Category Archives: Đạo Đức

Điện Ảnh Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-10-2017

Truyền thông thế giới đang nói về Harvey Weinstein, người thống trị Hollywood tức thống trị điện ảnh thế giới.

Nội dung về y là về những vụ tấn công tình dục hắn thực hiện mấy thập kỷ qua đối với những cô gái mong muốn được hắn phân vai diễn trở thành ngôi sao điện ảnh và thậm chí có được giải Oscar danh giá. Trong xã hội Âu Mỹ thì đó không là chuyện hiếm hay chuyện lạ, chỉ có điều chưa từng ai cáo buộc Harvey Weinstein – hoặc những con tương cận như y – có thể vì đã nhận được danh vọng tiền tài bù đắp dư thừa và cũng có thể vì biết rõ tiết lộ cũng chẳng để làm gì trừ phi bản thân nhận thêm tài trợ khác từ đối thủ của y hay từ “chính đảng” nào đó.

Tuy nhiên, nếu tình dục bịnh hoạn như của Đức Ngài Jimmy Saville (Hiệp Sĩ Sir Jimmy Saville) của thế giới sân khấu giải trí Vương Quốc Anh đã phá trinh hàng trăm bé gái và bé trai bất kể các bé ấy có đang bị cột dính trên giường do bịnh thập tử nhất sinh (như được ghi rõ trong bài  Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt trên blog này), thì tình dục đổi bại của một tên đạo diễn ao làng điện ảnh Việt Nam cũng đã từng được tác giả bài viết này nói đến trong bài Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam đăng trên Emotino.com năm 2010.

Sự khác nhau giữa tình dục đồi bại của đại gia Weinstein và của tiểu tốt đạo diễn vô danh Việt Nam là ở chỗ các cô gái Mỹ cho Weinstein thỏa thích thỏa mãn dục tính để thực sự trở thành ngôi sao đắt giá thậm chí được nằm trong số 300 nữ diễn viên chỉ riêng của Weinstein được đề cử cho giải Oscar hoặc đoạt luôn giải ấy, thì các cô gái để một đạo diễn ao làng điện ảnh Việt Nam phá trinh hoặc gọi tới phục vụ tình dục thì chẳng làm cho điện ảnh Việt Nam lỗi lạc gì, danh tiếng gì, vinh diệu gì, với đại tác phẩm gì.

Gọi là một đạo diễn ao làng điện ảnh Việt Nam vì tác giả bài viết này chỉ biết có mỗi một ông ấy, chỉ được nghe thằng đạo diễn đó tỉ tê tâm sự trong cơn say của hắn, nên cũng tin tưởng tuyệt đối là toàn bộ số đạo diễn còn lại của đất nước hình cong chữ S này là tinh hoa tinh túy tinh thông tinh tường tinh tươm với chức nghiệp chứ không ai đồi bại như thằng đạo diễn tinh trùng già ấy.

Đồng thời, gọi ao làng điện ảnh Việt Nam vì sự thật muôn đời cũng sẽ chỉ là như thế. Hồ thì to và có thể sạch – như Hồ Ba Bể Việt Nam, Ngũ Đại Hồ Canada, hoặc Baikal Nga, hay Đại Diêm Mỹ, v.v.. Ao thì chỉ là vũng nước của ao tù nước đọng nên chỉ có toàn những chất chứa không dành cho sự sống lành mạnh. Mà từ ao ra hồ đã là luôn bất khả, thì cách chi mà điện ảnh Việt Nam biết đên sông to nói gì tới biển lớn.

Việc đăng tải lại dưới đây bài viết cũ của nhà phê bình mọi sự và sự mọi  Hoàng Hữu Phước là để nhắc lại như một tham khảo biết đâu sẽ cần thiết cho một ai đó bất thình lình quan tâm đến cái gọi là sự phát triển điện ảnh nước nhà để thay thế cho cái quay phim nước nhà.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam: Hawaii Five-O và Hawaii Five-0

Bài đã đăng trên Emotino tháng 11-2010 (Emotino đã đóng cửa vì bị phá sập sau đợt núi lửa động đất “Tứ Đại Ngu” và sóng thần “Nỗi Nhục Của Đài BBC”)

(Phần 1 tại http://www.emotino.com/bai-viet/18886/tu-van-phat-trien-dien-anh-viet-nam-hawaii-fiveo-va-five0 và Phần 2 tại http://www.emotino.com/bai-viet/18885/tu-van-phat-trien-dien-anh-viet-nam-hawaii-fiveo-va-five0-tiep-theo)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (2)

A) Dẫn Nhập: Hawaii Five-O và Hawaii Five-0

Người dân Sài Gòn diện trung lưu ắt còn nhớ những bộ phim truyền hình nhiều tập “Đài Mỹ” chiếu tất cả các buổi tối chẳng hạn phim “giả tưởng” như Batman (Người Dơi), Star Trek (Du Hành Không Gian) và Voyage to the Bottom of the Sea (Tàu Ngầm); phim “cao bồi” như The Wild Wild West (Miền Tây Bao La Hoang Dã) và Bonanza (Xứ Miền Trù Phú); “hành động” như Mos SquadHawaii Five-O; “trinh thám phản gián” như Mission Impossible; “chiến tranh” như Combat; “phiêu lưu mạo hiểm thời lập quốc” như Daniel Boone, “khôi hài” như The Monkeys, và nhiều phim khác; còn các buổi trưa Chủ Nhật có phát phim xi-nê như các phim kinh dị của đạo diễn Hitch Cock, hoặc phim Marco Polo, v.v. Những phim truyền hình này đạt đẳng cấp và tiêu chuẩn quốc tế (mỗi tập truyện dài vỏn vẹn khoảng 45 phút), tuy không có phụ đề Việt Ngữ, không thuyết minh lồng tiếng Việt – đơn giản vì “Đài Mỹ” chỉ phục vụ các cơ quan phái bộ Hoa Kỳ tại Sài Gòn – nhưng mỗi tập truyện đều là một kiệt tác với đầy đủ các diễn biến dẫn nhập, thắt nút, gỡ rối, và kết thúc, theo một trình tự logic, hấp dẫn, chuyên nghiệp, lôi cuốn ngay cả những người Việt không biết tiếng Anh già trẻ lớn bé, nam phụ lão ấu, trong đó có cả anh em nhà tôi lúc ấy đang ở lứa tuổi nhi đồng, đều nắm được ý nghĩa, thậm chí cho đến ngày nay tôi vẫn còn hu‎ýt sáo được các nhạc nền tuyệt diệu của các bộ phim này.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (1)Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (7)

Sau 1975, điện ảnh Mỹ lần lượt làm những phim truyện nhựa dựa theo tên cũ của các phim truyền hình xa xưa ấy như Batman, Star Trek, và Mission Impossible, v.v., đặc biệt vẫn sử dụng lại nhạc nền cũ của các phim truyền hình ấy, chẳng hạn nhạc nền của Mission Impossible trong tất cả các phim nhựa Mission Impossible. Cách nay hai tháng, tôi ngạc nhiên khi tình cờ bấm remote lộn qua đài Yeah của Việt Nam nghe phát một đoạn ngắn 12 nốt dạo đầu của nhạc phim Hawaii Five-O mỗi khi đến đoạn nghỉ quảng cáo Yeah, và tôi nhanh chóng phát hiện Yeah đã ăn cắp đoạn nhạc ngắn trên từ các đoạn quảng cáo trên đài AXN lúc AXN thông báo sẽ chiếu bộ phim truyền hình Hawaii Five-0 phiên bản 2010. Vậy là chỉ có phim truyền hình Hawaii Five-O được tái lập bằng một bộ phim truyền hình mới khác, trong khi các bộ phim truyền hình lão làng đồng cấp khác chỉ được dựng lại thành vài bộ phim nhựa chiếu rạp để tranh giành giải Oscar và hốt bạc mà thôi. Suốt hai tuần qua, AXN khởi chiếu vài tập cũ của Haiwaii Five-O (chữ O) lúc 17g30 mỗi Thứ Ba để “hâm nóng” thị hiếu và sự ngóng trông cuồng nhiệt của khán giả truyền hình Châu Á, vừa quảng cáo rầm rộ bộ phim mới Hawaii Five-0 (số zero) với đầy đủ bài nhạc nền tuyệt diệu của Hawaii Five-O. Tối nay, Chủ Nhật 14-11-2010, AXN bắt đầu phát sóng tập đầu tiên của Hawaii Five-0 phiên bản 2010, có phụ đề Việt ngữ, để làm dẫn nhập cốt chuyện ly kỳ giải thích vì sao hình thành nên “bộ tứ” của biệt đội trừ gian mới tinh này (gồm một sĩ quan biệt kích hải quân nhận phân công về Sở Cảnh Sát Hawaii để tìm kẻ giết cha mình, hai nam nữ cảnh sát ưu tú tại nhiệm, và một cảnh sát giải ngũ do hàm oan biển thủ tiền tang chứng) và sẽ phát các tập phim trên đài AXN mỗi tối Thứ Ba kể từ 16-11-2010. Phần dẫn nhập này có các ghi chú sau về bộ phim truyền hình Hawaii Five-O:

– Phim Hawaii Five-O (chữ O) do CBS Productions, Hoa Kỳ, sản xuất, phát sóng truyền hình liên tục nhiều trăm tập từ ngày 20/9/1968 cho đến ngày 04/4/1980, là bộ phim giữ kỷ lục dài nhất cho đến năm 2003 mới mất về tay bộ phim Law & Order.

– Phim bộ mới Hawaii Five-0 (số zero) do CBS phát hình từ 20/9/2010 ở Hoa Kỳ vào mỗi tối Thứ Hai lúc 21g. Ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đài AXN độc quyền phát hình, có phụ đề ngôn ngữ các nước, trong đó có tiếng Việt. Đặc biệt, phụ đề rất dễ đọc vì chữ trắng trên nền xám (trong khi các đài khác như HBO hay Star Movies, v.v., chỉ có chữ trắng nên khó đọc nếu cảnh nền ngoài trời có màu trắng sáng).

– Dù là Hawaii Five-O hay Hawaii Five-0 thì cũng hàm ý nghĩa: Hawaii là Tiểu Bang thứ 50 của Hoa Kỳ.

– Các nhân vật chính vẫn mang tên: thám tử Steve McGarrett, thám tử Danny Danno Williams, và thám tử Chin Ho Kelly; nhưng thám tử Kono dân bản xứ mập thấp thì trong phiên bản mới lại là nữ thám tử Kono Kalakaua xinh đẹp dường như là người Mỹ gốc Hàn vì mang họ thật ngoài đời là Park.

– Nhạc nền vẫn sử dụng bài tuyệt diệu của nhạc sĩ Morton Stevens.

B) Những Điều Cần Thiết Cho Một Nền Điện Ảnh Mạnh

Vào những năm 1980, tôi có phân tích với sinh viên khoa Anh Văn của tôi về 3 yếu tố giúp điện ảnh Hoa Kỳ hùng mạnh hơn bất kỳ nền điện ảnh nào trên toàn thế giới, đặc biệt tôi cũng nhấn mạnh rằng phải hội đủ cùng lúc cả 3 điều kiện này mới có thể nói đến việc hình thành một nền điện ảnh mạnh:

1- Yếu Tố Thứ Nhất: Hoa Kỳ có sẵn quá nhiều nhà viết kịch bản phim cực kỳ chuyên nghiệp. Họ không là nhà văn, mà là nhà viết kịch bản phim. Chỉ cần lấy thí dụ mỗi một phim truyện truyền hình CSI (Đội Điều Tra Hiện Trường Án Mạng) của mới một đài AXN thôi, người xem đã không thể hiểu nỗi vì sao mỗi tuần AXN lại có thể chiếu một tập khác nhau, mà những 3 nhóm khác nhau cho “gia đình” CSI gồm CSI-Miami, CSI-New York, và CSI-Las Vegas, với 3 ê-kíp làm phim hùng hậu hoàn toàn khác nhau, với những nội dung không trùng nhau ở câu truyện nhưng trùng nhau hoàn toàn ở đẳng cấp cực cao trong dựng tình huống, kiến thức khoa học hình sự hiện đại, và căng thẳng đến độ nghẹt thở không còn biên giới hay ranh giới phân biệt được giữa phim hành động truyền hình 45-60 phút của các diễn viên không nổi tiếng với phim hành động nhựa 3 giờ đoạt giải Oscar do các diễn viên lừng danh đóng. Những nhà viết kịch bản phim này mặc sức thăng hoa.

2- Yếu Tố Thứ Nhì: Hoa Kỳ có sẵn những nhà kỹ thuật tân kỳ – đặc biệt về công nghệ thông tin – tài hoa, thực hiện được bất kỳ những bày biện bày trò của kịch bản phim, bất kể sức thăng hoa của tác giả kịch bản có cao vời đến đâu chăng nữa. Thí dụ như tác giả viết kịch bản Công Viên Kỷ Jura cứ mặc sức viết theo trí tưởng, còn nhà kỹ thuật tân kỳ tạo ra khủng long các loại với đầy đủ hiệu ứng hình ảnh khủng khiếp vốn không bao giờ thiếu trong tất cả các phim nhựa hiện đại. Những chuyên viên kỹ thuật vi tính này tạo ra giá trị cộng thêm mang tính quyết định cho sự phát triển điện ảnh, biến những thăng hoa thành hiện thực, xóa bỏ tất cả các rào cản để điện ảnh đạt mức độ thể hiện cao nhất đáp ứng cao nhất sự kỳ vọng cao nhất của khán giả khó tính nhất.

3- Yếu Tố Thứ Ba: Hoa Kỳ có sẵn những nhà tư bản (tức chủ nhân những hãng phim lớn, những “trùm” ngành giải trí-truyền thông chuyên nghiệp) mặc sức cung cấp tài chính để đáp ứng kinh phí đầy đủ cho các nhà kỹ thuật công nghệ thông tin tài hoa chuyên nghiệp mặc sức thực hiện các kịch bản do các nhà viết kịch bản chuyên nghiệp mặc sức thăng hoa viết nên.

Điện ảnh toàn Châu Âu đều là hạng lâu lâu được Mỹ ban cho một Oscar, còn bản thân tổ chức vài giải điện ảnh nhưng các tác phẩm tự đoạt giải của Châu Âu nào có cái nào danh vang bốn bể. Đơn giản chỉ vì điện ảnh Châu Âu thiếu vắng gói “ba trong một” nêu trên.

Điện ảnh Việt Nam thuộc nhóm chờ lâu lâu được Mỹ ban cho một giải gì đấy, còn bản thân tổ chức vài giải điện ảnh nội địa nhưng các tác phẩm tự đoạt giải của Việt Nam nào có cái nào danh vang bốn bể. Đơn giản chỉ vì điện ảnh Việt Nam không những không có gói “ba trong một” rất vật chất nêu trên, mà còn thiếu vắng cả tinh thần kiểu Hàn như sẽ được nêu ra bên dưới.

C) Những Vấn Nạn Của Điện Ảnh Việt Nam

Những quan chức ngành điện ảnh Việt Nam hay nói đến một yếu tố “tinh thần”  (cực kỳ huyễn hoặc, không bao giờ có thực, không bao giờ có giá trị, không bao giờ đúng, đặc biệt điện ảnh Việt Nam chưa bao giờ thể hiện đúng và đạt trong tất cả các sản phẩm của mình) là: điện ảnh phải truyền tải một thông điệp văn hóa, nhân văn, mang tính định hướng, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Điện ảnh chỉ là một hình dạng lọt thỏm trong cái hố trũng có cắm biển “những ngành công nghiêp giải trí”. Vấn đề duy nhất đáng quan tâm để e ngại – nếu có e ngại – của điện ảnh là nội dung một bộ phim có đúng với thuần phong mỹ tục của một dân tộc đặc thù hoặc có đúng với một tín ngưỡng đặc thù để được khán giả của dân tộc ấy hay tôn giáo ấy chấp nhận mua về xem hay không. Chỉ có thế, và không còn bất kỳ ý nghĩa nào khác. Làm quái gì có “thông điệp” này nọ trong cái gọi là “giải trí”!

Tập trung cho tính chuyên nghiệp cao nhất ở tất cả các khâu thực hiện của một bộ phim đã đủ đảm bảo sự truyền tải một thông điệp văn hóa, nhân văn, mang tính định hướng, góp phần xây dựng con người, chẳng hạn bộ phim truyền hình “nhỏ bé” CSI do hấp dẫn người xem ở bất kỳ lứa tuổi nào nên vừa trực tiếp cung cấp kiến thức khoa học hình sự và sự hiểu biết cho cả tỷ người về các mưu ma chước quỷ của tội phạm, vừa gián tiếp xây dựng con người yêu thích trừ gian diệt bạo, cẩn trọng và cảnh giác đối với đời sống bản thân trước các tội ác, và truyền tải “thông điệp” rằng Hawaii, Miami, Las Vegas, và New York – tất cả đều của Hoa Kỳ – rất nhân văn, rất đẹp, rất quyến rũ, rất…đáng cho cả nhân loại tìm đến du lịch, tham quan, làm giàu thêm cho nước Mỹ.

Không hiểu được yêu cầu cơ bản của tính chuyên nghiệp cao cấp, cứ mơ hồ gán ghép bạo hành vào điện ảnh mọi thứ ý nghĩa của cốt truyện nhưng chẳng có một tí tính chuyên nghiệp nào trong hình thành các thành tố vật chất đích thực của “làm phim” thì không bao giờ có được một nền điện ảnh ra hồn.

Tương tự, ẩm thực sẽ chẳng ra hồn nếu cơm thơm ngon — huống hồ đây lại là cơm thiu nhờn nhớt nhợt — được bày trên tờ giấy báo lem luốc ẩm ướt vừa mới gói con cá chết ngộp, không có muỗng đũa, chẳng có món ăn nước chấm kèm theo.

Tương tự, âm nhạc Việt Nam không bao giờ ra hồn vì mãi mê duy chỉ cho ca từ  sao cho “nghe” có ý nghĩa, sao cho thật nên thơ triết lý đúng văn phạm, nên Việt Nam chỉ có ca nhạc với tuyệt đại đa số các bài ca bài hát không có khúc nhạc nào ra hồn, do quên rằng âm thanh từ nhạc cụ tức âm nhạc mới là yếu tố duy nhất tải truyền cái hồn của âm nhạc đến người nghe nhạc, mà rất tiếc đại đa số người Việt chỉ có khả năng nghe ca mà thôi.

Việt Nam thiếu cả gói 3 yếu tố đã nêu trên, do Việt Nam

(a) chỉ có nhà văn chuyên nghiệp và nhà văn không chuyên nghiệp chứ không có nhà viết kịch bản phim/truyện phim chuyên nghiệp;

(b) có rất đông chuyên viên vi tính được đào tạo để chú mục vào mỗi việc viết phần mềm gia công cho nước ngoài để ngồi bên laptop vừa làm việc nhàn hạ vừa vào Facebook chuyển tải các “sứ điệp” tào lao của bọn chống Cộng, chứ không có khả năng thực hiện kỹ xảo điện ảnh tân kỳ; và

(c) không có các nhà tư bản thực thụ có tài chính thực thụ có năng lực thực thụ biết kinh doanh thực thụ trong sản xuất phim truyện truyền hình chất lượng cao thực thụ và đúng nghĩa điện ảnh thực thụ.

Vì thiếu cả ba yếu tố này, phim ảnh Việt Nam chỉ biết kiếm tìm từ tác phẩm văn học một đề tài thì thoảng cho mỗi một phim nhựa nào đó dài khoảng 120 phút để hoặc tự hào hốt bạc tỷ nhờ “hot” tức dành cho những ai tò mò muốn xem “hot boy” hay “hot girl” nào đó ở truồng, hoặc có cái để đem đi dự giải quốc tế, hoặc sáng tác một truyện tràng giang đại hải cho một phim truyền hình đại hải tràng giang rồi cắt ngang thành cả trăm phần như kiểu phim bộ Trung Quốc hay Hàn Quốc, chứ không tài nào có đủ ý tưởng đủ dồi dào để viết hàng trăm truyện cho hàng trăm tập cho mỗi bộ phim truyền hình nhiều tập mà mỗi tập là một truyện khác nhau không liên kết với tập hay các tập trước đó như các phim truyền hình Mỹ đã nêu ở trên. Song, những yếu điểm này của điện ảnh Việt Nam còn là hệ quả của nhiều tác động tiêu cực trầm kha khác nêu ở dưới đây.

1- Học Vấn Những Người Làm Phim

Đa số những người làm phim Việt Nam – qua các “tác phẩm điện ảnh” của họ – đã không chứng tỏ đã từng có một quá trình học tập đẳng cấp cao có kết quả thực sự cao với kiến thức chung cao và kiến thức đặc thù cao, kể cả về…tiếng Việt cao. Hầu như bộ phim nào – dù là phim truyện truyền hình hay phim truyện nhựa, dù là phim xã hội hay phim lịch sử  – cũng có vấn đề, luôn bị công chúng công khai công kích với công tâm, vì những người làm phim thiếu tính xác thực, kém hiểu biết, và sai kiến thức. Họ thậm chí cũng không thể biết lời thoại của kịch bản có phải là tiếng Việt thực thụ hay không, chẳng hạn diễn viên Diễm Kiều vai bà mẹ già nhà quê trong một phim dài nhiều tập hễ mở miệng là dùng từ “tâm trạng” như “ không có tâm trạng” hay “thằng đó nó không có tâm trạng” hay “má hiểu con có tâm trạng”, mà kiểu thoại ấy ắt do người Việt dùng lúc được di tản lên Hỏa Tinh trong cuộc di dân vĩ đại của ngàn năm sau; hoặc một lời thoại khác trong phim cổ trang khi nhà vua nói với hoàng hậu rằng “để bệ hạ nói với thiếp nghe điều này”, thay vì lẽ ra phải là “để trẫm/ta nói với ái khanh/hậu/nàng/ngươi điều này”. Tồi tệ hơn khi có đấng đạo diễn trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi Trẻ rằng phim của ngài có những “cảnh nóng” như vậy là chưa ăn thua vì ngài sẽ làm phim khác có độ “nóng” hơn nhiều. Một đạo diễn giỏi hóa ra phải là kẻ biết lột trần truồng diễn viên và thực hiện được cảnh quay cận cảnh chuyện làm tình động cỡn, xem đó là cách duy nhất kéo khán giả đến rạp, ngụ ý khán giả toàn là người bị dồn nén tình dục – theo cha đẻ của ngành phân tâm học Sigmund Freud – đến độ nhất thiết phải xem diễn viên trần truồng, và thậm chí tự hạ mình xuống thành đạo diễn phim “con heo” rẻ tiền hay sao? Vô ý thức đối với nghề nghiệp và sự nghiệp, vô lương tâm đối với xã hội, và vô trách nhiệm với hai từ tổ quốc: đó là những câu cú hoàn chỉnh để dùng cho những đạo diễn chưa hoàn chỉnh mà tiếng Anh gọi là “unfinished”, tức chưa được tiến hóa hoàn chỉnh (để thành người).

2- Tư Duy Những Người Làm Phim

Hậu quả của quá trình học tập không bài bản, thiếu chuyên cần, kém sâu sắc, và nghèo kiến thức nơi đa số những người làm phim Việt Nam – qua các “tác phẩm điện ảnh” của họ –  đã khiến họ trong thời gian dài ẩn náu an toàn trong những “công ty/xí nghiệp điện ảnh nhà nước” (xây từ tiền thuế người dân),, hưởng lương nhà nước (từ tiền thuế người dân), hưởng chế độ hưu trí nhà nước (từ tiền thuế người dân), thực hiện các đơn hàng của nhà nước (từ tiền thuế người dân), để sản xuất đủ số những bộ phim đạt yêu cầu chỉ tiêu hàng năm, chủ yếu để cất kho ẩm mốc hay chiếu phục vụ dân nghèo vùng sâu vùng xa, mà điển hình là các phim như Hoa Ban Đỏ, v.v. Tất cả những an toàn tuyệt đối dành cho họ đã khiến họ sản xuất phim không với tinh thần trách nhiệm, dẫn đến những phí phạm như vô tư tửng tửng ra hiệu lịnh bắn một hỏa tiễn SAM thật trị giá cả tỷ đồng trong khi quên ra hiệu lịnh cho các máy quay bắt đầu thu hình cảnh khai hỏa ấy, khiến sau đó phải sử dụng “xảo thuậtđiện ảnh” để lấp chỗ trống chứ không còn tiền mua của Phòng Không một SAM khác. Rồi khi đất nước “mở cửa”, họ đơn giản ngu dốt cho rằng “mở cửa” đồng nghĩa với “mở hết nút quần áo” nên mới có các bộ phim khai thác các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng để nữ diễn viên hạng nghệ sĩ ưu tú nhân dân ở  truồng đóng phim như hành vi cao qu‎ý tận tâm phục vụ nghệ thuật điện ảnh nước nhà, hoặc khai thác làm phim lịch sử về Lê Ngọa Triều dâm đãng để dễ khai thác hình ảnh tính dục và dễ né tránh phim lịch sử khác mà họ bất tài không bao giờ thực hiện được do đòi hỏi phải có các cảnh hoành tráng xua tượng binh xông trận đạp chà dày xéo xác quân Tàu, vạn quân vây hãm công phá thành trì do Tàu chiếm đóng, thủy chiến hỏa công kinh hoàng rực lửa hừng hực cuộn cuồn sóng Bạch Đằng Giang vốn vĩ đại hơn cả trận Xích Bích cường điệu của Tam Quốc Chí Tàu. Sống bám vào quốc khố và bấu víu vào các cảnh khai thác tính dục và tình dục đã nằm trong tư duy của không ít những người làm phim Việt Nam trong một thời gian rất dài như một thứ bệnh truyền nhiễm được ngợi ca bằng tiền lẽ ra dành cho chế tạo vắc-xin.

3- Học Vấn Những Người Đóng Phim

Đối với tôi, Sandra Bullock là diễn viên hạng xoàng và tôi nhất quyết không xem bất kỳ phim nào do nữ diễn viên này đóng, kể cả khi cô đoạt giải Oscar 2009, chỉ vì cách nay hơn 10 năm tôi có xem một phim DVD trong đó cô hét toáng lên rằng “Có ai cho tôi biết chuyện quái quỷ gì đang xảy ra không vậy chớ hả?” (Can anybody tell me what’s the hell is going on here?) khi cô lúp xúp chạy bộ ngoài đường với váy ngắn túm và đôi guốc cao gót đỏ theo đà kéo tay của anh bạn, trong lúc bọn sát thủ táo tợn ban ngày ban mặt cướp ngân hàng bắn tiểu liên vãi đạn xối xả dày đặc không để lọt một hạt mưa. Một diễn viên “có giá” là người có “quyền” buộc đạo diễn phải thay đổi những lời thoại vô duyên của nhân vật mà mình thủ vai. Diễn viên Bruce Willis đã làm phá sản công trình một đạo diễn lừng danh khi bỏ đi không thèm qua Việt Nam đóng phim vì đạo diễn đã từ chối đổi kịch bản theo ý Bruce để chêm thêm cảnh người hùng do Bruce thủ vai phải được mình trần trùng trục gân guốc lực lưỡng hai tay hai khẩu trung liên bắn giết tàn sát Việt Cộng chết như rạ. Đa số những người đóng phim Việt Nam đã không chứng tỏ có một quá trình học tập đẳng cấp cao có kết quả thực sự nơi kiến thức chung và kiến thức đặc thù, kể cả về…tiếng Việt, nên đạo diễn chỉ bảo họ ra sao là họ cứ thế mà thực hiện, bảo nam diễn viên cõng nữ diễn viên thì họ cứ thế mà cõng, chẳng dám hé môi nói được câu rằng đó là kiểu của nam Hàn Quốc chứ không phải nam Việt Nam, cứ như sợ đạo diễn hét lên rằng “Các ngươi tưởng báu lắm đấy phỏng! Không đóng thì cút! Hạng các ngươi thì ta mua một xu được cả tá ấy chứ lị! You good-for-nothing guys are a dime a dozen!” Thậm chí có nữ diễn viên khi trả lời phỏng vấn trên HTV7 đã khen nức khen nở đạo diễn rằng “chú ấy bảo em muốn diễn sao thì cứ diễn” dù cô bán cà phê, mới đóng phim lần đầu mà lại là vai nữ chính, chưa bao giờ là học viên trường điện ảnh, chưa bao giờ được hướng dẫn diễn xuất bởi chính cái chú đạo diễn  “tình cờ phát hiện” ra cô –  ắt trên xa lộ không đèn hay trong quán nước đèn không hắt bóng.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (6)

Diễn viên Chi Bảo trong một phim cổ trang trên đài SCTV7 với các “quan” mặc áo mão cân đai cực kỳ kỳ quái. Nếu là diễn viên “có giá” thực và có kiến thức thật, lẽ ra Chi Bảo đã từ chối tham gia đóng phim đó khi thấy trang phục quái gở và đạo cụ kém xa các “quan” Hàn Quốc mặc áo mão cân đai lịch sự theo từng đẳng cấp như trong phim “Nữ Hoàng Sơn Đốc” trên đài VTV1. Lẽ nào những người như Chi Bảo lại có cái tâm hết lòng vì sự nghiệp điện ảnh, thiết tha muốn phục vụ nhân dân đến độ hy sinh danh dự cá nhân cho những bộ phim ngoại hạng như thế?

Học vấn thực thụ không là thứ học vấn được chứng minh qua bằng cấp cao mà là loại học vấn hoàn thiện tư cách cao trọng của đạo đức con người trong chức nghiệp của mình, bất kể cái chức nghiệp ấy có dính dáng đến chuyên môn đã được đào tạo hay không.

Một đạo diễn già Việt Nam khi nằm dài trên một ghế bố gỗ gần ghế của tôi cạnh hồ bơi trong một khu resort nước ngoài ở Long Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu, khi tôi đến dự sinh hoạt một câu lạc bộ dành cho các CEO năm 2009, đã dường như bị say rượu hay bị cái ngoại hình giống … Cha Xứ của tôi (như rất nhiều nữ sinh viên, nữ nhân viên của tôi, và phụ nữ khác hay gọi tôi như thế) nên trong lúc yếu lòng đã tự động thú nhận với tôi – dù tôi không thích mở miệng chuyện trò với người tôi không quen thân – rằng ông đã phạm tội rất nặng do trong nhiều chục năm qua đã bắt rất nhiều cô gái Việt Nam, chưa chồng hoặc có chồng, ngủ với ông để ông cho họ một vai diễn trong những phim ông thực hiện, mà theo ông khoe thì ông “rất sướng anh Phước ơi, mỗi tối tui hưởng một con khác nhau, con nào tui chơi xong mới biết nó loại còn gin là tui giam nó ở hotel mấy ngày chơi cho thiệt đã mới cho nó về với má nó”, rằng hình như quả báo đã tìm đến cuộc đời ông thật dồn dập khi ông giờ đây cô quạnh tuổi già, vợ đã ôm tài sản bỏ theo trai, còn các con ông đều nối nhau bỏ ông về trước với tổ tiên; rằng ông đến resort nghỉ ngơi miễn phí kỳ này do nhiều tay doanh chủ CEO đã từng được ông “sang tay hàng độc trong làng giải trí mà ông đã kiểm tra chất lượng xong” cho họ; rằng vân vân và vân vân. Chuyện ông kể có chi là mới lạ, đã vậy tên ông thuộc phường đạo diễn quèn nào đó lạ hoắc nên tôi chẳng mấy quan tâm, vất luôn tấm danh thiếp ông trao và chẳng cần nhớ lời ông tha thiết muốn gặp tôi khi về đến Sài Gòn (để ăn nhậu bằng tiền của tôi), và khinh bỉ bỏ về Thành phố Hồ Chí Minh ngay tối hôm đó trên một chiếc Mercedes màu cà phê sữa do một CEO thuộc nhóm đàn em tự nguyện của tôi bảo tài xế đưa về; nhưng dường như gương mặt Cha Xứ của tôi làm ông tin rằng ông đã được lắng nghe khiến ông vơi bớt tội tình nên lúc ông ngủ dưới ánh nắng gắt xứ miền của biển, tôi thấy gương mặt ông giãn ra, không còn cái cười đểu cáng.

Học vấn thực thụ của người làm phim và học vấn người đóng phim quả không thể không là nguyên nhân của chất lượng tồi tệ của điện ảnh Việt Nam.

4- Học Vấn Những Người Viết Phim

Nội dung này lẽ ra không cần nói đến ở đây vì qua đa số các “tác phẩm truyện phim điện ảnh” của họ, khán giả có thể biết ngay trình độ học vấn của người viết phim đang ở trên hay dưới thang bậc cụ thể nào.

5- Bầu Sữa Bao Dung Vung Vãi Của Nhà Nước

Tương tự, vì kiểu cách duy ý chí, muốn “người có gì, ta có nấy”, nhà nước đã dưỡng nuôi các xí nghiệp phim truyện suốt từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI để có một số phim nhựa cất vào kho, một ít gửi đi tranh giải quốc tế, đem về dăm ba giải thưởng gì gì ấy, còn toàn bộ nhu cầu giải trí hàng ngày của toàn dân thì chính thức – tuy chưa bao giờ tuyên bố bằng văn bản – giao phó trách nhiệm hoàn toàn cho Hàn/Mỹ/Thái/Ấn/Đài/Tàu.

D) Những Điều Việt Nam Có Thể Làm Để Có Một Nền Điện Ảnh Mạnh

1- Học: Tư Cách

Người ta có thể hiểu vì sao văn hóa Hàn Quốc qua điện ảnh đã dậy sóng vỗ khắp bốn bể năm châu, đến độ phim kiếm hiệp Hàn Quốc vượt xa phim kiếm hiệp Tàu-Hồng-Đài (Tàu, Hong Kong, Đài Loan) ở kỹ thuật, cốt truyện, diễn viên; những bộ phim dài nhiều tập thể loại kinh dị đầy tính nhân văn sâu sắc như trên đài KBS hạ bệ toàn bộ phim kinh dị Thái hay Nhật dưới bùn nhơ; phim hành động phản gián dài nhiều tập như Iris hạ bệ Mission Impossible một tập; phim xã hội dài nhiều tập biến phim cùng thể loại của Tàu/Đài/Ấn/Thái trở nên thấp kém tức cười; và phim cổ trang cuốn hút dân Hàn và dân bất kỳ quốc gia nào khác chí ít là ở khu vực Nam Mỹ. Đó là do tư cách tất cả những người tham gia mảng điện ảnh loại “chiếm lĩnh năm châu”, “xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia”, và “chinh phục nhân loại”, tức những chủng loài hoàn toàn vắng mặt trong nội tình kỹ nghệ cũng như năng lực điện ảnh Việt Nam.

Chỉ cần xem chuyên mục giới thiệu những tiểu phẩm 15 phút của dân amateur (không chuyên) trên đài Arirang, do những diễn viên tự phát, những đạo diễn tự phong, những người quay phim tự tiện, theo cốt truyện của những người viết kịch bản tự lo thực hiện – mà tất cả nhiều trăm nhiều ngàn những con người tự tùm lum ấy sau đó không bao giờ thấy xuất hiện chen được chân vào giới điện ảnh chuyên nghiệp – người ta choáng ngợp ngay lập tức trước những điều vĩ đại của các tiểu phẩm amateur ấy: ngôn ngữ điện ảnh bậc thầy (tức lời thoại cực ít, hoặc không có bất kỳ lời thoại nào), diễn xuất bậc thầy (không thể phân biệt giữa họ với các diễn viên lừng danh vì họ khóc thật và làm khán giả khóc thật), cốt truyện bậc thầy (chuyên nghiệp: thắt nút, cao trào, gỡ rối); chuyên nghiệp bậc thầy (toàn bộ câu truyện điện ảnh xúc tích dù chỉ trong thời gian mươi mười nhăm phút), vì tất cả đều trên một nền chung của sự nghiêm túc, chững chạc, thâm thúy, và không cớt nhã. Dân amateur mà như thế, thảo nào dân điện ảnh chuyên nghiệp tạo nên được Làn Sóng Hàn lan tỏa toàn thế giới! Trong khi đó, ở Việt Nam gần như tất cả các tiểu phẩm đều có nội dung cớt nhã, lời thoại ồn ào vô nghĩa, bộ tịch diễn xuất không nghiêm túc, và cốt truyện rẻ tiền, như chùm phim Bộ Tứ 10A8, đặc biệt nghiêm trọng khi đây không phải là đẳng cấp phim tiểu phẩm Hàn Quốc (đầy văn hóa, phi thương mại, bơ vơ chẳng ai đỡ đầu, thực hiện thuần túy do lòng yêu điện ảnh và khả năng thiên phú) mà là phim tiểu phẩm Việt loại thương mại có tài trợ đỡ đầu, do công ty nào đó bỏ tiền thực hiện, có trang web riêng để lăng-xê, nhưng thiếu văn hóa, và dư thừa cớt nhã.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (5)

Điều những người tham gia điện ảnh cần phải học đầu tiên là: học sự nghiêm túc, tác phong nghiêm túc, lời nói nghiêm túc, thể hiện nghiêm túc. Rowan Atkinson là đứa con được cha mẹ dạy dỗ nghiêm túc, là học sinh nghiêm túc, là sinh viên kịch nghệ nghiêm túc, và trở thành diễn viên điện ảnh vang danh hoàn vũ không những trong các phim hài Mr Bean mà còn trong các phim nhựa tầm cỡ khác. Rowan Atkinson nếu là đứa con cớt nhã lúc chập chững biết đi, cớt nhã quàng xiêng suốt các năm tiểu học và trung học, thì không bao giờ là sinh viên kịch nghệ, không bao giờ là danh hài, không bao giờ là diễn viên điện ảnh, mà chỉ có thể là một tên tội phạm quấy rối tình dục mà thôi.

2- Học Nữa: Nhất Nghệ Tinh

Đặc điểm của người Việt là thích chêm tục ngữ hay thành ngữ vào lời nói của mình nhưng không ai thực sự hiểu các câu ấy cũng như muốn mình sống theo các lời nói ấy; chẳng khác gì mọi người từ bậc chính nhân quân tử đến kẻ tiểu nhân thất phu, từ người dân đến các vị chánh án, đều cảm kích khâm phục Bao Công khi đọc truyện Kỳ Án, nhưng không bất kỳ ai – kể cả các vị quan tòa – noi gương Bao Công trong cuộc sống thật.

Nhất Nghệ Tinh, Nhất Thân Vinh là một câu đúng nhất chứng minh giới điện ảnh Việt Nam – qua các tác phẩm điện ảnh của họ – đã chưa hiểu và sống theo sự hiểu ý nghĩa của câu này. Đơn cử phim truyện truyền hình Cảnh Sát Hình Sự như một thí dụ điển hình, người ta dễ dàng nhận thấy “nghề” của người làm phim đã không một chút nào “tinh”, nên chẳng làm lạ nếu “thân” của đơn vị bỏ tiền của ra dựng bộ phim nhiều tập ấy chẳng thể nào “vinh”, qua nhiều thô thiển sau:

a) Trên toàn thế giới tất cả các phim hành động, hình sự, phản gián, hay trinh thám đều có nhạc chủ đề (theme music hay theme song) cực kỳ sinh động, sôi động, sống động, chẳng hạn như theme music của Hawaii Five-O (và Hawaii Five-0), Mission Impossible, CSI, v.v. Phim Cảnh Sát Hình Sự của Việt Nam có một theme music quái gở khi đó là một bản tình ca trầm buồn (trầm uất và buồn ngủ). Vấn đề đã quá rõ: người làm phim không tinh thông nghề làm phim nên đã không biết yêu cầu vô cùng căn bản của âm nhạc đi theo phim; và cũng là do ở Việt Nam có rất nhiều người sử dụng nhạc cụ và viết ca khúc, nhưng không có ai chuyên nghiệp thuộc “nghề” viết nhạc cho phim.

b) Trên toàn thế giới tất cả các phim hành động, hình sự, phản gián, hay trinh thám, đều có nội dung dứt khoát, logic, và đúng môi trường hoàn cảnh của phim hành động, hình sự, phản gián, hay trinh thám, dù đó là phim nhựa Mission Impossible 180 phút chiếu rạp hay là phim truyền hình Mission Impossible dài nhiều trăm tập mỗi tập 45 phút. Trong khi đó, phim dài Cảnh Sát Hình Sự của Việt Nam tuy nêu danh có sự tư vấn của chuyên gia ở Bộ Công An và Cục An Ninh,vẫn phi hành động, phi hình sự, phi logic, phi hoàn cảnh, và phi l‎ý. Tên tội phạm được tô vẽ thành đứa con hiếu thảo. Tên tội phạm được tô vẽ thành một “đại ca” nhân nghĩa hơn cả bọn thảo khấu Lương Sơn Bạc. Tên tội phạm bị truy nã nhưng vẫn để hàm râu dị dạng xồm xoàm dưới cằm trong khi người gầy ốm và mặt xương xẩu, nghĩa là vừa trốn tránh vừa hét to cho mọi người biết rằng ta chính là hắn đây; ấy vậy mà công an các địa phương có y đi ngờ ngờ cực kỳ nổi bật ngoài đường vẫn bó tay không biết để mà đi thong thả đến bắt chứ không cần truy bắt gian nan. Còn khi tên tội phạm bị bao vây, phải tử thủ trong nhà, khiến công an thực hiện điều công an trên thế giới đều làm đó là mời mẹ y đến thuyết phục y ra đầu hàng, để rồi ngay sau đó công an Việt Nam lại thực hiện điều quái gở công an trên toàn thế giới không bao giờ làm là nắm tay kéo bà mẹ lại, rót vào tai bà mẹ ấy rằng “đừng đi mẹ ơi, vào đấy nguy hiểm lắm!” Vấn đề đã quá rõ: người làm phim không tinh thông nghề làm phim hình sự nên đã lẫn lộn thành nồi cám của phim tình cảm lâm ly bi đát (dùng theme music trầm buồn), trộn với phim kiếm hiệp (đại ca phạm tội nhưng là đấng anh hùng), phim giáo dục (đại ca phạm tội chỉ tại do hoàn cảnh chứ nhân chi sơ, tính bản thiện), phim tôn giáo (cả đại ca phạm tội và công an đều từ bi như Phật), và phim hài (đại ca có tiếng hiếu thảo, nhưng công an vẫn cản mẹ lại, không cho mẹ vào thuyết phục đầu thú dù đã cất công đi về tỉnh xa chở mẹ đến tận hiện trường, vì sợ đại ca làm thịt mẹ già chăng).

Phải Nhất Nghệ Tinh mới không có các điệp khúc hễ là tội phạm hay đĩ điếm thì tự động đều có hoàn cảnh đáng thương và toàn là người tốt, khiến phim phản nghệ thuật và phản giáo dục do gây lệch lạc nơi giới trẻ khi không còn đường ranh cực kỳ rõ nét giữa hai nẻo chánh tà.

Phải Nhất Nghệ Tinh mới không có các điệp khúc hễ làm phim thời mở cửa là phải có cảnh mở bung hay xé tung quần áo để làm tình hay hiếp dâm, phải ăn mặc giống diễn viên Hàn Quốc (nam mặc áo thun ba lỗ bên trong, ngoài mặc sơ mi không cài khuy), phải lái xe hơi hay nghèo lắm cũng phải ngồi trên xe tay ga, phải cõng bạn gái dù nam thanh niên người Việt còn khuya mới có sức cõng được bạn gái, phải lựa toàn cảnh nhà sang trọng, v.v.

Phải Nhất Nghệ Tinh mới không có các điệp khúc hễ làm phim cổ trang là không biết phải cho diễn viên ăn mặc quần áo ra sao.

3- Học Thêm Nữa: Chọn Thầy

Một điều kỳ quặc nơi một số đông người làm phim Việt là luôn nói ham học hỏi trong khi thích chê bai những ai giỏi hơn mình. Cụ thể: phim Hàn bị số đông người làm phim Việt mỉa mai là toàn bịnh ung thư, trong khi chính người mỉa mai mới đã phạm một điều cấm kỵ mang tính nhân văn và nhân đạo. Ung thư là những chứng bịnh quái ác khoa học hiện đại vẫn còn bó tay, cướp đi sinh mạng bao người, để bao tiếc thương, tang tóc cho người ở lại. Làm phim trên chủ đề ấy cũng là hành vi nhắc nhở cuộc sống con người mong manh, và hạnh phúc cũng mong manh với căn bịnh quái ác ấy, để thấy con người vẫn chưa tập trung toàn lực chữa trị hiệu quả, để con người nhận thức bao điều qu‎ý báu không được lơ là đối với người thân và hạnh phúc đang có. Thậm chí vấn đề ô nhiễm của môi trường tàn tạ còn có thể gây ra những chứng ung thư mà trước đây chưa hề có. Thay vì học hỏi cách khai thác đề tài của điện ảnh Hàn Quốc để được như họ trong chinh phục thế giới, người ta chê bai, dè bỉu, dựa vào hư cấu của phim xã hội Hàn để nói xạo rằng dân Hàn hay bị ung thư, mà không nghĩ rằng dân Hàn cũng có thể xỏ xiên phản công lại rằng họ dựa vào sự thật là người Việt đa số không đứng lâu được, chuyên ngồi khi dự tiệc buffet, chuyên ngồi bệt ở phi trường khi chờ đón người thân, chuyên dành chỗ ngồi ở mọi nơi, để nói đúng rằng dân Việt bị suy thận và yếu sinh lý.

Điện ảnh Việt Nam phải chọn đúng Thầy để học. Điện ảnh Mỹ là người Thầy quá vĩ đại để Việt Nam có thể học hỏi gì được. Điện ảnh Ấn Độ đã tắt ngúm hào quang. Điện ảnh Tàu chỉ giỏi lâu lâu có một phim nhựa đoạt giải linh tinh gì đó chứ phim toàn bọn cạo đầu gióc tóc ăn vận xấu xí không bằng sự trang nhã của cổ trang Hàn, kiếm hiệp phi logic thua kiếm hiệp Hàn, tình cảm xã hội không sâu sắc và kém giáo dục hơn phim Hàn, nên không đáng để Việt Nam phải học hỏi.

Hàn Quốc là một nước “tư bổn tự do”, nên phim của họ thượng vàng hạ cám, có cả phim đồi trụy dâm ô. Song, họ phân định rạch ròi giữa hai lĩnh vực: điện ảnh cho giải trí tự do nội địa, và điện ảnh cho việc xây dựng thương hiệu quốc gia văn hóa bên ngoài cương thổ quốc gia. Từng hãng phim, đạo diễn, diễn viên, biết họ phải làm gì cho mặt trận thứ hai này: các diễn viên “tài sắc vẹn toàn” giữ gìn không để có các scandal, trở thành đại sứ văn hóa, được yêu thích ở các nước; các nhà làm phim luôn đem yếu tố tự hào dân tộc thực thụ vào từng bộ phim qua sự trau chuốt ngôn từ, trau chuốt cốt truyện, trau chuốt từng cảnh trí, đặc biệt chiếm số lượng đông đảo người xem trên thế giới bằng cách không bao giờ có các cảnh trần truồng gợi dục khiêu dâm (các bậc cha mẹ các châu lục yên tâm chọn cho cả gia đình xem nên số lượng viewers gia tăng, đồng nghĩa với việc nhiều người biết về Hàn Quốc và văn hóa Hàn Quốc hơn, từ đó phát triển kinh tế Hàn Quốc mạnh hơn do hàng hóa Hàn Quốc được quan tâm hơn, số lượng du khách đến Hàn Quốc nhiều hơn), thậm chí họ còn cố tình quay những cảnh nhân vật trong phim tình cảm xã hội đầy ướt át của họ cứ hễ hôn nhau là phải trong dáng vẻ cực kỳ ngượng nghịu, chỉ chạm nhẹ môi, không đúng thực tế, khiến gây thích thú nơi viewers (trong khi phim Việt có nội dung hoàn toàn không giống thực ở bất kỳ điểm nào, nhưng diễn viên Việt hễ diễn cảnh hôn là phải mạnh mẽ khí thế hơn cả Tây cho…trung thực, sau đó còn khoe trên báo chí là bản thân đã hôn rất thật, thậm chí còn khoe rằng cảnh quay truồng là cảnh do chính mình đóng thật chứ không nhờ người đóng thế, ắt do người đóng thế có mông không thể to đẹp mịn quy mô bề ngang bề dày hoành tráng như mình).

Tóm lại, người Thầy cho điện ảnh Việt Nam là Hàn Quốc. Chưa học được tư cách vì danh dự quốc gia, vì tôn vinh văn hóa nước nhà như người Hàn thì điện ảnh Việt Nam chưa thể thành danh điện ảnh.

4- Học Mãi: Học Đúng

Điểm cuối cùng song không kém phần quan trọng là điện ảnh Việt Nam cần học đúng. Không thể có chuyện “đi tắt đón đầu” trong phát triển điện ảnh Việt Nam. Mọi cấp độ đều nhất thiết phải theo những giai đoạn bó buộc. Bỏ qua tất cả các trường lớp ở mẫu giáo, tiểu học, trung học, và cao học để lấy ngay bằng cấp tiến sĩ là chuyện khôi hài, vì rằng dù có thực tài đạt được tiến sĩ thì đó vẫn là một người unfinished do thiếu kiến thức chung, kiến thức văn hóa, kiến thức ứng xử, kiến thức đời sống và cả kiến thức công dân. Tương tự, một bộ phim đoạt một giải thưởng lớn không có nghĩa đất nước ấy có nền điện ảnh lớn.  Học đúng trong trường hợp này có nghĩa là:

a) Đầu tiên phải học như học ngôn ngữ: đạt trình độ ngắn gọn và súc tích. Điện ảnh Việt Nam cần phải tập trung xây dựng cho bằng được ngành kỹ nghệ mà cho đến tận ngày nay vẫn hoàn toàn vắng bóng tại Việt Nam: phim truyện truyền hình kiểu series, nghĩa là như Hawaii Five-0, như Bonanza, như Mos Squad, như The Wild Wide West, như CSI-Miami, như CSI-New York, như CSI-Las Vegas, như bất kỳ phim truyền hình nào trên thế giới văn minh từ thập niên 50 của thế kỷ trước đến nay;  nghĩa là theo kiểu “một phim truyện có hàng trăm tập, mỗi tập là một truyện hoàn chỉnh từ đầu đến kết thúc trong thời gian chính xác 45 phút cho mỗi tập”. Chỉ khi đạt trình độ viết văn ngắn gọn súc tích, người ta mới hoặc tiếp tục ngắn gọn súc tích hoặc tràng giang đại hải vì lúc đó cả hai đều ở đẳng cấp viết văn cao nhất. Chỉ khi đạt trình độ làm phim truyện truyền hình series (ngắn gọn súc tích), người ta mới hoặc tiếp tục ngắn gọn súc tích (tiếp tục làm phim series) hoặc tràng giang đại hải (chuyển sang hoặc phim nhựa 180 phút, hoặc phim truyền hình dài/phim bộ) vì lúc đó cả hai đều ở đẳng cấp làm phim cao nhất.

b) Điều tiếp theo là làm phim như vẽ một bức tranh hoàn chỉnh: không ai vẽ chỉ ¼ khổ giấy trắng và bỏ trống ¾ còn lại. Phim phải có âm nhạc riêng: một bức tranh không được tạo nên bằng cách cạo lớp sơn trên tranh khác để rắc lên tranh mình. Phim phải có âm nhạc phù hợp: một bức tranh tuyết giá vùng Siberia khắc nghiệt không được vẽ nên với hoa hướng dương vàng chóe và hoa tuy-líp đỏ rực đến tận chân trời, với tiếng vịt kêu cạp cạp, tiếng ễnh ương kêu oàm oạp, và tiếng hò dô ta kéo lưới của dân chài Việt Nam. Và phim phải có mọi thứ phù hợp với nội dung truyện phim, kể cả con người cùng mọi thứ dính đến con người đó.

c) Điểm thứ ba là không có một công thức cho điện ảnh, dù cho tất cả đều là điện ảnh. Những công thức số học hay đại số, những vấn đề lượng giác hay những ký hiệu tân toán học, những phức tạp của hình học phẳng hay hình học không gian không dùng lẫn với nhau dù chúng đều là toán học. Hàn Quốc đã cho thế giới điện ảnh một bài học tuyệt mỹ: không phải lúc nào cũng phải có chính diện và phản diện, như bức tranh buộc có sắc màu tối sáng, vì rằng bức tranh đẹp có thể chỉ qua nét vẽ tài hoa của một họa sĩ hình thành kiệt tác chỉ với hai màu đồng sắc. Cụ thể: phim truyện nhựa The Classic của Hàn Quốc không có bất kỳ một vai phản diện nào, với câu truyện tuyệt đẹp, cảnh trí tuyệt đẹp, diễn viên tuyệt đẹp, âm nhạc tuyệt đẹp, thấm đầy đau thương, nghịch cảnh, oái oăm, và nước mắt, trở thành cuốn phim kiệt tác giới trẻ Việt Kiều tìm mua để xem suốt hơn một thập kỷ qua.

d) Điều thứ tư là các đạo diễn tương lai nên dành thật nhiều thời gian để xem phim “nhỏ” đại loại như CSI Hawaii Five-0 trên đài AXN để hiểu thế nào là một phim hình sự và thế nào là phim series Mỹ – tuy bây giờ mới xem vì chưa hiểu gì cả thì đã quá muộn rồi. Các vị cũng nên dành nhiều thời gian xem phim dài Hàn Quốc kiểu trường thiên tiểu thuyết trên đài KBS hay Arirang hay trên đa số các đài Việt Nam để hiểu thế nào là lèo lái thị hiếu theo cách văn hoa nhất, văn hóa nhất, và văn minh nhất hầu đạt lợi nhuận cao nhất và lợi ích quốc gia nhiều nhất, cũng như để phát hiện rằng các series phim truyền hình Mỹ và các phim trường thiên Hàn không bao giờ để nữ diễn viên của họ để lộ vú cả, nói chi đến chuyện động cỡn làm tình.

e) Điều cuối cùng là các đài truyền hình giải trí Việt Nam phải tự nâng cấp mình lên như các đài AXN, HBO, hay Star Movies, v.v., nghĩa là mỗi đài giải trí trở thành một thế lực điện ảnh riêng, góp phần vào việc phát triển nền điện ảnh chung của nước nhà. AXN xây dựng phim của riêng họ, game show của riêng họ, và họ làm giàu từ số lượng khán giả đông đúc đăng ký thuê bao cáp. AXN quảng cáo các phim của họ trên AXN, và dành cực kỳ ít thời gian cho quảng cáo của dăm ba công ty bên ngoài với điều kiện đó là những công ty có tài trợ cho các game show của chính AXN. Trong khi đó, nhiều chục đài truyền hình được thành lập ở Việt Nam chỉ để phát hình nhiều phim nước ngoài chất lượng “được” và vài phim Việt Nam chất lượng “không được”, dành trọn sóng phát để vô số công ty bên ngoài quảng cáo hàng hóa trong khi bản thân các đài không chịu trách nhiệm gì về chất lượng các hàng hóa rao bán ấy. Các đài truyền hình Việt Nam do đó đứng bên ngoài việc góp phần khuếch trương ngành điện ảnh Việt Nam.

Học đúng những điều trên, điện ảnh Việt Nam sẽ tự khẳng định mình, và nhà sản xuất phim không cần phải nhờ một ca sĩ xuất hiện nhảy múa cuối mỗi tập (dù chẳng đóng vai gì trong phim ấy) để hy vọng các fan ái mộ của ca sĩ ấy sẽ đón mua DVD hay đón xem đài Truyền Hình Vĩnh Long.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (3)

5- Khán Giả Cũng Học: Sang Cả + Hà Khắc + Thị Uy

Điện ảnh nước nhà sẽ có cơ phát triển thật sự nếu như khán giả thật sự sang cả, vì chỉ có sang cả, khán giả mới hà khắc và thị uy quyền lực của mình trong việc buộc nhà làm phim và diễn viên phải đáp ứng yêu cầu thật cao của mình đối với các sản phẩm điện ảnh. Khán giả nuôi sống điện ảnh chứ không nhận của bố thí của điện ảnh; do đó, khán giả có uy quyền tuyệt đối để trừng trị những yếu kém của các công ty sản xuất phim mà những yếu kém ấy đồng nghĩa với sự vi phạm đạo đức kinh doanh khi xem thường những người nuôi sống mình.

Khán giả cần nhận thức rõ uy quyền của mình để biết cách thị uy. Càng sang cả, yêu cầu phải càng cao. Thể hiện sự hà khắc để tương thích với uy thế sang cả. Và thị uy là cung cách tưởng thưởng hay trừng phạt mà người nuôi sống điện ảnh dành cho người nhận sự nuôi sống đó.

E) Kết Luận: Hawaii Five-O và Hawaii Five-0

Hawaii Five-O và Hawaii Five-0 cho thấy giá trị vững bền của giá trị đích thực, cho dù khoảng cách là nửa thế kỷ. Điện ảnh Việt Nam đã sai lầm khi không đầu tư nghiêm túc vào phân khúc phim truyện truyền hình series, chỉ biết chú mục vào những phim truyện nhựa hữu danh vô thực. Điện ảnh Việt Nam chỉ còn con đường được lót bởi 5 điều nêu trên, đồng thời kiếm xem có gói “ba trong một” như đã nêu về Mỹ hay không, mới có thể trở thành sự tồn tại đúng nghĩa, hữu dụng, và sinh lợi trong vẻ vang.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Đức Ngài Jimmy SavilleNỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt  2013.

 

Advertisements

Hoàng Hữu Phước Và Tôn Giáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-10-2017

Dẫn Nhập

Có hai thứ tự do luôn gặp sự cố: tự do tư tưởngtự do ngôn luận hay biểu đạt.

Tự do tư tưởng luôn bị đa số nhân loại bỏ quên đến độ chẳng hề cổ súy, ít sử dụng đến độ bản thân mụ mị, thậm chí chưa từng nghĩ rằng đó là thứ tự do có thật để nói về nó, nhớ đến tên nó, hoặc chứng thực nó có thiệt. Tự do tư tưởng luôn là hành trạng tư duy vượt-ra-ngoài-chiếc-hộp của những triết nhân, những vĩ nhân, những trí nhân, và những đạt nhân. Karl Marx là con chiên ngoan đạo, không bao giờ vắng mặt tại những buổi lễ cầu kinh hàng tuần ở nhà thờ; và tự do tư tưởng đã giúp ông hình thành những đại tác phẩm của muôn đời mà thậm chí thiên hạ còn ngu muội đến độ cho rằng ông là kẻ vô thần phản Chúa. Tự do tư tưởng là quá trình tư duy hoặc trong khuôn khổ, hoặc vượt ngoài khuôn khổ, hoặc trộn lẫn các khuôn khổ, hoặc hủy phá biến tan khuôn khổ, hoặc không hề lọt thỏm trong khuôn khổ bất kỳ. Tư duy là suy nghĩ, nhưng suy nghĩ chẳng bao giờ được mặc định là cách gọi khác của tư duy. Tự do tư tưởng đã đem đến cho nhân loại những kiệt tác mỹ thuật, học thuật, khoa học, công nghệ, v.v.

Trong khi chẳng hiểu gì hoặc chẳng hiểu gì đúng về tự do tư tưởng, thiên hạ dù ở nước siêu cường hay lạc hậu lại tự cho rằng bản thân rất rành rọt về tự do ngôn luận hay biểu đạt để rồi hoặc ngây thơ hoặc giả dại hoặc ngu đần cho rằng đó là muốn nói gì thì cứ nói, muốn làm gì thì cứ làm. Chính vì vậy mà cái chất liệu luôn có trong tự do ngôn luận hay biểu đạt gồm những ngây thơ/giả dại/ngu đần ấy đã đem đến xã hội loài người những xáo loạn, những xảo biện, những xạc xào nhớn nhác của những gói phạm trù như “phạm thánh”, phạm luật, và phạm tội. Kẻ ngu tự tiện vác “Thánh Kỳ Vatican” để xuống đường gây rối mà chẳng biết Thánh Kỳ không được phép lộ trần (xuất hiện nơi trần tục bên ngoài Nhà Thờ), và rằng Thánh Kỳ không thể tùy tiện tự chế lúc thì màu trắng nằm trên, lúc thì màu vàng nằm trên, lúc thì có thánh giá đỏ lòm ở giữa, cũng như không được phép tung phất Thánh Kỳ ngoài dọc đường gió bụi cứ như phất cờ trên sân bóng đá hay sân đua Formula One Thể Thức Một, cũng như không được cắm sau xe máy để “Thánh Kỳ” phần phật đập quấn ép vào đôi mông con chiên nữ ngồi sau. Bọn ác tu thì tự do ngôn luận hay biểu đạt bù lu bù loa về một Nhà Nước đàn áp tôn giáo. Còn kẻ ngu đồ thì tự do ngôn luận hay biểu đạt mồm loa mép dãi ra sức bóp miệng một cá nhân nào đó bằng băng keo in nhãn hiệu “phạm thánh”.

Trong khi đó, “tôn giáo” lại thuộc bảy kiểu hành xử văn hóa hoàn toàn độc lập với nhau gồm (a) các gia đình và các cá nhân văn hóa cao, tri thức cao, đều chủ động dạy dỗ con cái mình biết tôn trọng các tôn giáo khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, tín đồ khác nhau, cũng như sử dụng tự do ngôn luận về đề tài tôn giáo với đúng người nghe; (b) các gia đình và các cá nhân khôn ngoan đều chủ động dạy dỗ con cái mình không bao giờ được mở miệng thực thi tự do ngôn luận về đề tài tôn giáo; (c) các gia đình và các cá nhân khôn ngoan đều chủ động dạy dỗ con cái mình biết láu cá sử dụng tự do ngôn luận để bù lu bù loa tuyên bố bản thân bị đàn áp tôn giáo bởi chính phủ mình đang chống đối; (d) các tu sĩ hổ mang giỡ trò láu cá sử dụng tự do ngôn luận để bù lu bù loa tuyên bố bản thân bị đàn áp tôn giáo bởi chính phủ mình đang chống đối; (e) các chính phủ siêu cường tương tự Mỹ luôn có vũ khí luật pháp mạnh mẽ hiệu quả để bắt trói giải đi ngay các tu sĩ nào xuống đường biểu tình dám bất tuân yêu cầu giải tán của cảnh sát; (f) các chính phủ nhược tiểu thì với vũ khí luật pháp nhụt cùn luôn run rẩy như gà mắc tóc mỗi khi bị bọn tu sĩ biểu tình ra mặt chống đối; còn (g) bọn giáo gian hay dùng từ “phạm thánh” để chụp mũ người nào dám vạch trần cái sự giáo gian của mình.

Cũng vì quá run sợ trước chiêu trò chụp mũ “phạm thánh” của bọn giáo gian, tác giả bài viết này phải cẩn trọng tỉ tê dẫn nhập dài dòng như trên và tỉ tê thố lộ dòng dài như sau để được những người chống Cộng tức chống Việt và các tu sĩ cùng giáo dân cho phép sử dụng tự do ngôn luận hay biểu đạt mà họ cho là thứ mà Thượng Đế chỉ ban riêng cho họ mà thôi chứ không là thứ mà Hiến Pháp của cái Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này minh định như quyền công dân.

Thố Lộ

Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao lùn tức dwarf star nên ánh sáng lu mờ khiến mắt thì cận thị nặng, thân thì chịu lắm gian truân đi đến đâu là bị “đì” tức “đè đầu cưỡi cổ” cho lùn thêm đến đó dù đi lạc vô chốn môi trường giáo dục nước nhà đầy nhóc viên phấn vàng hay chúi nhũi vô cơ quan nhà nước đầy các quan đại tài cử đỉnh bạt sơn tức bưng đỉnh vàng về biệt phủ và làm sụt lún sạt lùn hết mấy núi non vàng.

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi, Má tôi theo chồng lên Sài Gòn lúc nhúc sậy lau lập nghiệp. Một hôm Ba tôi từ cơ quan là Công ty Moistessieurs của Pháp Lang Sa đạp xe về đến nhà định bước tới ôm chầm người vợ đang bụng mang dạ chửa thì không ngờ người vợ ấy cũng đang dấn thân bước đến ôm chồng theo kiểu Tây không ngờ trượt chân vì sân xi măng ướt ẩm do nước giặt gyạ (chứ chẳng phải triều cường Nguyễn Hữu Cảnh bị máy bơm khủng ngắc ngứ gây ngập lụt). Ba tôi lập tức kêu phu xe kéo đẩy đưa Má tôi đến bảo sanh viện gần đó của người Pháp (hình như là nơi sau này là bảo sanh mang tên Hồng Đức trên đường Cao Thắng, Quận 3) cấp cứu. Thấy sản phụ máu me đầy người, vị bác sĩ Pháp vội xua tay đuổi ra vì không muốn bịnh viện ô danh. Lập tức phu xe đẩy má tôi đi chéo sang bên kia đường đến nhà bảo sanh “thí” dành cho phụ nữ nghèo hoặc phụ nữ không chồng mà chửa (nay là Bịnh Viện Phụ Sản Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh) là nơi duy nhất nhận mọi trường hợp hoặc cấp cứu hoặc thầy chạy.

Screen Shot 10-23-17 at 10.12 PM

Khi nghe xướng tên mẹ tròn như bánh dầy con vuông như bánh chưng, Ba tôi mừng rỡ chạy vào ngắm đứa đứa con trai đầu lòng vàng ngọc, nhưng lại lật bật quay ra ngồi bệt xuống hành lang mà khóc, trách trời xanh sao nỡ hẹp dạ thế kia. Đứa con trai vàng ngọc ấy do từ sự sảy thai của mẹ, chưa đầy 7 tháng tuổi đã buộc ra đời, nên hình dong một dúm, đầu nhỏ như trái chanh thuần Việt, da nhăn nheo mỏng dính như màng trong suốt gói thức ăn cất tủ lạnh nên ai cũng nhìn thấy cả phèo phổi ruột gan đỏ đỏ đen đen. Đặc biệt phản khoa học do không mở mắt chào đời và không hề khóc để thở sau khi lọt lòng mẹ. Cái duy nhất cản ngăn cô y tá không lấy giấy báo gói đứa hài nhi ấy lại để xếp gọn vào thùng gỗ chung với mấy gói khác đem đến kho thiêu hủy chung là vì qua làn da mỏng manh ấy cô thấy một trái sê-ri đỏ hỏn vẫn đang khoan thai lâu lâu nhúc nhích bơm đập một lần. Từ mép thùng chung chạ, đứa hài nhi ấy được đặt riêng vào chiếc lồng ấp duy nhất của Từ Dũ để tiếp tục tự nhúc nhích tìm sự sống. Nhờ vậy mà từ cái tên đặt sẵn từ trước là Hoàng Ngọc Ẩn thật anh hùng hảo sảng phỏng theo nhân vật trừ gian diệt bạo trong tiểu thuyết Châu Về Hợp Phố của Phú Đức, Ba tôi đổi tên thằng nhóc đó thành Hoàng Hữu Phước.

Nghe tin tai nạn, Bà Ngoại tôi từ Trà Ôn đi ghe lên Sài Gòn ngay để chăm sóc mẹ tôi và tôi khi Từ Dũ bảo Ba tôi là không thể để Má tôi nằm hoài ở đó chiếm chỗ người nghèo. Bà Ngoại ngày đêm châu rơi lả tả, cầu khấn Phật Bà Quan Âm cứu nhân độ thế phù hộ cho mẹ tôi và tôi được nạn khỏi tai qua.

Thủa ấy, khu Bàn Cờ chưa định hình, nhà cửa lác đác thớt thưa. Có một nữ tu viện Công Giáo gần đấy và là dãy nhà gỗ duy nhất cao một tầng, sơn màu xanh lá cây, không có bảng ghi tên gì cả. Biết tin Má tôi được đưa về nhà, hai nữ tu (gọi là hai bà “sơ”) đến thăm với nghĩa hàng xóm láng giềng. Các “sơ” nói với Ba Má tôi rằng Má tôi vẫn đang ốm nặng, mà cứ nhìn thấy tôi trong tình trạng dật dờ như thế càng thêm rầu buồn đau khổ càng có hại cho sức khỏe, nên xin gia đình hãy cho các “sơ” đem tôi về tu viện để chăm nom hộ, để – theo lời “sơ’ mà Má tôi vẫn còn nhớ rõ – nếu như đứa bé không được sống làm con của ông bà thì hãy để cho nó được ra đi dưới mái nhà của Chúa. Thế là đã có một điều bí mật cho đến tận ngày nay: không rõ các nữ tu đã cho tôi bú gì, uống gì, chăm sóc ra sao, nguyện cầu những gì với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mà nhiều tháng sau, lúc tôi được các “sơ” bế về giao lại, thì tôi đã có đà theo đó mà nhảy vọt để rồi một lèo tiến nhanh tiến mạnh trở thành người cao nhất nhà (1m70), đầu to nhất nhà (Ba tôi mà tự một mình đi mua nón cho tôi là chẳng bao giờ tôi đội vừa), dũng cảm nhất nhà, hùng hục nhất nhà, và …nặng cân nhất nhà (lúc “hoàng kim” nặng 84kg trừ bì, lúc “suy thoái” thì 70kg chưa trừ bì).

Thời gian căng thẳng đầy nhang khói nguyện cầu Phật Bà Quan Âm Cứu Khổ Cứu Nạn của Bà Ngoại tôi và lời cầu nguyện Đức Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp của các “sơ” đã hình thành nơi Ba Má tôi sự thờ kính hết lòng dành cho Phật Bà Quan Âm và Đức Mẹ Maria, khiến Ba Má tôi từ thuần thờ tổ tiên và thiên về Phật Giáo đã có cái nhìn rộng mở cõi lòng đối với các tôn giáo khác, đặc biệt là Đạo Chúa.

Thế là khi Chị Hai của tôi và tôi lên trung học, Ba Má cho chúng tôi học ở trường Nguyễn Bá Tòng (nay là trường Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) của Công Giáo để con cái được tốt hơn dưới ngọn roi của các hiệp sĩ áo đen. Tôi học giáo lý rất chăm (vì thích xem phim về Chúa) nên các Lớp 6 tức Đệ Thất dự học Thánh Kinh Cựu Ước, Đệ Lục tức lớp 7 dự học Thánh Kinh Tân Ước, Đệ Ngũ tức lớp 8 dự học lớp Phụng Sự, Đệ Tứ tức lớp 9 dự học lớp Đức Tin, thì lớp nào chị em tôi cũng đoạt Bằng Giáo Lý Toàn Niên Hạng Nhất được giảm 50% học phí niên học sau, kèm với lớp nào chị em tôi cũng có Bằng Danh Dự Toàn Niên Hạng Ưu được giảm 50% học phí khóa sau, nên năm học nào chúng tôi cũng được học miễn phí 100%, trừ tháng đầu tiên phải đóng đủ vì trường chưa kêu nộp bản sao hai “bằng” ấy để bắt đầu “hưởng chế độ”.

Một hôm, Chị Hai tôi lúc lên lớp 10 tức lớp Đệ Tam về thỏ thẻ xin Ba Má tôi cho vô đạo. Thế là Má tôi nói “ừ, đạo nào cũng là đạo tốt” rồi cầm chổi lông gà, leo lên ghế quét bụi đầu tủ quần áo vốn là nơi cao nhất làm bàn để thờ chư Phật. Khi Chị Hai tôi đem về tượng Chúa Jesus, Má tôi đặt tượng Chúa giữa tượng Phật Thích Ca ngồi và tượng Phật Bà Quan Âm đứng. Má chỉ nói: “Chúa của mầy đứng giang tay choáng chỗ quá! Tay phải gác lên đầu Phật Ông, tay trái quạt vô ngực Phật Bà!” Và trong nhiều chục năm, hàng đêm hoặc Má tôi hoặc Ba tôi thắp nhang cho Phật, Chúa, và ông bà tiên tổ, để rồi hơn chục năm sau Chị Hai khoe….Tòa Thánh Vatican cho phép tín đồ được đốt nhang cho Chúa. Rốt cuộc, nhà tôi có Chị Hai và một em gái trở thành tín đồ Đạo Chúa: một Công Giáo, một Tin Lành, một chủ động xin theo đạo, một theo đạo chồng. Còn tôi học xong các lớp về “đạo”, luôn là ngôi sao mà các linh mục vừa quất roi vun vút vào mặt những nam sinh có đạo nhưng bê bối ít điểm môn Giáo Lý, vừa nêu tên tôi ngoại đạo nhưng trở thành tấm gương, thế nhưng tôi vẫn duy trì “thờ tổ tiên” chứ dứt khoát không vào “đạo” dù đó là Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, hay Hồi Giáo. (Ba Má tôi có tự đến Chùa Phước Trường ở khu Bàn Cờ để tự xin cho tôi quy y Tam Bảo, mang pháp danh An Thiện mà tôi chẳng bao giờ dùng làm bút hiệu; còn nữ tu viện Công Giáo đã nói ở trên thì bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm lấy giao cho trường Phan Đình Phùng lập thành khu phụ bên cánh trái cách khu trường chính bằng một ngõ hẻm, nay được xây khang trang và vẫn là một cánh của trường Phan Đình Phùng ngày nay).

Lý do tôi không vào “đạo” vì tôi nhận ra những điều trái với đạo đức thuần Việt không thể chấp nhận được trong Kinh Thánh. Và đó là “tự do tư tưởng” của tôi. Chưa từng có bất kỳ ai nghe tôi lạm dụng “tự do ngôn luận và biểu đạt” để bô bô cái miệng nói ra chi tiết những “tự do tư tưởng” chõi lại Kinh Thánh ấy. Tôi chỉ biểu hiện lồ lộ ra ngoài một thứ thiên vị mà ai cũng dễ dàng nhận thấy: tôi chỉ thân tri kỷ với mỗi một anh bạn ở đại học rất lương thiện là người Công Giáo mà vợ chồng tôi đều thân quen còn vợ chồng anh ây tỏ bày muốn được kết thông gia chỉ với tôi người ngoại đạo, tình yêu đầu đời còn gắn bó duy nhất trong tâm tưởng tôi là cô bạn học người Công Giáo thánh thiện thơ ngây trong sáng trường Nguyễn Bá Tòng, và tôi dành sự thương yêu chăm sóc nhiều hơn cho đứa em gái Thứ Sáu cùng Chị Hai của tôi đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Khi làm Giám Đốc Nhân Sự một công ty Bắc Mỹ có 500 nhân viên và 7.000 đại lý, có lần tôi được cô trợ lý báo cáo rằng có một nữ đại lý chờ gặp tôi cả buổi sáng không gặp được do tôi đi thị sát Văn Phòng Đồng Nai đến chiều mới về nên đã để lại tờ giấy ghi như sau: “Thầy ơi, cứu em với Thầy. Em là……., tổ trưởng đại lý số ….số phone……Một khách hàng của em là nữ tu …… ở Nhà Thờ ….. Nữ tu ấy muốn bỏ đạo vì có những khúc mắc không hiểu được khi đọc Kinh Thánh, mà hỏi các Cha thì ai cũng mắng sơ ấy là không có đức tin, là quỷ ám, v.v. Thầy chịu nói chuyện với sơ ấy nhe Thầy, để giúp sơ hiểu. Chứ em có đạo mà trong đạo không có ai giúp em được hết.” Tôi phone yêu cầu cô đại lý tín đồ Công Giáo ấy khẳng định cho tôi biết cô nữ tu Công Giáo kia thật lòng muốn bỏ đạo hay muốn ở lại với đạo, vì tùy vào mong muốn ấy mà tôi sẽ hùng biện để cô bỏ đạo trở về đời sống dân sự hoặc hùng biện để giải tỏa bất kỳ khúc mắc nào của cô khi đọc Kinh Thánh hay đối với các vấn nạn trong cuộc đời thực. Thế là hai hôm sau cô đại lý đưa cô nữ tu ấy đến gặp tôi tại phòng làm việc ở cơ quan. Sau khi giới thiệu xong, cô đại lý ra ngoài chờ đợi. Trong hai tiếng đồng hồ trò chuyện với cô nữ tu trẻ, gầy, thấp người, nói tiếng Miền Nam, bẻn lẻn như xấu hổ về cái “thiếu đức tin” của mình trước một người ngoại đạo xa lạ mà cô buộc phải gặp do sự thuyết phục đầy chất quảng cáo ngợi ca của cô đại lý, tôi đã lần lượt giải thích cho cô mọi câu hỏi “tại sao” của cô, cũng như giải thích những tình tiết nào đó của Kinh Thánh, chỉnh lại các trả lời không logic của các “cha”, nêu vì sao các “cha” né tránh, giải đáp lý do có hành vi xấu hổ nào đó của linh mục “bề trên” của cô, hay những bất công của Giáo Hội đối với nữ tu mà cô bức xúc, cũng như câu hỏi cực kỳ tế nhị của cô  “em cứ bất mãn với hiện trạng của Nhà Thờ như vậy thì em có nên rời đi không Thầy?”, v.v.

Kết quả là sau đó cô đại lý cảm ơn tôi rối rít vì vị nữ tu tiếp tục toàn tâm hiến dâng cuộc đời vì Đạo Chúa.

Còn khi tôi làm giáo viên Anh Văn ở Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, xã hội có xảy ra việc gây rối phản loạn phản động của một hay hai thằng linh mục nào đó muốn lật đổ chế độ. Thế là lãnh đạo Khoa Ngoại Ngữ vốn toàn là “trí thức chế độ cũ học ở Mỹ” đã nhanh nhảu lập đại công bằng cách đình chỉ giảng dạy giáo viên Anh Văn Nguyễn Thi Vinh vì cô là tín đồ Công Giáo. Cô Vinh đã tìm gặp tôi ở sân trường vào giờ giải lao để…khóc. Cô khóc vì cô sợ. Cô khóc vì cô đơn. Cô cô đơn vì là một phụ nữ đơn thân đi dạy học nuôi một đàn cháu là con cái của các em, cô lại sắp nghỉ hưu đang không biết phải sở xoay ra sao cho cuộc sống một đại gia đình đang nương náu cùng cô tại căn nhà mặt tiền đường Trần Bình Trọng ở Quận 5. Cô cô đơn vì mọi giáo viên đồng nghiệp với cô học chung ở Mỹ về dạy từ trước giải phóng nay lại hèn hạ xa lánh cô như thể cô là thứ dịch bệnh mà họ không muốn bị vạ lây. Cô cô đơn vì mọi giáo viên đồng nghiệp trẻ mới về trường đã biết khôn ngoan nịnh bợ lãnh đạo để xa lánh dè bỉu cô dù khi họ mới về thì cô đã là người dẫn dắt để họ thử việc thành công trở thành giáo viên biên chế chính thức. Thế là tôi an ủi cô rồi về nhà cặm cụi viết thư tay gởi khắp nơi, van xin Nhà Nước hãy có các chính sách tôn giáo phù hợp vì tội ai người đó chịu chứ đừng quy chụp một tôn giáo nào là đối nghịch với chế độ, vì chỉ có tu sĩ gian manh khốn nạn mới chống đối chế độ dựa trên những xảo trá không bao giờ có ghi trong Thánh Kinh hay kinh kệ. May mà trong số các cơ quan tôi gởi thư đến, thì Báo Sài Gòn Giải Phóng có thư viết tay phúc đáp ký ngày 26-11-1988 mà tôi đưa ảnh chụp minh họa trong bài Báo Sài Gòn Giải Phóng nên tôi mới có bằng chứng để không bị những người chuyên bôi nhọ tôi cho rằng tôi đã “tưởng tượng” ra những cảnh hào hùng nghĩa hiệp bất chấp mọi thứ để cứu người. Báo Sài Gòn Giải Phóng hứa sẽ chuyển thư của tôi đến những lãnh đạo có trách nhiệm như Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Nước Nguyễn Hữu Thọ, và Ban Tôn Giáo Trung Ương để xem xét. Và trước khi Cô Vinh được dạy trở lại cũng như các chủng viện được phép tiếp tục đào tạo linh mục, thì tôi đã tự nhiên bị Khoa Ngoại Ngữ “hạ tầng công tác” bắt làm tạp vụ quét dọn và…trừ mối phòng thính thị trước mắt hàng ngàn sinh viên của tôi, rồi khi sinh viên gởi thư đến các tòa soạn tôi được “đặc cách” cho bỏ cây chổi cùng nùi giẻ để cầm lại viên phấn dạy các môn…..Văn và Sử, đến độ tôi thấy mình tài hèn sức mọn sợ không dạy nổi do không tài nào viết được bài hay bằng bài “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” mà cũng không tài nào sủa ồn ào về “luật hóa mại dâm” to tiếng  bằng “nhà sử học”, tôi phải làm đơn xin thôi việc, giắt giò lên cổ mà chạy khỏi ngành giáo dục, đến độ không kịp kiếm Cô Vinh chào từ biệt, cứ thế mà cậu em nhà giáo “vô thần” Hoàng Hữu Phước rời xa bà chị nhà giáo Công Giáo Nguyễn Thị Vinh. May mà có cô giáo Phật Tử Vũ Thị Liên thấy tôi bị “xử đẹp” như vậy cũng tức giận tức mình tức tốc giắt giò lên cổ chạy theo bén gót để trở thành Giám Đốc Tài Chính Tại Nhà kiêm Thủ Quỹ Tại Gia cho nhà giáo “vô thần” sinh thiếu tháng đầu lớn như trái chanh thuần Việt ấy.

Bài viết này đặc biệt ở chỗ toàn bộ 3.906 chữ ở trên chỉ là phần nhập đề cho phần thân bài kiêm kết luận võn vẹn 2 đoạn có 90 chữ như sau:

Thân Bài Kiêm Kết Luận

1- Tu sĩ chỉ được “phục vụ lý tưởng chính trị” khi xếp áo tu anh dũng gia nhập quân đội kháng chiến của một nhà cách mạng để đánh giết quân xâm lược. Đây là điều duy nhất đúng. Bất kỳ sự nhúc nhích nào khác có mục đích chính trị đều là việc của bọn giáo gian hèn nhát.

2- Chỉ có kẻ ngu mới răm rắp nghe theo lời xách động của bọn tu sĩ bẩn thỉu mất dạy xuống đường gây rối chống đối chế độ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết được nhắc đến trong bài:

Báo Sài Gòn Giải Phóng  21-7-2013

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học  26-01-2014

Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Bôi Nhọ  02-12-2015

Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Tham khảo các bài viết về đề tài Tôn Giáo:

Pháp Luân Công  07-10-2015

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017

Letter to His Holiness Pope Francis  01-8-2017

Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2017

(Bài đăng trên hoanghuuphuocvietnam.blog.com ngày 29-4-2012)

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2012

Sẽ là điều bất thường nếu tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn lại chưa từng có quan hệ thân quen nào với các anh lính Việt Nam Cộng Hòa, nên nếu đã có bài viết về hai anh lính Cộng Sản tức “bộ đội” thì cũng nên có bài về các anh lính Cộng Hòa, vừa để nhớ những hồi ức về những con người thật việc thật vừa để ghi lại thời khắc lịch sử của những người mà việc kể ra ngày hôm nay sẽ có cơ hội kiểm chứng nhiều hơn do một số bậc bô lão ở khu phố Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn đang an hưởng cảnh thọ nhàn cùng con cháu.

1- Đại Tá Viên

Lúc làm “giáo sư” Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước (do tôi chỉ hơn sinh viên học trò tôi có hai tuổi, nên những học trò ấy gọi tôi là “giáo sư” và “giảng sư” do quen dùng từ ngữ những người dân Sài Gòn trước 1975 dùng để gọi các thầy cô dạy bậc trung học và đại học), tôi được Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật mời tham gia giảng dạy các lớp Trung cấp Anh văn buổi tối, với đa số học viên là “người lớn”, có vài người hơn tôi từ 10 đến 20 tuổi (trừ các học viên khác của tôi ở Trung Tâm Sinh Ngữ Số 1 thuộc Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh đa số là học sinh cấp 3, trong đó rất nhiều người đã thành đạt, như có những cô hiện nay là chức sắc tại các ngân hàng nhà nước, hay Hội Đồng Anh The British Council, v.v.), gồm những người sắp đoàn tụ với gia đình ở hải ngoại, kể cả các nhà sư. Có một học viên là nhà sư tu ở một chùa trên đường Phạm Thế Hiển, Quận 8 (lúc cả khu vực ấy còn toàn là ao rau muống chứ không phải phố thị sầm uất như hiện nay) đi bộ đến trường với chân trần không giày dép, khoác bộ y phục xám bạc thếch. Nhưng tên của nhà sư và tên ngôi chùa tôi quên mất, dù đã được mời đến ăn cơm chay dăm ba lần với các sư, biết các sư trước có “đi lính” Cộng Hòa, và xuất gia hoàn toàn không để… “trốn  lính” hay trốn… “cải tạo” vì giải ngũ xong là đi tu luôn trước ngày giải phóng ắt để xa rời những ám ảnh kinh hoàng của chiến trận; trong khi đó tôi lại còn nhớ như in tên và gương mặt của Đại tá Viên, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, nói giọng miền Nam.

Ông Viên học chăm chỉ nhưng nói tiếng Anh thì chưa như công sức đã bỏ ra. Một hôm Ông gặp tôi ở bãi giữ xe ở sân trường lúc 21g khi tan học để nói rằng vợ con Ông đã sang Mỹ một hai tuần trước ngày giải phóng, rằng Ông đã ra trại cải tạo được vài năm, rằng Ông đang chờ ngày sang Mỹ, rằng trong mấy năm trong “trại” Ông đã ở chung phòng với một linh mục, rằng linh mục này đã ở tù thời Tổng Thống Thiệu do hăng say chống Ông Thiệu tham nhũng, rằng linh mục ấy đã ở tù chung phòng với một nhà sư bị Ông Thiệu tống giam do phạm tội nuôi dấu “cán bộ Việt Cộng”, rằng vị sư thương Cộng đã dạy cho vị cha xứ ghét Thiệu các biến hóa diệu kỳ của thuật bói toán tử vi tướng số, rằng do vị cha xứ vừa tích cực chống Thiệu tham nhũng vừa có chức vụ “đại úy…tuyên úy” lo về “đạo” trong quân đội Cộng Hòa, thuộc Tâm Lý Chiến của Chiến Tranh Chính Trị tích cực … chống Cộng sau giải phóng nên được đưa vào trại cải tạo sau giải phóng, tình cờ ở chung phòng với Đại tá Viên; và rằng vị cha xứ Công Giáo đã truyền tiếp thuật bói toán tử vi và tướng số cho viên đại tá tín đồ Công Giáo. Nói tóm lại là Đại tá Viên nói xin được đến nhà tôi vào sáng Chủ Nhật để xem tử vi cho tôi, vì Ông cho rằng tôi là ông thầy giáo trẻ mà Ông rất kính trọng, rằng Ông đã “xem kỹ” cái “tướng và diện mạo” của tôi mấy tuần nay nên mong muốn xem luôn cái “số tử vi” cho đủ bộ, và rằng cái “sở học” lưu truyền từ vị sư nuôi dấu Việt Cộng sang vị linh mục chống Thiệu, rồi từ vị linh mục chống Cộng sang vị đại tá đã hết chống Cộng sẽ chỉ được Ông thi thố với tôi mà thôi do có lời dặn “thiên cơ bất khả lậu” mà Ông tuân theo do lời hứa chứ không phải do Ông tin vào cái lậu hay không lậu ấy. Tất nhiên, tôi đồng ý, một phần vì tò mò, một phần vì  tôi luôn giúp đỡ mọi học trò nên nếu Ông Viên muốn “thử nghiệm tay nghề” thì tôi cũng sẵn lòng giúp Ông thi thố.

Hôm Ông Viên đạp xe đến nhà tôi (lúc ấy tôi vẫn chưa lập gia đình), Ông vẫn như thường lệ: ăn vận chỉnh tề, áo sơ mi bỏ trong, đi giày săng-đan, xách cặp da màu nâu không còn mới. Ba Má tôi mời Ông cùng dùng bửa cơm trưa đạm bạc với gia đình. Sau đó, Ông hỏi tôi ngày sinh âm lịch (may mà Ba tôi có thói quen rất tốt là luôn giữ lại những tờ lịch đúng ngày sinh của các con mình để lưu trong hồ sơ cá nhân từng đứa, nên tôi mới cho Ông Viên xem, chứ thủa ấy làm gì có vi tính để gỏ vài cái là biết ngày âm lịch), giờ sinh, và Ông tỉ mĩ vẽ vẽ gạch gạch viết viết thành tờ có nhiều ô chữ nhật trước khi điền từ ngữ vào những chỗ trống. Ông giải thích tên các vì sao, ý nghĩa của các đường sao …xẹt, và nói rất nhiều điều mà tôi không sao nhớ hết được, ngoài nhiều tính từ quá đẹp đẽ của tiếng Việt mà một gentleman như Ông dùng để nói về tôi. Nhưng với Chị Hai và các em của tôi thì Ông chỉ xem tay và xem tướng chứ không xem tử vi, vì theo Ông, xem cho tôi là đủ biết cả gia đình phúc đức như thế nào rồi, vì trong tử vi có các cung cha mẹ và anh chị em. Tôi cố nhớ những lời Ông nói về tôi vì Ông nói rất nhiều, nhưng tôi lại dễ hiểu vô cùng khi Ông nói ngắn gọn súc tích rằng bà Chị Hai rụt rè, không lanh lợi, nhút nhát của tôi sẽ lấy chồng và xuất ngoại cùng chồng; rằng cô em út mới lên mười tuổi của tôi sẽ lấy chồng nước ngoài và xuất ngoại theo chồng; rằng tôi và em trai sẽ làm việc ở nước ngoài nhưng tôi đi ít hơn em tôi. Còn hai cô em khác của tôi vắng mặt ngày hôm ấy nên Ông không “xem” được. Vào thời điểm kinh tế khủng hoảng lạm phát đến ba chữ số, những lời của Ông giống như điều huyễn hoặc, thần kỳ, chỉ có tác dụng duy nhất như một định mức khuây khỏa cho những mơ mơ màng màng siêu thực.

Tôi dạy lớp Ông thêm hai khóa trước khi Ông đạp xe đên chào chia tay tôi lên đường sang Mỹ. Tôi không còn nhớ đến Ông cho đến Tết 2012 này khi em gái út của tôi từ New Zealand về và trong bữa cơm đoàn tụ nó nhắc đến Đại tá Viên, khen Ông nức nở, và nhắc luôn chuyện Chị Hai tôi đang là công dân Mỹ, cũng y như lời “coi bói” của viên đại tá. Tiếc là tôi không nhớ gì những phân tích của Ông về các vì sao và về tôi, ngoại trừ việc mà em gái tôi nhân tiện nhắc luôn là “Anh Năm đúng là đi nước ngoài liên tục, còn Anh Ba thì lâu lâu đi một lần”. Tôi là…Anh Ba trong gia đình gồm 7 chị em này.

Lúc đại tá Viên đi Mỹ, Ông khoảng 50 tuổi. Nay Ông ắt đã 80. Cho dù tin tức cuối cùng tôi biết từ Ông là dường như vợ Ông đã đi theo đường khác trong thời gian Ông còn học tập cải tạo ở Việt Nam, tôi vẫn tin và mong là Ông nhờ có tài bói toán để chiêm nghiệm các bể dâu của cuộc đời thiên hạ, và nhờ đó đã có cái nhìn triết nhân hơn đối với những bể dâu của chính cuộc đời mình. Nếu Ông còn sức khỏe để đọc được bài này, ắt Ông sẽ vui vì chị và các em gái của tôi nói Ông “coi bói đúng quá xá!” Tôi mong sao các anh chị là con của Đại tá Viên đọc bài này sẽ biết rằng viên sĩ quan Cộng Hòa dáng gầy quắc thước ấy đã rất yêu đời vì chiến tranh kết thúc, vì chương trình cải tạo rất thắm đượm tình người của những người chiến thắng, vì có sức khỏe tốt để lao động tốt được ra trại sớm hơn, và vì được cho phép sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông là một người học trò chăm chỉ, chiến đấu với bài học với tư thế một chiến binh, chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa mới nơi đất nước mới mà Ông tin rằng bao thử thách gian lao sẽ đón chờ. Ông là khuôn mẫu một chiến binh thực thụ: có lý tưởng, và có công tâm, vì rằng nếu chỉ có lý tưởng, người ta không còn ranh giới ngăn cách với khủng bố cực đoan. Ông là khuôn mẫu một đấu sĩ chuyên nghiệp thực thụ trên võ đài: tung các chiêu đấm uy lực, áp dụng các tiểu xảo nếu qua mắt được trọng tài, nhưng khi kết thức trận đấu, chấp nhận nhìn giải vô địch được trao cho đối thủ thắng trận, và hài lòng với vị trí thực sự của mình, vì chỉ có kẻ lưu manh đánh nhau ở đầu đường xó chợ không phải là đấu sĩ chuyên nghiệp mới nuôi lòng hận thù đối thủ đã đoạt cúp.

2-  Các Chiến Sĩ Canh và Heo

Anh Canh thuộc gia đình người Bắc di cư, tên thật là Phạm Văn Canh, và các Anh Heo gồm Heo Lớn, Heo Bụng, Heo Đời, và nhiều Heo khác là các con trai của Bà Tám Cháo Vịt, người Nam Bộ. Tất cả đều ở ngõ hẽm đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đối diện với nhà Ba Má tôi. Hiện chỉ còn Anh Canh ở nơi chốn cũ. Anh Heo Bụng là sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa, người to vạm vở giống đô vật, tính tình nghiêm khắc, đã theo chiến hạm đang neo đậu ngoài khơi bỏ chạy sang Mỹ ngày giải phóng. Vài anh Heo khác sau đó được Anh Heo Bụng bảo lãnh sang Mỹ, chỉ có Anh Heo Lớn còn ở Việt Nam, hiện ở gần Cà Phê Cheo Leo sau lưng Nhà Hàng Sinh Đôi đường Lý Thái Tổ, và một Anh Heo mất hai chục năm trước vì đạp xích lô bị tai nạn giao thông. Bà Tám cũng có người cháu là Anh Thân, lính dù “thiên thần mũ đỏ” nhưng là… “lính kiểng” vì Bà Tám chạy lo tiền để Anh Thân cùng các Anh Heo khác khỏi ra mặt trận (chỉ có Anh Heo Bụng là lính thật), ở nhà mặc quân phục rằn ri và giày bốt…phụ Bà Tám nấu cháo lòng và đẩy xe cháo ra khu Lý Thái Tổ bán từ trưa đến tối.

Anh Canh là một người lính binh nhì của Quân Đội Cộng Hòa, hiền lành, ít nói, không phải ra chiến trận. Cha mẹ anh có quá nhiều con, nhà lại nghèo, nên sau giải phóng, khi Anh Canh lấy vợ người Đà Lạt, hai vợ chồng anh phải xin ở trú dưới mái hiên của ngôi nhà đối diện nhà Ba Má tôi. Vậy mà những tấm bìa cứng, những tấm tole cũ che chắn tạm bợ cho cái tổ ấm ấy đã là nơi nhiều chục năm qua vợ chồng anh sống hạnh phúc với một đàn con bụ bẫm, học hành giỏi giang, nhờ thu nhập từ chiếc xe bán bánh mì “thịt nai” dạo của anh. Những lúc cơ cực khó khăn, vợ anh qua gặp Má tôi, và nhiều năm nay Anh Canh trở thành người hàng xóm tốt bụng luôn bảo vệ gia đình tôi, chăm sóc Ba Má tôi khi Ba Má tôi đau ốm, và khi Ba tôi mất, Anh Canh ngày ngày trông chừng an ninh an toàn cho nhà Má tôi, không để bất kỳ kẻ gian người xấu nào động đến chúng tôi. Thỉnh thoảng Chị Canh về quê thăm mộ cha mẹ mà Má tôi đã trợ giúp quy kết xây dựng lại mộ phần, và khi trở vào hay tặng Má tôi các thứ cây nhà lá vườn như chuối Đà Lạt, bơ Đà Lạt, v.v. Các con anh lập gia đình và anh đã có cháu. Một cậu con của anh rất đẹp trai, thường xuất hiện trên TV trong những clip quảng cáo dầu gội đầu hay mỹ phẩm. Và đầu năm 2012 này vợ chồng anh dọn về ngôi nhà 4 hay 5 tầng gần đó, còn mái hiên mà Anh Chị cùng đàn con núp mưa mấy chục năm qua nay dùng làm tiệm sửa đồ điện tử cho một chàng con rể. Chúng tôi rủ nhau kiếm tìm đồ hư vật hỏng trong nhà để đưa đến sửa mở hàng giúp cậu con rể ấy, thay vì theo thói quen bấy lâu nay là tặng các món không dùng cho những người lấy rác hay những bà cụ mua ve chai. Còn anh thì sáng sớm nào cũng rảo bước tạt ngang nhà Má tôi để hỏi thăm sức khỏe của Má tôi và xung phong mua đất về bón cho các chậu cây của Má tôi ở trước sân và trên sân thượng.

Trước 1975, khu phố nhà Ba Má tôi là khu có dân “anh chị” tức … “dân dao búa” trú ngụ. Nhiều phen cảnh sát đô thành phải bủa vây, lùng sục, tấn công sâu vào ngõ, bắt trói thúc ké giải đi vài “anh chị” (tất nhiên, các “anh chị” này vài ngày sau tiếp tục đi qua đi lại trong xóm dạo chơi). Một đặc điểm rất hay của Sài Gòn thời trước 1975 là: ‘anh chị” ở đâu thì cứ “anh chị”, chứ đừng có mà giở thói “anh chị” ở tại xóm nhà. Vì vậy, gia đình Ba Má tôi vững như bàn thạch: được bảo vệ bởi các chiến sĩ Cộng Hòa và các…“anh chị”, đơn giản vì các chiến sĩ và các “anh chị” này có…cha mẹ, những người rất kính trọng gia đình học thức, luôn gọi Ba Má tôi là Thầy Hai, Cô Hai, và chúng tôi là con của Ba Má nên cũng được…ăn theo. Hiện chỉ còn Bà Năm Vé Số là còn mỗi sáng được con dâu đẩy xe ra ngồi phơi nắng ở đầu ngõ, còn Bà Tám Cháo Lòng đã mất hai mươi năm trước. Nếu các con của Bà Tám đều là quân nhân mà Bà gọi là Heo cho dễ nuôi theo dị đoan của dân Nam Bộ, thì các con của Bà Năm đều là… “anh chị”! Thế nhưng cả hai bà đều kính trọng Ba Má tôi không chỉ vì Ba tôi là Thầy, mà còn vì Má tôi cả đời lăng xăng cứu giúp thiên hạ. Và thế là cái xóm nhỏ ấy chung sống như những người tốt với nhau. Nhiều năm nay, sáng nào trước khi rời nhà Má tôi để ra về, tôi đều đi bộ vài bước đến xe lăn của Bà Năm để hỏi thăm sức khỏe của Bà, rồi giơ tay chào một đứa con “anh chị” của Bà nếu gặp … “ảnh” đi ngang, hoặc chào các anh Tâm, anh Hải, là những quân nhân Cộng Hòa, con Bà Bảy Mè (cũng đã mất), hiện hành nghề xe ôm, và nhiều anh khác nữa. Khi tôi ra ứng cử quốc hội năm 2011, cả xóm khi nhìn thấy hình tôi trên các bản tin giới thiệu ứng cử viên, đã tự động đi vận động khắp nơi khiến nhiều người quen đã dời sang quận khác cũng biết, và phone nói với Má tôi là khi họ đến tất cả các chùa vận động mới được các ni sư giải thích là “ông ấy” đâu thuộc khu vực bầu cử quận của các chùa đâu mà bỏ phiếu cho “ổng” được, nhưng hứa là sẽ phone cho các chùa ở các quận thuộc khu vực của “ổng” để vận động thiện nam tín nữ bỏ phiếu cho “ổng”, tức là tôi, con của “Cô Hai” và “Thầy Hai”.

Đó là những người lính Cộng Hòa, những người bình dân, ít học, bộc trực, những người trước đây bảo vệ gia đình tôi trước kẻ xấu, không cho kẻ lưu manh từ nơi khác đến quấy rầy, và hiện nay là những người lao động mạnh khỏe, nghèo, lương thiện, mà tôi kính trọng xưng em và gọi họ là anh vì họ lớn tuổi hơn tôi, còn họ đến giờ vẫn xem tôi như cậu Trọng thư sinh trói gà không chặt ngày xưa (dù xưa tôi chừng 48 ký, sau này lên 84 ký và nhờ giữ gìn sức khỏe nên còn 70 ký) để luôn bảo vệ, đỡ đần tôi trong những việc mang vác vật nặng mỗi khi thấy tôi chở lủ khủ đồ đạc về nhà Má tôi.

Những con người bình dị đáng kính ấy chưa bao giờ có một ngày nào nghĩ đến từ “chống Cộng”, đơn giản vì cái họ thích là đời sống không có chiến tranh, đời sống dành cho sum họp và sinh kế gia đình, đời sống giữa một cộng đồng xóm làng dù nhỏ nhưng miễn sao thấm nhuần ý nghĩa của tương trợ, thọ ơn và đáp nghĩa. Chính họ qua đời sống và cách sống của họ chứ không phải các tác phẩm văn học cách mạng đã giúp tôi không những nghiệm ra được ý nghĩa cao vời của hòa bình, tự do, hạnh phúc, mà còn hiểu ra rằng những “chiến sĩ” thực thụ của Việt Nam Cộng Hòa như Đại tá Viên chỉ ngoan cường trên chiến trận khi đối diện với đối phương chứ không căm thù người chiến thắng, vì họ là những đấu sĩ chuyên nghiệp.

Những con người bình dị đáng kính ấy không “chống Cộng”, đơn giản vì họ căm ghét chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, nuôi giấc mơ xây dựng gia đình hạnh phúc bên đàn con, và có cuộc sống ngày càng tốt hơn mà chỉ có hòa bình mới đem đến cho họ.

Một đội bóng thuộc FIFA thua trận chung kết World Cup không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đội vô địch. Họ còn được hưởng huy chương bạc vẻ vang.

Một đấu sĩ thuộc liên đoàn quyền anh quốc tế thua trận chung kết quyền anh hạng nặng thế giới không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đấu sĩ được đeo đai vô địch. Anh còn được hưởng số tiền thưởng không ít hơn người ấy là bao.

Một “chiến sĩ” Việt Nam Cộng Hòa cùng thuộc dân tộc Việt Nam, nhận lệnh đầu hàng của đương kim tổng thống, không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đoàn quân chiến thắng. Anh còn được hưởng cuộc sống mới trong hòa bình không còn máu chảy thịt rơi, hạnh phúc giã từ vũ khí để về xum họp lại với gia đình, và danh dự người dân một quốc gia thống nhất ngày càng cường thịnh.

Đội bóng thua hận thù đội bóng thắng, quay ra chống phá, bôi nhọ đội bóng thắng: dứt khoát đó là đội kiểu các trẻ em lang thang ở các đường hẻm tồi tàn khu ổ chuột xứ miền lạc hậu khổ nghèo nào đó trên thế giới chứ không trong hàng ngũ FIFA.

Đấu sĩ thua trận hận thù đấu sĩ thắng trận, quay ra chống phá, bôi nhọ đấu sĩ thắng trận: dứt khoát đó là tay mặc “tà lỏn” tham gia trận đánh nhau ở giữa đồng trống phục vụ cho nhóm cá độ đã chán xem đá gà.

“Chiến sĩ” thua trận và căm thù đoàn quân chiến thắng, quay ra chống phá bôi nhọ đất nước của bên chiến thắng, ngụy biện là chống Cộng sản, thì dứt khoát đó không thể nào có tư cách ngẫng cao đầu tự nhận bản thân đã từng là chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thậm chí những kẻ chống phá và bôi nhọ bên thắng trận lại toàn là những đấng trong chiến tranh đã là lính kiểng, lính ma, sĩ quan chuyên núp sau lưng binh đoàn viễn chinh Mỹ và đồng minh nên kinh nghiệm thu dọn chiến trường luôn trỗi vượt kinh nghiệm chiến đấu cận chiến giáp-lá-cà, và vì vậy chỉ phát huy lòng anh dũng can đảm chường mặt ra với đời khi đứng trên xe jeep thuê, duyệt “binh” ngày “quốc hận” trên đất nước Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…

Tôi và Bùi Giáng September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội September 27, 2017

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng January 9, 2015

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-9-2017

(Bài đăng lần đầu ngày 20-3-2012 trên Emotino tại http://www.emotino.com/bai-viet/19505/toi-va-hai-anh-bo-doi)

HHP Manulife

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-3-2012

Anh Bộ Đội Thứ Nhất:

Vào năm 1989 lúc đang thực hiện chuyến xuất khẩu gạo có giá trị thương mại đầu tiên của Việt Nam, tôi biết đến anh VVK. Thủa ấy Việt Nam chưa có luật đầu tư nước ngoài, chưa có luật lao động, chưa có luật thuế thu nhập, và chưa có pager tức máy nhắn tin hay máy fax hoặc vô số những thứ khác; còn số lượng văn phòng đại diện nước ngoài đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón; và tôi được những người làm việc cho các văn phòng lèo tèo ấy cho rằng tôi là người sang trọng nhất vì tài xế của tôi là người nước ngoài. Chẳng qua vì tôi cương quyết không chịu học lái xe, làm ông sếp nước ngoài buộc phải lái xe đến nhà tôi đón tôi đi làm mỗi ngày thay vì nhập thêm một chiếc ô-tô diện “tạm nhập tái xuất” khác cho tôi. Cũng nhờ vậy mà tôi được gặp anh VVK.

Do nhu cầu đi lại liên tục đến thăm các kho gạo, các cơ quan nhà nước (như Vinacontrol, công ty kiểm kiện, và cảng vụ, v.v.) , các công ty cung ứng gạo ở các tỉnh Miền Tây, các công ty hàng hải, v.v., một chiếc Toyota Crown sử dụng cho văn phòng đại diện không đủ phục vụ kịp thời nhất là khi ông sếp đi một đường, tôi đi một nẻo, tất bật lo ngày đêm theo sát tiến độ lên hàng trên bờ và từ xà lan cặp mạn tàu. Nhưng thủa ấy lại chưa có xe taxi. Thế là tôi liên hệ với Seaprodex gần đấy (văn phòng tôi nhiều năm đóng ở tầng 4 của Majestic Hotel số 1 Đồng Khởi, về sau chuyển qua tầng 3 tòa nhà Seaprodex đối diện tại số 2 Đồng Khởi) đề nghị cho thuê xe và tài xế trong vài tuần. Thấy tôi ở tập đoàn Công-Thương-Kỹ Birla hùng mạnh “một mình một chợ” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thủa ban đầu lưu luyến ấy, và sẵn sàng chấp nhận bất cứ giá tiền nào, ông Phó Tổng Giám Đốc công ty liên doanh của Seaprodex và Liên Xô tình nguyện để xe của ông và tài xế của ông phục vụ tôi thay vì điều xe của một vị cấp trưởng phòng dù tôi chỉ yêu cầu xe có máy lạnh (thủa ấy rất ít xe có máy lạnh, vì ngay cả các quan chức các tổng công ty nhà nước đều nhập xe Lada của Liên Xô theo phong trào tiết kiệm để khoe mẽ rằng ta đây không hoang phí tiền thuế của dân) chứ tính tôi bình dân, không câu nệ, tuy luôn thắt cravat và veston chỉnh tề (ở thời điểm chưa có quan chức nào thắt cravat và đi giày tây cả vì như thế là mất tính quần chúng không gần gủi với nhân dân).

Khi ngồi cạnh anh VVK trên xe (lúc đi công tác một mình, tôi luôn ngồi cạnh tài xế, vì tôi muốn ngắm cảnh, ghét ngắm … gáy người khác), tôi nghe anh kể anh là bộ đội ngoài Bắc vào, nhà ở miệt Bình Chánh gần ranh giới tỉnh Long An, có vợ và một … tá con. Vì nghèo nên mỗi ngày lúc 2 giờ 30 sáng anh đã phải đạp xe đi bỏ mối cây giống dọc đường lên Thành phố Hồ Chí Minh, và do đó chưa 4 giờ anh đã có mặt ở Seaprodex. Đến sớm, không biết làm gì, anh xách nước lau chùi xe sạch sẽ, và đến 7 giờ thì lái xe đi đón sếp là Ông Sơn, Phó Tổng Giám Đốc công ty. Khi đưa tôi về nhà hàng Majestic dùng cơm với ban lãnh đạo Vinacontrol, dù được tôi căn dặn hãy đi ăn trưa, anh nhe răng cười nhân hậu, đứng phía ngoài đường gần đuôi xe dưới trời nắng. Lúc ra xe để trở lại Cảng Khánh Hội, tôi hỏi sao anh không đi ăn trưa lại đứng bên cạnh xe hoài thì anh đáp do sợ ông đi qua bà đi lại cọ quẹt trầy sướt xe (dù thủa ấy đường sá vắng hoe chứ nào có cảnh ùn tắc giao thông và nào có chuyện người đi xe vất bỏ phong cách lịch lãm khi sử dụng công lộ phóng chạy luôn lên lề đường dành cho người đi bộ). Khi tôi nói anh vẫn có thể mua ổ bánh mì thịt để vừa đứng trông xe vừa ăn, thì anh nhe răng cười rằng tác phong như thế thì mấy ông Tây trong Majestic nhìn thấy sẽ cười chê người Việt mình, và rằng ăn bánh mì thịt sẽ có hơi thở không phù hợp với bên trong sang trọng của chiếc xe Toyota Corolla sợ làm tôi không hài lòng và nhất là nếu có ông Tây nào cùng đi với tôi trong xe. Tôi hỏi vậy sao anh không mua một ổ bánh mì không hoặc bánh mì ngọt để ăn thì anh nói Đồng Khởi sang quá nên đâu mua được đồ ăn của người nghèo. Lần thuê xe đợt sau, tôi có đi Maxim hay Majestic ăn trưa là dặn nhà hàng đem một phần “fast food” cho anh gồm bánh mì sandwich và hotdog cùng phô-mai, nhưng mãi sau mới biết anh vẫn không ăn gì với lý do để tối đem mấy gói đồ ăn đó về cho các con ăn cho bổ dưỡng. Tôi bó tay!

Thế rồi vì mến anh bộ đội nhân hậu và lương thiện, tôi lần nào ký hợp đồng thuê xe của Seaprodex đều yêu cầu anh K là người phục vụ. Tôi quyết định phải giúp đỡ anh vì anh đã chứng minh được anh là người tốt, có trách nhiệm, lương thiện, yêu gia đình. Trước tiên, tôi giúp anh mua một ngôi nhà nhỏ bên Thủ Thiêm để anh thậm chí không cần đạp xe đi làm vì chỉ cần bước ra khỏi Seaprodex, băng qua bên kia đường là anh đã bước lên phà sang sông về nhà cũng ở ven sông. Sau đó, tôi giúp vốn cho anh bằng nhiều cách để anh sau đó mua được một xe tải container rồi thuê người lái làm dịch vụ vận tải, và anh trở thành ông chủ nhỏ. Một trong những cách giúp vốn là khi lãnh đạo công ty anh muốn tậu xe mới, thương anh chân chất nên muốn bán thanh lý chiếc Corolla cho anh, và anh cầu cứu tôi cho vay tiền mua xe bán kiếm lời. Tôi đã phone cho anh Cường (chủ một cơ sở điện lạnh thường sửa máy lạnh cho xe Crown của văn phòng tôi và lúc này phát đạt nên  có một salon ô-tô trên đường Trần Hưng Đạo, Quận 1) nhờ anh cho anh K mượn tiền mua xe. Tất nhiên, anh Cường đưa ngay một giỏ tiền mặt cho anh K mà không giữ giấy tờ gì của anh K cũng như chẳng yêu cầu tôi phải viết giấy bảo lãnh cam đoan gì cả. Tất cả vì tôi có uy tín thanh liêm nghiêm khắc trong thế giới xuất nhập khẩu nhỏ bé thời bấy giờ nên lời nói của tôi là quá đủ cho các đại gia…tiền mặt thủa ấy. Mua được xe với giá quá hời, anh K bán luôn cho anh Cường, rồi cầm một phong bì dày cộm đưa cho tôi để “gởi lại phần trăm đền ơn”, và tất nhiên tôi không nhận, bảo anh hãy dùng tiền đó mà xây sửa nhà cho khang trang thêm và lo đóng tiền học cho cả tá con.

Khi tôi sang công ty khác năm 1996, anh K vẫn còn công tác tại Seaprodex. Tết năm nào anh cũng đưa vợ đến gởi cho tôi quà Tết. Ngay từ lần đầu tôi đã từ chối nhận, với lý do nào là tôi không sát sinh và ăn chay nên đừng mua lạp xưởng, nào là bị tiểu đường và cao huyết áp cộng với đau bao tử lại thêm dị ứng tất tần tật với các món ăn thức uống trên đời nên anh đừng mua bánh kẹo, trái cây, rượu bia, nước ngọt, nói chung là tôi bịnh đủ thứ nên chỉ sống bằng cách ăn…không khí thôi, còn tiền thì đừng gởi vì nhà tôi chật hẹp không có chỗ cất mấy bó đó. Anh bảo thấy tôi là tổ xạo vì ăn mặn khỏe uống ngọt mạnh chứ đâu thấy mấy vụ “cao áp” với “đường tăng”, nên để giỏ quà lại cùng hai con gà mái mập bị trói giò rồi giục vợ lên xe chạy mất. Tránh né không xong, tôi phải dặn vợ tôi từ nay về sau hễ Tết sắp đến là phải chuẩn bị giỏ quà thật hậu hỉ để gởi đáp lại anh K mỗi khi vợ chồng anh … xuất hiện. Sau này, mỗi lần chúng tôi đến dự tiệc cưới của một đứa con anh là anh giới thiệu oang oang bằng micro với hàng trăm thực khách rằng vợ chồng anh sinh ra chú rể ấy nhưng tôi mới là người nuôi cháu ấy nên người, rồi bắt cô dâu chú rể đến mời rượu vợ chồng tôi. Có lần chờ tôi uống rượu xong, anh khom người xuống nói nhỏ vào tai tôi rằng hai chục năm rồi vẫn thấy tôi ăn mặn khỏe uống ngọt mạnh chớ chưa thấy mấy vụ “cao áp” với “đường tăng”. Tôi đốp chát lại rằng ngày xưa tôi phải nói thế là có mục đích nhắc khéo anh mang tới hồng sâm ngàn năm và linh chi vạn tuổi mà anh chẳng hiểu gì sất khiến tôi chờ dài cổ hươu chẳng được xơ múi gì! Vợ chồng anh và dâu rể cười hả hả ầm vang, lúc lắc sánh đổ cả rượu cùng bia, thật phí của giời!

Cách nay vài năm, anh làm tôi cà lăm khi đến khoe với vợ tôi rằng nhờ 20 năm trước tôi cho anh căn nhà nên nay anh được nhà nước đền bù mấy tỷ do giải tỏa phục vụ công trình đường hầm Thủ Thiêm, nhờ vậy anh đã thành…tỷ phú có tiền mua biệt thự và xây mấy dãy nhà cho thuê hàng tháng ngồi mát ăn bát vàng chỉ có việc làm nặng nhọc sức lực duy nhất là đi thu tiền về cột dây thun thành nhiều bó, còn lao tâm khổ trí là phải tìm nơi để chất nhét mấy bó đó. Anh còn vui mồm vui miệng kể luôn cho vợ tôi biết tôi là ân nhân của gia đình anh, vì ngoài căn nhà tôi còn giúp vốn cho anh nuôi đàn con nên người bây giờ đứa nào cũng làm cho công ty nước ngoài hoặc nước trong, có một cậu làm sĩ quan công an bí thư Đoàn, có cô làm ở Vietnam Airlines, có cậu làm thạc sĩ Toán-Tin giảng viên đại học sắp trình luận án tiến sĩ, có cô trở thành vị quản lý mà các công ty đầu tư địa ốc nước ngoài săn đón chiêu dụ, và mấy đứa khác làm cho nước ngoài nên đi ra ngoài nước hoài, v.v., thoát cảnh thất học bắt ốc mò cua ở ruộng đồng Bình Chánh, Tân An. Khi tôi đi làm về, vợ tôi thuật lại, rồi cật vấn tôi tại sao chỉ cho vợ tôi biết việc gởi ít tiền cho cả tiểu đội con cái của anh K học nhưng lại dấu việc mua nhà mua xe tải cho anh K, và tại sao mua đất bên Thủ Thiêm cho anh K mà không nhân tiện mua luôn vài miếng cho…vợ tôi để ngày nay …“được như anh K”, làm tôi lại phải nói dối rằng ấy là do anh K vui tính phóng đại thế thôi chứ tại anh ấy tốt nên Trời giúp, còn tôi chỉ cho anh ấy có vài ba USD lẻ tẻ chắc ảnh lấy tiền đó mua vé số rồi trúng độc đắc cặp mấy chục ấy mà. May mà vợ tôi tin, nhưng tôi lại thấy nàng bắt đầu lâu lâu thử mua…một tờ vé số, dù mấy chục năm nay biết tính tôi là có đi lễ chùa nhưng chẳng cúng chùa bao giờ mà dùng tiền giúp người nghèo bất kể đạo nào, còn mua vé số thì đem vào công ty tặng hết cho nhân viên hoặc cho mấy người bán ve chai, hốt rác, hoặc mua vé số xong là nhét vé số vô túi người bán vé số nếu người bán là người khuyết tật hay có dáng dấp học trò, để mong may ra Trời cho họ trúng số thoát được cảnh khó khăn chăng.

Tết năm nay 2012, anh một mình đến gặp vợ chồng tôi gởi quà tết. Nhưng năm nay anh trái tính trái nết, có lẽ do tuổi tác chăng, vì anh không chịu nhận giỏ quà của vợ chồng tôi, đã vậy còn đứng ngoài sân nói oang oang như thể muốn đánh thức mấy bà hàng xóm ngủ nướng rằng: “Ông bà ta nói một miếng khi đói bằng một gói khi no. Vậy mà lúc tôi đói, anh đâu có cho miếng mà cho hết gói này đến gói kia! Tôi trả ơn anh sao cũng không đủ, sao lại nhận quà của anh. Mấy ông anh tôi còn bảo họ là ruột thịt mà không giúp gì tôi, và nói anh giúp người lạ làm giàu thì chắc chắn anh không phải là đại gia vì đại gia chỉ cho tiền giúp người thoát đói chứ không giúp người làm giàu bao giờ!” Anh K làm tôi nhận ra một điều là mấy câu tục ngữ Việt được người Việt vận dụng vặn vẹo hay thật! Văn chương bình dân truyền khẩu thế mà hay ra phết.

Anh K là người đã làm tôi bỏ vĩnh viễn ý định mua ô-tô, vì chỉ có anh là người tôi mong muốn làm tài xế cho mình. Anh đã giải nghệ từ lâu, sau khi trở thành ông bố đầy kiêu hãnh của một đàn con tất cả đã trở thành những công dân tốt của đất nước này, những đứa con thành đạt đã không muốn cha mình tiếp tục lao lung lái xe phục dịch người khác lúc tuổi đã cao. Anh K là người sống tích cực, luôn cười vui nhân hậu, yêu đời, và đó là lý do hiện nay anh xin vào làm nhân viên cho một công ty nọ dù nhiều đứa con của anh cũng đã trở thành tỷ phú và chẳng đứa nào muốn bố chúng không hưởng nhàn. Anh kể vợ tôi rằng các con anh muốn đến thăm tôi nhưng Anh đã thuật chúng nghe lời tôi rằng chỉ cần sống và làm việc như những công dân lương thiện yêu nước là đã đền ơn đầy đủ cho tôi rồi. Anh thậm chí còn nói ngay khi thấy đứa con nào của Anh có dấu hiệu bê trể, tà tà, kém tích cực, là Anh đe dọa rằng sẽ báo tôi hay, và thế là đâu lại vào đấy. Thế đấy, tôi lại trở thành Ông Kẹ để hù các công dân trưởng thành và giàu có ư?

Anh Bộ Đội Thứ Nhì:

Nếu Anh K người Bắc, thì anh PVC là người Nam Bộ. Tôi biết anh khi tôi làm giám đốc điều hành tại một trong 9 đơn vị của một công ty nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996-1998.  Anh đi nghĩa vụ quân sự  sau năm 1975 và chiến đấu tại Campuchia. Khi xuất ngũ, anh làm thợ điện tử và trở thành nhân viên bảo vệ được công ty biên chế vào đơn vị của tôi. Anh ăn chay trường. Tôi cao 1m70 và đứng thấp hơn anh dù tôi đi bốt đế cao 5cm thành 1m75! Không như những lãnh đạo khác trong công ty, tôi hay bất ngờ đi kiểm tra giám sát cơ sở, và nhiều khi đi taxi chạy chầm chậm ngang cơ quan lúc 2 giờ sáng, tôi thấy anh vẫn ngồi tỉnh táo ở vị trí chốt canh gác, thay vì bỏ vào văn phòng bật máy lạnh nằm ghế bố ngủ khò như thói quen của nhiều đồng nghiệp khác thuộc tầng lớp…cao hơn. Anh khiến tôi có ý nghĩ rằng dù làm việc ở đâu, tôi chỉ sẽ yên tâm nếu công ty của tôi có anh làm nhân viên bảo vệ. Và với người tốt như anh, tôi tự nhủ sẽ giúp khi có điều kiện.

Thế rồi luồng gió mới của cải cách hành chính đã đến với phong trào mang tên “tinh giản biên chế”. Trong công ty nhà nước nơi không những con cái ruột thịt của ban lãnh đạo mà ngay cả người quen xa lắc xa lơ kiểu ở cùng quê hay con cái của hàng xóm của các vị ấy được ưu ái chiếm hữu các công việc từ nhàn hạ đến giản đơn, thì việc tinh giản đương nhiên sẽ nhắm đến các đối tượng không có ô dù che nắng che mưa bị đưa ra hứng mưa hứng nắng làm vật hy sinh. Ông Tổng Giám Đốc đã “biên chế” ấn nhét vào đơn vị của tôi ba người thân thiết của ông gồm một em gái ruột làm nhân viên tạp vụ, một người dưng nước lã (có công…dạy kèm tư gia cho con của ông) làm trưởng phòng giáo vụ, và một đứa cháu làm nhân viên bảo vệ, thì tất nhiên Phòng Tổ Chức Nhân Sự sẽ đưa anh C vào danh sách cho thôi việc để anh về nhà tiếp tục hành nghề sửa điện máy tivi cho công ty được tiếng tốt là thực hiện nghiêm túc tinh giản biên chế. Tất nhiên, giám đốc như tôi thì cách chi can thiệp được vào các quyết định của ban tổng giám đốc. Nhân khi đang tiến hành đấu tranh đơn độc chống sự tham ô của “ông Tổng” và cùng lúc được một công ty Mỹ tiếp cận mời mọc, tôi nhận lời bỏ cơ quan nhà nước của “ông Tổng” ấy để qua làm giám đốc điều hành cho người Mỹ năm 1999, và ngay lập tức đến nhà mời anh C làm việc. Ở công ty mới này, tôi mua bảo hiểm nhân thọ của Prudential cho tất cả nhân viên – trở thành người đầu tiên ở Việt Nam “bày” cho bảo hiểm nhân thọ mô hình bảo hiểm ấy, và khi tôi sang công ty khác vẫn tiếp tục xuất tiền túi đóng bảo phí cho riêng anh C thêm vài năm cho đến khi anh kiên trì năn nỉ thành công. Sau này anh phát bệnh cao huyết áp nặng và đau bao tử nặng, phải đi cấp cứu mấy lần thập tử nhất sinh, và buộc phải ở nhà sửa tivi chứ không thể đi làm việc nơi khác, thậm chí không được sử dụng xe đi lại đó đây.

Vài năm sau, tôi nhận được điện thoại của con gái anh nói đang cùng mẹ chờ tôi dưới sảnh. Tôi vội từ lầu 12 xuống gặp hai mẹ con, và khi biết cháu muốn mượn tiền để tiếp tục việc học sau lớp 12, tôi đến máy ATM ngay đó để rút tiền trao cho cháu, và dặn mỗi khi cần tiền chi cho việc học tập, mua sắm phục vụ việc học, v.v., thì cháu cứ đến lấy. Tất nhiên, tôi dặn họ giữ bí mật đừng cho vợ tôi hay. Từ đó, cứ mỗi khi đến lúc đóng học phí hay cần tiền mua tài liệu học tập là cháu đến gặp tôi. Năm kỉa năm kia, cháu tốt nghiệp đại học tài chính-kế toán và nhờ tôi tư vấn khi có hai nơi muốn tuyển dụng cháu làm nhân viên. Tôi khuyên cháu chọn công ty X vì đó là công ty đa quốc gia, chuyên ngành, có danh tiếng hoàn cầu, dù họ trả lương …“bèo”, đừng nhận lời công ty Y kia vì nhỏ, lĩnh vực hoạt động trái ngành, không rõ về tiếng tăm hay tiếng tai, dù họ trả lương cao gấp ba bốn lần lương ngân hàng Việt Nam cho chức danh tương tự. Tôi cũng khuyên cháu đừng nghĩ gì đến tiền lương khi bắt đầu đi làm công việc đầu tiên trong đời, mà hãy dành 4 hay 5 năm đầu tiên tận tụy làm việc để thu kinh nghiệm, quen phong cách chuyên nghiệp của “đại gia ngoại”, chung hưởng hào quang danh tiếng của họ, và sau đó sẽ thấy kết quả tỏa sáng từ “sự hy sinh” ấy. Tất nhiên, cháu nghe lời tôi làm việc nhận lương bèo dù nhà nghèo, đơn giản vì anh C bảo các con anh phải nghe lời tôi mới thành công. Vậy mà mới làm việc được một phần tư thời gian của năm năm tại công ty X của Mỹ, cháu đã khoe với tôi là được công ty Z của Pháp chiêu dụ, mời về làm lãnh đạo với mức lương rất cao. Năm ngoái, khi vợ chồng tôi đến thăm anh C lúc nghe tin anh vừa về từ phòng cấp cứu, cô bé trẻ tuổi tài cao ấy chạy xe tay ga mới màu đỏ chói đi ăn kem với bạn về tới đã vội vào nhà lấy ra một phong bì dày trao cho tôi và nói gì đó không bằng tiếng Việt, chẳng phải tiếng Anh, không giống tiếng Pháp, nói chung là nói chẳng nên lời mà tôi dùng kỹ thuật “đuổi môi bắt chữ” (na ná giống gameshow “đuổi hình bắt chữ” của Xuân Bắc) nhưng cũng không hiểu, nên vợ anh C phải bước ra làm thông dịch viên nói giúp rằng cháu bé ấy muốn hoàn lại số tiền đã mượn của tôi nhiều năm qua vì nay đã có khả năng phụng dưỡng cha mẹ, nuôi mấy đứa em trai vào đại học, mua sắm đủ thứ rồi và đến lúc phải trả lại tiền vay. Tôi dẫy nẩy, không nhận, bảo rằng tôi không có ý cho mượn bao giờ nên đâu có … ghi sổ sách, đâu có ghi mức…lãi suất cho vay, bây giờ không biết đủ thiếu ra sao, nên nếu nhận dư thì hỏng tiếng một đời thanh liêm, nhận thiếu thì ô danh … kiếp này phá của. Cô bé lập tức nói rằng cháu là dân tài chính nên có giữ … sổ cái kế toán đàng hoàng ghi chú cẩn thận đầy đủ chi tiết có đóng dấu giáp lai để ngày sau đền ơn nên “bác Phước” hãy yên tâm, còn lãi suất thì cháu sẽ tính theo thời giá prevailing của Ngân Hàng Ngoại Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Cháu nói xong thì vợ chồng tôi, vợ chồng anh C, cùng con gái và hai con trai anh C phá lên cười ầm do màn biểu diễn tấu hài đốp chát rất lợi hại của hai bác cháu vừa rồi. Cười xong, tôi nghiêm trang nói với cháu rằng tôi luôn giúp bố của cháu vì bố cháu là người tốt, và vì bố cháu không khỏe, không còn lo cho cháu học tiếp được nên tôi tiếp tục giúp bố cháu nuôi các cháu ăn học chứ nào phải tôi cho cháu vay tiền mượn bạc mà cháu nói đến việc hoàn vốn trả lời; rằng hãy dùng số tiền trong phong bì để lo cho việc học của hai cậu em để làm vui lòng bố mẹ; rằng phải cố gắng làm việc nghiêm túc và lương thiện; và phải tự hào mình được làm con của cha mẹ nhân hậu và tốt đẹp như vậy; rằng v.v. và v.v. Như bao lần khác, tôi lại thắng với tài hùng biện, nghĩa là đến giờ tôi vẫn …không biết trong bao thư ấy có bao nhiêu tiền, và nghĩa là cháu gái ấy khóc, mẹ cháu rơi nước mắt, còn anh C thì huyết áp dâng cao và dịch vị dạ dày trào dâng chắc do cảm xúc dâng trào.

Gần đây, đến lượt con trai anh C nhờ tôi tư vấn về học đại học và chọn ngành học. Nay cháu đã  là sinh viên năm thứ hai của một ngành khác với cô chị. Anh C nói rằng cháu là “ca sĩ” nổi tiếng của trường nên anh lo lắng cháu sẽ xao nhãng việc học hành. Tôi trấn an anh rằng tôi cũng là “ca sĩ” nổi tiếng của trường tiểu học và trung học mà! Tết năm 2012 này chính cháu trai ấy thay bố đem quà tết đến nhà tôi và tôi lại xách ra đưa cháu một giỏ quà như giỏ quà chuẩn bị cho anh bộ đội tài xế K ở trên. Tôi cao 1m70 nhưng đứng thấp hơn cháu ấy dù tôi đi đôi bốt đế hơn 5cm để thành 1m75. Mấy cha con nhà anh C sao mà cao thế! Mấy cha con nhà anh K sao mà không cao thế!

Vợ tôi thắc mắc (sao vợ hay thắc mắc thế!) hỏi tôi tại sao dấu việc giúp anh C công ăn, việc làm, mua bảo hiểm nhân thọ, và chu cấp việc học hành cho con anh. Tôi uốn ba tấc lưỡi Lăng Tần nói rằng tiền học phí rất thấp vì trường công lập mà, rằng bảo phí đóng có chút xíu nhưng có thể giúp gia đình anh ấy rất nhiều nếu chẳng may anh ấy ốm đau, không có bảo hiểm thì cách chi chữa trị được. Vợ tôi bị thuyết phục trước tài hùng biện của tôi, nên hỏi tôi sao chăm lo người ngoài mà thờ ơ không mua bảo hiểm cho ai trong dòng họ, khiến tôi cà lăm, buộc phải thú thật là tôi đã mua tất tần tật cho mấy cô em của tôi, cho mấy chàng em rể của tôi và mấy đứa cháu của tôi nhiều năm nay rồi! Vợ tôi thất kinh, huyết áp dâng cao, hỏi tôi đã thành thật khai báo đầy đủ chưa, vì còn nhiều người gởi quà tết đến lắm, liệu tôi có đã … “tài trợ” gì không. Tôi phải dùng thuật hùng biện rằng “em ơi em hỡi em à, em biết là nhiều chục năm qua anh chẳng hề cà phê thuốc lá nhậu nhẹt bù khú gì với bất kỳ ai, chỉ lo đi làm và đi dạy học, sống tằn tiện lương thiện thanh bần chứ nào có xa hoa, đã vậy hay đãng trí đâu có nhớ đã từng giúp những ai thì làm sao mà liệt kê danh sách cho em được”. Thấy vợ tôi vẫn chưa hạ hỏa, tôi nhắc lại chuyện thầy mẹ của vợ tôi (gia đình vợ tôi người Bắc di cư, gọi cha mẹ là Thầy Mẹ) ngày xưa vét hết gạo nhà nấu cháo cứu sống vài chục dân nghèo lúc nạn đói hoành hành Miền Bắc, và lúc di cư vào Nam luôn đi chùa làm việc thiện cho đến ngày về cõi Phật, là tấm gương sáng mà tôi phải noi theo Thầy Mẹ để xứng đáng làm con rể nhà họ Vũ. Vợ tôi cảm động khi thấy chồng mình hằng đêm thắp hương cho cha mẹ vợ nay lại kể lể công đức của cụ ông cụ bà nên nức nở bồi hồi, không còn cật vấn tôi mấy chuyện tương tự chuyện anh C, anh K, và nhiều “anh’ nhiều “chị” khác.

Tôi có quen thân nhiều người tốt như vậy, và cứ tết đến là vợ tôi lại lui cui chuẩn bị các giỏ quà để  đáp lễ những người tốt ấy, theo đúng tiêu chuẩn xử thế của tôi là …nhận một đáp mười. Họ đã luôn đến vào dịp Tết. Con cái họ đang luôn đến vào dịp Tết. Thời gian có làm tiêu hao sức khỏe của những người tốt ấy, thậm chí làm cuộc đời vơi dần sự góp mặt của họ, nhưng thời gian lại gia tăng sinh khí cho con cái của họ để sợi dây thân tình luôn duy trì bền chặt giữa những đấng sinh thành tuy ít học nhưng có nhân cách lớn ấy, với tôi, người đã thật may mắn có được cơ hội ở gần họ, những con người tuyệt diệu chủ nhân những gia đình tuyệt diệu.

Hai anh “bộ đội” VVK và PVC này là tiêu biểu cho tất cả những người nghèo tốt đẹp tôi quen. Câu chuyện về những người khác cũng tương tự, với tất cả các nội dung cộng lại của nghèo khó, lương thiện, tự trọng, hướng thượng, nhân hậu, danh dự, trách nhiệm, bản lĩnh, cần cù, gia đình hạnh phúc, nền nếp gia phong. Tôi sẽ không viết thêm về những người khác, dù vẫn sẽ cùng vợ tôi viết tên của họ để dán vào các giỏ quà Tết, vui vẻ đợi chờ đàn con cái thành nhân chi mỹ của họ. Tôi và họ không phải là những người bạn và vẫn chưa bao giờ xem nhau như bạn. Chúng tôi chỉ là những người quen. Chúng tôi gần nhau vì chúng tôi tin vào một điều rằng còn có Trời Phật trên cao.

Những người quen ấy của tôi không sử dụng được internet, nhưng con cái họ sẽ đọc được những lời này để biết rằng cha mẹ các cháu đã được tôi quý mến, tôn trọng, không vì họ có học thức cao, học vị cao, tài sản vật chất nhiều, mà chính vì họ có tình thương bao la dành cho con cái, vì với tình thương ấy họ đã luôn cố gắng giữ gìn danh dự, đem cách sống trong danh dự làm gương cho con cái soi theo, để tất cả những đứa con ấy có thể tự tạo được cuộc sống sung túc và hạnh phúc một cách lương thiện, và nhất là sống như bao công dân chân chính khác ở đất nước của đạo nghĩa này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…”

Tôi và Bùi Giáng  September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Lê Hùng Dũng January 9, 2015

Sẽ đăng lại:

Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Tôi Và Cu Huy Ha Vu

Bằng Giả

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-9-2017

Bằng Giả (1)

Nhân thấy thiên hạ lại đang xôn xao về một đề tài cực kỳ cũ rích đối với vấn nạn “bằng cấp giả” mà nhiều năm trước tôi đã từng nêu ra và miệt thị, song tiếc là đã không bất kỳ ai ở cấp quản lý nhà nước về đào tạo & giáo dục cùng tổ chức nhân sự quan tâm, khiến tạo điều kiện cho biết bao tên thạc sĩ/tiến sĩ mưa sắm bằng cấp giả để ngồi lên các chiếc ghế quyền lực thiệt phá tan nát không những cơ đồ nước Việt mà còn uy danh của Đảng cùng lòng tin của nhân dân về cung cách “trọng dụng nhân tài” của Đảng, tôi nghĩ việc đăng lại một bài viết cũ rích như dưới đây có khi lại trở thành thứ mới mẻ tân kỳ hiện đại chăng?

Đại Học Gà Rừng & Rừng Gà Học Đại

(Bài đăng ngày 28-9-2010 trên Emotino http://www.emotino.com/bai-viet/18827/dai-hoc-ga-rung)

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2010

Trên chuyến bay Air France từ Bang Kok đi New Delhi tháng 10 năm 1994 tôi lấy làm lạ khi đọc thấy một mẩu quảng cáo khổ 3cm x 6cm của một trường đại học Mỹ tên Columbia trên trang cuối bìa trong của tạp chí Newsweek rằng họ cung cấp chương trình học hàm thụ khẩn cấp trong ba tháng lấy văn bằng thạc sĩ và tiến sĩ mà không cần phải có cử nhân hay chứng chỉ TOFEL hay Michigan gì cả. Lúc ấy, tôi vừa chấm dứt 8 năm giảng dạy Anh Văn để “kinh doanh quốc tế” ở tuổi 35 vào thời điểm đi công tác nước ngoài là việc cực hiếm đối với “thường dân”, chưa có máy fax, chẳng có mobile phone, chưa có computer, nên tôi tức cười hệ thống giáo dục tào lao của Mỹ, vì rằng Newsweek không phải là báo lá cải nên khi đăng quảng cáo ắt là danh chính ngôn thuận. Hơn hơn mười năm sau tôi hay nhận được qua email vô vàn sự chào giá của những trường đại học Mỹ với nội dung tương tự (thậm chí không phải học hàm thụ cấp tốc ba tháng mà là … khỏi học ngày nào cả, đóng tiền là có văn bằng), và cũng nhờ internet tôi mới biết đó là trò của các diploma mills hay degree mills tức các xưởng cấp văn bằng tức các trường học đại .

Thật ra, các trường học đại mà tiếng lóng ngày nay ở Việt Nam gọi là “đại học gà rừng” là chuyện bình thường kiểu Mỹ, tức đâu có nhu cầu thì ắt có cung ứng. Họ mở trường đại học, có giấy phép, nhưng theo kiểu thực phẩm chức năng – nghĩa là muốn sản xuất thì sản xuất nhưng phải ghi rõ giòng chữ “không phải là thuốc, không có tác dụng chữa bịnh, và không được chuẩn y bởi Cơ Quan Quản L‎ý Dược & Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA”; nghĩa là văn bằng “đại học gà rừng” phải ghi rõ giòng chữ “văn bằng này không được các cơ quan giáo dục hữu quan Hoa Kỳ công nhận giá trị”. Trên thực tế, các trường có giấy phép kinh doanh ấy biến thành “đại học gà rừng” khi cấp phát văn bằng không có ghi dòng chữ trên hoặc cấp phát văn bằng với sổ điểm giả về sự tham dự học tập không có thật của người được cấp bằng.

Tình hình văn bằng giả ở Việt Nam có thể khá nghiêm trọng. Thậm chí có vị tiến sĩ khi mời tôi cộng tác đã nói với tôi rằng ông đang mua cho một anh nhân viên cấp cao của ông tấm bằng thạc sĩ để “viện” của ông có thêm “danh giá”; và khi ông nói trình độ tiếng Anh và kiến thức cùng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của tôi đáng là bậc thầy của rất nhiều vị tiến sĩ thực thụ – và thậm chí còn nói tâng bốc tôi quá đáng rằng tôi đáng là bậc thầy của chính ông dù tôi là thạc sĩ còn ông là tiến sĩ – đang giảng dạy ngành Anh Văn và Quản Trị Kinh Doanh ở Việt Nam, và khi biết tôi dự định sẽ học lấy bằng tiến sĩ sau năm hay mười năm nữa, ông lập tức phone ngay trước mặt tôi cho một phụ nữ là giám đốc một công ty ở Hà Nội, bảo cô ấy rằng ông muốn đài thọ chi phí mua cho tôi một bằng tiến sĩ của một đại học Philippines. Khi tôi hốt hoảng xua tay, ông hiểu lầm tôi chê tầm cỡ của trường ấy, nên sau khi cúp máy, ông nói ngay rằng nếu tôi muốn có bằng của một trường “danh giá” thực sự, ông sẽ lo cho tôi một bằng tiến sĩ thực thụ của một viện hàn lâm Nga vì theo lời ông, các viện sĩ Nga đại tài danh tiếng toàn cầu hiện nay rất đói khổ và “các lão ấy” (từ ngữ của vị tiến sĩ khả kính đang bày mưu cho tôi) sẵn sàng chấp bút viết ngay luận án mới đẳng cấp cao thực sự rồi ghi tên tôi vào làm “đồng tác giả” để đương nhiên thành “viện sĩ”, “giáo sư”, “tiến sĩ”! Khi tôi kiếm cớ tháo lui, nói tôi không giỏi tiếng Nga, ông cười hềnh hệch: “Đâu có sao!” Tôi vội chấm dứt mọi sự cộng tác với vị tiến sĩ ấy vì tôi ngờ vực cái học vị tiến sĩ của ông chắc cũng là thứ ông đã có được theo cách ấy, và cũng vì tôi không an tâm cộng tác với một ông tiến sĩ gian giảo đang có trong tay một số nhân viên sắp trở thành thạc sĩ quản trị kinh doanh với bằng cấp “đại học gà rừng” vinh hiển của nước ngoài.

Khi được may mắn sinh ra trong một gia đình dưới sự giáo dục nghiêm túc của cha mẹ, người ta dễ thấy xấu hổ với tổ tiên nếu nhúng chàm đối với các trò gian giảo đặc biệt đối với mua bằng cấp, mua chức vụ. Tôi luôn khuyên học trò mình đừng bao giờ ngơi nghỉ trong trau giồi kiến thức, và bất cứ khi nào có đủ quỹ thời gian và quỹ tiền hãy cố đầu tư học thêm lên các các cấp thạc sĩ và tiến sĩ, và tôi hứa sẽ giúp các em về kiến thức cho các chương trình các em theo đuổi. Thậm chí tôi còn bảo khi có em nào bắt đầu muốn lấy bằng tiến sĩ thì nhớ … rủ tôi cùng lấy chung cho vui để có ngày thầy trò cùng đội mão tiến sĩ nhận bằng trong cùng một buổi lễ – trò đạt tiến sĩ để thăng tiến trong chuyên môn, còn thầy vác bằng tiến sĩ về …cất, làm gương cho con cố gắng như Bố.

Tại các cường quốc văn hóa đều có thông tin đầy ắp và cập nhật thường xuyên danh mục các trường kém chất lượng không có văn bằng có giá trị, hay có chất lượng đáng ngờ, kể cả những đại học gà rừng như qua các links sau:

a- Tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ đều có danh mục các trường tại Mỹ (và có khi liệt kê cả các trường nước ngoài) có bằng cấp vô giá trị; chẳng hạn tại

Bang Michigan có danh sách 857 trường đại học khả nghi (http://www.michigan.gov/documents/Non-accreditedSchools_78090_7.pdf)

hay Oregon có http://www.osac.state.or.us/oda/unaccredited.aspx

b- Wikipedia cũng cung cấp thông tin dồi dào về 252 đại học gà rừng tại http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_unaccredited_institutions_of_higher_learning

c- Trong khi đó, CHEA (Hội Đồng Xác Định Giá Trị Văn Bằng Hoa Kỳ) tại trang web http://www.chea.org/degreemills/frmStates.htm còn liệt kê danh mục 99 “tổ chức”, “cơ quan” không được Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ cho phép xác định giá trị văn bằng nên mọi “đóng dấu k‎ý tên chứng thực giá trị văn bằng” của bất kỳ ai trong 99 cơ quan ấy đều không có giá trị.

d- Ngay tại Pakistan cũng có danh mục 112 học viện và đại học “gà rừng”để cảnh báo sinh viên nước họ. Thậm chí còn có danh sách những trường đại học Pakistan do các cơ quan tự tổ chức trái chức năng nên văn bằng không có giá trị ngay tại Pakistan (http://web.archive.org/web/20061223061754/http://www.hec.gov.pk/htmls/hei/public_alert1.htm).

Việt Nam có thể dựa vào thông tin đầy ắp tại các websites chính quy trên để phổ biến rộng rãi giúp sinh viên và phụ huynh tránh chọn lầm trường du học. Việt Nam cũng nên noi gương Pakistan vì tại Việt Nam ngày càng phát hiện nhiều cơ sở đào tạo do những cơ quan hay tổ chức không có chức năng thành lập gây ra các vụ lừa lọc hỗn loạn trong xã hội khi “sinh viên” học xong mới biết văn bằng không được cấp hay không có giá trị.

Mọi sự khinh bỉ và miệt thị nghiêm khắc nhất phải luôn được dành cho tệ nạn mua bán văn bằng và sử dụng văn bằng mua bán, vì rằng sự trơ tráo trơ trẽn đã lên đến cùng cực khi có kẻ tự xưng tiến sĩ công khai tổ chức trên mạng xã hội Linkedin và gởi đến tôi bức thư sau: “Chào Ngài. Ngài là người có tài nhưng không có bằng Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh hay Tiến Sĩ vì ngài quá bận rộn không thể đến trường! Chúng tôi sẽ giúp Ngài có văn bằng tốt tại các trường đại học tốt mà chẳng cần học và với chi phí thấp!

Thậm chí sự trơ trẽn còn được nâng lên cao hơn sau khi nhận được giòng chữ “Cảm ơn. Tôi không cần vì tôi đã là thạc sĩ Curtin rồi” của tôi, hắn còn chèo kéo rằng “Hay quá! Ngài nghĩ sao nếu bây giờ sắm thêm cái tiến sĩ cũng của đúng trường đại học Curtin đã cấp bằng thạc sĩ cho ngài?”.

Chỉ có sự phỉ nhổ vào cái mua bán văn bằng, người ta mới may ra không phải nhìn thấy các mục quảng cáo chễm chệ như của Đại Học Cumbria nào đấy dành cho các CEO học lấy Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh mà không cần có bằng cử nhân (MBA without Bachelor CEO).

Bằng Giả (2)

Cũng như những kẻ mặt dày mày dạn công khai rao bán văn bằng trên mạng xã hội:

Chúng tôi sản xuất văn bằng của 500 đại học hàng đầu với giá: bằng Cử Nhân 1500 USD, Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh 1700 USD v.v.:

Bằng Giả (4)Bằng Giả (3)

Từ vấn nạn “đại học gà rừng” gồm những nơi sản xuất văn bằng các loại – kể cả ngành y khoa – xã hội các nước ngày càng có nhiều nơi hay nhiều cơ quan biến thành khu “rừng gà học đại” tức những kẻ chơi luật rừng để có học vị, tuy có lông cánh sặc sỡ nhưng không gáy được – câm tịt như hến chẳng nói hay viết được bất kỳ điều gì liên quan đến học thuật hàn lâm nghiêm túc từ sau khi trở thành “thạc sĩ” hay “tiến sĩ” (do quá trình nghiên cứu vài năm cho hàng chục tiểu luận đã hình thành nơi “thạc sĩ/tiến sĩ” thói quen viết lách, tìm đến cái hay của học thuật hàn lâm, và thảo luận nhóm nên đương nhiên sau khi “tốt nghiệp” chỉ còn “thói quen kiểu phản xạ tự nhiên” khi chỉ tìm đọc sách báo nghiêm túc) – hoặc cất tiếng ụt ịt không của loài gà – tức toàn phát biểu linh tinh vớ vẩn – thay vì phải là những lời như nhả ngọc phun châu, cao thượng, cao đẹp, kiến thức và trí thức cao vời, làm tốt đẹp hơn cuộc đời và đem về cho đất nước này nhiều hơn những điều vinh hiển.

Trạng Quỳnh nếu còn sống ắt không dám nằm khỏa thân phơi bụng trắng hếu rốn lồi giữa chợ tay quạt mo đỏ au phành phạch miệng nhai trầu bỏm bẻm nổ tung trời đất thế kia vì rằng cái chữ ngày nay chứa trong muôn tỷ cái “bồ” chứ nào phải số lượng chỉ “đôi ba” nên có vô vàn kẻ bụng bự tham gia nằm lấn chỗ Trạng..

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

28-9-2010

Tham khảo các bài viết sau 2010:

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. August 4, 2013

Thế Nào Là Nhà Trí Thức February 14, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lại Trí Thức! June 9, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Khiêm Tốn February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Nhà Trí Thức Tự Phong = Chứng Chỉ C November 3, 2015

Đại Học November 4, 2015

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam December 30, 2015

Đồng Phục Học Sinh January 30, 2016

Nhà Giáo Mỹ May 9, 2016

Cấm Dạy Thêm: Đúng Và Sai Của Thành Phố Hồ Chí Minh September 29, 2016

Du Học Hiếp Dâm và Hiếp Dâm Du Học November 1, 2016

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn

Bài Viết Riêng Cho Các Cháu Sinh Viên & Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-9-2017

Wordpress Triều Tiên

A- Sự Thật Khốn Nạn

Triều Tiên là tên gọi Hán Việt cho đất nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Châu Sơn mà Âu Mỹ gọi tắt trong tiếng Anh là North Korea còn tiếng Việt nương theo đó gọi là Bắc Triều Tiên hoặc Bắc Hàn tùy theo sự lựa chọn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Hòa. Bắc Triều Tiên còn được gọi tắt là Triều Tiên.

1- Sự Thật Khá Khốn Nạn:

Tác giả bài viết này đã nhận ra sức mạnh thực chất kinh khủng của Triều Tiên nên trong Thư Gởi Tổng Thống Saddam Hussein đã vấn kế hình thành Khối Tân Trục Iran-Iraq-Triều Tiên để tạo thế chân vạc khống chế hiệu quả sự manh động của Hoa Kỳ nhờ đó giúp (a) duy trì hòa bình thế giới và (b) giúp nước Mỹ tránh họa suy vong vốn cực kỳ bất lợi cho nhân loại và Việt Nam với sự trỗi dậy của bọn Trung Quốc. Tuy nhiên, báo chí Âu Mỹ và tỷ tỷ con người trên thế giới vẫn hoặc mông muội hoặc giả vờ phủ nhận để tiếp tục vận dụng năng khiếu sáng tạo đẻ ra toàn những thông tin láo xạo về Triều Tiên, khiến một bộ phận không bao giờ nhỏ con cháu Tiên Rồng bị rối trí bởi sự tiếp tay tình nguyện của báo chí chính thống nội địa thiếu ánh sáng trí tuệ luôn mang tâm lý nô dịch tôn thờ thông tin Âu Mỹ giúp truyền lan nhanh hơn rộng hơn các láo xạo ấy về Triều Tiên.

2- Sự Thật Quá Khốn Nạn:

Fake News tức Tin Láo Xạo là thuật ngữ do Tổng Thống Mỹ Donald Trump chế ra để làm hệ thống truyền thông chính thống Mỹ từ nay ô danh vạn đại do đã rời xa các hào quang trung thực trung lập để tập trung công kích Donald Trump từ ngay trong thời gian tranh cử tổng thống cũng như tập trung phủ nhận bất kỳ thành tựu nào hoặc kế sách nào của Donald Trump sau khi trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về thông tin giật tít “Bắc Việt” tấn công chiến hạm Maddox của Mỹ tại Vịnh Bắc Bộ “buộc” Mỹ phải ào ạt đổ bộ vào … Đà Nẵng để xây dựng cái gọi là Nam Việt tức Việt Nam Cộng Hòa – thay vì lẽ ra phải là Hải Phòng nếu để trừng trị “Bắc Việt” cho vụ Maddox.

Cũng vậy, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về sự kiên trì đẻ ra bao thông tin giật tít về sự quái qở quái đản quái dị quái vật của Triều Tiên.

Tờ Telegraph lừng danh thế giới của Anh Quốc mới tháng trước còn đưa tin rằng binh sĩ đói khát Bắc Hàn đã được lịnh hãy đi ăn trộm bắp ngô của dân vì chiến tranh đã rất gần kề:

Wordpress Triều Tiên (2)

cộng với sự hòa âm điền dã của các bản tin tiếng Việt bất kể của báo chí chính thống xuẩn ngu khạo khờ con nít không được Đảng Cộng Sản dạy dỗ nên người, hoặc của tờ rơi xó chợ đầu đường láu cá cáo già muốn bôi nhọ bôi xấu “cộng sản” tức “phe” của Cộng Sản Việt Nam, dù Triều Tiên chẳng theo chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít, chủ nghĩa Mác-xít Mao-Ít hay chủ nghĩa…Mác-xít Kim-Nhật-Thành-nhít gì cả:

Wordpress Triều Tiên (3)

Chưa kể còn có thông tin tràn ngập về sự tàn bạo của chế độ Triều Tiên, sự điên dại của lãnh đạo Triều Tiên, sự đói khát của dân chúng Triều Tiên,

Wordpress Triều Tiên (4)

Vẫn chưa đủ, báo chí Âu Mỹ còn nhạo báng rằng quân đội Triều Tiên mỗi khi tổ chức diễu binh hoành tráng chỉ xài toàn mô hình vũ khí bằng đồ chơi, bằng nhựa, bằng bong bóng bơm hơi hay bằng mấy tấm tôn nhẹ hều uốn tròn làm giống như “hỏa tiển” để hù thế giới:

Wordpress Triều Tiên (5)

đến độ nhiều độc giả tại Việt Nam bị nhiễm độc thông tin nên mới thi nhau tự động có ngay những lời bình mà không biết bản thân đã ngây thơ ra sao và sa chân vào bẫy giặc như thế nào, chẳng hạn như:

Wordpress Triều Tiên (6)

3- Di Hại Thật Sự Từ Sự Thật Láo Xạo:

Trước khi nêu cụ thể thế nào là thông tin láo xạo trong Phần B dưới đây, nhất thiết phải giải thích vì sao gọi là ngây thơ sa chân vào bẫy giặc:

Việt Nam cộng sản giải phóng Miền Nam đánh tan quân đội Mỹ thành công và tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa thành công, Việt Nam cộng sản đánh tan Trung Quốc thành công, và Việt Nam cộng sản tiêu diệt Khờ-Me Đỏ thành công. Mỹ lập tức cấm vận kinh tế bủa vây phong tỏa Việt Nam. Hậu quả là Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế ba-con-số, sản xuất đình trệ vì bị cấm mua nguyên liệu cùng phụ tùng thay thế, lương thực thiếu thốn vì không được phép mua phân bón, thuốc men thiếu thốn do bị cấm nhập khẩu khiến bao người dân và trẻ con phải tử vong, phúc lợi xã hội gần bằng không. Kết luận của bọn truyền thông Âu Mỹ mất dạy dương dương tự đắc là (a) rõ ràng chủ nghĩa cộng sản chỉ tổ làm đất nước lầm than bần cùng hóa dân lành, (b) rõ ràng lãnh đạo cộng sản bất tài vô dụng vì không bao giờ làm kinh tế ra hồn bằng cái mớ kinh tế-chính trị Mác-Lê hỗn độn vô dụng, (c) rõ ràng lãnh đạo cộng sản lòi cái cốt kinh niên chuyên xâm lược nước khác, và (d) rõ ràng “phe” xã hội chủ nghĩa vô đạo đức chuyên đánh nhau loạn xị không bao giờ đại đoàn kết hướng thượng như phe tư bản. Và người nghe bị lùng bùng lỗ tai, mất luôn lý trí chẳng còn ai có khả năng nhận ra kẻ giết hại người dân và trẻ nít Việt Nam chính là bọn Mỹ bằng vũ khí cấm vận của chúng ngăn chặn sự sống còn của cả một dân tộc sau khi vũ khí súng-đạn-bom thất bại hoàn toàn.

4- Phản Đòn Từ Sự Thật Láo Xạo:

Gậy ông đập lưng ông. Sự đồng thuận của Mỹ với Trung Quốc và Campuchea xâm lược Việt Nam từ hai hướng Bắc và Tây Nam cũng như cấm vận kinh tế và tâm lý chiến để nhiều triệu người Việt Nam vượt biên vượt biển hầu khiến Việt Nam vừa mất nguồn nhân lực sản xuất lương thực khu vực phía Nam, vừa mất cả danh thơm vì “giải phóng” kiểu gì mà người được giải phóng phải bỏ chạy chối từ ơn huệ “giải phóng” ấy, rốt cuộc đã đẩy Mỹ vào tiến trình tự hủy vì phải cưu mang hàng triệu người nhập cư mà nhiều thập kỷ qua chứng minh không bất kỳ ai trong họ hoặc hậu duệ của họ đã trở thành nhân tài làm nước Mỹ thịnh cường mà chỉ lo tụ năm tụ ba mãi miết xuống đường hét la và chế tạo tin tức nhảm nhí với ước mong làm sập Việt Nam cộng sản mà súng-đạn-bom-quân Mỹ đã thất bại hoàn toàn.

Chưa kể, chẳng bao giờ có chuyện hàng trăm điệp viên thượng thặng của cộng sản lại không luôn có mặt trên tất cả những con tàu vượt biên thành công tức những chuyến vượt biển mà an ninh cộng sản Việt Nam làm ngơ không bắt. Đây là lý do nhất cử nhất động của các nhóm chống cộng hải ngoại đều được mật báo chi tiết chính xác về Việt Nam và an ninh cộng sản cứ thoải mái nằm võng chốt chờ đúng ngày đúng giờ đúng phút đúng giây hốt sạch các đoàn Kinh Kha vác vũ khí và tiền giả mò về “phục quốc”.

Gậy ông đập lưng ông. Sự láo xạo về Triều Tiên nhiều chục năm qua đã khiến Âu Mỹ tuần trước đã nói ngọng đầy run sợ thực sự trước một Triều Tiên tự nhiên đột nhiên hùng mạnh thực sự.

Một Nam Hàn cực kỳ tàn bạo dưới sự lãnh đạo độc tài của Park Chung Hee (Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tổng Thống Phác-Chánh-Hy) như nêu trong bài viết Tứ Trụ Bắc Việt xấn sổ hừng hực hùng hục ùa vào Việt Nam Cộng Hòa xa xôi để tiêu diệt cộng sản, nhằm giúp Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng thực hiện đại cuộc Bắc Tiến tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xem đó như cuộc tập dượt cho những kế hoạch hành động bạo tàn tương tự tiêu diệt Triều Tiên sát nách. Các cuộc thảm sát dân Việt do binh sĩ Nam Hàn thực hiện là minh chứng rõ nét nhất về sự khát máu của quân đội Nam Hàn trước đó đã từng tàn sát người dân Nam Hàn nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự Nam Hàn Phác-Chánh-Hy do Mỹ hậu thuẫn. Y hệt như kẻ ra lịnh tàn sát người dân nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự “Nam Việt” do Mỹ hậu thuẫn, sẽ không bao giờ có chuyện Nam Việt từ bỏ đại cuộc giết sạch dân chúng “Bắc Việt” thậm chí còn cầu mong Mỹ sẽ ném bom nguyên tử để xóa sạch một lần và mãi mãi “Bắc Việt”. Bắc Hàn chưa nếm mùi bom nguyên tử chẳng qua Mỹ lo sợ phóng xạ tràn lên Trung Quốc kích hoạt sự trả đủa biến Hoa Kỳ thành hỏa ngục và phóng xạ tràn xuống tiêu diệt luôn cả Nam Hàn tiền đồn tử thủ của Hoa Kỳ làm trống hoác tuyến phòng thủ phía Đông.

Thế thì cái việc đơn giản mà không những Bắc Hàn và “Bắc Việt” cũng như bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ nhà lãnh đạo nào của bất kỳ quốc gia nào bị lâm vào hoàn cảnh tương tự luôn là phải tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn. Ai phản bác điều đơn giản mang tính chân lý này chỉ có thể là kẻ ngu khờ. Nếu các bạn lãnh đạo một quốc gia phải đối mặt với bọn hiếu chiến thề nguyền tiêu diệt bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, với sự giúp sức của siêu cường cũng đang quyết tâm xóa sổ bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, phải chăng bạn sẽ nhanh chóng đầu hàng ngay, dâng ngay thủ cấp của bạn, dâng nước cho kẻ thù?

Còn nếu bạn tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn để tự vệ, để cứu quốc, để cứu sống cả dân tộc, thì xin kính mời bạn thành tâm học hỏi từ Triều Tiên và các lãnh đạo của Triều Tiên.

B- Che Đậy

Triều Tiên là đất nước bí mật vì luôn có sự che đậy từ hai phía.

1) Triều Tiên đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên:

Che đậy và tung hỏa mù là binh pháp hữu hiệu từ ngàn xưa để tự vệ của tất cả các “con” từ con thú đến con người.

Hoa Kỳ đã che đậy và tung hỏa mù và áp dụng cơ chế kỹ luật sắt nhằm bảo vệ nghiêm nhặt tất cả các căn cứ quân sự và tình báo ngay trên đất Mỹ.

Việt Nam Cộng Hòa luôn gắn bảng cấm chụp hình và “Vượt Qua Binh Sĩ Sẽ Nổ Súng” trước các vị trí đóng quân, ngay cả phía đối diện với trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký (tức trường Lê Hồng Phong, đường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay).

Trong thế bị Mỹ và Nam Hàn chực chờ tiêu diệt, Triều Tiên đã luôn cấm du khách tự do đi lại, tự do chụp hình, cũng như không mặn mà khoe sức mạnh kinh-tài của đất nước, vì không muốn các thông tin chính xác về vị trí các cơ quan đầu não chính trị-kinh-tài bị tiết lộ, trở thành mục tiêu tấn công bằng hỏa tiễn của kẻ thù.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chiến thắng tuyệt toàn (tuyệt đối và toàn diện) trước Mỹ.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Triều Tiên đã tồn tại cho đến ngày nay một cách không sao tưởng tượng nổi – nếu dựa trên tỷ tỷ thông tin hết sức đáng tin cậy của truyền thông Âu Mỹ nhiều thập niên qua.

2) Âu Mỹ đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên.

Trước sự thật là đã hoàn toàn thất bại về tình báo, gián điệp, và phản gián chống Triều Tiên;

Trước sự thật là Triều Tiên đã thành công trong giữ bí mật tuyệt đối;

Để che đậy sự bất lực của mình, Âu Mỹ đã nương theo đó loan truyền về sự tàn bạo khát máu của giới cầm quyền Triều Tiên, sự khiếp sợ và đói khổ của người dân Triều Tiên, sự chà đạp nhân quyền và tự do ngôn luận ở Triều Tiên, như những lý do hùng hồn chứng minh vì sao không thể có thông tin và hình ảnh cụ thể của Triều Tiên lọt ra ngoài để Âu Mỹ có thể chạm vào Triều Tiên.

Âu Mỹ chỉ có thể tung hê những phát biểu của một kẻ bôn đào nào đó từ Triều Tiên tố cáo chế độ Triều Tiên, xem đó như những lời đáng tin cậy nhất từ nguồn tin đáng tin cậy nhất của người dũng cảm nhất trong toàn bộ dân tộc Triều Tiên. Song, ngay cả tác giả bài viết này khi đọc một tải đăng trên Tweeter về phát biểu của một kẻ bôn đào từ Triều Tiên, đã có thể “tweet” ứng khẩu ngay bằng tiếng Anh trong phạm vi võn vẹn 140 ký tự tại @HoangHuuPhuoc rằng tất cả bọn bôn đào “chính trị” hiện nay trên toàn thế giới đều thực chất là hoặc đi kiếm ăn ngoài nước vì đói, hoặc trốn vì đã là tội phạm ở quê hương, hoặc đào tẩu vì là kẻ phản quốc hèn hạ; đồng thời nêu tên các kẻ bôn đào mà Mỹ đang quyết tâm phải truy nã bắt về trị tội cho bằng được như chuyên gia Edward Snowden của CIA là công dân Mỹ Quốc và chủ nhân Julian Assange của Wikileak là công dân Áo Quốc; huống gì các bậc tài trí vĩ đại của thiên hạ còn hùng biện đến đâu để dễ dàng vạch mặt “tiêu chuẩn kép” hèn hạ của bọn truyền thông Âu Mỹ.

C- Tự Thú Bất Ngờ

1) Triều Tiên Tự Thú:

Nhận thức được những gớm ghê của công nghệ của thời đại thông tin trong thám sát thám báo không gian, Triều Tiên biết rằng toàn bộ lãnh thổ của mình đã nằm gọn trong tầm nhìn chi tiết, rõ nét, thường xuyên của kẻ thù. Cũng vì vậy, một mặt Triều Tiên phát triển công nghệ cao về thông tin để mạnh mẽ bước chân vào mặt  trận chiến tranh công nghệ thông tin toàn cầu, một mặt nới lỏng các nội dung trước đây tuyệt đối cấm đoán, nhờ đó nhân loại bắt đầu có những hình ảnh về những nữ sĩ quan văn công sắc nước hương trời vác đàn vilon và cello đi lưu diễn hải ngoại cho nước ngoài biết thế nào là lễ độ với văn hóa Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (7)

Đặc biệt, các hình ảnh công khai của truyền thông Triều Tiên cũng như qua các ảnh chụp của các du khách Âu Mỹ cho thấy một Triều Tiên với thủ đô “Bình Nhưỡng” mà National Geographic phải tán thưởng là tuyệt đẹp, mà với sự công tâm thì người Việt Nam có thể phải thừa nhận trong tủi hổ tủi thân tủi nhục rằng không bất kỳ một thành phố lớn nào của Việt Nam cường thịnh no đủ có thể sánh bằng:

Wordpress Triều Tiên (8)Wordpress Triều Tiên (9)Wordpress Triều Tiên (10)Wordpress Triều Tiên (11)Wordpress Triều Tiên (18)

Chưa kể, tòa nhà Ryugyong Hotel 105 tầng cao sừng sững như một Kim Tự Tháp do một tập đoàn Ai Câp thiết kế – dù việc xây dựng nhiều năm vẫn chưa hoàn tất do tác động của cấm vận kinh tế – cũng đủ cho thấy sức mạnh kinh tế của Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (12)Wordpress Triều Tiên (13)

Phải chăng Triều Tiên nghèo đói lạc hậu chuyên môn diễu binh bằng hỏa tiễn cao su bong bóng nên đã xây một thành phố với những tòa nhà vĩ đại bằng cách lắp ghép các tấm tôn chất lượng mỏng dính thua sản phẩm của Tôn Hoa Sen và bằng những tấm bìa các-tông sơn bằng loại phẩm màu đặc biệt đến nỗi mưa không làm phai màu và gió bão cuồng phong không thể thổi bay tứ tán xuống thủ đô Seoul của Nam Hàn rồi tan thành bột giấy lọt xuống cống trôi ra Biển Hoa Đông?

Còn việc thiếu lương thực do đất nông nghiệp ít, mùa màng thất bát, cấm vận chặn ngăn, không thiếu mới là chuyện lạ. Vấn đề là thiếu thốn nhưng bản thân chính phủ Triều Tiên đã vận dụng khoa học vào sản xuất lương thực thay thế như thế nào, thành công ra sao. Tương tự, cường quốc nguyên tử Ấn Độ vì danh dự quốc gia đã tuyên bố không bao giờ nhận cứu trợ nhân đạo bất kỳ, và chỉ có thảm họa động đất kinh hoàng Latur ngày 30-9-1993 tàn phá tiểu bang Maharashtra giết chết 10.000 dân cư và làm bị thương 30.000 người (theo số liệu của cơ quan chức năng, trong khi số liệu không chính thức thì chỉ riêng số người chết đã là 30.000) mới làm ý chí ngạo nghễ đó sụp đổ dù Nhà Nước vẫn dựng nên rào cản rằng Ấn Độ nay muốn tạo điều kiện cho nhà từ thiện Âu Mỹ được thỏa lòng mong đợi nên xem xét chấp nhận cứu trợ nhưng với điều kiện tiên quyết rằng hàng cứu trợ thiên tai phải là hoặc mới nguyên, không nhận quần áo đã qua sử dụng, hoặc bằng hiện kim, theo đúng danh mục hàng hóa cần đến do Chính Phủ Ấn Độ chính thức phát hành.

Không phải tự nhiên trong tất cả các phim bộ truyền hình Nam Hàn (tức Hàn Quốc) chiếu ở Việt Nam hiện nay luôn có cảnh các món ăn đa số là rau, còn thịt luôn dùng làm quà tặng quý, cũng như mỗi khi thấy có thịt là mọi nhân vật trong phim đều phải diễn sao cho bật sự suýt xoa. Bắc Hàn và Nam Hàn đều chịu chung số phận những quốc gia nhiều đồi núi, ít đất canh tác lương thực, lại lắm thiên tai. Chương Trình Lương Thực Liên Hợp Quốc WFP đã phải tích cực tập trung tăng cường viện trợ lương thực cho Nam Hàn (tức Hàn Quốc) trong 20 năm liên tục (từ 1964 đến 1984) và kể từ năm 2000 Nam Hàn mới tự túc được lương thực, giảm tỷ lệ tử vong vì suy dinh dưỡng ở trẻ em, không những vậy còn bắt đầu đóng góp cho WFP cho đến nay được 140 triệu USD. Nếu Bắc Hàn (tức Triều Tiên) thiếu thốn lương thực nan giải hơn do cấm vận của Mỹ và Liên Hợp Quốc và chỉ dựa vào viện trợ lương thực vừa phải của một hai “nước anh em” thì đâu phải là chuyện lạ mà lại sử dụng việc “thiếu lương thực” để bôi nhọ chế độ Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên một cách u mê kém hiểu biết đến dường ấy?

Tất cả những người có danh dự, có lòng tự trọng, và có biết tôn trọng danh dự, luôn kính trọng tư cách giữ gìn quốc thể của Ấn Độ và tư thế tự lực sinh tồn của Triều Tiên trước bủa vây cấm vận của kẻ thù.

2) Thế Giới Tự Thú:

Sau khi tuyên bố chỉ có Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh Quốc và Pháp Quốc là những quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử NWS và xem phần còn lại của thế giới là các quốc gia không có vũ khí nguyên tử NNWS trong Hiệp Ước Không Phổ Biến Vũ Khí Nguyên Tử NPT năm 1970, cơ quan quốc tế có liên quan đã ngu xuẩn không nhìn nhận Ấn Độ, Pakistan, và Israel cũng là NWS, đồng thời từ chối yêu cầu của Triều Tiên đòi phải ghi Triều Tiên vào danh sách NWS. Sự ngu xuẩn ấy đã khiến Triều Tiên rút tên khỏi Hiệp Ước, và cùng Ấn Độ, Pakistan, và Israel mặc sức theo đuổi các chương trình quốc gia để chạy đua vũ trang chế tạo vũ khí nguyên tử.

Khi cười cợt nhạo báng sự điêu linh của Triều Tiên từ chuỗi các lịnh cấm vận, Mỹ và Liên Hợp Quốc đã lâm vào thế kẹt do Triều Tiên chưa từng được họ công nhận là quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử, nên do vậy các lịnh cấm vận đều bị Triều Tiên có quyền nguyền rủa, liệt Mỹ và Liên Hợp Quốc vào vị thế những kẻ làm càn, vô duyên, vô lý, bá đạo, khiến Mỹ và Liên Hợp Quốc chưa bao giờ có danh chính nghĩa trong “xử lý” Triều Tiên “tội” sở hữu vũ khí nguyên tử. Chưa kể, Triều Tiên đã rút ra khỏi Hiệp Ước nên không cơ quan quốc tế nào trên nguyên tắc có quyền sử dụng quyền trừng phạt “thành viên” áp đặt lên Triều Tiên. Đó là lý do dù Triều Tiên đã tuyên bố hủy bỏ hiệp ước, Hiệp Ước vẫn đôi co tranh cãi rằng Triều Tiên đã vi phạm…quy định về thời gian nộp đơn xin rút tên, và do đó mặc nhiên Triều Tiên vẫn là “thành viên” mặc cho mấy chục năm qua chẳng đi họp bao giờ.

Khi tần suất thử bom nguyên tử của Triều Tiên dày hơn, thường xuyên hơn, và khi thấy các tầm bắn của các hỏa tiển Triều Tiên ngày càng kinh khiếp hơn, như Nodong có bán kính đe dọa toàn diện tích Nhật Bản và các đảo của Mỹ; Musudon quét trùm 2/3 diện tích Nga; KN-14 ôm gọn toàn lãnh thổ Canada, 50% diện tích nội địa Hoa Kỳ, toàn bộ Châu Âu, toàn bộ Châu Đại Dương, và toàn bộ Đông Nam Á; và KN-08 bao trùm toàn bộ Hoa Kỳ và toàn bộ Mexico cùng các châu nằm trong bán kính tương tự, Mỹ và Châu Âu mới buộc phải thú nhận rằng Triều Tiên là một cường quốc nguyên tử.

Báo Politico còn thừa nhận rằng Triều Tiên là một trong những mục tiêu tình báo bấy lâu nay Âu Mỹ hoàn toàn không thể xâm nhập được, trong khi các cơ quan an ninh tình báo Mỹ lại bó tay trước các tin tặc tài ba mà họ cáo buộc là các cuộc tấn công xuất phát từ Nga và Triều Tiên:

Wordpress Triều Tiên (14)

Còn Mỹ tự nhiên lần đầu tiên tự đặt mình ở thế chiếu dưới khi Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley vừa qua đã phải tuyên bố tại Hội Đồng Bảo An ở New York rằng “Đã đủ rồi đấy. Chiến tranh không bao giờ là thứ Hoa Kỳ muốn có. Song sự nhẫn nhục của chúng tôi không phải là không có giới hạn”. Khi mà Mỹ phải “nhẫn nhục” chịu đựng thì rõ là tư thế của Mỹ đã không còn khí thế ngang tàng như bấy lâu nay.

Khi Mỹ tuyên bố lắp đặt các hệ thống tên lửa đánh chặn THAAD ở Hàn Quốc còn Nhật hùng hổ triển khai các hệ thống PAC-3 hùng mạnh sẵn sàng bắn hạ tất cả các hỏa tiển Triều Tiên không để chúng rơi xuống Hàn, Nhật hay đảo Guam của Mỹ, Triều Tiên lập tức khai hỏa bắn hỏa tiển bay băng ngang lãnh thổ Nhật Bản và rơi xuống biển sau hành trình 1.700 dặm sau những 9 phút chứ không phải 9 giây:

Wordpress Triều Tiên (15)

mà cả THAAD và PAC-3 trở nên vô dụng hoàn toàn thất bại không thể phát hiện bắn hạ ngăn chặn dù chỉ một hỏa tiển tấn công của Triều Tiên suốt quãng đường gần 2.000 dặm, nói chi đến lúc Triều Tiên khai hỏa bắn cấp tập hàng chục hỏa tiển túa ra khắp nơi đánh cùng lúc vào các mục tiêu ở Mỹ và Châu Âu!

Để cứu gỡ thể diện, Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley tuyên bố Triều Tiên đang lạy lục xin xỏ – với động từ dành cho kẻ ăn mày “beg” – chiến tranh (“begging for war”) ra vẻ như Triều Tiên là kẻ ăn mày thèm khát chiến tranh còn Mỹ sẽ xem xét bố thí cho một cuộc chiến tranh. Truyền thông Việt Nam để ghi điểm với Mỹ đã nhanh nhảu dịch rồi giúp Mỹ loan tin với từ ngữ miệt thị bỡn cợt Triều Tiên rằng:

Wordpress Triều Tiên (16)

Tất nhiên, giống với tất cả các cơ quan truyền thông trên toàn thế giới thực sự có uy lực biết giữ gìn quốc thể – trong đó hoàn toàn thiếu vắng truyền thông Việt Nam – truyền thông Triều Tiên đã dõng dạc tuyên bố: “Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley là một con đĩ chính trị chỉ biết xum xoe tốc váy…hãy biết giữ cái mồm kẽo…” (North Korea on Friday called U.S. Ambassador to the United Nations Nikki Haley a “political prostitute” and derided her as “crazy swishing her skirt” after Haley said the rogue regime was “begging for war”…).

Tất nhiên, toàn hệ thống truyền thông chính thống Việt Nam không hề phổ biến khẩu khí đốp chát tuyệt hảo trên cơ này của truyền thông Triều Tiên.

Trong khi đó, Thủ Tướng Đức Angela Merkel xun xoe tuyên bố sẵn sàng đứng ra giúp đàm phán với Triều Tiên ngay lập tức nếu được mời tham gia (‘I would say yes immediately if we were asked to join talks.’)

Báo The Guardian của Anh Quốc đột nhiên trỡ giọng lễ độ, có bài ghi rằng nền kinh tế Triều Tiên tăng trưởng 3,9% năm 2016 với tốc độ nhanh nhất trong 17 năm qua, rằng ông Kim Jong-un làm gì là để chiến thắng chứ không chấp nhận huề, rằng nếu bị dồn vào chân tường ông sẽ y như Nhật Hoàng tấn công luôn Trân Châu Cảng, rằng sở dĩ phải sở hữu vũ khí hạt nhân vì ông ấy phải đối mặt với sự xâm lược của Mỹ do ý định không đổi của Mỹ là thay đổi chế độ Triều Tiên cũng như ông không muốn chịu chung số phận của Saddam Hussein là người đã vì nghe lời Mỹ hủy các vũ khí giết người hàng loạt mà sau đó bị Mỹ sát hại, và rằng ông Kim chỉ dữ dằn hiếu chiến chứ không có điên khùng điên loạn điên rồ gì sất.

Không hề thua kém đồng nghiệp, tờ Telegraph danh tiếng cũng của Anh Quốc ngày 10-9-2017 đưa tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Anh Quốc Ngài Michael Fallon phân trần với Đài BBC rằng “Mỹ có quyền bảo vệ lãnh thổ của Mỹ và người dân Mỹ, nhưng họ sẽ làm ta bị liên lụy, vì cần nhớ là Thủ đô Luân Đôn gần với hỏa tiễn Triều Tiên hơn là Los Angeles“, nghĩa là nếu Mỹ gây sự với Triều Tiên thì Anh Quốc bị tiêu diệt trước cả Mỹ, và rằng “bằng mọi giá phải tránh cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Triều Tiên.” Telegraph cũng ghi lại phát biểu của Tổng Thư Ký NATO Jens Stoltenberg rằng chế độ Bình Nhưỡng giờ đây nổi lên như một sự đe dọa toàn cầu.

Vậy là đã xuất hiện những lời tự thú của những kẻ đã biết thế nào là lễ độ với Triều Tiên, đã phải điều chỉnh ngôn ngữ vì lợi ích an ninh của chính quốc gia họ mà bắt đầu nêu những lời tốt đẹp về con người Triều Tiên, xã hội Triều Tiên, phúc lợi hạnh phúc Triều Tiên, phát triển kinh tế Triều Tiên, cảnh đẹp Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo vững vàng tài ba của Kim Jung-un!

D- Nhận Định

1) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về An Ninh Quốc Gia:

Chọc giận “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” (lời bài hát của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong chiến tranh chống Mỹ) và chọc giận lãnh đạo đoan chính anh hùng bất khuất Kim Jong-un không bao giờ có thể là sự khôn ngoan.

Có một tên tự xưng là “nhà sử học” và một tên tướng lĩnh quèn phản phúc đã tuyên bố rằng “chính Kim Nhật Thành và Triều Tiên đã ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam” mà không hề đưa ra được các liên kết sử liệu nào chứng minh xuất xứ thông tin. Mặc cho cả hai  tên này đều ngu dốt ngang nhau ở chỗ các sử liệu chỉ có giá trị sau khi nghiên cứu từ tất cả các nguồn trên thế giới sau từ 50 đến 90 năm (nghĩa là phải chờ Mỹ, Trung Quốc, Nga, và Triều Tiên công bố sử liệu có liên quan trực tiếp đến Việt Nam theo quyết định của họ là sau 50 hay 90 năm) nên các tuyên bố vung vít của chúng là rác rưởi, thì tác giả bài này cũng nhân đây nêu rõ thêm các nguyên tắc khác sau đây:

a- Triều Tiên có quyền có quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam và Ấn Độ cực kỳ hữu hảo, nhưng Ấn Độ không bao giờ lên tiếng trách Việt Nam hữu hảo cả tá “chữ vàng” với Trung Quốc là kẻ thù không đội trời chung của Ấn Độ cả.

b- Việc Kim Nhật Thành đón tiếp trọng thị phái đoàn của Campuchea và trao tặng “đồng chí” Pol Pot danh hiệu Anh Hùng Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là chuyện thù tạc thuộc chủ quyền của Triều Tiên.

c- Thậm chí trong nguồn tin chính thức gần như là duy nhất có liên quan đến sự việc trên qua công bố của nhà báo Nate Thayer thì trong bài viết dài 2.282 từ tiếng Anh của ông đã có 30 lần sử dụng chữ Việt Nam, nhưng chẳng có lời bất kỳ nào viết rằng chính Kim Nhật Thành ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam cả. Nhét chữ vào mồm người khác – mà người khác ở đây là một nhà báo nước ngoài có thế lực hẳn hoi chứ không phải nghị sĩ Hoàng Hữu Phước không phải đảng viên luôn bị Đảng “đì” ngay từ lúc còn dưới mái trường đại học, không phe nhóm chẳng ô dù nào của “Tứ Trụ Triều Đình” che bớt nắng mưa – là hành động điên rồ ngu xuẩn của kẻ thất học.

Vì vậy người dân Việt Nam nhất thiết phải cảnh giác trước những kẻ vì đần độn mà láo xạo về Ông Nội của Kim Jong-un để rồi Việt Nam có nguy cơ có ngày đón chào tên lửa nguyên tử KN-14 của Triều Tiên dội xuống Huế-Sài Gòn-Hà Nội.

2) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về Kinh Tế – Chính Trị:

Khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đang xem xét việc ngưng các hoạt động thương mại với bất kỳ quốc gia nào “mần ăn” với Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (17)

thì tất nhiên Việt Nam sẽ có lúc vì “Việt Nam Trên Hết” mà phụ nghĩa với Triều Tiên, chấm dứt quan hệ kinh tế với Triều Tiên, chấm dứt cứu trợ nhân đạo Triều Tiên, tuân theo lịnh của Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc.

Tất nhiên “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” và lãnh tụ anh hùng Kim Jong-un sẽ không bao giờ trách móc Việt Nam. Chính vì vậy mà Việt Nam nhất thiết phải nghiêm cấm báo chí truyền thông (có quyền cấm báo chí truyền thông vì báo chí truyền thông là công cụ tuyên truyền của Đảng chứ không phải là bọn báo chí tư nhân mà có quyền đòi tự do ngôn luận) có bất kỳ bài báo nào vô đạo đức hùa theo Âu Mỹ mà xúc xiểm Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên, để ít ra Việt Nam còn le lói sót lại một chút ánh sáng nhân văn.

3) Mưu Kế Lăng Tần:

Vài học trò hỏi tôi rằng vào thời của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein tôi đã cho rằng Triều Tiên nắm vận mạng thế giới mà Saddam nên dựa dẫm vào để duy trì cân bằng quyền lực toàn cầu; còn vào thời thịnh trị lấn lướt tuyệt đối của Đảng Dân Chủ Mỹ tôi vẫn cho rằng ứng cử viên đầy tai tiếng về những hành vi bất nhã đối với phụ nữ không tí kinh nghiệm chính trường Donald Trump sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ, thế thì nay vào thời kỳ của “Tổng Thống” Triều Tiên Kim Jong-un tôi có nhận định thế nào cho thời gian đang đến.

Tôi đã trả lời rằng lần này tôi sẽ nói trực tiếp riêng với các em chứ không phơi bày gan ruột sự thấu thị của mình trên mạng xã hội “chùa” mà vài chục người đọc nín thinh lại phải đối chọi với quân đoàn báo chí hùng hậu có kiểu cách thấp kém chỉ biết chửi bới chê bai chứ không có khả năng bút chiến luận. Do đó, dù việc thấu thị là sự đương nhiên sẵn có về phân tích chính trị thế giới trong hiễm họa đao binh nguyên tử đang làm cả Châu Âu run sợ, tôi vẫn sẽ không để bản thân tạo điều kiện cho chúng ghét. Tôi chỉ có thể nói nương theo bài Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi để cảnh báo Liên Hợp Quốc rằng đừng dại dột tụ năm tụ ba ra hết nghị quyết này đến nghị quyết khác trừng phạt Triều Tiên vì rằng chỉ cần Kim Jong-un mưu lược rút ra khỏi Liên Hợp Quốc là đã đủ triệt tiêu danh dự Liên Hợp Quốc, làm tiêu tan quyền lực Liên Hợp Quốc, tiến tới xóa sổ Liên Hợp Quốc. Hãy học theo truyền thông chính thống Châu Âu khi ngày hôm trước còn nói Triều Tiên nghèo đói lầm than dưới sự lãnh đạo của một tên điên loạn khát máu thì sang ngày hôm sau đã dịu giọng rằng Triều Tiên phát triển kinh tế nhanh nhất tạo phúc lợi tốt đẹp cho người dân dưới sự lãnh đạo sắt đá của một vị tổng tư lệnh chỉ biết phải chiến thắng để bảo vệ danh dự quốc gia và bảo vệ nhân dân chứ không chấp nhận ngay cả điểm huề trước siêu cường Hoa Kỳ cùng tổ chức Liên Hợp Quốc; rằng du khách đã được phép chụp hình Thủ Đô Bình Nhưỡng từ trên máy bay nên thế giới nay biết Bình Nhưỡng đẹp mê hồn; rằng nơi đâu cũng thấy nhi đồng vui chơi dưới sự chăm sóc của một chế độ mà từ y tế đến giáo dục và nhà cửa đều được cấp miễn phí, v.v., tức những điều nghe qua cứ ngỡ phải mất thêm một thiên niên kỹ nữa may ra mới có thể có ở Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cảnh báo: Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

Mưu kế Lăng Tần về Iraq-Triều Tiên: Tôi và Saddam Hussein

Sự điên loạn của Nam Hàn: Tứ Trụ Bắc Việt

Khẳng định về Donald Trump: Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Thông tin về sự lo lắng của Châu Âu đối với uy lực Triều Tiên trên báo The Telegraph: http://www.telegraph.co.uk/news/2017/09/10/britain-threat-north-korean-nuclear-missiles-says-defence-secretary/

Báo The Guardian nói tốt về Kim Jong-un: https://www.theguardian.com/world/2017/sep/08/in-the-court-of-kim-jong-un-ruthless-bellicose-despot-not-mad

Nạn đói ở Triều Tiên: http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:https://vn.sputniknews.com/asia/20151112865043/

Nạn đói ở Nam Hàn: http://www.wfp.org/news/news-release/wfp-executive-director-commends-republic-korea-taking-zero-hunger-challenge

Suy Nghĩ Trong Ngày

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-9-2017

Nguyên tác Tiếng Anh: Suy Nghĩ Trong Ngày

Bản dịch Tiếng Việt: Suy Nghĩ Trong Ngày.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hội Chứng Hoàng Sa  28-7-2014

Thư Khẩn Kính Gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

Về Đại Án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-8-2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Văn Phòng Nghị Sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước

Công văn Số:  002/2017/CV

V/v Đại Án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2017

Kính gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

 

Kính thưa Tổng Bí Thư:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính lời chào trân trọng đến Tổng Bí Thư và kính trình bày cùng Tổng Bí Thư nội dung sau:

Tôi có nhận được Thư Kêu Cứu Khẩn Cấp của công dân Nguyễn Thị Ái Lan, ngụ tại số 14B Đường 21 Khu Dân Cư Bình Hưng Huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh, là Giám Đốc Phòng Quản Lý Tài Sản Nợ Và Có của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á, ký ngày 30-8-2017, gởi đến Văn Phòng của tôi cùng ngày, có nội dung kêu oan và bị ép cung đối với ba nội dung gồm (a) việc thất thoát hơn 2.000 tỷ đồng và hơn 60.000 lượng vàng, (b) hoạt động liên quan đến kinh doanh và quản lý vàng, và (c) hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007.

Sau khi nghiên cứu nhanh hồ sơ, ngoài những lời kêu oan của công dân Nguyễn Thị Ái Lan, tôi nhận thấy có tình tiết quan trọng rằng Văn Phòng Trung Ương Đảng đã gởi hơn 11.000 lượng vàng tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á từ năm 2009 đến năm 2016.

Nhận thấy việc Văn Phòng Trung Ương Đảng gởi số vàng lớn tại một ngân hàng là việc bình thường vì đây là hoạt động kinh tài của Đảng; song, việc gởi số vàng lớn trên tại một ngân hàng như Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á thay vì một ngân hàng lớn của Nhà Nước là hành động cực kỳ bất cẩn vì ắt sẽ bị Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á lạm dụng với sự tin tưởng rằng sẽ được Đảng bảo bọc và bảo vệ, dẫn đến sự tự tung tự tác làm càn của lãnh đạo ngân hàng đối với tài sản ngân hàng, mà hậu quả là nảy ra ung nhọt mang tên “đại án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á” với sự biến mất của hơn 2.000 tỷ đồng và hơn 60.000 lượng vàng; và

Nhận thấy tất cả các cơ quan Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh dù đó là Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh hay Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi mà các đảng viên lãnh đạo cấp cao đã để cho các đảng viên chức sắc dưới quyền ra tay phá hoại buổi hiệp thương của tôi tiếp xúc cử tri cho kỳ bầu cử Quốc Hội Khóa XIV, hiện không có bất cứ đảng viên cấp cao nào có uy tín thanh liêm, có năng lực lãnh đạo, có tư thế đáng tin, và có tư cách đáng trọng, để tôi có thể khẩn trương đến liên hệ trực tiếp bàn về Thư Cầu Cứu nêu trên;

Tôi quyết định gởi khẩn thư này cùng thư kêu oan của công dân Nguyễn Thị Ái Lan đến Ông Tổng Bí Thư để Ông Tổng Bí Thư xem xét, chỉ đạo chấn chỉnh, chỉ đạo giám sát xử lý công minh các nội dung như lời kêu cứu của công dân.

Đồng thời, tôi cũng quyết định công khai nội dung này trên blog của tôi, để bảo đảm các nội dung kêu oan trên tránh được sự can thiệp giấu diếm rất có thể có nơi cán bộ của Đảng khi tiếp nhận thư của tôi gởi cho Tổng Bí Thư.

Kính gởi đến Tổng Bí Thư sự kỳ vọng, lòng kính trọng, và lời chào trân trọng.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-Sĩ Khóa XIII (2011-2016), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XV (2021-2026), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XVI (2026-2031)

ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP VỀ VIỆC CƠ QUAN ĐIỀU TRA ÉP CUNG NGƯỜI VÔ TỘI  TRONG “ĐẠI ÁN NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á”

Kính gửi: Ông Hoàng Hữu Phước – Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII

        Kính thưa Đại Biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Thị Ái Lan, Giám  đốc Phòng quản lý tài sản nợ và có của Ngân Hàng TMCP Đông Á, hiện ngụ tại số 14B Đường 21 Khu Dân Cư Bình Hưng, Bình Chánh, Thành phồ Hồ Chí Minh, kính gởi Ông thư cầu cứu khẩn cấp này về việc cơ quan điều tra C46 đã ép cung tôi là người vô tội trong “Đại Án Ngân Hàng TMCP Đông Á” như sau:

Liên quan đến “Đại Án Ngân Hàng TMCP Đông Á, tôi hoàn toàn không có vi phạm nào hay liên đới chịu trách nhiệm gì trong các vụ việc sai phạm đã xảy ra tại Ngân Hàng TMCP Đông Á. Là công dân có tinh thần trách nhiệm cao, tôi đã nhiệt tình hỗ trợ khi cơ quan điều tra C46 đến làm việc với Ngân Hàng TMCP Đông Á đề nghị tất cả các phòng ban tại Ngân hàng Đông Á hỗ trợ cung cấp các thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, vào ngày 29/08/2017 ông Trung thuộc C46 gọi điện thoại yêu cầu tôi lúc 14 giờ chiều cùng ngày yêu cầu tôi đến số 258 Nguyễn Trãi hợp tác cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra mà không có bất cứ thư mời nào gửi đến cho tôi. Tiếp tôi là một người nam cán bộ mặc thường phục không mang bảng tên. Khi tôi hỏi thì ông cho biết tên là Tuấn Anh, và khi tôi yêu cầu cung cấp thư mời về buổi làm việc này thì ông từ chối và không trả lời câu hỏi của tôi về phòng ban mà ông phụ trách. Trong suốt buổi làm việc bắt đầu từ 14 giờ đến 17 giờ, ông Tuấn Anh đã liên tục truy bức tôi, và thúc ép tôi phải ký vào biên bản với những nội dung không đúng với bản chất thật sự của sự việc, mặc dù tôi đã đề nghị được điều chỉnh lại nội dung theo đúng sự thật vì tôi là người vô tội. Sau đó, Ông Tuấn Anh yêu cầu tôi phải đến trình diện tại số 258 Nguyễn Trãi vào 8 giờ sáng ngày hôm sau- 30/08/2017. Sáng nay, thứ tư 30/08/2017 khi tôi có mặt lúc 8 giờ sáng theo yêu cầu ông Tuấn Anh thì Ông Tuấn Anh đã có thái độ và ngôn từ xúc phạm đe dọa rằng ông sẽ chuyển hồ sơ của tôi đến Lãnh Đạo Bộ Công Án và chuyển hồ sơ của tôi qua Viện Kiểm Sát ngay trước lễ Quốc Khánh 02/09/2017.

Vì trong thực tế đã xảy ra những vụ án oan sai mà hậu quả là do các điều tra viên của Bộ Công An ép cung hoặc định hướng trong quá trình điều tra theo ý kiến chủ quan để sớm kết thúc vụ án nhằm lập thành tích hoàn tất việc điều tra chứ không theo sự thật khách quan khiến gây oan sai cho người vô tội. Và qua cách thức làm việc không theo đúng quy định của ông Tuấn Anh như không gửi thư mời, mặc thường phục, không đeo bảng tên, liên tục truy bức tôi, cho thấy đã có dấu hiệu bất thường trong cung cách làm việc của điều tra viên C46.

Vì vây, tôi kính gửi đơn này đến Ông Hoàng Hữu Phước, Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII, để khẳng định tôi hoàn toàn vô tội đối với ba nội dung sau:

1) Việc Ngân Hàng TMCP Đông Á bị thất thoát hơn 2.000 ngàn tỷ đồng và hơn 60 ngàn lượng vàng (hơn hai ngàn tỷ đồng và hơn sáu mươi ngàn lượng vàng):

Liên quan đến việc Ngân Hàng TMCP Đông Á giữ hộ vàng của Văn Phòng Trung Ương Đảng từ năm 2009 đến năm 2016 với số lượng hơn 11 ngàn lượng vàng (hơn mười một ngàn lượng vàng), cá nhân tôi – cũng như các nhân viên khác – biết ngân hàng có thực hiện việc trả lãi giữ hộ vàng cho Văn Phòng Trung Ương Đảng trước khi có Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 27/07/2012 và đã ngưng trả lãi giữ hộ vàng chỉ thu phí giữ hộ vàng của Văn Phòng Trung Ương Đảng theo quy định của chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 27/07/2012. Do vậy, cá nhân tôi không thể chịu trách nhiệm  hay liên đới chịu trách nhiệm đối với một việc “đại sự” có liên quan đến Trung Ương Đảng như thế.

2) Hoạt động liên quan đến vàng:

a- Căn cứ quyết định số 1803/QĐ-DAB ngày 26/08/2013 về việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức của khối kinh doanh – nguồn vốn do Tổng Giám Đốc ký ban hành có hiệu lực ngày 26/08/2013, Điều 4 mục 4.3 có quy định về nhiệm vụ của phòng nguồn vốn nhưng không có chi tiết nào có nội dung rằng tôi được phân công thực hiện các hoạt động liên quan đến việc niêm phong, đóng gói vàng, phân loại vàng, phân biệt giữa vàng kinh doanh và vàng giữ hộ, ghi chi tiết từng loại vàng tồn quỹ, lưu các chứng từ liên quan đến vận chuyển vàng hay điều chuyển vàng giữa các đơn vị trực thuộc và Hội sở, quy định nội bộ về hạch toán vàng, cũng như sử dụng vàng giữ hộ để kinh doanh. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

b- Ngoài ra, tôi cũng chưa bao giờ được phân công phụ trách việc kinh doanh và cũng không được phân công việc hướng dẫn hạch toán tuân thủ các quy định tại thông tư số 17/2014/TT- NHNN ban hành ngày 01/08/2014 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam về việc quy định phân loại, đóng gói, giao nhận, kim khí quý, đá quý có hiệu lực kể từ ngày 15/09/2014, hạch toán theo hướng dẫn nêu tại công văn 5376/NHNN-TCKT ngày 23/08/2012 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cũng như việc tuân thủ chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 27/04/2012 về việc sử dụng vàng để kinh doanh mua bán và theo các văn bản quyết định, các quy định và quy trình của Ngân hàng Đông Á.  Vì vậy, tôi đương nhiên cũng hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

c- Thêm vào đó, tôi cũng chưa bao giờ được phân công tham gia là thành viên của Ban Kiểm Quỹ và Hội Đồng Kiểm Kê. Trong suốt thời gian này, tôi cũng chưa bao giờ nhận bất kỳ văn bản nào của Ban Kiểm Soát Nội Bộ, Ban Kiểm Toán Nội Bộ hay bất kỳ khối phòng ban nào trong nội bộ Ngân Hàng Đông Á hay bất kỳ cơ quan chức năng nào, nêu nội dung rằng tôi đã không tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, của Ngân hàng Đông Á, hay các chỉ thị, thông tư,hướng dẫn nêu trên. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

3) Hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007:

Căn cứ theo các văn bản Quyết định nhập khẩu ngoại tệ được ban hành bởi Ban Tổng Giám Đốc và phiếu đề nghị của Phòng Kinh Doanh chuyển sang, tôi theo quy trình nghiêm nhặt của Ngân Hàng Đông Á đã lập phiếu thu cho các lô nhập khẩu ngoại tệ, sau khi lập phiếu thu tôi đã chuyển toàn bộ các phiều thu có đính kèm Quyết định nhập khẩu ngoại tệ được ban hành bởi Ban Tổng Giám Đốc và phiếu đề nghị của Phòng Kinh Doanh chuyển sang theo phiếu thu sang cho bên Kiểm soát của Ngân hàng TMCP Đông Á. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007 nếu các hoạt động này của Ngân hàng Đông Á được chứng minh là có dấu hiệu vi phạm.

 

Với các nội dung giải trình nêu trên, kính mong Ông Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hãy vì lòng công tâm của Ông mà vui lòng xem xét đơn cầu cứu này của tôi và can thiệp kịp thời để người vô tội như tôi không buộc phải gánh chịu các hậu quả thay cho những kẻ gây ra tiêu cực vi phạm mà tôi đang rất lo sợ cho an nguy của bản thân từ cung cách ép cung của các điều tra viên của Bộ Công An.

Kính đơn,

Nguyễn Thị Ái Lan

Ailan (3)Ailan (2)Ailan (1)

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-8-2017

Bài 3:

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Kính mời đọc lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ đăng ngày 23-8-2013 tại  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/23/loi-khuyen-danh-cho-gioi-bac-si/ trên blog này của WordPress.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ  – 2013

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-8-2017

Bài 2:

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

(Bài đăng lần đầu ngày 05-4-2010 ở http://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang trên Emotino)

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-4-2010

Y Tế Bài 2

A- Dẫn Nhập: Ba Điều Bốn Chuyện

Trong một bài viết gần đây tôi có nêu lên ba điều rõ ràng tối cần thiết trong xã hội mới, thời đại mới, những ràng buộc nhân-quả mới, cực kỳ khắc nghiệt và nghiêm trọng nhãn tiền, để mong ai cũng hiểu rằng chính mình đang kinh doanh – nếu đang sống thực sự, làm việc thật sự, có trí hóa thật sự, và có giáo dục thật sự – và hiểu cái đạo l‎ý kinh doanh thực sự phải như thế nào, đó là

(a) không ngừng chăm chút tuyệt vời cho sản phẩm chào bán,

(b) xem khách hàng là vua, và

(c) thu được lợi nhuận chân chính để tự lo có được cuộc sống bản thân và gia đình tốt hơn .

Với ba điều ấy, tôi dẫn ra bốn chuyện trong đó có nói về giới y bác sĩ cũng như những hậu quả khôn lường từ sự chưa bao giờ đặt ra đúng ý nghĩa cho những “ngày tôn vinh” nghề nghiệp, trong đó có một ngày liên quan đến sinh mạng vật chất của con người, và có một ngày liên quan đến sinh mạng tinh thần cũng của con người, mà phạm vi bài này xin chỉ nói về những Thiên Thần Áo Trắng, chưa nói gì đến các vị Thiên Thần Phấn Trắng Nhất Tự Vi Sư, Bán Tự Cũng Vi Sư tuốt.

B- Lương Y: Phân Định Lại Từ Ngữ Cho Đúng

Trước khi nói về các Thiên Thần Áo Trắng – tạm cho là danh từ đặc biệt này do người đời đặt cho thày thuốc dù cán cân nặng hơn nghiêng về hướng … các thầy thuốc tự gọi mình như thế để tự tôn vinh mình, hệt như … Thiên Thần Mũ Đỏ “tự phong” của quân Nhảy Dù chế độ Cộng Hòa – tôi thấy nhất thiết phải làm rõ một điều bất hợp l‎ý trong sử dụng từ ngữ: “bác sĩ” là tên gọi cho thầy thuốc Tây Y và “lương y” cho Đông Y và Nam Y.

Lương y như từ mẫu là câu thường được nghe nói đến, có nghĩa “thầy thuốc lương thiện tốt lành có lương tâm luôn chăm sóc bịnh nhân kỹ lưỡng như người mẹ hiền chăm sóc con thơ”; như vậy, nếu dùng “lương y” để gọi riêng thầy thuốc Nam hay thuốc Bắc tức Đông Y thì phải chăng Tây Y không … “lương thiện”? Thêm vào đó, nhiều thầy thuốc gia truyền cây nhà lá vườn không có học vị nên không thể xưng danh bác sĩ, phải núp sau từ “lương y” để hoạt động khám chũa bệnh. Ngoài ra, cách gọi “lương y” mang ý phân biệt đối xử, bên trọng, bên khinh, cứ như thể đã qua thế kỷ hai mươi mốt rồi mà các “bác sĩ” Việt Nam vẫn còn mông muội cho rằng chỉ có họ mới được đào tạo bài bản hàn lâm, còn đồng nghiệp Đông Y vẫn còn theo lối cũ truyền khẩu hay gia truyền hay sao?

Vì vậy, cách duy nhất đúng cho chức nghiệp này nên là “bác sĩ Tây y” và “bác sĩ Đông y” để từ đó mới phân định bác nào hữu lươngbác nào bất lương qua cách từng bác đã và đang làm gì với chức nghiệp cụ thể, với bịnh nhân cụ thể, và với cái lương tâm trừu tượng.

C- Vấn Đề Trang Phục: Trắng – Xanh – Trần

1- Trắng: 

Trước đây y bác sĩ Phương Tây hay mặc áo trắng mà mục đích thật sự chỉ là để làm nổi bật màu máu bịnh nhân. Sự mất vệ sinh này là điều tệ hại có thật, không là sự bôi nhọ y tế Âu Mỹ cận đại.

Trong cuối thế kỷ XIX,  25% sản phụ tại Mỹ chết ngay sau khi sinh vì chứng sốt sản hậu puerperal fever mà sau này được phát hiện là do khuẩn Streptococcus pyogenes gây ra. Vào năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (có con trai là Oliver Wendell Holmes Jr. sau làm Chánh Án Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ) phát hiện tỷ lệ cao các sản phụ chết do sản hậu có thể được làm giảm đi đáng kể nếu ông rửa tay tay sạch sẽ sau mỗi lần đỡ đẻ. Ông vội vàng viết một bài gởi đăng trên Tạp Chí Tam Cá Nguyệt Dược Phẩm & Phẫu Thuật New England, để rồi bị đồng nghiệp khắp nơi chống đối, phỉ báng, đe dọa xóa tên khỏi Viện Hàn Lâm Y Học do dám biến những bác sĩ đáng kính thành những tên giết người dơ dáy do họ sau mỗi ca phẫu thuật hoặc thực tập trên tử thi xong là chùi đôi tay vấy máu mủ tanh hôi lên áo rồi quay sang đỡ đẻ hay giải phẫu cho người khác, xem chiếc áo trắng đầy máu mủ tanh tưởi là chứng tích của sự tận tụy của một thiên chức cao qu‎ý lịch lãm hàn lâm. Song, ông còn may mắn hơn một đồng nghiệp khác là bác sĩ Ignaz Philipp Semmelweis người Áo gốc Hungary vốn về sau được tôn vinh là ân nhân của sản phụ toàn thế giới (…phương Tây), “nổi tiếng” hơn cả Holmes.  Semmelweis trong cùng thời gian trên do đau lòng trước tỷ lệ tử vong quá cao của sản phụ đã dày công tìm hiểu và chế ra một dung dịch sát trùng, yêu cầu các bác sĩ dùng rửa tay ngay sau mỗi lần giải phẩu tử thi hay bịnh nhân, nhưng ông bị công kích, tấn công, tẩy chay, trừng phạt, đến độ ưu uất, tinh thần sa sút trầm trọng, rồi qua đời trong nghèo khó và im lặng với chỉ đôi ba người đưa đám, không có đến một lời cáo phó hay thông tin của bất kỳ bịnh viện hay viện hàn lâm nào trên báo chí. Làm con người ai cũng có cái đức tính thiên phú để phân biệt người và thú là lòng biết ơn, do đó bịnh nhân rất có thể đã xem y bác sĩ như vị thần cứu mạng của mình, gọi họ là những thiên thần áo trắng, không màng đến việc tấm áo trắng ấy thật ra rất rằn-ri đỏ hay lốm đốm đỏ hay chằng chịt hoa văn đỏ chứ không tinh thuần, khiết trắng.

2- Xanh:

Tuy nhiên, theo thời gian thì chân l‎ý bao giờ cũng lấy lại được giá trị tự thân, và bác sĩ Tây Y của thế kỷ hai mươi bắt đầu học cách vệ sinh y như bác sĩ Đông Y thời…trung cổ (ngay ở Việt Nam các “bà mụ đỡ đẻ” ở nông thôn từ ngàn xưa cũng đã biết rửa tay bằng nước trà hoặc nước pha rượu hay nước nấu với thảo dược, trước khi đưa bàn tay vào cơ thể sản phụ), khiến màu trắng trở thành sự tinh khiết, “vệ sinh” vốn rất cần thiết đối với môi trường y tế. Nhưng cũng theo thời gian, người ta thâm thúy hơn, hiểu biết hơn, lịch sự hơn, tâm l‎ý hơn, và chuyên nghiệp hơn nên biết rằng màu áo trắng trong khung cảnh trắng toát của bịnh viện trở nên đáng sợ, tang tóc, lạnh lẽo, gây tâm l‎ý bất an nơi bịnh nhân, cũng như màu đỏ của chữ thập luôn nhắc nhở đến máu me và tai họa. Nhiều nước tiên tiến đã điểm trang bộ mặt y tế của mình khác đi, với tường bịnh viện màu xanh lá, áo y bác sĩ màu xanh lá, và xe cứu thương có chữ thập màu xanh lá (hoặc xanh dương, và bỏ luôn “chữ thập” vốn được nhiều tỷ người cho là hình tượng của …nghĩa trang, hoặc “né” bằng cách thay chữ thập bằng ngôi sao sáu cánh hình thành từ 3 miếng băng cá nhân); thậm chí các y bác sĩ cũng vì màu xanh tâm l‎ý thân thiện với bịnh nhân mà không đeo vắt vẻo cái ống nghe stethoscope khi không đang trực tiếp khám bịnh tại bàn làm việc của riêng mình; lúc nào cũng cố ra dáng khoan thai, dịu dàng, thay vì lúc nào cũng vắt ống nghe trên người ra vẻ khẩn trương, bận rộn, tất tả, dù chỉ là đi qua lại trong hành lang, gợi thiên hạ nhớ lại thời kỳ nhiều thế kỷ các vị cần mẫn tận tụy trét đầy máu mủ trên người.

Nhưng đó là ở nước ngoài. Người Việt ta giá như cũng quan tâm đến chất lượng của những người đang nhận tiền của mình để làm dịch vụ khám chữa bịnh cho mình thì ắt đã có quyền gọi những thầy thuốc phục vụ tốt với tên mới là Thiên Thần Áo Xanh Lá từ lâu.

3- Trần:

Thế nhưng sự đời lại không chỉ phức tạp ở cái sắc cái màu, mà còn ở cái ngữ nghĩa của bản thân từ “thiên thần” nên khiến thêm rách việc, vì thậm chí có cả Thiên Thần Không Áo, tức Thiên Thần Trần tức Thiên Thần Truồng, làm thành ngữ Thiên Thần Áo Trắng có khi phải bị méo nghĩa theo quy luật rất bình thường của bài bản Lexicology, mà xin độc giả vui lòng đọc hồi sau sẽ rõ.

D- Xóa Nhòa Ranh Giới Thiện – Ác

“Thiên Thần Trần” là hình ảnh những thiên thần trong bộ phim hoành tráng Legion đang được chiếu tại các cinema sang trọng ở thành phố Hồ Chí Minh. Các thiên thần này vẫn còn lịch sự vì hình ảnh các thiên thần trong các bức danh họa từ xưa đến nay thì không chỉ “trần” mà còn đánh đố thiên hạ xem ai có nhìn thấy quần của thiên thần màu gì không. Nhưng điều đáng nói ở đây là nếu như trong Thánh Kinh Cựu Ước (Genesis 19) có đoạn kể về các thiên thần chắc là rất đẹp đẽ có cánh chim bồ câu bay vào hai thị trấn Sodom và Gomorrah  để giết sạch nam phụ lão ấu – ngoại trừ Lot cùng vợ và hai cô con gái – thì Legion cho thấy ngoại hình kinh khủng và kinh dị của các thiên thần có cánh dơi do Thượng Đế hạ chỉ sai xuống trừng trị loài người sa đọa, để …  thây chất thành núi máu chảy thành sông.

Như vậy, đã có ngày càng nhiều những bất lợi cho giới y bác sĩ Việt Nam khi cái từ “thiên thần” đã không còn duy chỉ mang ý nghĩa lương thiện và nhân hậu, và nhất cử nhất động của các vị trái với “lương thiện và nhân hậu” đều luôn bị đánh giá nghiêm khắc. Phim ảnh chỉ dùng mỗi chữ “angel” để chỉ các thiên sứ, dù đó là thiên thần mang phần thưởng của Thượng Đế hay thiên thần làm nghiệm vụ một thiên lôi; trong khi đó phần thuyết minh tiếng Việt cho phim Legion phải nói rõ là “ác thần” để chỉ các “angel” kinh khủng kinh dị kinh hoàng làm công tác thiên lôi ấy.

Ác Thần Áo Trắng sẽ là thành ngữ mới nếu sự suy đồi y đức lại đến từ các “Thầy” chốn đại học đường y dược của nước nhà, do chẳng có cách chi mà tin rằng 100% các “bác” ra trường do các “Thầy” ấy đào tạo lại miễn nhiễm với “thầy nào, trò nấy”.

E- Kết Luận: Legion Nightingale

Cho dù thiên sứ quấn vải trắng có cánh chim bồ câu vung gươm nhuốm máu ngay cả trẻ thơ thuộc những gia đình sa đọa như ghi trong kinh thánh, hay những thiên thần ở trần có cánh dơi trong phim Legion, thì các thiên thần ấy cũng còn làm theo lịnh vị chủ tể minh quân muốn trừng trị những sinh linh mà chủ tể ấy liệt vào hàng xấu xa trụy lạc; trong khi một số thiên thần áo trắng ở Việt Nam ra tay giết hại không gươm không đao những đồng bào nghèo khổ qua việc kê đơn thuôc vô tội vạ để hưởng hoa hồng từ nhà sản xuất thuốc, vui hưởng có khi đến vài trăm triệu đồng mỗi tháng. Xem ra cái y đức là điều lạ lẫm của những người hùng hục khí thế tham gia góp phần đẩy giá thuốc lên cao chót vót, “tàn sát” nam phụ lão ấu, tự biến mình thành những kẻ bất nhân làm điếm nhục gia phong vì đã mặt dày mày dạn dám thốt lời thề nguyền Hippocrates y học thiêng liêng trong khi thực chất bản thân lại khác gì bọn Hypocrite trụi trần, ghiếc gớm.

Ngày Thầy Thuốc lẽ ra chỉ nên là ngày các y bác sĩ Tây Y và Đông Y nghiêm khắc nhìn lại màu áo của mình, và có khi còn để xem rõ mình có còn mặc áo che thân giữa đám đông hay không; vì rằng người Việt không cần có Ngày Thầy Thuốc mới biết ơn những lương y, và thầy thuốc “hữu lương” đâu cần có một ngày “tôn vinh” chức nghiệp của mình và…mình. Thầy thuốc “hữu lương” ắt ít ai muốn có Ngày Thầy Thuốc vì biết nó cũng sẽ là danh thơm cho thầy thuốc “bất lương” hưởng sái.

Suy cho cùng, sự công bằng nên được dựng xây trong lòng tác nghiệp y tế qua việc đề ra thêm Ngày Bịnh Nhân đễ các Thiên Thần Áo Trắng tỏ sự biết ơn sâu xa những Thiên Thần Áo Ngũ Sắc, những người đã đến từ nhiều thành phần khác nhau của xã hội, giàu có, nghèo có, mặc áo đủ thứ màu khác nhau, mức độ lành lặn và thơm khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một điểm là trả tiền sòng phẳngtrực tiếp bằng tiền mặt hay gián tiếp qua chế độ bảo hiểm y tế luật định thậm chí do các tổ chức hay cá nhân cưu mang từ thiện – để không làm thầy thuốc thất nghiệp.

Và khi ai cũng là…Thiên Thần ráo trọi thì bịnh nhân nghèo nếu ăn cắp ống nghe của bịnh viện sẽ chẳng làm chết thầy thuốc nào, trong khi y bác sĩ giàu nhờ ăn cắp sức khỏe bịnh nhân sẽ làm bịnh nhân túng quẫn hơn và sinh mạng bị đe dọa; tuy nhiên, nếu cả hai tên cắp này bị đánh đồng cho cùng là “thần” ở trần hay ở truồng, có cánh dơi, thì người trước (ăn trộm ống nghe của bác sĩ) vẫn nhẹ tội hơn vì có khi họ chưa hề nghe nói về anh Robin Hood ở Anh Quốc tốt đẹp hơn 208 gã Tàu ở Lương Sơn Bạc cả tỷ lần, nhưng dứt khoát nhiều tỷ phần trăm là kẻ sau (ăn trộm sức khỏe bịnh nhân) biết mình mãi ở dưới gót giày của nữ y tá Florence Nightingale cũng của Vương Quốc Anh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-Doanh Quốc-Tế

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-8-2017

Bài 1:

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2013

Kính gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

V/v Thuốc nhập khẩu và sự bất minh trong kê đơn thuốc tại bịnh viện lớn ở Tp Hồ Chí Minh

Nơi nhận bản sao:

– ĐBQH Nguyễn Thị Kim Tiến (Bộ trưởng Bộ Y Tế)

– ĐBQH Huỳnh Thành Lập (Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh)

– Tổ Đại biểu Quốc hội, Đơn vị 1 (Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Phó đoàn ĐBQH  Tp HCM Trần Du Lịch)

 

Kính thưa Đại biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc Hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, xin trình bày với Đại biểu các nội dung sau:

A) Thuốc Phối Hợp Lạ:

Là người trong thời gian 1985-1995 công tác tại công ty xuất nhập khẩu nước ngoài cung ứng cho Việt Nam từ nhà máy, thiết bị, đến nguyên liệu sản xuất đa ngành trong đó có cả dược phẩm và bulk drug, tôi có sự hiểu biết nhất định về y dược qua tiếp cận các tài liệu cũng như qua tiếp xúc với các chức sắc của các công ty dược lớn – đặc biệt là của Ấn Độ, và do đó tôi rất ngạc nhiên khi quá nhiều loại thuốc đã và đang được nhập từ những nhà sản xuất hạng vô danh tiểu tốt của Ấn Độ dẫn đến việc thỉnh thoảng Bộ Y Tế phải có thông báo thu hồi thuốc này thuốc nọ của hãng đó hãng kia mà đa số của Ân Độ. Gần đây báo chí có loạt bài viết về vấn đề nhập khẩu thuốc có “hàm lượng lạ” nhưng chưa có ai đề cập đến vấn đề khác nghiêm trọng hơn, đó là thuốc có “phối hợp lạ”. Bằng một cách nào đó tại vài bịnh viện nhà nước đã xuất hiện thuốc Dianorm M do Ấn Độ sản xuất từ sự kết hợp của 80mg Gliclazide với 500mg Metformin trong mỗi viên, và được kê đơn cho bịnh nhân theo liều lượng mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 30 phút trước bửa ăn sáng, trước bửa ăn trưa, và trước bửa ăn chiều. Theo phác đồ cổ điển và “lành mạnh” giống nhau trên thế giới thì liều thuốc bình thường điều trị bệnh tiểu đường là Gliclazide uống mỗi ngày trước lúc ăn sáng 30 phút, còn Metformin uống sau 2 hoặc 3 bửa ăn chính bình thường trong ngày; trong khi đó, Dianorm M  đưa vào cơ thể người bệnh Việt Nam lượng thuốc Gliclazide cả ba buổi trong ngày, và đưa Metformin vào trước bửa ăn. Đây là phác đồ điều trị hiện đại, hay đây là kiểu phối hợp lạ nhằm thắng thầu vào Việt Nam bằng mọi giá.

Tôi cho rằng sự giám sát nghiêm túc, nghiêm khắc, nghiêm minh, của Sở Y Tế Tp Hồ Chí Minh – và Bộ Y Tế Việt Nam – có thể biết rõ hơn về những loại thuốc “phối hợp lạ” nào đã len được vào hệ thống y dược nước nhà, ngoài thứ Dianorm M nói trên mà tôi tình cờ biết được (do tôi không bao giờ cho phép bất kỳ ai trong gia đình được mua sử dụng ngay thuốc sau khi khám bệnh được kê đơn – trừ trường hợp cấp cứu – vì phải chờ tôi kiểm tra dược điển MIMS, và nhờ vậy 15 năm trước tôi đã phát hiện vị bác sĩ chức sắc ở Trung Tâm Tai-Mũi-Họng trên đường Trần Quốc Thảo đã kê đơn trị bệnh viêm họng cho con tôi với loại thuốc có chứa chất dùng trong cấp cứu trụy tim mạch, và tôi đã quyết định đi mua Amoxcicillin cho con tôi uống thay thế “thuốc trụy tim” và cháu hết bệnh sau một tuần) để có viện pháp hữu hiệu ngăn chặn vấn nạn đáng xấu hổ này.

B) Kê Đơn Thuốc Không Để Chữa Bệnh:

Vừa qua (22-6-2013), vợ tôi bị vấn đề về mắt (xuất huyết đỏ sậm màu máu). Như một phản ứng tự nhiên, tôi đưa vợ tôi đến Bệnh Viện Mắt Thành Phố ở 280 Điện Biên Phủ. Kết quả chẩn đoán là XHPKM mà tôi phải dùng đến khả năng bói toán mới hiểu được gần 50% ý nghĩa (XH phải chăng là “xuất huyết”?). Thuốc được cho trong đơn thuốc trị giá 120.656 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Systane, Noflux, và Vitamin C. Vấn đề là thuốc nhỏ mắt Systane là thứ “dầu nhờn” để trị khô mắt. Hộp thuốc không chứa toa, bên ngoài ghi tên nhà sản xuất Alcon của Mỹ, với dòng chữ hoàn toàn bất ngờ là Printed in USA (“In Tại Hoa Kỳ”). Ngoài việc cho những loại thuốc không dính dáng gì đến tình trạng mắt “XHPKM” của bệnh nhân, vấn đề tôi không thể chấp nhận là thuốc nhập này không ghi nơi xuất xứ (thí dụ: Made in USA) mà lại ghi nơi in hộp. Với thứ thuốc không rõ xuất xứ như vậy, tôi cho rằng

(a) nhất thiết phải tịch thu toàn bộ,

(b) hủy bỏ toàn bộ,

(c) trừng phạt những con người cụ thể có liên quan đến việc đưa loại “dầu nhờn” này vào Việt Nam,

(d) tăng cường chuẩn hóa nội dung bó buộc phải có về thông tin của dược phẩm trên bao bì, và

(e) nâng cao trình độ ngoại ngữ của các cơ quan chức năng phụ trách cấp phép và giám sát của ngành y tế đối với dược phẩm ngoại nhập.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau 2 tuần tuân thủ nghiêm túc “y chỉ” (tức lời phán của bác sĩ) lại thấy tình trạng bệnh mắt của vợ tôi chỉ thêm trầm trọng, tôi vội đưa vợ tôi trở lại Bệnh Viện Mắt Thành Phố ngày 06 tháng 7, và được định bệnh bằng bí chú mới là “VKM CẤP GM TY” với đơn thuốc trị giá 175.350 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Medflocin, Eporon, Noflux, và Gireba, với hai loại đầu là thuốc nhỏ mắt của Hàn Quốc.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau vài ngày sử dụng tuân thủ nghiêm túc “y chỉ”, tình trạng của vợ tôi trầm trọng hơn, buộc tôi phải tra cứu dược điển MIMS, và phát hiện sự tồi tệ sau:

–  Thuốc nhỏ mắt Medflocin trị viêm giác mạc/kết mạc nhiễm khuẩn do chủng vi khuẩn nhạy cảm sau;

– Thuốc nhỏ mắt Eporon trị viêm kết mạc và giác mạc nhưng không được dùng khi bệnh giác mạc/kết mạc do virus gây ra.

Như vậy

– Bác sĩ đã cho hai loại thuốc nhỏ mắt kỵ nhau để dùng chung;

– Bác sĩ đã không nói gì, không ghi gì trong toa thuốc cái điều mà dược điển MIMS nhắc đến, đó là nếu phải dùng 2 loại thuốc nhỏ mắt nào đó với nhau thì phải nhỏ thuốc này sau thuốc kia 15 phút.

Tôi đã quyết định không cho vợ tôi dùng tiếp các loại thuốc trên, và thay vào đó tự đi tìm mua ở hiệu thuốc tư nhân hai loại của Việt Nam là thuốc mỡ Tetracycline (rất quen thuộc ở Sài Gòn từ trước 1975), và Colflox, sau đó là thuốc nhỏ mắt Coll Tobradex của Bỉ. Sau hai tuần, vợ tôi đã hết bệnh.

Như vậy, việc khám bệnh kê đơn không để chữa bệnh, mà để tạo cơ hội cho những kẻ phá hoại có cơ hôi để bêu rếu y tế Việt Nam, đặt điều bôi nhọ chẳng hạn như bán dồn dập các loại “dầu nhờn” và thuốc nhỏ mắt đối kháng để nhằm (a) giải phóng kho thuốc ngoại nhập đã lỡ nhập, và (b) làm bệnh nặng hơn để phải nhập viện và phẫu thuật để tạo công ăn việc làm cho các phòng ban khác.

C) Kê Đơn Thuốc Bất Minh:

Cũng trong sự cố nêu trên với Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi có ghi tên thuốc Gireba. Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau nhiều tuần vợ tôi vật vả với bệnh đau mắt, tôi buộc phải tìm hiểu MIMS về tất cả các loại thuốc trong toa bịnh viện, và phát hiện Gireba là thuốc của Hàn Quốc sản xuất từ Ginkgo Biloba, tức Cao Bạch Quả, tức tương đương với Hoạt Huyết Dưỡng Não và vô số các thuốc tương tự dùng trong phòng ngừa tai biến mạch máu não. Vấn đề ở đây là không phải không nên dùng thứ ấy để chữa bệnh xuất huyết mắt, mà là trình độ hiểu biết hoặc đáng ngờ, hoặc vô y đức của bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ lẽ ra phải biết

(a) rằng rất nhiều người Việt Nam từ trung niên đã quan tâm sử dụng cao bạch quả để phòng ngừa tai biến mạch máu não,

(b) rằng rất nhiều người Việt Nam bị cao huyết áp nên đã thường sử dụng cao bạch quả, và

(c) rằng cái gọi là “thực phẩm chức năng” kiểu hiểu biết hoặc kiểu phê phán ở Việt Nam hoàn toàn đi ngược với kiểu các bác sĩ dinh dưỡng Hoa Kỳ nói về “thực phẩm chức năng” nghĩa là chúng có tác dụng của chúng và phải uống đúng liều lượng.

Cao bạch quả không phải khan hiếm đến độ phải nhập khẩu, xem thường ngay cả y lệnh của Bộ Y Tế trong ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Cao bạch quả không phải là thứ “thực phẩm chức năng” vô hại để dấu diếm tên biệt dược của nó để bịnh nhân về nhà uống Hoạt Huyết Dưỡng Não tức ginkgo biloba của Việt Nam trị tai biến mạch máu não cộng với uống Gireba tức ginkgo biloba của Hàn Quốc để trị…đau mắt, gây nên nạn đưa vào người bệnh lượng cao bạch quả nhiều hơn cần thiết. Việc kê đơn kiểu của Bệnh Viện Mắt Thành Phố là do hoặc vì vô đạo đức, hoặc do kém chuyên nghiệp, hoặc tại thiếu hiểu biết, hoặc bởi yếu chuyên môn, hoặc cả bốn, mà chỉ cần vướng một trong bốn điều này là đã không đủ tư cách tồn tại trong ngành y.

D) Kiến Nghị Vĩ Mô Về “Y Đức”:

1- Từ sự việc trên, tôi đề nghị ngành y tế Thành phố nên nghiên cứu một chuẩn mực mới có thể dưới tên gọi GPP tức Good Prescription Practice, quy định chuẩn hóa quy trình kê toa chuẩn mực của bác sĩ, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – ghi định bệnh rõ ràng, đọc được, và khi ghi tên thuốc nhất thiết phải chua thêm tên chung để bệnh nhân biết và nhận diện xem họ có đang sử dụng cùng thứ ấy (dưới tên khác) hay thuốc ấy đang có sẵn ở nhà (cùng tên hay cùng loại dưới tên khác) để tránh bị tăng lượng thuốc vào cơ thể và để tránh lãng phí, thực hành tiết kiệm, thí dụ ghi thật chi tiết như sau:

Gireba (tức ginkgo biloba hay cao bạch quả): 20 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, sau bửa ăn.

Người bệnh sẽ nhờ đó có quyền chính đáng đương nhiên được biết mình bịnh gì, uống loại thuốc gì, và có thể sẽ quyết định không mua Gireba tại bệnh viện để ra ngoài tìm mua Hoạt Huyết Dưỡng Não hoặc thứ tương tự của viện bào chế khác dưới tên Việt hay Hán Việt hay tên Tây khác với giá rẻ hơn, hoặc họ có quyền chính đáng đương nhiên mua thuốc Tanakan của Pháp đắt tiền hơn, uy tín hơn Gireba – nếu muốn, thay vì bị che dấu sự thật dưới cái tên kỳ bí Gireba trên vĩ thuốc còn dòng chữ ginkgo biloba in bằng cỡ chữ cực nhỏ bằng mực xanh lá mờ nhòe chỉ có thể thấy được dưới chiếc kính lúp.

2- Cần thay đổi tư duy kiểu “ban ơn” trong tất cả các ngành nghề, không riêng gì ngành y. Tính chuyên nghiệp cao nhất là trong phục vụ, nghĩa là trên nền nhận thức “khách hàng là vua”. Chính vì kiểu “biết ơn thầy cô” mà sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam xuống cấp. Chính vì kiểu “biết ơn y bác sĩ” mà sự nghiệp y tế ở Việt Nam phải mãi nhức đầu về cái gọi là “y đức”. Vì theo cơ sở “biết ơn” mà người trong ngành x ngành y ngành z thấy họ ở tư thế “ban ơn” và từ đó không lo trau giồi đạo đức nghề nghiệp (tức hầu hạ, phục vụ khách hàng) và chuyên môn nghiệp vụ (để thể hiện tốt nhất đạo đức nghề nghiệp) cũng như tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao cho mình). Đây là vấn đề lớn, khó thể trong một sớm một chiều có thể thay đổi được; tuy nhiên không thể không có những bước đầu tiên nhằm uốn nắn kiểu tư duy “thọ ơn” bằng cách chẳng hạn như:

a) tập trung nói nhiều về và ngợi ca tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao);

b) giảm bớt tần suất nói về sự cao quý của nghề mình – vì theo lẽ công bằng thì tất cả các nghề chính quy đều cao quý mà không có bất kỳ phân biệt đối xử nào trong xã hội thực sự văn minh, do dần dần không ngành nào nói về sự cao quý của nghề mình – trừ quân đội (công khai, y như ở các quốc gia khác) và an ninh (không công khai, y như ở các quốc gia khác); và

c) đánh thức “ý thức” của nhân sự ngành mình bằng những thông tin rằng sự bất cẩn của nhân sự một ngành như ngành y chẳng hạn, gây hại đến sức khỏe hay sinh mạng của khách hàng có thể khiến nhân sự ấy cùng gia đình trở thành đối tượng cho một vụ thảm sát báo thù như thường thấy trong phim ảnh, tiểu thuyết, phóng sự điều tra thực ở nước ngoài.

Tôi sẽ nhờ nhân viên của tôi tìm in các bài viết của tôi trên các blogs từ năm 2008 đến nay có liên quan đến y tế (thí dụ như “Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi”, “Hỡi ơi những thiên thần áo trắng”, v.v.) để gởi Đại biểu tham khảo các ý kiến tỏ sự quan tâm của tôi đối với ngành y.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Đại biểu.

Kính chúc Đại biểu sức khỏe, an khang, thịnh vượng, thành công.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Đoàn Tp HCM

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis

Thư Của Hoàng Hữu Phước Gởi Đức Giáo Hoàng Francis

– Bản Dịch Tiếng Việt –

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2017

 

Kính gởi Đức Thánh Cha, Đức Giáo Hoàng Francis

Cung Điện Tông Đồ

Vatican, 00120

 

Chủ đề: Những hành động sai trái nghiêm trọng của một số giám mục ở Việt Nam

 

Đức Thánh Cha Tôn Kính,

 

Con ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, một doanh nhân đến từ và là Nghị Sĩ Quốc Hội nhiệm kỳ 2011-2016 của Việt Nam, kính lời chào trân trọng nhất đến Đức Thánh Cha và xin nhân cơ hội này kính trình Đức Thánh Cha những vấn đề nghiêm trọng sau đây liên quan đến một số linh mục và giám mục ở Việt Nam đối với việc họ can dự vào sự kích động các tín đồ và kích động những cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam mà con xin khép nép tin rằng Đức Thánh Cha đã hiểu biết tường tận.

 

A) Các Cuộc Biểu Tình Xách Động Bởi Các Giám Mục Phản Nghịch Ở Việt Nam

 

1- Sự Lạm Dụng Cờ Vatican Của Đám Đông Giáo Dân Công Giáo Việt Nam:

Những người theo Công giáo La mã trên toàn thế giới đều biết lá Thánh Kỳ Vatican hình vuông bao gồm hai nửa ngang thẳng đứng với một phần vàng hướng cột cờ và phần trắng phía ngoài, có Huy Hiệu Vatican cùng hai chìa khóa Thánh Paul bắt chéo nhau và Ngọc Miện Giáo Hoàng, cũng như biết các pháp chế nghiêm ngặt và tính trên hết của Thánh Kỳ.

Tuy nhiên, để phục vụ mục đích tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam dưới cái cớ chống lại các nhà đầu tư Đài Loan đang gây hại cho môi trường, các giám mục bất đồng chính kiến ​​ở Việt Nam ra lệnh cho người dân của các giáo phận của họ sản xuất ra những cái gọi là “Cờ Vatican” ở dạng hình chữ nhật có hai nửa nằm ngang và phần trắng phía trên còn nửa dưới màu vàng, hoặc không có hình ảnh của các chìa khóa Thánh Peter bắt chéo cùng Ngọc Miện Giáo Hoàng, hoặc có một chữ thập đỏ dày rất lạ nằm giữa lá cờ. Còn khiến sự việc tồi tệ hơn nếu không nói là tệ hại nhất, đám đông giáo dân còn hoặc vác “Cờ Vatican” trên vai, hoặc cầm vẫy qua vẫy lại, hoặc đơn giản cắm cột cờ vào bất cứ khe có sẵn nào trên phần sau đuôi xe, tức là để các “Cờ Vatican” phấp phới sau lưng các phụ nữ ngồi sau những ông lái mô tô.

Các giám mục và những người mà họ giảng dạy giáo lý cho (a) rõ ràng là không biết gì về lá cờ của Vatican, hoặc (b) phớt lờ bỏ qua pháp chế của Tòa Thánh quy định về Thánh Kỳ và sự cao trọng trên hết Toà Thánh dành cho Thánh Kỳ, hoặc (c) trở thành những kẻ phản bội muốn lật đổ triều đại Giáo Hoàng của Công Giáo La Mã bằng cách thiết kế một lá cờ Vatican mới để sử dụng theo ý riêng của họ tại Việt Nam, hoặc (d) ngụ ý rằng sự bất đồng của họ được ủng hộ mạnh mẽ và tài trợ hào phóng của Tòa Thánh chống chính phủ Việt Nam, hoặc (e) tệ hại hơn cả là có kế hoạch biến Nhà Thờ Công Giáo La Mã ở Việt Nam thành một đảng chính trị cạnh tranh với Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

2- Cờ Giẻ:

Để thách thức quyền quản trị toàn thế giới của Tòa Thánh, các giám mục và những giáo dân tại các giáo phận của họ biểu tình với nhiều Thánh Kỳ giả mạo được may từ những thứ vải có nguồn gốc chất lượng khả nghi. Đây là một sự lăng nhục Tòa Thánh.

Để thách thức giới tinh hoa hàn lâm  trên toàn thế giới, các giám mục và giáo dân tại giáo phận của họ cùng nhau biểu tình phất nhiều lá cờ đầy màu sắc hình vuông với những chiếc đuôi nheo không đều ở dọc các cạnh trừ cạnh sát cột cờ, mà họ tự hào vẫy qua vẫy lại cùng với “Thánh Kỳ Vatican”. Đây là một sự sỉ nhục đối với Tòa Thánh.

Và để thách thức chính phủ Việt Nam vốn được công nhận trên toàn thế giới, các giám mục cùng các giáo dân của họ biểu tình cùng với nhiều miếng vải màu vàng hình chữ nhật có ba sọc đỏ, tương tự như lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) đất nước mà Đức Giáo Hoàng Paul Đệ Lục không bao giờ ủng hộ, cũng như bị tiêu diệt vĩnh viễn bởi quân đội cộng sản của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) vào năm 1975. Phất cao ngọn cờ đã bị vất bỏ sọt rác của một chế độ đã bị xóa sổ vĩnh viễn trong khi xuống đường biểu tình dưới danh nghĩa Giáo Hội Công Giáo và dưới sự lãnh đạo của các giám mục của họ, đám đông giáo dân Công Giáo rõ ràng ám chỉ họ công khai chống cộng sản và nếu vậy đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật nghiêm ngặt hiện hành của Việt Nam đối với  các hành động khuyến khích hoặc kích động sự lật đổ Chính phủ – mà các quy định này khá tương đồng với nhưng không nghiêm ngặt như Đạo Luật 18 US 2385 của Hoa Kỳ. Tình trạng bất khả tương nghị của họ cũng là một sự xúc phạm đến Tòa Thánh.

 

3- Các Giám Mục Việt Nam Là Những Người Kích Động Và Là Những Kẻ Làm Loạn

Mặc dù chữ “lật đổ” đã được dùng trong 52 trường hợp trong 17 câu, 11 chương và 11 sách trong Bộ Thánh Kinh, thậm chí không có một gợi ý nào về lật đổ chính phủ đã được đề cập tới. Thay vào đó là lời giáo huấn rằng mọi chính phủ đều được đặt lên theo ý muốn chủ quản của Thiên Chúa (như tại Psalm 75: 7, Daniel 2:21) và tất cả các chính phủ ở mọi nơi đều phải được tôn trọng, kính trọng và tuân theo bởi các tín đồ (nêu tại  Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10 và 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 nêu rõ rằng: “Hãy nhắc nhở người dân phải phục tùng các nhà cầm quyền, biết tuân lời, sẵn sàng để làm bất cứ điều gì tốt đẹp, không vu khống ai, phải tránh xung đột, hãy tử tế và luôn dịu dàng với mọi người.” Tất cả những lời thông thái từ Thiên Chúa đã được nêu lên rất nhiều lần làm nền tảng của hòa bình hợp tác hài hòa mọi người với chính phủ. Quy tắc tuân thủ này hợp lý vì nó có cung cấp một lựa chọn duy nhất khi người dân có thể thực hành việc bất tuân dân sự bằng cách từ chối thực hành các luật lệ của chính phủ nếu các luật lệ này được chứng minh là có mâu thuẫn trực tiếp với luật lệ của Đức Chúa Trời như được tạo ra trong Kinh Thánh (nêu tại Exodus 1:15-17, Acts 4:19, và Daniel 3:14-18).

Sự hỗn loạn chính trị trên toàn thế giới ngày nay nảy mầm từ sự trắng trợn xem thường giáo lý của Đức Chúa Trời.

Khi các nhà đầu tư Đài Loan gây thiệt hại cho môi trường sinh thái biển ở một số tỉnh duyên hải của Việt Nam, họ đã bị toà án Việt Nam khởi kiện và bị kết án theo luật pháp hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, phớt lờ lời dạy trong Deuteronomy 25:1-3 rằng “Khi có tranh chấp, người ta đưa vụ việc ra tòa án và các thẩm phán sẽ phán xét vụ án, tha người vô tội và buộc tội kẻ có tội. Nếu kẻ phạm tội đáng bị đòn roi, thẩm phán sẽ bắt kẻ đó nằm xuống và cho quất roi trước mặt mình và với số lượng quất roi đánh đúng theo tội trạng. Nhưng thẩm phán không được áp đặt đánh hơn bốn mươi roi đòn”, các giám mục bất đồng chính kiến dẫn đầu đám đông từ các giáo phận của họ tiến hành biểu tình, hung hãn phất “cờ giẻ” và giận dữ la hét đòi trừng phạt nặng hơn bên phạm tội dù pháp luật hiện hành không quy định như vậy, thậm chí đòi đóng cửa các nhà máy dù luật pháp hiện hành không quy định như vậy, cũng như đòi trục xuất tất cả những người Đài Loan dù luật pháp hiện hành cũng không quy định như vậy.

Những sự kiện không ra chi gần đây nhất ở Việt Nam là một ví dụ về tầm quan trọng sống còn của việc thiếu vắng sự chăm sóc của cha mẹ và người lớn ngoan đạo trong gia đình, việc thiếu vắng sự giáo dục tốt ở trường học, việc thiếu vắng những lời giảng đạo sâu sắc về những lời dạy của Đức Chúa Trời tại nhà thờ, và việc thiếu vắng sự giám sát chặt chẽ của các cấp cao hơn của Giáo Hội Công Giáo khu vực chỉ có thể tạo ra những giám mục trơ trẻn thiếu suy nghĩ trở thành kẻ xách động bạo loạn, tự để mình vướng vào các cực đoan chính trị thế tục mặc dù chẳng hiểu biết gì hết về chủ nghĩa cộng sản hay bất kỳ chủ nghĩa nào khác, mơ màng một cách đáng thương hại về việc dấn thân vào những âm mưu điên rồ lật đổ Chính phủ Việt Nam và qua đó làm nhục Tòa Thánh.

 

4- Sự Ngu Dại Của Các Giám Mục Xách Động Là Do Sự Thiếu Hiểu Biết Về Lịch Sử

Rõ ràng là không ngoài sự hiểu biết của những người có phúc được cắp sách đến trường rằng Công Giáo lần đầu tiên đổ bộ lên đất nước Việt Nam thông qua các linh mục trên các tàu chiến của Pháp khi bắt đầu cuộc chiếm đóng – tức cuộc thuộc địa hóa – Việt Nam trong một trăm năm. Đây là một sự thật cay đắng không thể chối cãi đối với bao thế hệ những người yêu nước thật sự của Việt Nam, mà thực tế là đã làm Công Giáo không thể trở thành tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam.

Thay vì theo lời răn dạy trong Kinh Thánh để sống đời đạo hạnh một giáo dân Công giáo để trở thành người gương mẫu giúp làm cho lời dạy của Đức Chúa Quyền Năng được cụ thể hóa có tầm ảnh hưởng tốt nhất vì sự tiến bộ của cả dân tộc, một số giám mục lạm dụng quyền lực được giao phó chỉ để biến giáo dân tại các giáo phận thành thần dân còn bản thân trở thành các Lãnh Chúa Phong Kiến chủ nhân ông các giáo phận cứ như thể đó là những lãnh địa của riêng họ. Quả đó là một sự thật cực kỳ vô lý một cách xằng bậy ở Việt Nam nơi mà một số giám mục luôn muốn các giáo phận của họ tách cả thể xác và tinh thần xa khỏi phần còn lại của dân tộc, khinh thường các trách nhiệm công dân và luật pháp quốc gia.

Ngoài sự thiếu hiểu biết về những giáo huấn sâu xa của Thiên Chúa, sự thiếu hiểu biết về lịch sử của Việt Nam nơi các giám mục không giúp Việt Nam phát triển ở bất cứ khía cạnh nào – dù cho đó là về kinh tế, về uy tín của đất nước nói chung và của Công Giáo nói riêng, về chính trị, và thậm chí về tôn giáo.

Tự do ngôn luận và biểu đạt không bao giờ là để gây ra khó khăn cho đa số người Công Giáo khác trên cả nước và cho những đồng bào nghèo. Trong khi các nhà thờ Công Giáo và tín đồ Công Giáo có mặt khắp nơi tại Việt Nam, chỉ có một hoặc hai giáo phận nhỏ ở một số tỉnh là tuân theo chỉ thị của các giám mục xách động của họ để tổ chức các cuộc biểu tình với cờ nùi giẻ la hét đòi trừng phạt khắc nghiệt hơn nhiều đối với một doanh nghiệp nước ngoài, đòi đóng cửa doanh nghiệp đó, và đòi đuổi doanh nghiệp đó ra khỏi Việt Nam; tức là gieo rắc những mầm mống tạo ra sự ghét bỏ nơi những người Việt Nam thuộc các tín ngưỡng khác dành cho tín đồ Công Giáo, làm cho những người Công Giáo “ôn hòa” trên cả nước bối rối, và buộc chính phủ không giảm bớt sự dè dặt đối với các giám mục Công Giáo và cộng đồng giáo dân Công Giáo nói chung. Và cuối cùng song không phải là kém quan trọng  nhất, đó là các cuộc biểu tình như vậy ở các tỉnh nghèo tạo ra những rối loạn ảnh hưởng xấu đến cuộc sinh nhai hàng ngày của những người bán hàng rong và những người nghèo khổ đang làm những công việc lặt vặt trên những lề đường bị chặn ngăn  bởi các giám mục đang giận dữ và những giáo dân ngây thơ của họ.

 

B) Những Kiến Nghị Khiêm Tốn

 

Con được sinh ra trong một gia đình với đấng sinh thành tuy là Phật Tử vẫn tin vào Đức Chúa Jesus Christ (do có ấn tượng bởi cuộc sống đạo hạnh gương mẫu đáng kính tích cực giúp đời của các nữ tu Công Giáo tại một nữ tu viện gần nhà của chúng con tại Quận 3 Sài Gòn năm 1957 mà sau đó nữ tu viện ấy trở thành trường tiểu học Phan Đình Phùng trước năm 1975, những “bà sơ” ấy đã giúp đỡ bất cứ ai trong khu vực toàn người ngoại đạo), và vì tin nên đã cho con cùng các chị em ruột của con theo học tại các trường trung học Công Giáo ở Việt Nam. Một số chị em của con là tín đồ Công Giáo hoặc Tin Lành. Mọi người trong gia đình lớn của con bất kể là Phật tử hay tín đồ của Chúa hoặc như con chỉ là một người thờ phượng tổ tiên, đều đồng ý về một quan điểm rằng trước hết chúng con là công dân Việt Nam và sau đó mới là nhận thức rằng chúng ta là con cái của Thượng Đế. Điều này là để xác quyết rõ ràng rằng chúng con là con cái Thiên Chúa được Thiên Chúa ban phúc cho vào Việt Nam và chúng con sẵn sàng tiêu diệt không thương xót bất kỳ quân xâm lược đến từ bất kỳ đâu chẳng hạn như Trung Quốc hay nơi nào khác, mặc cho chúng cũng  con cái Thiên Chúa. Việt Nam Trên Hết chính là phương châm của tất cả những người yêu nước thực sự của Việt Nam, những người luôn cầu nguyện Chúa Trời ban phước cho đất nước của họ trước hết.

Với tâm nguyện như trên, và với ấn tượng tuyệt vời từ nhiều tuyên bố của Đức Thánh Cha, ví dụ như những phê phán chống lại những phương cách tàn nhẫn trong chủ nghĩa tư bản, và đặc biệt là những điều được Đức Thánh Cha đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn với Il Messaggero vào tháng 6 năm 2014 liên quan đến nội dung “Sự nghèo khổ là trọng tâm của Phúc Âm”, sâu sắc ngụ ý rằng mối quan tâm của chủ nghĩa cộng sản dành cho người nghèo là trong thực tế từ sự quan tâm đến người nghèo như được viết trong Phúc Âm từ hai mươi thế kỷ trước đó, nên chủ nghĩa cộng sản  coi như đã như một tín đồ của Chúa, con muốn trình cùng Đức Thánh Cha những kiến nghị sau đây.

 

1) Sự Giám Sát Mạnh Hơn Và Hiệu Quả Hơn Đối Với Các Linh Mục Và Giám Mục Tại Việt Nam

Tòa Thánh nên xem xét việc tấn phong một Sứ Thần Tòa Thánh thật mạnh mẽ để phụ trách giám quản Công Giáo Việt Nam, có năng lực lột mặt nạ các sai phạm và thủ đoạn bẩn thỉu của những linh mục và giám mục có mưu đồ làm nhục danh tiếng Tòa Thánh, phá hỏng mối quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam, lật đổ chính phủ Việt Nam, lùa những giáo dân Công Giáo ngây thơ phạm tội phản quốc, và bóp méo lời răn dạy của Thượng Đế.

 

2) Thực Thi Sức Mạnh Thực Sự Của Vatican Đối Với Những Kẻ Sai Quấy

Các sự cố nêu trên về lạm dụng quyền lực để bêu xấu uy tín của Tòa Thánh cũng kích hoạt sự cần thiết phải thực thi  quyền lực của Vatican chống lại những  kẻ sai quấy sử dụng áo chùng thâm làm vũ khí ngụy trang và sử dụng Vatican làm áo giáp bảo vệ. Rút phép Thông Công là hình thức trừng phạt đúng đắn áp dụng đối với các linh mục và giám mục người Việt Nam nào đã ra lệnh cho giáo dân tại giáo phận của họ phô trương Thánh Kỳ giả tạo cùng cờ giẻ tại những cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đã sống một cuộc sống trần tục của dối trá, bài ngoại, bất tuân xã hội, và kích động bệnh hoạn để phạm tội phản quốc .

 

3) Thực Hiện Các Quan Hệ Ngoại Giao Thật Sự Với Chính Phủ Việt Nam

Tự do ngôn luận và biểu đạt bao gồm  cả quyền dù của một cá nhân hay một tổ chức trong phổ biến chủ nghĩa vô thần hay bất kỳ một tín ngưỡng nào khác. Bất kỳ hành động chống lại một chế độ dựa trên niềm tin tôn giáo khác nhau của chế độ đó không bao giờ là một sự thực thi  đúng đắn về tự do ngôn luận và biểu đạt trong thế giới văn minh.  Cố Giáo Hoàng Benedict Đệ Nhất Thập Lục đã có một bước chính đáng và quan trọng khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng Sản Việt Nam vào ngày 25 tháng 1 năm 2007.

Tuy nhiên, dường như Việt Nam là quốc gia duy nhất mà nơi đó một số linh mục Công Giáo địa phương và các giám mục không chỉ công khai ra mặt lãnh đạo các  nỗ lực thực hiện những thủ đoạn bẩn thỉu nhằm tạo ra các rối loạn chống lại chính phủ, mà còn khóc lóc với nước mắt cá sấu mỗi khi gặp Đại Sứ Tông Tòa, Sứ giả Giáo Hoàng, hoặc Hồng Y, cứ như thể họ đang bị áp bức tàn nhẫn, bị đàn áp bởi các chiến dịch chống Công Giáo của Chính phủ Việt Nam.

Tòa Thánh cần xem xét việc khẳng định chính thức rằng các giám mục Việt Nam được Tòa Thánh phong chức phải tôn trọng mối quan hệ ngoại giao giữa Toà Thánh và Chính phủ Việt Nam, phải báo cáo với Tòa Thánh bất cứ vấn đề gì quan ngại để Tòa Thánh có các hành động ngoại giao phù hợp với các đối tác ngoại giao theo các thực tiễn ngoại giao song phương được cả hai bên thỏa thuận, và phải hiểu rằng họ không có quyền bất kỳ trong tụ tập cầm đầu giáo dân biểu tình chống chính phủ thay mặt cho Tòa Thánh và sử dụng Thánh Kỳ trong bất kỳ trường hợp nào bên ngoài nhà thờ.

 

4) Xác Quyết Quyền Lực Của Chính Phủ Theo Lời Dạy Của Thánh Kinh

Các linh mục và giám mục Công Giáo ở Việt Nam cần được nhắc nhở về nội dung tuân phục Chính Phủ Việt Nam theo lời dạy của Thiên Chúa trong Kinh Thánh.

 

5) Đào Tạo Lại Các Giám Mục tại Việt Nam

Các linh mục và giám mục Công giáo ở Việt Nam cần được đào tạo lại về (a) bổn phận thật sự của mình và trách  nhiệm thực sự của mình đối với giáo phận và những giáo dân, (b) nội dung toàn bộ về các pháp chế và các chế định ưu tiên của Tòa Thánh, và (c) trách nhiệm công dân của tín đồ của Chúa đối với cả hai phạm vi thế tục và phạm vi tâm linh đối với quốc gia cùng luật pháp quốc gia (nêu tại Romans 13:1-7), và đối với Nước Chúa cùng các giáo luật của Chúa (nêu tại Philippians 3:20, Exodus  20:1-5, và Luke 20:25) cùng các giáo lý Kinh Thánh, vốn chứng minh vô chính phủ không bao giờ nằm trong số những lời dạy của Thượng Đế. Sự thiếu hiểu biết đối với một trong hai loại tư cách công dân nêu trên là dấu hiệu nhận ra các linh mục và các giám mục sai quấy của Việt Nam.

 

6) Hiệu Đính Lại Bản Tiếng Việt Của  Kinh Thánh

Có một thực tế là tất cả các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh chưa bản nào là bản dịch thuật xuất sắc, dù đó là công trình dịch thuật của Giáo Hội Công Giáo hay Tin Lành. Ngôn ngữ của bản tiếng Việt không thể phủ nhận được là khó hiểu đối với mọi tín đồ người Việt theo đạo của Chúa vì ba vấn đề sau đây:

(a) Hình thức ngôn ngữ viết tiếng Việt hiện nay là do các nhà truyền giáo dòng Tên người Pháp vào thế kỷ XVII trước tiên phục vụ cho mục đích giảng đạo. Tiếng Việt trong thời nguyên thủy của nó tất nhiên đã không thể diễn tả chính xác và đầy đủ ý nghĩa của các văn bản thuộc một ngôn ngữ khác, đặc biệt từ tác phẩm Kinh Thánh vĩ đại. Ngoài ra, các nhà truyền giáo người Pháp không phải là những nhà dịch thuật chuyên nghiệp tiếng Việt. Tất cả những yếu tố này khiến các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh phần thì vụng về và phần thì khó hiểu, và việc giáo dục tinh thần của giáo dân Công Giáo Việt Nam nói chung và các linh mục Công Giáo nói riêng không thể ở vị thế cao bằng như trong thế giới phương Tây.

(b) Nhiều từ ngữ Việt Nam đã lỗi thời, không còn được sử dụng, nhưng vẫn tồn tại trong các bản Thánh Kinh tiếng Việt, và thậm chí một số không phải là “bản dịch” vì chúng không phải là từ bất kỳ từ ngữ nào trong bản gốc tiếng Anh chẳng hạn.

(c) Theo truyền thống, các giáo dân Việt Nam theo đạo Chúa đã xem các lời ghi chép trong Kinh Thánh là những lời dạy của Thượng Ðế mà họ phải tuân theo và tôn trọng, bất kể bản Kinh Thánh ấy bằng tiếng Việt đã vậy không phải là một bản dịch hoàn hảo mà chỉ là một công trình không chuyên nghiệp của những dịch giả nghiệp dư.

Các sự thật nêu trên làm cho bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh không hề thay đổi và không hề được cập nhật hoặc không hề được sửa sai trong nhiều thế kỷ. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào các linh mục và giám mục mỗi khi đọc Kinh thánh tại các buổi lễ, mà những giáo dân ngây thơ của họ do không hiểu được nội dung đã phải dựa hẳn vào lời giải thích của các linh mục và giám mục. Nói cách khác, các linh mục và các giám mục ở Việt Nam có thể lạm dụng quyền lực của mình bằng cách giảng giải không đúng những lời dạy của Đức Chúa qua  một bản dịch Kinh Thánh chất lượng kém để khống chế tư tưởng những giáo dân ngây thơ tham gia vào các cuộc tụ họp chống chính phủ.

Đề nghị của con đối với Đức Thánh Cha là Giáo Hội của Việt Nam nên được Đức Thánh Cha giáo huấn rằng bất cứ sự bỏ mặc nào đối với tính chính xác, sự sâu sắc và bản dịch của Kinh Thánh cũng chính là sự báng bổ Thiên Chúa, và rằng bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh được Tòa Thánh cho phép được cập nhật và sửa sai.

 

Do Việt Nam cần sự ổn định và do chính quyền cộng sản Việt Nam là thực thể duy nhất có khả năng bảo vệ hòa bình cho người dân Việt Nam, sự kích động của các linh mục và các giám mục Công Giáo sử dụng Thánh Kỳ giả và cờ nùi giẻ, kích động không chỉ lòng hận thù bài ngoại mà còn là sự bất tuân luật pháp quốc gia không bao giờ có thể được chấp nhận. Các linh mục và giám mục này cần được Tòa Thánh bảo ban nhắc nhở hay tái đào tạo rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc ngay khi chính quyền cộng sản Việt Nam bị tổn hại bởi những cuộc phản đối thiếu suy nghĩ như vậy chắc chắn sẽ làm cho nhân dân Việt Nam bao gồm cả những giáo dân đạo Chúa bị đẩy đến bờ vực của diệt vong và diệt chủng.

 

Kính mong nhận được sự giúp đỡ của  Đức Thánh Cha.

 

Kính gởi đến Đức Thánh Cha sự tôn kính là lòng tôn trọng.

 

Hoàng Hữu Phước đốn thư

Địa chỉ thư tín:

Hoàng Hữu Phước

MYA BizCorp

399B Trường Chinh, Tân Bình,

Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

GHI CHÚ RIÊNG CHO WORDPRESS.COM

 

A) Danh mục các “thư” gởi các lãnh đạo chính trị các nước:

1) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Mỹ Gus Hall (Tiếng Anh, 1978, dài 8 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy pelure lưu vì mối mọt).

2) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Chủ Tịch Đảng Cộng Sản Anh Gordon McLennan (Tiếng Anh, 1978, dài 10 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt).

3) Thư doanh nhân Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Thống Iraq Saddam Hussein (Tiếng Anh, gởi thư thường qua bưu điện và gởi bằng điện tín, thất lạc bản nháp viết tay thư, thất lạc bản nháp viết tay điện tín, thất lạc biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Tổng Thống Iraq, chỉ còn biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Đại Sứ Iraq ở Hà Nội đề nghị khẩn báo Tổng Thống Iraq, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Thư sinh viên Hoàng Thị Thu Hương (em gái út của Hoàng Hữu Phước) gởi Thủ Tướng Đức Helmut Kohl (Tiếng Đức, gởi thư bảo đảm qua bưu điện, còn lưu trong tàng thư cá nhân, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Thư Lại Thu Trúc (Trợ Lý của Hoàng Hữu Phước) gởi Tổng Thống Mỹ Barack Obama (Tiếng Anh, gởi bằng email đến Tòa Bạch Ốc, nội dung bản gốc tiếng Anh kèm bản dịch tiếng Việt tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

6) Thư Nghị sĩ  Khóa XIII Hoàng Hữu Phước gởi Đức Giáo Hoàng Francis (Tiếng Anh, gởi bằng thư và bằng email đến Vatican, nội dung bản tiếng Anh tại WordPress https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/01/letter-to-his-holiness-pope-francis/ và Twitter @HoangHuuPhuoc).

B) Danh mục các “thư” gởi các cơ quan thông tấn nước ngoài:

1) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Newsweek Mỹ (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện 1988, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu ảnh thư trả lời của Madelain Edmondson của Newsweek đăng tại Tôi và Saddam Hussein).

2) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Hãng Thông Tấn Novosti Liên Xô (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu danh sách trúng giải trên tạp chí Sputnik, với chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Letter to His Holiness Pope Francis

Ho Chi Minh City, 01 August 2017

 

His Holiness, Pope Francis

Apostolic Palace

Vatican City State, 00120

 

Subject:  The Serious Wrong-Doings of Some Bishops in Vietnam

 

Your Holiness,

 

I the undersigned Mr. Hoang Huu Phuoc, a businessman from – and a National Assembly Representative in the 2011-2016 tenure of – Vietnam, wish to convey my best compliments to Your Holiness and would like to take this opportunity to invite the kind perusal of Your Holiness to the following serious issues relating to some priests and bishops in Vietnam involving themselves in antagonizing their followers and agitating the rioting protests against the government of Vietnam, which I humbly believe are not beyond your full awareness of.

 

A) Protests Agitated by Dissident Bishops in Vietnam

 

1- The Misuse of the Vatican Flag by Vietnamese Catholic Hoi Polloi:

The Roman Catholic followers worldwide know the square Holy See Flag consisting of two equal vertical halves with a yellow hoist side and the white fly having the Vatican City coat of arms bearing the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, as well as the strict legislation and precedence of The Holy See Flag.

However, to serve the purpose of organizing protest demonstrations against the government of Vietnam under the pretext of fighting against the Taiwanese investors doing harms to the environment, the dissident bishops in Vietnam order the people of their dioceses to produce many of the so-called “Vatican Flag” in rectangle shape of two horizontal halves of white upper band and yellow lower half, either without the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, or with a strange thick red cross in the middle. To make it worse or the worst, Catholic hoi polloi have such “Vatican Flags” either shouldered, waved, or simply inserted the flagstaffs into whatever holes available on rear tailstock covers of motorcycles, i.e. leaving such “Vatican flags” flutter at the back of the women sitting behind male riders.

These bishops and the people they teach doctrines to either (a) are obviously so ignorant of the Vatican Flag, or (b) disregard the legislation and precedence of The Holy See, or (c) become traitors wishing to overthrow the Papacy of the Roman Catholic Church by designing a new Vatican Flag for separate use totally at their own discretion in Vietnam, or (d) imply that their dissidence is strongly supported and generously funded by The Holy See against the government of Vietnam, or (e) at the worst plan to make the Roman Catholic Church of Vietnam a political party competing against the Communist Party of Vietnam.

 

2- Rags for Flags:

To challenge the worldwide administration power of The Holy See, the bishops and their diocesan people rally with many fake Vatican Flags of dubious sources of fabrics. This is an insult to The Holy See.

To challenge the worldwide academicians, the same bishops and their diocesan people rally also with many unknown square colorful “flags” with unevenly serrated tails at all sides except the hoist, which they proudly wave alongside the Vietnam-bishopized “Vatican flags”. This is an insult to The Holy See.

And to challenge the worldwide-acknowledged Government of Vietnam, the same bishops and their diocesan people rally also with many rectangular yellow three-red-lined pieces of cloth, similar to the flags of the Republic of Vietnam (South Vietnam), which was never supported by the late His Holiness Pope Paul VI, and which was totally defeated for good by the communist army of the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) in 1975. Wavering the rag flags of a permanently eliminated regime when protesting under the name of the Catholic Church and the leading of their bishops, Catholic hoi polloi obviously imply they are openly anti-communist and thus put themselves in seriously violating the country’s strict applicable laws relating to the acts of advocating or abetting overthrow of the Government – rules somewhat similar to, but not as strict as, the 18 US Code 2385. Their non-compos mentis status is an insult to The Holy See.

 

3- Vietnamese Bishops as Agitators & Rioters

Even though the word “overthrow” has been found in 52 instances in 17 verses, 11 chapters and 11 books of the Holy Bible, not even a single implication of overthrowing the government is mentioned. Instead, the teaching is that every government is put in place by the sovereign will of God (cf. Psalm 75:7; Daniel 2:21), and that all governments in all places are to be honored, respected, and obeyed by believers (cf. Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10, and 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 clearly mentions, “Remind the people to be subject to rulers and authorities, to be obedient, to be ready to do whatever is good, to slander no one, to be peaceable and considerate, and always to be gentle toward everyone.” All are abundantly raised as words of wisdom from God for the very basis of peace in everybody’s harmonious cooperation with the government. Such rule of obedience is reasonable as it provides a lone option when the people can practice civil disobedience by refusing to practice the regulation of the government’s laws if such laws are proven in direct conflict with God’s laws as generated in the Holy Bible (cf. Exodus 1:15-17, Acts 4:19, and Daniel 3:14-18).

The worldwide political chaos nowadays are germinated from the blatant disregard for God’s teachings.

When the Taiwanese investors brought damage to the marine ecological environment at some coastal provinces of Vietnam, they were sued to and found guilty and fined by the Vietnam’s court as per the applicable laws of Vietnam. However, ignoring the Deuteronomy 25:1-3 that “When people have a dispute, they are to take it to court and the judges will decide the case, acquitting the innocent and condemning the guilty. If the guilty person deserves to be beaten, the judge shall make them lie down and have them flogged in his presence with the number of lashes the crime deserves, but the judge must not impose more than forty lashes”, the dissident bishops led the crowds from their dioceses for protests,  vehemently waving the “rag flags” and angrily shouting for heavier punishment to the culprits though beyond the applicable laws and even for closing of the factories though beyond the applicable laws and expelling all those Taiwanese people though beyond the applicable laws.

These recent sad incidents in Vietnam are of an example of the vital importance of how the lack of proper care of faithful parents and elders at families, of decent education at schools, of profound teachings of God’s words at churches, and of strict supervision of the higher levels of the regional Roman Catholic Church may only produce some impudent inconsiderate bishops as agitators for rioting, enmeshed in the mundane political polarities though totally unknowledgeable of communism and any other –isms, pitifully dreaming of self-involvement in insane plots to overthrow the government of Vietnam and thereupon insulting the Holy Church.

 

4- Stupidity at Agitating Bishops from Their Ignorance of History

It is obviously not beyond the knowledge of the people blessed to have had years at school that Catholicism first landed onto Vietnam’s shore through the priests aboard warships of France in its commencement of the one-hundred-year occupation – i.e. colonialization – of Vietnam. This is a bitter indisputable truth to generations of patriots of the country, as-a-matter-of-factly hindering Catholicism from becoming the main religion in Vietnam.

Instead of following teachings from the Holy Bible to lead a pious life of a Catholic to become an exemplary being to help make words of Lord God Almighty well-materialized an best-influential for the betterment of the whole nation, some bishops misuse the power entrusted to them only to make the people at dioceses their subjects and themselves the Feudal Lords owning the dioceses as if these were their isolated kingdoms. It is a preposterously nonsensical fact in Vietnam where some bishops always want their dioceses physically and spiritually separated from the rest of the nation, ignoring their citizen’s responsibility and their country’s laws.

Besides the ignorance of the profound teachings of God, the ignorance of the history of Vietnam at those bishops does not help the country develop in any aspect at all – be it economy, prestige of the country in general and of  Catholicism in particular, education, politics, and even religion.

Freedom of speech and of expression can never be for creating problems to the majority of Catholics countrywide and to poor compatriots. Whilst Catholic churches and Catholics are everywhere in Vietnam, only one or two small dioceses in some provinces follow the order or their agitating bishops to organize protests with rag flags shouting for much harsher punishment against a foreign business, closing of that business, chasing its people out of Vietnam; thus sowing further seeds of hatred from Vietnamese people of different religious beliefs towards Catholics, making “moderate” Catholics countrywide embarrassed, and forcing the government not to lessen its alertness against the Catholic bishops and Catholic communities as a whole. And last but never the least, such protests at poor provinces create disturbances badly affecting the daily toiling for a living of street vendors and destitute people doing odd jobs on pavements of roads blocked by angry vehement bishops and their naïve diocese people.

 

B) Humble Proposals

 

Born into the family of my Buddhist parents who believed in Jesus Christ (as impressed by the much exemplary respectful responsible supportive pious living of the Catholic nuns at a convent located near our home at District 3 of Saigon in 1957 who provided generous help to anybody of the neighbourhood comprising of  non-Christians only) and sent their children to Catholic high schools in Vietnam, I have some siblings who are Catholic or Evangelical Christians, and everyone in my big family regardless of a Buddhist or a Christian or just an ancestor-worshipper like myself agrees on the one and utmost point of view that we are the citizens of Vietnam first before the perception that we are children of God Almighty. This is to set it very clear that we the children of God bestowed by God on to Vietnam are prepared to annihilate without any mercy the invaders say from China or elsewhere, be them also the children of God. Vietnam First is the very motto of all the real patriots of Vietnam who pray God to bless their own country first.

With the above in mind, and with the great impression instilled from the various statements of Your Holiness, e.g. the criticisms against the abusive practices in capitalism, and particularly the one delivered by Your Holiness at the interview with Il Messaggero in June 2014 relating to “Poverty is at the center of the Gospel”, profoundly implying that the concern of communism for the poor is in fact from the concern of the poor as written in the Gospel twenty centuries earlier, which thereupon make communism a Christian, I wish to bring the following proposals to Your Holiness for consideration.

 

1) Stronger & More Effective Supervision of Local Priests and Bishops in Vietnam

The Holy See should consider to ordain a very strong Apostolic Nuncio in charge of Vietnam capable of unmasking the wrong-doings and dirty tricks of those Vietnamese priests and bishops whose plots are to besmirch The Holy See, to spoil the diplomatic ties between Vatican and Vietnam, to overthrow the Government of Vietnam, to lure naïve Catholic followers to treasons, and to distort the teachings of God.

 

2) Execution of Real Power of Vatican to Wrong-Doers

The above incidents of abuse of power to besmirch the prestige of The Holy See also ignite the necessity of execution of power of Vatican against wrong-doers using the cassocks as camouflage and Vatican as protecting armor. Excommunication is the only correct punishment imposed against the Vietnamese priests and bishops who order their diocese people to display fake Vatican Flags and rag flags at illegal protests, and lead a mundane life of lies, xenophobia, social disobedience, and morbid agitation for conviction of treason.

 

3) Materialization of Real Diplomatic Ties with the Government of Vietnam

Freedom of speech and expression includes the right whether of an individual or an organization to promote atheism or other beliefs. Any action against a regime on the pretext of its different religious belief is never a righteous observation of the freedom of speech and expression in the civilized world. The late His Holiness Pope Benedict XVI made a righteous and important step towards establishing diplomatic ties with the communist Vietnam on 25 January 2007.

However, it seems Vietnam is the only country whereat some local Catholic priests and bishops not only openly show their leadership in the efforts to do dirty tricks to create problems against the government, but also cry with crocodile’s tears whenever meeting Apostolic Nuncio, Papal Delegates, or Cardinals, as if they were under the cruel oppression and suppression and anti-Catholic campaigns of the Government of Vietnam.

The Holy See should consider the official affirmation that the Vietnamese bishops ordained by The Holy See must honour the diplomatic relation between The Holy See and the Government Vietnam, must report to The Holy See whatever problems of their concern for The Holy See to take suitable diplomatic action with the diplomatic counterparts as per diplomatic practices bilaterally agreed upon by both sides, and must understand that they have no right whatsoever to gather and lead their diocese people for anti-government protests on behalf of The Holy See and deliberate use of Vatican Flag inn any occasions outside the church premises.

 

4) Acknowledging the Power of the Government as per Teachings in Testaments

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be reminded of the obedience to the Government of Vietnam, following God’s teachings in The Holy Bible.

 

5) Retraining of Bishops in Vietnam

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be retrained on (a) their real duties and real responsibilities with the diocese and the followers, (b) the full legislation and precedence of The Holy See, and (c) the citizenship of Christians in both the earthy and the spiritual realms with the former the country and its laws and regulation (cf. Romans 13:1-7), and the latter God’s Heaven (cf. Philippians 3:20, Exodus 20:1-5, and Luke 20:25) and its doctrines, which prove anarchy is never amongst the teachings of God. The ignorance of either of the two citizenships is the very sign of wrong priests and bishops of Vietnam.

 

6) Revision of Vietnamese Translation of the Bible

It is a fact that all the Vietnamese versions of The Holy Bible have not been of excellent translation, be it the work of the Catholic or Evangelical Churches. The language is undeniably incomprehensive to every Vietnamese Christian, due to the following three issues:

(a) The present-day Vietnamese language format of alphabet writing presentation was developed by the French Jesuit missionaries in the XVIIth century to first serve the purpose of Bible teaching. The Vietnamese language in its primitive time definitely failed to accurately and sufficiently express the sense of the texts in another language, particularly from the great Holy Bible. Additionally, the French missionaries were of course not professional translators of Vietnamese language. All these make the Vietnamese versions of The Holy Bible partly clumsy and partly incomprehensive, and the spiritual education of the Vietnamese Catholics in general and Vietnamese Catholic priests could not be of a profile as high as in the Western world.

(b) Many obsolete Vietnamese wordings are still in the Vietnamese translation versions, and even some are not “translation” as they are not from any wording in the original say English version.

(b) Traditionally, the Vietnamese Christians have considered wordings in the Holy Bible the teachings of God which they must obey and respect, regardless of the fact that the Bible is in Vietnamese but not of a perfect profound translation but just an unprofessional work of amateur translators.

The above facts make the Vietnamese translation of The Holy Bible unchanged and non-updated or uncorrected for centuries. It depends totally individually on priests and bishops when reading the Bible at Church services, which their naïve followers failing to get the true context have to rely on their explanations. In a word, priests and bishops in Vietnam can easily misuse their power by misinterpreting the words of God in a poor translation of The Bible to mastermind the naïve people to involve in anti-government gatherings.

My proposal to Your Holiness is that the Vietnam’s Church should be taught by Your Holiness that any disregard to the accuracy, profound, and translation of The Holy Bible is itself a blasphemy, and that the Vietnamese translation version of The Holy Bible is allowed by The Holy See for updating and correcting.

 

As Vietnam need be stabilized and the communist government of Vietnam is the only entity capable of securing peace to the people of Vietnam, the agitation by those Catholic priests and bishops using fake flags and rag flags and inciting not only xenophobic hatred but also disobedience to the country’s laws can never be accepted. These priests and bishops need be reminded or re-educated by The Holy See that China’s invasion once the communist government of Vietnam is harmed by such thoughtless protests will surely corner the people of Vietnam including Vietnamese Christians to the definite verge of perdition and genocide.

 

The help from Your Holiness is kindly requested.

 

With every good wish to Your Holiness, I am,

Very Respectfully Yours,

 

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam’s XIIIth National Assembly Representative

Mailing address:

Hoang Huu Phuoc

MYA BizCorp

399B Truong Chinh St., Tan Binh,

Ho Chi Minh City

Vietnam

Tel: 84-1689996266

Email: hoanghuuphuoc@myabiz.biz

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

**********

Notes for the WordPress.com, regarding the personal letters to foreign institutions:

A) Letters to Political Leaders:

1) Letter to Secretary General of the US Communist Party Gus Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

2) Letter to Secretary General of the UK Communist Party Gordon McLennan (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

3) Letter to President Saddam Hussein (by Hoang Huu Phuoc, in English, sent via telegrams and postal service. Details in Vietnamese at Tôi và Saddam Hussein https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Letter to Chancellor Helmut Kohl (by Hoang Thi Thu Huong, the youngest sister of Hoang Huu Phuoc. In German. Sent via postal service. Copy available at personal archives. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Letter to President Barack Obama (by Lai Thu Truc, Secretary to Hoang Huu Phuoc. In English. Sent by email. Details with Vietnamese translation available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

B) Letters to Foreign Mainstream Media:

1) Letter to Newsweek of the USA (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1988. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details and image of reply letter from Madelein Edmondson available at Tôi và Saddam Hussein)

2) Letter to Novosti of the USSR. Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1996. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Thư Gởi Đồng Bào

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-6-2017

*********

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12-6-2017

Kính thưa Đồng Bào:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính trình cùng Đồng Bào nội dung sau.

Qua tham chiếu các bộ Luật Tổ Chức Quốc Hội Số 57/2014/QH13 và Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Số 85/2015/QH13, tôi nhận thấy có 4 điểm cốt lõi quan trọng sau đã chưa từng được quy định trong các Luật hiện hành có liên quan của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

1) Khi kết thúc nhiệm kỳ, các nghị sĩ từng địa phương thực hiện bàn giao công việc – nhất là chi tiết các việc tồn đọng có liên quan đến các khiếu tố của người dân không những ở địa bàn hoạt động mà còn từ các tỉnh thành trên cả nước;

2) Khi kết thúc nhiệm kỳ, các nghị sĩ từng địa phương bắt buộc phải chấm dứt hòan toàn mọi trách nhiệm đối với người dân không những ở địa bàn hoạt động mà còn từ các tỉnh thành trên cả nước, kể cả các trách nhiệm đối với các việc tồn đọng có liên quan đến các khiếu tố của người dân không những ở địa bàn hoạt động mà còn từ các tỉnh thành trên cả nước, ngay cả khi những người dân ấy tiếp tục tín thác cho nghị sĩ đã kết thúc nhiệm kỳ;

3) Khi kết thúc nhiệm kỳ, các nghị sĩ từng địa phương khi có nhận các đơn thư khiếu tố của công dân chỉ được chuyển lại cho Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội tại địa phương để nơi này xử lý – bất kể đó là đơn thư mới hay đơn thư của vụ việc khiếu tố mà bản thân nghị sĩ từng đích thân can thiệp; và

4) Các cơ quan Chính Phủ đương nhiệm không có trách nhiệm phải trả lời chính thức bằng văn bản việc xử lý các công văn hay thư chuyển của các nghị sĩ tiền nhiệm.

Trước thực tế chứng minh có Đoàn Đại Biểu Quốc Hội như Đoàn Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh mà ngay cả Nghị Sĩ Trương Tấn Sang, Nghị Sĩ Lê Thanh Hải, Nghị Sĩ Nguyễn Thị Quyết Tâm, v.v., cũng không giúp giải quyết xong những khiếu tố dai dẳng của công dân kéo dài từ các khóa Quốc Hội trước đó, như vụ việc của Giáo Sư Tăng Kim Tây hay Nhà báo Hoàng Hữu Hiệp. Nếu như tấm lòng vì nước vì Đảng của Giáo sư Tăng Kim Tây đã dẫn đến sự kiên trì gởi đơn cho các Nghị sĩ Trương Tấn Sang, Trần Du Lịch, và Hoàng Hữu Phước tại tất cả các buổi tiếp xúc cử tri suốt nhiệm kỳ 2011-2016 của các nghị sĩ này, thì nhà báo Hoàng Hữu Hiệp đã nhiều năm khiếu tố trong bức xúc đỉnh điểm, mà ngay cả Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân có biết về vụ việc này:

HHH1

sự bất kính mà nhà báo Hoàng Hữu Hiệp dành cho các nghị sĩ đã lên đến cực điểm

HHH2HHH3HHH4

cũng như các “tân nghị sĩ” cùng phải chịu vạ lây từ sự ra tay dạy dỗ đầy đay nghiến của nhà báo Hoàng Hữu Hiệp

HHH5

và tất nhiên, “tân Bí thư Thành ủy” cũng không thể không gánh chịu phản ứng giận dữ cực đoan của nhà báo ấy

HHH6HHH7

Trước thực tế sự vô cảm, bất trí của vài lãnh đạo các thời trước đây của Thành phố Hồ Chí Minh đã không nhận thức được sự cần thiết tối quan trọng của việc tích cực giải quyết – hay giải tỏa bức xúc đối với – các khiếu tố của người dân, khiến đã có những người dân bị đẩy đến mức độ cực đoan bất kính giới tinh hoa chính trị của nước nhà, di họa cho các lãnh đạo thành phố kế nhiệm;

Trước thực tế sự vô cảm, bất trí của vài lãnh đạo Đảng và Chính Quyền các thời trước đây của Thành phố Hồ Chí Minh đã không nhận thức được rằng “gần dân” hoàn toàn có thể được thực hiện ngay tại tháp ngà qua việc tai lắng nghe nội dung giải bày của các đơn thư của nạn dân, tay bút phê chỉ đạo phân xử như thần chứ không phải trò sáp sát vào dân có tiền hô hậu ủng có quay phim chụp hình để tai nghe các phát biểu của dân mà dân ở đây luôn chỉ là các đại cử tri được chọn sẵn;

Trước thực tế vấn nạn trầm kha của lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh trong lợi dụng và tận dụng cơ hội làm “tân nghị sĩ” để có quyền không nắm bắt các nội dung khiếu tố tồn đọng dẳng dai trong nhân dân cũng như chọn phương cách an toàn “chuyển tiếp” các đơn thư khiếu tố ấy đến cùng cơ quan đã nhận nhiều năm trước đó để các cơ quan này bắt đầu áp dụng thời gian xem xét theo luật định để tiếp tục xét xem cho đến cuối nhiệm kỳ Quốc Hội mới mà không giải quyết gì cả; và

Trước thực tế tôi vẫn còn chịu trách nhiệm đối với các nội dung khiếu tố mà đồng bào trước đây đã tín thác và nay vẫn tiếp tục tín thác qua những chủ động liên hệ với tôi để tham vấn và/hoặc yêu cầu tiếp tục giúp can thiệp các vụ còn tồn đọng;

Tôi tuyên bố không chối bỏ trách nhiệm, không phụ lòng tín thác của đồng bào, một khi Luật Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa có điều khoản nào điều chỉnh chặn ngăn cấm đoán tinh thần trách nhiệm vì Nước vì Dân ấy của các Nghị Sĩ tiền nhiệm.

Trong thời gian chờ đợi tự ra tranh cử Quốc Hội Khóa XV (2021-2026), tôi tiếp tục nhận các đơn thư khiếu tố của Đồng Bào gởi qua đường bưu điện đến địa chỉ:

MYA BizCorp, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Kính chào trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII

Ghi chú: Rất tiếc, tôi không thể tiếp tục can thiệp các nội dung khiếu tố của công dân nhà báo Hoàng Hữu Hiệp do sẽ không có bất cứ cơ quan quyền lực nào của Nhà nước Việt Nam có thể giải quyết được vì lý do “thời gian tính”.

Tham khảo:

Thư Gởi Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc  08-6-2017

Rác Rến 28-02-2017

Vụ Khiếu Tố Của Hoàng Hữu Hiệp 17-10-2016

Công Tác Tiếp Dân 02-01-2016

Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân 28-02-2015

Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. 24-02-2015

Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp 25-7-2013

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Lại Thu Trúc

05-5-2017

(Đăng trên Emotino ngày 23-9-2012)

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Thông tin về Thủy điện Sông Tranh 2 cho thấy những vấn đề nghiêm trọng cần phải được xử lý trên cơ sở “an toàn sinh mạng người dân là ưu tiên hàng đầu”, bao gồm tiếp tục nghiên cứu các giải pháp khắc phục và các kịch bản được đề ra quanh việc có nên hay không việc tích nước ở Thủy điện Sông Tranh 2, và nếu có thì ở thời điểm nào là giải pháp tình thế thích hợp. Song, chỉ cần có câu trả lời là không, thì xem như toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên cảnh quang thiên nhiên, v.v.) và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.) xem như đổ sông đổ biển.

Những “vấn nạn” trên làm tôi nhớ đến bài viết “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước” đăng trên Emotino.com từ năm 2010 đã đặt vấn đề một cách nghiêm túc về tai họa khủng khiếp mà một đập thủy điện có thể gây ra như:

“…loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

…  …Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường…”

Vẫn với sự lo âu về tình trạng xây dựng các đập thủy điện, Ông Hoàng Hữu Phước năm 2011 cũng có thêm bài viết “Giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia đòi hỏi cái tầm” đăng trên Emotino.com đưa ra thêm các lời cảnh báo như :

“… việc giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia vẫn còn theo phong cách đối phó kiểu du kích, tài tử, không chuyên nghiệp, y như việc trồng bo bo để nhanh chóng giải quyết nhu cầu gạo quốc gia những năm đầu sau giải phóng.

Để làm cho bằng được những dự án thủy điện Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không là diện tích đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ đất nước nào cũng đều vô giá và không bao giờ được định giá dựa trên cân đong đo đếm so sánh những con số vô hồn; và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào đã từng tồn tại trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải vô giá dành cho hậu thế của cả một dân tộc. Ngụy biện hay xảo biện bằng cách nói về nhu cầu năng lượng của quốc gia và của người dân, người ta thậm chí làm ngơ trước nhu cầu lớn hơn: đó là nhu cầu sống, nhu cầu sinh tồn của bao triệu con người hiện nay và mai sau của toàn khu vực hai bên cũng như hạ lưu của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tài sản thiên nhiên và tự hào về tài sản thiên nhiên ấy của người dân hiện nay và mai sau. Các nhà máy thủy điện tất nhiên sẽ cung ứng một phần năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng không vì thế mà cố tình không nói đến những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ các cặn lắng tụ kết tủa ở turbin, khí methane CH4. và carbon dioxide CO2, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhiều triệu con người, thậm chí trong một số trường hợp các đập thủy điện có khi còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường.

Một vấn đề nghiêm trọng khác ít người nói đến là an ninh quốc phòng, đặc biệt khi Việt Nam luôn là đích ngắm của các thế lực thù địch điên cuồng chống cộng, và khi Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với sự đe dọa mang tính bịnh lý thần kinh lăm le táo tợn tấn công quân sự của Trung Quốc. Lịch sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử khi có những xung đột vũ trang hoặc chiến tranh tuyên bố hay không tuyên bố, nhưng vẫn xảy ra những cuộc không kích hay phá hoại các đập thủy điện như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943, các biệt động Đức Quốc Xã đột nhập vào Hoa Kỳ năm 1942 theo Chiến Dịch Pastorius nhằm phá hoại các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là các toán khủng bố Hồi Giáo tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Trong điều kiện tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở toàn Việt Nam chưa trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và khoa học hiện đại, và trên thực tế ngay cả sự cố bất ngờ của thiên tai cũng gây ra thảm họa khủng khiếp như đã xảy ra với đập Vajont của Ý năm 1963, thì bất kỳ sự cố nào xảy ra với bất kỳ đập thủy điện nào trong chuỗi đập thủy điện Đồng Nai cũng có thể tạo ra hồng thủy cao hàng trăm mét cuồn cuộn cuốn phăng Thành phố Hồ Chí Minh ra biển cùng với hàng chục triệu cư dân.

Xây dựng thêm bất kỳ đập thủy điện nào trên sông Đồng Nai là gia tăng sự trực tiếp đe dọa an ninh sinh tồn của Thành phố Hồ Chí Minh, do đó dứt khoát phải bị loại trừ khỏi các dự án quốc gia. Việc đệ trình lên bàn làm việc của Thủ Tướng hay ra nghị trường Quốc Hội, do đó, sẽ là việc làm thiếu trách nhiệm đối với tiền đồ tổ quốc, thiếu suy xét, đặc biệt khi Quốc Hội và Chính Phủ cần nhiều thời gian tập trung cho các vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, trong hoàn cảnh căng thẳng ở Biển Đông, yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, hiện đại hóa quân đội, cách tân giáo dục, v.v. và v.v.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ trọng trách hằn trên chỉ đôi vai của bất kỳ nhà đầu tư nào, nhất là khi nhà đầu tư ấy đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu vớ vẩn đầy tì vết, cẩu thả, vô trách nhiệm về tác động môi trường.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ để bất kỳ ai vin vào đấy để nói về “cái tâm” của mình đối với quốc gia, dân tộc, vì rằng cái tâm đoan chính luôn song hành cùng “cái tầm” mới hướng thượng được, mà cái cao nhất của sự hướng thượng là dành cho hậu thế, cho tiền đồ của tổ quốc, chứ không di hại và di họa cho con cháu mai sau.

Xây dựng nhà máy thủy điện không thể y như trồng bobo cứu đói trong một vụ mùa.”

Cái tâm chính trực của Ông Hoàng Hữu Phước được thể hiện rõ nét nhất qua lời viết mạnh mẽ không sợ làm phật ý nhiều người thuộc giới khoa học, kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp nước nhà, khi cho rằng:

“… Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite…”

cũng như trong đoạn viết cay đắng:

“… Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý… “

Và trên thực tế, khi sự cố nước phun xối xả từ các khe nứt của Thủy điện Sông Tranh 2 bị phát hiện, vị chức sắc chịu trách nhiệm về kỹ thuật đã trả lời báo chí rằng đó chỉ là việc bình thường trong mức độ cho phép. Vâng, “cho phép” nghĩa là cái công trình bê tông vĩ đại và hiện đại đó đã được công nhân dùng tay nhét giẻ vào các khe nước phun và bơm phụt keo và hóa chất cứ như để đóng nút chai vậy; và vì “cho phép” nên đến tận ngày hôm nay người ta đã phải cho ra các kịch bản mà sự thảm hại tồi tệ nhất về đầu tư có thể là bỏ thủy điện này, không cho tích nước, và sự khủng khiếp tồi tệ nhất có thể là kế hoạch sơ tán khẩn cấp dân cư trong khu vực hạ lưu. Sự “cho phép” theo lập luận của một người có trách nhiệm về kỹ thuật như thế cho thấy cái “đức” và cái “tài” của vị ấy ra sao khi tự cứu mình bằng lời trấn an không trung thực và xem nhẹ sinh mạng hàng triệu người dân. Việc gì sẽ xảy ra nếu những lời vàng ngọc của người có trách nhiệm ấy được Chính phủ cậy tin và người dân tin cậy đến độ không cần kiểm tra lại cái công trình mang tên Thủy điện Sông Tranh 2?

Như biết bao công dân Thành Phố Hồ Chí Minh tôi cảm thấy bất an đối với dự án Thủy Điện Đồng Nai đang có nhiều tranh luận và mong sao nước ta sẽ ngày càng có thêm nhiều hơn nữa những nhà ái quốc có tầm nhìn và sự chính trực như Ông Phước.

Lại Thu Trúc

Bài đăng ngày 23-9-2012 trên http://www.emotino.com/bai-viet/19707/trach-nhiem-doi-voi-sinh-mang-nguoi-dan-tam-nhin-su-chinh-truc-cua-mot-nha-ai-quoc

30-4-1975

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-4-2017

HHP QH 2

Việt Nam: Đất Nước Kinh Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa  09-4-2006

 

Vietnam: My Beloved Nation, The Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 09-4-2006

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bọn Con Nít Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-3-2017

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng Âu Mỹ thì “làm chính trị” nghĩa là làm nghị sĩ hoặc làm quan chức cao cấp trong chính phủ, nghĩa là người ta “làm chính trị” chỉ để phục vụ chính cái thể chế chính trị, cái chế độ hiện hữu của đất nước mình, bảo vệ hiến pháp với toàn bộ hệ thống luật pháp vận hành của nó. Kỳ dư, tất cả những ai lăng xăng hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, đều là đang thực hiện quyền tự do ngôn luận mà người công dân nào cũng có, chứ hoàn toàn không phải là “làm chính trị”. Và nếu các hành động hành vi hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, lại nhằm mục đích chống phá thể chế chính trị nước nhà, kích động bạo lực, sử dụng bạo lực, gây ra phá hoại an ninh trật tự, lật đổ chế độ hiện hữu thì đó dứt khoát là “làm loạn” nên nhất thiết phải bị pháp luật trừng trị theo đúng thông lệ quốc tế Mỹ Âu. Chính phủ nào không phân biệt được sự khác biệt này nên không dám sử dụng bạo lực để trấn áp đàn áp bức áp tất cả các hành động hành vi “làm loạn” là chính phủ đáng vất sọt rác, không biết noi gương sáng trị quốc của chính phủ Hoa Kỳ.

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng của tác giả bài viết này đã nêu rất rõ trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ thì “trẻ trung” hoàn toàn không dính dáng gì đến “tuổi trẻ”, “trẻ tuổi” nghĩa là thời gian để “làm người lớn” còn dài hơn nhiều so với những “người lớn” đã cao tuổi, và “trẻ nít” là cái phong cách tồi tệ nhất của người trẻ tuổi và người cao tuổi.

Quốc Hội Khóa XIII có mấy lão nghị sĩ con nít, kẻ thì thách Thủ Tướng có dám từ chức không, kẻ thì yêu cầu Thủ Tướng báo cáo công khai cụ thể trước Quốc Hội kế sách chống lại  Trung Quốc, kẻ thì bảo các nước trên thế giới “biểu tình” rất đàng hoàng nên Việt Nam cũng sẽ “biểu tình” đàng hoàng, kẻ thì phán như đinh đóng cột rằng “biểu tình” phát xuất từ Chicago, kẻ thì ngu đần không biết ý nghĩa của từ ngữ “ốc đảo” nên lớn tiếng tại Quốc Hội cho nó là hoang đảo, v.v. Đây là thí dụ rõ nét nhất về “bọn con nít làm chính trị”.

Để chuẩn bị nhân lực cho đội ngũ “làm chính trị”, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phát triển đảng viên, rèn luyện đảng viên, giáo dục đảng viên quán triệt các nghị quyết, đường lối, chủ trương, v.v., của Đảng. Song, như tác giả bài viết này đã từng nêu ra rất nhiều năm trước là Đảng đã bỏ lơ việc (a) giáo dục nhân cách con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho tư cách đảng viên vì đảng viên trước hết phải là con người, và (b) giáo dục đạo đức con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho đạo đức cách mạng vì đạo đức cách mạng chỉ có nơi con người có đạo đức con người cao nhất. Các đảng viên ở các địa phương làm lãnh đạo Đảng hoặc lãnh đạo chính quyền (hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các Sở Ban Ngành) là nguồn nhân lực Đảng chuẩn bị đưa ra “làm chính trị”. Do có sự lơ là đã nêu trên, một số đảng viên cấp cao đã không hề có chút tư duy nào về tư cách người lớn, tư cách bậc trưởng thượng, tư cách bậc thủ trưởng, và tư cách đảng viên, nên hành xử như con nít.

Đi ô tô tư ở nơi trấn nhậm thì muốn phải là Lexus và phải có bảng số xanh để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải trốn biền biệt trộn bên trong bột giấy của tờ truy nã toàn cầu khổ A4 hay khổ Letter của Interpol, mất luôn cơ hội trở thành Bộ Trưởng Công Thương trẻ tuổi tài cao của nhiệm kỳ Quốc Hội XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-11-41-am

Đi ngoạn cảnh chốn hoa viên mà trong tay phải cầm cành mai đào bề thế để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải ra sức thanh minh mà không đủ trí hóa để biết rằng (a) ngay cả khi đó là cành cây tự gãy do nó “tự sướng” thật thì đó cũng là tài sản của vườn hoa, như bên New Zealand du khách vào các nhà vườn hái táo hái lê tự do rồi xách xô ra tính tiền nhưng nếu lượm trái rơi đầy trên mặt đất để ăn thì bị đuổi ra khỏi vườn ngay lập tức vì đó là ăn cắp; rằng (b) nữ chức sắc mà cầm cành hoa chụp hình như nữ sinh tiểu học thì rõ là không có tác phong làm lãnh đạo; và rằng (c) đảng viên chức sắc mà không biết thù trong giặc ngoài luôn rình rập nhất cử nhất động của mình để khai thác tấn công thì thật là đáng thương cho đảng viên con nít và đáng quan ngại cho sự tồn tại của Đảng. Đã có đứa con nít ngu xuẩn nghe lời người lạ cầm cái khăn chụp vào mặt một người lạ khác ở Malaysia để rồi nay chờ đợi bản án tử hình treo cổ sắp tuyên. Sẽ có đứa con nít ngu xuẩn khác cầm dùm hành lý của một bà cụ nào đó ở phi trường Bangkok để rồi sẽ chịu án tử hình vì đó là va li bạch phiến. Vừa có một đứa con nít ngu xuẩn cầm cành hoa mai đào vật chứng phạm tội của người khác bẻ dúi vào tay. Một đảng viên không được phép là con nít, và hãy tống cổ ra khỏi Đảng những đứa con nít!

screen-shot-03-06-17-at-08-26-pm

Lãnh đạo một Ban Chỉ Đạo mà chỉ hiểu nghĩa đen của “trẻ hóa” nên đưa một đứa con nít “quá trẻ” chưa hề có kỳ công kỳ tích nào vào Vụ Kinh Tế ngồi trên đầu thiên hạ để lo đại cuộc phát triển kinh tế cả Miền và cả thành phố lớn, lờ đi sự thật là cái thành phố lớn ấy đang nhếch nhác lôi thôi lếch thếch với bao dự án địa ốc nham nhở dở dang mà cư dân chỉ gồm bò cái bò đực và những bóng đen thực tập sử dụng ống chích và kim tiêm.

screen-shot-03-06-17-at-11-46-am

Lãnh đạo ngân hàng mà chỉ lo vận dụng các chiêu thức của các bậc tiền nhiệm ồ ạt đổ tiền nhét chất đầy nghẹt đầy nhóc đầy tràn trong nhà mình để rồi khi bị phát hiện mất một núi tiền và một đồi vàng thì nếu không kịp có tên trên bảng truy nã toàn cầu của Interpol thì cũng ra đứng trước tòa nói rằng tội là của người khác, rằng bản thân vô tội, rằng hãy tha cho các nhân viên vì họ chẳng xơ múi gì, rằng xin không bỏ tù để bản thân ở ngoài xã hội làm lụng kiếm tiền khắc phục hậu quả.

Lãnh đạo đảng ở địa phương thì ngây thơ như con nít vô tư nhận ô tô đắt tiền do doanh nghiệp tặng để đi cho sướng đôi mông cao quý của cấp lãnh đạo, mà không biết rằng đó không thể không dấy lên sự ngờ vực ắt luôn có về sự thiên vị, có qua có lại, dành cho doanh nghiệp biết điều, để rồi bị cha mẹ – tức Thủ Tướng – mắng quở dạy cho bài học cực kỳ sơ đẳng là phải trả lại doanh nghiệp, mất luôn cơ hội được Đảng đưa ra “làm chính trị” kỳ Quốc Hội Khóa XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-08-44-pm

Và còn bao sự hoặc tày trời hoặc ngu xuẩn hoặc cả hai của đám đảng viên con nít  có ít nhất một bằng thạc sĩ và một bằng tiến sĩ gây ra!

Cũng do cái đạo làm người được mặc định là do cha mẹ mỗi người phải chịu trách nhiệm trước tổ tông và dân tộc tự dạy dỗ con cái, nên khi Đảng chỉ lo phụ trách về “chính trị” thì đảng viên nào có đã được mẹ cha dạy dỗ thì đó là ngôi sao ngời sáng của Đảng, còn đảng viên nào không được cha mẹ dạy dỗ – mà tiếng bình dân informal gọi là “mất dạy” – thì đó là kẻ sẽ làm Đảng phải bỏ ra vài thập kỷ truy lùng trên toàn thế giới. Đây là cái lỗ hổng “giáo dục” mà tác giả bài viết này đã luôn ngậm ngùi rằng đại cuộc nước nhà rồi sẽ suy vi.

Cũng do tự tin vào cái mặc định trên, cũng như tự tin vào tay nghề giáo dục “chính trị” của mình, Đảng đã ra sức đào tạo đội ngũ nhà báo hồng thắm lý luận chính trị cao cấp, và nghiệp vụ chuyên sâu cấp cao. Tuy nhiên, cũng như tác giả bài này đã bao lần nêu lên trong nhiều bài viết, đã có lỗ hổng rộng banh toát hoát trong ngôn ngữ ngôn phong tiếng Việt: trong khi các ngôn ngữ Âu Mỹ có nào là dạng thức phân định rõ ràng của ngôn ngữ thông thường informal, ngôn ngữ trang trọng lịch lãm formal, ngôn ngữ nói bình dân colloquial, ngôn ngữ từ lóng của giới tội phạm hay xó chợ đầu đường slang, ngôn ngữ văn học văn hóa literary, ngôn ngữ báo chí language journalism, ngôn ngữ khoa học hàn lâm academic scientific terms, v.v. và v.v., thì tiếng Việt vì chiến tranh đã trở thành phế tích hoang tàn cỏ dại.

Các biên tập viên báo hình, báo in, báo mạng, thản nhiên dùng từ “nhí” thay vì “thiếu niên”, “ngáo đá” thay vì “lậm ma túy”, “tự sướng” thay vì “tự chụp”, “phượt” thay vì “dã ngoại đường trường”, v.v và v.v, mà không biết rằng (a) đối với Âu Mỹ thì ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ mang phong cách cầu kỳ đặc thù được đào tạo rất riêng, với những chuẩn mực rất riêng tuy thoát thai từ trên nền tảng chung của formal, mà ngay cả khi buộc phải dùng – hay phải nói – một tiếng lóng thì luôn phải để trong ngoặc kép hoặc chỉ viết chữ cái đầu tiên còn các chữ cái tiếp theo thì dùng ký hiệu hoặc tắt phần âm thanh hay ghép một tiếng bíp vào miệng người nói để xóa sự phát âm của một từ phản cảm, nếu không muốn bị các bậc phụ huynh vừa tẩy chay chương trình vừa kiện ra tòa; và rằng (b) những gì mà “giới tinh hoa báo chí” Việt Nam dùng thì đương nhiên học sinh Việt Nam có quyền “noi gương” để rồi làm hỏng bét cả văn hóa văn học ngôn từ của các “tinh hoa trí thức” tương lai.

Vì vậy, với sự hòa âm điền dã của những đứa con nít “làm chính trị” và những nhà báo con nít đã quá quen thuộc với việc phỏng vấn những đứa con nít “làm chính trị” ấy, mới đây đã có một phóng viên con nít đã gọi một vị Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân một Quận ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng cụm từ “soái ca” mà không biết rằng vị Phó Chủ Tịch Quận ấy là một “người lớn” xứng đáng đứng vào hàng ngũ những người “làm chính trị” của nhiệm kỳ 2021-2026, hoàn toàn không phải là hạng người mà ai muốn dùng loại từ ngữ “tiếng lóng”, “đầu đường xó chợ”, gán ghép vào ông thì cứ gán.

screen-shot-03-06-17-at-08-46-pm

Chỉ có cha mẹ mới dạy được con cái liêm khiết và liêm chính, dũng tâm và hùng tâm, ái quốc và ái nhân, khôn ngoan và khôn khéo; đơn giản vì tất cả các đức tính ấy của con người chỉ được nẩy mầm vun quén từ tuổi ấu thơ, trong thời gian dài bên cạnh mẹ cha, với bài học từ bản thân cha mẹ, và lời giáo huấn mưa dầm của mẹ cha. (Mẹ cha cũng đồng nghĩa với người bảo hộ tốt đẹp – nếu một người vì họa tai không được sống với đấng sinh thành tốt đẹp).

Đảng chính trị dù bất kỳ đâu trên thế giới cũng không bao giờ đào tạo ra đảng viên liêm khiết, liêm chính, dũng tâm, hùng tâm, ái quốc, ái nhân, khôn ngoan, khôn khéo. Vì vậy, Đảng cần ra khỏi tháp ngà, vi hành vào nhân dân, chiêu dụ những con người tốt đẹp hội đủ ngần ấy thứ đức tính từ cha mẹ của họ để thỉnh mời vào Đảng, giáo dục họ về “chính trị”, rèn luyện đào tạo họ về “trị chính”, để họ trở thành những chính khách “làm chính trị”, mà không là “con nít làm chính trị.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn tham khảo các nội dung nhắc đến trong bài:

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Làm Chính Trị & Làm Loạn   12-01-2017

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy  30-12-2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Chìa Khóa Của Cường Thịnh    05-11-2016

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  20-11-2015

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.  04-12-2012

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt  18-6-2010

Hai Tên Mọi Bẩn Thỉu

“Không Tà Vạy, Không Làm Lãnh Đạo và Còn Khuya Mới Thành Bắc Đẩu!”

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-02-2017

Mục Lục

A- Tên Mọi Kofi Annan

1) Thất bại thảm họa của các đội quân gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc

2) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình bị lạm dụng

3) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình không được thực thi

4) Thất bại của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc

5) Mức độ tham nhũng cao nhất

6) Sự tuyệt vọng xơ cứng

7) Tư tưởng chống Liên Hợp Quốc trên thế giới

8) Sự đối đầu căng thẳng tồi tệ nhất giữa Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc

B- Tên Mọi Barack Obama

1) Các chiến lược địa-chính-quân-kinh hỏng bét

2) Bất tài trong quản trị nhân sự

3) Bất trí

4) Quốc nhục

5) Làm trò khỉ với Việt Nam

6) Bôi nhọ uy tín Đảng Dân Chủ

screen-shot-01-09-17-at-09-15-am-001

Ở trên là hình ảnh hai “tên mọi bẩn thỉu” có 6 điểm cực kỳ giống nhau như:

(a) cả hai đã gây ra những tội ác man rợ,

(b) cả hai có vinh dự lãnh đạo hai thực thể lớn nhất thế giới mà cả hai thực thể này đều có tên gọi “United” tức “Liên Hợp” gồm Liên Hợp Quốc UNO và Liên Hợp Tiểu Quốc America USA,

(c) cả hai đều nắm quyền lãnh đạo hai nhiệm kỳ,

(d) cả hai đều rời ngôi vị trong ô nhục,

(e) cả hai đều có giải Nobel Hòa Bình lúc đang tại vị, và

(f) rất tiếc cả hai đều là người gốc Phi.

Sở dĩ phải dùng từ “Rất tiếc” vì cả hai “tên mọi” trên đều là người da đen trong khi cụm từ “mọi đen” do chính người Mỹ da trắng tạo nên lại xuất phát từ sự kỳ thị chủng tộc đầy miệt thị nên bài viết này nhất thiết phải phân trần rằng yếu tố kỳ thị chủng tộc là hoàn toàn không tồn tại trong hành trạng “tự do ngôn luận” của tác giả vốn là một blogger trên cả tuyệt đối chính đạo và bất kỳ sự liên tưởng nào đó – nếu có nơi người đọc – đến “mọi đen” hoàn toàn tùy thuộc vào riêng chỉ người đọc ấy mà thôi.

Tên Mọi Kofi Annan

Kofi Annan là Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc (UNO – United Nations Organization) hai nhiệm kỳ (từ 01-1997 đến 12-2006), và là nhân vật đoạt Giải Nobel Hòa Bình (năm 2001)

 screen-shot-02-13-17-at-11-31-pm

Triều đại trị vì của Kofi Annan trùng với hai đời Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton của Đảng Dân Chủ và George W. Bush của Đảng Cộng Hòa.

Kofi Annan bị ô danh thiên cổ vì các tội ác gây ra do đáp ứng đúng mong muốn của Hoa Kỳ, và vì các tiêu cực gây ra không đáp ứng đúng mong muốn của Mỹ.

Dường như bắt chước Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa ứng khẩu năm 1975 mạt sát Mỹ khi bị Hoa Kỳ vất vào sọt rác lịch sử, Tổng Thư Ký Kofi Annan của Liên Hợp Quốc khi bị Hoa Kỳ vất vào sọt rác lịch sử đã phát biểu ngày 11-12-2006 tại Thư Viện Tổng Thống Truman ở Bang Missouri hùng hồn đến nỗi bài phát biểu ấy đi vào lịch sử đối ngoại chưa từng có tiền lệ của Hoa Kỳ như sự tấn công dữ dội nhất từ một vị lãnh đạo Liên Hợp Quốc giáng vào Chính Phủ Mỹ. Những lời bổng dưng đột biến hùng hồn ấy bao gồm nhiều thứ, từ dạy bảo nhân loại (như: “không quốc gia nào có thể khiến mình an toàn hơn bằng cách thống trị các quốc gia khác”) đến dạy bảo Hoa Kỳ (như trong cuộc chiến do Mỹ lãnh đạo chống khủng bố: “vai trò tiên phong của Mỹ chỉ có thể duy trì nếu Mỹ thật lòng với các nguyên tắc”; hoặc như chiến tranh Iraq: “không nhà nước nào có thể khiến các hành động của mình được các nước khác xem như hợp pháp…đặc biệt khi sử dụng sức mạnh – nhất là sức mạnh quân sự”), v.v.

Dường như do đã có công dân Hoàng Hữu Phước của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã lên tiếng năm 2003 rằng thế giới sẽ hỗn loạn nếu thế giới để yên cho Mỹ tiêu diệt Saddam Hussein là người duy nhất có tài dìm đầu khủng bố, Tổng Thư Ký Kofi Annan của Liên Hợp Quốc khi kết thúc nhiệm kỳ đã trở nên mạnh dạn hơn nên khi trả lời phỏng vấn của BBC ngày 04-12-2006 dõng dạc phán rằng “người dân Iraq ngày nay sống tồi tệ hơn lúc còn dưới thời Saddam Hussein” và rằng “Saddam là người tôi có thể cùng làm việc với”, v.v.,  khiến chế độ mới của Iraq do Mỹ hậu thuẫn phải nổi điên đốp chát lại rằng Kofi Annan chẳng hiểu gì sất vì trước đây dân Iraq bị Saddam Hussein tàn nhẫn tàn sát còn hiện nay dân Iraq bị bọn al-Qaeda tàn ác tàn sát chớ chính phủ Iraq hiện nay do Mỹ dựng lên nào có tàn ác tàn nhẫn tàn sát dân đâu, v.v. và v.v.

10 năm ngự trị ngôi cao của Kofi Annan đã làm ô danh Liên Hợp Quốc như một tổ chức thất bại đến độ Hoàng Hữu Phước của Việt Nam năm 2011 đã bảo ngày tàn của Liên Hợp Quốc đã đến và nó nhất thiết phải được thay thế bằng một tổ chức khác, còn Donald Trump của Mỹ ngày 27-12-2016 đã tuyên bố trên Twitter thóa mạ Liên Hợp Quốc xem nó đang chỉ như một câu lạc bộ nơi người ta đàn đúm bù khú mà thôi (“just a club for people to get together, talk and have a good time”).

Di sản Kofi Annan để lại cho Liên Hợp Quốc bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – 8 sự tầy huầy đầy tai tiếng và quá nổi cộm sau:

1) Thất bại thảm họa của các đội quân gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc như tại Bosnia, Congo và Sudan.

2) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình bị lạm dụng từ Bosnia hay Burundi đến Sierra Leone và Haiti. Tồi tệ nhất là tại Congo, nơi Liên Hợp Quốc gởi đến 16.000 quân (đến từ các nước Nepal, Morocco, Tunisia, Nam Phi, Pakistan, và Pháp) nhưng chính tại Congo các hành vi hãm hiếp mọi rợ và giết chóc man rợ lại bị gây ra bởi chính các chiến sĩ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc cùng các sĩ quan địa phương “cùng phe” tại khắp Congo kể cả ngay tại các trại tỵ nạn của Liên Hợp Quốc lập ở thị trấn Bunia vùng Đông-Bắc, dẫn đến việc MONUC (Phái bộ Liên Hợp Quốc tại Cộng Hòa Dân Chủ Congo) bị ít nhất 150 cáo buộc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng với quy mô sát hại lớn hơn rất nhiều so với tội ác giữa các bên xung đột, song không có thân nhân nào của các nạn nhân bị chiến binh Liên Hợp Quốc sát hại có thể nộp đơn kiện đến Liên Hợp Quốc vì tất cả họ đều bị thủ tiêu.

3) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình không được thực thi:  Còn ngược về trước đó, vào năm 1994, lúc vẫn còn là quan chức cấp cao thứ nhì của Liên Hợp Quốc nắm giữ quân đội gìn giữ hòa bình, Kofi Annan đã từ chối không gởi 5.000 lính “mũ nồi xanh” đến Rwanda đến ngăn chặn người Hutu diệt chủng người Tutsi. Sự bỏ mặc này của Kofi Annan khiến 800.000 thường dân của tộc Tutsi bị dân Hutu chặt đầu bằng rìu chỉ trong ba tháng. Tuy nhiên, thay vì bị ô danh, Kofi Annan sau đó được Mỹ hân hoan tưởng thưởng bằng cách đề xuất chọn làm Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc.

4) Thất bại của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc trước những vụ việc xâm hại nhân quyền tồi tệ nhất lịch sử nhân loại đã làm Liên Hợp Quốc thêm ô danh và mất hẳn uy tín trên trường quốc tế. Thậm chí Liên Hợp Quốc còn bị Mỹ phê phán vì Liên Hợp Quốc đã “sơ xuất” để “lọt” vào trong Liên Hợp Quốc hoặc được “mời chuẩn y” sự thành lập của Hội Đồng Nhân Quyền những quốc gia mà Mỹ cáo buộc độc tài tàn bạo (gồm Miến Điện, Syria, Sudan, Zimbabwe, và Bắc Triều Tiên), hoặc nhân quyền tệ hại (gồm Trung Quốc, Nga, Cuba, Algeria, Pakistan, và Saudi Arabia).

5) Mức độ tham nhũng cao nhất so với tất cả các vị tiền nhiệm cùng với sự bất lực trong giám sát và quản lý Chương Trình Đổi Dầu Lấy Lương Thực của Iraq sau khi tiêu diệt Saddam Hussein mà các tai tiếng cùng thất thoát cho đến ngày nay cũng chưa hề được đưa ra ánh sáng đã khiến Liên Hợp Quốc vĩnh viễn mất đi uy tín uy danh từng có, thậm chí mức độ tham nhũng tại cơ quan quyền lực quốc tế này với chỉ chương trình ấy cũng đã ở mức độ scandal tài chính không những ghê gớm nhất lịch sử Liên Hợp Quốc mà còn là vụ lừa gạt quy mô to lớn nhất của thời  hiện đại. Thậm chí con trai của Kofi Annan là Kojo Annan dưới võ bọc của công ty Thụy Sĩ Cotecna đã có những hợp đồng lớn ký với Liên Hợp Quốc lấy dầu hỏa Iraq với giá rẻ như cho và cung cấp nhu yếu phẩm với giá trên trời cho Iraq qua chương trinh ấy (tên của Kojo Annan tái xuất hiện vào tháng 4-2016 khi có sự tiết lộ Hồ Sơ Panama). Sự tham nhũng đi kèm với lạm quyền mua quan bán chức còn thể hiện qua việc sau khi nhận được nửa triệu USD do nhà hoạt động Đức Achi Steiner cống nạp riêng, Kofi Annan đã hân hoan bổ nhiệm Steiner làm Giám Đốc UNEP (Chương Trình Môi Trường Liên Hợp Quốc).

6) Sự tuyệt vọng xơ cứng bất động lan tràn toàn tổ chức Liên Hợp Quốc trong cả hai trường hợp là (a) khi Hội Đồng Bảo An bó tay không thể cản ngăn Hoa Kỳ tự ý xâm lược và chiếm đóng Iraq, và (b) thời kỳ hậu 9-11 tức sau cuộc tấn công khủng bố của al-Qaeda bằng máy bay thương mại vào các vị trí trên đất Mỹ như Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở Bang New York, Ngũ Giác Đài ở Bang Virginia, và Stonycreek Township ở Bang Pennsylvania ngày 11-9-2001.

7) Tư tưởngchống Liên Hợp Quốc trên thế giới: Tại sự tồi tệ của Tổng Thư Ký Kofi Annan mà Âu Mỹ xuất hiện từ ngữ anti-Kofi tức “chống Kofi” rồi từ đó biến tướng thành anti-UN tức “chống Liên Hợp Quốc”.

8) Sự đối đầu căng thẳng tồi tệ nhất giữa Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc đối với hậu quả của chiến tranh Iraq – mà báo chí Âu Mỹ gọi là sự căng thẳng giữa Mỹ và Vịnh Con Rùa (Turtle Bay – tức khu dinh cơ Liên Hợp Quốc). Do Liên Hợp Quốc tất nhiên luôn dưới sự khuynh đảo của Hoa Kỳ, tất cả các vị Tổng Thư Ký của tổ chức này đều mặc định do Mỹ lựa chọn. Khi Mỹ muốn loại bỏ Tổng Thư Ký Boutros Boutros-Ghali người Ai Cập, Chính phủ Bill Clinton đã chọn Kofi Annan người Ghana lên thay thế. Tuy nhiên, càng về sau thì dưới tác động của (a) những hành động trên thế giới của Mỹ chỉ đưa đến các thất bại tai tiếng khiến Annan bất bình do bị vạ lây, và (b) những tham nhũng tiêu cực và bất lực của Annan khiến Mỹ bất bình do bị vạ lây, dẫn đến tình trạng cực kỳ khôi hài khi những kẻ hợp nhau ở hai vị trí “siêu” của siêu tổ chức và siêu cường lại biến thành đối nghịch chuyên phơi bày công khai các chuyện siêu xấu của nhau.

Kofi Annan là thí dụ rõ nét nhất cho tiêu chí cao cấp cao vời sau của (a) sự lựa chọn của Hoa Kỳ cho vị trí đứng đầu Liên Hợp Quốc và (b) sự lựa chọn của Ủy Ban Nobel cho giải Nobel Hòa Bình:

“Không Tà Vạy, Không Làm Lãnh Đạo và Còn Khuya Mới Thành Bắc Đẩu!”

Tên Mọi Barack Obama

Barrack Obama là Tổng Thống Liên Hợp Tiểu Quốc America (USA – United States of America) hai nhiệm kỳ (từ 01-2009 đến 12-2016), và là nhân vật đoạt Giải Nobel Hòa Bình (năm 2009).

 screen-shot-02-13-17-at-11-31-pm-001

Di sản khốn nạn mà tên mất dạy Barack Obama để lại cho Hoa Kỳ bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – 6 sự tầy huầy đầy tai tiếng và quá nổi cộm sau:

1) Các chiến lược địa-chính-quân-kinh hỏng bét

Ngoài các sự thật về thất bại của Mỹ dưới thời Barack Obama đối với Iran, IS, và Syria, những đại biến khi Nga

(a) thu hồi Bán Đảo Crimea chiến lược từ Ukraine sáp nhập trở lại vào Nước Nga, dâng sự ngự trị Hắc Hải cho các hạm đội Nga, nhờ vào việc Ukraine thân Mỹ đã không được Mỹ dưới thời Obama cố vấn thành công;

(b) thu phục Thổ Nhĩ Kỳ qua việc cứu sống Tổng Thống thân Mỹ Recep Tayyib Erdogan khỏi cuộc binh biến đảo chính không thể không do Barack Obama đã cho phép tiến hành hoặc do CIA và tình báo quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn bất lực;

(c) thu tóm danh dự quốc gia về uy lực khí tài quân sự thi thố đánh bại IS, uy danh bảo vệ thành công Tổng Thống Syria Bashar al-Asad, và uy thế quy tụ Nga-Thổ-Iran trong giải quyết tình hình Syria;

Đã đẩy Hoa Kỳ và NATO vào khủng hoảng chiến lược.

Trong khi đó, cái Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương TPP mà Obama dốc chí theo đuổi dựng xây nhiều năm đã bộc lộ nhiều yếu điểm cực kỳ tai hại đến độ ngay sau khi ký kết, các cuộc “biểu tình” chống đối mạnh mẽ đả nổ ra tại New Zrealand là một trong 12 nước đã ký TPP; còn tại Việt Nam thì Quốc Hội đã đình lại việc phê chuẩn với lý do viện dẫn là chờ chính phủ mới của Hoa Kỳ định hình, trong khi có khả năng là do đã nhận thức được chính mình đã hớ khi lỡ đặt bút ký tham gia; và ứng viên Donald Trump chỉ cần tuyên bố hủy bỏ TPP là thu hút ngay sự ủng hộ của cử tri khiến Hillary Clinton cũng phải vội vàng tuyên bố chống lại TPP của Barack Obama.

2) Bất tài trong quản trị nhân sự

Bất kỳ ai thuộc tầm cỡ quản trị bất kể là quản trị doanh nghiệp dưới cả chuẩn nhỏ hay trên cả vĩ đại, quản trị cơ quan địa phương hay đa phương, quản trị đất nước dưới cả tiểu nhược hay trên cả siêu cường, đều luôn không thể thiếu các kỷ năng quản trị trong đó quan trọng nhất là quản trị nhân sự.

Quản trị nhân sự là quan trọng nhất vì ngay cả một nhà độc tài cũng không bao giờ đứng một mình tự mình làm tất cả mọi việc.

Trong lãnh đạo một đất nước, quản trị nhân sự càng tối quan trọng.

Điểm nổi bật duy nhất của quản trị nhân sự là tổ hợp của 4 thành tố luôn kết dính với nhau gồm:

Chọn được người tài + Phát triển được tài người + Phát triển được người tài + Giữ được người tài để kế thừa và phát triển di sản.

Obama là một tên tổng thống vô dụng vì hoàn toàn không có gì chứng minh y đã có năng lực quản trị nhân sự khi bằng chứng rõ nét nhất lại là những hiển nhiên còn nóng hổi mà chỉ cần đơn cử vài thí dụ cỏn con mới chỉ dính đến một cái tên của Hillary Clinton như:

a) Hoàn toàn bị động khi phải chấp nhận để Hillary Clinton ngự trị ngôi vị cao thứ nhì trong chính phủ Hoa Kỳ: Bộ Trưởng Ngoại Giao, trong khi Hillary Clinton ngay trước đó là đôi thủ cạnh tranh trực tiếp trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân Chủ để bầu ra ứng cử viên đại diện Đảng tranh của chức Tỏng Thống Hoa Kỳ, và trong thời gian tranh cử sơ bộ cả hai đã thi nhau mạt sát đối thủ bằng mọi chiêu trò bôi nhọ và bôi bẩn. Bị động vì Đảng Dân Chủ không có bất cứ “người tài” nào cả. Bị động vì bản thân Obama do mặc cảm tự ti không dám mơ đến sự thắng cử nên chưa từng nghĩ đến chọn sẵn danh sách các nhân vật cốt cán nên được đưa vào chính quyền của mình. (Trong khí đó, người ra tay xô sập di sản Barack Obama là Donald Trump lại có tài nhân sự tuyệt đỉnh khi hoàn toàn chủ động đưa Rex Tillerson từ bên ngoài giới tinh hoa chính trị vào làm Ngoại Trưởng cũng như đưa những doanh nhân kiệt xuất tương tự khác như Stephen Bannon, Kellyanne Conway, Dina Powell, và Betsy DeVos, v.v.,vào Tòa Bạch Ốc.)

b) Hoàn toàn không giám quản được Hillary Clinton, biến bản thân thành vị tổng thống bù nhìn đầu tiên trong toàn bộ lịch sử Hoa Kỳ khi để Hillary Clinton khuynh đảo phá tan cục diện địa chính trị Bắc Phi, Đông Nam Âu, và Đông Âu; đồng thời để Hillary Clinton tự tung tự tác đạp chà luật pháp gây ra sự cố email có thể gây hại cho an ninh quốc gia.

c) Hoàn toàn không làm Hillary Clinton tài giỏi hơn và không thể để Hillary Clinton là người kế thừa di sản mà ba bằng chứng rõ nét nhất là Barack Obama lên tiếng ủng hộ và ngợi ca Hillary Clinton để kêu gọi dồn phiếu cho Hillary, Barack Obama không thể giúp Hillary thắng cử, và Barack Obama vội vàng đỗ lỗi cho sự yếu kém của Hillary khi thấy bà ta thất cử.

Đổ lỗi cho đồng sự là hành vi đớn hèn liên quan đến tư cách đốn mạt của kẻ hoàn toàn bất tài về quản trị nhân sự mà thế giới hàn lâm nghiêm túc không bao giờ không khinh bỉ.

3) Bất trí

Barack Obama còn không có khả năng tự nhận thức được về chính mình và về người khác. Khi Hillary Clinton thất cử, Obama vội tuyên bố nếu luật pháp cho phép hắn ta ra tranh cử thêm lần thứ ba thì lẽ ra hắn ta đã chiến thắng. Obama đã không nhận thức được bốn điều liên quan đến chính bản thân hắn rằng

(a) Obama được bầu làm tổng thống không vì ông ta tài giỏi hay có nhiều danh tiếng lẫy lừng trước đó;

(b) Obama được Đảng Dân Chủ đề cử làm ứng cử viên của Đảng tranh cử chức tổng thống vì không còn ngôi sao nào – kể cả Hillary Clinton;

(c) Obama thắng cử vì ngay cả những người dân “Mỹ trắng” luôn kỳ thị thì đối với họ ai cũng được do tất cả đều thuộc “giới tinh hoa chính trị”, tất cả đều được giới tài phiệt ủng hộ và phục vụ quyền lợi giới tài phiệt, chứ không phải bởi vì dân Mỹ quá tiến bộ nên đã chấp nhận có vị tổng thống da đen; và

(d) Obama không hề nhận ra rằng dân Mỹ đã cực kỳ chán ghét Obama và đây là một trong những lý do họ không dồn phiếu cho bất kỳ ai do chính Obama ủng hộ.

Ngoài ra, Barack Obama còn bất trí không thể nhận thức được gì nơi người khác nên đã không hiểu ba điều sau:

a- Hillary Clinton không bao giờ có thể trở thành tổng thống vì quá khứ khét tiếng của chồng, vì không có quá khứ thành đạt từ sự vươn lên mà thuần dựa vào thế lực của chồng, vì bảng thành tích kém cỏi trong thi thố quyền lực, vì những lỗi nghiêm trọng gây ra cho thế giới và cho an ninh quốc gia, và vì phạm phải điều tồi tệ nhục nhã nhất của quản trị nhân sự khi đã thờ ơ trước các tin tình báo dẫn đến sự cố Benghazi khi Đại Sứ Christopher Stevens bị giết, thi thể bị kéo lê trần trụi ngoài đường phố sau khi xác bị phiến quân xâm hại tình dục.

b- Không chỉ Hillary Clinton mà sẽ không bất kỳ phụ nữ Mỹ nào có thể trở thành  tổng thống Hoa Kỳ vì người dân Mỹ (nam giới da trắng) không bao giờ cho phép điều này xảy ra. Đơn giản vì tại Hoa Kỳ, người phụ nữ không bao giờ được tôn trọng đúng nghĩa, mà ba bằng chứng hiển nhiên là (i) Mỹ là quốc gia chậm trễ nhất trong cho phép phụ nữ có quyền bầu cử, (ii) tại Mỹ luôn có các hoạt động rầm rộ ồn ào đông đúc về nữ quyền vốn không bao giờ xảy ra tại bất kỳ quốc gia nào thực sự tôn trọng phụ nữ và phụ nữ thực sự giữ vai trò quan trọng hoặc quyết định tại gia đình, và (iii) luật pháp Mỹ hiện hành không thực sự bảo vệ phụ nữ trong các vụ xâm hại tình dục mà bài viết Du Học Hiếp Dâm & Hiếp Dâm Du Học đã phân tích chi tiết.

c- Chắc chắn mười một tỷ phần một là Donald Trump sẽ đắc cử vì dù người Mỹ kỳ thị chủng tộc, thì vẫn có ba sự thật sau:

(i) người Mỹ “kỳ thị” nhưng vẫn dè chừng người Mỹ da đen vì người Mỹ da đen đông nhất, từ xa xưa đã không là “dân nhập cư”, đã trở thành “dân Mỹ” từ rất lâu khi nô lệ được giải phóng, nhiều người thành công trên mọi lĩnh vực từ văn nghệ đến thể thao, từ tòa án đến chính trị, nên việc Barack Obama làm tổng thống thì dân Mỹ vẫn có thể du di cam chịu;

(ii) vì vậy, người Mỹ không bao giờ xem trọng Obama cùng các tiến cử của Obama, nghĩa là Obama vận động cho Hillary Clinton đương nhiên đồng nghĩa với việc Hillary Clinton đương nhiên hoàn toàn mất hẳn cơ hội làm tổng thống; và

(iii) người Mỹ buộc phải chấp nhận người da đen, nhưng tuyệt đối xem thường các người da màu khác nên không bao giờ chấp nhận các nhân vật “da màu khác đen” lên làm tổng thống, và do đó tất cả các gương mặt ứng viên trẻ tuổi “tinh hoa chính trị” của Đảng Cộng Hòa mà nội cái tên thôi đã toát ra mùi gốc tích dân da nâu của “Mễ” hay “Cu” như Ted Cruz và Marco Rubio nên chỉ giúp cho Donald Trump độc chiếm ngôi bá chủ mà thôi.

Không nhận ra thế yếu của chính mình, không nhận ra thế vô phương cứu chữa của Hillary Clinton, không nhận ra ưu thế trấn áp “tuyệt kỷ đơn ca” của Donald Trump, Barack Obama rõ ràng là vị tổng thống bất trí bậc nhất của Hoa Kỳ.

4) Quốc nhục

Barack Obama là tổng thống duy nhất của toàn bộ lích sử Hoa Kỳ đã làm nhục quốc thể Mỹ khi để bản thân bị làm nhục trước toàn thế giới. Khi sang Trung Quốc dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G20 tháng 9-2016, Barack Obama đã phải bước ra khỏi chiếc chuyên cơ hào nhoáng Không Lực 1 bằng “hậu môn” – theo cách gọi để trong ngoặc kép “ass” của tờ Guardian ám chỉ cửa sau tức cửa có cầu thang riêng của máy bay làm lối đi của tùy tùng – chứ không phải qua cửa chính (tức “top”, là cửa gần buồng lái của phi công, nơi xe thang của phi trường sẽ chạy đến áp vào đón khách bước xuống lối đi trải thảm đỏ dành cho khách cấp nguyên thủ quốc gia), lầm lũi bước xuống các bậc thang sắt đen, đi trên nền bê tông xám tiến đến chiếc Dã Thú 1, không có thảm đỏ đón chào, trong khi vệ binh Trung Quốc quát mắng cận vệ Mỹ và đoàn phóng viên Hoa Kỳ rằng “Đây là phi trường của chúng tao! Đây là đất nước của chúng tao!

Kết thúc nhiệm kỳ một cách đớn nhục như thế, bảo sao Barack Obama đã không làm Đảng Dân Chủ ô danh, và khiến Hillary Clinton càng thêm tuyệt vọng.

5) Làm trò khỉ với Việt Nam

Loài khỉ được cho rằng có tính hay bắt chước. Barack Obama không là con hắc tinh tinh hay khỉ đỏ đít duy nhất ở một đất nước mà chính trị trở thành một nghề chuyên nghiệp cực kỳ cao. Chiêu thức Đảng Dân Chủ có trong cẩm nang của họ là: “khi cùng đường, muốn phá bĩnh thì hãy tung nước cờ Việt Nam!”

Theo nguyên tắc bất thành văn của hệ thống “lưỡng đảng” của Mỹ mà các nước Âu Tây nhạo báng là “sinh đôi” thì (a) hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa chống nhau nhưng không bao giờ được phép dùng từ ngữ “đảng đối lập”, (b) hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa chống nhau nhưng không bao giờ được phép chống lại Hiến Pháp và thể chế chính trị Hoa Kỳ, và (c) những gì tổng thống tiền nhiệm của đảng này đã ban ra thì tổng thống kế nhiệm của đảng kia không được thay đổi – trừ phi sự việc đã quá tồi tệ như đối với chiến tranh Việt Nam buộc tổng thống kế nhiệm phải tuyên bố rút quân chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam.

Nguyên tắc trên đã đặc biệt được Đảng Dân Chủ sử dụng để phá bỉnh Đảng Cộng Hòa ngay khi thấy khả năng Đảng Dân Chủ sẽ mất ghế tổng thống vào tay Đảng Cộng Hòa, mà hai thí dụ lịch sử sau là minh chứng:

a) Bill Clinton:

Vào giai đoạn kết thúc nhiệm kỳ thứ hai cũng là nhiệm kỳ cuối cùng theo luật pháp Hoa Kỳ, khi nhận thấy những tầy huầy của bản thân khiến nguy cơ làm Đảng Dân Chủ sẽ mất ghế tổng thống vào tay Đảng Cộng Hòa, Bill Clinton thực hiện ngay chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11 năm 2000, tuyên bố vung vít về những đánh giá cao đối với Việt Nam nhằm làm sâu sắc thêm mối quan hệ Mỹ-Việt mà thực chất là đặt vị tân tổng thống Mỹ George W. Bush  của Đảng Cộng Hòa vào thế bị triệt buộc khi nhậm chức hai tháng sau đó.

Gọi là bị “triệt buộc” vì Đảng Cộng Hòa chưa hề có – hay muốn có – Việt Nam trong chương trình nghị sự của họ. Nếu họ thực hiện theo mặc định những “di sản” của tổng thống tiền nhiệm thì đương nhiên gây thêm thanh thế uy tín cho Bill Clinton của Đảng Dân Chủ, còn nếu chống lại hoặc bãi bỏ di sản ấy thì biến Gerorge W. Bush trở thành kẻ đầu tiên dám “tát cạn đầm lầy” trở thành tên phản phúc chống lại giềng mối bất thành văn hàng trăm năm kết liên lưỡng đảng. Chính vì vậy từ khi nhặm chức 2001, Tổng Thống G.W. Bush đã chỉ đơn giản ngó lơ, không xóa bỏ di sản Việt Nam của Bill Clinton nhưng không làm bất cứ điều gì để “sâu sắc” thêm mối quan hệ Mỹ-Việt, thậm chí khi buộc lòng phải sang thăm chính thức Việt Nam nhân dự Hội Nghị APEC tháng 11 năm 2006, Bush vẫn chỉ có những phát biểu khen tặng một cách thuần ngoại giao dành cho Việt Nam chứ không có bất kỳ những động thái cụ thể đối với các cấm vận còn tồn tại.

b) Barack Obama:

Tương tự, vào giai đoạn kết thúc nhiệm kỳ thứ hai cũng là nhiệm kỳ cuối cùng theo luật pháp Hoa Kỳ, khi nhận thấy những tầy huầy của bản thân khiến nguy cơ làm Đảng Dân Chủ sẽ mất ghế tổng thống vào tay Đảng Cộng Hòa, Barack Obama  thực hiện ngay chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 5 năm 2016, và thậm chí tuyên bố gỡ bỏ lịnh cấm vận cuối cùng đối với Việt Nam về vũ khí sát thương. Đây là lá bài cuối cùng trong cẩm nang Đảng Dân Chủ kẹp trong “chiếc cặp nút bấm hạt nhân” mà các tổng thống Đảng Dân Chủ chỉ khi lâm vào cảnh cùng đường, ăn không được thì phá cho ôi, mới mở ra sử dụng để (i) phô trương thanh thế tạo dư luận tràn ngập trên báo chí nhằm làm xao lãng sự tập trung của dân chúng Mỹ đối với sự sụp đổ đang diễn ra của Đảng Dân Chủ, (ii) lấy lòng các đại gia sản xuất vũ khí Mỹ với hy vọng vớt vát sự ủng hộ của họ dành thêm cho ứng viên Đảng Dân Chủ là Hillary Clinton, và (iii) đặt Đảng Cộng Hòa – nếu chiếm được ghế tổng thống – phải ngậm bồ hòn làm ngọt thực hiện tất cả những cam kết của Barack Obama để nếu mọi di sản đều diễn tiến tốt đẹp sẽ trở thành các công trạng của Barack Obama từ đó nhiệm kỳ 2022 sẽ có thêm cơ hội cho Đảng Dân Chủ lấy lại ghế tổng thống.

Những con khỉ đỏ đít Bill Clinton và đười ươi Barack Obama đã cùng sử dụng một chiêu thức đem Việt Nam ra phá bỉnh Đảng Cộng Hòa, nhưng nhờ có sự “hé lộ” – từ ngữ tức cười mà báo chí Việt Nam đang thi nhau dùng như một thứ dịch bệnh lan tràn mặt báo giấy và mạng –  bức cẩm nang ấy của hai con khỉ này, nhân loại có được một kinh nghiệm tuyệt đối chính xác là: mỗi khi thấy tổng thống đương nhiệm của Đảng Dân Chủ vào cuối nhiệm kỳ sang thăm chính thức Việt Nam thì bảo đảm 100% ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa đối thủ sẽ đắc cử làm tổng thống kế nhiệm.

6) Bôi nhọ uy tín Đảng Dân Chủ

Cũng lạm dụng nguyên tắc chính trị mặc định bất thành văn về “không thể đão ngược” nêu trên, Barack Obama đã ra tay trong vài tuần đương chức cuối cùng:

a) Hối hả trục xuất nhiều chục nhà ngoại giao Nga nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải căng thẳng đối đầu ngoại giao với Nga, đất nước mà Donald Trump có sách lược chiến lược hợp tác cùng;

b) Hối hả ký tặng 500 triệu USD cho Quỹ Khí Hậu Xanh của Liên Hợp Quốc nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và không chống lại các hoạt động liên quan đến “sự ấm lên toàn cầu” mà Donald Trump thường cho là giả trá;

c) Hối hả thả thêm 4 tù nhân phiến quân Hồi Giáo ở Nhà Tù Vịnh Guantanamo trở về Saudi Arabia và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE, nâng tổng số lên 19 người kể từ khi có kết quả bầu cử tổng thống 2016, và khiến tổng số 242 tù binh nay chỉ còn lại võn vẹn 41 người, nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và bị ô danh vì đã thất bại với lời tuyên bố trước đó là phải ngưng ngay các vụ phóng thích tù nhân Guatanamo để bảo vệ an ninh cho Hoa Kỳ và thế giới;

d) Hối hả giảm án cho 1.715 tội phạm buôn ma túy trong đó có 568 thụ án chung thân, làm Obama đạt kỹ lục của tất cả 13 đời tổng thống trước đó cộng lại, nhằm biến tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và bị ô danh vì đã thất bại với lời tuyên bố trước đó là mạnh tay trừng trị bọn tội phạm ma túy;

e) Hối hả họp báo lần cuối cùng và qua đó tuyên bố cảnh báo báo giới về chính quyền của tân tổng thống Donald Trump nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và bị ô danh vì đã thất bại với lời tuyên bố trước đó là trừng trị truyền thông giả trá; v.v. và v.v.

Ngoài ra, Barack Obama còn hối hả cách chức tướng da đen lãnh đạo Vệ Binh Quốc Gia Thủ Đô Errol R. Schwartz chỉ vài ngày trước lễ nhậm chức của Donald Trump khiến Vệ Binh Quốc Gia Thủ Đô như rắn mất đầu trước trọng trách bảo vệ an ninh cho Donald Trump trong lễ tuyên thệ nhậm chức.

 

Tất cả những hành động trên của Barack Obama đã khiến Đảng Dân Chủ – chứ không phải Đảng Cộng Hòa – phơi bày sự thật bao đời bị che dấu rằng:

a) Dân chủ Democracy tại Hoa Kỳ chỉ là một từ ngữ vô nghĩa: lưỡng đảng thống trị quyền lực chính trị và tất cả các tổng thống bất kể thuộc đảng nào trong lưỡng đảng cũng phải và chỉ từ giới luật sư tinh hoa chính trị, không cho phép các thành phần khác của xã hội được tham chính, và phải hoạt động trên nền tảng duy nhất của sự kế tục, kế thừa, kế nhiệm, nhằm bảo đảm hoàn toàn thống nhất trong chính sách đối ngoại (Donald Trump bất ngờ thắng bầu cử sơ bộ Đảng Cộng Hòa nên bị ngay cả các “tinh hoa chính trị” của Đảng Cộng Hòa tích cực chống đối để đúng bài bản quy định bất thành văn ấy);

b) Dân chủ Democracy tại Hoa Kỳ chỉ là hình thái theo đó người dân được phép “biểu tình” và được phép hưởng thụ “tự do ngôn luận” muốn nói viết gì thì cứ nói cứ viết, trừ các chủ đề “ngôn luận” bị pháp luật cấm đoán. Dưới sự xách động của Barack Obama, nhiều cuộc “biểu tình” và “đại biểu tình” chống Donald Trump xảy ra khắp nước Mỹ, trong đó có cuộc “biểu tình” nữ quyền ngày 21-01-2017 mà tại đó mụ Madonna bất tài vô hạnh lúc động kinh đã gào lên trong micro “Tổ cha mày! Đ.Mẹ mày! Tao giận lắm đây! Tao đang nổi khùng đây! Tao đã và đang nghĩ nhiều đến việc cho nổ sập Tòa Bạch Ốc đây” (“Fuck you. Fuck you. Yes, I’m angry. Yes, I’m outraged. Yes, I have thought an awful lot about blowing up the White House”), sau đó đã thất kinh hồn vía phân bua cải chính khi cơ quan an ninh FBI vào cuộc điều tra cá nhân Madonna mà nếu truy ra được các yếu tố thực sự dọa đe nguyên thủ vì cách dùng động từ ở thì present perfect (have thought) cho thấy hành động có toan tính lâu dài, chín chắn, chứ không bốc đồng có thể cấu thành tội phạm sẽ bị truy tố và chịu án tù giam, vì bốn câu đầu tiên đều được “tự do ngôn luận” trong khi câu cuối cùng thì cấm “ngôn luận tự do”. Sự cố này cho thấy “dân chủ” chỉ là vũ khí chơi bẩn của các luật sư độc quyền tinh hoa chính trị Mỹ tung ra để phá bỉnh “kẻ thứ dân” Donald Trump dám cả gan đắc cử tổng thống Hoa Kỳ;

c) Đảng Dân Chủ đã bị tầng lớp “dân đen” “học chưa cao” trong xã hội lật đổ qua việc dồn phiếu cho Donald Trump vì bất mãn trước sự thất bại trong trị quốc của Đảng Dân Chủ và tư cách của Tổng Thống thuộc Đảng Dân Chủ; và

d) Sự cấp tập gây ra sự cố ngoại giao và các sự việc khác nhằm tận dụng quy định bất thành văn trong “thống nhất” giữa lưỡng đảng nhằm gây khó khăn cho Donald Trump đã lột trần sự có thật của cái bản chất “đảng sinh đôi” mà Âu Tây hay nhạo báng nhưng nay mới có bằng chứng cụ thể; và

e) Sự cấp tập gây ra sự cố ngoại giao và các sự việc khác nhằm tận dụng quy định bất thành văn trong “thống nhất” giữa lưỡng đảng nhằm gây khó khăn cho Donald Trump đã giúp nhà cách mạng Donald Trump có cơ hội xô sập, mà trước tiên là đòn thử xóa bỏ cái gọi là ObamaCare của tổng thống tiền nhiệm, hủy bỏ Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, v.v., khiến Đảng Dân Chủ phải chịu trách nhiệm trước lịch sủ chính trị Hoa Kỳ vì sau này do đã sẵn có tiền lệ nên các tổng thống trong tương lai sẽ có quyền hủy phá các di sản của người tiền nhiệm để không bị mang tiếng thua kém Donald Trump hoặc mang tiếng dân chủ giả tạo giả danh giả trá lừa mị nhân dân.

Barack Obama là thí dụ rõ nét nhất cho tiêu chí cao cấp cao vời vợi sau của (a) sự lựa chọn của Lưỡng Đảng Dân Chủ/Cộng Hòa Hoa Kỳ cho vị trí ứng cử viên Tổng Thống và (b) sự lựa chọn của Ủy Ban Nobel cho giải Nobel Hòa Bình:

“Không Tà Vạy, Không Làm Lãnh Đạo và Còn Khuya Mới Thành Bắc Đẩu!”

Sic transit gloria mundi!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo thêm:

Tôi và Saddam Hussein

Hoàng Hữu Phước Nói Về Tầm Quan Trọng Của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein, Tổng Thống Lybia Moammar Gadhafi, và Tổng Thống Syria Bashar al-Assad

Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

Du Học Hiếp Dâm và Hiếp Dâm Du Học

Sagarmatha

Bài Thơ Tản Văn Gieo Vận Sonnet (Sonnet-Rhymed Prose Poem) tặng Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-02-2017

screen-shot-02-21-17-at-01-59-pm

Văn nhân thi sĩ Việt hay gọi thơ là Nàng Thơ cứ như thể có một mặc định bất dịch di nào đó rằng thơ ca mang bản chất giới tính nữ thuần, khiến thơ ca cứ bị lạc lầm như mang thiên hướng cố định về hoa về lá về cảnh đẹp mông lung về cảm tình nàn nồng mướt sướt gió gió mây mây lãng đãng bốn mùa, bất kể thơ ca còn có bao thiên anh hùng ca hoặc những vần thơ dũng mãnh gươm khua lẻng kẻng hòa quyện tiếng lạc vó câu chiến mã vút vun vụt vùn.

Văn nhân thi sĩ Việt cũng hay dùng ngọn núi như biểu tượng chứa chất một mặc định bất dịch di nào đó rằng núi non mang bản chất giới tính thuần nam, khiến thơ ca cứ bị lạc lầm như mang thiên hướng cố định về ý chí hào hùng trang nam tử “phải có danh gì với núi sông”.

Tất nhiên, thi nhân Việt Nam có khi tự suy tự diễn rằng núi non có ngọn như Phú Sĩ Sơn Fuji đẹp như thơ, rồi thi vị hóa nó, tự phán rằng ngọn núi tuyệt mỹ ấy là nguồn thi hứng cho thi sĩ văn nhân sáng tác nên những vần thơ hoa lá cành cảnh đẹp mông lung nàn nồng mướt sướt gió gió mây mây lãng đãng bốn mùa, mà không biết rằng đa số nhân loại vẫn không cho Phú Sĩ Sơn ở Nhật đẹp sánh bằng các ngọn Kilimanjaro, Assiniboine, Castle, Matterhorn, Bora Bora, Dhaulagiri, Alpamayo, Eiger, hay Machabuchare, v.v., đơn giản vì chỉ những ngọn núi này mới mang vẽ đẹp cực kỳ uy nghi, cực kỳ uy dũng, cực kỳ uy nghiêm ung dung tự tại sững sừng giữa một không gian chung quanh cũng đẹp uy nghi uy dũng sững sừng tương tự, hình thành từ kiến tạo địa tầng thuần túy, không ẩn tàng trong nó hiểm họa cho nhân sinh – trong khi đó, Phú Sĩ Sơn là ngọn hỏa sơn đang ngủ yên nghĩa là đã từng tàn phá và ắt sẽ có ngày phá tàn tất cả sau ngàn năm yên ngủ.

Nếu nói về của cải thiên nhiên Việt Nam thì những hình ảnh trên internet về dãy Hoàng Liên Sơn cho thấy đó thực sự là một dãy núi thực sự tuyệt đẹp với những đỉnh non cao thực sự đẹp tuyệt. Tuy nhiên, về vẽ đẹp nên thơ của Hoàng Liên Sơn thì chưa từng có một kiệt tác hay những kiệt tác nào của bất kỳ một thi bá hay những thi bá nào ngay của Việt Nam xưng tụng ngợi ca trong toàn bộ nền văn học sử Việt Nam hay thế giới. Đồng thời, cũng tuy nhiên, cái vẽ đẹp uy nghi hùng dũng sững sừng của Hoàng Liên Sơn thì cũng chưa từng được bất kỳ nhà leo núi lừng danh hay tổ chức thám hiểm non cao uy tín nào trên toàn thế giới xưng tụng ngợi ca trong toàn bộ các chương trình thám hiểm chinh phục hùng sơn của họ. Đó là lý do rặng Hoàng Liên Sơn hay ngọn Fansipan khi chưa được người Việt biết đến – trừ cái tên – thì khó thể được sử dụng làm hình tượng cho một von ví bất kỳ bằng công cụ thơ ca.

Đó là những sự thật.

Một sự thật khác là: nhân thế chưa từng có ai lấy cái đẹp của một ngọn núi uy nghi uy dũng sững sừng để xưng tụng nét đẹp của một nữ nhân, mặc cho hai sự thật là (a) tuyệt đại đa số các ngọn mỹ sơn đẹp nhất trên thế giới đều sừng sững uy nghi tượng trưng cho sự kiên trì kiên trung vững vàng vững dạ vững bền trước bao thử thách của thiên nhiên và con người, và (b) sự kiên trì kiên trung vững vàng vững dạ vững bền trước bao thử thách của cuộc sống là đức tính đáng ngợi ca không bao giờ được mặc định chỉ tồn tại nơi nam giới.

Bài thơ bằng tiềng Anh dưới đây, do đó, đã như một phá cách của tác giả bài viết này khi sáng tác để ngợi ca sự trung hậu, lòng trung tín, chí trung thành vững bền theo năm tháng mà Cô Lại Thu Trúc đã luôn dành cho tác giả, cũng như xưng tụng nét đẹp cao trọng cao vời cao thượng của Cô, theo thủ pháp quyện hòa đầu tiên về ý nghĩa của những mỹ sơn khi ngọn hùng sơn đồng thời là đỉnh thi sơn.

Ngọn hùng sơn Sagarmatha có thể là tột đỉnh của nóc nhà thế giới. Nhưng ngọn hùng sơn ấy vẫn dễ dàng nằm gọn một cách đầy kiêu hãnh trong chu vi nhỏ bé một con tem bưu chính của một quốc gia không phải siêu cường.

Đỉnh thi sơn có thể là ngự điểm của các bậc thi bá thơ vương. Nhưng đỉnh thi sơn ấy vẫn có thể nằm gọn một cách đầy tráng lệ trong bài sonnet nhỏ gọn chỉ có 14 dòng của một blogger không phải lừng danh để tả miêu sự cao vời vợi nơi một cô gái bé nhỏ không phải siêu mẫu.

Những xưng tụng kỳ vĩ về đỉnh về ngọn thường là về những lớn lao luôn có nơi những con người rất lớn lao. Nhưng những xưng tụng kỳ vĩ về đỉnh về ngọn ấy cũng có thể là về những điều quý trọng thuần đạo đức giản đơn cùng ý chí nơi một người con gái bé nhỏ không thuộc danh sách những người khổng lồ.

Bài thơ tản văn gieo vận kiểu sonnet dưới đây, do đó, là món quà Tết 2017 thay cho hai ngàn không trăm mười bảy lời khen tặng cảm ơn mà tác giả đã gởi đến Cô Lại Thu Trúc ngày Mùng Một Tết Đinh Dậu này, đem ngọn Sagarmatha để ví về Cô, để từ nay cho đến Ngày Tận Thế thì cái tên gọi Sagarmatha sẽ luôn và chỉ thuộc về Cô.

Kính đăng lại như sau để tất cả những người bạn tốt khác trên không gian mạng cùng thưởng lãm.

sagarmatha-post-3sagarmatha-postsagarmatha-post-1screen-shot-02-23-17-at-01-54-pm

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thơ:

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Thông Giáng Sinh và Formal English January 2, 2015

15 năm ngoảnh nhìn August 16, 2016

Khúc Tự Tình Thời Thơ Ấu – A Ballade of Childhood September 13, 2016

The Wondrous Mirror – Khai Thần Bút  February 19, 2017

Lại Thu Trúc:

Lại Thu Trúc December 22, 2015

Hai Gã Đạo Văn

Tôi Đạo Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-01-2017

Ngay khi Donald Trump kết thúc bài diễn văn quá tuyệt diệu, đầy hùng biện, thật mạnh mẽ, quá thuyết phục, cực quả quyết, và đỉnh cuốn lôi, thì bọn “tinh hoa” chống Trump đã ngay lập tức đăng bài nhạo báng Trump, chứng minh câu Trump nói trao quyền lực chính phủ vào tay nhân dân là đạo văn từ câu nói của nhân vật phản diện Bane trong phim Batman. Thấy nhiều kẻ thuộc giới tinh hoa – tức chính khách và nhà báo Hoa Kỳ – cực kỳ ngu dốt, tôi đã ngay lập tức đang ý kiến sau bằng tiếng Anh lên Twitter:

screen-shot-01-21-17-at-06-48-amscreen-shot-01-21-17-at-07-11-am

Nhằm cung cấp thêm cho các độc giả trẻ Việt Nam những vấn đề liên quan đến “đạo văn” (tức không những sử dụng những tình tiết trong một tác phẩm hàn lâm của người khác mà lại còn bảo đó do chính mình sáng tạo và thu lợi nhuận hoặc lợi lộc từ sụ sử dụng trái phép đó) đồng thời rút kinh nghiệm trước sự ngu xuẩn của bọn Mỹ chống Trump thì các công dân trẻ Việt Nam chuẩn bị bản lĩnh để xuất chiêu hùng biện bảo vệ quốc thể (nếu như sự ngu xuẩn ấy lây nhiễm đến bọn Mỹ chống Việt có khi sẽ xúc xiểm rằng lãnh đạo Việt Nam khi luôn sử dụng nhóm từ “chính phủ của dân, do dân, và vì dân” đã đạo văn của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln vốn là người đầu tiên sử dụng trong bài diễn văn đọc tại Gettysburg chiều Thứ Năm ngày 19 tháng 11 năm 1863), tôi xin đăng lại bài viết dưới đây đã được đăng lần đầu trên mạng Emotino ngày 02-6-2010.

Đạo Văn – Plagiarism

Tôi Đạo Văn

A) Đạo Văn

Bất kỳ ai có đi học đến bậc trên đại học đều biết thế nào là “đạo văn” tức plagiarism, thứ mà tất cả các giáo sư đại học đều phải giải thích rõ từ ngày đầu học phân môn mình giảng dạy cho sinh viên hiểu ngay về ý nghĩa của “đạo văn”, làm gì để tránh phạm lỗi “đạo văn”, và các biện pháp nghiêm khắc nhất nào sẽ được áp dụng để xử lý các trường hợp “đạo văn” bị phát hiện.

Bất kỳ ai biết chữ có đọc được báo chí, có nghe được các thông tin trên đài đều hiểu thế nào là “đạo văn”, ý nghĩa vô đạo đức trong hành vi “đạo văn”, và ý thức sự khinh miệt của công luận đối với những kẻ “đạo văn”.

Thế mà đạo văn lại là một sự việc nghiêm trọng không thể tưởng tượng được khi không phải có những sinh viên hay nhạc sĩ (đạo nhạc) chiếm hữu tác phẩm của người khác làm “con đẻ” của mình, mà lại là những giảng sư đại học, đến nỗi tuần trước có bài báo nêu việc có vị giáo sư nước ngoài khuyên là Việt Nam đừng “buộc” giáo sư Việt Nam viết sách khi họ không tài nào viết được, và nếu không miễn cho họ thì chính là bó buộc họ phải đạo văn. Khoan nói đến tính nghiêm túc của một “lời khuyên” loại đá cá lăn dưa đầu đường xó chợ với bao nỗi hoài nghi về chất lượng dịch thuật cũng như ý đồ của người Việt Nam nào viết bài báo ấy, dưới đây tôi xin trao đổi kinh nghiệm cá nhân về “đạo văn”.

B) Tôi Đạo Văn

Lần đầu trong đời tôi bị “mang tiếng” đạo văn là lúc tôi là sinh viên năm thứ nhất Ban Anh Văn, Đại Học Văn Khoa. Thủa ấy, môn Reading Comprehension (môn Đọc-Hiểu) thường theo công thức hàn lâm gồm một đoạn văn / một bài thơ / một đoạn kịch (bằng tiếng Anh) chỉ của các tác giả danh tiếng trong quá khứ (tuyệt đối không bao giờ dùng các bài báo hay các tác phẩm của các tác giả hiện đại để đưa vào giảng dạy), và các câu hỏi để sinh viên trả lời – thường gồm

(a) giải thích vài từ ngữ hay thành ngữ khó và dùng mỗi từ ngữ hay thành ngữ ấy trong một câu thí dụ,

(b) phân tích nội dung của đoạn văn/dòng thơ/đoạn kịch thoại,

(c) phân tích tâm tư của nhân vật trong đoạn văn/dòng thơ/đoạn thoại, và

(d) văn học sử: thời kỳ văn học của tác phẩm – tất nhiên tất cả phải viết bằng tiếng Anh.

Tôi có sở thích sáng tác thơ tiếng Anh và viết văn tiếng Anh từ nhỏ, và tôi biết chẳng ai giống mình.

Khi làm bài Reading Comprehension đầu tiên trong lớp Cô Trương Tuyết Anh (Tiến sĩ Văn Học Anh Đại học Sorbonne, Giảng sư Anh Văn Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và Đại Học Văn Khoa Tp Hồ Chí Minh, vượt biên sang Mỹ năm 1978), cứ mỗi từ ngữ/thành ngữ tôi giải thích ý nghĩa xong là tôi…“sáng tác” một bài sonnet (bài thơ mười bốn dòng) để minh họa, hoặc chí ít một stanza (khổ thơ bốn dòng) nếu từ  ngữ/thành ngữ có ý nghĩa…chán ngắt.

Qua tuần sau, khi trả lại bài cho sinh viên, Cô (nói tiếng Việt giọng Miền Bắc, nói tiếng Anh líu lo giọng Pháp) đến trước tôi, ném bài tôi xuống, nhìn tôi đầy giận dữ, ánh mắt đầy khinh miệt, môi run run không nói nên lời, rồi bỏ đi. Tôi nhìn thấy giòng chữ mực đỏ “PLAGIARISM!” của Cô mà không thấy Cô cho điểm vì Cô đã không thèm chấm điểm bài của tôi, một thằng sinh viên mặt mũi sáng sủa nhưng đốn mạt vì ăn cắp văn tức đạo văn. Và tôi … sướng run cả người, vui mừng tột độ, vì mình đã viết tiếng Anh như người Anh! Sau vài lần ra bài tập làm tại lớp, Cô lại thấy tôi tiếp tục … đạo văn, rồi Cô thay đổi thái độ, vui vẻ, cho tôi điểm cao, và nói với tôi rằng tại bị vì bởi từ khi Cô đi học cho đến lúc thành tài Cô chưa thấy người Việt và người Pháp kể cả người Anh nào viết tiếng Anh được như tôi cả. (Cô cũng là người dạy tôi hiểu giá trị của “phản biện” khi đã tự ý cho tôi đủ điểm đậu thay vì là…điểm 3. Sự thể là khi làm bài thi học kỳ, bình giảng một bài sonnet trong tuyển tập 100 bài sonnet của Shakespeare, có bốn câu hỏi, với câu chót 3 điểm, tôi chỉ tập trung viết cho câu chót trong ba giờ, dài mấy chục tờ giấy thi, mỗi tờ bốn trang,  khiến sau đó văn phòng không thể rọc phách vì có rọc cũng biết đó là bài của ai. Tôi phân tích thật chi tiết bài sonnet ấy của Shakespeare, cho ra các đề nghị sửa lại cho hình tượng thơ ca sâu sắc hơn, hình ảnh đẹp hơn, rồi viết hẳn một bài sonnet khác có ngôn từ và nội dung khác, chỉ tuân thủ nghiêm nhặt sự lập lại đúng y các vần và vận của từng khổ thơ, và sau đó “luận” về sự hoài nghi của tôi đối với đánh giá của các nhà phê bình văn học thế giới khi ca ngợi tuyển tập 100 bài sonnet ấy như thể hiện tình bằng hữu sâu đậm của nhà thơ đối với một vị huân tước của hoàng gia. Cô nói ở Sorbonne chưa thấy ai trình luận án tiến sĩ về Shakespeare như vậy cả, chưa có tạp chí nào phê bình Shakespeare giống tôi, nhưng tôi lập luận có l‎ý và Cô hoàn toàn bị thuyết phục là…bài sonnet ấy của Shakespeare sẽ hay hơn nếu chỉnh sửa lại như tôi và sự việc hoài nghi của tôi có tầm cỡ một vấn nạn mới phát hiện về Shakespeare nên Cô ra tay cứu vớt đứa học trò dám “chê” các câu hỏi khác, chỉ làm một câu 3 điểm nhưng được cho 4,5 điểm để được…đậu vớt!).

Ngoài ra, còn có Thầy Lê Văn Diệm (Tiến Sĩ Văn Chương Anh-Mỹ, Giảng sư Đại Học Huế và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học văn Khoa Tp Hồ Chí Minh, giáo sư thỉnh giảng biên soạn sách giáo khoa Văn Chương Mỹ tại Đại Học Boston, Hoa Kỳ) đã “lẳng lặng” xem tôi là một sinh viên đạo văn khi giận dữ đến lục tung cặp sách của tôi ngay tại lớp sau khi chấm bài luận văn của tôi, để xem tôi có giấu bài viết chép sẵn từ sách nước ngoài hay không, vì người Việt không thể viết luận văn Anh được như thế. Về sau, Thầy “lẳng lặng” cho tôi toàn điểm cao nhất, biến tôi thành Vua Luận Văn, “lẳng lặng” dấu diếm đưa tôi bao bột mì và bao bo bo tiêu chuẩn của Thầy để phụ tôi nuôi gia đình, và cho đến ngày cuối của cuộc đời Thầy vẫn còn dành cho đứa học trò “đạo văn” sự tự hào của người Thầy, luôn gọi tôi là “Director Phước”.

C) Tôi Lại Đạo Văn

Người thứ nhì ban tặng cho tôi từ Plagiarism là một Giáo Sư người Úc. Thủa ấy, khi đang học lấy bằng Thạc Sĩ ngành Kinh Doanh Quốc Tế, tôi đã quá nhuyễn về viết assignment, reports, hay survey – tất nhiên, phần reference tức phần danh mục tài liệu tham khảo luôn được tôi chăm chút cực kỳ cẩn thận, vì đó ngoài ý nghĩa đáp ứng đúng yêu cầu hàn lâm của viết lách tiểu luận hay công trình nghiên cứu, còn là biểu hiện đạo đức của đẳng cấp hàn lâm. Thế mà, một bài assignment nọ của tôi bị ghi “Plagiarism”, nhưng may mà có kèm theo vài giòng viết tay giải thích: “Bạn có ghi tên tác giả trong ngoặc đơn sau đoạn trích dẫn trong bài viết của bạn, nhưng Bạn lại quên không lập lại tên tác giả này trong phần reference cuối tiểu luận. Mà như thế cũng là phạm lỗi đạo văn. Vì lỗi này nhỏ nên tôi hạ kết quả xuống một bậc. Nếu trong bài đã không có ghi tên tác giả thì bài của bạn lẽ ra bị loại, và bạn bị đưa ra hội đồng kỷ luật. ” Chỉ cần sơ xuất gõ máy vi tính copy từ bản nháp và paste vô bản chính thiếu tên chỉ một tác giả trong phần danh mục thì dù có đã ghi rõ nhiều lần trong bài viết tên người ấy mỗi khi có trích dẫn, thì mình vẫn mang tiếng đạo văn, chứ nào phải ăn cắp cả quyển sách hay tác phẩm của người khác mới là đạo văn! Kính cảm ơn Giáo Sư, nhờ người mà tôi đã hiểu thêm tính khắt khe cần có của tư cách kẻ sĩ.

D) Lời Khuyên Hay Sự Nhạo Báng

Trở lại “lời khuyên” của người được cho là “một vị giáo sư nước ngoài”, rằng Việt Nam không nên buộc các giáo sư phải có công trình nghiên cứu hay phải viết sách vì giáo sư Việt nam không có khả năng ấy, buộc họ chỉ khiến họ phải đạo văn tức ăn cắp tác phẩm của người khác mà thôi. Rõ ràng chỉ có hai hoàn cảnh để có sự xuất hiện “lời khuyên” như vậy:

(a) người viết báo là kẻ láo khoét – tương tự trước đây có người viết rằng đã “phỏng vấn” một đạo diễn hàn Quốc và vị này cho biết các phim Hàn đang chiếu ở Việt Nam là phim rẻ tiền, người Hàn không thèm xem, mà ai cũng biết không bao giờ có một anh Hàn nào lại ngu dại nói như thế cả, hoặc

(b) vị giáo sư “có thật” kia là kẻ láo xược, vì rằng trên toàn thế giới không đâu có hạng giáo sư giảng dạy đại học mà không có công trình nghiên cứu có giá trị hàn lâm đăng trên các tạp chí chuyên đề tức journal hoặc có các tài liệu biên soạn được in thành sách cả.

Không thể soạn sách, không thể nghiên cứu, nghĩa là không liên tục đào sâu nghiên cứu, thì sao đủ trình độ làm giáo sư giảng dạy đại học? Còn “đạo văn” thì sao đủ tư cách làm giáo sư giảng dạy đại học? Lẽ nào để giáo sư Việt Nam có “tư cách”, Việt Nam chấp nhận để họ là những người non yếu trình độ hay sao? Và bao giờ nền giáo dục Việt nam mới có thể rời bỏ vị trí bấy lâu đứng mãi trên bậc thềm ngoài sương gió để tiến vào bên trong đại sảnh học thuật của thế giới hàn lâm?

Lời khuyên hay sự nhạo báng?

Chắc chắn không phải là một lời khuyên vì không có vị giáo sư thực thụ hay tiến sĩ thực thụ nào lại cho ra một lời khuyên như vậy cả.

Vào một ngày âm u nào đó, một khi Việt Nam vẫn vô tư hào phóng và rộng lượng cho phép bất kỳ một tên đá cá lăn dưa nước ngoài thuộc hạng cùng đinh ba que xỏ lá được tự do góp ý, thì ắt sẽ có kẻ sẽ dám đề nghị rằng để đối phó với vấn nạn nhiều tiến sĩ hay thạc sĩ Việt Nam xài bằng cấp giả, Nhà nước Việt Nam nên miễn cho các giáo sư dạy đại học khỏi phải có bằng tiến sĩ làm gì, tiến đến bỏ cả yêu cầu phải có bằng thạc sĩ hay cử nhân – hoặc thậm chí tú tài cũng vứt tất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô  11-2011

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh  11-2011

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm  11-2011

Tha Thứ : Chiếc Mặt Nạ Thời Thượng Giảo Gian

Vạn Thoáng Mê Lầm

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-01-2016

me-lam-2

Thời nay thiên hạ hay nghe nói về “tha thứ”. Sở dĩ “nghe nói” vì thiên hạ nào có cổ súy cho “tha thứ”, mà chính vì hai ba cái ý kiến lẻ tẻ của những kẻ không có dung mạo từ bi và cũng chẳng có cuộc sống đạo hạnh bám víu vào hai chữ “tha thứ” như chủ đề duy nhất có thể nói mà không sợ bị bút chiến luận để làm mặt nạ đẹp xinh cho mình; và hai ba cái ý kiến lẻ tẻ ấy được cơ quan truyền thông chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam lợi dụng quyền lực báo chí để tải đăng nhằm “nhét chữ vào mắt” độc giả để làm độc giả cứng người băng giá sau khi đã thử nghiệm thành công chiêu thức “nhét chữ vào mồm” Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước vụ “dân trí thấp” để làm độc giả tuôn trào phún thạch.

Bài viết này, do đó, nhằm khơi gợi một sự thật mà nhiều ngàn năm qua chưa hề có ai nói đến về nội hàm “tha thứ” vì chưa ai hiểu, vì chưa ai từng cố gắng nghĩ sâu  hơn, vì ai cũng tin tưởng tuyệt đối vào những phát ngôn của giới tu hành cứ như thể các phát ngôn ấy tương đương lời Chúa/Phật, hoặc ai đó trong giới tu hành cho rằng đừng nên dại dột tiết lộ để bản thân tiếp tục hành nghề cho một cuộc sinh nhai sinh kế sinh tồn và sau khi đầy túi thì dục xúi và động xách nhằm dọa đe phủ chính.

A- Những Ai Sính Nói Về “Tha Thứ”:

Có nhiều hạng người thường được thấy là hay mở miệng nói về “tha thứ”.

1) Tu Sĩ:

Các tu sĩ thì có bốn yếu điểm nỗi bật gồm:

a- Sự khách quan hoàn toàn bị triệt tiêu do cái gọi là đức tin tôn giáo nên các phát biểu về “tha thứ” – nếu có – chỉ có giá trị tham khảo bên trong chốn tu hành và với các tín đồ chứ không bao giờ có giá trị tuân thủ với toàn thể chúng sinh hay nhân gian khắp chốn.

b- Trình độ học vấn không luôn cao out-of-the-box (đứng trong hộp vươn cao hơn bờ thành của hộp để nhìn ra khắp chốn ta bà từ quanh ta đến cao vời trụ vũ) mà chỉ cao stuck-in-the-box (ngồi thu lu trong hộp đậy nắp xem chỏm đầu ai cao đụng nắp hộp hơn), nghĩa là có nhiều tu sĩ là tiến sĩ thần học nhưng chẳng mấy ai nghe nói đến tu sĩ tiến sĩ y khoa, tu sĩ tiến sĩ vật lý thiên văn, tu sĩ tiến sĩ môi trường, tu sĩ tiến sĩ địa chất, tu sĩ tiến sĩ cổ sinh vật học, v.v., dù tất cả đều được mặc định là do Chúa/Thượng Đế tạo nên, từ con người, Địa Cầu, tinh tú, môi trường sống, cho đến Khủng Long Bạo Chúa Tyrannosaurus và Cá Sấu Khủng Khiếp Deinosuchus, nghĩa là mọi thứ của Chúa/Thượng Đế tạo nên lẽ nào không đáng để các tu sĩ quan tâm nghiên cứu, hoặc lẽ nào các tu sĩ cho rằng nghiên cứu sẽ đồng nghĩa với “không có đức tin vào Chúa” chẳng khác gì con cái đem Bố Mẹ ra thử DNA để xác định cha-con như trong phim xã hội trường thiên Hàn Quốc?

c- Cũng vì vấn đề b ở trên, việc rao giảng kinh thánh/kinh kệ của các tu sĩ có những lúc trái với lời dạy của kinh thánh/kinh kệ.

Làm trái lời thì có thể qua những vụ về các sư hổ mang (mà báo chí Việt Nam Cộng Hòa thường đưa tin) chuyên làm tín nữ mang bầu hoặc phá trinh con gái cùng em gái các thiện nam, hoặc các sư khác cũng do báo chí Việt Nam Cộng Hòa thường đưa tin chuyên dụ dỗ các tín nữ lớn tuổi đem toàn bộ gia sản vào chùa “cúng dường Tam Bảo” vì “đời là bể khổ, Phật lại luôn thử thách khiến con cái sẽ gấu ó tranh giành gia tài gây ra thảm cảnh bất hạnh, vì vậy tốt nhất hãy vì con cháu mà triệt tiêu hết các tham sân si ấy để Phật ban phước cho mình, ban phước cho con cháu hòa thuận, vì mình tạo phước cho bá tành bằng cách vô chùa ở luôn trong chùa để cùng chùa đem tài sản ấy làm công quả công đức bố thí cho bá tánh và sửa sang nơi thờ chư Phật”.

Còn ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì nghe đâu có vài ba vị linh mục lờ đi các lời dạy của Chúa về hãy yêu kẻ thù của mình, như “Nếu ai tát con bên gò má này thì hãy chìa luôn gò má bên kia cho kẻ ấy; và nếu ai lấy áo khoác của con thì hãy đưa luôn áo xống” (Luke 6:29 và  Matthew 5:39) và “Hãy trả lại cho Caesar những gì của Caesar và trả về Thượng Đế những gì của Thượng Đế” (Mark 12:17) qua việc xách động giáo dân tham gia chống chính sách của chính phủ – nói ngắn gọn và an toàn hơn cụm từ chống chính phủ – và đòi chủ quyền đất đai mà họ cho rằng xưa kia thuộc về giáo hội của họ do thực dân Pháp giao cho họ. Có thể họ thực tâm không thể thương Cộng Sản vì không xem Cộng Sản là kẻ thù (Chúa dạy hãy yêu kẻ thù) nên không thể chìa ra gò má bên còn lại dù họ cáo buộc Cộng Sản tát họ tức đàn áp tôn giáo của họ, và có thể họ tin rằng đất đai ấy là của Thượng Đế nên Cộng Sản phải trả lại cho họ là những người được Thượng Đế sang tên chủ quyền Sổ Đỏ chăng?

d- Cũng vì vấn đề b ở trên, việc suy diễn sai kinh thánh/kinh kệ của các tu sĩ có những lúc làm các tu sĩ phạm tội trần gian kiểu chạy xe hai bánh phóng lên lề đường để tránh kẹt xe mà vẫn đến nơi đến chốn đạt yêu cầu kinh thánh/kinh kệ.

Phóng lên lề thì có thể kể đến các tu sĩ của Chúa (tức các linh mục Cơ Đốc và mục sư Tin Lành) mà báo chí Âu Mỹ – báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không bao giờ dám khai thác lập lại các tin này từ báo chí Âu Mỹ – thường đưa tin như có các hành vi dâm ô đối với các bé trai đang học tu tại chủng viện hoặc con trai của các tín đồ. Tại sao lại là ấu dâm nam? Đây là câu hỏi chưa từng được ai giải đáp. Theo Lăng Tần Tiên Sinh, đó là vì Thánh Kinh Cựu Ước bắt đầu bằng sự tầm thường hóa phụ nữ (Chúa Trời không phí thời gian thiết kế design nặn ra phụ nữ mà đơn giản rút một thanh xương sườn của quý ông Adam rồi hóa thành mụ đàn bà Eva lệ thuộc và là vật sở hữu giải trí của quý ông Adam, nghĩa là phụ nữ không có thân phận chính danh quý báu), và tội phạm hóa phụ nữ (tại mụ đàn bà Eva ăn trái cấm khiến nhân loại biết mặc quần và có trí tuệ nên khiến nhân loại bị trừng phạt, chứ không phải tại quý ông Adam ngu đần mê say tình dục nên vợ bảo gì cũng nghe ráo, nghĩa là phụ nữ là tội phạm và do đó là kẻ thù của nhân loại khiến nhân loại không những phải sinh-lão-bịnh-tử mà còn phải làm xác sống zombie để chịu phán xét Ngày Tận Thế), còn Thánh Kinh Tân Ước kết thúc bằng sự tàn tệ hóa phụ nữ (Chương Khải Huyền gọi kẻ tồi tệ dâm đãng gây ra Ngày Tận Thế là Con Đĩ Babylone cũng như xuyên suốt Kinh Thánh Tân Ước các lăng mạ cho sự dâm ô phản trắc đều đổ lên phụ nữ  nghĩa là hễ sai quấy tàn tệ đều đổ lên đầu phụ nữ, biến phụ nữ thành hình tượng của sự bẩn nhơ).

Các lý giải vì sao các tu sĩ của Chúa chọn ấu dâm nam khi không thể dùng lời tối thượng của Chúa để đè nén sự thèm khát tối cần của tình dục gồm (i) phụ nữ tội lỗi dơ dáy nên quan hệ tình dục với họ sẽ mang tội với Chúa; (ii) Kinh Thánh chỉ ghi tội thông dâm toàn là liên quan tới phụ nữ; (iii) nam giới là chất liệu thượng đẳng  của Thượng Đế; (iv) nam thiếu niên là tinh túy nhất của nam giới và đặc biệt là nam thiếu niên không bị thụ thai nên dễ dấu diếm phụ huynh, dễ kéo dài lập lại sự xâm hại tình dục mà không bị lộ, dễ dùng sự dọa đe khống chế, và chỉ có bé gái mới có việc khóc lóc và tự sát; (v) tư liệu giáo sử của Vatican có chi tiết những Đức Giáo Hoàng nào – trong đó có Sergius III, John X, John XII, Benedict IX, Paul II, Sixtus IV, Alexander VI, Julius III, v.v. – đã dâm loạn với các nữ nhân trong gia đình càng chứng minh quan hệ tình dục khó tránh khỏi, và (vi) tư liệu giáo sử của Vatican cho đến thời hiện đại vẫn luôn là phải bằng mọi giá bảo vệ tất cả các linh mục và giám mục nào bị cáo buộc xâm hại tình dục ấu dâm nam bằng cách bổ nhiệm chức danh cao hơn tại địa phương khác, khiến ấu dâm nam có khi là cách đi tắt hữu hiệu lên hàng giáo phẩm cao hơn.

Tóm lại, tu sĩ hay nói về “tha thứ” vì muốn bảo vệ các đồng nghiệp phạm tội.

me-lam

Trong khi kinh/kệ nói về “tha thứ” đơn giản chỉ vì tôn giáo đã có sẵn các công cụ trừng trị khủng khiếp và hiệu quả – dù trừu tượng – về Địa Ngục, Hỏa Ngục, Luyện Ngục, Ngày Phán Xét, Ngày Tận Thế, nên điều tín đồ cần làm là hãy để “thân tâm thường lạc”, đừng bận tâm đến hận thù và báo oán, do “ác giả ác báo, thiện giả thiện lai” và nhân quả là luật Trời không bao giờ suy suyển; thì các nhà tu hành chỉ đơn giản lái sự “tha thứ” vào duy chỉ ý nghĩa của một thứ lòng tốt đầy nhân hậu nên có ở con người.

Cần nhớ một điều rõ ràng rằng tất cả các vị chủ tể các tôn giáo đều rất dứt khoát trong sự trừng phạt và trừng trị, nghĩa là không bao giờ có sự bao dung, không bao giờ có sự rộng lượng, không bao giờ có sự tha thứ bất kỳ. Thậm chí Thánh Kinh Cựu Ước còn có giai thoại Chúa Trời sai thiên sứ bay đến hai thành Sodom và Gomorrah vung gươm giết sạch nam phụ lão ấu để trị tội sa đọa. Ngay cả ý nghĩa của việc xưng tội và được tha tội của một tôn giáo cũng không thể trả lời câu hỏi vậy người đã xưng tội và được tha tội có lên thẳng thiên đàng hay lại sẽ trong một ngày xa thẳm nào đó ở tương lai phải ngồi dậy trong hình hài một zombie trong Ngày Phán Xét của Ngày Tận Thế.

Vì vậy, sự trừng trị và trừng phạt của xã hội loài người luôn là một cụ thể buộc phải có; còn tha thứ thuộc phạm trù ý tưởng đơn thuần, không thể bị đánh lận con đen vào đời sống thật trong một cộng đồng thật nhất là trong thời đại văn minh.

2) Kẻ Chơi Trội: Dã Nhân Giả Nhân

Lăng Tần Tiên Sinh có lời khuyên dành cho các học trò của ông là ngay khi nghe bất kỳ ai nói về chủ đề “hãy tha thứ” thì hãy lập tức tìm hiểu rõ nhân thân của người ấy vì bảo đảm đó là (a) kẻ giả nhân giả nghĩa có cuộc sống bất nhân bất nghĩa ngay tại khu dân phố và nơi làm việc của người ấy, hoặc là (b) người có cậy nhờ sự lăng xê của một “nhà báo”, hoặc là (c) người chưa giả nhân giả nghĩa nhưng là dã nhân tức chưa hề được cộng đồng con người biết đến nên phải tự phát ngôn trên blog về “tha thứ” để chào hàng với cư dân mạng chứ không thể chào hàng bằng thứ kiến thức gì khác cao siêu hơn.

3) Kẻ Lạm Quyền:

Lạm quyền vì chỉ có những người được liệt kê ở Phần C bên dưới mới có quyền “tha thứ”. Ở đây cần nói rõ về chữ “người” – nghĩa là “công dân” chứ không phải thánh thần gì cả – để triệt tiêu mọi mưu đồ chụp mũ “báng bổ” bởi những kẻ luôn cho rằng chỉ có Chúa mới có quyền “tha thứ”.

4) Kẻ Phạm Tội:

Tất nhiên, những kẻ phạm tội bao giờ cũng xin được “tha thứ” khi tội đã phạm bị phanh phui, trừ những tên tội phạm như Bob Kerrey tại Đại Học Fulbright Việt Nam vì Bob Kerrey có sự bảo vệ của những kẻ lạm quyền.

5) Kẻ Mê Lầm:

Và tất nhiên, những kẻ mê lầm là những kẻ lầm tưởng (a) mình có quyền nói về “tha thứ”, (b) thiên hạ sẽ bị mình tùy thích tung hỏa mù “nhét chữ vào mắt” viết  nhăng viết cuội mà vẫn tin, và (c) hễ nói về “tha thứ” thì tự động mình sẽ được thiên hạ tôn lên thành bậc hiền nhân quân tử.

B- Quyền Căm Thù Tuyệt Đối Chính Đáng:

Do “tha thứ” là đặc quyền chỉ thuộc về những người được liệt kê ở Phần C bên dưới, mà “tha thứ” luôn là phần không thể tách rời nguồn cơn của “căm thù”, Phần B này nhằm nêu rõ “căm thù” nào là chính đáng cho một quyền tha thứ với sự hiểu biết rằng quyền tha thứ có nghĩa tha thứ hay không tha thứ, là đặc quyền của người có căm thù chính đáng.

1- Căm Thù Chính Đáng

Lòng căm thù nói chung là thứ tình cảm có nơi tất cả, bất kể người tốt hay kẻ xấu.

Gia đình một tên cướp của giết người căm thù người hào hiệp nào đã khiến tên cướp bị bắt phải đền tội. Gia đình tên cướp ấy thậm chí có thể ra tay báo oán ngoài khuôn khổ luật pháp đối với người hào hiệp ấy. Trong trường hợp này tập thể kẻ xấu có lòng căm thù.

Gia đình một tên đại quan tham nhũng căm thù người hào hiệp nào đã khiến tên đại quan ấy phải đền tội và toàn gia đình bị tịch biên tài sản. Gia đình tên đại quan ấy thậm chí có thể ra tay báo oán ngoài khuôn khổ luật pháp đối với người hào hiệp ấy. Trong trường hợp này tập thể kẻ xấu có lòng căm thù.

Gia đình một lương dân căm thù bọn báo chí nào đã khiến lương dân ấy thành nạn nhân – từ nội dung liên quan đến kinh doanh đến nội dung bị vu vạ “nhét chữ vào mồm” –  khiến thành đối tượng của đe dọa, bôi nhọ, chặn ngăn sự nghiệp. Gia đình của lương dân ấy thậm chí có thể ra tay báo oán trong phạm vi luật pháp chưa cấm đối với bọn báo chí ấy. Trong trường hợp này tập thể người tốt có lòng căm thù.

Như vậy, với sự thể rằng bất kỳ ai cũng có lòng căm thù, sự rành mạch hóa nhằm phân định ai mới có quyền căm thù vì chỉ khi có quyền căm thù thì người ta mới có quyền tha thứ.

2-  Những Người Có Toàn Quyền Với Căm Thù Chính Đáng:

Sự lầm lẫn về ngữ nghĩa ngôn từ là vấn nạn cực kỳ phổ biến ở Việt Nam.

“Không căm thù” hoàn toàn không có nghĩa là “tha thứ”.

Quyền căm thù tuyệt đối chính đáng là đặc quyền bất khả xâm phạm của những người sau đây:

a) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Thiên Tai Và Thân Nhân

Bao triệu người Việt là nạn nhân của thiên tai. Họ có quyền căm thù chính đáng. Nhưng như toàn nhân loại, họ không căm thù thiên nhiên. Họ cũng không hề có phút giây nào nghĩ rằng minh đã hay đang tha thứ thiên nhiên. Đơn giản vì có bản tính thuần Việt: họ cho đó là tai họa của số kiếp dù đó là biệt nghiệp hay cộng nghiệp, dù đó là quả báo hay oan khiên tiền định của nghiệt duyên.

b) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Một Biến Cố Lịch Sử Và Thân Nhân

Bao triệu người Việt là nạn nhân của chiến tranh xâm lược.

Họ có quyền căm thù chính đáng.

Đạo lý tự nhiên của người Việt: chiến thắng một cuộc chiến tranh thì đã mặc nhiên là sự trừng trị thỏa đáng thích đáng mà “Trời” giáng xuống kẻ thù của họ.

Nhưng như toàn nhân loại trong tất cả các cuộc chiến tranh khác và Thế Chiến, họ không căm thù bên nào của chiến tranh đã biến họ thành nạn nhân. Lúc hậu chiến, họ cũng không hề có phút giây nào nghĩ rằng mình đã hay đang tha thứ chiến tranh. Đơn giản vì có bản tính thuần Việt: họ cho đó là tai họa của số kiếp dù đó là biệt nghiệp hay cộng nghiệp, dù đó là quả báo hay oan khiên tiền định của nghiệt duyên. Đó là lý do dân Việt như một tập thể chung của bên chiến thắng thì không căm thù Tàu cũng không tha thứ Tàu, không căm thù Pháp cũng không tha thứ Pháp, không căm thù Mỹ cũng không tha thứ Mỹ, không căm thù Campuchia cũng không tha thứ Campuchia – vì căm thù là chịu đựng số kiếp còn tha thứ là không cần thiết vì đã trả được oán thù qua bàn tay của “Trời”.

Dù vậy, họ và thân nhân của họ – vì đa số họ đã bị chiến tranh tước đi mạng sống – có toàn quyền căm thù chính đáng và toàn quyền tha thứ. Như bản tính thuần Việt, họ không có căm thù và không có thứ tha; song, khi bất kỳ ai tự hối tìm đến xin lỗi họ vì những tội ác đã gây nên trong chiến tranh, họ sẽ ngay lập tức nói lời tha thứ, chỉ vì họ biết hai điều rằng (a) đó là nghiệt duyên của họ mà họ phải âm thầm chịu đựng, và rằng (b) “kẻ chạy lại” luôn đáng được họ đón chào như thượng khách chứ không với sự thứ tha họ ban cho  kẻ tội đồ.

Đối với Bob Kerrey của Đại Học Fulbright Việt Nam thì chỉ có nạn nhân vụ thảm sát cùng thân nhân của họ mới có quyền căm thù chính đáng để tha thứ Bob Kerrey. Bất kỳ ai đặt vấn đề Bob Kerrey nên được tha thứ thì đó là sự lạm quyền, vô duyên, vô đạo, bất chính, bất khả tư nghị.

c) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Tai Nạn, Tai Họa Và Thân Nhân

Nhiều người đã là nạn nhân của những tai nạn, những vu oan, những vụ cướp của giết người và/hoặc hiếp dâm, v.v.

Rất có thể một số người trong họ đã cam chịu, xem đó như một thứ nghiệt duyên, quả báo của một kiếp trước mơ hồ, hay một oan khuất mang tính thử thách của hiện tại, v.v.

Rất có thể một số người trong họ đã cam chịu vì tránh một thiệt hại lớn hơn nếu phải khai báo, tố cáo, kiện thưa khi công khai thực hiện quyền căm thù và quyền đòi trừng trị thích đáng.

Chỉ có họ và thân nhân của họ mới có quyền căm thù chính đáng. Nhưng họ sẽ không bao giờ nghĩ đến “báo oán” nhất là nếu xã hội có cơ chế trừng trị thích đáng và hữu hiệu kẻ gây tai nạn/tai họa cho họ hay người thân của họ. Không “báo oán” nghĩa là sự “tha thứ” được mặc nhiên đi kèm không kèn không trống. Trong ý nghĩa này, sự “tha thứ” đã bị hình phạt trừng trị nghiêm khắc của luật pháp triệt tiêu.

c) Công Dân Đối Với Nghĩa Vụ Lịch Sử

Bất kỳ công dân nào cũng có nghĩa vụ đối với lịch sử.

Quyền căm thù chính đáng là quyền của những công dân thực thụ của một quốc gia đối với những biến cố đã chính thức minh định trong lịch sử chính thức của quốc gia mình về những tai họa mà một thực thể từ bên ngoài quốc gia mình đã gây ra cho quốc gia mình, dân tộc mình, mà bản thân mình vẫn đang là công dân của quốc gia đó, dù thậm chí tổ tiên mình không chắc hoặc chắc không đã có ai hay những ai đã là nạn nhân của các tai họa do ngoại nhân gây ra trong lịch sử ấy.

Với ý nghĩa này, mọi công dân Việt Nam có quyền căm thù chính đáng và có quyền báo thù chính đáng đối với Tàu, với Thái, với Pháp, với Mỹ, với Campuchia.

Tuy nhiên, với luận điểm chỉ có người có quyền căm thù chính đáng mới có quyền tha thứ, thì quyền căm thù chính đáng trong phạm trù nghĩa vụ lịch sử lại không bao giờ mặc định có kèm quyền tha thứ, mà chỉ liên quan đến quyền trả thù hoặc quyền không trả thù.

Bất kỳ ai bảo rằng người Việt có lòng rộng lượng, bao dung, tha thứ những tội ác lịch sử của Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Campuchia, thì đó là những phát ngôn xằng bậy.

Chính xác về ngữ nghĩa tu từ, người Việt không nghĩ đến khai thác lòng căm thù chính đáng để báo oán hay trả thù đối với các biến cố lịch sử gây ra bởi các quốc gia khác, mà cũng chẳng nghĩ đến việc tha thứ, đơn giản vì công lý đã được thực thi, luật Trời đã tỏ, phần thắng đã thuộc về nước Việt.

C- Quyền Tha Thứ:

Khi ngợi ca sự công bằng và hướng đến điều cao thượng muốn không ai khác phải gánh chịu cùng tai họa từ cùng kẻ gây tai họa, quyền tha thứ, tóm lại, nằm trong tay hai thực thể và với những điều kiện sau:

1) Nạn nhân trực tiếp của tai nạn, tai họa cùng thân nhân của họ, nếu kẻ gây tai nạn/tai họa cho họ bị luật pháp trừng trị thích đáng, khó thể tiếp tục làm hại những người vô tội khác trong xã hội. Tha thứ là sự ban ra khi sự trừng phạt của công lý đã được thực thi. Không ai được phép gây tác động đến quyền này của nạn nhân cũng như thân nhân của họ đối với kẻ thủ ác nhằm kêu gọi động tác bãi nại dành cho kẻ thủ ác.

2) Nạn nhân trực tiếp của một cuộc xâm lược trong lịch sử quốc gia cùng thân nhân của họ, bất kể quốc gia xâm lược gây ra thảm cảnh cho họ và thân nhân của họ có đã bị trừng trị thích đáng hay chưa. Quyền báo oán của họ và thân nhân của họ là vĩnh viễn, và quyền tha thứ của họ cùng thân nhân của họ dành cho quốc gia xâm lược hay cá nhân quốc gia xâm lược là bất khả xâm phạm. Không ai được phép gây tác động đến quyền này của nạn nhân cũng như thân nhân của họ đối với quốc gia thủ ác cũng như nhân lực thực hiện hành vi thủ ác của quốc gia thủ ác.

Công dân đối với nghĩa vụ lịch sử tuy có toàn quyền căm thù và toàn quyền báo oán đối với quốc gia xâm lược cùng các cá nhân của quốc gia ấy, nhưng lại không có quyền tha thứ quốc gia xâm lược cùng các cá nhân của quốc gia ấy. Không ai được phép nói về sự tha thứ đối với các quốc gia xâm lược cũng các cá nhân của các quốc gia ấy.

D- Danh Mục Những Kẻ Tiếm Quyền

1) Những người không là công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhưng lại luôn mồm nói về lòng hận thù hay sự tha thứ có liên quan đến các cuộc chiến tranh của Việt Nam với các nước khác trong lịch sử Việt Nam.

2) Những công dân không là nạn nhân trực tiếp của tai nạn, tai họa hay thân nhân của nạn nhân, nhưng lại phát ngôn gợi ý nạn nhân/thân nhân nạn nhân thực thi quyền tha thứ hung thủ.

3) Những công dân không là nạn nhân trực tiếp của một cuộc xâm lược trong lịch sử quốc gia, hay thân nhân của nạn nhân, nhưng lại phát ngôn gợi ý nạn nhân/thân nhân nạn nhân thực thi quyền tha thứ quốc gia xâm lược cùng cá nhân thực hiện tội ác của quốc gia ấy.

4) Những công dân có nghĩa vụ tự nhiên đối với lịch sử quốc gia nhưng không biết mình không có quyền nói về hay kêu gọi cho sự tha thứ đối với quốc gia xâm lược cùng cá nhân thực hiện tội ác của quốc gia ấy.

5) Những cơ quan truyền thông nào hỗ trợ loan truyền ý kiến của bốn loại tiếm quyền trên và ý kiến của cơ quan truyền thông khác có hỗ trợ loan truyền ý kiến của bốn loại tiếm quyền trên.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Trăm Trứng October 29, 2014

Tội Ác Của Bob Kerrey June 3, 2016

Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon? September 27, 2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân

Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội

dress 

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

27-12-2016

dress-2

A) Báo Chí Và Giới Tinh Hoa Việt Nam

Chính quyền Hà Nội vừa ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử dành cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước thuộc thành phố Hà Nội.

Ngay lập tức, đã có những phản xạ trên một số tờ báo thuộc truyền thông đại chúng chính thống cho thấy những phản xạ mang tính vấn nạn có thể liệt kê như sau.

1- Phản Xạ Chống Đối

Gọi là chống đối vì bất cứ khi nào cơ quan chức năng của Chính Phủ Việt Nam như một Bộ nào đó chẳng hạn, hoặc cơ quan chức năng của một địa phương lớn, ban hành một quy định nào đó là ngay lập tức các câu hỏi được báo chí nêu lên theo kiểu chõi lại thay vì chung sức giải thích cho người dân hoặc chí ít làm tỏa lan chủ trương chính sách tân kỳ mà bổn phận báo chí cùng các “viện” lẽ ra đã phải biết đó là nhiệm vụ của riêng mình mà bản thân mình đã ngữa tay nhận tiền lương tháng hậu hĩ để thực hiện mỗi việc giản đơn ấy. Đặc biệt dưới tác động của độc tố mang tên tự do dân chủ nhân quyền phiên bản Mỹ Âu BSE (bovine spongiform encephalopathy) thì kiểu nêu tương tự như “…liệu có vi phạm quyền tự do cá nhân của mỗi công dân?” là thứ mang bản chất của sự xách động chống đối cực kỳ quen thuộc của báo chí chính thống Việt Nam nhằm tạo nên một phản ứng tự nhiên nơi độc giả mỗi khi nghe nói có quy định bất kỳ, dẫn đến phản ứng chống đối tự nhiên nơi độc giả đối với Chính phủ và chế độ như một tập thể chỉ biết sản sinh những quy định hay luật lệ thuộc hạng tồi, kém, vất đi.

2- Phản Xạ Công Thức

Gọi là công thức vì ngay lập tức phóng viên sẽ chạy đến – hoặc phone đến – những vị mà tên của họ đã sẵn có trong danh bạ “việc nào thì phỏng vấn ai” chẳng hạn luât sư nào, nhà sử học nào, nhà giáo nào, nhà văn nào, v.v., đến độ độc giả thì phát ngấy với những cái tên nhàm chán của giới tinh hoa vô dụng được báo chí tinh chọn từ số người tinh quái nhất song kém tinh túy nhất, nhưng tờ báo thì phát phì vì có bài vỡ lấp đầy chỗ trống. Thậm chí có nhiều lúc phỏng vấn bất kỳ ai miễn “cùng phe” nên hoàn toàn không có chút chất lượng nào trong các mẫu đưa tin có kèm phỏng vấn.

3- Phản Xạ Kiến Thức Zero

Thay vì cung cấp cho độc giả những lý giải sâu sắc, báo chí chỉ giáng thêm những câu hỏi, và bồi thêm những câu trả lời của những đấng tinh hoa mà những câu trả lời ấy hòa âm điền dã với câu hỏi của báo chí khiến câu hỏi – nếu có, hoặc bị báo chí khuấy động lên thành có – của độc giả từ giản đơn trở thành vấn đề. Sự việc của Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội vốn là điều cực kỳ bình thường của thế giới tư bản văn minh hiện đại lại trở thành lỗ hổng kiến thức của báo chí và của giới tinh hoa nào chấp nhận trả lời phỏng vấn của báo chí ấy theo hướng mà báo chí uốn nắn, biến cả báo chí cùng cơ quan của giới tinh hoa “Viện” Việt trở thành loại tầm thường không có kiến thức – tức kiến thức bằng không tức kiến thức zero – vì tất cả các cơ quan từ nhà nước đến công ty dù lớn dù nhỏ của tư nhân trong thế giới tư bản văn minh toàn cầu đều có Bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt để nâng tôn giá trị của chính mình và có thêm công cụ pháp lý trong đối nội và đối ngoại.

Sự thiếu vắng của các Bộ Quy Tắc Ứng Xử – vốn tương đương với cái gọi là Bộ Quy Tắc Đạo Đức Làm Việc – ở các cơ quan báo chí chính thống Việt Nam đương nhiên giúp lý giải cho (a) việc vì sao họ không hề đánh giá cao cái Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính Quyền Hà Nội, (b) vì sao các cơ quan truyền thông này vẫn chưa thể sánh vai với các cơ quan truyền thông Âu Mỹ về uy tín và “đạo đức”, và (c) sự vô đạo đức và/hoặc bất chuyên nghiệp và/hoặc vô chuyên môn của các nhân sự của họ từ tổng biên tập cho đến phóng viên lại quá hiển nhiên lồ lộ trơ trẻn đến trần truồng.

B) Thế Nào Là Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct

Khi nói nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt, có nghĩa là có sự phân định rạch ròi rõ ràng y như đối với “miễn thuế” và “thuế suất bằng không” vì bản thân hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau trong hoạt động xuất nhập khẩu, không dính dáng với nhau – nghĩa là ngay cả khi có sự thoáng cực kỳ thì vẫn phải ghi rõ nội dung chi tiết của và lý do cho cái sự thoáng cực kỳ ấy trong bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục của đơn vị, cơ quan, công ty, tổ chức.

Thế thì nếu lãnh đạo báo chí chính thống của Việt Nam và các vị ở “viện” của Việt Nam vốn đều đi nước ngoài như đi chợ Đồng Xuân, có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có bằng cấp nước ngoài, lại không biết gì về Code of Conduct và Dress Code của ngôi trường mà các vị ắt đã có đến “nhận” bằng cấp, các cơ quan hàn lâm mà quý vị ắt đã có đến họp hành “công vụ” bằng tiền thuế của nhân dân, nên phát biểu linh tinh trật lấc về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội thì ắt các vị ấy thuộc một hoặc hơn một những loại sau: (a) học viên mất nết vô kỹ luật đi chơi nhiều hơn đến lớp nhưng chưa từng bị kỹ luật vì học viện ngoại chuyên cấp văn bằng “hữu nghị” cho “chức sắc tiềm năng làm lãnh đạo” của Việt Nam, (b) học viên đút đầu vào học viện đầu hàng chẳng thuộc danh mục các học viện/đại học hàng đầu, (c) học viên học quá giỏi  nên chỉ được chui đầu vào thực tập tại cơ sở hạng tai tiếng đầu hàng tức không thuộc danh mục các cơ quan/công ty danh tiếng hàng đầu.

Đã không đủ khôn ngoan che dấu sự thấp kém của mình, thay vì ngậm tăm đừng phê phán gì về “Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội” lại phô trương cái thấp kém đó trên mặt báo khiến di họa cho giới trẻ Việt Nam, các vị đã buộc tác giả bài viết này phải cứu nguy xã tắc bằng cách làm phiền những bậc thức giả khi diễn giải dài dòng các vấn đề cực kỳ sơ đẳng sau mà tất cả các bậc thức giả thực thụ của giới tinh hoa thực thụ đều đã tường tỏ vì đã thực sự “có đi làm việc đàng hoàng”, trong khi tất cả những ai đã thực sự “muốn đi làm việc đàng hoàng” đều đã tỏ tường từ lúc còn ở nhà trường.

1- Nội Dung Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct ở Âu Mỹ

Tại mỗi công ty/cơ quan/tổ chức, Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức Code of Conduct (còn được gọi là Code of Ethics hoặc Ethical Code, được phổ biến dưới tên gọi Code of Business Conduct hoặc Governance & Ethics) là bộ quy tắc phải có, không thể tách rời khỏi hoạt động của công ty/cơ quan/tổ chức, nhằm nêu bật các giá trị, đạo đức làm việc, mục tiêu, trách nhiệm, và danh tiếng của cơ quan, xây dựng nên văn hóa cơ quan, cũng như phản ảnh phong thái làm việc của công ty/cơ quan/tổ chức ấy.

Các công ty/cơ quan/tổ chức khi đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử là nhằm để nhân viên/viên chức/công chức quán triệt các kỳ vọng của lãnh đạo đối với tập thể nhân lực, cùng những chuẫn mực về phong cách làm việc mà tập thể phải bảo đảm đạt được trong làm việc hàng ngày tại công ty/cơ quan/tổ chức và tại bất kỳ đâu dưới danh nghĩa nhân lực của công ty/cơ quan/tổ chức, đồng thời cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn phải xử trí ra sao trong những tình huống đạo đức nhất định.

Việc tham khảo các Code of Conduct của các công ty quá lớn như Roche, Kraft, Verizon, Colgate-Palmolive, Baylor, Johnson&Johnson, Boeing, hoặc của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tuân thủ ICoCA), và của bất kỳ công ty quá nhỏ nào của Âu Mỹ, là cần thiết cho các lãnh đạo cơ quan/doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nào ở Việt Nam chưa từng nhận biết về tầm quan trọng đối nội và đối ngoại của một Code of Conduct (không thể được đối tác nước ngoài xem trọng nếu bản thân đơn vị thiếu vắng Code of Conduct minh định chi tiết trên trang web và trong brochure của đơn vị) để hiểu biết thêm về quan niệm chung và khác của các công ty/cơ quan/tổ chức ấy, từ đó nắm bắt được những yếu tố trọng tâm nào được đưa ra làm kim chỉ nam cho lĩnh vực hoạt động và dịch vụ, tính liêm chính của từng cá nhân, sự liêm chính của công ty/cơ quan/tổ chức, quy trình tuyển dụng, tài sản công ty, tinh thần trách nhiệm, những tiêu chuẩn hành xử thích hợp đối với cơ quan/đối tác của cơ quan/khách hàng của cơ quan/các nhân viên khác của cơ quan, và sự tuân thủ toàn vẹn với ý thức rằng các hành xử khác đi sẽ ảnh hưởng không những đến hình ảnh cơ quan mà còn cả đến sự nghiệp của nhân viên tại cơ quan, toát lên từ Code of Conduct còn mạnh mẽ hơn những lời quảng cáo phóng đại đầy tốn kém trên truyền thông.

Các Code of Conduct có khi chỉ dài 1 trang giấy khổ A4, có khi đến gần 20 trang, nội dung có thể nêu cả – song không chỉ giới hạn bởi – các vấn đề như quan hệ trung thực với nhà cơ quan nhà nước, tôn trọng môi trường, minh bạch sổ sách và báo cáo,  không đem bí mật kinh doanh nội bộ ra giao dịch với bên ngoài, quan hệ với đồng nghiệp/công ty/khách hàng/cơ quan Nhà Nước/luật pháp/xã hội. Code of Conduct còn quy định cách ứng xử của cá nhân các lãnh đạo cơ quan đối với nhân sự cơ quan và các nội dung khác tương tự như những gì nhân viên phải tuân thủ, khiến chặn ngăn các hành vi không phù hợp và buộc lãnh đạo phải chịu trách nhiệm quản lý nhân sự tuân thủ Code of Conduct. Khi công ty/cơ quan/tổ chức phát triển mạnh, Quy Tắc Ứng Xử tức Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc của công ty/cơ quan/tổ chức có thể được được lồng ghép vào trong các thông điệp hoành tráng về sứ mệnh và giá trị của mình.

2- Vấn Đề Nước Ngoài

Nhân viên khi được tuyển dụng sẽ được yêu cầu nghiên cứu Code of Conduct của cơ quan và được yêu cầu ký tên xác nhận đã đọc và cam kết tuân thủ, biến chữ ký đó thành  văn bản thỏa thuận được trữ lưu trong hồ sơ nhân sự mang tính ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động, dựa vào đó các hình thức kỹ luật và/hoặc các biện pháp kiện tụng ra tòa án được tiến hành.

3- Vấn Nạn Việt Nam

Sự thiếu vắng các Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức không có bất kỳ sự cương tỏa nào minh bạch hóa minh định hóa trong nội bộ các công ty/cơ quan/tổ chức ở Việt Nam, đã làm phát sinh 7 vấn nạn thường thấy như (a) tác phong phục vụ khách hàng kiểu ta-là-chúa còn khách-hàng-là-hành-khất, (b) khẩu ngữ trong phục vụ khách hàng kiểu ban-ơn-mưa-móc hay thí-cô-hồn, (c) khẩu ngữ trong sinh hoạt nội bộ như bác/cháu/em/anh Hai/chị Tư luông tuồng phi chuyên nghiệp, (d) tác phong làm việc gia-đình-trong-công-sở, (e) nhận thức xem danh tiếng của công ty/cơ quan/tổ chức là vấn đề vĩ mô của công ty/cơ quan/tổ chức mà mình không phải là ốc vít trong guồng máy ấy, (f) tính quan liêu, (g) sự bất minh/bất liêm/bất chính/vô văn hóa đơn vị/vô giá trị cơ quan ở từ cấp lãnh đạo cho đến nhân viên.

Với tính cách trên-dưới của quyền lực quản trị cơ quan/doanh nghiệp Nhà Nước/tổ chức luôn kèm theo quyền lực chính trị – nghĩa là chỉ có đảng viên cấp cao mới được bổ nhiệm quản trị cơ quan/công ty/tổ chức – việc có một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trở thành điều bất khả thi do giới lãnh đạo – và giới “con ông cháu cha” – không chịu để mình bị kềm tỏa bởi cái gọi là Bộ Quy Tắc đầy minh bạch và quá cụ thể ấy.

Vấn nạn còn ở chỗ:

a) Ngay cả truyền thông chính thống lại tự hỏi không rõ Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội có “vi phạm quyền tự do cá nhân”, mà không hiểu rằng trong thế giới văn minh Âu Mỹ thì cái quyền tự do cá nhân chỉ được thực thi ở trong nhà riêng, trong cộng đồng riêng, và khi chẳng đang làm việc không riêng. Làm việc tại cơ quan là làm việc riêng ư? Đi bộ ngoài đường là sinh hoạt riêng trong cộng đồng riêng nên muốn ăn mặc sao cũng được mà không cần đếm xỉa đến người xung quanh ư? Ngay cả người xứ “mọi” cũng không ai phát biểu như truyền thông chính thống Việt Nam đối với Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội.

b) Trong khi đó một tên giáo sư nguyên viện trưởng một viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại khuyên nên xem Bộ Quy Tắc là “phần cứng” để “ai có điều kiện, có thể theo được thì cứ theo, còn nếu ai vì lý do nào đó mà không theo được, thì có thể dùng những quy tắc ấy để tham khảo”. Giống như một nhà sử học Việt Nam vừa không bao giờ có kiến thức về thế giới sử và các ngành sử đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển môn Sử ở Việt Nam và tỏa lan môn Sử ấy ra khắp bốn bể năm châu, viện nghiên cứu văn hóa Việt ắt cũng vừa không bao giờ có kiến thức về tương quan văn hóa thế giới và các ngành văn hóa đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển văn hóa Việt Nam và tỏa lan văn hóa Việt Nam ấy ra khắp năm châu bốn bể.

Quy tắc là để hoặc tuân theo hoặc bị trừng phạt nếu vi phạm (kỹ luật, sa thải hoặc tù tội).

Quy tắc không là thứ chỉ để tham khảo mà là thứ phải thuộc nằm lòng để tồn tại và phát triển cá nhân.

Quy tắc là sức mạnh của đơn vị.

Ông nguyên viện trưởng đã làm viện trưởng vì đi ngang đi tắt vô bài bản, bất chuyên nghiệp, kiểu đang áp dụng ở Ban Quản Lý Tây Nam Bộ nên ăn nói nghô nghê thất học về “phần cứng”.

C) Thế Nào Là Quy Định Trang Phục Dress Code

1- Khách Hàng:

Một trong những nội dung của bất kỳ Bộ Quy Tắc Ứng Xử nào là nâng lên cao nhất vị trí của “khách hàng” như một thứ đạo đức cao nhất của làm việc (business = làm việc, kinh doanh, v.v.).

Khách hàng bao gồm: khách hàng theo nghĩa đen và khách hàng theo nghĩa bóng.

Theo nghĩa đen, khách hàng là bất kỳ ai sử dụng dịch vụ của mình, cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho mình, mua hàng hóa của mình.

Theo nghĩa bóng, khách hàng là bất kỳ ai tìm đến mình, và với ý nghĩa này thì lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình cũng đều là khách hàng của mình.

Khách hàng là vua. Vì thế, khi tiếp khách hàng thì mình phải cúc cung tận tụy y như nhau dù đó là lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình, nhân viên cấp dưới của mình, hay khách đến từ bên ngoài.

Do khách hàng là vua, sự cúc cung tận tụy của mình là chính, và trang phục của mình là quan trọng. Đó là lý do Bộ Quy Tắc Ứng Xử – nếu không có Bản Quy Định riêng và rời về trang phục gọi là Dress Code – sẽ kèm theo các nội dung liên quan đến trang phục.

2) Đừng Đùa Với Lửa Dress Code:

Vào Tháng 7 năm nay, tại Anh Quốc, biên tập viên Lauren Tuck của Yahoo! Style có đưa tin về việc một nhóm nữ sinh viên thực tập bị đuổi khỏi nơi thực tập vì vi phạm Dress Code. Họ bị triệu tập vào phòng nhân sự, được yêu cầu phải nộp lại ngay thẻ ra vào (ID badge), thu dọn hết đồ đạc cá nhân, rồi rời khỏi khuôn viên công ty ngay lập tức.

Khi các nữ sinh này biện minh rằng họ đâu có được phân công tiếp khách hàng nên sao lại bó buộc phải tuân theo Dress Code, và sở dĩ họ mang dép đi làm dù biết Dress Code cấm, là vì họ thấy có một bà nhân viên cũng đi dép. Câu trả lời của lãnh đạo dành cho họ là: (a) nếu hiểu “khách hàng” chỉ là người từ bên ngoài đến thì rõ ràng các nữ sinh này không chuyên nghiệp và việc đào tạo ở đại học có khiếm khuyết, và (b) bà nhân viên ấy là cựu chiến binh bị mất một chân khi phục vụ quân đội Anh ở nước ngoài nên được ưu tiên mang bất kỳ loại giày dép nào có thể giúp người nhân viên khuyết tật ấy dễ dàng công tác hiệu quả nhất.

Sau bài blog trên Yahoo, nhiều người đã “comment” rằng công ty ấy đã xử lý thật tuyệt hảo (“the company handled it perfectly”), rằng cuộc sống thực sẽ có nhiều tàn khốc hơn vậy mà không giữ được mình theo các quy định giản đơn đối với trang phục thì phải bị loại thôi, v.v.

Không khuyết tật, không theo tôn giáo đặc thù, dứt khoát đừng hòng giỡn mặt với Quy Định Trang Phục Dress Code của nơi làm việc (“You better not be slacking with the dress code”).

3- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: định nghĩa rõ các loại trang phục

Từ sau những năm 1990, nhân viên ở Mỹ không còn được yêu cầu mặc trang phục trang trọng (formal attire) khi đến cơ quan làm việc, một phần do biến đổi khí hậu làm những tháng hè thêm oi bức, một phần do phát sinh những ngành nghề như công nghệ thông tin (mà sự giao tiếp với khách hàng – nội bộ và từ bên ngoài – gần như bằng không, và yêu cầu công việc đòi hỏi nhân viên ngồi tại chổ với máy vi tính suốt thời gian) và thị trường chứng khoán vốn liên tục tranh giành sôi động trên thực địa, v.v. Song, như đã nói, đã là nơi làm việc chuyên nghiệp thì không thể thiếu Dress Code; do đó, các loại trang phục được định nghĩa rõ hơn để phân định giữa nội hàm cho phép và không cho phép, bất kể Dress Code có thoáng hay không, khiến một thứ “trang phục trang trọng formal attire” duy nhất của ngày trước thì nay được phân biệt thật chi tiết chẳng hạn đối với nam nhân viên thành:

a) Trang Phục Dạo Phố Dân Sự (Street Wear): như áo thun ba lổ bỏ ngoài, quần đến gối, dép hay sandal. Cấm mặc khi đi làm.

b) Trang Phục Thường Nhật Dân Sự (Casual): như áo thun tay ngắn bỏ trong, quần dài, giày thể thao. Cấm mặc khi đi làm.

c) Trang Phục Thường Nhật Nhân Viên (Mainstream Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, quần tây dài vải thường, giày tây thoải mái.

d) Trang Phục Công Sở Bình Thường (Business Casual): áo sơ mi dài tay màu sáng hoặc sọc, bỏ trong, không cravat, quần tây dài, áo khoác jacket (không cùng màu với quần), giày tây. Đây là nội dung được ghi rõ nhất vì “bình thường” nghĩa là “bình thường để làm việc chuyên nghiệp” chứ hoàn toàn không có nghĩa là “bình thường bình dân vui chơi” thành áo có hình hoa văn màu sắc lòe loẹt theo kiểu thổ dân Hawaii hoặc đi dép lê khi đứng báo cáo, thuyết trình.

e) Trang Phục Công Sở Tươm Tất (Smart Business Casual hoặc Executive Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, đeo cravat, quần tây dài sậm màu, giày tây đen có vớ đen. Trong các loại “thoải mái tại công sở” (tức “casual”) thì Smart Business Casual thường được giới lãnh đạo thích nam nhân viên mặc hơn là Business Casual ngay cả khi Business Casual được cho phép trong Dress Code.

f) Trang Phục Đối Ngoại (Business Formal hay Business Attire): sơ mi dài tay, bỏ trong, đeo cravat, nguyên bộ veston hai phần (áo “vét” jacket và quần cùng loại vải cùng màu) sậm màu, giày tây đen, nâu sậm hoặc xanh đen, vớ đen.

g) Trang Phục Họp Hội Đồng Lãnh Đạo (Boardroom Attire): sơ mi trắng dài tay, cravat thanh lịch, bộ veston ba phần (áo “vét” jacket, quần tây dài, và áo “ghi-lê” waitcoat), giày tây đen có vớ đen.

h) Trang Phục Dự Lễ Nghi (Black Tie): áo sơ mi tuxedo kết ren ở ngục, thắt nơ đen, nguyên bộ veston ba phần đen, giày tây đen có vớ đen.

Tất nhiên,

– Không nơi làm việc nào chấp nhận cho nhân viên mặc Street Wear hay Casual vào cơ quan làm việc;

– Dress Code tùy cơ quan sẽ ghi rõ cho nam nhân viên được mặc Business Casual (khá thoải mái hơn) hay phải là Smart Business Casual (vẫn thoải mái nhưng trang trọng hơn);

– Dress Code có thể không ghi gì về Business Formal vì đây là trang phục tự động mặc bởi cấp quản lý, tự động mặc bởi dân đối ngoại chuyên nghiệp, và tự động mặc bởi bất kỳ nhân viên nam nào nghiêm túc muốn được thăng tiến.

– Dress Code sẽ không ghi về Black Tie vì văn hóa Âu Mỹ được mặc định là tất cả người nam đều hiểu rằng khi thay mặt công ty dự một lễ nghi trọng đại họ phải mặc bộ Black Tie .

– Dress Code có thể quy định trang phục thế nào trong các ngày làm việc và trong các ngày cuối tuần (“dress down day”) nếu phải làm việc tại công ty. Trong những ngày “dress down day”, các trang phục jeans, giày các loại, đều được cho phép miễn phải lành lặn, nếu công việc không gồm tiếp khách, và phải luôn ghi nhớ rằng áo nữ kiểu “thun dây” (tank/halter tops) và trang phục thun bó chạy bộ jogging dù kiểu nam hay nữ đều không được phép mặc vào làm việc tại công ty trong ngày cuối tuần/ngày lễ nghĩ.

4- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: Những Vấn Đề Quan Tâm Chính

Dựa theo các chi tiết nổi bật nhất của Bản Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội, những điểm sau như nêu trong các Dress Code ở Âu Mỹ được liệt kê dưới đây cho độc giả Việt Nam tham khảo với lưu ý rằng “khách hàng luôn là vua”:

a- Xâm Mình / Xiên Xỏ Mình (Tattoos & Piercings)

Xâm mình hay xiên mình là một thứ văn hóa mang tính sở thích và tự do cá nhân. Không bao giờ có Dress Code nào lại nghiêm cấm nhân viên xâm mình/xiên mình. Tuy nhiên, Dress Code có quyền quy định nhân viên có xâm mình/xiên mình phải che dấu các xâm mình/xiên mình ấy trong giờ làm việc. Lý do đơn giản: khách hàng là vua, và có thể có những khách hàng không thiện cảm với người xâm mình/xiên mình, có thể có khách hàng có chấn động tâm lý đối với những hình xâm/kiểu xiên đặc thù, và có thể con nhỏ tháp tùng của khách hàng khiếp sợ trước những hình xâm/kiểu xiên đặc thù ấy.

b- Nước Hoa (Perfume & Cologne)

Việc sử dụng nước hoa là một vấn đề quan trọng vì hương nước hoa đậm đặc có thể gây dị ứng khứu giác của khách hàng hoặc đồng nghiệp. Tốt nhất là sử dụng với lượng thật ít hoặc không sử dụng. Các nhà tư vấn Âu Mỹ còn cảnh báo rằng nhà tuyển dụng có toàn quyền từ chối tuyển dụng những ứng viên nào sử dụng nước hoa đậm đặc – thậm chí loại bỏ luôn ứng viên nào sử dụng đúng loại nước hoa mà bạn gái của nhà tuyển dụng đã dùng song người bạn gái ấy đã bội phản gây sốc nơi nhà tuyển dụng ấy – mà không vi phạm pháp luật về “kỳ thị”.

Tương tự, việc trang điểm đậm cũng được khuyến cáo nên tránh vì “khách hàng là vua” chứ không phải “ta đây là thượng đế”.

c- Hở Hang (Too Revealing Skin)

Trong khi có sự thông cảm cho nhân viên làm việc mùa Hè nóng nức không cần phải mặc veston mà chỉ cần mặc áo sơ mi ngắn tay cài đủ khuy, Dress Code lại nghiêm ngặt đối với việc nhân viên ăn mặc hở hang (vai, ngực, bụng, đùi), mỏng manh.

d- Trang Sức (Bling)

Đối với đa số công ty, việc đeo trang sức không là điều không nên, nếu như số lượng   vừa phải.

e- Jeans

Dù được dùng trong một số nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp cao như trong các lao động chân tay và các ngành kỹ thuật cơ khí, jeans không bao giờ được chấp nhận đối với những nhân viên ở các chức danh lãnh đạo và đối với nhân viên nói chung tại nơi làm việc trong giờ làm việc. Nói chung, các Dress Code xem mặc trang phục jeans như một điều kiêng kỵ tại nơi làm việc.

f- Trang Phục

Nhăn nheo: Trang phục không được nhăn nheo do không được ủi thẳng thớm vì sẽ được các Dress Code xem như biểu hiện của sự kém chuyên nghiệp của nhân viên, gây ấn tượng nơi khách hàng rằng nhân viên đã không có khả năng giữ cân bằng giữa làm việc và cuộc sống riêng, không quản lý thời gian tốt, không quan tâm đến thẩm mỹ chung, không quan tâm đến cảm nhận của khách hàng, và không quan tâm đến cuộc sống bản thân.

Trang Trọng: Khi dự các buổi hội họp quan trọng, các hội nghị, những triển lãm thương mại, hay gặp gỡ khách hàng, hầu hết công ty nào cũng muốn nhân viên mặc trang phục Business Formal.

Mũ (Headwear): Dress Code có thể quy định nhân viên không được đội mũ tại văn phòng trong giờ làm việc như là fan hâm mộ một đội bóng nào đó. Tuy nhiên, nhân viên là tín đồ một tôn giáo nào đó như nam nhân viên theo Đạo Sikh của người Sikh Ấn Độ có quyền đội turban, hay nữ nhân viên Đạo Hồi có quyền đội hijab, al-amira, shayla, khimar, và chador. Tuy nhiên đối với nữ ứng viên theo Hồi Giáo mang mạng che mặt  niqab hay trùm đầu burkas thì cần có giải thích rõ về quy định nhận dạng trên thẻ ra vào nên không thể được chấp nhận để tránh các khiếu kiện kỳ thị tôn giáo chốn pháp đình.

Giày: Dress Code cũng có thể quy định về loại giày, màu giày, cho nam và cho nữ nhân viên khi làm việc tại cơ quan.

D) Giới Trẻ Việt Nam Khôn Ngoan

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa đọc đến đoạn “Đó là quyền tự do cá nhân của mỗi người. Dù là công chức Nhà nước thì họ cũng là công dân nên họ vẫn phải có những quyền cơ bản của công dân chứ” của một nhà văn nọ có tên trong “cẩm nang tìm người phỏng vấn” của các nhà báo truyền thông chính thống, thì có thể bật nói ngay rằng: “Thôi đi ông! Nhà văn là chuyên gia của thể loại tưởng tượng Fiction, biết quái gì về cuộc sống thực và pháp luật thiệt! Ai muốn thi thố quyền cơ bản của công dân thì hãy thi thố ở nhà, còn vào một công ty là thực hiện chuyên nghiệp nhất một ràng buộc hợp đồng lao động nghiêm ngặt nhất của những công dân trưởng thành trong một thế giới sinh nhai có thật mà các nội quy và quy định chính là quyền cơ bản đặc thù dành riêng cho nhân viên chứ người ngoài đường hoàn toàn không có cái đặc quyền tuân thủ đó.”

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa nghe tin về một quy định nào đó mới được chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương ban hành thì hoặc (a) sử dụng kiến thức sẵn có để nghiệm ra tính đúng đắn của các quy định đó, hoặc (b) kiếm tìm ngay các thông tin để so sánh với những tương tự ở nước ngoài, hoặc (c) đề nghị tác giả bài viết này giải đáp thắc mắc.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ đã biết rằng không bao giờ có cái “tự ý thức” (qua câu nói của nhà văn lếu láo: “tôi nghĩ bản thân mỗi công chức, viên chức cũng tự ý thức được phải ăn mặc thế nào khi đi làm việc, khi tiếp xúc với công dân cho phù hợp”) tự nhiên có nơi công dân bất kỳ siêu cường quốc nào, mà cái “tự ý thức” đó chỉ có khi “tự ý” tuân theo những quy định cực kỳ nghiêm ngặt sẵn có của quốc gia. Không có các quy định, quy tắc đầy uy lực trừng phạt thì sẽ không tạo ra tâm lý lo sợ vi phạm, không có tâm lý lo sợ vi phạm thì không có tâm lý tuân thủ, không có tâm lý tuân thủ thì không đời nào có tinh thần tự giác. Ý thức không từ trên trời rơi xuống như món quà Trời ban cho người này nhưng keo kiệt không bố thí cho người khác. Ý thức luôn đến từ một vô thức kết tụ từ sự kinh qua trải nghiệm nhuộm màu kinh sợ.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ không những không đọc các thông tin “chùa” trên không gian mạng mang tính chống đối mà còn biết miệt thị báo chí truyền thông chính thống nào không thể giải đáp thắc mắc mà chuyên đặt câu hỏi trống không để cùng hòa nhập vào số lượng độc giả nào mà báo chí hy vọng sẽ cùng không hiểu hoặc sẽ cùng không đồng tình – tức cùng chống đối – với các quy định ấy.

E) Đảng Cộng Sản Việt Nam Khôn Ngoan

Chính quyền Hà Nội đã đi đầu trong đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử chung của các cơ quan công quyền tại Hà Nội, biến Hà Nội thành thành phố đầu tiên đẳng cấp thế giới về nhận thức đối với tầm quan trọng tự thân của một Bộ Quy Tắc Ứng Xử.

Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội sẽ thúc đẩy mỗi Sở, mỗi doanh nghiệp Nhà Nước, của Hà Nội tiến đến thành lập các Code of Conduct và Dress Code cho chính mình.

Nếu các Code of Conduct và Dress Code của các công ty lớn nhỏ của Âu Mỹ để gia tăng tính chuyên nghiệp và giá trị của công ty ấy cũng như tạo sự tin tưởng nơi khách hàng, thì Code of Conduct của Hà Nội sẽ đẩy nhanh tiến trình cải tổ hành chính của Hà Nội, đưa nội hàm bình thường của “Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc” trở thành một nội hàm mang tính bình thường, tự nhiên, để rồi sau một thập niên sẽ là thứ vốn có, sẵn có của con người Hà Nội văn hiến văn minh thanh lịch và kỹ luật cao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khôn ngoan khi khuyến khích và chuẩn thuận việc ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính quyền Hà Nội, qua đó đã (a) giúp làm lộ diện lỗ hổng kiến thức của giới tinh hoa, (b) giúp làm lộ diện các phản ứng mang tính công thức chung rất vô dụng của báo giới chính thống, (c) giúp toàn quốc trong cả hai khối quốc doanh và tư doanh quan tâm đến thế mạnh tự thân từ Code of Conduct khiến sự đoan chính nhiều và tiêu cực ít trong hoạt động kinh doanh sẽ dần được dựng xây theo năm tháng, và (d) giúp giới trẻ quan tâm đến các giá trị đủ đầy của tính chuyên nghiệp từ các Code of Conduct và Dress Code để trở thành công dân chuyên nghiệp và đạo đức.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

Tham khảo:

Fiction & Non-Fiction: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Sự Thương Hại Dành Cho “Chuyên Gia Chuyên Nghiệp” 20-11-2016

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự 27-8-2014

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng 08-02-2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bậc Vĩ Nhân Đã Đấm Vào Mặt Hoa Kỳ Ngay Tại Liên Hợp Quốc

Tiến Sĩ Fidel Castro: Chất Thử Của Bất Tài Và Bần Tiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-11-2016

fidel2fidel1

A- Vấn Nạn Truyền Thông

Fidel Alejandro Castro Ruz là nạn nhân của vấn nạn truyền thông.

Báo chí Âu Mỹ luôn miêu tả một chiều về ông như một “nhà độc tài”. Danh từ “nhà độc tài” là thứ ngôn từ thuộc độc quyền sở hữu của truyền thông Âu Mỹ.

1) Ý Nghĩa Thứ Nhất Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những…“nhà độc tài” mà thiên hạ trên thế giới đã tự động gọi sẵn như thế trước đó, chẳng hạn “nhà độc tài” Adolf Hitler của Đức Quốc Xã, “nhà độc tài” Benito Mussolini của Phát xít Ý, hay “nhà độc tài” Francisco Franco của Tây Ban Nha, và “nhà độc tài” Fulgencio Batista của Cuba mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này chỉ gói gọn trong một từ duy nhất: tàn bạo.

2) Ý Nghĩa Thứ Hai Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những nhà lãnh đạo nào không thuộc khối “Thế Giới Tự Do”, từ đó có các “nhà độc tài” mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này là … không theo thể chế dân chủ Âu Mỹ và chẳng tôn trọng tư tưởng Âu Mỹ dành cho nhân quyền. Thế là các lãnh đạo các quốc gia “phe” cộng sản bị gọi là “nhà độc tài”. Còn các “nhà độc tài” chính hiệu, hàng hiệu, có cầu chứng tại tòa thương mại thương hiệu thương quyền quốc tế đàng hoàng, có tàn bạo khát máu y như các đấng của Ý Nghĩa Thứ Nhất, nhưng thuộc phe Thế Giới Tự Do thì truyền thông tẩy xóa mất tiêu mất biệt mất tích cái cụm từ “nhà độc tài”, thí dụ như Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, Park Chung Hee của Đại Hàn Dân Quốc, Suharto của Indonesia, Lý Quang Diệu của Singapore, và Ferdinand Marcos của Philippines, cùng các vị khác ở Trung Đông, v.v. Oái oăm ở chỗ truyền thông gọi Fulgencio Batista của Cuba là “nhà độc tài” trong Ý Nghĩa Thứ Nhất nhưng khi Fidel Castro đánh đuổi Fulgencio Batista ra khỏi Cuba thì truyền thông lập tức gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” theo Ý Nghĩa Thứ Hai, khiến kẻ đem Cuba làm tôi mọi cho Mỹ và người giải phóng Cuba khỏi sự tôi mọi ấy đều là “nhà độc tài” cả.

Dần dà, thấy đàn em trong giới truyền thông tiểu quốc lạm dụng chữ “độc tài” để gọi lung tung, thí dụ như Cu Kiều gọi cá nhân Tiến Sĩ Fidel Castro là “nhà độc tài” (dictator), còn Việt Kiều thì gọi cả đất nước Việt Nam là “độc tài Đảng trị” khiến truyền thông Âu Mỹ khó chịu khó ăn khó nói với Việt Nam là xứ sở mà họ rất kiêng sợ kiêng dè kiêng kỵ nên họ – mà cụ thể như tờ Telegraph của Anh Quốc – gọi Fidel Castro là “tên bạo chúa” (tyrant), với hy vọng Cu Kiều sẽ gọi y như vậy, còn Việt Kiều có khi sẽ chế ra từ mới chẳng hạn như “bạo chúa Đảng” chăng.

3) Vấn Nạn: Như vậy, ở Việt Nam các sĩ phu “nhà giáo Hán-nho” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương nên chỉ thèm đi du học (Phong trào Đông Du), không thèm đi lao động lao lung lao nhọc lao khổ làm thợ thuyền “tìm đường cứu nước”, ra mặt oán giận Ông Hồ khi thấy Ông Hồ cũng là Sĩ “nhà giáo Hán-nho” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông. Đến khi mấy ông không thuộc Sĩ-Nông-Công-Thương mà là quân nhân như tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu độc tài độc quyền nắm quyền trị quốc thì mấy Sĩ nhà ta ở Việt Nam Cộng Hòa mới hoặc nín thinh hoặc hình thành các nhóm “nhân sĩ dân biểu đối lập” chống Nguyễn Văn Thiệu, thậm chí chống luôn cả Mỹ vì oán giận Mỹ không xem trọng Sĩ.

Như vậy, ở Âu Mỹ các sĩ phu “luật sư” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương và các Sĩ khác, nên ra mặt oán giận Ông Castro khi thấy Ông Castro là Sĩ  “luật sư” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông.

Hậu quả là truyền thông Âu Mỹ của tự do dân chủ nhân quyền văn minh đã luôn dùng các từ ngữ miệt thị dành cho Fidel Castro.

Còn truyền thông Việt thì lúc Fidel Castro về cõi vĩnh hằng tải đăng rất nhiều bài về những gì tốt đẹp mà Fidel Castro đã dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, tầm vóc kỳ vĩ của con người vĩ đại ấy đối với toàn nhân loại trên bình diện thế giới sử, uy thế, uy tín, uy lực, và thần uy, lại chưa hề được nói đến, trở thành lý do cho bài nghiên cứu này về ông được hình thành.

B- Quả Đấm Của Tiến Sĩ Fidel Castro

fidel3

Trong phiên họp ngày 26-9-1960 tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, Fidel Castro đã lập kỷ lục với bài phát biểu ứng khẩu dài nhất lịch sử Liên Hợp Quốc: 4 giờ 29 phút không ngưng nghỉ, được đánh giá như một bản anh hùng ca.

Fidel Castro nói về cuộc cách mạng ông tiến hành cách đó 20 tháng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Cuba là một thuộc địa của Mỹ nhưng Mỹ vẫn cho mình cái quyền thúc đẩy và thúc giục sự lật đỗ chính quyền cách mạng của Cuba. Castro cũng phản đối việc ông và đoàn đại biểu Cuba bị gây khó khăn, bị phân biệt đối xử và bị miệt thị tại New York kể cả bị đuổi ra khỏi tất cả các khách sạn không được cho thuê cư trú khi đến Mỹ họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc.

Đặc biệt, Fidel Castro tuyên bố rằng quan hệ của Cuba với Liên Xô là đúng đắn và là quyền tự do của Cuba, rằng chính phủ “đế quốc” Mỹ có thể sẽ xâm lược Cuba, và rằng Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy là “một thằng triệu phú thất học và đại ngu” (“an illiterate and ignorant millionaire”).

Fidel Castro đã không chống Mỹ bằng những bài báo, những tiểu luận, những tác phẩm hay truyền đơn.

Fidel Castro đã sử dụng diễn đàn chính thức của Liên Hợp Quốc trên đất Mỹ để vung nắm đấm vào mặt chủ nghĩa đế quốc Mỹ, vạch trần bộ mặt thật Mỹ, xưng tụng vai trò của Liên Xô, khẳng định chủ quyền cương thổ quốc gia Cuba, và cảnh báo với thế giới về nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

fidel4

Tiến Sĩ Fidel Castro đã đường đường chính chính vào tận hang ổ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ với tư cách lãnh đạo tối cao của Cuba, quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc từ ngày 24-10-1945, và đã trong nhiều lần đến dự họp với Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đều sử dụng diễn đàn này để ra sức hùng biện miệt thị Hoa Kỳ suốt nửa thế kỷ qua.

Tiến Sĩ Fidel Castro cùng với Cuba đã chứng minh hai điều rõ ràng rằng (a) Mỹ đã thất bại trước Cuba trong hơn 50 năm, và (b) trong khi Cuba là quốc gia có chủ quyền thành viên Liên Hợp Quốc từ năm 1945 thì cũng từ năm 1945 đến tận ngày nay Mỹ vẫn không hề dám công nhận ngoại giao chính thức với Đài Loan mà Mỹ xem như đồng minh của mình khiến Đài Loan vẫn không thể nào trở thành quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc. Dùng sức mạnh “lấy thịt đè người” để công khai chống lại một quốc gia bé nhỏ như Cuba suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Liên Xô – Nga, nhưng lại hèn hạ lén lút bắt tay với một “lãnh thổ” bé nhỏ như Đài Loan suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Trung Quốc mà Mỹ khiếp sợ: đó là tư cách của nước lớn Hoa Kỳ mà chỉ có Tiến Sĩ Fidel Castro mới là người duy nhất trên thế gian này kiên trì giáng bao nắm đấm dồn dập vào mặt Mỹ.

C- Lời Tiên Tri Của Tiến Sĩ Fidel Castro

Có thể người Việt Nam khi nói về sự việc không bao giờ xảy ra thường dùng thành ngữ “khi nào Mặt trời mọc ở Hướng Tây thì…”

Nhưng khi Fidel Castro từng tuyên bố năm 1973 rằng

fidel5

thì tuyên bố ấy lại không là sự ví von cho điều bất khả mà mang tính tiên tri với sự ứng nghiệm: Hoa Kỳ có Barack Obama là Tổng Thống người gốc Phi vào thời điểm cuối nhiệm kỳ đã có những bước tháo gỡ một số lịnh cấm vận chống Cuba và sang thăm Cuba tháng 3 năm 2016, đòng thời cũng trong năm 2016 này Đức Giáo Hoàng Francis là người nước Nam Mỹ Argentina đã sang thăm Cuba vào tháng 9

fidel6

Trong khi đó thì đối thủ đầu tiên và trực tiếp của Fidel Castro là Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy chỉ để lại một lời tuyên bố rằng

fidel7

cho dù tuyên bố ấy bị truyền thông Mỹ vội vàng dán nhãn phủ nhận tính xác thực với kiểu gán cho đó là một “thuyết âm mưu” bằng một lý luận rất trẻ con rằng nếu đó đích thị là lời Tổng Thống nói thì tại sao không báo nào của Mỹ dám đăng tin xác nhận sau đó cả. Việc duy nhất mà J.F. Kennedy đã làm để giúp đỡ người nông dân nghèo khổ Cuba là ra lịnh cho quan chức thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc ngay lập tức nhập khẩu cho ông 1.200 điếu xì-gà Cuba và khi hàng về đến nơi thì phải báo ông hay tin để ông ngay lập tức chìa ra lệnh cấm vận Cuba đã ký sẵn tháng 02-1962 với lý do nêu sẵn: Cuba đã không chịu chuyển dịch nền dân chủ và không cải thiện tình hình nhân quyền. Việc cấm vận Cuba khiến nước Mỹ thiệt hại mỗi năm gần 5 tỷ USD và người dân Mỹ mất 6.000 việc làm, mà tính đến 2013 thì Liên Hợp Quốc đã 22 năm liên tục ra Nghị quyết chống lại lịnh cấm vận Cuba của Mỹ mà cũng ngần ấy năm chỉ có hai nước chống lại nghị quyết ấy là Mỹ và Israel.

Lời phát biểu của Fidel Castro năm 26-9-1960 tại Liên Hợp Quốc về cuộc xâm lăng Cuba có thể có từ Mỹ, đã dẫn đến một sự thật là ngày 17-4-1961 Mỹ đã dùng các chiến hạm đưa 1.200 Cu Kiều lưu vong do Mỹ huấn luyện và trang bị vũ khí tận răng ào ạt đổ bộ vào Vịnh Con Lợn của Cuba. Tuy nhiên, “đại cuộc vùng lên của nhân dân Cuba hưởng ứng đoàn quân giải phóng lật đổ chế độ của tên độc tài khát máu Fidel Castro” đã không hề xảy ra như Mỹ mong đợi, quân đội ít quân số của Cuba đã phản công thần tốc loại hơn 100 quân giặc ra khỏi vòng chiến đấu và bắt cầm tù trên 1.000 tên, còn không quân bé nhỏ với vài ba chiến đấu cơ cổ-lổ-xỉ của Cuba tấn công đánh đắm tất cả các tàu hậu cần của quân xâm lược khiến ngay cả cái trò Con Heo đó cũng làm không nên cơm nên cháo gì sất. Và để được cho phép gởi các phi cơ dân sự DC6 bay sang Cuba nhận lại hơn 1.000 tù hàng binh Cu Kiều về Mỹ kịp đón Giáng Sinh 1962, Mỹ đã phải chấp nhận chuyển giao trước cho Cuba số lương thực chất lượng cao và thuốc men đặc hiệu trị giá 53 triệu USD.

Lời tiên tri của Fidel Castro đã đúng: 55 năm Mỹ cấm vận Cuba vẫn không làm Cuba sụp đổ.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ chỉ nhận được mỗi sự đồng tình của Israel đối với lịnh cấm vận ấy.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ buộc phải xét dến các bước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cuba.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ đã phải tìm đến Cuba với một Cuba như vốn là chứ không phải một Cuba lẽ ra phải là.

D- Phong Cách Đại Chủ Nhân Thế Giới

Nếu chỉ tính từ thời điểm Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy ký ban hành lịnh cấm vận Cuba cho đến tháng 11-2016 thì Fidel Castro đã ngạo nghễ sinh tồn vượt qua 638 cuộc ám sát “chính thức” của CIA Mỹ, ngắm nhìn thế sự bão tố xoay vần đổ ập lên đầu 96 vị nguyên thủ các cường quốc thân Mỹ – mà trong số các vị này nhiều người tái đắc cử từ 2 đến 5 nhiệm kỳ liên tiếp hoặc không liên tiếp – gồm 10 Tổng Thống Mỹ (John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barack Obama), 11 Thủ Tướng Anh (Harold Macmillan, Sir Alec Douglas-Home, Harold Wilson, Edward Heath, James Callaghan, Margaret Thatcher, John Major, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron, và Theresa May), 8 Thủ Tướng Đức (Konrad Adenauer, Ludwig Erhard, Kurt Georg Kiesinger, Willy Brandt, Helmut Schmidt, Helmut Kohl, Gerhard Schröder, và Angela Merkel), 9 Tổng Thống Pháp (Charles de Gaulle, Alain Poher, Georges Pompidou, Alain Poher, Valéry Giscard d’Estaing, François Mitterrand, Jacques Chirac, Nicolas Sarkozy, và François Hollande), 23 Thủ Tướng Ý (Fernando Tambroni, Fanfani, Giovanni Leone, Aldo Moro, Giovanni Leone, Mariano Rumor, Emilio Colombo, Giolio Andreotti, Francesco Cossiga, Amaldo Forrlani, Giovanni Spadolini, Giovanni Goria, Ciriaco De Mita, Giuliano Amato, Carlo Azeglio Ciampi, Silvio Berlusconi, Lamberto Dini, Romano Prodi, Massimo D’Alema, Giuliano Amato, Mario Monti, Enrico Letta, và Matteo Renzí), 11 Thủ Tướng Tây Ban Nha (Francisco Franco, Luis Carrero Blanco, Torcuato Fernández-Miranda, Carlos Arias Navarro, Fernando de Santiago, Adolfo Suárez, Leopoldo Calvo-Sotelo, Felipe González, José Maria Aznar, José Luis Rodriguez Zapatero, và Mariano Rajoy), 13 Thủ Tướng Israel (David Ben-Gurion, Levi Eshkol, Yigal Allon, Golda Meir, Yitzhak Rabin, Menachem Begin, Yitzhak Shamir, Shinon Peres, Yitzhak Shamir, Benjamin Netanyahu, Ehud Barak, Ariel Sharon, và Ehud Olmert), và 11 Thủ Tướng Canada (John G. Diefenbaker, Lester B. Pearson, Pierre Elliott Trudeau, Charles Joseph Clark, John Turner, Brian Mulroney, Kim Campbell, Jean Chrétien, Paul Martin, Stephen Harper, và Justin Trudeau).

Trừ Israel là quốc gia hèn hạ do là quốc gia duy nhất luôn bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc ủng hộ Mỹ duy trì cấm vận chống Cuba, các cường quốc Âu Mỹ khác dù nắm binh quyền trong khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO dưới ngọn cờ thống soái của Hoa Kỳ vẫn luôn bày tỏ sự tôn kính và thân tình với cá nhân lãnh tụ Fidel Castro, trong đó có Hoàng Đế Tây Ban Nha Juan Carlos, Thủ Tướng Tây Ban Nha Felipe González, các Tổng Thống Pháp François Mitterrand và François Hollande, v.v. và v.v.

Trong nhiều lần phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ở Hoa Kỳ, Fidel Castro luôn là nhà hùng biện kiệt xuất mà các ứng khẩu nảy lửa hùng hồn dài nhiều giờ của ông đã trở thành một thương hiệu nỗi bật và quen thuộc của riêng ông. Tuy nhiên, tại Kỳ họp Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ ở Liên Hợp Quốc, khi đăng đàn phát biểu ngày 06-9-2000, Fidel Castro đã để lại một ấn tượng khác cũng rất bất ngờ. Để ngăn chặn việc Fidel Castro có thể tái chiếm lĩnh khống chế diễn đàn, Liên Hợp Quốc quy định mỗi nguyên thủ quốc gia sẽ chỉ có 5 phút phát biểu và dàn đèn xanh-vàng-đỏ trên mặt bục phát biểu sẽ chớp đèn báo hiệu thời gian – tất nhiên đèn vàng là báo tin sắp hết thời gian và đèn đỏ nghĩa là micro đã bị ngắt điện. Vị nguyên thủ 74 tuổi của Cuba đã điềm nhiên tung một khăn tay trắng dày to bản phủ trùm lên dàn đèn khiến toàn hội trường bật cười ầm lên thú vị. Fidel Castro bắt đầu vung nắm đấm tuyên bố kết tội các nước giàu đã mỗi ngày kiếm chác hàng tỷ USD trên xương máu của các nước nghèo, và kết luận: “Sự hỗn loạn ngự trị thế giới của chúng ta. Những thứ luật pháp mù lòa cứ như thể đó là điều thiêng liêng khả dĩ sẽ đem đến những thứ thái bình, trật tự, thịnh vượng và an ninh mà hành tinh của chúng ta xiết bao cần có vậy”. Fidel Castro kết thúc bài phát biểu ứng khẩu hùng biện của mình, thu lại chiếc khăn tay, để lộ ra dàn đèn đang nhấp nháy ánh đèn vàng, rồi nghiêm nghị đường bệ rời bục diễn giả trong tiếng cười vang ngưỡng mộ và vỗ tay tán thưởng vang dội của các nguyên thủ thế giới trước tài hùng biện, sự lém lỉnh khôi hài, cung cách chủ nhân diễn đàn, và độ chính xác độc đáo về thời gian của Fidel Castro gói gọn trong 300 giây ấy, ở nơi hội trường rộng lớn mà các nhà báo ghi nhận rằng vốn lúc nào cũng yên ắng đầy ngáy ngủ trong tất cả các phiên họp đông người.

 fidel8

E- Chất Thử Của Bất Tài & Bần Tiện

fidel9

Dựa vào phân tích đã nêu ở đầu bài, có thể nói không bao giờ có thứ truyền thông chính thống nào ra hồn trên toàn thế giới, (a) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc Âu Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, (b) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, và (c) vì rằng truyền thông chính thống các nước còn lại hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ ngu xuẩn tập trung vừa công kích chính phủ nước mình vừa giúp tái rao truyền các sứ điệp của truyền thông chính thống và phi chính thống hay bất chính thống hoặc vô chính thống của các cường quốc ý-thức-hệ-giống-Mỹ và các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ. Tất cả dẫn đến một thực tế là: người khôn ngoan trí hóa cao không bao giờ tin tưởng vào bất kỳ thông tin nào của bất kỳ cơ quan truyền thông chính thống nào của nước mình hay nước khác, ngay cả nếu các cơ quan ấy có loan báo rằng Tổng Thống Mỹ là người có quốc tịch Mỹ.

Đối với con người được 52 nước trao tặng tổng cộng 79 huân chương và huy chương  như Fidel Castro, thi chỉ cần đọc xem cơ quan truyền thông chính thống nói gì về ông là đủ để nhận ra ngay nó có đặc tính BT4 tức bất tài-bần tiện-bạo tàn-bại thất hay không, vì rằng chỉ có quân rác rưởi bất tài vô hạnh mới xúc xiểm bậc đạo cao đức trọng như Fidel Castro.

Khi Fidel Castro qua đời, bọn Cu Kiều ở Miami hân hoan nhảy múa vui mừng rộn rịp

fidel10

mà hành động của bọn chúng chỉ giúp nhân loại nhìn rõ hơn về ba sự cố sau có liên quan đến sự điên cuồng, bạo tàn, và thất bại của bọn Cu Kiều lưu vong:

1)  Cubana 455

Theo nhà báo Tim Padgett của tạp chí Time thì bọn cực đoan Cu Kiều ở Miami là thuộc phe chế độ độc tài tàn bạo Batista do Mỹ hậu thuẫn nhưng đã bị Fidel Castro đánh bại, biến thành bọn điên cuồng chống lại Fidel (anti-Castro fanaticism) tích cực hưởng ứng các âm mưu sát hại các lãnh đạo Cuba, thần thánh hóa các tàn bạo của Batista cùng đám lưu vong, thậm chí điên cuồng đăng tin reo hò mừng rỡ trên báo chí Miami khi bọn khủng bố đã cho nổ bom thành công phi cơ dân sự Cuba số 455 ngày 06-10-1976 giết chết toàn bộ 73 hành khách và phi hành đoàn 5 người, khoe rằng đó là đòn giáng nặng nề quý giá vào mặt Fidel Castro. Trong số tử nạn có 24 vận động viên thiếu niên Olympic 1975 của Cuba đang hân hoan kiêu hãnh đeo sẵn các huy chương vàng để chờ đợi phút giây về đến Cuba trong cuộc đón tiếp đầy vinh diệu tại phi trường với sự có mặt của Chủ tịch Fidel Castro đang trông ngóng đợi chờ. Bản tin chính thống Mỹ-Ca cho biết máu của họ đã loang đến tận bờ biển Canada. Hai quả bom từ chất nổ C4 được chế tạo bỡi tên Cu Kiều Luis Posada Carilles do Mỹ bảo trợ và bảo vệ tại Miami, Bang Florida. Việc chúng khui champagne ăn mừng tại Miami khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

2) Rubio-Cruz

Các tên Cu Kiều ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2016 thất bại Marco Rubio (Thượng Nghị Sĩ Bang Florida) và Ted Cruz (Thượng Nghị Sĩ Bang Texas) đều lên tiếng nguyền rủa Fidel Castro khi nghe tin ông qua đời. Chúng nhanh nhảu tuyên bố sẽ bắt tay với Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump để tư vấn cho ông này các biện pháp thích hợp để trừng phạt Cuba, lật ngược thế cờ của Barack Obama. Việc chúng hớn hở vừa ăn uống nhồm nhoàm vừa trả lời phỏng vấn khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

3) Elian Gonzales

 fidel10a

Sự bất tài bần tiện bạo tàn của bọn Cu Kiều lưu vong còn được nhắc đến đối với Sự Cố Elian Gonzales. Mẹ của bé 6 tuổi Elian Gonzales là Elizabeth Brotons Rodriguez đã bồng con lên tàu cùng tình nhân và 12 người khác vượt biển sang Mỹ. Xuồng máy bị đắm do bão tố ngày 21-11-1999 và các ngư dân Mỹ chỉ cứu được Elian cùng hai người khác. Elian được giao cho thân nhân của mẹ đang sống tại Miami. Cộng đồng Cu Kiều làm dậy lên phong trào ngăn cản Mỹ trao trả Elian lại theo yêu cầu của cha ruột của Elian tại Cuba là Juan Miguel Gonzalez Quintana. Các luận điệu cho rằng chính Juan đã tổ chức cuộc vượt biên cho vợ con đi trước và mình sẽ đi sau, do đó không có lý do gì để trao trả Elian về Cuba, mặc cho Juan lên tiếng cáo buộc vợ mình đã tự ý đem theo con trai khi lẻn bỏ ra đi cùng tình nhân. Một luận điệu khác là Cuba không phải là quốc gia tự do dân chủ nên bé Elian cần ở lại Hoa Kỳ thay vì về Cuba rồi trở thành thằng nhóc cộng sản tay sai Fidel Castro (grow up as a little Communist puppet of Fidel Castro). Tuy nhiên, Fidel Castro đã một mặt hỗ trợ Juan đấu tranh pháp lý trong đòi lại con mình, một mặt đập tan luận điệu trên bằng cách (a) xác nhận sẽ chấp nhận phán quyết bất kỳ của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ và (b) yêu cầu Mỹ cho phép Juan sang Mỹ ở chung với con trong suốt thời gian chờ có phán quyết của tòa án Mỹ nghĩa là Fidel không hề có hành vi giam chân Juan ở Cuba. Tháng 6 năm 2000, Tòa Án Tối Cao Mỹ ra phán quyết bác yêu cầu của thân nhân Elian cùng cộng đồng Cu Kiều tại Miami, và lực lượng phản ứng nhanh SWAT đã đột kích tấn công vào nhà của các thân nhân này để khống chế giải thoát Elian đang bị nhốt giấu trong tủ áo, giao trả Elian về với Bố Juan trở lại Cuba ngày 28-6-2000

fidel11

khiến bùng phát bạo động chống đối của Cu Kiều tại Miami

fidel12

Để giữ thể diện, bọn Cu Kiều lưu vong còn yêu cầu Chính phủ Mỹ buộc Fidel Castro không được sử dụng Elian làm công cụ tuyên truyền cho “chiến thắng” của Fidel, và đã rêu rao bôi nhọ Fidel “bội tín” khi thấy cậu bé Elian thường xuyên xuất hiện vui vẻ cạnh Fidel tại các lễ lộc trọng đại của Cuba

fidel13fidel14

Thế nhưng, cậu bé Elian sau đó còn “đỏ” hơn, khi trở thành đoàn viên thanh niên Cộng sản Cuba

fidel15

tốt nghiệp Đại Học Matanzas năm 2015, trở thành kỹ sư cơ khí và có vị hôn thê là Ilianet Escano đã yêu nhau từ thời học chung ở bậc trung học

fidel16

Nhiều phát biểu nổi tiếng của Elian về Fidel Castro thường được báo chí nước ngoài nhắc đến như:

– Tôi không thú nhận là tôi theo tôn giáo nào cả; nhưng nếu có theo đạo nào thì Thượng Đế chính là Fidel Castro. Ông như một con tàu biết rõ mình đưa đội ngũ thuyền viên đi đúng hướng.

 fidel16a

Fidel Castro đối với tôi như một người cha vậy.

– Đây là điều ít nhất mà một người như tôi có thể làm, tức người đã thọ ơn nhân dân này và thọ ơn cách mạng, đó là học hành chăm chỉ, và còn hơn thế nửa là dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bảo vệ nhân dân cùng cách mạng.

Khi Fidel Castro qua đời, Elian đã thổn thức: “Ông là Bố của tôi, giống như Bố tôi, tôi đã luôn muốn trình Ông mọi điều tôi đạt được, muốn Ông tự hào về tôi. Đó là cách tôi nghĩ về Fidel. Nếu tôi học được điều gì đó và muốn khoe với Ông, mà vẫn còn có nhiều thứ tôi muốn khoe với Ông quá…. Và khoe rằng tại một sự kiện khi Ông bảo Ông xem tôi như là một người bạn của Ông, đó là vinh dự của tôi…

Đạo đức, tư cách, ý chí, của Elian Gonzales đã tôn vinh sự cao thượng, cao trọng, cao vời của đạo đức, tư cách, và ý chí vì nước vì dân của Fidel Castro.

Bọn thượng nghị sĩ Cu Kiều như Mario Rubio và Ted Cruz khi nói lếu láo về sự điêu linh của Cuba dưới sự cai trị tàn bạo của nhà độc tài Fidel Castro, chúng đã hoặc ngu đần ngu xuẩn ngu si ngu dại, hoặc đã không có chút lòng tôn trọng tôn kính nào dành cho cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter

fidel17fidel18

người đã viết như sau, khi nghe tin Fidel Castro qua đời:

“ Rosalynn và tôi sẻ chia tình cảm cùng gia đình Ông Castro và nhân dân Cuba về sự qua đời của Fidel Castro. Vợ chồng tôi vẫn nhớ với lòng trìu mến đến những lần thăm Ông tại Cuba cũng như đến lòng yêu nước của Ông. Chúng tôi chúc các công dân Cuba hòa bình và thịnh vượng trong những năm sắp đến.”

Tất nhiên, nếu DailyWire cay cú vì cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đã luôn tôn kính và thân tình cùng Fidel Castro nên đã chua rằng Jimmy Carter đã “có những lời tử tế cho tên độc tài cộng sản tàn bạo Cuba Fidel Castro” (kind words to the brutal Cuban Communist dictator Fidel Castro) và thậm chí nhắc khéo là trước đây Jimmy Carter đã từng ôm “tên sát nhân chúa trùm khủng bố Yasser Arafat của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (arch-terrorist murderer PLO chief Yasser Arafat), thì bọn rơm rác như Cu Kiều Marco Rubio và Ted Cruz có sủa nhặng lên về Fidel Castro cũng là sự hòa âm điền dã cùng thế giới truyền thông chính thống bịnh hoạn trầm kha vậy.

F- Mộ Chí

Vĩnh biệt Tiến sĩ Fidel Alejandro Castro Ruz, nhà lãnh đạo duy nhất của toàn nhân loại đã luôn là sự thể hiện đồng bộ đồng loạt rõ nét nhất và cụ thể nhất của tính kiên cường, sự bất khuất, tài hùng biện bão tố ngay trong hang ổ quân thù

fidel19fidel20fidel21

tính cách hỏa diệm sơn, thái độ chủ nhân ông đầy ngạo mạn kiêu kỳ trước tất cả các kẻ thù của dân tộc, sức khỏe vô song

fidel22

cốt cách anh hùng xông pha xông xáo, mưu trí mưu lược, ý chí hùng anh, hình tượng chính xác của một “kẻ sĩ dấn thân” như Hồ Chí Minh

fidel23

chinh phục thế giới với sự tỉnh táo quyền biến khuôn mẫu signature Hồ Chí Minh trong trị quốc theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng sự lịch lãm cuốn hút đầy nam tính

fidel24

nụ cười thân tình thân hữu thân ái

fidel25

dành cho và đón nhận tình cảm từ các nguyên thủ tư bản Âu Tây, các vị anh hùng như Yasser Arafat, Nelson Mendela, Yuri Gagarin hay Tạ Thị Kiều

fidel26fidel27

và cách hành xử hóm hỉnh đầy lém lỉnh

fidel28

Tiến sĩ Fidel Castro, người cha tôn kính của dân tộc Cuba, đã luôn đồng hành cùng dân tộc Cuba vượt qua những gian nan không bút mực nào tả xiết

fidel29fidel30

và bậc vĩ nhân ấy đã an nghĩ chốn vĩnh hằng sau khi để lại cho nhân gian muôn đời sau một thí dụ điển hình nhất của đấng hùng anh

fidel31

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(Dual Language: English & Vietnamese – Song ngữ Anh – Việt )

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2016

Lúc trang mạng doanh nhân Việt Nam Emotino.com còn hoạt động, tôi có tham gia Anphabe.com của chủ nhân là Cô Thanh Nguyễn (xin lỗi tôi đã không nhớ tên đầy đủ của Cô trong khi hiện nay trang mạng của Cô cũng chỉ ghi “Thanh Nguyen”) sau khi nhận được lời mời của Cô vốn cũng là một gương mặt sáng giá trên Emotino.com.

Có lần tôi thấy có lời bình phẩm của một tên ngoại kiều làm việc tại Việt Nam (tôi biết thế qua nội dung ý kiến của hắn) trên LinkedIn.com và ngay cả trong “comments” của Anphabe.com để nhạo báng hoạt động của Anphabe trong “tổ chức mời diễn giả” trong nước hoặc ngoài nước, tôi đã viết nội dung sau cho Cô Thanh Nguyễn tại Anphabe và đồng thời trên Emotino. Tôi không viết comments mắng y ngay dưới comment của y, đơn giản vì sáu lý do gồm (a) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại đối đáp trực tiếp với tên mạt hạng bẩn dơ như y sao, (b) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại để lời comment của tôi bên dưới comment “hạ đẳng” của y sao, (c) tôi phải viết trên Emotino để nhiều người Việt Nam biết đến nội dung hơn, (d) tôi phải viết trên Emotino để người học tiếng Anh ở Việt Nam có dịp đọc bài viết tiếng Anh của tôi vốn hoàn toàn vắng bóng từ khi Yahoo! đột xuất ngu xuẩn đóng cửa 3600 , (e) tôi phải viết trên Emotino vì muốn các doanh nhân Việt Nam biết tôi vẫn hữu thủy hữu chung tức trước sau như một đối với bảo vệ danh dự quốc gia, và (f) đặc biệt tôi viết trên cả Anphabe cùng Emotino để Cô Thanh Nguyễn biết Cô – cũng như qua đó đến các doanh nhân doanh nghiệp khác sinh hoạt trên Emotino – biết sẽ được tôi bảo vệ về biện luận đối với các xúc xiểm của ngoại nhân.

Kính mời các bạn tham khảo nội dung nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt tiếp theo sau.

Kính cảm ơn đã quan tâm đọc và kính chào trân trọng.

Phần Nguyên Bản Tiếng Anh

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(originally posted on Emotino.com at http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen)

Hoang Huu Phuoc, MIB

14-4-2011

aaa-1aaa-2

Dear Ms Thanh Nguyen:

I have read a message from Mr David E giving a strong comment on your list of 100 speakers. Obviously his wordings are not strange to Vietnamese people and other people of nations suffering the racial discrimination from those coming from Western countries boasting about their super power even in the thinking modes, ignoring the fact that all strong representatives of capitalism have become shameful culprits of all world’s economic crises including the most recent economic downturns as well as the huge bailouts at economic giants.

Since his saying that Vietnam is so tied to old-school techniques is so ambiguous, I wonder if he can clarify the field or fields in or of Vietnam he wishes to refer to, as in this very world of complicacy the notion should be as much specific as possible. Even once the field or fields can be specified by his good self, nobody on earth – let alone the Vietnamese sages – is so much foolish to reveal the “new ideas” to him or to anybody else just to satisfy the thirst for knowledge just for free. Furthermore, things depend on various factors, among which those of suitable time, suitable situations and suitable personnel and/or personages are naturally decisively included and never ignored. To make Vietnam better, all of these factors need be incorporated into one “something”. The old Vietnam hands are said by him to know something about the old Vietnam, this would literally and figuratively mean he and the old and young foreign hands will never know anything about that old Vietnam. The Bible is much old, but wise people never say something new should be posed by priests and clergymen to make the Bible better.

Vietnam needs new ideas, of course. However, he seems illogically intentionally ignoring one crucial fact that ideas are just ideas. To overphilosophize or exagerate the “importance” of ideas will obviously expose the messy mode of thinking of irrational people. Additionally, it never means everything is in need of new-fangled ideas at the same time. Therefore, Vietnam is having tremendously new ideas for many fields, and leaves some others intact for the new generations to come to explore and exploit. Please also note that “new” never automatically means “good”, and never indicates that everybody must follow the “new” everywhere. To make it easier to understand, let me prove this: communism comes into existence after capitalism, i.e. communism is “new”. Has he ever tried to do his best to convince the USA and all Western countries to establish communist society to replace capitalist ones? Vietnam applies the so-called socialist-oriented market economy to successfully help itself sustainable throughout the worldwide economic downturn of the 2007-2009 crises damaging the proud image of the USA and others; hence, would he and people like him be assumed to laboriously try to convince the Western governments and the US administration to have the same modus operandi applied?

Every wise man on earth now is talking about customization. Only he says the market in Vietnam should not replicate Western ideas in a Vietnamese context. If he participates in an MBI academic program, he will have to study a lot about China, its market, its ways of doing business, and what Westerners should do to satisfy the Chinese if he goes partnering with them. When he comes to Vietnam to do business, his only option for a survival is to do as per Vietnamese terms, and vice versa, when the Vietnamese people go global, they have to follow the common practice, rules and regulations internationally imposed.

He may think he has the right to call those Vietnamese experts a “bunch of old Vietnamese managing directors and Navigos people” who make him “bored”. It is a pity for him. Speakers will deliver suitable notes to suitable audience. If he participates in a paid seminar then gets bored, it may simply mean either he selects a wrong topic or subject or his boss thinks he needs further training on a topic/subject he is considered inadequately qualified. It is a pity also because he has not had any opportunity to participate in any seminar lectured by me. Those names mentioned by him e.g. Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, and Hillary Clinton are to me of good-for-nothing wretched. Who is Bill Gates then? He means the illiterate person failing to complete college years then playing a dirty monopoly game to annihilate all Western IT talents? Who is Hillary Clinton? He means the old woman proudly having a photo taken with the tall proud son of Muammar Gaddafi at the White House, then two years later bombing Tripoli? He can buy books by or of (i.e. autobiography or biography) them to know their life and their ideas – if they can have “new ideas” for their own countries. Personally, the names as mentioned by him are not worth a tinker’s dam. I want to remind him of this information: General Vo Nguyen Giap of Communist Army of Vietnam was just a high school teacher of history, but he humiliated all the noble generals of France and proud generals from Army Academies like West Point of the USA simply by winning all the wars to wipe out the French from Indochina for good then to chase the US troops out to the open sea, burying them all under the thick slimy mud of dishonor.

In short, the advice is that he should respect the Vietnamese people (and any other local people of places on earth whereat he is an expatriate) because they have a bigger advantage over him a foreigner: they know well (a) their country and people and culture and all odds, and (b) his own; whereas he knows only whatever his. This is the reason why the proverb of “When in Rome, do as the Romans do” comes as a suitable guidance for amateur businessmen. He may have a better chance for survival in Vietnam if he spends time to make himself more competitive by learning the Vietnamese ways instead of nonsensically grumbling about the imaginary “old” and the meaningless “new”.

Very truly yours,

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bản Dịch Tiếng Việt

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2011

Tuần trước tôi có đọc “công thư” (thư “công cộng” viết cho bá tánh chứ không phải thư dạng “công hàm” ngoại giao) của Mr David E trên LinkedIn gởi Cô Thanh Nguyên, CEO của Anphabe, và thấy thật khó lòng cưỡng lại sự “cám dỗ” phải chống lại y đối với nội dung bá láp y đã viết.

aaa

Tuy nhiên, để thể hiện mình đã có sự giáo dục quý phái trọng sang đối với kẻ được cho là một thương nhân Âu Mỹ có “nền tảng” văn hóa đáng ngờ, tôi cho rằng thay vào đó tốt hơn hết nên gởi cho Cô Thanh Nguyên một bức thư mà nội dung xin được lập lại như dưới đây:

Cô Thanh Nguyễn kính:

Tôi có đọc đoạn viết nặng nề của Mr David E đối với danh mục 100 diễn giả của  Cô. Rõ ràng là lời lẽ của y chẳng xa lạ gì đối với người dân Việt Nam cũng như người dân các nước phải hứng chịu cảnh bị phân biệt chủng tộc từ những nước Âu Mỹ luôn khoe khoang về sức mạnh siêu việt của chúng ngay cả trong hành trạng tư duy, nhưng lại luôn lờ đi một sự thật rằng tất cả những đại diện manh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản đã luôn trở thành những tên tội phạm đầy nhục nhã gây ra tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kể cả những suy thoái kinh tế gần đây cùng với sự cứu nguy khổng lồ (mà chính phủ của chúng phải ra tay cứu) các tên khổng lồ kinh tế.

Do ý của hắn khi bảo “Việc kinh doanh ở Việt Nam quá bám víu vào những cung cách trường phái cũ mèm” quá mơ hồ, tôi không rõ hắn có thể vạch ra lĩnh vực hoặc những lĩnh vực nào ở Việt Nam mà y muốn nói đến hay không, vì rằng trong thế giới phức tạp ngày nay thì mọi ý kiến đều cần phải cụ thể cao nhất có thể được. Ngay cả khi một hay nhiều hơn một lĩnh vực có thể được y nêu ra đích danh thì không ai trên thế giới này – nói chi đến các nhà thông thái Việt Nam – lại ngu đần đến độ tiết lộ miễn phí các “tư tưởng mới” cho y hay bất kỳ ai chỉ để thỏa mản sự khát khao kiến thức. Thêm vào đó, cái gì cũng còn tùy vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự vào đúng thời điểm, lúc đúng tình thế hoàn cảnh, và có đúng nguồn nhân lực thực hiện và nhân lực cốt cán (tức “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”)  phải luôn được bao gồm với vai trò quyết định tự nhiên mà không bao giờ được lờ đi. Để làm Việt Nam tốt đẹp hơn, tất cả những nhân tố này cần phải được lồng ghép vào một điều cụ thể. Khi y cho rằng “mấy tay người Việt cũ xì vốn là những kẻ có thể biết gì đấy về Việt Nam cũ xì”, thì về cả nghĩa đen và nghĩa bóng bản thân y cùng những tay ngoại nhân trẻ và già sẽ chẳng đời nào biết gì về Việt Nam cũ xì cả. Kinh Thánh rất rất rất cũ, nhưng những người khôn ngoan không bao giờ bảo cái gì đó mới hơn nên được đề ra bởi các linh mục và mục sư để làm Kinh Thánh tốt hơn.

Tất nhiên là Việt Nam cần có các ý tưởng mới. Song cái anh chàng trên dường như đã lờ đi một cách cố tình và xằng bậy một sự thật cực kỳ quan trọng rằng ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Triết lý hóa quá mức hoặc phóng đại “tầm quan trọng” của ý tưởng chỉ sẽ làm bộc lộ rõ hơn cái phong cách tư duy hỗn độn của những kẻ vô trí. Ngoài ra, không bao giờ có việc tất tần tật mọi thứ đều cùng lúc cần phải có các ý tưởng mới xì (phản nghĩa của…“cũ xì”). Do đó, Việt Nam đang có biết bao ý tưởng mới cho nhiều lĩnh vực, nhưng gác lại một bên để các thế hệ sau này tìm tòi và khai thác. Cũng cần lưu ý rằng “mới” không bao giờ tự động có nghĩa là “tốt”, cũng như không bao giờ hàm ý rằng mọi người đều phải theo cái “mới” ở mọi nơi. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ chứng minh như sau: chủ nghĩa cộng sản xuất hiện sau chủ nghĩa tư bản, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản thuộc loại “mới”. Thế thì cái anh chàng trên có đã từng dốc hết sức để thuyết phục các quốc gia Âu Mỹ hãy dựng xây xã hội cộng sản chủ nghĩa thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa? Việt Nam áp dụng cái gọi là nền kinh tế thị trường theo định hường xã hội chủ nghĩa vốn đã giúp Việt Nam tồn tại thành công suốt cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong những cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 vốn làm tổn hại thanh danh của Hoa Kỳ và các nước khác; vậy thì, liệu hắn ta và những tên tương cận có nên được cho rằng đang miệt mài ra sức thuyết phục các chính phủ Âu Mỹ áp dụng cùng mô hình hoạt động kinh tế ấy?

Mọi người khôn ngoan trên thế giới đang nói về sự tùy biến cho tương thích với  hoàn cảnh thực tế. Chỉ có hắn là nói “Thị trường ở đây không phải là để sao chép các ý tưởng Phương Tây vào bối cảnh Việt Nam”. Nếu hắn có học một chương trình hàn lâm Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, y sẽ biết rằng y sẽ phải học rất nhiều về Trung Quốc, về thị trường Trung Quốc, về cách “làm ăn” ở Trung Quốc, và về những gì mà thương nhân Âu Mỹ nên thực hiện để làm hài lòng người Trung Quốc nếu muốn làm đối tác với Trung Quốc. Khi hắn đến Việt Nam “làm ăn”, cái tùy chọn duy nhất mà y phải chọn để tồn tại là phải làm theo các thông lệ của Việt Nam; và ngược lại, khi người Việt Nam tiến ra thế giới họ phải theo các thông tục, các luật lệ và quy định được áp đặt toàn cầu.

Có thể hắn cho rằng hắn có quyền gọi các chuyên gia Việt Nam là “một dúm những giám đốc điều hành người Việt cũ xì” làm y “phát ngấy”. Y thật đáng thương hại. Các diễn giả luôn phát biểu những nội dung phù hợp với khán-thính giả phù hợp. Nếu hắn tham dự một hội thảo có đóng tiền để rồi “phát ngấy” thì đơn giản có nghĩa là hoặc y đã chọn sai chủ đề để tham dự, hoặc ông chủ của hắn cho rằng hắn vẫn chưa đạt yêu cầu cơ bản nên bỏ tiền ra cho hắn đi đào tạo thêm về điều cơ bản chăng. Y cũng đáng thương hại ở chỗ hắn đã chưa từng có bất cứ cơ hội nào dự bất kỳ buổi thuyết trình nào của tôi. Những cái tên mà y gợi ra như Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, và Hillary Clinton tôi đều sem như đám vất đi. Bill Gates là ai nhỉ? Chắc y muốn nói đến người đã không học xong đại học rồi giỡ chiêu trò nhơ bẩn độc chiếm thiên hạ bằng cách triệt đường sống của các bậc kỳ tài công nghệ thông tin ở Châu Âu? Và còn Hillary Clinton là ai vậy cà? Y muốn nói đến cái mụ già đã tự hào chụp hình chung với “hoàng tử” cao to đẹp trai đầy tự hào của Muammar Gaddafi tại Tòa Bạch Ốc (tức…”Nhà Trắng”), để rồi hai năm sau tự hào dội bom thủ đô Tripoli giết Muammar Gaddafi? Y có thể mua những quyển viết bởi họ hoặc viết về họ (tức là hồi ký tức do chính đương sự viết về chính mình hoặc tiểu sử tức do các nhà nghiên cứu khác viết về một nhân vật nổi tiếng) để biết về cuộc đời và ý tưởng của họ – nếu những kẻ ấy có “ý tưởng” mới nào dành cho xứ sở của họ. Tôi cho rằng những cái tên do y kể ra chẳng đáng một xu teeng. Tôi muốn y nhớ đến thông tin này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam chỉ là một giáo viên Việt Sử nhưng đã làm nhục tất cả các tướng lĩnh quý tộc của Pháp và các tướng lĩnh vinh diệu xuất thân từ các học viện quân sự như West Point của Hoa Kỳ bằng cách cực kỳ đơn giản: chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh quét hất Pháp vĩnh viễn khỏi Đông Dương rồi sau đó dí đuổi quân đội Mỹ bỏ chạy ra biển khơi, vùi chôn tất cả dưới bùn sâu quánh đặc của sự nhục nhã.

Tóm lại, lời khuyên ở đây là hắn ta nên kính trọng người dân Việt Nam (cùng tất cả các cư dân địa phương của các xứ miền trên thế giới mà y đến để làm ngoài kiều) vì rằng những cư dân địa phương của các nước này có một thuận lợi lớn hơn  rất nhiều so với ngoại kiều như y vì họ biết rất rõ (a) xứ sở của họ, người dân của họ, văn hóa của họ, cùng mấy thứ linh tinh của họ; và (b) mọi thứ về y, người dân của y, văn hóa của y, cùng mấy thứ linh tinh của y; vậy mà y chỉ biết mỗi có những gì của y mà thôi. Đây cũng là lý do có thành ngữ “nhập gia tùy tục” như một kim chỉ nam phù hợp cho các thương nhân tay mơ. Y sẽ có cơ may tốt hơn để tồn tại ở Việt Nam nếu bỏ thời gian làm sao cho y tăng thêm tính cạnh tranh bằng cách học hỏi các kiểu cách Việt thay vì càu nhàu xằng bậy về cái “cũ mèm” hoang đường và cái “mới” vô nghĩa.

Trân trọng kính chào Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Thế Nào Là Hèn Hạ

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-9-2016

Dường như tất cả những người có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản (không phải “chống cộng” nói chung hoặc chống một nước nào đó đang theo “chủ nghĩa” ấy vì nếu chống cái nước ấy sẽ biến mình thành thứ phản tự do, phản nhân quyền, phản văn minh, vô văn hóa) vốn toàn là những nhà trí thức đáng kính, những nhà tư tưởng, những người có học thức thực thụ, và những người có tư cách trưởng thượng, đều chưa có ai từng tham gia viết blog bôi nhọ một nước cộng sản cụ thể nào đó, đơn giản vì họ thuộc đẳng cấp cao của trí tuệ khi hành trạng tư duy của họ nhận biết rõ giá trị cao vời của chủ nghĩa cộng sản khiến họ biết rằng nhất thiết phải có một trí tuệ cao vời tương tự hoặc cao hơn để từ đó suy tư triết học về cuộc diện ý thức hệ vốn đòi hỏi biết bao thứ gọi là “chủ nghĩa” từ chính trị đến hội họa và sáng tác thơ ca, để hình thành những diễn giải các bất hợp lý nào đó trong triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà họ đã tư duy đến, những cao kiến để đề xuất nhằm hoàn thiện chủ nghĩa cộng sản, hoặc những dự toán về tương lai kinh tế thế giới, hoặc đúc rút ra những điều tốt đẹp nào của chủ nghĩa cộng sản để có thể áp dụng mà không nhất thiết phải có cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, hoặc đề ra những biện pháp khắc chế đối với  các công kích mang tính tiên đoán nhưng quá đúng của chủ nghĩa cộng sản. Chính nhờ bản chất trí hóa đó của những bậc trí thức “chống chủ nghĩa cộng sản” mà một số nước chẳng hạn tại Bắc Âu đã tự hào thực hiện được những điều kỳ vĩ về phúc lợi thật lý tưởng cho dân họ theo những lý tưởng khai sinh bởi Karl Marx năm xưa, hoặc những siêu cường tư bản cũng biết hạn chế những bất công xã hội mà Karl Marx cảnh báo có thể trở thành mầm mống làm sụp đổ chế độ tư bản. Họ đã chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách ra sức rút tỉa các bài học hoặc cảnh báo hoặc lời khuyên hoặc lý luận của chính chủ nghĩa cộng sản để làm cho phúc lợi xã hội gia tăng, người lao động được hưởng mức độ thù lao cao hơn, mà tất cả nhằm thay da đổi thịt chủ nghĩa tư bản để chủ nghĩa tư bản hấp dẫn hơn và có cơ may trường tồn với lịch sử nhân loại. Đó là cung cách chống chủ nghĩa cộng sản của bậc trưởng thượng trong chứng minh rằng (a) nếu đó là những điều tốt đẹp lý tưởng cần có cho xã hội thì chính họ sẽ là người thực hiện được và thực hiện trước; và (b) qua đó họ đã chống chủ nghĩa cộng sản một cách thắng lợi mà không cần phải bỏ ra nhiều năm để đẻ ra một chủ nghĩa mới chỉ để chống lại chủ nghĩa cộng sản trên bình diện triết học mà chưa chắc thành công, có khi mất thời gian tính để kịp cứu nguy cho một sự sụp đổ mà chủ nghĩa cộng sản đã cảnh báo.

Chắc cũng vì cái sự “dường như” nêu trên vậy mà có ba dấu hiệu cực kỳ giống nhau đáng kinh ngạc nơi những kẻ “chống cộng” chung chung hoặc chống một nước cộng sản như Việt Nam hoặc chống một nước có quá khứ lẫy lừng cộng sản chủ nghĩa như Nga, bất kể họ thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và đang mang quốc tịch bất kỳ, qua những gì họ viết blog hoặc viết comments bằng bất kỳ ngôn ngữ gì, đó là (a) không phải họ chống triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chống bất kỳ ai đã dựa vào cái chủ nghĩa ấy để làm nhục họ khi đánh bại họ triệt để hoàn toàn, (b) không bao giờ đưa ra được bất kỳ điều gì mang tính sự thật hữu bằng hữu chứng có thể kiểm chứng được khi chống lại cái kẻ “dựa hơi” chủ nghĩa cộng sản đó, và (c) không bao giờ biết thế nào là lòng tự trọng.

Từ những bức ảnh tịch thu được trên xác quân thù tại những phần lãnh thổ Liên Xô bao la rộng lớn mà quân Đức Quốc Xã đã tiến chiếm được trong Đệ Nhị Thế Chiến, Liên Xô tìm thấy những bức ảnh được ghi chụp ngày 30-6-1941 bởi trung đoàn Đức Quốc Xã Tyrolean Gebirgsjäger-Regiment Sư Đoàn Gebirgskorps cảnh xử tử tại chỗ hai tù binh Liên Xô mà không qua xét xử tại một chốn núi cao nào đó. Ngày chụp ghi sau bức ảnh cho thấy vụ xử tử hai tù binh Liên Xô ấy xảy ra chỉ hai tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. Dựa theo hình ảnh đen trắng mờ nhòe đó, Nga đã tiến hành rà soát kiếm tìm, và đã tìm ra di hài của hai chiến sĩ ấy tại một đài nguyên thuộc vòng cung Cực Bắc giáp biên giới Na-Uy năm 2013, để đưa về an táng sau hơn 70 năm phơi mình trong giá rét. Dựa theo di vật quân dụng và mẫu giấy tờ mục nát còn lưu trong một thi hài nằm bên trái, người ta mới biết được đó là của anh lính hiên ngang tên Sergey Korolkov, sinh năm 1912 tại làng Hmelishche, nông trang Serezhinsky, Khu Velikoluksky, Vùng Kirov, gia nhập quân đội Liên Xô ngày 22-6-1941 và hy sinh một tuần sau đó khi quân Đức vượt biên giới Na-Uy tấn công Liên Xô (Đức bắt đầu xâm lược Na-Uy ngày 09-4-1941 và hai tháng sau Na-Uy quỳ đầu quỳ gối đầu hàng ngày 10-6-1940 khi Quốc Vương và hoàng gia Na-Uy chạy trốn bình an sang Anh Quốc). Di hài bên cạnh anh không còn lưu một chứng tích nào nên được đưa về an táng như một chiến sĩ trẻ vô danh đã hy sinh khi bảo vệ biên cương.

Trong bức ảnh dưới đây người chiến sĩ trẻ vô danh nói trên đang bị quân Đức áp giải lên để đứng cạnh bên Sergey Korolkov:

2-6

Sergey Korolkov chống nạnh hiên ngang, trong khi hai sĩ quan Đức chỉ vào mặt anh ắt đang quát tháo, còn các binh sĩ Đức vây quanh có một tên đang trong tư thế nện báng súng vào gáy anh như để làm anh phải quỳ xuống trước viên chỉ huy:

2

Các sĩ quan Đức Quốc Xã ra lịnh xử tử hai chiến sĩ Liên Xô này nên lính Đức lùi lại sẵn sàng cuộc xả súng, trong khi đó Sergey Korolkov vẫn chống nạnh hiên ngang còn người lính trẻ cạnh anh tuy không hào hùng ngang tàng bằng anh vẫn đứng thẳng lưng chứ không sụm xuống vì run sợ trước họng súng kẻ thù trước giây phút lâm chung:

2-2

Vụ xử tử đã được thực thi, hai chiến sĩ Liên Xô đứng cách nhau một mét nhưng khi ngả xuống đã như úp mặt vào nhau để bắt đầu sự tồn tại gần một thế kỷ gắn bó tri kỷ của những vị anh hùng đơn độc trên đỉnh núi cao giá buốt hoang vu:

2-3

Dựa vào hình ảnh của núi, đá, cảnh quang, trong những bức ảnh tịch thu được, Nga đã ra sức “càn quét” suốt 72 năm và cuối cùng đã tìm ra chính xác địa điểm này:

2-4

Sự tìm ra nơi chốn cuộc hành hình càng được củng cố khi nơi đó còn có hai hài cốt  cùng những di vật hư hại còn sót lại trong quân phục của di hài bên trái để biết đó là Sergey Korolkov, người chiến sĩ đã đứng ngang tàng chống nạnh trước quân thù, trong khi chiến sĩ trẻ cạnh bên thì tiếc thay thời tiết và thời gian đã làm tất cả di vật hóa bụi trần gian.

2-52-1

Thế nhưng, khi trên trang web của Anh Quốc ghi nhận về sự dũng cảm của sự việc về hai người lính Xô Viết ấy, thì có kẻ nào đó viết comment dưới dạng nặc  danh rằng “Sự giả định rằng hai người lính Xô Viết bị vô cớ bắn chết thật là rác rưởi. Quân Nga gây ra tội ác tày trời chống mọi người ở Châu Âu nên thật đáng ngạc nhiên tại sao không có thật nhiều hơn mấy vụ bắn bỏ như vậy. Tôi thấy chẳng có hình chụp nào về tội ác của Nga và phe của nó, 98% hình ảnh của Nga là do ngụy tạo để thành cái mà chúng muốn, và kẻ ngu khờ dường như bị dính bẩy hết.

Sự hèn hạ của kẻ nặc danh ở chỗ hắn ta hay ả ta (a) làm như Liên Xô không hề bị Đức tấn công nên không có chuyện đã có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô mà chỉ có chuyện Liên Xô điên cuồng xua quân tràn ngập Châu Âu gây chiến với toàn Châu Âu trong đó có nước Đức hiền hòa, (b) làm như Liên Xô đang diễn tuồng cho người giả đóng vai lính Đức chứ chẳng lính Đức nào xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, (c) làm ngơ trước sự thật là lẽ nào Mỹ và Châu Âu thất bại đến độ không có được hay không dàn dựng lên được bức ảnh chụp nào về tội ác của Nga trong trực tiếp xử tử tại chỗ các tù binh chiến tranh Đức hay ai đó, và (d) đốn mạt đến độ chấp nhận bản thân mình mọi rợ khi cho rằng lẽ ra đã nên có thật nhiều vụ hành quyết như thế với tù binh chiến tranh Nga.

Tuy có vị tên Roelf Turksema (dường như là người Thụy Sĩ gốc Na-Uy) đã phản bác rằng “Sao lại là nặc danh hử? Mi đã không dám lương thiện với tên đầy đủ để bày tỏ luận điệu của mi ư? Người Nga đã luôn đối xử tốt với tao, luôn lương thiện, và luôn chăm sóc tao tốt đấy”;

Tôi vẫn buộc lòng comment thêm cho có đủ sức mạnh của ngôn từ, cái mà thiên hạ trong toàn thế giới nói tiếng Anh hoặc trên thế giới sính dùng tiếng Anh rất kém trong đối đáp hùng biện khi phản pháo, rằng “Anh Quốc, Pháp và tất cả các quốc gia Tây Âu đã quỳ đầu quỳ gối một cách đầy nhục nhã trước Đức Quốc Xã như thực tế lịch sử đã chứng minh. Ngay cả những quốc gia như Thụy Sĩ đã hèn hạ trở thành thiên đường cất giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Để đậy che sự muối mặt đớn hèn ấy, họ đã cố kiếm tìm và khai thác mọi thứ nào chúng cho rằng có thể giúp làm hạ phẩm giá của đất nước lúc ấy gọi là Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến”.

2-7

Hèn hạ ẩn danh để hèn hạ dùng những lời hèn hạ nói về một sự hèn hạ tưởng tượng nhằm hèn hạ hóa một đất nước của một dân tộc đã không bao giờ hèn hạ trước những tên Quốc Xã và Phát Xít hèn hạ thì quả là việc hèn hạ của chỉ bọn hèn hạ “chống Nga” mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Note: Source of all photos: from Internet (www.militaryphotos.net)

Các bài viết cùng mẫu câu tiêu đề “Thế Nào Là”:

Thế Nào Là Doanh Nhân

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ

 

Hậu Sự Cố Luật Hình Sự 2015

9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Đương Nhiệm Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

03-7-2016

LamLuat

Như đã nêu trong bài Sự Cố Luật Hình Sự 2015 đăng vào tuần trước, tôi có nêu các quy trình cực kỳ chi li, cực kỳ tốn kém tiền bạc, cực kỳ tốn kém thời gian, cực kỳ mang tính huy động nguồn lực nhân sự toàn xã hội cho mỗi dự án luật. Cũng vì vậy mà tôi có thể khẳng định rằng tất cả những lời bào chữa của các quan chức đối với sự cố Luật Hình Sự 2015 đều hoàn toàn sai khi trả lời phỏng vấn của báo chí rằng sắp tới đây để rút kinh nghiệm cho sự cố Luật Hình Sự 2015 các quy trình tham vấn cần được tiến hành lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và cử tri. Quy trình đã và đang có. Quy trình đã và đang rất bao trùm đối với khâu lấy ý kiến. Quy trình đã và đang rất tốn kém. Và tôi đoan chắc rằng nếu các quan chức Quốc Hội “rút kinh nghiệm” kiểu này thì mọi sự vẫn sẽ y như cũ vì “quy trình” đã chặt chẽ đủ đầy bao trùm rồi và hậu quả vẫn sẽ là những sai sót được lập đi lập lại trong công tác lập pháp. Chín lý do duy nhất gây ra “sự cố Luật Hình Sự 2015” và các Luật khác là như sau:

1- Tư Tưởng Cầu An: Chuyên Gia Tất Không Sai

Chuyên gia của Quốc Hội đã hoặc tự cao tự đại (ta là chuyên gia nên luôn đúng) hoặc giáo điều (những kỹ thuật văn bản mà Quốc Hội áp dụng từ thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn đúng) hoặc cầu xin hai chữ bình an (công việc đa đoan nên chẳng dại gì động vào hệ thống cho rách việc trước khi ta nghĩ hữu hưởng nhàn từ bổng lộc dồi dào thụ hưởng từ Nhà Nước), nên đã không làm gì khi được Chủ Tịch Quốc Hội chuyển đến họ công văn sau của tôi, cho thấy họ sẵn sàng chấp nhận cái sai dù cái sai ấy chỉ là về kỹ thuật văn bản dự án Luật chứ chưa nói đến nội dung dự án Luật:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Cách Đánh Số Trong Các Đạo Luật

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về cách đánh số trong các đạo luật của Việt Nam:

1) Hiện nay tại tất cả các trường đại học ở Việt Nam dù đội ngũ giảng viên cơ hữu đều có danh xưng học vị thạc sĩ, tiến sĩ – mà đa số tốt nghiệp từ các trường tư bản – nhưng không hiểu sao trong các giáo trình họ soạn hay viết, các văn bản hay thông báo nội bộ trường, các hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên, v.v., đều không theo bài bản khoa học chuyên nghiệp của nước ngoài trong cách đánh số. Chẳng hạn họ sử dụng rất nhiều những ký hiệu như dấu hoa thị (*) và dấu chấm (.) trước vô số những chi tiết dẫn giải phụ, thay vì phải dùng đến mức độ thí dụ như  IV.A.a.8.iii. chẳng hạn, khiến sinh viên sau này có ra nước ngoài học cao hơn sẽ gặp khó khăn về lập bố cục luận án.

2) Trong khi đó, các đạo luật ở Việt Nam lại vướng vấn đề khác, có thể do tự ái dân tộc hay vì hiểu nhầm ý nghĩa của “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên mặc định sử dụng thứ tự mẫu tự tiếng Việt để đánh dấu các đoạn trong văn bản pháp luật, pháp quy, của nhà nước, đặc biệt xuất hiện trong các đạo luật, theo đó thứ tự thí dụ tuần tự là A, B, C, D, Đ, E, G,… hay a, b, c, d, đ, e, g, …, v.v, (sử dụng đ nhưng không rõ lý do cho phép dùng đ trong khi lại không sử dụng các chữ như ă/â/ê/ơ/ô/ư trong đánh số thứ tự) khiến các bản tiếng Anh (hay tiếng nước ngoài khác) sẽ gây khó khăn cho sự tham khảo của người nước ngoài do không có từ tương đương trong tiếng Anh để họ hiểu ký hiệu đ đó là gì và phải phát âm ra sao trong quá trình tranh tụng của họ tại tòa án Việt Nam, hoặc khi đánh máy dẫn chứng trong văn bản của họ gởi cơ quan nước ta.

Với sự thể như trên, tôi kính đề nghị Quốc hội quy định sử dụng thống nhất mẫu tự bảng chữ cái tiếng Anh để “quốc tế hóa” cách đánh số văn bản pháp luật, pháp quy của Việt Nam, theo đó các số thứ tự sẽ là A, B, C, D, E, F, G…,J, …,W, Y, Z, và a, b, c, d, e, f, …, j, …, w, y, z. Sự sử dụng theo cách này hoàn toàn không xa lạ với người Việt hay vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào về văn hóa Việt, khi mà chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hay dùng các mẫu tự như F và Z trong các bản thảo của Người, còn văn bản của Trung Ương Đảng luôn dùng ký hiệu TW, trong khi xã hội đã quen với J từ tên quốc gia Nhật Bản (Japan).

Ngoài ra, xin quy định cấm sử dụng các ký hiệu như dấu hoa thị (*) hay dấu chấm (.) trong đánh số các đoạn trong văn bản pháp luật/pháp quy để sự dẫn chứng tham khảo trở nên chuyên nghiệp và thực tế hơn, thí dụ như:

– theo nội dung điều II.A.1.c.ix

vì không thể nào dẫn chứng bằng cách nói rằng

–  theo điều II Khoản A Mục 1 dấu hoa thị thứ ba, dấu chấm thứ 9

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

2- Tư Tưởng Cực Đoan Duy Ý Chí: Thiếu Linh Hoạt Hấp Ta Hấp Tấp

Sự cố Luật Hình Sự 2015 được bào chữa là do phải “tuân theo” quy trình thảo luận tại một kỳ họp toàn thể của Quốc Hội và thông qua tại kỳ họp toàn thể tiếp theo. Đây vừa thể hiện (a) sự không nghiêm túc nhận khuyết điểm ngay, (b) sự dối trá với nhân dân vì thực tế đã có sự linh hoạt đối với Luật Đất Đai vốn trải qua ba kỳ họp toàn thể của Quốc Hội cũng như bộ luật “gốc” là Hiến Pháp kéo dài nhiều kỳ họp toàn thể Quốc Hội, (c) sự chạy theo thành tích bằng mọi giá, và (d) sự sùng bái ý kiến lãnh đạo.

Đối với phần “sùng bái ý kiến lãnh đạo” nêu trên, dẫn chứng ở đây là chỉ cần Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thực hiện Nghị quyết Trung Ương Đảng tuyên bố khởi động soạn thảo dự án Luật Biểu Tình, là mọi sự phải răm rắp tuân theo. Khi tôi phát biểu ứng khẩu tại nghị trường Quốc Hội về sự hấp ta hấp tấp đối với đề xuất dự thảo dự án Luật Biểu Tình, tôi đã dựa trên sự thật rằng (a) nội dung “biểu tình” chưa hề được Việt Nam làm rõ về ngữ nghĩa, (b) vẫn có nghị sĩ chưa hiểu biết gì về sử liệu “biểu tình” nên phát biểu sai sự thật, (c) vẫn chưa nghị sĩ nào lưu ý đến một sự thật là quyền “biểu tình” không thể được thực thi bởi toàn dân mà chỉ đối với thị dân các đô thị lớn nên nhất thiết phải qua trưng cầu dân ý, (d) đa số nghị sĩ bất tài vô dụng đã luôn xem “luật biểu tình” là cái phao để bấu víu vào đấy như “trả xong nợ với nhân dân” hầu tránh sự thật rằng sự chậm đưa đất nước thành cường quốc mới là cái nợ duy nhất đối với toàn dân tộc, và nhất là (e) khi cái gọi là quy trình “hai kỳ họp” sẽ khiến có sự hấp ta hấp tấp trong soạn thảo và thông qua tại Quốc Hội bất chấp yêu cầu “phải biết lo trước cái lo của người dân” nơi mỗi chính khách thực thụ khiến sẽ dẫn đến một sự cố lớn hơn sự cố “Luật Hình Sự”. Chính sự “sùng bái ý kiến lãnh đạo” này mà báo chí hùa nhau lập công, xách động cuộc tấn công toàn diện nhằm vào tôi không những trên báo in mà còn trên không gian mạng. Chân lý bao giờ cũng chiến thắng, vì nhân dân – qua sự đại diện của các nghị sĩ – đã ủng hộ tôi nên tôi đã thành công trong việc ngăn chặn được sự hấp tấp đối với cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016). Tất nhiên, cũng trong suốt nhiệm kỳ này tôi đã tích cực viết blog các bài nghiên cứu sâu về “biểu tình” cả về ngữ nghĩa và thực tế, nhằm giúp Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) có thể có đủ các tham khảo cần thiết cho sự soạn thảo dự án “Luật Biểu Tình”.

Tóm lại, dự án “Luật Biểu Tình” đã tránh được vết xe đổ của dự án “Luật Hình Sự 2015”.

3- Tự Tung Tự Tác Của Chuyên Gia

Có một sự cố đã bị dấu giếm tại Kỳ họp thứ 11 của Quốc Hội Khóa XIII đối với  Dự Thảo Luật Dược Sửa Đổi mà tôi có chống gậy ra Hà Nội tham dự . Người dân chỉ biết rằng ngày 06 tháng 4 năm 2016 Quốc Hội đã biểu quyết thông qua Luật Dược Sửa Đổi với hiệu lực thi hành từ tháng 7 năm 2016. Sự thể là sau khi đã họp Tổ, thảo luận lần chót tại phiên họp toàn thể Quốc Hội tại nghị trường, cũng như lấy phiếu góp ý về những điều khoản “nhạy cảm”, Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội đã được “chuyên gia” trình ký bản tiếp thu giải trình của Ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội. Song, khi bản in cuối cùng dự án luật trên cơ sở các điểm mà các nghị sĩ đã viết phiếu góp ý và được ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội chấp nhận để thường Vụ thông qua, được gởi đến các đoàn nghị sĩ thì các nghị sĩ của đoàn Thành phố Hồ Chí Minh như Bà Phạm Khánh Phong Lan (Giám Đốc Sở Y Tế) và Ông Nguyễn Đông Phong (Giám đốc Sở Công An) phát hiện nội dung của vài điều đã bị sửa đổi khác với nội dung kiến nghị của họ đã được Thường Vụ chấp nhận. Sự nghiêm trọng ở chỗ nếu không phát hiện sự tự  tung tự tác tự ý sửa đổi các điều luật ấy, cơ quan an ninh trên cả nước sẽ bó tay trước các tội phạm ma túy, còn cơ quan y tế trên toàn quốc sẽ bó tay đối với việc kinh doanh tự do các tiền chất ma túy. Khoan hãy nói đến nghi án là các “chuyên gia” văn bản pháp luật của Quốc Hội đã “ăn tiền” của Mafia để sửa nội dung Luật nhằm trói tay Quốc Hội với mặc định là luật đã ban hành thì phải có hiệu lực thực hiện ít nhất là 10 năm mới được sửa đổi, mà chỉ cần nêu sự việc họ tự ý sửa điều khoản Luật đã là hành vi phạm pháp cực kỳ nghiêm trọng.

Đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đã phải hỏa tốc gởi công văn đến Tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân để báo cáo sự việc, chưa kể phải tranh luận thuyết phục vị chủ nhiệm ủy ban có liên quan vì vị này do sợ bị trách nhiệm liên đới nên cố gắng biện minh rằng “tuy đúng là mấy em đó có lỡ tay sửa đổi nhưng tôi thấy nội dung vẫn có thể hiểu được là tương đồng”.

4- Chạy Theo Hư Danh

Cái mang tính “thời thượng” ngày nay là nghị sĩ Việt Nam hay nói về “nhân quyền” như một thứ trang sức à-la-mode. Hàng chục năm trước, khi nghe Quốc Hội nói về “tính nhân đạo” trong xóa bỏ nhiều tội danh tử hình, tôi đã than với đồng sự rằng luật pháp nước ta đã hỏng bét rồi vì tội phạm sẽ gia tăng, và các đồng sự đã khuyên tôi rằng “anh nên cố ra làm nghị sĩ một lần đi”. Đến khi tôi làm nghị sĩ thì cái thứ trang sức ấy đã quá choáng ngợp đến độ người ta thi nhau nói về “biểu tình”, về “nhân quyền”, và về “tiêm thuốc độc”. Rốt cuộc, cái việc “tiêm thuốc độc” sau khi luật đã ban hành lại không thực hiện được vì Việt Nam không sản xuất được, còn các viện bào chế thế giới không chịu bán cho Việt Nam vì họ viện lý do…nhân đạo! Thế là Quốc Hội lại họp toàn thể để bàn việc lùi ngày áp dụng Luật hoặc ra Nghị Quyết sửa đổi Luật.

5- Cung Cách Lãnh Đạo “Camouflage” Ở Đoàn Đại Biểu Quốc Hội

Như đã nêu trong một trong những bài “tư vấn các nghị sĩ mới” về công việc một nghị sĩ Việt Nam, tôi có ngụ ý về cung cách “camouflage” của lãnh đạo Đoàn Nghị Sĩ. Ở đây, tất nhiên, tôi chỉ nói về Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh chứ không dám nói nội dung sau đây có ở tất cả các đoàn của các tỉnh thành trên cả nước.  Lãnh đạo Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn nói thẳng rằng Đoàn Nghị Sĩ Thành phố Hồ Chí Minh phải luôn luôn phát biểu hay nhất tại nghị trường. Hay nhất, tất nhiên chỉ mang nội hàm liên quan đến cái sự “nghe lọt lổ tai” của người dân và của báo chí, chứ không bao giờ mặc định phải luôn kèm sáu thuộc tính quan trọng hơn là (a) đúng thực tế thực hành, (b) có sức thuyết phục đối với chính phủ và quốc hội, (c) có tính khả thi cao đối với Nhà nước, (d) áp dụng được đối với toàn hệ thống, (e) có tính định tính, và (f) sau đó định lượng được với kết quả minh bạch như ý.

Để đạt yêu cầu về “hay”, sau mỗi lần họp Tổ, Trưởng Đoàn dựa vào hai biện pháp  duy nhất là Thu Hút (phải là người mà báo chí luôn tập trung ghi chép ý phát biểu để dăng báo) và Từ Chương (phải là chức sắc của ngành) để chỉ định nghị sĩ nào sẽ nhấn nút đăng ký phát biểu trước ở nghị trường, và nếu thời gian cũng như số lượng đăng ký ít thì các nghị sĩ khác trong Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh có thể nhấn nút đăng ký tiếp. Điều này khiến các nghị sĩ khác hoặc không làm gì cả hoặc như tôi miệt mài viết kiến nghị gởi email đến lãnh đạo Quốc Hội.

Suy ra, việc đóng góp ý kiến cho các dự thảo dự án Luật đã không thể nào có chất lượng cao khi các nghị sĩ dù họp Tổ hay họp toàn thể ở Nghị Trường chỉ được phát biểu trong 7 phút, thay vì lẽ ra họ nên soạn thảo bằng văn bản để các ý kiến được trình bày đầy đủ hơn, khoa học hơn, dễ tham khảo hơn đối với các ủy ban chuyên trách có liên quan, và đặc biệt là phục vụ tốt nhất cho công tác lưu trữ tàng thư cực kỳ quan trọng như tại tất cả các Nghị Viện trên thế giới.

“Camouflage” tức là đội lốt, ngụy trang.

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn có bộ “camouflage” hào nhoáng trong phát biểu 7 phút phục vụ cho các trang báo in vốn là công cụ tuyên truyền của Nhà Nước, và sự phồn vinh thịnh vượng của đất nước thì vẫn chưa thấy dù ở chân trời, trong khi sự phát triển tốt đẹp của Thành phố Hồ Chí Minh chỉ thuần ở ngôn từ tổng kết.

6- Cung Cách Đại Biểu Quốc Hội Là Chức Sắc Địa Phương

Cũng tại Thành phố Hồ Chí Minh, do tuyệt đại đa số các nghị sĩ đều là chức sắc cùng đứng dưới mái nhà của Thành Ủy, mà điều lệ của Đảng rất nghiêm ngặt về tính phục tùng, nên dù muốn dù không thì sự sinh hoạt nội bộ thiên nhiều về phe nhóm quyền lực của thứ tự trên dưới chứ không của đẳng cấp ngang bằng tức cùng là nghị sĩ đại diện cho dân.

Như dẫn ra trong thí dụ dưới đây, tôi đã gởi ngay cho Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm một công văn khẩn cấp, ngay khi đến dự phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân, được phát tập tài liệu các nghị quyết sẽ được thông qua, và nhận ra ngay những lỗi nghiêm trọng trong một dự thảo:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 12 năm 2013

Kính gởi : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Đồng kính gởi: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Bản sao kính gởi:

-Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

-Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

-Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

-Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v.: Thư góp ý khẩn cấp về Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Báo cáo số 790/BC-VHXH ngày 05-12-2013 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm tra tờ trình nói trên.

Kính thưa Quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh,

Qua tham dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh  Khóa VIII sáng Thứ Hai 09-12-2013, và tham khảo Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin kính gởi đến Quý Lãnh đạo các ý kiến đóng góp khẩn cấp theo thứ tự nội dung sau:

A- Về 8 Tên Nhân Vật Người Nước Ngoài:

1- Những điểm không đúng và các kiến nghị (về xem xét lại sự lựa chọn, và phương pháp viết tên):

a) Marie Cuirie: Tên viết đúng phải là Marie Curie (tên đầy đủ là Marie Sklodowska-Curie) và thích hợp theo cách dùng của tên tiếng Anh.

b) Nêru. J – Jawaharlãl Nehru: Tên viết đúng nên là Jawaharal Nehru vì kiểu Việt hóa phiên âm thành Nêru không nên tiếp tục tồn tại ở Việt Nam trong thế kỷ XXI này, nhất là khi các tên khác trong danh mục của tờ trình lại không ở dạng Việt hóa phiên âm tương tự. Đồng thời loại bỏ dấu ngã trên chữ cái “a” như thể hiện trong báo cáo, để cho đúng theo cách dùng của tên tiếng Anh.

c) Hô-xê Mác-ti: Việc Việt hóa phiên âm này là điều không nên tiếp tục tồn tại như trường hợp ở trên của “Nêru”. Dù tên viết bằng tiếng bản xứ của nhân vật này là José Martí với hai từ và mỗi từ có một dấu sắc (tên đầy đủ là José Julián Martí Pérez tức là có bốn từ và mỗi từ đều có một dấu sắc) thì chúng ta cũng nên sử dụng cách viết trong tiếng Anh là Jose Marti. Đặc biệt nên chấm dứt kiểu phiên âm cho đúng với bản ngữ đặc thù thí dụ Mê-hi-cô, vua Hoan Các-lốt, Hô-xê, v.v., thay vì sử dụng tiếng Anh chung với toàn nhân loại là Mexico, vua Juan Carlos, Jose, v.v. Lập luận một cách khác: từ “Hồ Chí Minh” ở tiếng Việt không bao giờ được phát âm đúng ở tiếng Nga (phiên âm thành “khô-si-min”) vậy thì Việt Nam không có lý do gì lại phải tự trói buộc rằng mình phải phát âm (thậm chí viết ra cho giống y như cách phát âm) cho đúng ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đối với chữ cái “J” trong Jose và Juan, thành Hô-xê và Hoan, v.v…

d) Kovalevskaya: Trong khi tên của những nhân vật khác được viết quá đầy đủ thì tên của nữ nhân vật này lại bị bỏ hết phần tên và chữ lót. Tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya theo kiểu dùng tiếng Anh viết lại y cách phát âm tiếng Nga Со́фья Васи́льевна Ковале́вская. Đây là trường hợp củng cố lập luận đối với Hô-xê Mác-ti ở trên, nghĩa là khi chữ cái một ngôn ngữ – ở đây là tiếng Nga – không thể được thể hiện bằng bàn phím của đa số nhân loại, người ta chấp nhận sử dụng cách ghi tên theo tiếng Anh. Ngoài ra, đối với trường hợp của Sofia Kovalevskayacần phải để ý thêm đến chi tiết Bà thích dùng tên Sophie Kowalevski (hay Sophie Kowalevsky) trên tất cả các tác phẩm nghiên cứu của Bà và đó cũng là cách giới khoa học quen viết về tên Bà, nên cần cân nhắc lựa chọn giữa việc “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga thành tên tiếng Anh Kovalevskaya” hay “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga để cho ra Kowalevski/Kowalevsky thuần Anh.” Diễn giải theo cách khác, nếu chúng ta “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga thành tên tiếng Anh Moskva” thì e là đa số nhân loại không hiểu ta đang nói về ai hay về cái gì, nhưng nếu ta “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga để cho ra Moscow” thì đa số nhân loại sẽ hiểu ngay. Vì vậy, trong trường hợp này, tôi đề nghị nên xem xét sử dụng Sophie Kowalevsky (hoặcSophie Kowalevski) là tên danh chính ngôn thuận của Bà khi dời sang sống và làm việc ở Đức và Thụy Điển.

e) Albert Bruce SabinRobert Koch tuy là hai nhà y học có công lớn đối với nhân loại (Sabin chế tạo ra vắc xin ngừa bại liệt, còn Koch tìm ra vi khuẩn bịnh than, bịnh tả, và bịnh lao), nhưng vẫn dễ gây tranh cải về vai trò của nhiều người cũng có tầm quan trọng tương tự như Alexander Fleming đã chế ra Penicillin hay các vị chế ra các thứ thuốc khác cho những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, dẫn đến yêu cầu có thể có nơi cử tri đối với việc đưa thêm nhiều tên tuổi y học khác cũng đoạt giải Nobel Y học như Koch vào danh sách này.

f) Jean Baptiste Louis Pierre: Xin xem lại trường hợp này vì nếu vị này có “công” xây dựng Thảo Cầm Viên Sài Gòn thì sẽ không tránh khỏi chất vấn rằng sau này sẽ có những đường phố mang tên các vị đã có “công” xây Nhà thờ Đức Bà, Nhà Hát Lớn, Vườn Tao Đàn, và tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.v.v..

2) Tôi xin giới thiệu thêm tên 7 nhân vật người nước ngoài thật sự có giá trị giáo dục cao, mang ý nghĩa chính trị lịch sử cách mạng Việt Nam sâu sắc

a) Francis Henry Loseby (Luật sư Anh đã làm thất bại âm mưu của chính quyền Hong Kong muốn giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho thực dân Pháp)

b) Norman Morrison (Công dân Mỹ tự thiêu ngày 02-11-1965 trước Ngũ Giác Đài, nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, để phản đối Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Norman là nhân vật trong bài thơ “Emily” của Tố Hữu)

c) Olof Palme (Thủ tướng Thụy Điển, ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ, bị ám sát ngày 28-02-1986). Tên đầy đủ là Sven Olof Joachim Palme

d) Jeffrey Glenn Miller (Nam sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

e) Allison B. Kraus (Nữ sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

f) William Knox Schroeder (Nam sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

g) Sandra Lee Scheuer (Nữ sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

B- Về 19 Tên Nhân Vật Lịch Sử Trước Thế Kỷ XX:

– Vũ Phạm Hàm: Xin xem lại trường hợp này vì theo chú thích của Tờ trình thì vị danh sĩ này nhờ “quán” tờ báo “Đông Văn” nên được đánh giá là “tuy chưa bộc lộ rõ nét nhưng qua đó cũng đã thể hiện lòng yêu nước kín đáo của ông”. Tôi cho rằng nếu dựa vào chi tiết đây là vị thi đỗ thủ khoa Thi Hương và tiến sĩ Thi Hội và Thi Đình rồi làm quan thì nhất thiết phải đưa vào danh sách rất nhiều vị khoa bảng khác. Riêng ghi chú rằng ông có “nhiều tác phẩm được nhiều người tìm đọc và đánh giá cao” thì rất vô nghĩa do các nhà nho đều có các tác phẩm xướng họa thi văn, và vấn đề ở đây là chỉ có kiệt tác mới được đưa vào chương trình văn học ở các cấp lớp trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu thêm về danh sĩ này và viết lại nội dung về ông trong tờ trình để việc đề nghị dùng tên ông đặt tên đường mới không gây những phản ứng không có lợi từ cử tri.

C- Về 45 Tên Nhân Vật Lịch Sử Sau Thế Kỷ XX

Trần Sĩ Hùng: Kính đề nghị điều tra thêm về năm mất của vị anh hùng cách mạng này, vì ghi chú rằng ông “về nhận công tác ở Cục Bảo Vệ Chính Trị 1 – Bộ Công An cho đến khi nghỉ hưu” có thể sẽ gây ra thắc mắc vì sao Bộ Công An không biết cán bộ của mình mất lúc nào, và vì sao “nghỉ hưu” vốn liên quan đến nhiều cơ quan giải quyết chế độ chính sách mà không nơi nào biết vị này ở đâu, mất lúc nào, để lo việc hậu sự long trọng cho người anh hùng cách mạng này.

D- Về 27 Tên Nhà Nghiên Cứu, Nhà Hoạt Động Văn Hóa Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật:

1- Đề xuất cách lựa chọn:

a) Đối với các “nhà nghiên cứu, hoạt động văn hóa-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật” nên đặt ra các thang bậc để đánh giá những đóng góp (ưu tiên lựa chọn nhân vật thuộc bậc thang “cao”):

– Trung bình: làm tốt công việc chuyên môn, phẩm hạnh tốt

– Khá: phát triển được chuyên môn của bản thân có lợi cho nước cho dân và cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, kinh tế, v.v.

– Cao: rạng danh nước Việt Nam với thế giới (ở nước ngoài ngay cả một cá nhân ca sĩ hay một ban nhạc cũng có thể gây ảnh hưởng đến cả thế giới)

b) Đối với tác phẩm văn hóa phải theo cách nhìn nhận giá trị thông lệ là qua thử thách của thời gian bao nhiêu chục năm

2- Đề nghị xem lại các trường hợp sau:

a) Phạm Trọng Cầu: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

b) Thanh Nga: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

c) Út Trà Ôn: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

d) Xuân Quỳnh: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng các tác phẩm  chưa qua thẩm định của đủ thời gian thông lệ để được nhìn nhận giá trị văn học cũng như vị trí cao trọng trong văn học sử nước nhà để từ đó làm vẻ vang cho tên tuổi của tác giả.

E- Về 2 Tên Địa Danh:

Xin giới thiệu thêm tên địa danh:

– Phong Nha : đây là nơi được Hiệp Hội Hang Động Hoàng Gia Anh Quốc đánh giá là đẹp nhất thế giới và được tạp chí National Geographic phát hành số chuyên khảo giới thiệu với nhân loại. “Làm rạng danh Việt Nam trên thế giới” cũng nên là tiêu chuẩn xét đưa vào danh sách tên đặt cho đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh.

F- Kiến Nghị:

Kính đề nghị Quý Lãnh Đạo Thành phố Hồ Chí Minh cho phép tôi được tham gia tham khảo đóng góp ý kiến đối với những chương trình, dự tính, dự án, của địa phương về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, học thuật, an ninh-trật tự, v.v., nếu không thuộc loại tối mật của Thành phố, để giúp được nhiều hơn cho Thành phố.

Kính mong nhận được sự quan tâm của quý lãnh đạo.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, bà Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã không cho sửa sai cũng như chưa hề cảm ơn tôi dù là bằng lời nói hay bằng công văn.

Tương tự, tôi đã có thư gởi Nghị sĩ Phạm Khánh Phong Lan (Phó Giám Đốc Sở Y Tế) để nêu những tồi tệ trong việc kê toa thuốc tắc trách đầy nguy hiểm nơi các bịnh viện lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thay vì nhận được ý kiến phản hồi của vị chức sắc ấy, tôi lại nhận được lời nhắc nhở của Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh rằng tôi đã làm mếch lòng nghị sĩ Phong Lan; cũng như khi tôi gởi thư đến Nghị sĩ Huỳnh Ngọc Ánh (Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị can thiệp vụ làm ngơ kéo dài việc khiếu kiện của vị bô lão trên 90 tuổi Lý Vĩnh Bá ở Quận Phú Nhuận thì tôi chỉ làm cụ Lý Vĩnh Bá phải chịu đựng thêm sự “hành hạ” của Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh mà thôi.

Đấy là ở phạm vi một Thành phố. Liệu ở phạm vi Quốc Hội thì có chăng việc tương tự trong cách hành xử đối với các góp ý của các nghị sĩ địa phương – nhất là khi đó là nghị sĩ ngoài Đảng, không thế lực, chẳng ô dù?  Vì rằng nếu cung cách này phổ biến thì các dự án Luật sẽ luôn có vấn đề về nội dung sau khi được Chủ Tịch Nước ban hành.

7- Sự Bất Cập Trong “Tạo Điều Kiện” Cho Đại Biểu Quốc Hội

Có vị mới đây đã trả lời phỏng vấn rằng Quốc Hội có khoản trợ cấp để giúp các nghị sĩ có tiền làm việc với chuyên gia khi nghiên cứu về luật.

Trên thực tế: có mục trợ cấp ấy. Đây là việc bình thường, vì trên toàn thế giới không phải cứ là nghị sĩ thì biết tất tần tật mọi thứ.

Trên thực tế: trên cơ sở định mức của Quốc Hội cho mỗi lần sử dụng chuyên gia, nghị sĩ phải điền vào một biểu mẫu hợp đồng và phải nộp hợp đồng ấy cùng bài viết của chuyên gia cho Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội để được nhận vài triệu đồng trả công cho chuyên gia.

Tôi đã gởi thư đến Chủ Tịch Quốc Hội để nêu các luận điểm sau:

1- Hợp đồng quá sơ sài

2- Ai mới được gọi là “chuyên gia” và Quốc Hội có danh sách “chuyên gia” trên toàn quốc cho mỗi lĩnh vực không?

3- Nếu “chuyên gia” về một lĩnh vực đặc thù không sẵn có ở địa phương thì phải làm sao?

4- Nếu chỉ có một “chuyên gia” của một lĩnh vực đặc thù nào đó thì phải chăng Quốc hội cho phép chi trả cho một “chuyên gia” ấy bất kể anh ta nhận “viết bài” cho 450 nghị sĩ và gởi cùng một bài viết cho 450 vị ấy để nhận 450 phần tiền do các nghị sĩ không thể biết ngoài mình ra còn có ai sử dụng dịch vụ của “chuyên gia” ấy?

5- Tại sao phải nộp “bài viết” kèm theo, vì đó là thứ mà nghị rất cần giữ để “đọc” tại hội trường vào những buổi “trực tiếp truyền hình”?

6- Tôi – và chắc nhiều nghị sĩ khác cũng thế – không bao giờ cần thuê mướn “chuyên gia” kiểu đó, mà chính tôi phác thảo các yêu cầu cho một đề tài và rất cần thuê người dựa theo đó mà tìm các tài liệu giúp tôi, dịch các tài liệu ấy nếu từ nguồn nước ngoài, in ấn các tài liệu ấy để tôi đọc và đánh dấu các đoạn cần thiết, đánh máy tổng hợp các phần tôi đã đánh dấu để in ra nộp lại cho tôi dùng trong công văn góp ý do chính tôi soạn. Vậy những nhu cầu này có được xem là sử dụng “chuyên gia” không?

7- Do không phải tất cả các tư vấn của “chuyên gia” đều có giá trị sử dụng nên Quốc hội có sẽ đồng ý thanh toán cho “chuyên gia” ấy không nếu “công trình” của “chuyên gia” bị nghị sĩ có liên quan quyết định bỏ, không dùng đến?

Tất nhiên, tôi chưa từng nhận được phúc đáp của Chủ Tịch Quốc Hội, và suốt từ năm 2011 đến nay tôi luôn xuất tiền túi ra để thanh toán cho “chuyên gia” của tôi chứ không dại gì làm hồ sơ xin thanh toán cho “chuyên gia” vì tôi luôn thận trọng không bao giờ để bản thân bị mang tiếng đối với bất kỳ việc gì có liên quan đến tiền bạc một khi hợp đồng quá yếu kém dù do Bộ Tài Chính chấp bút, còn điều kiện thì quái gở.

Như vậy, các nghị sĩ khác nếu có sĩ diện giống tôi nhưng lại không muốn bỏ tiền túi ra thuê “chuyên gia” thì bảo sao mà không thụ động trong nghiên cứu các dự án luật mà đóng góp cụ thể được, khiến dự án luật cứ có nhiều hạt sạn từ nhỏ đến to.

8- Sự Hợp Tác Của “Dân”

Thật là lý tưởng tuyệt đối khi dùng hai chữ nhân dân trong việc lấy ý kiến toàn dân. Song, có một thực tế hiển nhiên ai cũng biết là Việt Nam sau năm 2000 rất khác với Việt Nam của thời 1975-1990.

Vào thời 1975-1990 việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc, luôn đông đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ dù không đặc sắc vẫn hàm chứa các nội dung chính quyền cần phổ biến và các hộ cần nắm thông tin.

Vào thời từ 2000 cho đến nay, việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh trở thành sự gượng gạo, không bao giờ đầy đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ vẫn không đặc sắc với nội dung chính quyền cần phổ biến lại không là thứ thông tin các hộ cần nắm bắt. Ba trong những nguyên nhân chính là (a) thông tin không hề thiếu trên truyền thông mạng cũng như báo in và truyền hình, (b) người dân có nhiều nhu cầu giải trí và có nhiều tiện nghi giải trí ở khắp nơi để tham gia sau giờ làm việc khiến khó thể có mặt để tham dự họp Tổ, và (c) đa số người dân không còn quan tâm đến sinh hoạt Tổ Dân Phố mà họ xem như một cực hình. Thậm chí khi “vận động” mọi người dân trong tuổi “cử tri” đi họp “tiếp xúc ứng cử viên đại biểu quốc hội” thì ngay cả việc có một người đại diện cho cả hộ dù hộ ấy có rất nhiều người trong độ tuổi luật định làm cử tri có mặt cũng là điều bất khả ở nhiều nơi.

Vì vậy, việc “lấy ý kiến” của người dân đối với một dự án luật không bao giờ đạt yêu cầu, trừ phi “người dân” đó là cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc ở phường xã đứng lên phát biểu để ghi vào biên bản biến thành “đóng góp ý kiến của nhân dân khu phố” rồi nộp lên cấp cao hơn. Đây là lý do đã, đang, và sẽ khiến việc “lấy ý kiến đóng góp của nhân dân” tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với một dự án luật không bao giờ giúp dẫn đến việc dự án luật ấy được nghiên cứu sâu sắc hơn để được hoàn thiện hơn.

9- Tranh Luận Về Dự Án Luật

Như đã nêu trong công văn sau tôi gởi đến Chủ tịch Quốc Hội và cũng như đã luôn được nêu lên bởi các cơ quan ngôn luận, việc tranh luận tại Quốc Hội về một dự án luật đã chưa hề được diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử của Quốc Hội:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về việc phát biểu tại Hội trường Quốc hội trong các kỳ họp.

1) Tình hình thực tế:

Qua các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII tôi nhận thấy quy trình phát biểu của đại biểu như sau:

a- Đại biểu vào hội trường bấm nút đăng ký

b- Lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp mời đại biểu phát biểu

c- Đại biểu phát biểu (chủ yếu đọc bài viết soạn sẵn để chủ động bảo đảm thời lượng quy đinh 7 phút)

Quy trình trên hoàn toàn công bằng theo mặc định (người trước người sau theo thứ tự ấn nút đang ký trước-sau) và theo tổ chức (lãnh đạo chủ trì sẽ điều tiết để tránh nhiều đại biểu cùng đơn vị cùng đăng ký trước nếu phát biểu theo thứ tự trước-sau sẽ không ành thời gian cho các đại biểu ở đơn vị khác).

Tuy nhiên, hai yếu điểm bộc lộ từ quy trình trên là người dân hoàn toàn không thấy có sự tranh luận bất kỳ tại Quốc hội mà chỉ có việc mạnh ai nấy đọc bản tham luận của mình, trong khi đó lại chứng kiến (qua trực tiếp truyền hình) việc lãnh đạo Quốc hội yêu cầu đại biểu không lập lại nội dung trùng ý của đại biểu khác đã phát biểu trước đó nhưng các đại biểu vẫn vô tư đọc đầy đủ và trọn vẹn các bài viết sẵn có các đoạn trùng ý.  Hai yếu điểm này sẽ được người dân nhận ra, làm gia giảm sự quan tâm đến các buổi trực tiếp truyền hình, khiến nỗ lực gia tăng thời lượng phát sóng trực tiếp bớt hiệu quả chính trị, trong khi đó lại gia tăng cơ hội cho bọn chống Việt Nam lợi dụng để chỉ trích.

2) Kiến nghị:

Để sự phát biểu mang ý nghĩa ích lợi thực tế, tôi kính đề nghị:

a- Trước kỳ họp, các đại biểu gởi bài phát biểu đến Quốc hội để được đăng tải trên trang web Quốc hội. Do đại biểu đã biết kỳ họp sẽ có nội dung nào, về các luật gì, và các đoàn đều có tổ chức mời giới luật gia và ban ngành đoàn thể đến tập trung góp ý cho từng dự án luật hay từng vấn đề một nên các đại biểu đều nắm thông tin, nghiên cứu thêm, và hình thành trước các bản góp ý hay phát biểu. Vấn đề là đem theo các bài soạn sẵn chờ đến kỳ họp đúng ngày đúng buổi để nhấn nút phát biểu và gặp phải sự phát biểu trùng ý sẽ khiến sinh hoạt như vậy kém hiệu quả và thiếu chuyên nghiệp. Việc đăng bài lên trang web Quốc hội (mỗi đại biểu có quyền gởi  hàng chục bài cho hàng chục đề tài khác nhau theo chương trình dự kiến của Quốc hội) giúp người dân theo dõi, và giúp các đại biểu đọc của nhau, từ đó phát hiện những vấn đề nào cần phải tranh luận thêm vì chưa đồng thuận để ghi nhận và chờ đến kỳ họp để tranh luận trực tiếp tại hội trường.

b- Tại kỳ họp, việc nhấn nút của đại biểu là để tranh luận về chi tiết ý kiến mà đại biểu khác đã thể hiện trong bài viết đã đăng tải trên web Quốc hội mà người dân đã đọc và đã nắm thông tin. Việc theo dõi tranh luận – nếu nhằm phiên có trực tiếp truyền hình – của người dân do đó sẽ có hứng thú trước nội dung tranh luận, khả năng hùng biện, hiệu quả thuyết phục, để qua đó nhận xét về khả năng của từng đại biểu của dân. Theo cách này, thời gian mỗi kỳ họp có thể ngắn hơn, hoặc có nhiều thời gian hơn cho những vấn đề trọng đại khác mà từng thời điểm có thể đặt, thay vì chỉ là việc đọc các bài soạn sẵn để góp ý cho một dự án luật nào đó mà sự góp ý có thể thực hiện sớm hơn (gởi email để được đăng ngay lên web Quốc hội), ít tốn kém cho Nhà nước hơn (chi phí cho thời lượng phát sóng trực tiếp để dành giúp dân nghèo).

c- Ngoài ra, về vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin (xin được gọi tắt là IT) cũng cần nâng cấp hợp lý, theo đó, khi một đại biểu đang phát biểu (theo hướng b ở trên), các đại biểu khác nếu thấy nhất thiết phải tham gia phản bác thì có thể nhấn nút để “chen ngang”, theo đó, sau khi đại biểu ấy phát biểu xong, lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp sẽ mời đại biểu nhấn nút “chen ngang” phát biểu thay vì mời đại biểu đã đăng ký tiếp theo trước đó. Theo cách này, sự tranh luận sôi nổi tại hội trường sẽ được hình thành, và đó là điều cần thiết trong sinh hoạt Quốc hội. Việc thêm một chức năng như vậy vào hệ thống IT, theo tôi, không phải là điều có khó khăn về kỹ thuật và tài chính.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Như vậy, có thể nói rằng các phát biểu của nghị sĩ về một dự án luật tại Nghị Trường – đặc biệt vào những buổi có trực tiếp truyền hình – chưa bao giờ giúp hoàn thiện một dự thảo dự án luật do đa số các vị đọc các bài soạn sẵn mà nhiều khi lập lại ý kiến trùng lặp với nghị sĩ đã phát biểu trước đó, đến độ có khi chủ tọa phiên họp phải chen ngang nhắc khéo là hãy bỏ các ý trùng lặp để dành thời gian cho nghị sĩ khác thì vị nghị sĩ đang đọc cũng không thể loại bỏ phần nào cả vì không rõ đoạn nào mới là đoạn trùng lặp vì đã không tập trung lắng nghe bài phát biểu của vị khác trước mình. Đã không có tranh luận sâu sắc để hùng biện đả phá những điều khoản của từng điều khoản quan trọng của mỗi dự thảo dự án luật thì việc một đạo luật ban hành đạt yêu cầu hoàn hảo lại tùy phần lớn vào sự may mắn.

Làm luật mà đặt vấn đề quan trọng nhất là rà soát xem dự thảo có phù hợp với chủ trương không, có phù hợp với trào lưu “tiến bộ văn minh” của thế giới không, có phù hợp với “nhân quyền” không, trong khi phớt lờ chín điều nêu trên thì quả là khiến việc lập pháp sẽ luôn đối mặt với những vấn nạn này nọ.

Với các hiểu biết thấu đáo và kinh nghiệm va chạm thực tế tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lẽ ra đã có thể ra tay chấn chỉnh đoàn Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong Khóa XIV để đem Đoàn từ căn bịnh trầm kha thâm căn cố đế camouflage tiến vào thực tế chuyên nghiệp nghị viện. Tuy nhiên, tôi sẽ dõi mắt quan tâm đến hoạt động của từng thành viên trong Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) của Thành phố Hồ Chí Minh để có thể viết các góp ý mới khác để tiếp tục gởi Chủ Tịch Quốc Hội nhằm xây dựng một Quốc Hội Việt Nam lành mạnh thực chất hơn trong chức năng lập pháp và giám sát.

HHP Poem (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) QUỐC HỘI

1) Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng November 9, 2013

2) Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện.  November 14, 2013

3) Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. 26 November 2013

4) Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 April 29, 2014

5) Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc May 11, 2014

6) Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội May 31, 2014

7) Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm” July 1, 2014

8) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường. July 18, 2014

9) Thư Gởi Thủ Tướng August 20, 2014

10) Hành Trang Nghị Sĩ September 17, 2014

11) Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam October 4, 2014

12) Phản Hồi Của Bộ Giao Thông Vận Tải November 4, 2014

13) Bài 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội December 21, 2014

14) Bài 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam December 24, 2014

15) Bài 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam January 20, 2015

16) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội – Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp January 21, 2015

17) Bài 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội February 5, 2015

18) Báo cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước December 4, 2015

19) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi Của Người Dân December 13, 2015

20) Bài 5: Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. February 24, 2015

21) Bài 6:  Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang” December 27, 2015

22) Bài 7:  Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân December 28, 2015

23) Phải Biết Lo Trước Cái Lo Của Người Dân December 31, 2015

24) Bài 8: Công Tác Tiếp Dân January 2, 2016

25) Bài 9: Công Tác Giám Sát Của Nghị Sĩ January 3, 2016

26) Bài 10: Công Tác Ủy Ban Quốc Hội January 4, 2016

27) Hãy Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tự Do Cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) January 9, 2016

28) Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021) March 8, 2016

29) Quyền Lực Của Cử Tri March 24, 2016

*** Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương January 21, 2015

B) PHÁP LUẬT

1- Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình  June 5,2013

2- Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992. 05 June 2013

3- Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp July 25, 2013

4- Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân  November 22, 2013

5- Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi) November 26, 2013

6- Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 November 26, 2013

7- Biểu Tình và Ô Danh. May 20, 2014

8- Luật Biểu Tình. May 26, 2014

9- Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

10- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên. April 2, 2015

11- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. April 14, 2015

12- Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? September 18, 2015

13- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” October 14, 2015

14- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)” October 18, 2015

15- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)” October 18, 2015

16- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân” November 14, 2015

17- Huỳnh Văn Nén December 6, 2015

18- Điều Luật 258 April 2, 2016

19- Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague May 22, 2016

20- Hình Sự Hóa Quan Hệ Hợp Đồng Kinh Tế June 8, 2016

21- Sự Cố Luật Hình Sự June 28, 2016

*** Pháp Luân Công October 7, 2015

Trích từ Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016

Lam Luat 1Lam Luat 2Lam Luat 3Lam Luat 4

Giặc Tàu Mọi Rợ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 6 đăng cùng ngày hôm nay 26-6-2016, lúc 22 giờ

Sử ghi lại rằng vào đời Hậu Lê, hai đại thần Giang Văn Minh (Phúc Lộc Hầu) và Nguyễn Duy Hiểu (Thiêm Đô Ngự Sử) được vua cử cùng làm chánh sứ đi với bốn vị phó sứ lên đường sang Tàu cầu phong và tiến cống nhà Minh.

Để làm nhục sứ thần nước Việt, hoàng đế Minh Sùng Trinh Chu Do Kiểm trong lễ tiếp đón phái đoàn ngày 02-6-1639 đã ra vế đối “Đồng Trụ Chí Kim Đài Dĩ Lục” ý nói trụ đồng đến nay đã rêu xanh, nhắc đến tích Mã Viện chiếm đóng nước Việt sau khi bức hạ Hai Bà Trưng đã cho dựng một cột đồng với lời đe dọa dân Nam hãy khôn hồn mà giữ cho cột đứng vững thiên thu, bằng không thì ngày nào trụ ngã ngày đó dân Nam sẽ bị tuyệt diệt, ý nói người Việt ắt đã vì run sợ mà giữ cột trụ đứng yên qua quá nhiều năm tháng đến nỗi phải xanh rêu mà vẫn chưa dám chống lại thiên triều. Chánh sứ Giang Văn Minh đã hiên ngang dõng dạc trước triều đình Đại Minh mà đối rằng “Đằng Giang Tự Cổ Huyết Do Hồng” ý nói Sông Bạch Đằng sau ba lần quân Tàu đại bại cho đến nay nước vẫn còn đỏ máu Tàu tanh. Minh Sùng Trinh nộ khí xung thiên, bất chấp nghi lễ ngoại giao cấm chém sứ thần, đã ra lệnh gắn trám đường vào miệng và mắt của Giang Văn Minh rồi mổ bụng tại chỗ để xem gan to mật lớn đến dường nào mà dám nói chõi với thiên triều, đồng thời thảm sát chánh sứ Nguyễn Duy Hiểu do tội dám lên tiếng đồng lòng giữ gìn quốc thể. Không rõ do ân hận vì hành động tàn bạo làm điếm nhục uy phong hoàng triều Đại Minh đối với các chư hầu, hay do khiếp sợ dân Việt nhổ trụ đồng Mã Viện tiến quân qua đánh cho Dương Tử Giang nhuộm đỏ máu Nhà Minh, Sùng Trinh đã lật đật cho ướp xác các quan chánh sứ bằng bột thủy ngân và long trọng dùng đại lễ cho đưa thi hài về nước Việt.

Phái đoàn “tiểu quốc” lặn lội vượt đường xa quan san diệu vợi mất hàng năm trời mới đến đặng kinh đô mà dâng cống với biết bao trân châu bảo ngọc, sừng tê ngà voi, mỹ nữ, nghệ nhân, lương y, thảo dược, cùng vô số của cải khác theo lệ “thiên triều” và “xuống nước” xưng “thần” để cầu mong vua Tàu ban cho vua Việt một tước vương, thế mà hoàng đế nước Tàu tuy lớn lối trấn giữ “trung tâm vũ trụ” (Trung Hoa), vẫn là đứa thất phu khinh thế ngạo vật ngồi xổm trên chồng sách Tứ Thư Ngũ Kinh, mồm rống ta đây hào quang thiên mệnh thiên tử, gác chân lên đầu bao bậc “thánh nhân” như lão Khổng và lão Lão, xỉa ngón tay trỏ khoe bao điều kỳ vĩ khác, dùng thói lưu manh đàng điếm, xó chợ đầu đường, khát máu bạo tàn, đớn hèn ti tiện, mổ bụng phanh thây sứ thần thám hoa Giang Văn Minh và sát hại sứ thần tiến sĩ Nguyễn Duy Hiểu. Tuy dân tộc Việt tôn kính nhị vị chánh sứ hy sinh giữ gìn quốc thể, đã đưa tên hai cụ vào bia đá thứ 32 tại Quốc Tử Giám, Hà Nội, song thù này có người Việt chân chính nào lại dám giây phút lãng quên, có bậc nghĩa khí hào kiệt nào của đất Nam không trỏ tay về phương Bắc nghiến răng thề quyết không đội chung trời, và có chính nhân quân tử nào hậu duệ Hùng Vương không hứa với tiền nhân sẽ có ngày diệt tiêu Tàu giặc con cháu Từ Hy.

Nay đến bọn lóc chóc Đài Loan cũng dựa hơi giặc mọi, tuy thân tàn ma dại (vì ngay đến Mỹ cũng không dám công nhận là quốc gia do sợ Tàu nộ khí xung thiên cho mổ bụng xem gan, trám đường vô họng, nên tuy bán cho vũ khí cực kỳ hiện đại y như với đồng minh thân cận khác, vẫn cứ muôn đời gọi Đài Loan chỉ là “lãnh thổ” mà thôi), cũng bày trò chiếm đóng hải đào Trường Sa (vừa làm Việt nổi trận lôi đình, vừa làm Mỹ cà lăm lắp bắp trong trận đấu khẩu với Tàu), cứ tưởng ta đây nòi giống Mã Viện trụ đồng, mà dốt Sử nên chớ biết Bạch Đằng Giang còn tanh đỏ máu của tổ sư tổ mẹ tổ cha Mã Viện *.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: * tổ sư, tổ mẹ, tổ cha là những từ viết tắt của “tổ tiên của…thầy”, “tổ tiên của…mẹ”, và “tổ tiên của…cha”.

Ghi chú: Bài viết trên đã đăng lần đầu ngày 14-9-2012 tức vào năm thứ hai của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tài liệu tham khảo:

Văn Long. 20-8-2012. Sứ Thần Vì Quốc Thể. Báo Đại Biểu Nhân Dân, trang 5.

Quân Đội Mỹ Phải Là Cứu Tinh Của Thế Giới

Bằng Cách Dạy Binh Sỹ Biết Rằng Sát Hại Thường Dân Là Phạm Tội Ác Chiến Tranh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-6-2016

Tôi, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đầu nhiệm kỳ XIII đã viết bài sau đăng trên Emotino.com. Nay xin đăng lại trên blog này để sau hai mươi năm nữa mọi người trong thiên hạ nghiệm xem ai trong số những binh sỹ Mỹ phạm tội ác chiến tranh bị nêu tên trong bài viết này có sẽ được thưởng Huân Chương Sao Đồng, có trở thành Thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, có là ứng cử viên Tổng Thống Mỹ, và có là Chủ tịch Trường Đại Học Fulbright Afghanistan hay không.

Tất nhiên, bài viết này còn để nhắc nhở có biết bao thường dân Việt Nam đã bị sát hại nhất là hàng ngàn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị chặt đầu bởi binh sỹ Trung Quốc và binh sỹ Kampuchea. Những tên cầm thú Khmer Đỏ hôi hám sau khi sát hại dã man 3.157 thường dân Việt Nam mà núi đầu lâu còn lưu chứng tích ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang, đã bị Việt Nam đưa vạn hùng binh kéo rốc đánh đến tận hang ổ Phnom Penh giết sạch bọn chó dại để thực hiện truyền thống Việt: ân vạn kiếp vẫn đền, oán vạn đời vẫn trả. Tương tự, bọn giặc man di mọi rợ thối hôi Trung Quốc đã bị đánh cho tan tác phải để lại núi thây binh sỹ chất chồng trận địa chốn biên cương Việt. Không ai trong bọn chúng bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh, đơn giản vì toàn bộ đã bị Việt Nam bắt phải đền tội trực tiếp trên chiến trường tử địa.

Ngoài ra, bài viết này còn để nhắc nhở các chiến binh Việt hãy luôn khắc cốt ghi tâm rằng trong trận chiến của tương lai nếu buộc phải kéo rốc truy sát đến tận hang ổ Bắc Kinh, không được phép sát hại bất kỳ người Trung Quốc nào không cầm vũ khí, không mặc quân phục, để không bao giờ bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.

*********

Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2012

George Santayana tức Jorge Agustín Nicolás Ruiz de Santayana y Borrás (1863-1952), triết gia, tiểu thuyết gia và nhà thơ Tây Ban Nha, học tập thành tài tại Mỹ và ở lại giảng dạy tại Đại học Harvard cho đến năm 48 tuổi thì bỏ về Tây Ban Nha thề không bao giờ trở lại, được biết đến toàn thế giới với câu nói lừng danh “Those who do not remember the past are condemned to repeat it” tức “Kẻ nào lãng quên quá khứ (sai lầm xằng bậy của mình) sẽ phải lập lại quá khứ (sai lầm xằng bậy) ấy.” Hai bức ảnh dưới đây gồm bức đen trắng ảnh một binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần trên thân thể một chiến binh Việt Cộng và bức ảnh màu chụp cảnh các binh sĩ Hoa Kỳ chụp hình lưu niệm với những gì còn sót lại phần dưới thân thể một chiến binh Afghanistan. Khoảng cách nửa thế kỷ của hai bức ảnh giữa một bên là vào những năm 60 của thế kỷ trước và năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ này (2010) vẫn cho ra một điều giống y nhau về thú tính bất nhân mọi rợ của những binh sĩ Hoa Kỳ ít – hoặc chẳng bao giờ được – học về nhân quyền, vốn là một sự thật mà bài viết này muốn nói đến, với sự trùng hợp của định mệnh khi tháng 4 năm nay là tháng của Lễ Chiến Thắng của Việt Nam – tức ngày chiến bại của Hoa Kỳ, đất nước của binh sĩ trong ảnh đen trắng bên trái – và tháng 4 năm 2012 này cũng là tháng mà tờ báo Los Angeles Time Hoa Kỳ đăng tải hàng chục bức ảnh bất nhân mọi rợ của các binh sĩ Mỹ đối với xác “đối phương” và người dân vô tội Afghanistan với bức ảnh màu bên phải là một thí dụ. Vậy lập lại sai lầm là như thế nào.

US Army 1

Khi người thợ săn hạ được con thú, người ấy đứng chụp hình bên chiến lợi phẩm (y như nhà vua Vương Quốc Bỉ vừa bị “bỉ’ mặt vì lén qua Phi Châu dùng tiền thuế của dân bắn hạ một con voi, chụp hình với xác voi, rồi bị hồn thiêng của voi vật té ngựa bị trặc hông phải nhập viện làm bại lộ chuyến đi). Khi các binh sĩ Mỹ chụp hình với xác đối phương, ấy là họ xem đối phương là con thú. Họ xúc phạm Đức Chúa Trời nếu họ vẫn tin rằng ông ta tạo ra vạn vật và loài người. Họ xúc phạm tổ tiên Hoa Kỳ, những người bị lưu đày, những tên tội phạm, những kẻ thất thế sa cơ ở Châu Âu đổ về vùng đất mới (nay gọi là Hoa Kỳ) để được sống kiếp người, với khát vọng con cháu họ sẽ được là con người và biết tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền. Hãy thử xem đó là do sự dốt nát của vài chiến binh, hay là sự lập lại, sự lây lan, sự lưu luyến những lề thói cũ của những kẻ cho mình là người và những kẻ gần những kẻ cho mình là người nên cũng nghĩ chỉ có mình mới là người và bắt chước bọn tự cho mình là người ấy để xem kẻ thù chung là con vật.

Trong khi dân quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vội nhào xuống nước bơi nhanh đến cứu sống viên phi công John McCain ngày 26-10-1967 khi máy bay ném bom Mỹ sau khi tàn phá Hà Nội bị bắn rơi xuống Hồ Trúc Bạch, Hà Nội, đối xử với Ông với tình người và tinh thần nhân quyền, tôn trọng tù binh chiến tranh theo đúng công ước quốc tế, để sau này Ông trở thành Thượng Nghị Sĩ, ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ

US Army 2

hoặc võng cáng đưa tù binh Mỹ bị thương đi sơ tán tránh bom Mỹ

US Army 3

thì các chiến binh Hoa Kỳ lái xe thiết giáp kéo lê xác một “Việt Cộng” như xác một con vật,

  US Army 4

hoặc xúm lại tra tấn tù binh cộng sản (hai chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa giữ đầu để đổ nước vào mũi tù binh, còn chiến binh Hoa Kỳ dùng đầu gối ấn vào bụng cho tù binh ói nước)

US Army 5

còn khi gặp phải “tên Việt Cộng” trung kiên với Đảng, không khai báo, họ lôi “hắn” lên trực thăng bay cao vài cây số rồi xô xuống

 US Army 6

Đối với tù binh cộng sản, các quân nhân Mỹ đã làm những điều điều tàn ác như thế, thì chỉ có dân lành mới đúng là số đông lý tưởng cho một cuộc đi săn thú mà thôi, như cuộc thảm sát ở Mỹ Lại năm nào:

 US Army 7

Học tập từ quân trường Quang Trung theo các bài bản của Mỹ, viên đại úy Việt Nam Cộng Hòa này đã đằng đằng sát khí lăm lăm ngọn lưỡi lê chực chọc vào bụng một tù binh cộng sản trong khi các quân nhân Cộng Hòa khác ái ngại thảng thốt đứng nhìn

US Army 8

Tương tự vị sĩ quan, người lính Cộng Hòa này đã dùng lưỡi lê cắt họng người nông dân do không chịu chỉ điểm vị trí của Việt Cộng (ảnh của Horst Faas chụp ngày 09-01-1964, Hãng Thông Tấn AP)

US Army (3)

lưỡi lê luôn là dụng cụ tra tấn và sát hại tù binh cộng sản

 US Army 10

sự sợ hãi lồng căm thù khiến người chiến binh Cộng Hòa xem người phụ nữ già không khác gì một tên giặc

US Army 11

đến độ sự vô cảm với người dân còn được ống kính một phóng viên nước ngoài ghi cảnh một nông dân bế xác con thơ, với những gương mặt hoặc tò mò hoặc cười vui vẻ của các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa trên xe thiết giáp, tháng 3 năm 1964

US Army 12

Nhưng trong khi các sĩ quan Mỹ giở trò thú tính và vị tư lệnh Mỹ phải cố phân trần để không kết tội họ, thì tình hình rất khác trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa khi các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tước khẩu AK của chiến binh cộng sản Bảy Lốp

US Army 13

dẫn Bảy Lốp đến gặp Tướng Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Loan, và viên tướng này rút súng chỉa vào thái dương Bảy Lốp mà bóp cò trước anh mắt kinh hoàng hoảng hốt của những quân nhân, và mặc cho có sự có mặt của phóng viên nước ngoài

US Army 14

viên tướng lạnh lùng cất súng vào bao lúc Bảy Lốp ngả vật xuống đường phố Sài Gòn, tay vẫn còn bị trói thúc ké sau lưng trong tư thế một tù binh chiến tranh

US Army 15

Thế đấy, trong khi những người cộng sản Việt Nam biết tuân thủ các công ước quốc tế về tù binh chiến tranh thì các chiến binh của họ đã không được kẻ thù đối xử tương tự. Họ: những kẻ cho mình là người, và xem kẻ thù là súc vật, khiến bức ảnh sau trên tạp chí Life số ra ngày 26-11-1965 đã khiến người dân các nước trên thế giới phản đối

US Army 16

Sau khi xảy ra vụ tồi tệ tại Mỹ Lại, Mỹ đã phủ nhận “quá khứ”, để rồi tháng 4 năm 2012 này lại phải đối mặt với vụ tồi tệ mà các binh sĩ Mỹ đã gây ra với tù binh và dân thường Afghanistan.

US Army 17

Sau khi giết em Mudin, một thiếu niên đang chạy bộ kiếm mua thức ăn cho gia đình, các quân nhân Mỹ đã lột trần truồng thi thể của Mudin. Andrew Holmes và Jeremy Morlock thay phiên nắm tóc dựng đầu xác chết của Mudin. Việc chụp hình cứ như thể đó là một chiến công đã bắn hạ một quân phiến loạn tức một con vật. Tệ hại hơn, Holmes đã cắt mấy ngón tay của cậu bé Mudin, cất vào túi có dây kéo và bảo các chiến hữu rằng sẽ phơi khô đem về làm bộ sưu tập sau này.

US Army 18US Army 19

Morlock còn khét tiếng với màn chụp hình vui vẻ với vài trẻ em Afghanistan dạn dĩ rồi lên xe quân sự Stryker vừa lái vừa ném kẹo để các trẻ này cùng rất đông trẻ em rụt rè khác túa ra từ nhà dân ra lượm kẹo, còn Morlock xả súng ra phía sau, tàn sát các em bé này, trong khi các chiến hữu khác cho xe Stryker cán dày xéo lên người các em.

US Army 20

Andrew Holmes, Michael Wagnon, Jeremy Morlock và Adam Winfield đã làm ô danh nước Mỹ và tất nhiên nếu luật pháp Mỹ tha tội cho chúng như đã từng tha tội cho những kẻ gây ra cuộc thảm sát ở Mỹ Lại (Việt Nam), thì chúng cũng sẽ kết thúc phần đời còn lại trong tủi nhục vì bị khinh rẻ bởi người dân Mỹ chân chính. Nhưng chính quân đội Mỹ mới phải chịu phần trách nhiệm lớn nhất vì đã đào tạo ra những anh hùng cá nhân bịnh hoạn, không mô phỏng mô hình giáo dục quân đội cộng sản Việt Nam, nơi đào tạo ra những chiến binh anh hùng cách mạng. Ngay từ ngữ phân trần của tư lệnh Mỹ tại Afghanistan rằng quân nhân Mỹ được học điều lệnh rằng phải handle remains (xử lý xác chết hoặc phần thi thể còn lại) của quân thù một cách nhân văn nhất có thể được mà không hiểu rõ tiếng Mỹ tiếng Anh rằng “handle” không mang nội hàm duy chỉ có nghiêm túc, còn “nhất có thể được” luôn mang nội hàm không bao giờ cao nhất, không bao giờ tốt nhất, và thậm chí có cũng được mà không thì cũng chẳng hề chi. Một quân đội lại dùng thứ tiếng Anh thô thiển đầy sai sót như thế trong quân lệnh, thì sao lại có thể trách các binh sĩ nếu họ đột xuất thành thú vật như người sói lúc tròn trăng?

Vì sai lầm muốn hạ “Bắc Việt” bằng mọi giá, năm 1974 Mỹ đã làm ngơ, bỏ mặc cho các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc đánh tan tác, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bị Trung Quốc sát hại, và Quần Đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, nhằm làm Bắc Việt hoặc phải lo đánh nhau với Trung Quốc không thể tiếp tục chống Mỹ, hoặc bị ô danh mang tiếng “bán nước” vì để yên cho Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Sai lầm này của Mỹ đã khiến Trung Quốc chiếm ưu thế mưu bá đồ vương làm chủ Biển Đông, về sau đe dọa an ninh các quốc gia đồng minh của Mỹ trước kia thuộc khối quân sự SEATO tức Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, cái tổ chức đã tan rã cùng với sự tháo chạy của Mỹ, sau đó đã  kết hợp lại với Việt Nam hình thành khối kinh tế ASEAN ngày nay, mà Mỹ dù có muốn quay lại cũng đã muộn màng về chiến lược trước thế lực hải quân hùng mạnh của Trung Quốc.

Vì sai lầm muốn hạ Việt Nam cộng sản bằng mọi giá, thay vì nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ 1976, viện trợ Việt Nam, bồi thường chiến phí, giúp Việt Nam nhanh chóng giàu mạnh như Nhật Bản để bảo vệ an nguy cho toàn vùng Đông Nam Á vốn toàn là đồng minh của Mỹ, cho phép Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Cam Ranh, cho phép chiến hạm Hoa Kỳ ngang dọc Biển Đông triệt tiêu tham vọng của Trung Quốc tràn xuống phương Nam chiếm đóng Đông Nam Á và xâm lược Châu Đại Dương cùng Châu Nam Cực, Mỹ vừa bật đèn xanh tuyên bố ủng hộ Trung Quốc ồ ạt tấn công Việt Nam năm 1978, vừa đánh bồi bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam khi thấy Việt Nam không những tồn tại trước sự xâm lược của Campuchia mà còn tiêu diệt luôn chế độ Khmer Đỏ, khiến Việt Nam chậm phát triển hơn trong thời điểm Trung Quốc phát triển nhanh hơn, và nay đe dọa uy thế của chính Hoa Kỳ, hù dọa các nước Đông Nam Á, thách thức sức mạnh hải quân Mỹ trong khu vực trọng yếu này của thế giới.

Vì tất cả những sai lầm trên, việc đầu tiên Mỹ có thể nhanh chóng sửa sai là giáo dục lại quân đội Hoa Kỳ về nhân quyền, để họ biết phân biệt thế nào là văn minh và mọi rợ, thế nào là chiến binh anh hùng và sát thủ man di, nhất là thế nào là danh dự quốc gia vốn là điều mà binh sĩ Hoa Kỳ hầu như không biết đến; đồng thời, các tướng lĩnh Mỹ phải rà soát lại các điều lệnh, sử dụng những nội dung tiếng Anh mang nội hàm rõ ràng, minh bạch, nhằm triệt tiêu bất kỳ sự vi phạm nào mang tên do-không-hiểu-biết hoặc tại-bị-vì-bởi-ngôn-ngữ-chứa-sẵn-lời-động-viên-làm-bậy. Nếu không chấn chỉnh, sự có mặt của Hoa Kỳ ở Biển Đông thay vì đáp ứng sự kỳ vọng của người dân ASEAN, hành vi thú tính mất dạy về nhân quyền của binh sĩ Mỹ sẽ đưa Mỹ lâm vào bước đường mạt vận nếu các hạm đội Trung Quốc từ phương Bắc tràn xuống và các chiến binh Hồi giáo cảm tử Indonesia tức giận vì thi thể chiến hữu bị làm nhục ở các nước Hồi Giáo anh em sẽ từ phía Nam đánh lên bằng xuồng cao tốc.

Hãy học hỏi Việt Nam về nhân quyền để đừng bị lời nguyền lập lại sự thất trận của quá khứ.

US Army 21US Army 22US Army 23

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Nước Mỹ Bất Hạnh

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Trăm Trứng

Nguyễn Thiện Nhân

                    Dụng Nhân Sai Lầm & Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-6-2016

NTNNTN1

A) Tôi Và Ông Nguyễn Thiện Nhân

Ông Nguyễn Thiện Nhân là một thí dụ điển hình về vấn nạn dụng nhân tại Việt Nam.

Trong tiểu sử của Ông công bố chính thức trên website của Quốc Hội Việt Nam, Ông có thời gian làm nghiên cứu sinh tại Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Tuy nhiên, sự thật lại không là như vậy.

Trong thời gian công tác ở Văn phòng Đại diện Công ty CIMMCO International (vốn là bộ phận xuất khẩu-nhập khẩu-dự án kỹ nghệ ngoài nước của CIMMCO Limited trực thuộc tập đoàn công-kỹ-thương-du Birla lừng danh của Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh), tôi thường đến Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc với Phó Chủ Tịch Nguyễn Văn Huấn (Anh Ba Huấn) và Chánh Văn Phòng Nguyễn Hậu (Anh Sáu Hậu). Trong một lần thực hiện một gói GOI Credit (viện trợ của Chính phủ Ấn Độ – Government of India), theo ý của Chủ tịch D.K. Goyal tôi lập kế hoạch đưa  Giám Đốc Amit Kumar Saxena đến gặp một lãnh đạo Sở, và thư ký của tôi đã phone liên lạc với một công chức ở Sở ấy để lên lịch cuộc hẹn. Vị công chức giúp thu xếp cuộc gặp ấy là Nguyễn Thiện Nhân.

Một thời gian sau, khi làm giám đốc điều hành cho Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ 100% vốn nước ngoài của Mỹ (Bang California), trở thành hội viên của Phòng Thương Mại Mỹ AmCham ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được mời tham dự một sự kiện do AmCham tổ chức ở Khách Sạn Caravelle. Tại buổi gặp với một trăm doanh nhân các công ty Mỹ này, viên chức Mỹ đứng đầu AmCham đã giới thiệu Ông Nguyễn Thiện Nhân với mọi người. Ông đã nói về Ông Nguyễn Thiện Nhân như một ngôi sao học thành tài từ Mỹ về trở thành lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, và khiến mọi người cười ầm lên khi nói “Ngài Nhân đây có bằng cấp tiến sĩ về một cái ngành gọi là Cybernetics mà tôi chẳng hiểu nó là về cái mô tê gì sất.” Ông Nguyễn Thiện Nhân sau đó đã phát biểu bằng tiếng Anh với cử tọa, trước khi mọi người dùng tiệc trưa.

Như vậy, Ông Nguyễn Thiện Nhân là Tiến sĩ Cybernetics của Đại Học Kỹ Thuật Magdeburg ở Đông Đức chứ không phải là “nghiên cứu sinh” như chi tiết lý lịch trên web. Không rõ vì sao có sự dấu giếm này về học vị tiến sĩ của Ông, khiến có sự hồ nghi rằng Ông đã không có bất kỳ công trình nghiên cứu nào sau đó để thực hành xây dựng kỹ thuật tiên tiến cho đất nước, phát triển ngành Cybernetics tại Việt Nam, làm Ông trở thành người Việt Nam duy nhất biết thế nào là Cybernetics.

B) Cybernetics Kỹ Thuật Điều Khiển Học

Cybernetics là ngành Kỹ Thuật Điều Khiển Học. Đây là ngành được ứng dụng bởi quân đội Hoa Kỳ để chế tạo các vũ khí mà người ta ngày nay vẫn lầm tưởng chỉ là hư cấu do chưa thấy xuất hiện ngoài đời mà chỉ có thể thấy được trên các phim viễn tưởng hoành tráng kiểu Star Wars – Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao, hoặc gần đây nhất là những phim khoa học giả tưởng vĩ đại kiểu Avatar. Từ thực tế đã chế tạo xe bốn chân sử dụng trong quân đội Hoa Kỳ như các dòng CAM (cybernetic anthropomorphous machine của công ty General Electric) có chiến sĩ “lái” (cổ xe to có 4 chân) nếu để tấn công,

NTN0

hoặc không người lái (to như một chú ngựa) nếu để tiếp liệu vũ khí đạn dược quân trang quân dụng ra chiến trường:

NTN3

đến những thăng hoa lấn vào tất cả các thiết kế dữ dội của phim ảnh Hollywood như những thứ vũ khí tấn công của tương lai với một chiến binh sử dụng không phải xe tăng mà là robot tăng cử động chính xác theo từng cử động tay (để sử dụng hỏa lực trên hai tay của robot) và chân (để đi, bò, chạy) của chiến binh bên trong “buồng điều khiển” tức “cabin”, người ta đều thấy hiện thực và tương lai của Cybernetics

NTN4NTN5NTN6

khiến từ chiếc CAM thành phẩm của thực tế người ta đã thiết kế ra mô hình các “chiến xa” hai chân, bốn chân, hay sáu chân mang tên AT-AT (Thiết Giáp Địa Hình), AT-ST (Trinh Sát Địa Hình), AT-DP (Phòng Thủ Địa Hình), AT-TE (Tiếp Viện Chiến Lược Địa Hình), AT-PT (Chuyển Quân Địa Hình), AT-AA (Phòng Không Địa Hình), AT-TR (Tấn Công Địa Hình), AT-XT (Thám Sát Địa Hình), AT-OT, AT-RT, v.v., mà chắc chắn sẽ tiến từ viễn tưởng sang thực tế như đã luôn xảy ra trước đó với tiềm thủy đỉnh, phi cơ, phi thuyền, hỏa tiển hành trình, và “drone” sát thủ bay không người lái, v.v., để phục vụ chiến tranh.

C) Dụng Nhân Sai Lầm

Thế mà thay vì Việt Nam có một nhà vũ khí học Nguyễn Thiện Nhân hoặc một giáo sư giảng dạy khai sinh ra ngành điều khiển kỹ thuật học Cybernetics lợi nhuận hàng triệu tỷ USD cho Việt Nam chỉ mới tính cho mỗi việc chế tạo thiết bị phục vụ người khuyết tật chi vận động trên toàn thế giới, người ta lại thấy con đường bình thường cực kỳ tầm thường mang tính cố tật cố hữu của cách “dụng nhân” của Việt Nam: hễ có bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ là được bố trí làm…lãnh đạo, dù là lãnh đạo quản lý trường đại học hay lãnh đạo quản lý trái ngành. Đây là lý do mang tính vấn nạn khiến Việt Nam

(a) thiếu chuyên gia công kỹ nghệ bậc cao,

(b) tạo tâm lý phổ biến nhanh lan tỏa rộng của thói hám hư danh thuần túy từ chương: học để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(c) học thạc sĩ hay tiến sĩ không để theo đuổi con đường nghiên cứu mà cũng chỉ để “làm lớn”, để “sung sướng”, để “không làm gì cả”,

(d) khiến chất lượng giáo dục đại học ngày càng xuống cấp vì các tiến sĩ lo giữ ghế quản lý và dành thời gian đi phát biểu ở các hội nghị,

(e) các tiến sĩ làm nhà tư vấn đẳng cấp quốc gia chỉ có thể cho ra các phát biểu sâu sắc phục vụ cho các bản tin báo chí hay phát hình chứ không có giá trị thực tiễn dựng xây phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, và nghiêm trọng nhất là

(f) giáo sư tiến sĩ ngồi sai ghế.

Ông Nguyễn Thiện Nhân là thí dụ điển hình của sáu số chữ cái trên.

Vấn nạn lớn nhất ở đây còn là vì sao bao tiền bạc và cơ hội học tập chuyên ngành lại đổ dồn cho cá nhân một cán bộ, mà ở đây điển hình là Ông Nguyễn Thiện Nhân được ban cho các học bổng (dù cho sự tài trợ là của Đảng hay của nước ngoài) đi học tiến sĩ kỹ thuật điều khiển học hiện đại Cybernetics ở Đông Đức, học Kinh Tế Thị Trường tại Tây Đức, học Thạc sĩ Quản Lý Cộng Đồng ở Hoa Kỳ, học Thẩm Định Dự Án Đầu Tư ở Mỹ, thay vì dành cho 4 cán bộ khác nhau để Việt Nam có được một kỹ sư Cybernetics ra hồn, một chuyên gia kinh tế thị trường ra ngô, môt chuyên viên quản lý cộng đồng ra khoai, một nhà thẩm định dự án ra trò. 4 cơ may cho 4 ngành học khác nhau đã dồn về duy chỉ Ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ để ông lên làm Ủy Viên Trung Ương Đảng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Phó Thủ Tướng. Đây là sự sai lầm nghiêm trọng trong đào tạo nhân sự và sử dụng nhân sự để rồi nhân sự tiếp tục đi lên, khoa học kỹ thuật cùng học thuật hàn lâm nước nhà thì tiếp tục đi xuống, và Đảng liên tục bị bể kế hoạch thời gian đối với “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Bộ Trưởng Giáo Dục, các trường đại học mọc lên hơn nấm, khiến di họa cho đến tận ngày nay khi gần nửa ngàn trường đại học khó tuyển được sinh viên đến độ Bộ Giáo Dục phải cứu nguy bằng cách bỏ hầu hết các kỳ thi ở trung học và đại học để trường nào cũng có được người đi học, khiến số lượng cử nhân mà người ta ban tặng cho danh xưng “trí thức trẻ” gia tăng trong bảng thống kê không có việc làm “phù hợp” hoặc không có việc làm. Ông Nguyễn Thiện Nhân lẽ ra đã không nên được giao cho trọng trách Bộ Trưởng Giáo Dục và Đào Tạo.

Dưới thời Ông Nguyễn Thiện Nhân làm Phó Thủ Tướng, mọi sự dưới quyền giám quản của Ông cũng không có gì để lưu danh hậu thế, để rồi Ông trở thành Chủ tịch của Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cho đến tận ngày nay.

D) Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Điều cần đặc biệt quan tâm ở đây là: sức mạnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam được duy trì nhờ vào ba thế lực quan trọng của (a) các lực lượng vũ trang, (b) Tổng Liên Đoàn Lao Động, và (c) Mặt Trận Tổ Quốc.

Nếu như các lực lượng vũ trang vẫn luôn là thế lực hùng mạnh của Đảng, thì hai phần còn lại đã, đang, và sẽ có những vấn đề nan giải như sau:

1) Tổng Liên Đoàn Lao Động:

Đây là một tổ chức mang tính chính trị đặc biệt quan trong trong hệ tư tưởng chính trị Cộng sản Mác-xít Lê-nin-nít vốn xem trọng lực lượng lao động nói chung và công nhân nói riêng. Tuy nhiên, vấn nạn ở đây là (a) giới lãnh đạo Tổng Liên Đoàn hầu như chẳng ai xuất thân hay đang thuộc tầng lớp công nhân lao động để danh chính ngôn thuận là thế lực bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân lao động toàn quốc; và (b) với quy trình hội nhập toàn cầu, tham gia các hiệp định khổng lồ, trong đó có những hiệp định mới nhất và to nhất như Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương TPP cùng Hiệp Định Đối Tác Thương Mại Việt Nam – EU, v.v., thì tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam đều phải có quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn riêng, khiến lung lay vị thế của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, đặt Tổng Liên Đoàn từ vị trí độc tôn độc quyền xuống vị trí phải cạnh tranh ngang bằng bình đẳng lành mạnh với các tổ chức công đoàn khác của vô số doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam. Vấn đề này có nghĩa là Tổng Liên Đoàn phải hóa thân thành một thực thể đem lợi ích thực tế đến người lao động để thu hút người lao động xin vào hoặc muốn tiếp tục tồn tại dưới sự đùm bọc bảo vệ chở che của Tổng Liên Đoàn; tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với sự thật rằng sẽ có một bộ phận hoặc nhỏ hoặc lớn trong tầng lớp lao động sẽ hoạt động tại những công đoàn khác, tại nơi họ làm việc, công tác.

2) Mặt Trận Tổ Quốc:

Đây là một tổ chức cực kỳ quan trọng, vì rằng nếu lực lượng vũ trang là những chiến sĩ chuyên nghiệp đặc thù và tổng liên đoàn lao động quy tụ toàn bộ lực lượng công nhân lao động của chế độ, thì Mặt Trận Tổ Quốc quy tụ toàn bộ dân chúng còn lại dưới ngọn cờ xã hội chủ nghĩa. Với những chức năng đã được luật hóa, cộng với những thách thức khủng khiếp của thời đại, thời cuộc, thời gian, và thời thế, vai trò của Mặt Trận Tổ Quốc và lãnh đạo Mặt Trận Tổ Quốc càng trở nên cực kỳ nặng nề, cực kỳ đa dạng, cực kỳ cấp bách, cực kỳ quan trọng, cực kỳ quyết định. Lãnh đạo Mặt Trận, do đó, phải là những người mạnh mẽ, trí tuệ, uy tín, tài năng, có tầm nhìn thấu thị chiến lược được thể hiện cụ thể qua sự “biết lo trước cái lo của người dân”, những yêu cầu mà Ông Nguyễn Thiện Nhân không thể nào đáp ứng đủ đầy.

Trước tình hình mới và nhiều thách thức, Mặt Trận Tổ Quốc dường như biến mất tăm mỗi khi có tụ tập khiếu kiện bức xúc đông người, cứ như phó mặc cho ai khác phải chịu trách nhiệm, chứ hoàn toàn không thể hiện chức năng dân vận, và biến việc gần gũi với nhân dân bị đơn giản hóa thành công đoạn thu thập ý kiến của cử tri để đúc kết chờ đến kỳ họp Quốc hội bảo đảm vị Chủ tịch Mặt trận có nhiều chi tiết để báo cáo, trong khi bất kỳ người dân – cử tri – nào cũng có thể nêu ý kiến bằng thư bưu chính, bằng thư điện tử, bằng phát biểu tại các buổi tiếp xúc cử tri, hay qua báo chí và ở tất cả các phòng tiếp dân của tất cả các cơ quan hành chính các cấp, v.v., chứ không buộc phải gởi đến Mặt Trận để Mặt Trận mỗi năm chuyển tổng kết ra Quốc hội hai lần.

Mặt trận chỉ xuất hiện rầm rộ mỗi năm năm một lần vào dịp bầu cử toàn quốc.

Thậm chí có vị lãnh đạo Mặt trận của Thành phố Hồ Chí Minh lúc đương nhiệm thì chẳng ai biết đến, khi về hưu thì đột nhiên phát hành những bức tâm thư “viết trên giường bệnh” chống đối chế độ.

Dưới đây là một bài viết về Ông Nguyễn Thiện Nhân tôi đã đăng trên Emotino năm 2010 tức trước khi tôi trở thành nghị sĩ Quốc hội khóa XIII (2011-2016); xin đăng lại để chứng minh tầm lãnh đạo của Ông:

E) Bài Viết Năm 2010: 

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên — Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-10-2010

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” và “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dựa trên câu đề xuất của tôi nhưng lại né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức … “chất lượng cao”. Người dân được mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác gặp khó khăn lại sẽ có các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào của Việt Nam không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng, để rồi sau cừng chục năm nữa sẽ phải chứng kiến toàn bộ hàng hóa của ngành công nghiệp bán lẻ ở Việt Nam sẽ tràn ngập hàng hóa của ngoại bang.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (1) có nhận thức đầy đủ rằng nhóm chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (2) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” .

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn là nan y trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

F) Giải Cứu Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

Vì vậy, Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam nhất thiết phải (a) hiểu rõ trách nhiệm của Mặt Trận trong hoàn cảnh mới đặc thù của Việt Nam và (b) có vị chủ tịch mới để thay thế Ông Nguyễn Thiện Nhân là người chưa hề có chút công trạng cụ thể nào trong thực tiễn quản lý nhà nước của mình.

Bà Trương Thị Mai nên là tân Chủ Tịch Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam. Ngoài Bà Trương Thị Mai, Việt Nam không có bất kỳ ai đủ tầm, đủ tâm, đủ lực, đủ thần uy bằng Bà Trương Thị Mai để nắm quyền đưa một tổ chức đã có quá khứ vĩ đại như Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam quay trở lại vị thế đáng tự hào như ban đầu của nó.

Đừng để một thế lực từng hùng mạnh vốn đã là chủ thể của đại cuộc giải phóng miền Nam nay chỉ còn là một tổ chức chỉ có hư danh mà người dân chỉ biết đến mỗi năm năm một lần qua cuộc bầu cử quốc gia – mà thậm chí ngay cả cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các câp nhiệm kỳ 2016-2021 này cũng không tổ chức ra hồn, không giám sát ra ngô, cho ra kết quả luộm thuộm chẳng ra khoai, và để lại vết nhơ chẳng ra thể thống gì cả của các sai sót và vi phạm pháp luật bầu cử sau ngần ấy thập kỷ tồn tại của mình.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghi-sĩ Đương-nhiệm Quốc-Hội Khóa XIII Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam

Tham khảo:

Tôi và Lê Hiếu Đằng của Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh  (bài đăng ngày 29-8-2013)

Phim tài liệu về “Xe Đi” của hãng GE Hoa Kỳ thử nghiệm năm 1965: https://www.youtube.com/watch?v=coNO9FpDb6E

Tội Ác Của Bob Kerrey

Tôi Và Fulbright

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-6-2016

Screen Shot 06-03-16 at 06.51 PM

1) Google Tiên Lãng:

Trong một bài viết mới đây, tôi có viết rằng tôi chả thèm đọc bài của mấy cái blog vớ vẩn chống Việt (tức chống Cộng, chống Chính phủ Việt Nam, chống Đảng Cộng Sản Việt Nam, chống thể chế chính trị Việt Nam, và cổ súy cho mấy thứ bị Tổng thống Mỹ Obama trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã gián tiếp xem là thứ vớ vẩn vô hiệu vô dụng chẳng hạn như “nhân quyền”).

Điều này cũng có nghĩa là tôi chỉ đọc – và thậm chí chăm chỉ đọc – các bài viết của các blog hay web tích cực như Sách Hiếm, Google Tiên Lãng, Hiệp Sĩ Cưỡi Lừa, v.v., và v.v. Đọc vì..hợp “gu”, đọc để biết các vị này đang “mắng” ai hay việc gì, đọc vì để “né” hầu không viết trùng lặp nội dung, và đọc vì “phục.”  Sao lại không “phục” các vị như Thầy Trần Chung Ngọc và “Cô” Lê Hương Lan cơ chứ?

Cũng nhờ đọc Google Tiên Lãng, tôi biết đến vụ về Bob Kerrey. Và bài viết này không vì “không né” mà vì “hợp gu” nên cách tiếp cận của tôi đối với vụ Bob Kerrey là để làm rõ hơn những góc cạnh khác về Fulbright và về Bob Kerrey. Và do ở Việt Nam cụm từ “nhà sử học” không dành riêng cho người có bằng cấp cao về “Sử”, nên tôi với tư cách một “nhà sử học” thấy mình có thể nói về “Sử” như từ trước đến nay qua bài viết này, đặc biệt nhằm hỗ trợ “nhà sử học” nào chưa dám học tiếng Anh nhưng dám bạo mồm xem tội ác của quân Mỹ không đáng là một phần nên được ghi vào sử sách.

2) Tôi Và Fulbright

Vào những năm 1990 của thế kỷ trước, trong số 27 sinh viên cũ và nhân viên cũ tìm đến tôi để xin tôi giúp một thư tiến cử nộp vào hồ sơ xin học bổng Fulbright, tôi đã nhận giúp đúng 20 người, và cả 20 người đều thành công, được sang Mỹ du học, đã trở về nước, và gần hai thập kỷ nay chưa ai trong số họ phụ lòng tôi khi tất cả đều đi lên với sự nghiệp riêng và không bất kỳ ai chống đối chế độ hay phải đứng trước vành móng ngựa vì trở thành tội phạm.

Lý do để 27 người đó đã xin tôi giúp vì hồ sơ xin học bổng Fulbright cực kỳ chi tiết, đòi hỏi phải được một giáo sư trực tiếp giảng dạy viết lời phê và thư tiến cử, nhưng tất cả các giáo sư phụ trách bộ môn của họ đều (a) không ai viết được tiếng Anh, (b) có thể có vị biết tiếng Anh nhưng không thể nào viết đánh giá sâu sắc và thư tiến cử thuyết phục bằng tiếng Anh, (c) không ai chịu viết thư đánh giá sâu sắc bằng tiếng Việt dù sinh viên lạy lục cầu xin rằng sẽ đem các thư ấy đi nhờ dịch sang tiếng Anh rồi quay lại trình Thầy/Cô ký, và (d) là những vị khét tiếng ở trường đại học ấy do chuyên vòi vĩnh gợi ý sinh viên nên “biết điều” để được đánh giá tốt trong các luận văn tốt nghiệp nên sinh viên e sợ phải tốn kém khủng nếu như hồ sơ học bổng lại là đẳng cấp cao sang cỡ Fulbright cho học vị thạc sĩ.

Tôi đã giúp 20 người vì tôi biết rõ về tư cách của họ. Và tôi viết nhận xét cùng thư tiến cử rồi cho vào phong bì niêm kín (tùy trường hợp có yêu cầu như thế của hồ sơ), trao cho mỗi sinh viên để họ kèm vào đơn xin học bổng. Phong thư dày, vì tôi chưa bao giờ viết ngắn – nhất là viết bằng tiếng Anh. Nội dung tôi viết rất trung thực ngay cả về bản thân mình. Tôi có viết rằng tôi giảng dạy đại học sinh viên ấy nhưng tôi chưa có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, rằng tôi dạy đại học cho sinh viên ấy nhưng không dạy bộ môn mà sinh viên ấy đang xin Fulbright cấp học bổng, hoặc tôi viết rằng người ấy chỉ là học viên lớp tối của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nhưng tôi biết rõ tư cách người học viên ấy cùng quá trình làm việc của người ấy tại các công ty khác, hoặc tôi viết rằng người ấy đã là nhân viên của tôi tại công ty nào, hoặc tôi viết đó là đồng nghiệp của tôi tại trung tâm ngoại ngữ nào nhưng là vai vế đàn em của tôi, v.v. Tôi cũng trả lời câu hỏi theo tôi thì người ấy khi trở về Việt Nam với thành tích học tập bên Mỹ về môn ấy môn ấy sẽ đóng góp được những gì cụ thể cho Việt Nam theo sự kỳ vọng của tôi. Tất cả tùy vào sự thật mỗi người ấy là ai. Và dù là phong bì niêm kín hay đánh máy ngay trên hồ sơ thì tôi biết chắc chắc rằng Fulbright phải công nhận – từ tàng thư của họ – một điều là không bất kỳ ai trên thế giới này có thể viết các nhận xét chi tiết với chất lượng ý tứ, ngôn ngữ Anh, và độ dài tương tự như sớ Táo Quân. Đó là lý do dù không đáp ứng đúng yêu cầu “giáo sư thực thụ đảm trách bộ môn mà ứng viên xin Fulbright cấp học bổng theo học thạc sĩ hay tiến sĩ tại Mỹ”, thư đánh giá và tiến cử của “thầy giáo đại học môn Anh Văn có bằng cấp cử nhân hạng trung bình màu xanh lè của Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh ” Hoàng Hữu Phước lại khiến Fulbright buộc phải xé rào chấp nhận cấp học bổng cho các anh tài nước Việt.

Tôi đã làm “công tác tư tưởng” đối với các em mà tôi đã viết thư tiến cử rằng (a) học bổng Fulbright là cơ hội quý hơn vàng vì Fulbright chỉ cấp học bổng toàn phần cực kỳ hậu hỉ cho việc theo học chỉ tại những đại học Mỹ nào lừng danh thế giới, (b) người ta cấp học bổng chỉ nhằm tạo nên những người có khả năng khi trở về Việt Nam sẽ trở thành những người có lợi cho Hoa Kỳ, (c) các em được tôi giúp vì tôi kính trọng tư cách của các em cũng như kỳ vọng vào các em đối với những gì các em có thể phục vụ đất nước tốt hơn hay tốt nhất tức những gì bản thân tôi đã không thể thực hiện được do đã không có cơ hội học lên cao như các em, (d) các em phải biết tôi là người như thế nào đối với đất nước này nên đừng bao giờ trở thành thứ ăn bã “dân chủ” hay “nhân quyền” rồi trở thành phạm pháp hay phản quốc, và (e) đừng bao giờ nuôi ý định ở lại Mỹ vì Fulbright cần tất cả trở về Việt Nam để “giúp” Việt Nam thân Mỹ hơn nên do đó trốn ở lại Mỹ sẽ bị chính Fulbright trừng trị.

Đã có những thạc sĩ Việt trở về từ Mỹ nhờ học bổng Fulbright và trở thành những “tù nhân lương tâm”, cứ như thể Fulbright có cấp văn bằng thạc sĩ có giá trị toàn cầu ắt mang tên MCP tức thạc sĩ môn học…“tù nhân lương tâm” vậy, cũng như nếu có “thạc sĩ Luật” nào đó từ học bổng Fulbright về Việt Nam ắt người ta sẽ thấy vị ấy không soạn được dự án Luật nào ngay cả khi có trở thành nghị sĩ Quốc Hội mà trở thành nhà quay phim chuyên rình bấm máy mỗi khi thấy có “xuống đường” ắt để tải lên Facebook minh họa cho lời y đòi “dân chủ” trong “bày tỏ lòng yêu nước”. Và do không thể kỳ vọng gì nơi các luật sư trở về từ học bổng Fulbright, tôi đành dịch bài viết dưới đây của Bill Vann đã đăng cách nay gần 15 năm để bạn đọc biết Bill Vann ngay từ thủa ấy đã viết gì về Bob Kerrey, cũng như từ đó biết luật sư Mỹ John DeCamp đang làm gì khi sang Việt Nam tìm đến Thạnh Phong thu thập chứng cứ để lôi Bob Kerrey ra chịu tội cho cuộc thảm sát ở Thạnh Phong, một việc mà chỉ có luật sư Mỹ học tại Mỹ như John DeCamp mới làm cho nạn nhân các cuộc thảm sát của Hoa Kỳ, đơn giản vì chỉ có các luật sư Mỹ như John DeCamp mới không bị “tẩu hỏa nhập ma” do biết cái nào là cao lương mỹ vị và cái nào là “bã”.

3) Bài Viết Chống Bob Kerrey Của Bill Vann (bản dịch tiếng Việt của Hoàng Hữu Phước)

Việt Nam Khép Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Kerrey Vào Tội Ác Chiến Tranh

Bill Vann
06-6-2002

Chính phủ Việt Nam đã cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Mỹ Bob Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Sự khép tội này để đáp lại cuốn tự truyện phát hành gần đây mang tựa đề Thủa Tôi Là Thanh Niên, trong đó Kerrey trốn tránh trách nhiệm của mình đối với một vụ thảm sát được thực hiện bởi một đơn vị Hải quân SEAL (biệt kích Thủy Quân Không-Lục Chiến) mà y đã chỉ huy cách nay 33 năm.

“Chúng tôi hiểu sâu sắc và chia sẻ những nỗi đau, nỗi mất mát vô bờ bến mà các gia đình nạn nhân vô tội phải chịu đựng trong vụ thảm sát Thạnh Phong, những người đã bị thẳng tay hạ sát bởi đơn vị Thủy quân của Bob Kerrey,” Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết. “Dù cho Thượng nghị sĩ Kerrey có nói gì đi nữa cũng không thể thay đổi được sự thật. Chính Kerrey tự thừa nhận nỗi xấu hổ của mình về tội ác mà y đã gây ra”, bà Thanh nhấn mạnh.

Theo một bài báo trên Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao tuyên bố rằng Kerrey và “những ai đã phạm tội ác chiến tranh” nên có những bước thực hiện thiết thực để “giúp hàn gắn những vết thương họ đã gây ra.”

Bài báo lên án Kerrey, người hiện là Chủ Tịch của Đại học New School danh tiếng ở thành phố New York, đã tạo ra các mâu thuẫn trong những tuyên bố trong quyển sách y viết năm ngoái thừa nhận vai trò của y trong vụ thảm sát.

Trong một phần cực kỳ ngắn gọn nêu rằng Kerrey có nói sự việc ấy đã làm thay đổi cuộc đời  mình, Kerrey chỉ nêu một cách mơ hồ về những hành động của chính y vào cái đêm 25-2-1969 ấy khi y chỉ huy đội SEAL Hải Quân tiến vào một thôn ấp nhỏ ở Đồng Bằng sông Cửu Long tại Miền Nam. Y viết: “Người chỉ điểm của tôi dẫn đường. Anh ta tiến đến một ngôi nhà mà anh ta bảo mình tin rằng quân giặc đang ở đấy. Chúng tôi đã được huấn luyện rằng trong những tình huống như thế sẽ là quá mạo hiểm để tiếp tục hành quân vì mấy người này sẽ cảnh báo cho quân trong làng trừ phi chúng ta hoặc giết họ hoặc hủy bỏ nhiệm vụ. Tôi đã không phải ra lệnh bắt đầu giết chóc, song tôi lẽ ra đã có thể ngăn chặn và đã không ngăn chặn.”

Liệu y có ra lệnh hay không? Liệu y có tham gia vào việc giết chóc, hay chỉ là một người ngoài cuộc vô tội? Độc giả bị y bỏ rơi trong bóng tối.

Câu chuyện của Kerrey tránh né sự mô tả chi tiết của sự bắt đầu đẫm máu tấn công vào Thạnh Phong như đã đăng trên tạp chí New York Times năm ngoái. Một chiến binh Hải quân phục vụ dưới quyền Kerrey báo cáo rằng đã có năm người trong căn nhà ấy. Một bô lão chống cự và, theo lời kể lại, Kerrey đã quỳ đè lên lưng cụ để một chiến binh khác cắt cổ họng. Bốn người khác, gồm một phụ nữ và ba trẻ em, bị đưa ra ngoài và sát hại từng người một.

Tiếp tục câu chuyện trong cuốn sách mới của mình, Kerrey nói rằng y và quân của mình tiến vào ngôi làng nơi họ thấy chỉ có phụ nữ và trẻ em, thức dậy bởi sự ồn ào nên ra đứng trước cửa. Có người đã bắn một phát súng, Kerry nói, và toán SEAL đáp trả bằng “một loạt súng chát chúa.”

“Tôi thấy phụ nữ và trẻ em trước mặt chúng tôi bị đạn bắn trúng và xé toạt ra nhiều  mảnh. Tôi nghe thấy tiếng kêu thét của họ và những giọng nói khác trong màn đêm khi chúng tôi rút lui về hướng kênh đào.”

Đây là đoạn mô tả duy nhất về vai trò của Kerrey trong cái đêm mà y cùng quân lính do y chỉ huy đã tàn sát 21 phụ nữ, trẻ em và bô lão.

Một trong những quân lính tham gia cuộc tấn công là Gerhard Klann đã kể lại chi tiết hơn với tờ Times về vụ thảm sát. Ông nhấn mạnh rằng không phát súng nào bắn vào các biệt kích SEAL và chẳng có “màn đấu súng” nào cả. Thay vào đó, quân Mỹ lùa các thường dân vào giữa làng và tàn sát họ trực diện. Những người Việt Nam sống sót từ đó đến nay đã ra mặt kể lại câu chuyện giống như nội dung của Klann hơn là phiên bản của Kerrey về cuộc tấn công ấy.

Kerrey hiện đang lưu diễn trong nước nhằm quảng bá cho quyển tự truyện của y, xuất hiện tại các hiệu sách và tổ chức các cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh và truyền hình. Y đã né tránh các thắc mắc của báo chí về tuyên bố của Chính phủ Việt Nam, nhưng lại giận dữ đáp lại một câu hỏi được nêu ra tại một buổi xuất hiện ở hiệu sách tại Thủ đô Washington.

“Tôi đã nói rõ rồi, và bây giờ tôi nói rõ, rằng cả hai phía đều đã gây ra rất nhiều thiệt hại trong chiến tranh Việt Nam,” y nói. “Bạn phải vượt qua điều này. Tôi tin chắc chắn rằng đa số người dân ở Việt Nam muốn tiếp tục cuộc sống của họ.”

Tuyên bố này phù hợp với những nỗ lực phối hợp của các phương tiện truyền thông và chính trị gia cùng phe với Kerrey để dập tắt những tranh cãi về sự tham gia của y trong vụ thảm sát Thạnh Phong. Tờ New York Times thậm chí còn không nói gì đến tuyên bố của Việt Nam tố cáo Kerrey là tội phạm chiến tranh.

Trong khi lúc đầu làm sống lại những cáo buộc về những hành động tàn bạo, cuốn sách của Kerrey dường như được phát hành như một bài tập kiểm soát thiệt hại, nhằm làm chìm xuồng toàn bộ vấn đề. Trong cuốn hồi ký, Kerrey nói về chính mình như là một nạn nhân chính của sự kiện Thạnh Phong, chứ không phải 21 nạn nhân vụ thảm sát và gia đình của họ.

Việc Kerrey nói rằng “cả hai bên đã gây ra rất nhiều thiệt hại” và rằng người Việt Nam nên “vượt qua điều đó” chẳng khác nào một sự tởm lợm viện dẫn tính chất của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và vai trò của mình trong đó. Hơn ba triệu người Việt Nam đã bị sát hại, hầu hết trong số họ là nạn nhân của Mỹ trong các vụ rải bom thảm, bom napalm, và kiểu thảm sát như được thực hiện bởi Kerrey ở Thạnh Phong. Vụ khét tiếng nhất trong số này là do trung úy William Calley thực hiện ở Mỹ Lại, nơi 567 người già, phụ nữ và trẻ em bị sát hại, hầu hết bị bắn chết chung trong một đường mương.

Các cuộc tấn công mà Kerrey tiến hành trong thời gian ngắn y đóng quân ở vùng châu thổ sông Cửu Long là một phần của một chương trình ám sát bí mật của CIA mang tên Chiến Dịch Phượng Hoàng, nhằm tìm và diệt những lãnh đạo chính trị của cuộc đấu tranh giải phóng Việt Nam ở miền Nam. Chiến Dịch Phượng Hoàng gây ra cái chết của hàng chục ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Mục tiêu trong cuộc tấn công vào Thạnh Phong là nhằm vào vị trưởng thôn, người được biết là có thiện cảm với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia chứ không phải là chế độ Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn.

Còn về việc “vượt qua việc đó,” hàng triệu người Việt Nam vẫn gánh chịu hậu quả của chiến tranh. Chất độc da cam, các loại thuốc diệt cỏ phun từ máy bay Mỹ tiêu diệt rừng cây hầu khiến các chiến binh giải phóng không còn nơi ẩn nấp, đã làm khu vực rộng lớn của đất nước bị ô nhiểm. Là hậu quả của cuộc chiến tranh hóa học này, chất dioxin độc hại ngấm vào chuỗi thức ăn khiến hàng triệu người bị vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, bao gồm cả nửa triệu trẻ em bị dị tật bẩm sinh. Washington đã bác bỏ tuyên bố bồi thường, khẳng định rằng không có đủ bằng chứng và, giống như Kerrey, bảo người Việt hãy “vượt qua việc ấy đi.”

Động cơ Kerrey trong đánh bóng vai trò của chính y trong chiến tranh và làm sai lệch bản chất phạm tội của sự can thiệp của Mỹ là hiển nhiên. Là một chính trị gia sáng giá của đảng Dân Chủ, y đã cố giành sự đề cử của đảng Dân Chủ trước đây, và hiện thường được nói đến như một ứng cử viên tổng thống tiềm năng cho năm 2004. Y vẫn chưa ngừng cuộc đua vào Nhà Trắng.

Trên một mức độ rộng lớn thì nhờ có chiến tranh Việt Nam mà Kerrey thăng tiến sự nghiệp chính trị của y, nhận được sự ủng hộ như một vị anh hùng chiến tranh được thưởng huân chương – y đã được trao Huân Chương Sao Đồng cho chiến công láo khoét về cuộc thảm sát ở Thạnh Phong được tung hê rằng những kẻ bị giết toàn là “Việt Cộng” – và Huy Chương Danh Dự Của Quốc Hội cho trận đột kích sau đó khi một quả lựu đạn làm y mất phần dưới gối của một bên chân. Trong khi các cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam phản đối chiến tranh đã ném vất bỏ huy chương qua hàng rào Nhà Trắng để phản đối sự xâm lăng của Mỹ, thì Kerrey sau khi giải ngũ khỏi Hải Quân Hoa Kỳ đã đến Washington nhận các giải thưởng từ Richard Nixon.

Kerrey giờ đây tuyên bố đã từ lâu luôn bị ám ảnh bởi cuộc chạm trán đẫm máu ở Thạnh Phong, nhưng y cứ ngậm tăm cho tới khi năm ngoái xuất hiện các sự tiết lộ về vai trò của y. Trong các chiến dịch chính trị thành công của mình cho ghế Thống Đốc Bang Nebraska và một ghế trong Thượng Viện, cũng như sự thất bại trong cuộc chạy đua giành sự đề cử của đảng Dân Chủ năm 1992, y đã dựa hẳn vào một quá trình tham chiến đã miêu tả xằng bậy gọi một hành động tàn bạo chống lại thường dân không vũ trang là một hành động quả cảm anh hùng.

John DeCamp, một đồng nghiệp cũng là chính trị gia Bang Nebraska và cũng là một cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, cựu thượng nghị sĩ bang, đã đến thăm Thạnh Phong hồi đầu năm nay, gặp gỡ các gia đình của những người thiệt mạng trong vụ thảm sát. Ông đã kêu gọi Bộ Quốc Phòng mở một cuộc điều tra đối với cuộc tấn công, và đe dọa sẽ thay mặt những người sống sót để khởi kiện đòi bồi thường. Ông nói rằng Kerrey đã từ chối các đề nghị giúp lập nên một quỹ hỗ trợ những người sống sót.

Kerrey đã bác bỏ và gọi các yêu cầu của DeCamp là “vô lý và nực cười.”

Tại sao như vậy? Thành viên của quân đội Serbia đang phải đối mặt với các phiên xử tội ác chiến tranh tại The Hague vì đã thực hiện tội ác không ghê gớm như Kerrey đã làm ở Việt Nam. Đối với vấn đề đó, binh sĩ quèn và vệ binh tuy chỉ “làm theo mệnh lệnh” của quân SS Đức Quốc Xã vẫn phải đối mặt với lệnh trục xuất khỏi nước Mỹ và bị xét xử dù đã 60 năm sau khi gây ra tội ác.

Vấn đề thực sự là vì sao dù cho có sự phơi bày sự dính líu của Kerrey trong vụ thảm sát máu lạnh cùng hành vi che dấu sau đó của y, lại có quá ít yêu cầu mở cuộc điều tra. Tại sao vẫn chưa có một phản đối kịch liệt đòi bãi nhiệm Kerrey khỏi chức vụ chủ tịch New School, một đại học nổi tiếng trong quá khứ về truyền thống giáo dục dân chủ và tiến bộ của nó?

Sau những tiết lộ đầu tiên, hội đồng quản trị của New School mới công bố “hỗ trợ vô điều kiện” họ dành cho Kerrey mà không cần có cuộc điều tra độc lập nào dù nhỏ nhất. Họ vẫn lặng thinh đối với các cáo buộc gần đây của Chính phủ Việt Nam cũng như đối với việc làm giả tài liệu lịch sử trong cuốn sách của Kerrey.

Việc nín thinh của các đồng sự quanh Kerrey bởi phe nhóm chính trị bao gồm những kẻ từng tự gọi mình là những người tự do và phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Nam Á đã có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Các nỗ lực miêu tả một tội phạm chiến tranh, xem y là “nạn nhân” chẳng thua gì những người mà y đã giết chết, không phải là kết quả của sự cảm thông dành cho một cá nhân.

Thay vào đó, giai cấp cầm quyền đã chộp lấy vụ việc của Kerrey làm cơ hội để giáng một đòn mạnh vào di sản của sự phản đối rộng khắp chống lại sự xâm lược bằng quân sự của Mỹ, với số thương vong khủng khiếp của nó nhằm vào thường dân vô tội, cũng như sự hy sinh tàn bạo những chiến binh Mỹ đã được biết đến dưới tên gọi “hội chứng Việt Nam”.

Hơn thế nữa, trong khi Kerrey bị cáo buộc là một cá nhân phạm tội ác chiến tranh, thì vẫn còn có cả phe nhóm chính trị và quân đội – từ Henry Kissinger cho đến Tướng William Westmoreland cùng cựu giám đốc CIA Richard Helms – những kẻ đã trực tiếp ra lịnh thực hiện những tội ác lớn chống lại nhân loại mà chưa bao giờ được đem ra xét xử.

Với sự bùng nổ của chủ nghĩa quân phiệt Mỹ sau vụ 11 tháng 9, vụ Kerrey mang lại ý nghĩa chính trị thậm chí còn to lớn hơn. Lập luận bao che tội ác mà y đã gây ra – cùng vô số những hành động tàn bạo khác đã gây ra trong hơn ba thập kỷ trước – và cố gắng để hợp pháp hóa chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam sẽ giúp mở đường cho những cuộc tàn sát mới và khủng khiếp hơn của quân đội Mỹ.

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam buộc Kerrey phạm “tội ác chiến tranh” và nỗ lực của y trong cuốn tự truyện của mình để một lần nữa bao che cho vai diễn của mình, phải dẫn đến lời kêu gọi hành động của những sinh viên và giảng viên tại New School, những người coi trọng sự thật lịch sử và phản đối chủ nghĩa quân phiệt .

Yêu cầu bãi nhiệm Kerrey khỏi vị trí Chủ tịch của New School là một biện pháp cần thiết để sạch hóa xã hội: cho phép một tên tội phạm chiến tranh làm người đứng đầu một tổ chức hàn lâm lớn chỉ làm hạ phẩm giá của trường đại học và làm ô uế bầu không khí trí tuệ nói chung.

Chiến dịch đòi sa thải Kerrey, tuy nhiên, phải được dẫn dắt không chỉ ở những hành động của một cá nhân. Nó phải được sử dụng như một phương tiện nhằm giáo dục các thế hệ mới của sinh viên, người lao động, và giới trẻ đối với những bài học thật sự về Chiến Tranh Việt Nam, chuẩn bị cho họ chống lại các tội ác chiến tranh mới tại Afghanistan, Colombia, Iraq, và những nước khác.

*********

4) Kết Luận Về Bob Kerrey

Trong bài viết tựa đề Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức đăng trên Emotino, tôi có đưa hình ảnh sau về một cuộc tàn sát khác ở Bến Tre, và hình ảnh cũng do một phóng viên Mỹ thực hiện để tố cáo tội ác của quân đội Hoa Kỳ:

……..Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Screen Shot 06-03-16 at 07.35 PM

…..

Phát Ngôn Nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam khẳng định Bob Kerrey đã phạm tội ác chiến tranh trong cuộc thảm sát ở Thạnh Phong tỉnh Bến Tre. Việt Nam chưa kiện Bob Kerrey ra tòa án diệt chủng. Nhưng Việt Nam cũng chưa từng hủy các cáo buộc Bob Kerrey phạm tội ác chiến tranh.

Khi bị lôi ra ánh sáng, Bob Kerrey qua quyển tự truyện của y và các trả lời phỏng vấn đã phạm thêm năm trọng tội gồm

(a) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã nhục mạ ý nghĩa cao quý của các huân chương quốc gia và huy chương quốc hội vốn chỉ dành cho các hành động anh hùng dũng cảm vị quốc vong thân. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(b) Đối với nhân dân Mỹ: qua việc ngụy tạo tình tiết đánh bóng bản thân đã hợp pháp hóa các hành vi gây tội ác chống loài người, khiến giới trẻ Hoa Kỳ nhập ngũ sẽ lại vướng vào các trọng tội tương tự, có thể đưa Hoa Kỳ vào tình thế nghiêm trọng trước phản ứng của phần còn lại của nhân loại. Bob Kerrey không thể không bị Hoa Kỳ trừng trị.

(c) Đối với Việt Nam: y tuyên bố rằng cả hai bên – tức Mỹ và “Việt Cộng” – đều đã gây ra những thiệt hại to lớn như nhau, với ngụ ý cả hai đều gây ra những cuộc thảm sát. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(d) Đối với gia đình nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám ngụ ý rằng y mới là nạn nhân của vụ thảm sát Thạnh Phong chứ không phải 21 người Việt bị y sát hại cũng như gia đình của 21 người này. Đây là lời nói xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

(e) Đối với gia đình các nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong: y dám cười cợt gọi đề xuất của luật sư DeCamp đòi phải bồi thường cho các gia đình của 21 nạn nhân cuộc thảm sát Thạnh Phong là “vô lý và buồn cười”. Đây là sự ngạo mạn, vô phương cứu chữa, xuẩn ngốc, điên rồ, phạm thượng. Bob Kerrey dứt khoát phải bị Việt Nam trừng trị.

Với tư cách người đã được Fulbright kính trọng – qua việc chấp nhận cấp học bổng cho những người Việt Nam nào có thư đánh giá và tiến cử của tôi, giáo viên Cử Nhân Anh Văn – tôi có lời khuyên ngắn gọn đến Fulbright rằng với thực tế nhiều người có học bổng Fulbright trở thành những “tù nhân lương tâm” do chống chính phủ Việt Nam sau khi “vinh quy bái tổ”, Fulbright nên khôn khéo dấu cái đuôi của mình bằng cách hãy thay thế Bob Kerrey bằng người khác. Trường hợp Đại học Fulbright cần phải có “sớ Táo Quân” tiếng Anh của tôi mới chịu thay thế Bob Kerrey thì cứ lục kiếm tàng thư của chính Fulbright sẽ biết phải gởi yêu cầu ấy đến đâu.

Cựu chiến binh nào của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cũng có thể trở lại Việt Nam thăm chiến trường xưa và làm tất cả những gì mà sự ân hận có thể được diễn đạt bằng lý trí và với khả năng nhận thức sai trái của bản thân trong quá khứ thể hiện bằng sự thực tâm tưởng niệm các nạn nhân, bằng những lời nói đậm ấm tình người, chứ không nhất thiết phải bằng những đóng góp tài chính cụ thể. Vì người Việt rộng lượng và độ lượng, giàu tình cảm và dồi dào sự tha thứ như đã luôn thể hiện từ xưa đến nay.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam do (a) đã bị Chính Phủ Việt Nam cáo buộc tội ác chiến tranh; (b) xuyên tạc, xúc xiểm, xúc phạm Việt Nam; và (c) xuyên tạc, xúc phạm, xúc xiểm các nạn nhân của vụ thảm sát ở Thạnh Phong.

Bob Kerrey không được phép bước chân vào Việt Nam vì y chỉ là một tên man rợ không đáng được dành cho sự tiếp đón chỉ dành cho con người.

Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế,  Nhà Lập Pháp – Nghị Sĩ Đương Nhiệm Của Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

Nguồn tham khảo & đọc thêm:

Nguồn bài viết tiếng Anh của Bill Vann trên trang web của tổ chức WSWS của Anh Quốc: https://www.wsws.org/en/articles/2002/06/kerr-j06.html

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Để Đoạt Giải Nobel Văn Chương

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-5-2016

Screen Shot 05-29-16 at 12.45 PM 001

A) Kẻ Bận Rộn

Tôi có thói quen hay tìm đọc những bài báo nước ngoài, những tác phẩm nước ngoài, về những đề tài tôi đã biến thành thói quen tìm tòi từ những năm đại học để có tư liệu và kiến thức phục vụ công việc một giảng viên Anh Văn, đó là về quân sự, vũ khí, thế giới sử, triết sử, tôn giáo, chính trị, môi trường sinh thái, cổ sinh vật học, và văn học nước ngoài. Những nội dung này của thói quen ấy gần đây càng trở nên vừa dễ dàng vừa ít tốn kém nhờ vào phương tiện internet và các công cụ kiếm tìm online. Song, cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà tôi chẳng có thời gian để đọc bất kỳ những gì trái lề trái lẽ trái đạo của bất kỳ ai.

Thời gian trong ngày có hạn nên tôi lại có thêm một thói quen khác để phục vụ thói quen trên, đó là chẳng quan tâm đọc những bài viết chê bai Việt Nam bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của người trong nước hay người ngoài nước viết, do nội dung toàn bộ các chủ đề chê bai của các bài viết ấy đều nằm gọn trong sự hiểu biết của tôi, chẳng hạn khi cựu giám đốc Sở Tư Pháp Thành phố Hồ Chí Minh nhân buổi tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu số 1 gồm ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch, và tôi, tại Quận 3 cuối năm 2011 cầm micro lớn tiếng chống tôi rồi gởi cho cả ba người bức thư mà theo ông nêu rõ các lý do chính đáng cần phải có Luật Biểu Tình, thì tôi phải trung thực thú thật rằng do biết hết các kiểu lập luận tung hê ý nghĩa của Luật Biểu Tình của bất kỳ ai trên toàn thế giới, tôi đã để bức thư còn trong phong bì niêm kín ấy nơi nào mà đến nay tôi cũng chẳng rõ. Tôi chỉ biết rõ một điều là khi ông ấy tại vị, ông ấy vì giữ ghịt lấy chiếc ghế quyền lực mà chẳng mở mồm đề nghị Nhà Nước sớm cho ra Luật Biểu Tình bao giờ, cũng như chẳng hề viết dự thảo Luật Biểu Tình giúp Nhà Nước đẩy nhanh tiến độ ra Luật Biểu Tình, và ông chẳng làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh không còn tầy huầy các vụ khiếu kiện kéo dài hàng thập kỷ của người dân.

Gần đây, các nhà giáo là học trò tôi có cho tôi biết tin cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền Thành phố Hồ Chí Minh đã gởi 8 thỉnh cầu đên bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ, tôi cũng không đọc nội dung mà học trò tôi chuyển bằng email đến, chẳng qua vì tôi có thể hiểu tất cả các thỉnh cầu có thể có cho nền giáo dục Việt Nam, nên dù rất kính trọng cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, tôi vẫn không quan tâm dành thời gian để đọc xem 8 thỉnh cầu ấy gồm những gì.

Và trước cái gần đây ấy, tôi cũng được các học trò cho biết về vụ một giáo viên Văn ở tỉnh nào đó có bằng cấp Thạc sĩ đã đăng một bài thơ lên Facebook mang tựa đề Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh. Tôi cũng theo phong thái cố hữu là sau khi rối rít cảm ơn các em đã không ngừng báo cáo các sự việc diễn ra trong xã hội dân sự, tôi lại tiếp tục tìm đọc trau giồi kiến thức chứ chẳng xem bài thơ đó theo thể nào, gồm mấy câu, gieo vần có chuẩn không. Tôi không cần xem nội dung vì chẳng lẽ tôi lại chưa nắm hết tất tần tật những gì mà những kẻ bất tài vô dụng thường càm ràm ca cẩm về đất nước Việt Nam, về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Chính phủ Việt Nam, về con người Việt Nam, nhất là mới có những sự cố mới tinh xảy ra như tin tức tivi loan tải? Đối với tác giả bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh, tôi có các ý kiến sau, mà tôi biết chắc chắn rằng nếu cô giáo tác giả ấy đọc được bài viết này của tôi sẽ có cơ may tuyệt diệu trở thành văn tài đất Việt đoạt giải Nobel Văn Chương, vì đẳng cấp Thạc Sĩ tại một quốc gia hám chuộng hư danh như Việt Nam luôn máy móc mặc định Tiến Sĩ giỏi hơn Thạc Sĩ, Thạc Sĩ giỏi  hơn Cử Nhân, và ai có mấy cái bằng cấp đại học và trên đại học sẽ tự động trở thành “trí thức”, thì hơn ai hết cô giáo Văn có bằng Thạc Sĩ như tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh lẽ nào không thuộc hàng ngũ đại tài hiếm hoi của ngành giáo không những bản thân sẽ đoạt Nobel Văn Chương mà còn khiến môn Văn trở thành ngành học mũi nhọn ở Việt Nam nhiều nghìn năm văn vật này.

B) Một Ngày Trong Đời

Cuối năm học lớp Nhất (nay là lớp 5) trường Tiểu học Phan Đình Phùng ở Quận 3 Sài Gòn, tôi đoạt giải thưởng toàn niên hạng nhất, với danh dự là Trưởng Đội dự thi Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn (tương tự như Đường Lên Đỉnh Olympia của VTV hiện nay) đã cùng các bạn khác là Tống Kim Lan (nay ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sơn Hải (nay ở Hoa Kỳ) thắng đội nữ sinh áo đầm hồng của trường Hồng Bàng, tôi thấy trong núi phần thưởng ôm về nhà có quyển truyện dịch của tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà lời nói đầu cho biết tác giả là Alexander Solzhenitsyn của Nga Sô (cách Sài Gòn gọi Liên Xô) đã trốn khỏi Nga Sô và được nhận giải Nobel Văn Chương cho tác phẩm ấy. Tác phẩm dày cộm đó bắt đầu câu truyện vào sáng sớm khi các tù nhân lũ lượt ra công trường lao động khổ sai và kết thúc vào buổi chiều tà trong cùng ngày hôm ấy khi các tù nhân lê lết trong tuyết giá trở lại trại giam, cho thấy mức độ khủng khiếp của chỉ một ngày thôi đã ra sao trong suốt thời gian lao động chung thân tại địa ngọc trần gian đó.

Thế nhưng, nay với phương tiện internet, tôi biết bảy chi tiết quan trọng từ thông tin nội khối tư bản phương Tây rằng (a) sự cứng rắn tuyệt đối thời Stalin là có thật do bàn tay sắt có thật đã phát huy tác dụng tối đa có thật trong cai trị đất nước để có thể đơn thương độc mã thật sự đánh thắng Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, và Quân Phiệt Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến; (b) bản thân Alexander Solzhenitsyn chỉ huy một cánh quân Hồng Quân chiến đấu trên các chiến trường chính trong Đệ Nhị Thế Chiến với 2 lần được thưởng huy chương và một Huân Chương Sao Đỏ năm 1944; (c) bản thân Alexander Solzhenitsyn từng bị tù đày từ 1945 đến 1953 tại trại Karaganda ở Bắc Kazakhstan do viết lách chống đối, gọi Stalin là Lão Già Râu Kẽm; (d) sau khi mãn hạn tù đày, Alexander Solzhenitsyn dự theo kinh nghiệm bản thân viết nên tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich để tả lại những hà khắc tại trại lao động mà bản thân ông đã kinh qua, và bản thảo này đã được lãnh đạo Cộng Sản Nga là Nikiti Khrushchev duyệt cho phép in ấn phát hành; (e) Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel Văn Chương năm 1970 cho tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nhưng ông chỉ gửi bài phát biểu nhận giải chứ quyết định không đi nhận giải tại Stockholm vì sợ bị cấm trở về nước; (f) Alexander Solzhenitsyn bị lên án là kẻ thù của quốc gia, bị tước quốc tịch, và bị trục xuất khỏi Liên Xô năm 1974 sang Tây Đức và trở về Nga năm 1994 khi Liên Xô tan rả; và (g) tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich được nước Anh dựng thành phim nhưng bị nước Phần Lan cấm chiếu.

Screen Shot 05-29-16 at 11.25 PM

Như vậy, không như tuyên truyền hoàn toàn xằng bậy của Việt Nam Cộng Hòa, Alexander Solzhenitsyn (a) không đào thoát trốn khỏi Liên Xô, (b) không bị Cộng Sản “đì” vì viết Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà tác phẩm này được chính lãnh tụ cứng rắn Khrushchev cho phép ấn hành, (c) bản thân rất sợ không được cho ở lại đất nước Liên Xô, (d) bản thân không đến Stockholm nhận giải Nobel nên không có chuyện buộc phải sống lưu vong vì Liên Xô phong tỏa đường về, (e) bản thân là người yêu nước chiến đấu trên mặt trận lửa đạn kinh hoàng của Thế Chiến II dưới quân lệnh nghiêm ngặt khủng khiếp của Stalin và có chứng kiến những sự hành quyết quân thù mà sau đó các địa điểm mồ chôn đều được kiểm chứng, và (f) bản thân là tù nhân của trại cải tạo lao động khét tiếng mà bản án còn ghi sau mãn án lưu đày viễn xứ sẽ bị quản thúc suốt đời nơi vùng sâu vùng xa biên cương Kok-Terek.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ câu chuyện về văn hào Alexander Solzhenitsyn là:

Nếu muốn sáng tác rùm beng một vụ việc “tiêu cực” hoặc “đáng sợ” hay “đáng tởm” ở Việt Nam chẳng hạn như vụ “cá thối” thì bản thân cô giáo thạc sĩ nên có thâm niên bản thân hành nghề săn bắt cá, có thực tế bản thân bần cùng khốn khổ do hết nẻo sinh nhai do cá chết sạch mà nhà nước cộng sản Việt Nam chẳng ra tay cứu tế chẩn bần, có thực tế bản thân bị hỗn bệnh tức bệnh hỗn hợp của tịt mũi, tắt tiếng, sưng họng, loét ruột và tiêu chảy vì ăn cá chết ngay tại vùng biển bị nhiểm độc hóa chất ấy, có thực tế bản thân từng nhiều lần được nhà nước trao tặng huy chương vì sự nghiệp bảo vệ môi sinh, có thực tế bản thân yêu đất nước rất sợ bị tước quốc tịch Việt Nam để phải sang Mỹ lưu vong, v.v. Và chỉ cần hội đủ các điều ấy – cộng với việc nhờ một nhà dịch thuật tài hoa nào đó không rõ có ở Việt Nam không để chuyển tải bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh ra tiếng Anh thơ ca hàn lâm – thì bảo đảm Giải Nobel Văn Chương không thể nào rơi khỏi tay cô giáo Văn có bằng cấp thạc sĩ ấy.

Do chỉ lo sáng tác toàn tưởng tượng, đơm đặt về đất nước, về chế độ cộng sản, hoặc nêu những sự thật có mức độ tiêu cực bình thường nước nào chẳng có, nên các “nhà văn” hầu như chỉ viết lên những chi tiết điên khùng như chuyện anh bộ đội sau chiến tranh về ôm hít chiếc quần xì-líp phụ nữ, thậm chí nhai nuốt chiếc quần ấy, như sự bung ra của dồn nén tình dục mà đời sống khắc khổ khiến các chiến sĩ giải phóng quân nào cũng bị ức chế hóa điên, chứ không như các chiến sĩ Cộng Hòa lành mạnh tinh thần vì mỗi lần xả trại là đến ngay các khu vực như Ngã Ba Chú Ía tấp nập cung cấp dịch vụ giải quyết sinh lý với giá cả phải chăng cho những anh hùng chống Cộng bảo vệ quê hương. Cũng vì vậy mà tất cả – xin nhắc lại là tất cả – những cái gọi là “tác phẩm” văn thơ mang hơi hướm tấn công tiêu cực hay “hiện thực phê phán” xuất phát từ Việt Nam đều là thứ thậm chí không có được ngay cả cái danh dự được nằm trong sọt rác của ban xem xét giải Nobel Văn Chương mà chỉ cung cấp cho giới chống Cộng có tư liệu bằng vàng để hả hê cười nhạo chế độ Cộng sản Việt Nam, cười nhạo nhiều chục triệu người dân Việt Nam đang sống tự hào tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nghĩa là ngoài sự được ngợi ca bởi những kẻ thù của chế độ và những kẻ không bao giờ nằm trong danh sách những nhà xuất bản danh tiếng hàn lâm toàn cầu, các “tác phẩm” ngay cả có được in ra ở nước ngoài thì cũng chỉ phục vụ một bộ phận không lớn những người gốc Việt hoặc những người ngoại quốc tò mò, rồi quyển này quyển nọ cũng tự động xếp hàng tuần tự trước sau nghiêm chỉnh bước lùi hết vào quên lãng.

C) Trong Trại Tập Trung

Screen Shot 05-29-16 at 03.57 PM

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm văn học nào của nước ngoài để hiểu tính nhân văn nhân đạo luôn là chuẩn mực cao nhất, quyết định sự sinh tồn miên viễn của một tác phẩm với thời gian. Chỉ cần đọc các nhật ký viết trong các trại tập trung Đức Quốc Xã của những bé gái mà ngay cả mộng ước được trở thành cô giáo cũng bốc hơi trong lò thiêu diệt chủng, nói gì đến chuyện được ăn học thành tài, có bằng thạc sĩ, được sống với nghề giáo trong một đất nước hòa bình, ổn định, hào hùng như cô giáo dạy Văn có bằng thạc sĩ nhà ta.

Hãy tìm đọc các quyển nhật ký được viết trên những tờ giấy vàng bẩn được các đoàn quân giải phóng của Mỹ và Liên Xô moi ra được từ những hốc kẹt trong vách tường, như của các cô bé Helga Weiss, Helga Deen, Regina Honigman, Miriam Watternberg, Irena Gluck, Renia Knoll, Halina Nelken, Elsa Binder, Luthka Leiblich, Ilya Gerber, Tamara Lazerson, Gertrude Schneider, mà đặc biệt là Ann Frank, v.v., hay của các cậu bé Alexander Mayer, Dawid Sierakowiak, Dawid Rubinowicz, Yitskhok Rudashevski, Gabik Heller, v.v., để biết rằng sự bất tử của các “tác phẩm” ấy là do (a) được viết nên một cách chân phương chân thật chân chất chân thiết chân thành bởi những người thực sự trong cuộc, thực sự nếm trải mà kết cuộc thực sự của sự nếm trải thực sự đó là thân thể héo hắt trơ xương trần truồng của họ chất chồng trong các lò hơi ngạt; (b) được viết nên với sự trong sáng yêu đời dù trong hàng rào kẽm gai của lao động khổ sai đói lạnh khi chưa bị kêu xếp hàng để tiến đến lò thiêu; (c) nội dung toàn là những sự thật được kiểm chứng qua số liệu kinh hoàng của núi răng bọc vàng nhổ từ các đầu lâu mà các sĩ quan Đức Quốc Xã thu gom; và (d) nội dung về những sự kinh hoàng giống nhau dù được lén viết bởi những bé khác nhau tại các trại tập trung khác nhau ở nhiều nước khác nhau mà quân đội Đức chiếm đóng.

Screen Shot 05-29-16 at 03.54 PM

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương, từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, là: hãy cứ sáng tác các bài thơ bài viết bươi móc các thối hôi của các thùng rác nếu như khẳng định rằng (a) bản thân không thể viết gì tốt hơn, (b) bản thân hiểu rõ nước nào cũng có những thùng rác, và (c) bản thân viết để đừng quên từ vựng tiếng Việt và chỉ để trữ lưu cho cá nhân chứ không để tung lên mạng xã hội vì đã có sự hiểu biết rằng người nghèo khổ có thể bới thùng rác để tìm thứ vẫn còn hữu dụng chứ chỉ có kẻ vô giáo dục mới lấy các rác ấy đi vất khắp hẽm các đường phố như ném một thứ gì đó tiêu cực l