Category Archives: Đạo Đức

Nghị Sĩ Lê Trọng Sang

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-01-2018

Ông Lê Trọng Sang là Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) của Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh.

QH HHP LTSang (3)

Ông là người duy nhất của toàn bộ Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII nhận được từ tôi tin nhắn này mà tôi gởi vào Viber của ông

QH HHP LTSang (7)

vì trong kỳ họp cuối cùng ấy của Khóa XIII tôi có khẩn cấp bay về Thành phố Hồ Chí Minh dù chân đang còn thương tích mà mỗi bước đi là mỗi lần máu phụt ra ướt nhẹp bông băng để tiếp xúc cử tri kỳ “Hiệp Thương Chọn Ững Cử Viên Cho Quốc Hội Khóa XIV” do Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, và ngay trong khuya phải bay trở ra Hà Nội để kịp dự buổi họp quan trong buổi sáng. Tại buổi “Hiệp Thương” có sự tham dự của vợ tôi là Vũ Thị Liên ấy đã có một đám đầu râu tóc bạc đội lốt “cử tri” để vu khống tôi, gào thét điên dại ngăn trở cuộc họp, với sự điềm tỉnh nín thin của đại diện Mặt Trận Tổ Quốc Quận Phú Nhuận và Thành phố Hồ Chí Minh.

Vậy vì sao tôi đã gởi tin báo ấy cho Nghị Sĩ Lê Trọng Sang và chỉ gởi cho mỗi mình Ông?

Như đã nêu rõ trong bài về ba người con gái mà tôi đã bàn tính chuyện trăm năm, tôi đã nói rằng từ lúc còn là học sinh tiểu học cho đến tận ngày nay tôi

a) luôn rất ít nói (đặc trưng cổ của đấng hùng biện chính đạo),

b) rất xa cách (đặc trưng cổ của nhà học thuật hàn lâm),

c) luôn tránh xa đám đông bát nháo ồn ào trống rỗng không thân thiện (đặc trưng cổ của giới quý tộc cao sang),

d) chỉ kết bạn với một hai anh bạn mà thôi (đặc trưng cổ của giới sĩ phu theo nguyên tắc tuyệt đối nhân phi nghĩa bất giao), và

e) chỉ mở lòng với những người yếu thế trước cường quyền hoặc khi phải bảo vệ chính nghĩa quốc gia (đặc trưng cổ của những hiền tài),

mà thiên hạ ở Quốc Hội ắt đã nhận ra rất rõ phong thái này của tôi trong trọn Khóa XIII.

Thế nhưng thiên hạ cũng có thể nhìn thấy tôi chuyện trò vui vẻ với ba nghị sĩ Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm Lê Trọng Sang, Huỳnh Minh Thiện, và Nguyễn Văn Phụng.

QH HHP LTSang (2)

Tôi cực ghét sự nhậu nhẹt và thói ăn nói quàng xiêng cớt nhã không nghiêm túc của đa số đàn ông nào thích tập trung cười ha hả nói về tình dục và bộ phận sinh dục, mà các nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh không bao giờ là ngoại lệ. Đó là lý do suốt nhiệm kỳ XIII tôi không bao giờ tham gia nói hay tham gia cười trên xe của Đoàn Nghị Sĩ Thành phố Hồ Chí Minh mỗi khi có ai đó lên tiếng bỡn cợt với cùng chủ đề duy nhất ấy rồi nhận được sự cười ồ hưởng ứng và nhiệt tình tham gia góp ý của các nghị sĩ đảng viên đồng nghiệp còn lại.

Tôi luôn có sự cẩn trọng đầy khó tính từ cấp tiểu học đến nay trong phát ngôn trong bất kỳ đám đông nào, cái mà Donald Trump tiếc thay đã không sở hữu để rồi bị bọn nhà báo mất dạy lén ghi âm và tung ra nhằm hạ uy tín của Ông trong bầu cử Tổng Thống 2016, và cũng là cái mà các đảng viên cấp cao ở Thành phố Hồ Chí Minh không bao giờ sở hữu. Một chức sắc lãnh đạo Quận 1 đã luôn đòi hỏi Quận phải cung phụng rượu hiệu gì và phải có những cô gái nào trong đội ngũ nhân viên nhan sắc của Quận phục vụ hai bên rót rượu để ông ta được vui hầu uống nhiều rượu hơn; và oái oăm thay khi ông lại được Đảng thăng ông lên cấp lãnh đạo thành phố, còn những nữ nhân viên khinh bỉ ông đã loan truyền cho nhiều người – trong đó có tôi – biết về tư cách đốn mạt này của ông ấy, song duy chỉ Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh là vĩnh viến không nghe thấy gì cả.

Chính vì vậy khi thấy trong bão loạn của suy đồi tư cách, các nghị sĩ Lê Trọng Sang lặng thin đọc báo, Nguyễn Văn Phụng cười chiếu lệ, và Huỳnh Minh Thiện tằng hắng kiểu bất ngờ khi nghe tin độc, tôi đã có những thiện cảm nhất định đối với ba nghị sĩ này. Bất cứ khi nào Nghị sĩ Nguyễn Văn Phụng cần có người cùng ra chợ Đồng Xuân cho vui, tôi luôn có mặt để cùng Ông la cà khắp chợ, để chứng kiến Ông tìm mua các khối Rubic và giày thể thao mới cho đưa con trai lớp 9 của Ông, cũng như Ông trả giá tới lui cho hàng chục gói trà thượng hạng mà Ông lần nào đi Hà Nội họp cũng mua đóng thùng đem về tặng các vị lão nông. Bất cứ khi nào Nghị sĩ Huỳnh Minh Thiện cần có người cùng đi thăm các chiến hữu ở các tỉnh Miền Bắc đã vào sinh ra tử cứu nhân độ thế đánh tan bọn chó ghẻ Khmer Đỏ ở chiến trường Campuchia, tôi đều có mặt tháp tùng và cũng nhờ vậy mà tôi được các cựu chiến binh ấy mến thương, cứ phone mong tôi sẽ ra thăm họ hàng năm bất kể ông bạn chiến đấu Huỳnh Minh Thiện của họ có ra được hay không.

QH HHP LTSang (4)

Trong bài viết về Ông Đinh La Thăng, tôi xoáy vào một đức tính của Ông Thăng mà tiếc thay toàn bộ các đời các Bộ trưởng của Chính Phủ Việt Nam chẳng có ai chịu noi gương ông ấy, đó là thực thi quyền uy của một Bộ Trưởng với chính các cấp phó và thuộc hạ của mình, bắt họ phải phục vụ người dân chứ không phải trở thành vua chúa hét ra lửa đốt cháy đầu người dân. Còn việc Ông Đinh La Thăng hồi nhỏ học hành ra sao, cha mẹ dạy dỗ thế nào, và vì sao Đảng đã đưa ông ấy lên đỉnh cao danh vọng lực quyền tột đỉnh mà không cần giám sát bảo ban thì đó là trách nhiệm bí mật chỉ của của các trường ông ấy theo học, là bí mật chỉ của mẹ cha ông ấy, và là bí mật tuyệt đối chỉ của Đảng mà thôi. Nghĩa là tôi vĩnh viễn không bao giờ sai khi đã là chuyên gia nhân sự tức luôn đánh giá một nhân vật chỉ trên cơ sở người ấy nắm một quyền lực cụ thể của thời hiện tại và hoàn cảnh xã hội cụ thể lúc người ấy nắm quyền hiện tại, chứ không dính dáng gì đến các quá khứ của ông ấy khi mà ngay cả Đảng cũng trường kỳ không hề biết nên đã lắm phen biến chúng thành trường thiên.

Đó là lý do tôi chỉ nêu ở đây những ngợi khen về tư cách của Nghị sĩ Lê Trọng Sang như thể hiện thật sự nơi Ông như một nghị sĩ trong toàn Khóa XIII, chứ hoàn toàn không về Ông như một lãnh đạo của một Sở nào đó tại Thành phố Hồ Chí Minh.

QH HHP LTSang (1)

Nghị sĩ Lê Trọng Sang rất ít nói. Câu đầu tiên Ông nói với tôi lại đến trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Khi tôi đứng lên gầm vang hơn sấm ứng khẩu hùng biện phát biểu sử dụng kiến thức từ nguyên học của ngôn ngữ học và sử học Mỹ để phản bác phát biểu của một tên nghị sĩ đại ngu về nội dung “luật hóa biểu tình”, tên nghị sĩ đại ngu ấy lập tức đứng dậy phát biểu thêm để chống lại ý kiến của tôi. Và khi y nói về cái quái quỷ hoàn toàn sai sự thật rằng “biểu tình đã xảy ra từ cả trăm năm trước trong cuộc biểu trình Chicago”. Tôi lẩm bẩm “thằng dốt Sử!”, và Nghị sĩ Lê Trọng Sang ngồi bên cạnh tôi đã nói ngay: “Anh Phước, đứng dậy đập tiếp thằng chả một trận đi”. Tôi đáp: “Mỗi người chỉ có 7 phút, xong phải nhường người khác. Ông ta đã sai khi tự động chiếm hữu thêm 7 phút mà chưa được sự cho phép của Chủ Tịch. Ông ta vi phạm chứ tôi không thể vi phạm được. Đành phải chịu lép trước thằng đại ngu thôi.

Hình như câu thứ nhì Ông từng hỏi tôi là giày mà Bộ Quốc Phòng gởi tặng tôi là số mấy, vì giày quà tặng Ông nhận được thì chật cứng.

Mỗi khi họp Tổ về dự án luật, Ông Lê Trọng Sang thoắt cái biến thành nhà hùng biện: Ông hăng say biện luận về các vấn nạn thực tế ở Thành phố Hồ Chí Minh, ra sức đề đạt những đổi thay chính sách và thay đổi các điều luật. Tiếc là các phóng viên không bao giờ quan tâm đến nghị sĩ nếu người ấy không là Chủ Tịch Nước, Bí Thư Thành Ủy, hay Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân, vì vậy người dân toàn quốc không thể cảm nhận được cái tâm luôn đau đáu về cuộc sống và hoàn cảnh của những người dân yếu thế bật ra từ các kiến nghị Ông mãi mê hết lần này đến lần khác cống hiến cho luật pháp nước nhà.

Tư cách của Ông trong tận tâm đại diện cho yêu cầu cuộc sống tốt hơn cho người lao động Thành phố Hồ Chí Minh và trong gìn giữ tư thế một nghị sĩ trong đám đông bát nháo đã làm tôi rất kính trọng Ông. Cũng là người ít nói, tôi hình như đã mở miệng lần thứ ba (lần thứ hai là khi nói giày tôi số mấy) để chúc mừng Ông được chọn vào lớp “cán bộ nguồn” để trở thành lãnh đạo tiềm năng sáng giá trong tương lai của nước nhà.

Ngay khi trở ra Hà Nội từ buổi “Hiệp Thương” tiếp xúc cử tri nói trên, tôi gởi một tin nhắn để “báo cáo” Ông về sự việc không hay đã xảy ra với tôi ra sao. Ông đọc, không trả lời, chỉ đăm chiêu lắc đầu ra vẻ áy náy khi tôi trong hội trường quay lại nhìn Ông. Đó là lần thứ tư và cũng là lần cuối cùng tôi hoặc trả lời hoặc có “thông tin” cho Nghị sĩ Lê Trọng Sang trong suốt những năm dài tại Quốc Hội của đất nước tôi trọn đời thiết tha yêu quý này.

 

Tôi đã từng quyết rằng ở Quốc Hội Khóa XIV tôi sẽ ra tay dẹp bỏ tuyệt đối tệ nạn ăn nói quàng xiêng bỡn cợt tục tĩu không biết thế nào là bảo mật đối với tin tức quốc gia của các Nghị sĩ Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh khi trên xe lúc di chuyển đến và từ Tòa Nhà Quốc Hội hoặc đến thăm các địa phương khác, bằng cách sẽ lên tiếng chỉnh đốn ngay tại chỗ cũng như đe dọa sẽ công khai lên blog của tôi – với băng ghi âm kèm theo làm bằng chứng – các sự mất tư cách hoặc mất cảnh giác như vậy của các nghị sĩ, kể cả khi nghị sĩ ấy là Chủ Tịch Nước, Bí Thư Thành Ủy, hay Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi sẽ yên tâm thực hiện việc đó – dù là Khóa XIV, Khóa XV, Khóa XVI, hay bất kỳ khóa nào mà tôi vẫn còn sức lực tiếp tục cống hiến cho đất nước, cho Đảng, cho dân – nếu được người dân bảo vệ hữu hiệu trước sự phá hoại của bọn gian dân mà đại diện của Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh dường như ủng hộ,

Tôi không là kẻ lạc loài cô độc trong giữ gìn quốc thể và tư thế nghị sĩ Việt Nam: Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã từng có các vị Nghị Sĩ khóa XIII như Ông Lê Trọng Sang.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghí-sĩ Khóa XIII (2011-2016)

Tham khảo:

Vũ Thị Liên  21-01-2018

Đinh La Thăng  08-02-2016

Thư Tố Cáo Gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân   14-6-2017

Advertisements

Hoàng Hữu Phước và Những Phụ Nữ Đẹp – Bài 3

Bài 3:

Những Người Con Gái Tuyệt Đẹp Trong Tình Yêu Của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-01-2018

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (1)

A) Trong Bài 1 tôi nêu những ý kiến cá nhân của tôi đối với Nicole Kidman như một khuôn mẫu tôi cho là chuẩn mực đại diện cho cái đẹp bên ngoài tức khuôn mặt và hình thể người phụ nữ khả dĩ được phần lớn nhân loại biết đến và phần lớn trong phần lớn ấy nhìn nhận về nét đẹp ngoại hình cuốn hút ấy, từ đó tôi không cần nêu tên Catherine Zeta-Jones dù cả Nicole Kidman và Catherine Zeata-Jones đều giúp tôi ở chỗ cho tôi có cơ hội nhìn thấy những bức ảnh của họ rồi chọn được những tấm rất giống với ba người con gái Việt gồm hai bạn học của tôi và một học trò của tôi (một ảnh nghiêm trang của Catherine Zeta-Jones để miêu tả chân dung cao sang quý phái tuyệt vời của Lý Quỳnh Hoa, một ảnh tươi tắn của Catherine Zeta-Jones để diễn đạt gương mặt yêu kiều tuyệt mỹ của Nguyễn Thị Trân Châu, và một ảnh bừng sáng trẻ trung quyết đoán pha nét trẻ thơ của Nicole Kidman như gương phản chiếu một cô học trò khác của tôi).

Cần nói rõ rằng không phải ba cô gái Việt này rất giống Nicole Kidman và Catherine Zeta-Jones, mà chính Nicole Kidman và Catherine Zeta-Jones rất giống ba cô gái Việt này – đơn giản vì lúc chúng tôi đã trưởng thành thì bầu trời đầy sao của thế giới vẫn chưa hề xuất hiện những cái tên Nichole Kidman và Catherine Zeta-Jones. Điều này khẳng định tôi yêu ba giai nhân Việt này vì sắc đẹp Việt của họ chứ không từ ảnh hưởng của một nhan sắc ngoại lai nào đó của một ngôi sao điện ảnh bất kỳ của nước ngoài, và sau này khi thấy có hai trang tuyệt sắc nước ngoài giống y hệt ba người ngọc Việt này, tôi có thể nhờ vậy mà nói rằng cả ba đều là những trang tuyệt thế giai nhân với sự tự tin rằng tất cả các bạn học ngày xưa của tôi dù tại lớp tôi hay tại trường tôi đều sẽ phải công nhận tôi đã nhắc họ nhớ lại sự thật 100% chính xác hoàn toàn không phóng đại ấy.

Cần nhắc lại rằng bất kỳ người đàn ông nào trên thế gian này cũng có thể định cho riêng mình một hay nhiều phụ nữ mà anh ta cho rằng đẹp nhất thế gian, và chỉ cần nghe anh ta nêu lý do cho sự lựa chọn ấy là người ta đã có thể hiểu phần nào về chính con người của anh ta. Vì vậy, thay vì lập lại câu nói cũ rích của người xưa (rằng hãy cho tôi biết anh làm bạn với ai là tôi sẽ biết ngay anh thuộc hạng người nào), tôi cho rằng “nếu anh là người Việt, chỉ cần cho tôi biết phụ nữ hay những phụ nữ nào anh cho là người đẹp nhất thế gian, tôi có thể nói anh thuộc mẫu đàn ông nào”.

B) Còn trong Bài 2 tôi muốn nêu những ý kiến cá nhân của tôi đối với những phụ nữ hoàn toàn không quen biết tôi, thậm chí họ chưa từng nghĩ rằng tôi có mặt trong cuộc đời này để nói về họ. Do cá nhân tôi có sự ưa thích nghề nghiệp đòi hỏi năng lực hùng biện cao nhất của tâm thức và tri thức là nghề giáo và nghề báo, tôi đã theo ngành giáo dục mà từ chối lời mời của ngành an ninh tình báo, cũng như lúc còn là sinh viên đã từng gởi thư liên hệ tác nghiệp với Newsweek của Mỹ như đã từng đưa ảnh thư của Newsweek trên blog này, việc tôi chỉ quan tâm đến những giai nhân chỉ thuộc hai nghề nghiệp đó là lẽ trên cả đương nhiên.

Dù trong các nữ sinh viên rất tốt đẹp của tôi có biết bao người rất xinh đẹp và tuyệt vời về đức hạnh, tôi vẫn không viết gì về bất kỳ ai trong số họ, đơn giản vì các em là những giáo sinh mỹ nhân cần cù giỏi giang và những giáo viên dạy giỏi tận tụy, nhưng không ai trong số các em ấy cho đến nay đã (hay sắp) nghỉ hưu từng trở thành nhà hùng biện xuất sắc cả (thể hiện qua sinh hoạt tư duy hùng biện bằng tiếng Anh hay tiếng Việt trên các diễn đàn blog) mà tôi được nghe danh. Ngoài ra, cũng trong sinh hoạt tư duy hùng biện chính đạo (đã là tà đạo thì đương nhiên không bao giờ có cái gọi là “hùng biện”) trên toàn quốc Việt Nam, tôi cũng chưa hề thấy có bất kỳ nữ giáo viên nào và bất kỳ nữ nhà báo nào gọi là tài danh cả, mà trong cái tài-sắc-đức vẹn toàn của một giai nhân tài danh thuộc category hùng biện của Bài 2 này thì các nữ nhà giáo và nữ nhà báo Việt Nam chỉ có thể sở hữu hoặc sắc hoặc đức hoặc cả hai, chứ hoàn toàn hoặc yếu hoặc không có tài, với định nghĩa rõ ràng chính xác rằng tài của nữ nhà giáo và nữ nhà báo phải luôn gắn liền với năng lực hùng biện chính đạo. Tất cả dẫn đến sự thật là tôi thấy chỉ có một số giai nhân giỏi hùng biện chính đạo ở Mỹ là được tôi kính trọng mà thôi. Họ đa số thuộc lĩnh vực báo chí – truyền thông tận tụy phục vụ hiệu quả Tổng Thống của mình trong an bang, định quốc, tảo nộitrấn ngoại bằng chính tài hùng biện quyết liệt của họ.

Cần nhắc lại rằng bất kỳ người đàn ông nào trên thế gian này cũng có thể định cho riêng mình một hay những phụ nữ mà anh ta cho rằng tuyệt đẹp dựa vào những yếu tố ngoài-nhan-sắc, và chỉ cần nghe anh ta nêu đầy đủ những yếu tố ngoài-nhan-sắc ấy đã có thể hiểu phần nào về chính con người của anh ta.

C) Như vậy trong Bài 3 này tôi sẽ tập trung viết về những giai nhân đã cùng tôi có tình yêu thực sự tức thứ tình cảm gắn bó theo truyền thống với ý nghĩa rất bình thường tự ngàn xưa gồm:

(a) giữa hai người khác phái;

(b) cùng nhau có sự rung động con tim vì sắc hạnh hoặc vì tài đức hoặc cả hai của nhau – sắc hạnh , vì nếu chỉ là sắc thì có cả rừng người lúc nha lúc nhúc chốn vũ trường, và tài đức vì nếu chỉ có tài thì có cả rừng lúc nha lúc nhúc tiến sĩ/thạc sĩ ở Việt Nam đang thất nghiệp với nguy cơ rừng lúc nha lúc nhúc tiến sĩ/thạc sĩ khác vừa nhận bằng cấp xong sắp ồ ạt đổ quân hồi cố quận mà Nhà Nước bó tay không biết đặt lên ghế nào do tất cả tài này không chịu đi nhất là khi rừng bị tàn phá chẳng còn cây để mà đóng thêm ghế mới, đã vậy họ cương quyết phản đối đứng, chẳng chịu nằm, và chớ muốn ngồi bệt lên sàn nhà e sợ mất thể diện tiến sĩ/thạc sĩ;

(c) có ước mơ gắn kết với khát vọng dựng xây gia đình hạnh phúc cùng nhau đến trọn đời; và

(d) cùng nhau công khai đoan chính tự hào – nghĩa là không lén lút, rất chính đạo, được gia đình và rất nhiều người biết đến và khuyến khích mối quan hệ yêu đương này, cũng như ngoài sự ganh ghen ganh ghét có thể có nơi những kẻ tỵ hiềm nào đó thì cuộc tình đó được những người tốt đẹp trong xã hội ngợi khen là tình đẹp xứng đôi của hai người tốt đẹp.

Trong số 24 người bạn gái đã từng có với tôi thời gian dành cho nhau sự quan tâm tình cảm mến mộ mến thương thậm chí là tình yêu, tôi chỉ có tình yêu đúng nghĩa nhất tức có hướng đến tương lai nên chồng nên vợ với chỉ ba người. Tất nhiên, việc nêu tên thật và đầy đủ của ba giai nhân này là việc bình thường vì (a) chúng tôi đã quá nổi bật, rất công khai, được rất nhiều người cùng thời biết đến tình yêu của chúng tôi; vì (b) thời đại chúng tôi yêu nhau vẫn còn là lúc môi trường còn là chốn nảy mầm của sự trong sáng trong sạch trong lành trong trắng nên là thứ tình yêu chúng tôi ngày nay có thể hãnh diện tự hào; và vì (c) trong rất rất nhiều năm qua tôi đã rất rất nhiều lần nhắc đến tên của họ trong rất rất nhiều bài blog trên hàng chục trang mạng khác nhau như Yahoo!3600 , Emotino, Blog, WordPress, LinkedIn, v.v.

1- Đinh Thị Mai Trâm

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (2)

Khi viết tên Đinh Thị Mai Trâm như người yêu của tôi năm chúng tôi học lớp 9 tại trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định (nay là trường Hoàng Hoa Thám trên đường Hoàng Hoa Thám, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh), tôi dựa vào sự thật là cả hai đa thực sự thốt tiếng yêu nhau và cùng bàn với nhau con đường học vấn phải đi để tiến đến tương lai trở nên chồng vợ sau đại học.

Như vậy Đinh Thị Mai Trâm là người yêu đầu tiên của tôi.

Tại buổi chào cờ sân trường mỗi chiều Thứ Hai tổ chức vào giờ tan học, tôi là trưởng lớp phải đứng đầu đội ngũ lớp tôi bên phía phải cột cờ (các hàng bên trái cột cờ là các lớp nữ sinh). Mỗi lớp xếp thành một hàng dài, với các lớp trưởng đầu tàu và các lớp phó khóa đuôi. Thường thì tôi tránh không nhìn các nữ trưởng lớp đang dàn hàng ngang trước mặt mình vì muốn chứng tỏ “ta đây đoan chính”, nên chỉ hoặc nghiêm trang nhìn xuống đất, hoặc nghiêm nghị nhìn lên trời khi nghe trỗi quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, hoặc nghiêm chỉnh nhìn qua trái đến linh mục hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ khi ông đọc đoạn văn đạo đức “dạy làm người”, nói chung là lúc nào tôi cũng ở tư thế nghiêm. Ấy vậy mà một lần tự nhiên tôi do bị hấp lực tự nhiên nào đó của số phận khi ánh nhìn của mình ngước lên theo phản xạ tự nhiên khi nghe tiếng cười trong trẻo của ai đó và bắt gặp ánh mắt của một nữ sinh tuyệt đẹp đối diện thay vì là cô lớp trưởng quen thuộc bấy lâu nay. Tôi lúng túng khi thấy nàng nhìn tôi mỉm cười còn các cô bạn sau lưng nàng chen chồm qua hai vai nàng để nhìn tôi cười tinh nghịch cứ như đã biết kế hoạch nàng muốn cùng tôi viết nên một chuyện tình đẹp nhất. Tất cả làm tôi lúng ta lúng túng, và lần đầu tiên trong đời, tôi cúi gằm mặt xuống khi trường trổi quốc thiều, còn mình thì mím môi không hát quốc ca, thỉnh thoảng lén ngước nhìn thử xem nàng có còn đang nhìn tôi không, và lần nào tôi cũng bị nàng phát hiện nhìn lén cả vì nàng vẫn luôn nhìn tôi. Sau này, Trâm cho tôi biết đã phải “hối lộ” cô bạn trưởng lớp để được lên đứng hàng đầu một lần, nhưng để rồi phải “hối lộ” đến cả trăm lần tức sau mấy tháng thì nàng mới bắt được ánh mắt cận thị của tôi để rồi xuyên qua đôi cửa sổ ấy nàng chiếm hữu tâm hồn khối óc con tim tôi cho đến tận ngày nay.

Thật tình thì chỉ sau buổi chào cờ đó, khi đến bãi dựng xe của nam sinh, giả vờ bâng quơ hỏi một bạn cùng lớp, tôi mới biết cô gái ấy là Đinh Thị Mai Trâm. Tên thì tôi đã biết từ lâu, vì bọn ở học khu nam sinh cứ nói về cái tên ấy của một cô nào đó mà họ xưng tụng là hoa khôi sang cả, mà đám nam sinh cả sang chầu chực chen chúc để “cua” – tức chinh phục giai nhân – nhưng tôi chưa hề quan tâm tìm hiểu xem cái tên ấy gắn vào ai trong số nhiều trăm nữ sinh áo dài trắng thướt tha tà áo tung bay ở ngôi trường Công Giáo này. Đơn giản vì tôi không cho là mấy cái thứ hoa khôi hoa hậu hoa hòe hoa sói gì gì đó đáng để mình quan tâm đến, và cũng đơn giản vì một trưởng lớp gương mẫu xuất sắc toàn trường như tôi tất nhiên không tham gia châu đầu vào đám đông để luận bàn hay lắng nghe về một nhan sắc nào đó. Trung thư hữu nữ nhan như ngọc  tức trong sách có nàng con gái gương mặt đẹp như ngọc, mà tôi có đến cả tỷ quyển sách lận, nên có thiếu chi quốc sắc thiên hương mà phải thèm để ý đến mỹ nữ thế tục! Nhưng khi nhìn thấy Đinh Thị Mai Trâm, tôi biết mình đã sai, vì cả tỷ nữ nhan như ngọc của tôi không ai xinh đẹp bằng nàng, mà bằng chứng là tối hôm đó tôi không biết mâm cơm Má tôi dọn ra có những món gì, và khuya hôm đó tôi không kiếm tìm trong sách vở bất kỳ nhan như ngọc nào cả mà ngồi mong trời mau sáng để mau đến buổi trưa được dong ruổi đến trường với quyết tâm từ nay sẽ nhìn quanh để ngày nào cũng tìm cho ra hình bóng của người con gái tên Trâm ấy để nhìn mà…có sức học tập.

Thế rồi vào buổi trưa ngày hôm sau ấy, khi tôi đang lui cui khóa chiếc xe đạp, một bé gái ở Học Khu Tiểu Học mặc áo trắng đầm xanh dương chạy đến đưa tôi một phong thư, bảo “Chị kia kêu em đưa anh cái này!” Nhìn theo hướng tay chỉ của bé, tôi thấy đó là Mai Trâm đang đứng nơi bãi giữ xe học khu nữ sinh nhìn tôi mỉm cười (Mai Trâm đi bộ đến trường vì nhà trên đường Chi Lăng, Gia Định – nay là Phan Đăng Lưu, Phú Nhuận – rất gần trường, và cũng vì vậy mỗi khi ra về nàng sang cả hay có một đội ngũ hùng hậu nam sinh cả sang tháp tùng lẻo đẻo rề rề rồ máy xe Cady thời thượng theo đến tận nhà).

Trong lá thư viết trên ba trang giấy màu xanh da trời, Mai Trâm nói đã mến tôi chàng trưởng lớp từ đầu năm lớp 9, đã lắm phen tháp tùng cô nàng trưởng lớp lên phòng Tổng Giám Thị lấy sổ điểm danh và hộp phấn chỉ để ban cho tôi cơ hội được nhìn thấy nàng, thế nhưng lần nào cũng “hụt” vì có khi nàng vừa gần đến văn phòng thì đã thấy tôi thoăn thoắt bước ra lầm lũi tiến về học khu nam sinh mà không chịu nhìn ai, có khi nàng đã bước ra khỏi văn phòng thì lại thấy tôi từ xa đang thoăn thoắt bước lầm lũi tiến đến văn phòng mà cũng chẳng thèm nhìn ai. Ngay cả việc “hối lộ” trưởng lớp để lên đứng ở đầu dãy, đối diện với tôi thẳng băng cách có bốn mét đường chim bay, mà “ảnh” cũng chẳng chịu nhìn. Tuy nhiên, thông tin đặc biệt mà bức thư của Trâm tiết lộ làm tôi cực kỳ sửng sốt: nàng bảo rằng tôi là đối tượng mà  các nữ sinh các cấp lớp – nghĩa là có cả những “chị” lớp 12! – săn bắt, là chủ đề bàn tán của các cô lúc ở canteen vào giờ ra chơi, thậm chí vài cô chứng minh đầy răn đe với mọi người rằng Phước đã thuộc về họ bằng cách đưa ra những tấm ảnh của tôi! May mà lúc đó chưa có PhotoShop®Samsung Galaxy hay Óp-Pồ độ sắc nét cao nhiều mê-ga pích-xeo! Những bức ảnh đó – theo lời Trâm – đều có tôi trong tư thế đang bước đi ở sân trường, mắt nhìn vào máy ảnh, miệng mỉm cười, nghĩa là tôi có quen biết những nữ chủ nhân nào đang cầm máy ảnh! Vậy là ô kìa kìa “linh hồn tượng đá” mà cười thì ắt đúng là bồ với bịch thật rồi! (Sau này, khi Mai Trâm giận dỗi khóc hờn tôi “trăng hoa” lúc nhắc lại mấy bức ảnh đó, tôi đã giải thích với Mai Trâm là ắt có những lần lên phòng Tổng Giám Thị lấy sổ và phấn khi đi ngang qua học khu nữ sinh thì nghe tiếng kêu “Phước ơi!” nên tự động quay qua – vì đã từng được một Ma-Sơ gọi như vậy – nhưng khi thấy toàn áo dài trắng cười khúc khích tôi mới ngượng nghịu “cười” vì bị “quê”, chứ nào biết cứ mỗi lần bị “quê” là mỗi lần bị ai đó lén chụp hình đâu). Thế là Mai Trâm trở nên nôn nóng, lo lắng, khi nghe biết các kế hoạch của các đối thủ tranh nhau chinh phục Trưởng lớp Phước. Trâm đã làm mọi cách để tôi phải nhìn thấy nàng cho bằng được, theo cung cách sang cả song rất tốn thời gian và công sức của nàng: có mặt tại văn phòng Tổng Giám Thị mỗi trưa mỗi ngày và đứng hàng đầu tiên lúc chào cờ mỗi Thứ Hai mỗi tuần. Cuối cùng thì Trâm “hữu chí cánh thành”: tôi cuối cùng đã chịu nhìn thấy nàng còn nàng xúc động chứng kiến trực tiếp cảnh linh hồn tượng đá biến thành linh hồn tượng sáp tan chảy ra sao dưới sức nóng tỏa lan từ nhịp tim đập cọ sát mãnh liệt và hừng hực của đắm say nhan sắc.tôi nhìn thấy nàng đồng nghĩa với việc tôi từ đó sẽ nhớ nàng mãi mãi, khó thể nào có cảm giác đắm say mãnh liệt ấy lần thứ hai, cũng như đã biết thế nào là lễ độ với nhan sắc một hoa khôi khuynh quốc khuynh thành.

Thế rồi mỗi ngày chúng tôi đều “trao đổi thư” cho nhau qua cánh chim bưu điện của các em nữ sinh tiểu học vui vẻ dễ thương tay trái cầm túi kẹo thưởng công tay phải nắm chặc bức thư tình phải chuyển. Nhưng phải đến Đêm Giáng Sinh năm ấy chúng tôi mới thực sự gần nhau khi đến trường dự lễ. Trong cái giá lạnh của gió đêm (Sài Gòn rất lạnh vào mùa Noel trước 1975, y như Đà Lạt mùa Noel 2017; còn nay thì Thành phố Hồ Chí Minh mùa Noel 2017 rét y như Vũng Tàu mùa Hè cũng của 2017), chúng tôi đứng hai bên một chiếc cột nhà ở hành lang không đèn trước phòng lớp tôi, tay chúng tôi tìm nhau đàng sau chiếc cột đồng lõa che chắn làm bình phong ấy. Trâm khẻ hát một bài tặng tôi (sau 1975, Đinh Thị Mai Trâm làm ca sĩ một thời gian, có ảnh chụp trên báo Sài Gòn Giải Phóng thời 1977), và lần đầu tiên trong đời, tôi đã đặt nụ hôn lên đôi môi ngọt ấm của nàng. Mai Trâm với tà áo dài màu vàng mà chúng tôi gọi là màu hoàng yến Đêm Giáng Sinh ấy đã trở thành người con gái tôi yêu thương, cùng chỉ tay lên non cao mà hẹn ước với trời xanh ngày sau sẽ nên vợ nên chồng.

Rồi mọi việc trở nên không dễ dàng khi các nữ sinh ra tay trừng trị Mai Trâm bằng cách gởi nhiều thư nặc danh đến Ban Giám Hiệu tố cáo tôi và Mai Trâm “yêu đương”. Linh mục Đinh Ngọc Lễ (hiện nay là một linh mục rất trí tuệ, nghiêm túc, không chống chế độ, dường như đang phụ trách giáo phận Gò Vấp, thậm chí cách nay vài năm đã thẳng thắn phát biểu trên Báo Tuổi Trẻ chống các luận điệu mê tín phản động nào dám bảo tượng Đức Mẹ khóc ở Nhà Thờ Đức Bà) giận dữ kêu Mai Trâm lên Phòng Hiệu Trưởng đe dọa sẽ mách bố mẹ Trâm nếu không chấm dứt chuyện “ái tình nhăng nhít” với tôi; xong đến lớp tôi xông vào đúng giờ dạy của Thầy Nguyễn Quang Tô, quát mắng ầm vang, gọi tôi là “bé hạt mít mà bày đặt yêu với đương”, rằng là “trưởng lớp gương mẫu nhiều năm sao nay lại hư đốn thế kia”, rồi xắn tay áo chùng thâm lục xét cặp của tôi để tịch thu tất cả các lá thư của Mai Trâm. Song, tôi là ai cơ chứ? Hoàng Hữu Phước đấy! Mà đã là Hoàng Hữu Phước thì phải cất giữ các báu vật thiêng liêng của đời mình chí ít cũng phải trong tủ sắt Ngân Hàng Tín Nghĩa của Nguyễn Tấn Đời chứ đời nào lại nhét vào chiếc cặp made-in-Chợ-Lớn rách sờn cơ chứ!

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (3)

Nhận thấy có quá nhiều phục binh, Mai Trâm và tôi hẹn gặp nhau mỗi chiều sau tan học cùng đến Vườn Tao Đàn trò chuyện. Thế là nhờ cơn thịnh nộ của Linh mục Đinh Ngọc Lễ mà ngày nào chúng tôi cũng được gặp nhau thay vì phải chờ đến Giáng Sinh năm sau. Cứ mỗi chiều tan học, tôi và anh bạn học chung lớp (người Việt gốc Ấn tên Subra, rất đẹp trai, cao đến vai tôi, nhà ở đường Phạm Ngũ Lão, Quận 1; sau Giải Phóng, Subra và gia đình sang Pháp định cư) đạp xe đến Tao Đàn, chiếc tôi xe nữ đỏ, chiếc Subra xe “cuộc” tức xe sườn ngang thể thao; còn Mai Trâm và cô bạn thân học chung lớp là Lâm Thị Lan Phương cùng nhau mỗi người chạy một chiếc Honda PC đến đó, chiếc Mai Trâm xanh, chiếc Lan Phương đỏ. Tôi và Trâm luôn ngồi cố định ở một gốc cây gần một trường mẫu giáo trong vườn Tao Đàn, còn Subra và Phương ngồi dựa cũng chỉ tại mỗi một gốc cây cố định khác cách đó 30 mét vừa đủ canh chừng bảo vệ nhau vừa đủ không để nhìn thấy nhau. Hai cặp “tình nhân” lớp 10 này tay trong tay ngồi trò chuyện suốt. Có khi tôi và Trâm ngồi môi quấn quýt bên môi hôn nhau giữa thanh thiên bạch nhật trước mặt bao phụ huynh chờ đón con thơ, suốt từ lúc vừa đến cho đến lúc về khi ánh sáng ban ngày sắp tắt, vì chuyện ước mộng ra sao ngày sau đã từng nói ra hết từ trước đó trong những lá thư và trong những buổi chiều khác.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (4)

Khi tôi chuyển sang trường Tân Việt (do Nguyễn Bá Tòng không mở lớp Ban C cho cấp lớp 12 do không ai theo đuổi sự nghiệp văn chương, ngoại ngữ, và triết học như tôi cả), chúng tôi chia tay nhau nhiều tháng sau đó. Xin đừng nghĩ ngay đến câu “xa mặt, cách lòng” cũ rích và sai bậy vì cho đến tận ngày nay tôi vẫn yêu nhớ Mai Trâm. Cũng xin đừng nghĩ đến Lý Quỳnh Hoa chỉ vì Quỳnh Hoa học chung với tôi lớp 12 Ban C tại ngay cái trường Tân Việt ấy, rồi cho rằng tôi ắt đã vì một người đẹp tầm cỡ nhân loại mới để quên một người đẹp nhân hậu Việt Nam cũ.

Đinh Thị Mai Trâm dù được bao người theo đuổi, vẫn khoan thai duyên dáng xách cặp bước thẳng về nhà, không hề mở miệng trả lời bất kỳ ai. Vì vậy, ngoài danh hoa khôi do đám nam sinh tán tụng, Mai Trâm còn bị chính đám đó bảo là “kênh kiệu” và “khinh người”. Chúng đã nói thế khi tôi chưa biết và cũng chưa từng tò mò muốn biết Đinh Thị Mai Trâm là ai trong số đông nữ sinh của trường. Tôi đã không ấn tượng gì khi nghe họ trầm trồ về sắc đẹp của nàng. Nhưng khi nghe họ bảo nàng như thế như thế, tôi đã thích thú vì chính bọn nam tử hán học dốt đó là bọn nhà cực giàu rất “kênh kiệu” và rất “khinh người”. Thảo nào khi toàn trường xôn xao chuyện “hoa khôi” Mai Trâm và “tượng đá” Phước yêu nhau, các nam tử hán này đột nhiên trở nên buồn thiu, bớt ồn ào, thêm đĩnh đạc, cố học hành, không còn ham khoe bày của cải vật chất, và mất tích trong đám đông lễ hội.

Đinh Thị Mai Trâm thuộc một gia đình người Bắc Công Giáo rất đạo đức, ngoan đạo, và nhân hậu, cởi mở. Bố của Mai Trâm làm bác sĩ ở bịnh viện của quân đội Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Một lần tôi bị té xe khá nặng do bị một chiếc Vespa tông phải tại ngã tư Yên Đỗ và Nguyễn Thông. Lúc biết tin, Mai Trâm khóc sướt mướt, về kể chuyện cho Bố xin Bố giúp đỡ. Thế là Bố của Trâm lập tức lựa thuốc đưa Trâm, căn dặn đủ điều. Trâm vẫn còn cho là chưa đủ nên đến ngay Nhà Thờ kể linh mục nghe về tôi một người ngoại đạo nhưng Trâm bảo đảm là rất trong sáng đạo đức. Bị thuyết phục, rốt cuộc linh mục chịu làm phép lên sợi dây chuyền thánh giá mà Trâm mới chạy đi mua về. Trâm trao thuốc cho tôi, bắt tôi uống hai viên thuốc – may mà tôi có biệt tài uống thuốc viên không cần nước – rồi tự tay đeo cho tôi sợi dây ấy vì nghĩ tôi sẽ không chịu đeo do khác tôn giáo. Trâm nói từ nay Đức Chúa sẽ luôn theo bên tôi qua sợi dây chuyền đó để bảo vệ tôi trước các nạn tai, và rằng ngày nào tôi không đeo nữa sẽ có nghĩa tôi đã thay dạ đổi lòng từ chối tình yêu của nàng. Tôi đã luôn đeo sợi dây chuyền thánh giá ấy thậm chí cho đến hàng chục năm sau khi chúng tôi đã chia tay, đơn giản vì tôi nghĩ rằng vào ngày nào đó dù cận kề hay xa thẳm trong tương lai khi có cơ may gặp lại tôi sẽ cho nàng thấy sợi dây chuyền để nàng tin tôi đã luôn yêu nhớ nàng.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (5)

“Xa mặt” không luôn dẫn đến “cách lòng”. Nhưng “xa mặt” lại dễ tạo điều kiện cho những âm mưu của những kẻ thứ ba muốn làm chất xúc tác kích hoạt sự “cách lòng”. Vì “xa mặt”, trưa nào tôi cũng đến nhà một cô “bạn thân” của Trâm học chung lớp với Trâm (do Trâm khuyên thế) để nhờ đưa thư cho Trâm và cũng để nhận thư của Trâm. Nhưng rồi vài tháng sau đó, sau một tuần chẳng trao thư gì cho tôi, cô “bạn thân” ấy bảo rằng sẽ không có thư của Trâm nữa đâu vì thư tôi gởi cả tuần qua thì đã bị Trâm từ chối nhận còn dọa là sẽ xé ngay nếu còn gởi tiếp quấy rầy. Cô “bạn thân” ấy nắm lấy tay tôi, rưng rưng nước mắt, dịu dàng nói với giọng điệu triết lý cảm thông đầy thương xót: “Xa mặt cách lòng rồi Phước ơi”. Là một chàng trai còn quá trẻ, và sắc đẹp lộng lẫy của Mai Trâm với bao kẻ thế gia vọng tộc vây quanh càng làm tôi tin ngay vào cái sự “cách lòng” đó, và tôi quyết định cắt đứt bằng một bức thư đầy giận dữ mà tôi đứng viết giữa trưa ngay trước nhà cô “bạn thân” ấy. Cô ta vui vẻ ra mặt, nhận thư, hứa sẽ chuyển tận tay rằng “Tuyết sẽ bắt Trâm phải đọc và không để nó đòi xé như đã làm vậy hôm trước đâu”.

Sau này khi giảng dạy ở Cao Đẳng Sư Phạm tôi có tâm tình (chỉ vào giờ giải lao hoặc lúc cắm trại tại Hội Sơn và Bửu Long vì lẽ đương nhiên là đa số các em rất hay “thắc mắc” chuyện tình cảm của thầy cô nào mà họ mến mộ) với các sinh viên nhiều lớp khác nhau về Đinh Thị Mai Trâm, người tôi yêu thương nhất. Lúc ấy tôi vẫn còn độc thân. Tôi kể họ nghe vì tôi có treo lên bảng một bài thơ tình tiếng Anh của tôi để làm thí dụ minh họa về sử dụng từ vựng formal tiếng Anh, và họ đã hỏi “dòng chữ Dedicated to Dinh Thi Mai Tram là Thầy dâng tặng ai vậy Thầy?

Một trưa nọ, khi tôi lửng thửng ở vườn cỏ (không có hoa) sân trường lúc giải lao, một nữ sinh Khoa Anh của một lớp thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, người mà các nam sinh trường Đại Học Sư Phạm đối diện gọi là “hoa khôi Cao Đẳng” mà mấy anh chàng này hay sang mời mọc tôi ra ngoài cổng trường dùng cà phê để “hối lộ” tôi, nhờ tôi chuyển giúp thư tỏ tình của họ cho cái cô “hoa khôi” ấy, đã đi theo tôi hỏi: “Thầy ơi, em nghi cái cô bạn thân mà Thầy đã kể đó biết đâu đã dấu thư của Thầy rồi cũng giả bộ nói với Cô Trâm là Thầy không những chẳng muốn viết thư gì thêm cho Cô Trâm mà lại còn xé thư Cô Trâm ngay khi nhận trước mặt nhiều cô gái dẹp ở sân trường mới, rồi cô bạn thân ấy cũng đã an ủi Cô Trâm là đừng buồn vì Thầy xa mặt nên đã cách lòng.  Thầy có nghĩ là Cô Trâm cũng đã không chút nghi ngờ vì Cô thấy Thầy cũng… lộng lẫy không Thầy? Em hỏi thiệt mà, không có giỡn đâu Thầy! Sao Thầy cười em? Đâu phải chỉ có em nghi như vậy đâu! Em chỉ tội nghiệp Cô Trâm chớ em ghét Thầy lắm lắm lận đó. Thầy hiền mà tự ái dữ vậy sao? Ai mà dám yêu Thầy nữa?” (Cô bé này sau là giáo viên Anh Văn mà tôi trong một bài viết trước đây đã kể về giai thoại tôi có lần đã lặn lội đến trường học “vùng sâu vùng xa” để dự giờ của cô theo lời cầu cứu của cô khi cô bị các nữ đồng nghiệp bắt nạt do thấy cô được các thầy đắm say nhan sắc của cô, mà sự có mặt của tôi chỉ để hoàn tất vở diễn rằng cô giáo hoa khôi mới nhận nhiệm sở ấy đã có “anh thầy”nhan như ngọc rồi nên xin các thầy tại chỗ hãy làm ơn làm phước đừng có ái mộ khiến em ấy ái ngại.)

Số phận rất có thể đã khiến tôi lâm vào một hoàn cảnh đầy kịch tính như nhận xét của cô học trò “hoa khôi” trên, vốn cứ lập đi lập lại mãi đến độ nhàm chán trong các phim truyện tình cảm trường thiên trăm tập của truyền hình Hàn Quốc mà tôi vừa xem vừa uy nghi phán các nhân vật ấy phi hiện thực vì trên đời làm gì có những thằng đàn ông …ngu si đần độn dễ tin đến thế.

Bài 3 (1)Bài 3 (2)

Ba Má tôi có biết tôi thương yêu Mai Trâm từ năm tôi học Lớp 9 vì tối nào tôi cũng ngồi viết thư cho Trâm trước mặt Má tôi đang ngồi may vá, và vì trong tủ kiếng gia đình có bức tượng màu bằng thạch cao hình cô gái ngồi học nghiêng đầu mang dòng chữ “Trâm thương tặng Phước”. Tất nhiên, không bao giờ có chuyện Ba Má tôi rầy la ngăn cản các con mình về chuyện phát triển tình cảm yêu đương quá sớm vì đứa nào cũng học giỏi, chăm ngoan, và đứng đắn.

Tôi cũng kể về Đinh Thị Mai Trâm cho những cô bé học chung với tôi ở Đại Học Văn Khoa, và sau này một trong số các cô bé sinh viên tốt bụng duy nhất giỏi giang đức hạnh ấy trở thành vợ của tôi.

Đinh Thị Mai Trâm là một nữ sinh tuyệt đẹp, giỏi thơ văn, có giọng hát trong thanh tuyệt diệu và cốt cách trang đài, đã luôn hiện diện trong trái tim tôi với một tình yêu trong sáng, trong sạch, thánh thiện, rất nên thơ. Mai Trâm cũng là bút hiệu của tôi cho những bài thơ tiếng Việt sau khi chúng tôi không còn ở bên nhau.

Trâm ơi, Phước vẫn thương yêu Trâm như trong thủa ban đầu thơ trẻ ấy. Xin hãy tha thứ cho Phước. Lúc nào Phước cũng cầu mong Trâm được mọi điều tốt đẹp và luôn sống thật sung sướng và hạnh phúc ở chân trời hải ngoại vời xa.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (6)

2- Lâm Mỵ Tiên

Trong hai bài viết khác cũng trên chính blog này, tôi từng kể về một nữ sinh viên dáng cao mảnh khảnh trong chiếc áo dài trắng thướt tha đứng khóc ngoài cửa sổ phòng họp giáo viên Đại Học Tổng Hợp được biến thành phòng tạm giam tôi sau khi tôi bị các chiến sĩ ở Phòng Cảnh Vệ trên đường Đinh Tiên Hoàng ùa vào sân trường quất tôi hai báng súng té đập mặt xuống đất rồi giải tôi đến phòng ấy với hai tay giơ lên trời cao vì bị vu khống tội “phản động, đánh đập đảng viên, và đang tìm giết các sinh viên bộ đội”. Nàng chính là Lâm Mỵ Tiên, sinh viên Khoa Nga, Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (7)

Lâm Mỵ Tiên là bạn học chung lớp với em trai tôi tại trường Lê Hồng Phong. Ngoại ngữ của Mỵ Tiên là tiếng Pháp. Em tôi đỗ đầu vào Khoa Anh Đại Học Tổng Hợp rồi được chọn sang Liên Xô du học về Ngôn Ngữ Học. Mỵ Tiên thi vào Ban Pháp Văn Đại Học Tổng Hợp nhưng lại được chấm đỗ ghép vào Khoa Nga Văn theo nhu cầu của cách mạng. Khi các bạn của em tôi đến nói có nhu cầu học thêm tiếng Anh và muốn tôi giúp, tôi đã nhận lời. Lúc ấy tôi đang giảng dạy tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Thế là mỗi tối tôi đến nhà của Nguyễn Thái Học để dạy nhóm học sinh lớp 12 gồm bốn nam bốn nữ, trong đó có Lâm Mỵ Tiên. (Nguyễn Thái Học sau này tốt nghiệp Đại Học Tổng Hợp khoa Ngữ Văn, chấp nhận phân công về Huyện Duyên Hải, lập gia đình rồi định cư ở đó luôn, và hiện là Đảng viên Cộng Sản chức sắc cao cấp của Huyện Cần Giờ, rất to béo, với làn da sạm đen vì nắng biển mặn chát).

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (8)

Lâm Mỵ Tiên thuộc một gia đình giàu có với hơn mười anh chị em ruột. Khi nói đến “giàu có”, ắt sẽ gây liên tưởng đến các đợt “đánh tư sản” thời điểm vài năm đầu sau giải phóng. Mà thật vậy, có lần vì sợ bị “đánh tư sản” ắt do nghe các luận điệu tuyên truyền của các đài radio hải ngoại, các chị của Mỵ Tiên đã đến gặp tôi trao cho tôi mấy lon Guigoz rất nặng và nhờ tôi cất giữ hộ. Tôi hỏi kỹ thì họ nói trong đó là vàng ngọc châu báu mồ hôi nước mắt thành quả lao động chính đáng của gia tộc, vì nghe đồn đại như trên nên rất bất an, sợ bị vu vạ là tư bản, trong lúc không biết phải nhờ ai giữ giúp để chờ xem chính sách mới của Đảng sẽ như thế nào thì Mỵ Tiên khuyên hãy nhờ “Thầy Phước”. Tôi yêu cầu họ phải bảo đảm đó không là chất nổ, bạch phiến, hay tài liệu phản động, rồi nhận giữ giúp sau khi cầm từng hộp lắc nghe âm thanh từ trong cho yên dạ. Khoảng hơn một năm sau, lúc đã rất yên tâm về chính sách của Nhà Nước, các chị đến xin nhận lại để đem đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Một chị mở một lon, lấy ra một nắm gì đó dúi vào tay Má tôi để đền ơn gia đình. Má tôi cương quyết không nhận, và tôi cũng không chịu nhận bất kỳ thứ gì. Họ chỉ còn cách gom hốt cho lại vô lon, cảm ơn rồi ra về.

Tình cảm phát sinh tự nhiên và gần như cùng lúc nơi tôi và Mỵ Tiên khi vào một buổi tối nọ – tất nhiên là trước khi có chuyện gởi gắm vàng ngọc nói trên – lúc tình cờ gặp nhau trong ngõ hẻm dẫn đến nhà Nguyễn Thái Học, chúng tôi chào rồi lặng thinh cùng đi cạnh nhau (tôi không hiểu sao lại xuống xe dắt bộ còn Mỵ Tiên vẫn đang đi bộ), rồi khi đến dưới tàng cây trước nhà Thái Học, tự nhiên chúng tôi cùng dừng chân đứng nhìn nhau rất lâu, không nói lời nào, tự động cầm tay nhau trong bóng tối, để rồi sau đó tự động hôn nhau mải miết trước khi cùng thốt lên “Anh yêu em nhiều lăm , Mỵ ơi” và “Em yêu Anh lắm, Thầy ơi” – cứ như thể … chúng tôi bắt chước cảnh trong phim truyện Mỹ hay tiểu thuyết diễm tình hoặc cứ như thể chúng tôi đã thốt lời tỏ tình trước khi hôn theo lẽ bình thường vậy – cho đến khi Thái Học bước ra bắt gặp cảnh hôn nhau ấy. Đó là buổi dạy áp chót của tôi tại nhà Nguyễn Thái Học, tất nhiên rồi, vì tôi và Tiên khó thể không cảm thấy ngượng nghịu trước những tiếng cười khúc khích và ánh nhìn tinh quái tinh nghịch tinh ranh nhưng quá tinh tường của 7 học trò bạn thân kia của Mỵ Tiên.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (9)

Tôi nhà giáo 23 tuổi đã yêu cô học trò 18 tuổi Lâm Mỵ Tiên như vậy đấy. Tôi yêu nàng vì tính khí vui tươi trong sáng trẻ thơ, tính nết đức hạnh hiền lương, tính tình chân chất nhân hậu, và tính cách cao sang cao thượng của nàng, người đã từng vì lo sợ cho tôi mà đứng khóc ngoài cửa sổ “phòng giam” khiến tôi phải vội dùng ngón tay vạch lên mặt bàn một bài sonnet cảm tác để sau đó cố nhớ mà chép lại tặng nàng, người cũng đã tin tưởng tuyệt đối vào đạo đức liêm khiết của tôi để tín thác cả tài sản gia đình mà không có bất kỳ mảnh giấy viết tay nào chứng nhận, và cũng là người trở thành nguồn thi hứng cho tôi sáng tác nhiều thơ tiếng Anh nhất mà cuối cùng là quyển thi tập trao tặng nàng khi chia tay ở Tân Sơn Nhất.

Cả gia đình hai bên đều biết chuyện chúng tôi yêu nhau. Mỗi tối dạy xong các lớp ở Trung Tâm Nghiên Cứu Và Dịch Thuật là tôi đến nhà Mỵ Tiên. Nàng bắt tôi phải đến vì nàng sẽ nhịn đói chờ tôi. Thế là tôi phải ngoan ngoản tuân lời vì chỉ nghĩ tới việc nàng nhịn chờ tôi đến hơn 21 giờ là tôi rất cảm động. Tôi quá hiểu là nàng chăm lo cho sức khỏe của tôi vì vấn đề dinh dưỡng ở gia đình đông người của một thầy giáo nuôi cả gia đình đông em út như tôi thì không thể không khiến nàng bất an cho người mà nàng yêu thương. Nhưng để người tôi yêu vốn là một cô gái mảnh mai phải nhịn đói chờ mình thì tất nhiên tôi cũng không sao chịu được. Thế là tôi phải thề thốt mỗi tối dạy xong là đến không thiếu ngày nào, với điều kiện nàng phải ăn cơm chiều chung với đại gia đình của nàng trước, đừng để Cha Mẹ nàng mắng rầy. Cứ thế, mỗi tối sau bữa cơm, chúng tôi trở ra phòng khách cùng nhau nói chuyện bằng tiếng Anh, hoặc trò chuyện phiếm trên trời dưới đất, tay trong tay nhắc đến những ngày vui đầy ắp kỹ niệm ngày xưa hoặc ngày nay, cho đến 12 giờ khuya mới hôn nhau chia tay. Nàng cũng đã nghe nói về Đinh Thị Mai Trâm từ trước và những tin đồn về những nữ sinh “hoa khôi” và “không phải hoa khôi” ở Đại Học Tổng Hợp mà thiên hạ lắm lời đã giúp truyền loan rằng đã từng cùng tôi là những cặp tình nhân đẹp đôi luôn gây nhiều bàn tán xôn xao bão loạn. Một cách chân thiết tôi đã nói với Mỵ Tiên là đừng nghe các Fake News ba xạo đó vì tôi yêu Đinh Thị Mai Trâm, và nay tôi yêu Lâm Mỵ Tiên tức là chỉ có hai người tôi có cùng thề hứa chuyện trăm năm. Vậy mà tối nào có nhắc hỏi tôi về chuyện cũ với các “chị” ở Đại Học Tổng Hợp là y như tối đó Mỵ Tiên lại phụng phịu dỗi hờn chỉ vì lý do trẻ thơ rất dễ thương rằng tại sao Mỵ yêu tôi là người đầu tiên của Mỵ mà tôi lại quá trời như thế, không công bằng chút nào, lẽ ra phải chờ đợi nàng xuất hiện hãy yêu chớ!

Là sinh viên Đại Học Tổng Hợp, Lâm Mỵ Tiên biết rất rõ về tôi dù khi tôi sắp tốt nghiệp thì Mỵ Tiên mới là sinh viên năm thứ nhất. Mỵ Tiên biết rõ về tôi vì Mỵ Tiên là bạn học của em trai tôi. Mỵ Tiên biết rõ về tôi vì Mỵ Tiên là học trò của tôi. Mỵ Tiên biết rõ về tôi vì Mỵ Tiên là cô bạn gái duy nhất thường xuyên đến thăm gia đình tôi đặc biệt là vào tất cả những ngày Chủ Nhật để sau đó cùng tôi đi đến nhà các chị của Mỵ Tiên rồi chạy xe lòng vòng khu vực vắng lặng Lê Duẩn – Dinh Độc Lập đến khuya, được Ba Má và các em gái của tôi rất thương yêu vì sự vui tươi nhí nhảnh thân thiện lăng xăng đảm đang của nàng, hết phụ Má tôi làm việc này đến phụ chị tôi làm việc nọ. Và Mỵ Tiên biết rất rõ về tôi vì đơn giản chính vì biết rõ nên Mỵ Tiên mới yêu thương tôi nhiều đến thế.

Khi Mỵ Tiên thú thật rằng thủ tục giấy tờ xuất cảnh toàn gia đình sắp xong (do một chị của Mỵ Tiên là phu nhân một quan chức cấp cao Bộ Ngoại Giao của đất nước Phương Tây ấy nên hồ sơ được tiến hành cấp tốc ưu tiên theo kênh đặc biệt), Mỵ sẽ phải lên đường một ngày thật sớm nào đó, tôi đã rất bất ngờ như sét đánh ngang tai. Mỵ muốn tôi nên chấp nhận việc tôi sẽ được bảo lãnh để nhanh chóng sang với Mỵ — với sự can thiệp khẩn của Bộ Ngoại Giao cường quốc Phương Tây ấy với Chính Phủ Việt Nam — nếu tôi thực sự yêu Mỵ. Tôi đã trả lời rằng nếu Mỵ thực sự yêu tôi thì hãy ở lại với tôi, chấp nhận cuộc sống hiện có ở đất nước này, chấp nhận những thiếu thốn hiện nay vì ngày sau dứt khoát sẽ tốt đẹp hơn; rằng tôi có lòng tự trọng tuyệt đối không nhận bất kỳ sự giúp đỡ nào nên nàng nếu ra đi thì đừng bao giờ dại dột làm nhục tôi qua việc gởi tiền và các thùng hàng về cho tôi hay cho Ba Má hay các em gái của tôi vì tôi sẽ yêu cầu bưu điện gởi trả lại bưu điện gốc; và rằng mấy năm trước tôi đã không màng gì đến những lon châu báu gia bảo hay những nắm kim cương đền ơn của nàng vì tôi chỉ cần có tình yêu và tiếng cười của nàng là đã đủ cho tôi có sức dựng xây tương lai và đủ sức gìn giữ chăm sóc nâng niu bảo vệ nàng trong suốt cuộc đời này. Nàng mím môi, im lặng, nước mắt lăn dài.

Từ sự khác biệt giữa một bên là tôi với quyết tâm ở lại và một bên là Mỵ Tiên buộc phải ra đi, với tôi là niềm tin thấu thị vào tiền đồ xán lạn của đất nước Việt Nam và với Mỵ Tiên là sự vô vọng vào tương lai đen tối của chế độ Cộng Sản, với tôi là sự tự tin vào sức mạnh năng lực bản thân đối với cuộc sống chính mình và với Mỵ Tiên là sự tin tưởng chỉ có ở các cường quốc “Phương Tây” tôi mới được trọng dụng và phát triển “tài năng” nhất là với thế lực của các bà chị đã gầy dựng xong sự nghiệp ở hải ngoại có thể giúp em rể mình bay cao tiến nhanh dưới bầu trời tư bản tự do, chúng tôi đành phải quấn lấy hôn nhau trong nước mắt giữa đám đông nghẹt người trước khu cách ly ở Phi trường Tân Sơn Nhất cho đến khi người nhà Mỵ Tiên đến thúc giục khuyên lơn thì đôi trẻ mới chịu rời nhau ra để trở thành chia tay vĩnh viễn.

Lâm Mỵ Tiên có rất nhiều bạn thân ở Đại Học Tổng Hợp, trong đó có “Thần Vệ Nữ” Trần Thị Xuân Hương, ái nữ tuyệt đẹp của một phú gia trên đường Trần Khắc Chân ở khu Tân Định, Quận 1. Tôi và Mỵ Tiên, còn Xuân Hương và anh Rắn Snake bạn thân duy nhất của tôi, đã có thời gian rất đẹp bên nhau, nhiều lúc cùng tựu về nhà Xuân Hương để nghe Xuân Hương đàn piano còn anh bạn tôi thì cất tiếng hát da diết đã trở thành thương hiệu của anh ấy dưới bầu trời Đại Học Tổng Hợp. Xuân Hương sau khi Mỵ Tiên xuất cảnh cũng đã định cư ở nước ngoài. Còn anh bạn thân duy nhất của tôi vẫn cư trú ổn định ở Việt Nam với người vợ rât đảm đang rất thành công trong kinh doanh và những đứa con mà các cháu gái ngay từ lúc được tôi bồng bế nuông chìu cưng như trứng mỏng đã cho thấy đó nếu chẳng là những trang quốc sắc thì cũng là bậc thiên hương tuyệt đẹp rực sáng yêu kiều mai sau của nước nhà. Tất cả những điều tốt đẹp nhất về Lâm Mỵ Tiên mà tôi nêu ở trên, tôi tin sẽ được các bạn của Mỵ Tiên cùng anh bạn của tôi cũng như Ba Má và chị cùng các em gái của tôi chắc chắn cho rằng tôi đã nêu chưa đầy đủ.

Vì rằng Lâm Mỵ Tiên, người con gái tuyệt đẹp đã cùng tôi trong một chuyện tình đẹp tuyệt, tốt đẹp rất nhiều hơn tất cả những gì mà ký ức của tôi và ngôn ngữ có thể được dùng để nhớ lại và nói về.

Cảm ơn em, Lâm Mỵ Tiên, cô học trò, đứa em, người yêu, vì đã yêu anh với lòng tôn kính cao vời, cùng anh tạo nên khoảng thời gian vô cùng tuyệt diệu cho một tình yêu tuyệt đẹp anh không thể nào quên. Cầu mong em luôn được an vui, hạnh phúc, luôn được thương yêu nâng niu bảo vệ như bảo vật của cuộc đời này.

3- Vũ Thị Liên

Vũ Thị Liên là cô sinh viên xinh đẹp cổ điển biết về tôi nhiều nhất, đa dạng nhất,  đầy đủ nhất, và dũng cảm nhất.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (10)

Xinh đẹp cổ điển vì Vũ Thị Liên giống Đinh Thị Mai Trâm ở chỗ cả hai có sắc đẹp tự nhiên không cần điểm tô son phấn. Đinh Thị Mai Trâm không son phấn, phần vì không ai lại đánh phấn hồng lên đôi má đã xinh hồng, cũng như không ai lại tô son lên đôi môi hồng đỏ trinh nguyên, phần vì nữ sinh trường “đạo” với các linh mục và các “sơ” quất roi mây vun vút vụt vùn khó được xem là phù hợp nếu có phấn son. Vũ Thị Liên không son phấn một phần vì trong một gia đình người Bắc “di cư” vừa vô cùng gia giáo và cực kỳ nghiêm khắc vừa sợ Cộng sản thấy phấn son biết đâu sẽ gán tội đua đòi văn hóa đồi trụy tư sản Mỹ Ngụy thì nguy.

xinh đẹp cổ điển cũng vì Vũ Thị Liên giống Đinh Thị Mai Trâm ở chỗ cả hai  có sắc đẹp luôn đi kèm với phần không thể tách rời của sự nghiêm túc trên gương mặt, nét đoan trang của ánh nhìn, vẻ thướt tha của dáng dấp, nết chừng mực của diễn đạt ý tứ, sự khôn khéo của phong cách, trí thông minh trong xử trí, và luôn nhắm đến nổ lực không ngừng hoàn thiện sự học hành. Nghĩa là nét xinh đẹp ấy chính là nội hàm đầy đủ nhất tạo nên những cộng thêm cho một dung nhan nhi nữ đúng phong thái truyền thống cổ xưa xứ Việt.

Vũ Thị Liên biết về tôi nhiều nhất, đa dạng nhất, đầy đủ nhất, dũng cảm nhất, vì đã học chung lớp với tôi tại Ban Anh Văn ở Đại Học Văn Khoa và Đại Học Tổng Hợp. Đặc biệt ở chỗ tôi tuy rất ít nói (đặc trưng cổ của đấng hùng biện chính đạo), rất xa cách (đặc trưng cổ của nhà học thuật hàn lâm), luôn tránh xa đám đông bát nháo ồn ào trống rỗng không thân thiện (đặc trưng cổ của giới quý tộc cao sang), chỉ kết bạn với một hai anh bạn mà thôi (đặc trưng cổ của giới sĩ phu theo nguyên tắc tuyệt đối nhân phi nghĩa bất giao); nhưng tôi lại chịu thỉnh thoảng chuyện trò thật vui vẻ rôm rả giữa sân trường với chỉ một nhóm duy nhất đó là nhóm nữ Lục Súc (tức 6 nữ sinh viên đã quyết chọn mỗi cô một biệt danh chẳng dính dáng gì đến 6 con gia súc của Tả Truyện Xuân Thu cả, chẳng hạn Vũ Thị Liên là Rùa, Nguyễn Thị Kiều Liên là Ba Ba, và các cô khác là Ốc Sên, Lùn, Ngố, v.v.) toàn những cô gái đôn hậu, trong sáng, tươi trẻ, chăm học, giản dị, không-phải-đoàn-viên-thanh-niên-cộng-sản. (Thủa ấy lớp có 8 nhóm “chơi riêng” gồm nhóm nữ Lục Súc, nhóm nữ đoàn-viên-thanh-niên-cộng-sản, nhóm nữ cuốn-theo-chiều-gió tức sao-cũng-được, nhóm nam Don Juans, nhóm nam đoàn-viên-thanh-niên-cộng-sản, nhóm nam có-chí-vượt-biên-nên-ngụy-trang-bất-động-chờ-ngày-biến-mất, nhóm nam có-chí-vượt-biên-nên-ngụy-trang-náo-động-chờ-ngày-biến-mất, và nhóm nam sao-cũng-được tức tới-đâu-thì-tới. Nhóm Don Juans gồm tôi tức Tannhauser Beowulf Thor và Rắn Snake kết hợp với Rồng Dragon ở trường khác)

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (11)

Cũng vì vậy mà Vũ Thị Liên đã nghe biết những chuyện tình cảm giữa tôi và các cô gái ở các Khoa Anh, Khoa Nga, và Khoa Pháp; cũng như các lao xao léo xéo lộn xộn lùm xùm tất cả đều nhắm vào tôi một cách lạ lùng lạ lẫm lạ kỳ lạ hoắc không thể nào hiểu nổi. Lạ lùng lạ lẫm lạ kỳ lạ hoắc vì tôi là sinh viên chỉ có “khét tiếng” ở mỗi các lĩnh vực như luôn….giỏi được Thầy Cô khen ngợi công khai, luôn ra tay giúp đỡ về tiếng Anh cho bất kỳ ai cầu cứu dù chẳng chơi thân với họ và dù cái họ nhờ giúp là…viết hộ cả một bài luận văn bình giảng văn chương bằng tiếng Anh, luôn giữ cho ngoại hình nghiêm túc và tươm tất trong khi mọi sinh viên nam nữ đều ngụy trang mặc sao cho lèng xèng bình dân cho giống giai cấp vô sản, luôn không bao giờ sơ xuất trong ăn nói giao tiếp (do…có bao giờ chịu mở miệng nói gì với thiên hạ chung quanh đâu), luôn nghiêm trang đạo mạo với mọi người kể cả với thầy cô, luôn xung phong gánh nhận hết những nhiệm vụ nào bị mọi người né tránh như chỉ huy tập thể dục giữa giờ và khuân vác nhu yếu phẩm về cho lớp dù lớp có bao lực sĩ vai u thịt bắp từ size Lý Đức đến size Arnold Schwarzenegger, và luôn được các nữ sinh “hoa khôi” tìm đến làm quen để tạo nên cụm từ  đẹp đôi thách thức sự nhẫn nhục quyết không cam tâm cam chịu cam lòng cam quýt của người khác. Những sự “khét tiếng” mà ngay cả những người “nổi tiếng” cũng đời nào có được. Do đó hơn ai hết, Vũ Thị Liên biết các lao xao lộn xộn lùm xùm tất cả đều láo xạo nhắm vào tôi để mưu hại và bôi nhọ tôi mà tác giả là những ai đó vì ganh tỵ, ganh ghét, ganh tài, ganh ghen, và cả ganh về…sắc tạo ra để may ra có thể cuối cùng quét được một vết lọ nồi lên gương mặt của tôi.

Vũ Thị Liên có biết về Lâm Mỵ Tiên khi thấy nữ sinh ấy thỉnh thoảng điệu đà đi học mặc áo dài trắng thướt tha đến lớp tìm tôi nghịch ngợm chạy ùa vào trao cho tôi chỉ có một cục ô mai nhỏ xíu xìu xiu hoặc chờ tôi ở bãi giữ xe để hai mái đầu xanh cùng sánh vai ra về hoặc để đòi tôi chở em ấy về tận nhà (sau này nhà giáo Vũ Thị Liên còn bắt gặp cảnh nhà giáo Hoàng Hữu Phước vừa đạp xe song song với sinh viên Lâm Mỵ Tiên trên đường Nguyễn Văn Cừ vừa tình tứ đón cắn thanh chocolate do Lâm Mỵ Tiên chìa sang). Tất nhiên, sự “sánh vai” ấy là giữa hai “anh em” diễn ra sau vụ tôi bị giam trong phòng giáo viên như đã kể ở trên, nhưng trước khi xảy ra hoàn cảnh hai “tình nhân” bị bắt gặp trước nhà Nguyễn Thái Học.

Rùa Vũ Thị Liên của Lục Súc là nữ sinh duy nhất của nhóm được phân công về dạy Ban Anh Văn, Khoa Ngoại Ngữ, trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, sau tôi đúng một năm, ắt do em ấy hạng xuất sắc vì phải đứng đầu mới được Cao Đẳng Sư Phạm lặn lội sang Đại Học Tổng Hợp xin về hầu có người gánh các gánh nặng mà các giáo viên từ Đại Học Sư Phạm cử sang đã thất bại hoàn toàn do họ chỉ được đào tạo để trở thành những giáo viên cấp trung học chứ không được đào tạo làm những nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ như từ đội ngũ Đại Học Tổng Hợp. Vũ Thị Liên càng chứng kiến nhiều hơn quan hệ yêu đương giữa Thor Phước và Lâm Mỵ Tiên vì nhà Lâm Mỵ Tiên trên đường Nguyễn Trải mà nếu tinh mắt thì các giáo viên dạy lớp tối có thể từ trên lầu nhìn xuống sẽ thấy Thần Thor luôn ghé nhà Mỵ Tiên để cùng ăn tối hoặc ngồi chơi từ trưa đến chiều để chờ đến giờ là bước bộ băng qua trường dạy các ca tối.

Thế nhưng cái chính là Vũ Thị Liên tiếp tục thấy tôi bùng nổ sáng tạo nổi bật trong giảng dạy, và qua những buổi dự giờ tôi lên lớp hoặc qua trò chuyện tìm hiểu với sinh viên của lớp mà Vũ Thị Liên làm chủ nhiệm nhưng có các phân môn tôi đến giảng dạy (tất cả đều là các môn chủ lực gồm British Civilization, Lexicology, Grammar, Composition, và Translation mà tất cả các giáo viên khác sợ chết khiếp), hoặc với sinh viên lớp tôi chủ nhiệm mà Vũ Thị Liên có các phân môn do Liên đến giảng dạy (các môn Ngôn Ngữ Học như  Phonology và Morphology, tức những môn chỉ có tôi sợ chết khiếp), Vũ Thị Liên lắng nghe được các đánh giá về tôi, và nhận ra rằng trước đây Thầy Lê Văn DiệmCô Trương Tuyết Anh không phải tự dưng lại thương mến khen ngợi hoài cái anh chàng học trò tóc dài hơn phụ nữ và khinh thế ngạo vật hơn mấy Ông Trạng đó.

Sinh trưởng trong một gia đình gia giáo nghiêm khắc, Vũ Thị Liên có cách sống giản dị, nép mình, thủ thế, thân thiện, nhưng không sẵn sàng đón chào cái vượt ngoài chiếc hộp. Đó là lý do Vũ Thị Liên đã rất lo sợ khi thấy “anh” Hoàng Hữu Phước để tóc dài trong một xã hội nghiêm cấm nam để tóc dài (công an chận bắt nam thanh niên nào dám để tóc dài quá gáy và sởn đầu ngay giữa đường) để phản kháng lãnh đạo trường vì đã dám xử bức “ảnh” khi chỉ dựa vào thư nặc danh nào đó tố cáo “ảnh” mắng chửi Lãnh Tụ Hồ Chí Minh để bắt ảnh đi họp phục vụ điều tra tới điều tra lui làm “ảnh” nhỡ các buổi thi Học Kỳ 2 Năm Thứ Ba khiến sau đó khi các Thầy Cô can thiệp bảo lãnh tư cách của “ảnh” cũng như việc điều tra cho thấy sự  vớ vẩn, trường phải cho học tiếp thì “ảnh” phải ra ngồi quán cà phê cóc ven đường nhiều tháng trời chờ cho đến khi lớp đàn em (tức lớp của Vũ Thị Liên và…Lục Súc) lên Năm Thứ Ba học xong Học Kỳ 1 rồi khi đến Học Kỳ 2 thì “ảnh” mới lù lù bước vô để “thi ké” cái Học Kỳ 2 của lớp ấy và phải tốt nghiệp sau thiên hạ; và rất thất kinh hồn vía khi thấy “ảnh” ra tay báo oán trừng trị cường quyền bằng cách phát tán thủ công bài thơ tiếng Anh “ảnh” mắng nát nước cô giáo Phạm Thị Ngọc Hoa tiêu cực xấu xa mất nết khi hãm hại học trò, cũng như cứ đợi cô Ngọc Hoa vào lớp “Good morning, class!” chào lớp xong là “ảnh” xô ghế đứng dậy bỏ ra cổng trường ngồi uống cà phê, thậm chí tuyên bố thách thức cô giáo Ngọc Hoa nếu dám cấm thi do “ảnh” không hiện diện đủ số giờ học quy định thì anh sẽ thách đấu công khai để chứng minh cô có trình độ tiếng Anh yếu kém thảm hại không xứng đáng để dạy “ảnh” học bằng cách “ảnh” sẽ sửa sai ngay tại chỗ trước bàng dân thiên hạ toàn trường bản luận án tốt nghiệp Thạc sĩ bên Mỹ của cô nếu cô dám đưa luận án đó ra. Mà sự thật là “ảnh” đã làm các lãnh đạo kinh sợ do biết ảnh có năng lực để làm cái việc chứng minh đó, nên “ảnh” vẫn cứ tiếp tục xô ghế khinh khỉnh bỏ ra ngoài vào giờ cô lên lớp, cứ vẫn tiếp tục có tên trong danh sách được dự thi môn của cô, cứ vẫn tiếp tục đạt yêu cầu cao bài thi môn của cô, vì lãnh đạo có cách để triệt “ảnh” vì “ảnh” ba lần bị cô Ngọc Hoa loại khỏi danh sách giữ lại trường giảng dạy vì cô là người duy nhất được Đảng tin cậy trao nắm quyền quyết định (cô là giáo viên duy nhất có tinh thần cách mạng cao độ vì khi Trung Quốc xua quân xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc, cô vừa khóc vừa giơ nắm đấm đọc đơn xin được nhập ngũ cầm súng ra chiến tuyến giết giặc Tàu) còn các thầy cô thương yêu “ảnh”, nằng nặc bảo trợ việc giữ “ảnh” lại giảng dạy thì đã vượt biên đi mất chỉ còn Thầy Diệm nhưng đã qua tuổi về hưu. Đây đúng là sự sắp đặt an bày của số phận vì nhờ các vu cáo hãm hại ấy mà “ảnh” được quen biết cô nữ sinh Rùa ở lớp đàn em tức người sau này trở thành vợ của “ảnh” mà oái oăm thay cái cô Rùa ấy lại là chuyên gia giảng dạy xuất sắc các bộ môn của cô giáo Phạm Thị Ngọc Hoa, tức mấy môn mà “ảnh” dỡ ẹc, cũng như “ảnh” có gởi tặng cô Lùn trong nhóm Lục Súc của cô Rùa một bài thơ tiếng Anh mà Lùn ta đã cười vui hớn hở và ha hả đem ra khoe ngay với cả nhóm rằng đó là bằng chứng khảng định Lùn là mỹ nhân đẹp nhất của Lục Súc nên được Thor Phước rung động quỳ xuống dâng tặng thơ tình.

Tuy nhiên, vì có lòng lương thiện, yêu lẽ công bằng, Vũ Thị Liên đánh giá cao “anh” Phước giáo viên, nhất là trong tập thể quá nhiều giáo viên trẻ nhưng lại thiếu cả trình độ, tư cách, và nhiệt tâm, thì “anh” Phước khi xung phong gánh hết các việc như dạy thế tất cả các ca bịnh bận của tất cả các giáo viên của tất cả các môn, đánh máy giáo trình rồi đứng cạnh máy ronéo của trường để tự in ấn giáo trình để bảo đảm không sai sót, quản lý thi đua báo tường của cả Khoa, hiệu đính hoàn thiện sửa sai tất cả các giáo trình đang có và biên soạn các giáo trình chưa có của tất cả các phân môn phức tạp mà chỉ sau khi xin anh về họ mới lôi ra từ kho tặng phẩm của các viện ngôn ngữ Liên Xô để phân công anh giảng dạy, nhận ôm hết trách nhiệm về mình khi  bảo trợ nhiều chục giáo sinh làm luận văn tốt nghiệp chỉ vì các giáo viên khác tuyên bố đã nhận bảo trợ luận án đủ số 5 giáo sinh theo đúng quy định quy trình về chất lượng bảo trợ luận văn và quyết không chịu nhận thêm để vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức nhà giáo, v.v., thì Vũ Thị Liên cho rằng việc “ảnh” giơ đầu chịu thêm một báng như thế là để trong khi  mọi người yên tâm thoải mái cứ làm đúng quy định quy trình thì các sinh viên diện dôi dư lọt sàng xuống nia không bị bỏ rơi vì đã có “ảnh” ra tay ôm hết, bảo trợ dìu dắt từng em việc soạn luận văn tốt nghiệp và kinh nghiệm đối phó các phản biện – vì có như vậy mới đúng là chuyện bình thường của “ảnh” để chứng minh “ảnh” đúng thiệt là “ảnh”, kẻ lạc loài sinh lầm thế kỷ muôn thủa không giống ai và không ai giống vì lúc nào cũng kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng, luôn húc đầu vào vách đá cường quyền cho bưu đầu sứt trán mãi te tua.

Vào một ngày đẹp trời, tôi nghe có thông tin rằng tôi và Vũ Thị Liên có tên trong danh sách “người Sài Gòn” đầu tiên được trung ương cho hưởng san sẻ học bổng nước ngoài mà trước đó chỉ có “người Hà Nội” mới được phát phân. Nghĩa là chúng tôi sẽ là hai giáo viên đầu tiên của khu vực Phía Nam sang Úc du học lấy bằng cấp Thạc sĩ. Thế rồi khi tôi được phân công làm Trưởng Trung Tâm Tuyển Sinh Cao Đẳng Đại Học của trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh (dù tôi chỉ là một giáo viên trẻ măng), được tổ chức tại trường Trần Hưng Đạo, Quận 1, mọi tai họa bắt đầu giáng xuống. Sau khi họp với tất cả các giáo viên cán bộ coi thi – trong đó có Vũ Thị Liên – để phân công, tôi cho mọi người về vị trí. Xe của Sở Công An hộ tống chở rương đề thi đến, và mọi việc xảy ra bình thường. Tuy nhiên, khi một lãnh đạo cấp phòng ban đến tìm tôi, bảo rằng vào buổi thi tiếp theo, sau khi xé niêm phong đề thi tiếng Anh, tôi hãy lịnh cho giám thị hành lang lên lầu đưa ba thí sinh có tên này tên này tên này xuống gặp tôi với lý do hồ sơ thi cần bổ sung chi tiết, rồi tôi hãy giải đề thi cho ba thí sinh ấy biết vì chúng là “cháu” của lãnh đạo chức sắc nọ! Tôi phản ứng, đập bàn gầm lên mắng vị lãnh đạo ấy một trận, nhất quyết không chịu thực hiện việc phạm pháp đó. Ông lãnh đạo phòng ban lật đật bỏ ra về. Ngay buổi trưa, có công văn hỏa tốc triệu hồi tôi trở về trường nhận nhiệm vụ mới, chấm dứt ngay nhiệm vụ tuyển sinh. Sau đó, tôi bị đề nghị kỷ luật buộc thôi việc với tội danh phản động vu khống lãnh đạo Đảng vì tôi chẳng trình ra được bất kỳ bằng chứng giấy trắng mực đen nào chứng minh các lãnh đạo ấy đã muốn gian lận thi cử tuyển sinh.

Tôi đã gởi đơn thư tố cáo và kêu oan đến Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Tuổi Trẻ, Báo Sài Gòn Giải Phóng, và Trung Ương Đảng. Một nhà báo hơi thấp, cận thị, và tròn mập của Báo Tuổi Trẻ đã đạp xe đến nhà tìm gặp tôi và sau đó đi phỏng vấn các học trò tôi cũng các đồng nghiệp của tôi để rõ hơn về nội dung kêu oan và tố cáo của tôi. Sau đó một tuần anh trở lại, nói rằng tôi hãy thông cảm vì thời buổi ấy báo chí của Đảng không được phép đăng các khiếu tố tiêu cực, và rằng anh đã thành công ngăn chặn việc sa thải tôi nên tôi sẽ được “bình an”. (Sau này, anh nhà báo ấy trở thành Tổng Biên Tập Báo Tuổi Trẻ, nay đã nghỉ hưu, mà tôi xin không nhắc đến tên đầy đủ của anh trong bài viết về “giai nhân” này.)

Khi các tháng Hè trôi qua, tôi trở lại trường và bị phân công quản lý phòng thính thị (Thành phố Hồ Chí Minh lúc ấy cúp điện mỗi tuần đủ 7 ngày, nghĩa là không bao giờ sử dụng phòng thính thị, cũng có nghĩa là tôi bị giam trong căn phòng tối đen ngột ngạt đó, và “công việc có dính đến chuyên môn ngoại ngữ” của tôi là quét rác quét bụi một phòng thính thị “ngoại ngữ”). Tôi lại phải tiếp tục gởi đơn khiếu tố, và trường vội đẩy tôi qua dạy ở Khoa Sử. Tôi vào Phòng Ban Giám Hiệu đập bàn mắng lãnh đạo một trận rồi ném ra Đơn Xin Thôi Việc Vì Nguyện Vọng Cá Nhân rồi bỏ về. Ngay lập tức, tôi trở thành ngôi sao sáng rực được các công ty nước ngoài săn đón tranh nhau mời chào vì họ đã tiếp cận tôi từ lâu với lý do họ đã xin lập các văn phòng đại diện nhưng không thể tìm ra ở đội ngũ giáo viên Anh Văn ở tất cả các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh bất kỳ ai bằng tôi (họ cho biết đã đích thân đến tất cả các trường và các trung tâm ngoại ngữ để quan sát từ ngoài cửa sổ các giáo viên rồi kết luận rằng không ai có trình độ, ngoại hình, và tư cách thích hợp với vai trò quản lý cao cấp như tôi) để quán xuyến công việc làm gương mặt đàm phán phát triển kinh doanh của họ, mà tôi cứ mãi từ chối (vì đã quyết theo nghề giáo, muốn giữ gìn danh dự với Lâm Mỵ Tiên ở hải ngoại vì tôi đã thà phụ nàng chứ không phụ chức nghiệp một nhà giáo, và muốn giữ gìn danh dự với học trò vì đã luôn khuyên bảo sinh viên của mình đừng bao giờ bỏ cái nghề giáo ấy).

Do thấy tôi bị bỏ mặc (giáo viên không xấu xa hay nhờ tôi giúp đỡ về chuyên môn nghiệp vụ thì lại sợ bị vạ lây nên nín lặng; giáo viên ngu dốt xấu xa có người từng van xin tôi bảo trợ để được Tổ Chức Cán Bộ nhận vào làm giáo viên chính thức thì lại “cứu nhân, nhân trả oán” đã nhân cơ hội vu khống tấn công tôi thêm để vừa làm hài lòng Ban Giám Hiệu vừa hả hê sung sướng do họ không bao giờ có thể sử dụng tiếng Anh để nói chuyện với tôi thì nay sung sướng được dùng tiếng Việt trong phòng họp để bôi nhọ tôi nhằm đẩy ra khỏi trường cái người mà khi đứng trước mặt người đó họ không thể làm ăn gì được với mớ tiếng Anh ba xu lẻ của họ), Vũ Thị Liên đã dũng cảm run rẩy lên tiếng làm nhà giáo duy nhất ngợi ca tư cách của tôi nhằm rụt rè tranh đấu cứu tôi. Thế là Vũ Thị Liên bị tước bỏ mãi mãi tất cả các danh hiệu “giáo viên dạy giỏi” và bị xóa tên vĩnh viễn khỏi danh sách du học thạc sĩ ở Úc.

Khi rời Cao Đẳng Sư Phạm, tôi vẫn tiếp tục giảng dạy ở các trung tâm nơi cũng có mặt cô giáo Vũ Thị Liên. Đó là lý do chúng tôi hay sánh vai đạp xe cùng nhau. Tối nào dạy xong, chúng tôi cũng ghé ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – Bàn Cờ để mua hai ổ bánh mì thịt rẻ tiền của một xe lề đường trước sân một ngân hàng đối diện hông Chùa Kỳ Viên. Và chúng tôi vừa đạp xe vừa gặm bánh mì, rồi khi về đến nhà nàng ở 237 Trần Huy Liệu, Phú Nhuận, tôi chia tay, đạp xe về nhà mình ở 16/72/12 Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3. Liên thường xuyên gần gũi tôi để động viên an ủi tôi, bảo tôi nàng có niềm tin của nàng vào Trời Phật linh thiêng của nàng mà nàng cho rằng rất công minh không bao giờ bỏ rơi tôi người đạo nghĩa như Bụt (hết bị bảo giống cha xứ, nay lại giống bụt!). Rồi Trời Phật của nàng dường như có thật khi thời khắc “công minh” đã gióng lên hồi trống trận giục giã tôi hôn nàng

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (12)

và chúng tôi thốt tiếng yêu nhau “Cảm ơn em, Vũ Liên, anh rất yêu em” và “Cảm ơn anh. Em cũng rất yêu anh Phước từ lúc anh còn ở cạnh Lâm Mỵ Tiên.”

Mọi chuyện tiếp theo thì như tôi đã thuật trong những bài viết trước đây như Đám Cưới, Tình Yêu, và Tôi Dạy Vợ: tôi lần đầu tiên trong đời ngỏ lời yêu thương một cô gái trước và được nàng chấp nhận. Chúng tôi nên vợ nên chồng ngay trong thời điểm mà nói theo danh chính ngôn thuận thì tôi vẫn đang thất nghiệp – nghĩa là việc ném Đơn Thôi Việc vào mặt “Thầy” Hiệu Trưởng xảy ra kề cận ngày chúng tôi cưới nhau nên chưa có thời gian để tôi xem xét các lời mời của nước ngoài. Điều tức cười ở đây là các giáo viên chức sắc Ban Anh Văn có bằng cấp Thạc sĩ Mỹ từ trước 1975 như Nhan Nguyệt Ánh, Thầy Nguyễn Tấn Phát, v.v., toàn là “dân Sài Gòn” lại ra sức ngăn cản đám cưới của chúng tôi bằng cách cố thuyết phục Vũ Thị Liên và Thầy Mẹ của nàng, mà không biết rằng Vũ Thị Liên đã biết rất rõ về tôi từ lâu nên chỉ xem các nội dung bọn đần độn đó nêu ra là trò vu khống (chưa kể chính họ đã tước bỏ mọi danh hiệu của nàng) còn Thầy Mẹ của nàng thì đã nghe nàng ca ngợi tôi từ lúc nàng còn đang đi học. Đám cưới của chúng tôi ngoài thân nhân chỉ có các học trò vì tôi dứt khoát không cho gởi thiệp mời hay báo hỷ gì cả đến bất kỳ giáo viên nào (trừ Cô Lý Kim Hà, em gái dân biểu đẹp trai nhất Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa là Lý Quý Chung mà tôi đã kể trong bài Tuyệt Thực).

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (13)

Khi nhận lời mời của Công ty TICO Ltd. Nhật Bản để quản lý văn phòng đại diện của họ trên đường Hùng Vương, Quận 5, tôi vùn vụt vươn lên từ một nhà giáo gầy gò 50 ký như lúc hưởng tuần trăng mật (ở…nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh)

IM000163.JPG

trở thành một quý ông 84 ký mà tất cả các khách sạn trên toàn quốc Việt Nam đều dùng tiếng Anh với tôi do tin tôi là ngoại kiều Nhật, Hàn, Đài Loan, hoặc…Việt Kiều, không biết rằng tôi chỉ là…củ kiệu

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (15)

vẫn luôn bước đi mạnh bạo và nhanh như gió như thủa còn là anh trưởng lớp trong lòng Đinh Thị Mai Trâm.

Mỗi khi lên chiếc Toyota “Cá Mập” đến Cao Đẳng Sư Phạm đón vợ tôi để cùng đi ăn tối với các đoàn cấp cao từ Nhật Bản (trong đó có những tên tuổi lớn như Hasegawa, v.v.) hoặc với các lãnh đạo các tập đoàn kinh tế Nhà Nước tại Maxxim, Majestic, hay Rex, tức những nhà hàng duy nhất thuộc đẳng cấp sang trọng thời ấy, trong lúc chờ vợ tôi xong tiết lên lớp, tôi luôn bước đến trò chuyện và tặng quà (những “cây ba số” tức các cây thuôc 555) những nhân viên giữ xe khu để xe giáo viên hoặc những nhân viên tạp vụ đang quét lá sân trường là những người duy nhất mà thầy giáo Hoàng Hữu Phước trước đây hay thăm hỏi chuyện trò (như những “đồng nghiệp” vì quét lá sân trường nào có khác gì quét rác phòng thính thị). Nhưng khi đám giáo viên Anh Văn vừa nhìn thấy tôi đã chạy bu lại đon đả hỏi han tôi này nọ, tôi im lặng lập tức bỏ đi sau khi ném lại cái nhếch miệng cười khinh miệt, tức đúng theo phong cách đặc biệt duyên dáng của tôi trong xử thế với bọn mất dạy, đơn giản vì tôi chính là Hoàng Hữu Phước, người luôn tuyệt đối lễ độ, tuyệt đối trọng lễ nghĩa, tuyệt đối giữ lễ nghi, và tuyệt đối lễ phép, với đạo lý xử thế giản đơn duy nhất của trọn đời luôn là: ân có vạn kiếp cũng đền, oán có muôn đời vẫn trả.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (16)

Về sau, khi thấy vợ mình cứ nhẫn nhục chịu đựng sự đàn áp tàn độc quái gở của Khoa Ngoại Ngữ (trừng trị cô giáo Vũ Thị Liên do đã dám chống lại lời khuyên can không được làm vợ Hoàng Hữu Phước bằng cách liên tục họp kiểm điểm tư cách nhà giáo và chê bai chất lượng giảng dạy của cô giáo này) đến độ vì quá uất ức mà phải chịu một lần đớn đau uất hận không được làm mẹ của thai nhi đã được đặt tên sẵn là Hoàng Vũ Thiên Trường, tôi khuyên nàng nên nghỉ việc. Vũ Thị Liên gạt nước mắt chia tay với nghề giáo. Và ở thời điểm đất nước chưa “mở cửa”, chưa có “tư nhân”, chưa có luật đầu tư nước ngoài, chưa có luật thuế thu nhập cá nhân, thậm chí chưa có bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội, thì các việc làm đều phải qua phân công của Tổ Chức Chính Quyền Thành Phố, và do đó xem như vợ tôi sẽ không bao giờ được phân công do đã chủ động xin thôi việc. (Các công ty nước ngoài lúc ấy chỉ được mở các văn phòng đại diện để thực hiện các giao dịch, còn nhân sự người Việt phải do Công Ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài cử đến – nghĩa là ngay cả tôi có được nước ngoài mời thì họ vẫn phải đưa tôi sang cái công ty dịch vụ ấy hợp thức hóa hồ sơ tuyển dụng và thay mặt tôi nhận lương của nước ngoài rồi trao lại tôi tiền trên cơ sở thang lương Nhà Nước). Đó là lý do tôi đã bù đắp cho nàng ngoài tình yêu thương sâu đậm nghĩa tình với lòng biết ơn, là những công việc khác, toàn thời gian, lương cao bổng hậu đầy quyền lực, mà nàng rất hài lòng chấp nhận như: Giám Đốc Tài Chính Tại Gia, Kế Toán Trưởng Tại Gia, Thủ Quỹ Tại Gia, Chủ Hộ kiêm Chủ Nhà, và Chủ…Cuộc Đời Hoàng Hữu Phước.

Vũ Thị Liên hay kể với các đứa cháu thích tụ tập quanh nàng để nghe nàng kể truyện đời xưa, rằng Chú Gấu (mấy đứa cháu tự động gọi tôi là Chú Gấu vì có đứa lúc lên hai tuổi thấy tôi xuất hiện khổng lồ lù lù tiến đến nên khiếp sợ khóc thét gọi tôi như thế) ngày xưa học thua Cô Liên xa lắc xa lơ vì bằng tốt nghiệp của Chú Gấu xanh lè hạng trung bình vì bị zero mấy môn Lịch Sử Đảng và Chủ Nghĩa Mác-Lê Nin trong khi Cô bằng đỏ lòm hạng xuất sắc, rằng Chú Gấu quậy trời thần nhưng toàn lựa lãnh đạo cao cấp mà mắng chửi chứ luôn thương người thấp cổ bé họng thấy ai hoạn nạn là đem hết tiền lương ra giúp rồi về xin Cô Liên cho tiền đổ xăng còn thấy nhân viên phạm lỗi thì an ủi tha thứ chứ không bao giờ quát mắng, rằng Chú Gấu toàn được mấy cô gái xinh đẹp nhất thương yêu mà Cô thì tất nhiên đẹp hơn tất cả mấy cô đẹp nhất đó, rằng Chú Gấu học không bằng Cô đâu nhưng dạy học là không ai giỏi bằng Chú, rằng chính Chú Gấu đã dạy Cô về niêm luật thơ ca tiếng Anh nên Cô cũng sáng tác nhiều bài thơ mà ngay cả Chú Gấu còn phải thú thật là đoạn thơ tiếng Anh của Cô in trên thiệp cưới còn hay hơn đoạn thơ của Chú nhiều, v.v. và v.v.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (17)

Lần nào nghe những lời khoe khoang như sấm dậy ấy của Vũ Thị Liên, tôi cũng bật cười, khiến nhớ lại những ngày đầy ắp kỹ niệm rộn tiếng cười vui với Đinh Thị Mai Trâm, Lâm Mỵ Tiên, và tất nhiên có cả cô nữ sinh Vũ Thị Liên nhút nhát như thỏ đế và dễ bị hù dọa nhưng đã dũng cảm dám đứng lên bảo vệ tôi trước cường quyền ấy. Vũ Thị Liên quá tốt đẹp, và nàng làm tôi hồi tưởng đến Đinh Thị Mai Trâm và Lâm Mỵ Tiên. Đây không là một nghịch lý mà là một thuận lý – đơn giản vì hương thơm ngây ngất tuyệt vời luôn làm ta liên tưởng đến những hương thơm ngây ngất tuyệt vời khác mà ta nếu may mắn đã từng được hiếm hoi nhận hưởng trong đời.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (18)

Cảm ơn em, hiền phụ “cổ điển” Vũ Thị Liên, vì đã là người lúc nào cũng tự hào về anh, đã vì tình yêu cao đẹp của chúng mình mà sẵn sàng chịu đựng mọi hành hạ tinh thần và thiệt hại vật chất gây ra từ những thế lực gian manh và những bất công mãi giáng xuống anh, để anh yên tâm tiếp tục làm Hoàng Hữu Phước của kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, gian nguy bất cứu mạc anh hùng. Anh biết ơn và nhớ ơn em trọn cuộc đời anh vì tình yêu đó của em.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (19)

Hoàng Vũ Thiên Trường hỡi, hãy luôn theo sát bảo vệ, nâng đỡ, và phù hộ Mẹ của con nhé đứa con trai thương yêu của Bố chưa từng được Bố bế bồng ôm ấp dù chỉ một lần.

*********

Cần nhắc lại theo nội dung truyền thống rằng bất kỳ người đàn ông nào trên thế gian này cũng có thể yêu thương một phụ nữ nào đó và cùng chính người ấy nên vợ nên chồng. Sự yêu thương luôn dựa trên những tâm đắc cá nhân, mà cá nhân thì hoàn toàn không bao giờ độc lập vì luôn dưới sự tác động chính đáng đương nhiên – dù vô thức – của chí ít là văn hóa xã hội và giáo hóa gia đình. Thước đo chuẩn nghiệm sẽ là sự vững bền của marital life tức cuộc sống lứa đôi. Còn dưới sự tác động của nhu cầu cá nhân – dù là nhu cầu tình cảm hay vật chất – hoặc tác động của một hay những bên thứ ba hoặc danh mục ước mơ của cuộc sống và cuộc đời hoàn toàn không có hoặc có nhưng ở đáy danh sách liệt kê cái gọi là tình yêu, thì cá nhân ấy không được nhắc đến trong nội hàm của nhóm từ “bất kỳ người đàn ông nào trên thế gian này cũng có thể yêu thương một phụ nữ nào đó và cùng chính người ấy nên vợ nên chồng” ở trên. Vì rằng có thể có sự chia tay trong tình yêu – tất nhiên vì  những lý do như nghịch cảnh, sự bó buộc tế nhị riêng tư, hay cái chết – nhưng đã là tình yêu thì không bao giờ có sự chia tay trong tâm tưởng; và đó là lý do những người đã yêu nhau thì ngay cả khi đã chia tay hay chia cách vẫn tôn trọng cuộc tình, tôn trọng nhau, và nhớ về nhau đến suốt cuộc đời mình.

Tôi đã có ba tình yêu với ba cô gái xinh đẹp và tốt đẹp. Đó là lý do tôi luôn lưu giũ hình bóng của họ trong con tim và khối óc của mình. Điều may mắn tuyệt vời là một trong ba mỹ nhân ấy đã trở thành người vợ đầy tự hào của tôi.

Có lẽ di sản tôi để lại cho những người thân thương của tôi là những lời khuyên bảo họ hãy có cuộc sống đúng nghĩa một hiền tài (tức giúp vua giúp nước giúp dân) cùng lời dặn dò rằng hãy luôn nhớ tôi đã thương yêu họ biết bao trong suốt cuộc đời tôi.

Còn tài sản tôi mang theo sẽ là những ký ức tuyệt đẹp với mỗi người thân thương, trong đó có ký ức về tình yêu với Đinh Thị Mai Trâm, Lâm Mỵ Tiên, và Vũ Thị Liên.

Wordpress_Mỹ Nhân - Bài 3 (20)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

A) Ghi Chú: 9 bút hiệu của Hoàng Hữu Phước:

1- Hoàng Hữu Phước: Thơ tình tiếng Việt hoặc tiếng Anh gởi tặng Đinh Thị Mai Trâm, sáng tác năm lớp 9, 10, và 11. Có 1 chữ ký tên riêng này và dùng chính thức trong tất cả các giấy tờ.

2- Mai Trâm: Thơ tình tiếng Việt hoặc tiếng Anh sáng tác về Đinh Thị Mai Trâm,  năm lớp 11 và 12.  Có 1 chữ ký tên riêng “Mai Trâm”.

3- Bảo Giang: Thơ tình tiếng Việt sáng tác ở Đại Học Văn Khoa (Bảo Giang tức viết tắt của Bảo Vệ Giang San).  Có 1 chữ ký tên riêng “Bảo Giang”.

4- Mirth Thor: Thơ tình tiếng Anh sáng tác ở Đại Học Văn Khoa (Mirth Thor tức Thần Thor Vui Tính viết tắt MT cũng là Mai Trâm). Không có chữ ký tên riêng này.

5- Humorous Hurricane Panther (còn viết tắt là HHPanther): Thơ & Văn tiếng Anh sáng tác ở Đại Học Tổng Hợp có nội dung nguyền rủa các Thầy Cô nào xấu xa tiêu cực ở Đại Học Tổng Hợp (Humorous Hurricane Panther tức viết tắt HHP cũng là Hoàng Hữu Phước). Không có chữ ký tên riêng này.

6Quetzacoatl : Thỉnh thoảng dùng tại Đại Học Tổng Hợp chỉ trên các bài bích báo viết đóng góp bằng tiếng Anh cho các “báo tường”. Không có chữ ký tên riêng này.

7- Tannhauser Beowulf Thor (còn viết tắt là TBThor) : Thơ & Văn tiếng Anh sáng tác từ lúc ở Đại Học Tổng Hợp cho đến ngày nay, bắt đầu bằng những bài thơ và văn sáng tác đóng thành thi tập dâng tặng Lâm Mỵ Tiên trước khi Mỵ Tiên xuất cảnh. Có hai chữ ký tên riêng này: một ký đầy đủ chữ ở cuối các bài thơ hoặc bài văn tiếng Anh, một chữ ký tắt để làm chữ ký “nháy” trên tất cả các thứ giấy tờ hành chính.

8- Lăng Tần (tức Ca-Lăng-Tần-Già, tên chú chim ngậm xâu chuỗi bay quanh Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát như ghi trong Kinh Lăng Nghiêm nhà Phật) : Thơ & Văn tiếng Việt sáng tác từ lúc tốt nghiệp đại học cho đến nay. Không có chữ ký tên riêng này.

9- Hoàng Hữu Phước: Thơ tình tiếng Anh tặng Vũ Thị Liên và các bài thơ văn tiếng Anh khác từ năm 1986 cho đến nay. Có 1 chữ ký tên riêng y như ở số 1 nêu trên.

B) Tham khảo:

Tôi Cưới Vợ  09-12-2015

Tình Yêu  20-01-2016

Tôi Dạy Vợ   18-12-2015

Thầy Nguyễn Quang Tô  25-11-2011

Thầy Lê Văn Diệm  22-02-2015

Tuyệt Thực  02-7-2013

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo  26-12-2015

Tôi và Newsweek  12-7-2016

Bôi Nhọ  02-12-2015

Khai Thần Bút 2018

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-01-2018

Tet 2018

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguyễn Xuân Anh

Hoàng Hữu Phước Trả Lời Câu Hỏi 3

Tại sao Việt Nam ngày nay vẫn còn xuất hiện mấy vụ ồn ào như của Nguyễn Xuân Anh ở Đà Nẳng và làm sao để tránh được các lùm xùm tương tự?

 Hoàng Hữu Phước, MIB

22-12-2017

Đơn giản là lãnh đạo Đảng và Nhà Nước nếu muốn đừng có các “lùm xùm” tương tự bất kỳ thì chỉ cần quan tâm đến sự thật là “trẻ hóa” hoàn toàn tối kỵ với 4 điều không bao giờ có thể tách rời gồm (a) “trẻ quá”; (b) thiếu kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ, và quản trị; (c) vắng thành quả thực tiễn; và (d) không trên cở sở đạo đức gia phong.

Trẻ hóa là một tiến trình lý tưởng cao nhất của sự công bằng trong dụng nhân ở cấp lãnh đạo, nhất là trong phạm vi chính trị, nhằm đã phá kiểu “ở lâu lên lão làng” hoặc kiểu “con sãi ở chùa mãi quét lá đa”.

Trẻ hóa chỉ phát huy tác dụng tích cực nếu trên cơ sở nền tảng lý luận và nền tảng thực tế rằng trẻ hóa nhất thiết phải luôn gắn liền với bề dày kinh nghiệm cùng số lượng cao của thành quả thực tiễn chất lượng cao – như đã nêu chi tiết trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ.

1- Trẻ Quá:

Ngay cả giai thoại về Nguyễn Hiền trong Việt Sử cũng cung cấp một bài học đắt giá rằng việc Trạng Nguyên Nguyễn Hiền 12 tuổi phải về quê học hỏi thêm về lễ nghi mới được phong chức chốn triều đình đã chất chứa trong nó hai nội hàm mang tính chân lý toàn cầu rằng (a) việc hoàn tất việc học của một người – ngay cả khi có kết quả học tập thật cao – không có nghĩa là người đó thích hợp ngay với công việc chuyên môn và công tác quản trị, nhất là trong phạm trù trị quốc, lãnh đạo quốc gia về chiến lược phát triển quốc gia và chính trị/kinh tế/tài chính; và rằng (b) học luôn phải đi đôi với hànhhành không phải là thực hành trong đợt thực tập trong thời gian còn đang học mà là đem những gì đã học xong tức đã tốt nghiệp ra thi thố tại nơi làm việc “tư nhân” như đã nêu trong bài Chìa Khóa Của Cường Thịnh tức phải tìm việc trong cạnh tranh gian nan chứ không được bố trí đương nhiên vào công sở đầy đặc ân của Nhà Nước dành cho con em cán bộ cao cấp – cho một kế sinh nhai và có đạt thành quả tốt sau nhiều năm tháng.

Về phương diện Nhà Nước và chính trị, người trẻ quá dứt khoát không được nắm quyền lãnh đạo bất kỳ về chính trị, tài chính/ngân hàng thuộc Nhà Nước, ngoại giao cấp Nhà Nước, và về các kế sách phát triển cấp Nhà Nước.

Trẻ quá chỉ có thể nắm quyền sinh sát tất cả những đơn vị/cơ quan/doanh nghiệp không thuộc Nhà Nước.

Có như vậy, trẻ quá mới không bao giờ trở thành quốc nạn.

2- Thiếu Kinh Nghiệm & Thiếu Thành Quả Thực Tiễn:

Từ nội dung “trẻ quá” nêu trên, lãnh đạo trẻ quá có thể tồn tại ở một doanh nghiệp nếu chỉ trên cơ sở tài sản riêng của gia đình. Lãnh đạo trẻ quá không bao giờ được phép tồn tại trong công việc lãnh đạo cơ quan hay doanh nghiệp trong guồng máy Nhà Nước – trừ phi người trẻ quá đó tuy tốt nghiệp đại học năm 22 tuổi và có bằng thạc sĩ năm 24 tuổi nhưng đã lao lung làm việc từ năm 15 tuổi nghĩa là đã có dồi dào kinh nghiệm 10 năm làm việc vào thời điểm nắm bằng thạc sĩ trong tay. Kinh nghiệm là tiêu chuẩn mấu chốt của mọi tuyển dụng quan trọng. Chỉ trong trường hợp cá biệt người quá trẻ có năng khiếu lãnh đạo bẩm sinh thiên phú nhưng phải là năng khiếu lãnh đạo nỗi bật được nhiều người tại cơ quan người ấy công tác biết đến các thành quả cụ thể chứ không phải bất ngờ xuất hiện như trên trời rơi xuống chễm chệ ngự trị ngôi cao nhờ ô dù của ai đó.

3- Đạo Đức Gia Phong:

Đạo đức gia phong hoàn toàn không bao giờ trùng nội dung với đạo đức cách mạng.

Đạo đức gia phong là thứ đạo đức mang tính kế thừa, dài hạn, thống nhất, phát huy phát triển, lan tỏa, truyền thống, nhân văn, vững bền vượt thời gian bất kể chế độhay triều đại, được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng về những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và mang tính tự nhiên. Không thứ chủ nghĩa xét lại nào có thể làm tan biến giá trị của đạo đức gia phong.

Đạo đức cách mạng là thứ đạo đức không tự nhiên có, mà phải qua giáo dục tư tưởng nên luôn mang đặc tính chính trị, luôn mang tính cá nhân không tự động kế thừa, không có đặc tính tự động phát huy hay tự động phát triển, không thể lan tỏa, không thể tồn tại dài lâu tùy sức công phá có mạnh hay không của chủ nghĩa xét lại, không được tôn vinh truyền khẩu trong cộng đồng vì không có những cụ thể trong xử thế thực, trong đời sống thực, mang tính gương soi thực, và rất phổ biến dạng thức tự động có danh đạo đức cách mạng khi là đảng viên cao cấp (giống như khi đã là đảng viên có nhiều tuổi Đảng tự động được danh tiếng trung kiên) còn khi đảng viên cao cấp ấy gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng trốn ra nước ngoài bị truy nã toàn cầu thì cái đạo đức cách mạng ấy tự động tan biến đi không kèn không trống không cần thông báo nghị quyết chính thức tước bỏ.

Vì lý do trên, đại cuộc trẻ hóa và việc sử dụng nhân lực trẻ quá nhất thiết phải không thiếu tiêu chuẩn về đạo đức gia phong trong tuyển dụng và bố trí, vì bốn tiêu chuẩn lớn nhất mà tầng lớp lãnh đạo nên có là sự đoan chính, đức thanh liêm, lòng trung tín, cùng năng lực nhân-trí-dũng hoàn toàn chỉ được hình thành từ nền nếp tự hào gia phong chứ không bao giờ là những nội dung mà một đảng chính trị có thể giảng dạy bằng giáo trình lý luận chính trị cho đảng viên.

Sẽ không thể xuất hiện các đấng “tuổi trẻ tài cao” Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, và Vũ Đình Duy, v.v., làm Đảng lúng túng, làm nhục quốc thể, nếu như việc lựa chọn người lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước đã trên cơ sở có luôn quan tâm đến những nội dung đánh giá nhân sự “trẻ hóa” như trên.

Gương trẻ hóa tuyệt diệu nhất và thành công nhất còn được minh chứng qua trường hợp các đứa con của Donald Trump: họ là những người tích cực, năng nổ, thành công trong quản trị doanh nghiệp, thành đạt trong sự nghiệp kinh doanh riêng và chung trong thời gian rất dài trước khi Donald Trump trở thành Tổng Thống; và sự “tham chính” của họ làm các trợ lý cho Donald Trump đã khiến Donald Trump trở thành nhà lãnh đạo quốc gia đầu tiên và duy nhất của toàn thế giới được giúp sức hữu hiệu bởi những người con đã thành công nổi bật mà hoàn toàn không dựa vào uy thế tổng thống của người cha, mà tác giả bài viết này đã phân tích rõ trong Bài Học Cho Việt Nam Về Công Tác Nhân Sự. Giai tầng “trẻ hóa” không thể áp dụng vào lãnh địa chính trị nếu như các lực lượng kế thừa chính trị không có chất lượng cao bằng con cái của Donald Trump.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 18-9-2015

Tứ Đại Ngu  2012

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Phi Trường Tân Sơn Nhất  07-01-2009

Quy định trang phục của Hà Nội và Cần Thơ

Hoàng Hữu Phước Trả Lời Câu Hỏi 2

 Hoàng Hữu Phước, MIB

22-12-2017

Hầu như mọi vấn đề trong đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam đều được nêu lên kèm các tư vấn mang tính biện pháp trên chính blog này, chẳng hạn phát biểu gần đây của một nữ nghị sĩ Khóa XIV Tỉnh Khánh Hòa về đặt tên “thuần Việt” hay của một chức sắc Thành phố Hồ Chí Minh về “đặt tên Tiếng Anh”

Questions (6)

đều không trên cơ sở bút chiến luận sâu sắc mà chỉ là những nêu vấn đề ngắn gọn rất trẻ con, phi hiện thực, phản…“hội nhập” , hoàn toàn không hùng biện, chẳng hạn dễ dàng bị phản luận rằng phải chăng “không có lợi cho truyền thống” đồng nghĩa với “không có lợi cho…kiểu đặt tên Hán-Việt”, vì Hán-Việt không-phải-Việt vẫn được mặc định là chính-danh-thuần-Việt?  Về vấn đề này đã có phân tích tại Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Trong khi đó, về mại dâm mà Quốc Hội và báo chí cứ nhớ nhung nhắc nhở

Questions (5)

thì cũng đã có sẵn hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Luật Hóa Mại Dâm Ư?.

Tương tự, việc đài truyền hình cứ đưa tin hoài về cái việc “còn nhiều ý kiến khác” liên quan đến “quy định trang phục” cũng sẵn có bài hùng biện bất-khả-tranh-luận tại Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân mà bạn có thể dễ dàng xem lại hoặc tham khảo thêm.

Để mang tính cập nhật và thời thượng, xin trình cùng bạn rằng bên Mỹ đang có vấn nạn tại giải bóng bầu dục chuyên nghiệp toàn quốc nhiều cầu thủ đẳng cấp triệu phú đã bày tỏ sự chống đối Tổng Thống Trump bằng cách mỗi khi sân vận động trỗi quốc thiều, hát quốc ca, chào quốc kỳ thì họ hoặc ngồi lỳ trên ghế, hoặc ngồi thụp xuống đất quỳ một chân, chứ không chịu đứng lên nghiêm chào cờ với bàn tay đặt trên ngực như từ trăm năm nay. Tất nhiên trên Twitter tràn ngập các tải đăng lời rủa nguyền hành vi bất kính đó từ Tổng Thống Trump và nhiều người dân khác, kể cả các “fan” của các cầu thủ ấy cũng phản đối hành vi hỗn láo ấy. Nhưng ý kiến không-hề-nguyền-rủa sau đây của Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Mnuchin có thể là quà tặng – hay là cẩm nang xử lý công việc – cho các lãnh đạo công quyền ở Hà Nội và Cần Thơ:

Questions

Từ đó, có thể nói rằng các công chức viên chức ở Hà Nội và Cần Thơ nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan công quyền chuyên nghiệp nào có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng các bác sĩ và nhân viên y tế tại các bịnh viện nếu muốn mặc áo pull và quần jean thì cứ thực hiện các quyền tự do ăn mặc ấy khi không đang trong thời gian làm việc chuyên nghiệp tại các cơ quan y tế chuyên nghiệp có bộ quy tắc ứng xử và trang phục “Dress Code” chuyên nghiệp.

Từ đó, có thể nói rằng ngay khi báo chí và báo chấy viết gì đó hay nói gì đó về quyền tự do cá nhân ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do ngôn luận ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, quyền tự do biểu đạt ở nơi làm việc hoặc chốn công cộng, thì phải hiểu ngay là báo chí/báo chấy hoặc (a) đang xách động cho kiểu tương tự tự do cá nhân đang đứng nói chuyện ồn ào thì vội thụp xuống lột chuối ăn ngay khi nghe loa phóng thanh yêu cầu đứng nghiêm chào cờ:

Questions (4)Questions (3)

và tương tự tự do “treo” cờ trên sàn làm tấm chùi chân này để thực thi quyền tự do biểu đạt:

Questions (2)

của Nước Mỹ Vĩ Đại; hoặc (b) thề không bao giờ đọc tin của bất kỳ báo in/báo mạng của nước ngoài nên chả hiểu biết gì sất về cái biến thiên của cái sự đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 18-9-2015

Tứ Đại Ngu  2012

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Chìa Khóa Của Cường Thịnh  05-11-2016

Lại Thu Trúc 22-12-2015

Phi Trường Tân Sơn Nhất  07-01-2009

Gia Phì Sinh Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-12-2017

Sách có câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần”.

Word 9

Lăng Tần tôi đây vốn tin tưởng vào sự biến thiên biến hóa biến đổi biến mất của Đất Trời, và vào ý nghĩa của tiến hóa trong cập nhật để cải tiếncải hóa, nên thường lấy cái thông tuệ của sở học ngày nay ra chỉnh sửa chỉnh đốn cho chỉnh chu các danh ngôn bất kể các phát ngôn dù chính ngôn hay loạn ngôn của người xưa hay người nay, bất kể đó là thánh nhân thần nhân vĩ đại nhân hay tầm thường nhân, như thể hiện mạnh mẽ quyết liệt hùng biện nhất tức không-đứng-sau-hay-dưới-bất-kỳ-ai trên mạng Twitter tại @HoangHuuPhuoc và @RealHHPhuoc, mà nhiều tác giả sách người Mỹ sau khi các lời dạy đời vàng ngọc của họ được tác giả bài viết này chỉnh sửa đã hân hoan cho một trái tim đỏ chót (like), thậm chí đăng lại (retweet) và đeo theo (following) dù không được ông ta quan tâm follow đáp lại.

Nhận thấy người nước Nam ta có niềm tin mặc định những lời dạy của thánh hiền – và của người nước ngoài – là chân lý của muôn đời nên dẫn đến hai tiêu cực gồm (a) giữ nguyên văn không hề dám nâng cấp các lời vàng ngọc, khiến (b) nội dung giáo huấn trở nên co cụm nghèo nàn không thể góp phần giáo dục bất kỳ ai cho xã hội dù mới hơn và tốt hơn (tức chế độ) khiến vẫn biền biệt những thành tố mới hơn và tốt hơn (tức con người) cần thiết cho cái xã hội ấy tại tồn. Trong khi đó, ngay cả cái luận cứ kinh điển giáo điều kinh tế chính trị Mác-xít Lê-nin-nít còn được những nhà Mác-xít Lê-nin-nít Việt Nam sau khi chiến thắng đã cập nhật biến hóa ra hình thái kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa làm thế giới hàn lâm ngắc ngứ cứng họng đơ người.

Để cập nhật biến hóa tương tự, Lăng Tần tôi đây cho rằng câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần” của môn sinh Khổng Giáo Nho Gia Trung Quốc sẽ được hoàn thiện tuyệt đối nếu được bổ sung nội dung “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần” của Hoàng Hữu Phước Việt Nam.

Gia Bần Tri Hiếu Tử, Quốc Loạn Thức Trung Thần” không bao giờ có thể sánh được với “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thần”, đơn giản vì về phương diện quốc gia thì một khi đã “loạn” thì đương nhiên có ít nhất hai phe (Việt Nam có lúc có đến 12 “phe” tức loạn Thập Nhị Sứ Quân) mà đã vậy thì “phe” nào cũng có “trung thần” để tàn sát đối phương, tàn phá đất nước, cho đến khi chỉ còn một phe chiến thắng; còn phe chiến bại thì hoặc im lặng xếp ve ngay cả thở cũng không dám thở, hoặc lẻn bỏ chạy đến nơi an toàn thì chưởi đổng huy động tiền bá tánh mua củi đốt quăng lửa về quê, hoặc quay trở lại đột nhập làm tráng sĩ Kinh Kha kiếm thăm bồ bịch cũ để đánh ghen hờn dỗi dâng mình vào rọ như Mai Văn Hạnh ở Hòn Đá Bạc thủa nào. Còn về phương diện gia đình thì hôm nào ai chỉ còn một phần tư chén cơm mà đem dâng hết cho Mẹ và Cha mỗi người được có một muỗng canh, là đã được thiên hạ xưng tụng vang danh hiếu thảo vốn là cái đạo cao nhất của loài người cho dù cái việc nhường muỗng cơm ấy chẳng qua vì không thể chia nhỏ hơn cái muỗng canh thành cái muỗng cà phê nên thà nhịn cho xong rồi mai tính sau.

Thế thì cái cực khó và đầy thử thách của hiếu tử cùng trung thần trong câu “Gia Phì Tri Hiếu Tử, Quốc Thái Thức Trung Thầ n là gì?

Gia Phì Tri Hiếu Tử

Khi đã “vinh thân phì gia” tức thân mình thì vinh hiển chức cao quyền trọng do “có công với cách mạng” giúp cả gia đình có cuộc sống đủ đầy nhờ danh “gia đình có công với cách mạng”, thì cái danh hiếu tử chỉ thuộc về những ai thành công trong bảo toàn được danh dự tổ tiên, dòng họ, mẹ cha, trong cơn trốt xoáy hung hãn của quyền lực quyền lợi vật chất kim tiền.

Một anh hùng săn bắt cướp từng làm các trùm xã hội đen run sợ những năm đầu sau giải phóng, lại chôn vùi tên tuổi trong ô nhục chốn lao tù vì nhận tiền của trùm để “phì gia”, bỏ mặt một chiến sĩ đồng đội bị trùm sát hại, biến cha mẹ thành kẻ ngây khi nhận núi tiền của con mà cứ cho đó là tiền lương bèo bọt của cách mạng dành cho , và biến mẹ cha thành kẻ mặt dầy mướn người viết thư bi tráng kêu oan cho con và kể lể công trạng một đời lý tưởng tận trung với nước tận hiếu với dân của con mình.

Những tên đảng viên cao cấp dày công lao hãn mã đu trèo bám bấu lên được ngôi cao Bộ Trưởng này, Bí Thư nọ, Chủ Tịch kia, Tổng Giám Đốc đó, lại chôn vùi tên tuổi trong ô nhục chốn lao tù vì chăm chỉ vác tiền và vàng của công quỹ để “phì gia”, bỏ mặt đất nước nghèo đi, dân tộc lẹt đẹt, còn Đảng bị ô danh, biến cha mẹ thành kẻ ngố khi nhận núi tiền của con xây biệt phủ vườn tược phì nhiêu cò bay thẳng cánh mà cứ cho đó là phúc đức từ tiền lương bọt bèo của cách mạng dành cho con mình là những đấng trung thành trung hậu trung kiên, và biến mẹ cha thành kẻ mặt dầy nhờ người viết thư kể lể công trạng công lao công đức đạo đức tài đức của cha mẹ tổ tiên để mong con mình nhẹ tội nhờ “nhân thân tốt” lại có “thân nhân xịn”.

Đã vậy, có kẻ lại đào tẩu ra hải ngoại sau khi thành công đại thành công trong đại cuộc làm ô danh bản thân, ô danh gia đình, ô danh Đảng, ô danh đất nước. Bấy nhiêu đã đủ để khẳng định rằng câu “Gia Bần Tri Hiếu Tử” của Khổng Giáo Nho Gia hoàn toàn kém, không mang nội hàm giáo dục vì tránh né cái khó, vinh danh cái dễ.

Quốc Thái Thức Trung Thần

Còn khi quốc gia thái bình, đó mới là lúc các quan lại tỏ được sự trung trinh dành  cho một chủ thể duy nhất: quốc gia của bên thắng trận mà bản thân mình đã có góp phần vào chiến thắng ấy.

Khi quốc gia trong cảnh chiến tranh, đối thủ tức bên đối phương tức quân giặc là kẻ thù duy nhất, sự tồn tại của lãnh thổ phe ta là mục tiêu trước mắt, còn chiến thắng cuối cùng là mục đích dài lâu.

Khi quốc gia thái bình, đối thủ bao gồm 6 kẻ thù trọng yếu như (a) “phe” hay các “phe nhóm” khác, (b) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế hay những ghế hiện nay của mình, (c) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế tương lai của mình, (d) kẻ hay những kẻ có khả năng giật mất ghế tương lai của đàn con của mình, (e) bất kỳ ai có khả năng giành phần bánh lớn hơn phần của mình, và (f) bất kỳ ai tuy cùng là đảng viên cao cấp như mình lại có tài sản vật chất dồi dào hơn mình; còn tính luôn các “mặt trận thứ yếu” khác thì còn có thêm 6 kẻ thù như (g) giặc dốt, (h) giặc nghèo, (i) giặc lạc hậu, (j) giặc tham nhũng – hối lộ, (k) giặc hành chánh quan liêu, và (l) giặc ngoại xâm tiềm tàng, mà 6 kẻ thù chót này là chuyện để Bộ Chính Trị lo, không đến phần bản thân mình phải lo cho bò trắng răng.

Chính vì vậy, thời thái bình mới là thời loạn nhất.

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà một Tổng Bí Thư lại phải đích thân ra tay trực tiếp đốt cho lò đủ nóng để có thể đốt cháy cả cũi ướt?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà hàng hàng lớp lớp đội ngũ tinh hoa chính trị của Đảng phải bị cách chức, truy nã, tống giam, xử tội?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà hàng hàng lớp lớp đảng viên hóa rồ, phát ngôn chõi lại Đảng như về tam quyền phân lập, xã hội dân sự, dân chủ nhân quyền, tự nguyện ăn bã nhơi lại của bọn Chống Cộng?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà các kế sách của Đảng bị vô hiệu hóa hoặc chưa bao giờ thành công như trong hiện tại đối với các kế sách về cải cách giáo dục, đầu tư hạ tầng, xây dựng con người mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng xã hội hiện đại văn hóa văn minh, và…dạy tiếng Anh cho học sinh sinh viên, v.v.?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà Đảng lại phải đe dọa đuổi ra khỏi Đảng những đảng viên nào phạm phải những nội dung nào?

Đã có bao giờ trong thời chiến tranh mà kẻ thù lại dám lơ là lớn lối trước sức mạnh của Đảng, trong khi hiện nay thì kẻ thù mặc sức nhạo báng bỡn cợt Đảng và lãnh đạo Đảng?

Cuối cùng thì câu hỏi hiện nay sẽ luôn là: ai trong số những cán bộ cấp cao hiện nay của Đảng trong chính quyền và trong Đảng là những bậc trung trinh tận tụy hy sinh chỉ biết chăm lo cho sự tồn tại của chế độ, sự hùng cường của đất nước, và sự phồn vinh của dân tộc?

Ngày nào các đảng viên cao cấp của Đảng còn giành giật các chiếc ghế quyền lực khỏi tay các bậc hiền tài để ấn vào quyền sở hữu và ngự trị của các con cháu của họ, ngày ấy Đảng vẫn chưa hề có được đến một đấng trung thần, và quốc gia thái bình trở thành dấu chấm hết cho sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Khóa XIII.

Hoàng Hữu Phước: Ý & Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-12-2017

Word 1Word 2Word 3Word 4Word 5Word 6Word 7Word 8Word 9Word 10Word 111

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Các cụm câu trên đăng trên Tango 2017

Nhà Giáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-11-2017

HHP DHTH TPHCM

Hôm nay là một ngày thích hợp. Phải chờ đến hôm nay tôi mới dám tự do ngôn luận và biểu đạt để đừng bị ném đá đã làm hỏng cuộc bắn pháo hoa.

Chẳng qua vì tôi phải chờ cho qua Ngày Nhà Giáo Việt Nam để không khí có đủ thời gian lắng đọng xuống sát mặt đất tất cả cái dư hương kỳ quái đáng kinh ngạc của ồn ào ca ngợi, ngọt ngào vỗ về, đắng cay tâm sự, chát chua than thở, mằn mặn nước mắt ở đầu lưỡi, tức những thứ lẽ ra trong tự nhiên cũng không thể tồn tại sự hòa quyện kết dính hóa học tất cả các vị nếm trái đạo ấy.

Hai mươi năm trước, Đài Truyền Hình VTV có chương trình dạy tiếng Anh do một vị tên Hùng mà học vị được ghi trên màn hình là MA Vương Quốc Anh, tức là thạc sĩ (Master of Arts, chắc là học cái gì đó về khoa học xã hội hay ngôn ngữ) từ Anh do Nhà Nước cho sang đấy du học trở về. Ông ta luôn ngồi thừ bất động, chỉ có đôi môi là hoạt động. Ông dùng tiếng Việt để dạy các căn bản sàn nhà của tiếng Anh, thậm chí ông còn bày ra trò dạy hát (theo băng nhạc ghi âm) mấy bài tiếng Anh cũ mèm quen thuộc, với sự có mặt của ba hay bốn nữ sinh cũng ngồi-thừ-bất-động-trừ-đôi-môi y hệt vị thạc sĩ tốt nghiệp từ Vương Quốc Anh ấy. Học trò tôi là giáo viên Anh Văn khi quây quần bên tôi đã động-đậy-đôi-môi chê bai phán phê gọi đó là chương trình chỉ để “xé cho hết tiền Nhà Nước” và gọi ông Hùng MA ấy là Thằng Cha Hồn Ma, vì hấp thụ chương trình giảng dạy đầy sinh động chủ động ở Anh Quốc không thể nào có cách dạy bất động thụ động ngồi dính-mông-vào-ghế như thế cả.

Vào một Ngày Nhà Giáo Việt Nam, đài VTV phỏng vấn ông Hồn Ma về kỹ niệm nào tốt đẹp sâu sắc nhất của ông đối với một người “thầy” cũ của mình. Ông Hồn Ma vô tư ngây thơ trả lời rằng ông nhớ mãi các bài dạy tiếng Anh của một vị thầy rất đạo đứctrách nhiệm là “Thầy XYZ”, rằng sự tận tụy ấy được thể hiện qua sự kiên trì của thầy ấy chẳng hạn thầy từ tốn đi qua đi lại suốt gần nửa tiếng đồng hồ để tìm đủ mọi cách giảng giải bằng tiếng Anh cho tới khi trong lớp có người hiểu được ý thầy ấy muốn nói về chữ “family” (gia đình)! Chính Hồn Ma là người có thể giơ tay trả lời “family” đầy kiêu hãnh, được “thầy” khen, nên nhớ thầy suốt đời. Một tên Thạc sĩ Anh Văn vô dụng kính trọng một ông thầy XYZ bất tài mỗi 30 phút dạy xong một chữ tiếng Anh, thảo nào từ Hùng MA Vương Quốc Anh đầy vinh diệu đã bị học trò toàn Cử Nhân Anh Văn của Việt Nam học trò ông Cử Nhân Anh Văn Hoàng Hữu Phước ban cho tên gọi miệt thị Hồn Ma.

Nghèo cho sạch, rách cho thơm. Chỉ có một nền giáo dục què quặt mới không cho học sinh tiểu học bình giảng về câu tục ngữ bình dân ấy – cùng vô số các câu khác xây dựng nhân cách nhân văn của “măng non” như thố tử hồ bi; nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng; v.v.

Nếu đã được dạy – từ cha mẹ và/hay nhà trường – từ tuổi ấu thơ, người ta phải biết rằng lòng tự trọng cao hơn hết thảy, đến độ dù phận có khổ nghèo vẫn ngẫng cao đầu vì giữ được cả thân thể và tấm lòng trinh bạch sạch trong, dẫu đời có vùi dập rách nát tả tơi vẫn ngẫng cao đầu vì không nhúng chàm tiêu cực để bảo toàn được danh thơm tiếng tốt của mẹ cha tiên tổ. Làm gì có chuyện chỉ phát sóng lên hình những “nhà giáo” khóc lóc vì thu nhập thấp và ước ao được quay về quá khứ để chọn một nghề khác trong khi bản thân chả ai dám nói rõ xem cái nghề khác đó có thể là nghề gì và lương lậu có thể cao bao nhiêu.

Nền giáo dục nước nhà suy vi suy sụp suy kiệt chỉ vì ba tác nhân hủy phá cỡ MOAB (Mẹ Của Các Loại Bom) Mỹ hoặc FOAB (Bố Của Các Loại Bom) Nga sau:

1) Vĩ Mô: Nhà nước thiện nghệ bày ra Ngày Nhà Giáo, rất giỏi tôn vinh chức nghiệp nhà giáo, rất khéo chọn ngôn từ ngợi ca cống hiến của nhà giáo, rất khéo mạnh tay chi tiêu liên tục cải cách giáo dục và gia tăng khủng khiếp ngân sách đào tạo cực nhiều tiến sĩ cho ngành giáo dục quốc gia, và rất khéo kiên trì nhiều thập niên nay liên tục sử dụng nội dung thu nhập thấp của nhà giáo mỗi khi soạn nghị quyết hoặc đăng đàn phát biểu về giáo dục như một mục tiêu mà hậu thế phải giải quyết.

2) Vi Mô: Các nhà giáo “phát tài với nghề giáo” không hề tương thân tương trợ các nhà giáo “khó sống với nghề giáo”; còn các nhà giáo “khó sống với nghề giáo” sẵn sàng trung thực trung trực trung ngôn nói ra hết từ sự thiếu thốn đến sự tiếc nuối đã lỡ dại theo nghề giáo; trong khi đó các nhà giáo “sống được với nghề giáo” lại bị ô danh do lãnh đạo trường giỡ trò bày đủ thứ phí, xin đủ thứ tiền từ phụ huynh; tất cả khiến phụ huynh thì khinh thường nhà giáo nhà trường, còn học trò thì hoặc khinh thường nhà trường nhà giáo hoặc trở nên tinh ranh chọn vào ngành sự phạm cho dễ đậu đại học và có học bổng rồi từ từ tính tiếp. Bản thân nhà giáo không thèm tự biến mình thành cao trọng, còn bản thân phụ huynh phát hiện sức mạnh thần kỳ của tiền bạc nên ra lời miệt thị và ra tay truy sát nhà giáo. [Ghi chú cho rõ, kẽo báo chấy tấn công, rằng: nội dung này là nói về “một bộ phận nhỏ một cách vô nghĩa lý” trong các nhà giáo, mà tiếng Anh cấp độ “cử nhân” lè tè gọi là insignificant nonentity, chứ không phải kiểu “một bộ phận không nhỏ” mà từ lóng tiếng Việt gọi là bự chà bá mà các cán bộ lãnh đạo cấp cao nhất sính dùng.]

3) Trung Mô: Truyền thông thì vừa đăng vừa kiếm có tập trung. Đăng các phát biểu của các lãnh đạo tôn vinh nhà giáo tận mây xanh. Còn trong ba tập thể nhà giáo gồm “các nhà giáo phát tài với nghề giáo”, “các nhà giáo sống được với nghề giáo”, và “các nhà giáo khó sống với nghề giáo” thì chỉ tập trung phỏng vấn người thật việc thật cái gì cũng thật của tập thể thứ ba, khiến toàn xã hội mù tịt trước thực tế có nhiều nhà giáo chỉ với nghề giáo thôi chứ không tham gia chứng khoán, địa ốc, bán buôn bán lẻ bất kỳ thứ gì của sản phẩm hữu hình, là đã có nhà cao cửa rộng sống đời sung túc thậm chí giàu sang. Vì vậy, chẳng ai biết nhờ đâu các nhà giáo ấy trở thành nhà giàu tức nhà giáo giàu, khiến chẳng ai trong tập thể nhà giáo khác học hỏi được kinh nghiệm gì, và tất nhiên học sinh thì không biết hóa ra không chỉ là đời nhà giáo đen tối vật chất mà có cả sự chói lọi chói lòa chói chang của hào quang vật chất đời nhà giáo. Bao giờ truyền thông của Đảng mới thôi chống lại Đảng? Tại sao Đảng bảo phải nêu gương người tốt việc tốt mà truyền thông chẳng bao giờ đưa được gương các nhà giáo nào đã với lòng tự trọng và yêu nghề vượt khó vươn lên bằng chính nghề giáo của mình hoặc bằng nghề phụ để duy trì cho bằng được cả bốn việc vĩ đại của (a) duy trì bám nghề bám lớp, (b) ngẫng cao đầu kiêu hãnh đã có lòng tự trọng, (c) dành được sự tôn kính tôn trọng của học trò và phụ huynh, và (d) trực tiếp góp phần giúp nghề nghiệp của mình được tôn vinh chứ không phải nhờ Nhà nước và truyền thông tôn vinh hộ. Đã kiếm không ra người thì thôi, sao lại chỉ đưa lên mặt báo toàn những nội dung lập lại hàng năm về sự mếu máo của nhà giáo và sự thất bại của Đảng và Nhà nước như thế? Đảng còn dung dưỡng tôn vinh truyền thông như thế vào Ngày Nhà Báo (lại Ngày!) chả phải là cái sự mèo khen mèo dài đuôi rất kỳ lạ lắm ru?

Thêm vào đó, cái mà truyền thông phụ họa cho “sự cao quý” của nhà giáo hóa ra chỉ toàn là đưa ra những tấm gương cụ thể đạo đức con người chứ chưa bao giờ có bất kỳ bài viết hay clip cụ thể nào về đạo đức nhà giáo.

Đạo đức con người – mặc định là ai mà chẳng có thứ đạo đức này cơ chứ – nơi nhà giáo cụ thể nào đó mà nhà báo phỏng vấn như tận tụy dạy học, giúp đỡ học trò có hoàn cảnh tiếp thu học tập khó khăn, v.v. là những nội dung ai cũng dùng để khen tặng nhà giáo.

Đạo đức nhà giáo – mặc định là nhà giáo phải có thứ đạo đức này – thì không bất kỳ tờ báo nào nêu lên được một cái tên cụ thể với những kết quả cụ thể. Khi đã nêu rõ một chức nghiệp thì phải nói trước hết và trên hết về tính chuyên nghiệp. Đạo đức nhà giáo do đó phải mang thuộc tính chuyên nghiệp, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – bốn nội dung phải có như

(a) giảng dạy phải luôn giỏi và một khi đã chấp nhận công việc phải làm thật tốt công việc;

(b) nghiên cứu không ngừng hoàn thiện chuyên môn bất kể dạy phân môn nào và ở cấp lớp nào để chứng minh bản thân có nhận thức đầy đủ về tính cạnh tranh cao, tính yêu cầu cao của học trò/nhà trường/phụ huynh/xã hội, và tính đào thải cao của nghề nghiệp;

(c) không những đào tạo được những học trò xuất sắc về bộ môn mình giảng dạy mà còn tác động tạo nên được nơi học trò dù xuất sắc hay năng lực học tập chưa đạt vẫn đều có chung tư cách đoan chính như mình, bất kể phân môn mình giảng dạy là gì; và

(d) gián tiếp tạo động lực cho học trò đam mê theo đuổi ngành học của phân môn mình giảng dạy hoặc có hay không có liên quan đến phân môn mình giảng dạy, bất kể sự theo đuổi đó là thuần túy chuyên môn hay trở thành nhà giáo.

Làm clip cụ thể về một nhà giáo cụ thể mà chỉ nêu mỗi hai điều gồm đạo đức con người và khó khăn đời sống, truyền thông đã góp phần tích cực vào sự hạ bệ nghề giáo dưới mắt phụ huynh và trong mắt học sinh như một nghề của vạn kiếp sai lầm, muôn đời cùng khổ.

Nếu một người vỗ ngực tuyên bố người ấy giỏi môn này nhờ học từ thầy này cô nọ, thì kết luận chính xác luôn là: thầy ấy cô ấy là nhà giáo thực sự có đạo đức nhà giáo. Học hành kiểu gì mà ngay cả khi mang danh dù cử nhân/thạc sĩ/tiến sĩ mà cũng chẳng dám mở miệng nói bản thân đã rất giỏi môn gì nhờ thầy cô nào, để qua đó tôn vinh thầy cô của mình, thì rõ mười mươi họ đã chỉ học từ những thầy cô hạng bét và bằng cấp trong tay họ là do hoặc họ tài ba tự học, hoặc có người tài ba thi hộ, hoặc mua được từ một “đại học gà rừng” tài ba làm bằng cấp giống y như thật.

Tôi đã luôn tuyên bố với học trò vào mỗi buổi dạy đầu tiên ở mỗi lớp mới rằng tôi giỏi xuất sắc tiếng Anh nhờ đã được là môn sinh của Thầy Nguyễn Quang Tô ở Trung học Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn/Gia Định, và Cô Trương Tuyết Anh, Thầy Lê Văn Diệm, Cô Nguyễn Thị Dần, cùng Cô Vũ Thị Thu đều ở Đại Học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, và thường công khai thi thố viết lách thơ văn tiếng Anh với học trò để chứng minh cái “giỏi xuất sắc” đó.

Những người cùng học đại học với tôi và vợ tôi mỗi năm đều tổ chức gặp mặt và đến thăm một cô giáo già yếu tên H. Tôi không bao giờ tham dự họp mặt kiểu ấy vì như đã nêu trong rất nhiều bài viết rằng tôi không bao giờ là “bạn học” của những người thua kém tôi trong học tập. Vợ tôi và tôi không bao giờ đi thăm cô giáo H vì cô là một nhà giáo không nằm trong danh sách những đồng nghiệp của cô là nhà giáo có đạo đức nhà giáo ở Đại Học Văn Khoa mà tôi đã nêu tên ở trên, do cô vừa không có đạo đức nhà giáo vừa không có đạo đức con người.

Những người cùng học Trung Học Petrus Ký & Lê Hồng Phong với em trai tôi mỗi năm đều tổ chức gặp mặt về thăm trường cũ. Em tôi không bao giờ tham gia tham dự vì nó chả thấy ai là nhà giáo có đạo đức nhà giáo tại các lớp nó đã học từ trước 30-4-1975 đến sau 30-4-1975 để mà luyến lưu trường xưa thầy cô cũ.

Những người cùng học Trung Học Thực Nghiệm Sư Phạm với em gái út của tôi mỗi năm đều tổ chức gặp mặt về thăm trường cũ và thầy cô. Em tôi luôn về nước để tham gia tham dự vì có sự luyến lưu trường xưa thầy cô cũ có đạo đức nhà giáo.

Những người cùng học trung học và đại học với con tôi mỗi năm đều tổ chức gặp mặt về thăm các trường cũ. Nó không bao giờ tham gia tham dự vì ngay trong thời gian đi học nó chưa bao giờ gọi sau lưng (tức gọi ở ngôi thứ ba) họ bằng hai chữ “thầy” và “cô” cả, mà bằng hai từ bình dân chỉ giống đực và giống cái, chỉ vì các nhà giáo này đã vòi vĩnh sự đền ơn cụ thể.

Xuất thân nhà giáo, tôi hay “méo mó nghề nghiệp” xem ai cũng là học trò và xem mình lúc nào cũng phải phô bày phô trương phô diễn đạo đức nhà giáo. Tôi đã tạo điều kiện cho các sinh viên nào có tư cách và giỏi tiếng Anh bằng cách nếu họ tự tin gõ cửa xin vào gặp tôi để ngỏ ý muốn xin làm việc bán thời gian kiếm phụ tiền ăn học, tôi phỏng vấn xong là chấp nhận tuyển dụng ngay, chính thức ký hợp đồng với Công ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài FOSCO, tạo tiền đề cho họ có “quá trình công tác thực thụ trong lý lịch để có thể làm việc với các công ty nước ngoài khác và các ngoại giao đoàn sau khi họ tốt nghiệp, được hưởng lương đầy đủ ngay chứ không hưởng công xá bọt bèo của người làm công nhật và “làm chui”, nhưng tôi cho họ chỉ làm việc một buổi để họ còn đến trường đi học, nhờ vậy tôi có dịp làm việc với những người giỏi như cô thư ký N.T. Vân, cậu trợ lý N.H. An sau này định cư ở Mỹ làm thạc sĩ giảng viên Toán ở cả Mỹ và Canada, và cô trợ lý N.T.Đ.Trang sau này là nữ doanh nhân. N.T.Vân là sinh viên Hóa ở Đại Học Khoa Học, làm thư ký của tôi tại Cimmco International cuối những năm 80 thế kỷ trước. Cô rất xinh và thơ ngây, lúc đó đang học đại học năm thứ 3, xem tôi như bậc trưởng thượng đáng tin cậy đến độ ngay cả khi có trục trặc chậm trể triền miên về….kinh nguyệt cũng đem hàng xấp giấy toa thuốc cùng bịnh án Bịnh Viện Phụ Sản nhờ tôi xem và chỉ bảo cho cô cách khắc phục! N.T.Vân đã gọi một đấng giáo sư tiến sĩ chức sắc cấp cao ở Đại Học Khoa Học là “thằng chả” vì ông ta đã tiếp cận các xí nghiệp, lấy đơn hàng, rồi kêu cô thực hiện nghiên cứu riêng cho ông ta. Sau khi cô hoàn thành, ông ta giao cho các xí nghiệp, bỏ túi thù lao, bảo cô rằng “Thầy sẽ cho em điểm tốt nghiệp cao”, vào thời buổi khó khăn của lịnh cấm vận của Mỹ mà không hề cho cô đồng bạc nào cả. Cô ấy bất kính với ông ta vì thậm chí giáo án cho các buổi dạy tiếp theo, ông ta đưa bản nháp cho cô đem đi đánh máy và in tại đường Lý Thái Tổ gần đấy mà chẳng lần nào đưa cô tiền, ắt do biết cô có tiền lương hậu hĩ do tôi trả hàng tháng chăng (vào thủa lương nhà giáo của tôi là vài chục ngàn đồng thì ngay khi tôi bị cưỡng bách phải rời ngành giáo dục để làm việc cho công ty nước ngoài thì lương của cô tạp vụ tên Nương ở công ty đó đã là 270 USD/tháng, nghĩa là lương của cô Vân tất nhiên cao hơn ít nhất là gấp đôi cô tạp vụ ấy). Còn cậu N.H.An là sinh viên Anh Văn Đại Học Tổng Hợp và cô N.T.Đ.Trang sinh viên Đại Học Kinh Tế thì may mắn thay đã không kể tôi nghe bất kỳ điều gì bất kính đối với thầy/cô của họ cả.

Một cậu khác là chức sắc ở môi trường kinh doanh tài chính Thành phố Hồ Chí Minh đã thuật với tôi về một giáo sư tiến sĩ lãnh đạo một trường đại học nơi đã ‘đào tạo” ra cậu ấy rằng: “Hồi em sắp tốt nghiệp thì thầy ấy kêu tụi em đến nhà rồi nói nhà thầy còn thiếu máy này, máy này, máy này, còn máy này thì cũ quá cần thay, nên mấy đứa cứ tự phân công đi há, rồi thầy cho tốt nghiệp hết. Em sau đó phải đi mượn nợ để lo phần của em là cái tủ lạnh.” Tôi chọn đoạn này làm phần kết, vì cái cậu hiền hậu nhu mì này vẫn còn rất nhân hậu mì nhu khi dùng “kính ngữ” gọi thằng giáo sư tiến sĩ chức sắc mất dạy đó là “thầy” làm tôi rất cảm động. Cảm động vì một khi đã kể tôi nghe chuyện đau lòng, cậu ta đã vừa tin tôi đúng là người để tâm sự chuyện đắng cay, vừa dùng chữ “thầy” đối với vị tiến sĩ đó là để tỏ lòng kính trọng cái chức nghiệp cũ của tôi và bản thân tôi.

Nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11-2017, tôi chẳng biết gì hơn là đành phải ngậm ngùi lập lại các bài sau đây dành cho nhà giáo và dành cho đội hậu bị của ngành Giáo Dục Việt Nam:

Lời Khuyên Dành Cho Nhà Giáo

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Điện Ảnh Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-10-2017

Truyền thông thế giới đang nói về Harvey Weinstein, người thống trị Hollywood tức thống trị điện ảnh thế giới.

Nội dung về y là về những vụ tấn công tình dục hắn thực hiện mấy thập kỷ qua đối với những cô gái mong muốn được hắn phân vai diễn trở thành ngôi sao điện ảnh và thậm chí có được giải Oscar danh giá. Trong xã hội Âu Mỹ thì đó không là chuyện hiếm hay chuyện lạ, chỉ có điều chưa từng ai cáo buộc Harvey Weinstein – hoặc những con tương cận như y – có thể vì đã nhận được danh vọng tiền tài bù đắp dư thừa và cũng có thể vì biết rõ tiết lộ cũng chẳng để làm gì trừ phi bản thân nhận thêm tài trợ khác từ đối thủ của y hay từ “chính đảng” nào đó.

Tuy nhiên, nếu tình dục bịnh hoạn như của Đức Ngài Jimmy Saville (Hiệp Sĩ Sir Jimmy Saville) của thế giới sân khấu giải trí Vương Quốc Anh đã phá trinh hàng trăm bé gái và bé trai bất kể các bé ấy có đang bị cột dính trên giường do bịnh thập tử nhất sinh (như được ghi rõ trong bài  Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt trên blog này), thì tình dục đổi bại của một tên đạo diễn ao làng điện ảnh Việt Nam cũng đã từng được tác giả bài viết này nói đến trong bài Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam đăng trên Emotino.com năm 2010.

Sự khác nhau giữa tình dục đồi bại của đại gia Weinstein và của tiểu tốt đạo diễn vô danh Việt Nam là ở chỗ các cô gái Mỹ cho Weinstein thỏa thích thỏa mãn dục tính để thực sự trở thành ngôi sao đắt giá thậm chí được nằm trong số 300 nữ diễn viên chỉ riêng của Weinstein được đề cử cho giải Oscar hoặc đoạt luôn giải ấy, thì các cô gái để một đạo diễn ao làng điện ảnh Việt Nam phá trinh hoặc gọi tới phục vụ tình dục thì chẳng làm cho điện ảnh Việt Nam lỗi lạc gì, danh tiếng gì, vinh diệu gì, với đại tác phẩm gì.

Gọi là một đạo diễn ao làng điện ảnh Việt Nam vì tác giả bài viết này chỉ biết có mỗi một ông ấy, chỉ được nghe thằng đạo diễn đó tỉ tê tâm sự trong cơn say của hắn, nên cũng tin tưởng tuyệt đối là toàn bộ số đạo diễn còn lại của đất nước hình cong chữ S này là tinh hoa tinh túy tinh thông tinh tường tinh tươm với chức nghiệp chứ không ai đồi bại như thằng đạo diễn tinh trùng già ấy.

Đồng thời, gọi ao làng điện ảnh Việt Nam vì sự thật muôn đời cũng sẽ chỉ là như thế. Hồ thì to và có thể sạch – như Hồ Ba Bể Việt Nam, Ngũ Đại Hồ Canada, hoặc Baikal Nga, hay Đại Diêm Mỹ, v.v.. Ao thì chỉ là vũng nước của ao tù nước đọng nên chỉ có toàn những chất chứa không dành cho sự sống lành mạnh. Mà từ ao ra hồ đã là luôn bất khả, thì cách chi mà điện ảnh Việt Nam biết đên sông to nói gì tới biển lớn.

Việc đăng tải lại dưới đây bài viết cũ của nhà phê bình mọi sự và sự mọi  Hoàng Hữu Phước là để nhắc lại như một tham khảo biết đâu sẽ cần thiết cho một ai đó bất thình lình quan tâm đến cái gọi là sự phát triển điện ảnh nước nhà để thay thế cho cái quay phim nước nhà.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam: Hawaii Five-O và Hawaii Five-0

Bài đã đăng trên Emotino tháng 11-2010 (Emotino đã đóng cửa vì bị phá sập sau đợt núi lửa động đất “Tứ Đại Ngu” và sóng thần “Nỗi Nhục Của Đài BBC”)

(Phần 1 tại http://www.emotino.com/bai-viet/18886/tu-van-phat-trien-dien-anh-viet-nam-hawaii-fiveo-va-five0 và Phần 2 tại http://www.emotino.com/bai-viet/18885/tu-van-phat-trien-dien-anh-viet-nam-hawaii-fiveo-va-five0-tiep-theo)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (2)

A) Dẫn Nhập: Hawaii Five-O và Hawaii Five-0

Người dân Sài Gòn diện trung lưu ắt còn nhớ những bộ phim truyền hình nhiều tập “Đài Mỹ” chiếu tất cả các buổi tối chẳng hạn phim “giả tưởng” như Batman (Người Dơi), Star Trek (Du Hành Không Gian) và Voyage to the Bottom of the Sea (Tàu Ngầm); phim “cao bồi” như The Wild Wild West (Miền Tây Bao La Hoang Dã) và Bonanza (Xứ Miền Trù Phú); “hành động” như Mos SquadHawaii Five-O; “trinh thám phản gián” như Mission Impossible; “chiến tranh” như Combat; “phiêu lưu mạo hiểm thời lập quốc” như Daniel Boone, “khôi hài” như The Monkeys, và nhiều phim khác; còn các buổi trưa Chủ Nhật có phát phim xi-nê như các phim kinh dị của đạo diễn Hitch Cock, hoặc phim Marco Polo, v.v. Những phim truyền hình này đạt đẳng cấp và tiêu chuẩn quốc tế (mỗi tập truyện dài vỏn vẹn khoảng 45 phút), tuy không có phụ đề Việt Ngữ, không thuyết minh lồng tiếng Việt – đơn giản vì “Đài Mỹ” chỉ phục vụ các cơ quan phái bộ Hoa Kỳ tại Sài Gòn – nhưng mỗi tập truyện đều là một kiệt tác với đầy đủ các diễn biến dẫn nhập, thắt nút, gỡ rối, và kết thúc, theo một trình tự logic, hấp dẫn, chuyên nghiệp, lôi cuốn ngay cả những người Việt không biết tiếng Anh già trẻ lớn bé, nam phụ lão ấu, trong đó có cả anh em nhà tôi lúc ấy đang ở lứa tuổi nhi đồng, đều nắm được ý nghĩa, thậm chí cho đến ngày nay tôi vẫn còn hu‎ýt sáo được các nhạc nền tuyệt diệu của các bộ phim này.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (1)Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (7)

Sau 1975, điện ảnh Mỹ lần lượt làm những phim truyện nhựa dựa theo tên cũ của các phim truyền hình xa xưa ấy như Batman, Star Trek, và Mission Impossible, v.v., đặc biệt vẫn sử dụng lại nhạc nền cũ của các phim truyền hình ấy, chẳng hạn nhạc nền của Mission Impossible trong tất cả các phim nhựa Mission Impossible. Cách nay hai tháng, tôi ngạc nhiên khi tình cờ bấm remote lộn qua đài Yeah của Việt Nam nghe phát một đoạn ngắn 12 nốt dạo đầu của nhạc phim Hawaii Five-O mỗi khi đến đoạn nghỉ quảng cáo Yeah, và tôi nhanh chóng phát hiện Yeah đã ăn cắp đoạn nhạc ngắn trên từ các đoạn quảng cáo trên đài AXN lúc AXN thông báo sẽ chiếu bộ phim truyền hình Hawaii Five-0 phiên bản 2010. Vậy là chỉ có phim truyền hình Hawaii Five-O được tái lập bằng một bộ phim truyền hình mới khác, trong khi các bộ phim truyền hình lão làng đồng cấp khác chỉ được dựng lại thành vài bộ phim nhựa chiếu rạp để tranh giành giải Oscar và hốt bạc mà thôi. Suốt hai tuần qua, AXN khởi chiếu vài tập cũ của Haiwaii Five-O (chữ O) lúc 17g30 mỗi Thứ Ba để “hâm nóng” thị hiếu và sự ngóng trông cuồng nhiệt của khán giả truyền hình Châu Á, vừa quảng cáo rầm rộ bộ phim mới Hawaii Five-0 (số zero) với đầy đủ bài nhạc nền tuyệt diệu của Hawaii Five-O. Tối nay, Chủ Nhật 14-11-2010, AXN bắt đầu phát sóng tập đầu tiên của Hawaii Five-0 phiên bản 2010, có phụ đề Việt ngữ, để làm dẫn nhập cốt chuyện ly kỳ giải thích vì sao hình thành nên “bộ tứ” của biệt đội trừ gian mới tinh này (gồm một sĩ quan biệt kích hải quân nhận phân công về Sở Cảnh Sát Hawaii để tìm kẻ giết cha mình, hai nam nữ cảnh sát ưu tú tại nhiệm, và một cảnh sát giải ngũ do hàm oan biển thủ tiền tang chứng) và sẽ phát các tập phim trên đài AXN mỗi tối Thứ Ba kể từ 16-11-2010. Phần dẫn nhập này có các ghi chú sau về bộ phim truyền hình Hawaii Five-O:

– Phim Hawaii Five-O (chữ O) do CBS Productions, Hoa Kỳ, sản xuất, phát sóng truyền hình liên tục nhiều trăm tập từ ngày 20/9/1968 cho đến ngày 04/4/1980, là bộ phim giữ kỷ lục dài nhất cho đến năm 2003 mới mất về tay bộ phim Law & Order.

– Phim bộ mới Hawaii Five-0 (số zero) do CBS phát hình từ 20/9/2010 ở Hoa Kỳ vào mỗi tối Thứ Hai lúc 21g. Ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đài AXN độc quyền phát hình, có phụ đề ngôn ngữ các nước, trong đó có tiếng Việt. Đặc biệt, phụ đề rất dễ đọc vì chữ trắng trên nền xám (trong khi các đài khác như HBO hay Star Movies, v.v., chỉ có chữ trắng nên khó đọc nếu cảnh nền ngoài trời có màu trắng sáng).

– Dù là Hawaii Five-O hay Hawaii Five-0 thì cũng hàm ý nghĩa: Hawaii là Tiểu Bang thứ 50 của Hoa Kỳ.

– Các nhân vật chính vẫn mang tên: thám tử Steve McGarrett, thám tử Danny Danno Williams, và thám tử Chin Ho Kelly; nhưng thám tử Kono dân bản xứ mập thấp thì trong phiên bản mới lại là nữ thám tử Kono Kalakaua xinh đẹp dường như là người Mỹ gốc Hàn vì mang họ thật ngoài đời là Park.

– Nhạc nền vẫn sử dụng bài tuyệt diệu của nhạc sĩ Morton Stevens.

B) Những Điều Cần Thiết Cho Một Nền Điện Ảnh Mạnh

Vào những năm 1980, tôi có phân tích với sinh viên khoa Anh Văn của tôi về 3 yếu tố giúp điện ảnh Hoa Kỳ hùng mạnh hơn bất kỳ nền điện ảnh nào trên toàn thế giới, đặc biệt tôi cũng nhấn mạnh rằng phải hội đủ cùng lúc cả 3 điều kiện này mới có thể nói đến việc hình thành một nền điện ảnh mạnh:

1- Yếu Tố Thứ Nhất: Hoa Kỳ có sẵn quá nhiều nhà viết kịch bản phim cực kỳ chuyên nghiệp. Họ không là nhà văn, mà là nhà viết kịch bản phim. Chỉ cần lấy thí dụ mỗi một phim truyện truyền hình CSI (Đội Điều Tra Hiện Trường Án Mạng) của mới một đài AXN thôi, người xem đã không thể hiểu nỗi vì sao mỗi tuần AXN lại có thể chiếu một tập khác nhau, mà những 3 nhóm khác nhau cho “gia đình” CSI gồm CSI-Miami, CSI-New York, và CSI-Las Vegas, với 3 ê-kíp làm phim hùng hậu hoàn toàn khác nhau, với những nội dung không trùng nhau ở câu truyện nhưng trùng nhau hoàn toàn ở đẳng cấp cực cao trong dựng tình huống, kiến thức khoa học hình sự hiện đại, và căng thẳng đến độ nghẹt thở không còn biên giới hay ranh giới phân biệt được giữa phim hành động truyền hình 45-60 phút của các diễn viên không nổi tiếng với phim hành động nhựa 3 giờ đoạt giải Oscar do các diễn viên lừng danh đóng. Những nhà viết kịch bản phim này mặc sức thăng hoa.

2- Yếu Tố Thứ Nhì: Hoa Kỳ có sẵn những nhà kỹ thuật tân kỳ – đặc biệt về công nghệ thông tin – tài hoa, thực hiện được bất kỳ những bày biện bày trò của kịch bản phim, bất kể sức thăng hoa của tác giả kịch bản có cao vời đến đâu chăng nữa. Thí dụ như tác giả viết kịch bản Công Viên Kỷ Jura cứ mặc sức viết theo trí tưởng, còn nhà kỹ thuật tân kỳ tạo ra khủng long các loại với đầy đủ hiệu ứng hình ảnh khủng khiếp vốn không bao giờ thiếu trong tất cả các phim nhựa hiện đại. Những chuyên viên kỹ thuật vi tính này tạo ra giá trị cộng thêm mang tính quyết định cho sự phát triển điện ảnh, biến những thăng hoa thành hiện thực, xóa bỏ tất cả các rào cản để điện ảnh đạt mức độ thể hiện cao nhất đáp ứng cao nhất sự kỳ vọng cao nhất của khán giả khó tính nhất.

3- Yếu Tố Thứ Ba: Hoa Kỳ có sẵn những nhà tư bản (tức chủ nhân những hãng phim lớn, những “trùm” ngành giải trí-truyền thông chuyên nghiệp) mặc sức cung cấp tài chính để đáp ứng kinh phí đầy đủ cho các nhà kỹ thuật công nghệ thông tin tài hoa chuyên nghiệp mặc sức thực hiện các kịch bản do các nhà viết kịch bản chuyên nghiệp mặc sức thăng hoa viết nên.

Điện ảnh toàn Châu Âu đều là hạng lâu lâu được Mỹ ban cho một Oscar, còn bản thân tổ chức vài giải điện ảnh nhưng các tác phẩm tự đoạt giải của Châu Âu nào có cái nào danh vang bốn bể. Đơn giản chỉ vì điện ảnh Châu Âu thiếu vắng gói “ba trong một” nêu trên.

Điện ảnh Việt Nam thuộc nhóm chờ lâu lâu được Mỹ ban cho một giải gì đấy, còn bản thân tổ chức vài giải điện ảnh nội địa nhưng các tác phẩm tự đoạt giải của Việt Nam nào có cái nào danh vang bốn bể. Đơn giản chỉ vì điện ảnh Việt Nam không những không có gói “ba trong một” rất vật chất nêu trên, mà còn thiếu vắng cả tinh thần kiểu Hàn như sẽ được nêu ra bên dưới.

C) Những Vấn Nạn Của Điện Ảnh Việt Nam

Những quan chức ngành điện ảnh Việt Nam hay nói đến một yếu tố “tinh thần”  (cực kỳ huyễn hoặc, không bao giờ có thực, không bao giờ có giá trị, không bao giờ đúng, đặc biệt điện ảnh Việt Nam chưa bao giờ thể hiện đúng và đạt trong tất cả các sản phẩm của mình) là: điện ảnh phải truyền tải một thông điệp văn hóa, nhân văn, mang tính định hướng, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Điện ảnh chỉ là một hình dạng lọt thỏm trong cái hố trũng có cắm biển “những ngành công nghiêp giải trí”. Vấn đề duy nhất đáng quan tâm để e ngại – nếu có e ngại – của điện ảnh là nội dung một bộ phim có đúng với thuần phong mỹ tục của một dân tộc đặc thù hoặc có đúng với một tín ngưỡng đặc thù để được khán giả của dân tộc ấy hay tôn giáo ấy chấp nhận mua về xem hay không. Chỉ có thế, và không còn bất kỳ ý nghĩa nào khác. Làm quái gì có “thông điệp” này nọ trong cái gọi là “giải trí”!

Tập trung cho tính chuyên nghiệp cao nhất ở tất cả các khâu thực hiện của một bộ phim đã đủ đảm bảo sự truyền tải một thông điệp văn hóa, nhân văn, mang tính định hướng, góp phần xây dựng con người, chẳng hạn bộ phim truyền hình “nhỏ bé” CSI do hấp dẫn người xem ở bất kỳ lứa tuổi nào nên vừa trực tiếp cung cấp kiến thức khoa học hình sự và sự hiểu biết cho cả tỷ người về các mưu ma chước quỷ của tội phạm, vừa gián tiếp xây dựng con người yêu thích trừ gian diệt bạo, cẩn trọng và cảnh giác đối với đời sống bản thân trước các tội ác, và truyền tải “thông điệp” rằng Hawaii, Miami, Las Vegas, và New York – tất cả đều của Hoa Kỳ – rất nhân văn, rất đẹp, rất quyến rũ, rất…đáng cho cả nhân loại tìm đến du lịch, tham quan, làm giàu thêm cho nước Mỹ.

Không hiểu được yêu cầu cơ bản của tính chuyên nghiệp cao cấp, cứ mơ hồ gán ghép bạo hành vào điện ảnh mọi thứ ý nghĩa của cốt truyện nhưng chẳng có một tí tính chuyên nghiệp nào trong hình thành các thành tố vật chất đích thực của “làm phim” thì không bao giờ có được một nền điện ảnh ra hồn.

Tương tự, ẩm thực sẽ chẳng ra hồn nếu cơm thơm ngon — huống hồ đây lại là cơm thiu nhờn nhớt nhợt — được bày trên tờ giấy báo lem luốc ẩm ướt vừa mới gói con cá chết ngộp, không có muỗng đũa, chẳng có món ăn nước chấm kèm theo.

Tương tự, âm nhạc Việt Nam không bao giờ ra hồn vì mãi mê duy chỉ cho ca từ  sao cho “nghe” có ý nghĩa, sao cho thật nên thơ triết lý đúng văn phạm, nên Việt Nam chỉ có ca nhạc với tuyệt đại đa số các bài ca bài hát không có khúc nhạc nào ra hồn, do quên rằng âm thanh từ nhạc cụ tức âm nhạc mới là yếu tố duy nhất tải truyền cái hồn của âm nhạc đến người nghe nhạc, mà rất tiếc đại đa số người Việt chỉ có khả năng nghe ca mà thôi.

Việt Nam thiếu cả gói 3 yếu tố đã nêu trên, do Việt Nam

(a) chỉ có nhà văn chuyên nghiệp và nhà văn không chuyên nghiệp chứ không có nhà viết kịch bản phim/truyện phim chuyên nghiệp;

(b) có rất đông chuyên viên vi tính được đào tạo để chú mục vào mỗi việc viết phần mềm gia công cho nước ngoài để ngồi bên laptop vừa làm việc nhàn hạ vừa vào Facebook chuyển tải các “sứ điệp” tào lao của bọn chống Cộng, chứ không có khả năng thực hiện kỹ xảo điện ảnh tân kỳ; và

(c) không có các nhà tư bản thực thụ có tài chính thực thụ có năng lực thực thụ biết kinh doanh thực thụ trong sản xuất phim truyện truyền hình chất lượng cao thực thụ và đúng nghĩa điện ảnh thực thụ.

Vì thiếu cả ba yếu tố này, phim ảnh Việt Nam chỉ biết kiếm tìm từ tác phẩm văn học một đề tài thì thoảng cho mỗi một phim nhựa nào đó dài khoảng 120 phút để hoặc tự hào hốt bạc tỷ nhờ “hot” tức dành cho những ai tò mò muốn xem “hot boy” hay “hot girl” nào đó ở truồng, hoặc có cái để đem đi dự giải quốc tế, hoặc sáng tác một truyện tràng giang đại hải cho một phim truyền hình đại hải tràng giang rồi cắt ngang thành cả trăm phần như kiểu phim bộ Trung Quốc hay Hàn Quốc, chứ không tài nào có đủ ý tưởng đủ dồi dào để viết hàng trăm truyện cho hàng trăm tập cho mỗi bộ phim truyền hình nhiều tập mà mỗi tập là một truyện khác nhau không liên kết với tập hay các tập trước đó như các phim truyền hình Mỹ đã nêu ở trên. Song, những yếu điểm này của điện ảnh Việt Nam còn là hệ quả của nhiều tác động tiêu cực trầm kha khác nêu ở dưới đây.

1- Học Vấn Những Người Làm Phim

Đa số những người làm phim Việt Nam – qua các “tác phẩm điện ảnh” của họ – đã không chứng tỏ đã từng có một quá trình học tập đẳng cấp cao có kết quả thực sự cao với kiến thức chung cao và kiến thức đặc thù cao, kể cả về…tiếng Việt cao. Hầu như bộ phim nào – dù là phim truyện truyền hình hay phim truyện nhựa, dù là phim xã hội hay phim lịch sử  – cũng có vấn đề, luôn bị công chúng công khai công kích với công tâm, vì những người làm phim thiếu tính xác thực, kém hiểu biết, và sai kiến thức. Họ thậm chí cũng không thể biết lời thoại của kịch bản có phải là tiếng Việt thực thụ hay không, chẳng hạn diễn viên Diễm Kiều vai bà mẹ già nhà quê trong một phim dài nhiều tập hễ mở miệng là dùng từ “tâm trạng” như “ không có tâm trạng” hay “thằng đó nó không có tâm trạng” hay “má hiểu con có tâm trạng”, mà kiểu thoại ấy ắt do người Việt dùng lúc được di tản lên Hỏa Tinh trong cuộc di dân vĩ đại của ngàn năm sau; hoặc một lời thoại khác trong phim cổ trang khi nhà vua nói với hoàng hậu rằng “để bệ hạ nói với thiếp nghe điều này”, thay vì lẽ ra phải là “để trẫm/ta nói với ái khanh/hậu/nàng/ngươi điều này”. Tồi tệ hơn khi có đấng đạo diễn trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi Trẻ rằng phim của ngài có những “cảnh nóng” như vậy là chưa ăn thua vì ngài sẽ làm phim khác có độ “nóng” hơn nhiều. Một đạo diễn giỏi hóa ra phải là kẻ biết lột trần truồng diễn viên và thực hiện được cảnh quay cận cảnh chuyện làm tình động cỡn, xem đó là cách duy nhất kéo khán giả đến rạp, ngụ ý khán giả toàn là người bị dồn nén tình dục – theo cha đẻ của ngành phân tâm học Sigmund Freud – đến độ nhất thiết phải xem diễn viên trần truồng, và thậm chí tự hạ mình xuống thành đạo diễn phim “con heo” rẻ tiền hay sao? Vô ý thức đối với nghề nghiệp và sự nghiệp, vô lương tâm đối với xã hội, và vô trách nhiệm với hai từ tổ quốc: đó là những câu cú hoàn chỉnh để dùng cho những đạo diễn chưa hoàn chỉnh mà tiếng Anh gọi là “unfinished”, tức chưa được tiến hóa hoàn chỉnh (để thành người).

2- Tư Duy Những Người Làm Phim

Hậu quả của quá trình học tập không bài bản, thiếu chuyên cần, kém sâu sắc, và nghèo kiến thức nơi đa số những người làm phim Việt Nam – qua các “tác phẩm điện ảnh” của họ –  đã khiến họ trong thời gian dài ẩn náu an toàn trong những “công ty/xí nghiệp điện ảnh nhà nước” (xây từ tiền thuế người dân),, hưởng lương nhà nước (từ tiền thuế người dân), hưởng chế độ hưu trí nhà nước (từ tiền thuế người dân), thực hiện các đơn hàng của nhà nước (từ tiền thuế người dân), để sản xuất đủ số những bộ phim đạt yêu cầu chỉ tiêu hàng năm, chủ yếu để cất kho ẩm mốc hay chiếu phục vụ dân nghèo vùng sâu vùng xa, mà điển hình là các phim như Hoa Ban Đỏ, v.v. Tất cả những an toàn tuyệt đối dành cho họ đã khiến họ sản xuất phim không với tinh thần trách nhiệm, dẫn đến những phí phạm như vô tư tửng tửng ra hiệu lịnh bắn một hỏa tiễn SAM thật trị giá cả tỷ đồng trong khi quên ra hiệu lịnh cho các máy quay bắt đầu thu hình cảnh khai hỏa ấy, khiến sau đó phải sử dụng “xảo thuậtđiện ảnh” để lấp chỗ trống chứ không còn tiền mua của Phòng Không một SAM khác. Rồi khi đất nước “mở cửa”, họ đơn giản ngu dốt cho rằng “mở cửa” đồng nghĩa với “mở hết nút quần áo” nên mới có các bộ phim khai thác các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng để nữ diễn viên hạng nghệ sĩ ưu tú nhân dân ở  truồng đóng phim như hành vi cao qu‎ý tận tâm phục vụ nghệ thuật điện ảnh nước nhà, hoặc khai thác làm phim lịch sử về Lê Ngọa Triều dâm đãng để dễ khai thác hình ảnh tính dục và dễ né tránh phim lịch sử khác mà họ bất tài không bao giờ thực hiện được do đòi hỏi phải có các cảnh hoành tráng xua tượng binh xông trận đạp chà dày xéo xác quân Tàu, vạn quân vây hãm công phá thành trì do Tàu chiếm đóng, thủy chiến hỏa công kinh hoàng rực lửa hừng hực cuộn cuồn sóng Bạch Đằng Giang vốn vĩ đại hơn cả trận Xích Bích cường điệu của Tam Quốc Chí Tàu. Sống bám vào quốc khố và bấu víu vào các cảnh khai thác tính dục và tình dục đã nằm trong tư duy của không ít những người làm phim Việt Nam trong một thời gian rất dài như một thứ bệnh truyền nhiễm được ngợi ca bằng tiền lẽ ra dành cho chế tạo vắc-xin.

3- Học Vấn Những Người Đóng Phim

Đối với tôi, Sandra Bullock là diễn viên hạng xoàng và tôi nhất quyết không xem bất kỳ phim nào do nữ diễn viên này đóng, kể cả khi cô đoạt giải Oscar 2009, chỉ vì cách nay hơn 10 năm tôi có xem một phim DVD trong đó cô hét toáng lên rằng “Có ai cho tôi biết chuyện quái quỷ gì đang xảy ra không vậy chớ hả?” (Can anybody tell me what’s the hell is going on here?) khi cô lúp xúp chạy bộ ngoài đường với váy ngắn túm và đôi guốc cao gót đỏ theo đà kéo tay của anh bạn, trong lúc bọn sát thủ táo tợn ban ngày ban mặt cướp ngân hàng bắn tiểu liên vãi đạn xối xả dày đặc không để lọt một hạt mưa. Một diễn viên “có giá” là người có “quyền” buộc đạo diễn phải thay đổi những lời thoại vô duyên của nhân vật mà mình thủ vai. Diễn viên Bruce Willis đã làm phá sản công trình một đạo diễn lừng danh khi bỏ đi không thèm qua Việt Nam đóng phim vì đạo diễn đã từ chối đổi kịch bản theo ý Bruce để chêm thêm cảnh người hùng do Bruce thủ vai phải được mình trần trùng trục gân guốc lực lưỡng hai tay hai khẩu trung liên bắn giết tàn sát Việt Cộng chết như rạ. Đa số những người đóng phim Việt Nam đã không chứng tỏ có một quá trình học tập đẳng cấp cao có kết quả thực sự nơi kiến thức chung và kiến thức đặc thù, kể cả về…tiếng Việt, nên đạo diễn chỉ bảo họ ra sao là họ cứ thế mà thực hiện, bảo nam diễn viên cõng nữ diễn viên thì họ cứ thế mà cõng, chẳng dám hé môi nói được câu rằng đó là kiểu của nam Hàn Quốc chứ không phải nam Việt Nam, cứ như sợ đạo diễn hét lên rằng “Các ngươi tưởng báu lắm đấy phỏng! Không đóng thì cút! Hạng các ngươi thì ta mua một xu được cả tá ấy chứ lị! You good-for-nothing guys are a dime a dozen!” Thậm chí có nữ diễn viên khi trả lời phỏng vấn trên HTV7 đã khen nức khen nở đạo diễn rằng “chú ấy bảo em muốn diễn sao thì cứ diễn” dù cô bán cà phê, mới đóng phim lần đầu mà lại là vai nữ chính, chưa bao giờ là học viên trường điện ảnh, chưa bao giờ được hướng dẫn diễn xuất bởi chính cái chú đạo diễn  “tình cờ phát hiện” ra cô –  ắt trên xa lộ không đèn hay trong quán nước đèn không hắt bóng.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (6)

Diễn viên Chi Bảo trong một phim cổ trang trên đài SCTV7 với các “quan” mặc áo mão cân đai cực kỳ kỳ quái. Nếu là diễn viên “có giá” thực và có kiến thức thật, lẽ ra Chi Bảo đã từ chối tham gia đóng phim đó khi thấy trang phục quái gở và đạo cụ kém xa các “quan” Hàn Quốc mặc áo mão cân đai lịch sự theo từng đẳng cấp như trong phim “Nữ Hoàng Sơn Đốc” trên đài VTV1. Lẽ nào những người như Chi Bảo lại có cái tâm hết lòng vì sự nghiệp điện ảnh, thiết tha muốn phục vụ nhân dân đến độ hy sinh danh dự cá nhân cho những bộ phim ngoại hạng như thế?

Học vấn thực thụ không là thứ học vấn được chứng minh qua bằng cấp cao mà là loại học vấn hoàn thiện tư cách cao trọng của đạo đức con người trong chức nghiệp của mình, bất kể cái chức nghiệp ấy có dính dáng đến chuyên môn đã được đào tạo hay không.

Một đạo diễn già Việt Nam khi nằm dài trên một ghế bố gỗ gần ghế của tôi cạnh hồ bơi trong một khu resort nước ngoài ở Long Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu, khi tôi đến dự sinh hoạt một câu lạc bộ dành cho các CEO năm 2009, đã dường như bị say rượu hay bị cái ngoại hình giống … Cha Xứ của tôi (như rất nhiều nữ sinh viên, nữ nhân viên của tôi, và phụ nữ khác hay gọi tôi như thế) nên trong lúc yếu lòng đã tự động thú nhận với tôi – dù tôi không thích mở miệng chuyện trò với người tôi không quen thân – rằng ông đã phạm tội rất nặng do trong nhiều chục năm qua đã bắt rất nhiều cô gái Việt Nam, chưa chồng hoặc có chồng, ngủ với ông để ông cho họ một vai diễn trong những phim ông thực hiện, mà theo ông khoe thì ông “rất sướng anh Phước ơi, mỗi tối tui hưởng một con khác nhau, con nào tui chơi xong mới biết nó loại còn gin là tui giam nó ở hotel mấy ngày chơi cho thiệt đã mới cho nó về với má nó”, rằng hình như quả báo đã tìm đến cuộc đời ông thật dồn dập khi ông giờ đây cô quạnh tuổi già, vợ đã ôm tài sản bỏ theo trai, còn các con ông đều nối nhau bỏ ông về trước với tổ tiên; rằng ông đến resort nghỉ ngơi miễn phí kỳ này do nhiều tay doanh chủ CEO đã từng được ông “sang tay hàng độc trong làng giải trí mà ông đã kiểm tra chất lượng xong” cho họ; rằng vân vân và vân vân. Chuyện ông kể có chi là mới lạ, đã vậy tên ông thuộc phường đạo diễn quèn nào đó lạ hoắc nên tôi chẳng mấy quan tâm, vất luôn tấm danh thiếp ông trao và chẳng cần nhớ lời ông tha thiết muốn gặp tôi khi về đến Sài Gòn (để ăn nhậu bằng tiền của tôi), và khinh bỉ bỏ về Thành phố Hồ Chí Minh ngay tối hôm đó trên một chiếc Mercedes màu cà phê sữa do một CEO thuộc nhóm đàn em tự nguyện của tôi bảo tài xế đưa về; nhưng dường như gương mặt Cha Xứ của tôi làm ông tin rằng ông đã được lắng nghe khiến ông vơi bớt tội tình nên lúc ông ngủ dưới ánh nắng gắt xứ miền của biển, tôi thấy gương mặt ông giãn ra, không còn cái cười đểu cáng.

Học vấn thực thụ của người làm phim và học vấn người đóng phim quả không thể không là nguyên nhân của chất lượng tồi tệ của điện ảnh Việt Nam.

4- Học Vấn Những Người Viết Phim

Nội dung này lẽ ra không cần nói đến ở đây vì qua đa số các “tác phẩm truyện phim điện ảnh” của họ, khán giả có thể biết ngay trình độ học vấn của người viết phim đang ở trên hay dưới thang bậc cụ thể nào.

5- Bầu Sữa Bao Dung Vung Vãi Của Nhà Nước

Tương tự, vì kiểu cách duy ý chí, muốn “người có gì, ta có nấy”, nhà nước đã dưỡng nuôi các xí nghiệp phim truyện suốt từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI để có một số phim nhựa cất vào kho, một ít gửi đi tranh giải quốc tế, đem về dăm ba giải thưởng gì gì ấy, còn toàn bộ nhu cầu giải trí hàng ngày của toàn dân thì chính thức – tuy chưa bao giờ tuyên bố bằng văn bản – giao phó trách nhiệm hoàn toàn cho Hàn/Mỹ/Thái/Ấn/Đài/Tàu.

D) Những Điều Việt Nam Có Thể Làm Để Có Một Nền Điện Ảnh Mạnh

1- Học: Tư Cách

Người ta có thể hiểu vì sao văn hóa Hàn Quốc qua điện ảnh đã dậy sóng vỗ khắp bốn bể năm châu, đến độ phim kiếm hiệp Hàn Quốc vượt xa phim kiếm hiệp Tàu-Hồng-Đài (Tàu, Hong Kong, Đài Loan) ở kỹ thuật, cốt truyện, diễn viên; những bộ phim dài nhiều tập thể loại kinh dị đầy tính nhân văn sâu sắc như trên đài KBS hạ bệ toàn bộ phim kinh dị Thái hay Nhật dưới bùn nhơ; phim hành động phản gián dài nhiều tập như Iris hạ bệ Mission Impossible một tập; phim xã hội dài nhiều tập biến phim cùng thể loại của Tàu/Đài/Ấn/Thái trở nên thấp kém tức cười; và phim cổ trang cuốn hút dân Hàn và dân bất kỳ quốc gia nào khác chí ít là ở khu vực Nam Mỹ. Đó là do tư cách tất cả những người tham gia mảng điện ảnh loại “chiếm lĩnh năm châu”, “xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia”, và “chinh phục nhân loại”, tức những chủng loài hoàn toàn vắng mặt trong nội tình kỹ nghệ cũng như năng lực điện ảnh Việt Nam.

Chỉ cần xem chuyên mục giới thiệu những tiểu phẩm 15 phút của dân amateur (không chuyên) trên đài Arirang, do những diễn viên tự phát, những đạo diễn tự phong, những người quay phim tự tiện, theo cốt truyện của những người viết kịch bản tự lo thực hiện – mà tất cả nhiều trăm nhiều ngàn những con người tự tùm lum ấy sau đó không bao giờ thấy xuất hiện chen được chân vào giới điện ảnh chuyên nghiệp – người ta choáng ngợp ngay lập tức trước những điều vĩ đại của các tiểu phẩm amateur ấy: ngôn ngữ điện ảnh bậc thầy (tức lời thoại cực ít, hoặc không có bất kỳ lời thoại nào), diễn xuất bậc thầy (không thể phân biệt giữa họ với các diễn viên lừng danh vì họ khóc thật và làm khán giả khóc thật), cốt truyện bậc thầy (chuyên nghiệp: thắt nút, cao trào, gỡ rối); chuyên nghiệp bậc thầy (toàn bộ câu truyện điện ảnh xúc tích dù chỉ trong thời gian mươi mười nhăm phút), vì tất cả đều trên một nền chung của sự nghiêm túc, chững chạc, thâm thúy, và không cớt nhã. Dân amateur mà như thế, thảo nào dân điện ảnh chuyên nghiệp tạo nên được Làn Sóng Hàn lan tỏa toàn thế giới! Trong khi đó, ở Việt Nam gần như tất cả các tiểu phẩm đều có nội dung cớt nhã, lời thoại ồn ào vô nghĩa, bộ tịch diễn xuất không nghiêm túc, và cốt truyện rẻ tiền, như chùm phim Bộ Tứ 10A8, đặc biệt nghiêm trọng khi đây không phải là đẳng cấp phim tiểu phẩm Hàn Quốc (đầy văn hóa, phi thương mại, bơ vơ chẳng ai đỡ đầu, thực hiện thuần túy do lòng yêu điện ảnh và khả năng thiên phú) mà là phim tiểu phẩm Việt loại thương mại có tài trợ đỡ đầu, do công ty nào đó bỏ tiền thực hiện, có trang web riêng để lăng-xê, nhưng thiếu văn hóa, và dư thừa cớt nhã.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (5)

Điều những người tham gia điện ảnh cần phải học đầu tiên là: học sự nghiêm túc, tác phong nghiêm túc, lời nói nghiêm túc, thể hiện nghiêm túc. Rowan Atkinson là đứa con được cha mẹ dạy dỗ nghiêm túc, là học sinh nghiêm túc, là sinh viên kịch nghệ nghiêm túc, và trở thành diễn viên điện ảnh vang danh hoàn vũ không những trong các phim hài Mr Bean mà còn trong các phim nhựa tầm cỡ khác. Rowan Atkinson nếu là đứa con cớt nhã lúc chập chững biết đi, cớt nhã quàng xiêng suốt các năm tiểu học và trung học, thì không bao giờ là sinh viên kịch nghệ, không bao giờ là danh hài, không bao giờ là diễn viên điện ảnh, mà chỉ có thể là một tên tội phạm quấy rối tình dục mà thôi.

2- Học Nữa: Nhất Nghệ Tinh

Đặc điểm của người Việt là thích chêm tục ngữ hay thành ngữ vào lời nói của mình nhưng không ai thực sự hiểu các câu ấy cũng như muốn mình sống theo các lời nói ấy; chẳng khác gì mọi người từ bậc chính nhân quân tử đến kẻ tiểu nhân thất phu, từ người dân đến các vị chánh án, đều cảm kích khâm phục Bao Công khi đọc truyện Kỳ Án, nhưng không bất kỳ ai – kể cả các vị quan tòa – noi gương Bao Công trong cuộc sống thật.

Nhất Nghệ Tinh, Nhất Thân Vinh là một câu đúng nhất chứng minh giới điện ảnh Việt Nam – qua các tác phẩm điện ảnh của họ – đã chưa hiểu và sống theo sự hiểu ý nghĩa của câu này. Đơn cử phim truyện truyền hình Cảnh Sát Hình Sự như một thí dụ điển hình, người ta dễ dàng nhận thấy “nghề” của người làm phim đã không một chút nào “tinh”, nên chẳng làm lạ nếu “thân” của đơn vị bỏ tiền của ra dựng bộ phim nhiều tập ấy chẳng thể nào “vinh”, qua nhiều thô thiển sau:

a) Trên toàn thế giới tất cả các phim hành động, hình sự, phản gián, hay trinh thám đều có nhạc chủ đề (theme music hay theme song) cực kỳ sinh động, sôi động, sống động, chẳng hạn như theme music của Hawaii Five-O (và Hawaii Five-0), Mission Impossible, CSI, v.v. Phim Cảnh Sát Hình Sự của Việt Nam có một theme music quái gở khi đó là một bản tình ca trầm buồn (trầm uất và buồn ngủ). Vấn đề đã quá rõ: người làm phim không tinh thông nghề làm phim nên đã không biết yêu cầu vô cùng căn bản của âm nhạc đi theo phim; và cũng là do ở Việt Nam có rất nhiều người sử dụng nhạc cụ và viết ca khúc, nhưng không có ai chuyên nghiệp thuộc “nghề” viết nhạc cho phim.

b) Trên toàn thế giới tất cả các phim hành động, hình sự, phản gián, hay trinh thám, đều có nội dung dứt khoát, logic, và đúng môi trường hoàn cảnh của phim hành động, hình sự, phản gián, hay trinh thám, dù đó là phim nhựa Mission Impossible 180 phút chiếu rạp hay là phim truyền hình Mission Impossible dài nhiều trăm tập mỗi tập 45 phút. Trong khi đó, phim dài Cảnh Sát Hình Sự của Việt Nam tuy nêu danh có sự tư vấn của chuyên gia ở Bộ Công An và Cục An Ninh,vẫn phi hành động, phi hình sự, phi logic, phi hoàn cảnh, và phi l‎ý. Tên tội phạm được tô vẽ thành đứa con hiếu thảo. Tên tội phạm được tô vẽ thành một “đại ca” nhân nghĩa hơn cả bọn thảo khấu Lương Sơn Bạc. Tên tội phạm bị truy nã nhưng vẫn để hàm râu dị dạng xồm xoàm dưới cằm trong khi người gầy ốm và mặt xương xẩu, nghĩa là vừa trốn tránh vừa hét to cho mọi người biết rằng ta chính là hắn đây; ấy vậy mà công an các địa phương có y đi ngờ ngờ cực kỳ nổi bật ngoài đường vẫn bó tay không biết để mà đi thong thả đến bắt chứ không cần truy bắt gian nan. Còn khi tên tội phạm bị bao vây, phải tử thủ trong nhà, khiến công an thực hiện điều công an trên thế giới đều làm đó là mời mẹ y đến thuyết phục y ra đầu hàng, để rồi ngay sau đó công an Việt Nam lại thực hiện điều quái gở công an trên toàn thế giới không bao giờ làm là nắm tay kéo bà mẹ lại, rót vào tai bà mẹ ấy rằng “đừng đi mẹ ơi, vào đấy nguy hiểm lắm!” Vấn đề đã quá rõ: người làm phim không tinh thông nghề làm phim hình sự nên đã lẫn lộn thành nồi cám của phim tình cảm lâm ly bi đát (dùng theme music trầm buồn), trộn với phim kiếm hiệp (đại ca phạm tội nhưng là đấng anh hùng), phim giáo dục (đại ca phạm tội chỉ tại do hoàn cảnh chứ nhân chi sơ, tính bản thiện), phim tôn giáo (cả đại ca phạm tội và công an đều từ bi như Phật), và phim hài (đại ca có tiếng hiếu thảo, nhưng công an vẫn cản mẹ lại, không cho mẹ vào thuyết phục đầu thú dù đã cất công đi về tỉnh xa chở mẹ đến tận hiện trường, vì sợ đại ca làm thịt mẹ già chăng).

Phải Nhất Nghệ Tinh mới không có các điệp khúc hễ là tội phạm hay đĩ điếm thì tự động đều có hoàn cảnh đáng thương và toàn là người tốt, khiến phim phản nghệ thuật và phản giáo dục do gây lệch lạc nơi giới trẻ khi không còn đường ranh cực kỳ rõ nét giữa hai nẻo chánh tà.

Phải Nhất Nghệ Tinh mới không có các điệp khúc hễ làm phim thời mở cửa là phải có cảnh mở bung hay xé tung quần áo để làm tình hay hiếp dâm, phải ăn mặc giống diễn viên Hàn Quốc (nam mặc áo thun ba lỗ bên trong, ngoài mặc sơ mi không cài khuy), phải lái xe hơi hay nghèo lắm cũng phải ngồi trên xe tay ga, phải cõng bạn gái dù nam thanh niên người Việt còn khuya mới có sức cõng được bạn gái, phải lựa toàn cảnh nhà sang trọng, v.v.

Phải Nhất Nghệ Tinh mới không có các điệp khúc hễ làm phim cổ trang là không biết phải cho diễn viên ăn mặc quần áo ra sao.

3- Học Thêm Nữa: Chọn Thầy

Một điều kỳ quặc nơi một số đông người làm phim Việt là luôn nói ham học hỏi trong khi thích chê bai những ai giỏi hơn mình. Cụ thể: phim Hàn bị số đông người làm phim Việt mỉa mai là toàn bịnh ung thư, trong khi chính người mỉa mai mới đã phạm một điều cấm kỵ mang tính nhân văn và nhân đạo. Ung thư là những chứng bịnh quái ác khoa học hiện đại vẫn còn bó tay, cướp đi sinh mạng bao người, để bao tiếc thương, tang tóc cho người ở lại. Làm phim trên chủ đề ấy cũng là hành vi nhắc nhở cuộc sống con người mong manh, và hạnh phúc cũng mong manh với căn bịnh quái ác ấy, để thấy con người vẫn chưa tập trung toàn lực chữa trị hiệu quả, để con người nhận thức bao điều qu‎ý báu không được lơ là đối với người thân và hạnh phúc đang có. Thậm chí vấn đề ô nhiễm của môi trường tàn tạ còn có thể gây ra những chứng ung thư mà trước đây chưa hề có. Thay vì học hỏi cách khai thác đề tài của điện ảnh Hàn Quốc để được như họ trong chinh phục thế giới, người ta chê bai, dè bỉu, dựa vào hư cấu của phim xã hội Hàn để nói xạo rằng dân Hàn hay bị ung thư, mà không nghĩ rằng dân Hàn cũng có thể xỏ xiên phản công lại rằng họ dựa vào sự thật là người Việt đa số không đứng lâu được, chuyên ngồi khi dự tiệc buffet, chuyên ngồi bệt ở phi trường khi chờ đón người thân, chuyên dành chỗ ngồi ở mọi nơi, để nói đúng rằng dân Việt bị suy thận và yếu sinh lý.

Điện ảnh Việt Nam phải chọn đúng Thầy để học. Điện ảnh Mỹ là người Thầy quá vĩ đại để Việt Nam có thể học hỏi gì được. Điện ảnh Ấn Độ đã tắt ngúm hào quang. Điện ảnh Tàu chỉ giỏi lâu lâu có một phim nhựa đoạt giải linh tinh gì đó chứ phim toàn bọn cạo đầu gióc tóc ăn vận xấu xí không bằng sự trang nhã của cổ trang Hàn, kiếm hiệp phi logic thua kiếm hiệp Hàn, tình cảm xã hội không sâu sắc và kém giáo dục hơn phim Hàn, nên không đáng để Việt Nam phải học hỏi.

Hàn Quốc là một nước “tư bổn tự do”, nên phim của họ thượng vàng hạ cám, có cả phim đồi trụy dâm ô. Song, họ phân định rạch ròi giữa hai lĩnh vực: điện ảnh cho giải trí tự do nội địa, và điện ảnh cho việc xây dựng thương hiệu quốc gia văn hóa bên ngoài cương thổ quốc gia. Từng hãng phim, đạo diễn, diễn viên, biết họ phải làm gì cho mặt trận thứ hai này: các diễn viên “tài sắc vẹn toàn” giữ gìn không để có các scandal, trở thành đại sứ văn hóa, được yêu thích ở các nước; các nhà làm phim luôn đem yếu tố tự hào dân tộc thực thụ vào từng bộ phim qua sự trau chuốt ngôn từ, trau chuốt cốt truyện, trau chuốt từng cảnh trí, đặc biệt chiếm số lượng đông đảo người xem trên thế giới bằng cách không bao giờ có các cảnh trần truồng gợi dục khiêu dâm (các bậc cha mẹ các châu lục yên tâm chọn cho cả gia đình xem nên số lượng viewers gia tăng, đồng nghĩa với việc nhiều người biết về Hàn Quốc và văn hóa Hàn Quốc hơn, từ đó phát triển kinh tế Hàn Quốc mạnh hơn do hàng hóa Hàn Quốc được quan tâm hơn, số lượng du khách đến Hàn Quốc nhiều hơn), thậm chí họ còn cố tình quay những cảnh nhân vật trong phim tình cảm xã hội đầy ướt át của họ cứ hễ hôn nhau là phải trong dáng vẻ cực kỳ ngượng nghịu, chỉ chạm nhẹ môi, không đúng thực tế, khiến gây thích thú nơi viewers (trong khi phim Việt có nội dung hoàn toàn không giống thực ở bất kỳ điểm nào, nhưng diễn viên Việt hễ diễn cảnh hôn là phải mạnh mẽ khí thế hơn cả Tây cho…trung thực, sau đó còn khoe trên báo chí là bản thân đã hôn rất thật, thậm chí còn khoe rằng cảnh quay truồng là cảnh do chính mình đóng thật chứ không nhờ người đóng thế, ắt do người đóng thế có mông không thể to đẹp mịn quy mô bề ngang bề dày hoành tráng như mình).

Tóm lại, người Thầy cho điện ảnh Việt Nam là Hàn Quốc. Chưa học được tư cách vì danh dự quốc gia, vì tôn vinh văn hóa nước nhà như người Hàn thì điện ảnh Việt Nam chưa thể thành danh điện ảnh.

4- Học Mãi: Học Đúng

Điểm cuối cùng song không kém phần quan trọng là điện ảnh Việt Nam cần học đúng. Không thể có chuyện “đi tắt đón đầu” trong phát triển điện ảnh Việt Nam. Mọi cấp độ đều nhất thiết phải theo những giai đoạn bó buộc. Bỏ qua tất cả các trường lớp ở mẫu giáo, tiểu học, trung học, và cao học để lấy ngay bằng cấp tiến sĩ là chuyện khôi hài, vì rằng dù có thực tài đạt được tiến sĩ thì đó vẫn là một người unfinished do thiếu kiến thức chung, kiến thức văn hóa, kiến thức ứng xử, kiến thức đời sống và cả kiến thức công dân. Tương tự, một bộ phim đoạt một giải thưởng lớn không có nghĩa đất nước ấy có nền điện ảnh lớn.  Học đúng trong trường hợp này có nghĩa là:

a) Đầu tiên phải học như học ngôn ngữ: đạt trình độ ngắn gọn và súc tích. Điện ảnh Việt Nam cần phải tập trung xây dựng cho bằng được ngành kỹ nghệ mà cho đến tận ngày nay vẫn hoàn toàn vắng bóng tại Việt Nam: phim truyện truyền hình kiểu series, nghĩa là như Hawaii Five-0, như Bonanza, như Mos Squad, như The Wild Wide West, như CSI-Miami, như CSI-New York, như CSI-Las Vegas, như bất kỳ phim truyền hình nào trên thế giới văn minh từ thập niên 50 của thế kỷ trước đến nay;  nghĩa là theo kiểu “một phim truyện có hàng trăm tập, mỗi tập là một truyện hoàn chỉnh từ đầu đến kết thúc trong thời gian chính xác 45 phút cho mỗi tập”. Chỉ khi đạt trình độ viết văn ngắn gọn súc tích, người ta mới hoặc tiếp tục ngắn gọn súc tích hoặc tràng giang đại hải vì lúc đó cả hai đều ở đẳng cấp viết văn cao nhất. Chỉ khi đạt trình độ làm phim truyện truyền hình series (ngắn gọn súc tích), người ta mới hoặc tiếp tục ngắn gọn súc tích (tiếp tục làm phim series) hoặc tràng giang đại hải (chuyển sang hoặc phim nhựa 180 phút, hoặc phim truyền hình dài/phim bộ) vì lúc đó cả hai đều ở đẳng cấp làm phim cao nhất.

b) Điều tiếp theo là làm phim như vẽ một bức tranh hoàn chỉnh: không ai vẽ chỉ ¼ khổ giấy trắng và bỏ trống ¾ còn lại. Phim phải có âm nhạc riêng: một bức tranh không được tạo nên bằng cách cạo lớp sơn trên tranh khác để rắc lên tranh mình. Phim phải có âm nhạc phù hợp: một bức tranh tuyết giá vùng Siberia khắc nghiệt không được vẽ nên với hoa hướng dương vàng chóe và hoa tuy-líp đỏ rực đến tận chân trời, với tiếng vịt kêu cạp cạp, tiếng ễnh ương kêu oàm oạp, và tiếng hò dô ta kéo lưới của dân chài Việt Nam. Và phim phải có mọi thứ phù hợp với nội dung truyện phim, kể cả con người cùng mọi thứ dính đến con người đó.

c) Điểm thứ ba là không có một công thức cho điện ảnh, dù cho tất cả đều là điện ảnh. Những công thức số học hay đại số, những vấn đề lượng giác hay những ký hiệu tân toán học, những phức tạp của hình học phẳng hay hình học không gian không dùng lẫn với nhau dù chúng đều là toán học. Hàn Quốc đã cho thế giới điện ảnh một bài học tuyệt mỹ: không phải lúc nào cũng phải có chính diện và phản diện, như bức tranh buộc có sắc màu tối sáng, vì rằng bức tranh đẹp có thể chỉ qua nét vẽ tài hoa của một họa sĩ hình thành kiệt tác chỉ với hai màu đồng sắc. Cụ thể: phim truyện nhựa The Classic của Hàn Quốc không có bất kỳ một vai phản diện nào, với câu truyện tuyệt đẹp, cảnh trí tuyệt đẹp, diễn viên tuyệt đẹp, âm nhạc tuyệt đẹp, thấm đầy đau thương, nghịch cảnh, oái oăm, và nước mắt, trở thành cuốn phim kiệt tác giới trẻ Việt Kiều tìm mua để xem suốt hơn một thập kỷ qua.

d) Điều thứ tư là các đạo diễn tương lai nên dành thật nhiều thời gian để xem phim “nhỏ” đại loại như CSI Hawaii Five-0 trên đài AXN để hiểu thế nào là một phim hình sự và thế nào là phim series Mỹ – tuy bây giờ mới xem vì chưa hiểu gì cả thì đã quá muộn rồi. Các vị cũng nên dành nhiều thời gian xem phim dài Hàn Quốc kiểu trường thiên tiểu thuyết trên đài KBS hay Arirang hay trên đa số các đài Việt Nam để hiểu thế nào là lèo lái thị hiếu theo cách văn hoa nhất, văn hóa nhất, và văn minh nhất hầu đạt lợi nhuận cao nhất và lợi ích quốc gia nhiều nhất, cũng như để phát hiện rằng các series phim truyền hình Mỹ và các phim trường thiên Hàn không bao giờ để nữ diễn viên của họ để lộ vú cả, nói chi đến chuyện động cỡn làm tình.

e) Điều cuối cùng là các đài truyền hình giải trí Việt Nam phải tự nâng cấp mình lên như các đài AXN, HBO, hay Star Movies, v.v., nghĩa là mỗi đài giải trí trở thành một thế lực điện ảnh riêng, góp phần vào việc phát triển nền điện ảnh chung của nước nhà. AXN xây dựng phim của riêng họ, game show của riêng họ, và họ làm giàu từ số lượng khán giả đông đúc đăng ký thuê bao cáp. AXN quảng cáo các phim của họ trên AXN, và dành cực kỳ ít thời gian cho quảng cáo của dăm ba công ty bên ngoài với điều kiện đó là những công ty có tài trợ cho các game show của chính AXN. Trong khi đó, nhiều chục đài truyền hình được thành lập ở Việt Nam chỉ để phát hình nhiều phim nước ngoài chất lượng “được” và vài phim Việt Nam chất lượng “không được”, dành trọn sóng phát để vô số công ty bên ngoài quảng cáo hàng hóa trong khi bản thân các đài không chịu trách nhiệm gì về chất lượng các hàng hóa rao bán ấy. Các đài truyền hình Việt Nam do đó đứng bên ngoài việc góp phần khuếch trương ngành điện ảnh Việt Nam.

Học đúng những điều trên, điện ảnh Việt Nam sẽ tự khẳng định mình, và nhà sản xuất phim không cần phải nhờ một ca sĩ xuất hiện nhảy múa cuối mỗi tập (dù chẳng đóng vai gì trong phim ấy) để hy vọng các fan ái mộ của ca sĩ ấy sẽ đón mua DVD hay đón xem đài Truyền Hình Vĩnh Long.

Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam (3)

5- Khán Giả Cũng Học: Sang Cả + Hà Khắc + Thị Uy

Điện ảnh nước nhà sẽ có cơ phát triển thật sự nếu như khán giả thật sự sang cả, vì chỉ có sang cả, khán giả mới hà khắc và thị uy quyền lực của mình trong việc buộc nhà làm phim và diễn viên phải đáp ứng yêu cầu thật cao của mình đối với các sản phẩm điện ảnh. Khán giả nuôi sống điện ảnh chứ không nhận của bố thí của điện ảnh; do đó, khán giả có uy quyền tuyệt đối để trừng trị những yếu kém của các công ty sản xuất phim mà những yếu kém ấy đồng nghĩa với sự vi phạm đạo đức kinh doanh khi xem thường những người nuôi sống mình.

Khán giả cần nhận thức rõ uy quyền của mình để biết cách thị uy. Càng sang cả, yêu cầu phải càng cao. Thể hiện sự hà khắc để tương thích với uy thế sang cả. Và thị uy là cung cách tưởng thưởng hay trừng phạt mà người nuôi sống điện ảnh dành cho người nhận sự nuôi sống đó.

E) Kết Luận: Hawaii Five-O và Hawaii Five-0

Hawaii Five-O và Hawaii Five-0 cho thấy giá trị vững bền của giá trị đích thực, cho dù khoảng cách là nửa thế kỷ. Điện ảnh Việt Nam đã sai lầm khi không đầu tư nghiêm túc vào phân khúc phim truyện truyền hình series, chỉ biết chú mục vào những phim truyện nhựa hữu danh vô thực. Điện ảnh Việt Nam chỉ còn con đường được lót bởi 5 điều nêu trên, đồng thời kiếm xem có gói “ba trong một” như đã nêu về Mỹ hay không, mới có thể trở thành sự tồn tại đúng nghĩa, hữu dụng, và sinh lợi trong vẻ vang.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Đức Ngài Jimmy SavilleNỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt  2013.

 

Hoàng Hữu Phước Và Tôn Giáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-10-2017

Dẫn Nhập

Có hai thứ tự do luôn gặp sự cố: tự do tư tưởngtự do ngôn luận hay biểu đạt.

Tự do tư tưởng luôn bị đa số nhân loại bỏ quên đến độ chẳng hề cổ súy, ít sử dụng đến độ bản thân mụ mị, thậm chí chưa từng nghĩ rằng đó là thứ tự do có thật để nói về nó, nhớ đến tên nó, hoặc chứng thực nó có thiệt. Tự do tư tưởng luôn là hành trạng tư duy vượt-ra-ngoài-chiếc-hộp của những triết nhân, những vĩ nhân, những trí nhân, và những đạt nhân. Karl Marx là con chiên ngoan đạo, không bao giờ vắng mặt tại những buổi lễ cầu kinh hàng tuần ở nhà thờ; và tự do tư tưởng đã giúp ông hình thành những đại tác phẩm của muôn đời mà thậm chí thiên hạ còn ngu muội đến độ cho rằng ông là kẻ vô thần phản Chúa. Tự do tư tưởng là quá trình tư duy hoặc trong khuôn khổ, hoặc vượt ngoài khuôn khổ, hoặc trộn lẫn các khuôn khổ, hoặc hủy phá biến tan khuôn khổ, hoặc không hề lọt thỏm trong khuôn khổ bất kỳ. Tư duy là suy nghĩ, nhưng suy nghĩ chẳng bao giờ được mặc định là cách gọi khác của tư duy. Tự do tư tưởng đã đem đến cho nhân loại những kiệt tác mỹ thuật, học thuật, khoa học, công nghệ, v.v.

Trong khi chẳng hiểu gì hoặc chẳng hiểu gì đúng về tự do tư tưởng, thiên hạ dù ở nước siêu cường hay lạc hậu lại tự cho rằng bản thân rất rành rọt về tự do ngôn luận hay biểu đạt để rồi hoặc ngây thơ hoặc giả dại hoặc ngu đần cho rằng đó là muốn nói gì thì cứ nói, muốn làm gì thì cứ làm. Chính vì vậy mà cái chất liệu luôn có trong tự do ngôn luận hay biểu đạt gồm những ngây thơ/giả dại/ngu đần ấy đã đem đến xã hội loài người những xáo loạn, những xảo biện, những xạc xào nhớn nhác của những gói phạm trù như “phạm thánh”, phạm luật, và phạm tội. Kẻ ngu tự tiện vác “Thánh Kỳ Vatican” để xuống đường gây rối mà chẳng biết Thánh Kỳ không được phép lộ trần (xuất hiện nơi trần tục bên ngoài Nhà Thờ), và rằng Thánh Kỳ không thể tùy tiện tự chế lúc thì màu trắng nằm trên, lúc thì màu vàng nằm trên, lúc thì có thánh giá đỏ lòm ở giữa, cũng như không được phép tung phất Thánh Kỳ ngoài dọc đường gió bụi cứ như phất cờ trên sân bóng đá hay sân đua Formula One Thể Thức Một, cũng như không được cắm sau xe máy để “Thánh Kỳ” phần phật đập quấn ép vào đôi mông con chiên nữ ngồi sau. Bọn ác tu thì tự do ngôn luận hay biểu đạt bù lu bù loa về một Nhà Nước đàn áp tôn giáo. Còn kẻ ngu đồ thì tự do ngôn luận hay biểu đạt mồm loa mép dãi ra sức bóp miệng một cá nhân nào đó bằng băng keo in nhãn hiệu “phạm thánh”.

Trong khi đó, “tôn giáo” lại thuộc bảy kiểu hành xử văn hóa hoàn toàn độc lập với nhau gồm (a) các gia đình và các cá nhân văn hóa cao, tri thức cao, đều chủ động dạy dỗ con cái mình biết tôn trọng các tôn giáo khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, tín đồ khác nhau, cũng như sử dụng tự do ngôn luận về đề tài tôn giáo với đúng người nghe; (b) các gia đình và các cá nhân khôn ngoan đều chủ động dạy dỗ con cái mình không bao giờ được mở miệng thực thi tự do ngôn luận về đề tài tôn giáo; (c) các gia đình và các cá nhân khôn ngoan đều chủ động dạy dỗ con cái mình biết láu cá sử dụng tự do ngôn luận để bù lu bù loa tuyên bố bản thân bị đàn áp tôn giáo bởi chính phủ mình đang chống đối; (d) các tu sĩ hổ mang giỡ trò láu cá sử dụng tự do ngôn luận để bù lu bù loa tuyên bố bản thân bị đàn áp tôn giáo bởi chính phủ mình đang chống đối; (e) các chính phủ siêu cường tương tự Mỹ luôn có vũ khí luật pháp mạnh mẽ hiệu quả để bắt trói giải đi ngay các tu sĩ nào xuống đường biểu tình dám bất tuân yêu cầu giải tán của cảnh sát; (f) các chính phủ nhược tiểu thì với vũ khí luật pháp nhụt cùn luôn run rẩy như gà mắc tóc mỗi khi bị bọn tu sĩ biểu tình ra mặt chống đối; còn (g) bọn giáo gian hay dùng từ “phạm thánh” để chụp mũ người nào dám vạch trần cái sự giáo gian của mình.

Cũng vì quá run sợ trước chiêu trò chụp mũ “phạm thánh” của bọn giáo gian, tác giả bài viết này phải cẩn trọng tỉ tê dẫn nhập dài dòng như trên và tỉ tê thố lộ dòng dài như sau để được những người chống Cộng tức chống Việt và các tu sĩ cùng giáo dân cho phép sử dụng tự do ngôn luận hay biểu đạt mà họ cho là thứ mà Thượng Đế chỉ ban riêng cho họ mà thôi chứ không là thứ mà Hiến Pháp của cái Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này minh định như quyền công dân.

Thố Lộ

Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao lùn tức dwarf star nên ánh sáng lu mờ khiến mắt thì cận thị nặng, thân thì chịu lắm gian truân đi đến đâu là bị “đì” tức “đè đầu cưỡi cổ” cho lùn thêm đến đó dù đi lạc vô chốn môi trường giáo dục nước nhà đầy nhóc viên phấn vàng hay chúi nhũi vô cơ quan nhà nước đầy các quan đại tài cử đỉnh bạt sơn tức bưng đỉnh vàng về biệt phủ và làm sụt lún sạt lùn hết mấy núi non vàng.

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi, Má tôi theo chồng lên Sài Gòn lúc nhúc sậy lau lập nghiệp. Một hôm Ba tôi từ cơ quan là Công ty Moistessieurs của Pháp Lang Sa đạp xe về đến nhà định bước tới ôm chầm người vợ đang bụng mang dạ chửa thì không ngờ người vợ ấy cũng đang dấn thân bước đến ôm chồng theo kiểu Tây không ngờ trượt chân vì sân xi măng ướt ẩm do nước giặt gyạ (chứ chẳng phải triều cường Nguyễn Hữu Cảnh bị máy bơm khủng ngắc ngứ gây ngập lụt). Ba tôi lập tức kêu phu xe kéo đẩy đưa Má tôi đến bảo sanh viện gần đó của người Pháp (hình như là nơi sau này là bảo sanh mang tên Hồng Đức trên đường Cao Thắng, Quận 3) cấp cứu. Thấy sản phụ máu me đầy người, vị bác sĩ Pháp vội xua tay đuổi ra vì không muốn bịnh viện ô danh. Lập tức phu xe đẩy má tôi đi chéo sang bên kia đường đến nhà bảo sanh “thí” dành cho phụ nữ nghèo hoặc phụ nữ không chồng mà chửa (nay là Bịnh Viện Phụ Sản Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh) là nơi duy nhất nhận mọi trường hợp hoặc cấp cứu hoặc thầy chạy.

Screen Shot 10-23-17 at 10.12 PM

Khi nghe xướng tên mẹ tròn như bánh dầy con vuông như bánh chưng, Ba tôi mừng rỡ chạy vào ngắm đứa đứa con trai đầu lòng vàng ngọc, nhưng lại lật bật quay ra ngồi bệt xuống hành lang mà khóc, trách trời xanh sao nỡ hẹp dạ thế kia. Đứa con trai vàng ngọc ấy do từ sự sảy thai của mẹ, chưa đầy 7 tháng tuổi đã buộc ra đời, nên hình dong một dúm, đầu nhỏ như trái chanh thuần Việt, da nhăn nheo mỏng dính như màng trong suốt gói thức ăn cất tủ lạnh nên ai cũng nhìn thấy cả phèo phổi ruột gan đỏ đỏ đen đen. Đặc biệt phản khoa học do không mở mắt chào đời và không hề khóc để thở sau khi lọt lòng mẹ. Cái duy nhất cản ngăn cô y tá không lấy giấy báo gói đứa hài nhi ấy lại để xếp gọn vào thùng gỗ chung với mấy gói khác đem đến kho thiêu hủy chung là vì qua làn da mỏng manh ấy cô thấy một trái sê-ri đỏ hỏn vẫn đang khoan thai lâu lâu nhúc nhích bơm đập một lần. Từ mép thùng chung chạ, đứa hài nhi ấy được đặt riêng vào chiếc lồng ấp duy nhất của Từ Dũ để tiếp tục tự nhúc nhích tìm sự sống. Nhờ vậy mà từ cái tên đặt sẵn từ trước là Hoàng Ngọc Ẩn thật anh hùng hảo sảng phỏng theo nhân vật trừ gian diệt bạo trong tiểu thuyết Châu Về Hợp Phố của Phú Đức, Ba tôi đổi tên thằng nhóc đó thành Hoàng Hữu Phước.

Nghe tin tai nạn, Bà Ngoại tôi từ Trà Ôn đi ghe lên Sài Gòn ngay để chăm sóc mẹ tôi và tôi khi Từ Dũ bảo Ba tôi là không thể để Má tôi nằm hoài ở đó chiếm chỗ người nghèo. Bà Ngoại ngày đêm châu rơi lả tả, cầu khấn Phật Bà Quan Âm cứu nhân độ thế phù hộ cho mẹ tôi và tôi được nạn khỏi tai qua.

Thủa ấy, khu Bàn Cờ chưa định hình, nhà cửa lác đác thớt thưa. Có một nữ tu viện Công Giáo gần đấy và là dãy nhà gỗ duy nhất cao một tầng, sơn màu xanh lá cây, không có bảng ghi tên gì cả. Biết tin Má tôi được đưa về nhà, hai nữ tu (gọi là hai bà “sơ”) đến thăm với nghĩa hàng xóm láng giềng. Các “sơ” nói với Ba Má tôi rằng Má tôi vẫn đang ốm nặng, mà cứ nhìn thấy tôi trong tình trạng dật dờ như thế càng thêm rầu buồn đau khổ càng có hại cho sức khỏe, nên xin gia đình hãy cho các “sơ” đem tôi về tu viện để chăm nom hộ, để – theo lời “sơ’ mà Má tôi vẫn còn nhớ rõ – nếu như đứa bé không được sống làm con của ông bà thì hãy để cho nó được ra đi dưới mái nhà của Chúa. Thế là đã có một điều bí mật cho đến tận ngày nay: không rõ các nữ tu đã cho tôi bú gì, uống gì, chăm sóc ra sao, nguyện cầu những gì với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mà nhiều tháng sau, lúc tôi được các “sơ” bế về giao lại, thì tôi đã có đà theo đó mà nhảy vọt để rồi một lèo tiến nhanh tiến mạnh trở thành người cao nhất nhà (1m70), đầu to nhất nhà (Ba tôi mà tự một mình đi mua nón cho tôi là chẳng bao giờ tôi đội vừa), dũng cảm nhất nhà, hùng hục nhất nhà, và …nặng cân nhất nhà (lúc “hoàng kim” nặng 84kg trừ bì, lúc “suy thoái” thì 70kg chưa trừ bì).

Thời gian căng thẳng đầy nhang khói nguyện cầu Phật Bà Quan Âm Cứu Khổ Cứu Nạn của Bà Ngoại tôi và lời cầu nguyện Đức Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp của các “sơ” đã hình thành nơi Ba Má tôi sự thờ kính hết lòng dành cho Phật Bà Quan Âm và Đức Mẹ Maria, khiến Ba Má tôi từ thuần thờ tổ tiên và thiên về Phật Giáo đã có cái nhìn rộng mở cõi lòng đối với các tôn giáo khác, đặc biệt là Đạo Chúa.

Thế là khi Chị Hai của tôi và tôi lên trung học, Ba Má cho chúng tôi học ở trường Nguyễn Bá Tòng (nay là trường Bùi Thị Xuân, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) của Công Giáo để con cái được tốt hơn dưới ngọn roi của các hiệp sĩ áo đen. Tôi học giáo lý rất chăm (vì thích xem phim về Chúa) nên các Lớp 6 tức Đệ Thất dự học Thánh Kinh Cựu Ước, Đệ Lục tức lớp 7 dự học Thánh Kinh Tân Ước, Đệ Ngũ tức lớp 8 dự học lớp Phụng Sự, Đệ Tứ tức lớp 9 dự học lớp Đức Tin, thì lớp nào chị em tôi cũng đoạt Bằng Giáo Lý Toàn Niên Hạng Nhất được giảm 50% học phí niên học sau, kèm với lớp nào chị em tôi cũng có Bằng Danh Dự Toàn Niên Hạng Ưu được giảm 50% học phí khóa sau, nên năm học nào chúng tôi cũng được học miễn phí 100%, trừ tháng đầu tiên phải đóng đủ vì trường chưa kêu nộp bản sao hai “bằng” ấy để bắt đầu “hưởng chế độ”.

Một hôm, Chị Hai tôi lúc lên lớp 10 tức lớp Đệ Tam về thỏ thẻ xin Ba Má tôi cho vô đạo. Thế là Má tôi nói “ừ, đạo nào cũng là đạo tốt” rồi cầm chổi lông gà, leo lên ghế quét bụi đầu tủ quần áo vốn là nơi cao nhất làm bàn để thờ chư Phật. Khi Chị Hai tôi đem về tượng Chúa Jesus, Má tôi đặt tượng Chúa giữa tượng Phật Thích Ca ngồi và tượng Phật Bà Quan Âm đứng. Má chỉ nói: “Chúa của mầy đứng giang tay choáng chỗ quá! Tay phải gác lên đầu Phật Ông, tay trái quạt vô ngực Phật Bà!” Và trong nhiều chục năm, hàng đêm hoặc Má tôi hoặc Ba tôi thắp nhang cho Phật, Chúa, và ông bà tiên tổ, để rồi hơn chục năm sau Chị Hai khoe….Tòa Thánh Vatican cho phép tín đồ được đốt nhang cho Chúa. Rốt cuộc, nhà tôi có Chị Hai và một em gái trở thành tín đồ Đạo Chúa: một Công Giáo, một Tin Lành, một chủ động xin theo đạo, một theo đạo chồng. Còn tôi học xong các lớp về “đạo”, luôn là ngôi sao mà các linh mục vừa quất roi vun vút vào mặt những nam sinh có đạo nhưng bê bối ít điểm môn Giáo Lý, vừa nêu tên tôi ngoại đạo nhưng trở thành tấm gương, thế nhưng tôi vẫn duy trì “thờ tổ tiên” chứ dứt khoát không vào “đạo” dù đó là Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, hay Hồi Giáo. (Ba Má tôi có tự đến Chùa Phước Trường ở khu Bàn Cờ để tự xin cho tôi quy y Tam Bảo, mang pháp danh An Thiện mà tôi chẳng bao giờ dùng làm bút hiệu; còn nữ tu viện Công Giáo đã nói ở trên thì bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Ngô Đình Diệm lấy giao cho trường Phan Đình Phùng lập thành khu phụ bên cánh trái cách khu trường chính bằng một ngõ hẻm, nay được xây khang trang và vẫn là một cánh của trường Phan Đình Phùng ngày nay).

Lý do tôi không vào “đạo” vì tôi nhận ra những điều trái với đạo đức thuần Việt không thể chấp nhận được trong Kinh Thánh. Và đó là “tự do tư tưởng” của tôi. Chưa từng có bất kỳ ai nghe tôi lạm dụng “tự do ngôn luận và biểu đạt” để bô bô cái miệng nói ra chi tiết những “tự do tư tưởng” chõi lại Kinh Thánh ấy. Tôi chỉ biểu hiện lồ lộ ra ngoài một thứ thiên vị mà ai cũng dễ dàng nhận thấy: tôi chỉ thân tri kỷ với mỗi một anh bạn ở đại học rất lương thiện là người Công Giáo mà vợ chồng tôi đều thân quen còn vợ chồng anh ây tỏ bày muốn được kết thông gia chỉ với tôi người ngoại đạo, tình yêu đầu đời còn gắn bó duy nhất trong tâm tưởng tôi là cô bạn học người Công Giáo thánh thiện thơ ngây trong sáng trường Nguyễn Bá Tòng, và tôi dành sự thương yêu chăm sóc nhiều hơn cho đứa em gái Thứ Sáu cùng Chị Hai của tôi đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Khi làm Giám Đốc Nhân Sự một công ty Bắc Mỹ có 500 nhân viên và 7.000 đại lý, có lần tôi được cô trợ lý báo cáo rằng có một nữ đại lý chờ gặp tôi cả buổi sáng không gặp được do tôi đi thị sát Văn Phòng Đồng Nai đến chiều mới về nên đã để lại tờ giấy ghi như sau: “Thầy ơi, cứu em với Thầy. Em là……., tổ trưởng đại lý số ….số phone……Một khách hàng của em là nữ tu …… ở Nhà Thờ ….. Nữ tu ấy muốn bỏ đạo vì có những khúc mắc không hiểu được khi đọc Kinh Thánh, mà hỏi các Cha thì ai cũng mắng sơ ấy là không có đức tin, là quỷ ám, v.v. Thầy chịu nói chuyện với sơ ấy nhe Thầy, để giúp sơ hiểu. Chứ em có đạo mà trong đạo không có ai giúp em được hết.” Tôi phone yêu cầu cô đại lý tín đồ Công Giáo ấy khẳng định cho tôi biết cô nữ tu Công Giáo kia thật lòng muốn bỏ đạo hay muốn ở lại với đạo, vì tùy vào mong muốn ấy mà tôi sẽ hùng biện để cô bỏ đạo trở về đời sống dân sự hoặc hùng biện để giải tỏa bất kỳ khúc mắc nào của cô khi đọc Kinh Thánh hay đối với các vấn nạn trong cuộc đời thực. Thế là hai hôm sau cô đại lý đưa cô nữ tu ấy đến gặp tôi tại phòng làm việc ở cơ quan. Sau khi giới thiệu xong, cô đại lý ra ngoài chờ đợi. Trong hai tiếng đồng hồ trò chuyện với cô nữ tu trẻ, gầy, thấp người, nói tiếng Miền Nam, bẻn lẻn như xấu hổ về cái “thiếu đức tin” của mình trước một người ngoại đạo xa lạ mà cô buộc phải gặp do sự thuyết phục đầy chất quảng cáo ngợi ca của cô đại lý, tôi đã lần lượt giải thích cho cô mọi câu hỏi “tại sao” của cô, cũng như giải thích những tình tiết nào đó của Kinh Thánh, chỉnh lại các trả lời không logic của các “cha”, nêu vì sao các “cha” né tránh, giải đáp lý do có hành vi xấu hổ nào đó của linh mục “bề trên” của cô, hay những bất công của Giáo Hội đối với nữ tu mà cô bức xúc, cũng như câu hỏi cực kỳ tế nhị của cô  “em cứ bất mãn với hiện trạng của Nhà Thờ như vậy thì em có nên rời đi không Thầy?”, v.v.

Kết quả là sau đó cô đại lý cảm ơn tôi rối rít vì vị nữ tu tiếp tục toàn tâm hiến dâng cuộc đời vì Đạo Chúa.

Còn khi tôi làm giáo viên Anh Văn ở Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, xã hội có xảy ra việc gây rối phản loạn phản động của một hay hai thằng linh mục nào đó muốn lật đổ chế độ. Thế là lãnh đạo Khoa Ngoại Ngữ vốn toàn là “trí thức chế độ cũ học ở Mỹ” đã nhanh nhảu lập đại công bằng cách đình chỉ giảng dạy giáo viên Anh Văn Nguyễn Thi Vinh vì cô là tín đồ Công Giáo. Cô Vinh đã tìm gặp tôi ở sân trường vào giờ giải lao để…khóc. Cô khóc vì cô sợ. Cô khóc vì cô đơn. Cô cô đơn vì là một phụ nữ đơn thân đi dạy học nuôi một đàn cháu là con cái của các em, cô lại sắp nghỉ hưu đang không biết phải sở xoay ra sao cho cuộc sống một đại gia đình đang nương náu cùng cô tại căn nhà mặt tiền đường Trần Bình Trọng ở Quận 5. Cô cô đơn vì mọi giáo viên đồng nghiệp với cô học chung ở Mỹ về dạy từ trước giải phóng nay lại hèn hạ xa lánh cô như thể cô là thứ dịch bệnh mà họ không muốn bị vạ lây. Cô cô đơn vì mọi giáo viên đồng nghiệp trẻ mới về trường đã biết khôn ngoan nịnh bợ lãnh đạo để xa lánh dè bỉu cô dù khi họ mới về thì cô đã là người dẫn dắt để họ thử việc thành công trở thành giáo viên biên chế chính thức. Thế là tôi an ủi cô rồi về nhà cặm cụi viết thư tay gởi khắp nơi, van xin Nhà Nước hãy có các chính sách tôn giáo phù hợp vì tội ai người đó chịu chứ đừng quy chụp một tôn giáo nào là đối nghịch với chế độ, vì chỉ có tu sĩ gian manh khốn nạn mới chống đối chế độ dựa trên những xảo trá không bao giờ có ghi trong Thánh Kinh hay kinh kệ. May mà trong số các cơ quan tôi gởi thư đến, thì Báo Sài Gòn Giải Phóng có thư viết tay phúc đáp ký ngày 26-11-1988 mà tôi đưa ảnh chụp minh họa trong bài Báo Sài Gòn Giải Phóng nên tôi mới có bằng chứng để không bị những người chuyên bôi nhọ tôi cho rằng tôi đã “tưởng tượng” ra những cảnh hào hùng nghĩa hiệp bất chấp mọi thứ để cứu người. Báo Sài Gòn Giải Phóng hứa sẽ chuyển thư của tôi đến những lãnh đạo có trách nhiệm như Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Nước Nguyễn Hữu Thọ, và Ban Tôn Giáo Trung Ương để xem xét. Và trước khi Cô Vinh được dạy trở lại cũng như các chủng viện được phép tiếp tục đào tạo linh mục, thì tôi đã tự nhiên bị Khoa Ngoại Ngữ “hạ tầng công tác” bắt làm tạp vụ quét dọn và…trừ mối phòng thính thị trước mắt hàng ngàn sinh viên của tôi, rồi khi sinh viên gởi thư đến các tòa soạn tôi được “đặc cách” cho bỏ cây chổi cùng nùi giẻ để cầm lại viên phấn dạy các môn…..Văn và Sử, đến độ tôi thấy mình tài hèn sức mọn sợ không dạy nổi do không tài nào viết được bài hay bằng bài “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” mà cũng không tài nào sủa ồn ào về “luật hóa mại dâm” to tiếng  bằng “nhà sử học”, tôi phải làm đơn xin thôi việc, giắt giò lên cổ mà chạy khỏi ngành giáo dục, đến độ không kịp kiếm Cô Vinh chào từ biệt, cứ thế mà cậu em nhà giáo “vô thần” Hoàng Hữu Phước rời xa bà chị nhà giáo Công Giáo Nguyễn Thị Vinh. May mà có cô giáo Phật Tử Vũ Thị Liên thấy tôi bị “xử đẹp” như vậy cũng tức giận tức mình tức tốc giắt giò lên cổ chạy theo bén gót để trở thành Giám Đốc Tài Chính Tại Nhà kiêm Thủ Quỹ Tại Gia cho nhà giáo “vô thần” sinh thiếu tháng đầu lớn như trái chanh thuần Việt ấy.

Bài viết này đặc biệt ở chỗ toàn bộ 3.906 chữ ở trên chỉ là phần nhập đề cho phần thân bài kiêm kết luận võn vẹn 2 đoạn có 90 chữ như sau:

Thân Bài Kiêm Kết Luận

1- Tu sĩ chỉ được “phục vụ lý tưởng chính trị” khi xếp áo tu anh dũng gia nhập quân đội kháng chiến của một nhà cách mạng để đánh giết quân xâm lược. Đây là điều duy nhất đúng. Bất kỳ sự nhúc nhích nào khác có mục đích chính trị đều là việc của bọn giáo gian hèn nhát.

2- Chỉ có kẻ ngu mới răm rắp nghe theo lời xách động của bọn tu sĩ bẩn thỉu mất dạy xuống đường gây rối chống đối chế độ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết được nhắc đến trong bài:

Báo Sài Gòn Giải Phóng  21-7-2013

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học  26-01-2014

Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Bôi Nhọ  02-12-2015

Đất nước mình ngộ quá phải không anh 29-5-2016

Tham khảo các bài viết về đề tài Tôn Giáo:

Pháp Luân Công  07-10-2015

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis  01-8-2017

Letter to His Holiness Pope Francis  01-8-2017

Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2017

(Bài đăng trên hoanghuuphuocvietnam.blog.com ngày 29-4-2012)

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-4-2012

Sẽ là điều bất thường nếu tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn lại chưa từng có quan hệ thân quen nào với các anh lính Việt Nam Cộng Hòa, nên nếu đã có bài viết về hai anh lính Cộng Sản tức “bộ đội” thì cũng nên có bài về các anh lính Cộng Hòa, vừa để nhớ những hồi ức về những con người thật việc thật vừa để ghi lại thời khắc lịch sử của những người mà việc kể ra ngày hôm nay sẽ có cơ hội kiểm chứng nhiều hơn do một số bậc bô lão ở khu phố Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn đang an hưởng cảnh thọ nhàn cùng con cháu.

1- Đại Tá Viên

Lúc làm “giáo sư” Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước (do tôi chỉ hơn sinh viên học trò tôi có hai tuổi, nên những học trò ấy gọi tôi là “giáo sư” và “giảng sư” do quen dùng từ ngữ những người dân Sài Gòn trước 1975 dùng để gọi các thầy cô dạy bậc trung học và đại học), tôi được Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật mời tham gia giảng dạy các lớp Trung cấp Anh văn buổi tối, với đa số học viên là “người lớn”, có vài người hơn tôi từ 10 đến 20 tuổi (trừ các học viên khác của tôi ở Trung Tâm Sinh Ngữ Số 1 thuộc Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh đa số là học sinh cấp 3, trong đó rất nhiều người đã thành đạt, như có những cô hiện nay là chức sắc tại các ngân hàng nhà nước, hay Hội Đồng Anh The British Council, v.v.), gồm những người sắp đoàn tụ với gia đình ở hải ngoại, kể cả các nhà sư. Có một học viên là nhà sư tu ở một chùa trên đường Phạm Thế Hiển, Quận 8 (lúc cả khu vực ấy còn toàn là ao rau muống chứ không phải phố thị sầm uất như hiện nay) đi bộ đến trường với chân trần không giày dép, khoác bộ y phục xám bạc thếch. Nhưng tên của nhà sư và tên ngôi chùa tôi quên mất, dù đã được mời đến ăn cơm chay dăm ba lần với các sư, biết các sư trước có “đi lính” Cộng Hòa, và xuất gia hoàn toàn không để… “trốn  lính” hay trốn… “cải tạo” vì giải ngũ xong là đi tu luôn trước ngày giải phóng ắt để xa rời những ám ảnh kinh hoàng của chiến trận; trong khi đó tôi lại còn nhớ như in tên và gương mặt của Đại tá Viên, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, nói giọng miền Nam.

Ông Viên học chăm chỉ nhưng nói tiếng Anh thì chưa như công sức đã bỏ ra. Một hôm Ông gặp tôi ở bãi giữ xe ở sân trường lúc 21g khi tan học để nói rằng vợ con Ông đã sang Mỹ một hai tuần trước ngày giải phóng, rằng Ông đã ra trại cải tạo được vài năm, rằng Ông đang chờ ngày sang Mỹ, rằng trong mấy năm trong “trại” Ông đã ở chung phòng với một linh mục, rằng linh mục này đã ở tù thời Tổng Thống Thiệu do hăng say chống Ông Thiệu tham nhũng, rằng linh mục ấy đã ở tù chung phòng với một nhà sư bị Ông Thiệu tống giam do phạm tội nuôi dấu “cán bộ Việt Cộng”, rằng vị sư thương Cộng đã dạy cho vị cha xứ ghét Thiệu các biến hóa diệu kỳ của thuật bói toán tử vi tướng số, rằng do vị cha xứ vừa tích cực chống Thiệu tham nhũng vừa có chức vụ “đại úy…tuyên úy” lo về “đạo” trong quân đội Cộng Hòa, thuộc Tâm Lý Chiến của Chiến Tranh Chính Trị tích cực … chống Cộng sau giải phóng nên được đưa vào trại cải tạo sau giải phóng, tình cờ ở chung phòng với Đại tá Viên; và rằng vị cha xứ Công Giáo đã truyền tiếp thuật bói toán tử vi và tướng số cho viên đại tá tín đồ Công Giáo. Nói tóm lại là Đại tá Viên nói xin được đến nhà tôi vào sáng Chủ Nhật để xem tử vi cho tôi, vì Ông cho rằng tôi là ông thầy giáo trẻ mà Ông rất kính trọng, rằng Ông đã “xem kỹ” cái “tướng và diện mạo” của tôi mấy tuần nay nên mong muốn xem luôn cái “số tử vi” cho đủ bộ, và rằng cái “sở học” lưu truyền từ vị sư nuôi dấu Việt Cộng sang vị linh mục chống Thiệu, rồi từ vị linh mục chống Cộng sang vị đại tá đã hết chống Cộng sẽ chỉ được Ông thi thố với tôi mà thôi do có lời dặn “thiên cơ bất khả lậu” mà Ông tuân theo do lời hứa chứ không phải do Ông tin vào cái lậu hay không lậu ấy. Tất nhiên, tôi đồng ý, một phần vì tò mò, một phần vì  tôi luôn giúp đỡ mọi học trò nên nếu Ông Viên muốn “thử nghiệm tay nghề” thì tôi cũng sẵn lòng giúp Ông thi thố.

Hôm Ông Viên đạp xe đến nhà tôi (lúc ấy tôi vẫn chưa lập gia đình), Ông vẫn như thường lệ: ăn vận chỉnh tề, áo sơ mi bỏ trong, đi giày săng-đan, xách cặp da màu nâu không còn mới. Ba Má tôi mời Ông cùng dùng bửa cơm trưa đạm bạc với gia đình. Sau đó, Ông hỏi tôi ngày sinh âm lịch (may mà Ba tôi có thói quen rất tốt là luôn giữ lại những tờ lịch đúng ngày sinh của các con mình để lưu trong hồ sơ cá nhân từng đứa, nên tôi mới cho Ông Viên xem, chứ thủa ấy làm gì có vi tính để gỏ vài cái là biết ngày âm lịch), giờ sinh, và Ông tỉ mĩ vẽ vẽ gạch gạch viết viết thành tờ có nhiều ô chữ nhật trước khi điền từ ngữ vào những chỗ trống. Ông giải thích tên các vì sao, ý nghĩa của các đường sao …xẹt, và nói rất nhiều điều mà tôi không sao nhớ hết được, ngoài nhiều tính từ quá đẹp đẽ của tiếng Việt mà một gentleman như Ông dùng để nói về tôi. Nhưng với Chị Hai và các em của tôi thì Ông chỉ xem tay và xem tướng chứ không xem tử vi, vì theo Ông, xem cho tôi là đủ biết cả gia đình phúc đức như thế nào rồi, vì trong tử vi có các cung cha mẹ và anh chị em. Tôi cố nhớ những lời Ông nói về tôi vì Ông nói rất nhiều, nhưng tôi lại dễ hiểu vô cùng khi Ông nói ngắn gọn súc tích rằng bà Chị Hai rụt rè, không lanh lợi, nhút nhát của tôi sẽ lấy chồng và xuất ngoại cùng chồng; rằng cô em út mới lên mười tuổi của tôi sẽ lấy chồng nước ngoài và xuất ngoại theo chồng; rằng tôi và em trai sẽ làm việc ở nước ngoài nhưng tôi đi ít hơn em tôi. Còn hai cô em khác của tôi vắng mặt ngày hôm ấy nên Ông không “xem” được. Vào thời điểm kinh tế khủng hoảng lạm phát đến ba chữ số, những lời của Ông giống như điều huyễn hoặc, thần kỳ, chỉ có tác dụng duy nhất như một định mức khuây khỏa cho những mơ mơ màng màng siêu thực.

Tôi dạy lớp Ông thêm hai khóa trước khi Ông đạp xe đên chào chia tay tôi lên đường sang Mỹ. Tôi không còn nhớ đến Ông cho đến Tết 2012 này khi em gái út của tôi từ New Zealand về và trong bữa cơm đoàn tụ nó nhắc đến Đại tá Viên, khen Ông nức nở, và nhắc luôn chuyện Chị Hai tôi đang là công dân Mỹ, cũng y như lời “coi bói” của viên đại tá. Tiếc là tôi không nhớ gì những phân tích của Ông về các vì sao và về tôi, ngoại trừ việc mà em gái tôi nhân tiện nhắc luôn là “Anh Năm đúng là đi nước ngoài liên tục, còn Anh Ba thì lâu lâu đi một lần”. Tôi là…Anh Ba trong gia đình gồm 7 chị em này.

Lúc đại tá Viên đi Mỹ, Ông khoảng 50 tuổi. Nay Ông ắt đã 80. Cho dù tin tức cuối cùng tôi biết từ Ông là dường như vợ Ông đã đi theo đường khác trong thời gian Ông còn học tập cải tạo ở Việt Nam, tôi vẫn tin và mong là Ông nhờ có tài bói toán để chiêm nghiệm các bể dâu của cuộc đời thiên hạ, và nhờ đó đã có cái nhìn triết nhân hơn đối với những bể dâu của chính cuộc đời mình. Nếu Ông còn sức khỏe để đọc được bài này, ắt Ông sẽ vui vì chị và các em gái của tôi nói Ông “coi bói đúng quá xá!” Tôi mong sao các anh chị là con của Đại tá Viên đọc bài này sẽ biết rằng viên sĩ quan Cộng Hòa dáng gầy quắc thước ấy đã rất yêu đời vì chiến tranh kết thúc, vì chương trình cải tạo rất thắm đượm tình người của những người chiến thắng, vì có sức khỏe tốt để lao động tốt được ra trại sớm hơn, và vì được cho phép sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông là một người học trò chăm chỉ, chiến đấu với bài học với tư thế một chiến binh, chuẩn bị chiếm lĩnh trận địa mới nơi đất nước mới mà Ông tin rằng bao thử thách gian lao sẽ đón chờ. Ông là khuôn mẫu một chiến binh thực thụ: có lý tưởng, và có công tâm, vì rằng nếu chỉ có lý tưởng, người ta không còn ranh giới ngăn cách với khủng bố cực đoan. Ông là khuôn mẫu một đấu sĩ chuyên nghiệp thực thụ trên võ đài: tung các chiêu đấm uy lực, áp dụng các tiểu xảo nếu qua mắt được trọng tài, nhưng khi kết thức trận đấu, chấp nhận nhìn giải vô địch được trao cho đối thủ thắng trận, và hài lòng với vị trí thực sự của mình, vì chỉ có kẻ lưu manh đánh nhau ở đầu đường xó chợ không phải là đấu sĩ chuyên nghiệp mới nuôi lòng hận thù đối thủ đã đoạt cúp.

2-  Các Chiến Sĩ Canh và Heo

Anh Canh thuộc gia đình người Bắc di cư, tên thật là Phạm Văn Canh, và các Anh Heo gồm Heo Lớn, Heo Bụng, Heo Đời, và nhiều Heo khác là các con trai của Bà Tám Cháo Vịt, người Nam Bộ. Tất cả đều ở ngõ hẽm đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đối diện với nhà Ba Má tôi. Hiện chỉ còn Anh Canh ở nơi chốn cũ. Anh Heo Bụng là sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa, người to vạm vở giống đô vật, tính tình nghiêm khắc, đã theo chiến hạm đang neo đậu ngoài khơi bỏ chạy sang Mỹ ngày giải phóng. Vài anh Heo khác sau đó được Anh Heo Bụng bảo lãnh sang Mỹ, chỉ có Anh Heo Lớn còn ở Việt Nam, hiện ở gần Cà Phê Cheo Leo sau lưng Nhà Hàng Sinh Đôi đường Lý Thái Tổ, và một Anh Heo mất hai chục năm trước vì đạp xích lô bị tai nạn giao thông. Bà Tám cũng có người cháu là Anh Thân, lính dù “thiên thần mũ đỏ” nhưng là… “lính kiểng” vì Bà Tám chạy lo tiền để Anh Thân cùng các Anh Heo khác khỏi ra mặt trận (chỉ có Anh Heo Bụng là lính thật), ở nhà mặc quân phục rằn ri và giày bốt…phụ Bà Tám nấu cháo lòng và đẩy xe cháo ra khu Lý Thái Tổ bán từ trưa đến tối.

Anh Canh là một người lính binh nhì của Quân Đội Cộng Hòa, hiền lành, ít nói, không phải ra chiến trận. Cha mẹ anh có quá nhiều con, nhà lại nghèo, nên sau giải phóng, khi Anh Canh lấy vợ người Đà Lạt, hai vợ chồng anh phải xin ở trú dưới mái hiên của ngôi nhà đối diện nhà Ba Má tôi. Vậy mà những tấm bìa cứng, những tấm tole cũ che chắn tạm bợ cho cái tổ ấm ấy đã là nơi nhiều chục năm qua vợ chồng anh sống hạnh phúc với một đàn con bụ bẫm, học hành giỏi giang, nhờ thu nhập từ chiếc xe bán bánh mì “thịt nai” dạo của anh. Những lúc cơ cực khó khăn, vợ anh qua gặp Má tôi, và nhiều năm nay Anh Canh trở thành người hàng xóm tốt bụng luôn bảo vệ gia đình tôi, chăm sóc Ba Má tôi khi Ba Má tôi đau ốm, và khi Ba tôi mất, Anh Canh ngày ngày trông chừng an ninh an toàn cho nhà Má tôi, không để bất kỳ kẻ gian người xấu nào động đến chúng tôi. Thỉnh thoảng Chị Canh về quê thăm mộ cha mẹ mà Má tôi đã trợ giúp quy kết xây dựng lại mộ phần, và khi trở vào hay tặng Má tôi các thứ cây nhà lá vườn như chuối Đà Lạt, bơ Đà Lạt, v.v. Các con anh lập gia đình và anh đã có cháu. Một cậu con của anh rất đẹp trai, thường xuất hiện trên TV trong những clip quảng cáo dầu gội đầu hay mỹ phẩm. Và đầu năm 2012 này vợ chồng anh dọn về ngôi nhà 4 hay 5 tầng gần đó, còn mái hiên mà Anh Chị cùng đàn con núp mưa mấy chục năm qua nay dùng làm tiệm sửa đồ điện tử cho một chàng con rể. Chúng tôi rủ nhau kiếm tìm đồ hư vật hỏng trong nhà để đưa đến sửa mở hàng giúp cậu con rể ấy, thay vì theo thói quen bấy lâu nay là tặng các món không dùng cho những người lấy rác hay những bà cụ mua ve chai. Còn anh thì sáng sớm nào cũng rảo bước tạt ngang nhà Má tôi để hỏi thăm sức khỏe của Má tôi và xung phong mua đất về bón cho các chậu cây của Má tôi ở trước sân và trên sân thượng.

Trước 1975, khu phố nhà Ba Má tôi là khu có dân “anh chị” tức … “dân dao búa” trú ngụ. Nhiều phen cảnh sát đô thành phải bủa vây, lùng sục, tấn công sâu vào ngõ, bắt trói thúc ké giải đi vài “anh chị” (tất nhiên, các “anh chị” này vài ngày sau tiếp tục đi qua đi lại trong xóm dạo chơi). Một đặc điểm rất hay của Sài Gòn thời trước 1975 là: ‘anh chị” ở đâu thì cứ “anh chị”, chứ đừng có mà giở thói “anh chị” ở tại xóm nhà. Vì vậy, gia đình Ba Má tôi vững như bàn thạch: được bảo vệ bởi các chiến sĩ Cộng Hòa và các…“anh chị”, đơn giản vì các chiến sĩ và các “anh chị” này có…cha mẹ, những người rất kính trọng gia đình học thức, luôn gọi Ba Má tôi là Thầy Hai, Cô Hai, và chúng tôi là con của Ba Má nên cũng được…ăn theo. Hiện chỉ còn Bà Năm Vé Số là còn mỗi sáng được con dâu đẩy xe ra ngồi phơi nắng ở đầu ngõ, còn Bà Tám Cháo Lòng đã mất hai mươi năm trước. Nếu các con của Bà Tám đều là quân nhân mà Bà gọi là Heo cho dễ nuôi theo dị đoan của dân Nam Bộ, thì các con của Bà Năm đều là… “anh chị”! Thế nhưng cả hai bà đều kính trọng Ba Má tôi không chỉ vì Ba tôi là Thầy, mà còn vì Má tôi cả đời lăng xăng cứu giúp thiên hạ. Và thế là cái xóm nhỏ ấy chung sống như những người tốt với nhau. Nhiều năm nay, sáng nào trước khi rời nhà Má tôi để ra về, tôi đều đi bộ vài bước đến xe lăn của Bà Năm để hỏi thăm sức khỏe của Bà, rồi giơ tay chào một đứa con “anh chị” của Bà nếu gặp … “ảnh” đi ngang, hoặc chào các anh Tâm, anh Hải, là những quân nhân Cộng Hòa, con Bà Bảy Mè (cũng đã mất), hiện hành nghề xe ôm, và nhiều anh khác nữa. Khi tôi ra ứng cử quốc hội năm 2011, cả xóm khi nhìn thấy hình tôi trên các bản tin giới thiệu ứng cử viên, đã tự động đi vận động khắp nơi khiến nhiều người quen đã dời sang quận khác cũng biết, và phone nói với Má tôi là khi họ đến tất cả các chùa vận động mới được các ni sư giải thích là “ông ấy” đâu thuộc khu vực bầu cử quận của các chùa đâu mà bỏ phiếu cho “ổng” được, nhưng hứa là sẽ phone cho các chùa ở các quận thuộc khu vực của “ổng” để vận động thiện nam tín nữ bỏ phiếu cho “ổng”, tức là tôi, con của “Cô Hai” và “Thầy Hai”.

Đó là những người lính Cộng Hòa, những người bình dân, ít học, bộc trực, những người trước đây bảo vệ gia đình tôi trước kẻ xấu, không cho kẻ lưu manh từ nơi khác đến quấy rầy, và hiện nay là những người lao động mạnh khỏe, nghèo, lương thiện, mà tôi kính trọng xưng em và gọi họ là anh vì họ lớn tuổi hơn tôi, còn họ đến giờ vẫn xem tôi như cậu Trọng thư sinh trói gà không chặt ngày xưa (dù xưa tôi chừng 48 ký, sau này lên 84 ký và nhờ giữ gìn sức khỏe nên còn 70 ký) để luôn bảo vệ, đỡ đần tôi trong những việc mang vác vật nặng mỗi khi thấy tôi chở lủ khủ đồ đạc về nhà Má tôi.

Những con người bình dị đáng kính ấy chưa bao giờ có một ngày nào nghĩ đến từ “chống Cộng”, đơn giản vì cái họ thích là đời sống không có chiến tranh, đời sống dành cho sum họp và sinh kế gia đình, đời sống giữa một cộng đồng xóm làng dù nhỏ nhưng miễn sao thấm nhuần ý nghĩa của tương trợ, thọ ơn và đáp nghĩa. Chính họ qua đời sống và cách sống của họ chứ không phải các tác phẩm văn học cách mạng đã giúp tôi không những nghiệm ra được ý nghĩa cao vời của hòa bình, tự do, hạnh phúc, mà còn hiểu ra rằng những “chiến sĩ” thực thụ của Việt Nam Cộng Hòa như Đại tá Viên chỉ ngoan cường trên chiến trận khi đối diện với đối phương chứ không căm thù người chiến thắng, vì họ là những đấu sĩ chuyên nghiệp.

Những con người bình dị đáng kính ấy không “chống Cộng”, đơn giản vì họ căm ghét chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, nuôi giấc mơ xây dựng gia đình hạnh phúc bên đàn con, và có cuộc sống ngày càng tốt hơn mà chỉ có hòa bình mới đem đến cho họ.

Một đội bóng thuộc FIFA thua trận chung kết World Cup không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đội vô địch. Họ còn được hưởng huy chương bạc vẻ vang.

Một đấu sĩ thuộc liên đoàn quyền anh quốc tế thua trận chung kết quyền anh hạng nặng thế giới không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đấu sĩ được đeo đai vô địch. Anh còn được hưởng số tiền thưởng không ít hơn người ấy là bao.

Một “chiến sĩ” Việt Nam Cộng Hòa cùng thuộc dân tộc Việt Nam, nhận lệnh đầu hàng của đương kim tổng thống, không là đối tượng của sự nhục nhã, và không hận thù đoàn quân chiến thắng. Anh còn được hưởng cuộc sống mới trong hòa bình không còn máu chảy thịt rơi, hạnh phúc giã từ vũ khí để về xum họp lại với gia đình, và danh dự người dân một quốc gia thống nhất ngày càng cường thịnh.

Đội bóng thua hận thù đội bóng thắng, quay ra chống phá, bôi nhọ đội bóng thắng: dứt khoát đó là đội kiểu các trẻ em lang thang ở các đường hẻm tồi tàn khu ổ chuột xứ miền lạc hậu khổ nghèo nào đó trên thế giới chứ không trong hàng ngũ FIFA.

Đấu sĩ thua trận hận thù đấu sĩ thắng trận, quay ra chống phá, bôi nhọ đấu sĩ thắng trận: dứt khoát đó là tay mặc “tà lỏn” tham gia trận đánh nhau ở giữa đồng trống phục vụ cho nhóm cá độ đã chán xem đá gà.

“Chiến sĩ” thua trận và căm thù đoàn quân chiến thắng, quay ra chống phá bôi nhọ đất nước của bên chiến thắng, ngụy biện là chống Cộng sản, thì dứt khoát đó không thể nào có tư cách ngẫng cao đầu tự nhận bản thân đã từng là chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Thậm chí những kẻ chống phá và bôi nhọ bên thắng trận lại toàn là những đấng trong chiến tranh đã là lính kiểng, lính ma, sĩ quan chuyên núp sau lưng binh đoàn viễn chinh Mỹ và đồng minh nên kinh nghiệm thu dọn chiến trường luôn trỗi vượt kinh nghiệm chiến đấu cận chiến giáp-lá-cà, và vì vậy chỉ phát huy lòng anh dũng can đảm chường mặt ra với đời khi đứng trên xe jeep thuê, duyệt “binh” ngày “quốc hận” trên đất nước Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…

Tôi và Bùi Giáng September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội September 27, 2017

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng January 9, 2015

Tôi Và Hai Anh Bộ Đội

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-9-2017

(Bài đăng lần đầu ngày 20-3-2012 trên Emotino tại http://www.emotino.com/bai-viet/19505/toi-va-hai-anh-bo-doi)

HHP Manulife

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-3-2012

Anh Bộ Đội Thứ Nhất:

Vào năm 1989 lúc đang thực hiện chuyến xuất khẩu gạo có giá trị thương mại đầu tiên của Việt Nam, tôi biết đến anh VVK. Thủa ấy Việt Nam chưa có luật đầu tư nước ngoài, chưa có luật lao động, chưa có luật thuế thu nhập, và chưa có pager tức máy nhắn tin hay máy fax hoặc vô số những thứ khác; còn số lượng văn phòng đại diện nước ngoài đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón; và tôi được những người làm việc cho các văn phòng lèo tèo ấy cho rằng tôi là người sang trọng nhất vì tài xế của tôi là người nước ngoài. Chẳng qua vì tôi cương quyết không chịu học lái xe, làm ông sếp nước ngoài buộc phải lái xe đến nhà tôi đón tôi đi làm mỗi ngày thay vì nhập thêm một chiếc ô-tô diện “tạm nhập tái xuất” khác cho tôi. Cũng nhờ vậy mà tôi được gặp anh VVK.

Do nhu cầu đi lại liên tục đến thăm các kho gạo, các cơ quan nhà nước (như Vinacontrol, công ty kiểm kiện, và cảng vụ, v.v.) , các công ty cung ứng gạo ở các tỉnh Miền Tây, các công ty hàng hải, v.v., một chiếc Toyota Crown sử dụng cho văn phòng đại diện không đủ phục vụ kịp thời nhất là khi ông sếp đi một đường, tôi đi một nẻo, tất bật lo ngày đêm theo sát tiến độ lên hàng trên bờ và từ xà lan cặp mạn tàu. Nhưng thủa ấy lại chưa có xe taxi. Thế là tôi liên hệ với Seaprodex gần đấy (văn phòng tôi nhiều năm đóng ở tầng 4 của Majestic Hotel số 1 Đồng Khởi, về sau chuyển qua tầng 3 tòa nhà Seaprodex đối diện tại số 2 Đồng Khởi) đề nghị cho thuê xe và tài xế trong vài tuần. Thấy tôi ở tập đoàn Công-Thương-Kỹ Birla hùng mạnh “một mình một chợ” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào thủa ban đầu lưu luyến ấy, và sẵn sàng chấp nhận bất cứ giá tiền nào, ông Phó Tổng Giám Đốc công ty liên doanh của Seaprodex và Liên Xô tình nguyện để xe của ông và tài xế của ông phục vụ tôi thay vì điều xe của một vị cấp trưởng phòng dù tôi chỉ yêu cầu xe có máy lạnh (thủa ấy rất ít xe có máy lạnh, vì ngay cả các quan chức các tổng công ty nhà nước đều nhập xe Lada của Liên Xô theo phong trào tiết kiệm để khoe mẽ rằng ta đây không hoang phí tiền thuế của dân) chứ tính tôi bình dân, không câu nệ, tuy luôn thắt cravat và veston chỉnh tề (ở thời điểm chưa có quan chức nào thắt cravat và đi giày tây cả vì như thế là mất tính quần chúng không gần gủi với nhân dân).

Khi ngồi cạnh anh VVK trên xe (lúc đi công tác một mình, tôi luôn ngồi cạnh tài xế, vì tôi muốn ngắm cảnh, ghét ngắm … gáy người khác), tôi nghe anh kể anh là bộ đội ngoài Bắc vào, nhà ở miệt Bình Chánh gần ranh giới tỉnh Long An, có vợ và một … tá con. Vì nghèo nên mỗi ngày lúc 2 giờ 30 sáng anh đã phải đạp xe đi bỏ mối cây giống dọc đường lên Thành phố Hồ Chí Minh, và do đó chưa 4 giờ anh đã có mặt ở Seaprodex. Đến sớm, không biết làm gì, anh xách nước lau chùi xe sạch sẽ, và đến 7 giờ thì lái xe đi đón sếp là Ông Sơn, Phó Tổng Giám Đốc công ty. Khi đưa tôi về nhà hàng Majestic dùng cơm với ban lãnh đạo Vinacontrol, dù được tôi căn dặn hãy đi ăn trưa, anh nhe răng cười nhân hậu, đứng phía ngoài đường gần đuôi xe dưới trời nắng. Lúc ra xe để trở lại Cảng Khánh Hội, tôi hỏi sao anh không đi ăn trưa lại đứng bên cạnh xe hoài thì anh đáp do sợ ông đi qua bà đi lại cọ quẹt trầy sướt xe (dù thủa ấy đường sá vắng hoe chứ nào có cảnh ùn tắc giao thông và nào có chuyện người đi xe vất bỏ phong cách lịch lãm khi sử dụng công lộ phóng chạy luôn lên lề đường dành cho người đi bộ). Khi tôi nói anh vẫn có thể mua ổ bánh mì thịt để vừa đứng trông xe vừa ăn, thì anh nhe răng cười rằng tác phong như thế thì mấy ông Tây trong Majestic nhìn thấy sẽ cười chê người Việt mình, và rằng ăn bánh mì thịt sẽ có hơi thở không phù hợp với bên trong sang trọng của chiếc xe Toyota Corolla sợ làm tôi không hài lòng và nhất là nếu có ông Tây nào cùng đi với tôi trong xe. Tôi hỏi vậy sao anh không mua một ổ bánh mì không hoặc bánh mì ngọt để ăn thì anh nói Đồng Khởi sang quá nên đâu mua được đồ ăn của người nghèo. Lần thuê xe đợt sau, tôi có đi Maxim hay Majestic ăn trưa là dặn nhà hàng đem một phần “fast food” cho anh gồm bánh mì sandwich và hotdog cùng phô-mai, nhưng mãi sau mới biết anh vẫn không ăn gì với lý do để tối đem mấy gói đồ ăn đó về cho các con ăn cho bổ dưỡng. Tôi bó tay!

Thế rồi vì mến anh bộ đội nhân hậu và lương thiện, tôi lần nào ký hợp đồng thuê xe của Seaprodex đều yêu cầu anh K là người phục vụ. Tôi quyết định phải giúp đỡ anh vì anh đã chứng minh được anh là người tốt, có trách nhiệm, lương thiện, yêu gia đình. Trước tiên, tôi giúp anh mua một ngôi nhà nhỏ bên Thủ Thiêm để anh thậm chí không cần đạp xe đi làm vì chỉ cần bước ra khỏi Seaprodex, băng qua bên kia đường là anh đã bước lên phà sang sông về nhà cũng ở ven sông. Sau đó, tôi giúp vốn cho anh bằng nhiều cách để anh sau đó mua được một xe tải container rồi thuê người lái làm dịch vụ vận tải, và anh trở thành ông chủ nhỏ. Một trong những cách giúp vốn là khi lãnh đạo công ty anh muốn tậu xe mới, thương anh chân chất nên muốn bán thanh lý chiếc Corolla cho anh, và anh cầu cứu tôi cho vay tiền mua xe bán kiếm lời. Tôi đã phone cho anh Cường (chủ một cơ sở điện lạnh thường sửa máy lạnh cho xe Crown của văn phòng tôi và lúc này phát đạt nên  có một salon ô-tô trên đường Trần Hưng Đạo, Quận 1) nhờ anh cho anh K mượn tiền mua xe. Tất nhiên, anh Cường đưa ngay một giỏ tiền mặt cho anh K mà không giữ giấy tờ gì của anh K cũng như chẳng yêu cầu tôi phải viết giấy bảo lãnh cam đoan gì cả. Tất cả vì tôi có uy tín thanh liêm nghiêm khắc trong thế giới xuất nhập khẩu nhỏ bé thời bấy giờ nên lời nói của tôi là quá đủ cho các đại gia…tiền mặt thủa ấy. Mua được xe với giá quá hời, anh K bán luôn cho anh Cường, rồi cầm một phong bì dày cộm đưa cho tôi để “gởi lại phần trăm đền ơn”, và tất nhiên tôi không nhận, bảo anh hãy dùng tiền đó mà xây sửa nhà cho khang trang thêm và lo đóng tiền học cho cả tá con.

Khi tôi sang công ty khác năm 1996, anh K vẫn còn công tác tại Seaprodex. Tết năm nào anh cũng đưa vợ đến gởi cho tôi quà Tết. Ngay từ lần đầu tôi đã từ chối nhận, với lý do nào là tôi không sát sinh và ăn chay nên đừng mua lạp xưởng, nào là bị tiểu đường và cao huyết áp cộng với đau bao tử lại thêm dị ứng tất tần tật với các món ăn thức uống trên đời nên anh đừng mua bánh kẹo, trái cây, rượu bia, nước ngọt, nói chung là tôi bịnh đủ thứ nên chỉ sống bằng cách ăn…không khí thôi, còn tiền thì đừng gởi vì nhà tôi chật hẹp không có chỗ cất mấy bó đó. Anh bảo thấy tôi là tổ xạo vì ăn mặn khỏe uống ngọt mạnh chứ đâu thấy mấy vụ “cao áp” với “đường tăng”, nên để giỏ quà lại cùng hai con gà mái mập bị trói giò rồi giục vợ lên xe chạy mất. Tránh né không xong, tôi phải dặn vợ tôi từ nay về sau hễ Tết sắp đến là phải chuẩn bị giỏ quà thật hậu hỉ để gởi đáp lại anh K mỗi khi vợ chồng anh … xuất hiện. Sau này, mỗi lần chúng tôi đến dự tiệc cưới của một đứa con anh là anh giới thiệu oang oang bằng micro với hàng trăm thực khách rằng vợ chồng anh sinh ra chú rể ấy nhưng tôi mới là người nuôi cháu ấy nên người, rồi bắt cô dâu chú rể đến mời rượu vợ chồng tôi. Có lần chờ tôi uống rượu xong, anh khom người xuống nói nhỏ vào tai tôi rằng hai chục năm rồi vẫn thấy tôi ăn mặn khỏe uống ngọt mạnh chớ chưa thấy mấy vụ “cao áp” với “đường tăng”. Tôi đốp chát lại rằng ngày xưa tôi phải nói thế là có mục đích nhắc khéo anh mang tới hồng sâm ngàn năm và linh chi vạn tuổi mà anh chẳng hiểu gì sất khiến tôi chờ dài cổ hươu chẳng được xơ múi gì! Vợ chồng anh và dâu rể cười hả hả ầm vang, lúc lắc sánh đổ cả rượu cùng bia, thật phí của giời!

Cách nay vài năm, anh làm tôi cà lăm khi đến khoe với vợ tôi rằng nhờ 20 năm trước tôi cho anh căn nhà nên nay anh được nhà nước đền bù mấy tỷ do giải tỏa phục vụ công trình đường hầm Thủ Thiêm, nhờ vậy anh đã thành…tỷ phú có tiền mua biệt thự và xây mấy dãy nhà cho thuê hàng tháng ngồi mát ăn bát vàng chỉ có việc làm nặng nhọc sức lực duy nhất là đi thu tiền về cột dây thun thành nhiều bó, còn lao tâm khổ trí là phải tìm nơi để chất nhét mấy bó đó. Anh còn vui mồm vui miệng kể luôn cho vợ tôi biết tôi là ân nhân của gia đình anh, vì ngoài căn nhà tôi còn giúp vốn cho anh nuôi đàn con nên người bây giờ đứa nào cũng làm cho công ty nước ngoài hoặc nước trong, có một cậu làm sĩ quan công an bí thư Đoàn, có cô làm ở Vietnam Airlines, có cậu làm thạc sĩ Toán-Tin giảng viên đại học sắp trình luận án tiến sĩ, có cô trở thành vị quản lý mà các công ty đầu tư địa ốc nước ngoài săn đón chiêu dụ, và mấy đứa khác làm cho nước ngoài nên đi ra ngoài nước hoài, v.v., thoát cảnh thất học bắt ốc mò cua ở ruộng đồng Bình Chánh, Tân An. Khi tôi đi làm về, vợ tôi thuật lại, rồi cật vấn tôi tại sao chỉ cho vợ tôi biết việc gởi ít tiền cho cả tiểu đội con cái của anh K học nhưng lại dấu việc mua nhà mua xe tải cho anh K, và tại sao mua đất bên Thủ Thiêm cho anh K mà không nhân tiện mua luôn vài miếng cho…vợ tôi để ngày nay …“được như anh K”, làm tôi lại phải nói dối rằng ấy là do anh K vui tính phóng đại thế thôi chứ tại anh ấy tốt nên Trời giúp, còn tôi chỉ cho anh ấy có vài ba USD lẻ tẻ chắc ảnh lấy tiền đó mua vé số rồi trúng độc đắc cặp mấy chục ấy mà. May mà vợ tôi tin, nhưng tôi lại thấy nàng bắt đầu lâu lâu thử mua…một tờ vé số, dù mấy chục năm nay biết tính tôi là có đi lễ chùa nhưng chẳng cúng chùa bao giờ mà dùng tiền giúp người nghèo bất kể đạo nào, còn mua vé số thì đem vào công ty tặng hết cho nhân viên hoặc cho mấy người bán ve chai, hốt rác, hoặc mua vé số xong là nhét vé số vô túi người bán vé số nếu người bán là người khuyết tật hay có dáng dấp học trò, để mong may ra Trời cho họ trúng số thoát được cảnh khó khăn chăng.

Tết năm nay 2012, anh một mình đến gặp vợ chồng tôi gởi quà tết. Nhưng năm nay anh trái tính trái nết, có lẽ do tuổi tác chăng, vì anh không chịu nhận giỏ quà của vợ chồng tôi, đã vậy còn đứng ngoài sân nói oang oang như thể muốn đánh thức mấy bà hàng xóm ngủ nướng rằng: “Ông bà ta nói một miếng khi đói bằng một gói khi no. Vậy mà lúc tôi đói, anh đâu có cho miếng mà cho hết gói này đến gói kia! Tôi trả ơn anh sao cũng không đủ, sao lại nhận quà của anh. Mấy ông anh tôi còn bảo họ là ruột thịt mà không giúp gì tôi, và nói anh giúp người lạ làm giàu thì chắc chắn anh không phải là đại gia vì đại gia chỉ cho tiền giúp người thoát đói chứ không giúp người làm giàu bao giờ!” Anh K làm tôi nhận ra một điều là mấy câu tục ngữ Việt được người Việt vận dụng vặn vẹo hay thật! Văn chương bình dân truyền khẩu thế mà hay ra phết.

Anh K là người đã làm tôi bỏ vĩnh viễn ý định mua ô-tô, vì chỉ có anh là người tôi mong muốn làm tài xế cho mình. Anh đã giải nghệ từ lâu, sau khi trở thành ông bố đầy kiêu hãnh của một đàn con tất cả đã trở thành những công dân tốt của đất nước này, những đứa con thành đạt đã không muốn cha mình tiếp tục lao lung lái xe phục dịch người khác lúc tuổi đã cao. Anh K là người sống tích cực, luôn cười vui nhân hậu, yêu đời, và đó là lý do hiện nay anh xin vào làm nhân viên cho một công ty nọ dù nhiều đứa con của anh cũng đã trở thành tỷ phú và chẳng đứa nào muốn bố chúng không hưởng nhàn. Anh kể vợ tôi rằng các con anh muốn đến thăm tôi nhưng Anh đã thuật chúng nghe lời tôi rằng chỉ cần sống và làm việc như những công dân lương thiện yêu nước là đã đền ơn đầy đủ cho tôi rồi. Anh thậm chí còn nói ngay khi thấy đứa con nào của Anh có dấu hiệu bê trể, tà tà, kém tích cực, là Anh đe dọa rằng sẽ báo tôi hay, và thế là đâu lại vào đấy. Thế đấy, tôi lại trở thành Ông Kẹ để hù các công dân trưởng thành và giàu có ư?

Anh Bộ Đội Thứ Nhì:

Nếu Anh K người Bắc, thì anh PVC là người Nam Bộ. Tôi biết anh khi tôi làm giám đốc điều hành tại một trong 9 đơn vị của một công ty nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1996-1998.  Anh đi nghĩa vụ quân sự  sau năm 1975 và chiến đấu tại Campuchia. Khi xuất ngũ, anh làm thợ điện tử và trở thành nhân viên bảo vệ được công ty biên chế vào đơn vị của tôi. Anh ăn chay trường. Tôi cao 1m70 và đứng thấp hơn anh dù tôi đi bốt đế cao 5cm thành 1m75! Không như những lãnh đạo khác trong công ty, tôi hay bất ngờ đi kiểm tra giám sát cơ sở, và nhiều khi đi taxi chạy chầm chậm ngang cơ quan lúc 2 giờ sáng, tôi thấy anh vẫn ngồi tỉnh táo ở vị trí chốt canh gác, thay vì bỏ vào văn phòng bật máy lạnh nằm ghế bố ngủ khò như thói quen của nhiều đồng nghiệp khác thuộc tầng lớp…cao hơn. Anh khiến tôi có ý nghĩ rằng dù làm việc ở đâu, tôi chỉ sẽ yên tâm nếu công ty của tôi có anh làm nhân viên bảo vệ. Và với người tốt như anh, tôi tự nhủ sẽ giúp khi có điều kiện.

Thế rồi luồng gió mới của cải cách hành chính đã đến với phong trào mang tên “tinh giản biên chế”. Trong công ty nhà nước nơi không những con cái ruột thịt của ban lãnh đạo mà ngay cả người quen xa lắc xa lơ kiểu ở cùng quê hay con cái của hàng xóm của các vị ấy được ưu ái chiếm hữu các công việc từ nhàn hạ đến giản đơn, thì việc tinh giản đương nhiên sẽ nhắm đến các đối tượng không có ô dù che nắng che mưa bị đưa ra hứng mưa hứng nắng làm vật hy sinh. Ông Tổng Giám Đốc đã “biên chế” ấn nhét vào đơn vị của tôi ba người thân thiết của ông gồm một em gái ruột làm nhân viên tạp vụ, một người dưng nước lã (có công…dạy kèm tư gia cho con của ông) làm trưởng phòng giáo vụ, và một đứa cháu làm nhân viên bảo vệ, thì tất nhiên Phòng Tổ Chức Nhân Sự sẽ đưa anh C vào danh sách cho thôi việc để anh về nhà tiếp tục hành nghề sửa điện máy tivi cho công ty được tiếng tốt là thực hiện nghiêm túc tinh giản biên chế. Tất nhiên, giám đốc như tôi thì cách chi can thiệp được vào các quyết định của ban tổng giám đốc. Nhân khi đang tiến hành đấu tranh đơn độc chống sự tham ô của “ông Tổng” và cùng lúc được một công ty Mỹ tiếp cận mời mọc, tôi nhận lời bỏ cơ quan nhà nước của “ông Tổng” ấy để qua làm giám đốc điều hành cho người Mỹ năm 1999, và ngay lập tức đến nhà mời anh C làm việc. Ở công ty mới này, tôi mua bảo hiểm nhân thọ của Prudential cho tất cả nhân viên – trở thành người đầu tiên ở Việt Nam “bày” cho bảo hiểm nhân thọ mô hình bảo hiểm ấy, và khi tôi sang công ty khác vẫn tiếp tục xuất tiền túi đóng bảo phí cho riêng anh C thêm vài năm cho đến khi anh kiên trì năn nỉ thành công. Sau này anh phát bệnh cao huyết áp nặng và đau bao tử nặng, phải đi cấp cứu mấy lần thập tử nhất sinh, và buộc phải ở nhà sửa tivi chứ không thể đi làm việc nơi khác, thậm chí không được sử dụng xe đi lại đó đây.

Vài năm sau, tôi nhận được điện thoại của con gái anh nói đang cùng mẹ chờ tôi dưới sảnh. Tôi vội từ lầu 12 xuống gặp hai mẹ con, và khi biết cháu muốn mượn tiền để tiếp tục việc học sau lớp 12, tôi đến máy ATM ngay đó để rút tiền trao cho cháu, và dặn mỗi khi cần tiền chi cho việc học tập, mua sắm phục vụ việc học, v.v., thì cháu cứ đến lấy. Tất nhiên, tôi dặn họ giữ bí mật đừng cho vợ tôi hay. Từ đó, cứ mỗi khi đến lúc đóng học phí hay cần tiền mua tài liệu học tập là cháu đến gặp tôi. Năm kỉa năm kia, cháu tốt nghiệp đại học tài chính-kế toán và nhờ tôi tư vấn khi có hai nơi muốn tuyển dụng cháu làm nhân viên. Tôi khuyên cháu chọn công ty X vì đó là công ty đa quốc gia, chuyên ngành, có danh tiếng hoàn cầu, dù họ trả lương …“bèo”, đừng nhận lời công ty Y kia vì nhỏ, lĩnh vực hoạt động trái ngành, không rõ về tiếng tăm hay tiếng tai, dù họ trả lương cao gấp ba bốn lần lương ngân hàng Việt Nam cho chức danh tương tự. Tôi cũng khuyên cháu đừng nghĩ gì đến tiền lương khi bắt đầu đi làm công việc đầu tiên trong đời, mà hãy dành 4 hay 5 năm đầu tiên tận tụy làm việc để thu kinh nghiệm, quen phong cách chuyên nghiệp của “đại gia ngoại”, chung hưởng hào quang danh tiếng của họ, và sau đó sẽ thấy kết quả tỏa sáng từ “sự hy sinh” ấy. Tất nhiên, cháu nghe lời tôi làm việc nhận lương bèo dù nhà nghèo, đơn giản vì anh C bảo các con anh phải nghe lời tôi mới thành công. Vậy mà mới làm việc được một phần tư thời gian của năm năm tại công ty X của Mỹ, cháu đã khoe với tôi là được công ty Z của Pháp chiêu dụ, mời về làm lãnh đạo với mức lương rất cao. Năm ngoái, khi vợ chồng tôi đến thăm anh C lúc nghe tin anh vừa về từ phòng cấp cứu, cô bé trẻ tuổi tài cao ấy chạy xe tay ga mới màu đỏ chói đi ăn kem với bạn về tới đã vội vào nhà lấy ra một phong bì dày trao cho tôi và nói gì đó không bằng tiếng Việt, chẳng phải tiếng Anh, không giống tiếng Pháp, nói chung là nói chẳng nên lời mà tôi dùng kỹ thuật “đuổi môi bắt chữ” (na ná giống gameshow “đuổi hình bắt chữ” của Xuân Bắc) nhưng cũng không hiểu, nên vợ anh C phải bước ra làm thông dịch viên nói giúp rằng cháu bé ấy muốn hoàn lại số tiền đã mượn của tôi nhiều năm qua vì nay đã có khả năng phụng dưỡng cha mẹ, nuôi mấy đứa em trai vào đại học, mua sắm đủ thứ rồi và đến lúc phải trả lại tiền vay. Tôi dẫy nẩy, không nhận, bảo rằng tôi không có ý cho mượn bao giờ nên đâu có … ghi sổ sách, đâu có ghi mức…lãi suất cho vay, bây giờ không biết đủ thiếu ra sao, nên nếu nhận dư thì hỏng tiếng một đời thanh liêm, nhận thiếu thì ô danh … kiếp này phá của. Cô bé lập tức nói rằng cháu là dân tài chính nên có giữ … sổ cái kế toán đàng hoàng ghi chú cẩn thận đầy đủ chi tiết có đóng dấu giáp lai để ngày sau đền ơn nên “bác Phước” hãy yên tâm, còn lãi suất thì cháu sẽ tính theo thời giá prevailing của Ngân Hàng Ngoại Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Cháu nói xong thì vợ chồng tôi, vợ chồng anh C, cùng con gái và hai con trai anh C phá lên cười ầm do màn biểu diễn tấu hài đốp chát rất lợi hại của hai bác cháu vừa rồi. Cười xong, tôi nghiêm trang nói với cháu rằng tôi luôn giúp bố của cháu vì bố cháu là người tốt, và vì bố cháu không khỏe, không còn lo cho cháu học tiếp được nên tôi tiếp tục giúp bố cháu nuôi các cháu ăn học chứ nào phải tôi cho cháu vay tiền mượn bạc mà cháu nói đến việc hoàn vốn trả lời; rằng hãy dùng số tiền trong phong bì để lo cho việc học của hai cậu em để làm vui lòng bố mẹ; rằng phải cố gắng làm việc nghiêm túc và lương thiện; và phải tự hào mình được làm con của cha mẹ nhân hậu và tốt đẹp như vậy; rằng v.v. và v.v. Như bao lần khác, tôi lại thắng với tài hùng biện, nghĩa là đến giờ tôi vẫn …không biết trong bao thư ấy có bao nhiêu tiền, và nghĩa là cháu gái ấy khóc, mẹ cháu rơi nước mắt, còn anh C thì huyết áp dâng cao và dịch vị dạ dày trào dâng chắc do cảm xúc dâng trào.

Gần đây, đến lượt con trai anh C nhờ tôi tư vấn về học đại học và chọn ngành học. Nay cháu đã  là sinh viên năm thứ hai của một ngành khác với cô chị. Anh C nói rằng cháu là “ca sĩ” nổi tiếng của trường nên anh lo lắng cháu sẽ xao nhãng việc học hành. Tôi trấn an anh rằng tôi cũng là “ca sĩ” nổi tiếng của trường tiểu học và trung học mà! Tết năm 2012 này chính cháu trai ấy thay bố đem quà tết đến nhà tôi và tôi lại xách ra đưa cháu một giỏ quà như giỏ quà chuẩn bị cho anh bộ đội tài xế K ở trên. Tôi cao 1m70 nhưng đứng thấp hơn cháu ấy dù tôi đi đôi bốt đế hơn 5cm để thành 1m75. Mấy cha con nhà anh C sao mà cao thế! Mấy cha con nhà anh K sao mà không cao thế!

Vợ tôi thắc mắc (sao vợ hay thắc mắc thế!) hỏi tôi tại sao dấu việc giúp anh C công ăn, việc làm, mua bảo hiểm nhân thọ, và chu cấp việc học hành cho con anh. Tôi uốn ba tấc lưỡi Lăng Tần nói rằng tiền học phí rất thấp vì trường công lập mà, rằng bảo phí đóng có chút xíu nhưng có thể giúp gia đình anh ấy rất nhiều nếu chẳng may anh ấy ốm đau, không có bảo hiểm thì cách chi chữa trị được. Vợ tôi bị thuyết phục trước tài hùng biện của tôi, nên hỏi tôi sao chăm lo người ngoài mà thờ ơ không mua bảo hiểm cho ai trong dòng họ, khiến tôi cà lăm, buộc phải thú thật là tôi đã mua tất tần tật cho mấy cô em của tôi, cho mấy chàng em rể của tôi và mấy đứa cháu của tôi nhiều năm nay rồi! Vợ tôi thất kinh, huyết áp dâng cao, hỏi tôi đã thành thật khai báo đầy đủ chưa, vì còn nhiều người gởi quà tết đến lắm, liệu tôi có đã … “tài trợ” gì không. Tôi phải dùng thuật hùng biện rằng “em ơi em hỡi em à, em biết là nhiều chục năm qua anh chẳng hề cà phê thuốc lá nhậu nhẹt bù khú gì với bất kỳ ai, chỉ lo đi làm và đi dạy học, sống tằn tiện lương thiện thanh bần chứ nào có xa hoa, đã vậy hay đãng trí đâu có nhớ đã từng giúp những ai thì làm sao mà liệt kê danh sách cho em được”. Thấy vợ tôi vẫn chưa hạ hỏa, tôi nhắc lại chuyện thầy mẹ của vợ tôi (gia đình vợ tôi người Bắc di cư, gọi cha mẹ là Thầy Mẹ) ngày xưa vét hết gạo nhà nấu cháo cứu sống vài chục dân nghèo lúc nạn đói hoành hành Miền Bắc, và lúc di cư vào Nam luôn đi chùa làm việc thiện cho đến ngày về cõi Phật, là tấm gương sáng mà tôi phải noi theo Thầy Mẹ để xứng đáng làm con rể nhà họ Vũ. Vợ tôi cảm động khi thấy chồng mình hằng đêm thắp hương cho cha mẹ vợ nay lại kể lể công đức của cụ ông cụ bà nên nức nở bồi hồi, không còn cật vấn tôi mấy chuyện tương tự chuyện anh C, anh K, và nhiều “anh’ nhiều “chị” khác.

Tôi có quen thân nhiều người tốt như vậy, và cứ tết đến là vợ tôi lại lui cui chuẩn bị các giỏ quà để  đáp lễ những người tốt ấy, theo đúng tiêu chuẩn xử thế của tôi là …nhận một đáp mười. Họ đã luôn đến vào dịp Tết. Con cái họ đang luôn đến vào dịp Tết. Thời gian có làm tiêu hao sức khỏe của những người tốt ấy, thậm chí làm cuộc đời vơi dần sự góp mặt của họ, nhưng thời gian lại gia tăng sinh khí cho con cái của họ để sợi dây thân tình luôn duy trì bền chặt giữa những đấng sinh thành tuy ít học nhưng có nhân cách lớn ấy, với tôi, người đã thật may mắn có được cơ hội ở gần họ, những con người tuyệt diệu chủ nhân những gia đình tuyệt diệu.

Hai anh “bộ đội” VVK và PVC này là tiêu biểu cho tất cả những người nghèo tốt đẹp tôi quen. Câu chuyện về những người khác cũng tương tự, với tất cả các nội dung cộng lại của nghèo khó, lương thiện, tự trọng, hướng thượng, nhân hậu, danh dự, trách nhiệm, bản lĩnh, cần cù, gia đình hạnh phúc, nền nếp gia phong. Tôi sẽ không viết thêm về những người khác, dù vẫn sẽ cùng vợ tôi viết tên của họ để dán vào các giỏ quà Tết, vui vẻ đợi chờ đàn con cái thành nhân chi mỹ của họ. Tôi và họ không phải là những người bạn và vẫn chưa bao giờ xem nhau như bạn. Chúng tôi chỉ là những người quen. Chúng tôi gần nhau vì chúng tôi tin vào một điều rằng còn có Trời Phật trên cao.

Những người quen ấy của tôi không sử dụng được internet, nhưng con cái họ sẽ đọc được những lời này để biết rằng cha mẹ các cháu đã được tôi quý mến, tôn trọng, không vì họ có học thức cao, học vị cao, tài sản vật chất nhiều, mà chính vì họ có tình thương bao la dành cho con cái, vì với tình thương ấy họ đã luôn cố gắng giữ gìn danh dự, đem cách sống trong danh dự làm gương cho con cái soi theo, để tất cả những đứa con ấy có thể tự tạo được cuộc sống sung túc và hạnh phúc một cách lương thiện, và nhất là sống như bao công dân chân chính khác ở đất nước của đạo nghĩa này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo cụm bài “Tôi Và…”

Tôi và Bùi Giáng  September 17, 2013

Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh February 22, 2015

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Tôi Và Lại Thu Trúc December 22, 2015

Tôi Và Lê Công Định September 22, 2014

Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

Tôi Và Nữ Sĩ Tuệ Mai November 10, 2014

Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo 16-8-2010

Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

Tôi và Saddam Hussein July 12, 2016

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô February 22, 2015

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm February 22, 2015

Tôi Và Tiến Sĩ Lê Hùng Dũng January 9, 2015

Sẽ đăng lại:

Tôi Và Các Anh Lính Cộng Hòa

Tôi Và Cu Huy Ha Vu

Bằng Giả

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-9-2017

Bằng Giả (1)

Nhân thấy thiên hạ lại đang xôn xao về một đề tài cực kỳ cũ rích đối với vấn nạn “bằng cấp giả” mà nhiều năm trước tôi đã từng nêu ra và miệt thị, song tiếc là đã không bất kỳ ai ở cấp quản lý nhà nước về đào tạo & giáo dục cùng tổ chức nhân sự quan tâm, khiến tạo điều kiện cho biết bao tên thạc sĩ/tiến sĩ mưa sắm bằng cấp giả để ngồi lên các chiếc ghế quyền lực thiệt phá tan nát không những cơ đồ nước Việt mà còn uy danh của Đảng cùng lòng tin của nhân dân về cung cách “trọng dụng nhân tài” của Đảng, tôi nghĩ việc đăng lại một bài viết cũ rích như dưới đây có khi lại trở thành thứ mới mẻ tân kỳ hiện đại chăng?

Đại Học Gà Rừng & Rừng Gà Học Đại

(Bài đăng ngày 28-9-2010 trên Emotino http://www.emotino.com/bai-viet/18827/dai-hoc-ga-rung)

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-9-2010

Trên chuyến bay Air France từ Bang Kok đi New Delhi tháng 10 năm 1994 tôi lấy làm lạ khi đọc thấy một mẩu quảng cáo khổ 3cm x 6cm của một trường đại học Mỹ tên Columbia trên trang cuối bìa trong của tạp chí Newsweek rằng họ cung cấp chương trình học hàm thụ khẩn cấp trong ba tháng lấy văn bằng thạc sĩ và tiến sĩ mà không cần phải có cử nhân hay chứng chỉ TOFEL hay Michigan gì cả. Lúc ấy, tôi vừa chấm dứt 8 năm giảng dạy Anh Văn để “kinh doanh quốc tế” ở tuổi 35 vào thời điểm đi công tác nước ngoài là việc cực hiếm đối với “thường dân”, chưa có máy fax, chẳng có mobile phone, chưa có computer, nên tôi tức cười hệ thống giáo dục tào lao của Mỹ, vì rằng Newsweek không phải là báo lá cải nên khi đăng quảng cáo ắt là danh chính ngôn thuận. Hơn hơn mười năm sau tôi hay nhận được qua email vô vàn sự chào giá của những trường đại học Mỹ với nội dung tương tự (thậm chí không phải học hàm thụ cấp tốc ba tháng mà là … khỏi học ngày nào cả, đóng tiền là có văn bằng), và cũng nhờ internet tôi mới biết đó là trò của các diploma mills hay degree mills tức các xưởng cấp văn bằng tức các trường học đại .

Thật ra, các trường học đại mà tiếng lóng ngày nay ở Việt Nam gọi là “đại học gà rừng” là chuyện bình thường kiểu Mỹ, tức đâu có nhu cầu thì ắt có cung ứng. Họ mở trường đại học, có giấy phép, nhưng theo kiểu thực phẩm chức năng – nghĩa là muốn sản xuất thì sản xuất nhưng phải ghi rõ giòng chữ “không phải là thuốc, không có tác dụng chữa bịnh, và không được chuẩn y bởi Cơ Quan Quản L‎ý Dược & Thực Phẩm Hoa Kỳ FDA”; nghĩa là văn bằng “đại học gà rừng” phải ghi rõ giòng chữ “văn bằng này không được các cơ quan giáo dục hữu quan Hoa Kỳ công nhận giá trị”. Trên thực tế, các trường có giấy phép kinh doanh ấy biến thành “đại học gà rừng” khi cấp phát văn bằng không có ghi dòng chữ trên hoặc cấp phát văn bằng với sổ điểm giả về sự tham dự học tập không có thật của người được cấp bằng.

Tình hình văn bằng giả ở Việt Nam có thể khá nghiêm trọng. Thậm chí có vị tiến sĩ khi mời tôi cộng tác đã nói với tôi rằng ông đang mua cho một anh nhân viên cấp cao của ông tấm bằng thạc sĩ để “viện” của ông có thêm “danh giá”; và khi ông nói trình độ tiếng Anh và kiến thức cùng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của tôi đáng là bậc thầy của rất nhiều vị tiến sĩ thực thụ – và thậm chí còn nói tâng bốc tôi quá đáng rằng tôi đáng là bậc thầy của chính ông dù tôi là thạc sĩ còn ông là tiến sĩ – đang giảng dạy ngành Anh Văn và Quản Trị Kinh Doanh ở Việt Nam, và khi biết tôi dự định sẽ học lấy bằng tiến sĩ sau năm hay mười năm nữa, ông lập tức phone ngay trước mặt tôi cho một phụ nữ là giám đốc một công ty ở Hà Nội, bảo cô ấy rằng ông muốn đài thọ chi phí mua cho tôi một bằng tiến sĩ của một đại học Philippines. Khi tôi hốt hoảng xua tay, ông hiểu lầm tôi chê tầm cỡ của trường ấy, nên sau khi cúp máy, ông nói ngay rằng nếu tôi muốn có bằng của một trường “danh giá” thực sự, ông sẽ lo cho tôi một bằng tiến sĩ thực thụ của một viện hàn lâm Nga vì theo lời ông, các viện sĩ Nga đại tài danh tiếng toàn cầu hiện nay rất đói khổ và “các lão ấy” (từ ngữ của vị tiến sĩ khả kính đang bày mưu cho tôi) sẵn sàng chấp bút viết ngay luận án mới đẳng cấp cao thực sự rồi ghi tên tôi vào làm “đồng tác giả” để đương nhiên thành “viện sĩ”, “giáo sư”, “tiến sĩ”! Khi tôi kiếm cớ tháo lui, nói tôi không giỏi tiếng Nga, ông cười hềnh hệch: “Đâu có sao!” Tôi vội chấm dứt mọi sự cộng tác với vị tiến sĩ ấy vì tôi ngờ vực cái học vị tiến sĩ của ông chắc cũng là thứ ông đã có được theo cách ấy, và cũng vì tôi không an tâm cộng tác với một ông tiến sĩ gian giảo đang có trong tay một số nhân viên sắp trở thành thạc sĩ quản trị kinh doanh với bằng cấp “đại học gà rừng” vinh hiển của nước ngoài.

Khi được may mắn sinh ra trong một gia đình dưới sự giáo dục nghiêm túc của cha mẹ, người ta dễ thấy xấu hổ với tổ tiên nếu nhúng chàm đối với các trò gian giảo đặc biệt đối với mua bằng cấp, mua chức vụ. Tôi luôn khuyên học trò mình đừng bao giờ ngơi nghỉ trong trau giồi kiến thức, và bất cứ khi nào có đủ quỹ thời gian và quỹ tiền hãy cố đầu tư học thêm lên các các cấp thạc sĩ và tiến sĩ, và tôi hứa sẽ giúp các em về kiến thức cho các chương trình các em theo đuổi. Thậm chí tôi còn bảo khi có em nào bắt đầu muốn lấy bằng tiến sĩ thì nhớ … rủ tôi cùng lấy chung cho vui để có ngày thầy trò cùng đội mão tiến sĩ nhận bằng trong cùng một buổi lễ – trò đạt tiến sĩ để thăng tiến trong chuyên môn, còn thầy vác bằng tiến sĩ về …cất, làm gương cho con cố gắng như Bố.

Tại các cường quốc văn hóa đều có thông tin đầy ắp và cập nhật thường xuyên danh mục các trường kém chất lượng không có văn bằng có giá trị, hay có chất lượng đáng ngờ, kể cả những đại học gà rừng như qua các links sau:

a- Tất cả các tiểu bang Hoa Kỳ đều có danh mục các trường tại Mỹ (và có khi liệt kê cả các trường nước ngoài) có bằng cấp vô giá trị; chẳng hạn tại

Bang Michigan có danh sách 857 trường đại học khả nghi (http://www.michigan.gov/documents/Non-accreditedSchools_78090_7.pdf)

hay Oregon có http://www.osac.state.or.us/oda/unaccredited.aspx

b- Wikipedia cũng cung cấp thông tin dồi dào về 252 đại học gà rừng tại http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_unaccredited_institutions_of_higher_learning

c- Trong khi đó, CHEA (Hội Đồng Xác Định Giá Trị Văn Bằng Hoa Kỳ) tại trang web http://www.chea.org/degreemills/frmStates.htm còn liệt kê danh mục 99 “tổ chức”, “cơ quan” không được Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ cho phép xác định giá trị văn bằng nên mọi “đóng dấu k‎ý tên chứng thực giá trị văn bằng” của bất kỳ ai trong 99 cơ quan ấy đều không có giá trị.

d- Ngay tại Pakistan cũng có danh mục 112 học viện và đại học “gà rừng”để cảnh báo sinh viên nước họ. Thậm chí còn có danh sách những trường đại học Pakistan do các cơ quan tự tổ chức trái chức năng nên văn bằng không có giá trị ngay tại Pakistan (http://web.archive.org/web/20061223061754/http://www.hec.gov.pk/htmls/hei/public_alert1.htm).

Việt Nam có thể dựa vào thông tin đầy ắp tại các websites chính quy trên để phổ biến rộng rãi giúp sinh viên và phụ huynh tránh chọn lầm trường du học. Việt Nam cũng nên noi gương Pakistan vì tại Việt Nam ngày càng phát hiện nhiều cơ sở đào tạo do những cơ quan hay tổ chức không có chức năng thành lập gây ra các vụ lừa lọc hỗn loạn trong xã hội khi “sinh viên” học xong mới biết văn bằng không được cấp hay không có giá trị.

Mọi sự khinh bỉ và miệt thị nghiêm khắc nhất phải luôn được dành cho tệ nạn mua bán văn bằng và sử dụng văn bằng mua bán, vì rằng sự trơ tráo trơ trẽn đã lên đến cùng cực khi có kẻ tự xưng tiến sĩ công khai tổ chức trên mạng xã hội Linkedin và gởi đến tôi bức thư sau: “Chào Ngài. Ngài là người có tài nhưng không có bằng Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh hay Tiến Sĩ vì ngài quá bận rộn không thể đến trường! Chúng tôi sẽ giúp Ngài có văn bằng tốt tại các trường đại học tốt mà chẳng cần học và với chi phí thấp!

Thậm chí sự trơ trẽn còn được nâng lên cao hơn sau khi nhận được giòng chữ “Cảm ơn. Tôi không cần vì tôi đã là thạc sĩ Curtin rồi” của tôi, hắn còn chèo kéo rằng “Hay quá! Ngài nghĩ sao nếu bây giờ sắm thêm cái tiến sĩ cũng của đúng trường đại học Curtin đã cấp bằng thạc sĩ cho ngài?”.

Chỉ có sự phỉ nhổ vào cái mua bán văn bằng, người ta mới may ra không phải nhìn thấy các mục quảng cáo chễm chệ như của Đại Học Cumbria nào đấy dành cho các CEO học lấy Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh mà không cần có bằng cử nhân (MBA without Bachelor CEO).

Bằng Giả (2)

Cũng như những kẻ mặt dày mày dạn công khai rao bán văn bằng trên mạng xã hội:

Chúng tôi sản xuất văn bằng của 500 đại học hàng đầu với giá: bằng Cử Nhân 1500 USD, Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh 1700 USD v.v.:

Bằng Giả (4)Bằng Giả (3)

Từ vấn nạn “đại học gà rừng” gồm những nơi sản xuất văn bằng các loại – kể cả ngành y khoa – xã hội các nước ngày càng có nhiều nơi hay nhiều cơ quan biến thành khu “rừng gà học đại” tức những kẻ chơi luật rừng để có học vị, tuy có lông cánh sặc sỡ nhưng không gáy được – câm tịt như hến chẳng nói hay viết được bất kỳ điều gì liên quan đến học thuật hàn lâm nghiêm túc từ sau khi trở thành “thạc sĩ” hay “tiến sĩ” (do quá trình nghiên cứu vài năm cho hàng chục tiểu luận đã hình thành nơi “thạc sĩ/tiến sĩ” thói quen viết lách, tìm đến cái hay của học thuật hàn lâm, và thảo luận nhóm nên đương nhiên sau khi “tốt nghiệp” chỉ còn “thói quen kiểu phản xạ tự nhiên” khi chỉ tìm đọc sách báo nghiêm túc) – hoặc cất tiếng ụt ịt không của loài gà – tức toàn phát biểu linh tinh vớ vẩn – thay vì phải là những lời như nhả ngọc phun châu, cao thượng, cao đẹp, kiến thức và trí thức cao vời, làm tốt đẹp hơn cuộc đời và đem về cho đất nước này nhiều hơn những điều vinh hiển.

Trạng Quỳnh nếu còn sống ắt không dám nằm khỏa thân phơi bụng trắng hếu rốn lồi giữa chợ tay quạt mo đỏ au phành phạch miệng nhai trầu bỏm bẻm nổ tung trời đất thế kia vì rằng cái chữ ngày nay chứa trong muôn tỷ cái “bồ” chứ nào phải số lượng chỉ “đôi ba” nên có vô vàn kẻ bụng bự tham gia nằm lấn chỗ Trạng..

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

28-9-2010

Tham khảo các bài viết sau 2010:

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. August 4, 2013

Thế Nào Là Nhà Trí Thức February 14, 2014

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

Lại Trí Thức! June 9, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh October 2, 2014

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam February 22, 2015

Khiêm Tốn February 22, 2015

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai April 9, 2015

Nhà Trí Thức Tự Phong = Chứng Chỉ C November 3, 2015

Đại Học November 4, 2015

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam December 30, 2015

Đồng Phục Học Sinh January 30, 2016

Nhà Giáo Mỹ May 9, 2016

Cấm Dạy Thêm: Đúng Và Sai Của Thành Phố Hồ Chí Minh September 29, 2016

Du Học Hiếp Dâm và Hiếp Dâm Du Học November 1, 2016

Triều Tiên & Sự Thật Khốn Nạn

Bài Viết Riêng Cho Các Cháu Sinh Viên & Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-9-2017

Wordpress Triều Tiên

A- Sự Thật Khốn Nạn

Triều Tiên là tên gọi Hán Việt cho đất nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Châu Sơn mà Âu Mỹ gọi tắt trong tiếng Anh là North Korea còn tiếng Việt nương theo đó gọi là Bắc Triều Tiên hoặc Bắc Hàn tùy theo sự lựa chọn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Hòa. Bắc Triều Tiên còn được gọi tắt là Triều Tiên.

1- Sự Thật Khá Khốn Nạn:

Tác giả bài viết này đã nhận ra sức mạnh thực chất kinh khủng của Triều Tiên nên trong Thư Gởi Tổng Thống Saddam Hussein đã vấn kế hình thành Khối Tân Trục Iran-Iraq-Triều Tiên để tạo thế chân vạc khống chế hiệu quả sự manh động của Hoa Kỳ nhờ đó giúp (a) duy trì hòa bình thế giới và (b) giúp nước Mỹ tránh họa suy vong vốn cực kỳ bất lợi cho nhân loại và Việt Nam với sự trỗi dậy của bọn Trung Quốc. Tuy nhiên, báo chí Âu Mỹ và tỷ tỷ con người trên thế giới vẫn hoặc mông muội hoặc giả vờ phủ nhận để tiếp tục vận dụng năng khiếu sáng tạo đẻ ra toàn những thông tin láo xạo về Triều Tiên, khiến một bộ phận không bao giờ nhỏ con cháu Tiên Rồng bị rối trí bởi sự tiếp tay tình nguyện của báo chí chính thống nội địa thiếu ánh sáng trí tuệ luôn mang tâm lý nô dịch tôn thờ thông tin Âu Mỹ giúp truyền lan nhanh hơn rộng hơn các láo xạo ấy về Triều Tiên.

2- Sự Thật Quá Khốn Nạn:

Fake News tức Tin Láo Xạo là thuật ngữ do Tổng Thống Mỹ Donald Trump chế ra để làm hệ thống truyền thông chính thống Mỹ từ nay ô danh vạn đại do đã rời xa các hào quang trung thực trung lập để tập trung công kích Donald Trump từ ngay trong thời gian tranh cử tổng thống cũng như tập trung phủ nhận bất kỳ thành tựu nào hoặc kế sách nào của Donald Trump sau khi trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về thông tin giật tít “Bắc Việt” tấn công chiến hạm Maddox của Mỹ tại Vịnh Bắc Bộ “buộc” Mỹ phải ào ạt đổ bộ vào … Đà Nẵng để xây dựng cái gọi là Nam Việt tức Việt Nam Cộng Hòa – thay vì lẽ ra phải là Hải Phòng nếu để trừng trị “Bắc Việt” cho vụ Maddox.

Cũng vậy, trên thực tế thì Fake News đã luôn là bản chất truyền thông Âu Mỹ, như thí dụ về sự kiên trì đẻ ra bao thông tin giật tít về sự quái qở quái đản quái dị quái vật của Triều Tiên.

Tờ Telegraph lừng danh thế giới của Anh Quốc mới tháng trước còn đưa tin rằng binh sĩ đói khát Bắc Hàn đã được lịnh hãy đi ăn trộm bắp ngô của dân vì chiến tranh đã rất gần kề:

Wordpress Triều Tiên (2)

cộng với sự hòa âm điền dã của các bản tin tiếng Việt bất kể của báo chí chính thống xuẩn ngu khạo khờ con nít không được Đảng Cộng Sản dạy dỗ nên người, hoặc của tờ rơi xó chợ đầu đường láu cá cáo già muốn bôi nhọ bôi xấu “cộng sản” tức “phe” của Cộng Sản Việt Nam, dù Triều Tiên chẳng theo chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít, chủ nghĩa Mác-xít Mao-Ít hay chủ nghĩa…Mác-xít Kim-Nhật-Thành-nhít gì cả:

Wordpress Triều Tiên (3)

Chưa kể còn có thông tin tràn ngập về sự tàn bạo của chế độ Triều Tiên, sự điên dại của lãnh đạo Triều Tiên, sự đói khát của dân chúng Triều Tiên,

Wordpress Triều Tiên (4)

Vẫn chưa đủ, báo chí Âu Mỹ còn nhạo báng rằng quân đội Triều Tiên mỗi khi tổ chức diễu binh hoành tráng chỉ xài toàn mô hình vũ khí bằng đồ chơi, bằng nhựa, bằng bong bóng bơm hơi hay bằng mấy tấm tôn nhẹ hều uốn tròn làm giống như “hỏa tiển” để hù thế giới:

Wordpress Triều Tiên (5)

đến độ nhiều độc giả tại Việt Nam bị nhiễm độc thông tin nên mới thi nhau tự động có ngay những lời bình mà không biết bản thân đã ngây thơ ra sao và sa chân vào bẫy giặc như thế nào, chẳng hạn như:

Wordpress Triều Tiên (6)

3- Di Hại Thật Sự Từ Sự Thật Láo Xạo:

Trước khi nêu cụ thể thế nào là thông tin láo xạo trong Phần B dưới đây, nhất thiết phải giải thích vì sao gọi là ngây thơ sa chân vào bẫy giặc:

Việt Nam cộng sản giải phóng Miền Nam đánh tan quân đội Mỹ thành công và tiêu diệt Việt Nam Cộng Hòa thành công, Việt Nam cộng sản đánh tan Trung Quốc thành công, và Việt Nam cộng sản tiêu diệt Khờ-Me Đỏ thành công. Mỹ lập tức cấm vận kinh tế bủa vây phong tỏa Việt Nam. Hậu quả là Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế ba-con-số, sản xuất đình trệ vì bị cấm mua nguyên liệu cùng phụ tùng thay thế, lương thực thiếu thốn vì không được phép mua phân bón, thuốc men thiếu thốn do bị cấm nhập khẩu khiến bao người dân và trẻ con phải tử vong, phúc lợi xã hội gần bằng không. Kết luận của bọn truyền thông Âu Mỹ mất dạy dương dương tự đắc là (a) rõ ràng chủ nghĩa cộng sản chỉ tổ làm đất nước lầm than bần cùng hóa dân lành, (b) rõ ràng lãnh đạo cộng sản bất tài vô dụng vì không bao giờ làm kinh tế ra hồn bằng cái mớ kinh tế-chính trị Mác-Lê hỗn độn vô dụng, (c) rõ ràng lãnh đạo cộng sản lòi cái cốt kinh niên chuyên xâm lược nước khác, và (d) rõ ràng “phe” xã hội chủ nghĩa vô đạo đức chuyên đánh nhau loạn xị không bao giờ đại đoàn kết hướng thượng như phe tư bản. Và người nghe bị lùng bùng lỗ tai, mất luôn lý trí chẳng còn ai có khả năng nhận ra kẻ giết hại người dân và trẻ nít Việt Nam chính là bọn Mỹ bằng vũ khí cấm vận của chúng ngăn chặn sự sống còn của cả một dân tộc sau khi vũ khí súng-đạn-bom thất bại hoàn toàn.

4- Phản Đòn Từ Sự Thật Láo Xạo:

Gậy ông đập lưng ông. Sự đồng thuận của Mỹ với Trung Quốc và Campuchea xâm lược Việt Nam từ hai hướng Bắc và Tây Nam cũng như cấm vận kinh tế và tâm lý chiến để nhiều triệu người Việt Nam vượt biên vượt biển hầu khiến Việt Nam vừa mất nguồn nhân lực sản xuất lương thực khu vực phía Nam, vừa mất cả danh thơm vì “giải phóng” kiểu gì mà người được giải phóng phải bỏ chạy chối từ ơn huệ “giải phóng” ấy, rốt cuộc đã đẩy Mỹ vào tiến trình tự hủy vì phải cưu mang hàng triệu người nhập cư mà nhiều thập kỷ qua chứng minh không bất kỳ ai trong họ hoặc hậu duệ của họ đã trở thành nhân tài làm nước Mỹ thịnh cường mà chỉ lo tụ năm tụ ba mãi miết xuống đường hét la và chế tạo tin tức nhảm nhí với ước mong làm sập Việt Nam cộng sản mà súng-đạn-bom-quân Mỹ đã thất bại hoàn toàn.

Chưa kể, chẳng bao giờ có chuyện hàng trăm điệp viên thượng thặng của cộng sản lại không luôn có mặt trên tất cả những con tàu vượt biên thành công tức những chuyến vượt biển mà an ninh cộng sản Việt Nam làm ngơ không bắt. Đây là lý do nhất cử nhất động của các nhóm chống cộng hải ngoại đều được mật báo chi tiết chính xác về Việt Nam và an ninh cộng sản cứ thoải mái nằm võng chốt chờ đúng ngày đúng giờ đúng phút đúng giây hốt sạch các đoàn Kinh Kha vác vũ khí và tiền giả mò về “phục quốc”.

Gậy ông đập lưng ông. Sự láo xạo về Triều Tiên nhiều chục năm qua đã khiến Âu Mỹ tuần trước đã nói ngọng đầy run sợ thực sự trước một Triều Tiên tự nhiên đột nhiên hùng mạnh thực sự.

Một Nam Hàn cực kỳ tàn bạo dưới sự lãnh đạo độc tài của Park Chung Hee (Việt Nam Cộng Hòa gọi là Tổng Thống Phác-Chánh-Hy) như nêu trong bài viết Tứ Trụ Bắc Việt xấn sổ hừng hực hùng hục ùa vào Việt Nam Cộng Hòa xa xôi để tiêu diệt cộng sản, nhằm giúp Việt Nam Cộng Hòa nhanh chóng thực hiện đại cuộc Bắc Tiến tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xem đó như cuộc tập dượt cho những kế hoạch hành động bạo tàn tương tự tiêu diệt Triều Tiên sát nách. Các cuộc thảm sát dân Việt do binh sĩ Nam Hàn thực hiện là minh chứng rõ nét nhất về sự khát máu của quân đội Nam Hàn trước đó đã từng tàn sát người dân Nam Hàn nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự Nam Hàn Phác-Chánh-Hy do Mỹ hậu thuẫn. Y hệt như kẻ ra lịnh tàn sát người dân nào dám chống lại chế độ độc tài quân sự “Nam Việt” do Mỹ hậu thuẫn, sẽ không bao giờ có chuyện Nam Việt từ bỏ đại cuộc giết sạch dân chúng “Bắc Việt” thậm chí còn cầu mong Mỹ sẽ ném bom nguyên tử để xóa sạch một lần và mãi mãi “Bắc Việt”. Bắc Hàn chưa nếm mùi bom nguyên tử chẳng qua Mỹ lo sợ phóng xạ tràn lên Trung Quốc kích hoạt sự trả đủa biến Hoa Kỳ thành hỏa ngục và phóng xạ tràn xuống tiêu diệt luôn cả Nam Hàn tiền đồn tử thủ của Hoa Kỳ làm trống hoác tuyến phòng thủ phía Đông.

Thế thì cái việc đơn giản mà không những Bắc Hàn và “Bắc Việt” cũng như bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ nhà lãnh đạo nào của bất kỳ quốc gia nào bị lâm vào hoàn cảnh tương tự luôn là phải tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn. Ai phản bác điều đơn giản mang tính chân lý này chỉ có thể là kẻ ngu khờ. Nếu các bạn lãnh đạo một quốc gia phải đối mặt với bọn hiếu chiến thề nguyền tiêu diệt bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, với sự giúp sức của siêu cường cũng đang quyết tâm xóa sổ bạn, đất nước của bạn, dân tộc của bạn, phải chăng bạn sẽ nhanh chóng đầu hàng ngay, dâng ngay thủ cấp của bạn, dâng nước cho kẻ thù?

Còn nếu bạn tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh hơn và có vũ khí tối tân hơn để tự vệ, để cứu quốc, để cứu sống cả dân tộc, thì xin kính mời bạn thành tâm học hỏi từ Triều Tiên và các lãnh đạo của Triều Tiên.

B- Che Đậy

Triều Tiên là đất nước bí mật vì luôn có sự che đậy từ hai phía.

1) Triều Tiên đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên:

Che đậy và tung hỏa mù là binh pháp hữu hiệu từ ngàn xưa để tự vệ của tất cả các “con” từ con thú đến con người.

Hoa Kỳ đã che đậy và tung hỏa mù và áp dụng cơ chế kỹ luật sắt nhằm bảo vệ nghiêm nhặt tất cả các căn cứ quân sự và tình báo ngay trên đất Mỹ.

Việt Nam Cộng Hòa luôn gắn bảng cấm chụp hình và “Vượt Qua Binh Sĩ Sẽ Nổ Súng” trước các vị trí đóng quân, ngay cả phía đối diện với trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký (tức trường Lê Hồng Phong, đường Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay).

Trong thế bị Mỹ và Nam Hàn chực chờ tiêu diệt, Triều Tiên đã luôn cấm du khách tự do đi lại, tự do chụp hình, cũng như không mặn mà khoe sức mạnh kinh-tài của đất nước, vì không muốn các thông tin chính xác về vị trí các cơ quan đầu não chính trị-kinh-tài bị tiết lộ, trở thành mục tiêu tấn công bằng hỏa tiễn của kẻ thù.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chiến thắng tuyệt toàn (tuyệt đối và toàn diện) trước Mỹ.

Nhờ che đậy và tung hỏa mù trình độ bậc thầy, Triều Tiên đã tồn tại cho đến ngày nay một cách không sao tưởng tượng nổi – nếu dựa trên tỷ tỷ thông tin hết sức đáng tin cậy của truyền thông Âu Mỹ nhiều thập niên qua.

2) Âu Mỹ đã che đậy tối đa, nhắm đến sự che đậy tất cả thông tin thực về Triều Tiên.

Trước sự thật là đã hoàn toàn thất bại về tình báo, gián điệp, và phản gián chống Triều Tiên;

Trước sự thật là Triều Tiên đã thành công trong giữ bí mật tuyệt đối;

Để che đậy sự bất lực của mình, Âu Mỹ đã nương theo đó loan truyền về sự tàn bạo khát máu của giới cầm quyền Triều Tiên, sự khiếp sợ và đói khổ của người dân Triều Tiên, sự chà đạp nhân quyền và tự do ngôn luận ở Triều Tiên, như những lý do hùng hồn chứng minh vì sao không thể có thông tin và hình ảnh cụ thể của Triều Tiên lọt ra ngoài để Âu Mỹ có thể chạm vào Triều Tiên.

Âu Mỹ chỉ có thể tung hê những phát biểu của một kẻ bôn đào nào đó từ Triều Tiên tố cáo chế độ Triều Tiên, xem đó như những lời đáng tin cậy nhất từ nguồn tin đáng tin cậy nhất của người dũng cảm nhất trong toàn bộ dân tộc Triều Tiên. Song, ngay cả tác giả bài viết này khi đọc một tải đăng trên Tweeter về phát biểu của một kẻ bôn đào từ Triều Tiên, đã có thể “tweet” ứng khẩu ngay bằng tiếng Anh trong phạm vi võn vẹn 140 ký tự tại @HoangHuuPhuoc rằng tất cả bọn bôn đào “chính trị” hiện nay trên toàn thế giới đều thực chất là hoặc đi kiếm ăn ngoài nước vì đói, hoặc trốn vì đã là tội phạm ở quê hương, hoặc đào tẩu vì là kẻ phản quốc hèn hạ; đồng thời nêu tên các kẻ bôn đào mà Mỹ đang quyết tâm phải truy nã bắt về trị tội cho bằng được như chuyên gia Edward Snowden của CIA là công dân Mỹ Quốc và chủ nhân Julian Assange của Wikileak là công dân Áo Quốc; huống gì các bậc tài trí vĩ đại của thiên hạ còn hùng biện đến đâu để dễ dàng vạch mặt “tiêu chuẩn kép” hèn hạ của bọn truyền thông Âu Mỹ.

C- Tự Thú Bất Ngờ

1) Triều Tiên Tự Thú:

Nhận thức được những gớm ghê của công nghệ của thời đại thông tin trong thám sát thám báo không gian, Triều Tiên biết rằng toàn bộ lãnh thổ của mình đã nằm gọn trong tầm nhìn chi tiết, rõ nét, thường xuyên của kẻ thù. Cũng vì vậy, một mặt Triều Tiên phát triển công nghệ cao về thông tin để mạnh mẽ bước chân vào mặt  trận chiến tranh công nghệ thông tin toàn cầu, một mặt nới lỏng các nội dung trước đây tuyệt đối cấm đoán, nhờ đó nhân loại bắt đầu có những hình ảnh về những nữ sĩ quan văn công sắc nước hương trời vác đàn vilon và cello đi lưu diễn hải ngoại cho nước ngoài biết thế nào là lễ độ với văn hóa Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (7)

Đặc biệt, các hình ảnh công khai của truyền thông Triều Tiên cũng như qua các ảnh chụp của các du khách Âu Mỹ cho thấy một Triều Tiên với thủ đô “Bình Nhưỡng” mà National Geographic phải tán thưởng là tuyệt đẹp, mà với sự công tâm thì người Việt Nam có thể phải thừa nhận trong tủi hổ tủi thân tủi nhục rằng không bất kỳ một thành phố lớn nào của Việt Nam cường thịnh no đủ có thể sánh bằng:

Wordpress Triều Tiên (8)Wordpress Triều Tiên (9)Wordpress Triều Tiên (10)Wordpress Triều Tiên (11)Wordpress Triều Tiên (18)

Chưa kể, tòa nhà Ryugyong Hotel 105 tầng cao sừng sững như một Kim Tự Tháp do một tập đoàn Ai Câp thiết kế – dù việc xây dựng nhiều năm vẫn chưa hoàn tất do tác động của cấm vận kinh tế – cũng đủ cho thấy sức mạnh kinh tế của Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (12)Wordpress Triều Tiên (13)

Phải chăng Triều Tiên nghèo đói lạc hậu chuyên môn diễu binh bằng hỏa tiễn cao su bong bóng nên đã xây một thành phố với những tòa nhà vĩ đại bằng cách lắp ghép các tấm tôn chất lượng mỏng dính thua sản phẩm của Tôn Hoa Sen và bằng những tấm bìa các-tông sơn bằng loại phẩm màu đặc biệt đến nỗi mưa không làm phai màu và gió bão cuồng phong không thể thổi bay tứ tán xuống thủ đô Seoul của Nam Hàn rồi tan thành bột giấy lọt xuống cống trôi ra Biển Hoa Đông?

Còn việc thiếu lương thực do đất nông nghiệp ít, mùa màng thất bát, cấm vận chặn ngăn, không thiếu mới là chuyện lạ. Vấn đề là thiếu thốn nhưng bản thân chính phủ Triều Tiên đã vận dụng khoa học vào sản xuất lương thực thay thế như thế nào, thành công ra sao. Tương tự, cường quốc nguyên tử Ấn Độ vì danh dự quốc gia đã tuyên bố không bao giờ nhận cứu trợ nhân đạo bất kỳ, và chỉ có thảm họa động đất kinh hoàng Latur ngày 30-9-1993 tàn phá tiểu bang Maharashtra giết chết 10.000 dân cư và làm bị thương 30.000 người (theo số liệu của cơ quan chức năng, trong khi số liệu không chính thức thì chỉ riêng số người chết đã là 30.000) mới làm ý chí ngạo nghễ đó sụp đổ dù Nhà Nước vẫn dựng nên rào cản rằng Ấn Độ nay muốn tạo điều kiện cho nhà từ thiện Âu Mỹ được thỏa lòng mong đợi nên xem xét chấp nhận cứu trợ nhưng với điều kiện tiên quyết rằng hàng cứu trợ thiên tai phải là hoặc mới nguyên, không nhận quần áo đã qua sử dụng, hoặc bằng hiện kim, theo đúng danh mục hàng hóa cần đến do Chính Phủ Ấn Độ chính thức phát hành.

Không phải tự nhiên trong tất cả các phim bộ truyền hình Nam Hàn (tức Hàn Quốc) chiếu ở Việt Nam hiện nay luôn có cảnh các món ăn đa số là rau, còn thịt luôn dùng làm quà tặng quý, cũng như mỗi khi thấy có thịt là mọi nhân vật trong phim đều phải diễn sao cho bật sự suýt xoa. Bắc Hàn và Nam Hàn đều chịu chung số phận những quốc gia nhiều đồi núi, ít đất canh tác lương thực, lại lắm thiên tai. Chương Trình Lương Thực Liên Hợp Quốc WFP đã phải tích cực tập trung tăng cường viện trợ lương thực cho Nam Hàn (tức Hàn Quốc) trong 20 năm liên tục (từ 1964 đến 1984) và kể từ năm 2000 Nam Hàn mới tự túc được lương thực, giảm tỷ lệ tử vong vì suy dinh dưỡng ở trẻ em, không những vậy còn bắt đầu đóng góp cho WFP cho đến nay được 140 triệu USD. Nếu Bắc Hàn (tức Triều Tiên) thiếu thốn lương thực nan giải hơn do cấm vận của Mỹ và Liên Hợp Quốc và chỉ dựa vào viện trợ lương thực vừa phải của một hai “nước anh em” thì đâu phải là chuyện lạ mà lại sử dụng việc “thiếu lương thực” để bôi nhọ chế độ Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên một cách u mê kém hiểu biết đến dường ấy?

Tất cả những người có danh dự, có lòng tự trọng, và có biết tôn trọng danh dự, luôn kính trọng tư cách giữ gìn quốc thể của Ấn Độ và tư thế tự lực sinh tồn của Triều Tiên trước bủa vây cấm vận của kẻ thù.

2) Thế Giới Tự Thú:

Sau khi tuyên bố chỉ có Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh Quốc và Pháp Quốc là những quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử NWS và xem phần còn lại của thế giới là các quốc gia không có vũ khí nguyên tử NNWS trong Hiệp Ước Không Phổ Biến Vũ Khí Nguyên Tử NPT năm 1970, cơ quan quốc tế có liên quan đã ngu xuẩn không nhìn nhận Ấn Độ, Pakistan, và Israel cũng là NWS, đồng thời từ chối yêu cầu của Triều Tiên đòi phải ghi Triều Tiên vào danh sách NWS. Sự ngu xuẩn ấy đã khiến Triều Tiên rút tên khỏi Hiệp Ước, và cùng Ấn Độ, Pakistan, và Israel mặc sức theo đuổi các chương trình quốc gia để chạy đua vũ trang chế tạo vũ khí nguyên tử.

Khi cười cợt nhạo báng sự điêu linh của Triều Tiên từ chuỗi các lịnh cấm vận, Mỹ và Liên Hợp Quốc đã lâm vào thế kẹt do Triều Tiên chưa từng được họ công nhận là quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử, nên do vậy các lịnh cấm vận đều bị Triều Tiên có quyền nguyền rủa, liệt Mỹ và Liên Hợp Quốc vào vị thế những kẻ làm càn, vô duyên, vô lý, bá đạo, khiến Mỹ và Liên Hợp Quốc chưa bao giờ có danh chính nghĩa trong “xử lý” Triều Tiên “tội” sở hữu vũ khí nguyên tử. Chưa kể, Triều Tiên đã rút ra khỏi Hiệp Ước nên không cơ quan quốc tế nào trên nguyên tắc có quyền sử dụng quyền trừng phạt “thành viên” áp đặt lên Triều Tiên. Đó là lý do dù Triều Tiên đã tuyên bố hủy bỏ hiệp ước, Hiệp Ước vẫn đôi co tranh cãi rằng Triều Tiên đã vi phạm…quy định về thời gian nộp đơn xin rút tên, và do đó mặc nhiên Triều Tiên vẫn là “thành viên” mặc cho mấy chục năm qua chẳng đi họp bao giờ.

Khi tần suất thử bom nguyên tử của Triều Tiên dày hơn, thường xuyên hơn, và khi thấy các tầm bắn của các hỏa tiển Triều Tiên ngày càng kinh khiếp hơn, như Nodong có bán kính đe dọa toàn diện tích Nhật Bản và các đảo của Mỹ; Musudon quét trùm 2/3 diện tích Nga; KN-14 ôm gọn toàn lãnh thổ Canada, 50% diện tích nội địa Hoa Kỳ, toàn bộ Châu Âu, toàn bộ Châu Đại Dương, và toàn bộ Đông Nam Á; và KN-08 bao trùm toàn bộ Hoa Kỳ và toàn bộ Mexico cùng các châu nằm trong bán kính tương tự, Mỹ và Châu Âu mới buộc phải thú nhận rằng Triều Tiên là một cường quốc nguyên tử.

Báo Politico còn thừa nhận rằng Triều Tiên là một trong những mục tiêu tình báo bấy lâu nay Âu Mỹ hoàn toàn không thể xâm nhập được, trong khi các cơ quan an ninh tình báo Mỹ lại bó tay trước các tin tặc tài ba mà họ cáo buộc là các cuộc tấn công xuất phát từ Nga và Triều Tiên:

Wordpress Triều Tiên (14)

Còn Mỹ tự nhiên lần đầu tiên tự đặt mình ở thế chiếu dưới khi Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley vừa qua đã phải tuyên bố tại Hội Đồng Bảo An ở New York rằng “Đã đủ rồi đấy. Chiến tranh không bao giờ là thứ Hoa Kỳ muốn có. Song sự nhẫn nhục của chúng tôi không phải là không có giới hạn”. Khi mà Mỹ phải “nhẫn nhục” chịu đựng thì rõ là tư thế của Mỹ đã không còn khí thế ngang tàng như bấy lâu nay.

Khi Mỹ tuyên bố lắp đặt các hệ thống tên lửa đánh chặn THAAD ở Hàn Quốc còn Nhật hùng hổ triển khai các hệ thống PAC-3 hùng mạnh sẵn sàng bắn hạ tất cả các hỏa tiển Triều Tiên không để chúng rơi xuống Hàn, Nhật hay đảo Guam của Mỹ, Triều Tiên lập tức khai hỏa bắn hỏa tiển bay băng ngang lãnh thổ Nhật Bản và rơi xuống biển sau hành trình 1.700 dặm sau những 9 phút chứ không phải 9 giây:

Wordpress Triều Tiên (15)

mà cả THAAD và PAC-3 trở nên vô dụng hoàn toàn thất bại không thể phát hiện bắn hạ ngăn chặn dù chỉ một hỏa tiển tấn công của Triều Tiên suốt quãng đường gần 2.000 dặm, nói chi đến lúc Triều Tiên khai hỏa bắn cấp tập hàng chục hỏa tiển túa ra khắp nơi đánh cùng lúc vào các mục tiêu ở Mỹ và Châu Âu!

Để cứu gỡ thể diện, Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Bà Nikki Haley tuyên bố Triều Tiên đang lạy lục xin xỏ – với động từ dành cho kẻ ăn mày “beg” – chiến tranh (“begging for war”) ra vẻ như Triều Tiên là kẻ ăn mày thèm khát chiến tranh còn Mỹ sẽ xem xét bố thí cho một cuộc chiến tranh. Truyền thông Việt Nam để ghi điểm với Mỹ đã nhanh nhảu dịch rồi giúp Mỹ loan tin với từ ngữ miệt thị bỡn cợt Triều Tiên rằng:

Wordpress Triều Tiên (16)

Tất nhiên, giống với tất cả các cơ quan truyền thông trên toàn thế giới thực sự có uy lực biết giữ gìn quốc thể – trong đó hoàn toàn thiếu vắng truyền thông Việt Nam – truyền thông Triều Tiên đã dõng dạc tuyên bố: “Đại Sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Nikki Haley là một con đĩ chính trị chỉ biết xum xoe tốc váy…hãy biết giữ cái mồm kẽo…” (North Korea on Friday called U.S. Ambassador to the United Nations Nikki Haley a “political prostitute” and derided her as “crazy swishing her skirt” after Haley said the rogue regime was “begging for war”…).

Tất nhiên, toàn hệ thống truyền thông chính thống Việt Nam không hề phổ biến khẩu khí đốp chát tuyệt hảo trên cơ này của truyền thông Triều Tiên.

Trong khi đó, Thủ Tướng Đức Angela Merkel xun xoe tuyên bố sẵn sàng đứng ra giúp đàm phán với Triều Tiên ngay lập tức nếu được mời tham gia (‘I would say yes immediately if we were asked to join talks.’)

Báo The Guardian của Anh Quốc đột nhiên trỡ giọng lễ độ, có bài ghi rằng nền kinh tế Triều Tiên tăng trưởng 3,9% năm 2016 với tốc độ nhanh nhất trong 17 năm qua, rằng ông Kim Jong-un làm gì là để chiến thắng chứ không chấp nhận huề, rằng nếu bị dồn vào chân tường ông sẽ y như Nhật Hoàng tấn công luôn Trân Châu Cảng, rằng sở dĩ phải sở hữu vũ khí hạt nhân vì ông ấy phải đối mặt với sự xâm lược của Mỹ do ý định không đổi của Mỹ là thay đổi chế độ Triều Tiên cũng như ông không muốn chịu chung số phận của Saddam Hussein là người đã vì nghe lời Mỹ hủy các vũ khí giết người hàng loạt mà sau đó bị Mỹ sát hại, và rằng ông Kim chỉ dữ dằn hiếu chiến chứ không có điên khùng điên loạn điên rồ gì sất.

Không hề thua kém đồng nghiệp, tờ Telegraph danh tiếng cũng của Anh Quốc ngày 10-9-2017 đưa tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Anh Quốc Ngài Michael Fallon phân trần với Đài BBC rằng “Mỹ có quyền bảo vệ lãnh thổ của Mỹ và người dân Mỹ, nhưng họ sẽ làm ta bị liên lụy, vì cần nhớ là Thủ đô Luân Đôn gần với hỏa tiễn Triều Tiên hơn là Los Angeles“, nghĩa là nếu Mỹ gây sự với Triều Tiên thì Anh Quốc bị tiêu diệt trước cả Mỹ, và rằng “bằng mọi giá phải tránh cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Triều Tiên.” Telegraph cũng ghi lại phát biểu của Tổng Thư Ký NATO Jens Stoltenberg rằng chế độ Bình Nhưỡng giờ đây nổi lên như một sự đe dọa toàn cầu.

Vậy là đã xuất hiện những lời tự thú của những kẻ đã biết thế nào là lễ độ với Triều Tiên, đã phải điều chỉnh ngôn ngữ vì lợi ích an ninh của chính quốc gia họ mà bắt đầu nêu những lời tốt đẹp về con người Triều Tiên, xã hội Triều Tiên, phúc lợi hạnh phúc Triều Tiên, phát triển kinh tế Triều Tiên, cảnh đẹp Triều Tiên, dưới sự lãnh đạo vững vàng tài ba của Kim Jung-un!

D- Nhận Định

1) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về An Ninh Quốc Gia:

Chọc giận “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” (lời bài hát của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong chiến tranh chống Mỹ) và chọc giận lãnh đạo đoan chính anh hùng bất khuất Kim Jong-un không bao giờ có thể là sự khôn ngoan.

Có một tên tự xưng là “nhà sử học” và một tên tướng lĩnh quèn phản phúc đã tuyên bố rằng “chính Kim Nhật Thành và Triều Tiên đã ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam” mà không hề đưa ra được các liên kết sử liệu nào chứng minh xuất xứ thông tin. Mặc cho cả hai  tên này đều ngu dốt ngang nhau ở chỗ các sử liệu chỉ có giá trị sau khi nghiên cứu từ tất cả các nguồn trên thế giới sau từ 50 đến 90 năm (nghĩa là phải chờ Mỹ, Trung Quốc, Nga, và Triều Tiên công bố sử liệu có liên quan trực tiếp đến Việt Nam theo quyết định của họ là sau 50 hay 90 năm) nên các tuyên bố vung vít của chúng là rác rưởi, thì tác giả bài này cũng nhân đây nêu rõ thêm các nguyên tắc khác sau đây:

a- Triều Tiên có quyền có quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam và Ấn Độ cực kỳ hữu hảo, nhưng Ấn Độ không bao giờ lên tiếng trách Việt Nam hữu hảo cả tá “chữ vàng” với Trung Quốc là kẻ thù không đội trời chung của Ấn Độ cả.

b- Việc Kim Nhật Thành đón tiếp trọng thị phái đoàn của Campuchea và trao tặng “đồng chí” Pol Pot danh hiệu Anh Hùng Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là chuyện thù tạc thuộc chủ quyền của Triều Tiên.

c- Thậm chí trong nguồn tin chính thức gần như là duy nhất có liên quan đến sự việc trên qua công bố của nhà báo Nate Thayer thì trong bài viết dài 2.282 từ tiếng Anh của ông đã có 30 lần sử dụng chữ Việt Nam, nhưng chẳng có lời bất kỳ nào viết rằng chính Kim Nhật Thành ủng hộ Pol Pot đánh Việt Nam cả. Nhét chữ vào mồm người khác – mà người khác ở đây là một nhà báo nước ngoài có thế lực hẳn hoi chứ không phải nghị sĩ Hoàng Hữu Phước không phải đảng viên luôn bị Đảng “đì” ngay từ lúc còn dưới mái trường đại học, không phe nhóm chẳng ô dù nào của “Tứ Trụ Triều Đình” che bớt nắng mưa – là hành động điên rồ ngu xuẩn của kẻ thất học.

Vì vậy người dân Việt Nam nhất thiết phải cảnh giác trước những kẻ vì đần độn mà láo xạo về Ông Nội của Kim Jong-un để rồi Việt Nam có nguy cơ có ngày đón chào tên lửa nguyên tử KN-14 của Triều Tiên dội xuống Huế-Sài Gòn-Hà Nội.

2) Việt Nam Hãy Giữ Mình Về Kinh Tế – Chính Trị:

Khi Tổng Thống Mỹ Donald Trump tuyên bố đang xem xét việc ngưng các hoạt động thương mại với bất kỳ quốc gia nào “mần ăn” với Triều Tiên

Wordpress Triều Tiên (17)

thì tất nhiên Việt Nam sẽ có lúc vì “Việt Nam Trên Hết” mà phụ nghĩa với Triều Tiên, chấm dứt quan hệ kinh tế với Triều Tiên, chấm dứt cứu trợ nhân đạo Triều Tiên, tuân theo lịnh của Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc.

Tất nhiên “nhân dân anh dũng Bắc Triều Tiên” và lãnh tụ anh hùng Kim Jong-un sẽ không bao giờ trách móc Việt Nam. Chính vì vậy mà Việt Nam nhất thiết phải nghiêm cấm báo chí truyền thông (có quyền cấm báo chí truyền thông vì báo chí truyền thông là công cụ tuyên truyền của Đảng chứ không phải là bọn báo chí tư nhân mà có quyền đòi tự do ngôn luận) có bất kỳ bài báo nào vô đạo đức hùa theo Âu Mỹ mà xúc xiểm Triều Tiên cùng lãnh đạo Triều Tiên, để ít ra Việt Nam còn le lói sót lại một chút ánh sáng nhân văn.

3) Mưu Kế Lăng Tần:

Vài học trò hỏi tôi rằng vào thời của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein tôi đã cho rằng Triều Tiên nắm vận mạng thế giới mà Saddam nên dựa dẫm vào để duy trì cân bằng quyền lực toàn cầu; còn vào thời thịnh trị lấn lướt tuyệt đối của Đảng Dân Chủ Mỹ tôi vẫn cho rằng ứng cử viên đầy tai tiếng về những hành vi bất nhã đối với phụ nữ không tí kinh nghiệm chính trường Donald Trump sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ, thế thì nay vào thời kỳ của “Tổng Thống” Triều Tiên Kim Jong-un tôi có nhận định thế nào cho thời gian đang đến.

Tôi đã trả lời rằng lần này tôi sẽ nói trực tiếp riêng với các em chứ không phơi bày gan ruột sự thấu thị của mình trên mạng xã hội “chùa” mà vài chục người đọc nín thinh lại phải đối chọi với quân đoàn báo chí hùng hậu có kiểu cách thấp kém chỉ biết chửi bới chê bai chứ không có khả năng bút chiến luận. Do đó, dù việc thấu thị là sự đương nhiên sẵn có về phân tích chính trị thế giới trong hiễm họa đao binh nguyên tử đang làm cả Châu Âu run sợ, tôi vẫn sẽ không để bản thân tạo điều kiện cho chúng ghét. Tôi chỉ có thể nói nương theo bài Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi để cảnh báo Liên Hợp Quốc rằng đừng dại dột tụ năm tụ ba ra hết nghị quyết này đến nghị quyết khác trừng phạt Triều Tiên vì rằng chỉ cần Kim Jong-un mưu lược rút ra khỏi Liên Hợp Quốc là đã đủ triệt tiêu danh dự Liên Hợp Quốc, làm tiêu tan quyền lực Liên Hợp Quốc, tiến tới xóa sổ Liên Hợp Quốc. Hãy học theo truyền thông chính thống Châu Âu khi ngày hôm trước còn nói Triều Tiên nghèo đói lầm than dưới sự lãnh đạo của một tên điên loạn khát máu thì sang ngày hôm sau đã dịu giọng rằng Triều Tiên phát triển kinh tế nhanh nhất tạo phúc lợi tốt đẹp cho người dân dưới sự lãnh đạo sắt đá của một vị tổng tư lệnh chỉ biết phải chiến thắng để bảo vệ danh dự quốc gia và bảo vệ nhân dân chứ không chấp nhận ngay cả điểm huề trước siêu cường Hoa Kỳ cùng tổ chức Liên Hợp Quốc; rằng du khách đã được phép chụp hình Thủ Đô Bình Nhưỡng từ trên máy bay nên thế giới nay biết Bình Nhưỡng đẹp mê hồn; rằng nơi đâu cũng thấy nhi đồng vui chơi dưới sự chăm sóc của một chế độ mà từ y tế đến giáo dục và nhà cửa đều được cấp miễn phí, v.v., tức những điều nghe qua cứ ngỡ phải mất thêm một thiên niên kỹ nữa may ra mới có thể có ở Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Cảnh báo: Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

Mưu kế Lăng Tần về Iraq-Triều Tiên: Tôi và Saddam Hussein

Sự điên loạn của Nam Hàn: Tứ Trụ Bắc Việt

Khẳng định về Donald Trump: Tôi Ủng Hộ Donald Trump

Thông tin về sự lo lắng của Châu Âu đối với uy lực Triều Tiên trên báo The Telegraph: http://www.telegraph.co.uk/news/2017/09/10/britain-threat-north-korean-nuclear-missiles-says-defence-secretary/

Báo The Guardian nói tốt về Kim Jong-un: https://www.theguardian.com/world/2017/sep/08/in-the-court-of-kim-jong-un-ruthless-bellicose-despot-not-mad

Nạn đói ở Triều Tiên: http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:https://vn.sputniknews.com/asia/20151112865043/

Nạn đói ở Nam Hàn: http://www.wfp.org/news/news-release/wfp-executive-director-commends-republic-korea-taking-zero-hunger-challenge

Suy Nghĩ Trong Ngày

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-9-2017

Nguyên tác Tiếng Anh: Suy Nghĩ Trong Ngày

Bản dịch Tiếng Việt: Suy Nghĩ Trong Ngày.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hội Chứng Hoàng Sa  28-7-2014

Thư Khẩn Kính Gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

Về Đại Án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-8-2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Văn Phòng Nghị Sĩ Khóa XIII Hoàng Hữu Phước

Công văn Số:  002/2017/CV

V/v Đại Án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2017

Kính gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

 

Kính thưa Tổng Bí Thư:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính lời chào trân trọng đến Tổng Bí Thư và kính trình bày cùng Tổng Bí Thư nội dung sau:

Tôi có nhận được Thư Kêu Cứu Khẩn Cấp của công dân Nguyễn Thị Ái Lan, ngụ tại số 14B Đường 21 Khu Dân Cư Bình Hưng Huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh, là Giám Đốc Phòng Quản Lý Tài Sản Nợ Và Có của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á, ký ngày 30-8-2017, gởi đến Văn Phòng của tôi cùng ngày, có nội dung kêu oan và bị ép cung đối với ba nội dung gồm (a) việc thất thoát hơn 2.000 tỷ đồng và hơn 60.000 lượng vàng, (b) hoạt động liên quan đến kinh doanh và quản lý vàng, và (c) hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007.

Sau khi nghiên cứu nhanh hồ sơ, ngoài những lời kêu oan của công dân Nguyễn Thị Ái Lan, tôi nhận thấy có tình tiết quan trọng rằng Văn Phòng Trung Ương Đảng đã gởi hơn 11.000 lượng vàng tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á từ năm 2009 đến năm 2016.

Nhận thấy việc Văn Phòng Trung Ương Đảng gởi số vàng lớn tại một ngân hàng là việc bình thường vì đây là hoạt động kinh tài của Đảng; song, việc gởi số vàng lớn trên tại một ngân hàng như Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á thay vì một ngân hàng lớn của Nhà Nước là hành động cực kỳ bất cẩn vì ắt sẽ bị Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á lạm dụng với sự tin tưởng rằng sẽ được Đảng bảo bọc và bảo vệ, dẫn đến sự tự tung tự tác làm càn của lãnh đạo ngân hàng đối với tài sản ngân hàng, mà hậu quả là nảy ra ung nhọt mang tên “đại án Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đông Á” với sự biến mất của hơn 2.000 tỷ đồng và hơn 60.000 lượng vàng; và

Nhận thấy tất cả các cơ quan Đảng ở Thành phố Hồ Chí Minh dù đó là Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh hay Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi mà các đảng viên lãnh đạo cấp cao đã để cho các đảng viên chức sắc dưới quyền ra tay phá hoại buổi hiệp thương của tôi tiếp xúc cử tri cho kỳ bầu cử Quốc Hội Khóa XIV, hiện không có bất cứ đảng viên cấp cao nào có uy tín thanh liêm, có năng lực lãnh đạo, có tư thế đáng tin, và có tư cách đáng trọng, để tôi có thể khẩn trương đến liên hệ trực tiếp bàn về Thư Cầu Cứu nêu trên;

Tôi quyết định gởi khẩn thư này cùng thư kêu oan của công dân Nguyễn Thị Ái Lan đến Ông Tổng Bí Thư để Ông Tổng Bí Thư xem xét, chỉ đạo chấn chỉnh, chỉ đạo giám sát xử lý công minh các nội dung như lời kêu cứu của công dân.

Đồng thời, tôi cũng quyết định công khai nội dung này trên blog của tôi, để bảo đảm các nội dung kêu oan trên tránh được sự can thiệp giấu diếm rất có thể có nơi cán bộ của Đảng khi tiếp nhận thư của tôi gởi cho Tổng Bí Thư.

Kính gởi đến Tổng Bí Thư sự kỳ vọng, lòng kính trọng, và lời chào trân trọng.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-Sĩ Khóa XIII (2011-2016), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XV (2021-2026), Ứng-cử-viên Quốc Hội Khóa XVI (2026-2031)

ĐƠN KÊU CỨU KHẨN CẤP VỀ VIỆC CƠ QUAN ĐIỀU TRA ÉP CUNG NGƯỜI VÔ TỘI  TRONG “ĐẠI ÁN NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á”

Kính gửi: Ông Hoàng Hữu Phước – Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII

        Kính thưa Đại Biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Thị Ái Lan, Giám  đốc Phòng quản lý tài sản nợ và có của Ngân Hàng TMCP Đông Á, hiện ngụ tại số 14B Đường 21 Khu Dân Cư Bình Hưng, Bình Chánh, Thành phồ Hồ Chí Minh, kính gởi Ông thư cầu cứu khẩn cấp này về việc cơ quan điều tra C46 đã ép cung tôi là người vô tội trong “Đại Án Ngân Hàng TMCP Đông Á” như sau:

Liên quan đến “Đại Án Ngân Hàng TMCP Đông Á, tôi hoàn toàn không có vi phạm nào hay liên đới chịu trách nhiệm gì trong các vụ việc sai phạm đã xảy ra tại Ngân Hàng TMCP Đông Á. Là công dân có tinh thần trách nhiệm cao, tôi đã nhiệt tình hỗ trợ khi cơ quan điều tra C46 đến làm việc với Ngân Hàng TMCP Đông Á đề nghị tất cả các phòng ban tại Ngân hàng Đông Á hỗ trợ cung cấp các thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra.

Tuy nhiên, vào ngày 29/08/2017 ông Trung thuộc C46 gọi điện thoại yêu cầu tôi lúc 14 giờ chiều cùng ngày yêu cầu tôi đến số 258 Nguyễn Trãi hợp tác cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra mà không có bất cứ thư mời nào gửi đến cho tôi. Tiếp tôi là một người nam cán bộ mặc thường phục không mang bảng tên. Khi tôi hỏi thì ông cho biết tên là Tuấn Anh, và khi tôi yêu cầu cung cấp thư mời về buổi làm việc này thì ông từ chối và không trả lời câu hỏi của tôi về phòng ban mà ông phụ trách. Trong suốt buổi làm việc bắt đầu từ 14 giờ đến 17 giờ, ông Tuấn Anh đã liên tục truy bức tôi, và thúc ép tôi phải ký vào biên bản với những nội dung không đúng với bản chất thật sự của sự việc, mặc dù tôi đã đề nghị được điều chỉnh lại nội dung theo đúng sự thật vì tôi là người vô tội. Sau đó, Ông Tuấn Anh yêu cầu tôi phải đến trình diện tại số 258 Nguyễn Trãi vào 8 giờ sáng ngày hôm sau- 30/08/2017. Sáng nay, thứ tư 30/08/2017 khi tôi có mặt lúc 8 giờ sáng theo yêu cầu ông Tuấn Anh thì Ông Tuấn Anh đã có thái độ và ngôn từ xúc phạm đe dọa rằng ông sẽ chuyển hồ sơ của tôi đến Lãnh Đạo Bộ Công Án và chuyển hồ sơ của tôi qua Viện Kiểm Sát ngay trước lễ Quốc Khánh 02/09/2017.

Vì trong thực tế đã xảy ra những vụ án oan sai mà hậu quả là do các điều tra viên của Bộ Công An ép cung hoặc định hướng trong quá trình điều tra theo ý kiến chủ quan để sớm kết thúc vụ án nhằm lập thành tích hoàn tất việc điều tra chứ không theo sự thật khách quan khiến gây oan sai cho người vô tội. Và qua cách thức làm việc không theo đúng quy định của ông Tuấn Anh như không gửi thư mời, mặc thường phục, không đeo bảng tên, liên tục truy bức tôi, cho thấy đã có dấu hiệu bất thường trong cung cách làm việc của điều tra viên C46.

Vì vây, tôi kính gửi đơn này đến Ông Hoàng Hữu Phước, Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII, để khẳng định tôi hoàn toàn vô tội đối với ba nội dung sau:

1) Việc Ngân Hàng TMCP Đông Á bị thất thoát hơn 2.000 ngàn tỷ đồng và hơn 60 ngàn lượng vàng (hơn hai ngàn tỷ đồng và hơn sáu mươi ngàn lượng vàng):

Liên quan đến việc Ngân Hàng TMCP Đông Á giữ hộ vàng của Văn Phòng Trung Ương Đảng từ năm 2009 đến năm 2016 với số lượng hơn 11 ngàn lượng vàng (hơn mười một ngàn lượng vàng), cá nhân tôi – cũng như các nhân viên khác – biết ngân hàng có thực hiện việc trả lãi giữ hộ vàng cho Văn Phòng Trung Ương Đảng trước khi có Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 27/07/2012 và đã ngưng trả lãi giữ hộ vàng chỉ thu phí giữ hộ vàng của Văn Phòng Trung Ương Đảng theo quy định của chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 27/07/2012. Do vậy, cá nhân tôi không thể chịu trách nhiệm  hay liên đới chịu trách nhiệm đối với một việc “đại sự” có liên quan đến Trung Ương Đảng như thế.

2) Hoạt động liên quan đến vàng:

a- Căn cứ quyết định số 1803/QĐ-DAB ngày 26/08/2013 về việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức của khối kinh doanh – nguồn vốn do Tổng Giám Đốc ký ban hành có hiệu lực ngày 26/08/2013, Điều 4 mục 4.3 có quy định về nhiệm vụ của phòng nguồn vốn nhưng không có chi tiết nào có nội dung rằng tôi được phân công thực hiện các hoạt động liên quan đến việc niêm phong, đóng gói vàng, phân loại vàng, phân biệt giữa vàng kinh doanh và vàng giữ hộ, ghi chi tiết từng loại vàng tồn quỹ, lưu các chứng từ liên quan đến vận chuyển vàng hay điều chuyển vàng giữa các đơn vị trực thuộc và Hội sở, quy định nội bộ về hạch toán vàng, cũng như sử dụng vàng giữ hộ để kinh doanh. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

b- Ngoài ra, tôi cũng chưa bao giờ được phân công phụ trách việc kinh doanh và cũng không được phân công việc hướng dẫn hạch toán tuân thủ các quy định tại thông tư số 17/2014/TT- NHNN ban hành ngày 01/08/2014 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam về việc quy định phân loại, đóng gói, giao nhận, kim khí quý, đá quý có hiệu lực kể từ ngày 15/09/2014, hạch toán theo hướng dẫn nêu tại công văn 5376/NHNN-TCKT ngày 23/08/2012 của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam cũng như việc tuân thủ chỉ thị 05/CT-NHNN ngày 27/04/2012 về việc sử dụng vàng để kinh doanh mua bán và theo các văn bản quyết định, các quy định và quy trình của Ngân hàng Đông Á.  Vì vậy, tôi đương nhiên cũng hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

c- Thêm vào đó, tôi cũng chưa bao giờ được phân công tham gia là thành viên của Ban Kiểm Quỹ và Hội Đồng Kiểm Kê. Trong suốt thời gian này, tôi cũng chưa bao giờ nhận bất kỳ văn bản nào của Ban Kiểm Soát Nội Bộ, Ban Kiểm Toán Nội Bộ hay bất kỳ khối phòng ban nào trong nội bộ Ngân Hàng Đông Á hay bất kỳ cơ quan chức năng nào, nêu nội dung rằng tôi đã không tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, của Ngân hàng Đông Á, hay các chỉ thị, thông tư,hướng dẫn nêu trên. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nêu trên nếu các hoạt động ấy được chứng minh là sai phạm và vi phạm luật pháp quốc gia.

3) Hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007:

Căn cứ theo các văn bản Quyết định nhập khẩu ngoại tệ được ban hành bởi Ban Tổng Giám Đốc và phiếu đề nghị của Phòng Kinh Doanh chuyển sang, tôi theo quy trình nghiêm nhặt của Ngân Hàng Đông Á đã lập phiếu thu cho các lô nhập khẩu ngoại tệ, sau khi lập phiếu thu tôi đã chuyển toàn bộ các phiều thu có đính kèm Quyết định nhập khẩu ngoại tệ được ban hành bởi Ban Tổng Giám Đốc và phiếu đề nghị của Phòng Kinh Doanh chuyển sang theo phiếu thu sang cho bên Kiểm soát của Ngân hàng TMCP Đông Á. Vì vậy, tôi đương nhiên hoàn toàn không có bất kỳ trách nhiệm nào hoặc liên đới chịu bất kỳ trách nhiệm gì đối với các hoạt động nhập khẩu ngoại tệ các năm 2006 và 2007 nếu các hoạt động này của Ngân hàng Đông Á được chứng minh là có dấu hiệu vi phạm.

 

Với các nội dung giải trình nêu trên, kính mong Ông Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII Hoàng Hữu Phước hãy vì lòng công tâm của Ông mà vui lòng xem xét đơn cầu cứu này của tôi và can thiệp kịp thời để người vô tội như tôi không buộc phải gánh chịu các hậu quả thay cho những kẻ gây ra tiêu cực vi phạm mà tôi đang rất lo sợ cho an nguy của bản thân từ cung cách ép cung của các điều tra viên của Bộ Công An.

Kính đơn,

Nguyễn Thị Ái Lan

Ailan (3)Ailan (2)Ailan (1)

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-8-2017

Bài 3:

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Kính mời đọc lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ đăng ngày 23-8-2013 tại  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/23/loi-khuyen-danh-cho-gioi-bac-si/ trên blog này của WordPress.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ  – 2013

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-8-2017

Bài 2:

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

(Bài đăng lần đầu ngày 05-4-2010 ở http://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang trên Emotino)

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-4-2010

Y Tế Bài 2

A- Dẫn Nhập: Ba Điều Bốn Chuyện

Trong một bài viết gần đây tôi có nêu lên ba điều rõ ràng tối cần thiết trong xã hội mới, thời đại mới, những ràng buộc nhân-quả mới, cực kỳ khắc nghiệt và nghiêm trọng nhãn tiền, để mong ai cũng hiểu rằng chính mình đang kinh doanh – nếu đang sống thực sự, làm việc thật sự, có trí hóa thật sự, và có giáo dục thật sự – và hiểu cái đạo l‎ý kinh doanh thực sự phải như thế nào, đó là

(a) không ngừng chăm chút tuyệt vời cho sản phẩm chào bán,

(b) xem khách hàng là vua, và

(c) thu được lợi nhuận chân chính để tự lo có được cuộc sống bản thân và gia đình tốt hơn .

Với ba điều ấy, tôi dẫn ra bốn chuyện trong đó có nói về giới y bác sĩ cũng như những hậu quả khôn lường từ sự chưa bao giờ đặt ra đúng ý nghĩa cho những “ngày tôn vinh” nghề nghiệp, trong đó có một ngày liên quan đến sinh mạng vật chất của con người, và có một ngày liên quan đến sinh mạng tinh thần cũng của con người, mà phạm vi bài này xin chỉ nói về những Thiên Thần Áo Trắng, chưa nói gì đến các vị Thiên Thần Phấn Trắng Nhất Tự Vi Sư, Bán Tự Cũng Vi Sư tuốt.

B- Lương Y: Phân Định Lại Từ Ngữ Cho Đúng

Trước khi nói về các Thiên Thần Áo Trắng – tạm cho là danh từ đặc biệt này do người đời đặt cho thày thuốc dù cán cân nặng hơn nghiêng về hướng … các thầy thuốc tự gọi mình như thế để tự tôn vinh mình, hệt như … Thiên Thần Mũ Đỏ “tự phong” của quân Nhảy Dù chế độ Cộng Hòa – tôi thấy nhất thiết phải làm rõ một điều bất hợp l‎ý trong sử dụng từ ngữ: “bác sĩ” là tên gọi cho thầy thuốc Tây Y và “lương y” cho Đông Y và Nam Y.

Lương y như từ mẫu là câu thường được nghe nói đến, có nghĩa “thầy thuốc lương thiện tốt lành có lương tâm luôn chăm sóc bịnh nhân kỹ lưỡng như người mẹ hiền chăm sóc con thơ”; như vậy, nếu dùng “lương y” để gọi riêng thầy thuốc Nam hay thuốc Bắc tức Đông Y thì phải chăng Tây Y không … “lương thiện”? Thêm vào đó, nhiều thầy thuốc gia truyền cây nhà lá vườn không có học vị nên không thể xưng danh bác sĩ, phải núp sau từ “lương y” để hoạt động khám chũa bệnh. Ngoài ra, cách gọi “lương y” mang ý phân biệt đối xử, bên trọng, bên khinh, cứ như thể đã qua thế kỷ hai mươi mốt rồi mà các “bác sĩ” Việt Nam vẫn còn mông muội cho rằng chỉ có họ mới được đào tạo bài bản hàn lâm, còn đồng nghiệp Đông Y vẫn còn theo lối cũ truyền khẩu hay gia truyền hay sao?

Vì vậy, cách duy nhất đúng cho chức nghiệp này nên là “bác sĩ Tây y” và “bác sĩ Đông y” để từ đó mới phân định bác nào hữu lươngbác nào bất lương qua cách từng bác đã và đang làm gì với chức nghiệp cụ thể, với bịnh nhân cụ thể, và với cái lương tâm trừu tượng.

C- Vấn Đề Trang Phục: Trắng – Xanh – Trần

1- Trắng: 

Trước đây y bác sĩ Phương Tây hay mặc áo trắng mà mục đích thật sự chỉ là để làm nổi bật màu máu bịnh nhân. Sự mất vệ sinh này là điều tệ hại có thật, không là sự bôi nhọ y tế Âu Mỹ cận đại.

Trong cuối thế kỷ XIX,  25% sản phụ tại Mỹ chết ngay sau khi sinh vì chứng sốt sản hậu puerperal fever mà sau này được phát hiện là do khuẩn Streptococcus pyogenes gây ra. Vào năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (có con trai là Oliver Wendell Holmes Jr. sau làm Chánh Án Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ) phát hiện tỷ lệ cao các sản phụ chết do sản hậu có thể được làm giảm đi đáng kể nếu ông rửa tay tay sạch sẽ sau mỗi lần đỡ đẻ. Ông vội vàng viết một bài gởi đăng trên Tạp Chí Tam Cá Nguyệt Dược Phẩm & Phẫu Thuật New England, để rồi bị đồng nghiệp khắp nơi chống đối, phỉ báng, đe dọa xóa tên khỏi Viện Hàn Lâm Y Học do dám biến những bác sĩ đáng kính thành những tên giết người dơ dáy do họ sau mỗi ca phẫu thuật hoặc thực tập trên tử thi xong là chùi đôi tay vấy máu mủ tanh hôi lên áo rồi quay sang đỡ đẻ hay giải phẫu cho người khác, xem chiếc áo trắng đầy máu mủ tanh tưởi là chứng tích của sự tận tụy của một thiên chức cao qu‎ý lịch lãm hàn lâm. Song, ông còn may mắn hơn một đồng nghiệp khác là bác sĩ Ignaz Philipp Semmelweis người Áo gốc Hungary vốn về sau được tôn vinh là ân nhân của sản phụ toàn thế giới (…phương Tây), “nổi tiếng” hơn cả Holmes.  Semmelweis trong cùng thời gian trên do đau lòng trước tỷ lệ tử vong quá cao của sản phụ đã dày công tìm hiểu và chế ra một dung dịch sát trùng, yêu cầu các bác sĩ dùng rửa tay ngay sau mỗi lần giải phẩu tử thi hay bịnh nhân, nhưng ông bị công kích, tấn công, tẩy chay, trừng phạt, đến độ ưu uất, tinh thần sa sút trầm trọng, rồi qua đời trong nghèo khó và im lặng với chỉ đôi ba người đưa đám, không có đến một lời cáo phó hay thông tin của bất kỳ bịnh viện hay viện hàn lâm nào trên báo chí. Làm con người ai cũng có cái đức tính thiên phú để phân biệt người và thú là lòng biết ơn, do đó bịnh nhân rất có thể đã xem y bác sĩ như vị thần cứu mạng của mình, gọi họ là những thiên thần áo trắng, không màng đến việc tấm áo trắng ấy thật ra rất rằn-ri đỏ hay lốm đốm đỏ hay chằng chịt hoa văn đỏ chứ không tinh thuần, khiết trắng.

2- Xanh:

Tuy nhiên, theo thời gian thì chân l‎ý bao giờ cũng lấy lại được giá trị tự thân, và bác sĩ Tây Y của thế kỷ hai mươi bắt đầu học cách vệ sinh y như bác sĩ Đông Y thời…trung cổ (ngay ở Việt Nam các “bà mụ đỡ đẻ” ở nông thôn từ ngàn xưa cũng đã biết rửa tay bằng nước trà hoặc nước pha rượu hay nước nấu với thảo dược, trước khi đưa bàn tay vào cơ thể sản phụ), khiến màu trắng trở thành sự tinh khiết, “vệ sinh” vốn rất cần thiết đối với môi trường y tế. Nhưng cũng theo thời gian, người ta thâm thúy hơn, hiểu biết hơn, lịch sự hơn, tâm l‎ý hơn, và chuyên nghiệp hơn nên biết rằng màu áo trắng trong khung cảnh trắng toát của bịnh viện trở nên đáng sợ, tang tóc, lạnh lẽo, gây tâm l‎ý bất an nơi bịnh nhân, cũng như màu đỏ của chữ thập luôn nhắc nhở đến máu me và tai họa. Nhiều nước tiên tiến đã điểm trang bộ mặt y tế của mình khác đi, với tường bịnh viện màu xanh lá, áo y bác sĩ màu xanh lá, và xe cứu thương có chữ thập màu xanh lá (hoặc xanh dương, và bỏ luôn “chữ thập” vốn được nhiều tỷ người cho là hình tượng của …nghĩa trang, hoặc “né” bằng cách thay chữ thập bằng ngôi sao sáu cánh hình thành từ 3 miếng băng cá nhân); thậm chí các y bác sĩ cũng vì màu xanh tâm l‎ý thân thiện với bịnh nhân mà không đeo vắt vẻo cái ống nghe stethoscope khi không đang trực tiếp khám bịnh tại bàn làm việc của riêng mình; lúc nào cũng cố ra dáng khoan thai, dịu dàng, thay vì lúc nào cũng vắt ống nghe trên người ra vẻ khẩn trương, bận rộn, tất tả, dù chỉ là đi qua lại trong hành lang, gợi thiên hạ nhớ lại thời kỳ nhiều thế kỷ các vị cần mẫn tận tụy trét đầy máu mủ trên người.

Nhưng đó là ở nước ngoài. Người Việt ta giá như cũng quan tâm đến chất lượng của những người đang nhận tiền của mình để làm dịch vụ khám chữa bịnh cho mình thì ắt đã có quyền gọi những thầy thuốc phục vụ tốt với tên mới là Thiên Thần Áo Xanh Lá từ lâu.

3- Trần:

Thế nhưng sự đời lại không chỉ phức tạp ở cái sắc cái màu, mà còn ở cái ngữ nghĩa của bản thân từ “thiên thần” nên khiến thêm rách việc, vì thậm chí có cả Thiên Thần Không Áo, tức Thiên Thần Trần tức Thiên Thần Truồng, làm thành ngữ Thiên Thần Áo Trắng có khi phải bị méo nghĩa theo quy luật rất bình thường của bài bản Lexicology, mà xin độc giả vui lòng đọc hồi sau sẽ rõ.

D- Xóa Nhòa Ranh Giới Thiện – Ác

“Thiên Thần Trần” là hình ảnh những thiên thần trong bộ phim hoành tráng Legion đang được chiếu tại các cinema sang trọng ở thành phố Hồ Chí Minh. Các thiên thần này vẫn còn lịch sự vì hình ảnh các thiên thần trong các bức danh họa từ xưa đến nay thì không chỉ “trần” mà còn đánh đố thiên hạ xem ai có nhìn thấy quần của thiên thần màu gì không. Nhưng điều đáng nói ở đây là nếu như trong Thánh Kinh Cựu Ước (Genesis 19) có đoạn kể về các thiên thần chắc là rất đẹp đẽ có cánh chim bồ câu bay vào hai thị trấn Sodom và Gomorrah  để giết sạch nam phụ lão ấu – ngoại trừ Lot cùng vợ và hai cô con gái – thì Legion cho thấy ngoại hình kinh khủng và kinh dị của các thiên thần có cánh dơi do Thượng Đế hạ chỉ sai xuống trừng trị loài người sa đọa, để …  thây chất thành núi máu chảy thành sông.

Như vậy, đã có ngày càng nhiều những bất lợi cho giới y bác sĩ Việt Nam khi cái từ “thiên thần” đã không còn duy chỉ mang ý nghĩa lương thiện và nhân hậu, và nhất cử nhất động của các vị trái với “lương thiện và nhân hậu” đều luôn bị đánh giá nghiêm khắc. Phim ảnh chỉ dùng mỗi chữ “angel” để chỉ các thiên sứ, dù đó là thiên thần mang phần thưởng của Thượng Đế hay thiên thần làm nghiệm vụ một thiên lôi; trong khi đó phần thuyết minh tiếng Việt cho phim Legion phải nói rõ là “ác thần” để chỉ các “angel” kinh khủng kinh dị kinh hoàng làm công tác thiên lôi ấy.

Ác Thần Áo Trắng sẽ là thành ngữ mới nếu sự suy đồi y đức lại đến từ các “Thầy” chốn đại học đường y dược của nước nhà, do chẳng có cách chi mà tin rằng 100% các “bác” ra trường do các “Thầy” ấy đào tạo lại miễn nhiễm với “thầy nào, trò nấy”.

E- Kết Luận: Legion Nightingale

Cho dù thiên sứ quấn vải trắng có cánh chim bồ câu vung gươm nhuốm máu ngay cả trẻ thơ thuộc những gia đình sa đọa như ghi trong kinh thánh, hay những thiên thần ở trần có cánh dơi trong phim Legion, thì các thiên thần ấy cũng còn làm theo lịnh vị chủ tể minh quân muốn trừng trị những sinh linh mà chủ tể ấy liệt vào hàng xấu xa trụy lạc; trong khi một số thiên thần áo trắng ở Việt Nam ra tay giết hại không gươm không đao những đồng bào nghèo khổ qua việc kê đơn thuôc vô tội vạ để hưởng hoa hồng từ nhà sản xuất thuốc, vui hưởng có khi đến vài trăm triệu đồng mỗi tháng. Xem ra cái y đức là điều lạ lẫm của những người hùng hục khí thế tham gia góp phần đẩy giá thuốc lên cao chót vót, “tàn sát” nam phụ lão ấu, tự biến mình thành những kẻ bất nhân làm điếm nhục gia phong vì đã mặt dày mày dạn dám thốt lời thề nguyền Hippocrates y học thiêng liêng trong khi thực chất bản thân lại khác gì bọn Hypocrite trụi trần, ghiếc gớm.

Ngày Thầy Thuốc lẽ ra chỉ nên là ngày các y bác sĩ Tây Y và Đông Y nghiêm khắc nhìn lại màu áo của mình, và có khi còn để xem rõ mình có còn mặc áo che thân giữa đám đông hay không; vì rằng người Việt không cần có Ngày Thầy Thuốc mới biết ơn những lương y, và thầy thuốc “hữu lương” đâu cần có một ngày “tôn vinh” chức nghiệp của mình và…mình. Thầy thuốc “hữu lương” ắt ít ai muốn có Ngày Thầy Thuốc vì biết nó cũng sẽ là danh thơm cho thầy thuốc “bất lương” hưởng sái.

Suy cho cùng, sự công bằng nên được dựng xây trong lòng tác nghiệp y tế qua việc đề ra thêm Ngày Bịnh Nhân đễ các Thiên Thần Áo Trắng tỏ sự biết ơn sâu xa những Thiên Thần Áo Ngũ Sắc, những người đã đến từ nhiều thành phần khác nhau của xã hội, giàu có, nghèo có, mặc áo đủ thứ màu khác nhau, mức độ lành lặn và thơm khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một điểm là trả tiền sòng phẳngtrực tiếp bằng tiền mặt hay gián tiếp qua chế độ bảo hiểm y tế luật định thậm chí do các tổ chức hay cá nhân cưu mang từ thiện – để không làm thầy thuốc thất nghiệp.

Và khi ai cũng là…Thiên Thần ráo trọi thì bịnh nhân nghèo nếu ăn cắp ống nghe của bịnh viện sẽ chẳng làm chết thầy thuốc nào, trong khi y bác sĩ giàu nhờ ăn cắp sức khỏe bịnh nhân sẽ làm bịnh nhân túng quẫn hơn và sinh mạng bị đe dọa; tuy nhiên, nếu cả hai tên cắp này bị đánh đồng cho cùng là “thần” ở trần hay ở truồng, có cánh dơi, thì người trước (ăn trộm ống nghe của bác sĩ) vẫn nhẹ tội hơn vì có khi họ chưa hề nghe nói về anh Robin Hood ở Anh Quốc tốt đẹp hơn 208 gã Tàu ở Lương Sơn Bạc cả tỷ lần, nhưng dứt khoát nhiều tỷ phần trăm là kẻ sau (ăn trộm sức khỏe bịnh nhân) biết mình mãi ở dưới gót giày của nữ y tá Florence Nightingale cũng của Vương Quốc Anh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-Doanh Quốc-Tế

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Cụm 3 Bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Y Tế”

Hoàng Hữu Phước, MIB

26-8-2017

Bài 1:

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2013

Kính gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

V/v Thuốc nhập khẩu và sự bất minh trong kê đơn thuốc tại bịnh viện lớn ở Tp Hồ Chí Minh

Nơi nhận bản sao:

– ĐBQH Nguyễn Thị Kim Tiến (Bộ trưởng Bộ Y Tế)

– ĐBQH Huỳnh Thành Lập (Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh)

– Tổ Đại biểu Quốc hội, Đơn vị 1 (Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang và Phó đoàn ĐBQH  Tp HCM Trần Du Lịch)

 

Kính thưa Đại biểu:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc Hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, xin trình bày với Đại biểu các nội dung sau:

A) Thuốc Phối Hợp Lạ:

Là người trong thời gian 1985-1995 công tác tại công ty xuất nhập khẩu nước ngoài cung ứng cho Việt Nam từ nhà máy, thiết bị, đến nguyên liệu sản xuất đa ngành trong đó có cả dược phẩm và bulk drug, tôi có sự hiểu biết nhất định về y dược qua tiếp cận các tài liệu cũng như qua tiếp xúc với các chức sắc của các công ty dược lớn – đặc biệt là của Ấn Độ, và do đó tôi rất ngạc nhiên khi quá nhiều loại thuốc đã và đang được nhập từ những nhà sản xuất hạng vô danh tiểu tốt của Ấn Độ dẫn đến việc thỉnh thoảng Bộ Y Tế phải có thông báo thu hồi thuốc này thuốc nọ của hãng đó hãng kia mà đa số của Ân Độ. Gần đây báo chí có loạt bài viết về vấn đề nhập khẩu thuốc có “hàm lượng lạ” nhưng chưa có ai đề cập đến vấn đề khác nghiêm trọng hơn, đó là thuốc có “phối hợp lạ”. Bằng một cách nào đó tại vài bịnh viện nhà nước đã xuất hiện thuốc Dianorm M do Ấn Độ sản xuất từ sự kết hợp của 80mg Gliclazide với 500mg Metformin trong mỗi viên, và được kê đơn cho bịnh nhân theo liều lượng mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 30 phút trước bửa ăn sáng, trước bửa ăn trưa, và trước bửa ăn chiều. Theo phác đồ cổ điển và “lành mạnh” giống nhau trên thế giới thì liều thuốc bình thường điều trị bệnh tiểu đường là Gliclazide uống mỗi ngày trước lúc ăn sáng 30 phút, còn Metformin uống sau 2 hoặc 3 bửa ăn chính bình thường trong ngày; trong khi đó, Dianorm M  đưa vào cơ thể người bệnh Việt Nam lượng thuốc Gliclazide cả ba buổi trong ngày, và đưa Metformin vào trước bửa ăn. Đây là phác đồ điều trị hiện đại, hay đây là kiểu phối hợp lạ nhằm thắng thầu vào Việt Nam bằng mọi giá.

Tôi cho rằng sự giám sát nghiêm túc, nghiêm khắc, nghiêm minh, của Sở Y Tế Tp Hồ Chí Minh – và Bộ Y Tế Việt Nam – có thể biết rõ hơn về những loại thuốc “phối hợp lạ” nào đã len được vào hệ thống y dược nước nhà, ngoài thứ Dianorm M nói trên mà tôi tình cờ biết được (do tôi không bao giờ cho phép bất kỳ ai trong gia đình được mua sử dụng ngay thuốc sau khi khám bệnh được kê đơn – trừ trường hợp cấp cứu – vì phải chờ tôi kiểm tra dược điển MIMS, và nhờ vậy 15 năm trước tôi đã phát hiện vị bác sĩ chức sắc ở Trung Tâm Tai-Mũi-Họng trên đường Trần Quốc Thảo đã kê đơn trị bệnh viêm họng cho con tôi với loại thuốc có chứa chất dùng trong cấp cứu trụy tim mạch, và tôi đã quyết định đi mua Amoxcicillin cho con tôi uống thay thế “thuốc trụy tim” và cháu hết bệnh sau một tuần) để có viện pháp hữu hiệu ngăn chặn vấn nạn đáng xấu hổ này.

B) Kê Đơn Thuốc Không Để Chữa Bệnh:

Vừa qua (22-6-2013), vợ tôi bị vấn đề về mắt (xuất huyết đỏ sậm màu máu). Như một phản ứng tự nhiên, tôi đưa vợ tôi đến Bệnh Viện Mắt Thành Phố ở 280 Điện Biên Phủ. Kết quả chẩn đoán là XHPKM mà tôi phải dùng đến khả năng bói toán mới hiểu được gần 50% ý nghĩa (XH phải chăng là “xuất huyết”?). Thuốc được cho trong đơn thuốc trị giá 120.656 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Systane, Noflux, và Vitamin C. Vấn đề là thuốc nhỏ mắt Systane là thứ “dầu nhờn” để trị khô mắt. Hộp thuốc không chứa toa, bên ngoài ghi tên nhà sản xuất Alcon của Mỹ, với dòng chữ hoàn toàn bất ngờ là Printed in USA (“In Tại Hoa Kỳ”). Ngoài việc cho những loại thuốc không dính dáng gì đến tình trạng mắt “XHPKM” của bệnh nhân, vấn đề tôi không thể chấp nhận là thuốc nhập này không ghi nơi xuất xứ (thí dụ: Made in USA) mà lại ghi nơi in hộp. Với thứ thuốc không rõ xuất xứ như vậy, tôi cho rằng

(a) nhất thiết phải tịch thu toàn bộ,

(b) hủy bỏ toàn bộ,

(c) trừng phạt những con người cụ thể có liên quan đến việc đưa loại “dầu nhờn” này vào Việt Nam,

(d) tăng cường chuẩn hóa nội dung bó buộc phải có về thông tin của dược phẩm trên bao bì, và

(e) nâng cao trình độ ngoại ngữ của các cơ quan chức năng phụ trách cấp phép và giám sát của ngành y tế đối với dược phẩm ngoại nhập.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau 2 tuần tuân thủ nghiêm túc “y chỉ” (tức lời phán của bác sĩ) lại thấy tình trạng bệnh mắt của vợ tôi chỉ thêm trầm trọng, tôi vội đưa vợ tôi trở lại Bệnh Viện Mắt Thành Phố ngày 06 tháng 7, và được định bệnh bằng bí chú mới là “VKM CẤP GM TY” với đơn thuốc trị giá 175.350 đồng (ngoài 50.000 đồng tiền khám) gồm Medflocin, Eporon, Noflux, và Gireba, với hai loại đầu là thuốc nhỏ mắt của Hàn Quốc.

Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau vài ngày sử dụng tuân thủ nghiêm túc “y chỉ”, tình trạng của vợ tôi trầm trọng hơn, buộc tôi phải tra cứu dược điển MIMS, và phát hiện sự tồi tệ sau:

–  Thuốc nhỏ mắt Medflocin trị viêm giác mạc/kết mạc nhiễm khuẩn do chủng vi khuẩn nhạy cảm sau;

– Thuốc nhỏ mắt Eporon trị viêm kết mạc và giác mạc nhưng không được dùng khi bệnh giác mạc/kết mạc do virus gây ra.

Như vậy

– Bác sĩ đã cho hai loại thuốc nhỏ mắt kỵ nhau để dùng chung;

– Bác sĩ đã không nói gì, không ghi gì trong toa thuốc cái điều mà dược điển MIMS nhắc đến, đó là nếu phải dùng 2 loại thuốc nhỏ mắt nào đó với nhau thì phải nhỏ thuốc này sau thuốc kia 15 phút.

Tôi đã quyết định không cho vợ tôi dùng tiếp các loại thuốc trên, và thay vào đó tự đi tìm mua ở hiệu thuốc tư nhân hai loại của Việt Nam là thuốc mỡ Tetracycline (rất quen thuộc ở Sài Gòn từ trước 1975), và Colflox, sau đó là thuốc nhỏ mắt Coll Tobradex của Bỉ. Sau hai tuần, vợ tôi đã hết bệnh.

Như vậy, việc khám bệnh kê đơn không để chữa bệnh, mà để tạo cơ hội cho những kẻ phá hoại có cơ hôi để bêu rếu y tế Việt Nam, đặt điều bôi nhọ chẳng hạn như bán dồn dập các loại “dầu nhờn” và thuốc nhỏ mắt đối kháng để nhằm (a) giải phóng kho thuốc ngoại nhập đã lỡ nhập, và (b) làm bệnh nặng hơn để phải nhập viện và phẫu thuật để tạo công ăn việc làm cho các phòng ban khác.

C) Kê Đơn Thuốc Bất Minh:

Cũng trong sự cố nêu trên với Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi có ghi tên thuốc Gireba. Do uy danh của Bệnh Viện Mắt Thành Phố, tôi đã không theo quy trình kiểm tra dược điển MIMS nêu trên. Vì vậy, sau nhiều tuần vợ tôi vật vả với bệnh đau mắt, tôi buộc phải tìm hiểu MIMS về tất cả các loại thuốc trong toa bịnh viện, và phát hiện Gireba là thuốc của Hàn Quốc sản xuất từ Ginkgo Biloba, tức Cao Bạch Quả, tức tương đương với Hoạt Huyết Dưỡng Não và vô số các thuốc tương tự dùng trong phòng ngừa tai biến mạch máu não. Vấn đề ở đây là không phải không nên dùng thứ ấy để chữa bệnh xuất huyết mắt, mà là trình độ hiểu biết hoặc đáng ngờ, hoặc vô y đức của bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ lẽ ra phải biết

(a) rằng rất nhiều người Việt Nam từ trung niên đã quan tâm sử dụng cao bạch quả để phòng ngừa tai biến mạch máu não,

(b) rằng rất nhiều người Việt Nam bị cao huyết áp nên đã thường sử dụng cao bạch quả, và

(c) rằng cái gọi là “thực phẩm chức năng” kiểu hiểu biết hoặc kiểu phê phán ở Việt Nam hoàn toàn đi ngược với kiểu các bác sĩ dinh dưỡng Hoa Kỳ nói về “thực phẩm chức năng” nghĩa là chúng có tác dụng của chúng và phải uống đúng liều lượng.

Cao bạch quả không phải khan hiếm đến độ phải nhập khẩu, xem thường ngay cả y lệnh của Bộ Y Tế trong ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước. Cao bạch quả không phải là thứ “thực phẩm chức năng” vô hại để dấu diếm tên biệt dược của nó để bịnh nhân về nhà uống Hoạt Huyết Dưỡng Não tức ginkgo biloba của Việt Nam trị tai biến mạch máu não cộng với uống Gireba tức ginkgo biloba của Hàn Quốc để trị…đau mắt, gây nên nạn đưa vào người bệnh lượng cao bạch quả nhiều hơn cần thiết. Việc kê đơn kiểu của Bệnh Viện Mắt Thành Phố là do hoặc vì vô đạo đức, hoặc do kém chuyên nghiệp, hoặc tại thiếu hiểu biết, hoặc bởi yếu chuyên môn, hoặc cả bốn, mà chỉ cần vướng một trong bốn điều này là đã không đủ tư cách tồn tại trong ngành y.

D) Kiến Nghị Vĩ Mô Về “Y Đức”:

1- Từ sự việc trên, tôi đề nghị ngành y tế Thành phố nên nghiên cứu một chuẩn mực mới có thể dưới tên gọi GPP tức Good Prescription Practice, quy định chuẩn hóa quy trình kê toa chuẩn mực của bác sĩ, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – ghi định bệnh rõ ràng, đọc được, và khi ghi tên thuốc nhất thiết phải chua thêm tên chung để bệnh nhân biết và nhận diện xem họ có đang sử dụng cùng thứ ấy (dưới tên khác) hay thuốc ấy đang có sẵn ở nhà (cùng tên hay cùng loại dưới tên khác) để tránh bị tăng lượng thuốc vào cơ thể và để tránh lãng phí, thực hành tiết kiệm, thí dụ ghi thật chi tiết như sau:

Gireba (tức ginkgo biloba hay cao bạch quả): 20 viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, sau bửa ăn.

Người bệnh sẽ nhờ đó có quyền chính đáng đương nhiên được biết mình bịnh gì, uống loại thuốc gì, và có thể sẽ quyết định không mua Gireba tại bệnh viện để ra ngoài tìm mua Hoạt Huyết Dưỡng Não hoặc thứ tương tự của viện bào chế khác dưới tên Việt hay Hán Việt hay tên Tây khác với giá rẻ hơn, hoặc họ có quyền chính đáng đương nhiên mua thuốc Tanakan của Pháp đắt tiền hơn, uy tín hơn Gireba – nếu muốn, thay vì bị che dấu sự thật dưới cái tên kỳ bí Gireba trên vĩ thuốc còn dòng chữ ginkgo biloba in bằng cỡ chữ cực nhỏ bằng mực xanh lá mờ nhòe chỉ có thể thấy được dưới chiếc kính lúp.

2- Cần thay đổi tư duy kiểu “ban ơn” trong tất cả các ngành nghề, không riêng gì ngành y. Tính chuyên nghiệp cao nhất là trong phục vụ, nghĩa là trên nền nhận thức “khách hàng là vua”. Chính vì kiểu “biết ơn thầy cô” mà sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam xuống cấp. Chính vì kiểu “biết ơn y bác sĩ” mà sự nghiệp y tế ở Việt Nam phải mãi nhức đầu về cái gọi là “y đức”. Vì theo cơ sở “biết ơn” mà người trong ngành x ngành y ngành z thấy họ ở tư thế “ban ơn” và từ đó không lo trau giồi đạo đức nghề nghiệp (tức hầu hạ, phục vụ khách hàng) và chuyên môn nghiệp vụ (để thể hiện tốt nhất đạo đức nghề nghiệp) cũng như tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao cho mình). Đây là vấn đề lớn, khó thể trong một sớm một chiều có thể thay đổi được; tuy nhiên không thể không có những bước đầu tiên nhằm uốn nắn kiểu tư duy “thọ ơn” bằng cách chẳng hạn như:

a) tập trung nói nhiều về và ngợi ca tính chuyên nghiệp (tức nhớ ơn khách hàng đã đem lại công ăn việc làm và tiền lương hay thù lao);

b) giảm bớt tần suất nói về sự cao quý của nghề mình – vì theo lẽ công bằng thì tất cả các nghề chính quy đều cao quý mà không có bất kỳ phân biệt đối xử nào trong xã hội thực sự văn minh, do dần dần không ngành nào nói về sự cao quý của nghề mình – trừ quân đội (công khai, y như ở các quốc gia khác) và an ninh (không công khai, y như ở các quốc gia khác); và

c) đánh thức “ý thức” của nhân sự ngành mình bằng những thông tin rằng sự bất cẩn của nhân sự một ngành như ngành y chẳng hạn, gây hại đến sức khỏe hay sinh mạng của khách hàng có thể khiến nhân sự ấy cùng gia đình trở thành đối tượng cho một vụ thảm sát báo thù như thường thấy trong phim ảnh, tiểu thuyết, phóng sự điều tra thực ở nước ngoài.

Tôi sẽ nhờ nhân viên của tôi tìm in các bài viết của tôi trên các blogs từ năm 2008 đến nay có liên quan đến y tế (thí dụ như “Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi”, “Hỡi ơi những thiên thần áo trắng”, v.v.) để gởi Đại biểu tham khảo các ý kiến tỏ sự quan tâm của tôi đối với ngành y.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Đại biểu.

Kính chúc Đại biểu sức khỏe, an khang, thịnh vượng, thành công.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Đoàn Tp HCM

Tham khảo:

Cụm 3 bài “Hoàng Hữu Phước Đã Nói Về Giới Y Tế”:

Bài 1: Thư Gởi Nghị Sĩ Phạm Khánh Phong Lan – 2013 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/26/hoang-huu-phuoc-da-noi-ve-gioi-y-te-cum-3-bai/

Bài 2: Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng – 2010 : https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/28/hoi-oi-nhung-thien-than-ao-trang/

Bài 3: Lời Khuyên Dành Cho Bác Sĩ – 2013

Các bài khác về Y Khoa:

Bộ Trưởng Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến – 2016

Thực Phẩm Chức Năng  – 2010

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam  – 2009

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi” – 2010

Thư Gửi Đức Giáo Hoàng Francis

Thư Của Hoàng Hữu Phước Gởi Đức Giáo Hoàng Francis

– Bản Dịch Tiếng Việt –

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 8 năm 2017

 

Kính gởi Đức Thánh Cha, Đức Giáo Hoàng Francis

Cung Điện Tông Đồ

Vatican, 00120

 

Chủ đề: Những hành động sai trái nghiêm trọng của một số giám mục ở Việt Nam

 

Đức Thánh Cha Tôn Kính,

 

Con ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, một doanh nhân đến từ và là Nghị Sĩ Quốc Hội nhiệm kỳ 2011-2016 của Việt Nam, kính lời chào trân trọng nhất đến Đức Thánh Cha và xin nhân cơ hội này kính trình Đức Thánh Cha những vấn đề nghiêm trọng sau đây liên quan đến một số linh mục và giám mục ở Việt Nam đối với việc họ can dự vào sự kích động các tín đồ và kích động những cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam mà con xin khép nép tin rằng Đức Thánh Cha đã hiểu biết tường tận.

 

A) Các Cuộc Biểu Tình Xách Động Bởi Các Giám Mục Phản Nghịch Ở Việt Nam

 

1- Sự Lạm Dụng Cờ Vatican Của Đám Đông Giáo Dân Công Giáo Việt Nam:

Những người theo Công giáo La mã trên toàn thế giới đều biết lá Thánh Kỳ Vatican hình vuông bao gồm hai nửa ngang thẳng đứng với một phần vàng hướng cột cờ và phần trắng phía ngoài, có Huy Hiệu Vatican cùng hai chìa khóa Thánh Paul bắt chéo nhau và Ngọc Miện Giáo Hoàng, cũng như biết các pháp chế nghiêm ngặt và tính trên hết của Thánh Kỳ.

Tuy nhiên, để phục vụ mục đích tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chính phủ Việt Nam dưới cái cớ chống lại các nhà đầu tư Đài Loan đang gây hại cho môi trường, các giám mục bất đồng chính kiến ​​ở Việt Nam ra lệnh cho người dân của các giáo phận của họ sản xuất ra những cái gọi là “Cờ Vatican” ở dạng hình chữ nhật có hai nửa nằm ngang và phần trắng phía trên còn nửa dưới màu vàng, hoặc không có hình ảnh của các chìa khóa Thánh Peter bắt chéo cùng Ngọc Miện Giáo Hoàng, hoặc có một chữ thập đỏ dày rất lạ nằm giữa lá cờ. Còn khiến sự việc tồi tệ hơn nếu không nói là tệ hại nhất, đám đông giáo dân còn hoặc vác “Cờ Vatican” trên vai, hoặc cầm vẫy qua vẫy lại, hoặc đơn giản cắm cột cờ vào bất cứ khe có sẵn nào trên phần sau đuôi xe, tức là để các “Cờ Vatican” phấp phới sau lưng các phụ nữ ngồi sau những ông lái mô tô.

Các giám mục và những người mà họ giảng dạy giáo lý cho (a) rõ ràng là không biết gì về lá cờ của Vatican, hoặc (b) phớt lờ bỏ qua pháp chế của Tòa Thánh quy định về Thánh Kỳ và sự cao trọng trên hết Toà Thánh dành cho Thánh Kỳ, hoặc (c) trở thành những kẻ phản bội muốn lật đổ triều đại Giáo Hoàng của Công Giáo La Mã bằng cách thiết kế một lá cờ Vatican mới để sử dụng theo ý riêng của họ tại Việt Nam, hoặc (d) ngụ ý rằng sự bất đồng của họ được ủng hộ mạnh mẽ và tài trợ hào phóng của Tòa Thánh chống chính phủ Việt Nam, hoặc (e) tệ hại hơn cả là có kế hoạch biến Nhà Thờ Công Giáo La Mã ở Việt Nam thành một đảng chính trị cạnh tranh với Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

2- Cờ Giẻ:

Để thách thức quyền quản trị toàn thế giới của Tòa Thánh, các giám mục và những giáo dân tại các giáo phận của họ biểu tình với nhiều Thánh Kỳ giả mạo được may từ những thứ vải có nguồn gốc chất lượng khả nghi. Đây là một sự lăng nhục Tòa Thánh.

Để thách thức giới tinh hoa hàn lâm  trên toàn thế giới, các giám mục và giáo dân tại giáo phận của họ cùng nhau biểu tình phất nhiều lá cờ đầy màu sắc hình vuông với những chiếc đuôi nheo không đều ở dọc các cạnh trừ cạnh sát cột cờ, mà họ tự hào vẫy qua vẫy lại cùng với “Thánh Kỳ Vatican”. Đây là một sự sỉ nhục đối với Tòa Thánh.

Và để thách thức chính phủ Việt Nam vốn được công nhận trên toàn thế giới, các giám mục cùng các giáo dân của họ biểu tình cùng với nhiều miếng vải màu vàng hình chữ nhật có ba sọc đỏ, tương tự như lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) đất nước mà Đức Giáo Hoàng Paul Đệ Lục không bao giờ ủng hộ, cũng như bị tiêu diệt vĩnh viễn bởi quân đội cộng sản của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) vào năm 1975. Phất cao ngọn cờ đã bị vất bỏ sọt rác của một chế độ đã bị xóa sổ vĩnh viễn trong khi xuống đường biểu tình dưới danh nghĩa Giáo Hội Công Giáo và dưới sự lãnh đạo của các giám mục của họ, đám đông giáo dân Công Giáo rõ ràng ám chỉ họ công khai chống cộng sản và nếu vậy đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật nghiêm ngặt hiện hành của Việt Nam đối với  các hành động khuyến khích hoặc kích động sự lật đổ Chính phủ – mà các quy định này khá tương đồng với nhưng không nghiêm ngặt như Đạo Luật 18 US 2385 của Hoa Kỳ. Tình trạng bất khả tương nghị của họ cũng là một sự xúc phạm đến Tòa Thánh.

 

3- Các Giám Mục Việt Nam Là Những Người Kích Động Và Là Những Kẻ Làm Loạn

Mặc dù chữ “lật đổ” đã được dùng trong 52 trường hợp trong 17 câu, 11 chương và 11 sách trong Bộ Thánh Kinh, thậm chí không có một gợi ý nào về lật đổ chính phủ đã được đề cập tới. Thay vào đó là lời giáo huấn rằng mọi chính phủ đều được đặt lên theo ý muốn chủ quản của Thiên Chúa (như tại Psalm 75: 7, Daniel 2:21) và tất cả các chính phủ ở mọi nơi đều phải được tôn trọng, kính trọng và tuân theo bởi các tín đồ (nêu tại  Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10 và 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 nêu rõ rằng: “Hãy nhắc nhở người dân phải phục tùng các nhà cầm quyền, biết tuân lời, sẵn sàng để làm bất cứ điều gì tốt đẹp, không vu khống ai, phải tránh xung đột, hãy tử tế và luôn dịu dàng với mọi người.” Tất cả những lời thông thái từ Thiên Chúa đã được nêu lên rất nhiều lần làm nền tảng của hòa bình hợp tác hài hòa mọi người với chính phủ. Quy tắc tuân thủ này hợp lý vì nó có cung cấp một lựa chọn duy nhất khi người dân có thể thực hành việc bất tuân dân sự bằng cách từ chối thực hành các luật lệ của chính phủ nếu các luật lệ này được chứng minh là có mâu thuẫn trực tiếp với luật lệ của Đức Chúa Trời như được tạo ra trong Kinh Thánh (nêu tại Exodus 1:15-17, Acts 4:19, và Daniel 3:14-18).

Sự hỗn loạn chính trị trên toàn thế giới ngày nay nảy mầm từ sự trắng trợn xem thường giáo lý của Đức Chúa Trời.

Khi các nhà đầu tư Đài Loan gây thiệt hại cho môi trường sinh thái biển ở một số tỉnh duyên hải của Việt Nam, họ đã bị toà án Việt Nam khởi kiện và bị kết án theo luật pháp hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, phớt lờ lời dạy trong Deuteronomy 25:1-3 rằng “Khi có tranh chấp, người ta đưa vụ việc ra tòa án và các thẩm phán sẽ phán xét vụ án, tha người vô tội và buộc tội kẻ có tội. Nếu kẻ phạm tội đáng bị đòn roi, thẩm phán sẽ bắt kẻ đó nằm xuống và cho quất roi trước mặt mình và với số lượng quất roi đánh đúng theo tội trạng. Nhưng thẩm phán không được áp đặt đánh hơn bốn mươi roi đòn”, các giám mục bất đồng chính kiến dẫn đầu đám đông từ các giáo phận của họ tiến hành biểu tình, hung hãn phất “cờ giẻ” và giận dữ la hét đòi trừng phạt nặng hơn bên phạm tội dù pháp luật hiện hành không quy định như vậy, thậm chí đòi đóng cửa các nhà máy dù luật pháp hiện hành không quy định như vậy, cũng như đòi trục xuất tất cả những người Đài Loan dù luật pháp hiện hành cũng không quy định như vậy.

Những sự kiện không ra chi gần đây nhất ở Việt Nam là một ví dụ về tầm quan trọng sống còn của việc thiếu vắng sự chăm sóc của cha mẹ và người lớn ngoan đạo trong gia đình, việc thiếu vắng sự giáo dục tốt ở trường học, việc thiếu vắng những lời giảng đạo sâu sắc về những lời dạy của Đức Chúa Trời tại nhà thờ, và việc thiếu vắng sự giám sát chặt chẽ của các cấp cao hơn của Giáo Hội Công Giáo khu vực chỉ có thể tạo ra những giám mục trơ trẻn thiếu suy nghĩ trở thành kẻ xách động bạo loạn, tự để mình vướng vào các cực đoan chính trị thế tục mặc dù chẳng hiểu biết gì hết về chủ nghĩa cộng sản hay bất kỳ chủ nghĩa nào khác, mơ màng một cách đáng thương hại về việc dấn thân vào những âm mưu điên rồ lật đổ Chính phủ Việt Nam và qua đó làm nhục Tòa Thánh.

 

4- Sự Ngu Dại Của Các Giám Mục Xách Động Là Do Sự Thiếu Hiểu Biết Về Lịch Sử

Rõ ràng là không ngoài sự hiểu biết của những người có phúc được cắp sách đến trường rằng Công Giáo lần đầu tiên đổ bộ lên đất nước Việt Nam thông qua các linh mục trên các tàu chiến của Pháp khi bắt đầu cuộc chiếm đóng – tức cuộc thuộc địa hóa – Việt Nam trong một trăm năm. Đây là một sự thật cay đắng không thể chối cãi đối với bao thế hệ những người yêu nước thật sự của Việt Nam, mà thực tế là đã làm Công Giáo không thể trở thành tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam.

Thay vì theo lời răn dạy trong Kinh Thánh để sống đời đạo hạnh một giáo dân Công giáo để trở thành người gương mẫu giúp làm cho lời dạy của Đức Chúa Quyền Năng được cụ thể hóa có tầm ảnh hưởng tốt nhất vì sự tiến bộ của cả dân tộc, một số giám mục lạm dụng quyền lực được giao phó chỉ để biến giáo dân tại các giáo phận thành thần dân còn bản thân trở thành các Lãnh Chúa Phong Kiến chủ nhân ông các giáo phận cứ như thể đó là những lãnh địa của riêng họ. Quả đó là một sự thật cực kỳ vô lý một cách xằng bậy ở Việt Nam nơi mà một số giám mục luôn muốn các giáo phận của họ tách cả thể xác và tinh thần xa khỏi phần còn lại của dân tộc, khinh thường các trách nhiệm công dân và luật pháp quốc gia.

Ngoài sự thiếu hiểu biết về những giáo huấn sâu xa của Thiên Chúa, sự thiếu hiểu biết về lịch sử của Việt Nam nơi các giám mục không giúp Việt Nam phát triển ở bất cứ khía cạnh nào – dù cho đó là về kinh tế, về uy tín của đất nước nói chung và của Công Giáo nói riêng, về chính trị, và thậm chí về tôn giáo.

Tự do ngôn luận và biểu đạt không bao giờ là để gây ra khó khăn cho đa số người Công Giáo khác trên cả nước và cho những đồng bào nghèo. Trong khi các nhà thờ Công Giáo và tín đồ Công Giáo có mặt khắp nơi tại Việt Nam, chỉ có một hoặc hai giáo phận nhỏ ở một số tỉnh là tuân theo chỉ thị của các giám mục xách động của họ để tổ chức các cuộc biểu tình với cờ nùi giẻ la hét đòi trừng phạt khắc nghiệt hơn nhiều đối với một doanh nghiệp nước ngoài, đòi đóng cửa doanh nghiệp đó, và đòi đuổi doanh nghiệp đó ra khỏi Việt Nam; tức là gieo rắc những mầm mống tạo ra sự ghét bỏ nơi những người Việt Nam thuộc các tín ngưỡng khác dành cho tín đồ Công Giáo, làm cho những người Công Giáo “ôn hòa” trên cả nước bối rối, và buộc chính phủ không giảm bớt sự dè dặt đối với các giám mục Công Giáo và cộng đồng giáo dân Công Giáo nói chung. Và cuối cùng song không phải là kém quan trọng  nhất, đó là các cuộc biểu tình như vậy ở các tỉnh nghèo tạo ra những rối loạn ảnh hưởng xấu đến cuộc sinh nhai hàng ngày của những người bán hàng rong và những người nghèo khổ đang làm những công việc lặt vặt trên những lề đường bị chặn ngăn  bởi các giám mục đang giận dữ và những giáo dân ngây thơ của họ.

 

B) Những Kiến Nghị Khiêm Tốn

 

Con được sinh ra trong một gia đình với đấng sinh thành tuy là Phật Tử vẫn tin vào Đức Chúa Jesus Christ (do có ấn tượng bởi cuộc sống đạo hạnh gương mẫu đáng kính tích cực giúp đời của các nữ tu Công Giáo tại một nữ tu viện gần nhà của chúng con tại Quận 3 Sài Gòn năm 1957 mà sau đó nữ tu viện ấy trở thành trường tiểu học Phan Đình Phùng trước năm 1975, những “bà sơ” ấy đã giúp đỡ bất cứ ai trong khu vực toàn người ngoại đạo), và vì tin nên đã cho con cùng các chị em ruột của con theo học tại các trường trung học Công Giáo ở Việt Nam. Một số chị em của con là tín đồ Công Giáo hoặc Tin Lành. Mọi người trong gia đình lớn của con bất kể là Phật tử hay tín đồ của Chúa hoặc như con chỉ là một người thờ phượng tổ tiên, đều đồng ý về một quan điểm rằng trước hết chúng con là công dân Việt Nam và sau đó mới là nhận thức rằng chúng ta là con cái của Thượng Đế. Điều này là để xác quyết rõ ràng rằng chúng con là con cái Thiên Chúa được Thiên Chúa ban phúc cho vào Việt Nam và chúng con sẵn sàng tiêu diệt không thương xót bất kỳ quân xâm lược đến từ bất kỳ đâu chẳng hạn như Trung Quốc hay nơi nào khác, mặc cho chúng cũng  con cái Thiên Chúa. Việt Nam Trên Hết chính là phương châm của tất cả những người yêu nước thực sự của Việt Nam, những người luôn cầu nguyện Chúa Trời ban phước cho đất nước của họ trước hết.

Với tâm nguyện như trên, và với ấn tượng tuyệt vời từ nhiều tuyên bố của Đức Thánh Cha, ví dụ như những phê phán chống lại những phương cách tàn nhẫn trong chủ nghĩa tư bản, và đặc biệt là những điều được Đức Thánh Cha đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn với Il Messaggero vào tháng 6 năm 2014 liên quan đến nội dung “Sự nghèo khổ là trọng tâm của Phúc Âm”, sâu sắc ngụ ý rằng mối quan tâm của chủ nghĩa cộng sản dành cho người nghèo là trong thực tế từ sự quan tâm đến người nghèo như được viết trong Phúc Âm từ hai mươi thế kỷ trước đó, nên chủ nghĩa cộng sản  coi như đã như một tín đồ của Chúa, con muốn trình cùng Đức Thánh Cha những kiến nghị sau đây.

 

1) Sự Giám Sát Mạnh Hơn Và Hiệu Quả Hơn Đối Với Các Linh Mục Và Giám Mục Tại Việt Nam

Tòa Thánh nên xem xét việc tấn phong một Sứ Thần Tòa Thánh thật mạnh mẽ để phụ trách giám quản Công Giáo Việt Nam, có năng lực lột mặt nạ các sai phạm và thủ đoạn bẩn thỉu của những linh mục và giám mục có mưu đồ làm nhục danh tiếng Tòa Thánh, phá hỏng mối quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam, lật đổ chính phủ Việt Nam, lùa những giáo dân Công Giáo ngây thơ phạm tội phản quốc, và bóp méo lời răn dạy của Thượng Đế.

 

2) Thực Thi Sức Mạnh Thực Sự Của Vatican Đối Với Những Kẻ Sai Quấy

Các sự cố nêu trên về lạm dụng quyền lực để bêu xấu uy tín của Tòa Thánh cũng kích hoạt sự cần thiết phải thực thi  quyền lực của Vatican chống lại những  kẻ sai quấy sử dụng áo chùng thâm làm vũ khí ngụy trang và sử dụng Vatican làm áo giáp bảo vệ. Rút phép Thông Công là hình thức trừng phạt đúng đắn áp dụng đối với các linh mục và giám mục người Việt Nam nào đã ra lệnh cho giáo dân tại giáo phận của họ phô trương Thánh Kỳ giả tạo cùng cờ giẻ tại những cuộc biểu tình bất hợp pháp, và đã sống một cuộc sống trần tục của dối trá, bài ngoại, bất tuân xã hội, và kích động bệnh hoạn để phạm tội phản quốc .

 

3) Thực Hiện Các Quan Hệ Ngoại Giao Thật Sự Với Chính Phủ Việt Nam

Tự do ngôn luận và biểu đạt bao gồm  cả quyền dù của một cá nhân hay một tổ chức trong phổ biến chủ nghĩa vô thần hay bất kỳ một tín ngưỡng nào khác. Bất kỳ hành động chống lại một chế độ dựa trên niềm tin tôn giáo khác nhau của chế độ đó không bao giờ là một sự thực thi  đúng đắn về tự do ngôn luận và biểu đạt trong thế giới văn minh.  Cố Giáo Hoàng Benedict Đệ Nhất Thập Lục đã có một bước chính đáng và quan trọng khi thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng Sản Việt Nam vào ngày 25 tháng 1 năm 2007.

Tuy nhiên, dường như Việt Nam là quốc gia duy nhất mà nơi đó một số linh mục Công Giáo địa phương và các giám mục không chỉ công khai ra mặt lãnh đạo các  nỗ lực thực hiện những thủ đoạn bẩn thỉu nhằm tạo ra các rối loạn chống lại chính phủ, mà còn khóc lóc với nước mắt cá sấu mỗi khi gặp Đại Sứ Tông Tòa, Sứ giả Giáo Hoàng, hoặc Hồng Y, cứ như thể họ đang bị áp bức tàn nhẫn, bị đàn áp bởi các chiến dịch chống Công Giáo của Chính phủ Việt Nam.

Tòa Thánh cần xem xét việc khẳng định chính thức rằng các giám mục Việt Nam được Tòa Thánh phong chức phải tôn trọng mối quan hệ ngoại giao giữa Toà Thánh và Chính phủ Việt Nam, phải báo cáo với Tòa Thánh bất cứ vấn đề gì quan ngại để Tòa Thánh có các hành động ngoại giao phù hợp với các đối tác ngoại giao theo các thực tiễn ngoại giao song phương được cả hai bên thỏa thuận, và phải hiểu rằng họ không có quyền bất kỳ trong tụ tập cầm đầu giáo dân biểu tình chống chính phủ thay mặt cho Tòa Thánh và sử dụng Thánh Kỳ trong bất kỳ trường hợp nào bên ngoài nhà thờ.

 

4) Xác Quyết Quyền Lực Của Chính Phủ Theo Lời Dạy Của Thánh Kinh

Các linh mục và giám mục Công Giáo ở Việt Nam cần được nhắc nhở về nội dung tuân phục Chính Phủ Việt Nam theo lời dạy của Thiên Chúa trong Kinh Thánh.

 

5) Đào Tạo Lại Các Giám Mục tại Việt Nam

Các linh mục và giám mục Công giáo ở Việt Nam cần được đào tạo lại về (a) bổn phận thật sự của mình và trách  nhiệm thực sự của mình đối với giáo phận và những giáo dân, (b) nội dung toàn bộ về các pháp chế và các chế định ưu tiên của Tòa Thánh, và (c) trách nhiệm công dân của tín đồ của Chúa đối với cả hai phạm vi thế tục và phạm vi tâm linh đối với quốc gia cùng luật pháp quốc gia (nêu tại Romans 13:1-7), và đối với Nước Chúa cùng các giáo luật của Chúa (nêu tại Philippians 3:20, Exodus  20:1-5, và Luke 20:25) cùng các giáo lý Kinh Thánh, vốn chứng minh vô chính phủ không bao giờ nằm trong số những lời dạy của Thượng Đế. Sự thiếu hiểu biết đối với một trong hai loại tư cách công dân nêu trên là dấu hiệu nhận ra các linh mục và các giám mục sai quấy của Việt Nam.

 

6) Hiệu Đính Lại Bản Tiếng Việt Của  Kinh Thánh

Có một thực tế là tất cả các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh chưa bản nào là bản dịch thuật xuất sắc, dù đó là công trình dịch thuật của Giáo Hội Công Giáo hay Tin Lành. Ngôn ngữ của bản tiếng Việt không thể phủ nhận được là khó hiểu đối với mọi tín đồ người Việt theo đạo của Chúa vì ba vấn đề sau đây:

(a) Hình thức ngôn ngữ viết tiếng Việt hiện nay là do các nhà truyền giáo dòng Tên người Pháp vào thế kỷ XVII trước tiên phục vụ cho mục đích giảng đạo. Tiếng Việt trong thời nguyên thủy của nó tất nhiên đã không thể diễn tả chính xác và đầy đủ ý nghĩa của các văn bản thuộc một ngôn ngữ khác, đặc biệt từ tác phẩm Kinh Thánh vĩ đại. Ngoài ra, các nhà truyền giáo người Pháp không phải là những nhà dịch thuật chuyên nghiệp tiếng Việt. Tất cả những yếu tố này khiến các phiên bản tiếng Việt của Kinh Thánh phần thì vụng về và phần thì khó hiểu, và việc giáo dục tinh thần của giáo dân Công Giáo Việt Nam nói chung và các linh mục Công Giáo nói riêng không thể ở vị thế cao bằng như trong thế giới phương Tây.

(b) Nhiều từ ngữ Việt Nam đã lỗi thời, không còn được sử dụng, nhưng vẫn tồn tại trong các bản Thánh Kinh tiếng Việt, và thậm chí một số không phải là “bản dịch” vì chúng không phải là từ bất kỳ từ ngữ nào trong bản gốc tiếng Anh chẳng hạn.

(c) Theo truyền thống, các giáo dân Việt Nam theo đạo Chúa đã xem các lời ghi chép trong Kinh Thánh là những lời dạy của Thượng Ðế mà họ phải tuân theo và tôn trọng, bất kể bản Kinh Thánh ấy bằng tiếng Việt đã vậy không phải là một bản dịch hoàn hảo mà chỉ là một công trình không chuyên nghiệp của những dịch giả nghiệp dư.

Các sự thật nêu trên làm cho bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh không hề thay đổi và không hề được cập nhật hoặc không hề được sửa sai trong nhiều thế kỷ. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào các linh mục và giám mục mỗi khi đọc Kinh thánh tại các buổi lễ, mà những giáo dân ngây thơ của họ do không hiểu được nội dung đã phải dựa hẳn vào lời giải thích của các linh mục và giám mục. Nói cách khác, các linh mục và các giám mục ở Việt Nam có thể lạm dụng quyền lực của mình bằng cách giảng giải không đúng những lời dạy của Đức Chúa qua  một bản dịch Kinh Thánh chất lượng kém để khống chế tư tưởng những giáo dân ngây thơ tham gia vào các cuộc tụ họp chống chính phủ.

Đề nghị của con đối với Đức Thánh Cha là Giáo Hội của Việt Nam nên được Đức Thánh Cha giáo huấn rằng bất cứ sự bỏ mặc nào đối với tính chính xác, sự sâu sắc và bản dịch của Kinh Thánh cũng chính là sự báng bổ Thiên Chúa, và rằng bản dịch tiếng Việt của Kinh Thánh được Tòa Thánh cho phép được cập nhật và sửa sai.

 

Do Việt Nam cần sự ổn định và do chính quyền cộng sản Việt Nam là thực thể duy nhất có khả năng bảo vệ hòa bình cho người dân Việt Nam, sự kích động của các linh mục và các giám mục Công Giáo sử dụng Thánh Kỳ giả và cờ nùi giẻ, kích động không chỉ lòng hận thù bài ngoại mà còn là sự bất tuân luật pháp quốc gia không bao giờ có thể được chấp nhận. Các linh mục và giám mục này cần được Tòa Thánh bảo ban nhắc nhở hay tái đào tạo rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc ngay khi chính quyền cộng sản Việt Nam bị tổn hại bởi những cuộc phản đối thiếu suy nghĩ như vậy chắc chắn sẽ làm cho nhân dân Việt Nam bao gồm cả những giáo dân đạo Chúa bị đẩy đến bờ vực của diệt vong và diệt chủng.

 

Kính mong nhận được sự giúp đỡ của  Đức Thánh Cha.

 

Kính gởi đến Đức Thánh Cha sự tôn kính là lòng tôn trọng.

 

Hoàng Hữu Phước đốn thư

Địa chỉ thư tín:

Hoàng Hữu Phước

MYA BizCorp

399B Trường Chinh, Tân Bình,

Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

GHI CHÚ RIÊNG CHO WORDPRESS.COM

 

A) Danh mục các “thư” gởi các lãnh đạo chính trị các nước:

1) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Mỹ Gus Hall (Tiếng Anh, 1978, dài 8 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy pelure lưu vì mối mọt).

2) Thư sinh viên Hoàng Hữu Phước gởi Chủ Tịch Đảng Cộng Sản Anh Gordon McLennan (Tiếng Anh, 1978, dài 10 trang đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt).

3) Thư doanh nhân Hoàng Hữu Phước gởi Tổng Thống Iraq Saddam Hussein (Tiếng Anh, gởi thư thường qua bưu điện và gởi bằng điện tín, thất lạc bản nháp viết tay thư, thất lạc bản nháp viết tay điện tín, thất lạc biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Tổng Thống Iraq, chỉ còn biên nhận khổ 2cm x 5cm thu tiền điện tín gởi Đại Sứ Iraq ở Hà Nội đề nghị khẩn báo Tổng Thống Iraq, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Thư sinh viên Hoàng Thị Thu Hương (em gái út của Hoàng Hữu Phước) gởi Thủ Tướng Đức Helmut Kohl (Tiếng Đức, gởi thư bảo đảm qua bưu điện, còn lưu trong tàng thư cá nhân, chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Thư Lại Thu Trúc (Trợ Lý của Hoàng Hữu Phước) gởi Tổng Thống Mỹ Barack Obama (Tiếng Anh, gởi bằng email đến Tòa Bạch Ốc, nội dung bản gốc tiếng Anh kèm bản dịch tiếng Việt tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

6) Thư Nghị sĩ  Khóa XIII Hoàng Hữu Phước gởi Đức Giáo Hoàng Francis (Tiếng Anh, gởi bằng thư và bằng email đến Vatican, nội dung bản tiếng Anh tại WordPress https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2017/08/01/letter-to-his-holiness-pope-francis/ và Twitter @HoangHuuPhuoc).

B) Danh mục các “thư” gởi các cơ quan thông tấn nước ngoài:

1) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Newsweek Mỹ (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện 1988, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu ảnh thư trả lời của Madelain Edmondson của Newsweek đăng tại Tôi và Saddam Hussein).

2) Thư giảng viên Hoàng Hữu Phước gởi Hãng Thông Tấn Novosti Liên Xô (Tiếng Anh, đánh bằng máy chữ Underwood, gởi thư thường qua bưu điện, không còn bản viết tay nháp và bản đánh máy carbon trên giấy mỏng pelure lưu vì mối mọt; còn lưu danh sách trúng giải trên tạp chí Sputnik, với chi tiết tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Letter to His Holiness Pope Francis

Ho Chi Minh City, 01 August 2017

 

His Holiness, Pope Francis

Apostolic Palace

Vatican City State, 00120

 

Subject:  The Serious Wrong-Doings of Some Bishops in Vietnam

 

Your Holiness,

 

I the undersigned Mr. Hoang Huu Phuoc, a businessman from – and a National Assembly Representative in the 2011-2016 tenure of – Vietnam, wish to convey my best compliments to Your Holiness and would like to take this opportunity to invite the kind perusal of Your Holiness to the following serious issues relating to some priests and bishops in Vietnam involving themselves in antagonizing their followers and agitating the rioting protests against the government of Vietnam, which I humbly believe are not beyond your full awareness of.

 

A) Protests Agitated by Dissident Bishops in Vietnam

 

1- The Misuse of the Vatican Flag by Vietnamese Catholic Hoi Polloi:

The Roman Catholic followers worldwide know the square Holy See Flag consisting of two equal vertical halves with a yellow hoist side and the white fly having the Vatican City coat of arms bearing the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, as well as the strict legislation and precedence of The Holy See Flag.

However, to serve the purpose of organizing protest demonstrations against the government of Vietnam under the pretext of fighting against the Taiwanese investors doing harms to the environment, the dissident bishops in Vietnam order the people of their dioceses to produce many of the so-called “Vatican Flag” in rectangle shape of two horizontal halves of white upper band and yellow lower half, either without the images of Saint Peter’s crossed keys and the Papal Tiara, or with a strange thick red cross in the middle. To make it worse or the worst, Catholic hoi polloi have such “Vatican Flags” either shouldered, waved, or simply inserted the flagstaffs into whatever holes available on rear tailstock covers of motorcycles, i.e. leaving such “Vatican flags” flutter at the back of the women sitting behind male riders.

These bishops and the people they teach doctrines to either (a) are obviously so ignorant of the Vatican Flag, or (b) disregard the legislation and precedence of The Holy See, or (c) become traitors wishing to overthrow the Papacy of the Roman Catholic Church by designing a new Vatican Flag for separate use totally at their own discretion in Vietnam, or (d) imply that their dissidence is strongly supported and generously funded by The Holy See against the government of Vietnam, or (e) at the worst plan to make the Roman Catholic Church of Vietnam a political party competing against the Communist Party of Vietnam.

 

2- Rags for Flags:

To challenge the worldwide administration power of The Holy See, the bishops and their diocesan people rally with many fake Vatican Flags of dubious sources of fabrics. This is an insult to The Holy See.

To challenge the worldwide academicians, the same bishops and their diocesan people rally also with many unknown square colorful “flags” with unevenly serrated tails at all sides except the hoist, which they proudly wave alongside the Vietnam-bishopized “Vatican flags”. This is an insult to The Holy See.

And to challenge the worldwide-acknowledged Government of Vietnam, the same bishops and their diocesan people rally also with many rectangular yellow three-red-lined pieces of cloth, similar to the flags of the Republic of Vietnam (South Vietnam), which was never supported by the late His Holiness Pope Paul VI, and which was totally defeated for good by the communist army of the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) in 1975. Wavering the rag flags of a permanently eliminated regime when protesting under the name of the Catholic Church and the leading of their bishops, Catholic hoi polloi obviously imply they are openly anti-communist and thus put themselves in seriously violating the country’s strict applicable laws relating to the acts of advocating or abetting overthrow of the Government – rules somewhat similar to, but not as strict as, the 18 US Code 2385. Their non-compos mentis status is an insult to The Holy See.

 

3- Vietnamese Bishops as Agitators & Rioters

Even though the word “overthrow” has been found in 52 instances in 17 verses, 11 chapters and 11 books of the Holy Bible, not even a single implication of overthrowing the government is mentioned. Instead, the teaching is that every government is put in place by the sovereign will of God (cf. Psalm 75:7; Daniel 2:21), and that all governments in all places are to be honored, respected, and obeyed by believers (cf. Romans 13:1-4, Luke 2:1-5, Luke 20:22-25, Acts 14:10, and 1 Peter 2:13-17). Titus 3:1-2 clearly mentions, “Remind the people to be subject to rulers and authorities, to be obedient, to be ready to do whatever is good, to slander no one, to be peaceable and considerate, and always to be gentle toward everyone.” All are abundantly raised as words of wisdom from God for the very basis of peace in everybody’s harmonious cooperation with the government. Such rule of obedience is reasonable as it provides a lone option when the people can practice civil disobedience by refusing to practice the regulation of the government’s laws if such laws are proven in direct conflict with God’s laws as generated in the Holy Bible (cf. Exodus 1:15-17, Acts 4:19, and Daniel 3:14-18).

The worldwide political chaos nowadays are germinated from the blatant disregard for God’s teachings.

When the Taiwanese investors brought damage to the marine ecological environment at some coastal provinces of Vietnam, they were sued to and found guilty and fined by the Vietnam’s court as per the applicable laws of Vietnam. However, ignoring the Deuteronomy 25:1-3 that “When people have a dispute, they are to take it to court and the judges will decide the case, acquitting the innocent and condemning the guilty. If the guilty person deserves to be beaten, the judge shall make them lie down and have them flogged in his presence with the number of lashes the crime deserves, but the judge must not impose more than forty lashes”, the dissident bishops led the crowds from their dioceses for protests,  vehemently waving the “rag flags” and angrily shouting for heavier punishment to the culprits though beyond the applicable laws and even for closing of the factories though beyond the applicable laws and expelling all those Taiwanese people though beyond the applicable laws.

These recent sad incidents in Vietnam are of an example of the vital importance of how the lack of proper care of faithful parents and elders at families, of decent education at schools, of profound teachings of God’s words at churches, and of strict supervision of the higher levels of the regional Roman Catholic Church may only produce some impudent inconsiderate bishops as agitators for rioting, enmeshed in the mundane political polarities though totally unknowledgeable of communism and any other –isms, pitifully dreaming of self-involvement in insane plots to overthrow the government of Vietnam and thereupon insulting the Holy Church.

 

4- Stupidity at Agitating Bishops from Their Ignorance of History

It is obviously not beyond the knowledge of the people blessed to have had years at school that Catholicism first landed onto Vietnam’s shore through the priests aboard warships of France in its commencement of the one-hundred-year occupation – i.e. colonialization – of Vietnam. This is a bitter indisputable truth to generations of patriots of the country, as-a-matter-of-factly hindering Catholicism from becoming the main religion in Vietnam.

Instead of following teachings from the Holy Bible to lead a pious life of a Catholic to become an exemplary being to help make words of Lord God Almighty well-materialized an best-influential for the betterment of the whole nation, some bishops misuse the power entrusted to them only to make the people at dioceses their subjects and themselves the Feudal Lords owning the dioceses as if these were their isolated kingdoms. It is a preposterously nonsensical fact in Vietnam where some bishops always want their dioceses physically and spiritually separated from the rest of the nation, ignoring their citizen’s responsibility and their country’s laws.

Besides the ignorance of the profound teachings of God, the ignorance of the history of Vietnam at those bishops does not help the country develop in any aspect at all – be it economy, prestige of the country in general and of  Catholicism in particular, education, politics, and even religion.

Freedom of speech and of expression can never be for creating problems to the majority of Catholics countrywide and to poor compatriots. Whilst Catholic churches and Catholics are everywhere in Vietnam, only one or two small dioceses in some provinces follow the order or their agitating bishops to organize protests with rag flags shouting for much harsher punishment against a foreign business, closing of that business, chasing its people out of Vietnam; thus sowing further seeds of hatred from Vietnamese people of different religious beliefs towards Catholics, making “moderate” Catholics countrywide embarrassed, and forcing the government not to lessen its alertness against the Catholic bishops and Catholic communities as a whole. And last but never the least, such protests at poor provinces create disturbances badly affecting the daily toiling for a living of street vendors and destitute people doing odd jobs on pavements of roads blocked by angry vehement bishops and their naïve diocese people.

 

B) Humble Proposals

 

Born into the family of my Buddhist parents who believed in Jesus Christ (as impressed by the much exemplary respectful responsible supportive pious living of the Catholic nuns at a convent located near our home at District 3 of Saigon in 1957 who provided generous help to anybody of the neighbourhood comprising of  non-Christians only) and sent their children to Catholic high schools in Vietnam, I have some siblings who are Catholic or Evangelical Christians, and everyone in my big family regardless of a Buddhist or a Christian or just an ancestor-worshipper like myself agrees on the one and utmost point of view that we are the citizens of Vietnam first before the perception that we are children of God Almighty. This is to set it very clear that we the children of God bestowed by God on to Vietnam are prepared to annihilate without any mercy the invaders say from China or elsewhere, be them also the children of God. Vietnam First is the very motto of all the real patriots of Vietnam who pray God to bless their own country first.

With the above in mind, and with the great impression instilled from the various statements of Your Holiness, e.g. the criticisms against the abusive practices in capitalism, and particularly the one delivered by Your Holiness at the interview with Il Messaggero in June 2014 relating to “Poverty is at the center of the Gospel”, profoundly implying that the concern of communism for the poor is in fact from the concern of the poor as written in the Gospel twenty centuries earlier, which thereupon make communism a Christian, I wish to bring the following proposals to Your Holiness for consideration.

 

1) Stronger & More Effective Supervision of Local Priests and Bishops in Vietnam

The Holy See should consider to ordain a very strong Apostolic Nuncio in charge of Vietnam capable of unmasking the wrong-doings and dirty tricks of those Vietnamese priests and bishops whose plots are to besmirch The Holy See, to spoil the diplomatic ties between Vatican and Vietnam, to overthrow the Government of Vietnam, to lure naïve Catholic followers to treasons, and to distort the teachings of God.

 

2) Execution of Real Power of Vatican to Wrong-Doers

The above incidents of abuse of power to besmirch the prestige of The Holy See also ignite the necessity of execution of power of Vatican against wrong-doers using the cassocks as camouflage and Vatican as protecting armor. Excommunication is the only correct punishment imposed against the Vietnamese priests and bishops who order their diocese people to display fake Vatican Flags and rag flags at illegal protests, and lead a mundane life of lies, xenophobia, social disobedience, and morbid agitation for conviction of treason.

 

3) Materialization of Real Diplomatic Ties with the Government of Vietnam

Freedom of speech and expression includes the right whether of an individual or an organization to promote atheism or other beliefs. Any action against a regime on the pretext of its different religious belief is never a righteous observation of the freedom of speech and expression in the civilized world. The late His Holiness Pope Benedict XVI made a righteous and important step towards establishing diplomatic ties with the communist Vietnam on 25 January 2007.

However, it seems Vietnam is the only country whereat some local Catholic priests and bishops not only openly show their leadership in the efforts to do dirty tricks to create problems against the government, but also cry with crocodile’s tears whenever meeting Apostolic Nuncio, Papal Delegates, or Cardinals, as if they were under the cruel oppression and suppression and anti-Catholic campaigns of the Government of Vietnam.

The Holy See should consider the official affirmation that the Vietnamese bishops ordained by The Holy See must honour the diplomatic relation between The Holy See and the Government Vietnam, must report to The Holy See whatever problems of their concern for The Holy See to take suitable diplomatic action with the diplomatic counterparts as per diplomatic practices bilaterally agreed upon by both sides, and must understand that they have no right whatsoever to gather and lead their diocese people for anti-government protests on behalf of The Holy See and deliberate use of Vatican Flag inn any occasions outside the church premises.

 

4) Acknowledging the Power of the Government as per Teachings in Testaments

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be reminded of the obedience to the Government of Vietnam, following God’s teachings in The Holy Bible.

 

5) Retraining of Bishops in Vietnam

The Catholic priests and bishops in Vietnam need be retrained on (a) their real duties and real responsibilities with the diocese and the followers, (b) the full legislation and precedence of The Holy See, and (c) the citizenship of Christians in both the earthy and the spiritual realms with the former the country and its laws and regulation (cf. Romans 13:1-7), and the latter God’s Heaven (cf. Philippians 3:20, Exodus 20:1-5, and Luke 20:25) and its doctrines, which prove anarchy is never amongst the teachings of God. The ignorance of either of the two citizenships is the very sign of wrong priests and bishops of Vietnam.

 

6) Revision of Vietnamese Translation of the Bible

It is a fact that all the Vietnamese versions of The Holy Bible have not been of excellent translation, be it the work of the Catholic or Evangelical Churches. The language is undeniably incomprehensive to every Vietnamese Christian, due to the following three issues:

(a) The present-day Vietnamese language format of alphabet writing presentation was developed by the French Jesuit missionaries in the XVIIth century to first serve the purpose of Bible teaching. The Vietnamese language in its primitive time definitely failed to accurately and sufficiently express the sense of the texts in another language, particularly from the great Holy Bible. Additionally, the French missionaries were of course not professional translators of Vietnamese language. All these make the Vietnamese versions of The Holy Bible partly clumsy and partly incomprehensive, and the spiritual education of the Vietnamese Catholics in general and Vietnamese Catholic priests could not be of a profile as high as in the Western world.

(b) Many obsolete Vietnamese wordings are still in the Vietnamese translation versions, and even some are not “translation” as they are not from any wording in the original say English version.

(b) Traditionally, the Vietnamese Christians have considered wordings in the Holy Bible the teachings of God which they must obey and respect, regardless of the fact that the Bible is in Vietnamese but not of a perfect profound translation but just an unprofessional work of amateur translators.

The above facts make the Vietnamese translation of The Holy Bible unchanged and non-updated or uncorrected for centuries. It depends totally individually on priests and bishops when reading the Bible at Church services, which their naïve followers failing to get the true context have to rely on their explanations. In a word, priests and bishops in Vietnam can easily misuse their power by misinterpreting the words of God in a poor translation of The Bible to mastermind the naïve people to involve in anti-government gatherings.

My proposal to Your Holiness is that the Vietnam’s Church should be taught by Your Holiness that any disregard to the accuracy, profound, and translation of The Holy Bible is itself a blasphemy, and that the Vietnamese translation version of The Holy Bible is allowed by The Holy See for updating and correcting.

 

As Vietnam need be stabilized and the communist government of Vietnam is the only entity capable of securing peace to the people of Vietnam, the agitation by those Catholic priests and bishops using fake flags and rag flags and inciting not only xenophobic hatred but also disobedience to the country’s laws can never be accepted. These priests and bishops need be reminded or re-educated by The Holy See that China’s invasion once the communist government of Vietnam is harmed by such thoughtless protests will surely corner the people of Vietnam including Vietnamese Christians to the definite verge of perdition and genocide.

 

The help from Your Holiness is kindly requested.

 

With every good wish to Your Holiness, I am,

Very Respectfully Yours,

 

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam’s XIIIth National Assembly Representative

Mailing address:

Hoang Huu Phuoc

MYA BizCorp

399B Truong Chinh St., Tan Binh,

Ho Chi Minh City

Vietnam

Tel: 84-1689996266

Email: hoanghuuphuoc@myabiz.biz

Tweeter: @HoangHuuPhuoc

 

**********

Notes for the WordPress.com, regarding the personal letters to foreign institutions:

A) Letters to Political Leaders:

1) Letter to Secretary General of the US Communist Party Gus Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

2) Letter to Secretary General of the UK Communist Party Gordon McLennan (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1978. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged).

3) Letter to President Saddam Hussein (by Hoang Huu Phuoc, in English, sent via telegrams and postal service. Details in Vietnamese at Tôi và Saddam Hussein https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/12/toi-va-saddam-hussein/).

4) Letter to Chancellor Helmut Kohl (by Hoang Thi Thu Huong, the youngest sister of Hoang Huu Phuoc. In German. Sent via postal service. Copy available at personal archives. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/05/su-mat-day-cua-mot-ten-ngoai-giao-duc/).

5) Letter to President Barack Obama (by Lai Thu Truc, Secretary to Hoang Huu Phuoc. In English. Sent by email. Details with Vietnamese translation available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/05/17/cong-dan-viet-nam-goi-thu-cho-tong-thong-obama/).

B) Letters to Foreign Mainstream Media:

1) Letter to Newsweek of the USA (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1988. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details and image of reply letter from Madelein Edmondson available at Tôi và Saddam Hussein)

2) Letter to Novosti of the USSR. Hall (by Hoang Huu Phuoc, in English, in 1996. The Underwood typewriting copy. Both the draft and the carbon copy on pelure damaged. Details available at https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/12/toi-va-giai-thuong-tho-ca-quoc-te-hoa-ky/)

Thư Gởi Đồng Bào

Hoàng Hữu Phước, MIB

12-6-2017

*********

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12-6-2017

Kính thưa Đồng Bào:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính trình cùng Đồng Bào nội dung sau.

Qua tham chiếu các bộ Luật Tổ Chức Quốc Hội Số 57/2014/QH13 và Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Số 85/2015/QH13, tôi nhận thấy có 4 điểm cốt lõi quan trọng sau đã chưa từng được quy định trong các Luật hiện hành có liên quan của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

1) Khi kết thúc nhiệm kỳ, các nghị sĩ từng địa phương thực hiện bàn giao công việc – nhất là chi tiết các việc tồn đọng có liên quan đến các khiếu tố của người dân không những ở địa bàn hoạt động mà còn từ các tỉnh thành trên cả nước;

2) Khi kết thúc nhiệm kỳ, các nghị sĩ từng địa phương bắt buộc phải chấm dứt hòan toàn mọi trách nhiệm đối với người dân không những ở địa bàn hoạt động mà còn từ các tỉnh thành trên cả nước, kể cả các trách nhiệm đối với các việc tồn đọng có liên quan đến các khiếu tố của người dân không những ở địa bàn hoạt động mà còn từ các tỉnh thành trên cả nước, ngay cả khi những người dân ấy tiếp tục tín thác cho nghị sĩ đã kết thúc nhiệm kỳ;

3) Khi kết thúc nhiệm kỳ, các nghị sĩ từng địa phương khi có nhận các đơn thư khiếu tố của công dân chỉ được chuyển lại cho Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội tại địa phương để nơi này xử lý – bất kể đó là đơn thư mới hay đơn thư của vụ việc khiếu tố mà bản thân nghị sĩ từng đích thân can thiệp; và

4) Các cơ quan Chính Phủ đương nhiệm không có trách nhiệm phải trả lời chính thức bằng văn bản việc xử lý các công văn hay thư chuyển của các nghị sĩ tiền nhiệm.

Trước thực tế chứng minh có Đoàn Đại Biểu Quốc Hội như Đoàn Khóa XIII Thành phố Hồ Chí Minh mà ngay cả Nghị Sĩ Trương Tấn Sang, Nghị Sĩ Lê Thanh Hải, Nghị Sĩ Nguyễn Thị Quyết Tâm, v.v., cũng không giúp giải quyết xong những khiếu tố dai dẳng của công dân kéo dài từ các khóa Quốc Hội trước đó, như vụ việc của Giáo Sư Tăng Kim Tây hay Nhà báo Hoàng Hữu Hiệp. Nếu như tấm lòng vì nước vì Đảng của Giáo sư Tăng Kim Tây đã dẫn đến sự kiên trì gởi đơn cho các Nghị sĩ Trương Tấn Sang, Trần Du Lịch, và Hoàng Hữu Phước tại tất cả các buổi tiếp xúc cử tri suốt nhiệm kỳ 2011-2016 của các nghị sĩ này, thì nhà báo Hoàng Hữu Hiệp đã nhiều năm khiếu tố trong bức xúc đỉnh điểm, mà ngay cả Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân có biết về vụ việc này:

HHH1

sự bất kính mà nhà báo Hoàng Hữu Hiệp dành cho các nghị sĩ đã lên đến cực điểm

HHH2HHH3HHH4

cũng như các “tân nghị sĩ” cùng phải chịu vạ lây từ sự ra tay dạy dỗ đầy đay nghiến của nhà báo Hoàng Hữu Hiệp

HHH5

và tất nhiên, “tân Bí thư Thành ủy” cũng không thể không gánh chịu phản ứng giận dữ cực đoan của nhà báo ấy

HHH6HHH7

Trước thực tế sự vô cảm, bất trí của vài lãnh đạo các thời trước đây của Thành phố Hồ Chí Minh đã không nhận thức được sự cần thiết tối quan trọng của việc tích cực giải quyết – hay giải tỏa bức xúc đối với – các khiếu tố của người dân, khiến đã có những người dân bị đẩy đến mức độ cực đoan bất kính giới tinh hoa chính trị của nước nhà, di họa cho các lãnh đạo thành phố kế nhiệm;

Trước thực tế sự vô cảm, bất trí của vài lãnh đạo Đảng và Chính Quyền các thời trước đây của Thành phố Hồ Chí Minh đã không nhận thức được rằng “gần dân” hoàn toàn có thể được thực hiện ngay tại tháp ngà qua việc tai lắng nghe nội dung giải bày của các đơn thư của nạn dân, tay bút phê chỉ đạo phân xử như thần chứ không phải trò sáp sát vào dân có tiền hô hậu ủng có quay phim chụp hình để tai nghe các phát biểu của dân mà dân ở đây luôn chỉ là các đại cử tri được chọn sẵn;

Trước thực tế vấn nạn trầm kha của lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh trong lợi dụng và tận dụng cơ hội làm “tân nghị sĩ” để có quyền không nắm bắt các nội dung khiếu tố tồn đọng dẳng dai trong nhân dân cũng như chọn phương cách an toàn “chuyển tiếp” các đơn thư khiếu tố ấy đến cùng cơ quan đã nhận nhiều năm trước đó để các cơ quan này bắt đầu áp dụng thời gian xem xét theo luật định để tiếp tục xét xem cho đến cuối nhiệm kỳ Quốc Hội mới mà không giải quyết gì cả; và

Trước thực tế tôi vẫn còn chịu trách nhiệm đối với các nội dung khiếu tố mà đồng bào trước đây đã tín thác và nay vẫn tiếp tục tín thác qua những chủ động liên hệ với tôi để tham vấn và/hoặc yêu cầu tiếp tục giúp can thiệp các vụ còn tồn đọng;

Tôi tuyên bố không chối bỏ trách nhiệm, không phụ lòng tín thác của đồng bào, một khi Luật Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa có điều khoản nào điều chỉnh chặn ngăn cấm đoán tinh thần trách nhiệm vì Nước vì Dân ấy của các Nghị Sĩ tiền nhiệm.

Trong thời gian chờ đợi tự ra tranh cử Quốc Hội Khóa XV (2021-2026), tôi tiếp tục nhận các đơn thư khiếu tố của Đồng Bào gởi qua đường bưu điện đến địa chỉ:

MYA BizCorp, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Kính chào trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII

Ghi chú: Rất tiếc, tôi không thể tiếp tục can thiệp các nội dung khiếu tố của công dân nhà báo Hoàng Hữu Hiệp do sẽ không có bất cứ cơ quan quyền lực nào của Nhà nước Việt Nam có thể giải quyết được vì lý do “thời gian tính”.

Tham khảo:

Thư Gởi Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc  08-6-2017

Rác Rến 28-02-2017

Vụ Khiếu Tố Của Hoàng Hữu Hiệp 17-10-2016

Công Tác Tiếp Dân 02-01-2016

Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân 28-02-2015

Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. 24-02-2015

Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp 25-7-2013

Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

Lại Thu Trúc

05-5-2017

(Đăng trên Emotino ngày 23-9-2012)

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Thông tin về Thủy điện Sông Tranh 2 cho thấy những vấn đề nghiêm trọng cần phải được xử lý trên cơ sở “an toàn sinh mạng người dân là ưu tiên hàng đầu”, bao gồm tiếp tục nghiên cứu các giải pháp khắc phục và các kịch bản được đề ra quanh việc có nên hay không việc tích nước ở Thủy điện Sông Tranh 2, và nếu có thì ở thời điểm nào là giải pháp tình thế thích hợp. Song, chỉ cần có câu trả lời là không, thì xem như toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên cảnh quang thiên nhiên, v.v.) và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.) xem như đổ sông đổ biển.

Những “vấn nạn” trên làm tôi nhớ đến bài viết “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước” đăng trên Emotino.com từ năm 2010 đã đặt vấn đề một cách nghiêm túc về tai họa khủng khiếp mà một đập thủy điện có thể gây ra như:

“…loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

…  …Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường…”

Vẫn với sự lo âu về tình trạng xây dựng các đập thủy điện, Ông Hoàng Hữu Phước năm 2011 cũng có thêm bài viết “Giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia đòi hỏi cái tầm” đăng trên Emotino.com đưa ra thêm các lời cảnh báo như :

“… việc giải quyết nhu cầu năng lượng quốc gia vẫn còn theo phong cách đối phó kiểu du kích, tài tử, không chuyên nghiệp, y như việc trồng bo bo để nhanh chóng giải quyết nhu cầu gạo quốc gia những năm đầu sau giải phóng.

Để làm cho bằng được những dự án thủy điện Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không là diện tích đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ đất nước nào cũng đều vô giá và không bao giờ được định giá dựa trên cân đong đo đếm so sánh những con số vô hồn; và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào đã từng tồn tại trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải vô giá dành cho hậu thế của cả một dân tộc. Ngụy biện hay xảo biện bằng cách nói về nhu cầu năng lượng của quốc gia và của người dân, người ta thậm chí làm ngơ trước nhu cầu lớn hơn: đó là nhu cầu sống, nhu cầu sinh tồn của bao triệu con người hiện nay và mai sau của toàn khu vực hai bên cũng như hạ lưu của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tài sản thiên nhiên và tự hào về tài sản thiên nhiên ấy của người dân hiện nay và mai sau. Các nhà máy thủy điện tất nhiên sẽ cung ứng một phần năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng không vì thế mà cố tình không nói đến những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ các cặn lắng tụ kết tủa ở turbin, khí methane CH4. và carbon dioxide CO2, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhiều triệu con người, thậm chí trong một số trường hợp các đập thủy điện có khi còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn những nhà máy nhiệt điện thông thường.

Một vấn đề nghiêm trọng khác ít người nói đến là an ninh quốc phòng, đặc biệt khi Việt Nam luôn là đích ngắm của các thế lực thù địch điên cuồng chống cộng, và khi Việt Nam phải thường xuyên đương đầu với sự đe dọa mang tính bịnh lý thần kinh lăm le táo tợn tấn công quân sự của Trung Quốc. Lịch sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử khi có những xung đột vũ trang hoặc chiến tranh tuyên bố hay không tuyên bố, nhưng vẫn xảy ra những cuộc không kích hay phá hoại các đập thủy điện như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943, các biệt động Đức Quốc Xã đột nhập vào Hoa Kỳ năm 1942 theo Chiến Dịch Pastorius nhằm phá hoại các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là các toán khủng bố Hồi Giáo tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Trong điều kiện tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở toàn Việt Nam chưa trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và khoa học hiện đại, và trên thực tế ngay cả sự cố bất ngờ của thiên tai cũng gây ra thảm họa khủng khiếp như đã xảy ra với đập Vajont của Ý năm 1963, thì bất kỳ sự cố nào xảy ra với bất kỳ đập thủy điện nào trong chuỗi đập thủy điện Đồng Nai cũng có thể tạo ra hồng thủy cao hàng trăm mét cuồn cuộn cuốn phăng Thành phố Hồ Chí Minh ra biển cùng với hàng chục triệu cư dân.

Xây dựng thêm bất kỳ đập thủy điện nào trên sông Đồng Nai là gia tăng sự trực tiếp đe dọa an ninh sinh tồn của Thành phố Hồ Chí Minh, do đó dứt khoát phải bị loại trừ khỏi các dự án quốc gia. Việc đệ trình lên bàn làm việc của Thủ Tướng hay ra nghị trường Quốc Hội, do đó, sẽ là việc làm thiếu trách nhiệm đối với tiền đồ tổ quốc, thiếu suy xét, đặc biệt khi Quốc Hội và Chính Phủ cần nhiều thời gian tập trung cho các vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc, trong hoàn cảnh căng thẳng ở Biển Đông, yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, hiện đại hóa quân đội, cách tân giáo dục, v.v. và v.v.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ trọng trách hằn trên chỉ đôi vai của bất kỳ nhà đầu tư nào, nhất là khi nhà đầu tư ấy đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu vớ vẩn đầy tì vết, cẩu thả, vô trách nhiệm về tác động môi trường.

Nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không là thứ để bất kỳ ai vin vào đấy để nói về “cái tâm” của mình đối với quốc gia, dân tộc, vì rằng cái tâm đoan chính luôn song hành cùng “cái tầm” mới hướng thượng được, mà cái cao nhất của sự hướng thượng là dành cho hậu thế, cho tiền đồ của tổ quốc, chứ không di hại và di họa cho con cháu mai sau.

Xây dựng nhà máy thủy điện không thể y như trồng bobo cứu đói trong một vụ mùa.”

Cái tâm chính trực của Ông Hoàng Hữu Phước được thể hiện rõ nét nhất qua lời viết mạnh mẽ không sợ làm phật ý nhiều người thuộc giới khoa học, kỹ thuật, công nghệ, công nghiệp nước nhà, khi cho rằng:

“… Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite…”

cũng như trong đoạn viết cay đắng:

“… Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý… “

Và trên thực tế, khi sự cố nước phun xối xả từ các khe nứt của Thủy điện Sông Tranh 2 bị phát hiện, vị chức sắc chịu trách nhiệm về kỹ thuật đã trả lời báo chí rằng đó chỉ là việc bình thường trong mức độ cho phép. Vâng, “cho phép” nghĩa là cái công trình bê tông vĩ đại và hiện đại đó đã được công nhân dùng tay nhét giẻ vào các khe nước phun và bơm phụt keo và hóa chất cứ như để đóng nút chai vậy; và vì “cho phép” nên đến tận ngày hôm nay người ta đã phải cho ra các kịch bản mà sự thảm hại tồi tệ nhất về đầu tư có thể là bỏ thủy điện này, không cho tích nước, và sự khủng khiếp tồi tệ nhất có thể là kế hoạch sơ tán khẩn cấp dân cư trong khu vực hạ lưu. Sự “cho phép” theo lập luận của một người có trách nhiệm về kỹ thuật như thế cho thấy cái “đức” và cái “tài” của vị ấy ra sao khi tự cứu mình bằng lời trấn an không trung thực và xem nhẹ sinh mạng hàng triệu người dân. Việc gì sẽ xảy ra nếu những lời vàng ngọc của người có trách nhiệm ấy được Chính phủ cậy tin và người dân tin cậy đến độ không cần kiểm tra lại cái công trình mang tên Thủy điện Sông Tranh 2?

Như biết bao công dân Thành Phố Hồ Chí Minh tôi cảm thấy bất an đối với dự án Thủy Điện Đồng Nai đang có nhiều tranh luận và mong sao nước ta sẽ ngày càng có thêm nhiều hơn nữa những nhà ái quốc có tầm nhìn và sự chính trực như Ông Phước.

Lại Thu Trúc

Bài đăng ngày 23-9-2012 trên http://www.emotino.com/bai-viet/19707/trach-nhiem-doi-voi-sinh-mang-nguoi-dan-tam-nhin-su-chinh-truc-cua-mot-nha-ai-quoc

30-4-1975

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-4-2017

HHP QH 2

Việt Nam: Đất Nước Kinh Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa  09-4-2006

 

Vietnam: My Beloved Nation, The Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 09-4-2006

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bọn Con Nít Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-3-2017

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng Âu Mỹ thì “làm chính trị” nghĩa là làm nghị sĩ hoặc làm quan chức cao cấp trong chính phủ, nghĩa là người ta “làm chính trị” chỉ để phục vụ chính cái thể chế chính trị, cái chế độ hiện hữu của đất nước mình, bảo vệ hiến pháp với toàn bộ hệ thống luật pháp vận hành của nó. Kỳ dư, tất cả những ai lăng xăng hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, đều là đang thực hiện quyền tự do ngôn luận mà người công dân nào cũng có, chứ hoàn toàn không phải là “làm chính trị”. Và nếu các hành động hành vi hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, lại nhằm mục đích chống phá thể chế chính trị nước nhà, kích động bạo lực, sử dụng bạo lực, gây ra phá hoại an ninh trật tự, lật đổ chế độ hiện hữu thì đó dứt khoát là “làm loạn” nên nhất thiết phải bị pháp luật trừng trị theo đúng thông lệ quốc tế Mỹ Âu. Chính phủ nào không phân biệt được sự khác biệt này nên không dám sử dụng bạo lực để trấn áp đàn áp bức áp tất cả các hành động hành vi “làm loạn” là chính phủ đáng vất sọt rác, không biết noi gương sáng trị quốc của chính phủ Hoa Kỳ.

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng của tác giả bài viết này đã nêu rất rõ trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ thì “trẻ trung” hoàn toàn không dính dáng gì đến “tuổi trẻ”, “trẻ tuổi” nghĩa là thời gian để “làm người lớn” còn dài hơn nhiều so với những “người lớn” đã cao tuổi, và “trẻ nít” là cái phong cách tồi tệ nhất của người trẻ tuổi và người cao tuổi.

Quốc Hội Khóa XIII có mấy lão nghị sĩ con nít, kẻ thì thách Thủ Tướng có dám từ chức không, kẻ thì yêu cầu Thủ Tướng báo cáo công khai cụ thể trước Quốc Hội kế sách chống lại  Trung Quốc, kẻ thì bảo các nước trên thế giới “biểu tình” rất đàng hoàng nên Việt Nam cũng sẽ “biểu tình” đàng hoàng, kẻ thì phán như đinh đóng cột rằng “biểu tình” phát xuất từ Chicago, kẻ thì ngu đần không biết ý nghĩa của từ ngữ “ốc đảo” nên lớn tiếng tại Quốc Hội cho nó là hoang đảo, v.v. Đây là thí dụ rõ nét nhất về “bọn con nít làm chính trị”.

Để chuẩn bị nhân lực cho đội ngũ “làm chính trị”, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phát triển đảng viên, rèn luyện đảng viên, giáo dục đảng viên quán triệt các nghị quyết, đường lối, chủ trương, v.v., của Đảng. Song, như tác giả bài viết này đã từng nêu ra rất nhiều năm trước là Đảng đã bỏ lơ việc (a) giáo dục nhân cách con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho tư cách đảng viên vì đảng viên trước hết phải là con người, và (b) giáo dục đạo đức con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho đạo đức cách mạng vì đạo đức cách mạng chỉ có nơi con người có đạo đức con người cao nhất. Các đảng viên ở các địa phương làm lãnh đạo Đảng hoặc lãnh đạo chính quyền (hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các Sở Ban Ngành) là nguồn nhân lực Đảng chuẩn bị đưa ra “làm chính trị”. Do có sự lơ là đã nêu trên, một số đảng viên cấp cao đã không hề có chút tư duy nào về tư cách người lớn, tư cách bậc trưởng thượng, tư cách bậc thủ trưởng, và tư cách đảng viên, nên hành xử như con nít.

Đi ô tô tư ở nơi trấn nhậm thì muốn phải là Lexus và phải có bảng số xanh để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải trốn biền biệt trộn bên trong bột giấy của tờ truy nã toàn cầu khổ A4 hay khổ Letter của Interpol, mất luôn cơ hội trở thành Bộ Trưởng Công Thương trẻ tuổi tài cao của nhiệm kỳ Quốc Hội XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-11-41-am

Đi ngoạn cảnh chốn hoa viên mà trong tay phải cầm cành mai đào bề thế để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải ra sức thanh minh mà không đủ trí hóa để biết rằng (a) ngay cả khi đó là cành cây tự gãy do nó “tự sướng” thật thì đó cũng là tài sản của vườn hoa, như bên New Zealand du khách vào các nhà vườn hái táo hái lê tự do rồi xách xô ra tính tiền nhưng nếu lượm trái rơi đầy trên mặt đất để ăn thì bị đuổi ra khỏi vườn ngay lập tức vì đó là ăn cắp; rằng (b) nữ chức sắc mà cầm cành hoa chụp hình như nữ sinh tiểu học thì rõ là không có tác phong làm lãnh đạo; và rằng (c) đảng viên chức sắc mà không biết thù trong giặc ngoài luôn rình rập nhất cử nhất động của mình để khai thác tấn công thì thật là đáng thương cho đảng viên con nít và đáng quan ngại cho sự tồn tại của Đảng. Đã có đứa con nít ngu xuẩn nghe lời người lạ cầm cái khăn chụp vào mặt một người lạ khác ở Malaysia để rồi nay chờ đợi bản án tử hình treo cổ sắp tuyên. Sẽ có đứa con nít ngu xuẩn khác cầm dùm hành lý của một bà cụ nào đó ở phi trường Bangkok để rồi sẽ chịu án tử hình vì đó là va li bạch phiến. Vừa có một đứa con nít ngu xuẩn cầm cành hoa mai đào vật chứng phạm tội của người khác bẻ dúi vào tay. Một đảng viên không được phép là con nít, và hãy tống cổ ra khỏi Đảng những đứa con nít!

screen-shot-03-06-17-at-08-26-pm

Lãnh đạo một Ban Chỉ Đạo mà chỉ hiểu nghĩa đen của “trẻ hóa” nên đưa một đứa con nít “quá trẻ” chưa hề có kỳ công kỳ tích nào vào Vụ Kinh Tế ngồi trên đầu thiên hạ để lo đại cuộc phát triển kinh tế cả Miền và cả thành phố lớn, lờ đi sự thật là cái thành phố lớn ấy đang nhếch nhác lôi thôi lếch thếch với bao dự án địa ốc nham nhở dở dang mà cư dân chỉ gồm bò cái bò đực và những bóng đen thực tập sử dụng ống chích và kim tiêm.

screen-shot-03-06-17-at-11-46-am

Lãnh đạo ngân hàng mà chỉ lo vận dụng các chiêu thức của các bậc tiền nhiệm ồ ạt đổ tiền nhét chất đầy nghẹt đầy nhóc đầy tràn trong nhà mình để rồi khi bị phát hiện mất một núi tiền và một đồi vàng thì nếu không kịp có tên trên bảng truy nã toàn cầu của Interpol thì cũng ra đứng trước tòa nói rằng tội là của người khác, rằng bản thân vô tội, rằng hãy tha cho các nhân viên vì họ chẳng xơ múi gì, rằng xin không bỏ tù để bản thân ở ngoài xã hội làm lụng kiếm tiền khắc phục hậu quả.

Lãnh đạo đảng ở địa phương thì ngây thơ như con nít vô tư nhận ô tô đắt tiền do doanh nghiệp tặng để đi cho sướng đôi mông cao quý của cấp lãnh đạo, mà không biết rằng đó không thể không dấy lên sự ngờ vực ắt luôn có về sự thiên vị, có qua có lại, dành cho doanh nghiệp biết điều, để rồi bị cha mẹ – tức Thủ Tướng – mắng quở dạy cho bài học cực kỳ sơ đẳng là phải trả lại doanh nghiệp, mất luôn cơ hội được Đảng đưa ra “làm chính trị” kỳ Quốc Hội Khóa XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-08-44-pm

Và còn bao sự hoặc tày trời hoặc ngu xuẩn hoặc cả hai của đám đảng viên con nít  có ít nhất một bằng thạc sĩ và một bằng tiến sĩ gây ra!

Cũng do cái đạo làm người được mặc định là do cha mẹ mỗi người phải chịu trách nhiệm trước tổ tông và dân tộc tự dạy dỗ con cái, nên khi Đảng chỉ lo phụ trách về “chính trị” thì đảng viên nào có đã được mẹ cha dạy dỗ thì đó là ngôi sao ngời sáng của Đảng, còn đảng viên nào không được cha mẹ dạy dỗ – mà tiếng bình dân informal gọi là “mất dạy” – thì đó là kẻ sẽ làm Đảng phải bỏ ra vài thập kỷ truy lùng trên toàn thế giới. Đây là cái lỗ hổng “giáo dục” mà tác giả bài viết này đã luôn ngậm ngùi rằng đại cuộc nước nhà rồi sẽ suy vi.

Cũng do tự tin vào cái mặc định trên, cũng như tự tin vào tay nghề giáo dục “chính trị” của mình, Đảng đã ra sức đào tạo đội ngũ nhà báo hồng thắm lý luận chính trị cao cấp, và nghiệp vụ chuyên sâu cấp cao. Tuy nhiên, cũng như tác giả bài này đã bao lần nêu lên trong nhiều bài viết, đã có lỗ hổng rộng banh toát hoát trong ngôn ngữ ngôn phong tiếng Việt: trong khi các ngôn ngữ Âu Mỹ có nào là dạng thức phân định rõ ràng của ngôn ngữ thông thường informal, ngôn ngữ trang trọng lịch lãm formal, ngôn ngữ nói bình dân colloquial, ngôn ngữ từ lóng của giới tội phạm hay xó chợ đầu đường slang, ngôn ngữ văn học văn hóa literary, ngôn ngữ báo chí language journalism, ngôn ngữ khoa học hàn lâm academic scientific terms, v.v. và v.v., thì tiếng Việt vì chiến tranh đã trở thành phế tích hoang tàn cỏ dại.

Các biên tập viên báo hình, báo in, báo mạng, thản nhiên dùng từ “nhí” thay vì “thiếu niên”, “ngáo đá” thay vì “lậm ma túy”, “tự sướng” thay vì “tự chụp”, “phượt” thay vì “dã ngoại đường trường”, v.v và v.v, mà không biết rằng (a) đối với Âu Mỹ thì ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ mang phong cách cầu kỳ đặc thù được đào tạo rất riêng, với những chuẩn mực rất riêng tuy thoát thai từ trên nền tảng chung của formal, mà ngay cả khi buộc phải dùng – hay phải nói – một tiếng lóng thì luôn phải để trong ngoặc kép hoặc chỉ viết chữ cái đầu tiên còn các chữ cái tiếp theo thì dùng ký hiệu hoặc tắt phần âm thanh hay ghép một tiếng bíp vào miệng người nói để xóa sự phát âm của một từ phản cảm, nếu không muốn bị các bậc phụ huynh vừa tẩy chay chương trình vừa kiện ra tòa; và rằng (b) những gì mà “giới tinh hoa báo chí” Việt Nam dùng thì đương nhiên học sinh Việt Nam có quyền “noi gương” để rồi làm hỏng bét cả văn hóa văn học ngôn từ của các “tinh hoa trí thức” tương lai.

Vì vậy, với sự hòa âm điền dã của những đứa con nít “làm chính trị” và những nhà báo con nít đã quá quen thuộc với việc phỏng vấn những đứa con nít “làm chính trị” ấy, mới đây đã có một phóng viên con nít đã gọi một vị Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân một Quận ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng cụm từ “soái ca” mà không biết rằng vị Phó Chủ Tịch Quận ấy là một “người lớn” xứng đáng đứng vào hàng ngũ những người “làm chính trị” của nhiệm kỳ 2021-2026, hoàn toàn không phải là hạng người mà ai muốn dùng loại từ ngữ “tiếng lóng”, “đầu đường xó chợ”, gán ghép vào ông thì cứ gán.

screen-shot-03-06-17-at-08-46-pm

Chỉ có cha mẹ mới dạy được con cái liêm khiết và liêm chính, dũng tâm và hùng tâm, ái quốc và ái nhân, khôn ngoan và khôn khéo; đơn giản vì tất cả các đức tính ấy của con người chỉ được nẩy mầm vun quén từ tuổi ấu thơ, trong thời gian dài bên cạnh mẹ cha, với bài học từ bản thân cha mẹ, và lời giáo huấn mưa dầm của mẹ cha. (Mẹ cha cũng đồng nghĩa với người bảo hộ tốt đẹp – nếu một người vì họa tai không được sống với đấng sinh thành tốt đẹp).

Đảng chính trị dù bất kỳ đâu trên thế giới cũng không bao giờ đào tạo ra đảng viên liêm khiết, liêm chính, dũng tâm, hùng tâm, ái quốc, ái nhân, khôn ngoan, khôn khéo. Vì vậy, Đảng cần ra khỏi tháp ngà, vi hành vào nhân dân, chiêu dụ những con người tốt đẹp hội đủ ngần ấy thứ đức tính từ cha mẹ của họ để thỉnh mời vào Đảng, giáo dục họ về “chính trị”, rèn luyện đào tạo họ về “trị chính”, để họ trở thành những chính khách “làm chính trị”, mà không là “con nít làm chính trị.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn tham khảo các nội dung nhắc đến trong bài:

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Làm Chính Trị & Làm Loạn   12-01-2017

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy  30-12-2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Chìa Khóa Của Cường Thịnh    05-11-2016

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  20-11-2015

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.  04-12-2012

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt  18-6-2010

Hai Tên Mọi Bẩn Thỉu

“Không Tà Vạy, Không Làm Lãnh Đạo và Còn Khuya Mới Thành Bắc Đẩu!”

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-02-2017

Mục Lục

A- Tên Mọi Kofi Annan

1) Thất bại thảm họa của các đội quân gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc

2) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình bị lạm dụng

3) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình không được thực thi

4) Thất bại của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc

5) Mức độ tham nhũng cao nhất

6) Sự tuyệt vọng xơ cứng

7) Tư tưởng chống Liên Hợp Quốc trên thế giới

8) Sự đối đầu căng thẳng tồi tệ nhất giữa Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc

B- Tên Mọi Barack Obama

1) Các chiến lược địa-chính-quân-kinh hỏng bét

2) Bất tài trong quản trị nhân sự

3) Bất trí

4) Quốc nhục

5) Làm trò khỉ với Việt Nam

6) Bôi nhọ uy tín Đảng Dân Chủ

screen-shot-01-09-17-at-09-15-am-001

Ở trên là hình ảnh hai “tên mọi bẩn thỉu” có 6 điểm cực kỳ giống nhau như:

(a) cả hai đã gây ra những tội ác man rợ,

(b) cả hai có vinh dự lãnh đạo hai thực thể lớn nhất thế giới mà cả hai thực thể này đều có tên gọi “United” tức “Liên Hợp” gồm Liên Hợp Quốc UNO và Liên Hợp Tiểu Quốc America USA,

(c) cả hai đều nắm quyền lãnh đạo hai nhiệm kỳ,

(d) cả hai đều rời ngôi vị trong ô nhục,

(e) cả hai đều có giải Nobel Hòa Bình lúc đang tại vị, và

(f) rất tiếc cả hai đều là người gốc Phi.

Sở dĩ phải dùng từ “Rất tiếc” vì cả hai “tên mọi” trên đều là người da đen trong khi cụm từ “mọi đen” do chính người Mỹ da trắng tạo nên lại xuất phát từ sự kỳ thị chủng tộc đầy miệt thị nên bài viết này nhất thiết phải phân trần rằng yếu tố kỳ thị chủng tộc là hoàn toàn không tồn tại trong hành trạng “tự do ngôn luận” của tác giả vốn là một blogger trên cả tuyệt đối chính đạo và bất kỳ sự liên tưởng nào đó – nếu có nơi người đọc – đến “mọi đen” hoàn toàn tùy thuộc vào riêng chỉ người đọc ấy mà thôi.

Tên Mọi Kofi Annan

Kofi Annan là Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc (UNO – United Nations Organization) hai nhiệm kỳ (từ 01-1997 đến 12-2006), và là nhân vật đoạt Giải Nobel Hòa Bình (năm 2001)

 screen-shot-02-13-17-at-11-31-pm

Triều đại trị vì của Kofi Annan trùng với hai đời Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton của Đảng Dân Chủ và George W. Bush của Đảng Cộng Hòa.

Kofi Annan bị ô danh thiên cổ vì các tội ác gây ra do đáp ứng đúng mong muốn của Hoa Kỳ, và vì các tiêu cực gây ra không đáp ứng đúng mong muốn của Mỹ.

Dường như bắt chước Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa ứng khẩu năm 1975 mạt sát Mỹ khi bị Hoa Kỳ vất vào sọt rác lịch sử, Tổng Thư Ký Kofi Annan của Liên Hợp Quốc khi bị Hoa Kỳ vất vào sọt rác lịch sử đã phát biểu ngày 11-12-2006 tại Thư Viện Tổng Thống Truman ở Bang Missouri hùng hồn đến nỗi bài phát biểu ấy đi vào lịch sử đối ngoại chưa từng có tiền lệ của Hoa Kỳ như sự tấn công dữ dội nhất từ một vị lãnh đạo Liên Hợp Quốc giáng vào Chính Phủ Mỹ. Những lời bổng dưng đột biến hùng hồn ấy bao gồm nhiều thứ, từ dạy bảo nhân loại (như: “không quốc gia nào có thể khiến mình an toàn hơn bằng cách thống trị các quốc gia khác”) đến dạy bảo Hoa Kỳ (như trong cuộc chiến do Mỹ lãnh đạo chống khủng bố: “vai trò tiên phong của Mỹ chỉ có thể duy trì nếu Mỹ thật lòng với các nguyên tắc”; hoặc như chiến tranh Iraq: “không nhà nước nào có thể khiến các hành động của mình được các nước khác xem như hợp pháp…đặc biệt khi sử dụng sức mạnh – nhất là sức mạnh quân sự”), v.v.

Dường như do đã có công dân Hoàng Hữu Phước của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã lên tiếng năm 2003 rằng thế giới sẽ hỗn loạn nếu thế giới để yên cho Mỹ tiêu diệt Saddam Hussein là người duy nhất có tài dìm đầu khủng bố, Tổng Thư Ký Kofi Annan của Liên Hợp Quốc khi kết thúc nhiệm kỳ đã trở nên mạnh dạn hơn nên khi trả lời phỏng vấn của BBC ngày 04-12-2006 dõng dạc phán rằng “người dân Iraq ngày nay sống tồi tệ hơn lúc còn dưới thời Saddam Hussein” và rằng “Saddam là người tôi có thể cùng làm việc với”, v.v.,  khiến chế độ mới của Iraq do Mỹ hậu thuẫn phải nổi điên đốp chát lại rằng Kofi Annan chẳng hiểu gì sất vì trước đây dân Iraq bị Saddam Hussein tàn nhẫn tàn sát còn hiện nay dân Iraq bị bọn al-Qaeda tàn ác tàn sát chớ chính phủ Iraq hiện nay do Mỹ dựng lên nào có tàn ác tàn nhẫn tàn sát dân đâu, v.v. và v.v.

10 năm ngự trị ngôi cao của Kofi Annan đã làm ô danh Liên Hợp Quốc như một tổ chức thất bại đến độ Hoàng Hữu Phước của Việt Nam năm 2011 đã bảo ngày tàn của Liên Hợp Quốc đã đến và nó nhất thiết phải được thay thế bằng một tổ chức khác, còn Donald Trump của Mỹ ngày 27-12-2016 đã tuyên bố trên Twitter thóa mạ Liên Hợp Quốc xem nó đang chỉ như một câu lạc bộ nơi người ta đàn đúm bù khú mà thôi (“just a club for people to get together, talk and have a good time”).

Di sản Kofi Annan để lại cho Liên Hợp Quốc bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – 8 sự tầy huầy đầy tai tiếng và quá nổi cộm sau:

1) Thất bại thảm họa của các đội quân gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc như tại Bosnia, Congo và Sudan.

2) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình bị lạm dụng từ Bosnia hay Burundi đến Sierra Leone và Haiti. Tồi tệ nhất là tại Congo, nơi Liên Hợp Quốc gởi đến 16.000 quân (đến từ các nước Nepal, Morocco, Tunisia, Nam Phi, Pakistan, và Pháp) nhưng chính tại Congo các hành vi hãm hiếp mọi rợ và giết chóc man rợ lại bị gây ra bởi chính các chiến sĩ gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc cùng các sĩ quan địa phương “cùng phe” tại khắp Congo kể cả ngay tại các trại tỵ nạn của Liên Hợp Quốc lập ở thị trấn Bunia vùng Đông-Bắc, dẫn đến việc MONUC (Phái bộ Liên Hợp Quốc tại Cộng Hòa Dân Chủ Congo) bị ít nhất 150 cáo buộc vi phạm nhân quyền nghiêm trọng với quy mô sát hại lớn hơn rất nhiều so với tội ác giữa các bên xung đột, song không có thân nhân nào của các nạn nhân bị chiến binh Liên Hợp Quốc sát hại có thể nộp đơn kiện đến Liên Hợp Quốc vì tất cả họ đều bị thủ tiêu.

3) Sứ Mệnh Bảo Vệ Hòa Bình không được thực thi:  Còn ngược về trước đó, vào năm 1994, lúc vẫn còn là quan chức cấp cao thứ nhì của Liên Hợp Quốc nắm giữ quân đội gìn giữ hòa bình, Kofi Annan đã từ chối không gởi 5.000 lính “mũ nồi xanh” đến Rwanda đến ngăn chặn người Hutu diệt chủng người Tutsi. Sự bỏ mặc này của Kofi Annan khiến 800.000 thường dân của tộc Tutsi bị dân Hutu chặt đầu bằng rìu chỉ trong ba tháng. Tuy nhiên, thay vì bị ô danh, Kofi Annan sau đó được Mỹ hân hoan tưởng thưởng bằng cách đề xuất chọn làm Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc.

4) Thất bại của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc trước những vụ việc xâm hại nhân quyền tồi tệ nhất lịch sử nhân loại đã làm Liên Hợp Quốc thêm ô danh và mất hẳn uy tín trên trường quốc tế. Thậm chí Liên Hợp Quốc còn bị Mỹ phê phán vì Liên Hợp Quốc đã “sơ xuất” để “lọt” vào trong Liên Hợp Quốc hoặc được “mời chuẩn y” sự thành lập của Hội Đồng Nhân Quyền những quốc gia mà Mỹ cáo buộc độc tài tàn bạo (gồm Miến Điện, Syria, Sudan, Zimbabwe, và Bắc Triều Tiên), hoặc nhân quyền tệ hại (gồm Trung Quốc, Nga, Cuba, Algeria, Pakistan, và Saudi Arabia).

5) Mức độ tham nhũng cao nhất so với tất cả các vị tiền nhiệm cùng với sự bất lực trong giám sát và quản lý Chương Trình Đổi Dầu Lấy Lương Thực của Iraq sau khi tiêu diệt Saddam Hussein mà các tai tiếng cùng thất thoát cho đến ngày nay cũng chưa hề được đưa ra ánh sáng đã khiến Liên Hợp Quốc vĩnh viễn mất đi uy tín uy danh từng có, thậm chí mức độ tham nhũng tại cơ quan quyền lực quốc tế này với chỉ chương trình ấy cũng đã ở mức độ scandal tài chính không những ghê gớm nhất lịch sử Liên Hợp Quốc mà còn là vụ lừa gạt quy mô to lớn nhất của thời  hiện đại. Thậm chí con trai của Kofi Annan là Kojo Annan dưới võ bọc của công ty Thụy Sĩ Cotecna đã có những hợp đồng lớn ký với Liên Hợp Quốc lấy dầu hỏa Iraq với giá rẻ như cho và cung cấp nhu yếu phẩm với giá trên trời cho Iraq qua chương trinh ấy (tên của Kojo Annan tái xuất hiện vào tháng 4-2016 khi có sự tiết lộ Hồ Sơ Panama). Sự tham nhũng đi kèm với lạm quyền mua quan bán chức còn thể hiện qua việc sau khi nhận được nửa triệu USD do nhà hoạt động Đức Achi Steiner cống nạp riêng, Kofi Annan đã hân hoan bổ nhiệm Steiner làm Giám Đốc UNEP (Chương Trình Môi Trường Liên Hợp Quốc).

6) Sự tuyệt vọng xơ cứng bất động lan tràn toàn tổ chức Liên Hợp Quốc trong cả hai trường hợp là (a) khi Hội Đồng Bảo An bó tay không thể cản ngăn Hoa Kỳ tự ý xâm lược và chiếm đóng Iraq, và (b) thời kỳ hậu 9-11 tức sau cuộc tấn công khủng bố của al-Qaeda bằng máy bay thương mại vào các vị trí trên đất Mỹ như Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở Bang New York, Ngũ Giác Đài ở Bang Virginia, và Stonycreek Township ở Bang Pennsylvania ngày 11-9-2001.

7) Tư tưởngchống Liên Hợp Quốc trên thế giới: Tại sự tồi tệ của Tổng Thư Ký Kofi Annan mà Âu Mỹ xuất hiện từ ngữ anti-Kofi tức “chống Kofi” rồi từ đó biến tướng thành anti-UN tức “chống Liên Hợp Quốc”.

8) Sự đối đầu căng thẳng tồi tệ nhất giữa Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc đối với hậu quả của chiến tranh Iraq – mà báo chí Âu Mỹ gọi là sự căng thẳng giữa Mỹ và Vịnh Con Rùa (Turtle Bay – tức khu dinh cơ Liên Hợp Quốc). Do Liên Hợp Quốc tất nhiên luôn dưới sự khuynh đảo của Hoa Kỳ, tất cả các vị Tổng Thư Ký của tổ chức này đều mặc định do Mỹ lựa chọn. Khi Mỹ muốn loại bỏ Tổng Thư Ký Boutros Boutros-Ghali người Ai Cập, Chính phủ Bill Clinton đã chọn Kofi Annan người Ghana lên thay thế. Tuy nhiên, càng về sau thì dưới tác động của (a) những hành động trên thế giới của Mỹ chỉ đưa đến các thất bại tai tiếng khiến Annan bất bình do bị vạ lây, và (b) những tham nhũng tiêu cực và bất lực của Annan khiến Mỹ bất bình do bị vạ lây, dẫn đến tình trạng cực kỳ khôi hài khi những kẻ hợp nhau ở hai vị trí “siêu” của siêu tổ chức và siêu cường lại biến thành đối nghịch chuyên phơi bày công khai các chuyện siêu xấu của nhau.

Kofi Annan là thí dụ rõ nét nhất cho tiêu chí cao cấp cao vời sau của (a) sự lựa chọn của Hoa Kỳ cho vị trí đứng đầu Liên Hợp Quốc và (b) sự lựa chọn của Ủy Ban Nobel cho giải Nobel Hòa Bình:

“Không Tà Vạy, Không Làm Lãnh Đạo và Còn Khuya Mới Thành Bắc Đẩu!”

Tên Mọi Barack Obama

Barrack Obama là Tổng Thống Liên Hợp Tiểu Quốc America (USA – United States of America) hai nhiệm kỳ (từ 01-2009 đến 12-2016), và là nhân vật đoạt Giải Nobel Hòa Bình (năm 2009).

 screen-shot-02-13-17-at-11-31-pm-001

Di sản khốn nạn mà tên mất dạy Barack Obama để lại cho Hoa Kỳ bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – 6 sự tầy huầy đầy tai tiếng và quá nổi cộm sau:

1) Các chiến lược địa-chính-quân-kinh hỏng bét

Ngoài các sự thật về thất bại của Mỹ dưới thời Barack Obama đối với Iran, IS, và Syria, những đại biến khi Nga

(a) thu hồi Bán Đảo Crimea chiến lược từ Ukraine sáp nhập trở lại vào Nước Nga, dâng sự ngự trị Hắc Hải cho các hạm đội Nga, nhờ vào việc Ukraine thân Mỹ đã không được Mỹ dưới thời Obama cố vấn thành công;

(b) thu phục Thổ Nhĩ Kỳ qua việc cứu sống Tổng Thống thân Mỹ Recep Tayyib Erdogan khỏi cuộc binh biến đảo chính không thể không do Barack Obama đã cho phép tiến hành hoặc do CIA và tình báo quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn bất lực;

(c) thu tóm danh dự quốc gia về uy lực khí tài quân sự thi thố đánh bại IS, uy danh bảo vệ thành công Tổng Thống Syria Bashar al-Asad, và uy thế quy tụ Nga-Thổ-Iran trong giải quyết tình hình Syria;

Đã đẩy Hoa Kỳ và NATO vào khủng hoảng chiến lược.

Trong khi đó, cái Hiệp Định Xuyên Thái Bình Dương TPP mà Obama dốc chí theo đuổi dựng xây nhiều năm đã bộc lộ nhiều yếu điểm cực kỳ tai hại đến độ ngay sau khi ký kết, các cuộc “biểu tình” chống đối mạnh mẽ đả nổ ra tại New Zrealand là một trong 12 nước đã ký TPP; còn tại Việt Nam thì Quốc Hội đã đình lại việc phê chuẩn với lý do viện dẫn là chờ chính phủ mới của Hoa Kỳ định hình, trong khi có khả năng là do đã nhận thức được chính mình đã hớ khi lỡ đặt bút ký tham gia; và ứng viên Donald Trump chỉ cần tuyên bố hủy bỏ TPP là thu hút ngay sự ủng hộ của cử tri khiến Hillary Clinton cũng phải vội vàng tuyên bố chống lại TPP của Barack Obama.

2) Bất tài trong quản trị nhân sự

Bất kỳ ai thuộc tầm cỡ quản trị bất kể là quản trị doanh nghiệp dưới cả chuẩn nhỏ hay trên cả vĩ đại, quản trị cơ quan địa phương hay đa phương, quản trị đất nước dưới cả tiểu nhược hay trên cả siêu cường, đều luôn không thể thiếu các kỷ năng quản trị trong đó quan trọng nhất là quản trị nhân sự.

Quản trị nhân sự là quan trọng nhất vì ngay cả một nhà độc tài cũng không bao giờ đứng một mình tự mình làm tất cả mọi việc.

Trong lãnh đạo một đất nước, quản trị nhân sự càng tối quan trọng.

Điểm nổi bật duy nhất của quản trị nhân sự là tổ hợp của 4 thành tố luôn kết dính với nhau gồm:

Chọn được người tài + Phát triển được tài người + Phát triển được người tài + Giữ được người tài để kế thừa và phát triển di sản.

Obama là một tên tổng thống vô dụng vì hoàn toàn không có gì chứng minh y đã có năng lực quản trị nhân sự khi bằng chứng rõ nét nhất lại là những hiển nhiên còn nóng hổi mà chỉ cần đơn cử vài thí dụ cỏn con mới chỉ dính đến một cái tên của Hillary Clinton như:

a) Hoàn toàn bị động khi phải chấp nhận để Hillary Clinton ngự trị ngôi vị cao thứ nhì trong chính phủ Hoa Kỳ: Bộ Trưởng Ngoại Giao, trong khi Hillary Clinton ngay trước đó là đôi thủ cạnh tranh trực tiếp trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân Chủ để bầu ra ứng cử viên đại diện Đảng tranh của chức Tỏng Thống Hoa Kỳ, và trong thời gian tranh cử sơ bộ cả hai đã thi nhau mạt sát đối thủ bằng mọi chiêu trò bôi nhọ và bôi bẩn. Bị động vì Đảng Dân Chủ không có bất cứ “người tài” nào cả. Bị động vì bản thân Obama do mặc cảm tự ti không dám mơ đến sự thắng cử nên chưa từng nghĩ đến chọn sẵn danh sách các nhân vật cốt cán nên được đưa vào chính quyền của mình. (Trong khí đó, người ra tay xô sập di sản Barack Obama là Donald Trump lại có tài nhân sự tuyệt đỉnh khi hoàn toàn chủ động đưa Rex Tillerson từ bên ngoài giới tinh hoa chính trị vào làm Ngoại Trưởng cũng như đưa những doanh nhân kiệt xuất tương tự khác như Stephen Bannon, Kellyanne Conway, Dina Powell, và Betsy DeVos, v.v.,vào Tòa Bạch Ốc.)

b) Hoàn toàn không giám quản được Hillary Clinton, biến bản thân thành vị tổng thống bù nhìn đầu tiên trong toàn bộ lịch sử Hoa Kỳ khi để Hillary Clinton khuynh đảo phá tan cục diện địa chính trị Bắc Phi, Đông Nam Âu, và Đông Âu; đồng thời để Hillary Clinton tự tung tự tác đạp chà luật pháp gây ra sự cố email có thể gây hại cho an ninh quốc gia.

c) Hoàn toàn không làm Hillary Clinton tài giỏi hơn và không thể để Hillary Clinton là người kế thừa di sản mà ba bằng chứng rõ nét nhất là Barack Obama lên tiếng ủng hộ và ngợi ca Hillary Clinton để kêu gọi dồn phiếu cho Hillary, Barack Obama không thể giúp Hillary thắng cử, và Barack Obama vội vàng đỗ lỗi cho sự yếu kém của Hillary khi thấy bà ta thất cử.

Đổ lỗi cho đồng sự là hành vi đớn hèn liên quan đến tư cách đốn mạt của kẻ hoàn toàn bất tài về quản trị nhân sự mà thế giới hàn lâm nghiêm túc không bao giờ không khinh bỉ.

3) Bất trí

Barack Obama còn không có khả năng tự nhận thức được về chính mình và về người khác. Khi Hillary Clinton thất cử, Obama vội tuyên bố nếu luật pháp cho phép hắn ta ra tranh cử thêm lần thứ ba thì lẽ ra hắn ta đã chiến thắng. Obama đã không nhận thức được bốn điều liên quan đến chính bản thân hắn rằng

(a) Obama được bầu làm tổng thống không vì ông ta tài giỏi hay có nhiều danh tiếng lẫy lừng trước đó;

(b) Obama được Đảng Dân Chủ đề cử làm ứng cử viên của Đảng tranh cử chức tổng thống vì không còn ngôi sao nào – kể cả Hillary Clinton;

(c) Obama thắng cử vì ngay cả những người dân “Mỹ trắng” luôn kỳ thị thì đối với họ ai cũng được do tất cả đều thuộc “giới tinh hoa chính trị”, tất cả đều được giới tài phiệt ủng hộ và phục vụ quyền lợi giới tài phiệt, chứ không phải bởi vì dân Mỹ quá tiến bộ nên đã chấp nhận có vị tổng thống da đen; và

(d) Obama không hề nhận ra rằng dân Mỹ đã cực kỳ chán ghét Obama và đây là một trong những lý do họ không dồn phiếu cho bất kỳ ai do chính Obama ủng hộ.

Ngoài ra, Barack Obama còn bất trí không thể nhận thức được gì nơi người khác nên đã không hiểu ba điều sau:

a- Hillary Clinton không bao giờ có thể trở thành tổng thống vì quá khứ khét tiếng của chồng, vì không có quá khứ thành đạt từ sự vươn lên mà thuần dựa vào thế lực của chồng, vì bảng thành tích kém cỏi trong thi thố quyền lực, vì những lỗi nghiêm trọng gây ra cho thế giới và cho an ninh quốc gia, và vì phạm phải điều tồi tệ nhục nhã nhất của quản trị nhân sự khi đã thờ ơ trước các tin tình báo dẫn đến sự cố Benghazi khi Đại Sứ Christopher Stevens bị giết, thi thể bị kéo lê trần trụi ngoài đường phố sau khi xác bị phiến quân xâm hại tình dục.

b- Không chỉ Hillary Clinton mà sẽ không bất kỳ phụ nữ Mỹ nào có thể trở thành  tổng thống Hoa Kỳ vì người dân Mỹ (nam giới da trắng) không bao giờ cho phép điều này xảy ra. Đơn giản vì tại Hoa Kỳ, người phụ nữ không bao giờ được tôn trọng đúng nghĩa, mà ba bằng chứng hiển nhiên là (i) Mỹ là quốc gia chậm trễ nhất trong cho phép phụ nữ có quyền bầu cử, (ii) tại Mỹ luôn có các hoạt động rầm rộ ồn ào đông đúc về nữ quyền vốn không bao giờ xảy ra tại bất kỳ quốc gia nào thực sự tôn trọng phụ nữ và phụ nữ thực sự giữ vai trò quan trọng hoặc quyết định tại gia đình, và (iii) luật pháp Mỹ hiện hành không thực sự bảo vệ phụ nữ trong các vụ xâm hại tình dục mà bài viết Du Học Hiếp Dâm & Hiếp Dâm Du Học đã phân tích chi tiết.

c- Chắc chắn mười một tỷ phần một là Donald Trump sẽ đắc cử vì dù người Mỹ kỳ thị chủng tộc, thì vẫn có ba sự thật sau:

(i) người Mỹ “kỳ thị” nhưng vẫn dè chừng người Mỹ da đen vì người Mỹ da đen đông nhất, từ xa xưa đã không là “dân nhập cư”, đã trở thành “dân Mỹ” từ rất lâu khi nô lệ được giải phóng, nhiều người thành công trên mọi lĩnh vực từ văn nghệ đến thể thao, từ tòa án đến chính trị, nên việc Barack Obama làm tổng thống thì dân Mỹ vẫn có thể du di cam chịu;

(ii) vì vậy, người Mỹ không bao giờ xem trọng Obama cùng các tiến cử của Obama, nghĩa là Obama vận động cho Hillary Clinton đương nhiên đồng nghĩa với việc Hillary Clinton đương nhiên hoàn toàn mất hẳn cơ hội làm tổng thống; và

(iii) người Mỹ buộc phải chấp nhận người da đen, nhưng tuyệt đối xem thường các người da màu khác nên không bao giờ chấp nhận các nhân vật “da màu khác đen” lên làm tổng thống, và do đó tất cả các gương mặt ứng viên trẻ tuổi “tinh hoa chính trị” của Đảng Cộng Hòa mà nội cái tên thôi đã toát ra mùi gốc tích dân da nâu của “Mễ” hay “Cu” như Ted Cruz và Marco Rubio nên chỉ giúp cho Donald Trump độc chiếm ngôi bá chủ mà thôi.

Không nhận ra thế yếu của chính mình, không nhận ra thế vô phương cứu chữa của Hillary Clinton, không nhận ra ưu thế trấn áp “tuyệt kỷ đơn ca” của Donald Trump, Barack Obama rõ ràng là vị tổng thống bất trí bậc nhất của Hoa Kỳ.

4) Quốc nhục

Barack Obama là tổng thống duy nhất của toàn bộ lích sử Hoa Kỳ đã làm nhục quốc thể Mỹ khi để bản thân bị làm nhục trước toàn thế giới. Khi sang Trung Quốc dự Hội Nghị Thượng Đỉnh G20 tháng 9-2016, Barack Obama đã phải bước ra khỏi chiếc chuyên cơ hào nhoáng Không Lực 1 bằng “hậu môn” – theo cách gọi để trong ngoặc kép “ass” của tờ Guardian ám chỉ cửa sau tức cửa có cầu thang riêng của máy bay làm lối đi của tùy tùng – chứ không phải qua cửa chính (tức “top”, là cửa gần buồng lái của phi công, nơi xe thang của phi trường sẽ chạy đến áp vào đón khách bước xuống lối đi trải thảm đỏ dành cho khách cấp nguyên thủ quốc gia), lầm lũi bước xuống các bậc thang sắt đen, đi trên nền bê tông xám tiến đến chiếc Dã Thú 1, không có thảm đỏ đón chào, trong khi vệ binh Trung Quốc quát mắng cận vệ Mỹ và đoàn phóng viên Hoa Kỳ rằng “Đây là phi trường của chúng tao! Đây là đất nước của chúng tao!

Kết thúc nhiệm kỳ một cách đớn nhục như thế, bảo sao Barack Obama đã không làm Đảng Dân Chủ ô danh, và khiến Hillary Clinton càng thêm tuyệt vọng.

5) Làm trò khỉ với Việt Nam

Loài khỉ được cho rằng có tính hay bắt chước. Barack Obama không là con hắc tinh tinh hay khỉ đỏ đít duy nhất ở một đất nước mà chính trị trở thành một nghề chuyên nghiệp cực kỳ cao. Chiêu thức Đảng Dân Chủ có trong cẩm nang của họ là: “khi cùng đường, muốn phá bĩnh thì hãy tung nước cờ Việt Nam!”

Theo nguyên tắc bất thành văn của hệ thống “lưỡng đảng” của Mỹ mà các nước Âu Tây nhạo báng là “sinh đôi” thì (a) hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa chống nhau nhưng không bao giờ được phép dùng từ ngữ “đảng đối lập”, (b) hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa chống nhau nhưng không bao giờ được phép chống lại Hiến Pháp và thể chế chính trị Hoa Kỳ, và (c) những gì tổng thống tiền nhiệm của đảng này đã ban ra thì tổng thống kế nhiệm của đảng kia không được thay đổi – trừ phi sự việc đã quá tồi tệ như đối với chiến tranh Việt Nam buộc tổng thống kế nhiệm phải tuyên bố rút quân chấm dứt sự can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam.

Nguyên tắc trên đã đặc biệt được Đảng Dân Chủ sử dụng để phá bỉnh Đảng Cộng Hòa ngay khi thấy khả năng Đảng Dân Chủ sẽ mất ghế tổng thống vào tay Đảng Cộng Hòa, mà hai thí dụ lịch sử sau là minh chứng:

a) Bill Clinton:

Vào giai đoạn kết thúc nhiệm kỳ thứ hai cũng là nhiệm kỳ cuối cùng theo luật pháp Hoa Kỳ, khi nhận thấy những tầy huầy của bản thân khiến nguy cơ làm Đảng Dân Chủ sẽ mất ghế tổng thống vào tay Đảng Cộng Hòa, Bill Clinton thực hiện ngay chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11 năm 2000, tuyên bố vung vít về những đánh giá cao đối với Việt Nam nhằm làm sâu sắc thêm mối quan hệ Mỹ-Việt mà thực chất là đặt vị tân tổng thống Mỹ George W. Bush  của Đảng Cộng Hòa vào thế bị triệt buộc khi nhậm chức hai tháng sau đó.

Gọi là bị “triệt buộc” vì Đảng Cộng Hòa chưa hề có – hay muốn có – Việt Nam trong chương trình nghị sự của họ. Nếu họ thực hiện theo mặc định những “di sản” của tổng thống tiền nhiệm thì đương nhiên gây thêm thanh thế uy tín cho Bill Clinton của Đảng Dân Chủ, còn nếu chống lại hoặc bãi bỏ di sản ấy thì biến Gerorge W. Bush trở thành kẻ đầu tiên dám “tát cạn đầm lầy” trở thành tên phản phúc chống lại giềng mối bất thành văn hàng trăm năm kết liên lưỡng đảng. Chính vì vậy từ khi nhặm chức 2001, Tổng Thống G.W. Bush đã chỉ đơn giản ngó lơ, không xóa bỏ di sản Việt Nam của Bill Clinton nhưng không làm bất cứ điều gì để “sâu sắc” thêm mối quan hệ Mỹ-Việt, thậm chí khi buộc lòng phải sang thăm chính thức Việt Nam nhân dự Hội Nghị APEC tháng 11 năm 2006, Bush vẫn chỉ có những phát biểu khen tặng một cách thuần ngoại giao dành cho Việt Nam chứ không có bất kỳ những động thái cụ thể đối với các cấm vận còn tồn tại.

b) Barack Obama:

Tương tự, vào giai đoạn kết thúc nhiệm kỳ thứ hai cũng là nhiệm kỳ cuối cùng theo luật pháp Hoa Kỳ, khi nhận thấy những tầy huầy của bản thân khiến nguy cơ làm Đảng Dân Chủ sẽ mất ghế tổng thống vào tay Đảng Cộng Hòa, Barack Obama  thực hiện ngay chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 5 năm 2016, và thậm chí tuyên bố gỡ bỏ lịnh cấm vận cuối cùng đối với Việt Nam về vũ khí sát thương. Đây là lá bài cuối cùng trong cẩm nang Đảng Dân Chủ kẹp trong “chiếc cặp nút bấm hạt nhân” mà các tổng thống Đảng Dân Chủ chỉ khi lâm vào cảnh cùng đường, ăn không được thì phá cho ôi, mới mở ra sử dụng để (i) phô trương thanh thế tạo dư luận tràn ngập trên báo chí nhằm làm xao lãng sự tập trung của dân chúng Mỹ đối với sự sụp đổ đang diễn ra của Đảng Dân Chủ, (ii) lấy lòng các đại gia sản xuất vũ khí Mỹ với hy vọng vớt vát sự ủng hộ của họ dành thêm cho ứng viên Đảng Dân Chủ là Hillary Clinton, và (iii) đặt Đảng Cộng Hòa – nếu chiếm được ghế tổng thống – phải ngậm bồ hòn làm ngọt thực hiện tất cả những cam kết của Barack Obama để nếu mọi di sản đều diễn tiến tốt đẹp sẽ trở thành các công trạng của Barack Obama từ đó nhiệm kỳ 2022 sẽ có thêm cơ hội cho Đảng Dân Chủ lấy lại ghế tổng thống.

Những con khỉ đỏ đít Bill Clinton và đười ươi Barack Obama đã cùng sử dụng một chiêu thức đem Việt Nam ra phá bỉnh Đảng Cộng Hòa, nhưng nhờ có sự “hé lộ” – từ ngữ tức cười mà báo chí Việt Nam đang thi nhau dùng như một thứ dịch bệnh lan tràn mặt báo giấy và mạng –  bức cẩm nang ấy của hai con khỉ này, nhân loại có được một kinh nghiệm tuyệt đối chính xác là: mỗi khi thấy tổng thống đương nhiệm của Đảng Dân Chủ vào cuối nhiệm kỳ sang thăm chính thức Việt Nam thì bảo đảm 100% ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa đối thủ sẽ đắc cử làm tổng thống kế nhiệm.

6) Bôi nhọ uy tín Đảng Dân Chủ

Cũng lạm dụng nguyên tắc chính trị mặc định bất thành văn về “không thể đão ngược” nêu trên, Barack Obama đã ra tay trong vài tuần đương chức cuối cùng:

a) Hối hả trục xuất nhiều chục nhà ngoại giao Nga nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải căng thẳng đối đầu ngoại giao với Nga, đất nước mà Donald Trump có sách lược chiến lược hợp tác cùng;

b) Hối hả ký tặng 500 triệu USD cho Quỹ Khí Hậu Xanh của Liên Hợp Quốc nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và không chống lại các hoạt động liên quan đến “sự ấm lên toàn cầu” mà Donald Trump thường cho là giả trá;

c) Hối hả thả thêm 4 tù nhân phiến quân Hồi Giáo ở Nhà Tù Vịnh Guantanamo trở về Saudi Arabia và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất UAE, nâng tổng số lên 19 người kể từ khi có kết quả bầu cử tổng thống 2016, và khiến tổng số 242 tù binh nay chỉ còn lại võn vẹn 41 người, nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và bị ô danh vì đã thất bại với lời tuyên bố trước đó là phải ngưng ngay các vụ phóng thích tù nhân Guatanamo để bảo vệ an ninh cho Hoa Kỳ và thế giới;

d) Hối hả giảm án cho 1.715 tội phạm buôn ma túy trong đó có 568 thụ án chung thân, làm Obama đạt kỹ lục của tất cả 13 đời tổng thống trước đó cộng lại, nhằm biến tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và bị ô danh vì đã thất bại với lời tuyên bố trước đó là mạnh tay trừng trị bọn tội phạm ma túy;

e) Hối hả họp báo lần cuối cùng và qua đó tuyên bố cảnh báo báo giới về chính quyền của tân tổng thống Donald Trump nhằm làm tân tổng thống Donald Trump – theo mặc định – buộc phải tuân thủ và bị ô danh vì đã thất bại với lời tuyên bố trước đó là trừng trị truyền thông giả trá; v.v. và v.v.

Ngoài ra, Barack Obama còn hối hả cách chức tướng da đen lãnh đạo Vệ Binh Quốc Gia Thủ Đô Errol R. Schwartz chỉ vài ngày trước lễ nhậm chức của Donald Trump khiến Vệ Binh Quốc Gia Thủ Đô như rắn mất đầu trước trọng trách bảo vệ an ninh cho Donald Trump trong lễ tuyên thệ nhậm chức.

 

Tất cả những hành động trên của Barack Obama đã khiến Đảng Dân Chủ – chứ không phải Đảng Cộng Hòa – phơi bày sự thật bao đời bị che dấu rằng:

a) Dân chủ Democracy tại Hoa Kỳ chỉ là một từ ngữ vô nghĩa: lưỡng đảng thống trị quyền lực chính trị và tất cả các tổng thống bất kể thuộc đảng nào trong lưỡng đảng cũng phải và chỉ từ giới luật sư tinh hoa chính trị, không cho phép các thành phần khác của xã hội được tham chính, và phải hoạt động trên nền tảng duy nhất của sự kế tục, kế thừa, kế nhiệm, nhằm bảo đảm hoàn toàn thống nhất trong chính sách đối ngoại (Donald Trump bất ngờ thắng bầu cử sơ bộ Đảng Cộng Hòa nên bị ngay cả các “tinh hoa chính trị” của Đảng Cộng Hòa tích cực chống đối để đúng bài bản quy định bất thành văn ấy);

b) Dân chủ Democracy tại Hoa Kỳ chỉ là hình thái theo đó người dân được phép “biểu tình” và được phép hưởng thụ “tự do ngôn luận” muốn nói viết gì thì cứ nói cứ viết, trừ các chủ đề “ngôn luận” bị pháp luật cấm đoán. Dưới sự xách động của Barack Obama, nhiều cuộc “biểu tình” và “đại biểu tình” chống Donald Trump xảy ra khắp nước Mỹ, trong đó có cuộc “biểu tình” nữ quyền ngày 21-01-2017 mà tại đó mụ Madonna bất tài vô hạnh lúc động kinh đã gào lên trong micro “Tổ cha mày! Đ.Mẹ mày! Tao giận lắm đây! Tao đang nổi khùng đây! Tao đã và đang nghĩ nhiều đến việc cho nổ sập Tòa Bạch Ốc đây” (“Fuck you. Fuck you. Yes, I’m angry. Yes, I’m outraged. Yes, I have thought an awful lot about blowing up the White House”), sau đó đã thất kinh hồn vía phân bua cải chính khi cơ quan an ninh FBI vào cuộc điều tra cá nhân Madonna mà nếu truy ra được các yếu tố thực sự dọa đe nguyên thủ vì cách dùng động từ ở thì present perfect (have thought) cho thấy hành động có toan tính lâu dài, chín chắn, chứ không bốc đồng có thể cấu thành tội phạm sẽ bị truy tố và chịu án tù giam, vì bốn câu đầu tiên đều được “tự do ngôn luận” trong khi câu cuối cùng thì cấm “ngôn luận tự do”. Sự cố này cho thấy “dân chủ” chỉ là vũ khí chơi bẩn của các luật sư độc quyền tinh hoa chính trị Mỹ tung ra để phá bỉnh “kẻ thứ dân” Donald Trump dám cả gan đắc cử tổng thống Hoa Kỳ;

c) Đảng Dân Chủ đã bị tầng lớp “dân đen” “học chưa cao” trong xã hội lật đổ qua việc dồn phiếu cho Donald Trump vì bất mãn trước sự thất bại trong trị quốc của Đảng Dân Chủ và tư cách của Tổng Thống thuộc Đảng Dân Chủ; và

d) Sự cấp tập gây ra sự cố ngoại giao và các sự việc khác nhằm tận dụng quy định bất thành văn trong “thống nhất” giữa lưỡng đảng nhằm gây khó khăn cho Donald Trump đã lột trần sự có thật của cái bản chất “đảng sinh đôi” mà Âu Tây hay nhạo báng nhưng nay mới có bằng chứng cụ thể; và

e) Sự cấp tập gây ra sự cố ngoại giao và các sự việc khác nhằm tận dụng quy định bất thành văn trong “thống nhất” giữa lưỡng đảng nhằm gây khó khăn cho Donald Trump đã giúp nhà cách mạng Donald Trump có cơ hội xô sập, mà trước tiên là đòn thử xóa bỏ cái gọi là ObamaCare của tổng thống tiền nhiệm, hủy bỏ Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, v.v., khiến Đảng Dân Chủ phải chịu trách nhiệm trước lịch sủ chính trị Hoa Kỳ vì sau này do đã sẵn có tiền lệ nên các tổng thống trong tương lai sẽ có quyền hủy phá các di sản của người tiền nhiệm để không bị mang tiếng thua kém Donald Trump hoặc mang tiếng dân chủ giả tạo giả danh giả trá lừa mị nhân dân.

Barack Obama là thí dụ rõ nét nhất cho tiêu chí cao cấp cao vời vợi sau của (a) sự lựa chọn của Lưỡng Đảng Dân Chủ/Cộng Hòa Hoa Kỳ cho vị trí ứng cử viên Tổng Thống và (b) sự lựa chọn của Ủy Ban Nobel cho giải Nobel Hòa Bình:

“Không Tà Vạy, Không Làm Lãnh Đạo và Còn Khuya Mới Thành Bắc Đẩu!”

Sic transit gloria mundi!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo thêm:

Tôi và Saddam Hussein

Hoàng Hữu Phước Nói Về Tầm Quan Trọng Của Tổng Thống Iraq Saddam Hussein, Tổng Thống Lybia Moammar Gadhafi, và Tổng Thống Syria Bashar al-Assad

Ngày Tàn Của Liên Hợp Quốc – Sic transit gloria mundi

Du Học Hiếp Dâm và Hiếp Dâm Du Học

Sagarmatha

Bài Thơ Tản Văn Gieo Vận Sonnet (Sonnet-Rhymed Prose Poem) tặng Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-02-2017

screen-shot-02-21-17-at-01-59-pm

Văn nhân thi sĩ Việt hay gọi thơ là Nàng Thơ cứ như thể có một mặc định bất dịch di nào đó rằng thơ ca mang bản chất giới tính nữ thuần, khiến thơ ca cứ bị lạc lầm như mang thiên hướng cố định về hoa về lá về cảnh đẹp mông lung về cảm tình nàn nồng mướt sướt gió gió mây mây lãng đãng bốn mùa, bất kể thơ ca còn có bao thiên anh hùng ca hoặc những vần thơ dũng mãnh gươm khua lẻng kẻng hòa quyện tiếng lạc vó câu chiến mã vút vun vụt vùn.

Văn nhân thi sĩ Việt cũng hay dùng ngọn núi như biểu tượng chứa chất một mặc định bất dịch di nào đó rằng núi non mang bản chất giới tính thuần nam, khiến thơ ca cứ bị lạc lầm như mang thiên hướng cố định về ý chí hào hùng trang nam tử “phải có danh gì với núi sông”.

Tất nhiên, thi nhân Việt Nam có khi tự suy tự diễn rằng núi non có ngọn như Phú Sĩ Sơn Fuji đẹp như thơ, rồi thi vị hóa nó, tự phán rằng ngọn núi tuyệt mỹ ấy là nguồn thi hứng cho thi sĩ văn nhân sáng tác nên những vần thơ hoa lá cành cảnh đẹp mông lung nàn nồng mướt sướt gió gió mây mây lãng đãng bốn mùa, mà không biết rằng đa số nhân loại vẫn không cho Phú Sĩ Sơn ở Nhật đẹp sánh bằng các ngọn Kilimanjaro, Assiniboine, Castle, Matterhorn, Bora Bora, Dhaulagiri, Alpamayo, Eiger, hay Machabuchare, v.v., đơn giản vì chỉ những ngọn núi này mới mang vẽ đẹp cực kỳ uy nghi, cực kỳ uy dũng, cực kỳ uy nghiêm ung dung tự tại sững sừng giữa một không gian chung quanh cũng đẹp uy nghi uy dũng sững sừng tương tự, hình thành từ kiến tạo địa tầng thuần túy, không ẩn tàng trong nó hiểm họa cho nhân sinh – trong khi đó, Phú Sĩ Sơn là ngọn hỏa sơn đang ngủ yên nghĩa là đã từng tàn phá và ắt sẽ có ngày phá tàn tất cả sau ngàn năm yên ngủ.

Nếu nói về của cải thiên nhiên Việt Nam thì những hình ảnh trên internet về dãy Hoàng Liên Sơn cho thấy đó thực sự là một dãy núi thực sự tuyệt đẹp với những đỉnh non cao thực sự đẹp tuyệt. Tuy nhiên, về vẽ đẹp nên thơ của Hoàng Liên Sơn thì chưa từng có một kiệt tác hay những kiệt tác nào của bất kỳ một thi bá hay những thi bá nào ngay của Việt Nam xưng tụng ngợi ca trong toàn bộ nền văn học sử Việt Nam hay thế giới. Đồng thời, cũng tuy nhiên, cái vẽ đẹp uy nghi hùng dũng sững sừng của Hoàng Liên Sơn thì cũng chưa từng được bất kỳ nhà leo núi lừng danh hay tổ chức thám hiểm non cao uy tín nào trên toàn thế giới xưng tụng ngợi ca trong toàn bộ các chương trình thám hiểm chinh phục hùng sơn của họ. Đó là lý do rặng Hoàng Liên Sơn hay ngọn Fansipan khi chưa được người Việt biết đến – trừ cái tên – thì khó thể được sử dụng làm hình tượng cho một von ví bất kỳ bằng công cụ thơ ca.

Đó là những sự thật.

Một sự thật khác là: nhân thế chưa từng có ai lấy cái đẹp của một ngọn núi uy nghi uy dũng sững sừng để xưng tụng nét đẹp của một nữ nhân, mặc cho hai sự thật là (a) tuyệt đại đa số các ngọn mỹ sơn đẹp nhất trên thế giới đều sừng sững uy nghi tượng trưng cho sự kiên trì kiên trung vững vàng vững dạ vững bền trước bao thử thách của thiên nhiên và con người, và (b) sự kiên trì kiên trung vững vàng vững dạ vững bền trước bao thử thách của cuộc sống là đức tính đáng ngợi ca không bao giờ được mặc định chỉ tồn tại nơi nam giới.

Bài thơ bằng tiềng Anh dưới đây, do đó, đã như một phá cách của tác giả bài viết này khi sáng tác để ngợi ca sự trung hậu, lòng trung tín, chí trung thành vững bền theo năm tháng mà Cô Lại Thu Trúc đã luôn dành cho tác giả, cũng như xưng tụng nét đẹp cao trọng cao vời cao thượng của Cô, theo thủ pháp quyện hòa đầu tiên về ý nghĩa của những mỹ sơn khi ngọn hùng sơn đồng thời là đỉnh thi sơn.

Ngọn hùng sơn Sagarmatha có thể là tột đỉnh của nóc nhà thế giới. Nhưng ngọn hùng sơn ấy vẫn dễ dàng nằm gọn một cách đầy kiêu hãnh trong chu vi nhỏ bé một con tem bưu chính của một quốc gia không phải siêu cường.

Đỉnh thi sơn có thể là ngự điểm của các bậc thi bá thơ vương. Nhưng đỉnh thi sơn ấy vẫn có thể nằm gọn một cách đầy tráng lệ trong bài sonnet nhỏ gọn chỉ có 14 dòng của một blogger không phải lừng danh để tả miêu sự cao vời vợi nơi một cô gái bé nhỏ không phải siêu mẫu.

Những xưng tụng kỳ vĩ về đỉnh về ngọn thường là về những lớn lao luôn có nơi những con người rất lớn lao. Nhưng những xưng tụng kỳ vĩ về đỉnh về ngọn ấy cũng có thể là về những điều quý trọng thuần đạo đức giản đơn cùng ý chí nơi một người con gái bé nhỏ không thuộc danh sách những người khổng lồ.

Bài thơ tản văn gieo vận kiểu sonnet dưới đây, do đó, là món quà Tết 2017 thay cho hai ngàn không trăm mười bảy lời khen tặng cảm ơn mà tác giả đã gởi đến Cô Lại Thu Trúc ngày Mùng Một Tết Đinh Dậu này, đem ngọn Sagarmatha để ví về Cô, để từ nay cho đến Ngày Tận Thế thì cái tên gọi Sagarmatha sẽ luôn và chỉ thuộc về Cô.

Kính đăng lại như sau để tất cả những người bạn tốt khác trên không gian mạng cùng thưởng lãm.

sagarmatha-post-3sagarmatha-postsagarmatha-post-1screen-shot-02-23-17-at-01-54-pm

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Thơ:

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ December 12, 2014

Thông Giáng Sinh và Formal English January 2, 2015

15 năm ngoảnh nhìn August 16, 2016

Khúc Tự Tình Thời Thơ Ấu – A Ballade of Childhood September 13, 2016

The Wondrous Mirror – Khai Thần Bút  February 19, 2017

Lại Thu Trúc:

Lại Thu Trúc December 22, 2015

Hai Gã Đạo Văn

Tôi Đạo Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-01-2017

Ngay khi Donald Trump kết thúc bài diễn văn quá tuyệt diệu, đầy hùng biện, thật mạnh mẽ, quá thuyết phục, cực quả quyết, và đỉnh cuốn lôi, thì bọn “tinh hoa” chống Trump đã ngay lập tức đăng bài nhạo báng Trump, chứng minh câu Trump nói trao quyền lực chính phủ vào tay nhân dân là đạo văn từ câu nói của nhân vật phản diện Bane trong phim Batman. Thấy nhiều kẻ thuộc giới tinh hoa – tức chính khách và nhà báo Hoa Kỳ – cực kỳ ngu dốt, tôi đã ngay lập tức đang ý kiến sau bằng tiếng Anh lên Twitter:

screen-shot-01-21-17-at-06-48-amscreen-shot-01-21-17-at-07-11-am

Nhằm cung cấp thêm cho các độc giả trẻ Việt Nam những vấn đề liên quan đến “đạo văn” (tức không những sử dụng những tình tiết trong một tác phẩm hàn lâm của người khác mà lại còn bảo đó do chính mình sáng tạo và thu lợi nhuận hoặc lợi lộc từ sụ sử dụng trái phép đó) đồng thời rút kinh nghiệm trước sự ngu xuẩn của bọn Mỹ chống Trump thì các công dân trẻ Việt Nam chuẩn bị bản lĩnh để xuất chiêu hùng biện bảo vệ quốc thể (nếu như sự ngu xuẩn ấy lây nhiễm đến bọn Mỹ chống Việt có khi sẽ xúc xiểm rằng lãnh đạo Việt Nam khi luôn sử dụng nhóm từ “chính phủ của dân, do dân, và vì dân” đã đạo văn của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln vốn là người đầu tiên sử dụng trong bài diễn văn đọc tại Gettysburg chiều Thứ Năm ngày 19 tháng 11 năm 1863), tôi xin đăng lại bài viết dưới đây đã được đăng lần đầu trên mạng Emotino ngày 02-6-2010.

Đạo Văn – Plagiarism

Tôi Đạo Văn

A) Đạo Văn

Bất kỳ ai có đi học đến bậc trên đại học đều biết thế nào là “đạo văn” tức plagiarism, thứ mà tất cả các giáo sư đại học đều phải giải thích rõ từ ngày đầu học phân môn mình giảng dạy cho sinh viên hiểu ngay về ý nghĩa của “đạo văn”, làm gì để tránh phạm lỗi “đạo văn”, và các biện pháp nghiêm khắc nhất nào sẽ được áp dụng để xử lý các trường hợp “đạo văn” bị phát hiện.

Bất kỳ ai biết chữ có đọc được báo chí, có nghe được các thông tin trên đài đều hiểu thế nào là “đạo văn”, ý nghĩa vô đạo đức trong hành vi “đạo văn”, và ý thức sự khinh miệt của công luận đối với những kẻ “đạo văn”.

Thế mà đạo văn lại là một sự việc nghiêm trọng không thể tưởng tượng được khi không phải có những sinh viên hay nhạc sĩ (đạo nhạc) chiếm hữu tác phẩm của người khác làm “con đẻ” của mình, mà lại là những giảng sư đại học, đến nỗi tuần trước có bài báo nêu việc có vị giáo sư nước ngoài khuyên là Việt Nam đừng “buộc” giáo sư Việt Nam viết sách khi họ không tài nào viết được, và nếu không miễn cho họ thì chính là bó buộc họ phải đạo văn. Khoan nói đến tính nghiêm túc của một “lời khuyên” loại đá cá lăn dưa đầu đường xó chợ với bao nỗi hoài nghi về chất lượng dịch thuật cũng như ý đồ của người Việt Nam nào viết bài báo ấy, dưới đây tôi xin trao đổi kinh nghiệm cá nhân về “đạo văn”.

B) Tôi Đạo Văn

Lần đầu trong đời tôi bị “mang tiếng” đạo văn là lúc tôi là sinh viên năm thứ nhất Ban Anh Văn, Đại Học Văn Khoa. Thủa ấy, môn Reading Comprehension (môn Đọc-Hiểu) thường theo công thức hàn lâm gồm một đoạn văn / một bài thơ / một đoạn kịch (bằng tiếng Anh) chỉ của các tác giả danh tiếng trong quá khứ (tuyệt đối không bao giờ dùng các bài báo hay các tác phẩm của các tác giả hiện đại để đưa vào giảng dạy), và các câu hỏi để sinh viên trả lời – thường gồm

(a) giải thích vài từ ngữ hay thành ngữ khó và dùng mỗi từ ngữ hay thành ngữ ấy trong một câu thí dụ,

(b) phân tích nội dung của đoạn văn/dòng thơ/đoạn kịch thoại,

(c) phân tích tâm tư của nhân vật trong đoạn văn/dòng thơ/đoạn thoại, và

(d) văn học sử: thời kỳ văn học của tác phẩm – tất nhiên tất cả phải viết bằng tiếng Anh.

Tôi có sở thích sáng tác thơ tiếng Anh và viết văn tiếng Anh từ nhỏ, và tôi biết chẳng ai giống mình.

Khi làm bài Reading Comprehension đầu tiên trong lớp Cô Trương Tuyết Anh (Tiến sĩ Văn Học Anh Đại học Sorbonne, Giảng sư Anh Văn Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và Đại Học Văn Khoa Tp Hồ Chí Minh, vượt biên sang Mỹ năm 1978), cứ mỗi từ ngữ/thành ngữ tôi giải thích ý nghĩa xong là tôi…“sáng tác” một bài sonnet (bài thơ mười bốn dòng) để minh họa, hoặc chí ít một stanza (khổ thơ bốn dòng) nếu từ  ngữ/thành ngữ có ý nghĩa…chán ngắt.

Qua tuần sau, khi trả lại bài cho sinh viên, Cô (nói tiếng Việt giọng Miền Bắc, nói tiếng Anh líu lo giọng Pháp) đến trước tôi, ném bài tôi xuống, nhìn tôi đầy giận dữ, ánh mắt đầy khinh miệt, môi run run không nói nên lời, rồi bỏ đi. Tôi nhìn thấy giòng chữ mực đỏ “PLAGIARISM!” của Cô mà không thấy Cô cho điểm vì Cô đã không thèm chấm điểm bài của tôi, một thằng sinh viên mặt mũi sáng sủa nhưng đốn mạt vì ăn cắp văn tức đạo văn. Và tôi … sướng run cả người, vui mừng tột độ, vì mình đã viết tiếng Anh như người Anh! Sau vài lần ra bài tập làm tại lớp, Cô lại thấy tôi tiếp tục … đạo văn, rồi Cô thay đổi thái độ, vui vẻ, cho tôi điểm cao, và nói với tôi rằng tại bị vì bởi từ khi Cô đi học cho đến lúc thành tài Cô chưa thấy người Việt và người Pháp kể cả người Anh nào viết tiếng Anh được như tôi cả. (Cô cũng là người dạy tôi hiểu giá trị của “phản biện” khi đã tự ý cho tôi đủ điểm đậu thay vì là…điểm 3. Sự thể là khi làm bài thi học kỳ, bình giảng một bài sonnet trong tuyển tập 100 bài sonnet của Shakespeare, có bốn câu hỏi, với câu chót 3 điểm, tôi chỉ tập trung viết cho câu chót trong ba giờ, dài mấy chục tờ giấy thi, mỗi tờ bốn trang,  khiến sau đó văn phòng không thể rọc phách vì có rọc cũng biết đó là bài của ai. Tôi phân tích thật chi tiết bài sonnet ấy của Shakespeare, cho ra các đề nghị sửa lại cho hình tượng thơ ca sâu sắc hơn, hình ảnh đẹp hơn, rồi viết hẳn một bài sonnet khác có ngôn từ và nội dung khác, chỉ tuân thủ nghiêm nhặt sự lập lại đúng y các vần và vận của từng khổ thơ, và sau đó “luận” về sự hoài nghi của tôi đối với đánh giá của các nhà phê bình văn học thế giới khi ca ngợi tuyển tập 100 bài sonnet ấy như thể hiện tình bằng hữu sâu đậm của nhà thơ đối với một vị huân tước của hoàng gia. Cô nói ở Sorbonne chưa thấy ai trình luận án tiến sĩ về Shakespeare như vậy cả, chưa có tạp chí nào phê bình Shakespeare giống tôi, nhưng tôi lập luận có l‎ý và Cô hoàn toàn bị thuyết phục là…bài sonnet ấy của Shakespeare sẽ hay hơn nếu chỉnh sửa lại như tôi và sự việc hoài nghi của tôi có tầm cỡ một vấn nạn mới phát hiện về Shakespeare nên Cô ra tay cứu vớt đứa học trò dám “chê” các câu hỏi khác, chỉ làm một câu 3 điểm nhưng được cho 4,5 điểm để được…đậu vớt!).

Ngoài ra, còn có Thầy Lê Văn Diệm (Tiến Sĩ Văn Chương Anh-Mỹ, Giảng sư Đại Học Huế và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học văn Khoa Tp Hồ Chí Minh, giáo sư thỉnh giảng biên soạn sách giáo khoa Văn Chương Mỹ tại Đại Học Boston, Hoa Kỳ) đã “lẳng lặng” xem tôi là một sinh viên đạo văn khi giận dữ đến lục tung cặp sách của tôi ngay tại lớp sau khi chấm bài luận văn của tôi, để xem tôi có giấu bài viết chép sẵn từ sách nước ngoài hay không, vì người Việt không thể viết luận văn Anh được như thế. Về sau, Thầy “lẳng lặng” cho tôi toàn điểm cao nhất, biến tôi thành Vua Luận Văn, “lẳng lặng” dấu diếm đưa tôi bao bột mì và bao bo bo tiêu chuẩn của Thầy để phụ tôi nuôi gia đình, và cho đến ngày cuối của cuộc đời Thầy vẫn còn dành cho đứa học trò “đạo văn” sự tự hào của người Thầy, luôn gọi tôi là “Director Phước”.

C) Tôi Lại Đạo Văn

Người thứ nhì ban tặng cho tôi từ Plagiarism là một Giáo Sư người Úc. Thủa ấy, khi đang học lấy bằng Thạc Sĩ ngành Kinh Doanh Quốc Tế, tôi đã quá nhuyễn về viết assignment, reports, hay survey – tất nhiên, phần reference tức phần danh mục tài liệu tham khảo luôn được tôi chăm chút cực kỳ cẩn thận, vì đó ngoài ý nghĩa đáp ứng đúng yêu cầu hàn lâm của viết lách tiểu luận hay công trình nghiên cứu, còn là biểu hiện đạo đức của đẳng cấp hàn lâm. Thế mà, một bài assignment nọ của tôi bị ghi “Plagiarism”, nhưng may mà có kèm theo vài giòng viết tay giải thích: “Bạn có ghi tên tác giả trong ngoặc đơn sau đoạn trích dẫn trong bài viết của bạn, nhưng Bạn lại quên không lập lại tên tác giả này trong phần reference cuối tiểu luận. Mà như thế cũng là phạm lỗi đạo văn. Vì lỗi này nhỏ nên tôi hạ kết quả xuống một bậc. Nếu trong bài đã không có ghi tên tác giả thì bài của bạn lẽ ra bị loại, và bạn bị đưa ra hội đồng kỷ luật. ” Chỉ cần sơ xuất gõ máy vi tính copy từ bản nháp và paste vô bản chính thiếu tên chỉ một tác giả trong phần danh mục thì dù có đã ghi rõ nhiều lần trong bài viết tên người ấy mỗi khi có trích dẫn, thì mình vẫn mang tiếng đạo văn, chứ nào phải ăn cắp cả quyển sách hay tác phẩm của người khác mới là đạo văn! Kính cảm ơn Giáo Sư, nhờ người mà tôi đã hiểu thêm tính khắt khe cần có của tư cách kẻ sĩ.

D) Lời Khuyên Hay Sự Nhạo Báng

Trở lại “lời khuyên” của người được cho là “một vị giáo sư nước ngoài”, rằng Việt Nam không nên buộc các giáo sư phải có công trình nghiên cứu hay phải viết sách vì giáo sư Việt nam không có khả năng ấy, buộc họ chỉ khiến họ phải đạo văn tức ăn cắp tác phẩm của người khác mà thôi. Rõ ràng chỉ có hai hoàn cảnh để có sự xuất hiện “lời khuyên” như vậy:

(a) người viết báo là kẻ láo khoét – tương tự trước đây có người viết rằng đã “phỏng vấn” một đạo diễn hàn Quốc và vị này cho biết các phim Hàn đang chiếu ở Việt Nam là phim rẻ tiền, người Hàn không thèm xem, mà ai cũng biết không bao giờ có một anh Hàn nào lại ngu dại nói như thế cả, hoặc

(b) vị giáo sư “có thật” kia là kẻ láo xược, vì rằng trên toàn thế giới không đâu có hạng giáo sư giảng dạy đại học mà không có công trình nghiên cứu có giá trị hàn lâm đăng trên các tạp chí chuyên đề tức journal hoặc có các tài liệu biên soạn được in thành sách cả.

Không thể soạn sách, không thể nghiên cứu, nghĩa là không liên tục đào sâu nghiên cứu, thì sao đủ trình độ làm giáo sư giảng dạy đại học? Còn “đạo văn” thì sao đủ tư cách làm giáo sư giảng dạy đại học? Lẽ nào để giáo sư Việt Nam có “tư cách”, Việt Nam chấp nhận để họ là những người non yếu trình độ hay sao? Và bao giờ nền giáo dục Việt nam mới có thể rời bỏ vị trí bấy lâu đứng mãi trên bậc thềm ngoài sương gió để tiến vào bên trong đại sảnh học thuật của thế giới hàn lâm?

Lời khuyên hay sự nhạo báng?

Chắc chắn không phải là một lời khuyên vì không có vị giáo sư thực thụ hay tiến sĩ thực thụ nào lại cho ra một lời khuyên như vậy cả.

Vào một ngày âm u nào đó, một khi Việt Nam vẫn vô tư hào phóng và rộng lượng cho phép bất kỳ một tên đá cá lăn dưa nước ngoài thuộc hạng cùng đinh ba que xỏ lá được tự do góp ý, thì ắt sẽ có kẻ sẽ dám đề nghị rằng để đối phó với vấn nạn nhiều tiến sĩ hay thạc sĩ Việt Nam xài bằng cấp giả, Nhà nước Việt Nam nên miễn cho các giáo sư dạy đại học khỏi phải có bằng tiến sĩ làm gì, tiến đến bỏ cả yêu cầu phải có bằng thạc sĩ hay cử nhân – hoặc thậm chí tú tài cũng vứt tất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô  11-2011

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh  11-2011

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm  11-2011

Tha Thứ : Chiếc Mặt Nạ Thời Thượng Giảo Gian

Vạn Thoáng Mê Lầm

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-01-2016

me-lam-2

Thời nay thiên hạ hay nghe nói về “tha thứ”. Sở dĩ “nghe nói” vì thiên hạ nào có cổ súy cho “tha thứ”, mà chính vì hai ba cái ý kiến lẻ tẻ của những kẻ không có dung mạo từ bi và cũng chẳng có cuộc sống đạo hạnh bám víu vào hai chữ “tha thứ” như chủ đề duy nhất có thể nói mà không sợ bị bút chiến luận để làm mặt nạ đẹp xinh cho mình; và hai ba cái ý kiến lẻ tẻ ấy được cơ quan truyền thông chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam lợi dụng quyền lực báo chí để tải đăng nhằm “nhét chữ vào mắt” độc giả để làm độc giả cứng người băng giá sau khi đã thử nghiệm thành công chiêu thức “nhét chữ vào mồm” Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước vụ “dân trí thấp” để làm độc giả tuôn trào phún thạch.

Bài viết này, do đó, nhằm khơi gợi một sự thật mà nhiều ngàn năm qua chưa hề có ai nói đến về nội hàm “tha thứ” vì chưa ai hiểu, vì chưa ai từng cố gắng nghĩ sâu  hơn, vì ai cũng tin tưởng tuyệt đối vào những phát ngôn của giới tu hành cứ như thể các phát ngôn ấy tương đương lời Chúa/Phật, hoặc ai đó trong giới tu hành cho rằng đừng nên dại dột tiết lộ để bản thân tiếp tục hành nghề cho một cuộc sinh nhai sinh kế sinh tồn và sau khi đầy túi thì dục xúi và động xách nhằm dọa đe phủ chính.

A- Những Ai Sính Nói Về “Tha Thứ”:

Có nhiều hạng người thường được thấy là hay mở miệng nói về “tha thứ”.

1) Tu Sĩ:

Các tu sĩ thì có bốn yếu điểm nỗi bật gồm:

a- Sự khách quan hoàn toàn bị triệt tiêu do cái gọi là đức tin tôn giáo nên các phát biểu về “tha thứ” – nếu có – chỉ có giá trị tham khảo bên trong chốn tu hành và với các tín đồ chứ không bao giờ có giá trị tuân thủ với toàn thể chúng sinh hay nhân gian khắp chốn.

b- Trình độ học vấn không luôn cao out-of-the-box (đứng trong hộp vươn cao hơn bờ thành của hộp để nhìn ra khắp chốn ta bà từ quanh ta đến cao vời trụ vũ) mà chỉ cao stuck-in-the-box (ngồi thu lu trong hộp đậy nắp xem chỏm đầu ai cao đụng nắp hộp hơn), nghĩa là có nhiều tu sĩ là tiến sĩ thần học nhưng chẳng mấy ai nghe nói đến tu sĩ tiến sĩ y khoa, tu sĩ tiến sĩ vật lý thiên văn, tu sĩ tiến sĩ môi trường, tu sĩ tiến sĩ địa chất, tu sĩ tiến sĩ cổ sinh vật học, v.v., dù tất cả đều được mặc định là do Chúa/Thượng Đế tạo nên, từ con người, Địa Cầu, tinh tú, môi trường sống, cho đến Khủng Long Bạo Chúa Tyrannosaurus và Cá Sấu Khủng Khiếp Deinosuchus, nghĩa là mọi thứ của Chúa/Thượng Đế tạo nên lẽ nào không đáng để các tu sĩ quan tâm nghiên cứu, hoặc lẽ nào các tu sĩ cho rằng nghiên cứu sẽ đồng nghĩa với “không có đức tin vào Chúa” chẳng khác gì con cái đem Bố Mẹ ra thử DNA để xác định cha-con như trong phim xã hội trường thiên Hàn Quốc?

c- Cũng vì vấn đề b ở trên, việc rao giảng kinh thánh/kinh kệ của các tu sĩ có những lúc trái với lời dạy của kinh thánh/kinh kệ.

Làm trái lời thì có thể qua những vụ về các sư hổ mang (mà báo chí Việt Nam Cộng Hòa thường đưa tin) chuyên làm tín nữ mang bầu hoặc phá trinh con gái cùng em gái các thiện nam, hoặc các sư khác cũng do báo chí Việt Nam Cộng Hòa thường đưa tin chuyên dụ dỗ các tín nữ lớn tuổi đem toàn bộ gia sản vào chùa “cúng dường Tam Bảo” vì “đời là bể khổ, Phật lại luôn thử thách khiến con cái sẽ gấu ó tranh giành gia tài gây ra thảm cảnh bất hạnh, vì vậy tốt nhất hãy vì con cháu mà triệt tiêu hết các tham sân si ấy để Phật ban phước cho mình, ban phước cho con cháu hòa thuận, vì mình tạo phước cho bá tành bằng cách vô chùa ở luôn trong chùa để cùng chùa đem tài sản ấy làm công quả công đức bố thí cho bá tánh và sửa sang nơi thờ chư Phật”.

Còn ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì nghe đâu có vài ba vị linh mục lờ đi các lời dạy của Chúa về hãy yêu kẻ thù của mình, như “Nếu ai tát con bên gò má này thì hãy chìa luôn gò má bên kia cho kẻ ấy; và nếu ai lấy áo khoác của con thì hãy đưa luôn áo xống” (Luke 6:29 và  Matthew 5:39) và “Hãy trả lại cho Caesar những gì của Caesar và trả về Thượng Đế những gì của Thượng Đế” (Mark 12:17) qua việc xách động giáo dân tham gia chống chính sách của chính phủ – nói ngắn gọn và an toàn hơn cụm từ chống chính phủ – và đòi chủ quyền đất đai mà họ cho rằng xưa kia thuộc về giáo hội của họ do thực dân Pháp giao cho họ. Có thể họ thực tâm không thể thương Cộng Sản vì không xem Cộng Sản là kẻ thù (Chúa dạy hãy yêu kẻ thù) nên không thể chìa ra gò má bên còn lại dù họ cáo buộc Cộng Sản tát họ tức đàn áp tôn giáo của họ, và có thể họ tin rằng đất đai ấy là của Thượng Đế nên Cộng Sản phải trả lại cho họ là những người được Thượng Đế sang tên chủ quyền Sổ Đỏ chăng?

d- Cũng vì vấn đề b ở trên, việc suy diễn sai kinh thánh/kinh kệ của các tu sĩ có những lúc làm các tu sĩ phạm tội trần gian kiểu chạy xe hai bánh phóng lên lề đường để tránh kẹt xe mà vẫn đến nơi đến chốn đạt yêu cầu kinh thánh/kinh kệ.

Phóng lên lề thì có thể kể đến các tu sĩ của Chúa (tức các linh mục Cơ Đốc và mục sư Tin Lành) mà báo chí Âu Mỹ – báo chí Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không bao giờ dám khai thác lập lại các tin này từ báo chí Âu Mỹ – thường đưa tin như có các hành vi dâm ô đối với các bé trai đang học tu tại chủng viện hoặc con trai của các tín đồ. Tại sao lại là ấu dâm nam? Đây là câu hỏi chưa từng được ai giải đáp. Theo Lăng Tần Tiên Sinh, đó là vì Thánh Kinh Cựu Ước bắt đầu bằng sự tầm thường hóa phụ nữ (Chúa Trời không phí thời gian thiết kế design nặn ra phụ nữ mà đơn giản rút một thanh xương sườn của quý ông Adam rồi hóa thành mụ đàn bà Eva lệ thuộc và là vật sở hữu giải trí của quý ông Adam, nghĩa là phụ nữ không có thân phận chính danh quý báu), và tội phạm hóa phụ nữ (tại mụ đàn bà Eva ăn trái cấm khiến nhân loại biết mặc quần và có trí tuệ nên khiến nhân loại bị trừng phạt, chứ không phải tại quý ông Adam ngu đần mê say tình dục nên vợ bảo gì cũng nghe ráo, nghĩa là phụ nữ là tội phạm và do đó là kẻ thù của nhân loại khiến nhân loại không những phải sinh-lão-bịnh-tử mà còn phải làm xác sống zombie để chịu phán xét Ngày Tận Thế), còn Thánh Kinh Tân Ước kết thúc bằng sự tàn tệ hóa phụ nữ (Chương Khải Huyền gọi kẻ tồi tệ dâm đãng gây ra Ngày Tận Thế là Con Đĩ Babylone cũng như xuyên suốt Kinh Thánh Tân Ước các lăng mạ cho sự dâm ô phản trắc đều đổ lên phụ nữ  nghĩa là hễ sai quấy tàn tệ đều đổ lên đầu phụ nữ, biến phụ nữ thành hình tượng của sự bẩn nhơ).

Các lý giải vì sao các tu sĩ của Chúa chọn ấu dâm nam khi không thể dùng lời tối thượng của Chúa để đè nén sự thèm khát tối cần của tình dục gồm (i) phụ nữ tội lỗi dơ dáy nên quan hệ tình dục với họ sẽ mang tội với Chúa; (ii) Kinh Thánh chỉ ghi tội thông dâm toàn là liên quan tới phụ nữ; (iii) nam giới là chất liệu thượng đẳng  của Thượng Đế; (iv) nam thiếu niên là tinh túy nhất của nam giới và đặc biệt là nam thiếu niên không bị thụ thai nên dễ dấu diếm phụ huynh, dễ kéo dài lập lại sự xâm hại tình dục mà không bị lộ, dễ dùng sự dọa đe khống chế, và chỉ có bé gái mới có việc khóc lóc và tự sát; (v) tư liệu giáo sử của Vatican có chi tiết những Đức Giáo Hoàng nào – trong đó có Sergius III, John X, John XII, Benedict IX, Paul II, Sixtus IV, Alexander VI, Julius III, v.v. – đã dâm loạn với các nữ nhân trong gia đình càng chứng minh quan hệ tình dục khó tránh khỏi, và (vi) tư liệu giáo sử của Vatican cho đến thời hiện đại vẫn luôn là phải bằng mọi giá bảo vệ tất cả các linh mục và giám mục nào bị cáo buộc xâm hại tình dục ấu dâm nam bằng cách bổ nhiệm chức danh cao hơn tại địa phương khác, khiến ấu dâm nam có khi là cách đi tắt hữu hiệu lên hàng giáo phẩm cao hơn.

Tóm lại, tu sĩ hay nói về “tha thứ” vì muốn bảo vệ các đồng nghiệp phạm tội.

me-lam

Trong khi kinh/kệ nói về “tha thứ” đơn giản chỉ vì tôn giáo đã có sẵn các công cụ trừng trị khủng khiếp và hiệu quả – dù trừu tượng – về Địa Ngục, Hỏa Ngục, Luyện Ngục, Ngày Phán Xét, Ngày Tận Thế, nên điều tín đồ cần làm là hãy để “thân tâm thường lạc”, đừng bận tâm đến hận thù và báo oán, do “ác giả ác báo, thiện giả thiện lai” và nhân quả là luật Trời không bao giờ suy suyển; thì các nhà tu hành chỉ đơn giản lái sự “tha thứ” vào duy chỉ ý nghĩa của một thứ lòng tốt đầy nhân hậu nên có ở con người.

Cần nhớ một điều rõ ràng rằng tất cả các vị chủ tể các tôn giáo đều rất dứt khoát trong sự trừng phạt và trừng trị, nghĩa là không bao giờ có sự bao dung, không bao giờ có sự rộng lượng, không bao giờ có sự tha thứ bất kỳ. Thậm chí Thánh Kinh Cựu Ước còn có giai thoại Chúa Trời sai thiên sứ bay đến hai thành Sodom và Gomorrah vung gươm giết sạch nam phụ lão ấu để trị tội sa đọa. Ngay cả ý nghĩa của việc xưng tội và được tha tội của một tôn giáo cũng không thể trả lời câu hỏi vậy người đã xưng tội và được tha tội có lên thẳng thiên đàng hay lại sẽ trong một ngày xa thẳm nào đó ở tương lai phải ngồi dậy trong hình hài một zombie trong Ngày Phán Xét của Ngày Tận Thế.

Vì vậy, sự trừng trị và trừng phạt của xã hội loài người luôn là một cụ thể buộc phải có; còn tha thứ thuộc phạm trù ý tưởng đơn thuần, không thể bị đánh lận con đen vào đời sống thật trong một cộng đồng thật nhất là trong thời đại văn minh.

2) Kẻ Chơi Trội: Dã Nhân Giả Nhân

Lăng Tần Tiên Sinh có lời khuyên dành cho các học trò của ông là ngay khi nghe bất kỳ ai nói về chủ đề “hãy tha thứ” thì hãy lập tức tìm hiểu rõ nhân thân của người ấy vì bảo đảm đó là (a) kẻ giả nhân giả nghĩa có cuộc sống bất nhân bất nghĩa ngay tại khu dân phố và nơi làm việc của người ấy, hoặc là (b) người có cậy nhờ sự lăng xê của một “nhà báo”, hoặc là (c) người chưa giả nhân giả nghĩa nhưng là dã nhân tức chưa hề được cộng đồng con người biết đến nên phải tự phát ngôn trên blog về “tha thứ” để chào hàng với cư dân mạng chứ không thể chào hàng bằng thứ kiến thức gì khác cao siêu hơn.

3) Kẻ Lạm Quyền:

Lạm quyền vì chỉ có những người được liệt kê ở Phần C bên dưới mới có quyền “tha thứ”. Ở đây cần nói rõ về chữ “người” – nghĩa là “công dân” chứ không phải thánh thần gì cả – để triệt tiêu mọi mưu đồ chụp mũ “báng bổ” bởi những kẻ luôn cho rằng chỉ có Chúa mới có quyền “tha thứ”.

4) Kẻ Phạm Tội:

Tất nhiên, những kẻ phạm tội bao giờ cũng xin được “tha thứ” khi tội đã phạm bị phanh phui, trừ những tên tội phạm như Bob Kerrey tại Đại Học Fulbright Việt Nam vì Bob Kerrey có sự bảo vệ của những kẻ lạm quyền.

5) Kẻ Mê Lầm:

Và tất nhiên, những kẻ mê lầm là những kẻ lầm tưởng (a) mình có quyền nói về “tha thứ”, (b) thiên hạ sẽ bị mình tùy thích tung hỏa mù “nhét chữ vào mắt” viết  nhăng viết cuội mà vẫn tin, và (c) hễ nói về “tha thứ” thì tự động mình sẽ được thiên hạ tôn lên thành bậc hiền nhân quân tử.

B- Quyền Căm Thù Tuyệt Đối Chính Đáng:

Do “tha thứ” là đặc quyền chỉ thuộc về những người được liệt kê ở Phần C bên dưới, mà “tha thứ” luôn là phần không thể tách rời nguồn cơn của “căm thù”, Phần B này nhằm nêu rõ “căm thù” nào là chính đáng cho một quyền tha thứ với sự hiểu biết rằng quyền tha thứ có nghĩa tha thứ hay không tha thứ, là đặc quyền của người có căm thù chính đáng.

1- Căm Thù Chính Đáng

Lòng căm thù nói chung là thứ tình cảm có nơi tất cả, bất kể người tốt hay kẻ xấu.

Gia đình một tên cướp của giết người căm thù người hào hiệp nào đã khiến tên cướp bị bắt phải đền tội. Gia đình tên cướp ấy thậm chí có thể ra tay báo oán ngoài khuôn khổ luật pháp đối với người hào hiệp ấy. Trong trường hợp này tập thể kẻ xấu có lòng căm thù.

Gia đình một tên đại quan tham nhũng căm thù người hào hiệp nào đã khiến tên đại quan ấy phải đền tội và toàn gia đình bị tịch biên tài sản. Gia đình tên đại quan ấy thậm chí có thể ra tay báo oán ngoài khuôn khổ luật pháp đối với người hào hiệp ấy. Trong trường hợp này tập thể kẻ xấu có lòng căm thù.

Gia đình một lương dân căm thù bọn báo chí nào đã khiến lương dân ấy thành nạn nhân – từ nội dung liên quan đến kinh doanh đến nội dung bị vu vạ “nhét chữ vào mồm” –  khiến thành đối tượng của đe dọa, bôi nhọ, chặn ngăn sự nghiệp. Gia đình của lương dân ấy thậm chí có thể ra tay báo oán trong phạm vi luật pháp chưa cấm đối với bọn báo chí ấy. Trong trường hợp này tập thể người tốt có lòng căm thù.

Như vậy, với sự thể rằng bất kỳ ai cũng có lòng căm thù, sự rành mạch hóa nhằm phân định ai mới có quyền căm thù vì chỉ khi có quyền căm thù thì người ta mới có quyền tha thứ.

2-  Những Người Có Toàn Quyền Với Căm Thù Chính Đáng:

Sự lầm lẫn về ngữ nghĩa ngôn từ là vấn nạn cực kỳ phổ biến ở Việt Nam.

“Không căm thù” hoàn toàn không có nghĩa là “tha thứ”.

Quyền căm thù tuyệt đối chính đáng là đặc quyền bất khả xâm phạm của những người sau đây:

a) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Thiên Tai Và Thân Nhân

Bao triệu người Việt là nạn nhân của thiên tai. Họ có quyền căm thù chính đáng. Nhưng như toàn nhân loại, họ không căm thù thiên nhiên. Họ cũng không hề có phút giây nào nghĩ rằng minh đã hay đang tha thứ thiên nhiên. Đơn giản vì có bản tính thuần Việt: họ cho đó là tai họa của số kiếp dù đó là biệt nghiệp hay cộng nghiệp, dù đó là quả báo hay oan khiên tiền định của nghiệt duyên.

b) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Một Biến Cố Lịch Sử Và Thân Nhân

Bao triệu người Việt là nạn nhân của chiến tranh xâm lược.

Họ có quyền căm thù chính đáng.

Đạo lý tự nhiên của người Việt: chiến thắng một cuộc chiến tranh thì đã mặc nhiên là sự trừng trị thỏa đáng thích đáng mà “Trời” giáng xuống kẻ thù của họ.

Nhưng như toàn nhân loại trong tất cả các cuộc chiến tranh khác và Thế Chiến, họ không căm thù bên nào của chiến tranh đã biến họ thành nạn nhân. Lúc hậu chiến, họ cũng không hề có phút giây nào nghĩ rằng mình đã hay đang tha thứ chiến tranh. Đơn giản vì có bản tính thuần Việt: họ cho đó là tai họa của số kiếp dù đó là biệt nghiệp hay cộng nghiệp, dù đó là quả báo hay oan khiên tiền định của nghiệt duyên. Đó là lý do dân Việt như một tập thể chung của bên chiến thắng thì không căm thù Tàu cũng không tha thứ Tàu, không căm thù Pháp cũng không tha thứ Pháp, không căm thù Mỹ cũng không tha thứ Mỹ, không căm thù Campuchia cũng không tha thứ Campuchia – vì căm thù là chịu đựng số kiếp còn tha thứ là không cần thiết vì đã trả được oán thù qua bàn tay của “Trời”.

Dù vậy, họ và thân nhân của họ – vì đa số họ đã bị chiến tranh tước đi mạng sống – có toàn quyền căm thù chính đáng và toàn quyền tha thứ. Như bản tính thuần Việt, họ không có căm thù và không có thứ tha; song, khi bất kỳ ai tự hối tìm đến xin lỗi họ vì những tội ác đã gây nên trong chiến tranh, họ sẽ ngay lập tức nói lời tha thứ, chỉ vì họ biết hai điều rằng (a) đó là nghiệt duyên của họ mà họ phải âm thầm chịu đựng, và rằng (b) “kẻ chạy lại” luôn đáng được họ đón chào như thượng khách chứ không với sự thứ tha họ ban cho  kẻ tội đồ.

Đối với Bob Kerrey của Đại Học Fulbright Việt Nam thì chỉ có nạn nhân vụ thảm sát cùng thân nhân của họ mới có quyền căm thù chính đáng để tha thứ Bob Kerrey. Bất kỳ ai đặt vấn đề Bob Kerrey nên được tha thứ thì đó là sự lạm quyền, vô duyên, vô đạo, bất chính, bất khả tư nghị.

c) Nạn Nhân Trực Tiếp Của Tai Nạn, Tai Họa Và Thân Nhân

Nhiều người đã là nạn nhân của những tai nạn, những vu oan, những vụ cướp của giết người và/hoặc hiếp dâm, v.v.

Rất có thể một số người trong họ đã cam chịu, xem đó như một thứ nghiệt duyên, quả báo của một kiếp trước mơ hồ, hay một oan khuất mang tính thử thách của hiện tại, v.v.

Rất có thể một số người trong họ đã cam chịu vì tránh một thiệt hại lớn hơn nếu phải khai báo, tố cáo, kiện thưa khi công khai thực hiện quyền căm thù và quyền đòi trừng trị thích đáng.

Chỉ có họ và thân nhân của họ mới có quyền căm thù chính đáng. Nhưng họ sẽ không bao giờ nghĩ đến “báo oán” nhất là nếu xã hội có cơ chế trừng trị thích đáng và hữu hiệu kẻ gây tai nạn/tai họa cho họ hay người thân của họ. Không “báo oán” nghĩa là sự “tha thứ” được mặc nhiên đi kèm không kèn không trống. Trong ý nghĩa này, sự “tha thứ” đã bị hình phạt trừng trị nghiêm khắc của luật pháp triệt tiêu.

c) Công Dân Đối Với Nghĩa Vụ Lịch Sử

Bất kỳ công dân nào cũng có nghĩa vụ đối với lịch sử.

Quyền căm thù chính đáng là quyền của những công dân thực thụ của một quốc gia đối với những biến cố đã chính thức minh định trong lịch sử chính thức của quốc gia mình về những tai họa mà một thực thể từ bên ngoài quốc gia mình đã gây ra cho quốc gia mình, dân tộc mình, mà bản thân mình vẫn đang là công dân của quốc gia đó, dù thậm chí tổ tiên mình không chắc hoặc chắc không đã có ai hay những ai đã là nạn nhân của các tai họa do ngoại nhân gây ra trong lịch sử ấy.

Với ý nghĩa này, mọi công dân Việt Nam có quyền căm thù chính đáng và có quyền báo thù chính đáng đối với Tàu, với Thái, với Pháp, với Mỹ, với Campuchia.

Tuy nhiên, với luận điểm chỉ có người có quyền căm thù chính đáng mới có quyền tha thứ, thì quyền căm thù chính đáng trong phạm trù nghĩa vụ lịch sử lại không bao giờ mặc định có kèm quyền tha thứ, mà chỉ liên quan đến quyền trả thù hoặc quyền không trả thù.

Bất kỳ ai bảo rằng người Việt có lòng rộng lượng, bao dung, tha thứ những tội ác lịch sử của Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Campuchia, thì đó là những phát ngôn xằng bậy.

Chính xác về ngữ nghĩa tu từ, người Việt không nghĩ đến khai thác lòng căm thù chính đáng để báo oán hay trả thù đối với các biến cố lịch sử gây ra bởi các quốc gia khác, mà cũng chẳng nghĩ đến việc tha thứ, đơn giản vì công lý đã được thực thi, luật Trời đã tỏ, phần thắng đã thuộc về nước Việt.

C- Quyền Tha Thứ:

Khi ngợi ca sự công bằng và hướng đến điều cao thượng muốn không ai khác phải gánh chịu cùng tai họa từ cùng kẻ gây tai họa, quyền tha thứ, tóm lại, nằm trong tay hai thực thể và với những điều kiện sau:

1) Nạn nhân trực tiếp của tai nạn, tai họa cùng thân nhân của họ, nếu kẻ gây tai nạn/tai họa cho họ bị luật pháp trừng trị thích đáng, khó thể tiếp tục làm hại những người vô tội khác trong xã hội. Tha thứ là sự ban ra khi sự trừng phạt của công lý đã được thực thi. Không ai được phép gây tác động đến quyền này của nạn nhân cũng như thân nhân của họ đối với kẻ thủ ác nhằm kêu gọi động tác bãi nại dành cho kẻ thủ ác.

2) Nạn nhân trực tiếp của một cuộc xâm lược trong lịch sử quốc gia cùng thân nhân của họ, bất kể quốc gia xâm lược gây ra thảm cảnh cho họ và thân nhân của họ có đã bị trừng trị thích đáng hay chưa. Quyền báo oán của họ và thân nhân của họ là vĩnh viễn, và quyền tha thứ của họ cùng thân nhân của họ dành cho quốc gia xâm lược hay cá nhân quốc gia xâm lược là bất khả xâm phạm. Không ai được phép gây tác động đến quyền này của nạn nhân cũng như thân nhân của họ đối với quốc gia thủ ác cũng như nhân lực thực hiện hành vi thủ ác của quốc gia thủ ác.

Công dân đối với nghĩa vụ lịch sử tuy có toàn quyền căm thù và toàn quyền báo oán đối với quốc gia xâm lược cùng các cá nhân của quốc gia ấy, nhưng lại không có quyền tha thứ quốc gia xâm lược cùng các cá nhân của quốc gia ấy. Không ai được phép nói về sự tha thứ đối với các quốc gia xâm lược cũng các cá nhân của các quốc gia ấy.

D- Danh Mục Những Kẻ Tiếm Quyền

1) Những người không là công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhưng lại luôn mồm nói về lòng hận thù hay sự tha thứ có liên quan đến các cuộc chiến tranh của Việt Nam với các nước khác trong lịch sử Việt Nam.

2) Những công dân không là nạn nhân trực tiếp của tai nạn, tai họa hay thân nhân của nạn nhân, nhưng lại phát ngôn gợi ý nạn nhân/thân nhân nạn nhân thực thi quyền tha thứ hung thủ.

3) Những công dân không là nạn nhân trực tiếp của một cuộc xâm lược trong lịch sử quốc gia, hay thân nhân của nạn nhân, nhưng lại phát ngôn gợi ý nạn nhân/thân nhân nạn nhân thực thi quyền tha thứ quốc gia xâm lược cùng cá nhân thực hiện tội ác của quốc gia ấy.

4) Những công dân có nghĩa vụ tự nhiên đối với lịch sử quốc gia nhưng không biết mình không có quyền nói về hay kêu gọi cho sự tha thứ đối với quốc gia xâm lược cùng cá nhân thực hiện tội ác của quốc gia ấy.

5) Những cơ quan truyền thông nào hỗ trợ loan truyền ý kiến của bốn loại tiếm quyền trên và ý kiến của cơ quan truyền thông khác có hỗ trợ loan truyền ý kiến của bốn loại tiếm quyền trên.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Trăm Trứng October 29, 2014

Tội Ác Của Bob Kerrey June 3, 2016

Hillary Clinton Là Con Đĩ Babylon? September 27, 2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân

Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội

dress 

Hoàng Hữu Phước, MIB, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

27-12-2016

dress-2

A) Báo Chí Và Giới Tinh Hoa Việt Nam

Chính quyền Hà Nội vừa ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử dành cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan nhà nước thuộc thành phố Hà Nội.

Ngay lập tức, đã có những phản xạ trên một số tờ báo thuộc truyền thông đại chúng chính thống cho thấy những phản xạ mang tính vấn nạn có thể liệt kê như sau.

1- Phản Xạ Chống Đối

Gọi là chống đối vì bất cứ khi nào cơ quan chức năng của Chính Phủ Việt Nam như một Bộ nào đó chẳng hạn, hoặc cơ quan chức năng của một địa phương lớn, ban hành một quy định nào đó là ngay lập tức các câu hỏi được báo chí nêu lên theo kiểu chõi lại thay vì chung sức giải thích cho người dân hoặc chí ít làm tỏa lan chủ trương chính sách tân kỳ mà bổn phận báo chí cùng các “viện” lẽ ra đã phải biết đó là nhiệm vụ của riêng mình mà bản thân mình đã ngữa tay nhận tiền lương tháng hậu hĩ để thực hiện mỗi việc giản đơn ấy. Đặc biệt dưới tác động của độc tố mang tên tự do dân chủ nhân quyền phiên bản Mỹ Âu BSE (bovine spongiform encephalopathy) thì kiểu nêu tương tự như “…liệu có vi phạm quyền tự do cá nhân của mỗi công dân?” là thứ mang bản chất của sự xách động chống đối cực kỳ quen thuộc của báo chí chính thống Việt Nam nhằm tạo nên một phản ứng tự nhiên nơi độc giả mỗi khi nghe nói có quy định bất kỳ, dẫn đến phản ứng chống đối tự nhiên nơi độc giả đối với Chính phủ và chế độ như một tập thể chỉ biết sản sinh những quy định hay luật lệ thuộc hạng tồi, kém, vất đi.

2- Phản Xạ Công Thức

Gọi là công thức vì ngay lập tức phóng viên sẽ chạy đến – hoặc phone đến – những vị mà tên của họ đã sẵn có trong danh bạ “việc nào thì phỏng vấn ai” chẳng hạn luât sư nào, nhà sử học nào, nhà giáo nào, nhà văn nào, v.v., đến độ độc giả thì phát ngấy với những cái tên nhàm chán của giới tinh hoa vô dụng được báo chí tinh chọn từ số người tinh quái nhất song kém tinh túy nhất, nhưng tờ báo thì phát phì vì có bài vỡ lấp đầy chỗ trống. Thậm chí có nhiều lúc phỏng vấn bất kỳ ai miễn “cùng phe” nên hoàn toàn không có chút chất lượng nào trong các mẫu đưa tin có kèm phỏng vấn.

3- Phản Xạ Kiến Thức Zero

Thay vì cung cấp cho độc giả những lý giải sâu sắc, báo chí chỉ giáng thêm những câu hỏi, và bồi thêm những câu trả lời của những đấng tinh hoa mà những câu trả lời ấy hòa âm điền dã với câu hỏi của báo chí khiến câu hỏi – nếu có, hoặc bị báo chí khuấy động lên thành có – của độc giả từ giản đơn trở thành vấn đề. Sự việc của Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội vốn là điều cực kỳ bình thường của thế giới tư bản văn minh hiện đại lại trở thành lỗ hổng kiến thức của báo chí và của giới tinh hoa nào chấp nhận trả lời phỏng vấn của báo chí ấy theo hướng mà báo chí uốn nắn, biến cả báo chí cùng cơ quan của giới tinh hoa “Viện” Việt trở thành loại tầm thường không có kiến thức – tức kiến thức bằng không tức kiến thức zero – vì tất cả các cơ quan từ nhà nước đến công ty dù lớn dù nhỏ của tư nhân trong thế giới tư bản văn minh toàn cầu đều có Bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt để nâng tôn giá trị của chính mình và có thêm công cụ pháp lý trong đối nội và đối ngoại.

Sự thiếu vắng của các Bộ Quy Tắc Ứng Xử – vốn tương đương với cái gọi là Bộ Quy Tắc Đạo Đức Làm Việc – ở các cơ quan báo chí chính thống Việt Nam đương nhiên giúp lý giải cho (a) việc vì sao họ không hề đánh giá cao cái Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính Quyền Hà Nội, (b) vì sao các cơ quan truyền thông này vẫn chưa thể sánh vai với các cơ quan truyền thông Âu Mỹ về uy tín và “đạo đức”, và (c) sự vô đạo đức và/hoặc bất chuyên nghiệp và/hoặc vô chuyên môn của các nhân sự của họ từ tổng biên tập cho đến phóng viên lại quá hiển nhiên lồ lộ trơ trẻn đến trần truồng.

B) Thế Nào Là Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct

Khi nói nghiêm túc nghiêm minh nghiêm khắc và nghiêm nhặt, có nghĩa là có sự phân định rạch ròi rõ ràng y như đối với “miễn thuế” và “thuế suất bằng không” vì bản thân hai phạm trù này hoàn toàn khác nhau trong hoạt động xuất nhập khẩu, không dính dáng với nhau – nghĩa là ngay cả khi có sự thoáng cực kỳ thì vẫn phải ghi rõ nội dung chi tiết của và lý do cho cái sự thoáng cực kỳ ấy trong bộ Quy Tắc Ứng Xử và Quy Định Trang Phục của đơn vị, cơ quan, công ty, tổ chức.

Thế thì nếu lãnh đạo báo chí chính thống của Việt Nam và các vị ở “viện” của Việt Nam vốn đều đi nước ngoài như đi chợ Đồng Xuân, có bằng cấp cao cấp lý luận chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có bằng cấp nước ngoài, lại không biết gì về Code of Conduct và Dress Code của ngôi trường mà các vị ắt đã có đến “nhận” bằng cấp, các cơ quan hàn lâm mà quý vị ắt đã có đến họp hành “công vụ” bằng tiền thuế của nhân dân, nên phát biểu linh tinh trật lấc về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội thì ắt các vị ấy thuộc một hoặc hơn một những loại sau: (a) học viên mất nết vô kỹ luật đi chơi nhiều hơn đến lớp nhưng chưa từng bị kỹ luật vì học viện ngoại chuyên cấp văn bằng “hữu nghị” cho “chức sắc tiềm năng làm lãnh đạo” của Việt Nam, (b) học viên đút đầu vào học viện đầu hàng chẳng thuộc danh mục các học viện/đại học hàng đầu, (c) học viên học quá giỏi  nên chỉ được chui đầu vào thực tập tại cơ sở hạng tai tiếng đầu hàng tức không thuộc danh mục các cơ quan/công ty danh tiếng hàng đầu.

Đã không đủ khôn ngoan che dấu sự thấp kém của mình, thay vì ngậm tăm đừng phê phán gì về “Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội” lại phô trương cái thấp kém đó trên mặt báo khiến di họa cho giới trẻ Việt Nam, các vị đã buộc tác giả bài viết này phải cứu nguy xã tắc bằng cách làm phiền những bậc thức giả khi diễn giải dài dòng các vấn đề cực kỳ sơ đẳng sau mà tất cả các bậc thức giả thực thụ của giới tinh hoa thực thụ đều đã tường tỏ vì đã thực sự “có đi làm việc đàng hoàng”, trong khi tất cả những ai đã thực sự “muốn đi làm việc đàng hoàng” đều đã tỏ tường từ lúc còn ở nhà trường.

1- Nội Dung Quy Tắc Ứng Xử Code of Conduct ở Âu Mỹ

Tại mỗi công ty/cơ quan/tổ chức, Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức Code of Conduct (còn được gọi là Code of Ethics hoặc Ethical Code, được phổ biến dưới tên gọi Code of Business Conduct hoặc Governance & Ethics) là bộ quy tắc phải có, không thể tách rời khỏi hoạt động của công ty/cơ quan/tổ chức, nhằm nêu bật các giá trị, đạo đức làm việc, mục tiêu, trách nhiệm, và danh tiếng của cơ quan, xây dựng nên văn hóa cơ quan, cũng như phản ảnh phong thái làm việc của công ty/cơ quan/tổ chức ấy.

Các công ty/cơ quan/tổ chức khi đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử là nhằm để nhân viên/viên chức/công chức quán triệt các kỳ vọng của lãnh đạo đối với tập thể nhân lực, cùng những chuẫn mực về phong cách làm việc mà tập thể phải bảo đảm đạt được trong làm việc hàng ngày tại công ty/cơ quan/tổ chức và tại bất kỳ đâu dưới danh nghĩa nhân lực của công ty/cơ quan/tổ chức, đồng thời cung cấp cho nhân viên những hướng dẫn phải xử trí ra sao trong những tình huống đạo đức nhất định.

Việc tham khảo các Code of Conduct của các công ty quá lớn như Roche, Kraft, Verizon, Colgate-Palmolive, Baylor, Johnson&Johnson, Boeing, hoặc của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tuân thủ ICoCA), và của bất kỳ công ty quá nhỏ nào của Âu Mỹ, là cần thiết cho các lãnh đạo cơ quan/doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nào ở Việt Nam chưa từng nhận biết về tầm quan trọng đối nội và đối ngoại của một Code of Conduct (không thể được đối tác nước ngoài xem trọng nếu bản thân đơn vị thiếu vắng Code of Conduct minh định chi tiết trên trang web và trong brochure của đơn vị) để hiểu biết thêm về quan niệm chung và khác của các công ty/cơ quan/tổ chức ấy, từ đó nắm bắt được những yếu tố trọng tâm nào được đưa ra làm kim chỉ nam cho lĩnh vực hoạt động và dịch vụ, tính liêm chính của từng cá nhân, sự liêm chính của công ty/cơ quan/tổ chức, quy trình tuyển dụng, tài sản công ty, tinh thần trách nhiệm, những tiêu chuẩn hành xử thích hợp đối với cơ quan/đối tác của cơ quan/khách hàng của cơ quan/các nhân viên khác của cơ quan, và sự tuân thủ toàn vẹn với ý thức rằng các hành xử khác đi sẽ ảnh hưởng không những đến hình ảnh cơ quan mà còn cả đến sự nghiệp của nhân viên tại cơ quan, toát lên từ Code of Conduct còn mạnh mẽ hơn những lời quảng cáo phóng đại đầy tốn kém trên truyền thông.

Các Code of Conduct có khi chỉ dài 1 trang giấy khổ A4, có khi đến gần 20 trang, nội dung có thể nêu cả – song không chỉ giới hạn bởi – các vấn đề như quan hệ trung thực với nhà cơ quan nhà nước, tôn trọng môi trường, minh bạch sổ sách và báo cáo,  không đem bí mật kinh doanh nội bộ ra giao dịch với bên ngoài, quan hệ với đồng nghiệp/công ty/khách hàng/cơ quan Nhà Nước/luật pháp/xã hội. Code of Conduct còn quy định cách ứng xử của cá nhân các lãnh đạo cơ quan đối với nhân sự cơ quan và các nội dung khác tương tự như những gì nhân viên phải tuân thủ, khiến chặn ngăn các hành vi không phù hợp và buộc lãnh đạo phải chịu trách nhiệm quản lý nhân sự tuân thủ Code of Conduct. Khi công ty/cơ quan/tổ chức phát triển mạnh, Quy Tắc Ứng Xử tức Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc của công ty/cơ quan/tổ chức có thể được được lồng ghép vào trong các thông điệp hoành tráng về sứ mệnh và giá trị của mình.

2- Vấn Đề Nước Ngoài

Nhân viên khi được tuyển dụng sẽ được yêu cầu nghiên cứu Code of Conduct của cơ quan và được yêu cầu ký tên xác nhận đã đọc và cam kết tuân thủ, biến chữ ký đó thành  văn bản thỏa thuận được trữ lưu trong hồ sơ nhân sự mang tính ràng buộc pháp lý giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động, dựa vào đó các hình thức kỹ luật và/hoặc các biện pháp kiện tụng ra tòa án được tiến hành.

3- Vấn Nạn Việt Nam

Sự thiếu vắng các Bộ Quy Tắc Ứng Xử tức không có bất kỳ sự cương tỏa nào minh bạch hóa minh định hóa trong nội bộ các công ty/cơ quan/tổ chức ở Việt Nam, đã làm phát sinh 7 vấn nạn thường thấy như (a) tác phong phục vụ khách hàng kiểu ta-là-chúa còn khách-hàng-là-hành-khất, (b) khẩu ngữ trong phục vụ khách hàng kiểu ban-ơn-mưa-móc hay thí-cô-hồn, (c) khẩu ngữ trong sinh hoạt nội bộ như bác/cháu/em/anh Hai/chị Tư luông tuồng phi chuyên nghiệp, (d) tác phong làm việc gia-đình-trong-công-sở, (e) nhận thức xem danh tiếng của công ty/cơ quan/tổ chức là vấn đề vĩ mô của công ty/cơ quan/tổ chức mà mình không phải là ốc vít trong guồng máy ấy, (f) tính quan liêu, (g) sự bất minh/bất liêm/bất chính/vô văn hóa đơn vị/vô giá trị cơ quan ở từ cấp lãnh đạo cho đến nhân viên.

Với tính cách trên-dưới của quyền lực quản trị cơ quan/doanh nghiệp Nhà Nước/tổ chức luôn kèm theo quyền lực chính trị – nghĩa là chỉ có đảng viên cấp cao mới được bổ nhiệm quản trị cơ quan/công ty/tổ chức – việc có một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trở thành điều bất khả thi do giới lãnh đạo – và giới “con ông cháu cha” – không chịu để mình bị kềm tỏa bởi cái gọi là Bộ Quy Tắc đầy minh bạch và quá cụ thể ấy.

Vấn nạn còn ở chỗ:

a) Ngay cả truyền thông chính thống lại tự hỏi không rõ Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội có “vi phạm quyền tự do cá nhân”, mà không hiểu rằng trong thế giới văn minh Âu Mỹ thì cái quyền tự do cá nhân chỉ được thực thi ở trong nhà riêng, trong cộng đồng riêng, và khi chẳng đang làm việc không riêng. Làm việc tại cơ quan là làm việc riêng ư? Đi bộ ngoài đường là sinh hoạt riêng trong cộng đồng riêng nên muốn ăn mặc sao cũng được mà không cần đếm xỉa đến người xung quanh ư? Ngay cả người xứ “mọi” cũng không ai phát biểu như truyền thông chính thống Việt Nam đối với Bộ Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội.

b) Trong khi đó một tên giáo sư nguyên viện trưởng một viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam lại khuyên nên xem Bộ Quy Tắc là “phần cứng” để “ai có điều kiện, có thể theo được thì cứ theo, còn nếu ai vì lý do nào đó mà không theo được, thì có thể dùng những quy tắc ấy để tham khảo”. Giống như một nhà sử học Việt Nam vừa không bao giờ có kiến thức về thế giới sử và các ngành sử đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển môn Sử ở Việt Nam và tỏa lan môn Sử ấy ra khắp bốn bể năm châu, viện nghiên cứu văn hóa Việt ắt cũng vừa không bao giờ có kiến thức về tương quan văn hóa thế giới và các ngành văn hóa đặc thù đầy dẫy ở các nước văn minh Âu Mỹ, vừa chẳng làm nên trò trống gì để phát triển văn hóa Việt Nam và tỏa lan văn hóa Việt Nam ấy ra khắp năm châu bốn bể.

Quy tắc là để hoặc tuân theo hoặc bị trừng phạt nếu vi phạm (kỹ luật, sa thải hoặc tù tội).

Quy tắc không là thứ chỉ để tham khảo mà là thứ phải thuộc nằm lòng để tồn tại và phát triển cá nhân.

Quy tắc là sức mạnh của đơn vị.

Ông nguyên viện trưởng đã làm viện trưởng vì đi ngang đi tắt vô bài bản, bất chuyên nghiệp, kiểu đang áp dụng ở Ban Quản Lý Tây Nam Bộ nên ăn nói nghô nghê thất học về “phần cứng”.

C) Thế Nào Là Quy Định Trang Phục Dress Code

1- Khách Hàng:

Một trong những nội dung của bất kỳ Bộ Quy Tắc Ứng Xử nào là nâng lên cao nhất vị trí của “khách hàng” như một thứ đạo đức cao nhất của làm việc (business = làm việc, kinh doanh, v.v.).

Khách hàng bao gồm: khách hàng theo nghĩa đen và khách hàng theo nghĩa bóng.

Theo nghĩa đen, khách hàng là bất kỳ ai sử dụng dịch vụ của mình, cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho mình, mua hàng hóa của mình.

Theo nghĩa bóng, khách hàng là bất kỳ ai tìm đến mình, và với ý nghĩa này thì lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình cũng đều là khách hàng của mình.

Khách hàng là vua. Vì thế, khi tiếp khách hàng thì mình phải cúc cung tận tụy y như nhau dù đó là lãnh đạo của mình, đồng nghiệp của mình, nhân viên cấp dưới của mình, hay khách đến từ bên ngoài.

Do khách hàng là vua, sự cúc cung tận tụy của mình là chính, và trang phục của mình là quan trọng. Đó là lý do Bộ Quy Tắc Ứng Xử – nếu không có Bản Quy Định riêng và rời về trang phục gọi là Dress Code – sẽ kèm theo các nội dung liên quan đến trang phục.

2) Đừng Đùa Với Lửa Dress Code:

Vào Tháng 7 năm nay, tại Anh Quốc, biên tập viên Lauren Tuck của Yahoo! Style có đưa tin về việc một nhóm nữ sinh viên thực tập bị đuổi khỏi nơi thực tập vì vi phạm Dress Code. Họ bị triệu tập vào phòng nhân sự, được yêu cầu phải nộp lại ngay thẻ ra vào (ID badge), thu dọn hết đồ đạc cá nhân, rồi rời khỏi khuôn viên công ty ngay lập tức.

Khi các nữ sinh này biện minh rằng họ đâu có được phân công tiếp khách hàng nên sao lại bó buộc phải tuân theo Dress Code, và sở dĩ họ mang dép đi làm dù biết Dress Code cấm, là vì họ thấy có một bà nhân viên cũng đi dép. Câu trả lời của lãnh đạo dành cho họ là: (a) nếu hiểu “khách hàng” chỉ là người từ bên ngoài đến thì rõ ràng các nữ sinh này không chuyên nghiệp và việc đào tạo ở đại học có khiếm khuyết, và (b) bà nhân viên ấy là cựu chiến binh bị mất một chân khi phục vụ quân đội Anh ở nước ngoài nên được ưu tiên mang bất kỳ loại giày dép nào có thể giúp người nhân viên khuyết tật ấy dễ dàng công tác hiệu quả nhất.

Sau bài blog trên Yahoo, nhiều người đã “comment” rằng công ty ấy đã xử lý thật tuyệt hảo (“the company handled it perfectly”), rằng cuộc sống thực sẽ có nhiều tàn khốc hơn vậy mà không giữ được mình theo các quy định giản đơn đối với trang phục thì phải bị loại thôi, v.v.

Không khuyết tật, không theo tôn giáo đặc thù, dứt khoát đừng hòng giỡn mặt với Quy Định Trang Phục Dress Code của nơi làm việc (“You better not be slacking with the dress code”).

3- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: định nghĩa rõ các loại trang phục

Từ sau những năm 1990, nhân viên ở Mỹ không còn được yêu cầu mặc trang phục trang trọng (formal attire) khi đến cơ quan làm việc, một phần do biến đổi khí hậu làm những tháng hè thêm oi bức, một phần do phát sinh những ngành nghề như công nghệ thông tin (mà sự giao tiếp với khách hàng – nội bộ và từ bên ngoài – gần như bằng không, và yêu cầu công việc đòi hỏi nhân viên ngồi tại chổ với máy vi tính suốt thời gian) và thị trường chứng khoán vốn liên tục tranh giành sôi động trên thực địa, v.v. Song, như đã nói, đã là nơi làm việc chuyên nghiệp thì không thể thiếu Dress Code; do đó, các loại trang phục được định nghĩa rõ hơn để phân định giữa nội hàm cho phép và không cho phép, bất kể Dress Code có thoáng hay không, khiến một thứ “trang phục trang trọng formal attire” duy nhất của ngày trước thì nay được phân biệt thật chi tiết chẳng hạn đối với nam nhân viên thành:

a) Trang Phục Dạo Phố Dân Sự (Street Wear): như áo thun ba lổ bỏ ngoài, quần đến gối, dép hay sandal. Cấm mặc khi đi làm.

b) Trang Phục Thường Nhật Dân Sự (Casual): như áo thun tay ngắn bỏ trong, quần dài, giày thể thao. Cấm mặc khi đi làm.

c) Trang Phục Thường Nhật Nhân Viên (Mainstream Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, quần tây dài vải thường, giày tây thoải mái.

d) Trang Phục Công Sở Bình Thường (Business Casual): áo sơ mi dài tay màu sáng hoặc sọc, bỏ trong, không cravat, quần tây dài, áo khoác jacket (không cùng màu với quần), giày tây. Đây là nội dung được ghi rõ nhất vì “bình thường” nghĩa là “bình thường để làm việc chuyên nghiệp” chứ hoàn toàn không có nghĩa là “bình thường bình dân vui chơi” thành áo có hình hoa văn màu sắc lòe loẹt theo kiểu thổ dân Hawaii hoặc đi dép lê khi đứng báo cáo, thuyết trình.

e) Trang Phục Công Sở Tươm Tất (Smart Business Casual hoặc Executive Casual): áo sơ mi dài tay bỏ trong, đeo cravat, quần tây dài sậm màu, giày tây đen có vớ đen. Trong các loại “thoải mái tại công sở” (tức “casual”) thì Smart Business Casual thường được giới lãnh đạo thích nam nhân viên mặc hơn là Business Casual ngay cả khi Business Casual được cho phép trong Dress Code.

f) Trang Phục Đối Ngoại (Business Formal hay Business Attire): sơ mi dài tay, bỏ trong, đeo cravat, nguyên bộ veston hai phần (áo “vét” jacket và quần cùng loại vải cùng màu) sậm màu, giày tây đen, nâu sậm hoặc xanh đen, vớ đen.

g) Trang Phục Họp Hội Đồng Lãnh Đạo (Boardroom Attire): sơ mi trắng dài tay, cravat thanh lịch, bộ veston ba phần (áo “vét” jacket, quần tây dài, và áo “ghi-lê” waitcoat), giày tây đen có vớ đen.

h) Trang Phục Dự Lễ Nghi (Black Tie): áo sơ mi tuxedo kết ren ở ngục, thắt nơ đen, nguyên bộ veston ba phần đen, giày tây đen có vớ đen.

Tất nhiên,

– Không nơi làm việc nào chấp nhận cho nhân viên mặc Street Wear hay Casual vào cơ quan làm việc;

– Dress Code tùy cơ quan sẽ ghi rõ cho nam nhân viên được mặc Business Casual (khá thoải mái hơn) hay phải là Smart Business Casual (vẫn thoải mái nhưng trang trọng hơn);

– Dress Code có thể không ghi gì về Business Formal vì đây là trang phục tự động mặc bởi cấp quản lý, tự động mặc bởi dân đối ngoại chuyên nghiệp, và tự động mặc bởi bất kỳ nhân viên nam nào nghiêm túc muốn được thăng tiến.

– Dress Code sẽ không ghi về Black Tie vì văn hóa Âu Mỹ được mặc định là tất cả người nam đều hiểu rằng khi thay mặt công ty dự một lễ nghi trọng đại họ phải mặc bộ Black Tie .

– Dress Code có thể quy định trang phục thế nào trong các ngày làm việc và trong các ngày cuối tuần (“dress down day”) nếu phải làm việc tại công ty. Trong những ngày “dress down day”, các trang phục jeans, giày các loại, đều được cho phép miễn phải lành lặn, nếu công việc không gồm tiếp khách, và phải luôn ghi nhớ rằng áo nữ kiểu “thun dây” (tank/halter tops) và trang phục thun bó chạy bộ jogging dù kiểu nam hay nữ đều không được phép mặc vào làm việc tại công ty trong ngày cuối tuần/ngày lễ nghĩ.

4- Nội Dung Dress Code ở Âu Mỹ: Những Vấn Đề Quan Tâm Chính

Dựa theo các chi tiết nổi bật nhất của Bản Quy Tắc Ứng Xử Hà Nội, những điểm sau như nêu trong các Dress Code ở Âu Mỹ được liệt kê dưới đây cho độc giả Việt Nam tham khảo với lưu ý rằng “khách hàng luôn là vua”:

a- Xâm Mình / Xiên Xỏ Mình (Tattoos & Piercings)

Xâm mình hay xiên mình là một thứ văn hóa mang tính sở thích và tự do cá nhân. Không bao giờ có Dress Code nào lại nghiêm cấm nhân viên xâm mình/xiên mình. Tuy nhiên, Dress Code có quyền quy định nhân viên có xâm mình/xiên mình phải che dấu các xâm mình/xiên mình ấy trong giờ làm việc. Lý do đơn giản: khách hàng là vua, và có thể có những khách hàng không thiện cảm với người xâm mình/xiên mình, có thể có khách hàng có chấn động tâm lý đối với những hình xâm/kiểu xiên đặc thù, và có thể con nhỏ tháp tùng của khách hàng khiếp sợ trước những hình xâm/kiểu xiên đặc thù ấy.

b- Nước Hoa (Perfume & Cologne)

Việc sử dụng nước hoa là một vấn đề quan trọng vì hương nước hoa đậm đặc có thể gây dị ứng khứu giác của khách hàng hoặc đồng nghiệp. Tốt nhất là sử dụng với lượng thật ít hoặc không sử dụng. Các nhà tư vấn Âu Mỹ còn cảnh báo rằng nhà tuyển dụng có toàn quyền từ chối tuyển dụng những ứng viên nào sử dụng nước hoa đậm đặc – thậm chí loại bỏ luôn ứng viên nào sử dụng đúng loại nước hoa mà bạn gái của nhà tuyển dụng đã dùng song người bạn gái ấy đã bội phản gây sốc nơi nhà tuyển dụng ấy – mà không vi phạm pháp luật về “kỳ thị”.

Tương tự, việc trang điểm đậm cũng được khuyến cáo nên tránh vì “khách hàng là vua” chứ không phải “ta đây là thượng đế”.

c- Hở Hang (Too Revealing Skin)

Trong khi có sự thông cảm cho nhân viên làm việc mùa Hè nóng nức không cần phải mặc veston mà chỉ cần mặc áo sơ mi ngắn tay cài đủ khuy, Dress Code lại nghiêm ngặt đối với việc nhân viên ăn mặc hở hang (vai, ngực, bụng, đùi), mỏng manh.

d- Trang Sức (Bling)

Đối với đa số công ty, việc đeo trang sức không là điều không nên, nếu như số lượng   vừa phải.

e- Jeans

Dù được dùng trong một số nghề nghiệp có tính chuyên nghiệp cao như trong các lao động chân tay và các ngành kỹ thuật cơ khí, jeans không bao giờ được chấp nhận đối với những nhân viên ở các chức danh lãnh đạo và đối với nhân viên nói chung tại nơi làm việc trong giờ làm việc. Nói chung, các Dress Code xem mặc trang phục jeans như một điều kiêng kỵ tại nơi làm việc.

f- Trang Phục

Nhăn nheo: Trang phục không được nhăn nheo do không được ủi thẳng thớm vì sẽ được các Dress Code xem như biểu hiện của sự kém chuyên nghiệp của nhân viên, gây ấn tượng nơi khách hàng rằng nhân viên đã không có khả năng giữ cân bằng giữa làm việc và cuộc sống riêng, không quản lý thời gian tốt, không quan tâm đến thẩm mỹ chung, không quan tâm đến cảm nhận của khách hàng, và không quan tâm đến cuộc sống bản thân.

Trang Trọng: Khi dự các buổi hội họp quan trọng, các hội nghị, những triển lãm thương mại, hay gặp gỡ khách hàng, hầu hết công ty nào cũng muốn nhân viên mặc trang phục Business Formal.

Mũ (Headwear): Dress Code có thể quy định nhân viên không được đội mũ tại văn phòng trong giờ làm việc như là fan hâm mộ một đội bóng nào đó. Tuy nhiên, nhân viên là tín đồ một tôn giáo nào đó như nam nhân viên theo Đạo Sikh của người Sikh Ấn Độ có quyền đội turban, hay nữ nhân viên Đạo Hồi có quyền đội hijab, al-amira, shayla, khimar, và chador. Tuy nhiên đối với nữ ứng viên theo Hồi Giáo mang mạng che mặt  niqab hay trùm đầu burkas thì cần có giải thích rõ về quy định nhận dạng trên thẻ ra vào nên không thể được chấp nhận để tránh các khiếu kiện kỳ thị tôn giáo chốn pháp đình.

Giày: Dress Code cũng có thể quy định về loại giày, màu giày, cho nam và cho nữ nhân viên khi làm việc tại cơ quan.

D) Giới Trẻ Việt Nam Khôn Ngoan

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa đọc đến đoạn “Đó là quyền tự do cá nhân của mỗi người. Dù là công chức Nhà nước thì họ cũng là công dân nên họ vẫn phải có những quyền cơ bản của công dân chứ” của một nhà văn nọ có tên trong “cẩm nang tìm người phỏng vấn” của các nhà báo truyền thông chính thống, thì có thể bật nói ngay rằng: “Thôi đi ông! Nhà văn là chuyên gia của thể loại tưởng tượng Fiction, biết quái gì về cuộc sống thực và pháp luật thiệt! Ai muốn thi thố quyền cơ bản của công dân thì hãy thi thố ở nhà, còn vào một công ty là thực hiện chuyên nghiệp nhất một ràng buộc hợp đồng lao động nghiêm ngặt nhất của những công dân trưởng thành trong một thế giới sinh nhai có thật mà các nội quy và quy định chính là quyền cơ bản đặc thù dành riêng cho nhân viên chứ người ngoài đường hoàn toàn không có cái đặc quyền tuân thủ đó.”

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là khi giới trẻ vừa nghe tin về một quy định nào đó mới được chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương ban hành thì hoặc (a) sử dụng kiến thức sẵn có để nghiệm ra tính đúng đắn của các quy định đó, hoặc (b) kiếm tìm ngay các thông tin để so sánh với những tương tự ở nước ngoài, hoặc (c) đề nghị tác giả bài viết này giải đáp thắc mắc.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ đã biết rằng không bao giờ có cái “tự ý thức” (qua câu nói của nhà văn lếu láo: “tôi nghĩ bản thân mỗi công chức, viên chức cũng tự ý thức được phải ăn mặc thế nào khi đi làm việc, khi tiếp xúc với công dân cho phù hợp”) tự nhiên có nơi công dân bất kỳ siêu cường quốc nào, mà cái “tự ý thức” đó chỉ có khi “tự ý” tuân theo những quy định cực kỳ nghiêm ngặt sẵn có của quốc gia. Không có các quy định, quy tắc đầy uy lực trừng phạt thì sẽ không tạo ra tâm lý lo sợ vi phạm, không có tâm lý lo sợ vi phạm thì không có tâm lý tuân thủ, không có tâm lý tuân thủ thì không đời nào có tinh thần tự giác. Ý thức không từ trên trời rơi xuống như món quà Trời ban cho người này nhưng keo kiệt không bố thí cho người khác. Ý thức luôn đến từ một vô thức kết tụ từ sự kinh qua trải nghiệm nhuộm màu kinh sợ.

Giới trẻ Việt Nam khôn ngoan là giới trẻ không những không đọc các thông tin “chùa” trên không gian mạng mang tính chống đối mà còn biết miệt thị báo chí truyền thông chính thống nào không thể giải đáp thắc mắc mà chuyên đặt câu hỏi trống không để cùng hòa nhập vào số lượng độc giả nào mà báo chí hy vọng sẽ cùng không hiểu hoặc sẽ cùng không đồng tình – tức cùng chống đối – với các quy định ấy.

E) Đảng Cộng Sản Việt Nam Khôn Ngoan

Chính quyền Hà Nội đã đi đầu trong đề ra một Bộ Quy Tắc Ứng Xử chung của các cơ quan công quyền tại Hà Nội, biến Hà Nội thành thành phố đầu tiên đẳng cấp thế giới về nhận thức đối với tầm quan trọng tự thân của một Bộ Quy Tắc Ứng Xử.

Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Hà Nội sẽ thúc đẩy mỗi Sở, mỗi doanh nghiệp Nhà Nước, của Hà Nội tiến đến thành lập các Code of Conduct và Dress Code cho chính mình.

Nếu các Code of Conduct và Dress Code của các công ty lớn nhỏ của Âu Mỹ để gia tăng tính chuyên nghiệp và giá trị của công ty ấy cũng như tạo sự tin tưởng nơi khách hàng, thì Code of Conduct của Hà Nội sẽ đẩy nhanh tiến trình cải tổ hành chính của Hà Nội, đưa nội hàm bình thường của “Quy Tắc Đạo Đức Trong Làm Việc” trở thành một nội hàm mang tính bình thường, tự nhiên, để rồi sau một thập niên sẽ là thứ vốn có, sẵn có của con người Hà Nội văn hiến văn minh thanh lịch và kỹ luật cao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khôn ngoan khi khuyến khích và chuẩn thuận việc ban hành Bộ Quy Tắc Ứng Xử của Chính quyền Hà Nội, qua đó đã (a) giúp làm lộ diện lỗ hổng kiến thức của giới tinh hoa, (b) giúp làm lộ diện các phản ứng mang tính công thức chung rất vô dụng của báo giới chính thống, (c) giúp toàn quốc trong cả hai khối quốc doanh và tư doanh quan tâm đến thế mạnh tự thân từ Code of Conduct khiến sự đoan chính nhiều và tiêu cực ít trong hoạt động kinh doanh sẽ dần được dựng xây theo năm tháng, và (d) giúp giới trẻ quan tâm đến các giá trị đủ đầy của tính chuyên nghiệp từ các Code of Conduct và Dress Code để trở thành công dân chuyên nghiệp và đạo đức.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Chuyên Gia Human Resources/Human Capital

Tham khảo:

Fiction & Non-Fiction: Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Sự Thương Hại Dành Cho “Chuyên Gia Chuyên Nghiệp” 20-11-2016

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự 27-8-2014

Tân Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng 08-02-2016

Thời Bao Cấp: Sự Vô Đạo Đức Của Truyền Thông Chính Thống Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2016

bao-cap-2

A) Dẫn Nhập: Điều Xằng Bậy Của Truyền Thông Chính Thống Của Việt Nam

bao-cap

Liên tục nhiều tuần nay các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống ở Việt Nam thi nhau nói về Thời Bao Cấp, cười cợt Thời Bao Cấp, nhạo báng Thời Bao Cấp, tán tụng lên tận mây xanh một quyển sách nào đó viết về những điều nực cười Thời Bao Cấp. Thứ sinh hoạt rầm rộ như thế là bằng chứng cho thấy truyền thông đã thất bại thảm hại vô phương cứu chữa.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết ý nghĩa từ vựng của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông hiểu biết giá trị lịch sử của Thời Bao Cấp.

Thất bại vì không ai trong giới truyền thông có cái nhìn sau nghiên cứu độc lập về  Thời Bao Cấp mà chỉ thể hiện cái thói bầy đoàn vầy đoàn kết đoàn quái gở của truyền thông Việt Nam.

Thất bại vì không ai trong giới tinh hoa hiểu biết giá trị hàn lâm của Thời Bao Cấp Việt Nam.

Thất bại vì lãnh đạo truyền thông chính thống ở Việt Nam đã hoặc buông lơi quản lý trong, hoặc không biết gì về phương cách “tự diễn biến và tự chuyển hóa” của thuộc cấp khi, hoặc chính bản thân mình “tự diễn biến tự chuyển hóa” với chiến thuật moi móc bươi bới tất cả những gì là kỳ công kỳ tích của Cách Mạng Giải Phóng Miền Nam để nhạo báng, bôi nhọ, triệt tiêu giá trị.

Nội dung bài viết này, do đó, nhằm lần đầu tiên nêu rõ những vinh quang luôn thuộc về Thời Bao Cấp trong lịch sử Việt Nam thống nhất mà tiếc thay đã bị chính chế độ Cộng Sản bỉ khinh do buông lơi cho bọn tự diễn biến tự chuyển hóa mặc tình sử dụng công cụ truyền thông chính thống của Đảng để tha hồ khinh bỉ.

Nội dung bài viết này, do đó, cũng nhằm nhắc nhở giới tinh hoa Việt Nam một đề tài đẳng cấp nghiên cứu phi lịch sử, thuần quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự, và quản trị chiến lược quốc gia.

Nội dung bài viết này, vì thế, cũng nhằm nhắc nhở Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng vai trò Tổng Biên Tập các tờ báo, Tổng Giám Đốc các đài truyền hình và đài phát thanh, chỉ nên giao cho dân chuyên nghiệp, thay vì cho bọn đảng viên cao cấp của tuyên giáo có cái gọi là “cao cấp lý luận chính trị” nhưng không bao giờ được người dân và quốc tế biết đến với bất kỳ chuỗi bài viết lý luận chính trị nào cao cấp cả.

Dân chuyên nghiệp thực hiện đúng yêu cầu và đúng nhiệm vụ với đúng kết quả như đã ghi thật rõ và thật chi tiết trong hợp đồng phục vụ. Bổ nhiệm mà không có hợp đồng chi tiết nhất, yêu cầu cao nhất về nhiệm vụ, yêu cầu định lượng định tính được về kết quả, thì là giao việc tạp vụ chứ sao được phép dùng chữ “bổ nhiệm” làm lăng nhục tiếng Việt nhà.

B) Thời Bao Cấp Việt Nam: Nét Riêng Của Máu

1- Thực Tế Thế Giới Của Ngôn Từ

a) Bao Cấp Cường Thịnh

Trong tiếng Anh, chữ subsidy có nghĩa là trợ cấp (từng phần) hay bao cấp (toàn phần).

Subsidy là thứ vũ khí lợi hại của tất cả các nước giàu có, cường thịnh, được các nước tư bản thực hiện từ mô phỏng cơ sở lý luận lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, nhằm chứng tỏ chủ nghĩa tư bản thành công với đại cuộc lo cho hiện thực phúc lợi toàn dân tốt hơn chủ nghĩa cộng sản chỉ rêu rao giáo điều phúc lợi toàn cầu. Từ đó có các loại hình subsidy (trợ giá/cấp vốn/cho vay) về y tế, subsidy về giáo dục, subsidy điện, subsidy nông nghiệp, subsidy nông trang hữu cơ, subsidy giày thể thao, v.v. Đặc thù như cái đất nước Malta mà Phó Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Nghị sĩ Quốc Hội nhiều khóa liên tiếp, cùng gia đình đem cả gia tài kếch sù xin nhập quốc tịch, có cả subsidy hỗ trợ triệu Euro cho cá nhân công dân vay trả dần trong 10 năm nếu muốn đầu tư mở nhà hàng quán ăn phục vụ du lịch; còn Ấn Độ thì cho ra công thức S = RX + (d + i) K + i ( Z + L ) – ( RR + I + D ) để tính mức subsidy cho xăng/phân bón/lương thực,v.v.; trong khi Mỹ được xem là quốc gia bị bủa vây với vô vàn subsidy kể cả subsidy đánh bắt cá voi và subsidy “bảo hiểm thời tiết”. Subsidy do đó là thứ vũ khí dân túy trong nước minh để dân thương mình và là thứ vũ khí trợ giá để giành thế thượng phong thương mại với nước người để người ghét mình.

b) Bao Cấp Bắt Buộc

Việc Saddam Hussein và Muammar Gaddafi ở Trung Đông giàu có đã dành cho nhân dân Iraq và Libya những subsidy mà không người dân quốc gia Âu Mỹ nào dám mơ tưởng đến, đã không làm chùn bước nhà ái quốc Fidel Castro nghèo khó trong nỗ lực dành cho dân Cuba những subsidy nhất định. Đó là subsidy bắt buộc.

Bao cấp ở Việt Nam là subsidy bắt buộc, vốn chỉ xuất hiện trong và vì hoàn cảnh chiến tranh.

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, phải mang tên tiếng Anh khác để thế giới không hiểu nhầm rằng Việt Nam có bao cấp vì Việt Nam là siêu cường quốc kinh tế.

Bao cấp ở Việt Nam là absolute subsidy, hoặc overtight subsidy, hoặc struggling subsidy, hoặc nhóm từ nào không phải chỉ là chữ subsidy đầy uy thế uy lực uy quyền của thế giới dân túy chủ nghĩa.

2- Bao Cấp Quốc Gia Thời Chiến

Bao cấp ở Việt Nam, do đó, là bao cấp bắt buộc thời chiến.

Tuy nhiên, Bao Cấp ở Việt Nam mang nét riêng của máu.

a) Thực Tế Thế Giới Trong Lịch Sử Đệ Nhị Thế Chiến

Khi Đệ Nhị Thế Chiến chưa kết thúc, tình trạng bao cấp bắt buộc thời chiến đã xảy ra tại Đức, Nhật, Liên Xô, v.v., khi các Nhà Nước phải đối phó cùng lúc với việc vừa dồn nguồn lực cho chiến tranh vừa nuôi sống dân mình trong hoàn cảnh thiếu thốn lương thực, nhu yếu phẩm, và dịch vụ. “Tem phiếu” là hình thức sáng tạo của tất cả các nhà nước tham chiến thời ấy.

Tuy nhiên, khi Thế Chiến kết thúc, hình ảnh người dân Đức đẩy xe ba gác đầy ắp tiền để đi mua bánh mì với giá mỗi ổ bằng 5 ký tiền giấy đã không tồn tại đủ lâu như dấu hiệu chấm hết cho Nước Đức thời bao cấp; đơn giản vì Đức cùng các nước Tây Âu nhận ngay các gói hỗ trợ của Hoa Kỳ qua Kế Hoạch Marshall nhằm phục hưng Châu Âu, nhanh chóng tạo thế đối trọng đẩy lùi nguy cơ lấn lướt của chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô hùng mạnh.

Ở đầu kia của Trái Đất, Nước Nhật thời bao cấp hưởng lợi từ việc trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc trong Chiến Tranh Nam-Bắc Hàn, và tiếp nhận viện trợ khổng lồ từ Mỹ, thậm chí lớn hơn nhiều lần các khoản viện trợ Mỹ dành cho các nước Tây Âu trong Kế Hoạch Marshall, cũng để chặn ngăn hiểm họa cộng sản từ Liên Xô và Trung Quốc.

Nhờ vậy, Đức điêu tàn, Nhật điêu linh, đã nhờ có Mỹ điêu ngoa giúp sức để trở nên nhanh chóng hùng mạnh, phục vụ cho đại cuộc cùng nhau làm Liên Xô điêu đứng.

b) Thực Tế Việt Nam Trong Lịch Sử Thống Nhất

Việt Nam thì hoàn toàn khác.

Những tên tiến sĩ gốc Việt mất nết ở hải ngoại – trong đó có “giáo sư” Trần Văn Thọ – đã có những “công trình nghiên cứu” ngu xuẩn đầy ắp số liệu để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã chọn sai đường hướng phát triển kinh tế, rằng trong Thời Bao Cấp 1976-1986 Việt Nam:

– Xóa bỏ kinh tế tư nhân, loại bỏ tiểu thương

– Áp dụng nền kinh tế do Nhà Nước chỉ huy

– Hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do Nhà Nước nắm toàn quyền điều hành độc quyền

– Thủ tiêu việc mua bán trên thị trường, cấm vận chuyển tự do hàng hóa

– Áp dụng chế độ hộ khẩu để ấn định số lượng hàng hóa được phép mua

– Là thời tối tăm nhất trong lịch sử Việt Nam vì là một nước nông nghiệp nhưng thiếu ăn phải ăn bo bo trong thời gian dài

– Nguyên nhân chính là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, quá nóng vội áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam

Trần Văn Thọ và những tên tương cận dốt nát có bằng cấp “tiến sĩ” khả nghi đã lờ đi sự thật là trong cái khung thời gian 10 năm của Thời Bao Cấp 1976-1986 ấy, Việt Nam đã phải đối mặt với việc:

i- Campuchia đánh chiếm Phú Quốc ngay từ 1975, hành quyết hơn 500 dân trên Đảo Thổ Chu, xua 19 sư đoàn tấn công xâm lược toàn tuyến biên giới Tây Nam, tàn sát 30.000 người Việt Nam ở An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Kiên Giang từ 1975-1978; và khi Việt Nam đánh bại Campuchia, chiếm Phnom Penh thất thủ, truy sát Khmer Đỏ đến biên giới Thái Lan, giải phóng Campuchia khỏi nạn diệt chủng Khmer Đỏ, thì  Mỹ và Phương Tây ngay lập tức lên án Việt Nam xâm lược Campuchia và áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam, đồng thời lập ra Tổ Chức Cứu Trợ Khẩn Cấp Campuchia để Liên Hợp Quốc cùng Mỹ và Trung Quốc đổ tiền tài trợ giúp 40.000 tàn quân Khmer Đỏ tiến hành đánh phá, đặt nhiều triệu quả mìn khắp Campuchia, gây rối vùng biên giới, khiến Việt Nam phải tiếp tục chiến đấu cho đến tận năm 1989, hy sinh bao nhân lực, tài lực, nguồn lực, kể cả nguồn lực nông dân, nông nghiệp và nông thôn, cho đến sau cả khi Thời Bao Cấp 1976-1986 chấm dứt.

ii- Trung Quốc trước nguy cơ Campuchia thất bại, đã sốt ruột trực tiếp xâm lược, tấn công Việt Nam toàn tuyến biên giới phía Bắc ngày 17-02-1979 cho đến khi Việt Nam cho phép Trung Quốc rút quân ngày 16-3-1979 mang theo 62.500 binh sĩ thương vong (tuy nhiên, do Trung Quốc vừa rút quân vừa tranh thủ tàn sát dân Việt nên quân đội Việt Nam truy sát trừng phạt tàn phá các căn cứ hậu cần của Trung Quốc tại Ma Lật Pha, Bằng Tường, Ninh Minh, Hà Khẩu và Đông Hưng thuộc tỉnh Vân Nam giáp tỉnh Hà Giang Việt Nam). Vậy ngay trong Thời Bao Cấp, Việt Nam bị Trung Quốc đánh bồi, tàn phá một Miền Bắc vốn đã bị Mỹ tàn phá, phải căng lực lượng ra bảo vệ nhân dân ở cả hai chiến tuyến Bắc và Tây Nam.

iii- Hoa Kỳ: Trước sự đại bại của Trung Quốc không tiêu diệt được Việt Nam như thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay lập tức Hoa Kỳ, Anh, Úc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia vội lên tiếng vờ yêu cầu Trung Quốc rút quân ngay khỏi Việt Nam để cứu gỡ thể diện rằng Trung Quốc không bị Việt Nam đánh bại, vừa vội lên tiếng đòi Việt Nam rút quân ngay khỏi Campuchia để cứu Khmer Đỏ khỏi bị tiêu diệt – nghĩa là Việt Nam bị tấn công bủa vây bởi Âu Mỹ cùng Trung Quốc và đối tượng mà cả Âu Mỹ và Trung Quốc ủng hộ là Campuchia.

iv- Cuba: Trước sự xâm lược của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam, chỉ có Cuba tuyên bố đe dọa đưa quân đội đến bảo vệ Việt Nam nếu Trung Quốc không rút quân ngay và vô điều kiện khỏi Việt Nam – nghĩa là Việt Nam chỉ được một nước nhỏ bé là Cuba của Fidel Castro dám to tiếng với Trung Quốc để bảo vệ Việt Nam;

Như vậy, ngay sau chiến tranh thống nhất đất nước, Việt Nam lập tức lâm vào cuộc chiến tranh với Campuchia qua suốt Thời Bao Cấp, bị trầm trọng hóa thêm bởi sự xâm lược của Trung Quốc tàn phá Miền Bắc, với sự giúp sức của Hoa Kỳ nhằm tiêu diệt Việt Nam bằng lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam áp dụng toàn cầu;

v- Cộng với sự thật là

– Những năm cuối cuộc chiến tranh, Việt Nam Cộng Hòa không còn nền nông nghiệp và hoàn toàn không có hệ thống phân phối nông sản chủ lực từ Miền Tây Nam Bộ về Sài Gòn (dân Sài Gòn sống bằng gạo Mỹ nhập khẩu từ Thái Lan), cũng như hoàn toàn không tồn tại hệ thống phân phối lương thực từ các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên Chính Quyền Cách Mạng đã không tiếp quản gì gọi là nền móng nông nghiệp và hệ thống phân phối nông sản ở Miền Nam;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa ngoài việc do không có chính nghĩa chính trị, không có tài năng quân sự, mà còn không trên nền kinh tế thực vì sống nhờ vào tiền viện trợ nước ngoài, hoàn toàn không có nền công nghiệp nặng – trừ nhà máy xi măng Hà Tiên – hay nền sản xuất lớn nội địa;

– Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến việc dân chúng từ Miền Trung trở vào bỏ chạy khỏi địa phương hoặc bỏ chạy ra nước ngoài, tự động xóa sổ những cơ sở con người/tay nghề/tài chính/hệ thống bạn hàng và khách hàng/thị trường của các thành phần kinh tế tư nhân hay tiểu thương dù nhỏ lẻ ở tất cả các địa phương, chứ không phải Chính Phủ Cách Mạng ra tay xóa bỏ kinh tế tư nhân Miền Nam và xuống tay tiêu diệt tiểu thương Miền Nam;

– Ngay cả Chính Quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng phải thường xuyên ra tay trừng trị các thương gia – nhất là Hoa Kiều Chợ Lớn – đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường Việt Nam Cộng Hòa, cho thấy đã không hề có nền tảng đạo đức bất kỳ trong kinh doanh nơi thương nhân Miền Nam, nên Chính Quyền Cách Mạng dứt khoát phải ngăn chặn việc mua bán tự do hàng hóa trên thị trường, vừa bảo đảm lộ trình giáo dục thương nhân, vừa bảo đảm lộ trình luật hóa các quan hệ thị trường, vừa bảo đảm công bằng trong lưu thông phân phối để lượng hàng dù không còn và không thể dồi dào vẫn được đưa đủ về nuôi sống dân cư thành thị mà cơ chế tem phiếu cùng hộ khẩu chính là để bảo đảm cả sự công bằng cùng sự sinh tồn của nhiều chục triệu thị dân;

– Với cả triệu người trong độ tuổi lao động có của cải và kinh nghiệm canh tác từ các tỉnh duyên hải và đồng bằng bỏ chạy ra nước ngoài; với Miền Bắc đã bị bom Mỹ phá hoại ruộng đồng, tàn phá hệ thống tưới tiêu, sát hại nhà nông; với Miền Nam không phát triển nông nghiệp, dồn nông dân vào quân đội hoặc Ấp Chiến Lược; Chính Phủ Cách Mạng phải cùng lúc quản lý đất ruộng còn chủ nhưng không còn lao động, đất ruộng vô chủ bỏ hoang, tổ chức tái sản xuất lương thực, tập trung lương thực phân phối nuôi sống nhiều triệu thị dân ở các tỉnh thành, và việc trồng lúa cao sản – tức bo bo – cho ra lương thực nhanh hơn, nhiều hơn, là một kỳ công của chính quyền cách mạng trong nuôi sống toàn dân, mà chỉ có những tên tiến sĩ vô học như Trần Văn Thọ mới nói Thời Bao Cấp ăn bo bo là thời kỳ tối tăm nhất trong lịch sử đất nước Việt Nam nông nghiệp do Chính Quyền gây nên;

– Cuối cùng, Việt Nam Cộng Hòa chẳng hề có mô hình phát triển kinh tế nào để gọi là thành công để làm bài học cho Chính Quyền Cách Mạng noi theo; những tên tiến sĩ quèn như Trần Văn Thọ bất tài vô dụng chưa hề vấn kế cho Chính Quyền Cách Mạng nên tham khảo chính sách nào, chiến lược phát triển gì, mà nhan nhãn bọn tư bản Mỹ-Anh-Úc-Thái-Phi-Sing-Mã vân vân xúm lại vừa cấm vận vừa ủng hộ Trung Quốc tàn sát dân Việt, thì không áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Miền Nam thì áp dụng mô hình nào, hay là áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa trong vòng vây cấm vận kiệt quệ bị tịch thu toàn bộ các đồng USD nào Việt Nam dám lưu thông thanh toán với thế giới?

C) Giá Trị Quản Lý Chiến Lược Dân Túy Quốc Gia Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Những sự thật số i, ii, iii, iv, và v trên chứng minh Thời Bao Cấp của Việt Nam chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại.

Nếu như chủ nghĩa dân túy là một hào quang thời thượng của các chính khách toàn cầu hiện nay, thì Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp đã là tấm gương sáng nhất trong quản lý chiến lược dân túy quốc gia khi tiếp quản một lãnh thổ rộng lớn có nền sản xuất lương thực nuôi-thân-ở-chốn-đồng-ruộng tức bằng không, có nền sản xuất công nghiệp xà bông Cô Ba -nước mắm-nước tương tức bằng không, có nguồn nhân lực hao hụt, có nguồn nhân lực phân tán vắng đồng tâm thiếu đồng thuận, có sự đánh phá bằng quân sự và bủa vây kinh tế của kẻ thù, có sự mất đi sự giúp đỡ hào phóng của bạn hữu, và chỉ nhận được sự tư vấn vĩ mô của cựu Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh để đất nước đi lên từ Thời Bao Cấp ngoài vô số sự “đóng góp” toàn những dè bỉu chê bai từ bọn tiến sĩ như Trần Văn Thọ, mà vẫn biến lạm phát ba-chữ-số còn một-chữ-số, biến Thời Bao Cấp thành một bệ phóng giản đơn cho người dân tồn tại được, đứng được, và tì lên bước tới được.

D) Giá Trị Quản Lý Kinh Thương Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Với tài sản (nhân lực, kiến thức, kinh nghiệm, vật chất hữu hình, kho lẫm, v.v.) gần bằng không, Chính Quyền Cách Mạng Việt Nam đã tổ chức một hệ thống lưu thông phân phối hữu hiệu khổng lồ gây ngạc nhiên cho tất cả những nhà đại tư bản tầm cỡ Donald Trump. Quản lý một số dân gia tăng đột biến lên gấp nhiều lần trên một đất nước trãi dài thêm gấp bội, trong điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông bị tàn phá, lòng dân phân tán, thể chế chưa định, kẻ thù gia tăng, cơ may triệt tuyệt, sự tồn vong không rõ, vậy mà Chính Phủ Việt Nam đã không để xảy ra nạn đói, không để mất thêm lãnh thổ về tay quân thù, không để các thứ mang màu sắc dân túy như y tế miễn phí và giáo dục miễn phí không sớm được thực hiện.

Một khi nguồn lực kinh tế tư nhân và tiểu thương tự động biến mất theo dòng người vượt biển, nghĩa là Chính Phủ phải làm công việc của “tiểu thương”, thì Chính Phủ đã làm công việc sản xuất-mua-bán ấy một cách thành công, tạo nền tảng cho sự phát huy kinh nghiệm sau này tự tin tiến ra biển lớn với sân chơi lớn của các hiệp định thương mại song phương, đa phương, khu vực, và toàn cầu.

E) Giá Trị Quản Lý Nhân Lực Quốc Gia Thời Bao Cấp Việt Nam

Quản lý kinh-thương-lưu thông-phân phối trên quy mô quốc gia thành công trong Thời Bao Cấp, đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực quốc gia đã được quản lý hiệu quả trong Thời Bao Cấp. Nổi bật là giá trị của công tác giáo dục lý tưởng và động viên tác động lên thi đua một cách hướng thượng. Điểm son chói lọi của Thời Bao Cấp chính là: sự nghiệt ngã, nghèo khó cùng cực, khói lửa chiến tranh biên giới của hiện tại, sự mờ mịt của tương lai, đã không làm suy sụp con người Việt Nam, đã không làm người Việt Nam buông xuôi, đã không làm người Việt Nam không tiếp tục dựng xây đất nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mạnh hơn Thời Bao Cấp. Đó là sự thành công tuyệt diệu trong quản lý nhân lực quốc gia của Chính Phủ Việt Nam Thời Bao Cấp.

F) Giá Trị Học Thuật Toàn Cầu Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Xử lý khủng hoảng trên bình diện quốc gia là một khả năng thiên phú của các vĩ nhân, chứ không bao giờ là năng lực có được từ trường lớp hay qua thực tập thực hành thực tế bất kỳ.

Thời Bao Cấp của Việt Nam, do đó, là một thiên anh hùng ca mang tính chủ đề nghiên cứu thực tế hàn lâm của bộ môn quản trị chiến lược và quản lý lưu thông-phân phối trên quy mô toàn quốc của xử-lý-khủng-hoảng-toàn-diện-kéo-dài, một đề tài nghiên cứu tuyệt diệu cho bất kỳ một luận án tiến sĩ nào của ngành quản trị.

G) Giá Trị Đạo Đức Của Thời Bao Cấp Việt Nam

Các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên hòa tan vào giai đoạn đầu của nước Đức và nước Nhật ngay sau kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến: hạ tầng bị tàn phá, thượng tầng sụp đổ, hậu quả chiến tranh quá khủng khiếp, tài lực triệt tiêu, nhân lực phân tán, chiến lược bằng không. Thời Bao Cấp của các quốc gia này, do đó, có thể giống nhau, và Việt Nam chẳng có gì để tự hào về cơ sở vật chất bày ra chào đón cái Thời Bao Cấp ấy.

Nhưng các nội dung trên về Thời Bao Cấp Việt Nam đương nhiên bừng sáng nổi bật riêng biệt ngay sau giai đoạn đầu kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến ấy vì thiên hạ bước từ thời chiến tranh sang thời hậu chiến đầy ắp viện trợ tái thiết hậu chiến; còn Việt Nam bước từ thời chiến tranh sang thời chiến tranh khác với cả chiến tranh quân sự, chiến tranh phá hoại, và chiến tranh cấm vận kinh tế để Việt Nam phải bị tàn diệt, tận diệt, tiêu diệt, hủy diệt.

Thời Bao Cấp Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đạo đức rằng dân tộc luôn là trên hết, rằng chính nghĩa có thể nuôi sống toàn dân, rằng ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh nguy biến đặc thù để cứu nước cứu dân chính là đạo đức cao nhất của người lãnh đạo.

H) Kết Luận: Lời Tri Ân Dành Cho Thời Bao Cấp

Những phôi thai được tạo nên từ sự phối hợp thương yêu của mẹ và cha, phải co quắp trong chật chội, được vươn vai lớn mạnh thành công nhờ sự chăm sóc chăm nom từng li từng tí của mẹ và cha. Không ai muốn chui trở lại vào dạ con của mẹ. Nhưng bất kỳ ai là con người cũng luôn nhớ đến ơn cha và mẹ đã cưu mang cho mình được sống.

Những kế sách đã được manh nha từ sự hết lòng vì nước vì dân của những nhà lãnh đạo Thời Bao Cấp, để sau thời gian co quắp trong chật chội ấy, nền kinh tế nước nhà vươn vai lớn mạnh thành công.

Công trạng của Thời Bao Cấp đến từ các lãnh đạo cách mạng giải phóng, từ những nhân lực chung tay thực hiện đại cuộc sinh tồn cho toàn dân Thời Bao Cấp, và từ những người dân kiên trì chịu đựng nghèo khó thiếu thốn kiên nhẫn đợi chờ ngày đất nước đi lên ngay sau Thời Bao Cấp ấy.

Sẽ là điều hợp đạo nghĩa nếu những ai sinh ra và/hoặc lớn lên sau Thời Bao Cấp biết tỏ lời tri ân đến những nhà hoạch định chính sách sinh tồn, những người đưa chính sách ấy vào cuộc sống của người dân, và những người dân đã âm thầm sinh tồn cùng dân tộc trong hoàn cảnh họa diệt vong ngàn cân treo sợi tóc của Thời Bao Cấp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bậc Vĩ Nhân Đã Đấm Vào Mặt Hoa Kỳ Ngay Tại Liên Hợp Quốc

Tiến Sĩ Fidel Castro: Chất Thử Của Bất Tài Và Bần Tiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-11-2016

fidel2fidel1

A- Vấn Nạn Truyền Thông

Fidel Alejandro Castro Ruz là nạn nhân của vấn nạn truyền thông.

Báo chí Âu Mỹ luôn miêu tả một chiều về ông như một “nhà độc tài”. Danh từ “nhà độc tài” là thứ ngôn từ thuộc độc quyền sở hữu của truyền thông Âu Mỹ.

1) Ý Nghĩa Thứ Nhất Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những…“nhà độc tài” mà thiên hạ trên thế giới đã tự động gọi sẵn như thế trước đó, chẳng hạn “nhà độc tài” Adolf Hitler của Đức Quốc Xã, “nhà độc tài” Benito Mussolini của Phát xít Ý, hay “nhà độc tài” Francisco Franco của Tây Ban Nha, và “nhà độc tài” Fulgencio Batista của Cuba mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này chỉ gói gọn trong một từ duy nhất: tàn bạo.

2) Ý Nghĩa Thứ Hai Của “Nhà Độc Tài”: Truyền thông Âu Mỹ dùng chữ “nhà độc tài” để gọi những nhà lãnh đạo nào không thuộc khối “Thế Giới Tự Do”, từ đó có các “nhà độc tài” mà sự nỗi bật duy nhất của các vị này là … không theo thể chế dân chủ Âu Mỹ và chẳng tôn trọng tư tưởng Âu Mỹ dành cho nhân quyền. Thế là các lãnh đạo các quốc gia “phe” cộng sản bị gọi là “nhà độc tài”. Còn các “nhà độc tài” chính hiệu, hàng hiệu, có cầu chứng tại tòa thương mại thương hiệu thương quyền quốc tế đàng hoàng, có tàn bạo khát máu y như các đấng của Ý Nghĩa Thứ Nhất, nhưng thuộc phe Thế Giới Tự Do thì truyền thông tẩy xóa mất tiêu mất biệt mất tích cái cụm từ “nhà độc tài”, thí dụ như Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, Park Chung Hee của Đại Hàn Dân Quốc, Suharto của Indonesia, Lý Quang Diệu của Singapore, và Ferdinand Marcos của Philippines, cùng các vị khác ở Trung Đông, v.v. Oái oăm ở chỗ truyền thông gọi Fulgencio Batista của Cuba là “nhà độc tài” trong Ý Nghĩa Thứ Nhất nhưng khi Fidel Castro đánh đuổi Fulgencio Batista ra khỏi Cuba thì truyền thông lập tức gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” theo Ý Nghĩa Thứ Hai, khiến kẻ đem Cuba làm tôi mọi cho Mỹ và người giải phóng Cuba khỏi sự tôi mọi ấy đều là “nhà độc tài” cả.

Dần dà, thấy đàn em trong giới truyền thông tiểu quốc lạm dụng chữ “độc tài” để gọi lung tung, thí dụ như Cu Kiều gọi cá nhân Tiến Sĩ Fidel Castro là “nhà độc tài” (dictator), còn Việt Kiều thì gọi cả đất nước Việt Nam là “độc tài Đảng trị” khiến truyền thông Âu Mỹ khó chịu khó ăn khó nói với Việt Nam là xứ sở mà họ rất kiêng sợ kiêng dè kiêng kỵ nên họ – mà cụ thể như tờ Telegraph của Anh Quốc – gọi Fidel Castro là “tên bạo chúa” (tyrant), với hy vọng Cu Kiều sẽ gọi y như vậy, còn Việt Kiều có khi sẽ chế ra từ mới chẳng hạn như “bạo chúa Đảng” chăng.

3) Vấn Nạn: Như vậy, ở Việt Nam các sĩ phu “nhà giáo Hán-nho” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương nên chỉ thèm đi du học (Phong trào Đông Du), không thèm đi lao động lao lung lao nhọc lao khổ làm thợ thuyền “tìm đường cứu nước”, ra mặt oán giận Ông Hồ khi thấy Ông Hồ cũng là Sĩ “nhà giáo Hán-nho” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông. Đến khi mấy ông không thuộc Sĩ-Nông-Công-Thương mà là quân nhân như tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu độc tài độc quyền nắm quyền trị quốc thì mấy Sĩ nhà ta ở Việt Nam Cộng Hòa mới hoặc nín thinh hoặc hình thành các nhóm “nhân sĩ dân biểu đối lập” chống Nguyễn Văn Thiệu, thậm chí chống luôn cả Mỹ vì oán giận Mỹ không xem trọng Sĩ.

Như vậy, ở Âu Mỹ các sĩ phu “luật sư” cho rằng chỉ có mình mới xứng làm lãnh đạo quốc gia, khinh thường Nông-Công-Thương và các Sĩ khác, nên ra mặt oán giận Ông Castro khi thấy Ông Castro là Sĩ  “luật sư” mà hạ mình tin tưởng Công-Nông.

Hậu quả là truyền thông Âu Mỹ của tự do dân chủ nhân quyền văn minh đã luôn dùng các từ ngữ miệt thị dành cho Fidel Castro.

Còn truyền thông Việt thì lúc Fidel Castro về cõi vĩnh hằng tải đăng rất nhiều bài về những gì tốt đẹp mà Fidel Castro đã dành cho Việt Nam. Tuy nhiên, tầm vóc kỳ vĩ của con người vĩ đại ấy đối với toàn nhân loại trên bình diện thế giới sử, uy thế, uy tín, uy lực, và thần uy, lại chưa hề được nói đến, trở thành lý do cho bài nghiên cứu này về ông được hình thành.

B- Quả Đấm Của Tiến Sĩ Fidel Castro

fidel3

Trong phiên họp ngày 26-9-1960 tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc, Fidel Castro đã lập kỷ lục với bài phát biểu ứng khẩu dài nhất lịch sử Liên Hợp Quốc: 4 giờ 29 phút không ngưng nghỉ, được đánh giá như một bản anh hùng ca.

Fidel Castro nói về cuộc cách mạng ông tiến hành cách đó 20 tháng đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Cuba là một thuộc địa của Mỹ nhưng Mỹ vẫn cho mình cái quyền thúc đẩy và thúc giục sự lật đỗ chính quyền cách mạng của Cuba. Castro cũng phản đối việc ông và đoàn đại biểu Cuba bị gây khó khăn, bị phân biệt đối xử và bị miệt thị tại New York kể cả bị đuổi ra khỏi tất cả các khách sạn không được cho thuê cư trú khi đến Mỹ họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc.

Đặc biệt, Fidel Castro tuyên bố rằng quan hệ của Cuba với Liên Xô là đúng đắn và là quyền tự do của Cuba, rằng chính phủ “đế quốc” Mỹ có thể sẽ xâm lược Cuba, và rằng Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy là “một thằng triệu phú thất học và đại ngu” (“an illiterate and ignorant millionaire”).

Fidel Castro đã không chống Mỹ bằng những bài báo, những tiểu luận, những tác phẩm hay truyền đơn.

Fidel Castro đã sử dụng diễn đàn chính thức của Liên Hợp Quốc trên đất Mỹ để vung nắm đấm vào mặt chủ nghĩa đế quốc Mỹ, vạch trần bộ mặt thật Mỹ, xưng tụng vai trò của Liên Xô, khẳng định chủ quyền cương thổ quốc gia Cuba, và cảnh báo với thế giới về nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

fidel4

Tiến Sĩ Fidel Castro đã đường đường chính chính vào tận hang ổ của chủ nghĩa đế quốc Mỹ với tư cách lãnh đạo tối cao của Cuba, quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc từ ngày 24-10-1945, và đã trong nhiều lần đến dự họp với Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đều sử dụng diễn đàn này để ra sức hùng biện miệt thị Hoa Kỳ suốt nửa thế kỷ qua.

Tiến Sĩ Fidel Castro cùng với Cuba đã chứng minh hai điều rõ ràng rằng (a) Mỹ đã thất bại trước Cuba trong hơn 50 năm, và (b) trong khi Cuba là quốc gia có chủ quyền thành viên Liên Hợp Quốc từ năm 1945 thì cũng từ năm 1945 đến tận ngày nay Mỹ vẫn không hề dám công nhận ngoại giao chính thức với Đài Loan mà Mỹ xem như đồng minh của mình khiến Đài Loan vẫn không thể nào trở thành quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc. Dùng sức mạnh “lấy thịt đè người” để công khai chống lại một quốc gia bé nhỏ như Cuba suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Liên Xô – Nga, nhưng lại hèn hạ lén lút bắt tay với một “lãnh thổ” bé nhỏ như Đài Loan suốt hơn nửa thế kỷ nay để chống lại Trung Quốc mà Mỹ khiếp sợ: đó là tư cách của nước lớn Hoa Kỳ mà chỉ có Tiến Sĩ Fidel Castro mới là người duy nhất trên thế gian này kiên trì giáng bao nắm đấm dồn dập vào mặt Mỹ.

C- Lời Tiên Tri Của Tiến Sĩ Fidel Castro

Có thể người Việt Nam khi nói về sự việc không bao giờ xảy ra thường dùng thành ngữ “khi nào Mặt trời mọc ở Hướng Tây thì…”

Nhưng khi Fidel Castro từng tuyên bố năm 1973 rằng

fidel5

thì tuyên bố ấy lại không là sự ví von cho điều bất khả mà mang tính tiên tri với sự ứng nghiệm: Hoa Kỳ có Barack Obama là Tổng Thống người gốc Phi vào thời điểm cuối nhiệm kỳ đã có những bước tháo gỡ một số lịnh cấm vận chống Cuba và sang thăm Cuba tháng 3 năm 2016, đòng thời cũng trong năm 2016 này Đức Giáo Hoàng Francis là người nước Nam Mỹ Argentina đã sang thăm Cuba vào tháng 9

fidel6

Trong khi đó thì đối thủ đầu tiên và trực tiếp của Fidel Castro là Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy chỉ để lại một lời tuyên bố rằng

fidel7

cho dù tuyên bố ấy bị truyền thông Mỹ vội vàng dán nhãn phủ nhận tính xác thực với kiểu gán cho đó là một “thuyết âm mưu” bằng một lý luận rất trẻ con rằng nếu đó đích thị là lời Tổng Thống nói thì tại sao không báo nào của Mỹ dám đăng tin xác nhận sau đó cả. Việc duy nhất mà J.F. Kennedy đã làm để giúp đỡ người nông dân nghèo khổ Cuba là ra lịnh cho quan chức thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc ngay lập tức nhập khẩu cho ông 1.200 điếu xì-gà Cuba và khi hàng về đến nơi thì phải báo ông hay tin để ông ngay lập tức chìa ra lệnh cấm vận Cuba đã ký sẵn tháng 02-1962 với lý do nêu sẵn: Cuba đã không chịu chuyển dịch nền dân chủ và không cải thiện tình hình nhân quyền. Việc cấm vận Cuba khiến nước Mỹ thiệt hại mỗi năm gần 5 tỷ USD và người dân Mỹ mất 6.000 việc làm, mà tính đến 2013 thì Liên Hợp Quốc đã 22 năm liên tục ra Nghị quyết chống lại lịnh cấm vận Cuba của Mỹ mà cũng ngần ấy năm chỉ có hai nước chống lại nghị quyết ấy là Mỹ và Israel.

Lời phát biểu của Fidel Castro năm 26-9-1960 tại Liên Hợp Quốc về cuộc xâm lăng Cuba có thể có từ Mỹ, đã dẫn đến một sự thật là ngày 17-4-1961 Mỹ đã dùng các chiến hạm đưa 1.200 Cu Kiều lưu vong do Mỹ huấn luyện và trang bị vũ khí tận răng ào ạt đổ bộ vào Vịnh Con Lợn của Cuba. Tuy nhiên, “đại cuộc vùng lên của nhân dân Cuba hưởng ứng đoàn quân giải phóng lật đổ chế độ của tên độc tài khát máu Fidel Castro” đã không hề xảy ra như Mỹ mong đợi, quân đội ít quân số của Cuba đã phản công thần tốc loại hơn 100 quân giặc ra khỏi vòng chiến đấu và bắt cầm tù trên 1.000 tên, còn không quân bé nhỏ với vài ba chiến đấu cơ cổ-lổ-xỉ của Cuba tấn công đánh đắm tất cả các tàu hậu cần của quân xâm lược khiến ngay cả cái trò Con Heo đó cũng làm không nên cơm nên cháo gì sất. Và để được cho phép gởi các phi cơ dân sự DC6 bay sang Cuba nhận lại hơn 1.000 tù hàng binh Cu Kiều về Mỹ kịp đón Giáng Sinh 1962, Mỹ đã phải chấp nhận chuyển giao trước cho Cuba số lương thực chất lượng cao và thuốc men đặc hiệu trị giá 53 triệu USD.

Lời tiên tri của Fidel Castro đã đúng: 55 năm Mỹ cấm vận Cuba vẫn không làm Cuba sụp đổ.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ chỉ nhận được mỗi sự đồng tình của Israel đối với lịnh cấm vận ấy.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ buộc phải xét dến các bước bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cuba.

55 năm cấm vận Cuba, Mỹ đã phải tìm đến Cuba với một Cuba như vốn là chứ không phải một Cuba lẽ ra phải là.

D- Phong Cách Đại Chủ Nhân Thế Giới

Nếu chỉ tính từ thời điểm Tổng Thống Mỹ J.F. Kennedy ký ban hành lịnh cấm vận Cuba cho đến tháng 11-2016 thì Fidel Castro đã ngạo nghễ sinh tồn vượt qua 638 cuộc ám sát “chính thức” của CIA Mỹ, ngắm nhìn thế sự bão tố xoay vần đổ ập lên đầu 96 vị nguyên thủ các cường quốc thân Mỹ – mà trong số các vị này nhiều người tái đắc cử từ 2 đến 5 nhiệm kỳ liên tiếp hoặc không liên tiếp – gồm 10 Tổng Thống Mỹ (John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Jimmy Carter, Ronald Reagan, George H.W. Bush, Bill Clinton, George W. Bush, và Barack Obama), 11 Thủ Tướng Anh (Harold Macmillan, Sir Alec Douglas-Home, Harold Wilson, Edward Heath, James Callaghan, Margaret Thatcher, John Major, Tony Blair, Gordon Brown, David Cameron, và Theresa May), 8 Thủ Tướng Đức (Konrad Adenauer, Ludwig Erhard, Kurt Georg Kiesinger, Willy Brandt, Helmut Schmidt, Helmut Kohl, Gerhard Schröder, và Angela Merkel), 9 Tổng Thống Pháp (Charles de Gaulle, Alain Poher, Georges Pompidou, Alain Poher, Valéry Giscard d’Estaing, François Mitterrand, Jacques Chirac, Nicolas Sarkozy, và François Hollande), 23 Thủ Tướng Ý (Fernando Tambroni, Fanfani, Giovanni Leone, Aldo Moro, Giovanni Leone, Mariano Rumor, Emilio Colombo, Giolio Andreotti, Francesco Cossiga, Amaldo Forrlani, Giovanni Spadolini, Giovanni Goria, Ciriaco De Mita, Giuliano Amato, Carlo Azeglio Ciampi, Silvio Berlusconi, Lamberto Dini, Romano Prodi, Massimo D’Alema, Giuliano Amato, Mario Monti, Enrico Letta, và Matteo Renzí), 11 Thủ Tướng Tây Ban Nha (Francisco Franco, Luis Carrero Blanco, Torcuato Fernández-Miranda, Carlos Arias Navarro, Fernando de Santiago, Adolfo Suárez, Leopoldo Calvo-Sotelo, Felipe González, José Maria Aznar, José Luis Rodriguez Zapatero, và Mariano Rajoy), 13 Thủ Tướng Israel (David Ben-Gurion, Levi Eshkol, Yigal Allon, Golda Meir, Yitzhak Rabin, Menachem Begin, Yitzhak Shamir, Shinon Peres, Yitzhak Shamir, Benjamin Netanyahu, Ehud Barak, Ariel Sharon, và Ehud Olmert), và 11 Thủ Tướng Canada (John G. Diefenbaker, Lester B. Pearson, Pierre Elliott Trudeau, Charles Joseph Clark, John Turner, Brian Mulroney, Kim Campbell, Jean Chrétien, Paul Martin, Stephen Harper, và Justin Trudeau).

Trừ Israel là quốc gia hèn hạ do là quốc gia duy nhất luôn bỏ phiếu tại Liên Hợp Quốc ủng hộ Mỹ duy trì cấm vận chống Cuba, các cường quốc Âu Mỹ khác dù nắm binh quyền trong khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO dưới ngọn cờ thống soái của Hoa Kỳ vẫn luôn bày tỏ sự tôn kính và thân tình với cá nhân lãnh tụ Fidel Castro, trong đó có Hoàng Đế Tây Ban Nha Juan Carlos, Thủ Tướng Tây Ban Nha Felipe González, các Tổng Thống Pháp François Mitterrand và François Hollande, v.v. và v.v.

Trong nhiều lần phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc ở Hoa Kỳ, Fidel Castro luôn là nhà hùng biện kiệt xuất mà các ứng khẩu nảy lửa hùng hồn dài nhiều giờ của ông đã trở thành một thương hiệu nỗi bật và quen thuộc của riêng ông. Tuy nhiên, tại Kỳ họp Thượng Đỉnh Thiên Niên Kỷ ở Liên Hợp Quốc, khi đăng đàn phát biểu ngày 06-9-2000, Fidel Castro đã để lại một ấn tượng khác cũng rất bất ngờ. Để ngăn chặn việc Fidel Castro có thể tái chiếm lĩnh khống chế diễn đàn, Liên Hợp Quốc quy định mỗi nguyên thủ quốc gia sẽ chỉ có 5 phút phát biểu và dàn đèn xanh-vàng-đỏ trên mặt bục phát biểu sẽ chớp đèn báo hiệu thời gian – tất nhiên đèn vàng là báo tin sắp hết thời gian và đèn đỏ nghĩa là micro đã bị ngắt điện. Vị nguyên thủ 74 tuổi của Cuba đã điềm nhiên tung một khăn tay trắng dày to bản phủ trùm lên dàn đèn khiến toàn hội trường bật cười ầm lên thú vị. Fidel Castro bắt đầu vung nắm đấm tuyên bố kết tội các nước giàu đã mỗi ngày kiếm chác hàng tỷ USD trên xương máu của các nước nghèo, và kết luận: “Sự hỗn loạn ngự trị thế giới của chúng ta. Những thứ luật pháp mù lòa cứ như thể đó là điều thiêng liêng khả dĩ sẽ đem đến những thứ thái bình, trật tự, thịnh vượng và an ninh mà hành tinh của chúng ta xiết bao cần có vậy”. Fidel Castro kết thúc bài phát biểu ứng khẩu hùng biện của mình, thu lại chiếc khăn tay, để lộ ra dàn đèn đang nhấp nháy ánh đèn vàng, rồi nghiêm nghị đường bệ rời bục diễn giả trong tiếng cười vang ngưỡng mộ và vỗ tay tán thưởng vang dội của các nguyên thủ thế giới trước tài hùng biện, sự lém lỉnh khôi hài, cung cách chủ nhân diễn đàn, và độ chính xác độc đáo về thời gian của Fidel Castro gói gọn trong 300 giây ấy, ở nơi hội trường rộng lớn mà các nhà báo ghi nhận rằng vốn lúc nào cũng yên ắng đầy ngáy ngủ trong tất cả các phiên họp đông người.

 fidel8

E- Chất Thử Của Bất Tài & Bần Tiện

fidel9

Dựa vào phân tích đã nêu ở đầu bài, có thể nói không bao giờ có thứ truyền thông chính thống nào ra hồn trên toàn thế giới, (a) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc Âu Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, (b) vì rằng truyền thông chính thống các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ láu cá tập trung công kích các chính phủ không-phải-chính-phủ-nước-mình, và (c) vì rằng truyền thông chính thống các nước còn lại hoàn toàn là thứ vất sọt rác do chỉ ngu xuẩn tập trung vừa công kích chính phủ nước mình vừa giúp tái rao truyền các sứ điệp của truyền thông chính thống và phi chính thống hay bất chính thống hoặc vô chính thống của các cường quốc ý-thức-hệ-giống-Mỹ và các cường quốc ý-thức-hệ-khác-Mỹ. Tất cả dẫn đến một thực tế là: người khôn ngoan trí hóa cao không bao giờ tin tưởng vào bất kỳ thông tin nào của bất kỳ cơ quan truyền thông chính thống nào của nước mình hay nước khác, ngay cả nếu các cơ quan ấy có loan báo rằng Tổng Thống Mỹ là người có quốc tịch Mỹ.

Đối với con người được 52 nước trao tặng tổng cộng 79 huân chương và huy chương  như Fidel Castro, thi chỉ cần đọc xem cơ quan truyền thông chính thống nói gì về ông là đủ để nhận ra ngay nó có đặc tính BT4 tức bất tài-bần tiện-bạo tàn-bại thất hay không, vì rằng chỉ có quân rác rưởi bất tài vô hạnh mới xúc xiểm bậc đạo cao đức trọng như Fidel Castro.

Khi Fidel Castro qua đời, bọn Cu Kiều ở Miami hân hoan nhảy múa vui mừng rộn rịp

fidel10

mà hành động của bọn chúng chỉ giúp nhân loại nhìn rõ hơn về ba sự cố sau có liên quan đến sự điên cuồng, bạo tàn, và thất bại của bọn Cu Kiều lưu vong:

1)  Cubana 455

Theo nhà báo Tim Padgett của tạp chí Time thì bọn cực đoan Cu Kiều ở Miami là thuộc phe chế độ độc tài tàn bạo Batista do Mỹ hậu thuẫn nhưng đã bị Fidel Castro đánh bại, biến thành bọn điên cuồng chống lại Fidel (anti-Castro fanaticism) tích cực hưởng ứng các âm mưu sát hại các lãnh đạo Cuba, thần thánh hóa các tàn bạo của Batista cùng đám lưu vong, thậm chí điên cuồng đăng tin reo hò mừng rỡ trên báo chí Miami khi bọn khủng bố đã cho nổ bom thành công phi cơ dân sự Cuba số 455 ngày 06-10-1976 giết chết toàn bộ 73 hành khách và phi hành đoàn 5 người, khoe rằng đó là đòn giáng nặng nề quý giá vào mặt Fidel Castro. Trong số tử nạn có 24 vận động viên thiếu niên Olympic 1975 của Cuba đang hân hoan kiêu hãnh đeo sẵn các huy chương vàng để chờ đợi phút giây về đến Cuba trong cuộc đón tiếp đầy vinh diệu tại phi trường với sự có mặt của Chủ tịch Fidel Castro đang trông ngóng đợi chờ. Bản tin chính thống Mỹ-Ca cho biết máu của họ đã loang đến tận bờ biển Canada. Hai quả bom từ chất nổ C4 được chế tạo bỡi tên Cu Kiều Luis Posada Carilles do Mỹ bảo trợ và bảo vệ tại Miami, Bang Florida. Việc chúng khui champagne ăn mừng tại Miami khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

2) Rubio-Cruz

Các tên Cu Kiều ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ 2016 thất bại Marco Rubio (Thượng Nghị Sĩ Bang Florida) và Ted Cruz (Thượng Nghị Sĩ Bang Texas) đều lên tiếng nguyền rủa Fidel Castro khi nghe tin ông qua đời. Chúng nhanh nhảu tuyên bố sẽ bắt tay với Tổng Thống Đắc Cử Donald Trump để tư vấn cho ông này các biện pháp thích hợp để trừng phạt Cuba, lật ngược thế cờ của Barack Obama. Việc chúng hớn hở vừa ăn uống nhồm nhoàm vừa trả lời phỏng vấn khi nghe tin Fidel Castro qua đời là phản ứng tự nhiên của bọn bất tài bần tiện bạo tàn bại thất. Đây cũng là lý do Nước Mỹ Bất Hạnh và Nước Mỹ Vỡ Vụn.

3) Elian Gonzales

 fidel10a

Sự bất tài bần tiện bạo tàn của bọn Cu Kiều lưu vong còn được nhắc đến đối với Sự Cố Elian Gonzales. Mẹ của bé 6 tuổi Elian Gonzales là Elizabeth Brotons Rodriguez đã bồng con lên tàu cùng tình nhân và 12 người khác vượt biển sang Mỹ. Xuồng máy bị đắm do bão tố ngày 21-11-1999 và các ngư dân Mỹ chỉ cứu được Elian cùng hai người khác. Elian được giao cho thân nhân của mẹ đang sống tại Miami. Cộng đồng Cu Kiều làm dậy lên phong trào ngăn cản Mỹ trao trả Elian lại theo yêu cầu của cha ruột của Elian tại Cuba là Juan Miguel Gonzalez Quintana. Các luận điệu cho rằng chính Juan đã tổ chức cuộc vượt biên cho vợ con đi trước và mình sẽ đi sau, do đó không có lý do gì để trao trả Elian về Cuba, mặc cho Juan lên tiếng cáo buộc vợ mình đã tự ý đem theo con trai khi lẻn bỏ ra đi cùng tình nhân. Một luận điệu khác là Cuba không phải là quốc gia tự do dân chủ nên bé Elian cần ở lại Hoa Kỳ thay vì về Cuba rồi trở thành thằng nhóc cộng sản tay sai Fidel Castro (grow up as a little Communist puppet of Fidel Castro). Tuy nhiên, Fidel Castro đã một mặt hỗ trợ Juan đấu tranh pháp lý trong đòi lại con mình, một mặt đập tan luận điệu trên bằng cách (a) xác nhận sẽ chấp nhận phán quyết bất kỳ của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ và (b) yêu cầu Mỹ cho phép Juan sang Mỹ ở chung với con trong suốt thời gian chờ có phán quyết của tòa án Mỹ nghĩa là Fidel không hề có hành vi giam chân Juan ở Cuba. Tháng 6 năm 2000, Tòa Án Tối Cao Mỹ ra phán quyết bác yêu cầu của thân nhân Elian cùng cộng đồng Cu Kiều tại Miami, và lực lượng phản ứng nhanh SWAT đã đột kích tấn công vào nhà của các thân nhân này để khống chế giải thoát Elian đang bị nhốt giấu trong tủ áo, giao trả Elian về với Bố Juan trở lại Cuba ngày 28-6-2000

fidel11

khiến bùng phát bạo động chống đối của Cu Kiều tại Miami

fidel12

Để giữ thể diện, bọn Cu Kiều lưu vong còn yêu cầu Chính phủ Mỹ buộc Fidel Castro không được sử dụng Elian làm công cụ tuyên truyền cho “chiến thắng” của Fidel, và đã rêu rao bôi nhọ Fidel “bội tín” khi thấy cậu bé Elian thường xuyên xuất hiện vui vẻ cạnh Fidel tại các lễ lộc trọng đại của Cuba

fidel13fidel14

Thế nhưng, cậu bé Elian sau đó còn “đỏ” hơn, khi trở thành đoàn viên thanh niên Cộng sản Cuba

fidel15

tốt nghiệp Đại Học Matanzas năm 2015, trở thành kỹ sư cơ khí và có vị hôn thê là Ilianet Escano đã yêu nhau từ thời học chung ở bậc trung học

fidel16

Nhiều phát biểu nổi tiếng của Elian về Fidel Castro thường được báo chí nước ngoài nhắc đến như:

– Tôi không thú nhận là tôi theo tôn giáo nào cả; nhưng nếu có theo đạo nào thì Thượng Đế chính là Fidel Castro. Ông như một con tàu biết rõ mình đưa đội ngũ thuyền viên đi đúng hướng.

 fidel16a

Fidel Castro đối với tôi như một người cha vậy.

– Đây là điều ít nhất mà một người như tôi có thể làm, tức người đã thọ ơn nhân dân này và thọ ơn cách mạng, đó là học hành chăm chỉ, và còn hơn thế nửa là dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bảo vệ nhân dân cùng cách mạng.

Khi Fidel Castro qua đời, Elian đã thổn thức: “Ông là Bố của tôi, giống như Bố tôi, tôi đã luôn muốn trình Ông mọi điều tôi đạt được, muốn Ông tự hào về tôi. Đó là cách tôi nghĩ về Fidel. Nếu tôi học được điều gì đó và muốn khoe với Ông, mà vẫn còn có nhiều thứ tôi muốn khoe với Ông quá…. Và khoe rằng tại một sự kiện khi Ông bảo Ông xem tôi như là một người bạn của Ông, đó là vinh dự của tôi…

Đạo đức, tư cách, ý chí, của Elian Gonzales đã tôn vinh sự cao thượng, cao trọng, cao vời của đạo đức, tư cách, và ý chí vì nước vì dân của Fidel Castro.

Bọn thượng nghị sĩ Cu Kiều như Mario Rubio và Ted Cruz khi nói lếu láo về sự điêu linh của Cuba dưới sự cai trị tàn bạo của nhà độc tài Fidel Castro, chúng đã hoặc ngu đần ngu xuẩn ngu si ngu dại, hoặc đã không có chút lòng tôn trọng tôn kính nào dành cho cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter

fidel17fidel18

người đã viết như sau, khi nghe tin Fidel Castro qua đời:

“ Rosalynn và tôi sẻ chia tình cảm cùng gia đình Ông Castro và nhân dân Cuba về sự qua đời của Fidel Castro. Vợ chồng tôi vẫn nhớ với lòng trìu mến đến những lần thăm Ông tại Cuba cũng như đến lòng yêu nước của Ông. Chúng tôi chúc các công dân Cuba hòa bình và thịnh vượng trong những năm sắp đến.”

Tất nhiên, nếu DailyWire cay cú vì cựu Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter đã luôn tôn kính và thân tình cùng Fidel Castro nên đã chua rằng Jimmy Carter đã “có những lời tử tế cho tên độc tài cộng sản tàn bạo Cuba Fidel Castro” (kind words to the brutal Cuban Communist dictator Fidel Castro) và thậm chí nhắc khéo là trước đây Jimmy Carter đã từng ôm “tên sát nhân chúa trùm khủng bố Yasser Arafat của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (arch-terrorist murderer PLO chief Yasser Arafat), thì bọn rơm rác như Cu Kiều Marco Rubio và Ted Cruz có sủa nhặng lên về Fidel Castro cũng là sự hòa âm điền dã cùng thế giới truyền thông chính thống bịnh hoạn trầm kha vậy.

F- Mộ Chí

Vĩnh biệt Tiến sĩ Fidel Alejandro Castro Ruz, nhà lãnh đạo duy nhất của toàn nhân loại đã luôn là sự thể hiện đồng bộ đồng loạt rõ nét nhất và cụ thể nhất của tính kiên cường, sự bất khuất, tài hùng biện bão tố ngay trong hang ổ quân thù

fidel19fidel20fidel21

tính cách hỏa diệm sơn, thái độ chủ nhân ông đầy ngạo mạn kiêu kỳ trước tất cả các kẻ thù của dân tộc, sức khỏe vô song

fidel22

cốt cách anh hùng xông pha xông xáo, mưu trí mưu lược, ý chí hùng anh, hình tượng chính xác của một “kẻ sĩ dấn thân” như Hồ Chí Minh

fidel23

chinh phục thế giới với sự tỉnh táo quyền biến khuôn mẫu signature Hồ Chí Minh trong trị quốc theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cùng sự lịch lãm cuốn hút đầy nam tính

fidel24

nụ cười thân tình thân hữu thân ái

fidel25

dành cho và đón nhận tình cảm từ các nguyên thủ tư bản Âu Tây, các vị anh hùng như Yasser Arafat, Nelson Mendela, Yuri Gagarin hay Tạ Thị Kiều

fidel26fidel27

và cách hành xử hóm hỉnh đầy lém lỉnh

fidel28

Tiến sĩ Fidel Castro, người cha tôn kính của dân tộc Cuba, đã luôn đồng hành cùng dân tộc Cuba vượt qua những gian nan không bút mực nào tả xiết

fidel29fidel30

và bậc vĩ nhân ấy đã an nghĩ chốn vĩnh hằng sau khi để lại cho nhân gian muôn đời sau một thí dụ điển hình nhất của đấng hùng anh

fidel31

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(Dual Language: English & Vietnamese – Song ngữ Anh – Việt )

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2016

Lúc trang mạng doanh nhân Việt Nam Emotino.com còn hoạt động, tôi có tham gia Anphabe.com của chủ nhân là Cô Thanh Nguyễn (xin lỗi tôi đã không nhớ tên đầy đủ của Cô trong khi hiện nay trang mạng của Cô cũng chỉ ghi “Thanh Nguyen”) sau khi nhận được lời mời của Cô vốn cũng là một gương mặt sáng giá trên Emotino.com.

Có lần tôi thấy có lời bình phẩm của một tên ngoại kiều làm việc tại Việt Nam (tôi biết thế qua nội dung ý kiến của hắn) trên LinkedIn.com và ngay cả trong “comments” của Anphabe.com để nhạo báng hoạt động của Anphabe trong “tổ chức mời diễn giả” trong nước hoặc ngoài nước, tôi đã viết nội dung sau cho Cô Thanh Nguyễn tại Anphabe và đồng thời trên Emotino. Tôi không viết comments mắng y ngay dưới comment của y, đơn giản vì sáu lý do gồm (a) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại đối đáp trực tiếp với tên mạt hạng bẩn dơ như y sao, (b) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại để lời comment của tôi bên dưới comment “hạ đẳng” của y sao, (c) tôi phải viết trên Emotino để nhiều người Việt Nam biết đến nội dung hơn, (d) tôi phải viết trên Emotino để người học tiếng Anh ở Việt Nam có dịp đọc bài viết tiếng Anh của tôi vốn hoàn toàn vắng bóng từ khi Yahoo! đột xuất ngu xuẩn đóng cửa 3600 , (e) tôi phải viết trên Emotino vì muốn các doanh nhân Việt Nam biết tôi vẫn hữu thủy hữu chung tức trước sau như một đối với bảo vệ danh dự quốc gia, và (f) đặc biệt tôi viết trên cả Anphabe cùng Emotino để Cô Thanh Nguyễn biết Cô – cũng như qua đó đến các doanh nhân doanh nghiệp khác sinh hoạt trên Emotino – biết sẽ được tôi bảo vệ về biện luận đối với các xúc xiểm của ngoại nhân.

Kính mời các bạn tham khảo nội dung nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt tiếp theo sau.

Kính cảm ơn đã quan tâm đọc và kính chào trân trọng.

Phần Nguyên Bản Tiếng Anh

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(originally posted on Emotino.com at http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen)

Hoang Huu Phuoc, MIB

14-4-2011

aaa-1aaa-2

Dear Ms Thanh Nguyen:

I have read a message from Mr David E giving a strong comment on your list of 100 speakers. Obviously his wordings are not strange to Vietnamese people and other people of nations suffering the racial discrimination from those coming from Western countries boasting about their super power even in the thinking modes, ignoring the fact that all strong representatives of capitalism have become shameful culprits of all world’s economic crises including the most recent economic downturns as well as the huge bailouts at economic giants.

Since his saying that Vietnam is so tied to old-school techniques is so ambiguous, I wonder if he can clarify the field or fields in or of Vietnam he wishes to refer to, as in this very world of complicacy the notion should be as much specific as possible. Even once the field or fields can be specified by his good self, nobody on earth – let alone the Vietnamese sages – is so much foolish to reveal the “new ideas” to him or to anybody else just to satisfy the thirst for knowledge just for free. Furthermore, things depend on various factors, among which those of suitable time, suitable situations and suitable personnel and/or personages are naturally decisively included and never ignored. To make Vietnam better, all of these factors need be incorporated into one “something”. The old Vietnam hands are said by him to know something about the old Vietnam, this would literally and figuratively mean he and the old and young foreign hands will never know anything about that old Vietnam. The Bible is much old, but wise people never say something new should be posed by priests and clergymen to make the Bible better.

Vietnam needs new ideas, of course. However, he seems illogically intentionally ignoring one crucial fact that ideas are just ideas. To overphilosophize or exagerate the “importance” of ideas will obviously expose the messy mode of thinking of irrational people. Additionally, it never means everything is in need of new-fangled ideas at the same time. Therefore, Vietnam is having tremendously new ideas for many fields, and leaves some others intact for the new generations to come to explore and exploit. Please also note that “new” never automatically means “good”, and never indicates that everybody must follow the “new” everywhere. To make it easier to understand, let me prove this: communism comes into existence after capitalism, i.e. communism is “new”. Has he ever tried to do his best to convince the USA and all Western countries to establish communist society to replace capitalist ones? Vietnam applies the so-called socialist-oriented market economy to successfully help itself sustainable throughout the worldwide economic downturn of the 2007-2009 crises damaging the proud image of the USA and others; hence, would he and people like him be assumed to laboriously try to convince the Western governments and the US administration to have the same modus operandi applied?

Every wise man on earth now is talking about customization. Only he says the market in Vietnam should not replicate Western ideas in a Vietnamese context. If he participates in an MBI academic program, he will have to study a lot about China, its market, its ways of doing business, and what Westerners should do to satisfy the Chinese if he goes partnering with them. When he comes to Vietnam to do business, his only option for a survival is to do as per Vietnamese terms, and vice versa, when the Vietnamese people go global, they have to follow the common practice, rules and regulations internationally imposed.

He may think he has the right to call those Vietnamese experts a “bunch of old Vietnamese managing directors and Navigos people” who make him “bored”. It is a pity for him. Speakers will deliver suitable notes to suitable audience. If he participates in a paid seminar then gets bored, it may simply mean either he selects a wrong topic or subject or his boss thinks he needs further training on a topic/subject he is considered inadequately qualified. It is a pity also because he has not had any opportunity to participate in any seminar lectured by me. Those names mentioned by him e.g. Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, and Hillary Clinton are to me of good-for-nothing wretched. Who is Bill Gates then? He means the illiterate person failing to complete college years then playing a dirty monopoly game to annihilate all Western IT talents? Who is Hillary Clinton? He means the old woman proudly having a photo taken with the tall proud son of Muammar Gaddafi at the White House, then two years later bombing Tripoli? He can buy books by or of (i.e. autobiography or biography) them to know their life and their ideas – if they can have “new ideas” for their own countries. Personally, the names as mentioned by him are not worth a tinker’s dam. I want to remind him of this information: General Vo Nguyen Giap of Communist Army of Vietnam was just a high school teacher of history, but he humiliated all the noble generals of France and proud generals from Army Academies like West Point of the USA simply by winning all the wars to wipe out the French from Indochina for good then to chase the US troops out to the open sea, burying them all under the thick slimy mud of dishonor.

In short, the advice is that he should respect the Vietnamese people (and any other local people of places on earth whereat he is an expatriate) because they have a bigger advantage over him a foreigner: they know well (a) their country and people and culture and all odds, and (b) his own; whereas he knows only whatever his. This is the reason why the proverb of “When in Rome, do as the Romans do” comes as a suitable guidance for amateur businessmen. He may have a better chance for survival in Vietnam if he spends time to make himself more competitive by learning the Vietnamese ways instead of nonsensically grumbling about the imaginary “old” and the meaningless “new”.

Very truly yours,

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bản Dịch Tiếng Việt

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2011

Tuần trước tôi có đọc “công thư” (thư “công cộng” viết cho bá tánh chứ không phải thư dạng “công hàm” ngoại giao) của Mr David E trên LinkedIn gởi Cô Thanh Nguyên, CEO của Anphabe, và thấy thật khó lòng cưỡng lại sự “cám dỗ” phải chống lại y đối với nội dung bá láp y đã viết.

aaa

Tuy nhiên, để thể hiện mình đã có sự giáo dục quý phái trọng sang đối với kẻ được cho là một thương nhân Âu Mỹ có “nền tảng” văn hóa đáng ngờ, tôi cho rằng thay vào đó tốt hơn hết nên gởi cho Cô Thanh Nguyên một bức thư mà nội dung xin được lập lại như dưới đây:

Cô Thanh Nguyễn kính:

Tôi có đọc đoạn viết nặng nề của Mr David E đối với danh mục 100 diễn giả của  Cô. Rõ ràng là lời lẽ của y chẳng xa lạ gì đối với người dân Việt Nam cũng như người dân các nước phải hứng chịu cảnh bị phân biệt chủng tộc từ những nước Âu Mỹ luôn khoe khoang về sức mạnh siêu việt của chúng ngay cả trong hành trạng tư duy, nhưng lại luôn lờ đi một sự thật rằng tất cả những đại diện manh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản đã luôn trở thành những tên tội phạm đầy nhục nhã gây ra tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kể cả những suy thoái kinh tế gần đây cùng với sự cứu nguy khổng lồ (mà chính phủ của chúng phải ra tay cứu) các tên khổng lồ kinh tế.

Do ý của hắn khi bảo “Việc kinh doanh ở Việt Nam quá bám víu vào những cung cách trường phái cũ mèm” quá mơ hồ, tôi không rõ hắn có thể vạch ra lĩnh vực hoặc những lĩnh vực nào ở Việt Nam mà y muốn nói đến hay không, vì rằng trong thế giới phức tạp ngày nay thì mọi ý kiến đều cần phải cụ thể cao nhất có thể được. Ngay cả khi một hay nhiều hơn một lĩnh vực có thể được y nêu ra đích danh thì không ai trên thế giới này – nói chi đến các nhà thông thái Việt Nam – lại ngu đần đến độ tiết lộ miễn phí các “tư tưởng mới” cho y hay bất kỳ ai chỉ để thỏa mản sự khát khao kiến thức. Thêm vào đó, cái gì cũng còn tùy vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự vào đúng thời điểm, lúc đúng tình thế hoàn cảnh, và có đúng nguồn nhân lực thực hiện và nhân lực cốt cán (tức “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”)  phải luôn được bao gồm với vai trò quyết định tự nhiên mà không bao giờ được lờ đi. Để làm Việt Nam tốt đẹp hơn, tất cả những nhân tố này cần phải được lồng ghép vào một điều cụ thể. Khi y cho rằng “mấy tay người Việt cũ xì vốn là những kẻ có thể biết gì đấy về Việt Nam cũ xì”, thì về cả nghĩa đen và nghĩa bóng bản thân y cùng những tay ngoại nhân trẻ và già sẽ chẳng đời nào biết gì về Việt Nam cũ xì cả. Kinh Thánh rất rất rất cũ, nhưng những người khôn ngoan không bao giờ bảo cái gì đó mới hơn nên được đề ra bởi các linh mục và mục sư để làm Kinh Thánh tốt hơn.

Tất nhiên là Việt Nam cần có các ý tưởng mới. Song cái anh chàng trên dường như đã lờ đi một cách cố tình và xằng bậy một sự thật cực kỳ quan trọng rằng ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Triết lý hóa quá mức hoặc phóng đại “tầm quan trọng” của ý tưởng chỉ sẽ làm bộc lộ rõ hơn cái phong cách tư duy hỗn độn của những kẻ vô trí. Ngoài ra, không bao giờ có việc tất tần tật mọi thứ đều cùng lúc cần phải có các ý tưởng mới xì (phản nghĩa của…“cũ xì”). Do đó, Việt Nam đang có biết bao ý tưởng mới cho nhiều lĩnh vực, nhưng gác lại một bên để các thế hệ sau này tìm tòi và khai thác. Cũng cần lưu ý rằng “mới” không bao giờ tự động có nghĩa là “tốt”, cũng như không bao giờ hàm ý rằng mọi người đều phải theo cái “mới” ở mọi nơi. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ chứng minh như sau: chủ nghĩa cộng sản xuất hiện sau chủ nghĩa tư bản, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản thuộc loại “mới”. Thế thì cái anh chàng trên có đã từng dốc hết sức để thuyết phục các quốc gia Âu Mỹ hãy dựng xây xã hội cộng sản chủ nghĩa thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa? Việt Nam áp dụng cái gọi là nền kinh tế thị trường theo định hường xã hội chủ nghĩa vốn đã giúp Việt Nam tồn tại thành công suốt cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong những cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 vốn làm tổn hại thanh danh của Hoa Kỳ và các nước khác; vậy thì, liệu hắn ta và những tên tương cận có nên được cho rằng đang miệt mài ra sức thuyết phục các chính phủ Âu Mỹ áp dụng cùng mô hình hoạt động kinh tế ấy?

Mọi người khôn ngoan trên thế giới đang nói về sự tùy biến cho tương thích với  hoàn cảnh thực tế. Chỉ có hắn là nói “Thị trường ở đây không phải là để sao chép các ý tưởng Phương Tây vào bối cảnh Việt Nam”. Nếu hắn có học một chương trình hàn lâm Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, y sẽ biết rằng y sẽ phải học rất nhiều về Trung Quốc, về thị trường Trung Quốc, về cách “làm ăn” ở Trung Quốc, và về những gì mà thương nhân Âu Mỹ nên thực hiện để làm hài lòng người Trung Quốc nếu muốn làm đối tác với Trung Quốc. Khi hắn đến Việt Nam “làm ăn”, cái tùy chọn duy nhất mà y phải chọn để tồn tại là phải làm theo các thông lệ của Việt Nam; và ngược lại, khi người Việt Nam tiến ra thế giới họ phải theo các thông tục, các luật lệ và quy định được áp đặt toàn cầu.

Có thể hắn cho rằng hắn có quyền gọi các chuyên gia Việt Nam là “một dúm những giám đốc điều hành người Việt cũ xì” làm y “phát ngấy”. Y thật đáng thương hại. Các diễn giả luôn phát biểu những nội dung phù hợp với khán-thính giả phù hợp. Nếu hắn tham dự một hội thảo có đóng tiền để rồi “phát ngấy” thì đơn giản có nghĩa là hoặc y đã chọn sai chủ đề để tham dự, hoặc ông chủ của hắn cho rằng hắn vẫn chưa đạt yêu cầu cơ bản nên bỏ tiền ra cho hắn đi đào tạo thêm về điều cơ bản chăng. Y cũng đáng thương hại ở chỗ hắn đã chưa từng có bất cứ cơ hội nào dự bất kỳ buổi thuyết trình nào của tôi. Những cái tên mà y gợi ra như Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, và Hillary Clinton tôi đều sem như đám vất đi. Bill Gates là ai nhỉ? Chắc y muốn nói đến người đã không học xong đại học rồi giỡ chiêu trò nhơ bẩn độc chiếm thiên hạ bằng cách triệt đường sống của các bậc kỳ tài công nghệ thông tin ở Châu Âu? Và còn Hillary Clinton là ai vậy cà? Y muốn nói đến cái mụ già đã tự hào chụp hình chung với “hoàng tử” cao to đẹp trai đầy tự hào của Muammar Gaddafi tại Tòa Bạch Ốc (tức…”Nhà Trắng”), để rồi hai năm sau tự hào dội bom thủ đô Tripoli giết Muammar Gaddafi? Y có thể mua những quyển viết bởi họ hoặc viết về họ (tức là hồi ký tức do chính đương sự viết về chính mình hoặc tiểu sử tức do các nhà nghiên cứu khác viết về một nhân vật nổi tiếng) để biết về cuộc đời và ý tưởng của họ – nếu những kẻ ấy có “ý tưởng” mới nào dành cho xứ sở của họ. Tôi cho rằng những cái tên do y kể ra chẳng đáng một xu teeng. Tôi muốn y nhớ đến thông tin này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam chỉ là một giáo viên Việt Sử nhưng đã làm nhục tất cả các tướng lĩnh quý tộc của Pháp và các tướng lĩnh vinh diệu xuất thân từ các học viện quân sự như West Point của Hoa Kỳ bằng cách cực kỳ đơn giản: chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh quét hất Pháp vĩnh viễn khỏi Đông Dương rồi sau đó dí đuổi quân đội Mỹ bỏ chạy ra biển khơi, vùi chôn tất cả dưới bùn sâu quánh đặc của sự nhục nhã.

Tóm lại, lời khuyên ở đây là hắn ta nên kính trọng người dân Việt Nam (cùng tất cả các cư dân địa phương của các xứ miền trên thế giới mà y đến để làm ngoài kiều) vì rằng những cư dân địa phương của các nước này có một thuận lợi lớn hơn  rất nhiều so với ngoại kiều như y vì họ biết rất rõ (a) xứ sở của họ, người dân của họ, văn hóa của họ, cùng mấy thứ linh tinh của họ; và (b) mọi thứ về y, người dân của y, văn hóa của y, cùng mấy thứ linh tinh của y; vậy mà y chỉ biết mỗi có những gì của y mà thôi. Đây cũng là lý do có thành ngữ “nhập gia tùy tục” như một kim chỉ nam phù hợp cho các thương nhân tay mơ. Y sẽ có cơ may tốt hơn để tồn tại ở Việt Nam nếu bỏ thời gian làm sao cho y tăng thêm tính cạnh tranh bằng cách học hỏi các kiểu cách Việt thay vì càu nhàu xằng bậy về cái “cũ mèm” hoang đường và cái “mới” vô nghĩa.

Trân trọng kính chào Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Thế Nào Là Hèn Hạ

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-9-2016

Dường như tất cả những người có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản (không phải “chống cộng” nói chung hoặc chống một nước nào đó đang theo “chủ nghĩa” ấy vì nếu chống cái nước ấy sẽ biến mình thành thứ phản tự do, phản nhân quyền, phản văn minh, vô văn hóa) vốn toàn là những nhà trí thức đáng kính, những nhà tư tưởng, những người có học thức thực thụ, và những người có tư cách trưởng thượng, đều chưa có ai từng tham gia viết blog bôi nhọ một nước cộng sản cụ thể nào đó, đơn giản vì họ thuộc đẳng cấp cao của trí tuệ khi hành trạng tư duy của họ nhận biết rõ giá trị cao vời của chủ nghĩa cộng sản khiến họ biết rằng nhất thiết phải có một trí tuệ cao vời tương tự hoặc cao hơn để từ đó suy tư triết học về cuộc diện ý thức hệ vốn đòi hỏi biết bao thứ gọi là “chủ nghĩa” từ chính trị đến hội họa và sáng tác thơ ca, để hình thành những diễn giải các bất hợp lý nào đó trong triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà họ đã tư duy đến, những cao kiến để đề xuất nhằm hoàn thiện chủ nghĩa cộng sản, hoặc những dự toán về tương lai kinh tế thế giới, hoặc đúc rút ra những điều tốt đẹp nào của chủ nghĩa cộng sản để có thể áp dụng mà không nhất thiết phải có cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, hoặc đề ra những biện pháp khắc chế đối với  các công kích mang tính tiên đoán nhưng quá đúng của chủ nghĩa cộng sản. Chính nhờ bản chất trí hóa đó của những bậc trí thức “chống chủ nghĩa cộng sản” mà một số nước chẳng hạn tại Bắc Âu đã tự hào thực hiện được những điều kỳ vĩ về phúc lợi thật lý tưởng cho dân họ theo những lý tưởng khai sinh bởi Karl Marx năm xưa, hoặc những siêu cường tư bản cũng biết hạn chế những bất công xã hội mà Karl Marx cảnh báo có thể trở thành mầm mống làm sụp đổ chế độ tư bản. Họ đã chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng cách ra sức rút tỉa các bài học hoặc cảnh báo hoặc lời khuyên hoặc lý luận của chính chủ nghĩa cộng sản để làm cho phúc lợi xã hội gia tăng, người lao động được hưởng mức độ thù lao cao hơn, mà tất cả nhằm thay da đổi thịt chủ nghĩa tư bản để chủ nghĩa tư bản hấp dẫn hơn và có cơ may trường tồn với lịch sử nhân loại. Đó là cung cách chống chủ nghĩa cộng sản của bậc trưởng thượng trong chứng minh rằng (a) nếu đó là những điều tốt đẹp lý tưởng cần có cho xã hội thì chính họ sẽ là người thực hiện được và thực hiện trước; và (b) qua đó họ đã chống chủ nghĩa cộng sản một cách thắng lợi mà không cần phải bỏ ra nhiều năm để đẻ ra một chủ nghĩa mới chỉ để chống lại chủ nghĩa cộng sản trên bình diện triết học mà chưa chắc thành công, có khi mất thời gian tính để kịp cứu nguy cho một sự sụp đổ mà chủ nghĩa cộng sản đã cảnh báo.

Chắc cũng vì cái sự “dường như” nêu trên vậy mà có ba dấu hiệu cực kỳ giống nhau đáng kinh ngạc nơi những kẻ “chống cộng” chung chung hoặc chống một nước cộng sản như Việt Nam hoặc chống một nước có quá khứ lẫy lừng cộng sản chủ nghĩa như Nga, bất kể họ thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và đang mang quốc tịch bất kỳ, qua những gì họ viết blog hoặc viết comments bằng bất kỳ ngôn ngữ gì, đó là (a) không phải họ chống triết thuyết cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chống bất kỳ ai đã dựa vào cái chủ nghĩa ấy để làm nhục họ khi đánh bại họ triệt để hoàn toàn, (b) không bao giờ đưa ra được bất kỳ điều gì mang tính sự thật hữu bằng hữu chứng có thể kiểm chứng được khi chống lại cái kẻ “dựa hơi” chủ nghĩa cộng sản đó, và (c) không bao giờ biết thế nào là lòng tự trọng.

Từ những bức ảnh tịch thu được trên xác quân thù tại những phần lãnh thổ Liên Xô bao la rộng lớn mà quân Đức Quốc Xã đã tiến chiếm được trong Đệ Nhị Thế Chiến, Liên Xô tìm thấy những bức ảnh được ghi chụp ngày 30-6-1941 bởi trung đoàn Đức Quốc Xã Tyrolean Gebirgsjäger-Regiment Sư Đoàn Gebirgskorps cảnh xử tử tại chỗ hai tù binh Liên Xô mà không qua xét xử tại một chốn núi cao nào đó. Ngày chụp ghi sau bức ảnh cho thấy vụ xử tử hai tù binh Liên Xô ấy xảy ra chỉ hai tuần sau khi Thế Chiến bùng nổ. Dựa theo hình ảnh đen trắng mờ nhòe đó, Nga đã tiến hành rà soát kiếm tìm, và đã tìm ra di hài của hai chiến sĩ ấy tại một đài nguyên thuộc vòng cung Cực Bắc giáp biên giới Na-Uy năm 2013, để đưa về an táng sau hơn 70 năm phơi mình trong giá rét. Dựa theo di vật quân dụng và mẫu giấy tờ mục nát còn lưu trong một thi hài nằm bên trái, người ta mới biết được đó là của anh lính hiên ngang tên Sergey Korolkov, sinh năm 1912 tại làng Hmelishche, nông trang Serezhinsky, Khu Velikoluksky, Vùng Kirov, gia nhập quân đội Liên Xô ngày 22-6-1941 và hy sinh một tuần sau đó khi quân Đức vượt biên giới Na-Uy tấn công Liên Xô (Đức bắt đầu xâm lược Na-Uy ngày 09-4-1941 và hai tháng sau Na-Uy quỳ đầu quỳ gối đầu hàng ngày 10-6-1940 khi Quốc Vương và hoàng gia Na-Uy chạy trốn bình an sang Anh Quốc). Di hài bên cạnh anh không còn lưu một chứng tích nào nên được đưa về an táng như một chiến sĩ trẻ vô danh đã hy sinh khi bảo vệ biên cương.

Trong bức ảnh dưới đây người chiến sĩ trẻ vô danh nói trên đang bị quân Đức áp giải lên để đứng cạnh bên Sergey Korolkov:

2-6

Sergey Korolkov chống nạnh hiên ngang, trong khi hai sĩ quan Đức chỉ vào mặt anh ắt đang quát tháo, còn các binh sĩ Đức vây quanh có một tên đang trong tư thế nện báng súng vào gáy anh như để làm anh phải quỳ xuống trước viên chỉ huy:

2

Các sĩ quan Đức Quốc Xã ra lịnh xử tử hai chiến sĩ Liên Xô này nên lính Đức lùi lại sẵn sàng cuộc xả súng, trong khi đó Sergey Korolkov vẫn chống nạnh hiên ngang còn người lính trẻ cạnh anh tuy không hào hùng ngang tàng bằng anh vẫn đứng thẳng lưng chứ không sụm xuống vì run sợ trước họng súng kẻ thù trước giây phút lâm chung:

2-2

Vụ xử tử đã được thực thi, hai chiến sĩ Liên Xô đứng cách nhau một mét nhưng khi ngả xuống đã như úp mặt vào nhau để bắt đầu sự tồn tại gần một thế kỷ gắn bó tri kỷ của những vị anh hùng đơn độc trên đỉnh núi cao giá buốt hoang vu:

2-3

Dựa vào hình ảnh của núi, đá, cảnh quang, trong những bức ảnh tịch thu được, Nga đã ra sức “càn quét” suốt 72 năm và cuối cùng đã tìm ra chính xác địa điểm này:

2-4

Sự tìm ra nơi chốn cuộc hành hình càng được củng cố khi nơi đó còn có hai hài cốt  cùng những di vật hư hại còn sót lại trong quân phục của di hài bên trái để biết đó là Sergey Korolkov, người chiến sĩ đã đứng ngang tàng chống nạnh trước quân thù, trong khi chiến sĩ trẻ cạnh bên thì tiếc thay thời tiết và thời gian đã làm tất cả di vật hóa bụi trần gian.

2-52-1

Thế nhưng, khi trên trang web của Anh Quốc ghi nhận về sự dũng cảm của sự việc về hai người lính Xô Viết ấy, thì có kẻ nào đó viết comment dưới dạng nặc  danh rằng “Sự giả định rằng hai người lính Xô Viết bị vô cớ bắn chết thật là rác rưởi. Quân Nga gây ra tội ác tày trời chống mọi người ở Châu Âu nên thật đáng ngạc nhiên tại sao không có thật nhiều hơn mấy vụ bắn bỏ như vậy. Tôi thấy chẳng có hình chụp nào về tội ác của Nga và phe của nó, 98% hình ảnh của Nga là do ngụy tạo để thành cái mà chúng muốn, và kẻ ngu khờ dường như bị dính bẩy hết.

Sự hèn hạ của kẻ nặc danh ở chỗ hắn ta hay ả ta (a) làm như Liên Xô không hề bị Đức tấn công nên không có chuyện đã có cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô mà chỉ có chuyện Liên Xô điên cuồng xua quân tràn ngập Châu Âu gây chiến với toàn Châu Âu trong đó có nước Đức hiền hòa, (b) làm như Liên Xô đang diễn tuồng cho người giả đóng vai lính Đức chứ chẳng lính Đức nào xâm phạm lãnh thổ Liên Xô, (c) làm ngơ trước sự thật là lẽ nào Mỹ và Châu Âu thất bại đến độ không có được hay không dàn dựng lên được bức ảnh chụp nào về tội ác của Nga trong trực tiếp xử tử tại chỗ các tù binh chiến tranh Đức hay ai đó, và (d) đốn mạt đến độ chấp nhận bản thân mình mọi rợ khi cho rằng lẽ ra đã nên có thật nhiều vụ hành quyết như thế với tù binh chiến tranh Nga.

Tuy có vị tên Roelf Turksema (dường như là người Thụy Sĩ gốc Na-Uy) đã phản bác rằng “Sao lại là nặc danh hử? Mi đã không dám lương thiện với tên đầy đủ để bày tỏ luận điệu của mi ư? Người Nga đã luôn đối xử tốt với tao, luôn lương thiện, và luôn chăm sóc tao tốt đấy”;

Tôi vẫn buộc lòng comment thêm cho có đủ sức mạnh của ngôn từ, cái mà thiên hạ trong toàn thế giới nói tiếng Anh hoặc trên thế giới sính dùng tiếng Anh rất kém trong đối đáp hùng biện khi phản pháo, rằng “Anh Quốc, Pháp và tất cả các quốc gia Tây Âu đã quỳ đầu quỳ gối một cách đầy nhục nhã trước Đức Quốc Xã như thực tế lịch sử đã chứng minh. Ngay cả những quốc gia như Thụy Sĩ đã hèn hạ trở thành thiên đường cất giấu tài sản của Đức Quốc Xã. Để đậy che sự muối mặt đớn hèn ấy, họ đã cố kiếm tìm và khai thác mọi thứ nào chúng cho rằng có thể giúp làm hạ phẩm giá của đất nước lúc ấy gọi là Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến”.

2-7

Hèn hạ ẩn danh để hèn hạ dùng những lời hèn hạ nói về một sự hèn hạ tưởng tượng nhằm hèn hạ hóa một đất nước của một dân tộc đã không bao giờ hèn hạ trước những tên Quốc Xã và Phát Xít hèn hạ thì quả là việc hèn hạ của chỉ bọn hèn hạ “chống Nga” mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Note: Source of all photos: from Internet (www.militaryphotos.net)

Các bài viết cùng mẫu câu tiêu đề “Thế Nào Là”:

Thế Nào Là Doanh Nhân

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ