Tàu, quân Tàu do bản chất mất dạy có cố vớt vát vừa ở lỳ trên vài kí lô mét vuông đất nào của Việt Nam vừa hét lên rằng đó là đất của nó mà nó đã thua chạy về phần đất của nó rồi, vậy sao còn xâm lược nó? Có hay không việc Tàu đã giở thói lưu manh đó như nó đã từng làm với Ấn Độ để chiếm giữ một ít đất của ta?

Việc Tàu đưa ra lập luận “đường chín đoạn” mà ta gọi là “đường lưỡi bò” là để chiếm hữu toàn bộ Biển Đông, biến Việt Nam chỉ còn có thể cho tàu thuyền đi sát bờ biển, và tất cả các máy bay dân sự Việt Nam sẽ bị tên lửa đất đối không của Tàu bắn hạ nếu bay trên Biển Đông mà Tàu bảo là thuộc lãnh hải của Tàu. Tất nhiên toàn bộ các mỏ dầu hỏa của Việt Nam bây giờ tự động nằm bên trong cái đường lưỡi bò ấy. Việc Tàu sau khi đã chiếm hữu Hoàng Sa, nay tiến xuống Trường Sa chỉ là một bước tiếp theo chứ không phải là sự lấn chiếm lần lượt hết đảo này đến đảo khác để cho dân Tàu có “ngư trường” đánh bắt hải sản. Mưu đồ thâm độc và táo tợn, ghê gớm hơn nhiều, chứ không chỉ là chiếm đảo: chiếm toàn bộ Biển Đông, từ đó làm suy yếu toàn bộ ASEAN để chiếm cả ASEAN từ đó tiến xuống Châu Đại Dương và đẩy Mỹ khỏi Nam Cực.

Thay vì hùng dũng đặt câu hỏi chất vấn vì sao sách giáo khoa Sử vẫn chưa có viết về Hoàng Sa, hãy quan tâm đến những điều thiết thực sau:

1) Một sự việc được ghi vào sử sách luôn sau một thời gian hàn lâm hạn định tối thiểu 50 năm hoặc hơn, tùy theo từng loại sử liệu mà chính phủ mỗi nước quy định.

2) Trước khi Hoàng Sa được ghi vào sử sách, việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa phải luôn được tiến hành, đặc biệt khai thác các tài liệu của Việt Nam Cộng Hòa cũng như của thế giới, tính cả đến việc chờ đợi đến khi Chính Phủ Mỹ cho phép tiếp cận các hồ sơ mật về chiến tranh Việt Nam để giải mã các sự kiện, sau 50 năm hay 90 năm. Việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa như nói trên được thực hiện bởi các tổ chức Sử và cá nhân các nhà nghiên cứu Sử, chứ không bao giờ là của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo vì tại tất cả các nước Bộ Giáo Dục chỉ sử dụng các pho lịch sử để lên chương trình học chứ không đứng ra tổ chức nghiên cứu Sử. Câu hỏi do đó hãy đặt ra cho các viện Sử học, các tổ chức nghiên cứu Sử, các nhà nghiên cứu Sử, viết khảo luận Sử, v.v., và tất cả các công trình đều phải cơ sở dữ liệu tham khảo chi tiết từ nguồn của Việt Nam và nguồn của nước ngoài, có liệt kê cuối mỗi công trình để tăng mức độ đáng tin cậy, và sau thời gian dài tranh luận, tranh cãi, thẩm tra, bút chiến, lúc các tài liệu khảo cứu biến thành sử liệu, các pho sử tân biên với các phần bổ sung sẽ được hình thành để các trường học sử dụng dạy Sử. Chính các sử gia, các nhà nghiên cứu sử, mới là những người duy nhất có trách nhiệm phải làm tất cả, từ kiếm tìm tài liệu, dịch thuật tài liệu, kiểm chứng tài liệu, hình thành tác phẩm về Hoàng Sa. Đây là việc của họ, vì đó là chuyên môn nghiệp vụ của họ, vì đó là quy trình tất yêu của sử liệu và pho sử, và vì đó cũng là kế sinh nhai của họ, đem lại cho họ nguồn thu nhập đương nhiên.

3) Không những chỉ có Hoàng Sa, mà Trường Sa cùng tất cả các đảo khác dù nhỏ dù lớn như Phú Quốc hay Côn Đảo cũng nhất thiết cần được sưu tầm tài liệu, cập nhật dữ liệu, vì chưa nói đến chuyện kiện tụng ra tòa án quốc tế đòi công lý chủ quyền, việc tập trung tài liệu đủ đầy sớm ngay từ trước luôn là cách tốt nhất phục vụ cho những đòi hỏi chủ quyền cho quốc gia khi hiểm họa tranh chấp chủ quyền không chỉ là một nguy cơ tiềm tàng, và khi khu vực có tồn tại một kẻ lưu manh mất dạy như Tàu.

4) Không để mất thêm những Hoàng Sa, nhất thiết phải có tiềm lực quốc phòng hùng mạnh. Để có tiềm lực ấy phải có rất nhiều tiền. Để có rất nhiều tiền phải phát triển kinh tế vượt bậc. Để phát triển kinh tế vượt bậc phải có những con người xuất sắc. Để có những con người xuất sắc, giáo dục đạo đức của gia đình là tối quan trọng, tự rèn luyện của bản thân là tiên quyết, đào tạo của nhà trường là định hướng, và cơ chế chính sách là lực đẩy.

Tàu đã cướp Hoàng Sa bằng quân sự.

Tàu đang cướp Trường Sa bằng sự trơ tráo.

Tàu đang cướp Biển Đông bằng sự lưu manh.

Tàu đang cướp lúa gạo vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng cách gây hạn hán từ chuỗi đập thủy điện liên hoàn ở thượng nguồn Mekong.

Tàu đang cướp sự sống của dân Việt bằng các sản phẩm độc hại gây bịnh.

Vì tất cả các lý do trên, ta không trông mong gì Tàu sẽ trả lại cho ta Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông.

Vì tất cả các lý do trên, ta không thể kỳ vọng lớn vào Mỹ vì Mỹ đã mặc nhiên tuyên bố tuần tra 12 hải lý nghĩa là không dám tiến sát các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Vì tất cả các lý do trên, ta không chỉ có đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và các đảo ở Trường Sa, mà ta còn phải tranh đấu để dành lại sự sống còn của đất nước và dân tộc.

Đó mới là hiểu đúng nhất về Hoàng Sa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

Không Quên Và Không Chê

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-3-2016

Cách nay hơn một phần tư thế kỷ, vợ tôi sinh khó phải mổ, lúc ấy vào tháng 12, trời Thành phố Hồ Chí Minh lạnh ngắt chứ không như bây giờ nóng quanh năm suốt tháng. Sau khi đưa vợ và con tôi về ngôi nhà nhỏ xíu ở Phú Nhuận mà tôi vẫn đang cư trú tại đấy cho đến tận ngày nay, tôi một mình lo toan mọi việc mà người đàn ông lập gia đình ra ở riêng nào cũng phải gánh vác trong hoàn cảnh tương tự.

Không quên và không chê lời dạy của Má tôi về chăm sóc sản phụ – đúc kết từ kinh nghiệm dân gian bao đời nay – tôi đã phối hợp với kiến thức Tây học để thực hiện việc sau:

Nếu kinh nghiệm dân gian nói về việc sản phụ nên “nằm than”, còn Tây học nói bếp than sinh ra khí carbonic cực kỳ độc hại cho sản phụ và hài nhi, tôi phối hợp bằng cách đặt bếp than hồng ngoài sân, đưa úp hai bàn tay của mình hứng lấy sức nóng của than, rồi chạy nhanh vào phòng trong, thử úp sơ bàn tay vào hai bên mặt của mình để yên tâm về độ nóng ấm vừa phải trước khi đặt hai bàn tay lên ngực vợ tôi, ôm từng bầu sữa một. Xong, tôi lại chạy ra chạy vào như thế, để ấp hơi ấm lên ngực vợ tôi, hai bầu sữa của vợ tôi, lên bụng vợ tôi, cũng như nhè nhẹ trên vết khâu đường giải phẫu. Sau đó, tôi lại tiếp tục việc chạy ra chạy vào để ấp ấm lên người, tay và chân của con tôi.

Má tôi đã truyền lại kinh nghiệm dân gian ấy mà Bà ngoại của tôi đã dạy Má tôi thủa sắp về nhà chồng, rằng khi sinh con, phải nằm than, không được nằm trước gió, không được tắm gội ngay cả tắm gội bằng nước ấm, mà nếu cần chỉ được lau mình qua loa bằng khăn thấm nước ấm, vì rằng nếu không thì sẽ thấy hậu quả nhãn tiền: chỉ cần vừa bước qua tuổi 30 là người phụ nữ sẽ phải luôn mặc áo ấm vì luôn thấy ớn lạnh dù trưa hè nóng bức, cũng như không thể chịu nỗi lúc trái gió trở trời. Còn việc ấp tay lên bộ ngực sản phụ để kích thích tiết sữa, lên bụng để vừa ấm bụng vừa săn chắc da bụng vừa ổn định tình hình dạ con đang bị tổn thương bên trong bụng.

Thế là sau khi cho vợ ăn sáng, cho con bú bình, ấp vợ ấp con xong, tôi chạy đi làm, để trưa quay về làm tiếp công việc y như sáng, và lại chạy đi làm đến chiều. Chưa kể, để vợ tôi ngủ yên, tôi đêm khuya bế con ra chốn thư phòng (tức nơi có một cái bàn, bốn chiếc ghế và một tỷ quyển sách) vừa cho con bú bình, vừa nói chuyện với nó bằng tiếng Anh, kể nó nghe tôi yêu nó biết bao, và mong muốn nó ngày sau hãy cố gắng hiếu thảo với mẹ, hãy là công dân tốt, và hãy thay tôi mà hết lòng chăm sóc mẹ của nó, người đã chấp nhận làm vợ một hàn sĩ như bố của nó để rồi phải trãi qua thử thách khắc nghiệt hiểm nguy để sinh nó ra đời.

Hơn nửa thế kỷ nay, Má tôi ở khu Bàn Cờ  Quận 3 vẫn đánh gió cho các con cũng như cho hàng xóm. Còn tôi ra Hà Nội họp Quốc Hội bao giờ hành trang vẫn có chai dầu khuynh diệp và dụng cụ đánh gió, để khi trái gió trở trời nhức đầu mõi cổ tôi có thể tự mình đánh gió sau gáy. Ngay cả khi không cần đến cái gọi là dụng cụ đánh gió, tôi vẫn có thể dùng ngón tay cái thấm dầu khuynh diệp để miết tới miết lui sau gáy như một cách đánh gió massage.

Phóng sự quốc tế cho thấy nhiều người Âu Mỹ ngồi xếp hàng chầu chực ở các cơ sở y học dân tộc bên Hàn Quốc chờ đến phiên được vào để được đánh gió, giác hơi. Còn tại Việt Nam thì bác sĩ thay vì nói “đánh gió là một kiểu massage tốt, đặc biệt nếu các bạn không bị cao huyết áp”, thì lại nói “đánh gió rất nguy hiểm nếu bạn bị cao huyết áp”.

Quên hết và chê hết những tinh hoa của dân tộc gần như là một đặc điểm thường thấy nơi những con người Việt Nam hiện đại. Nhưng lẽ nào người Hàn Quốc không hiện đại hay sao?

Tôi không quên và không chê những gì đã luôn được dùng để chăm sóc hiệu quả cho các chiến binh Việt trên đường Phạt Tống, Bình Chiêm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Quyền Lực Của Cử Tri

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-3-2016

Có nhiều người cho rằng câu nói sau là câu nói đúng đắn, bình thường: “Nếu được cử tri tín nhiệm, tôi sẽ ra ứng cử Quốc Hội / Hội Đồng Nhân Dân khóa tới”. Thật ra, nói như thế là xúc phạm quyền lực của cử tri.

Khi động viên nhiều bạn trẻ không phải Đảng viên hãy tự ra ứng cử Quốc hội và Hội Đồng Nhân Dân kỳ này (2016-2021), tôi luôn gặp phải câu nói rằng họ sợ rớt sẽ vừa rất xấu hổ vừa bị mang tiếng không biết thân biết phận đua đòi. Tôi đã phải hùng biện như sau:

1) Có bao giờ bạn đi thi đại học với điều kiện tiên quyết rằng nhà trường phải bảo đảm bạn thi đậu tuyển sinh 100%? Bạn phải cố gắng học tập chăm chỉ và ứng thí vào trường đại học có chuyên ngành bạn yêu thích, cố gắng làm bài thi cho tốt và đi thi đủ môn đủ ngày, để bạn có hy vọng trúng tuyển đại học, thay vì hy vọng đó là zero nếu chẳng đi thi. Ngay cả khi kết quả thi không có tên của bạn, đó vẫn là điều bình thường, không phải vì bạn học kém, mà đơn giản vì chỉ có 20 ghế trống chẳng hạn, mà đã có 15 thí sinh đạt điểm mười, 5 thí sinh đạt điểm chín phẩy chín, bạn đạt điểm chín phẩy năm nên rớt chung với cả trăm người nhỏ điểm hơn bạn. Đó là quyền năng của ban giám khảo dựa theo quy định nghiêm ngặt của điểm số và của số lượng được tuyển, chứ hoàn toàn không ai xúc phạm bạn về học lực của bạn.

2) Có bao giờ bạn chỉ đi thi TOEFL với điều kiện tiên quyết rằng trung tâm tổ chức thi phải bảo đảm 100% bạn sẽ có chứng chỉ TOEFL ngay để nộp hồ sơ xin du học? Bạn phải cố gắng học tập tiếng Anh thật chăm chỉ và đăng ký thi tại trung tâm khảo thí chính thức của TOEFL, cố gắng làm bài thi cho tốt và đi thi đủ môn đủ ngày, để bạn có hy vọng đạt đủ điểm để được cấp chứng chỉ TOEFL. Không dự thi thì bạn không bao giờ biết trình độ tiếng Anh của bạn đã đạt đến ngưỡng nào, chưa kể bạn không thể du học nếu thiếu chứng chỉ ấy. Đó là quyền năng của ban giám khảo dựa theo quy định nghiêm ngặt của điểm số theo một đề bài cụ thể từ Mỹ, chứ hoàn toàn không ai xúc phạm bạn về trình độ tiếng Anh nói chung của bạn.

3) Có bao giờ bạn chỉ tỏ tình với người bạn yêu thương với điều kiện tiên quyết rằng người ấy phải chấp nhận tình yêu của bạn và trở thành vợ (hay chồng) của bạn? Bạn tỏ tình vì bạn tự tin, có can đảm thố lộ tình yêu. Còn việc người ấy không chấp nhận tình yêu của bạn, đơn giản vì con người đáng kính ấy chung thủy với người khác, chứ không vì bạn hèn kém. Việc tỏ tình và chấp nhận kết quả của việc tỏ tình chứng tỏ bạn trưởng thành, biết tôn trọng tình yêu của bạn, tôn trọng người bạn yêu, và bạn sẽ được tôn trọng tương xứng như một người văn minh. Đối tượng bạn yêu thương có lý lẽ riêng của người đó, và đó là quyền của người đó, hoàn toàn không xúc phạm chê bai gì bạn cả.

4) Có bao giờ bạn từ chối nộp đơn xin việc tại một công ty khổng lồ đa quốc gia nếu công ty khổng lồ ấy không bảo đảm bằng giấy trắng mực đen với bạn là bạn sẽ được tuyển dụng nếu chịu nộp đơn? Bạn vẫn phải nộp đơn nhiều nơi, dự nhiều cuộc phỏng vấn, đối chọi với bao đối thủ cạnh tranh, để hy vọng đạt được một khởi nghiệp như ý. Ngay cả khi bạn không được tuyển dụng, hãy khoan nghĩ tiêu cực rằng bạn kém cỏi, mà hãy tin rằng vị trí tuyển dụng chỉ có một, mà kết quả cho thấy bạn cùng một ứng viên nọ ngang tài ngang sức, nhưng quyết định lại không được trao cho bạn chỉ vì ững viên kia có sơ yếu lý lịch cho thấy gia cảnh là con trưởng phải phụng dưỡng cha mẹ già và nuôi đàn em những năm đứa, trong khi bạn có gia cảnh sung túc hơn qua thể hiện nơi trang phục và trang bị đắt tiền của bạn lúc dự phỏng vấn. Vị giám đốc nhân sự có lỹ lẽ riêng của vị ấy, hoàn toàn không xúc phạm gì đến tư cách hay trình độ của bạn cả.

5) Và bạn lẽ nào chỉ nộp đơn dự thi The Voice nếu ban giám khảo cam đoan rằng bạn sẽ đoạt giải nhất? Bạn phải luyện hát cật lực, luyện giọng gian khổ, để đến trình bày tác phẩm dự thi của bạn. Ban giám khảo sẽ quyết định về bạn, và ngay cả khi quyết định ấy không vì bạn, đó cũng là lẽ công bằng vì mọi người dự thi có thể có trình độ biểu diễn ca khúc hay như nhau, nhưng sự lựa chọn hay không lại có khi tùy vào sự luyến láy của một nốt nhạc yếu thế. Đó là quyền của các giám khảo, những người có trình độ cao về âm nhạc, và có đặc quyền mà ban tổ chức đã trao cho họ. Bạn đi thi vì bạn tự tin, vì bạn đã cố hết sức, và bạn để ban giám khảo thực hiện quyền năng của họ.

Đối với việc ra ứng cử Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân, bạn và tôi thuộc diện ngoài Đảng, tự ứng cử, không được người dân biết đến do chưa từng có công trạng với cách mạng, chưa từng ngồi ghế cao quyền trọng để được nhắc đến trong phạm vi cả nước; vì vậy, bạn và tôi phải xác định rằng (a) việc ra ứng cử là vì muốn cống hiến tâm lực trí lực cho nước cho dân, (b) chấp nhận khi trúng cử sẽ phục vụ đất nước và nhân dân mà không hưởng lương, (c) bản thân bạn và tôi chỉ là con số không đối với người dân, (d) bản thân bạn hay tôi cùng từng thành viên trong đại gia đình của bạn hay của tôi kể cả cha mẹ anh chị em của bạn hay của tôi tất cả đều phải luôn là những công dân tốt của xã hội chưa từng có tiền án tiền sự, và (e) bạn và tôi phải ra sức bày  tỏ thuyết phục người dân – tức cử tri – chịu tin vào tấm lòng của bạn và của tôi để từ đó toàn quyền quyết định có cho phép bạn và tôi có cơ hội được thay họ ra giúp nước giúp dân hay không.

Nếu bạn và tôi đã chuẩn bị chăm chút từng li từng tí một như thế mà vẫn chưa có được sự cho phép của cử tri, đó là điều đơn giản và công bằng.

Đơn giản vì cử tri đang thực hiện quyền năng của họ.

Đơn giản vì mọi người có lòng vì nước vì dân khi thu xếp được thời gian để phụng sự và chấp nhận các hy sinh đều có thể tự ra ứng cử, và cử tri bắt đầu công việc một ban giám khảo nghiêm túc, công tâm, để chấm điểm, lựa chọn ứng viên hay những ứng viên có điểm số chung nhỉnh hơn để trao lá phiếu bầu chọn của mình.

Công bằng vì nếu bạn và tôi chưa được trao lá phiếu ấy, nghĩa là sự chuẩn bị của bạn và tôi vẫn chưa được đủ đầy, chưa ở vị trí vượt trội.

Vì tất cả những điều công bằng đơn giản trên, cộng với sự công nhận và tôn trọng quyền lực của cử tri, bạn hãy tự tin nộp đơn tự ứng cử. Được cử tri lắng nghe, được cử tri cân nhắc, được cử tri chấm điểm: đó là vinh dự của bạn chứ bạn không thể nói bạn “xấu hổ” hay “đua đòi trèo cao” nếu kết quả điểm bạn thấp hơn người khác.

Bạn và tôi, chúng ta không bao giờ được phép nói chúng ta sẽ ra ứng cử nếu được cử tri tín nhiệm, vì nói thế là xúc phạm sự công minh của cử tri, gây áp lực nơi cử tri, và tước lấy nơi họ quyền quyết định chỉ thuộc riêng về họ.

Bạn và tôi, chúng ta cùng ra tự ứng cử vì chúng ta muốn phục vụ quốc gia, dân tộc. Và chúng ta đợi chờ sự quyết định của cử tri. Quyết định ấy có thể đến với bạn trong kỳ này, hoặc kỳ sau, hoặc sau kỳ sau, miễn bạn kiên tâm, bền chí, vì bạn có lợi thế về tuổi trẻ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Có Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-3-2016

VoDuyen1Vo Duyen2

Vo Duyen3Vo Duyen4XYZ

Bài này cùng hai bài trước chỉ đưa ra một vài thí dụ tôi từ khi internet xuất hiện đến nay đã liên tục đơn thương độc mã chống chọi với các xúc xiểm đất nước Việt Nam từ không gian mạng. Gọi là đơn thương độc mã vì đa số những người chống Chống Cộng ở Việt Nam đã dùng những từ thật ngắn gọn, mạnh mẽ, để nguyền rủa những ai thóa mạ Việt Nam cùng Hồ Chí Minh. Gọi là đơn thương độc mã vì chỉ có tôi miệt mài bút chiến bằng tiếng Anh vì đối tượng tôi nhắm đến là sinh viên – học sinh Việt Nam ở Việt Nam hay hải ngoại, và những người nước ngoài, chứ không bao giờ bút chiến luận với những ai là tác giả các bài thóa mạ bôi nhọ Việt Nam cả.

Hai thí dụ ở trên là hai thí dụ mới nhất của ngày hôm qua. Thí dụ thứ nhất là bức tranh hạ đẳng của một gã tên Nguyễn Đất, Nguyễn Đạt, hay Nguyễn Dật gì đó, với chức danh ghi là “quản lý chương trình phát triển Việt Nam tại Đại Học Nam Columbia”. Rất có thể y là một chiến sĩ cộng sản trẻ ưu tú đang tạo lớp vỏ bọc chống Việt để lấy lòng phe nhóm chống Việt để có thể leo cao trong hàng ngũ chống Việt để từ đó đánh phá tan tành hàng ngũ ấy. Rất có thể y giống như bao kẻ tầm thường khác hễ ra nước ngoài du học là cứ triền miên lầm tưởng là phải chửi cha Việt Nam để phù hợp với xã hội Âu Mỹ. Nhưng dù y là ai đi nữa thì tôi bảo đảm với các bạn rằng nếu các bạn đừng khinh thường y mà chịu khó nhớ tên của y thì sau 50 năm nữa các bạn cũng sẽ chẳng hề nghe tin tức gì về y như nhà trí thức hay nhà bác học vĩ đại của Âu Mỹ, đơn giản vì các vị trí ấy không bao giờ dành cho những gã hoặc hề hoặc ngu muội.

Nếu các bạn thực sự muốn người thân của mình là nhân tài ở Việt Nam hay ở Âu Mỹ, xin hãy tìm đọc các bài viết của giáo sư tiến sĩ Trần Chung Ngọc. Tiến sĩ Trần Chung Ngọc là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, Cử nhân Giáo khoa Khoa Học 1962 (Đại học Khoa học Saigon), Tiến sĩ Vật lý 1972 (Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ), Trưởng khoa Vật lý và Hóa học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1962-1965), giảng viên Vật lý Đại học Khoa học Saigon (1965-1967), giảng sư Vật lý Đại học Khoa học Saigon (1972-1975), giảng sư Vật lý Đại học Wisconsin – Madison (1975-1977), Giám đốc phòng thí nghiệm phân tích của Trung tâm Vật liệu Đại học Wisconsin – Madison (1977-1996), và là Cố vấn kỹ thuật Viện Tiêu chuẩn và Nghiên cứu Công nghiệp Singapore (1989), khi nghỉ hưu tại thị trấn Grayslake, bang Illinois, Hoa Kỳ, đã dành nhiều thời gian nghiên cứu tôn giáo, lịch sử, v.v., với nhiều tác phẩm được xuất bản ở Mỹ. Tiến sĩ đã qua đời cách nay hai năm.

Trang web của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc cung cấp hàng trăm bài viết có sức thuyết phục cao do Ông không những là một bậc trí thức đại tài mà còn là một nhà khoa học đáng kính trọng. Chỉ cần đọc các bài viết của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, các bạn trẻ Việt Nam vừa có thể mở rộng tầm mắt, mở mang trí tuệ, học hỏi thuật phân tích khoa học cùng nhận định sâu sắc, vừa có thể trau giồi hoàn thiện tiếng Anh (do Tiến sĩ Trần Chung Ngọc thường có các trích dẫn làm luận cứ cho các luận điểm của Ông và dịch ngay các dẫn chứng ấy ra tiếng Việt trong bài viết để tạo cơ sở so sánh cho người đọc) một cách hiệu quả nhất là đối với thuật hùng biện. Tấm lòng Ông với Việt Nam, các nhận định công tâm công bằng của Ông với chế độ cộng sản ở Việt Nam, cũng như lòng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của mình và về đất nước Việt Nam đang ngày càng giàu mạnh, đã quá đủ để nêu danh nghĩa khí bậc kỳ tài cao thượng và hướng thượng, những thứ mà chưa hề thấy có được nơi hàng vạn du học sinh Việt Nam ở hải ngoại, và do không tồn tại nơi họ, chẳng ai trong họ lập nên những kỳ tích hàn lâm danh vang thế giới như Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc.

Tôi không tìm sự nổi tiếng trên không gian mạng, nên chỉ chăm chút cho blog này trên WordPress.com dù cho các bài viết từ trái tim khối óc chỉ được tìm đọc bởi vài ba chục bạn đọc mà thôi. Xin cảm ơn các bạn ấy, và xin đội ơn các bạn nếu các bạn rộng lượng chuyển các đường link những bài viết này đến các bạn trẻ người Việt và gốc Việt để các bạn biết thế nào là quốc thể và lòng hướng thiện đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính Mời Tham khảo:

Thầy Trần Chung Ngọc: http://www.sachhiem.net/TCN/Ndir.php

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp Quốc Gia: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/22/de-viet-nam-tro-thanh-cuong-quoc/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 2: Hão Huyền Singapore: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/23/de-viet-nam-tro-thanh-cuong-quoc-hao-huyen-singapore/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 3: Hão Huyền Nhật Bản: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/28/2744/?preview=true&preview_id=2756&preview_nonce=6f505f96f0&frame-nonce=0d9ea09f6d&iframe=true

Không Lời 2

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-3-2016

Khong Loi2 (1)Khong Loi2 (2)Khong Loi2 (3)Khong Loi2 (4)Khong Loi2 (5)Khong Loi2 (6)Khong Loi2 (7)Khong Loi2 (8)Khong Loi2 (9)aaaaaaFrom LinkedIn (84)Khong Loi2 (11)Khong Loi2 (12)Khong Loi2 (13)Khong Loi2 (14)Khong Loi2 (15)Khong Loi2 (16)Khong Loi2 (17)Khong Loi2 (18)Khong Loi2 (19)Khong Loi2 (20)Khong Loi2 (21)Khong Loi2 (22)Khong Loi2 (23)Khong Loi2 (24)Khong Loi2 (25)Khong Loi2 (26)Khong Loi2 (27)Khong Loi2 (28)Z (1)Z (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021)

Lời Đe Dọa Dành Cho Nghị Sĩ Đương Nhiệm Hoàng Hữu Phước và Ứng Cử Viên Tự Do Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-3-2016

Chỉ cần thực hiện 1.000% lời hứa vì nước vì dân qua khẩu khí tranh cử Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) rằng luôn biết lo trước cái lo của người dân (theo gương tất cả các hiền nhân quân tử từ ngàn xưa của Á Đông trong tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ), rằng luôn bảo vệ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Namluôn bảo vệ thể chế chính trị của Việt Nam (theo thực hành thực tế của tất cả các nghị sĩ chính khách tại tất cả các quốc gia văn minh tiên tiến tư bản toàn cầu đối với thể chế chính trị của quốc gia họ), tôi đã nhận những lời đe dọa sau từ không gian mạng:

Baochi1

Trong thời gian qua, ngoài việc tích cực viết blog để phổ cập kiến thức chính trị và phổ biến các nhận định cá nhân về nhiều lĩnh vực khác nhau, tôi còn tích cực nhận lời mời đi dùng cà phê sáng với nhiều bạn trẻ quan tâm đến việc tham gia ứng cử vào Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh để giải đáp thắc mắc, trấn an, khuyến khích, hướng dẫn, cung cấp tài liệu – thậm chí tài liệu hồ sơ ứng cử của tôi với toàn bộ chi tiết kê khai về tiểu sử, lý lịch, và tài sản của tôi (để họ tham khảo và chuẩn bị trước cho riêng họ), và động viên họ tham gia tự ra ứng cử nhiệm kỳ mới (tức nhiệm kỳ 2016-2021 của Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân Thành phố). Mới đây tôi lại phải cố gắng thuyết phục họ hãy yên tâm khi họ dao động và bức xúc trước những thông tin trên báo chí:

BCQH5

Điều đáng ngạc nhiên là có kẻ không muốn tôi tiếp tục ra ứng cử Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) nên đã giả bộ gọi tôi là “Thầy” khi gởi tin nhắn sau đến trợ lý của tôi là Cô Lại Thu Trúc:

BCQH

Gọi là “giả bộ” vì đã là học trò của tôi thì phải biết một số phone thực tế của tôi mà khi bất kỳ ai trong họ gọi đến thì tôi luôn trả lời, luôn biết địa chỉ email loại “đặc biệt” của tôi mà không bất kỳ ai không phải học trò tôi được biết, chứ không phải vào web của công ty tôi rồi chỉ thấy số phone đường dây nóng dẫn đến cô trợ lý Lại Thu Trúc của tôi. Ngoài ra, kiểu nói “chính trị là lợi dụng” là kiểu nói thấp hèn, không bao giờ có nơi những học trò của tôi vốn luôn thuộc đẳng cấp tư duy cực cao; kiểu nói tôi bị “người ta lợi dụng” là xúc phạm trình độ và đẳng cấp của tôi mà đó là việc khiến người nói đương nhiên bị tất cả các học trò tôi nguyền rủa; chưa kể khi lôi ông Saddam Hussein ra và nói “giống” ắt hàm ý đe dọa tôi sẽ bị giết như Saddam Hussein  nếu dám cãi lời tiếp tục “làm chính trị nữa” tức là dám ra ứng cử trong khóa tiếp chăng.

Do họ không biết rằng:

1) tôi là chính khách “tu hành nhập thế” kiểu Việt [1];

2) đã mở miệng nói “vì nước vì dân” thì dù là ngồi ghế cao quyền trọng hay là thứ dân đều phải “vì nước vì dân” nên dù là nghị sĩ hay là không còn là nghị sĩ thì tôi vẫn tiếp tục đại nghĩa “vì nước, vì dân”, nghĩa là bất kỳ ai khi thực lòng “vì nước, vì dân” thì người đó phải ra sức bảo vệ Đảng Cộng Sản, thể chế chính trị Cộng Sản, quân đội Cộng Sản, để đất nước này, dân tộc này được bảo vệ mãi sinh tồn và trường tồn miên viễn;

3) một khi đã trải qua những năm kinh nghiệm sẻ chia, đồng cảm, thấu hiểu, và trực tiếp can thiệp cho những oan khuất, những bất bình của người dân cũng như biết rất rõ những nguyên nhân đưa đến các oan khuất và bất bình ấy để có thể mạnh tay giúp dân giúp nước hiệu quả hơn và bằng cách hiệu quả nhất;

4) một khi đã nêu gương liêm chính và liêm khiết từ thủa nhỏ cũng như trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII;

5) một khi đã ra sức động viên giúp đỡ hơn 50 công dân trẻ tuổi về mặt tư tưởng chính trị để gia tăng lượng ứng viên ngoài Đảng, có trình độ cao về năng lực và học vấn, kể cả động viên công dân diện yếu thế như nữ công dân và người khuyết tật ra ứng cử để dùng trí tuệ ra phục vụ quốc gia, dân tộc chốn nghị trường; và

6) một khi đã luôn nhận được lời động viên của người dân từ nhiều tỉnh thành trong cả nước cũng như của các “đồng chí” tức những bạn hữu và đồng nghiệp đồng tâm vì nước vì dân;

Tôi, Hoàng Hữu Phước, nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Khóa XIII, kính báo cùng quốc dân đồng bào là tôi đã nộp đơn ứng cử Quốc Hội Khóa XIV tại Sở Nội Vụ Thành phố Hồ Chí Minh lúc 16g20 ngày 07-3-2016, diện tự ứng cử, diện tái tranh cử, và diện ứng cử viên ngoài Đảng.

Đồng hành cùng tôi nộp hồ sơ ứng cử cùng ngày còn có Cô Lại Thu Trúc [2], ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), diện tự ứng cử, diện nữ ứng cử viên, và diện ứng cử viên ngoài Đảng. Cô Lại Thu Trúc từ năm 2011 đã nhận nhiều lời đe dọa đến tính mạng nếu tiếp tục làm việc tại công ty tôi. Cô Lại Thu Trúc cũng là người nhận tin nhắn đe dọa “Saddam Hussein” kể trên.

BCQH6

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

[1] Nghị sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/16/nghi-si-hoa-thuong-thich-chon-thien/

[2] Lại Thu Trúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/22/lai-thu-truc/

Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm

Thư Khẩn Cấp Của Công Dân Lại Thu Trúc Gởi Lãnh Đạo Đảng Và Quốc Hội Về Cái Sai Của Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII (2011-2016), Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Của Quốc Hội, Thành  Viên Hội Hữu Nghị Nghị Sĩ Việt Nam-Philippines

05-3-2016

Công dân Lại Thu Trúc của Thành phố Hồ Chí Minh vừa gởi thư góp ý khẩn cấp đến lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, và Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia, đặt vấn đề về Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh đã cố ý làm trái Nghị Quyết 41 của Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia, gây tác động bất lợi đối với sự kiện chính trị cực kỳ quan trọng của quốc gia.

Theo yêu cầu của công dân Lại Thu Trúc và với lòng tin của Cô vào blog này, tôi xin đăng lại toàn văn như sau. Kính mời bạn đọc tham khảo:

*********

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2016

THƯ GÓP Ý KHẨN CẤP VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIV & ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021

Kính gửi:

–         Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia

Đồng kính gửi:

–         Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

–         Chủ Tịch Quốc Hội và Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

Kính thưa quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, công dân Thành phố Hồ Chí Minh, xin được kính góp ý khẩn cấp đến Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia về việc liên quan đến kỳ bầu cử Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV & Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp Nhiệm Kỳ 2016-2021 với các nội dung chính như sau:

A- Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh Làm Trái với “Nghị Quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử quốc gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử; hướng dẫn về hồ sơ ứng cử và thời hạn nộp hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và ĐB HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”

B-Thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng về nội dung cuộc họp chiều Thứ Sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh gây phản cảm và có tác động xấu về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

1) Sự Tùy Tiện Của Lãnh Đạo Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh

2) Các Lập Luận Vô Lý và Tai Hại trong nội dung cuộc họp do Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì chiều Thứ Sáu ngày 04/03/2016

Phụ Lục Đính Kèm

 

A- Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh Làm Trái với “Nghị Quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử quốc gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử; hướng dẫn về hồ sơ ứng cử và thời hạn nộp hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và ĐB HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”

Theo thông tin được đăng tải trên báo Tuổi Trẻ vào buổi chiều thứ Sáu ngày 04/03/2016, Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí đã có phiên họp báo cáo tiến độ công tác bầu cử Đại Biểu Quốc Hội khóa XIV & Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố nhiệm kỳ 2016-2021. Tại phiên họp này, Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử TP cho biết TPHCM sẽ chính thức đề xuất Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định ứng viên ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND phải có giấy chứng nhận sức khỏe, và TPHCM thống nhất kiến nghị Hội đồng Bầu cử Quốc gia quy định bổ sung giấy chứng nhận sức khỏe vào hồ sơ ứng cử Đại Biểu Quốc Hội và Đại Biểu HĐND. Bên cạnh đó, đề nghị Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá, xác nhận đủ điều kiện sức khỏe cũng như quy định danh mục các cơ sở y tế đủ chức năng cấp giấy chứng nhận sức khỏe” (như phụ lục đính kèm thư này)

Các ý kiến thống nhất thông qua tại phiên họp chiều thứ sáu 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã hoàn toàn trái với nội dung của nghị quyết số 41-NQ-HĐBCQG do Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia ban hành ngày 29/01/2016 đã được công bố rộng rãi đến nhân dân trên toàn quốc. Theo Quy định tại Nghị quyết số 41-NQ- HĐBCQG hạn chót nộp hồ sơ ứng cử và tự ứng cử là chủ nhật 13/03/2016, trong khi đó chiều ngày 04/03/2016 Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh lại đưa ra một đề xuất “đề nghị Hội Hội đồng bầu cử Quốc gia có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá, xác nhận đủ điều kiện sức khỏe cũng như quy định danh mục các cơ sở y tế đủ chức năng cấp giấy chứng nhận sức khỏe” là hoàn toàn không khả thi vì chỉ còn 9 ngày là hết hạn nộp hồ sơ ứng cử trên toàn quốc. Ngoài ra, nếu Thành Phố Hồ Chí Minh có ý định ban hành những quy định riêng cho công dân Thành Phố Hồ Chí Minh thì sẽ trở thành khu tự trị tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tấn công vào tính nghiêm túc của sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

B-Thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng về nội dung cuộc họp chiều thứ sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh gây phản cảm và có tác động xấu về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

1) Sự Tùy Tiện Của Lãnh Đạo Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh:

Trong phiên họp chiều thứ năm 03/03/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia đã có những nội dung chính như “không được phân biệt đối xử với người tự ứng cử”; “đã có 50 người tự ứng cử Đại Biểu Quốc Hội trên toàn quốc” và dự kiến những ngày sắp đến sẽ có thêm nhiều ứng viên tự ứng cử nộp hồ sơ tạo sự phấn khởi cho cử tri trên toàn quốc. Thì ngược lại việc các phương tiện truyền thông đại chúng đăng tải nội dung buổi họp chiều thứ sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ dẫn đến sự hoang mang không đáng có cho nhân dân trên toàn quốc nói chung và những người tự ứng cử nói riêng dù là những người ứng cử đã nộp hay sẽ nộp hồ sơ trong 9 ngày còn lại trước hạn chót nộp hồ sơ ứng cử là 17 giờ chủ nhật ngày 13/03/2016. Và điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là việc Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã đưa ra các đề xuất tại buổi họp này không đúng thời điểm khi ngày hết hạn nộp hồ sơ ứng cử đã gần kề dễ gây ra phản cảm rằng Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã không làm việc nghiêm túc, thiếu cân nhắc đối với sự kiện chính trị trọng đại này.

2) Các Lập Luận Vô Lý và Tai Hại trong nội dung cuộc họp do Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì chiều thứ sáu ngày 04/03/2016

a– Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm cho rằng khi người lao động xin việc phải có hồ sơ khám sức khỏe, thì ứng cử vào cơ quan quyền lực quan trọng như Quốc Hội phải có hồ sơ khám sức khỏe là việc đương nhiên. Đây là kiểu ví von hoàn toàn sai vì:

– Ứng cử viên Đại biểu Quốc hội không “xin việc” tại Quốc Hội, và Quốc Hội không phải là “người sử dụng lao động”

– Đại biểu Quốc hội diện kiêm nhiệm hoàn toàn không hưởng lương của Quốc Hội, hoàn toàn không có quan hệ người sử dụng lao động và người lao động để có các yêu cầu ngoài quy định của Quốc Hội.

– Cái gọi là “giấy khám sức khỏe” mà các nhà tuyển dụng lao động cần có lại chưa bao giờ là thứ tài liệu quan trọng vì trên thực tế nội dung giấy khám sức khỏe rất sơ sài và cũng chưa được chuẩn hóa ở cấp độ quốc gia để có thể đưa ra làm lập luận so sánh trong kỳ bầu cử Quốc Hội khóa XIV.

– Nếu hồ sơ sức khỏe là quan trọng, vậy phải chăng việc khám sức khỏe phải tiến hành hàng năm, vì không bao giờ có mặc định rằng một Đại biểu Quốc hội có sức khỏe tốt năm nay lại sẽ tốt mãi như thế trong suốt nhiệm kỳ, và phải chăng năm nào bị ngã bệnh thì năm đó phải bãi nhiệm Đại biểu Quốc hội ấy để bầu bổ sung Đại biểu Quốc hội khác? Và nếu vậy thì nội dung này được quy định tại điều nào của luật nào.

–  Việc “khám sức khỏe” nhất là “khám sức khỏe tâm thần” có được yêu cầu nơi người được Trung Ương giới thiệu không hay chỉ áp dụng với người tự ứng cử là nội dung cần được cân nhắc một cách nghiêm túc tránh sự hoang mang không đáng có trong nhân dân trên toàn quốc khi Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu trong phiên họp báo tuyên truyền về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

– Tại tất cả các nước văn minh trên toàn thế giới, các chi tiết sức khỏe của cá nhân là tối mật. Vậy Quốc Hội sẽ xử trí ra sao nếu một người bị loại vì lý do sức khỏe và người này đưa ra hai yêu cầu rằng hãy cho biết công khai chi tiết sức khỏe nào của họ không đạt, và hãy cho biết công khai chi tiết sức khỏe một ứng viên khác hay một Đại biểu Quốc hội đương nhiệm khác mà người bị loại ấy cho biết có đủ thông tin về căn bệnh tương tự của vị này như người ấy?

b– Theo Báo Tuổi Trẻ thì nội dung chính của khám sức khỏe mà Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm đề ra là “khám sức khỏe tâm thần”. Tôi cho rằng trên toàn cõi Việt Nam chỉ có các bệnh viện tâm thần chứ khắp các tỉnh thành và địa phương hoàn toàn không có các y bác sĩ chuyên viên khám bệnh tâm lý – tâm thần.

Tóm lại, buổi họp báo của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh vào chiều thứ sáu 04/03/2016 đã có nội dung hoàn toàn trái với nghị quyết 41-NQ-HĐBCQG. Ngoài ra, các lập luận của Chủ Tịch Ủy Ban Bầu Cử TP.HCM-Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm được đăng tải công khai bởi các phương tiện truyền thông gây phản cảm và tạo ra ấn tượng xấu là đang có xu hướng tạo ra những sự phân biệt đối xử, những rào cản đối với những công dân có tâm huyết với đất nước có nguyện vọng tự ứng cử vào Quốc Hội khóa XIV nhiệm kỳ 2016-2021 tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Kính cảm ơn quý lãnh đạo đã dành thời gian đọc bản góp ý khẩn cấp này và xin kính chào trân trọng.

Lại Thu Trúc

Phone: 0903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Phụ lục: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160304/nguoi-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi-hdnd-phai-kham-suc-khoe-tam-than/1061821.html

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kinh mời tham khảo thêm các bài viết của Hoàng Hữu Phước về:

Lại Thu Trúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/22/lai-thu-truc/

Nguyễn Thị Quyết Tâm:  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/nguyen-thi-quyet-tam/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Bài 3: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-02-2016

Là một quốc gia không có nguồn nhân lực có ý chí cực cao, tính kỹ luật cực cao, sự trung thành cực cao đối với chế độ chính trị nước nhà, sự khôn ngoan cực cao làm chúa ngoại bang chớ không làm tôi tớ ngoại bang, và có sự giúp đỡ cực cao của Mỹ như Nhật Bản, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc nhất vô nhị của Nhật Bản để được hùng mạnh về kinh tế như Nhật Bản.

Có một thực tế ở Việt Nam là hay có dư luận dù vô tình bởi người thiếu hiểu biết hay dù cố ý bởi kẻ chăm chỉ chống chế độ cộng sản đều hay sử dụng Nhật Bản dù chỉ là một cái cớ rất nghèo nàn yếu đuối để chứng minh Cộng sản Việt Nam Cộng Sản đã thất bại không thể xây dựng được nền kinh tế thần kỳ như Nhật Bản do Nhật Bản cũng trải qua sự tàn phá kiệt quệ sau chiến tranh có khi còn tàn khốc hơn cả Việt Nam.

Tất nhiên, do Việt Nam chỉ lo tập trung vào các môn Lịch Sử Việt và Lịch Sử Đảng khiến học sinh trung học thì “dốt” Sử còn nhà sử học thì chỉ giỏi phát biểu về Việt Sử trong khi sách sử thì ai cũng có thể đọc được và biết được, chẳng cần phải có các vị nhà sử học ấy làm gì cho chật chội tháp ngà hàn lâm vốn đã chưa từng cao và không còn rộng, những kẻ thậm chí góp phần miệt thị môn Sử qua việc chẳng làm gì ra hồn khiến cho môn Sử lụn bại đến nỗi bị loại ra khỏi tất cả các kỳ thi cuối lớp hay cuối cấp ở trung học. Còn môn Thế Giới Sử thì đã biến mất cùng với sự sụp đổ Việt Nam Cộng Hòa nên ở Việt Nam ngày nay mỗi khi nói đến “Sử” thì người ta chỉ biết đó là “lịch sử Việt Nam” mà quan trọng nhất là môn Lịch Sử Đảng – tất cả khiến có sự mù mờ về lịch sử thế giới và sự thần phục Singapore – còn đối tượng của bài này là Nhật Bản – xuất hiện như sự đương nhiên, tất nhiên, hiển nhiên, và dĩ nhiên là tự nhiên. Bài viết này, do đó, trở thành một dẫn chứng về những sự thật lịch sử của thế giới hầu giúp lành mạnh hóa giới trẻ nai tơ và vô hiệu hóa các bài bản công kích của Việt gian cáo già nhắm vào Việt Nam Cộng Sản, theo các nội dung chính sau:

ScreenShot1109

A) Tội Ác Ngút Trời Của Nhật Bản Trong Đệ Nhị Thế Chiến

Giới cầm quyền Nhật Bản bị quy phải chịu trách nhiệm đã tàn sát nhiều triệu thường dân và tù binh chiến tranh tại các quốc gia Nhật chiếm đóng mà hình ảnh trữ lưu như các “chiến tích anh hùng” của các sĩ quan và chiến binh Nhật Bản cho thấy từ những cảnh xử tử bằng súng cho đến chặt đầu và chôn sống tù nhân, mà chỉ trong một cuộc thảm sát Nam Kinh thôi cũng đã có 300.000 hàng binh Trung Quốc bị xử tử và 80.000 phụ nữ dân thường từ 10 đến 80 tuổi kể cả các nữ tu bị hãm hiếp trước khi bị sát hại bằng cách cắt rời hoặc đóng cọc sắt vào bộ phận sinh dục của họ, hoặc bị bắt theo làm nô lệ tình dục phục vụ quân đội Thiên Hoàng. Những hình chụp hai chiến binh Nhật Bản đứng cầm khoe hai chiếc thủ cấp chiến sĩ Việt Minh bên cạnh hai thi thể không đầu của họ, hoặc hình chụp hai sĩ quan Nhật cầm gươm hãnh diện cá cược với nhau ai sẽ là người tự mình dùng gươm chặt đầu 100 tù binh trước, v.v., cho thấy sự tàn bạo tập thể mà mức độ của nó ắt khó thể so sánh ai-hơn-ai với các cuộc thảm sát của các đế chế thời Trung Cổ hay của Campuchia thời hiện đại. Xua quân gieo rắc kinh hoàng trên quy mô thế giới thì toàn nhân loại cận đại chỉ có Thiên Hoàng Chiêu Hòa Hirohito, chí ít xét về mức độ tàn bạo của các cuộc chinh phạt Châu Âu của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn cùng các hậu duệ Mông Cổ, và chín cuộc Thập Tự Chinh chính thức mà thế giới Cơ-đốc giáo dưới lịnh các Đức Giáo Hoàng tiến hành xâm lược cướp bóc tàn phá thế giới Hồi Giáo trong thời gian từ năm 1095 đến 1291.

B) Lý Do Mỹ Cấp Viện Trợ Khổng Lồ Cho Nhật Bản

Cùng với đại tội hình thành Khối Trục Đức-Ý-Nhật gây ra Đệ Nhị Thế Chiến cũng như các tội ác ngút trời nêu trên, Nhật Bản còn gây thiệt hại nặng nề cho Hải Quân Hoa Kỳ trên mặt biển, thậm chí còn táo tợn chế tạo được cả tàu ngầm khủng khiếp khổng lồ Sentoku Lớp I-400 có thể đi một vòng rưỡi quanh trái đất không cần tiếp nhiên liệu, đặc biệt mỗi chiếc có thể chứa trong lòng tàu những ba chiến đấu cơ không kích M6A1, lặn đi vòng qua Mũi Horn Nam Mỹ định tấn công Hoa Kỳ bằng không quân từ phía Đại Tây Dương hầu biến Hoa Kỳ bị phơi mình trước các cuộc không kích của Nhật Bản từ hai phía Đông và Tây. Tuy nhiên, Nhật Bản không kịp triển khai các cuộc tấn công Mỹ từ Đại Tây Dương và cũng không kịp đánh đắm tất cả các tàu ngầm I-400, nên Mỹ đã bắt được một chiếc “tầu ngầm sân bay” I-400 đầu hàng để khẩn cấp đổ các nhà kỹ thuật đến khẩn trương nghiên cứu công nghệ (sau này mô phỏng theo mà chế ra tàu ngầm lợi hại hơn, hợp lý hơn: phóng tên lửa tấn công có mang đầu đạn hạt nhân) trước khi nổ bom phá tan đánh chìm do không muốn phải chia sẻ với Liên Xô (do đã có thỏa ước với Liên Xô theo đó tất cả các vũ khí hiện đại của Khối Trục nếu bị tịch thu phải để các “đồng minh” cùng nhau nghiên cứu). Ấy vậy mà đối với kẻ thù táo tợn đến như thế, Mỹ lại đã ra tay cứu vớt mà thế giới sử đã có các ghi nhận các lý do như sau:

1) Gây hấn với Liên Xô do vầy đoàn với Đức và Ý trong Khối Trục, và gây chiến trực tiếp với Liên Xô trên lãnh thổ phía Đông của Nga tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Nhật vào thời điểm cuối Thế Chiến khi Đức và Ý đã bị Liên Xô đánh tan nát và Liên Xô hủy diệt đạo quân Quan Đông của Nhật, xóa sổ Mãn Châu Quốc mà Nhật đã dựng nên, khiến triệt tiêu bộ binh Nhật Bản ở Trung Quốc, làm nghiêng lệch cán cân cuộc chiến, Nhật Bản đã hốt hoảng trước việc Liên Xô sắp thừa thắng vượt biển tấn công trừng phạt và chiếm luôn Nhật Bản. Mỹ và Nhật Bản đã cùng có hành động kỳ dị như nhau: đối với Nhật Bản đã kiệt quệ thua trên tất cả các mặt trận sắp buộc phải đầu hàng trong ngày một ngày hai, Mỹ vội vàng hấp tấp ném ngay hai quả bom nguyên tử tàn phá Hiroshima và Nagasaki để (a) thị uy với Liên Xô và (b) giúp Nhật có cớ để tuyên bố đầu hàng; còn Nhật chỉ chờ có thế để vội vàng đầu hàng Mỹ dù biết Mỹ không có thêm quả bom nguyên tử nào khác. Sự đầu hàng Mỹ của Nhật Bản được đặt ra với điều kiện tiên quyết là Nhật Hoàng Hirohito cùng toàn bộ hoàng gia kể cả các hoàng tử vương công khét tiếng tàn ác diệt chủng như Chichibu, Asaka, Takeda, và Higashikuni phải được Mỹ cam đoan không bị đưa ra tòa án quốc tế về (a) tội phạm chiến tranh, (b) tội phạm chống nhân loại, và (c) tội phạm chống hòa bình hầu tránh các án tử hình dù các nhân vật này nắm quyền lực chính trong chỉ đạo và trực tiếp tiến hành chiến tranh thế giới ở Châu Á – Thái Bình Dương. Để chặn đà tiến của cộng sản Nga ra Thái Bình Dương, Mỹ đã chấp nhận điều kiện của Nhật Bản, và cuộc đầu hàng đã diễn ra nhanh chóng trong 23 phút trên chiến hạm USS Missouri của Hoa Kỳ. Hoàng Đế Nhật Bản được Hoa Kỳ biến thành vị vua chỉ là biểu tượng quốc gia không quyền lực nên không phải chịu trách nhiệm gì. Hoa Kỳ được Nhật Bản trao cho danh dự giải phóng Châu Á – Thái Bình Dương, tước danh dự này khỏi tay Liên Xô một cách ngoạn mục. Hoàng gia Nhật Bản hoàn toàn thoát tội. Và ngay cả các quan tướng cao cấp dù phải làm bình phong chịu bị kết án nhưng sau đó đều được hoặc Tướng Mỹ Douglas MacArthur cứu vớt hoặc được các tổng thống Mỹ lần lượt ân xá, như Mamoru Shigemitsu (sau này trở thành Bộ trưởng Ngoại Giao), Okinori Kaya (sau này làm Bộ Trưởng Tài Chính), cùng những cái tên khét tiếng tàn bạo khác như Hashimoto Kingoro, Hata Shunroku, Minami Jiro, Oka Takazumi, Araki Sadao, Hiranuma Kiichiro, Hoshino Naoki, Kaya Okinori, Kido Koichi, Oshima Hiroshi, Shimada Shigetaro, và Suzuki Teiichi, v.v., đều được ân xá, không như các “đồng chí” Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý của họ bị tòa án Nuremberg lôi xềnh xệch lên giảo đài treo cổ tại trời Âu.

2) Dù chương trình tái thiết hậu chiến mang tên Kế Hoạch Marshall do Mỹ tài trợ không bao gồm Nhật Bản, Mỹ vẫn hỗ trợ Nhật Bản hồi phục và phát triển kinh tế bằng cách biến Nhật Bản thành cơ sở hậu cần cung cấp vật tư phương tiện vận tải chiến tranh cho Mỹ và Liên Hợp Quốc trong chiến tranh Nam-Bắc Hàn, khiến Nhật Bản nhận được một nguồn thu thậm chí còn lớn hơn gấp nhiều lần bất kỳ các quốc gia nào khác của Châu Âu có nằm trong danh sách nhận viện trợ tái thiết của Mỹ từ Kế Hoạch Marshall.

3) Ngoài ra, Nhật Bản còn được Mỹ xem như vòng cung tuyệt diệu phối hợp cùng Hàn Quốc trong ngăn chặn và kềm chế sự bung ra Thái Bình Dương của Trung Quốc, giúp giữ an toàn cho bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ tức Thái Bình Dương.

Như vậy, vừa thoát tất cả các sự trừng trị của quốc tế để bảo toàn danh dự cho hoàng đế và hoàng tộc, vừa được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chỉ trong vòng 5 năm sau Thế Chiến, Nhật Bản đã đạt mức tăng trưởng GDP cao hơn cả chính Hoa Kỳ. Các thuận lợi ấy đều phải tính đến giá trị nhận được cao nhất của Nhật Bản là chính sự tiếp tục tồn tại của hoàng triều đã (a) duy trì lòng tự hào dân tộc, (b) các giá trị đặc thù dân tộc tính không bị tổn thương hay bị xúc phạm nên tính cách Nhật được tồn tại và phát huy mạnh mẽ hơn dù theo một đường hướng mới chinh phạt và chinh phục khác, (c) các tủi hổ tủi nhục không có cơ hội tồn tại vì đã có cái cớ “bị Mỹ tàn ác ném bom nguyên tử nên hoàng đế phải vì cứu dân mà tuyên bố đầu hàng” chứ quân đội Thiên Hoàng không bao giờ thất trận, và (d) người Nhật nhất thiết phải tạo ánh hào quang mới để vinh danh Nhật Bản trên trường quốc tế: đó là khoa học kỹ thuật hiện đại của đất nước đã từng chế tạo thành công tàu ngầm sân bay I-400 suýt nữa đã gây tang thương ngẫu lục ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ từ hai phía Đông và Tây.

C) Tam Đại Ngu Của Nhật Bản

Nhật Bản lẽ ra ngày nay là quốc gia rộng lớn nhất thế giới, và do đó đồng thời là siêu cường đứng đầu thế giới, nếu như Chiêu Hòa Thiên Hoàng Hirohito có dưới trướng những vị quân sư có tầm nhìn chiến lược của những nhà chinh phục chiến thắng, thay vì những thầy dùi chỉ có tầm nhìn chiến thuật của những kẻ lầm lũi chinh phạt đại bại. Ba viện dẫn cho sự ngu xuẩn khiến ngày nay Nhật Bản chỉ là một đảo quốc nhỏ bé bị bủa vây bởi thiên tai và sự đe dọa của Trung Quốc cũng như sự hằn học của Hàn Quốc gồm:

1- Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên vĩnh viễn dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Japonchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản lại hùa theo Khối Trục để chõi lại với Liên Xô. Đây là cái đại ngu thứ nhất: đã không biết gì về sức mạnh muôn đời của Nga dù là của chế độ Sa Hoàng, của chế độ cộng sản Liên Xô hay của chế độ phi cộng sản Nga.

2– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Nipponchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản với số dân ít ỏi lại muốn làm bá chủ trực tiếp cai trị cả vùng Châu Á – Thái Bình Dương, tức biến Nhật Bản thành một siêu quốc gia tức lớn hơn cả “đế quốc Đại Đông Á” vốn đã quá khổng lồ so với “đế quốc Tân Nhật Bản Nipponchin”. Đây là cái đại ngu thứ nhì: đã (a) tấn công Trân Châu Cảng tàn phá căn cứ hải quân Hoa Kỳ, (b) tìm diệt các hạm đội Hoa Kỳ trên toàn Thái Bình Dương, (c) tìm diệt các binh đoàn Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, và do đó (d) tạo thêm kẻ thù Hoa Kỳ hùng mạnh mới, khiến sự dàn trải quá rộng trên phần địa lý chiếm phân nửa địa cầu làm tiêu hao sinh lực quốc gia, đẩy Nhật Bản đến sự diệt vong lẽ ra không bao giờ có thể là sự thật.

3– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra phải dừng lại và đứng sững vĩnh viễn ngay tại trước cột mốc biên giới Việt Nam. Đây là cái đại ngu thứ ba, song lại là cái đại ngu lớn nhất, vì rằng đã chưa từng biết Việt Nam mãi mãi là tử địa muôn đời đối với bất kỳ thế lực đế quốc nào dù hùng mạnh đến đâu chăng nữa. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu cả Châu Âu bằng cách đánh bại bộ binh và kỵ binh của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn và hậu duệ của ông, khiến vó ngựa chinh phục của Mông Cổ phải dừng lại vĩnh viễn trước khi đến được bờ biển Đại Tây Dương, giúp các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Đức, Ý, v.v., có cơ hội vàng tồn tại để sau đó trở thành các thực thể đế quốc thậm chí có kẻ dám hổn láo bất hiếu bất mục xâm lược đô hộ Việt Nam. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu Nhật Bản bằng cách đánh bại các hạm đội thủy quân và hải quân Tàu khiến Tàu không thể tiến ra biển khơi tóm thâu Nhật Bản, mà Sử Tàu giỏi lắm cũng chỉ có đoạn viết ngợi ca mấy con tàu chỉ dám giong buồm mon men dọc theo sát bờ biển tiến đánh Đại Hàn để hình thành tiểu thuyết dã sử Tiết Nhân Quý Chinh Đông nhảm nhí. Trong thời cận đại, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cổ điển, khiến Pháp – và sau đó là hiệu ứng domino xô sập các đế quốc Châu Âu – mất đi các thuộc địa, làm cho Vương Quốc Anh dù mon men theo đóm ăn tàn đổ bộ Việt Nam toan tiếp nhận thuộc địa từ tay Pháp cũng phải vội vã rút quân, thay đổi chiến lược và chiến thuật, biến các thuộc địa của Anh trở thành các quốc gia độc lập trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh thay vì mất trắng mất sạch thuộc địa. Tương tự, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới qua việc đánh bại Hoa Kỳ.

Từ ba đại ngu của Nhật Bản, nhân loại có thể rút ra ba bài học quý báu rằng nếu muốn sống còn hay còn sống thì (a) đừng bao giờ chọc giận Nga phải ra tay, (b) đừng bao giờ chọc giận Hoa Kỳ phải xuất chiêu, và (c) đừng bao giờ chọc giận Việt Nam phải động thủ. Tất nhiên là về quân sự.

D) Tứ Đại Phúc Của Nhật Bản

Thế giới – kể cả các tiểu thế giới chống cộng – đều biết nhiều, viết nhiều, và nói nhiều về sự thần kỳ của sức mạnh Nhật Bản. Lập lại các lời khen tặng đó trong bài viết này sẽ chỉ biến người viết thành kẻ thuộc đẳng cấp tầm thường. Nếu như sự đại bại của Nhật Bản là hậu quả của ba điều ngu muội lớn mà tiếng Hán Việt gọi là “tam đại ngu” thì sự vươn lên tuyệt vời của Nhật Bản không thể không nói đến “tứ đại phúc” tuyệt diệu cơ duyên Trời ban vĩ đại độc đáo sau, khiến mỗi người dân Nhật Bản có bốn chí khí không thể bắt gặp nơi bất kỳ dân tộc nào trên toàn thế giới:

1- Trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của nước nhà

Người Nhật là minh chứng cho tất cả các giải nghĩa giải thích thế nào là “trung thành tuyệt đối” khi hoàng gia của họ là độc nhất vô nhị duy trì quyền lực từ thủa xa xưa cho đến nay, bất kể trong cái “ngàn xưa” ấy thể chế quân chủ chuyên chế của họ có hà khắc bạo tàn đến đâu chăng nữa. Muốn đất nước hùng mạnh thì đất nước phải có con người hùng mạnh, và muốn trở thành con người hùng mạnh cần thiết cho một quốc gia thì bản thân người ấy phải trung thành tuyệt đối với thể chế chính trị nước nhà. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu không có đức tính trung thành tuyệt đối giống y hệt của người Nhật Bản.

2- Tận tụy hy sinh vì đất nước ngay cả trong mặt trận hiền hòa của giáo dục và đào tạo

Người ta chỉ hay nói đến các chiến binh Nhật Bản xa xưa với tinh thần được gọi quen thuộc là “tinh thần võ sĩ đạo Samurai” với hành động Seppuku tức Hara-kiri tức là dùng ngọn dao “tantō” tự mổ bụng tự sát để bảo toàn thanh danh trung thành trung tín đến cùng, bất kể đó là lòng tận trung của một nam nhân đối với chủ nhân là hoàng đế hay chỉ là một chủ nhân. Đến thời cận đại, người ta lại nói đến các phi đội Thần Phong Kamikaze với bao phi công cảm tử lái máy bay chở đầy bom lao xuống các ống khói của các hàng không mẫu hạm và soái hạm Hoa Kỳ để làm nổ tung đánh chìm các chiến hạm này. Tuy nhiên, sự tận tụy hy sinh của người Nhật Bản hầu như chỉ được nhắc đến ở Hara-kiri và Kamikaze khiến có sự lầm tưởng rằng sự dữ dội chỉ có nơi các chiến binh Nhật Bản đối với quân thù. Người ta ít khi nhớ đến sự thật rằng đã có những sự việc cho thấy trong khi Samurai dữ dội liên quan đặc thù đến những võ sĩ dũng mãnh, thì sự dữ dội còn được thể hiện bởi các văn nhân hiền hòa, qua các giai thoại về những du học sinh Nhật Bản tại Mỹ đã tình nguyện tự sát theo kiểu hara-kiri mà Mỹ và thế giới lầm tưởng là “thói quen mổ bụng của người Nhật” nên mất cảnh giác, giúp các du học sinh Nhật Bản khác có thể nhét dấu tài liệu tình báo khoa học kỹ thuật thu thập được của Mỹ vào bên trong xác các du học sinh tự sát ấy trước khi khâu vá ổ bụng lại để đưa linh cữu về Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng phát triển đội ngũ khoa học gia và kỹ thuật gia tiên tiến, trở thành siêu cường quốc công nghệ hàng đầu thế giới. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản chê bai Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên bỏ sang Mỹ học để bỏ Nhật Bản. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản lại không cho rằng chính vì Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên phải sang Mỹ học để bằng mọi giá đem được về Nhật Bản các “tài sản trí tuệ khoa học Mỹ” để giúp Nhật Bản hùng cường. Nhiều “nhân sĩ” hay “chí sĩ” Việt Nam hớn hở định “đi tắt đón đầu” bằng cách hăm hở “Đông Du” để thâu tóm kiến thức Mỹ mà người Nhật Bản đã phải cất công hy sinh lặn lội sang Mỹ để học tập mà không “nhân sĩ” hay “chí sĩ” nào của Việt Nam phải hara-kiri như người Nhật Bản. Tất nhiên, người Nhật Bản đủ khôn để không truyền lộ cho kẻ khôn vặt khôn lõi chỉ chuyên đi tắt ấy các bí kíp kỹ thuật công nghệ tối tân, nên tất cả các “nhân sĩ” và “chí sĩ” Việt Nam của các phong trào Đông Du không bất kỳ ai sau đó trở về Việt Nam giúp Việt Nam trở thành cường quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cả. Người viết bài này khi lập gia đình đã được một ông chú bên nhà vợ tặng một bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Ông là Lê Phục Thiện, một “nhân sĩ chí sĩ” người Hà Nội đã “Đông Du” sang Nhật Bản học…làm thơ tiếng Hán và làm “chính trị”, trở về hoạt động chính trị chống “Cộng”, di cư vào Sài Gòn sống ở đường Dạ Nam gần Cầu Chữ Y, trước tác dịch thuật một số tác phẩm chữ Hán ra quốc ngữ, trở thành một học giả thường được Nhật Bản mời sang dự những hội nghị về … Hán Học, và sống thọ cho đến hàng chục năm sau ngày “Cộng” giải phóng miền Nam. Chú Lê Phục Thiện của bên Nội của bà mẹ vợ của tác giả bài blog này đã chưa từng cùng bất kỳ các vị “đồng chí” nào của Phong Trào Đông Du trở thành danh nhân xây dựng Việt Nam thành cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài khi sang du học tại đất nước Nhật Bản cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài ấy. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu như đức tính tận tụy hy sinh dữ dội không tồn tại nơi tất cả người dân thuộc tất cả ngành nghề dù võ hay văn.

3- Dũng mãnh vươn ra thế giới toàn cầu hóa với tinh thần bài ngoại triệt để

Từ xua quân tràn ngập phân nửa địa cầu làm bá chủ Đại Đông Á và Thái Bình Dương, Nhật Bản đã xua sản phẩm công nghệ cao chất lượng tuyệt hảo tràn ngập toàn bộ địa cầu, đẩy ngay cả tượng đài công nghiệp vĩ đại nhất thế giới là Đức Quốc lùi vào bóng tối của kẻ chiếu dưới. Các công ty Nhật Bản có mặt ở nơi nơi. Và sự cúi đầu chào cung kính của người Nhật Bản gióng lên hồi chuông cảnh báo toàn cầu mà thành ngữ stoop to conquer (nhún nhường nhu mì hạ mình để chinh phạt) của tác phẩm She Stoops to Conquer của kịch tác gia Oliver Goldsmith thế kỷ XVIII là thích hợp nhất, vì cùng với thái độ lịch sự cung kính cúi rạp người của doanh nhân Nhật là sự cứng rắn dứt khoát phải sử dụng xe ô-tô do Nhật sản xuất dù đang công tác tại bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới. Chính các doanh nhân Nhật đã khiến các doanh nhân Đức tại Việt Nam buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Đức, và doanh nhân Pháp buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Pháp khi làm việc tại Việt Nam. Tất nhiên, doanh nhân các quốc tịch khác tại Việt Nam thì ưu tiên dùng xe ô-tô…Nhật. Nếu stoop vì ươn hèn, khom mọp mình luồn cúi ngoại nhân, thì đó không là tư cách người Nhật Bản mà là của giống dân nào đó. Nếu stoop để ru ngủ đối phương tiến đến mất cảnh giác, thì đây là một chiêu thức võ thuật tuyệt luân của nhà chinh phạt và chinh phục mà người Nhật Bản là bậc thầy duy nhất. Nếu bài ngoại để gây ác cảm với thiên hạ, tự cô lập hóa mình, thì đó không là tư thế người Nhật Bản. Nếu bài ngoại để khiến thiên hạ phải kính sợ mình, biến bài ngoại thành một thương hiệu dân tộc tính tích cực đầy hấp dẫn (nghĩa là: tôi dứt khoát chỉ xài hàng hóa của nước tôi vì đó là hàng tốt nhất thế giới, anh mua dùng đi rồi sẽ biết), thì đó chính là tư thế chỉ có nơi người Nhật Bản.

4- Nỗ lực chỉ làm chúa ngoại bang chứ không làm tôi mọi cho ngoại bang

Đây là đặc điểm tuyệt vời của người Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng trở thành siêu cường kinh tế thế giới. Hãng Toyota đã từng vung tiền “bứng” được một CEO người Mỹ của một công ty Mỹ về làm tổng giám đốc Toyota tại Nhật Bản. Người dân nước khác – trong đó có người Việt – thường lấy làm vinh dự khi được các công ty lớn ở nước ngoài tuyển dụng, nhất là khi cơ quan tuyển dụng thuộc cỡ như cơ quan nghiên cứu vũ trụ Hoa Kỳ NASA, nhưng chẳng ai nhận ra một sự thật là dường như chẳng nghe hay rất ít khi nghe nói đến một người Nhật nào đó được tuyển dụng bởi các cơ quan khổng lồ tương tự. Chính vì vậy mà Nhật Bản chế tạo phi cơ tiêm kích, máy bay cường kích; hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, chiến hạm; sản xuất vệ tinh nhân tạo và tự phóng vệ tinh nhân tạo, v.v., trong khi người dân các nước khác – trong đó có người Việt – dù làm việc cho NASA thì cũng chỉ là người lao động làm công ăn lương chứ không bao giờ được nắm bắt các công nghệ kỹ thuật để các nước của họ – trong đó có Việt Nam – chế tạo được ngần ấy thứ như Nhật Bản.

Người Nhật Bản biết chính họ mới làm Nhật Bản thành cường quốc. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – chất vấn cật vấn tra vấn Chính phủ nước họ tại sao Chính phủ vẫn chưa luyện xong phép màu hô biến làm cho nước họ thành cường quốc.

Người Nhật Bản biết nước họ nhỏ hẹp, tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thể chế chính trị quân chủ quân phiệt sai lầm đẩy quốc gia vào Thế Chiến điêu linh điêu tàn, nên họ càng phải hy sinh tuyệt đối để quốc gia khắc phục khó khăn về sự nhỏ hẹp chật chội, khó khăn về sự thiếu hụt tài nguyên, khó khăn về hậu quả từ sự sai lầm nghiêm trọng của nhà cầm quyền thể chế chính trị quốc gia ấy. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – dù biết nước họ rộng lớn hơn, tài nguyên dồi dào hơn, chính phủ nước họ có kỳ tích giải phóng dân tộc và từng bước chậm rãi phát triển kinh tế nước nhà, vẫn điềm nhiên chê bai chính phủ nước họ, tích cực đòi hỏi “cãi thiện dân chủ”, hùng hổ vung tay đòi “đa đảng” và “biểu tình” nhằm tơ tưởng đến chuyện vi hiến là thay đổi thể chế chính trị nước nhà, tiến tới tiêu diệt thế lực hùng mạnh duy nhất có thể bảo vệ đất nước của họ trước hiễm họa xâm lăng.

Nếu như tiểu thuyết Tam Quốc Chí của nước Tàu có tuyên bố ai có một trong nhị đại quân sư Phục Long (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng) và Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì sẽ lập thành đế nghiệp, thì đại thuyết Lăng Tần của nước đánh bại Tàu lại tuyên cáo rằng nếu nước nào có nhân dân sở hữu một trong tứ đại phúc của người Nhật Bản thì nước đó đã có quá dư điều kiện để trở thành siêu cường kinh tế.

E) Sự Tốt Đẹp Của Nhật Bản và Việt Nam

Nhật Bản và Việt Nam như một duyên nghiệp của sự hòa thuận điển hình độc nhất vô nhị trên toàn thế giới.

Nhật Bản có một quá khứ tàn bạo trong Đệ Nhị Thế Chiến, làm hơn một triệu người Việt chết đói. Nhật Bản biết phục thiện, nên ngay từ thời chiến tranh giải phóng của Việt Nam chống Mỹ, Nhật Bản đã đối xử tốt với cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mà Bịnh Viện Chợ Rẩy hiện đại nhất ở Sài Gòn là một bằng chứng.

Trong khi đến tận ngày nay nhiều bà lão Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn còn kéo đến khóc lóc trước các đại sứ quán Nhật Bản đòi Nhật Bản chính thức xin lỗi và bồi thường do quân đội Thiên Hoàng đã hãm hiếp họ, bắt họ làm nô lệ tình dục phục vụ các đạo quân Quan Đông cũng như tại tất cả các vùng Nhật chiếm đóng, thì người Việt Nam lại hiền hòa không lưu giữ chút ký ức cỏn con nào mang dấu ấn căm thù căm hận, thay vào đó là sự mở rộng vòng tay cười đôn hậu đón tiếp bất kỳ “người chạy lại” nào có lòng phục thiện.

Sự hòa thuận giữa người biết lỗi ra sức chuộc lỗi và người xởi lởi thích bầu bạn bốn phương thân tình chứ chẳng biết oán thù là gì, đã giúp quan hệ Việt-Nhật tốt đẹp hơn hẳn các mối quan hệ ngoại giao khác. Sau ngày giải phóng miền Nam, Việt Nam bị bủa vây bởi lịnh cấm vận của Hoa Kỳ, và Nhật Bản, đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Châu Á, lại là sức mạnh xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ để đưa vào Việt Nam các nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất của nền kinh tế quốc dân, kể cả các vật liệu chiến lược như sợi cáp quang mà các siêu cường kinh tế chưa chắc có được – như đã dẫn trong bài Việt Nam Hưỡng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ trên blog này – kể cả việc đồng Yên Nhật trở thành đồng ngoại tệ giúp Việt Nam trụ vững trong thời gian Mỹ phong tỏa và tịch thu tất cả các chuyển dịch giao dịch bằng đồng Mỹ Kim của Việt Nam. Và trong thời điểm Việt Nam chưa mở cửa thì các doanh nhân và các nhà khoa học Nhật đã có mặt để đi đến các tỉnh thành của Việt Nam để nghiên cứu phát triển các giống cây trồng giúp Việt Nam và nhập khẩu hải sản từ Việt Nam, mà tác giả bài viết này đã là người đưa các nhà khoa học ấy lặn lội đến các vùng thâm canh chuyên canh nông nghiệp, cũng như đã ngạc nhiên khi Seaprodex bó tay không biết kiếm đâu ra baby octopus tức bạch tuộc con (tức con của con bạch tuộc) để gởi bản chào giá quotation cung cấp cho các nhu cầu của các doanh nghiệp Nhật Bản (với lý do ngư dân Việt Nam mà lưới nhằm “mực ma” tức bạch tuộc là ném trở lại biển hết vì sợ xui) mà tác giả bài này đã cất công kiếm về cho đất nước.

F) Lục Chân Lý Dành Cho Việt Nam

Từ tất cả các chi tiết trên, có thể rút ra sơ khởi 6 chân lý sau cho Việt Nam:

1- Khi người Việt không trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của Việt Nam, đất nước không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

2- Khi sinh viên học sinh Việt vừa ngày đầu đặt chân ra hải ngoại du học đã lớn tiếng chê bai nền giáo dục nước nhà, ca cẩm về thu nhập thấp ở quê nhà không tương xứng với sự vĩ đại của cá nhân (công thức bất lương: “được” học ở nước ngoài = vĩ nhân), đánh tiếng sẽ ở lại nước ngoài để làm việc (lạy giời, nếu có kẻ đại khôn nào đó thuê mướn đứa thua xa tư cách sinh viên học sinh Nhật ấy để trả lương thấp hơn) nếu nước nhà không “trọng dụng nhân tài” (công thức vô sĩ: nhân tài = du học nước ngoài về), Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

3- Khi sinh viên học sinh Việt Nam ngay khi còn ở Việt Nam đã vọng ngoại, tức đánh mất bản sắc dân tộc (nền tảng của sự phát triển đại thụ rừng sinh thái sinh quyển của nhân loại) mà chỉ còn là thứ lai F2 hay F3 nào đấy (cây ươm vườn rồi xuất khẩu trong túi nylon để trồng vào thổ nhưỡng khác để thành…cây dây leo hay cây cối hoặc cây kiểng), thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

4- Khi sinh viên học sinh Việt Nam dù đang học ở Việt Nam hay đã học “ở bển” mới về, đều hoặc muốn “khởi nghiệp” tức “mở công ty” ở Việt Nam để ngồi trên đầu dân Việt Nam, hoặc muốn làm việc cho công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, tức đội chủ nước ngoài trên đầu mình, thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

5- Bất kỳ sinh viên học sinh nào của Việt Nam dù đang học trong nước hay đang học “ở bển” ngay khi đọc xong bài viết này đều sẽ trở nên người có tư cách, có lòng tự trọng, khiến sẽ biết thân biết phận hèn kém của mình so với người Nhật ra sao nên sẽ học trong im lặng, sẽ làm việc trong yên lặng, sẽ tạo dựng “khởi nghiệp” trong lặng im, sẽ gầy dựng gia đình trong lặng yên, và sẽ không bao giờ dám mở miệng kém hèn của mình để lên mặt lên tiếng lên giọng dè bỉu, chê bai chế độ Việt Nam, bảo chính phủ Việt Nam bất tài vô dụng không thể dựng xây đất nước phú cường như Nhật Bản.

6- Việt Nam sẽ trở thành cường quốc kinh tế nhưng phải theo một tiến trình gian nan không nhanh chóng dựa trên đặc thù Việt Nam gồm (a) tự thân bương chải, (b) bốn phương tám hướng tổng cộng mười hai ngõ đều thọ địch bủa vây, (c) nguồn nhân lực có 5 “đức tính siêu tích cực” nêu trên, (d) thành công của Việt Nam khiến các ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế hoặc gia giảm hoặc không còn, và (f) thế giới không thực sự thực tâm tập trung giúp đỡ tận tình do không bao giờ cam tâm nhìn thấy một Việt Nam hùng mạnh biến chủ nghĩa xã hội cùng “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trở thành khuôn mẫu quá hoành tráng trước nhân loại.

 

Hỡi ôi, là người có thẻ căn cước Việt Nam mà không nhận ra các sự thật trên, cứ mãi đít ngồi, đùi rung, lưỡi liếm bia bọt, răng nhai râu khô mực chấm tương ớt, mồm dè bỉu chế độ, miệng chê bai Đảng, mõ phát tán loa các nhạo báng Chính Phủ, gật gù ngợi ca Nhật Bản, trong khi chẳng hy sinh bất cứ thứ gì đáng giá hơn cọng tóc sợi lông cho đại cuộc phát triển quốc gia Việt Nam thành cường quốc thì chẳng phải chẳng là tự hạ mình thãm hại trước ánh mắt thương hại của người Nhật Bản lắm ru? Bản thân người ngợm chẳng bằng người Nhật mà còn rống họng đòi Cộng Sản Việt Nam phải có trách nhiệm dựng xây đất nước Việt Nam giàu mạnh y như Nhật Bản há chẳng phải là diễn tuồng hý hước chọc cười cho con cháu Thái Dương Thần Nữ hay sao?

Con cháu Bà Âu Cơ không có đặc tính dân tộc dữ dội trong huyết quản từ muôn đời, không từng đem sự dữ dội ấy ra đánh nhau với cả thế giới để mài giũa sắc bén thêm và làm tiêu hao dân số địa cầu, chưa từng thực hiện việc tìm-và-diệt cùng lúc đối với Hoa Kỳ và kẻ thù khác của Hoa Kỳ để phải bị Hoa Kỳ ném bom nguyên tử rồi được Hoa Kỳ đổ tiền vào tái thiết hầu biến thành đồng minh chống các kẻ thù khác của Mỹ như con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ nên không cách chi đất nước của con cháu Bà Âu Cơ sẽ biến thành cường quốc y hệt đất nước của con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ cả.

Tuy nhiên, con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ mà hợp tác với con cháu Bà Âu Cơ thì con cháu Bà Nữ Oa chỉ còn nước khóc òa.

Kỳ sau: Bài 4: Ý Chí Quốc Dân và Yêu Cầu Công Dân

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

16-7-2014: Vững Tâm Kiến Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/16/vung-tam-kien-quoc/

29-10-2014: Trăm Trứng Âu Cơ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/29/tram-trung/

06-01-2016: Việt Nam Hưởng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/06/viet-nam-huong-loi-tu-linh-cam-van-cua-hoa-ky/

06-02-2016: Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Cụm bài về “Nhân Tài”:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-02-2016

 TKTam (3)

Tổng Giám đốc Công ty Trần Liên Hưng Trần Khắc Tâm là nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội Tỉnh Sóc Trăng. Ông là chức sắc cấp cao của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (Ủy viên Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Sóc Trăng), Chủ tịch Hội Doanh Nhân Trẻ Tỉnh Sóc Trăng, và là Ủy Viên Hội Đồng Dân Tộc của Quốc Hội.

Nghị sĩ Trần Khắc Tâm được biết đến như một hình mẫu của một nghị sĩ miền Nam chân chất, giản dị, biết chăm lo cho dân chúng ở tỉnh nhà và cho đại sự quốc gia. Khi đem đến nghị trường cái lo lắng của Ông đối với nguy cơ nông dân Sóc Trăng bị thiệt hại từ thiên tai dịch bệnh trong nuôi trồng thủy hải sản, Ông đã khiến mọi người từ thói quen tập trung cho những điều có khi vĩ mô, có khi chỉ là sự đua đòi theo ngoại quốc cứ hễ thấy người ta có luật nào mình chưa có thì hăng hái đề nghị ra luật đó với lý do “trả nợ với nhân dân”, bắt đầu thấm thía thế nào là cái tâm thực sự của một nghị sĩ đối với “cái nợ thật sự” đối với dân. Ông lên tiếng kêu gọi trung ương lưu tâm đến tình cảnh nông dân Sóc Trăng phải gánh chịu trước những dọa đe đối với cuộc sống sinh nhai, từ đó áp dụng cho nông dân toàn quốc, thay vì những điệp khúc quen thuộc thường nghe thấy chốn nghị trường là xin ngân sách trung ương để xây cầu hoặc làm đường cho các địa phương. Ông còn là vị nghị sĩ độc đáo vì dường như chỉ có Ông là quá tâm huyết quá tự hào với sản vật địa phương mà nhân dân của Ông ở Sóc Trăng sản xuất, đến độ mỗi khi Ông đi họp Quốc Hội là hành trang Ông mang theo lủ khủ các bao nylon đựng tôm khô mà Ông gởi tặng các nghị sĩ khác để vừa dùng “lấy thảo” theo phong cách miền Nam, vừa để tự hào “khoe” tôm khô của Sóc Trăng là loại thượng hảo hạng tốt và ngon nhất. Khi tôi áy náy nói với Ông rằng người dân phía Bắc dường như ưa chuộng hải sản tươi sống hơn, thì Ông cười hào sảng trả lời rằng “Đâu có sao đâu anh Phước. Nếu ai nhận quà của em mà không xài thì họ sẽ đem cho người quen của họ, nên rốt cuộc con tôm khô của dân Sóc Trăng cũng sẽ đến tay người nào chịu ăn thử và nhờ vậy tôm khô Sóc Trăng và bánh pía của dân em làm ra sẽ được thưởng thức khắp nước và sẽ được khen mà!”. Cái “đắc nhân tâm” khoáng đạt, hồn nhiên và tự nhiên của Ông Trần Khắc Tâm làm tôi nhớ đến các bậc đại nhân thời xưa trong bộ Minh Tâm Bảo Giám.

Là một nghị sĩ tích cực, Ông Trần Khắc Tâm còn thường xuyên phát biểu tại nghị trường đối với các vấn đề vĩ mô mang tính kế sách quốc gia, đặc biệt đối với các chương trình nghị sự có liên quan đến các lĩnh vực Ông có nhiều kinh nghiệm thực tế như Mặt Trận Tổ Quốc, Công Đoàn, Lao Động, và Kinh Doanh, v.v., để thực sự đúng nghĩa một “nhà lập pháp” và là người tham gia giải quyết các vấn đề trọng đại của quốc gia mà nhân dân Sóc Trăng giao phó tín thác cho Ông qua lá phiếu của mình.

Nghị sĩ Trần Khắc Tâm đã hết lòng vì dân. Quốc Hội Khóa XIII đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong hoàn cảnh vận mệnh quốc gia phải đương đầu với bao thách thức lớn lao. Ông có quyền tự hào đã có góp phần vào đại cuộc ấy.

Tấm lòng luôn đau đáu vì cuộc sống của người dân Sóc Trăng, luôn vinh danh con người Sóc Trăng, luôn tìm cách giới thiệu với lòng tự hào các sản vật dù dân dã đơn sơ, thành quả kết tinh từ sự miệt mài lao động gian khổ của người dân Sóc Trăng, đã biến Nghị Sĩ Trần Khắc Tâm trở thành người được mến mộ chốn nghị trường.

Kính chúc Nghị sĩ Trần Khắc Tâm sức khỏe, tiếp tục cống hiến dài lâu cho đất nước, cho nhân dân, để Sóc Trăng luôn được biết đến, còn người dân Sóc Trăng mà Ông luôn hết lòng phục vụ có thể tự hào có Ông là nghị sĩ dân cử của họ.

TKTam (2)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore

Bài 2: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-02-2016

Là một quốc gia phải vượt qua các cuộc chiến tranh trường kỳ cứu quốc, lập quốc, và vệ quốc, theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự “tự mình bương chải” giữa các thế lực thù địch bủa vây, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc tài của Singapore chỉ để nuôi giấc mơ được hùng mạnh về kinh tế như Singapore.

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu) là nhà độc tài mà thế giới tự do yêu thích. Ông ủng hộ Chủ Nghĩa Xã Hội và cùng người ủng hộ Chủ Nghĩa Cộng Sản là Lim Chin Sion (Liêm Chính Xương) hợp nhất lập đảng Hành Động Nhân Dân PAP, trở thành đảng chính trị cầm quyền thống trị ở Singapore. Từ triết thuyết cộng sản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Lee Kuan Yew lập nên mô hình quản lý riêng biệt thiên hướng xã hội dân chủ theo một nền văn hóa chính trị riêng biệt với cơ cấu quyền lực của độc tài, thực dụng, hợp lý và mang tính pháp lý trung ương tập quyền cao độ mà các nhân sự trị quốc được bổ nhiệm chứ không qua bầu cử và dưới sự lãnh đạo của Lee Kuan Yew và PAP Singapore đã đạt và giữ vững sự tăng trưởng kinh tế cùng sự ổn định chính trị. Như vậy, Singapore theo đuổi một chế độ gọi là Meritocracy tức chế độ trọng dụng nhân tài mà điều kiện tiên quyết của Lee Kuan Yew buộc phải là: luôn hết lòng trung thành với quốc gia và với chủ trương chính sách của Lee Kuan Yew.

Trong các giá trị thì Lee Kuan Yew xem kỹ luật nghiêm ngặt cùng sự bất chấp dân chủ là cao trọng nhất. Lee Kuan Yew cho rằng dân chủ không thích hợp cho các quốc gia đang phát triển. Ông xử tội bất kỳ ai vi phạm các quy định của ông đối với trật tự công cộng, từ người nhai kẹo cao su nhổ bừa bãi, đến người đồng tính nam, nhà phê bình truyền thông, và các lãnh đạo chính trị đối lập. Ông đã thố lộ với phóng viên Thời Báo New York rằng ông đã phải làm vài việc xấu xa như bắt nhốt dân chúng không cần xét xử. Điển hình như vụ Tiến sĩ Chia Thye Poh (Châu Thái Bảo) đã bị bắt tống giam lưu đày trên đảo suốt 23 năm vì thiên cộng sản và dám công kích Lee Kuan Yew, theo Luật An Ninh Nội Địa Singapore nên không bao giờ được đưa ra xét xử ở tòa án, và khi được thả phải bị quản thúc tại gia trong 9 năm, cấm không được đi lại, không được có việc làm, bị tước quyền “làm chính trị”. 32 năm tù đã làm Giáo sư Tiến sĩ Vật Lý Chia Thye Poh từ một giáo sư vật lý trẻ tuổi tài cao 25 tuổi trở thành một ông lão khi được thả khỏi ngục năm 1989 và giam lỏng thêm 9 năm trong một căn phòng giám quản nhỏ đủ cho một người ở mà nhà nước Singapore thậm chí còn bắt ông phải trả tiền thuê để nhà nước có cớ nói ông đã được “tự do”.

Singapore

Cả thế giới tự do không bao giờ lên án Lee Kuan Yew vì Lee Kuan Yew không cộng sản và sự tàn ác của Lee Kuan Yew có thể chấp nhận được vì “tù nhân lương tâm” Chia Thye Poh “có đầu óc” cộng sản. Giáo sư Chia Thye Poh được Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế gọi là “tù nhân lương tâm lâu năm nhất Singapore” như một cách tính toán số học thuần túy cứ như để cái tổ chức ấy có việc để làm, chứ thân phận con người của ông không bao giờ là thứ đáng cho họ phải quan tâm đến, và công việc quan trọng cuối cùng của tổ chức này là ra tuyên bố vào ngày 27-11-1998 rằng các trừng phạt đối với “tù nhân lương tâm” Chia Thye Poh cuối cùng đã được giải tỏa. Ông được trở vào đất liền, được phép tìm việc làm, và được học tiếng Đức, học các bộ môn chính trị học cùng kinh tế học tại Hamburg nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Đức Helmut Kohl và năm 2015 được đề cử cho giải Nobel Hòa Bình.

Gần đây hơn, Tiến sĩ Chee Soon Juan (Chí Xuân Dương) sau nhiều lần bị tù tội do dám tuyên bố các cơ quan tư pháp Singapore không độc lập, đã bị tuyên bố phá sản năm 2006 khiến không được phép ra ứng cử Quốc Hội do không đủ tiền đóng phạt cho hai vị thủ tướng tiền nhiệm là Lee Kuan Yew và Goh Chok Tong do đã chê bai các vị lãnh đạo này của đảng PAP. Chỉ sau khi kiếm đủ tiền nộp cho hai vị này, Tiến sĩ Chee mới được phép tham gia ứng cử năm 2015.

Với quyền lực thống chế truyền thông, Lee Kuan Yew thường xuyến công kích các tổ chức truyền thông phương Tây nào dám cả gan nói về chủ nghĩa “gia đình trị” hoặc “chủ nghĩa truyền ngôi triều đại” nhắm vào việc con ông được lên làm Thủ Tướng năm 2004 cũng như nhiều thành viên gia đình ông nắm giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền, thậm chí Ông còn kiện ra tòa luôn cả các cơ quan thông tấn báo chí như International Herald Tribune, Economist, và Bloomberg News, khiến các cơ quan ngôn luận này bị tòa án Singapore phạt nặng và phải giới hạn số lượng ấn bản được phép phát hành.

Lee Kuan Yew đã phạm sai lầm khi ra sức phát ngôn về dân chủ Châu Á, cho rằng các giá trị Á Châu độc đáo không bao giờ tương thích với các hình thái tự do phương Tây, và ông đã bị hớ khi Đài Loan, Hàn Quốc, và Indonesia sau đó trở thành các thực thể “thân Mỹ” hùng mạnh về kinh tế theo mô hình phương Tây, khiến người dân Singapore đòi hỏi phải có những cải tổ dân chủ hơn, và khiến con của Lee Kuan Yew là Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long) buộc phải tuyên bố “đây là một thế hệ khác, một xã hội khác, nên chính trị sẽ phải khác”.

Tóm lại, nền tảng cho sự “cất cánh” của Singapore là minh chứng cho công thức mang tính chân lý của muôn đời của thế giới quân chủ chuyên chế và tư bản đế quốc:

 Singapore 2

mà người đời có thể ví von rằng nếu thiếu ngọn roi của Tần Thủy Hoàng thì thế giới ngày nay đã không bao giờ có (a) vật thể được nhìn thấy từ khoảng không vũ trụ tức Vạn Lý Trường Thành, và (b) siêu cường quốc Trung Hoa thống nhất.

Vì lý do trên, sơ khởi có 8 chân lý sau:

a- Chân Lý 1: Việc nêu tên Singapore như một “gương sáng” đáng ước mơ mà Việt Nam phải noi theo như một khuôn mẫu duy nhất để trở thành cường quốc kinh tế là một việc hoàn toàn thiếu khôn ngoan.

b- Chân Lý 2: Việc Lee Kuan Yew đã thực thi chủ nghĩa trọng dụng nhân tài với tiêu chí duy nhất là trung thành tuyệt đối với đất nước và đường lối chính trị của Đảng Hành Động Nhân Dân Singapore, cho thấy việc Việt Nam sử dụng nhân tài có sự chọn lọc dù nhân tài trong Đảng hay nhân tài ngoài Đảng trên cơ sở duy nhất là trung thành tuyệt đối với đất nước và đường lối chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đúng đắn ở tất cả các quốc gia. Đã có – hoặc manh nha có – các hoạt động chống Chính phủ và/hay chống thể chế chính trị của đất nước thì mãi mãi không bao giờ được xem là “nhân tài” để mà được “trọng dụng” vì đó chỉ là kẻ phá hoại mà ngay cả “thiên đường cường quốc Singapore” cũng phải luôn ra tay trừng trị, triệt tiêu.

c- Chân Lý 3: So với Singapore, Việt Nam đang có cơ sở dân chủ tốt hơn, tự do hơn, lý tưởng hơn, nhân văn hơn, tiến bộ hơn, trọng dân hơn.

d- Chân Lý 4: Nhờ có bàn tay hà khắc của Lee Kuan Yew và luật pháp hà khắc của Singapore, tình hình tham nhũng ở Singapore tốt hơn, trong sạch hơn Việt Nam. Không có bàn tay hà khắc ấy và không có luật pháp hà khắc, Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa quá dịu dàng với người dân tiêu cực vừa quá nhân đạo với đảng viên hư đốn sẽ không bao giờ cải thiện được tình trạng tinh hình tham nhũng ở Việt Nam.

e- Chân Lý 5: Chỉ có học sinh non nớt, sinh viên thơ dại, và người lớn mơ hồ, mới nói, mới viết, mới cho rằng Singapore là hình mẫu đáng ca ngợi và gương sáng vinh diệu cho Việt Nam noi theo.

f- Chân Lý 6: Lý Quang Diệu thành vĩ nhân vì đã trên cơ sở xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trong tư duy khiến thúc đẫy ươm mầm cho sự vươn lên “vì nước, vì dân” trong kỷ luật sắt, trừng phạt “biểu tình”, tạo nên sự ổn điịnh chính trị gần như là tuyệt đối khiến thế giới tư bản yên tâm đổ xô đổ tiền vào bùng nổ đầu tư, kinh doanh, còn Singapore trở thành cường quốc kinh tế.

g- Chân Lý 7: Lý Quang Diệu thành vĩ nhân vì đã khôn ngoan vừa chống tất cả những ai có tư tưởng cộng sản và xã hội chủ nghĩa như mình để được danh “chống cộng” lấy lòng “thế giới tự do” để cái thế giới ấy để yên cho Ông phát huy tính khí “thiên triều” thừa hưởng từ giòng máu Hoa để trở thành nhà độc tài có quyền trao ngôi thống trị lại cho “hoàng thái tử” và “hoàng tộc Lý triều”.

h- Chân Lý 8: Singapore thành cường quốc vì người dân Singapore tự nguyện chấp nhận các chân lý 6 và 7 kể trên, nghĩa là người dân luôn là một thực thể quyền năng trong hiện thực hóa giấc mơ cường quốc của một quốc gia.

Kỳ sau: Bài 3 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) Tư liệu về Lee Kuan Yew và Singapore:

Báo Washington Post. 22-5-2015: An Astonishing Record. http://www.washingtonpost.com/opinions/lee-kuan-yew-singapores-long-time-leader/2015/03/22/47d34c2e-ce60-11e4-8c54-ffb5ba6f2f69_story.html. Retrieved 20 February 2016.

Tạp Chí Economist. 23-3-2015. Lee Kuan Yew, Singapore’s Longtime Leader. http://www.economist.com/blogs/graphicdetail/2015/03/lee-kuan-yews-singapore. Retrieved 20 February 2016.

B) Bài viết của Hoàng Hữu Phước:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/25/nhan-quyen-va-pham-gia/

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Nét Mới Cần Phải Có Tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-02-2016

 TPHCM

Sáng nay HTV9 có phát chương trình giải quyết khiếu nại của công dân Thành phố Hồ Chí Minh do bà Trương Thị Ánh, Nghị sĩ Khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đương nhiệm, chủ trì với các ban ngành về khiếu nại của gia đình ông Nhan Phước ở Quận 6. Nội dung này làm tôi nhớ đến lúc trước Đại Hội Đảng, tôi đã có công văn sau gởi Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ khiếu nại của công dân Lê Văn Hải, mà giọng văn với lời khẳng định rằng Ủy Ban Nhân Dân Quận 9 “hoàn toàn sai” và rằng “hệ thống hành chánh công quyền của Thành phố Hồ Chí Minh đang thực sự có vấn đề”, ắt sẽ không làm bất kỳ chức sắc nào của Thành phố Hồ Chí Minh hài lòng:

 Print1Print2

Trở lại vụ họp sáng nay trên HTV9, theo trình bày của con trai ông Nhan Phước thì ngay sau ngày giải phóng, do nhà ông Phước buôn bán vải lẻ có chứa các súc vải, Ủy Ban Nhân Dân Quận 6 đã liệt gia đình ông vào diện phải cải tạo tư sản nên đưa cả gia đình ông đi vùng Kinh Tế Mới, còn gia sản của ông trở thành tài sản do nhà nước quản lý, và Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định cấp căn nhà của ông cho hai hộ gia đình cán bộ đến ở. Thế nhưng, sau đó Ủy Ban Nhân Dân Quận 6 phát hiện sai lầm này, do quy mô kinh doanh của ông Nhan Phước chỉ là tiểu thương bán lẻ, không phải “tư sản mại bản”, nên đã cùng lúc ra hai quyết định rất đúng đó là xóa bỏ “tội danh” tư sản của ông và giao trả căn nhà lại cho ông. Tuy nhiên, do căn nhà đã được giao cho hai hộ khác, mọi việc đã trở nên chuyện bi hài ở chỗ gia đình gần chục người của ông Phước trở về thành phố sống lây lất đến tận ngày nay nhiều chục năm trời, còn cả hệ thống chính quyền hoặc nhẫn tâm làm ngơ trước cảnh tang thương ngẫu lục của người dân hoặc do sự bó tay do bất lực bất tài vô dụng của các Sở Ban Ngành của Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kể nhiều nhiệm kỳ của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh vẫn để tồn tại những sự việc như thế trong khi theo tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng thì Thành phố Hồ Chí Minh luôn đạt được các thành tích và thành quả phát triển to lớn, thậm chí thành phố còn chi ra bao tỷ đồng để lập cái siêu dự án gọi là megacity nhằm dựng xây Thành phố Hồ Chí Minh thành một thành phố vĩ đại ôm trong lòng nó những cái mà tôi nghe qua đã thấy mùi thất bại tức các thành phố “con” như Thành Phố Bắc, Thành Phố Nam, Thành Phố Tây, Thành Phố Đông nhảm nhí, trong khi – như tôi trước đây đã nêu – với nhân lực công chức công quyền như thế thì đào đâu ra lớp người quản lý siêu đại dự án ấy.

Bà Trương Thị Ánh đã yêu cầu con trai ông Nhan Phước cho biết nguyện vọng, trong khi lẽ ra nguyện vọng ấy đã được biết rõ trong tất cả các lá đơn của ông đã gởi chính quyền trong nhiều chục năm qua, thậm chí từ lúc vợ ông còn sống.

Bà Trương Thị Ánh đã yêu cầu các Sở Ban Ngành nghiên cứu đề xuất các hướng giải quyết, trong khi lẽ ra chính các chức sắc của các Sở Ban Ngành ấy trong nhiều nhiệm kỳ qua của ngần ấy mấy chục năm đã phải thực hiện, nếu như họ không là đảng viên đội lốt. Gọi là đảng viên đội lốt hoặc đảng viên phản Đảng vì Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể có những cán bộ Đảng được Đảng tuyển chọn kỹ lưỡng, đào tạo kỹ lưỡng, giao lắm quyền uy, lại ra sức làm nhục Đảng qua sự phô bày sự bất lực bất tài vô dụng của họ, và qua việc làm người dân phải oán than oán thán oán hận Đảng. Tại sao đến ngày hôm nay tức 19-02-2016 mà các vị chức sắc Sở Ban Ngành lại phải chờ một lãnh đạo cao cấp như bà Trương Thị Ánh nêu yêu cầu và ra kỳ hạn cho họ trình đề xuất hướng giải quyết.

Điều tich cực ở đây là (a) Ủy ban Nhân Dân Quận 6 trước đây đã nhìn nhận sai sót của mình để từ đó sửa sai bằng các quyết định như đã nói ở trên; (b) ông Nhan Phước già yếu nói với phóng viên ghi hình rằng cả gia đình ông luôn tuân thủ luật pháp nên chính quyền bảo đi Kinh tế Mới thì ông ra đi, còn khi giải oan cho ông và ra quyết định trả nhà cho ông thì ông rất biết ơn, và nhiều chục năm qua vẫn tuân thủ luật pháp đợi chờ sự giải quyết của chính quyền thành phố, trong khi con trai ông Nhan Phước đã rất hợp tác trong buổi họp với bà Trương Thị Ánh khi nhỏ nhẹ nói chỉ mong chính quyền giải quyết sớm giao lại nhà hoặc đền bù một số tiền để cả gia đình có thể có cuộc sống đõ vất vả hơn; và (c) sự xuất hiện của nhân vật Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có những tín hiệu tích cực đầu tiên cho sự nề nếp phục vụ nhân dân đi vào thực chất và trách nhiệm.

Chính vì sự tích cực phục vụ nhân dân chỉ là cụm từ phải nêu trong các phát biểu chính trị của các quan chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, và chính vì sự tích cực chuyển đơn thư khiếu nại của công dân của hầu như đại đa số các nghị sĩ Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm qua mà ngày nay Thành phố vẫn còn tồn đọng nhiều vụ khiếu nại trơ gan cùng tuế nguyệt.

Sai thì phải nói ngắn gọn là “sai”. Bất tài vô dụng thì phải nói ngắn gọn là “bất tài vô dụng”. Đã hưởng lương cao, bổng hậu, phúc lợi dồi dào, địa ốc khang trang, vinh thân phì gia, mà không làm việc cho ra hồn vì nước vì dân, thì chỉ là phường bất lương bất hảo bất hiếu mà thôi.

 TPHCM (2)TPHCM (2)TPHCM (1)

Hy vọng dưới sự lãnh đạo của Tân Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng, những công văn với lời lẽ làm mếch lòng các quan chức thành phố như trên sẽ không tiếp tục được viết nên, nhất là khi người viết lại là một nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, không có quyền lực quyền hành ép buộc các quan chức phải vì dân.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2013. Cần Giải Quyết Dứt Điểm Những Khiếu Nại, Tố Cáo Của Người Dân. Bài phỏng vấn của báo Văn Nghệ Trẻ với Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/22/257/

Hoàng Hữu Phước. 28-12-2015. Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/28/doi-pho-voi-su-xo-cung-vo-cam-cua-chuc-sac-xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

Hoàng Hữu Phước. 04-12-2015. Báo Cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/04/bao-cao-viec-thuc-hien-chuong-trinh-hanh-dong-suot-nhiem-ky-quoc-hoi-khoa-xiii-2011-2016-cua-dai-bieu-hoang-huu-phuoc/

Nghị Sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-02-2016

 TCThien

Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Tiến Sĩ, Nghị sĩ Khóa XII và Khóa XIII thuộc đoàn Đại biểu Quốc hội Thừa Thiên – Huế, là một nhà sư uyên bác.

Nếu thiên hạ có ai cho rằng đã tu hành thì không “làm chính trị” thì đó chưa là nhận xét chính xác vì (a) điều đó chỉ đúng nếu như là lời nên dành cho các nhà tu hành của “phe” Phật Giáo Ấn Quang hay Việt Nam Quốc Tự thời Việt Nam Cộng Hòa đã từng đấu súng gây đổ máu chốn sân chùa ở Sài Gòn khi tranh giành quyền lực khuynh đảo chính trị, hoặc “phe” Vinh Sơn thời Việt Nam vừa thống nhất khi các linh mục đấu súng sát hại chiến sĩ công an Việt Nam cộng sản trước sân nhà thờ tại Thành phố Hồ Chí Minh; và vì (b) thuật ngữ “làm chính trị” đã được bổ sung ý nghĩa mới với thực tế Việt Nam: đó là “làm chính trị” ngoài ý nghĩa chính quy với tư cách nhà chính trị tham chính tức “chính khách truyền thống” có quyền uy trị quốc, còn được bổ sung thêm nội hàm “làm chính trị” với tư cách “chính khách kiểu Việt” mang trách nhiệm tư vấn trị quốc qua việc chấp nhận làm việc không hưởng lương, không quyền uy trị quốc, chỉ sử dụng thời gian, trí tuệ và lòng thành tâm vì nước vì dân trực tiếp đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật cho quốc thái dân an cũng như tham gia quyết định các việc trọng đại của đất nước theo luật định. Và với tư cách cùng tư thế một “chính khách kiểu Việt”, Thầy Thích Chơn Thiện đã là minh chứng cho tinh thần “nhập thế” của Đức Thích Ca Mâu Ni gắn liền Đạo, Ngộ Đạo, và Hành Đạo với giáo hóa chúng sinh, xây dựng cuộc đời tốt đẹp cho cuộc sống chúng sinh, chứ không “xuất thế” chỉ lo tu thân, phó mặc chúng sinh.

Thầy là nghị sĩ dễ mến, khoan hòa, thân thiện, và trí tuệ, nên bất kỳ ai cũng thích trò chuyện với Thầy nhất là khi bàn về những nội dung hàn lâm triết học.

Năm 2011, báo chí Âu Mỹ liên tục nói đến hình thức chính trị mới mà họ dán nhãn “tốt đẹp tương tự chủ nghĩa xã hội” sau hơn một tháng Chiến Dịch Chiếm Lấy Phố Wall xuất phát từ New York đã lan ra nhiều chục thành phố khắp nước Mỹ, đồng thời dấy lên các phong trào “Chiếm Lấy” khắp các quốc gia tư bản chủ nghĩa, làm lung lay tận gốc rễ nền móng của chủ nghĩa tư bản, đến độ ngay cả Tổng thống Mỹ khi chớm ý tăng thuế các nhà đại tư bản để tự cứu sự sụp đổ của chính phủ và đáp ứng nhu cầu tiền cho phúc lợi xã hội cho dân nghèo theo kiểu chàng thảo khấu Robin Hood, cũng phải cố dùng từ “cân đối toán học” rồi tự biện luận đây chẳng dính dáng gì đến “đấu tranh giai cấp”, cũng cho thấy quá rõ là Obama cùng giới tư bản sợ chết khiếp trước bất kỳ thứ gì dễ gợi cho người dân Mỹ khi bị bóc lột đến độ bần cùng sẽ liên tưởng đến … đấu tranh giai cấp của học thuyết cộng sản chủ nghĩa. Vậy thì cái chủ nghĩa xã hội giới cầm quyền Mỹ luôn ghét bỏ nhưng đang trở thành giấc mơ của dân chúng nước họ có phải là chủ nghĩa xã hội đồng nhất thể giống nhau khắp nơi khắp chốn bất di bất dịch, hay sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội mang tính cá biệt, đặc thù dân tộc, và không ngừng tự điều chỉnh? Hòa thượng Thích Chơn Thiện cho rằng có sự cần thiết phải xây dựng được l‎ý thuyết xã hội chủ nghĩa của riêng Việt Nam. Tôi rất tâm đắc trước lời phán của Thầy, vì bản thân tôi hàng chục năm nay đã luôn ghi trên các trang mạng quốc tế chi tiết khuynh hướng chính trị của tôi là “cộng sản chủ nghĩa dân tộc thiên Khổng”, nghĩa là tôi cho rằng không bao giờ có cái chủ nghĩa cộng sản đại đồng, không bao giờ có xã hội cộng sản đại đồng, mà chỉ có chủ nghĩa cộng sản ý thức hệ mà theo đó các nước dù theo ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa vẫn chỉ luôn đặt quyền lợi của riêng dân tộc mình là trên hết, và ở Việt Nam khi chủ nghĩa yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã thành một nét chấm phá điểm tô cho sức mạnh của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa, khẳng định yếu tố dân tộc để tách bạch khỏi khuynh hướng giáo điều xơ cứng hoàn toàn không phù hợp với bản chất Việt, cũng nên hòa trộn với các nền tảng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của tư tưởng Khổng Tử đề cao đạo đức cá nhân đối với bản thân, gia đình, xã hội, như nền tảng cơ bản của các thành tố nhân lực hùng mạnh của quốc gia.

Từ hành trạng tư duy cá nhân như trên và từ những lời minh triết của Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, tôi cho rằng dù dân Mỹ có chiếm lấy toàn nước Mỹ chứ không chỉ “chiếm lấy Phố Wall”, xã hội Mỹ vẫn khó thể dựng xây một thể chế chính trị mới theo mô hình xã hội chủ nghĩa mà báo chí Mỹ liên tưởng, không chỉ vì không bao giờ có thể xảy ra việc vi phạm hiến pháp Hoa Kỳ, mà còn vì mô hình ấy đã biến dạng, phân nhánh thành nhiều “đẳng cấp” khác nhau, mà mô hình đẳng cấp kiểu Việt có thể đang là:

 CThien2

mà chính do 8 điều dị biệt trên mà Mỹ lâm vào ngõ cụt không thể nào hiện thực hóa được giấc mơ xã hội chủ nghĩa của đa số người dân Mỹ, giúp các nhà tư bản Âu Mỹ dù đang dẫy dụa bên bờ vực sâu hoắm của sự hư mất muôn đời vẫn còn có thêm thời gian vừa đủ để dẫy nẫy nói lớn tiếng tự an ủi với nhau – chứ không với dân chúng của phong trào Chiếm Lấy Phố Wall – rằng: “Thấy chưa, chủ nghĩa xã hội với lý tưởng cộng sản đâu phải là thứ có thể đặt dấu chấm hết cho bọn ta!”

Thầy Thích Chơn Thiện là một nhà tu hành nhập thế theo phong cách “chính khách kiểu Việt” điển hình với trí tuệ của một nhà thần học uyên bác, hiểu biết rõ nhất về duyên nghiệp của chính trị và thể chế chính trị nước nhà, mà điều tối thượng là chúng sinh ở chính đất nước Việt Nam này được các “chính khách truyền thống” Việt Nam đặt lên hàng đầu của vì nước vì dân trong đại cuộc trị quốc bình thiên hạ, mà ý kiến của Thầy khi trả lời phỏng vấn như sau, đã nói bật rõ nhất về (a) chính xác tư tưởng Thích Ca Mâu Ni “làm chi có thượng đế”, và (b) tâm thế của Thầy:

******

Hòa Thượng Thích Chơn Thiện Nói Về Khủng Hoảng Thương Mại Tài Chính Và Lý Thuyết Xá Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

(Thực hiện phỏng vấn : Phạm Thúy, Báo Đại Biểu Nhân Dân, số ra ngày 24-10-2011)

Thế giới đang khủng hoảng về thương mại, tài chính, vì những lý thuyết kinh tế đã cũ kỹ và lạc hậu rồi. Thế giới phải cùng nhau nghĩ ra một lý thuyết mới và phải đi từng bước, từng bước, giống như hai bình thông nhau để càng ngày càng cân bằng thì khi đó mới có một lý thuyết hài hòa và hoạt động của khu vực và thế giới mới quân bình được. Cái này gọi là lý thuyết mới về kinh tế, lý thuyết mới về xã hội và cả lý thuyết mới về pháp luật nữa. Lý thuyết mới đó thực sự phải đi vào hướng hòa hợp và hợp tác. Bởi vì chỉ có hòa hợp và hợp tác mới có thể tạo được sự ổn định bền bỉ của nền kinh tế cũng như an ninh của thế giới được.

Việt Nam cũng phải xây dựng được lý thuyết của mình – lý thuyết của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Khi thế giới đưa ra lý thuyết về cộng sản quốc tế thì Hồ Chủ tịch đã bổ sung thêm vào đó chủ nghĩa yêu nước. Thành công của cuộc cách mạng Việt Nam sau này Đảng kết luận đó là phần đóng góp của Việt Nam vào chủ nghĩa xã hội quốc tế. Hướng xã hội chủ nghĩa là đúng hoàn toàn, biện chứng là đúng. Nhưng thời điểm đó, biện chứng của Hegel cũng là đúng nhưng Hegel không tìm ra sự thật, mệt mỏi quá mà đi về duy tâm. Đến Marx thì chuyển qua duy vật nhưng nhớ rằng, tất cả vật chất dưới dạng năng lượng trong mối tương quan ghê gớm lắm. Vậy nên có cả tâm cả vật. Phải dung hòa được cả hai. Việt Nam có sự dung hòa đó nên chủ nghĩa xã hội vào được. Từ truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cho thấy ý thức cộng đồng của người Việt Nam rất lớn, 50 con lên núi, 50 con xuống biển, khi hữu sự thì đoàn kết, tập hợp lại để lo giải quyết. Ngay từ đầu, chúng ta đã đề cao tinh thần cộng đồng, đoàn kết, lòng vị tha, tình thương, sự cảm thông. Tinh thần đó loại trừ tính vị kỷ. Như vậy, ngay từ đầu, ta đã có cơ sở để đi vô chủ nghĩa xã hội. Năm 1946 mở đầu Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố: mọi người sinh ra đều bình đẳng là bởi dựa vào thực tại và thực tại đó là thực tại chính nó, là thật chứ không phải là ngôn ngữ, không phải là duy ngã. Khi đi vô ngôn ngữ là đặt tên, tách sự vật, con người ra khỏi thiên nhiên. Phương Tây khủng hoảng là vì tư duy tách con người độc lập với thiên nhiên và chế ngự thiên nhiên. Thực ra con người phải hòa mình với thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Đó là triết lý của Việt Nam. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lại: mọi người sinh ra đều bình đẳng. Dựa vào đâu để nói điều này? Là dựa vào yếu tố quyết định giá trị mọi vật là thực tại trôi chảy khi ngôn ngữ chưa xen vào, chưa can thiệp vào. Tôi với chị đang ngồi như thế này là thực tại đang trôi chảy. Thực tại không phân biệt chị riêng, tui riêng mà nằm trong hoạt động cảm thông, có sự chan hòa, cảm thông. Đó là lý thuyết của mình. Từ cái gốc đó mới giải quyết được mọi vấn đề. Quốc Hội cùng với Đảng phải tìm ra lý thuyết riêng của mình. Cái gốc là con người và thực tại chứ không có đấng thượng đế nào can thiệp vào được. Làm chi có thượng đế. Trong khoa học là nhân quả. Lý thuyết đạo Phật cũng là nhân quả. Nhân quả là gì? Là một sự vật vừa là nhân vừa là quả. Khi hắn là quả rồi thì đâu có là nguyên nhân đầu tiên được nữa, hắn là kết quả của những cái khác, trong mối tương quan chặt chẽ, có cái trước đâu mà có cái trước nhất. Tương quan hoàn toàn. Vũ trụ khoa học cũng tương tự như vậy, tương quan hoàn toàn. Einstine nói chỉ có đạo Phật mới gặp gỡ được với khoa học là nói thế giới hoàn toàn tương quan.

Con người không bị nô lệ bởi những ý niệm hiện tượng, sống thực sự với cuộc sống và chất liệu sống, sống thực, sống mạnh, sống nhiều chứ không phải là sống bằng ý niệm. Không phải nghĩ về, nói về sống mà là sống với… Còn để ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ đánh giá mọi thứ, nó chi phối sự vật, chia tách, phân biệt rõ ràng cá thể rồi dục vọng mới sinh ra, mới dẫn đến việc đi xâm lược… thành thử làm sao thế giới yên được. Thế giới phải đoàn kết và cùng nhau ngồi lại để bàn. Còn Việt Nam mình thì Quốc Hội Khóa XIII và các Khóa tới nữa cũng đi tới như thế, thực hiện đường hướng của Đảng bằng những nghị quyết, những đạo luật chế ngự lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Phải làm thật, làm cho đến nơi. Ví dụ vừa rồi, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng là làm thực sự, cứ làm những việc đó chứ không có lý thuyết gì cả, nó là như vậy, đi vô thực tại làm vì dân. Rứa là được, là đúng lý thuyết mình nói chứ không có gì trừu tượng cả ”.

******

Tinh thần nhập thế của Nghị Sĩ Thích Chơn Thiện giúp bừng tỏ đạo lý cao vời của Phật pháp.

Con kính chúc Thầy sức khỏe, vạn an.

Nam Mô A-Di-Đà Phật.

hhp 2016

An Thiện Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-02-2016

 Nguyen Thi Kim Tien

Tại Đại Hội Đảng XII vừa qua, ngành Y Tế không có lãnh đạo nào được bầu vào Trung Ương Đảng, kể cả Bộ Trưởng Y Tế đương nhiệm Nguyễn Thị Kim Tiến.

Với khát vọng quá lớn lao vì nước, vì dân, ngay từ ngày đầu giải phóng Miền Nam tiến tới thống nhất đất nước, mặc cho đất nước điêu tàn, kho tàng cạn kiệt, lòng người còn phân tán, xã hội còn lắm ly tan, Đảng và chính phủ Việt Nam đã cho áp dụng ngay lập tức các phúc lợi xã hội đồng đều, rộng khắp, từ giáo dục miễn phí đến y tế miễn phí cho toàn dân. Những nỗ lực vung tay quá trán vì nước vì dân này, cộng với việc đổ máu xương chống chọi với cuộc xâm lăng của Trung Quốc và cuộc xâm lược của Campuchia nhằm tiêu diệt nhanh gọn một Việt Nam ngỡ đâu đã suy tàn sau cuộc chiến tranh trường kỳ chống Pháp và đánh Mỹ để rồi cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng chính nghĩa duy nhất trên thế giới này cứu cả một dân tộc khỏi nạn diệt chủng lại bị Mỹ chụp mũ là xâm lược Campuchia để áp đặt lịnh cấm vận kinh tế tàn khốc, khiến toàn bộ hệ thống giáo dục và y tế ngày càng lạc hậu, xuống cấp, thiếu thốn. Trong lúc ngay tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh vị Khoa Trưởng Khoa Ngoại Ngữ có học vị Thạc Sĩ Mỹ phải “phát huy sáng kiến” chế tạo giáo cụ trực quan bằng cách lấy bao bố đựng gạo dệt bằng sợi đay đem nhúng nước cho ướt sũng, treo lên bảng đen, rồi lấy mấy hình vẽ cắt trên giấy cứng đính lên vải bố để bị dính nước không rơi xuống đất, dạy sinh viên cách dạy học sinh trung học nhìn hình mà nói tên vật dụng bằng tiếng Anh, thì tại các bịnh viện lớn như ở Bịnh Viện Bịnh Nhiệt Đới ở Thành phố Hồ Chí Minh các y tá đẩy xe thuốc đên từng giường bịnh nhân viêm gan siêu vi không để vào dịch truyền, không để tiêm thuốc, không để phát thuốc trong vĩ, mà để rót từ chiếc bình thủy tinh khổng lồ trên xe ra ly một dung dịch đen đặc chiết xuất từ thân lá rể củ A-ti-sô cho bịnh nhân uống, kèm với vài viên thuôc trị bá bệnh Xuyên Tâm Liên từ trong bao nylon lớn tương tự chiếc bình A-ti-sô bên cạnh. Và giữa cái thế giới cả bạn lẫn thù đều ra sức bóp chết đất nước Việt Nam, chính người dân Việt Nam trở thành nạn nhân gánh chịu các đòn trừng phạt đó; đã vậy, biết bao vị bác sĩ hoặc vượt biên hoặc thất thời thất chí bất mãn bất phục bất hợp tác càng làm cho tình hình chăm sóc sức khỏe người dân càng không còn lối thoát.

Ấy vậy mà từng bước Đảng và Chính phủ Việt Nam vừa gượng dậy về kinh tế vừa tự lực cánh sinh khẩn trương đào tạo lớp cán bộ y tế bổ sung, vừa gia tăng chất lượng và số lượng cơ sở y tế đến tận phường xã. Đến nay thì mọi việc đã khá hơn về chất với số lượng các bịnh viện có yếu tố nước ngoài đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của người dân có thu nhập cao, cũng như với số lượng thuốc ngoại nhập khổng lồ mà tất cả các viện bào chế trên toàn thế giới đều đổ vào Việt Nam như nơi đến lý tưởng nhất để kinh doanh dược phẩm. Và Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã nhận lấy trách nhiệm trong một hoàn cảnh nền y tế không còn bi đát nhưng nảy sinh nhiều hệ lụy ấy cả về cơ sở vật chất, giá thuốc, sản xuất thuốc, dịch bệnh, và tác nghiệp của cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền.

Về cơ sở vật chất, do chủ trương chính sách từ ngày đầu giải phóng, các cơ sở y tế được mở ra đồng loạt hằng hà sa số đến tận từng phường, từng xã, trên phạm vi cả nước, khiến ngân sách dàn trải, không cơ sở nào không thiếu thốn, dẫn đến ngân sách cho các bịnh viện lớn “tuyến trên” tức tại các thành phố lớn cũng thiếu hụt, làm hạ tầng cơ sở ngày càng xuống cấp, không đảm bảo vệ sinh, không có trang thiết bị y khoa hiện đại, còn y đức khó được trau giồi mãi trên nền duy ý chí. Khi điều kiện kinh tế đã khá hơn quá nhiều như hiện nay thì khó khăn mới lại càng đeo bám Bộ Trưởng Y Tế nhiều hơn: trong khi cơ sở y tế được xây dựng lớn hơn, nhiều hơn, sung túc hơn, hiện đại tối tân hơn, với số giường bệnh gia tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu săn sóc sức khỏe toàn dân, v.v., thì y đức hầu như đã thành vật xa xỉ quý hiếm nơi giới y bác sĩ. Thực tế xã hội này khiến Bà Nguyễn Thị Kim Tiến dù đã luôn hết lòng kêu gọi, nhắc nhở, thanh sát giám sát, vẫn phải chịu búa rìu dư luận khi vẫn xảy ra các hành xử vô văn hóa của cán bộ y tế đối với bịnh nhân nghèo, trình độ chữa trị đầy sai sót của các bác sĩ đẫn đến manh động của thân nhân bịnh nhân, cũng như việc kê toa của bác sĩ thường nhằm vào việc nhận hoa hồng nhiều hơn nơi công ty nhập khẩu cung ứng dược phẩm khiến bịnh nhân bịnh hơn và nghèo hơn, v.v. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về giá thuốc, đây là vấn đề từ tàn dư của chính sách sai lầm của các quan chức tiền nhiệm. Tác giả bài viết này từng cung cấp thuốc nguyên liệu bulk drug và thuốc thành phẩm cho Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ trước, xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ. Chất lượng thuốc luôn theo tiêu chuẩn Anh Quốc, công ty sản xuất luôn là công ty lớn, và chưa bao giờ có chuyện bất kỳ xảy ra về chất lượng thuốc và giá thuốc. Việc nhập khẩu là việc của các doanh nhân có quan hệ và kinh nghiệm với các nhà sản xuất dược nước ngoài, còn các doanh nhân này sử dụng đội ngũ chuyên viên dược là chuyện riêng của họ, cũng như các lô hàng họ cung ứng cho các cơ quan y tế đều luôn theo thử nghiệm của các cơ quan này đối với hàng mẫu thuốc và theo giá cả chính thức của hai bên. Thế mà Việt Nam bắt đầu quy định chủ nhân các doanh nghiệp nhập khẩu thuốc phải có bằng cấp dược sĩ hay bác sĩ, khiến xã hội ồ ạt xuất hiện nhiều doanh nghiệp do số lượng đông sinh viên y khoa dược khoa tốt nghiệp ồ ạt kinh doanh dược phẩm, mạnh ai nấy tìm nguồn cung ứng giá thấp nhất rồi bán với giá cao nhất, tạo điều kiện làm giàu nhanh chóng cho các nhà sản xuất vô danh tiểu tốt ở nước ngoài, còn người dân Việt Nam thì chịu đựng chất lượng thuốc không cao, nơi sản xuất khả nghi, giá cả cao hơn, và báo chí thì lâu lâu lại đăng công bố của Bộ Y Tế thu hồi các lô thuốc nhập khẩu do có vấn đề về chất lượng. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không khoanh tay trước vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi đối với một sự việc mà căn cơ của nó đã bén rể thành cổ thụ qua bao thập kỷ. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và sự suy đồi của đạo đức con người kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về sản xuất thuốc, trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã đề ra kế sách về thuốc generic, một việc mà nhiều thập kỷ nay đã chưa từng có vị Bộ Trưởng Y Tế nào trước Bà từng xem như một sách lược mang tầm chiến lược quốc gia. Đối với thuốc sản xuất trong nước thì như tôi đã từng viết blog, Việt Nam thay vì tập trung nghiên cứu các tư liệu cổ truyền dân gian để đưa vào sản xuất hiện đại chào bán ra nước ngoài, thì chỉ biết lo sao chép câu vớ vẩn của Cục Dược Phẩm Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA để ghi trên bao bì tất cả các “thực phẩm chức năng” sản xuất tại Việt Nam. Còn một nữ tiến sĩ dược được đưa lên tivi mấy ngày Tết Bính Thân 2016 để ngợi ca tài đức vì đã chế ra thuốc Trinh Nữ Hoàng Cung – dù Trinh Nữ Hoàng Cung là dược liệu từ thư tịch y học cổ và được sản xuất bởi nhiều cơ sở dược nhiều chục năm nay – cho thấy sự bối rối, dẫm chân tại chỗ của ngành dược đến độ buộc phải kiếm cho bằng được một vị để cho có đủ đầy các ngành cho mấy ngày Tết. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên không phải không hiểu biết vấn nạn này; song, Bà khó thể làm gì được trong một xã hội mà sinh viên vào ngành Dược là để sau khi có bằng cấp là xin mở ngay hiệu thuốc để tham gia thị trường bán thuốc để được tiếp cận bởi các trình dược viên của các nhà sản xuất nước ngoài chứ không ai vào ngành Dược vì tâm niệm sẽ làm nên điều kỳ vĩ chế tạo thuốc cứu người, cứu đời. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước tình người và trước cái gọi là ý chí của sinh viên dược Việt Nam ngày nay đối với kinh doanh sức khỏe nhân dân. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà những lời thóa mạ. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về dịch bệnh, trong nhiệm kỳ của Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến, thế giới đã phải đương đầu với những bịnh tật triền miên. Tại Việt Nam, việc lạ vẫn xảy ra đối với Sốt Xuất Huyết. Nếu như vài tháng sau ngày giải phóng, đứa em gái áp út xinh đẹp Hoàng Thị Cẩm Thúy của tôi mất vì Sốt Xuất Huyết năm 1976 lúc mới 7 tuổi và chúng tôi chẳng hiểu đó là gì vì chưa từng nghe thấy ở Việt Nam Cộng Hòa, và chỉ thời gian ngắn sau đã nghe phác đồ điều trị của Bộ Y Tế rằng chỉ cần uống nhiều nước, uống nhiều nước chanh đường, giữ chế độ dinh dưỡng đầy đủ là sau một tuần sẽ khỏi, thì sau 40 năm tôi lại thấy tin tức dồn dập trên tivi và báo chí sự xuất hiện bùng phát dập dồn của Sốt Xuất Huyết, thậm chí với phim phóng sự nêu rõ sự “thờ ơ” của người dân không làm theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương, v.v. Như tôi đã từng nêu trong nhiều bài blog, cái sai của chính quyền là hay lạm dụng cụm từ “tuyên truyền giáo dục người dân” và “kêu gọi ý thức tự giác của người dân” vì tuyên truyền giáo dục không phải là phương pháp áp dụng cho tất cả mọi nội dung, mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi; thay vào đó, biện pháp chế tài nghiêm khắc mới là ít tốn kém nhất và hiệu quả nhất như minh chứng ở Singapore. Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng nếu ngay cả Sốt Xuất Huyết mà 40 năm qua vẫn không “tuyên truyền giáo dục” thành công thì nói gì đến các nguy cơ đại dịch khác; song, Bà khó thể làm gì được vì Bà chỉ có thẩm quyền đối với ngành Y Tế trong khi những thứ vĩ mô mang tính thực hành chung thì đến từ trung ương mà Bà không thể tự mình vượt qua được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Về cơ quan quản lý y tế nhà nước thuộc quyền, Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn còn nhiều việc để làm để chấn chỉnh, chẳng hạn đối với Cục Quản Lý Dược là cơ quan đầy ắp quyền lực nhưng cạn khô trách nhiệm. Cục Quản Lý Dược là cơ quan quyền lực tột đỉnh đối với tất cả các doanh nghiệp nhập khẩu dược và mỹ phẩm. Cục Quản Lý Dược là bộ mặt của Bộ Y Tế để chứng minh Bộ Y Tế có thừa hành đúng chỉ đạo của Đảng và chỉ thị của Chính Phủ trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển kinh doanh kinh tế kinh tài hay không. Thí dụ dưới đây qua công văn số 18709/QLD-MP ngày 02-10-2015 khi một doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh bị Hải Quan tạm giữ lô hàng mỹ phẩm do có các chi tiết không đúng 100% với chi tiết ghi trong giấy công bố sản phẩm do Cục Quản Lý Dược cấp, thay vì trả lời là lô hàng ghi chữ A và B và C theo như chi tiết D và E và F doanh nghiệp nêu trong công văn là chấp nhận được, thì Cục Quản Lý Dược lại dẫn Chương nào của Thông Tư nào quy định như thế nào. Để tránh trách nhiệm mang tính khẳng định cụ thể, Cục đã phải mất nửa tháng mới tìm ra Thông Tư đó để trả lời doanh nghiệp, vừa giúp Hải Quan có thêm thời gian thu thêm phí lưu kho của doanh nghiệp, vừa đá trái bóng qua Hải Quan để Hải Quan thay vì cho giải tỏa lô hàng của doanh nghiệp lại phải dành thời gian để đọc xem câu cú của Cục nên được hiểu như thế nào đối với danh mục mấy tá chủng loại hàng của doanh nghiệp; chưa kể công văn của doanh nghiệp có dẫn chứng về biên bản của Hải Quan nhưng Cục chỉ trả lời cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp phải sao y rồi trình cho Hải Quan xem, mà Hải Quan khó thể chấp nhận một bản photocopy không có dấu đỏ của Cục. Tất cả quy trình tránh né này dễ khiến doanh nghiệp tự hiểu ra rằng tốt nhất phải có “phong bì” đút lót cho Cục hoặc cho Hải Quan. Việc Bộ Trưởng Bộ Y Tế nên làm là (a) giao thực quyền cho các vị Cục Trưởng để họ phải bị xử lý nếu sai phạm hoặc để có sai phạm ở cơ quan họ trong tiến trình cải cách hành chánh, thay vì bám gấu áo của Bà, núp sau cái bóng của Bà để Bà phải gánh chịu mọi búa rìu dư luận trong khi họ vinh thân phì gia hoạnh họe doanh nghiệp mà Bà không biết đến; và (b) ra lịnh thay đổi cung cách ra văn bản vì Hải Quan và doanh nghiệp nói trên đều có trong tay các thông tư của Bộ Y Tế nên không lý do gì Cục lại dẫn ra các thông tư ấy, vì cái mà doanh nghiệp nêu là tại sao một tá mặt hàng mà họ cho là hợp lệ ấy lại bị Hải Quan tạm giữ và yêu cầu Cục cho biết một tá mặt hàng đó cái nào đạt, cái nào không đạt.

 qld

Là Bộ Trưởng Y Tế, Bà Nguyễn Thị Kim Tiến đương nhiên biết rõ rằng cải cách hành chánh là một tiến trình gian nan đặc biệt với một Bộ như của Bà phải đối phó cùng lúc với nhiều vấn đề quan trọng và nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe toàn dân và y tế y học nước nhà, chưa kể lề lối làm việc thâm căn cố đế kiểu “con ông cháu cha” hoặc “anh anh em em kiểu Anh Hai Anh Năm Chị Sáu Chị Bảy” luông tuồng không thể một sớm một chiều có thể thay đổi được. Người hiểu biết sẽ lắc đầu ngán ngẩm trước sự bó tay trước cung cách làm việc của “người mình”. Người không hiểu biết sẽ không tiếc công dành cho Bà mọi lời đổ lỗi về quản lý. Bà vẫn ra sức làm việc vì Bà là một đảng viên trung kiên, một giáo sư tiến sĩ y khoa tự trọng, và một quan chức biết việc mình làm vì mục tiêu cao cả vì sức khỏe của nhân dân.

Sẽ là một sự công bằng nếu như Chính phủ do Quốc Hội chuẩn y trong khóa XIV tiếp tục bổ nhiệm Bà Nguyễn Thị Kim Tiến làm Bộ Trưởng Y Tế thêm một nhiệm kỳ để Bà tiếp tục hoàn thành các dự án của Bà đối với sản xuất thuốc; mở rộng nâng cấp và hiện đại hóa các bịnh viện; hữu hiệu hóa cơ chế đảm bảo lượng vắc-xin chất lượng cho toàn dân; tối ưu hóa cơ chế chăm sóc sức khỏe cho dân nghèo, dân chúng vùng sâu vùng xa, vùng hải đảo, chốn biên thùy; và trên hết là nâng lên được cao nhất y đức mà bản thân Bà đã trong suốt nhiệm kỳ qua đã gắng sức thể hiện tôn tạo tôn vinh. Sự nghiệp y tế nước nhà cần người trưởng ngành như Bà vì Bà có kinh nghiệm quản lý nhà nước, có kinh nghiệm đối phó với các vấn đề liên quan đến y tế toàn dân, có kinh nghiệm đề ra sách lược sản xuất thuốc theo công thức ngoại thay cho nhập khẩu để dân có thuốc chất lượng cao với giá không cao, và có uy tín chuyên môn y học với nước ngoài, nên hơn ai hết Bà cần tiếp tục vị trí đầu ngành để thực hiện kế sách Bà đã tâm huyết hoạch định vì nước vì dân.

Làm việc càng nhiều, giải quyết càng nhiều việc, đảm đương đa dạng phong phú các lĩnh vực trách nhiệm trên quy mô quá rộng lớn và liên quan đến tất cả các công dân của đất nước này thậm chí kể cả các công dân tương lai còn trong bụng mẹ, Bà càng là đích ngắm của các công kích, dèm pha, chê bai, bôi nhọ, mỗi khi có một sai sót nào đó đến từ bất kỳ ai thuộc ngành Bà quản lý.

Tôi tin tưởng rằng người dân sẽ nhận ra hiệu quả làm việc của Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nếu Bà tái cử vào vị trí tư lệnh ngành y tế Việt Nam.

Hiệu quả ấy sẽ là thứ y đức mà bản thân Bà dâng cho người dân Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

hhp 2016

A) Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Thực Phẩm Chức Năng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/30/thuc-pham-chuc-nang/

B) Các bài viết của Hoàng Hữu Phước về lãnh đạo Việt Nam:

29-12-2016: Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/29/pho-thu-tuong-nguyen-xuan-phuc/

22-01-2016: Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/uy-vien-bo-chinh-tri-nguyen-thi-kim-ngan/

08-02-2016: Tân Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/08/2595/

12-02-2016: Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/12/thu-tuong-nguyen-tan-dung/

14-02-2015: Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/14/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong/

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-02-2016

Nguyen Tan Dung

Khi tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS lần III và CLMV lần IV tháng 11 năm 2008, tôi gặp một sự cố tại hội trường lúc vừa phát biểu xong về đề xuất ý kiến bằng tiếng Anh với nội dung Trade Development through Russian-Styled Financial Tools for Bilateral Deals amongst ACMECS (phát triển thương mại theo kiểu tài chính Nga đối với các giao dịch song phương giữa các nước ACMECS, tức dùng đồng nội tệ của các nước với nhau), tôi ngồi xuống nhận lời khen của đoàn Thái Lan thì điện thoại rung nên lại đứng lên để ra ngoài hội trường. Gia đình tôi báo tin Ba tôi lại vừa được đưa đi cấp cứu. Tôi rụng rời, phone yêu cầu văn phòng bằng mọi cách lấy vé cho tôi về Thành phố Hồ Chí Minh ngay trong chiều, bỏ luôn buổi tiệc tối với các vị nguyên thủ. Trong lúc vội vàng, tôi đánh rơi điện thoại, văng ra làm ba mảnh gồm phần trước, nắp sau, và pin. Lắp ráp xong, tôi vào hội trường nao nao chờ tin nhắn xác nhận vé. Bất thình lình, điện thoại tôi reo vang, hóa ra khi lắp máy lại, tôi không biết nó đã thoát khỏi chế độ rung. Trong lúc lúng túng luồn tay vào áo veston lấy phone ra, tôi xấu hổ nhìn lên sân khấu nơi năm vị thủ tướng đang làm chủ tọa hội nghị, và bắt gặp ánh mắt của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thủ Tướng nhìn tôi không với sự bực dọc đối với kẻ không chuyên nghiệp tại hội nghị thượng đỉnh, mà với sự trấn an như đối với người mà Thủ Tướng cho rằng ắt đang gặp phải vấn dề nghiêm trọng riêng cần phải bình tĩnh. Đó là bản lĩnh của nhà lãnh đạo: sự hùng biện thần uy qua ánh mắt.

Tại Quốc Hội Khóa XIII năm 2011, khi đại biểu DTQ vung tay gằn giọng thách thức Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “có dám từ chức không”, thì Thủ Tướng trở thành nhà hùng biện thần uy không thể bắt gặp tại thế giới chính trị tư bản qua việc Ông từ tốn trả lời gây sự xúc động mạnh mẽ nơi mọi người rằng tính đến ngày hôm ấy Ông đã phục vụ Đảng được bao nhiêu năm bao nhiêu tháng bao nhiêu ngày như một đảng viên trung kiên luôn phục vụ đất nước và nhân dân theo sự phân công của Đảng và làm tròn trách nhiệm cùng bổn phận trước tổ quốc và dân tộc. Các nguyên thủ quốc gia cường quốc tư bản Âu Mỹ sẽ không trả lời – hoặc trả lời giễu cợt – đối với các câu hỏi bá láp, vô đạo, vô lý, vô duyên, mà khán giả cử tri tư bản cũng sẽ cười chộ kẻ đặt câu hỏi thuộc loại bá láp, vô đạo, vô lý, vô duyên, và cười ầm ủng hộ sự khôi hài của nguyên thủ, vì trách nhiệm thiêng liêng của nguyên thủ không phải là thứ để đem ra thách đố hay chấp nhận thách đố vớ vẩn cho cái việc “dám” hay “không dám”.

Nếu như các Thủ Tướng tiền nhiệm của Việt Nam lèo lái con thuyền quốc gia vượt qua bão tố chiến tranh giải phóng, sang giai đoạn vá víu đất nước thống nhất bị chiến tranh tàn phá, rồi lại phải đối phó thành công với sấm sét chiến tranh mới với Trung Quốc và Campuchia gặm nhấm bào mòn sinh lực quốc gia, đến khi chèo chống thành công con thuyền quốc gia cặp bến bờ bình yên để sửa chữa và đổi mới để thành con tàu vững chắc hơn, thì Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng gánh lấy trách nhiệm mà Đảng và Tổ Quốc, Dân Tộc đã giao phó: điều khiển con tàu mới và mạnh mẽ ấy ra biển lớn để đến những bến bờ mới đem về cho bằng được những giá trị mới có trị giá lớn cho nước nhà. Dưới thời các nhiệm kỳ của Ông, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã là vị thống soái thống lĩnh các vị tướng tức các Bộ Trưởng trên tất cả các mặt trận, từ ngoại giao đến quốc phòng, từ kinh tế đến an ninh, từ tài chính đến giáo dục, và từ giáo dục đến phát triển nông thôn, v.v., và chính trong thời đại cầm quyền của Ông, Việt Nam đã có những vụ mùa thu hoạch thắng lợi về đầu tư nước ngoài, đầu tư ngoài nước, phát triển kinh tế, giữ vững và nâng cao nhất vị thế quốc gia, bảo vệ đất nước trước lằn ranh mỏng manh của chiến tranh và hòa bình, đặc biệt là đã ký kết được nhiều siêu dự án đa phương khu vực và đa phương quốc tế cho thời đại mới mà TPP và EU-VN FDA là điển hình.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Ông có thể tự hào trở về đời sống dân sự với hai điều to tát nhất là (a) Ông đã bổ sung cho minh chứng hùng hồn rằng những người dân Việt Nam bình dị khi trung kiên với Đảng theo lý tưởng cách mạng Hồ Chí Minh thì luôn được giáo dục, tôi luyện trở thành những người ưu tú, kiệt xuất như Võ Nguyên Giáp; và (b) chính Ông đã đến tất cả các châu lục để đưa được về cho đất nước con tàu đầy ắp những vật liệu xây dựng để vị thống soái kế nhiệm trổ tài dựng xây đất nước lớn mạnh, phát triển, hùng cường, theo yêu cầu mới của thời đại mới: thời đại Hậu-Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một danh nhân đất Việt mà các nguyên thủ thế giới phải nễ trọng. Ông trở thành mẫu mực cho các vị Thủ Tướng sau Ông trong trị quốc bình thiên hạ.

Nguyen Tan Dung 2

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-02-2016

Thói thường thì người Việt Nam mỗi khi đi nước ngoài về đều hết lời tán dương ca ngợi sự giàu có, tiện nghi, lộng lẫy, nguy nga biểu hiện lồ lộ qua các điều vật thể cụ thể như đền đài, thành quách, phố xá, công trình, v.v. ; cũng như qua những điều phi vật thể như các nét văn hóa, cách ứng xử, lễ hội, v.v., tất cả toát lên sức sống sinh động, trù phú, đáng khâm phục.

Và cũng theo thói thường thì mỗi khi có cái “thói thường” nêu ở trên, người Việt Nam ngao ngán, ngúc ngoắc đầu ra dáng ngại ngùng, ngán ngẩm, khi liên tưởng đến những điều vật thể và phi vật thể biểu hiện lồ lộ qua bao việc, tất cả toát lên sự tồn tại mà không ai cho là không dị thường, ngay cả nơi các nhà giáo dạy Sử và những người tự phong là “nhà sử học” hay “sử gia”.

Cái hệ lụy từ hai thứ “thói thường” ở trên là chưa thấy ai nhìn ra được – hay chí ít đề ra được một phương pháp cụ thể, khoa học, thuyết phục để nói về – sự giàu đẹp “lồ lộ” định hình được, định tính được, định lượng được của Việt Nam, vì vậy chả trách không đâu thấy có sự tự hào, nhận ra được niềm vinh dự, của việc được sinh ra làm người Việt Nam, dẫn đến việc tay thì ngửa ra nhận tiền lương, mà việc dạy Sử vẫn không làm tròn, khiến học trò Việt thì dốt Sử (điểm zero mà không gọi là “dốt đặc” mới là lạ!), còn hệ thống giáo dục nước nhà cứ mãi dùng chữ “trăn trở” với “băn khoăn”, khiến nước ngoài lầm tưởng người Việt ta khoái nằm ưỡn trên giường để thở dài (“trăn trở” lăn qua trở lại mà lị!) hoặc ngồi đực ra bên bàn trà để nhíu mày nhăn trán (“băn khoăn” mà lại!).

Bài viết này, do đó, cung cấp cho các nhà giáo dạy Sử, các “nhà sử học” tự phong, và các “sử gia” trên trời rơi xuống những luận cứ khoa học cho một công thức hàn lâm chuẩn xác nhằm cân đong đo đếm được mức độ giàu mạnh của Việt Nam để sử dụng trong các bài giảng Sử, bài viết Sử, phát biểu Sử, nhắm đến việc “minh bạch hóa” sức mạnh và vẻ đẹp của quốc gia này.

Trước khi vào phần cốt lõi của các luận cứ, xin nói vi von thêm rằng Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dù có phát triển vùn vụt đến đâu, điều này chẳng dính dáng gì đến việc phát triển vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam, nghĩa là những gì đang có ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh như nhà cao tầng đồ sộ, đường nhiều tầng hiện đại, hệ thống điều khiển giao thông phức tạp, v.v., không mang nội hàm rằng ngần ấy thứ cũng có đầy dẫy khắp nơi ở các vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam. Sự chịu đựng thành công của các vùng biên giới đầy gian truân, lắm khổ ải, thừa thiếu thốn, đưa đến sự tồn tại phát triển phồn hoa của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các phố thị khác của Việt Nam. Đã là chốn biên phòng, nơi ấy buộc phải chịu nhiều thiếu thốn, thiếu hụt, cả về tiện nghi sống lẫn sự phô trương vật chất phù hoa.

Việt Nam là xứ sở kỳ lạ vì gánh lấy gánh nặng làm chốn biên phòng của toàn vùng Đông Dương và Đông Nam Á.

Khi đi thăm Campuchia, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu, dồn của cải cứu đất nước ấy không bị Trung Quốc tuyệt diệt giống nòi, không bị Trung Quốc cướp sạch kho tàng đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành, để mọi thứ bảo vật Khmer mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước ấy phát triển vượt bậc, trở thành một thành viên của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi đi thăm Thái Lan, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là thốt nên tiếng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính Thái Lan cướp sạch kho tàng Thái Lan đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành Thái Lan, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước Thái Lan phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành một thành viên đầy vinh diệu của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Và khi đi thăm Mã Lai, Singapore, hay Indonesia, thậm chí cả Australia bao la giàu mạnh, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia Việt Nam để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính toàn bộ Đông Dương và Đông Nam Á, ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ Biển Đông, ngăn chặn Trung Quốc tràn quân thôn tính Châu Đại Dương, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để toàn vùng phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành những thành viên đầy tự hào của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi nói đến tên các quốc gia Đông Nam Á và Úc châu, không có nghĩa là Việt Nam chỉ có thể tìm thấy sự vĩ đại của chính mình tại những nơi ấy. Sự giàu có của Pháp cũng đến từ tài sản cướp được của nước Việt ta trong hàng trăm năm xâm chiếm.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực sở dĩ có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Phủ nhận điều này chỉ khiến người lên tiếng phủ nhận biến thành phường ăn cháo đái bát, phụ nghĩa, vong ân, mà như thế có khác gì loài dã thú.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Không biết gì về sự thật này để dạy học trò chỉ khiến nhà giáo dạy Sử biến thành vô trí vô hóa vô lương vô tâm, chỉ là những cỗ máy vô tri nhào nặn ra những học trò dốt Sử, giỏi chê bai nước nhà, hám chạy theo phục dịch ngoại bang.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải mãi gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Thái Lan khi đã thức tỉnh trước sự thật này đã không tiếp tục cho phép các nhóm người Việt từ Úc hay Mỹ đến lập căn cứ “Kinh Kha” trên đất Thái chống phá Việt Nam. Các quốc gia trong khu vực do đã thức tỉnh trước sự thật này nên đã ủng hộ Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là hành động duy nhất đúng của các chính phủ có trí tuệ.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải luôn gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Do đó, người dân Việt Nam cần nhận thức rõ nhất về vai trò này của Việt Nam, để tự hào về đất nước, từ đó vững vàng trước các chống phá của các thế lực thù địch chống Việt mà thực chất là bọn Việt gian tiếp tay Trung Quốc thôn tính Việt Nam và phần còn lại của Đông Nam Á.

Muốn biết Việt Nam giàu đẹp đến dường nào, hãy đi du lịch ra các nước trong vùng Đông Nam Á, để tấm tắc khen rằng người dân ở các nước ấy thật may mắn đã có Việt Nam dạn dày sương gió trấn giữ biên cương vùng đất, vùng biển, vùng trời tại khu vực này của thế giới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vì Sao Táo Quân Thất Bại

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-02-2016

Táo Quân ở đây là vở kịch Táo Quân mà đài truyền hình VTV đầu năm âm lịch nào cũng trình diễn trong suốt hơn 10 cái Tết qua. Táo Quân thất bại tức vở hài kịch ấy của VTV thất bại, chứ không phải ba vị tâm linh cai quản bếp núc các hộ dân cư.

Song, năm nào cũng tốn hàng trăm triệu cho vở hài kịch mà vài năm trở lại đây luôn nhận toàn những lời chê bai của khán giả, VTV vẫn cứ chây lỳ chường mặt ra với Táo Quân của họ, mà điển hình là sáng nay 01-02-2016 hai “hề” XB và CL thi nhau tung hứng về ý nghĩa của Táo Quân đối với sự thăng tiến nghề nghiệp của họ, thậm chí còn “tâm linh” khi nói nhờ đóng vai Nam Tào và Bắc Đẩu mà hai hề nhà ta mới thành đạt, chưa kể có vị còn nói là vị ta không phải “giả gái” mà tại sách vở đâu có nói “Ông” Nam Tào hay “Ông” Bắc Đẩu nên tác giả kịch bản có quyền để một ông là “ông” và một ông là “bà”. Hóa ra nhờ các hề Việt mà ta nay phát hiện rằng Tổ Tiên bọn Tàu ngày xưa đã dốt tiếng Anh nên đã không ghi rõ chữ Mr hay Mrs trước danh xưng, khiến Ngọc Hoàng Thượng Đế không rõ là ông hay bà, mà nếu là bà thì chồng của Ngọc Hoàng Thượng Đế là ai, còn Phật Thích Ca không có chữ “ông” trong khi Phật Bà Quan Âm thì có chữ “bà” nên ắt gây ra tranh cãi mới chốn hàn lâm thần học.

Trở lại với Táo Quân, đã có vô số sự chê bai trên báo chí, nhưng chưa ai nêu được lý do sâu xa của sự thất bại của Táo Quân.

Như đã viết trong bài Cái Sai Của Nền Văn Học Hiện Thực Phê Phán, tôi cho rằng cái gọi là tiểu thuyết văn học hiện thực phê phán đã bị diệt vong vì (a) đã là tiểu thuyết thì không bao giờ là hiện thực vì tiểu thuyết là “fiction” chứ không phải “non-fiction”, (b) nếu hiện thực thực sự có cái xấu xa phải bị lôi ra làm đối tượng cho sự phê phán gián tiếp trong văn học thì hoặc xấu xa đó là xấu xa vụn vặt hoặc xấu xa đó là xấu xa khủng khiếp mà tiểu thuyết gia nhà ta đã hèn nhát do sống trong một xã hội nhát hèn không dám lôi kẻ xấu xa ấy ra làm bị cáo trực tiếp trước vành móng ngựa, và (c) điểm b ở trên đã biến cả lãnh địa của tiểu thuyết văn học hiện thực phê phán thành bằng chứng của sự dệt thêu, nhát hèn, thất bại từ trứng nước, khiến cả lãnh địa ấy phải bị diệt vong không kèn không trống.

Là người được thầy cô ở đại học cùng các bạn học tôn là “vua luận” văn chương Anh-Mỹ, tôi cho đến tận ngày nay vẫn chưa từng đọc qua nguyên tác Hamlet hoặc Romeo & Juliet hoặc Othello hoặc Macbeth hoặc các kịch phẩm khác của Shakespeare dù chương trình học ở Đại Học Văn Khoa buộc phải nghiên cứu các tác phẩm vĩ đại này. Tôi chỉ đọc vỡ hài kịch The Taming of the Shrew của Ông. Lý do thật đơn giản: ở trung học tôi đã hoặc xem phim, hoặc nghe kể, hoặc đọc các bản dịch rút ngắn tiếng Việt, hoặc đọc các bản simplified rút ngắn tiếng Anh nên không hứng thú để đọc nguyên tác sau này, tuy luôn đạt điểm cao nhất về các bài thi liên quan đến các kịch phẩm lớn trên.

Táo Quân thất bại vì khán giả biết Táo Quân sẽ nói gì do khán giả đã biết trong xã hội trong năm qua đã có những sự việc nổi cộm gì. Đã biết trước thì đâu còn có hứng thú để chờ xem, mà nếu có xem vì chẳng biết phải làm gì trong lúc chờ thời khắc Giao Thừa đến thì cũng chẳng cười nổi. Vợ tôi thuộc gia đình người “Bắc di cư” hay chê bai hề miền Nam ồn ào tía lia tía lịa dung tục do toàn là “không có nội dung”, vậy mà nay lại nói không thể xem hài kịch miền Bắc do cái cười vui vẻ như của “Gặp Nhau Cuối Tuần” hay trong các vỡ chèo trước đây đã không bao giờ còn tồn tại do toàn là “có nội dung đã biết trước”.

Táo Quân thất bại vì sau một vài năm đầu làm khán giả thích thú – xin nhắc lại là “thích thú” chứ không phải là “bị chọc cười ha hả” – vì thủa xa xưa ấy chưa có cái việc những sai sót của nhà cầm quyền bị đưa ra chọc chộ mai mĩa công khai. Thế rồi, khán giả (a) dần dần biết ngay là Táo Quân năm nay sẽ khoét sâu vào nội dung nào thuộc Bộ chủ quản nào nên đâm ra chán; (b) dần dần nhận ra rằng có phê phán đấy nhưng sao năm nào cũng có cái để phán phê nghĩa là sự phê phán ấy vô dụng chẳng dẫn đến sự khá hơn nào của xã hội nên càng đâm ra chán; (c) dần dần nhận ra rằng do kịch bản và lời thoại không có gì hay ho để chờ có “đột phá” người ta bắt đầu lưu ý đến cung cách từng “danh hề” một nên để ý thấy vị Ngọc Hoàng luôn có gương mặt buồn ngủ, lời thoại ngủ buồn, luôn có lời phán kiểu “dĩ hòa di quý” ở cuối màn, cho qua hết mọi việc (để tiếp tục tầy huầy nhằm năm sau có cái mà báo cáo tiếp), còn các “Táo” thì chỉ lo hoặc chọt qua chọt lại hoặc cải trang nữ giới, nên càng chán dữ hơn; và (d) khi thấy Táo Quân bị ế đến độ năm 2015 phải mời một nam ca sĩ đóng vai thiên lôi với hy vọng sẽ có khán giả ủng hộ, khiến khán giả không còn chán, không còn chán hơn, không còn chán dữ, mà không xem để khỏi chán.

Táo Quân thất bại vì VTV đã không chịu đọc bài về Hiện Thực Phê Phán nêu trên để biết rằng đã là tác phẩm văn học – hài là một lĩnh vực của văn học – nhất là tác phẩm kịch nghệ hài thì phải đặt tiêu chí giải trí là duy nhất và trên hết. Hãy tham khảo các tác phẩm viết hoặc hình của thế giới Âu Mỹ để nhận ra điều cực kỳ đơn giản này, vì rằng khán giả mua vé vào rạp xem phim hài hay hài kịch – hay mua băng dĩa về xem – là để tìm sự thư giãn, giải trí, chứ không để bị lôi kéo vào những “vấn nạn” trầm kha đầy nhức đầu nhức nhối bực mình bực dọc bực tức của xã hội để bị nhắc nhở buộc phải nhớ đi nhớ lại ngần ấy thứ trong giờ thư giãn hiếm hoi.

Hư cấu cốt truyện là một biệt tài của nhà văn hài, biên kịch hài. Hư cấu cốt truyện khiến Hollywood có các tác phẩm điện ảnh lừng danh, còn thế giới phim ảnh thì hốt bạc, nhờ vào những hề vĩ đại.

Hư cấu lời thoại xỏ xiên một việc có thật để chọc cười thiên hạ là sự láu cá, bất tài, cùn nhụt, thụ động, và bất lực của tác giả vì không thể hay hơn sự xỏ xiên vốn là biệt tài của những người chống phá chế độ ngồi rung đùi nơi quán cà phê cóc vĩa hè. Hư cấu lời thoại khiến Táo Quân không thể vượt ra khỏi biên giới Việt Nam dù cưỡi cá chép hay đáp Airbus/Boeing, và thậm chí từ Hà Nội vào các tỉnh Miền Nam cũng rất khó khăn.

Khi xem Mr Bean, người ta cười trước đã với diễn xuất của anh hề Rowan Atkinson cùng nội dung toàn bộ bộ phim, rồi dần dần sẽ có một hay hai khán giả – hoặc chẳng khán giả nào cả – liên tưởng đến cái gì đó trong xã hội. Khi xem Táo Quân, người ta ai cũng biết ngay lập tức là đang nói đến sự việc gì nên chỉ cười khi thấy bộ tịch mếu máo của hề hoặc lời thoại đốp chát dung tục giữa các hề, chứ chẳng ai cười với nội dung toàn bộ vỡ kịch.

Thời đại cũ do chiến tranh nên những phát triển văn học khó thể dồi dào, đa dạng, dẫn đến yêu cầu phải sáng tác nhanh – qua các trại sáng tác – để có cái mà đưa vào chương trình học Văn ở trung học cũng như có cái mà diễn cho dân xem mà qua đó sẽ giáo dục tư tưởng chính trị. Cũng nhừ vậy mà cái gọi là “chủ nghĩa hiện thực phê phán” phải ra đời, phải được ngợi ca, và trở thành thói quen.

Thời đại mới ngày nay khi sự tiếp cận văn học văn hóa văn minh thế giới dễ dàng qua một cái bấm nút trên remote control, người ta có nhu cầu cao hơn, đồng thời nhận ra (a) ý nghĩa của “fiction” và “non-fiction”, (b) ý nghĩa cực kỳ tiêu cực và giả trá cũng như vô dụng của “hiện thực phê phán” trong lĩnh vực văn học, (c) sự cáo chung của nền “văn học hiện thực phê phán”, và (d) quyền lực của người xem đài đối với doanh thu quảng cáo của các nhà đài buộc các sản phẩm của các nhà đài phải ở chất lượng cao nhất.

Táo Quân sẽ không thể tốt hơn vì Táo Quân đã tự trói buộc mình vào chiếc vòng kim cô của chuyên moi móc “các sai sót của các Bộ trong chính phủ” để chọc cười nên không thể thoát ra, không còn có thể trở thành hư cấu hoàn toàn, tức thực thụ trở thành tác phẩm hài thuần giải trí theo tiêu chuẩn phục vụ cao nhất và có “lương tâm” nhất tức “đạo đức nghề nghiệp” cao nhất của Âu Mỹ về tạo nên sự cảm thụ nghệ thuật hài trong thư giãn thoải mái khỏe khoắn yêu đời hơn nơi khán giả.

Táo Quân đã giúp hề XB và hề CL phát triển tay nghề hài – như thú nhận của chính hai hề này – và Táo Quân cũng đã giúp biết bao nhà phê bình có cái để mà phê phán trên báo giấy cũng như báo mạng.

Đó là hai đại công của Táo Quân của VTV vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 23-9-2015. Hề & Ngứa.

Hoàng Hữu Phước. 23-11-2015. Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán

Đồng Phục Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Có một chân lý ở Việt Nam rằng khi học đường quan tâm tạo dáng cho đồng phục của học sinh như cách để tạo sự khác biệt đặc trưng thì đó là nơi chốn không bao giờ là của nguồn nhân lực tương lai hùng mạnh của quốc gia.

Có trường thì các cấp lớp tự tranh nhau tạo sự khác biệt thí dụ như tại một trường nọ ở Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh trang phục thể dục khác nhau do có lớp quyết định chọn màu tím cho cả nam sinh và nữ sinh, có lớp lại chọn màu hồng hay màu vàng, và tất nhiên các lớp khác chọn những màu sắc chưa được chọn để khỏi “đụng hàng”.

Nhưng tất cả các trường ở Thành phố Hồ Chí Minh đều có các kiểu gọi là “đồng phục” riêng, chẳng hạn như tại trường dưới đây ở Quận Phú Nhuận:

 Dong Phuc

thay vì dạy học sinh cách thắt cra-vat vốn cực kỳ cần thiết do có rất nhiều “người lớn” ở thành thị và tại tất cả các công ty lớn cũng như nhỏ vẫn chưa biết thắt cra-vat cho chính mình, nhà trường lại “bán” cho học sinh cả nam và nữ sợi dây đeo trước cổ như trong ảnh trên. Gọi là dây đeo cổ vì không phải thắt mà là một sợi dây may dính vào cái lưỡi thè dài nhìn xa giống như một cra-vat nhưng luôn được buông lã lơi một cách diễu hề không nghiêm túc, bất lịch sự, vô văn hóa, cực kỳ nhếch nhác. Nếu như ban giám hiệu và giáo viên nam nữ của trường trung học trên vẫn không có ý kiến gì về cái kiểu “thời trang” như thế thì rõ là cái danh xưng nhà giáo dục của họ rõ là có vấn đề nghiêm trọng.

Tôi không phải người bảo thủ trong lĩnh vực thời trang vì tôi luôn “đa sắc màu” ngay cả tại nghị trường Quốc Hội cũng vận áo sơ mi từ tím than đến tím…hoa sim hay mọi màu sắc khác thay vì lẽ ra nên luôn là màu trắng trang trọng

 Dongphuc2

cũng như luôn thoải mái khuyến khích vợ tôi khi chúng tôi vừa mới lập gia đình thích đi đó đi đây chu du thiên hạ cách nay 30 năm hãy tự nhiên ăn mặc “sexy” dù bộ áo tắm có “hở hang” thế nào cũng được khi tắm biển Vũng Tàu hay Nha Trang (dù chính vợ tôi lúc nào cũng ngượng ngùng, kín đáo, cứ tự ý kiếm voan may thêm vào áo tắm để che bới đùi, mông) tôi vẫn cho rằng cái gọi là “đồng phục” của học sinh thời Việt Nam Cộng Hòa mới là duy nhất đúng. Thủa ấy, nữ sinh bất kỳ trường học nào cũng mặc áo dài trắng; còn nam sinh bất kỳ trường học nào cũng mặc áo sơ mi trắng (hoặc dài tay hoặc dài tay hoặc ngắn tay) bỏ trong quần dài ka-ki xanh dương đậm, đi giày vải hoặc giày xăng-đan – nói chung là “có quai hậu”.

 Dongphuc3

Sự phân biệt học sinh trường này với trường khác chỉ dựa vào huy hiệu bằng vải có tên trường, thứ duy nhất mà phụ huynh mua của trường để về tự may vào trên túi áo trái của con mình. Tất nhiên, có trường – thiểu số cực kỳ hiếm hoi – như trường Nguyễn Bá Tòng chế ra huy hiệu hình chiếc lá bằng kim loại màu vàng có nền nhựa trong màu đỏ như trong ảnh dưới đây:

 Dongphuc4

Điều thuận lợi ở đây là (a) người mẹ trong gia đình hoặc tự may áo dài cho con gái, áo sơ mi cho con trai, tự đính huy hiệu vào áo cho con; (b) do áo chất lượng tốt nên áo của anh chị có thể được sử dụng tiếp bởi các em, chỉ cần người mẹ trong gia đình tháo huy hiệu ra và đính huy hiệu mới vào nếu các con nhỏ tuổi hơn theo học trường khác với anh chị; (c) ngay cả huy hiệu như của Nguyễn Bá Tòng lại càng dễ sử dụng và tiết kiệm do có kim gài mà anh chị nếu học khác buổi với các em đều có thể cùng sử dụng chung – đặc biệt cơ chế tổ chức cực kỳ khoa học của nhà trường Việt Nam Cộng Hòa khiến dù học 6 ngày mỗi tuần tức kể cả Thứ Bảy, dù học rất nhiều môn, dù môn nào cũng phải thi cuối năm, cuối cấp, và tú tài, thì vẫn chỉ học một buổi duy nhất trong ngày tức học toàn bộ các buổi sáng hoặc toàn bộ các buổi chiều; (d) học sinh chỉ lo chăm học chứ không lo đua đòi vì mọi đua đòi bị triệt tiêu nơi chốn học đường, còn nhà trường không ai bị mang tiếng tranh thủ bòn rút kiếm chác tiền của phụ huynh qua việc bày trò “kiểu đồng phục riêng” hầu cơ sở may mặc của gia đình các vị chức sắc trong ban giám hiệu có dịp “độc quyền kiếm ăn” quanh năm suốt tháng; và (e) nữ sinh dù không bao giờ được hướng dẫn phải tu dưỡng ra sao vẫn tự nhiên hình thành nếp tư thế khoan thai, sang trọng, cẩn trọng, thướt tha, với chiếc áo dài đồng phục của mình do không thể chạy giỡn, phá phách, thét gào teen teen tửng tửng tứng từng tưng.

Mỗi khi tan trường, học sinh trung học của Việt Nam Cộng Hòa chỉ cần kéo áo sơ mi ra để “thoải mái” dù nhếch nhác

 Dongphuc5Dongphuc6

thì học sinh tại trường đã nói ở trên tại Quận Phú Nhuận lại “nhếch nhác” toàn bộ thời gian từ nhà đến trường, trong trường, và từ trường về nhà chỉ vì cái kiểu đeo toòn teng cái “thè lưỡi” nhái nhái cra-vat chẳng giống ai đó.

Học đường là nơi nghiêm túc vì đào tạo nguồn nhân lực cao cho xã hội. Chốn tu hành là nơi nghiêm túc vì là nơi xuất phát của các bậc cao tăng. Học đường không thể thi nhau bày ra đồng phục riêng với phụ tùng riêng để tạo sự riêng biệt trong ngoại hình đối với trường học khác trong quận nhà hay quận khác. Chốn tu hành không thể bày ra đồng phục riêng với phụ tùng riêng để tạo sự riêng biệt trong ngoại hình đối với cơ sở tôn giáo khác trong quận nhà hay quận khác. Cái tự do về tạo hình trong trang phục chỉ có đối với học sinh đã bước chân vào đại học hay vào đời. Cái tự do về tạo hình trong trang phục chỉ có đối với nhà tu hành đã hoàn tục hoặc tu xuất. Thậm chí cái tự do về tạo hình trong trang phục có khi cũng không được tồn tại đối với những “người lớn” nào làm việc cho những công ty “lớn” có Dress Code tức quy định về trang phục hay đồng phục, khiến cái tự do về tạo hình trong trang phục chỉ có thật đối với đời sống cá nhân bên ngoài nơi làm việc. Chỉ cần hiểu biết về điều này, nhà trường tất nhiên sẽ phải quy định như các trường học – dù công lập hay tư thục – của Việt Nam Cộng Hòa để chuẩn bị cho những học sinh làm quen với “dress code” để tiến từ học đường ra xí nghiệp, cơ quan, lực lượng vũ trang, v.v., phù hợp với kỷ cương chung, quy định chung, ngay từ thủa nhỏ.

Một khi đầu óc chỉ nghĩ đến sự tranh đua về độ nổi bật của trang phục, sẽ không bao giờ có chỗ cho tri thức, mà học đường là nơi cung cấp tri thức, hướng dẫn hình thành trí thức, càng không thể nào là nơi bày ra “thời trang” hoặc mặc cho học trò bày ra “thời trang”.

Thật bình thường khi tại trung học vào giờ ra chơi nam sinh tụ năm tụ ba bàn tán với nhau về một hoa khôi, còn nữ sinh tụ năm tụ ba bàn tán với nhau về một nam khôi. Đây là điều chứng tỏ sự phát triển tư duy thẩm mỹ lành mạnh, phát triển tâm sinh lý lành mạnh, và phát triển nhân cách lành mạnh. Thật đáng thương hại nếu vào giờ ra chơi các học sinh trung học lại bàn với nhau về màu trang phục nên mua sắm hay đặt may cho môn thể dục của lớp, bàn với nhau về giày Adidas, về xe phân khối lớn và cách dấu xe phân khối lớn ấy tại nhà dân gần trường, v.v.

Thật đáng thương hại khi tại trường trung học hay đại học có tổ chức thi hoa khôi hoặc thi hoa hậu, thi thời trang. Đây là điều chứng tỏ trường trung học ấy, trường đại học ấy đã không còn ở bậc thang lành mạnh.

Đồng phục là công cụ hình thành nhân cách học sinh chứ không phải là thứ tạo sự khác biệt giữa trường này với trường khác, vì sự khác biệt – nếu có – luôn chỉ là trình độ cao đến đâu của thầy cô cũng như của học trò so với các trường khác.

Đồng phục là công cụ hình thành giềng mối gắn kết của gia đình khi (a) mẹ và chị may áo và thêu thùa gắn đính dãi băng huy hiệu lên áo ấy cho con em, và (b) tiết kiệm là gia sách (so với quốc sách).

Trường học không hiểu gì về tầm quan trọng của đồng phục thì e là giới con buôn đã tràn ngập chốn học đường mất rồi!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-01-2016

 HHP 22Jan2016

Nguyễn Thị Quyết Tâm là Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016), Tân Phó Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà đương nhiên không là người khéo léo, hoàn toàn thiếu nữ tính, tuyệt đối thích phô trương quyền lực hoàn toàn không đúng lúc, hoàn toàn chẳng đúng nơi, tuyệt đối chớ đúng người.

Khi HTV9 đang trực tiếp truyền hình phiên họp Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh nơi Bà đảm trách chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bà đã quát bảo Đại Biểu Từ Minh Thiện ngồi xuống không được tiếp tục phát biểu. Đó là sự phô trương quyền lực không đúng lúc dễ khiến đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh liên tưởng rằng những cuộc họp không có trực tiếp truyền hình thì ắt Bà còn ra uy khủng khiếp đến đâu, vì ngay cả Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh do nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bầu nên mà Bà còn ra tay chẹn họng, tước quyền phát biểu, thì số phận người dân ắt phải cứ cam chịu kiếp dân đen do Bà từ chối cho họ làm con đỏ.

Khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong thời gian tham dự kỳ họp Quốc Hội có đăng một bài blog chỉ trích chê bai Trương Trọng Nghĩa là Đại biểu Quốc hội Khóa XIII nghe đâu có bằng cấp “luật”, nghe đâu đã từng có thời gian hành nghề luật sư, và nghe đâu là chức sắc của Hội Luật Gia hay Liên Đoàn Luật Sư gì đó, tất nhiên ngay lập tức Nghị sĩ Phước bị thế giới quyền lực phe nhóm có sự tiếp tay của báo chí ra tay đàn áp. Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phải tổ chức buổi họp Tổ để nghe Trương Trọng Nghĩa phát biểu “bức xúc” và nghe Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước “giải trình”. Cuộc họp đã không có sự tham dự của hai vị Ủy Viên Bộ Chính Trị là các Nghị sĩ Trương Tấn Sang và Nghị Sĩ Lê Thanh Hải đều của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi Trương Trọng Nghĩa phát biểu xong, Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập mời Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cho biết ý kiến. Nghị sĩ này vừa mở miệng nói có một câu thì Nguyễn Thị Quyết Tâm hét vào mặt Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập rằng “Anh Tư Lập! Nếu cứ tiếp tục như vầy thì tui sẽ bỏ đi về ngay!”. Vì lịch sự khi thấy vẻ mặt ngượng ngùng của Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tự động ngồi xuống, kéo phẹc-ma-tuya mồm lại, không nói gì thêm. Và Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập cho phát một văn bản đã soạn in sẵn cho mọi người có mặt ký tên và mọi người im lặng ký tên, kể cả Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cũng ký tên mà không thèm đọc – dường như đó là “biên bản cuộc họp xử lý Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.”

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã ra uy quyền một đảng viên cao cấp hơn các Nghị sĩ khác toàn là đảng viên – trừ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước – để quát bắt mọi người không được phép nghe những lời mà Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước sắp trình bày.

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã khiến Nhiệm Kỳ XIII của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh có một văn bản pháp quy mang tính chất của một tờ giấy hốt rác do không có giá trị pháp lý vì được sáng tạo ra từ đầu, vì do không bất kỳ nghị sĩ nào cùng ký tên xác nhận vào đấy hiểu biết ất giáp gì cả, và vì đấy là hành động lén lút sau lưng Thường Vụ Quốc Hội Khóa XIII của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã phạm một lỗi ngu xuẩn khi dám hỗn láo với Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là người chưa bao giờ tha thứ bất kỳ cường quyền nào dám động đến sự đoan chính vì nước vì dân của Nghị sĩ này.

Một phụ nữ thiếu nữ tính, thiếu khôn khéo, thiếu khôn ngoan như Nguyễn Thị Quyết Tâm mà là chức sắc cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một sai lầm lớn của Đảng Bộ Thành phố Hồ Chí Minh vì không bao giờ có thể đặt sự lãnh đạo Nhà nước hay lãnh đạo chính trị vào tay người như Nguyễn Thị Quyết Tâm.

Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh không nên vì bài viết này mà phí công tổ chức buổi họp mời tôi đến trình bày để rồi yêu cầu tôi gỡ bỏ bài này trên WordPress vì tôi sẽ không đến dự cũng như không gỡ bỏ. Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phải lấy làm xấu hổ vì đã sáng tạo ra tờ giấy biên bản “xử lý” rác rưởi đó, và vì đã để một Đại biểu Quốc hội tầm thường như Nguyễn Thị Quyết Tâm khuynh đảo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Anh Ba Nguyễn Văn Huấn

Tình Yêu

Các Loại Tình Yêu – Tôi Và Những Cuộc Tình

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-01-2016

Có lần tôi viết blog rằng các bạn nên trau giồi tiếng Anh cho khá để có thể biến nguồn tư liệu của Wikipedia thành kho tàng kiến thức khổng lồ cho riêng bạn. Song, tại sao phải là tiếng Anh trong khi Wikipedia có cả phần tiếng Việt? Phải là tiếng Anh vì nếu Wikipedia cứ có mỗi 10.000 tài liệu cực kỳ dồi dào thông tin thì có ai đó là người Việt (không phải người nước ngoài giỏi tiếng Việt) tham gia “dịch” sang tiếng Việt võn vẹn 01 tài liệu chắc để nhận thù lao vài xu của Wikipedia, mà các “công trình dịch” này (a) hoặc ngắn ngủn dăm ba đoạn của nguyên tác tiếng Anh, (b) hoặc né không dám “dịch” các tài liệu hàn lâm học thuật hay khoa học, (c) hoặc gặp các tài liệu liên quan đến chính trị là lập tức “sáng tạo” toàn những ý tứ giải thích để chống lại ý thức hệ cộng sản mà ác tâm là chỉa vào Nhà nước Việt Nam cùng thể chế chính trị Việt Nam trong khi nguyên tác tiếng Anh rất công tâm thuần học thuyết hàn lâm không hề viết thế, và (d) hoặc gặp những tài liệu chung chung thì be ra, tán ra, theo hiểu biết nông cạn của cá nhân mình chứ không dịch từ nguyên bản.

Mới đây tình cờ tôi xem thử bản tiếng Việt về “tình yêu” trên Wikipedia thì hết hồn nhận thấy “nó” thuộc loại “be tán” chứ không phải là bản dịch nghiêm túc từ nguyên bản tiếng Anh về Love, khi kẻ ấy “be tán” ra nào là Tình Yêu Nước, tình yêu này nọ, thậm chí còn khủng khiếp dịch Unrequited LoveThất Tình, trong khi cái gọi là Tình Yêu Nước là Lòng Ái Quốc chứ không dính dáng gì đến Love, còn Unrequited Love có thể dẫn đến Thất Tình chứ bản thân nó không phải Thất Tình. Hơn 30 năm trước, tôi đã dạy sinh viên của tôi về các loại Love chính trong tiếng Anh, nay xin lập lại như sau – kèm với những chuyện tình có thật của tôi để minh họa – để giúp các bạn hiểu rõ hơn chứ các bạn sinh viên sẽ không bao giờ có thể học tập gì được nơi phần tiếng Việt của Wikipedia vĩ đại cả đâu, cũng như sẽ không có bất kỳ giảng viên Anh văn nào dù là người Việt hay người nước ngoài có thể giải thích tường tận và chính xác tương tự.

Các Loại Tình Yêu

Dù về phương diện ngôn ngữ thì Love của tiếng Anh thua kém các từ tương đương trong tiếng Việt, do người ta nói anh love em, anh love mẹ, anh love cà rem, anh love cà ri, v.v., còn tiếng Việt thì anh yêu em, anh thương em, anh yêu cha mẹ, anh thương cha mẹ, anh thích cà rem, anh khoái cà ri, v.v., trong đó thậm chí chữ thương lại dễ…thương hơn chữ yêu. Ở đây xin nói về tình yêu trai gái theo ý tứ chính quy từ ngàn xưa dành cho hai người khác phái chứ không vì cái gọi là “phân biệt đối xử”, và theo đúng tài liệu về Love của Wikipedia tiếng Anh.

1) Unrequited Love:

Đây là tình yêu đơn phương (tức one-sided love) khi bạn yêu một người mà không được đáp lại. Nếu sự đáp lại sở dĩ không có là do bạn yêu mà không dám tỏ nên đối tượng không biết để đáp hoặc không đáp, thì Unrequited Love sẽ được dịch thành thầm thương trộm nhớ, hoặc tình yêu thầm lặng. Nếu sự thầm lặng này làm bạn ưu sầu, khổ đau, héo úa, mà tất cả do bạn tự chuốc lấy thì có thể bạn sẽ tương tư tức lovesick. Nếu sự thầm lặng này không làm bạn héo hon vì bạn là người bản lĩnh thì xem như bạn có một mối tình đẹp thuần khiết để nhớ trong đời. Còn nếu bạn tỏ tình mà người ấy không đáp lại, khiến bạn khổ sầu héo hắt thì lúc ấy bạn có thể xem như mình thất tình tức lovelorn (chứ không phải được yêu rồi bị….”đá” mới là thất tình đâu bạn ạ, mà là “tình phụ” hay “phụ tình”, mà ngữ này thì tiếng Anh không có, vì Âu Mỹ cứ theo hợp đồng hôn nhân để “love” rồi “hết love” trong pháp luật).

2) Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Đây là từ thường được dịch thành Mối Tình Đầu, nhưng nếu bạn trên 18 tuổi mới có mối tình đầu tiên thì đó gọi là First Love chứ không phải Puppy Love, vì Puppy Love là khi bạn yêu ai lúc bạn còn ở tuổi ấu thơ hay tuổi thiếu niên hoặc vị thành niên. Puppy là “cún con” nên không dành cho loại..bẹc-giê.

3) Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Bài viết này như đã nói rõ ở trên là về tình yêu trai gái, do đó Platonic Love là tình yêu cao thượng khi cả hai không dụng mưu hoặc không để cuốn theo đòi hỏi tình dục trước ngày cưới, nghĩa là không để vấn đề tình dục xen vào như điều kiện tiên quyết nằng nặc phải có trong quan hệ gọi là “tình yêu” của hai người.

4) Compassionate Love: Tình Yêu Trắc Ẩn

Khi tình yêu được một người dành cho một người khác xuất phát từ lòng vị tha hay sự trắc ẩn, chỉ quan tâm đến việc làm điều tốt hơn cho người ấy, thì đó là compassionate love. Có thể liên tưởng đến những cuộc hôn nhân mà một trong hai người là người chịu thiệt thòi do yếu thế hoặc vì khuyết tật.

5) Conjugal Love: Tình Yêu Chung Thủy

Khi hai người yêu nhau và trở thành vợ chồng gắn bó keo sơn với nhau đến trọn đời thì đó là conjugal love, với ý nghĩa “tình yêu” là đẹp và cao trọng. Cảm xúc nhất thời, hoặc ngắn hạn, không thể được gọi là “tình yêu” tức tiền đề cho một tình yêu keo sơn gắn bó. Báo chí thường đưa tin diễn viên này chia tay người mẫu kia sau 9 năm yêu nhau mà lẽ ra họ nên viết chính xác là: sau 9 năm chung sống với nhau. Đã là tình yêu thì chỉ luôn hướng đến chuyện lâu dài mà chỉ có sự ngang trái bất ngờ ngoài ý muốn của cả hai mới khiến không thành ước nguyện song tình yêu vẫn còn trong tâm khảm nhung nhớ đến trọn đời.

6) Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Tình yêu sét đánh (tiếng Pháp gọi là coup de foudre) là tình yêu bùng phát ngay từ cái nhìn đầu tiên với người lạ mặt. Đã là sét đánh thì cực kỳ dữ dội, cực kỳ chấn động, cực kỳ dài lâu, cực kỳ lãng mạn. Đã là sét đánh thì ngoài thực tế đời sống không ai có thể sống sót, vì vậy trong “tình yêu” mà bạn cứ gặp ai cũng yêu ngay từ cái nhìn đầu nghĩa là bị sét đánh đi đánh lại vô số lần thì thứ tình cảm của bạn không thể gọi đó là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên tức tình yêu sét đánh mà cũng không thể nói đó là “tình yêu” bất kỳ mà là một kiểu lệch lạc cần sự giúp đỡ của bác sĩ phân tâm do bạn đã bị sét đánh đen thui tóc dựng đứng và bốc khói.

7) Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Star-Crossed Love do chính tôi đặt ra (bạn không thể thấy có trong tự điển bất kỳ) từ nhóm chữ Star-Crossed Lovers của William Shakespeare gọi đôi tình nhân Romeo và Juliet. Đây là loại tình yêu có thể xảy ra không ít trong xã hội Việt Nam do sự can thiệp của mẹ cha vì vấn đề tôn giáo hoặc gia thế.

Ngoài ra, còn những thứ “Love” khác xin được kể ra sau đây, không với dụng ý xem đó là những loại “tình yêu”, mà chỉ đơn giản muốn nói rằng từ “Love” đã rất yếu kém và được sử dụng quá thoải mái vô tư cho những phạm trù khó thể gọi là “tình yêu”:

1) Free Love: Tình Yêu Không Giá Thú

Đây là thứ “love” theo trào lưu Âu Mỹ, theo đó nam nữ sống với nhau không muốn có sự ràng buộc về hôn thú, không bị bó buộc bởi các quy định kế hoạch hóa gia đình, và thậm chí cả hai đều có quyền tự do ngoại tình với bất kỳ ai khác trong thời gian chung sống với nhau, kể cả theo kiểu đăng báo kiếm “đối tác” để đổi vợ đổi chồng vài ngày để thay đổi không khí.

2) Infatuated Love: Tình Yêu Cuồng Si

Cái tên cuồng si ắt cho bạn biết sự si dại, mê cuồng, đắm đuối ghê gớm của ngôn từ nên ắt bạn cũng hiểu là thứ tình yêu này khó thể là lành mạnh vì nó khống chế toàn bộ hành vi của con người, dễ dẫn đến các hành vi manh động, dữ dội, và do đó ắt chỉ có thể thấy trong miêu tả các nhân vật trong các quyển tiểu thuyết. Do “tình yêu” thì mang ý nghĩa tốt đẹp, trong khi “love” được dùng thoải mái trong tiếng Anh nên Infatuated Love tốt nhất nên chỉ dịch thành sự si mê cuồng dại một người khác phái, chứ yêu đương gì mà giống mafia như thế thì rõ ràng không thể nào là yêu mà chỉ là sự ra tay chiếm đoạt, sở hữu mà thôi.

3) Love Triangle:

Tình Tay Ba (còn gọi là Romance Triangle hay Romantic Love Triangle tức “love” lãng mạn…tam giác), mà nếu trên cơ sở Phim Hàn Quốc hàng trăm tập thì hoặc gồm hai anh yêu một cô, hoặc hai cô yêu một anh. Thật ra thì đây là cách gọi chơi cho vui vì dù cho trên thực tế có sự cố “tay ba” như vậy thì cũng chỉ có hai người yêu nhau thôi, chứ nếu một anh yêu hai cô hoặc một cô yêu hai anh thì không gọi là tình tay ba mà phải gọi là tình khùng chạy vì hai cô sẽ bỏ chạy cùng với hai anh kia cũng đang bỏ chạy.

4) Obsessive Love: Tình Chiếm Đoạt

Đây cũng là thí dụ về sự kém cỏi của từ Love trong tiếng Anh, vì Obsessive Love nói về một cảm xúc mang tính bịnh lý tâm thần, hỗn loạn nhân cách, nơi người thèm khát chiếm đoạt một người khác phái cho bằng được mà không chấp nhận bị thất bại hay bị khước từ kể cả để thỏa mãn tình dục. Do Obsessive Love tồn tại trong tiếng Anh nên cực chẳng đã được nêu lên trong bài viết này chứ bản thân tính cách ấy không thể gọi là “tình yêu”.

5) Unconditional Love: Tình Yêu Thần Tượng

Unconditional love tức Tình Yêu Vô Điều Kiện có thể được hiểu như một thứ “love” phát sinh từ lòng vị tha thương người, hoặc từ một thứ “love” tuyệt đối, mà người có thứ “love” này dâng tặng tất tần tật cho đối tượng mình xem như thần tượng mà không đòi hỏi bất kỳ điều kiện hay sự đền đáp tương xứng nào, vì xem tình yêu mình dành cho người mình yêu mới là duy nhất quan trọng với cuộc đời mình. Loại “love” này cũng không được xem như lành mạnh vì có thể có lấn cấn vấn đề tâm lý bất bình thường hoặc trẻ dại nơi người hiến tặng, trừ phi đó là tính cách cao thượng nơi những nữ tu, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì “love” cũng không phải là “love” vì không phải là “tình yêu trai gái”.

Tôi Và Những Cuộc Tình

Tất nhiên, tôi sẽ không nói gì về 5 loại tình yêu khác thường không phải tình yêu mà chỉ là Love. Trong 7 loại tình yêu bình thường thì tôi đã có những trải nghiệm tình yêu chính như kể dưới đây. Dù tôi và những người con gái ấy nay ai cũng đã trên 50 tuổi, có những trường hợp tôi sẽ không nêu tên thật do những vấn đề tế nhị khác – chứ toàn bộ sự thật tôi đều đã “khôn ngoan” kể hết cho vợ tôi từ trước ngày cưới như đã ghi trong bài blog khác.

1) Tôi và Unrequited Love:

Dù tôi luôn được nhiều nữ sinh (tôi từ lớp 1 đến lớp 10 học ở các lớp nam sinh, và lớp 11 trở lên mới học lớp nam nữ học chung) mến thương gởi thư tỏ tình trước, tôi khi vào đại học vẫn có những tình yêu thầm lặngtình yêu đơn phương do những năm đầu sau giải phóng ai cũng “thủ thế”: Thầy Cô không nói chuyện với học trò vì sợ “lỡ lời” và vì giữ an toàn chờ ngày vượt biên, còn sinh viên thì không trò chuyện với nhau cũng do sợ “lỡ lời” và cũng vì giữ an toàn cho bản thân chờ ngày vượt biển. Tôi yêu say đắm Nguyễn Thị Hồng Loan ở Khoa Pháp Văn, một cô gái đẹp xinh, trầm lặng, khỏe mạnh, quý phái, và sáng tác bài thơ tiếng Anh tựa đề Bạch Hồng Riêng Tặng Hồng Loan The Rhododendrons for Hong Loan trao tặng nàng. Song, nàng lặng thinh không trả lời, nhìn tôi với ánh nhìn buồn bã, để rồi vài tuần sau nàng biến mất. Cứ vài tháng tôi vờ dọ hỏi các sinh viên Khoa Pháp về Hồng Loan nhưng chẳng ai biết gì, và tôi chỉ mong Loan không là nạn nhân của hải tặc ngoài biển khơi. Rồi khi trong hội trường giờ học Lịch Sử Đảng, tôi nhận được nụ cười tuyệt đẹp của một búp bê tên Lệ Thủy cũng của Khoa Pháp, tôi xao xuyến ngồi sau nàng hai dãy bàn vẽ tranh nàng, cô gái xinh đẹp có mái tóc ngắn chạm vai, rồi nhờ các bạn chuyển lên để tôi lại được nàng quay lại tặng tôi thêm một nụ cười đẹp tuyệt não nùng. Vài bạn hỏi tôi sao hôm trước làm bài thơ Autumnal Dew tức Sương Thu Dành Tặng Nguyễn Thị Thu Sương ở Khoa Anh trong giờ Kinh Tế Chính Trị Mác-Lê Nin trong khi Sương tóc dài tuyệt đẹp lại không vẽ nay lại vẽ mái tóc ngắn của Thủy, thì tôi trả lời do không làm thơ tiếng Pháp được nên vẽ tranh. Và rồi Lệ Thủy lại biến mất theo làn sóng vượt biên mà không ai nhận được tin tức gì sau đó. Tôi yêu Hồng Loan vì nét đẹp quý phái nghiêm trang. Tôi yêu Lệ Thủy vì nét đẹp thanh tú quyến rũ hơn tranh vẽ của nàng nhất là nụ cười Liêu Trai đẹp hơn cả nụ cười bừng sáng của Catherine Jeta-Jones. Gọi là tình yêu đơn phương thầm thương trộm nhớ hoặc tình yêu thầm lặng của tôi vì tôi chưa từng tỏ tình bằng lời nói mà chỉ qua một bài thơ và một bức tranh gởi tặng thay lời muốn nói. Tất nhiên, sự thầm lặng này không làm tôi héo hon héo hắt héo úa, mà xem như tôi đã có hai lần cảm nhận được sự thương yêu mình dành cho hai người con gái vào hai thời điểm khác nhau thật thuần khiết để mãi nhớ trong đời.

Love (2)Autumnal Dew

2) Tôi và Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Do đây là từ của văn hóa Âu Mỹ, nhưng vì tôi đã trải qua, cũng xin kể lại vào năm học lớp 4 tiểu học (lúc ấy gọi là “lớp nhì”) tôi có thương cô bé Lê Thị Cẩm Hà học lớp 3. Cẩm Hà ở gần nhà tôi nên khi chúng tôi đi bộ đến trường Phan Đình Phùng (nay vẫn là trường Phan Đình Phùng ở Quận 3), tôi cứ mãi ngắm nhìn cô bé trắng mũm mĩm có đôi môi hồng dễ thương ấy. Gọi là “Love” vì khi đi học về là tôi nằm ôm chiếc gối ôm, nghĩ đến chuyện ngày sau sẽ cưới Cẩm Hà làm vợ. Khi biết chuyện tôi thương nàng (qua cái nhìn say đắm say mê của tôi), “bé” Cẩm Hà cứ gặp tôi trên đường là bẽn lẽn, gò má thêm ửng hồng, nụ cười thêm e ấp, còn những ngày không đi học thì hay đứng nép bên cửa nhìn tôi đắm đuối tương tự. Rồi vài năm sau, gia đình Cẩm Hà dọn về Miền Tây nên “đôi trẻ” không còn dịp gặp nhau mỗi ngày trên đường đi học. Vài chục năm sau, có người hàng xóm thuật cho Má tôi nghe chuyện Cẩm Hà lấy chồng và sống rất cơ cực ở miền quê. Lúc ấy – và cho đến tận bây giờ – tôi vẫn còn nhớ đến ánh mắt long lanh, đôi môi hồng, nụ cười thật đẹp và gương mặt sang trọng nghiêm nghị của cô bé Cẩm Hà của ngày xa xưa ấy.

3) Tôi và Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Tôi có thể nói rằng giáo dục gia phong và tinh thần trách nhiệm đã cho tôi sự tự hào để bảo rằng tất cả những tình yêu đã đến với tôi đều là Platonic Love.

4) Tôi và Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Đinh Thị Mai Trâm có thể là tình yêu sét đánh (tiếng Pháp hay dùng là coup de foudre) bùng phát bùng nổ ngay từ cái nhìn đầu tiên của tôi. Là lớp trưởng lớp 9 ở trường Nguyễn Bá Tòng, mỗi khi chào cờ tại sân trường, tôi phải luôn đứng đầu hàng ngũ của lớp nam sinh của tôi. Và trong rừng nữ sinh áo dài trắng đứng đối diện, một hôm tôi chợt tình cờ nhìn thấy Mai Trâm cũng đứng đầu hàng ngũ lớp 9 nữ sinh của nàng ngay trước mặt tôi. Từ hôm đó, tôi mất ăn mất ngủ, luôn có hình ảnh Mai Trâm trong ý nghĩ, ước mơ, nhung nhớ. Nhưng tuy sét đánh làm tôi chấn động, tôi vẫn không nghĩ đến việc tỏ tình vì rất sợ các linh mục mà chúng tôi gọi là “hiệp sĩ áo đen” với cây roi mây đầy chất khủng bố bạo hành trẻ em. Rồi một hôm nọ, một bé gái ở học khu tiểu học đã chạy qua học khu nam sinh để trao tôi một phong thư màu xanh biển, vừa nói “của chị kia kêu em đưa cho anh” vừa chỉ tay về Mai Trâm đang nhìn tôi cười bẻn lẻn bên kia hàng rào kẽm gai điện tử MacNamara phân chia học khu nam sinh và học khu nữ sinh. Nàng nói rằng nàng rất mến thương tôi vì tôi là lớp trưởng gương mẫu toàn trường mà lớp của nàng cùng các lớp khác hạ quyết tâm sẽ tranh nhau làm quen cho bằng được, nhưng vì tôi nghiêm quá nên dù nàng không là lớp trưởng vẫn cố dàn xếp cho lớp trưởng mượn các tiểu thuyết của Quỳnh Dao để được nhường chỗ đứng đầu hàng mà tôi cũng cứ như linh hồn tượng đá chẳng chịu nhìn nàng trong nhiều tháng, nay nàng thấy tôi đã chịu nhìn nàng với bộ tịch ngất ngây như say rượu dáng đứng loạng choạng như đang động đất, hơi thở dập dồn, không cất tiếng hát quốc ca hào hùng dậy sấm như mọi lần khác, và không nghe cả lời của linh mục Phạm Minh Công đang xướng tên tôi xuất sắc, nên nàng yên tâm tôi có trái tim đang thổn thức để tự tin gởi thư tỏ tình cho tôi để dứt điểm ghi bàn toàn trường. Tôi hơi đoảng nên sau này mới biết hóa ra lớp tôi gọi nàng là hoa khôi và họ cũng cùng các lớp nam sinh khác quyết tâm tranh nhau làm quen với nàng cho bằng được với bao chàng công tử chạy xe Cady lạng qua lạng lại trên đường nàng đi bộ đến trường. Thảo nào vừa nhìn thấy nàng tôi đã bị sét quất trúng làm bốc khói khét lẹt, nên đến nay vẫn còn nhớ như in gương mặt tuyệt đẹp của nàng (và do vẫn đang còn giữ một bức ảnh học sinh của nàng), bàn tay thon mịn ấm áp của nàng mà tôi đã nâng niu hôn trong tối Giáng Sinh ở sân trường, và đôi môi của nàng vì nàng là người con gái đầu tiên tôi hôn trong đời mỗi khi hẹn hò tại vườn Tao Đàn ngồi trên thảm cỏ nói chuyện tương lai chồng vợ, cùng nhau đặt tên trước thật đẹp thật văn hoa cho các đứa con của ngày sau gồm 6 gái 6 trai dù chúng tôi chỉ mới học lớp 9. Nếu như tình yêu thời tiểu học của tôi với Cẩm Hà là Puppy Love thì tình yêu của tôi với Mai Trâm thời trung học cũng là Puppy Love vì chúng tôi còn ở tuổi thiếu niên của thời niên thiếu. Nàng thuộc gia đình công giáo người Bắc di cư, với Bố của nàng là bác sĩ quân y Hoa Kỳ, nhưng nàng yêu tôi là kẻ ngoại đạo, thậm chí khi tôi bịnh nàng lập tức đòi Bố kê toa mua thuốc và nhờ linh mục làm phép lên sợi dây chuyền thánh giá đem đến cho tôi. Đến khi lên lớp 11 tôi phải thôi học trường Nguyễn Bá Tòng ở Gia Định do nhà trường không mở được lớp Ban C (thiên hạ sợ chuyên khoa ngoại ngữ và triết học) để chuyển qua Tân Việt ở Quận 3, nàng vẫn mỗi trưa chạy xe Honda PC từ đường Chi Lăng đến chờ đợi tôi ngoài cổng vì sợ tôi có bạn gái mới ở Tân Việt, vậy mà tôi vẫn lâm vào tình huống của Phim truyện Hàn Quốc khi tin lời một cô bạn học chung lớp với Mai Trâm tự nhiên một hôm đến tìm tôi tỉ tê với tôi những chuyện tệ hại của Mai Trâm sau khi tôi chuyển trường – chỉ vì cô bạn tên Tuyết này là dân công giáo nên tôi tin không thể nói điêu ngoa – nên đã giận dữ cắt đứt quan hệ với Mai Trâm, cố tình chấp nhận ngay tình cảm của một nữ sinh khác ở Tân Việt tên B.K.H. Rồi tôi “dạy học” tại Tân Việt khi giải phóng đến lúc tôi đã học xong lớp 12 tú tài (do giáo viên tan rã bỏ đi mất khiến cán bộ giải phóng là Anh Ba Châu tiếp quản Quận 3 nhờ tôi giúp dạy Anh Văn cho mấy lớp đàn em để giữ trường, giữ lớp, giữ học sinh cho cách mạng), sau đó đậu vào đại học năm 1976. Có lần đang nắm tay N.T.K.K. nữ sinh Đại Học Văn Khoa tuyệt đẹp với mái tóc dài đến dưới thắt lưng học cùng lớp Anh Văn với tôi đi bộ trên đường Lê Duẩn, tôi thấy một cô gái chạy xe lên ngoáy đầu lại nhìn, thậm chí còn quay xe lại để nhìn tôi thêm một lần nữa. Đó là Mai Trâm và cũng là lần cuối tôi gặp nàng. Giá như không đang nắm tay đi cùng N.T.K.K., tôi đã chạy theo xe Mai Trâm để xin nàng tha lỗi, cho tôi được cùng nàng hoàn tất bức tranh gia đình đã phác thảo từ lớp 9. Đinh Thị Mai Trâm là người con gái tôi mãi yêu và ánh mắt u buồn của nàng trong bức ảnh tôi còn cất giữ cứ làm tôi lo lắng, mong sao cuộc đời của nàng an bình, an vui, an nhàn, không lận đận khổ đau như Lê Thị Cẩm Hà. Và giá như nàng biết tôi nhớ thương nàng biết bao.

Love (1)

5) Tôi và Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Mỵ là nữ sinh đã khóc khi thấy tôi vì cứu người mà bị công an do tin lời vu cáo mà quất một báng súng vào gáy làm tôi té đập mặt xuống đất quần áo lấm lem bị giải đi giơ hai tay lên trời vào giam ở Phòng Giáo Viên, câu truyện mà tôi đã kể trong một bài blog gần đây. Xin chỉ tạm gọi nàng là Mỵ (vì trong bài thơ tiếng Việt Hiên Mi tặng nàng tôi có ví von đôi hàng mi của nàng cong dài mà tôi áp đầu vào ngực nàng để núp dưới hàng mi ấy chở che như mái hiên, và để mộng mỵ về hạnh phúc gia đình), thay vì ghi ra tên của nàng. Mỵ hôm ấy mặc áo dài trắng, đứng khóc suốt ngoài cửa sổ phòng “tạm giam”, làm tôi xúc động, sau đó làm một bài thơ tiếng Anh tặng nàng, và thậm chí viết tặng nàng cả một thi tập sau đó. Chúng tôi yêu nhau, và gia đình hai bên đều đánh giá cao chàng rể tương lai cùng cô dâu tương lai. Thế rồi toàn bộ đại gia đình của nàng được bảo lãnh xuất ngoại nhờ có một người chị ở nước ngoài làm vợ một quan chức ngoại giao Phương Tây khiến thủ tục giấy tờ can thiệp với Chính phủ Việt Nam được ưu tiên giải quyết nhanh cấp kỳ. Vì tôi không chịu nghe theo lời gia đình nàng làm hôn thú để nàng sẽ bảo lãnh tôi “qua bển” nên chúng tôi phải chia tay, và nơi Sân bay Tân Sơn Nhất đông nghẹt người tôi và nàng hôn nhau quấn quýt không rời, nước mắt ràn rụa, mặc cho cha nàng và các anh chị thúc giục nàng vào phòng cách ly. Nhiều lần tôi nhận được giấy báo của bưu điện và tôi ra đúng theo lịch hẹn, để chờ đến phiên kết nối được đường truyền để vào ô nói chuyện điện thoại với Mỵ do Mỵ đăng ký từ nước ấy. Để rồi khi tôi trở ra quầy để ký xác nhận thời gian điện đàm bao nhiêu chục phút để bưu điện thành phố tính tiền “bên bển”, cô thu ngân hỏi “anh có sao không vì em thấy anh với chị chỉ khóc mà không nói gì cả”, lúc ấy tôi mới biết là ở trong ô kính kín đáo ấy mình nói gì bưu điện cũng nghe hết! Cô gái tên Mỵ ấy đã làm việc rất tốt ở hải ngoại, ắt do đã có thời gian làm học trò của tôi vì Mỵ thuộc Khoa Nga Văn, nên khi đã yêu nhau, mỗi tối khi đã dạy xong ở các trung tâm lúc 21 giờ, tôi đến dạy kèm Mỵ tiếng Anh và dạy xong đến 23 giờ là chúng tôi ngồi hôn nhau suốt cả nửa tiếng đồng hồ, không nói lời nào vì đã nói quá nhiều tiếng Anh trong hai tiếng đồng hồ, tôi mới đạp xe về chong đèn soạn bài cho cả ngày mai dạy tiếp, khiến đấy là điều tôi nhớ nhất về Mỵ yêu quý và trong trắng ngây thơ của tôi trong cuộc tình ngang trái.

Love

Hien Mi

Trước đây trên blog Emotino tôi có đăng bài “Chuyện Tình Tự Kể” viết về lúc tôi học lớp 12 ở Tân Việt trước 1975 có thương một nữ sinh tên N.T.H. Ngày nọ, cùng đạp xe song song với nàng đến thăm nhà nàng ở con đường sau này gọi là Cách Mạng Tháng 8, tôi thấy có treo hình đen trắng thật to anh của nàng là một sĩ quan cao cấp (vì có cầm gậy chỉ huy) chụp chung với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời tôi thấy một phụ nữ gầy gò mặc áo nâu sồng ẩn sau rèm cửa đứng nhìn tôi. Nàng cho biết đó là Mẹ của nàng. Mẹ xuống tóc đi tu sau khi đi thăm Cha của nàng ở tiền đồn về, do kinh hoàng thấy Cha của nàng hễ hành quân bắt được Việt Cộng nào là lôi về cho mổ bụng rồi đem vất ruột gan lên nóc trại khiến cả trại bốc mùi hôi thối nồng nặc. Mẹ nàng sợ “con gái hưởng đức cha” mà cha ở ác quá nên bà đi tu để nguyện xin bớt tội cho chồng và cầu xin chút đức cho đứa con gái út ngoan hiền xinh như thiên thần của bà. Nghe xong, tôi vì kinh sợ đã từ bỏ ý định tiến xa hơn với người con gái ấy. Ắt nàng không hiểu vì sao sự không gian dối của nàng lại khiến nàng phải gánh chịu thiệt thòi từ tôi như vậy. Tôi thì không xem đó là cuộc tình ngang trái vì tôi định hôm ấy đến nhà nàng sẽ nói nàng biết tôi yêu thương nàng đến dường nào sau một thời gian im lặng dành cho nàng những chăm sóc ân cần; mà do đã chưa thốt ra, chưa thể gọi đó là tình yêu để mà ngang trái. Tôi đã viết lời kết rằng tôi không mong nàng đọc được bài viết ấy của tôi vì tôi cứ bị ám ảnh bởi niềm tin rằng nàng ắt đã theo mẹ bình lặng quy y nơi cửa Phật vì tội ác của người cha.

 IM000125.JPG

Trên đây là những “tình yêu” chính mà tôi chọn lựa cho tương hợp với các tên gọi các loại “love” chủ yếu của tiếng Anh. Tất cả những nhân vật trên đều được vợ tôi hoặc đã nghe kể về hoặc chính vợ tôi làm nhân chứng do đã học chung với tôi ở đại học và dạy chung với tôi sau khi tốt nghiệp, thậm chí có khi còn chọc ghẹo tôi mỗi khi có những cô gái ấy chờ đợi tôi ở cổng trường hoặc khi thấy tôi đạp xe song song với “người ta” được “người ta” nhí nhảnh chồm qua đút ăn ô mai ngoài đường ngoài sá. Song, khi nói về vợ tôi, tôi muốn nêu sự khác biệt giữa “love” và “tình yêu” vì “love” thuần túy mô tả thực tế thực dụng, trong khi “tình yêu” nhiều khi đượm tính nghĩa tình nghĩa ơn sâu đậm, do đó “tình yêu” của tôi dành cho vợ tôi khó được diễn tả tương hợp với bất kỳ loại “love” nào đã kể ở trên theo tinh thần ngôn ngữ Anh và thực tế đời sống Anh Mỹ. Vợ tôi đã chứng kiến những năm dài “đoan chính” của tôi tại Đại Học Văn Khoa, từng là “cánh chim đưa thư” của tôi gởi tặng những bài thơ tiếng Anh cho bạn học chung lớp của nàng và những bạn học của nàng tại các khoa khác, sau đó thậm chí chứng kiến những cuộc tình của tôi với các nữ sinh của lớp tôi chủ nhiệm, của lớp nàng chủ nhiệm và của lớp thuộc giáo viên chủ nhiệm khác. Đó là khía cạnh “luôn luôn thấu hiểu” nơi nàng. Còn khi nàng đơn độc “hoa lạc giữa rừng gươm” đấu tranh chống lại cường quyền để bảo vệ tôi khi tôi bị xử bức, bị đình chỉ công tác phải đi quét rác tại Khoa Ngoại Ngữ, bị bôi nhọ, bị vu khống, để rồi chính nàng bị vạ lây, bị tước hết các danh hiệu “thi đua” hay “dạy giỏi”, bị tước bỏ khỏi danh sách cùng tôi du học thạc sĩ Anh văn ở Úc, nhưng vẫn điềm nhiên cười khẩy rồi mỗi khi trên đường dạy thêm vì kế sinh nhai vẫn đến thăm tôi, động viên với câu nói giản đơn giản dị mang chiều hướng tâm linh rằng “ở hiền như anh sẽ gặp lành”, rằng “Trời Phật biết hết về anh mà, lo gì”, rằng “em cũng bị xử bức như anh, có sao đâu”, rằng vân vân và vân vân. Và khi nàng và tôi nên nghĩa vợ chồng với sự thương phục ủng hộ giúp đỡ thật cao nơi cha và mẹ của nàng (trừ câu nói nhẹ nhàng của mẹ nàng rằng mẹ rất lo lắng vì “nó cứng đầu không chịu luồn cúi ai thì khó ngóc đầu lên lắm con ơi”) thì tôi vẫn chưa thấy tiếng Anh có loại “love” nào thích hợp mang cả nội hàm bao trọn ý của nghĩa tình, nghĩa ơn của tôi đối với nghĩa cử nghĩa vụ nghĩa khí cùng sự hiểu biết, hiểu thấu, phục nết phục tài và sẵn sàng…phục vụ của nàng. Khi nào sáng tạo ra từ ngữ “love” thích hợp, tôi sẽ phổ biến tiếp trên blog này.

Tôi tin rằng các bạn sinh viên từ nay có thể gọi tên những cuộc tình của mình thật đúng khi viết hồi ký những ngày xưa năm cũ đầy ắp những yêu thương nồng cháy của đời mình.

Thương chúc các bạn có những tình yêu thật đẹp, thật bền vững, hữu thủy hữu chung đúng nghĩa keo sơn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo;

Hoàng Hữu Phước. 09-12-2015. Đám Cưới

Hoàng Hữu Phước. 18-12-2015. Tôi Dạy Vợ

Hoàng Hữu Phước. 09-10-2014. Bài Thơ Về Đinh Thị Mai Trâm: Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/09/tho-cung-ban-huu-tren-khong-gian-mang/

Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-01-2016

Ở Việt Nam luôn có sự khó khăn đối với ý nghĩa từ vựng của các từ ngữ hàn lâm do có khoảng cách quá lớn giữa từ đề xuất tiếng Việt cho từ gốc tiếng nước ngoài – mà ở đây xin nói quy về tiếng Anh để tránh sự miên man tản mạn qua các ngôn ngữ khác – với bản thân ý nghĩa thực sự của từ tiếng nước ngoài ấy. Một vài thí dụ như Democracy có nghĩa chính là về một thể chế theo đó người dân có quyền bỏ phiếu của mình để bầu các nhà lãnh đạo đất nước, trong khi từ dịch thuật thành Dân Chủ ở tiếng Việt lại dễ khiến tập trung vào nghĩa người dân làm chủ; còn FreedomLiberty có sự phân biệt rõ ràng khi Freedom là nguyên tắc hình thành nước Hoa Kỳ với ý nghĩa không có vua chúa và giới quý tộc còn Liberty mang luôn ý nghĩa người dân có quyền tối thượng sở hữu mọi thứ của cải trong đó có nô lệ mà đến năm 1866 người da màu mới có Freedom còn phụ nữ Mỹ phải đợi đến thế kỷ XX vào năm 1920 mới được quyền này, khiến Liberty mang nghĩa Freedom được giới hạn bởi các quyền luật định mà do đó không ai được lạm dụng, trong khi từ dịch thuật thành Tự Do ở tiếng Việt cho cả hai từ FreedomLiberty lại không tài nào nêu bật được ý nghĩa tinh tế này và do đó lại chỉ đơn thuần là từ nhập nhằng luôn bị lạm dụng để mang ý nghĩa chõi lại với cộng sản mà họ gán ghép ý nghĩa “độc tài” vốn sai bét, chẳng dính dáng gì đến FreedomLiberty nhất là chẳng ai rõ cái Freedom Liberty của nhóm chống cộng có kèm quyền tự do chiếm hữu nô lệ và tự do chà đạp nữ quyền hay không.

Tương tự, có sự khác biệt giữa PoliticsChính Trị mà đa số người Việt chưa thông hiểu. Vì vậy, mỗi khi có ai đó phỏng vấn tôi mà câu hỏi có liên quan đến phạm trù hàn lâm ngữ nghĩa thì tôi luôn tùy vào đối tượng đặt câu hỏi để có câu trả lời thích hợp. Chẳng hạn khi tôi tự ra ứng cử năm 2011 ngoài những người đã gởi tôi tin nhắn động viên như:

Kính chào Ông. Tôi đã đọc rất nhiều bài viết của Ông trên trang Emotino, blog và từ đó tôi bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chính trị. Những bài viết của Ông rất hay, ý nghĩa và luận bàn sâu sắc về những vấn đề của đất nước. Tôi muốn gửi tới Ông sự kính trọng về tài, đức, tâm của Ông. Chúc Ông và gia đình Ông sức khỏe để Ông và những người như Ông sẽ là luồng sinh khí mới cho đất nước cùng Ông Vương Đình Huệ và Trương Tấn Sang. Trân trọng.

 Chnh Tri

thì cũng có người nêu câu hỏi:

Chào Ông anh! Ông anh có thể cho biết vì sao Ông anh quan tâm đến chính trị và muốn làm chính trị từ bao giờ không?

và tôi đã trả lời bằng email như sau (có post trên Emotino ngày 17-10-2011)

****

Kính chào Ông Anh/Bà Chị.

Chính trị là điều mọi người đang sống với tư cách đầy đủ một công dân thực thụ đều quan tâm, có ý thức hay từ trong vô thức. Đây là một sự thật mà nhiều bạn không biết đó thôi. Thường thấy ở nước mình có nhiều người tụ năm tụ ba trà dư tửu hậu nói đủ thứ trên đời về các yếu kém của “mấy ông” Nhà nước, “mấy ông” Chính phủ, nhưng khi có ai nói chỏi lại, khen “mấy ông” Cộng sản Việt Nam là hầu như ai cũng phát âm cùng một câu có ngữ nghĩa “thôi tui không thích nghe chính trị.” Như vậy với một bộ phận người dư thời gian, chính trị chỉ có một nghĩa duy nhất là nói cái gì đó, phân tích cái gì đó, tổng hợp cái gì đó từ các nguồn tin không “thân Cộng”. Và bạn thấy đấy: họ quan tâm đến chính trị đó chứ, dù có mở miệng nói không thích chính trị.

Tôi cho rằng khi bạn là một công dân thực thụ của một nước, bạn đương nhiên quan tâm đến chính trị. Công dân thực thụ là người có lao động – tất nhiên khi điều kiện sức khỏe và tuổi tác cho phép – đóng góp xây dựng đất nước, vì có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, cộng đồng, nên luôn biết phần đóng thuế thu nhập của mình ra sao, theo các điều luật nào, cũng như thực hiện quyền bầu cử lựa chọn nghị sĩ, theo dõi giá xăng dầu, tăng trưởng kinh tế hay giảm phát, tình hình đối ngoại của nước nhà, v.v., ra sao, mà tất cả đều liên quan đến thể chế và sự sinh tồn chính trị của quốc gia. Công dân không thực thụ là người tuy có quốc tịch, có chứng minh nhân dân, không quan tâm đến việc làm hay làm việc vì có nguồn cung cấp sự sống từ sự lao động của người thân, có rất nhiều thời gian đóng góp những lời rỉ tai dè bỉu chê bai hay tung tin đồn nhảm, và họ tất nhiên quan tâm đến chính trị một cách cực kỳ khủng khiếp. Như vậy ai cũng quan tâm đến chính trị, và tôi không thể là một ngoại lệ. Tôi quan tâm đến chính trị từ nhỏ, vì tôi…lớn trước tuổi, và vì tôi bị chinh phục bởi câu nói của một tổng thống Mỹ rằng bạn đừng hỏi tổ quốc đã cho bạn những gì mà hãy tự hỏi bạn đã làm được những gì cho tổ quốc. Đó là chưa kể tôi quan tâm đến chính trị từ nhỏ vì…thời Việt Nam Cộng Hòa tự nhiên ra rả mỗi ngày tuyên truyền chiến tranh chính trị hay tâm lý chiến về Cộng sản Bắc Việt xấu xa, về đặc công Việt Cộng tàn ác, về đồng minh Hoa Kỳ hùng mạnh, về Sư đoàn Mãnh Hổ Hàn Quốc tinh nhuệ, về chiến công của đoàn oanh tạc cơ Skyraider đánh sập tất cả các cầu ở sông ngòi Miền Bắc và bắn hạ tất cả các chiến đấu cơ MIG của Cộng sản Bắc Việt mà không bị tổn hại bất kỳ trừ Phạm Phú Quốc người được Pham Duy tung hê trong bài ca mang tên “Huyền sử ca một người mang tên Quốc” mà sau này mới rõ sở dĩ không có Skyraider nào bị bắn hạ mà chỉ có máy bay Mỹ rơi như sung rụng là vì Skyraider của Việt Nam Cộng Hòa mới bay qua khỏi vĩ tuyến 17 là trút hết bom xuống đồng trống rồi quay trở lại ngay vì sợ cao xạ Hà Nội còn phi công Quốc thì không ai dám nêu chi tiết vì sao thành…huyền sử ca và “bị” ở ngoài Bắc hay lúc vẫn còn trên bầu trời trong Nam, về “đại thắng” Đường 9 Nam Lào vẻ vang rút về một cách vội vã đầy nghi vấn, về Sư Đoàn Dù anh dũng bận rộn đi giải cứu hết tiền đồn này đến tiền đồn nọ đang thi nhau rơi vào tay Cộng quân, về truyền đơn Việt Cộng bay hơn lá mùa thu, về vụ bắt sinh viên phản chiến Huỳnh Tấn Mẫm về Tổng Nha Cảnh Sát đánh cho bể hàm gảy hết răng cửa, về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Cục R, về việc Ủy Ban Ngân Sách Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua khoản viện trợ dồi dào cho Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, về thương vong lớn của Cộng quân mỗi ngày có đến vài chục ngàn người bị quân đội Cộng Hòa loại khỏi vòng chiến khiến người nghe tưởng chỉ cần một năm là Bắc Việt hết sạch 7 triệu quân, về chiến công đánh bắt tàu Việt Cộng chở vũ khí ở Vũng Rô rồi ắt do gom hết vũ khí thu được trên chiến trường khắp nước về chụp hình khoe chiến công nên bị phóng viên Mỹ đặt câu hỏi ngắc ngứ đầy khủng khiếp rằng chỉ có một tàu nhỏ xíu như thế mà chở ngần ấy vũ khí vậy thì hàng ngàn chiếc khác đi trót lọt ắt đã đưa vào Miền Nam đủ cho mỗi người tối thiểu một khẩu trung liên, về nhà thầu Mỹ RMK xây dựng cơ sở hạ tầng hạ đất sập tầng bị chộ là Rên Mặc Kệ, về Sài Gòn Thủy Cục CEE chuyên cấp nước tịt vòi nhỏ tỏn tỏn nên bị chộ thành Sở Chảy Êm Êm, về việc vừa mới có tin sắp tăng lương là giá thị trường tăng trước gấp ba lần, về việc Linh Mục Thanh chống chính phủ Thiệu-Kỳ tham nhũng, về việc hai nhà báo Pháp bj cảnh sát đánh bể mặt vì dám treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trên bức tượng Biệt Động Quân quay mông về Hạ Nghị Viện, về việc Đệ nhất Phu nhân Nguyễn Văn Thiệu chủ trì khai mạc Đại Nhạc Hội Trẻ ở Sở Thú nên ma cô đỉ điếm chen vô bán dâm như thú nằm làm tình tại chỗ lềnh khênh trên cỏ ngoài trời nắng sáng trưng giữa tiếng vỗ tay reo hò của “giới trẻ yêu nhạc” và tiếng thét gào ầm ỉ của ban nhạc Chó Dại “The Mad Dogs”, về việc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tin thầy bói nên bắt con gái ruột phải hy sinh đi mổ bụng lôi thai nhi là cháu nội của Tổng giám đốc Air Vietnam Nguyễn Tấn Trung ra dù mới mang bầu có năm hay sáu tháng để xả xui hầu không bị… Việt Cộng đánh bại, v.v., khiến ý đồ “chính trị” bị nhét nằm trong nội dung thông tin thượng vàng hạ cám tự nhiên được cung cấp cho mọi người ở mọi lứa tuổi thuộc mọi giới tính và ở mọi tôn giáo, để ai cũng tự nhiên biết tình hình chính trị nước nhà một cách tự nhiên, rồi thành nhà chính trị…bẩm sinh.

Về vấn đề “muốn làm chính trị”, tôi e là ý nghĩ của riêng tôi lại khác khi nhiều người phỏng vấn tôi hỏi tôi nghĩ gì khi nay đã là một chính khách. Tôi không nghĩ đến việc “làm chính trị”. Tôi chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước. Tôi không là chính khách. Tôi chỉ là một đại biểu dân cử. Người lính vào quân đội để phục vụ tổ quốc suốt đời vì một lý tưởng chính trị. Người đầy bản lĩnh và có trình độ cực cao vào ngành giáo dục để phục vụ tổ quốc suốt đời vì một lý tưởng chính trị. Người đáp ứng yêu cầu luật định, có thể thu xếp thời gian, và đặc biệt là được cử tri lựa chọn để vào Quốc hội làm “nghị sĩ” thực hiện các phần việc theo những chức năng luật định cũng để phục vụ tổ quốc suốt nhiệm kỳ vì một lý tưởng chính trị. Đơn giản là thế chứ tôi không cho là tôi đang “làm chính trị”. Thế nên tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi của bạn theo cách rất thật lòng của tôi như thế. Đơn giản tôi là một công dân thực thụ của Việt Nam, đang cố gắng để mình đừng thua kém quá xa những người lính cùng bao người dân khác đang thầm lặng hy sinh cho đất nước này.

Ngoài ra, bạn cũng rõ là tôi ở ngưỡng cửa “hưu trí” và ở ngoài Đảng nên rõ ràng việc tôi ra ứng cử vào thời điểm này không phải để tôi làm một bộ trưởng hay thứ trưởng để có thể gọi là “theo đuổi một tham vọng chính trị” hay “làm chính trị” gì cả. Chưa kể tôi chỉ định ra ứng cử một lần này vì tôi nhận định Khóa Quốc Hội này sẽ có nhiều việc hệ trọng mà tôi có thể góp sức hóa giải. Tất cả để chứng tỏ tôi hoàn toàn minh bạch, trong sáng, để người dân biết rõ về cái tâm phục vụ đất nước và dân tộc của tôi, cũng như để những kẻ thù của chế độ không thể bôi nhọ được cái tâm ấy của tôi.

Trân trọng.

****

Câu trả lời tôi rất muốn nói đầy đủ nhất lại chưa hề được nêu lên do ý tứ hàn lâm của ngôn từ Politics trong tiếng Anh và Chính Trị của tiếng Việt lại như sau:

PoliticsChính Trị giống nhau ở chỗ cả hai luôn tồn tại trong đời sống mỗi một con người, song ý nghĩ của người Việt không đầy đủ bằng.

Người Việt ắt biết câu “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nhưng ắt chỉ có thể giải thích nôm na rằng “đấng nam nhi” nhất thiết phải theo tuần tự bốn bước gồm đại khái rằng trước hết phải làm sao cho bản thân có đạo đức tốt đẹp, kế đến phải xây dựng gia đình mình sao cho có đạo đức tốt đẹp, để rồi trên cơ sở đó mà ra giúp vua trị quốc, nhờ vậy mà khiến thiên hạ thái bình, với hàm ý bước thứ ba và thứ tư là “làm chính trị”, thậm chí có người còn cho là chính ta đây phải làm “tổng thống” tức làm vua chúa để trị quốcbình thiên hạ, khiến hủy phá hoàn toàn ý nghĩa của Freedom, Liberty Democracy vì mấy thứ này tối kỵ “thiên tử”. Thật ra, theo ý nghĩa của Politics thì tu thân là chính trị, tề gia là chính trị, trị quốc là chính trị, và bình thiên hạ là chính trị, chưa kể Politics hiện hữu nơi mọi người ở mọi nơi chứ không phải chỉ ở đấng nam nhi và ở chốn “triều đình”. Politics mang nghĩa chính là thuật gây ảnh hưởng hay tác động đến số đông, đến tập thể, đến cộng đồng.

Tu thân trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – đạo đức con người, kiến thức, học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng quản trị “mềm”, v.v., tất cả là Politics để gây tác động đến giới chủ nhân trên bước đường tìm việc cho một kế sinh nhai và phát triển bản thân trong hay từ công việc đó.

Tề gia trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – xây dựng được nếp sống văn hóa mới trong gia đình, duy trì và phát triển những nền tảng đạo đức gia phong trong sự hiếu thuận, hòa thuận, truyền thống tốt đẹp của gia đình mà trong đó mọi thành viên đều đạt tất cả các nội dung trên của tu thân, từ đó gây ảnh hưởng hay tác động đến khu phố, cộng đồng dân cư, để hình thành sự tốt đẹp chung ngoài xã hội. Đó chính là Politics.

Trị quốc trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – việc làm cán bộ, công chức, v.v., để làm “đầy tớ của nhân dân”, phục vụ người dân, trên cơ sở của sự tu thân tức đã có đủ đức tài, và trên cở sở của tề gia tức không bao giờ trở thành tội phạm ghê tởm của tham nhũng, hối lộ, từ đó gây ảnh hưởng hay tác động đến lòng tin của nhân dân vào Chính Phủ, vào Nhà Nước, từ đó tin vào Đảng, hình thành sự tốt đẹp chung trên bình diện quốc thể, quốc gia. Đó chính là Politics.

Bình thiên hạ trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – việc làm cho đất nước hùng mạnh hùng cường dù ở cương vị công chức, quản lý doanh nghiệp, hay bất kỳ công việc nào khác trên cơ sở của các nội dung tu thân, tề giatrị quốc ở trên, để đất nước bước vào các trận địa chiến lược đa phương khu vực hay thế giới như Cộng Đồng ASEAN, WTO, hay TPP, v.v., với tư thế được kính trọng, từ đó giúp sự an ninh chính trị của đất nước được bảo vệ tốt hơn, duy trì dài lâu nền hòa bình thịnh trị của nước nhà để toàn khu vực tránh được các hiểm họa chiến tranh. Đó chính là Politics. Bình thiên hạ không phải là công việc của Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tóm lại, khái niệm tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ khi áp dụng cho bản thân từng người trong xã hội làm tốt nhất bổn phận của mình hầu đem lại các tác động và ảnh hưởng tích cực cho bản thân, cho gia đình, cho cơ quan nơi làm việc, cho cộng đồng chung thì chính là Informal Politics tức một thứ everyday politics gắn với cuộc sống hàng ngày mọi lúc mọi nơi với mọi người.

Còn khi lệch lạc với tư tưởng tàn dư thiên tử của Trung Quốc, xem trị quốcbình thiên hạ là việc riêng chỉ của các đấng quân vương thì thiên hạ ắt muốn nói đến những thứ khác của Politics như State Politics tức Formal Politics tức là thứ Chính Trị của các “chính khách” lãnh đạo quốc gia của một “Đảng Chính Trị” nào đó. Chưa kể tổ chức này tổ chức nọ cũng là một thứ Global Politics Chính Trị Toàn Cầu như Liên Hợp Quốc hoặc NATO (vì dù NATO là Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương nhưng cũng kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ làn thành viên chính thức dù nước này không có dính với biển Đại Tây Dương, thậm chí nhận luôn nhiều nước xa lắc xa lơ như Thái Lan vào làm thành viên không chính thức).

Thế là dù có nhận ra hay không thì bất kỳ ai, từ cháu học sinh học “tư tưởng chính trị” ở trường, bà nội trợ quan tâm đến giá cả vàng bạc đô la thịt cá xăng dầu điện nước phí giao thông đường bộ, kẻ rỗi việc chuyên tìm đọc tin giật gân bôi nhọ lãnh đạo Đảng, người chê bai nước nhà vẫn thua kém Nhật Hàn, vị luật sư tâm thần đòi làm Bộ Trưởng Bô Thông Tin & Truyền Thông, đứa thậm thà thậm thụt hoặc qua Thái Lan họp để cho ra Tia Sét (Chấn) hoặc in các sứ điệp vì nước vì dân để gởi spam tức thư rác đến những người không xin nhận, kể cả người tuyên bố không muốn nghe chuyện chính trị, v.v., cũng đều quan tâm đến chính trị và … làm chính trị.

Thế nên, nếu bạn là người biết ngoại ngữ, tôi sẽ trả lời rằng tôi quan tâm đến việc làm chính trị từ lúc ấu thơ, vì mọi người ai mà không như thế. Còn nếu bạn là người khác, tôi sẽ nói rằng tôi có làm chính trị đâu, vì tôi đâu phải trưởng bộ, trưởng vụ, trưởng cục gì đâu?

Từ Chính Trị của tiếng Việt, do đó không đủ sức truyền tải được nội hàm sâu sắc và phong phú bao trùm của Politics.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 24-3-2014. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Ẩm Thực Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-01-2016

Thân nhân của tôi ai cũng thích ăn món Nhật và thường xuyên đăng ký đến ăn tại nhà hàng Nhật như Tokyo Deli – “đăng ký” vì nếu không sẽ gặp phải rắc rối do các nhà hàng này luôn đông nghẹt thực khách mà đa số là người Việt.

Tôi rất thích ăn món Hàn và thường xuyên dẫn nhân viên đến ăn tại các nhà hàng Hàn – và do rút kinh nghiệm tại các nhà hàng Nhật nên tôi cũng phải phone đăng ký giữ chỗ trước ở các nhà hàng Hàn.

Tôi rất thích ăn các món Việt do chính Má tôi nấu như thịt kho trứng, trứng chiên óc heo, thịt bò lá lốt, cá lóc kho, thịt kho tiêu đậm đặc, hay bánh xèo, các món chay với “mì căng”, v.v.

Tôi rất thích các gameshow như Master Chef trên đài tivi nước ngoài vì tất cả các món dù được chế tác bởi người lớn hay trẻ em đều rất hấp dẫn đối với tôi – “chế tác” vì toàn là món mới lạ do các giám khảo ai cũng là đầu bếp nổi tiếng thế giới làm chủ nhân ông của các chuỗi nhà hàng kinh doanh ẩm thực lừng danh đánh giá và thậm chí tuyên bố “xin” được chọn món nào của các đầu bếp “tài tử” người lớn hay trẻ em dự thi làm nên ấy bổ sung vào thực đơn tại chuỗi nhà hàng của mình; và “hấp dẫn” vì sự dồi dào của nguyên liệu cùng màu sắc.

Vì tất cả những điều trên, tôi dị ứng với

1- Các gameshow mô phỏng ở Việt Nam do chẳng giám khảo nào là dân đẳng cấp tương tự Master Chef chấm điểm, chẳng món ăn nào thuộc loại “chế tác hấp dẫn”.

2- Các chương trình dạy nấu ăn Việt trên tivi Việt không do “đầu bếp tài tử” đẳng cấp Master Chef mà do toàn là nghệ sĩ này nghệ sĩ nọ – tức “tay mơ nấu ăn” chứ không phải “đầu bếp tài tử” – thực hiện, mà đa số thời gian để nói láp giáp quàng xiên đa lĩnh vực, còn món ăn thì là những thứ quen thuộc người nội trợ nào cũng nấu được, trong khi màu sắc thì đa số màu xám xịt, xám nâu tẻ nhạt. Việc này chẳng khác nào mời tay mơ lên nói về y học, mời tay mơ lên nói về cách dạy tiếng Anh, mời tay mơ lên nói về ngân sách ngân hàng ngân quỹ ngân nga tiếng chuông chùa vây.

Như đã nêu trong bài Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa, những người buôn gánh bán bưng hàng xén ngày xưa toàn là dân ẩm thực chuyên nghiệp vì họ theo nghề cha truyền con nối với sự am hiểu về nguyên liệu, công thức pha chế gia truyền, đạo đức ẩm thực (tức vệ sinh an toàn thực phẩm và tất cả vì phục vụ sự sành điệu của khách hàng, vì danh dự của nghề nghiệp cũng như danh dự ẩm thực nước nhà).

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi thích uống trà mà cứ vài ngày một lần tôi chạy sang tiệm Chú Hai Tiều người Tàu mua một gói trà quấn trong giấy có in nhãn hiệu gì đó về cho Ba tôi pha. Hai hay ba năm nay tôi loại bỏ hẳn trà (tức là “chè” theo tiếng Bắc) trong thực phẩm hàng ngày của mình, dù tôi nghiện trà rất nặng – như đã từng nói trong một bài blog rằng tôi có “gu” uống cà phê rất lạ khi đến Trung Nguyên: yêu cầu pha cho tôi một ly cối từ 4 đến 6 phin cà phê nhưng pha trong bếp đừng để tôi thấy bản mặt mấy cái phin do tôi rất ghét cái tỏn tỏn từng giọt của phin mà nếu tự pha thì toàn là pha bằng vợt vải như đã nói trong bài Hành Trang Nghị Sĩ, kèm theo một bình trà thật đậm mà ngay cả các cụ ông miền Bắc cũng khó thể uống nổi, để tôi pha hai thứ vào ly đá trước khi vừa uống cái hỗn hợp không đường ấy vừa thưởng thức ít nhất 5 chiếc bánh “su kem” ngọt lịm. Lý do tôi không bao giờ uống trà nữa vì nghe tin có một tên nào đó đã nhúng trà vào bùn đất theo sự dặt mua của bọn Tàu, khiến tôi tởm lợm đối với trà. Mấy năm nay tôi uống trà-không-trà của nước ngoài, tức là uống loại trà thảo dược túi lọc với toàn kỳ hoa dị thảo mà không có chút lá trà (lá chè) nào. Còn nếu muốn uống trà (tức chè) thì tôi uống trà xanh sang trọng của Nhật Bản hay Hàn Quốc, hay trà đen sang trọng của Nga hay Ấn Độ, Anh Quốc, Bangladesh, hay của bất kỳ quốc gia nào mua trà của Việt Nam về chế thành thương hiệu của riêng họ. Tôi sẽ không bao giờ uống trà Việt Nam mua tại Việt Nam.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi hay mua bánh mì thịt ở tiệm Chú Hai Tiều kể trên do Thím Tư Tiều bán. Ổ bánh mì thủa ấy ốm nhom, dài cả cánh tay. Bánh mì thịt được cắt ra từ ổ bánh mì dài ngoằng ấy (mỗi ổ bán được cho 6 người), xẻ dọc, rồi cho vào vài miếng thịt nguội mỏng dính, một chút đồ chua tuyệt diệu từ củ cà rốt và củ cải trắng, rồi hoặc rắc một tí muối tiêu thơm lừng hoặc “xịt” một ít nước tương cực ngon dù chẳng ai quan tâm đến “thương hiệu”. Sau 1975, khi những người nghèo xưa biến mất, người ta bán bánh mì thịt theo kiểu ổ bánh mì nhỏ, xẻ dọc, trét vào đấy ba-tê chèm nhẹp khả nghi, rồi phết bơ nhẹp chèm nghi khả, gắp vào đấy vào miếng thịt nguội khả nghi, và ít đồ chua không thơm, rôi cũng rắc ít muối tiêu không mùi, hoặc “xịt” ít nước tương khả nghi. Tôi không thể nào nhai nuốt thứ bánh mì thịt hổ lốn ấy vì ba-tê và bơ phá tan nát khẩu vị bánh mì thịt đúng nghĩa, nhất là sau khi tivi đưa tin có kẻ bán bánh mì thịt mà ba-tê lúc nhúc giòi bọ. Tất nhiên, tôi thấy cũng là tin mừng khi một số người nước ngoài thích bánh mì thịt kiểu Việt; song, tôi từ nay chỉ ăn hoặc bánh mì thịt kiểu…Thổ Nhĩ Kỳ đang được bán rộng rãi tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc tự mua bánh mì không để về nhà ăn với hoặc ba-tê hộp của Hạ Long hay của nước ngoài, hoặc với thịt nguội của Vissan, hoặc với cá hộp của Hạ Long hay của Nga, hoặc đơn giản chấm nước tương Phú Sĩ ăn ngon lành với mấy trái ớt hiểm mà không cần bất kỳ thịt thà gì cả. Tôi cũng thà ăn mấy chiếc hamburger to đùng cao tầng tầng lớp lớp đầy tràn rau thịt của Mỹ mà vẫn cho đó là thức ăn thanh lịch trọng sang ngon tuyệt chứ không cho nhân viên xếp hàng dài chờ mua ổ bánh mì mập ú nhét đầy tràn rau thịt rất không thanh lịch quá bình dân chẳng thể gọi là ngon như đang bán ở một số nơi tại Quận 1 hay Quận 3.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi nghiện cơm tấm vì sự thơm của hạt gạo tấm, vì những thức “đặc thù” chỉ có ở món này như chả và nước mắm cay. Hiện nay tôi không ăn sáng với cơm tấm vì cơm tấm được nấu bằng gạo thường, không phải “tấm”, và không có hương thơm của “tấm đặc sản”; còn nước mắm cay được pha quái gở đồng bộ khắp nơi nơi với sự sền sệt cứ như được chế với nước đường thắng để xài được lâu hơn, không phải đổ bỏ mỗi ngày theo kiểu pha chế ngày xưa, khiến ăn mất hẳn vị thơm ngon của nước mắm và sự quyến rũ của cách pha chế bí truyền (thậm chí người sành ẩm thực còn cho rằng việc “ai thắng ai” là nhờ ở nước mắm) mà chỉ còn là sự pha chế tạp nham ngọt lịm. Khi thấy có quán cơm tấm của Việt Kiều từ California về “mần ăn”, tôi vội vàng ủng hộ vì ngỡ sẽ được gặp lại cơm tấm trước 1975, không ngờ cũng y chang cơm tấm xuống cấp lề đường ngày nay, chỉ khác một điều là giá bán cao hơn chất lượng ắt tại có xài máy lạnh và có kèm chén canh như thứ phụ thêm kỳ dị, khiến tôi xem như cơm tấm vĩnh viễn đã không còn tồn tại.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi như mọi người dân miền Nam nghiện các món xôi ngọt, từ xôi vò, xôi gấc, đến xôi lá cẩm màu tím có rắc dừa bào, v.v. Sau 1975 tôi không thể nào ăn xôi do kiểu miền Bắc là xôi mặn ăn với thịt gà (!) trong khi tôi chỉ ăn đồ mặn với cơm, và tôi cũng không thể ăn xôi kiểu miền Nam vì xôi không được nấu với nguyên liệu thơm ngon đặc sản như trước, thậm chí xôi ở các chùa phát cho thiện nam tín nữ mà vợ tôi đem về cũng làm tôi nổi giận vì không thể ăn được do sự nấu xôi cẩu thả của các chùa bằng nguyên liệu rẻ tiền, lúc nào cũng chỉ có món xôi đậu xanh nhạt nhẽo vô duyên, phí tiền, phí của.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng tôi thích dùng tiếng Anh để viết lách để khỏi bị kẻ ác tâm “ném đá” vì họ chỉ có thể dùng đá nội chứ không biết dùng đá ngoại.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng tôi thích ăn các món ăn ngoại để khỏi bị kẻ ác tâm biến thành nạn nhân của vấn nạn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng kết bạn với nhiều người ngoại dù họ là quan chức Mỹ tại Mỹ hay sinh viên Iran chống Mỹ, hoặc doanh nhân Pháp ở Việt Nam, v.v., vì những người này lắng nghe ý kiến “trái chiều” của tôi và cho đó là những ý kiến đầy thú vị, “không đụng hàng”, biến tôi thành người mà họ cho rằng không thể gặp được một nhân vật thứ hai tương tự bất kỳ tại đất nước này; thậm chí họ nhận các trả lời bằng thư của tôi đối với các vấn đề hóc búa họ nêu ra để rồi hoặc cảm ơn với lời khen là độc đáo, hoặc xin tôi cho họ sử dụng các ý kiến ấy trên báo chí ở nước họ, chứ chẳng bao giờ phán phê rằng thư của tôi phức tạp, khó hiểu.

Ẩm thực Việt Nam rốt cuộc chỉ lẩn quẩn quanh món Phở mà nguyên liệu luôn bị đe dọa bởi bò điên lở mồm long móng và gà nhiễm dịch “hát mấy en nờ mấy” cũng như xua đuổi tất cả các du khách ăn chay trường trên thế giới; hoặc các món tầm phào do các nghệ sĩ ca sĩ kịch sĩ và đóng-phim-sĩ thực hiện trên tivi mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 17-9-2014. Hành Trang Nghị Sĩ

Hoàng Hữu Phước. 17-11-2015. Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

Hãy Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tự Do Cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021)

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-01-2016

Khi tự ra ứng cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIII (2011-2016) tôi có trả lời phỏng vấn của báo chí nội địa và hải ngoại rằng tôi có tư tưởng rất tích cực: nếu tôi đắc cử có nghĩa là người dân ban cho tôi một cơ hội để thi thố khả năng giúp Đảng, giúp nước, giúp dân; còn nếu tôi không đắc cử thì điều này giúp củng cố một ý rất tích cực rằng người dân tin tưởng nhiều hơn vào các đảng viên chức sắc. Tôi đã không dùng những từ ngữ như “trúng cử”, “cử tri”, và “tín nhiệm” trong những lần trả lời phỏng vấn ấy, đơn giản vì tôi quen dùng từ “đắc cử” của Miền Nam trước 1975, đơn giản vì tôi cho rằng “cử tri” chỉ hạn hẹp trong ý nghĩa người trong hạn tuổi bỏ phiếu bầu và đáp ứng các quy định của luật pháp để được bỏ phiếu chứ không phải toàn dân, cũng như đơn giản vì tôi cho rằng nếu phải có sự “tín nhiệm” của cử tri mới ra ứng cử thì rất khôi hài vì chẳng khác nào nói trường đại học ABC nào đó phải cho một thí sinh biết trước là sẽ đậu 100% thì người ấy mới nộp đơn thi tuyển sinh vậy.

Sự Tin Cậy Vào Các Ứng Cử Viên Là Đảng Viên Chức Sắc

Người dân hoàn toàn đúng khi cậy tin vào các ứng cử viên là Đảng viên chức sắc vì bốn lý do sau:

1- Vị ứng cử viên ấy có quá trình tham gia cách mạng dài lâu đã được đa số người dân ở địa phương biết đến;

2- Vị ứng cử viên ấy có quá trình lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, dài lâu đã được nhiều người dân ở địa phương biết đến;

3- Vị ứng cử viên ấy nếu do Trung Ương cử vào tham gia ứng cử tại địa phương nếu đắc cử sẽ là một lợi thế cho địa phương; và

4- Khi các vị ứng cử viên là Đảng viên chức sắc đắc cử Đại biểu Quốc hội sẽ có điều kiện tranh đấu chốn nghị trường chuẩn xác hơn theo mặc định đối với các dự án luật có liên quan đến lĩnh vực chuyên trách của mình và khi luật được ban hành sẽ có thể chỉ đạo áp dụng nhanh chóng, nhuần nhuyễn, hiệu quả tại địa phương.

Ba Yếu Điểm Bộc Lộ Từ Quốc Hội Khóa XIII

Tuy nhiên, Quốc Hội Khóa XIII đã cho thấy có sự bộc lộ các yếu điểm sau:

1- Rất nhiều Đảng viên chức sắc tại tất cả các Kỳ Họp của Quốc Hội đã buộc phải bỏ họp nhiều lần để trở về địa phương họp hành Đảng bộ, để đi công tác nước ngoài, và để chủ trì những lễ lộc hay hội nghị của ban, ngành, đoàn thể, cơ quan hành chính công quyền mà mình phụ trách, khiến Chủ Tịch Quốc Hội luôn phải nhắc nhở trong vô vọng khi kêu gọi các nghị sĩ phải chủ động thu xếp công việc ở địa phương thậm chí phải điều chỉnh lịch từ đầu năm các chuyến đi nước ngoài trùng vào thời gian các kỳ họp. Như vậy, dẫn đến thực tế là các nghị sĩ là đảng viên chức sắc có khó khăn đối với trách nhiệm rất cao và quan trọng ở địa phương khiến không bao giờ có thể dự họp 100% thời gian mà không phải trở về địa phương một số lần làm (a) hạn chế khả năng đóng góp xây dựng các dự án luật tại các buổi họp Tổ và tại nghị trường Quốc Hội, cũng như (b) gây gia tăng phí tổn nặng hơn cho ngân sách Quốc Hội, và (c) không còn thời gian để tiếp dân hầu trực tiếp xử lý các khiếu tố của dân như trường hợp của Thành phố Hồ Chí Minh

2- Mỗi khi một dự án luật được phát thảo, bản dự thảo luôn được gởi về tất cả các địa phương trên toàn quốc để lấy ý kiến của (a) các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan có liên quan; (b) các hội luật gia ở địa phương; (c) và nhân dân. Như vậy, dẫn đến thực tế là không nhất thiết phải có đảng viên chức sắc các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan – kể cả Hội Luật Gia – trong đội ngũ các nghị sĩ, như đã được chứng minh rằng có những bộ Luật vừa được ban hành đã phải đối mặt với yêu cầu tu chỉnh khẩn cấp dù việc chuẩn bị cho sự thông qua một dự án luật được tiến hành cực kỳ công phu, cực kỳ rộng khắp, và cực kỳ tốn kém.

3- Đảng quản lý tất cả các ban, ngành, doàn thể, cơ quan; trong khi Quốc Hội có những Ủy Ban chuyên trách về Luật Pháp và Tư Pháp; còn các Bộ của Chính Phủ như Bộ Tư Pháp, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, các Tổng Cục, v.v., thường “đứng mũi chịu sào” trong hình thành các dự án luật có liên quan. Như vậy, dẫn đến thực tế là không nhất thiết phải có các đảng viên chức sắc các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan – kể cả Hội Luật Gia – trong đội ngũ các nghị sĩ.

Từ ba thực tế trên, việc đề cử các đảng viên chức sắc các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan – kể cả Hội Luật Gia – ra ứng cử Đại biểu Quốc hội và một số đông các vị này đắc cử trở thành nghị sĩ sẽ là sự phí phạm nguồn nhân lực, phí phạm tài lực, phí phạm thời gian, phí phạm uy tín của Đảng, và phí phạm tính hiệu quả của tứ đại cuộc của (a) cải cách hành chính quốc gia, (b) phục vụ nhân dân hiệu quả, (c) chống tham nhũng, và (d) xây dựng phát triển kinh tế địa phương, như đã được chứng minh qua việc tồn đọng các vụ việc không thể được giải quyết thỏa đáng trong thời gian dài khiến gây bức xúc trong nhân dân địa phương có khi dẫn đến những manh động.

Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021)

Để các quan chức địa phương có thời gian làm việc hiệu quả hơn tại địa phương; và trong trường hợp địa phương có những ứng cử viên tự do, ngoài Đảng, đáp ứng đầy đủ các quy định của luật pháp đối với ứng cử viên; người dân nên ban cho những ứng cử viên này cơ hội (a) phục vụ đất nước, nhân dân, và (b) giúp các đảng viên chức sắc địa phương có thể dành trọn thời gian phục vụ địa phương.

Một điểm son cần ghi nhận nơi các ứng viên tự do, ngoài Đảng, không làm chức sắc cơ quan công quyền là nếu đắc cử họ chấp nhận phải hy sinh tối thiểu 1/3 thời gian trong năm để công tác tại Quốc Hội đồng nghĩa với việc họ phải hy sinh thu nhập tại nơi làm việc trong thời gian được cho nghỉ việc không lương để phục vụ Quốc Hội, so với các nghị sĩ là Đảng viên chức sắc các cơ quan hành chính công quyền không những được hưởng lương và phúc lợi đầy đủ trong 1/3 thời gian mỗi năm phải ra họp Quốc Hội, mà còn được tiêu chuẩn chi phí trở về địa phương họp hành nội bộ (trong khi các nghị sĩ tự do ngoài Đảng ngoài hệ thống lãnh đạo công quyền không được hưởng tiêu chuẩn này vì nếu buộc phải xin phép về địa phương thì đó là nhu cầu thuần túy cá nhân).

Trong môi trường sinh hoạt chính trị dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, người dân sẽ bớt phần quan ngại về sự phục vụ của các nghị sĩ tự do, ngoài Đảng, không là chức sắc của hệ thống hành chính công quyền, từ đó sẽ yên tâm hơn trong quyết định về lá phiếu của mình dành cơ hội cho các ứng cử viên này được phép thay mặt nhân dân phục vụ cho quốc gia và dân tộc.

Người dân cũng có thể yên tâm hơn do các ứng cử viên tự do, ngoài Đảng, không là chức sắc của hệ thống hành chính công quyền đã được tư vấn thích hợp về những khó khăn thực tế thực sự tại Quốc Hội và tại Đoàn Đại biểu Quốc hội địa phương qua 10 bài tư vấn của tôi trên blog này mà chưa từng được bất kỳ nghị sĩ nào khác nêu ra trong hàng chục Khóa Quốc Hội đã qua, để nếu quyết định vẫn ra ứng cử, sẽ có nghĩa là tất cả những khó khăn đã được giải tỏa bằng bản lĩnh, sự hiểu biết đầy đủ, và sự quyết chí vì nước vì dân của họ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 21-12-2014. Bài Số 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/21/ra-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi/

Hoàng Hữu Phước. 24-12-2014. Bài Số 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/24/phat-bieu-tai-nghi-truong-viet-nam/

Hoàng Hữu Phước. 20-01-2015. Bài số 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/20/cach-soan-bai-phat-bieu-va-thuc-hien-viec-phat-bieu-tai-quoc-hoi-viet-nam/

Hoàng Hữu Phước. 05-02-2015. Bài số 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/05/nhung-van-de-gap-phai-trong-sinh-hoat-doan-dai-bieu-quoc-hoi/

Hoàng Hữu Phước. 24-02-2015. Bài số 5: Xử Lý‎ Đơn Thư Khiếu Nại – Tố Cáo Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/24/xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

Hoàng Hữu Phước. 27-12-2015. Bài số 6: Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/27/doi-pho-voi-dam-nha-bao-hai-mang/

Hoàng Hữu Phước. 28-12-2015. Bài số 7: Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/28/doi-pho-voi-su-xo-cung-vo-cam-cua-chuc-sac-xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

Hoàng Hữu Phước. 02-01-2016. Bài số 8: Công Tác Tiếp Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/02/cong-tac-tiep-dan/

Hoàng Hữu Phước. 03-01-2016. Bài số 9: Công Tác Giám Sát. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/03/cong-tac-giam-sat-cua-nghi-si/

Hoàng Hữu Phước. 04-01-2016. Bài số 10: Công Tác Ủy Ban Quốc Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/04/cong-tac-uy-ban-quoc-hoi/

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Em gái tôi và Helmut Kohl, Tôi và Sigurd Schmitt

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-01-2016

ái Nghe đâu có một thằng Đức phụ trách cái gọi là “nhân quyền” ở Đại Sứ Quán Đức lên tiếng yêu cầu Việt Nam phải thả ngay một ai đó là công dân Việt Nam bị bắt theo các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam.

Thằng ngoại giao Đức mất dạy này làm tôi nhớ đến hai người Đức đàng hoàng và một Tổng Lãnh Sự Quán Đức bầy hầy chẳng ra chi ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên em gái út của tôi trở thành giảng viên Đức Ngữ của trường đại học mà tiền thân là Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh khi chỉ mới học năm thứ hai do năng khiếu ngoại ngữ của em ấy. Là sinh viên, nhưng khi nghe tin bọn quốc xã đầu trọc kỳ thị chủng tộc ở Đức đã ra tay sát hại và đánh đập một số Việt Kiều, em tôi đã gởi thư cho Thủ Tướng Đức là Helmut Kohl để lên tiếng phản đối, yêu cầu Ông là Thủ Tướng một nước từng là cái nôi của nền triết học tư duy toàn nhân loại không được để cho những việc tồi tệ phi nhân như thế xảy ra và phải bảo vệ các công dân nhập cư trong đó có cộng đồng người Việt. Sau đó, Tổng Lảnh Sự Quán Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm đến ngôi nhà nhỏ cũ kỹ của Ba Má tôi ở Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, để trao “công hàm…cá nhân”. Đó là thư tay của Thủ Tướng Helmut Kohl, mà do em tôi giữ như báu vật trong tàng thư cá nhân nên tôi không thể có bản chụp để post lên đây hầu chứng tỏ tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Trong thư, Ông nói Ông không thể tưởng tượng rằng có thể nhận được một bức thư được viết bằng tiếng Đức tuyệt hảo như thế từ một người nước ngoài, rằng người nước ngoài ấy chỉ là một nữ sinh viên Đức Ngữ, rằng người nữ sinh viên ấy làm Ông xúc động vì lòng yêu giống nòi dân tộc của Cô dù Ông biết rằng những người Đức gốc Việt bị đánh đạp dã man đó chẳng ai ưa thích gì đất nước Việt Nam của Cô, rằng Ông cảm kích trước đánh giá cao của Cô đối với kho tàng trí tuệ của dân tộc Đức, và rằng Ông đã lịnh cho Đại Sứ Quán Đức ở Hà Nội phải đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào của em gái út của tôi, kể cả khi đó là yêu cầu sang Đức thăm Ông. Và khi Thủ Tướng Helmut Kohl sang thăm Thành phố Hồ Chí Minh, em gái tôi nhận được thư mời dự yến tiệc tại New World Hotel, trở thành “dân đen” duy nhất tại bửa tiệc chỉ có các quan chức Bộ Ngoại Giao và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Hôm đó, tôi chở em tôi bằng xe hai bánh và phải ngừng lại do cảnh sát chận đường toàn khu vực trong công tác bảo vệ yếu nhân, nên em tôi phải đi bộ một đoạn đường Lê Lai dài để đến New World Hotel vốn là nơi duy nhất đẳng cấp 5 sao vào thời điểm đó. Đây là sự việc mà báo chí hoàn toàn không biết đến. Cũng như việc tôi được nhà giáo lừng danh Nguyễn Quang Tô của Việt Nam Cộng Hòa viết khen tặng hai chữ đức tài mà tôi giữ kỹ như báu vật, chỉ khi bị bọn mất dạy tấn công bôi nhọ trên mạng, tôi mới buộc lòng phải trưng ra trên blog, nay trước sự mất dạy của thằng Đức ở Đại Sứ Quán Đức tôi mới phải kể lại chuyện này của em gái tôi. Nếu Đại Sứ Đức có ngờ vực về tính chính xác của thông tin trên, hãy kiểm tra lại tàng thư của Đại Sứ Quán để kiếm tìm “công hàm cá nhân” ấy của Thủ Tướng Helmut Kohl để biết thế nào là lễ độ, ngưng ngay mấy cái việc bá láp cứ như thể Đức là cường quốc muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì cứ việc có cái quyền đó vậy!

Ngoài ra, các nhân viên Đại Sứ Quán Đức tại Việt Nam nếu có khả năng Đức Ngữ tốt, hãy dịch bài sau đây ra tiếng Đức cho các quan chức Đại Sứ Quán biết là tôi, anh ruột của cô gái mà Helmut Kohl viết thư cảm ơn, đã từng mắng Tổng Lãnh Sự Quán Đức ở Thành phố Hồ Chí Minh ra sao.

Thêm Một Câu Chuyện Có Thật: Nhà Đầu Tư Tài Chính Sigurd Schmitt Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm 1999 lúc đang làm giám đốc điều hành một công ty Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi hay đến Oasis Bar ở Super Bowl gần Sân bay Tân Sơn Nhất nhâm nhi thứ rượu tôi thích nhất trên đời là Vodka Nga với mấy doanh nhân Tây Âu (chủ nhân bar là một người Ý có chiếc bụng chứa đầy rượu bia). Tại đấy, tôi tình cờ quen Tiến Sĩ Sigurd Schmitt, người Đức, 66 tuổi, là giám đốc một công ty chứng khoán tại Thái Lan, có nhà và văn phòng tại số 337bis/12 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 13, Quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh (nay không rõ ở đâu, sau khi khu vực này được mở rộng theo đường Cộng Hòa quận Tân Bình). Và câu chuyện thương tâm có thật về Sigurd Schmitt, người không gặp đúng thời cơ, như sau.

Sigurd cô đơn vò võ một mình trên trái đất này, không còn ai thân thích. Đầu những năm 1990 nghe tin Việt Nam bắt đầu xây dựng thị trường chứng khoán, Sigurd vội vàng bán công ty của mình ở Bang Kok và vào Việt Nam, muốn trở thành nhà tài chính đầu tiên ngự trị thị trường chứng khoán tại đây với sự lão luyện, tinh tường, kinh nghiệm, và quá trình kinh doanh tài chính thành công ở Thái Lan. Ông đã cầu kỳ xây nhà tại địa chỉ trên với tất cả trang thiết bị hiện đại nhất mà thời ấy người Việt chỉ có thể thấy trên phim ảnh Holywood mà thôi. Lúc trên xe ô-tô đón tôi về nhà Ông dùng bửa tối, Ông dùng remote control từ ngoài đầu ngõ để mở cửa garage! Trong nhà Ông, mọi thứ đều bình thường, lạnh lùng, đơn điệu, không góc cạnh phá cách hay hoa văn, nhưng thật ngạc nhiên khi qua hồ sơ giao hàng kèm bản vẽ thiết kế, tôi tá hỏa tam tinh biết rằng chiếc ghế gỗ trông rất bình thường này là của một công ty tầm cỡ của Ý chế tác với giá CIF HCMC là 12.700 USD, chiếc bàn ăn nhỏ cũng bình thường nọ là của Tây Ban Nha với giá rẻ mạt 8.000 USD, còn toàn bộ gạch ống xây nhà được chở qua từ …Pháp, vân vân và vân vân. Sigurd cho tôi xem hồ sơ shipment của vật liệu và trang bị toàn ngôi nhà vì Ông đang kỳ vọng tôi, một … “đại gia” (thủa ấy chưa xuất hiện “đại gia” nào cả, trừ mấy tay khét tiếng bịp bợm kiểu Nước Hoa Thanh Hương) có uy tín rất cao trong giới doanh nhân tư bản thời ấy có thể mua lại hoặc giúp bán căn nhà xịn ấy của Ông. Cần nói thêm là Sigurd khi vào Việt Nam mua nhà và xây nhà đã nhờ một người Việt Nam ở Phan Rang đứng tên làm chủ.

Thế nhưng cuộc đời có những khúc quanh không phải lúc nào cũng cho thấy những cảnh tươi tắn xinh đẹp và rực rỡ hơn, và tia sáng cuối đường hầm có khi là bầu trời bao la xanh đẹp nhưng chỗ đứng của người bước ra từ đường hầm tăm tối lại là vực sâu muôn trượng, không cây cối, không dây leo, và người ấy chỉ còn lão đão trên mép vực trơn trợt rêu phủ phong sương không còn đuờng quay lại rồi rơi xuống vực thẳm của ngàn đời hư mất. Thị trường chứng khoán tại Việt Nam sau nhiều năm vẫn chưa thấy hình thành. Ông ăn dần vào tài sản đang có. Và nhiều cô gái chân dài (kể cả chân không dài chút nào) cũng giúp Ông thanh lý nhanh gọn cái tài sản kếch sù của Ông, để rồi khi gặp tôi, Ông chỉ còn căn nhà, đồ đạc, chiếc ô-tô, và sự đau yếu triền miên, với nợ nần bủa giăng tứ phía. Tôi phải dùng các mối quan hệ thân quen ra sức liên hệ với cộng đồng Việt Kiều ở San Jose, California, để nhờ đăng báo giới thiệu cho Ông bán nhà lấy tiền trả nợ về Đức chữa bệnh (Ông hút thuốc nhiều quá nên hầu như các huyết khối hiện diện khắp nơi, chẽn tắt sự lưu thông của máu, và Bác Sĩ Ngươn, Trưởng Khoa Thần Kinh Bệnh Viện Chợ Rẫy, nhân vật có tên trong bài Nhân Tài Y Khoa Miền Nam, cho tôi biết trong cuộc giải phẩu lần thứ tám đã phải luồn cắt một mạch máu hai bên hông của Sigurd để kéo nối xuống đầu gối vì đoạn chính giữa nghẹt cứng không còn lưu thông máu được để nuôi đôi chân).

Tôi cũng vì bản tính anh hùng Hoàng Ngọc Ẩn (nhân vật trong tiểu thuyết Châu Về Hợp Phố của Phú Đức, thời Việt Nam Cộng Hòa) muốn cứu Ông mà tìm đến một nữ tỷ phú ở đường Kỳ Đồng, Quận 3, TP.HCM, để dùng tài hùng biện cùng tính cách có nơi Phan An-Tống Ngọc của thời trung đại Trung Hoa lay động trái tim cứng rắn của người phụ nữ 40 tuổi ấy, cuối cùng trở nên nhân hậu đồng ý đình lại việc khởi kiện, cho Sigurd có thời gian 3 tháng bán nhà. Trở về nhà mệt nhoài vì công việc và vì buổi tối trò chuyện quá lâu với nữ tỷ phú địa ốc này, tôi lại nhận phone của anh Nhi là tài xế của Sigurd báo tin vừa chở Sigurd trở lại Chợ Rẫy và Sigurd đang thều thào muốn gặp tôi để giao phó chuyện cơ mật. Vì đã bao lần vào bệnh viện thăm Sigurd, tôi quá quen thuộc với bệnh tình của Sigurd (cấp cứu rồi ra viện chứ chẳng thể nặng hơn) nên bảo Nhi là ngày mai tôi sẽ đến. Nhưng vào lúc nửa đêm, Nhi phone báo tin Sigurd đã mất. Tôi vội đi taxi đến ngay nhà xác bệnh viện Chợ Rẫy trên đường Thuận Kiều. Nhìn hai nhân viên trung thành là Nhi và cô thư ký khóc lóc hôn lên gương mặt người chết giá lạnh trắng bệt hốc hác trong hộc tủ đựng xác, tôi vừa thấy rùng mình vừa thương cảm. Tôi gởi hai người một số tiền để họ xoay sở sống tạm trong thời gian vài tháng mất việc sắp tới, và một số tiền khác lo tống táng ma chay hoả thiêu cho Sigurd. Tôi không quên chi tiền cho người quản lý nhà xác, căn dặn Ông phải nhang đèn hoa quả giấy tiền vàng bạc cung phụng đầy đủ cho người quá cố, rồi ra về. Tôi phone ngay trong đêm đến Tổng Lãnh Sự Quán Đức nhưng không ai bắt máy (tất nhiên rồi), còn thư thoại thì xổ một tràng tiếng Đức. Tôi phải viết thông tin bằng tiếng Anh (kèm theo lời dạy nghiêm khắc đầy giận dữ bảo họ đừng có làm tàng đem cái chủng tộc thượng đẳng Arien vớ vẩn của họ ra hù thiên hạ mà phải biết nhập gia tùy tục, phải có dùng tiếng Việt, hoặc chí ít phải có tiếng Anh kèm theo để hướng dẫn thư thoại) rồi fax cho họ từ nhà của tôi.

Tôi đã không đưa Sigurd đến lò hoả táng vì tôi không thích kiểu bày tỏ cảm tình rơi nước mắt ở chốn đông người, nhất là gặp lại những bộ mặt lũ ký sinh mặc váy ngắn ngủn y như có áo không quần từng hay bâu vào bàn ăn của tôi và Sigurd ở Oasis Bar để được ăn uống nhồm nhoàm miễn phí và vòi vĩnh tiền của Sigurd để chạy bộ qua cửa hàng thời trang kế đó mua sắm (toàn đồ nam giới chắc để tặng mấy tên “bồ” trẻ). Vài ngày sau, anh Nhi đến nhà tôi cho hay Tổng Lãnh Sự Quán Đức khi nhận fax báo tin của tôi đã đổ quân ngay lập tức đến nhà Sigurd lấy tivi, máy móc, trang bị nhà bếp như máy rửa chén, đồ đạc, v.v. và đòi giấy chủ quyền nhà. Vì ở Việt Nam người nước ngoài không được làm chủ bất động sản, nên Sigurd có nhờ một người tên Thanh ở Phan Rang đứng tên làm chủ, do đó Tổng Lãnh Sự Quán Đức không làm gì được, chỉ có thể chở đồ đi không phải để trao lại cho người nhà vì Sigurd chẳng có ai thân thích trên đời. Họ cũng không …dại dột hỏi gì về chi phí an táng, dù họ biết rõ là công dân Đức Sigurd Schmitt qua đời mà chỉ có tôi là công dân Việt Nam cưu mang hậu sự cho Ông. Anh Nhi trao cho tôi chiếc đồng hồ Rolex nạm ngọc và chiếc máy ghi âm nhỏ xíu Sigurd đã trao cho Nhi nhờ đưa cho tôi vì tôi đã không đến gặp Ông. Tôi bảo Nhi và cô thư ký hãy bán đi chiếc đồng hồ giá trị cả gia tài ấy rồi hai người chia nhau để dùng trong thời gian đi tìm công việc mới. Còn chiếc máy ghi âm thì để tôi nghe xem ông dặn dò gì trong phút lâm chung, nhưng tiếc là tiếng Anh của Ông bình thường nghe đã khó, nay lại thều thào, khản đặc, và thở thoi thóp thì tôi chịu thua. Tôi bảo anh Nhi bán luôn chiếc máy, nhưng anh bảo Sigurd trăn trối với cô thư ký muốn tặng tài sản gì đó cho tôi vì tôi đã là người bạn mà Ông tiếc đã gặp quá muộn màng trong cuộc sống này song định mạng cản ngăn Ông không còn kịp làm gì nữa. Thế nên hai người trung tín này muốn trao lại tôi hai vật duy nhất trên mà họ còn cất giữ trước khi thấy quân đoàn dũng mãnh của Tổng Lãnh Sự Quán Đức tiến đến. Do tôi quyết tặng lại họ món đồ quá đắt tiền nên họ xin tôi hãy giữ chiếc máy ghi âm để tôi còn chút kỷ vật của người đã khuất. Tôi nghe theo ý của mấy nhân viên này và đến nay vẫn còn giữ chiếc máy ghi âm nhỏ xíu cùng cuộn băng nhỏ xíu có ghi lời thì thào nhỏ xíu của Tiến sĩ Sigurd Schmitt.

Mấy tuần sau là thời gian cực nhọc của tôi vì anh Thanh đứng tên chủ nhà, nghiễm nhiên thành chủ của tòa nhà hàng triệu đô-la đó, liên tục phone hỏi xem tôi có muốn mua căn nhà ấy không vì anh ta sẽ để lại với giá phải chăng. Tất nhiên, tôi từ chối mua, chỉ yêu cầu anh hãy hứa rằng khi bán được nhà sẽ trả nợ (và lãi) cho vị nữ tỷ phú kia để Ông Sigurd không ra đi như một con nợ trốn tránh chủ nợ và để tôi có thể đường hoàng gặp lại người phụ nữ đẹp người đẹp tính đó; đồng thời phải giúp luôn anh Nhi cùng cô thư ký mỗi người vài tháng lương để họ đỡ vất vả vì sau gần mười năm tận tụy làm việc cho Sigurd, họ lại phải đi tìm việc mới nuôi cả gia đình. Hy vọng anh Thanh thừa hưởng một gia sản khổng lồ tự trên trời rơi xuống là do anh là người nhân hậu và tổ tiên của anh thật dồi dào phúc đức, nên anh sẽ làm thêm nhiều điều phước thiện khác cho xã hội.

Thế đấy các bạn, có khi một lúc nào đó định mạng dun rủi cho ta gặp người tri kỷ, và niềm vui nhỏ bé nơi người lại là sự tự hào đã làm hết sức mình để cưu mang một người bất hạnh lạ xa. Hiện anh Nhi (số phone trước đây là 8425554) và cô thư ký đã có việc làm ở hai đơn vị khác nhau. Thỉnh thoảng họ phone hỏi thăm sức khỏe của tôi khi tôi chưa thay các số phone mới, và chỉ những lúc ấy, ông lão người Đức gầy gò nghiêm nghị khắc khổ, tiến sĩ Sigurd Schmitt, con người vô phúc trên đường sự nghiệp đã chọn Việt Nam gởi nắm xương tàn với tư cách một người hữu phúc khi có sự tâm giao với một người bạn Việt Nam đầu tiên và cuối cùng, mới lại là bóng ma hiện về từ quá khứ .

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

*******

Nào có ra chi mấy thằng nhãi ranh mất dạy hậu duệ của Adolf Hitler! Tư cách gì nói về nhân quyền hỡi bọn đã đưa hàng triệu người Do Thái vào lò thiêu và hơi ngạt!

 Hitler (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước: 

Công Tác Ủy Ban Quốc Hội

(Bài thứ 10 trong chuỗi 10 bài tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021)

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII, Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Của Quốc Hội

04-01-2016

6Biển Hồ

Tiếp theo mạch 9 bài [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] đã viết phục vụ người dân muốn hiểu t