Category Archives: Giáo dục

Sáng Tạo & Thằng Tiến Sĩ Tà Lỏn

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-6-2017

Tiensi 1

A) Hiệu Trưởng Đại Học Hoa Sen Bùi Trân Phượng

Tiensi 2

Thủa xa xưa khi tôi là Hiệu Trưởng FOSCO Khaiminh, một trường của “nhà nước” về ngoại ngữ và tin học của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi rất mến phục Cô Bùi Trân Phượng vì ở thời chẳng có gì được gọi là “tư” như “tư nhân” hay “tư thục” mà cô giáo ấy đã dám “sáng tạo” ra mô hình một trường cao đẳng dân lập. Thỉnh thoảng tôi có liên lạc với Cô qua thư từ bưu điện hoặc điện thoại chuyện trò, và Cô luôn là thượng khách của tôi ngay cả tại những buổi lễ tôi tổ chức mời riêng các tổng lãnh sự quán và những đối tác nước ngoài, chỉ để Cô dự khán và từ đó có thể cho tôi những lời góp ý về tổ chức hoặc những gợi ý cho một mô hình hợp tác với Cô trong lĩnh vực đào tạo – đặc biệt về tiếng Anh, hoặc đơn giản hình thành sự thân quen giữa hai nhà giáo đẳng cấp lãnh đạo phá cách, tự chủ, và  “sáng tạo”.

Tiensi 3Tiensi 4

Khi Cô Bùi Trân Phượng thành công biến trường cao đẳng của Cô thành một hiện thực, tôi bỏ công ty FOSCO sau khi gởi đơn đến Thành Ủy và Chính Phủ (Bộ Trưởng Công An Lê Hồng Anh) tố cáo tham nhũng tại FOSCO, và nhận lời làm giám đốc điều hành một trường cao đẳng của Mỹ hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng trong lĩnh vực ngoại ngữ Anh và tin học.

Khi trở thành nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII, tôi có nhận hồ sơ cầu cứu của Cô là Hiệu Trưởng Đại Học Hoa Sen, và đã – trên tinh thần công chính, liêm minh, công tâm, và nhìn xa trông rộng cho an ninh quốc gia – can thiệp với Bộ Giáo Dục nhưng đã không nhận được bất kỳ sự hồi đáp khôn ngoan nào từ Bộ Trưởng Phạm Vũ Luận vốn là cung cách đồng nhất của các cơ quan Nhà Nước Việt Nam đối với các can thiệp từ người ngoài Đảng.

Những tin tức về xáo trộn của Đại Học Hoa Sen đã làm tôi phiền muộn. Tuy nhiên, điều khủng khiếp là cái kỳ tích của người phụ nữ tài ba khả kính ấy đã bị làm cho hoen ố vì trong những kẻ “thay thế” Cô tại Đại Học Hoa Sen mới đây đã hùng hồn bôi tro trát trấu vào thành tích vươn lên của Đại Học Hoa Sen bằng sự việc liên quan đến chiếc quần “tà lỏn” của y.

Là một nhà giáo chống tham nhũng, tôi đã bị đẩy ra khỏi ngành giáo dục để bắt đầu cuộc phiêu du cuối trời quên lãng với các công ty nước ngoài, chấm dứt các bàn bạc về giáo dục và đào tạo với Cô Hiệu Trưởng Bùi Trân Phượng.

Là một nghị sĩ không ô dù, tôi đã bị đa số các đại quan làm ngơ đối với các can thiệp của tôi vào các khiếu tố của người dân – trong đó có Cô Bùi Trân Phượng.

Tuy nhiên, là người có hiểu biết sâu rộng hơn các vị tiến sĩ “tà lỏn”, tôi hoàn toàn có thể dạy bảo các vị ấy như sau, đồng thời để giúp các sinh viên của trường Đại Học Hoa Sen mà Cô Bùi Trân Phượng đã gầy dựng nên hiểu biết rõ nhất, đầy đủ nhất, và đúng nhất về “lộ trình sáng tạo” như một quà tặng tôi dành cho các em chỉ vì các em đã có may mắn là học trò của Cô Bùi Trân Phượng vậy.

B) Phân Biệt Các “Sáng Tạo”

Trước hết, cần làm rõ về nội hàm của “sáng tạo” mà do ngôn ngữ Việt – như đã từng nêu ở các bài viết trước đây – có khi có cực kỳ nhiều từ cho một nội dung quan hệ đời sống (như tôi/tao/tớ/con/anh/em/chị/ba/má/ông/bà/chú/thím/cậu/bác/dì/cháu, v.v cho đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít trong khi tiếng Anh chỉ có mỗi một chữ “I”) lại có hoặc cực kỳ ít từ cho một nội dung trí tuệ hàn lâm (như một từ “sáng tạo” duy nhất cho quá nhiều từ tiếng Anh khác nhau), hoặc chẳng có từ nào hết cho một nội dung trí tuệ hàn lâm (như entrepreneurshipintrapreneurship), hoặc có từ riêng nhưng lại hoàn toàn xa lạ không tương đồng với từ ngữ nước ngoài (như “dân chủ” chẳng dính dáng gì đến democracy và “biểu tình” hoàn toàn xa lạ với protest, v.v.). Nếu lật giở từ điển Anh-Việt, ta sẽ thấy ba từ sau dù có nghĩa và nội hàm khác nhau trong tiếng Việt vẫn bị người ta cố nhét vào đó một nghĩa tiếng Việt là  “sáng tạo” chung với các từ tiếng Việt khác.

Để biết tiến sĩ “tà lỏn” khi giảng về cái gọi là lộ trình sáng tạo đã không hiểu biết gì về “sáng tạo”, chúng ta thử lưu ý đến các nội hàm sau:

1- Thế Nào Là “Sáng Tạo” Invention

Như đã nói ở trên, từ điển Anh-Việt ghi rằng Invention có nghĩa là phát minh, sáng kiến, và…sáng tạo. Nhưng dù bị gán ghép cùng mang ý nghĩa “sáng tạo”, thì điều cần lưu ý là sáng tạo ấy của invention phải liên quan đến việc tạo ra một sản phẩm hữu hình hay vô hình hoặc quy trình lần đầu tiên xuất hiện trên đời – tức chưa bao giờ có trước đó.

Sáng tạo invention nhất thiết phải có các kỹ năng về khoa học kỹ thuật.

Đã là sáng tạo invention thì phải có liên quan đến bằng sáng chế/bằng phát minh.

Chiếc quần tà lỏncái áo thun rách không là sáng tạo invention “lần đầu tiên xuất hiện trên đời” vì ngay cả kiểu mặc áo vest với tà lỏn đều đã luôn có thể thấy nơi các tay diễu hề hoặc hề xiếc; do đó, việc sử dụng chiếc quần tà lỏncái áo thun rách để rao giảng cho “sáng tạo” là một sự đần độn ngu xuẩn của một tên thất học chả biết cái quái gì về “sáng tạo”, và cái y biết chỉ là một thứ sáng tạp hoặc sáng tả-pí-lù vốn dù chưa có tiếng Anh tương tự vẫn sẵn có giải thưởng thường niên cho nó tên Ig Nobel.

2- Thế Nào Là “Sáng Tạo” Innovation

Trong khi đó, nghĩa “sáng tạo” bị ghép vào cụm các nghĩa tiếng Việt của innovation thì buộc phải có liên quan đến sự cải tiến lớn lao đối với một sản phẩm hữu hình hay vô hình hoặc quy trình đã có hay đang có. Có thể nói, iPod là một sáng tạo innovation của Steve Jobs trên cơ sở một sản phẩm đã có cách đó 22 năm là máy nghe nhạc mọi lúc mọi nơi Walkman vốn có thể được cho là một sáng tạo invention của Sony.

Đối với doanh nghiệp, đã là sáng tạo innovation thì phải có liên quan đến các góc độ định lượng và định tính thật khoa học và cụ thể, chẳng hạn như phải chiếm thế thượng phong trên thị trường, phải tạo sự khác biệt chiến lược, phải đem quyền lợi cao nhất cho khách hàng, phải quy tụ đầy đủ các thành tố và phương tiện phục vụ sản xuất cái nội dung sáng tạo ấy, và tất nhiên phải đem lại giá trị tính bằng tiền và thị phần.

Đối với doanh nghiệp, đã là sáng tạo innovation thì phải có liên quan đến công nghệ mới, dây chuyền sản xuất mới, phương pháp sản xuất mới, hay cải tiến một sản phẩm sẵn có.

Chiếc quần tà lỏncái áo thun rách không là sáng tạo innovation có giá trị định lượng/định tính/buôn bán phát triển kinh doanh; do đó, việc sử dụng chiếc quần tà lỏncái áo thun rách để rao giảng cho “sáng tạo” là một sự đần độn ngu xuẩn của một tên thất học chả biết cái quái gì về “sáng tạo”, và cái y biết chỉ là một thứ sáng tạp hoặc sáng tả-pí-lù vốn dù chưa có tiếng Anh tương tự vẫn sẵn có giải thưởng thường niên cho nó tên Ig Nobel.

3- Thế Nào Là “Sáng Tạo” Creativity

Sáng tạo creativity là hoạt động tạo ra những ý tưởng mới lạ, những sự tưởng tượng mới. Nếu như sáng tạo creativity là sự động não tưởng tượng ra những ý tưởng/giải pháp/biện pháp mới lạ độc đáo chưa từng được đề ra nhưng chưa chắc có tính khả thi và không bao hàm đã tính toán các rủi ro, thì sáng tạo innovation đưa ra một thực thi mới với đầy đủ các kế sách, nguồn lực, và phương tiện. Sáng tạo innovation có thể là sự hiện thực hóa một sáng tạo creativity. Sáng tạo innovation có thể định lượng đươc, trong khi sáng tạo creativity không bao giờ định lượng được. Sáng tạo innovation liên quan đến thị trường trong khi sáng tạo creativity chỉ thuần liên quan đến ý tưởng mới và độc đáo. Sáng tạo innovation cần đến nhiều hoặc rất nhiều tiền để tiến hành trong khi sáng tạo creativity chẳng cần phải có tiền mới có được.

Chiếc quần tà lỏncái áo thun rách không là sáng tạo creativity vì chẳng hề là thứ mới lạ độc đáo, dù chúng không cần có tiền mới có được và không định lượng được; do đó, việc sử dụng chiếc quần tà lỏncái áo thun rách để rao giảng cho “sáng tạo” là một sự đần độn ngu xuẩn của một tên thất học chả biết cái quái gì về “sáng tạo”, và cái y biết chỉ là một thứ sáng tạp hoặc sáng tả-pí-lù vốn dù chưa có tiếng Anh tương tự vẫn sẵn có giải thưởng thường niên cho nó tên Ig Nobel.

C) Những Gì Bọn Tiến Sĩ Tà Lỏn Không Biết Về “Sáng Tạo”

Tiensi 5

Nếu không bàn thêm về các loại sáng tạo theo nội hàm quá sâu sắc và chi tiết của từ ngữ tiếng Anh và chỉ dựa theo từ sáng tạo ở ý nghĩa bình dân nhất của tiếng Việt tức sử dụng chung đụng thoải mái không cần phân định hàn lâm, thì ngoài việc bọn tiến sĩ tà lỏn không hiểu biết gì sất về ý nghĩa nội hàm của các loại sáng tạo đã kể trên, chúng còn không hiểu gì về các sự thật sau:

1- Sáng Tạo Không Phải Là Việc Của Người Điên Và Thú Dại

Khi nói sáng tạo không phải là việc của người điên và thú dại, điều này chỉ đơn giản có nghĩa là mọi con người không điên và mọi con thú không dại đều có năng lực sáng tạo và có sáng tạo. Do dó, sáng tạo là hơi thở của một cơ thể sống dù của con người hay con vật, chứ không là điều kỳ vĩ đến độ phải hình thành một chương trình đào tạo đẳng cấp cao chốn giảng đường đại học. Công trình nên có về sáng tạo là các nghiên cứu mang tính tổng hợp về những sáng tạo nào mang tính cách mạng kỳ vĩ của con người và con vật trong lịch sử tiến hóa, chứ không phải là nội dung nhằm khuyên sinh viên nên có sáng tạo và quy trình hay lộ trình sáng tạo nên ra sao, vì lẽ nào sinh viên đã chưa hề sáng tạo ra cách mình tự ngồi dậy trong nôi?

2- Công Thức Sáng Tạo

Sáng tạo hoàn toàn không có công thức; do đó, hoàn toàn không có cái gọi là lộ trình sáng tạo để mà rao giảng chốn đại giảng đường đại học.

Sáng tạo không là quyền năng duy chỉ của cõi trên. Tù nhân có thể sáng tạo ra cách vượt ngục. Kẻ trộm có thể sáng tạo ra cách vô hiệu hóa CCTV. Tin tặc có thể sáng tạo cách trộm tiền từ ATM.

Bản chất của sáng tạo – trong sử dụng của tiếng Việt – do đó chỉ là sự vượt khó bằng một biện pháp có thể mới lạ, đơn giản vì các biện pháp khác đã được biết đến do đó rất có thể đã bị chặn ngăn bằng những biện pháp đối nghịch hữu hiệu.

Không hiểu được điều cơ bản này, người ta sẽ lầm lạc vong thân khi ngợi ca sáng tạo, nhấn sáng tạo chung chung của tiếng Việt vào ở ké bạo hành với sáng tạo khoa học hàn lâm của tiếng Mỹ Âu. Cũng vì vong thân nên mới có việc một tên tiến sĩ đẳng cấp lãnh đạo ở đại học Hoa Sen mới đem tà lỏn vào minh chứng điển hình cho sáng tạo, cứ như thể trình độ sinh viên trường hắn do yếu kém như hắn nên không hiểu gì về ý nghĩa của từ ngữ “sáng tạo” vậy.

3- Những Nội Dung Không Bao Giờ Được Phép “Sáng Tạo”

Ngoài ra, chỉ có bọn đần độn như thằng tiến sĩ tà lỏn mới không biết rằng có những nội dung tuyệt đối cấm sáng tạo, mà một vài trong số hàng tỷ nội dung ấy như sau:

a) Nghi Thức Quyền Lực Phổ Quát

Dân tennis chuyên nghiệp đều biết rằng chỉ có hai loại vợt được phép sử dụng, và rằng đối với Giải Grand Slam Wimbledon Anh Quốc thì nghiêm cấm các đấu thủ mặc trang phục (áo-quần-đầm-giày-vớ) không phải màu trắng. Việc sáng tạo ra mặt vợt tennis hình số 8 hay quả bầu nậm là việc của bọn hề. Việc mặc trang phục không phải màu trắng để thi đấu Wimbledon là của tên điên. Không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Dân celebrity chuyên nghiệp toàn thế giới đều biết rằng khi được Hoàng Gia Anh Quốc phong tước Hiệp Sĩ, người ấy phải học thuộc lòng các nội dung đối đáp ngôn từ, biết trang phục phải mặc, thuộc lòng các bước chân phải đi, thuộc lòng tư thế quỳ phải thực hiện. Kẻ nào tự cho mình là nghệ sĩ lừng danh thế giới để tửng tửng tự do sáng tạo đầu tóc trang phục dự lễ phong Hiệp Sĩ thì kẻ đó xem như đã biến mình thành người đầu tiên trên thế giới sáng tạo nên tình huống bị tống cổ ngay tại cổng chào của cung điện hoàng gia Anh. Không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Tất cả các nam diễn viên – dù là diễn viên chính kịch hay diễn viên hề – khi được mời dự lễ trao giải Oscar đều phải mặc lễ phục đen thắt nơ đen như nhau nếu không muốn bị tống cổ ngay từ lúc xuống xe ở đầu lối thảm đỏ. Không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Tất cả các thiên tài sáng tạo hàn lâm như Albert Einstein và tất cả các đồng nghiệp đa quốc gia của ông không bất kỳ ai mặc tà lỏn lên giảng đường. Không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Việc các giáo sư tại Mỹ khi lên lớp mặc áo quần xốc xếch thì (a) đó không phải là phong cách để “giáo sư” Việt hý hửng học tập, (b) đó là do giáo sư Mỹ phải dạy xuất sắc để hầu hạ khách hàng là sinh viên tức những người có quyền lực yêu cầu trường tống cổ giáo sư ra khỏi trường nếu dạy không ra hồn và do đó chất lượng siêu cao là duy nhất quan trọng tại lớp học, (c) các giáo sư Mỹ đều vận lễ phục tại các lễ tốt nghiệp của sinh viên, và (d) các giáo sư Mỹ khi thân chinh giảng dạy tại các nước khác ngay cả tại Anh hay Pháp đều không bao giờ ăn vận lếch thếch lôi thôi trên giảng đường vì để chứng minh bản thân giới hàn lâm buộc phải biết rõ các dị biệt văn hóa khi đến những nơi mình không phải “chủ nhà”. Không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Tất cả các tổng thống đều phải biết ngôn từ, ngôn phong, nghi lễ quỳ/cúi người hôn nhẩn Đức Giáo Hoàng ra sao khi được diện kiến. Mọi tự hào dân tộc tự ái dân gian đều bị hoàn toàn vất bỏ. Không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Để đón một nguyên thủ quốc gia, một loạt bắn đại bác có thể được thực hiện. Không một sáng tạo nào được phép đề ra, thí dụ thay bắn đại bác bằng nổ mìn, đốt dây pháo đại, bắn hỏa tiển đạn đạo từ tiềm thủy đỉnh, hoặc tăng số đạn đại bác lên 1.001 quả.

Tên tiến sĩ tà lỏn phải biết là hắn không bao giờ được phép tạo nên một lộ trình sáng tạo chõi lại các nghi thức quyền lực phổ quát.

b) Nhân Văn

Để nhà nhà có lễ hội tỉnh tỉnh có lễ hội, Việt Nam đã sáng tạo ra nhiều lễ hội để rồi bối rối trước nhiều trăm lễ hội nhiều ngàn lễ hội mỗi năm, mà không từng chịu hiểu rằng về văn hóa thì không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Có thể tham gia giải thích lịch sử như một khảo cứu mang tính thuần túy “cá nhân” đối với một chi tiết nhỏ có trong lịch sử chính thức của quốc gia chứ không được sáng tạo lịch sử quốc gia. Bọn Tàu sáng tạo lịch sử quốc gia khi bảo với dân của chúng (và “thế giới”) rằng tổ tiên chúng là chủ Biển Đông từ ngàn xưa. Bọn nhà sử học Việt sáng tạo lịch sử khi tổ chức hội thảo “quốc gia” bảo triều đại nào đó hoặc vị quan nào đó có công chứ không có tội với dân tộc Việt. Đối với lịch sử, dứt khoát không một sáng tạo nào được phép đề ra.

Có thể có quyền tự do tín ngưỡng – tức không bó buộc phải theo hoặc không được theo – đối với các tôn giáo chính thức nào đã được bó buộc phải theo các quy định luật pháp mỗi quốc gia. Không thể sáng tạo ra một tôn giáo.

Tương tự, truyền thống là những gì được hình thành xuyên suốt quá trình lập quốc của một quốc gia mà chưa bị thải loại trong đời sống của chính quốc gia đó. Không thể sáng tạo ra một thứ để gán vào đó danh xưng truyền thống.

Tên tiến sĩ tà lỏn phải biết là hắn không bao giờ được phép tạo nên một lộ trình sáng tạo cho bất kỳ nội dung nào thuộc phạm trù nhân văn.

c) Chân – Thiện – Mỹ

Tương tự, chân-thiện-mỹ chỉ được tôn trọng, tôn tạo, phát huy, chứ không hề được sáng tạo.

Tranh ảnh khỏa thân chỉ nhờ có ngụy biện mới được xem như là ‘vì mỹ”.

Tuy nhiên, áo vest hoặc áo thun rách mặc chung với tà lỏn ngay cả ngụy biện cũng không bao giờ giúp để được xem như “vì mỹ” để dùng làm minh chứng cụ thể cho một nội dung “sáng tạo” mà chính thằng tiến sĩ tà lỏn đó tôn vinh.

D) Tôi Sáng Tạo

Phê phán mắng mỏ người khác mà không nêu được gì nơi chính mình thì dứt khoát không bao giờ là phong cách khinh thế ngạo vật của Hoàng Hữu Phước.

Như đã nói, sáng tạo là việc cực kỳ bình thường và thường nhật của bất kỳ con người nào, huống hồ đối với những nhà chuyên nghiệp đặc biệt có thực sự theo đúng phong cách Âu Mỹ như một thể hiện gắn kết với kỹ năng problem-solving tức giải quyết các sự việc sự cố mà không nhà chuyên nghiệp thực thụ nào lại không có, dù ở cấp quản lý hay thừa hành.

Khi thấy tên Khoa Trưởng Khoa Ngoại Ngữ Nguyễn Văn Trang báo cáo khoa học về sáng tạo giáo cụ trực quan giảng dạy ngoại ngữ bằng cách treo lên bảng đen một bao đay nâu vàng (loại đựng gạo của nhà máy đay Indira Gandhi) nhúng sũng nước nhểu chèm nhẹp sàn hội trường rồi ịn các tranh vẽ lên (vào thủa cơ hàn mới giải phóng chưa có bảng nĩ hút giấy), rồi lại thấy một nữ giáo viên Anh Văn tên Kim Oanh tham gia báo cáo khoa học về danh từ tiếng…Nga, rồi lại thấy một nữ giáo viên Nga Văn tham gia báo cáo khoa học về…cách phân công khoa học nhóm sinh viên nào mang nùi giẻ và nhóm sinh viên nào mang xô nước phục vụ lao động làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, tôi quá chán ngán lập tức “làm chúng ghét” bằng cách đăng ký tham gia đăng đàn báo cáo khoa học với đề tài “Sáng Tác Thơ Ca Tiếng Anh Như Phương Pháp Học Thuộc Và Sử  Dụng Hiệu Quả Từ Vựng Tiếng Anh Văn Học Hàn Lâm” như một sáng tạo đúng nghĩa nhất vì chưa từng có ai trước đó từng nói đến. Vợ tôi – trước là sinh viên học cùng lớp với tôi và sau cũng làm giảng viên Ban Anh Văn cùng khoa với tôi – là nhân chứng cho việc sáng tạo này của tôi.

Khi thấy sự nghèo nàn của các giáo trình văn phạm tiếng Anh của Mỹ, của Nga, của Việt Nam, tôi đã sáng tạo ra các cách dạy khác về văn phạm, đặc biệt về Thụ Động Cách Passive Voice và về Câu Trực Tiếp/Gián Tiếp Direct/Indirect Speech, giúp các sinh viên nắm rõ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất về các nội dung này – tất nhiên với lời dặn là các em rằng hãy chỉ sử dụng khi các em dạy thêm, dạy tư, dạy trung tâm, chứ đừng bao giờ áp dụng tại các trường “nhà nước” để đừng phạm tội “dạy sai giáo trình” mà Bộ Giáo Dục đã đầu tư tỷ tỷ để hình thành. Đây cũng là một sáng tạo đúng nghĩa nhất vì chưa từng có ai trước đó từng có cách dạy như tôi. Vợ tôi cùng các giáo viên Anh Văn trước đây là sinh viên của tôi là nhân chứng cho việc sáng tạo này của tôi.

Khi thấy bộ môn dịch thuật cực kỳ hấp dẫn nhưng bị các đồng nghiệp né tránh, tôi đã sáng tạo ra cái gọi là Substitution Translation tức Dịch Thuật Điền Thế để qua giảng dạy bộ môn này – nhất là phạm vi khó nhất của dịch thuật là Dịch Việt-Anh – cung cấp cho sinh viên cơ hội mở rộng tối đa việc áp dụng từ ngữ/văn phạm/mỹ từ pháp/tu từ học tiếng Anh cho mỗi câu/mỗi đoạn văn tiếng Việt kể cả thơ ca tiếng Việt. Dịch thuật mà lại là môn học kỹ năng mở rộng như thế để nhảy múa hoan ca với ngôn từ, mổ xẻ cấu trúc câu thành các nhóm từ đa dạng và huê dạng thì cũng có thể gọi là một sáng tạo đúng nghĩa nhất vì chưa từng có ai trước đó từng dạy luyện dịch như thế. Vợ tôi và các giáo viên Anh Văn trước đây là sinh viên của tôi là nhân chứng cho việc sáng tạo này của tôi.

Khi thấy các nội dung văn hóa doanh nghiệp/khích lệ/động viên của công ty nước ngoài tôi đang công tác tương tự như các công ty nước ngoài khác đang hoạt động tại Việt Nam, tôi đã sáng tạo ra các nội dung như (a) tổ chức tặng quà nhân Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương lúc  Việt Nam vẫn chưa công nhận đó là quốc lễ, (b) tổ chức tặng tiền nhân Lễ Vu Lan và cho nhân viên về sớm 30 phút để họ có thể hoặc đi mua sữa và trái cây đến thăm cha mẹ hoặc mua hoa tươi viếng mẹ cha, (c) cho nữ nhân viên khi có thai được 7 tháng được sử dụng xe taxi miễn phí những khi đi làm/đi khám thai định kỳ/đi sinh con/đưa mẹ tròn con vuông về nhà/đưa con đi khám định kỳ cho đến khi an toàn hạnh phúc đi làm việc trở lại, (d) cho nam nhân viên được đi làm trể hoặc nghỉ nửa buổi có hưởng lương khi đưa con đi khám bịnh rồi đem toa thuốc cùng biên lai về Phòng Nhân Sự nhận lại toàn bộ chi phí khám bịnh cho con ấy, v.v. và v.v. dành cho nhiều trăm nhân viên tại các tỉnh thành có văn phòng đại diện của công ty. Đây cũng có thể gọi là một sáng tạo đúng nghĩa nhất vì chưa từng có ai hay Phòng Nhân Sự nào của bất kỳ công ty nào trước đó từng áp dụng như thế. Các nhân viên của tôi – trong đó có Cô Lại Thu Trúc – là nhân chứng cho việc sáng tạo này của tôi.

Khi thấy thế giới lâm vào cảnh suy thoái toàn cầu, tôi lập tức lên emotino.com tuyên bố hỗ trợ tư vấn miễn phí cho các doanh nghiệp, và một số chủ doanh nghiệp đã tìm đến để nhận các hỗ trợ về tinh thần đó, kể cả những trường hợp cứu những vị bị dính vào các tranh chấp mà phía đối tác nước ngoài tận dụng những lắc léo ngôn từ tiếng Anh để hưởng lợi, v.v.  Đây cũng có thể gọi là một sáng tạo đúng nghĩa nhất vì chưa từng có chủ doanh nghiệp nào lại ra sức cứu thua cho các chủ doanh nghiệp khác bằng các kỹ năng mềm như tôi cả. Các vị doanh chủ ấy là nhân chứng cho việc sáng tạo này của tôi.

Tóm lại, nếu nói chuyện với sinh viên một trường đại học nào đó về cái gọi là sáng tạo, tôi có biết bao sự thật về chính mình để làm thí dụ minh họa cho các em, chứ không phải như kẻ trắng tay chưa từng sáng tạo bất cứ cái gì trong suốt cuộc đời đi học đi dạy đi làm đi kiếm ăn của y đến độ phải cầu cứu vào chiếc quần tà lỏn như thằng tiến sĩ ấy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. 04-8-2013

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Trăm Trứng 29-10-2014

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai  09-4-2015

Pháp Luân Công  07-10-2015

Đám Cưới Của Tôi   09-12-2015

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình  17-12-2015

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Donald Trump Phơi Bày Thân Phận Người Mỹ Gốc Việt Chống Việt

Hoàng Hữu Phước, MIB

27-4-2017

LoaLo1

Đây là bài thứ 5 trong loạt 5 bài của cụm chủ đề “Donald Trump Làm Thế Giới Lõa Lồ”.

Do có những nhập nhằng bất minh bất định đầy phóng túng trong việc sử dụng tiếng Việt bất kể độc lập trong nội bộ Việt Nam hoặc có kết liên với những từ tương đương trong tiếng Anh, nhất là khi một ngôn ngữ không là tử ngữ thì các từ ngữ hiện hữu sẽ luôn chịu ít nhất bốn tác động từ vựng lexicologically thường thấy của thăng bậc upgradation, giáng cấp degradation, tục hóa distortionization, và triệt dụng obsoletization, những phần định nghĩa sau đây, do đó, nhằm làm rõ các ý nghĩa ngôn từ Tiếng Việt trước khi vào chủ đề “Dân Nhập Cư Việt”.

A) Định Nghĩa

1- Dân Bản Địa & Dân Bản Địa Mỹ:

Trong tiếng Anh, “dân bản địa” được gọi là indigenous peoples, first peoples, aboriginal peoplesnative peoples, hay autochthonous peoples, để nói về những hậu duệ của các giống dân ngụ cư ban đầu ở một vùng miền còn duy trì những nét văn hóa ban đầu của tiên tổ, để phân biệt với những nhóm cư dân định cư sau này từ quá trình di dân, chiếm hữu đất đai, hoặc chiếm thuộc địa hoặc cả ba.

Tại Mỹ, những người bản địa được gọi là native Americans, American Indians, Amerindiansindigenous Americans hoặc đơn giản là Indians mà tất cả người có hiểu biết ở Việt Nam quen gọi là người da đỏ (dân Việt Nam Cộng Hòa gọi là “mọi da đỏ” ắt từ tâm lý bái phục tôn thờ người da trắng thượng đẳng).

Theo chính thức công nhận của Cục Bản Địa Hoa Kỳ (BIA – Bureau of Indians Affairs) tháng 01-2016 thì Mỹ hiện có 566 tộc người da đỏ (chưa kể khoảng 250 tộc da đỏ khác chưa được luật pháp công nhận đủ điều kiện để được hưởng các chương trình phúc lợi quốc gia), chẳng hạn như các giống dân Kumeyaay, Cocopah, Pascua Yaqui, Athabascan, Haida, Tsimshian, Inupiaq, Blackfeet, Nakota, Cree, Anishinaabe, Huron, Lenape, và Iroquois, v.v. Hai cái tên tộc da đỏ mà người Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa biết đến nhiều nhất qua các bộ phim truyền hình kiểu The Wild Wild WestDaniel Boone có các tộc “mọi da đỏ” là Apache và Sioux bị các “anh hùng cao bồi” bắn giết như rạ, tương tự như trong các bộ phim “hoành tráng” tàn sát Indians như Broken Arrow, Apache, Cheyenne Autumn, Bury My Heart at Wounded Knee, v.v.

Nếu như người bản địa Maori ở Tân Tây Lan có danh dự, có tự tôn, có tự hào, được tôn trọng, được chính phủ công khai xin lỗi vì đã chiếm đóng đối xử kém công bằng trong quá khứ, được hưởng các phúc lợi đầy đủ, phát triển cao nghề nghiệp, phát triển cao tộc bản địa, luôn luôn được người New Zealand da trắng tự hào kính trọng (mỗi khi khai trương một đại sứ quán hay tổng lãnh sự quán ở nước ngoài, New Zealand đều đưa các pháp sư Maori đến nhảy múa làm phép cúng tế ban phước lành); thì dân bản địa Mỹ đã hứng chịu các cuộc đại thảm sát, bị dồn dân để chiếm đất (Indian Removal), không thể phát triển dân tộc, không được kính trọng bởi người Mỹ da trắng, và hiện nay đa số chỉ biết nhậu nhẹt say sưa và sủ dụng ma túy mỗi khi đến ngày lĩnh tiền trợ cấp.

Theo tác giả D.Stannard nêu trong quyển American Holocaust tức Cuộc Đại Thảm Sát Ở Hoa Kỳ (nhà xuất bản Oxford Press năm 1992) thì Christopher Columbus khi đổ bộ lên “Tân Thế Giới” đã tàn sát nửa triệu “dân bản địa”, còn cuộc diệt chủng dài nhất và giết chóc nhiều nhất lịch sử nhân loại (the world’s longest genocide in the history of mankind and loss of human lives) sau đó diễn ra suốt quá trình lập quốc Hoa Kỳ đã tàn sát từ 95 triệu đến 114 triệu dân bản địa Mỹ (và Canada) vượt cực xa cuộc đại thảm sát Holocaust của Adolf Hitler (tàn sát 6 triệu dân Do Thái) nhưng chẳng bao giờ bị lên án.

Ghi chú: Việt Nam không có dân bản địa mà chỉ có các dân tộc thiểu số. Những lập luận rằng dân tộc Chàm là dân bản địa chỉ là chiêu bài của những kẻ chống Việt để hàm ý Việt trước đây cũng xâm lược như ai, cũng diệt chủng như ai, cũng đế quốc như ai, cũng tàn bạo như ai, từ đó tự thanh minh rằng những kẻ xâm lược Việt cũng chỉ làm những việc bình thường. Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ nói gì về dân bản địa Chàm, nhưng khi làm cho Việt Nam Cộng Hòa thất thủ rồi bỏ chạy thì những kẻ thất trận bắt đầu rêu rao về dân bản địa Chàm với hy vọng xóa bớt hào quang của Việt và xui giục hậu duệ của dân bản địa Chàm vùng lên đòi cả hai việc xin lỗi và bồi thường. Cần nhắc lại ở đây là (a) trong cuộc chiến tranh Chàm xâm lược Việt thì chiến thắng thuộc về phía bị xâm lược để rồi sự chung sống hòa bình thanh bình hòa hợp đã lồng ghép Chàm vào Việt, trong khi đó thì (b) trong cuộc chiến tranh Cam xâm lược Việt thì chiến thắng thuộc về phía bị xâm lược nhưng do không bao giờ có sự chung sống hòa bình thanh bình hòa hợp nên không bao giờ có sự lồng ghép Cam vào Việt. Tương tự đã không có sự lồng ghép Thái hay Pháp hay Nhật hay Mỹ hay Tàu vào Việt.

2- Dân Bản Xứ Mỹ & Dân Mỹ “Gốc” Mỹ

Thủa còn hồng hoang, người Việt Nam Cộng Hòa sính dùng kiểu nói “học sinh ngữ với người bản xứ” tức học tiếng Anh với thầy cô người Mỹ (hoặc Anh), tức là với “native people”. Đó là kiểu nói ngày nay đã trở thành yếu đuối đầy rủi ro do từ “native” mà ra như đã phân tích ở phần “dân bản địa” vì nếu vậy sẽ có nghĩa học tiếng Anh hiệu quả nhất là học với thầy cô nào là hậu duệ của người da đỏ.

Còn nếu phát hiện bẫy rập trên rồi lái đi thành “học tiếng Anh với người Mỹ gốc” thì lại là một bẫy rập khác. Lý do là với đặc thù lịch sử hoàn toàn khác biệt (nghĩa là có sử liệu cụ thể do không lập quốc từ thời đại quá xa xưa chưa có chữ viết để có các truyền thuyết truyền khẩu như sử Việt), người Mỹ gốc ắt để nói về hậu duệ của 132 người (102 là hành khách) trên con tàu Mayflower (chở những người ly khai trốn chạy khỏi sự tàn bạo đàn áp tôn giáo của Vương Quốc Anh rồi đặt chân lên Tân Thế Giới năm 1620) chứ không phải bất kỳ ai là công dân Mỹ.

Như vậy, dân bản xứdân gốc sẽ mang ý nghĩ vô cùng hạn hẹp về những công dân ở một quốc gia mà sự lưu trú lâu đời đã khiến cây phả hệ ban đầu dính dáng đến “nhập cư” hoàn toàn biến mất hoặc gảy khúc hoặc nếu còn nguyên cũng chỉ để tham khảo chứ tuyệt đối vô nghĩa về thực tế trách nhiệm đối với và gắn bó bất kỳ với “nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên”.

Nói một cách dễ hiểu hơn: dân bản xứ Việtdân gốc Việt là hậu duệ của những người từ rất lâu đã sống trên đất nước hình chữ S mà nay gọi là Việt Nam, chẳng dính dáng gì đến “tổ tiên truyền thuyết” xa xưa vốn là dân bản địa Động Đình Hồ, chẳng còn gắn bó gì đến vùng Hồ Nam của Trung Quốc, và chẳng có trách nhiệm nghĩa vụ phục vụ Hồ Nam của Trung Quốc, và chẳng có thậm chí chút cỏn con nào về gắn bó tinh thần với vùng Động Đình Hồ bao la rộng lớn ấy của Trung Quốc cả.

Tương tự, nói một cách dễ hiểu hơn: dân bản xứ Mỹ  và dân gốc Mỹ chẳng dính dáng gì đến dân bản địa các quốc gia khởi phát di dân đến Hoa Kỳ, chẳng còn gắn bó gì đến các quốc gia khởi phát di dân ấy, và chẳng có trách nhiệm nghĩa vụ phục vụ các quốc gia khởi phát di dân cũng như chẳng có thậm chí chút cỏn con nào về gắn bó tinh thần với các quốc gia khởi phát di dân ấy cả

Dân bản xứ Mỹdân gốc Mỹ chưa hề – và vĩnh viễn không bao giờ – mang ý nghĩa rằng tất cả từ ngữ, thanh âm, phát âm của người ấy khi sử dụng “tiếng Anh” đa miền của Mỹ đều là tiêu biểu và chính xác. Tương tự cũng đúng với dân bản xứ Việtdân gốc Việt đối với “tiếng Việt” đa miền của họ.

Ghi chú: Việt Nam và bất kỳ quốc gia nào khác đều có dân bản xứdân gốc nhưng với những nội hàm không tuyệt đối giống nhau.

3- Dân Nhập Cư & Dân Nhập Cư Tại Mỹ

Dân nhập cư là những ai vì một lý do nào đó – từ loạn lạc, đói nghèo, thảm họa thiên tai, cho đến bị đuổi xua – đã đến sống hẳn tại một quốc gia khác, sau đó trở thành công dân của quốc gia khác đó. Khi “Tân Thế Giới” được phát hiện như một xứ miền phi-quốc-gia tức không-sổ-đỏ, thiên hạ các nơi lũ lượt kéo về nhưng đó là “di dân” chứ không phải “dân nhập cư” do chưa định hình cương thổ quốc gia.

Donald Trump đã có quanh mình những người tài giỏi – đặc biệt là phụ nữ – có gốc dân nhập cư Mỹ chẳng hạn các quan chức cấp cao như Phó Tổng Thống Mike Pence (gốc Ái Nhĩ Lan), Bộ Trưởng Ngân Khố Steven Mnuchin (gốc Do Thái), Bộ Trưởng Tư Pháp Jeff Sessions (gốc Tô Cách Lan-Ái Nhĩ Lan), Bộ Trưởng Lao Động Alex Acosta (gốc Cuba), Bộ Trưởng Giao Thông Elaine Lan Chao (gốc Đài Loan), Bộ Trưởng Giáo Dục Betsy DeVos (gốc Hà Lan), Giám Đốc Nhân Sự Tòa Bạch Ốc Reince Priebus (gốc Đức-Hy Lạp), Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia Dan Coats (gốc Đức-Thụy Điển), Đại Sứ Mỹ Tại Liên Hợp Quốc Nikky Haley (gốc Ấn Độ), hoặc Cố Vấn Tổng Thống Kellyanne Conway (gốc Ái Nhĩ Lan-Ý Đại Lợi), v.v., hoặc được ủng hộ bởi những CEO lừng danh có gốc dân nhập cư như Peter Thiel (gốc Đức) và Elon Musk (gốc Nam Phi), v.v. Bản thân Donald Trump có gốc Đức-Tô Cách Lan, còn vợ ông hiện nay là Melania Trump gốc Nam Tư.

Như vậy, dân nhập cư tại Mỹ trãi qua thời gian thật dài (hoặc thật ngắn, như trường hợp Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump) một cách hợp pháp đã cư trú, làm việc, phát triển gia đình và sự nghiệp tại Mỹ, nhập quốc tịch trở thành công dân Mỹ.

Dân nhập cư lậu tại Mỹ là những người đột nhập vào Mỹ một cách bất hợp pháp hoặc lợi dụng sự sơ hở của luật pháp Mỹ (vào Mỹ rồi sinh con để con tự động trở thành công dân Mỹ). Đã là “lậu” thì dứt khoát phải bị trục xuất – dù lẳng lặng trục xuất hàng triệu người kiểu Bill Clinton/George W. Bush/Barack Obama, hay ồn ào trục xuất bằng sắc lịnh kiểu Donald Trump.

Lõa Lồ_Bài 2 3

Ghi chú: Việt Nam và bất kỳ quốc gia nào khác đều có dân nhập cư dân nhập quốc tịch.

B) Donald Trump Phơi Bày Thân Phận Người Mỹ Gốc Việt Chống Việt

Phần này không nói về người Mỹ gốc Việt chung chung vì nhân dân Hoa Kỳ chắc chắn tự hào có đông đúc những công dân kiệt xuất từ lượng người nhâp cư hàng năm trong bao thập kỷ qua đến từ nhiều quốc gia vùng miền khắp thế giới với sức khỏe, vốn tài năng, và vốn tài lực. Giáo sư Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, giảng viên Trường Sĩ Quan Lục Quân Đà Lạt, giảng sư các đại học Hoa Kỳ, cố vắn chính phủ Singapore, công dân Mỹ, blogger uyên bác tiếng Anh và tiếng Việt tích cực nêu cao chính nghĩa của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam với tư cách nhà nghiên cứu đúng nghĩa hàn lâm và nhà phê bình đúng nghĩa hàn lâm chứ không với tác phong vác cờ đỏ sao vàng gào thét giữa đường giữa sá “biểu tình thân Việt” để chống “biểu tình chống Việt”, là một bậc kỳ tài Mỹ gốc nhập cư.

Từ những nêu rõ ngữ nghĩa trên và với chiến thắng vang dội đầy cuốn hút của tư tưởng dân túy Nước Mỹ Trên Hết do Donald Trump khởi xướng đang dần định hình tương lai chính trị thế giới trong phần còn lại của Thế Kỷ XXI, rất dễ nhận ra sự phơi trần các yếu điểm trầm kha sau của dân nhập cư Việt tại Mỹ:

1) Vô Tổ Quốc

Đối nghịch với những người Mỹ như Thầy Trần Chung Ngọc là các nhóm người vô tổ quốc có – hoặc chưa có – quốc tịch Hoa Kỳ.

Vô tổ quốc vì ngay cả khi họ biến thành người Mỹ khi cầm trong tay giấy nhập quốc tịch Hoa Kỳ thì họ vẫn gào thét giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ chả biết của quốc gia nào để khóc than “Quốc Hận”, để “biểu tình” chống đối quốc gia Việt Nam của người khác mà quốc gia Mỹ của họ thiết lập bang giao chiến lược hữu hảo, và tích cực gây áp lực cúng phiếu bầu cho nghị sĩ nào đồng ý tập trung đập Việt Nam về nhân quyền chứ không tập trung phụng sư Hoa Kỳ làm nó vĩ đại trở lại.

2Lạc Lỏng:

Người Mỹ gốc Việt (tức dân nhập cư Việt trở thành công dân Hoa Kỳ) có thân phận lạc lỏng vì là công dân Hoa Kỳ nhưng lại hoàn toàn không như các người Mỹ gốc khác (tức dân nhập cư nước khác trở thành công dân Hoa Kỳ), vì quá nhiều người Mỹ gốc Việt mà các hoạt động của họ chống phá Việt Nam trên đất Mỹ cho thấy họ vẫn còn “gắn bó” mật thiết với Việt Nam chứ không phải toàn tâm toàn ý với quê hương Hoa Kỳ, như thể họ có trách nhiệm nghĩa vụ phục vụ sự tồn tại của “Việt Nam của họ” chứ không phải phục vụ lợi ích quê hương Mỹ, khẳng định họ hoàn toàn để tinh thần lệ thuộc vào duy chỉ vấn đề Việt Nam, sẵn sàng hưởng phúc lợi công dân Hoa Kỳ để gây phức tạp cho chính phủ Hoa Kỳ và doanh nghiệp Mỹ trong đối ngoại với Việt Nam và giao thương với Việt Nam.

Vài ba người Mỹ bản xứ, người Mỹ gốc, và người Mỹ nhập cư thuộc giới báo chí, chính trị, và kinh doanh đã thố lộ với tác giả bài viết này rằng họ rất có ác cảm với những người Mỹ gốc Việt chống Việt, xem người Mỹ gốc Việt này là những kẻ lạ xa hoặc kẻ phá thối vì hay “biểu tình” cho một quốc gia nào đó không tồn tại, chống hoài duy chỉ một quốc gia đang tồn tại mà quá nhiều người Mỹ gốc và người Mỹ bản xứ mừng vui khi quá khứ với đất nước đó đã may mắn được khép lại, khiến đường sá bị chặn ngăn gây khó khăn cho những người Mỹ ái quốc đang muốn đến cơ quan làm việc đúng giờ để cống hiến cụ thể cho sự nghiệp Làm Nước Mỹ Vĩ Đại Trở Lại.

3Vị Thế Thấp Nhất Về Chính Trị Và Trị Chính:

Vì không ái quốc nghĩa là không tận tụy hết lòng hy sinh cho đất nước Hoa Kỳ – dù đó là hy sinh thời gian, hy sinh tuổi thanh xuân, hy sinh công sức, hy sinh bạc tiền, và hy sinh cả ký ức về hận thù cá nhân hay gia đình đối với Việt Nam – nên người Mỹ gốc Việt chống Việt tự biến thành lạc lõng trong cộng đồng Mỹ, bị xem như vô ơn, nên chỉ có thể có lẻ tẻ vài người Mỹ gốc Việt trở thành dân biểu cho hoặc lãnh đạo tại địa phương nhỏ nào có thật đông cử tri người Việt chứ không thể có bất kỳ nghị sĩ ở cấp độ Đảng và quốc gia sánh bằng các nghị sĩ Mỹ gốc Cuba như các ứng cử viên tổng thống Đảng Cộng Hòa so kè đối đầu với Donald Trump như Ted Cruz và Marco Rubio, hoặc Alex Acosta làm Bộ trưởng Lao Động trong nội các Donald Trump. Không xem Nước Mỹ Trên Hết, không vác chỉ mỗi quốc kỳ Hoa Kỳ diễu hành với lòng tự hào dân tộc Mỹ, và tuyệt đối không dại dột cởi trần cho người Mỹ khác xem hình xâm lá cờ khác trên lưng, thì các người Mỹ đã nêu ở phần Dân Nhập Cư ở trên đã không trở thành rường cột quốc gia trên chính trường của đại siêu cường Hoa Kỳ đứng đầu thế giới. Người Mỹ gốc Việt có thể trở thành một hạm trưởng chứ không thể trở thành Đô Đốc Hải Quân Mỹ, càng không thể trở thành Bộ Trưởng Quốc Phòng, vì những chức danh này chỉ dành cho những người sẵn sàng lăm le trừng trị bất kỳ quốc gia nào gây hại cho an ninh Hoa Kỳ, dân chúng Hoa Kỳ, chứ không phải tự tụ tập tổ chức diễu binhQuốc Hận” không mặc quân phục Hoa Kỳ và chẳng thuộc phiên chế quân đội Hoa Kỳ lăm le hổ hùng hực hậm phát biểu nảy lửa chống Việt Nam Cộng sản.

4- Dễ Bị Tổn Thương:

Theo thời gian, càng về sau này thì (a) thế giới càng loạn lạc hơn; (b) kinh tế thế giới càng khó khăn hơn; (c) chủ nghĩa dân tộc dân túy lấn lướt càn quét hơn trên quy mô toàn cầu; (d) bạo loạn do Đảng Dân Chủ xách động tại Mỹ chống Donald Trump vì Trump đắc cử và lan ra thế giới mà điển hình là bạo loạn tại Pháp chống ứng cử viên tổng thống Marine Le Pen vì Le Pen thắng phiếu các đảng chính trị tinh hoa truyền thống; và (e) tinh thần “quốc gia trên hết” trở thành khả dụng trên toàn cầu; khiến

Tất cả các tình thế cực đoan sẽ làm người Mỹ gốc Việt trở nên phơi mình dễ bị tổn thương một khi những người Mỹ bản xứ hay người Mỹ gốc trở thành nạn nhân của suy thoái kinh tế sẽ trút cơn thịnh nộ cực đoan lên đầu những vật tế thần mà họ cho rằng đã chỉ biết hưởng trợ cấp từ tiền thuế của những người Mỹ ái quốc, không làm gì phụng sự đất nước Hoa Kỳ, chăm chỉ “biểu tình” ngăn cản các chính sách của chính phủ khuếch trương thương mại với Việt Nam khiến những người Mỹ ái quốc trong cộng đồng người Mỹ bản xứ, người Mỹ gốc, người Mỹ nhập cư khác, mất “job”. Cái cộng đồng nổi điên the madding crowd ấy có khi còn có sự tham gia vầy đoàn của những người Mỹ bản địa vốn sẽ nhận được các trợ cấp ít hơn do tác động của suy thoái kinh tế, tạo thành một thế lực khủng khiếp mà những người Mỹ gốc Việt chống Việt chưa từng tưởng tượng nổi.

C) Thuyết Khách Lăng Tần

Sự nói thêm ở đây thật sự không cần thiết, do ý nghĩa trần trụi của trần trụi là tất cả được phơi bày rõ nét, đầy đủ, chân phương. Lời biện thuyết của nhà biện sĩ khi thuyết khách, nếu có, cũng chỉ là sự tổng kết đúc rút từ các phần trên dành cho người Mỹ gốc Việt như:

1) Lòng Ái Quốc

Hãy yêu nước của bạn. Hãy tự hào về đất nước của bạn. Hãy làm cho đất nước của bạn vĩ đại trở lại. Nước của bạn là Hoa Kỳ, chỉ có Hoa Kỳ, và mãi mãi là Hoa Kỳ.

Hãy để người dân Việt yêu nước của họ, tự hào về nước của họ, làm cho nước của họ vĩ đại. Vì nước của họ là Việt Nam.

Đây là những “đồng bào” của bạn, nhân dân của bạn:

Loa Lo4Loa Lo3

họ là những thủy quân lục chiến Mỹ cùng hy sinh chân trái trên chiến trường Afghanistan, và họ là những công dân Mỹ tự hào về quốc gia Hoa Kỳ của họ bằng cách luôn là những công dân tích cực khi tham gia giải marathon tại Boston tuần trước đã giương cao lá cờ Mỹ bất kể họ là người nhập cư da trắng hay người bản xứ da đen, thậm chí còn sẵn sàng tham gia cứu hộ vác một vận động viên nữ bị vọp bẻ về đến đích.

Bạn – và toàn gia đình nhập cư từ Việt Nam của bạn – có đã là một công dân Mỹ thực thụ, tự hào về đất nước Mỹ siêu cường, luôn và chỉ giương cao lá quốc kỳ Mỹ vinh quang, và hy sinh một phần thân thể của bạn từ ý chí quyết tử của bạn cho tổ quốc Hoa Kỳ quyết sinh?

2) Lòng Biết Ơn

Rất nhiều người dân nhập cư vào Mỹ đã cho thấy qua cuộc sống tích cực của họ, cũng như qua các dòng “tweet” trên Twitter rằng cha mẹ của họ đã từng dạy họ phải luôn nhớ ơn và phải đền ơn đất nước đã cưu mang đại gia đình của họ ra sao.

Thậm chí các công dân Mỹ dòng dõi nhập cư ấy đã

Loa Lo5

Người Mỹ gốc Việt chống Việt lẽ nào cho rằng chiến binh Mỹ bản xứ da trắng đã hy sinh hai chân và một tay này đang trò chuyện với Phó Tổng Thống Mike Pence  sẽ dễ dàng chấp nhận việc người Mỹ nhập cư gốc Việt chống Việt an hưởng thanh bình kéo nhau đi “biểu tình” khiến cha mẹ của anh ấy thiệt hại thu nhập từ đẩy xe bán lẻ trên đường phố còn các em của anh ấy phải chạy trốn vì cửa hàng của ông chủ Mỹ dân nhập cư Đức kinh doanh nón lá Việt Nam treo cờ đỏ sao vàng quảng bá dịch vụ du lịch đến Việt Nam bị đập phá dọa đe?

Loa Lo6

Lòng biết ơn không bao giờ là nét đặc thù Á Đông. Lòng biết ơn là phân tử luôn có nơi mỗi sinh linh từ lúc được sinh ra. Lòng biết ơn được gia tăng hay thải loại qua giáo dục và tác động ngoại vi.

Chỉ cần còn sở hữu phân tử mang tên lòng biết ơn, người dân nhập cư sẽ biết phải làm gì để tỏ lòng biết ơn đất nước cưu mang mình, biết ơn sự hy sinh của dân bản xứ để còn tồn tại đất nước ngày nay cưu mang sự nhập cư của mình, từ đó toàn tâm toàn ý phụng sự quốc gia mới của mình và dân tộc mới của mình, vì rằng theo lẽ tự nhiên thì không bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào lại chấp nhận sự vô ơn của dân nhập cư cả. Không bao giờ.

3) Hãy Chống Cộng

Hãy chống Cộng – trên cơ sở các giải thích trong nhiều bài viết này về Cộng Chống Cộng – vì rằng đây là hoạt động tinh hoa triết học tức tinh hoa tư duy của nhân loại, và rằng từ khi xuất hiện triết thuyết cộng sản chủ nghĩa dũng mãnh cuốn phăng thế giới biến thế giới thành song cực thì cho đến tận ngày nay vẫn chưa có bất kỳ chủ nghĩa nào mới hơn “chủ nghĩa cộng sản”, triết thuyết trí tuệ nào mới hơn triết thuyết của Tư Bản Luận – chưa nói gì đến khả năng dũng mãnh biến thế giới thành đơn cực – mà chỉ rộ phát các lời nói Chống Cộng và các hành vi Chống Cộng phi-trí-tuệ do không biết rằng cái việc Chống Cộng hoàn toàn không ở đẳng cấp triết học trí tuệ của “chống chủ nghĩa cộng sản” mà chỉ ở cấp thấp lè tè của “chống Việt Nam” mà Việt Nam thì chẳng dính dáng gì đến sự ra đời của “chủ nghĩa cộng sản”. Việt Nam chống Mỹ vì Mỹ gây chiến ở Việt Nam chứ không vì Mỹ dính dáng đến sự ra đời của “chủ nghĩa tư bản”. Việt Nam không chống chủ nghĩa tư bản vì (a) Việt Nam không ai có khả năng đề ra một triết thuyết kinh tế mới hơn, vì (b) Việt Nam thấy thiên hạ đã có sẵn bậc kỳ tài đã viết ra tác phẩm kinh tế thiên cổ hùng văn mang tên Tư Bản Luận rồi nên Việt Nam chọn cách ngồi rung đùi thưởng lãm trí tuệ thiên hạ, và vì (c) Việt Nam khi thấy các nước tư bản hạ mình áp dụng sửa sai từ các cảnh báo của Tư Bản Luận để trở thành các nước xã hội chủ nghĩa phúc lợi đầy kiêu hãnh nên bắt chước hạ mình áp dụng các chiêu thức phát triển của các nước tư bản để trở thành nướctư bản Đỏ lắm kiêu căng.

Hãy chống Cộng để có thể trở thành nhà tư tưởng lớn của nhân loại, phục vụ nhu cầu tư duy của nhân loại, góp phần định hình trận địa kinh tế của nhân loại trong bối cảnh suy vi kinh tế xã hội toàn cầu, vì rằng Tư Bản Luận vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản là một tân triết thuyết kinh tế cho một tân ý thức hệ kinh tế. Triết thuyết kinh tế ấy tuy đã cũ mèm, chưa bất kỳ ai trong thế giới tư bản có khả năng đề ra bất kỳ triết thuyết nào mới hơn mà chỉ biết cóp nhặt những cảnh báo trong Tư Bản Luận để áp dụng sửa sai/phòng thủ/tử thủ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa với các chiêu thức liên quan đến gia tăng phúc lợi người lao động cũng như cho người lao động có “công đoàn” và có “quyền lực” đình công, v.v.

Hãy chống Cộng vì đó là quyền tự do phát triển tri thức cá nhân thành tác phẩm đồ sộ tầm cỡ Tư Bản Luận.

Hãy chống Cộng vì đó là thời cơ và là cách duy nhất để một người Mỹ gốc Việt có thể chạm tay vào giải thưởng Nobel về Kinh Tế.

Hãy ngưng ngay chống Việt vì không ai trong số những người Mỹ thật sự – dù là người bản địa, người bản xứ, người nhập cư – lại chống Việt cả. Người Mỹ thực sự chỉ chống Trump hay ủng hộ Trump, chống Dân Chủ hay chống Cộng Hòa, như đang đấu khẩu chí chóe mắng chửi khí thế ngập tràn các trang mạng xã hội.

Hãy ngưng ngay chống Việt vì đó là hành động ngu xuẩn, vì rằng phần lý lịch của tất cả các bậc kỳ tài gốc nhập cư tụ hội quanh Donald Trump đều có ghi nhận về các đấng sinh thành nhập cư của họ đã lao nhọc trên đồng ruộng Mỹ, tại các xưởng cơ khí, tại các dây chuyền sản xuất tập trung dưỡng nuôi họ trở thành những công dân Mỹ sáng giá thành đội ngũ gián tiếp cai trị Hoa Kỳ, trong khi thời đại tân tiến hiện nay với các thiết bị ghi hình lưu trữ quá dễ dàng sẽ cung cấp cho các đối thủ tranh cử sau này của hậu duệ của các người Mỹ gốc Việt chống Việt bằng chứng tấn công cho thấy ông cha của ứng viên hậu duệ ấy đã tích cực “biểu tình” ra sao với lá cờ quái dị ba sọc đỏ chứ không phải lá quốc kỳ Mỹ và trang phục quái dị không phải quân phục các quân chủng Hoa Kỳ.

Hãy ngưng ngay chống Việt vì đó là hành động ngu xuẩn, vì rằng – như đã nêu rõ trong bài Tâm Tình Một Phụ Nữ Việt Kiều – không dân nhập cư nào lại ngu đến độ nói điều dơ bẩn thối tha về đất nước nguồn gốc của mình để rồi mình bị các cộng đồng khác bịt mũi còn con cái mình xấu hổ vì là con của người thuộc một dân tộc ăn dơ ở dáy dốt nát hèn hạ.

Nên nghe lời thuyết khách của biện sĩ Lăng Tần để Hoa Kỳ rồi  sẽ có vị Tổng Thống mà tổ tiên là dân nhập cư gốc Việt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tâm Tình Một Phụ Nữ Việt Kiều  đăng trên Emotino.com ngày 08-3-2011, đăng lại trên Wpordpress.com ngày 20-12-2015

Chống Cộng  21-10-2015

Tết Tây Trộn Tết Ta

Chuyện Vớ Vẩn

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-01-2017

Nghe đâu có việc luận tranh về nội dung nên hay không nên “sáp nhập” Tết Dương Lịch với Tết Nguyên Đán.

Xin nói thẳng là những người tham gia đóng góp ý kiến sau khi vấn đề được nêu lên đều rất tích cực bút chiến khi thấy có sự nêu lên một vấn đề.

Xin nói thẳng là người đầu tiên nêu vấn đề để ấy nhằm khuấy động không gian mạng là kẻ dỡ hơi.

Nhiều vị thuộc “giới tinh hoa” (thạc sĩ/tiến sĩ/nhà báo/nhà văn/nhà nghệ sĩ) bắt đầu lên tiếng ủng hộ việc sáp nhập với các dẫn chứng nào là “hội nhập”, nào là “vẫn có thể bảo tồn văn hóa truyền thống”, nào là “khắc phục những đứt đoạn về công việc, giao thương quốc tế, hao tốn của cải vật chất xã hội” nào là “Nhật gộp chung cả hai Tết”, nào là “Mỹ chỉ có 10 ngày lễ quốc gia”, v.v. và v.v.; trong khi cộng đồng khác cũng  trong giới tinh hoa nhưng phản bác việc gộp chung thì nêu tựu trung ý kiến toàn về văn hóa dân tộc cội nguồn đối với tổ tiên.

Cộng đồng không ủng hộ việc “sáp nhập” (tức gộp chung) lẽ ra không cần phải tham gia bút chiến, đơn giản vì

a) Không bao giờ có vụ “sáp nhập” dỡ dỡ ương ương xằng bậy ấy ở Việt Nam, và

b) Vấn đề tổ tiên hay truyền thống hoặc văn hóa là vấn đề đương nhiên đối với tất cả các ngày lễ chính thức của quốc gia chứ không chỉ riêng Tết Nguyên Đán.

Cộng đồng ủng hộ việc “sáp nhập” (tức gộp chung) lẽ ra nên tham khảo đủ đầy, chính xác, trước khi phát biểu, đơn giản vì tất cả những luận điểm quý vị ấy nêu lên thì chưa có bất kỳ lập luận nào đúng cả, chẳng hạn

a) Hoa Kỳ mỗi năm có 10 ngày lễ quốc gia tức cấp liên bang, nhưng có đến 57 ngày nghỉ lễ cấp tiểu bang mà một số ngày lễ cấp tiểu bang ấy được áp dụng luật định tại ít nhất 1 tiểu bang và nhiều nhất tại 39 tiểu bang (Hoa Kỳ có 50 tiểu bang). “Nghỉ lễ” có nghĩa là tất cả các trường học và các cơ quan tiểu bang đều đóng cửa trong ngày nghỉ lễ quốc gia (tức liên bang) và ngày nghỉ lễ tiểu bang. Nếu ngày nghỉ lễ rời vào ngày Thứ Bảy thì được nghỉ bù vào ngày Thứ Sáu trước đó liền kề, và nếu ngày lễ rơi vào ngày Chủ Nhật thì được nghỉ bù vào ngày Thứ Hai sau đó liền kề. Như vậy số ngày thực nghỉ ở cấp độ quốc gia Mỹ có thể nhiều hơn 10 ngày/năm, còn ở mỗi tiểu bang thì tất nhiên nhiều một cách đáng kể.

Như vậy, Việt Nam có những ngày lễ nghỉ “ cấp tỉnh/thành” không (Việt Nam có 63 tỉnh/thành)?

Ví von so sánh mà lôi Mỹ ra thì rõ là “giới tinh hoa” Việt Nam đang có vấn đề về lỗ hổng tri thức nghiêm trọng.

b) Nhật Bản có 16 ngày nghỉ lễ quốc gia trong năm 2017 (không áp dụng ngày nghỉ bù nếu ngày lễ rơi vào ngày Chủ Nhật), nghĩa là Nhật Bản buộc phải bỏ hẳn Tết Nguyên Đán đơn giản vì tổng số ngày nghỉ lễ quốc gia đã quá nhiều dù không có Tết Âm Lịch.

Ví von so sánh mà lôi Nhật ra thì rõ là “giới tinh hoa” Việt Nam đang có vấn đề về lỗ hổng tri thức nghiêm trọng.

c) Việt Nam mỗi năm có 10 ngày nghỉ lễ quốc gia (chưa tính ngày nghỉ bù nếu ngày nghỉ lễ rơi vào ngày Thứ Bảy và/hoặc Chủ Nhật), nghĩa là ai xếp Việt Nam vào hạng thứ năm các quốc gia có nhiều ngày nghỉ lễ quốc gia nhất thế giới cùng với Nhật Bản, Malaysia, Argentina, Lithuania và Thụy Điển thì rõ ràng là đang có vấn đề về lỗ hổng tri thức nghiêm trọng hoặc nhập nhằng đánh lận con đen bằng cách lấy số ngày lễ quốc gia cộng với số ngày nghỉ bù. Cần xem lại các số liệu tham khảo như sau đối với mấy nước mà thiên hạ lôi Việt Nam vô cùng một giuộc ấy:

Malaysia năm 2017 có 49 ngày nghỉ lễ trong đó có 13 ngày lễ quốc gia, một số lễ cấp tiểu bang, và một vài ngày nghỉ bù (tại một số tiểu bang xem ngày nghỉ cuối tuần là Thứ Sáu và Thứ Bảy, trong khi các tiểu bang khác xem Thứ Bảy và Chủ Nhật là ngày nghỉ cuối tuần).

Argentina năm 2017 có 20 ngày nghỉ lễ trong đó có 17 ngày lễ quốc gia và 3 ngày lễ không chính thức. Quy định rất phức tạp, có tỉnh thay đổi ngày nghỉ lễ (nếu lễ rơi vào Thứ Tư thì nghỉ ngày Thứ Hai trước đó, nếu rơi vào Thứ Năm thì nghỉ ngày Thứ Hai sau đó), có tỉnh lại cho nghỉ “thêm” (nếu rơi vào Thứ Ba thì cho nghỉ luôn Thứ Hai ngay trước, nếu rơi vào Thứ Năm thì cho nghỉ luôn Thứ Sáu ngay sau).

Lithuania có 13 ngày nghỉ lễ quốc gia và 1 ngày nghỉ lễ tùy chọn. Không áp dụng nghỉ bù nếu ngày lễ rơi vào ngày nghỉ cuối tuần.

Thụy Điển có 14 ngày lễ quốc gia và 4 ngày lễ tùy chọn. Không áp dụng nghỉ bù  nếu ngày lễ rơi vào ngày nghỉ cuối tuần.

Còn nghe lời vớ vẩn của trang mạng Wego bảo Singapore cùng với Ý, Đan Mạch, Pháp, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Ma Rốc, Séc, và Luxemburg chỉ có 11 ngày nghỉ lễ quốc gia nên ít hơn Việt Nam thì phải kiểm lại một cách nghiêm túc. Thí dụ như Singapore năm 2017 có 14 ngày nghỉ lễ quốc gia (trong đó chỉ có 1 ngày nghỉ bù, theo quy định nếu lễ rơi vào ngày Chủ Nhật thì được nghỉ bù ngày Thứ Hai liền kề sau đó); còn Pháp năm 2017 có 11 ngày nghỉ lễ quốc gia và 4 ngày lễ tùy chọn (quy định nếu ngày lễ rơi vào ngày Chủ Nhật thì “tổ chức lễ” vào ngày Thứ Hai sau đó liền kề, nếu lễ rơi vào Thứ Năm thì cho phép người lao động nếu muốn thì chọn nghỉ thay vào Thứ Sáu để tiện có kỳ nghỉ cuối tuần dài ngày hơn).

Và khi bảo Mexico là quốc gia có ít ngày lễ quốc gia nhất thế giới (7 ngày) thì cần biết rằng năm 2017 Mexico có 10 ngày nghỉ lễ quốc gia, cộng 1 ngày nghỉ bù, và 5 ngày lễ tùy chọn. Nếu lễ rơi vào ngày Thứ Bảy thì tổ chức lễ ngày Thứ Sáu liền kề trước đó, và nếu lễ rơi vào ngày Chủ Nhật thì tổ chức lễ vào ngày Thứ Hai liền kềsau đó.

Như vậy Việt Nam hoàn toàn không phải là quốc gia có số ngày nghỉ lễ quốc gia nhiều đứng hàng thứ năm thế giới mà ắt ở hàng thứ 10 hoặc thứ 20 nếu có ai đó giống như người đầu têu đặt vấn đề “sáp nhập” dỡ hơi vì ở không ắt có thời gian để làm thống kê toàn thế giới cho thiên hạ nhờ. Mà nếu Việt Nam có tăng số ngày lễ chính thức của quốc gia từ 10 ngày lên 100 ngày thi cũng chẳng tại vậy mà Việt Nam nghèo kiết xác, còn nếu bỏ tất tần tật toàn bộ các ngày lễ chính thức của quốc gia kéo từ 10 ngày xuống zero ốc vịt thì cũng chẳng nhờ thế mà Việt Nam trở thành đại siêu cường đặt mông lên đầu Trung-Hoa-Bổn (Trung Quốc/Hoa Kỳ/Nhật Bổn).

d) Hội nhập hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa gia nhập sân chơi chung về kinh tế, thương mại, trên nền tảng chung nhất của văn minh bao gồm các quy định quốc tế, các công ước toàn cầu, các tập quán thương mại chính quy, các đồng thuận song phương/đa phương về cơ chế giải quyết tranh chấp, các định chế tài chính, đặc biệt tôn trọng chủ quyền quốc gia và tôn trọng các bản sắc văn hóa truyền thống mỗi quốc gia. Hội nhập cũng có nghĩa là tuyệt đối chấm dứt các “khai hóa” đầy trịch thượng của bọn cướp thực dân mà là bắt đầu tiến trình tôn trọng văn hóa của nhau. Làm gì có chuyện điên rồ cho “hội nhập” biến thành sự khống chế của văn hóa cường quốc dẫn đến sự tan chảy tan tành tan biến tan nát tan tiêu văn hóa của nhược quốc! Chính vì “hội nhập” nên Trung Quốc mới bỏ công sức toát mồ hôi tham gia các định chế quốc tế, và cũng chính vì “hội nhập” nên toàn bộ các chương trình thạc sĩ kinh doanh quốc tế của Âu Mỹ phải có chương nghiên cứu chuyên sâu khoa học hàn lâm về tập quán tập tục của Trung Quốc trên nền tảng Khổng Giáo cũng như tìm hiểu các ảnh hưởng của Nho Giáo trên thương trường Trung Quốc để các công ty Âu Mỹ bỏ công sức học tập nhuần nhuyễn bở hơi tai hầu kiếm tìm cơ hội thương mại “tỷ đô” tại Trung Quốc.

e) Hội nhập chính là kiếm tìm cơ hội kinh doanh của nhau. Các vị thuộc giới “tinh hoa” Việt Nam đừng đi đâu xa mà chỉ cần ngồi rung đùi trước chiếc tivi chỉ trong 15 phút thôi của chỉ một buổi tối thôi lướt qua các đài nước ngoài là đã có thể thấy giới kinh doanh Âu Mỹ rộn rịp vung tiền quảng cáo tới tấp chào đón Tết Con Gà Trống 2017 ra sao. Họ biết thị trường thế giới Á Đông quá khổng lồ với cư dân quá khổng lồ và kiều bào Á Đông quá khổng lồ ở Âu Mỹ và thế giới nên họ hân hoan ra sức săn đón “tình nguyện phục vụ” để mong làm đầy ắp túi tiền của mình. Việt Nam có nhìn thấy cơ hội ấy để cạnh tranh với các anh Âu Mỹ trong khai thác thương mại Tết Nguyên Đán hay chưa mà lại nhanh nhảu đòi phá chén cơm manh áo của các tay xì thẩu Mỹ Á Âu bằng cách hô hào bỏ Tết Nguyên Đán thế?

f) Hội nhập chính là sự học hỏi nhau về văn hóa. Vì “hội nhập” nên các đài truyền hình Mỹ rầm rộ chào đón Tết Con Gà Trống 2017 lấy lòng tỷ dân Đông Nam Á + Trung Quốc, nhưng Mỹ không bao giờ công nhận Tết Nguyên Đán là lễ quốc gia. Vì “hội nhập” nên Việt Nam chào đón Lễ Giáng Sinh lấy lòng tỷ dân Âu Mỹ nhưng không bao giờ công nhận Lễ Giáng Sinh là quốc lễ. Vì “hội nhập” nên một vị hoàng tử Vương Quốc Anh học chúc Tết người Việt bằng tiếng Việt. Và vì “hội nhập” nên lãnh đạo Việt Nam gởi công hàm cho các nguyên thủ thế giới bằng tiếng nước ngoài. Tinh thần chủ đạo của “hội nhập”, do đó, là tôn trọng bản sắc riêng trên nền bang giao chung.

Tội thay! Chỉ có một quốc gia vì vừa nghèo khổ cùng cực bởi Thế Chiến vừa đã có quá nhiều ngày lễ quốc gia nên buộc phải bỏ hẳn – không phải sáp nhập – Tết Âm Lịch: Nhật Bản.

Thương thay! Chỉ có một quốc gia vì có một ai đó hoặc dỡ hơi, hoặc ba chớp ba nháng, hoặc không hiểu nghĩa tiếng Việt của “hội nhập”, hoặc đơn giản muốn hủy phá mọi thứ nhằm tiêu diệt cộng sản tận gốc về tinh thần nên mới đặt vấn đề “sáp nhập” Tết Tây vào Tết Ta: Việt Nam.

Sáp Nhập là sự nói lên tư duy hỗn độn của kẻ đặt vấn đề “gộp chung” Tết Ta và Tết Tây, vì rằng Nhật Bản bỏ hẳn Tết Âm Lịch chứ không “gộp chung” tức “sáp nhập”, và phải chăng Việt Nam sẽ “gộp chung” tức “sáp nhập” Tết Tây với Tết Ta để Việt Nam sẽ nghĩ Tết Tây một lèo 5 ngày để người Việt ngay sau nghĩ Tết Tây là cũng tổ tiên 4 ngày tiếp theo liền kềđể tổng số ngày nghỉ lễ chính thức của quốc gia vẫn như cũ tức không hề suy suyển?

Tết Nguyên Đán ở Việt Nam là cơ hội phát triển kinh tếnội địa của các ngành giao thông vận tải, du lịch, sản xuất mạnh tiêu thụ mạnh sản phẩm công nghiệp/thủ công, giải trí, và trên hết là chi tiêu cá nhân. Ngay cả kẻ mông muội hồng hoang cũng không bao giờ cho rằng Tết – hay bất kỳ lễ hội chính thức của quốc gia – làm hao tổn của cải xã hội vì họ biết nói thế sẽ làm người dân Âu Mỹ tư bản bật cười mắng cho là ngu xuẩn.

Việt Nam là một xứ sở rất đặc biệt và tuyệt diệu vì là quốc gia duy nhất hoàn toàn không có ngày nghĩ lễ nào thuộc hai loại là sùng bái cá nhân lãnh tụ và tôn giáo vốn đầy dẫy đầy ắp đầy ngập đầy tràn tại toàn bộ phần còn lại của thế giới.

Nói tóm lại, cái ý kiến gọi là gộp chung Tết Tây và Tết Ta tại Việt Nam là cái sự tào lao.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Du Học Hiếp Dâm và Hiếp Dâm Du Học

Điều Nghiêm Trọng Luôn Bị Dấu Diếm

Phụ Huynh Có Con Em Du Học Âu Mỹ Nhất Thiết Phải Biết

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-11-2016

du-hoc-2

A) Giải Thích Qua Dẫn Chứng Landen Gambill

Năm 2013 nữ sinh viên năm thứ hai Landen Gambill lẽ ra bị đuổi khỏi trường Đại Học North Carolina UNC, Bang North Carolina, Hoa Kỳ, nếu đã không có bùng phát cơn sóng căm phẫn rầm rộ ủng hộ cô. Landen bị cưỡng hiếp ngay tại Làng Đại Học Chapel Hill của UNC và bị hội đồng kỹ luật trường UNC thông qua Luật Sư Trưởng của trường kết tội cô vi phạm điều I.C.1.c. của bộ Quy Tắc Bảo Toàn Danh Dự Honor Code mà hình phạt truyền thống duy nhất là đuổi học. Honor Code ấy được mặc định đã được đọc, đã được hiểu nội dung, đã được xem như biết rõ hình phạt duy nhất là gì cũng như cam đoan hình phạt ấy là tuyệt đối đúng đắn bất khả tranh cãi và bất khả kiện tụng, bởi sinh viên khi đặt bút ký tên ghi danh  theo học tại trường.

du-hoc-3

Landen bị hiếp dâm, nhưng danh dự cô được bảo toàn nếu cô không tố cáo ai,và do đó, sự hiếp dâm chẳng gây tai hại cho bất kỳ ai, kể cả cô cũng không phải là nạn nhân cho sự hiếp dâm do cô không phải chịu đựng gì cả vì tất cả là bí mật nghĩa là chẳng ai biết cô đã bị hiếp dâm (nên cô chẳng sợ bị soi mói, bị bươi móc bởi truyền thông, bị thương hại, bị khó khăn trong lập gia đình, v.v.).

Landen sẽ là nạn nhân hiếp dâm, chỉ khi kẻ hay những kẻ hiếp dâm cô –  hoặc kẻ hay những kẻ chứng kiến cuộc hiếp dâm – loan truyền tin về cuộc hiếp dâm ấy, và đương nhiên kẻ hiếp dâm cô (và kẻ loan truyền) sẽ bị kết tội vi phạm Quy Tắc Bảo Toàn Danh Dự của trường và đối diện với khả năng bị đuổi học – chứ không phải vi phạm luật pháp hình sự quốc gia!

Landen sẽ bị đuổi học nếu tố cáo kẻ hay những kẻ hiếp dâm cô, vì Quy Tắc Bảo Toàn Danh Dự không cho phép cô làm phương hại đến “danh dự” và “tiền đồ” của sinh viên trong trường, nhất là làm phương hại đến “danh dự” trường như một nơi của hiếp dâm, kém an toàn cho nữ sinh, và là ổ sản sinh “tội phạm tiềm năng” của quốc gia.

Giải thích cho đơn giản hơn: kẻ hay những kẻ hiếp dâm cô chỉ có tội nếu loan tin cô bị chúng hiếp dâm và nếu phát tán hình ảnh cuộc hiếp dâm ấy, vì như vậy sẽ làm tên cô bị tiết lộ, xâm hại đến “danh dự” của cô, vì… “danh” có nghĩa là “tên”, chứ Âu Mỹ hoàn toàn không có khái niệm về “trinh tiết”.

Giải thích cho đơn giản hơn: khi tố cáo kẻ hay những kẻ hiếp dâm cô, Landen đã làm cho cả trường – và cộng đồng dân cư quanh Làng Đại Học – biết “tên” của chúng, tức xâm hại đến “danh” dự của chúng, khiến chúng có nguy cơ bị tẩy chay trong cộng đồng (khó tiếp cận phụ nữ khác – tức “con mồi’ khác), trong đời sống (khó lập gia đình), và trong sự nghiệp (khó kiếm việc), mà nếu sinh viên bị mang “danh” như thế sẽ làm “danh” dự của trường bị giảm sút khi tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp kiếm được việc làm không cao hơn năm trước đó, khiến không hấp dẫn người theo học “ùn ùn” ở các niên khóa sau đó, nhất là không hấp dẫn được sinh viên cực kỳ hấp dẫn về khả năng tài chính đến từ Châu Á trong đó có Việt Nam.

Cái honor code quái gỡ tồn tại nhiều trăm năm một cách đầy vinh diệu tại tất cả các trường đại học Hoa Kỳ ấy cuối cùng đã bị thách đố bởi một nữ sinh của chính Hoa Kỳ là cô Landen Gambill, mà sự dũng cảm của cô đã dấy nên phong trào đầy giận dữ của xã hội Hoa Kỳ: “Hãy Sát Cánh Cùng Landen” (Stand With Landen)

du-hocdu-hoc-1

B) Văn Hóa Hiếp Dâm

Hiếp dâm là một thứ “văn hóa” ở các trường đại học Hoa Kỳ.

1- Văn hóa hiếp dâm đến từ xã hội Hoa Kỳ

Như một vấn nạn lịch sử, điều oái oăm là nữ quyền chỉ được chính thức xem trọng – ít ra là qua các tuyên bố chính thống và trên bình diện luật pháp – tại Hoa Kỳ qua Tu Chính Án Thứ 19 được phê chuẩn ngày 18-8-1920 cho phép nữ công dân được quyền bỏ phiếu, nghĩa là trong suốt 144 năm kể từ ngày lập quốc (04-7-1776) thì phụ nữ Hoa Kỳ hoàn toàn không được hưởng các quyền lợi như nam giới, kể cả quyền bỏ phiếu bầu cử. Lý do của sự đàn áp bức chế phụ nữ gồm:

a-  Nam giới da trắng e sợ đánh mất quyền lực dù đó là quyền lực tình dục hay quyền lực chính trị, nên đã sử dụng đặc quyền làm các nhà lập pháp, các thẩm phán, các bồi thẩm đoàn, các nhà báo, các chủ nhân tòa soạn báo chí, các y sĩ và học giả, để đề ra những gì bảo vệ đặc lợi của họ, tác động đến xã hội quan tâm đến việc duy trì quyền lợi chung và hy sinh quyền lợi của dân da màu cùng phụ nữ, thậm chí cho phép quan hệ đồng giới giữa đàn ông da trắng với nhau dù đồng thuận hay cưỡng bức, trong khi lại hành hình những người da màu quan hệ đồng tính.

b- Cũng để duy trì quyền lực tình dục, nam giới da trắng Hoa Kỳ phác họa phụ nữ và trẻ em nam nữ như chủng loài không đáng tin cậy, dâm dục tạp nham. Thậm chí họ sử dụng sự vào cuộc của “giới trí thức” để khẳng định lập luận phụ nữ không xứng đáng có quyền lợi và chẳng bị hiếp dâm bao giờ, chẳng hạn “Tiến sĩ” Edmund Arnold năm 1862 đã khẳng định trước tòa án Hoa Kỳ rằng phụ nữ không bao giờ có thai nếu bị hiếp dâm, thậm chí đến năm 1913 của Thế Kỷ XX mà “Tiến sĩ” Gurney Williams còn cho rằng chỉ cần “chống cự” bằng cách khép chân lại thì phụ nữ đã không thể có thai, mà khi đã có thai nghĩa là đã có sự đồng tình hoặc cố tình dụ dỗ các “quý ngài”, nghĩa là các tố cáo bị các “quý ông” hiếp dâm nên có thai là sự vu cáo nhất thiết phải bị trừng trị.

c- Do đó, trong rất nhiều năm, luật pháp Hoa Kỳ ở nhiều tiểu bang tồn tại điều luật rằng phụ nữ da màu về luật pháp không bị xem như bị hiếp dâm, khiến ngay tại nơi công cộng giữa thanh thiên bạch nhật phụ nữ da màu có thể bị đàn ông da trắng hiếp dâm công khai, và trong ngần ấy năm dài chỉ có tội hiếp dâm nếu người da đen dở trò với phụ nữ da trắng (gọi là The Negro Crime) dẫn đến việc đàn ông da trắng có quyền xúm lại hành hình treo cổ người da đen tại chỗ không cần xét xử (gọi là lynching).

Định kiến thâm căn cố đế nhiều trăm năm đã tạo nên một thứ văn hóa hiếp dâm, mà tiến bộ của nhân loại nhiều lắm cũng chỉ dẫn đến những thực tế buồn cười như vụ Honor Code của trường UNC đã nếu ở đầu bài viết này, hay vụ nam sinh viên Brock Allen Turner của Đại học Stanford lừng danh. Năm 2016 này, Brock bị hai nam sinh viên khác tình cờ bắt quả tang đang hãm hiếp một nữ sinh đang nằm bất động trong bụi rậm và bị hai sinh viên này bắt giao cho cảnh sát. Do hãm hiếp một người bất động – do bị đánh ngất hoặc do bị chuốc rượu hay thuốc – nặng tội hơn đối với nạn nhân còn cử động và không bị đánh đập, Brock bị công tố luận tội 6 năm tù giam, để rồi bị kết án 6 tháng tù,và cuối cùng là được thả sau 3 tháng, với lý do 20 năm sống tốt không thể vì 20 phút lỗi lầm mà gây hại cho tiền đồ một thanh niên. Nghĩa là: không bao giờ sự thiệt hại của một nữ sinh viên dù bị hiếp dâm sau khi bị đánh cho bầm dập ngất xỉu lại được xem như tình tiết để xử nặng tội kẻ hiếp dâm. Chưa kể luật pháp Hoa Kỳ còn quy định rằng nếu người bị hiếp dâm có thai rồi sinh con thì người hiếp dâm có toàn quyền đòi nuôi con hoặc đến thăm con bất kỳ lúc nào, với lý do ngộ nghĩnh rằng phụ nữ nếu bị hiếp dâm thì chẳng ai chịu sinh con là kết quả của vụ hiếp dâm ấy, trừ phi có tình ý với người hiếp dâm mình, mà như thế đã mặc nhiên thừa nhận cái gọi là “quyền làm cha” của người hiếp dâm vốn được luật pháp bảo vệ với “sự khoan dung đầy tính nhân văn”.

Tóm lại, điều cần lưu ý khi “hòa nhập” vào xã hội Hoa Kỳ là: mỗi khi trở thành nạn nhân của hiếp dâm, người nữ nói chung và nữ sinh viên nói riêng sẽ phải đối mặt với việc chính mình bị chụp các chiếc mũ như:

– tại đã ăn mặc gợi dục

– tại đã có dùng bia rượu trước đó nên đã không tự kềm chế

– tại đã có hành vi nào đó gây hiểu lầm là mời gọi hoặc chấp thuận

– tại xã hội có bài bản dạy phụ nữ cách để không bị hiếp dâm mà phụ nữ không thuộc bài (không hề có bài bản dạy người nam không hiếp dâm)

– tại không học hỏi từ báo chí truyền thông vốn luôn than tiếc cho sự đe dọa sự nghiệp một ngôi sao bóng rổ vì hiếp dâm chứ không bao giờ đề cập gì đến các cô gái nạn nhân của ngôi sao ấy

– tại không cẩn thận để bị quay phim chụp hình tung lên mạng nên nếu tự tử thì đó là do tự gây ra

– và tại không biết thân biết phận vì luật pháp 31 tiểu bang của Hoa Kỳ cho phép kẻ hiếp dâm có quyền đòi nuôi con hoặc quyền thăm con, đồng nghĩa với việc hiếp dâm là đặc quyền của nam giới nên chẳng bao giờ là trọng tội nếu không đi kèm với việc sát hại người bị hiếp dâm.

2- Văn hóa hiếp dâm trở thành chuẫn mực ở đại học Hoa Kỳ

Như vậy, văn hóa hiếp dâm đã trở thành một thứ lễ nghi, tập tục, ăn sâu vào chốn đại học, nơi từ xa xưa chỉ dành cho nam giới. Sự tồn tại của những hội đoàn nam sinh viên mang tên College Fraternities được cho là còn lưu truyền những tục lệ mà theo đó các thành viên mới gia nhập phải “chứng tỏ mình” bằng cách thực hiện nghi thức gia nhập bằng cách lừa một nữ sinh viên mà họ “chấm” tại một buổi tiệc rồi dụ ra một nơi mà các thành viên khác có thể cùng chứng kiến để thực hiện việc hiếp dâm – chẳng khác nào để họ được xem một phim khiêu dâm “sống” – để ghi nhận “sự xứng đáng” của người mới gia nhập. Và cái gọi là Campus Rape tức hiếp dâm tại trường đại học trở thành một vấn nạn trầm kha ở Hoa Kỳ.

C) Hiện Trạng Campus Rape Ở Hoa Kỳ

Vụ việc của nữ sinh viên Landen Gambill không là điều cá biệt chỉ ở Đại Học North Carolina (UNC). Hiếp dâm tại các “làng đại học” (tức Rape on Campus hoặc Campus Rape) là vấn nạn chung ở nước Mỹ.

Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ năm 2010 ước định rằng 25% nữ sinh viên là nạn nhân của các vụ hiếp dâm trước khi tốt nghiệp sau 4 năm đại học, và rằng trường đại học nào có từ 6.000 sinh viên trở lên thì trung bình mỗi ngày có một vụ hiếp dâm và xảy ra đều đặn trong suốt năm học.

Trong bản báo cáo của Đại Học New York mang tựa đề Số Liệu Thống Kê Quốc Gia Về Bạo Hành Tình Dục Tại Các Làng Đại Học (National Statistics about Sexual Violence on College Campuses) thì chỉ có dưới 5% các vụ hiếp dâm được thưa ra các cơ quan thực thi pháp luật mà thôi – nghĩa là con số thực tế có thể cao hơn rất nhiều so với con số do Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ nêu lên.

Tổng hợp từ tài liệu trên, ta có các số liệu như sau về những nạn nhân hiếp dâm :

– Cứ 4 nữ sinh viên cáo buộc bị hiếp dâm thì có 1 người mà báo cáo về những gì đã trải qua của người đó đáp ứng đúng các định nghĩa của luật pháp về hiếp dâm.

– Cứ 5 nữ sinh viên thì có 1 người bị hiếp dâm trong thời gian học ở đại học.

– Hầu hết những nữ sinh viên bị hiếp dâm là sinh viên nội trú, và khoảng 1/3 trong số họ là sinh viên năm thứ nhất ở lứa tuổi 17 – 19.

– Điều nghiên thực hiện ở 412 trường đại học cho thấy 5,4% nam sinh viên và 11,7% nam sinh viên đồng tính hay lưỡng tính bị cưỡng bức.

– Điều nghiên thực hiện ở 412 trường đại học cho thấy 30.6% nữ sinh viên đồng tính hay lưỡng tính bị cưỡng bức.

– 81% nữ sinh viên bị chính bạn tình cũ hoặc bạn tình hiện thời cưỡng dâm.

– 80% đến 90% được thực hiện bỡi người mà nạn nhân có quen biết.

Còn theo nghiên cứu của Học Viện Tư Pháp Quốc Gia Hoa Kỳ thì thủ phạm hiếp dâm:

– 35.5% là bạn học chung lớp của nạn nhân

– 34.2% là bạn học chung trường

– 23.7% là bạn tình hoặc bạn tình cũ

– 2.6% là người quen

– 35% nam sinh viên cho biết sẵn sàng hiếp dâm nếu biết chắc chắn sẽ không bị bắt hay bị trừng phạt.

– 81% vụ hiếp dâm trong làng đại học và 84% vụ hiếp dâm do sinh viên thực hiện bên ngoài khuôn viên làng đại học đã không được trình báo cảnh sát.

– Gần 60% vụ hiếp dâm được thực hiện bên trong nơi cư trú của nạn nhân.

– 52% vụ hiếp dâm có trình báo xảy ra sau 12 giờ đêm, và 37% xảy ra giữa 6 giờ chiều và 12 giờ đêm.

– Điều tra thực hiện tại 171 học viện và đại học cho thấy 74% vụ hiếp dâm xảy ra do say rượu. Trong năm 2000 Hoa Kỳ đã có hơn 70.000 sinh viên từ 18 đến 24 tuổi trở thành nạn nhân của hiếp dâm có liên quan đến rượu.

– Hơn 50% vụ hiếp dâm xảy ra vào các tháng 8, 9, 10, và 11.

– Sinh viên gặp rủi ro nhiều hơn trong những tháng đầu học kỳ 1 và 2 tức trong năm thứ nhất.

Các loại hình hiếp dâm bao gồm – nhưng không chỉ giới hạn bởi – hiếp dâm tập thể, hiếp dâm lúc hò hẹn, hiếp dâm vì lợi dụng sự quen biết.

Trên đây là vài con số của riêng Hoa Kỳ. Các số liệu khác đối với các vụ hiếp dâm xảy ra tại các làng đại học ở các nước Âu Tây có thể dễ dàng tìm thấy trên internet.

Tình hình trên cho thấy sự bất ổn về an toàn cho nữ sinh viên tại các trường đại học Mỹ, dẫn đến việc các trường đại học Mỹ đều có chương trình nhập môn gọi một cách mỹ miều là Campus Clarity (dịch nghĩa từng chữ: những điều cần biết rõ về sinh hoạt trong làng đại học; nghĩa bóng: những điều cần biết để bảo đảm an toàn nhất, sức khỏe tốt nhất, để theo đuổi thành công mục tiêu học tập hàn lâm và ước mơ tại trường, bằng cách…hãy lưu tâm đến sự thật là…có 1/5 nữ sinh viên bị hiếp dâm trong thời gian học đại học bởi người mà họ quen biết, đặc biệt là bạn học, vì vậy sinh viên cần lưu ý đến việc nhậu nhẹt và đến…bạn học!)

D) Tư Vấn Của Tannhauser Beowulf Thor

Những lời khuyên sau đây của chuyên gia Giao Thoa Văn Hóa (Cross Culture) Tannhauser Beowulf Thor đặc biệt thích hợp cho các du học sinh đến Mỹ từ những quốc gia “mới phất” (newly surging economies) của Châu Á trong đó đặc biệt là Việt Nam do Việt Nam có 5 “yếu điểm” – theo chuẩn mực văn minh Mỹ – mà các nước Châu Á khác không còn như (a) Việt Nam là nước cuối cùng có du học sinh đến Mỹ du học nên kinh nghiệm về văn hóa Mỹ chưa dồi dào đầy đủ; (b) phụ huynh học sinh và học sinh Việt Nam hoàn toàn không quan tâm và/hoặc không biết và/hoặc không được cung cấp thông tin về những thực tế của môi trường đại học Mỹ; (c) Việt Nam là nước Châu Á duy nhất còn sự tồn tại của truyền thống Á Đông đối với gắn bó gia đình; (d) Việt Nam là nước Châu Á duy nhất còn sự tồn tại của truyền thống Á Đông đối với phạm trù mang tên “đức hạnh” và “tiết hạnh” hay “trinh tiết”  phụ nữ vốn đã hoàn toàn biến mất ở Châu Á; và (e) học sinh Việt Nam yếu về bản lĩnh, rất thiếu hiểu biết, dễ bị lôi kéo do tâm lý thần phục choáng ngợp trước cường quốc Hoa Kỳ, và kém khả năng phòng vệ:

1) Nếu được tiếp cận bởi “công ty dịch vụ du học” và quan tâm đến một trường đại học cụ thể ở Âu Mỹ, hãy yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản về cái gọi là “honor code” của trường ấy, và kiểm tra độ chính xác của thông tin với thông tin trên trang web của trường ấy.

2) Nếu quan tâm đến một trường đại học cụ thể ở Âu Mỹ, trước khi tiến hành xin học bổng hoặc đăng ký học tự túc, hãy yêu cầu trường ấy cung cấp thông tin bằng văn bản về cái gọi là “honor code” của trường, kiểm tra độ chính xác của thông tin với thông tin trên trang web của họ, đồng thời kiếm tìm thông tin trên mạng về các vụ việc nổi cộm có liên quan đến “campus rape assaults” tại trường ấy để hiểu rõ nhất về sự danh tiếng cùng sự khét tiếng của nó.

3) Phụ huynh phải “công tác tư tưởng” với con em mình biết (hoặc học sinh nếu cho rằng mình đã đủ trưởng thành, đủ khôn ngoan, đủ bản lĩnh, tự biết) rằng:

a- Nam sinh và nữ sinh Việt Nam: chỉ tham gia các buổi tiệc buổi tối quy mô “toàn trường” do trường tổ chức với sự tham gia của ban giám hiệu và thầy cô, vì mức độ an toàn cao hơn;

b- Nam sinh và nữ sinh Việt Nam: không tham gia các buổi tiệc buổi tối quy mô “tại gia” của một sinh viên nào đó tổ chức (thường là sinh viên “giàu có” ở địa phương), vì sự thác loạn không hề thiếu vắng;

c- Nam sinh và nữ sinh Việt Nam: không tham gia các buổi họp mặt riêng buổi tối tại địa điểm mật nào đó vì rất có thể sẽ trở thành nạn nhân của một vụ tế thần (do Mỹ có các giáo phái tà đạo thờ Quỷ Satan), hoặc bị sát hại khi đi chơi riêng rồi  mất tích không thể tìm thấy xác, như vụ của nữ sinh viên Lauren Spierer (Đại học Indiana), nữ sinh viên Denise Lynette Hart (Đại học Connecticut), nữ sinh viên Hannah Graham (Đại học Virginia), nữ sinh viên Phoenix Coldron (Đại học Missouri-St. Louis); nữ sinh viên Anarae Schunk (Đại học Minnesota), nữ sinh viên Michaela Shunick (Đại học Louisiana), nam sinh viên Max Maisel (Đại học Công nghệ Rochester New York), nam sinh viên Brogan Dulle (Đại học Cincinnati), nam sinh viên Shane Montgomery (Đại học Pennsylvania), nam sinh viên Hye Min Choi (Đại học Illinois), nam sinh viên Jonathan Zygmont (Đại học New Hampshire), và rất nhiều những vụ mất tích khác;

d- Nam sinh Việt Nam: từ chối tham gia các họp mặt vầy đoàn của “nhóm bạn nam” để đừng bị “gang rape” tức bị hiếp dâm tập thể đồng giới, hoặc vướng vào “gang rape” tức cùng tham gia hiếp dâm tập thể một nam sinh khác hoặc một nữ sinh, hoặc trở thành đồng lõa tiêu cực (tức không tham gia hiếp dâm nhưng bị buộc phải chứng kiến để rồi phải ra sức bảo vệ nhóm hiếp dâm bằng mọi giá, do không muốn chuyện bại lộ sẽ khiến mình phạm tội nặng hơn kẻ hiếp dâm do các tội đồng lõa, bỏ mặc nạn nhân, và không tố giác tội phạm);

e- Nữ sinh Việt Nam: từ chối tham gia các họp mặt vầy đoàn của “nhóm bạn nữ” để đừng bị “gang rape” tức bị hiếp dâm tập thể đồng giới, hoặc bị nhóm bạn nữ ấy cho vào tròng để các nam sinh bạn thực hiện “gang rape” mình tức để mình cũng bị cái mà các nữ sinh ấy trước đây đã từng bị như thế;

f- Nữ sinh Việt Nam: cảnh giác cao độ và có biện pháp phòng thủ (như khóa cửa, gọi điện cho các bạn nữ khác, v.v.) khi bạn nữ ở cùng phòng trong khu đại học kiếm cớ đi vắng buổi tối (đa số các trường hợp là do có nhóm nam sinh viên yêu cầu người đó đi ra ngoài để họ vào thực hiện hiếp dâm không có nhân chứng).

g- Nam sinh và Nữ sinh Việt Nam: đừng bao giờ dùng bia rượu tại các “buổi họp mặt”. Nói chung là nên sống biệt lập, trừ những giờ nghiên cứu theo tổ nhóm, và đừng bao giờ khờ khạo cho rằng phải thể hiện sự hòa nhập bằng cách “sống như Mỹ” khi ở Mỹ.

h- Nam sinh và Nữ sinh Việt Nam: hãy quan tâm đến nội dung hướng dẫn về phòng chống hiếp dâm luôn sẵn có trên trang web chính thức của các trường đại học Mỹ, để nhận thức một điều hiển nhiên rằng hiếp dâm quả thực là vấn nạn phải đối phó, không thể lơ là.

E) Nhận Xét Của Hoàng Hữu Phước

Dựa vào các tư vấn trên của Ông Tannhauser Beowulf Thor, có thể cho rằng nếu như dân Châu Á đa số sang Âu Mỹ du học để phục vụ sự nghiệp chuyên môn, còn dân Việt Nam đa số sang Mỹ du học (a) để có bằng cấp Mỹ, (b) vì cha mẹ giàu sang cho con du học theo thời thượng “chứng tỏ năng lực tài chính”, (c) do cha mẹ giàu sang cho con du học theo thời thượng “tìm cách định cư tại Mỹ”, và (d) bởi cha mẹ giàu sang cho con du học theo thời thượng “trẻ măng làm chủ tịch tập đoàn tài chính” ở Việt Nam một cách đột nhiên như trên trời rơi xuống,

thì hơn ai hết du học sinh Việt Nam cần khắc cốt ghi tâm ba điều cực kỳ đơn giản  sau:

1- Nếu muốn khoe bằng cấp Mỹ, muốn lấy le về năng lực tài chính của mẹ cha, muốn định cư tại Mỹ, muốn thừa kế gia sản mẹ cha để làm chủ tịch tập đoàn ở Việt Nam thì phải còn sống, nghĩa là phải cẩn trọng, học thuộc lòng tất cả các nội dung cảnh báo trên trước khi bước chân qua Mỹ du học; và

2- Nếu muốn không bị sử dụng làm công cụ chống đối Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam để rồi bổng dưng trở thành “tù nhân lương tâm” hay “nhà đấu tranh dân chủ” đột biến, thì phải tuyệt đối cẩn trọng với tất cả các nội dung cảnh báo trên trước khi bước chân qua Mỹ du học, vì rằng rất có thể khi bị hiếp dâm hoặc đồng giới hoặc khác giới thì những phim ảnh được chụp quay lại sẽ được dùng làm vũ khí khống chế khiến người đi du học khi trở về nước sẽ phải hoạt động chống phá Việt Nam theo lịnh của tổ chức nào đó bên Mỹ nếu không muốn bị công khai bằng chứng phim ảnh bản thân đã bị hiếp dâm, đã tham gia hiếp dâm, hoặc đã đồng lõa tham gia nghi lễ tà đạo giết người tế thần, v.v.

3- Tại Mỹ, khuôn viên đại học là một trong những nơi nguy hiểm nhất đối với phụ nữ (xem mục tham khảo bên dưới).

Việc học – dù ở trong nước hay ở ngoài nước – là dành cho người khôn ngoan tài giỏi lanh lợi cẩn trọng hiểu biết khát khao trí tuệ, chứ nào phải dành cho những kẻ thơ ngây khờ khạo cứ tưởng gần đèn thì tự động sáng (mà không biết rằng mình phải bật đèn, rằng đèn ấy là đèn dầu hay đèn pha, rằng bão lụt thì phải cúp điện, và rằng dù đèn gì thì sau lưng hoặc trong đũng quần mình vẫn luôn tối), cứ tưởng hiện diện trong trường đại học Mỹ thì tự động giỏi, và cứ tưởng đứng chụp hình bên trong tòa nhà Liên Hợp Quốc hay choàng vai bá cổ Barack Obama là tự động lòa chói hào quang vinh diệu đời đời.

Việc học – dù ở trong nước hay ở ngoài nước – đều đòi hỏi những nỗ lực ghê gớm tự thân mà không phải lúc nào cũng thành công, nói chi đến “thành công vượt bậc”, vì rằng không bao giờ có cái mặc định rằng hữu chí sẽ cánh thành, rằng bật tất cả các que diêm trong hộp diêm quẹt thế nào cũng có que bùng cháy, rằng “với sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Sự nỗ lực đi kèm với sự cẩn trọng mới có thể tạo ra sự yên tâm nào đó khả dĩ dọn đường cho một thành công chưa hẳn lớn.

Đã không nỗ lực lại chẳng cẩn trọng mà vẫn thành công thành công đại thành công thì đó chẳng qua là minh chứng rằng tạo hóa cũng có lúc thích trêu ngươi và con tạo cũng bị ô nhiễm hài hóa hí hước diễu hề kiểu game show Việt vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Barbara Booth. 2015. One of the most dangerous places for women in America (Một Trong Những Nơi Nguy Hiểm Nhất Đối Với Phụ Nữ Tại Hoa Kỳ). http://www.cnbc.com/2015/09/22/college-rape-crisis-in-america-under-fire.html

Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ. 2000. The Sexual Victimization of College Women (Biến Các Nữ Sinh Viên Thành Nạn Nhân Tình Dục). https://www.ncjrs.gov/pdffiles1/nij/182369.pdf

Đại Học California. Campus Clarity. http://www.calstatela.edu/campusclarity

Đại Học New York. National Statistics about Sexual Violence on College Campuses (Số Liệu Thống Kê Quốc Gia Về Bạo Lực Tình Dục Tại Các Làng Đại Học). http://www.nyu.edu/shc/promotion/svstat.html.

Đại Học New York. Sexual Assault Prevention and Response (Hướng Dẫn Cách Phòng Chống Tấn Công Tình Dục). http://www.nyu.edu/students/health-and-wellness/wellness-exchange/sexual-assault-prevention-and-response.html

Mạng Quốc Gia Về Hiếp Dâm, Lạm Dụng, Và Loạn Luân RAINN. Campus Sexual Violence: Statistics (Số Liệu Thống Kê Về Bạo Lực Tình Dục Tại Các Làng Đại Học). https://www.rainn.org/statistics/campus-sexual-violence

Nick Anderson. 2016. These Colleges Have The Most Reports Of Rape (Danh Sách Những Đại Học Có Nhiều Ca Hiếp Dâm). https://www.washingtonpost.com/news/grade-point/wp/2016/06/07/these-colleges-have-the-most-reports-of-rape/

Cấm Dạy Thêm: Đúng Và Sai Của Thành Phố Hồ Chí Minh

Vấn Nạn Tơ Nhện Vò

day-them-2

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-9-2016

day-them-3

1) Vấn Nạn Tơ Nhện Vò

Người đời thường dùng thành ngữ “rối như tơ vò”, hoặc “rối như canh hẹ” hoặc “rối như mớ bòng bong”, hay là “rối như gà mắc tóc” để chỉ sự rối rắm cực kỳ. Tuy nhiên, có “rối như canh hẹ” thì bát canh hẹ nấu chung với nghêu trai ngọt lịm thơm lừng cũng sẽ được ăn sạch bách, có “rối như mớ bòng bong” thì cái mớ bòng bong ấy làm gì mà có người nào trên đời này tháo gỡ làm gì vì tất cả chỉ để dùng nhóm bếp, có “rối như gà mắc tóc” thì thiên hạ cứ bình tỉnh mà đem nó ra làm món cà ri gà, và còn “rối như tơ vò” thì tơ tằm cũng như sợi chỉ – thậm chí tơ tằm silk yarn của Công ty Silkvina Tỉnh Lâm Đồng Việt Nam còn cứng hơn sợi chỉ may y phục sewing thread của hãng Wel-Tec LLC Bang Pennsylvania Hoa Kỳ nên không khó tháo gỡ các “cục rối” – có thể kiên nhẫn gỡ từ từ được một ít nhất là một ít đoạn để tái sử dụng.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như tơ vò”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như canh hẹ”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như mớ bòng bong”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không “rối như gà mắc tóc”.

Đại cuộc giáo dục và đào tạo ở Việt Nam thực ra đã rối như tơ nhện vò. Nghĩa là vô phương. Nghĩa là bó tay. Nghĩa là không bao giờ cứu vãn nổi. Ngay cả Người Nhện Spiderman cũng chào thua nếu tơ của anh ta phóng ra bị vò cục.

2) Cái Sai Cốt Lõi Nghiêm Trọng Từ Khởi Thủy Của Sau 1975

Hệ tiểu học và trung học của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là 9 năm. Nghĩa là học xong lớp 9 là có thể vào đại học.

Hệ tiểu học và trung học của Việt Nam Cộng Hòa là 12 năm. Nghĩa là học xong lớp 12 là có thể vào đại học.

Khi làm Việt Nam Cộng Hòa bị vĩnh viễn xóa khỏi bản đồ thế giới bằng đại cuộc Giải Phóng Miền Nam 30-4-1975, ngay cả trước khi chính thức thống nhất đất nước hình thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã có sự hợp nhất hệ thống giáo dục và đào tạo của hai miền Nam-Bắc bằng cách ngay trong năm 1976 khai giảng năm học mới của “cách mạng”, và chính quyền mới đã

(a) công nhận sự ngang bằng tuyệt đối về đẳng cấp và chất lượng của lớp 9 Miền Bắc với lớp 12 Miền Nam, bất kể danh mục các môn học không giống nhau;

(b) công nhận các cán bộ, chiến sĩ tiếp quản Miền Nam, cùng con em của họ từ Miền Bắc vào sum họp gia đình, nếu đã tốt nghiệp lớp 9 Miền Bắc, đương nhiên được ưu tiên thi vào các trường đại học ở Miền Nam – lúc đó chỉ có tại Thành phố Hồ Chí Minh;

(c) quyết định những trường trung học nào ở Thành phố Hồ Chí Minh – cụ thể như trường Phan Đình Phùng ở Quận 3 – chỉ được dạy tiếng Nga bất kể học sinh nhiều lớp tại đó đã học tiếng Anh lên đến lớp 8 cũng phải bỏ hết tiếng Anh để học tiếng Nga từ đầu; và

(d) hủy bỏ toàn bộ chương trình cùng giáo trình học tập và đào tạo của Miền Nam để áp dụng toàn bộ chương trình cùng giáo trình học tập và đào tạo của Miền Bắc, khiến dẫn đến việc chương trình 9 năm Miền Bắc bị kéo dãn ra thành đủ 12 năm cho các trường học ở Miền Nam – do trong một sớm một chiều không thể biên soạn giáo trình mới cho hệ 12 năm – nghĩa là sự học ở Miền Nam phải đối mặt với sự thiệt thòi do giảm môn học chính trong khi tăng thời lượng thêm 3 năm so với Miền Bắc với thực tế là chất lượng giáo trình đương nhiên không thể cao, còn tiếng Anh sẽ không bao giờ có thể trở lại thế mạnh của nó về trình độ và hiệu quả sử dụng trong đời sống.

Sau đó, hệ 12 năm được áp dụng trên toàn quốc, nhưng chất lượng giáo dục và đào tạo đã trở thành quốc nạn do thầy giáo cô giáo đã từng là học sinh của chính chương trình giáo dục trên chỉ có thể tạo nên những học trò tương hợp, khởi đầu cho một sự rối như tơ nhện vò vô phương cứu chữa.

3) Tham Khảo Chương Trình Thi Cử Của Việt Nam Cộng Hòa

Như đã nói trong nhiều bài viết trước đây trong rất nhiều năm qua, sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa quá khủng khiếp, chấn động cả địa cầu, đến nỗi những người đào thoát và cả những người ở lại đều không còn bất kỳ ai – trừ tác giả bài viết này –  nhớ đến những chi tiết mang tính sử liệu quan trọng về Việt Nam Cộng Hòa, như dấu gạch nối của từ ngữ tiếng Việt (thí dụ: Hoàng-Hữu-Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế), sự thành lập Đảng Dân Chủ với “đảng kỳ” cờ vàng sao đỏ của Nguyễn Văn Thiệu, trò tuyệt thực của các dân biểu đối lập, v.v. vốn đã được nêu trong các bài viết tại các đường link ở phần tham khảo bên dưới. Ngoài ra, những sử liệu về giáo dục & đào tạo của Việt Nam Cộng Hòa cũng hoàn toàn vắng bóng trên toàn thế giới, trong khi bất kỳ những gì của quá khứ đều đương nhiên có cùng lúc ba giá trị của nguồn tham khảo để bổ sung dữ liệu, nguồn tham khảo để đúc rút kinh nghiệm “gạn đục khơi trong”, và cơ sở không thể thiếu để minh chứng cho sự thật lịch sử rằng lịch sử là sự thật.

Những sự thật sau đây về mảng giáo dục chính là để phục vụ cho ba giá trị ấy.

a) Giáo Dục: Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn tương hợp với Âu Mỹ khi đặt trọng tâm vào “giáo dục” (education). “Giáo dục” nghĩa là các lo toan cho bậc “trung học”, vì rằng “đại học” thuộc lĩnh vực “đào tạo” (training) nhắm đến đại cuộc mỗi cá nhân có một nghề nghiệp để mưu sinh, chứ “đại học” không bao giờ thuộc lĩnh vực “giáo dục” tức lĩnh vực nhắm đến xây dựng người có tri thức tổng quát cần thiết cho đại cuộc trở thành người công dân.

Chính vì tầm quan trọng của người công dân có tri thức đối với xã hội và quốc gia mà chương trình giáo dục bắt buộc phải đặt nặng vấn đề thi cử để làm động lực thúc đẩy sự gắng học tự thân mỗi học sinh. Không tranh đua thì không thể có sự bức phá tiến lên khiến xã hội hoặc dậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi. Không thi cử thì không có người đoạt cúp nghĩa là khái niệm danh dự và vinh dự bị xóa bỏ hoàn toàn.

Cả Việt Nam Cộng Hòa trước đây và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đều giống nhau ở chỗ đưa ra khái niệm “học gì thi đó”. Song, điểm tuyệt đối khác nhau là ở Việt Nam Cộng Hòa thì học môn nào thi môn đó nghĩa là học 11 môn thì thi đủ 11 môn, còn ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì học bài nào thi bài đó trong số chỉ có hai ba môn “chính” nào đó do chính Nhà Nước chọn ra để làm môn thi. Thậm chí chương trình học trung học của Việt Nam Cộng Hòa còn gồm có kỳ thi Tú Tài I (học xong lớp Đệ Tứ tức lớp 9) và thi Tú Tài II (học xong lớp Đệ Nhất tức lớp 12), nghĩa là sự khó khăn của kỳ thi Tú Tài I sẽ giúp định hướng nhiều học sinh nghiệm ra sự thách thức cao độ của Tú Tài II cùng ngưỡng đại học vốn chỉ dành cho học sinh thực sự có tiềm tàng một thực tài, từ đó sẽ quyết định thi vào các trường kỹ thuật khiến xã hội có đầy đủ hai lực lượng lao động chất lượng tốt và số lượng đủ cho cả hai lĩnh vực hàn lâm và kỹ thuật.

Tham khảo nội dung một Chứng Chỉ Tú Tài II (học xong lớp 12) năm 1973 của Việt Nam Cộng Hòa cấp cho một học sinh thi đậu Tú Tài II Ban C tức Ban Văn Chương

day-them-1

chúng ta có thể thấy các chi tiết như:

Tổng số các môn thi là 10 môn (chưa kể Triết Học gồm 5 môn như Tâm Lý Học, Phân Tâm Học, Đạo Đức Học, Luận Lý Học, và Siêu Hình Học)

Triết Học: điểm nhân với hệ số 4

Sinh Ngữ 1: điểm nhân với hệ số 3

Sinh Ngữ 2: điểm nhân với hệ số 2

Toán: điểm nhân với hệ số 1

Lý-Hóa: điểm nhân với hệ số 1

Vạn Vật: điểm nhân với hệ số 1

Sử – Địa – Công Dân: điểm mỗi môn nhân hệ số 1 rồi cộng chung làm tổng số cho cả cụm 3 môn này

Những điểm cần lưu ý là:

– Do thí dụ trên là của Ban C (Văn Chương)  nên Triết Học có hệ số 4, Sinh ngữ 1 có hệ số 3, và Sinh ngữ 2 có hệ số 2.

– Các ban khác như Ban A, Ban B, và Ban D sẽ có điểm hệ số khác nhau cho các môn trọng điểm khác nhau, và do đó các môn quan trọng nhất của Ban C Văn Chương như các môn Triết Học, Sinh Ngữ 1 và Sinh Ngữ 2 sẽ chỉ có hệ số 1.

– Việc chọn Ban là do học sinh quyết định từ đầu lớp 10. Dù là “Ban” nào cũng đều có thi Triết Học, Sinh Ngữ 1 và Sinh Ngữ 2 vì cả ba môn này đều quan trọng cần thiết cho sự hình thành một công dân có tri thức và năng lực tư duy tinh tế (qua các phân môn của Triết Học gồn Tâm Lý Học, Luận Lý Học, Đạo Đức Học, Phân Tâm Học, và Siêu Hình Học) cùng khả năng ngoại ngữ. Tất nhiên, nội dung học và thi cho môn Triết và Sinh Ngữ cho Ban A và Ban B ở cấp độ thấp hơn (thí dụ chương trình Anh Văn Ban C có nhiều tiết học tiếng Anh hơn và tăng tốc từ lớp 10 với Quyển 4 và lớp 11 với Quyển 5 để lên lớp 12 học kịp hết Quyển 6 và là quyển chót của bộ English for Today về thơ ca, tiểu thuyết, kịch nghệ; còn Ban A và Ban B có số tiết tiếng Anh ít hơn để lên lớp 12 vừa đủ học hết Quyển 4 của bộ English for Today về khoa học kỹ thuật).

– Dù Ban nào cũng phải có các môn thi Sử, Địa, không những do tất cả các môn học đều cực kỳ quan trọng như nhau (không ai học thứ vất đi), mà còn vì phải chuẩn bị nhân lực Tú Tài II có tri thức thích hợp sẵn cho các phân khoa trong đó có Sử và Địa tại các đại học chuyên ngành như Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa, v.v.

– Dù Ban nào cũng phải có môn thi Công Dân Giáo Dục vì mục tiêu của giáo dục là chuẩn bị cho xã hội những “công dân”.

– Ban C là Ban Văn Chương nên môn Toán chỉ có hệ số 1 nhưng sẽ là hệ số 3 hoặc 4 ở Ban A và Ban B.

– Môn Triết Học (5 phân môn học cùng lúc) bắt đầu học từ lớp Đệ Nhị (tức lớp 11).

– Môn Sinh Ngữ 1 bắt đầu từ lớp Đệ Thất (tức lớp 6), còn môn Sinh Ngữ 2 bắt đầu từ lớp Đệ Tam (tức lớp 10), và do học sinh tự chọn (không do trường áp đặt, và cũng không do Bộ tổ chức “thí điểm”). Đa số chọn tiếng Anh hay tiếng Pháp và đây là 2 ngoại ngữ duy nhất đồng loạt được các trường đáp ứng nhu cầu của học sinh. Học sinh có quyền học (không phải “chọn”) tiếng Nhật hay tiếng Trung như Sinh Ngữ 1 (tức ngoại ngữ chính) hoặc Sinh Ngữ 2 (tức ngoại ngữ phụ) nhưng phải tự học tại trung tâm bên ngoài, không phải đến trường trung học để dự các tiết học tiếng Anh hay Pháp, khi thi Tú Tài vẫn được Bộ ra đề thi riêng cho môn tiếng Nhật (Nhật Ngữ) hay tiếng Trung (Trung Văn), mặc dù Thành Tích Biểu (tức Học Bạ) không có điểm ngoại ngữ do trường không dạy, nghĩa là với các ngoại ngữ “lạ” thì thậm chí không cần có cái gọi là chứng chỉ của các trung tâm. Học sinh khi đăng ký vào hồ sơ thi tú tài nếu có ghi ngoại ngữ “lạ” thì đương nhiên sẽ được Bộ luôn bảo đảm có đề thi thích hợp.

– Dù thi Tú Tài I và Tú Tài II đều phải thi tất cả các môn đã học, đã không hề phát sinh vấn nạn quái gở nào của sự “stress” tức căng thẳng nơi học sinh hoặc căn bịnh thời đại nào khác.

– Đã học đến Tú Tài II, đương nhiên phải “biết” hai ngoại ngữ.

b) Đào Tạo:

Hai cơ sở cực kỳ đúng đắn, cực kỳ thực chất, cực kỳ chính xác trong chuẩn bị nhân lực cho cấp đại học, được áp dụng ở Việt Nam Cộng Hòa là (a) “học môn nào thi môn đó”, và (b) bài thi là để đánh giá sàng lọc cho được trình độ cao thích hợp chứ không phải bài kiểm tra.

Bài kiểm tra là để xem có thuộc bài chưa, chẳng hạn học một thế võ và khi dự kiểm tra phải múa võ chính xác từng động tác như đã được huấn luyện.

Bài thi là cơ hội cho học sinh chứng tỏ quá trình học tập/thực hành/áp dụng/vận dụng thực tế/đầu tư biến hóa riêng, chẳng hạn thi Võ Trạng Nguyên không phải để múa võ y như đã được huấn luyện mà thi đấu với đối thủ trực tiếp và phải đánh bại đối thủ ấy bằng những thăng hoa biến hóa hợp lệ.

Vì vậy, bài thi Anh Văn cho Tú Tài II có thể liên quan đến một vài chủ đề nào đó thực sự có trong chương trình Anh Văn lớp 12 vốn đã rất cao. Dù Ban C đã phải học về thơ ca Anh, tiểu thuyết Anh, và kịch nghệ Anh, bài thi vẫn được nâng cao hơn về trình độ chất lượng và số lượng bất kể là bài thi viết hay bài thi trắc nghiệm (áp dụng trắc nghiệm Tú Tài II từ năm 1973).

Còn khi thi vào Ban Anh Văn thí dụ như của Đại Học Sư Phạm Sài Gòn thì thí sinh phải thi viết tiếng Anh, thi viết tiếng Pháp, thi nói tiếng Anh, thi nói tiếng Pháp, với đề thi viết tiếng Anh luôn là bình giảng một đoạn văn từ một kiệt tác văn học tiểu thuyết tiếng Anh nào đó của một tác giả lừng danh người Anh nào đó nhưng dứt khoát các văn hào này không bao giờ thuộc diện đã có tác phẩm được dùng trong quyển 6 của bộ English for Today ở lớp 12 (chưa kể Quyển 6 ấy toàn là cho các tác phẩm của các văn hào Mỹ). Đại học là nơi dành cho những chuyên gia tương lai – nghĩa là đã phát huy sẵn năng khiếu nghiên cứu mà cụ thể là đã tự tìm đọc các kiến thức bên ngoài chương trình và cao hơn chương trình học tại lớp nên mới làm được các bài thi tuyển sinh đại học – chứ không là nơi dạy các cấp lớp tiếp theo của lớp 12 tức lớp 13, 14, 15, và 16. Và dù là Đại Học Sư Phạm Đệ Nhất Cấp hay Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp (đào tạo giáo viên trung học dạy từ lớp 6 đến lớp 9, và đào tạo giáo sư trung học dạy từ lớp 10 đến lớp 12), thì vị giáo viên hay giáo sư đó đều xuất sắc cùng lúc cả hai thứ tiếng Anh và Pháp, mà sự lựa chọn Đệ Nhất Cấp hay Đệ Nhị Cấp hoàn toàn không do chênh lệch về trình độ mà thuần túy theo sở thích hay tính toán riêng của từng sinh viên do một bên là phải học 4 năm và một bên chỉ phải học 3 năm trong khi danh dự danh tiếng ngang nhau (cùng là “đại học”) và lương bổng cao ngang nhau, mà việc theo hệ 4 năm là nơi những người có kế hoạch theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu cho các học vị thạc sĩ hoặc tiến sĩ về sau.

Cũng vì vậy mà các chuyên viên kỹ thuật (gọi là “cán sự” kỹ thuật) dù là từ trường Nguyễn Trường Tộ hay Cao Thắng, hay kỹ sư từ Đại Học Bách Khoa đều xuất sắc, và sự lựa chọn Trường Kỹ Thuật hay Đại Học Bách Khoa chỉ thuần túy dựa theo sự lựa chọn theo sở thích, tính toán thực tế thực dụng về thời gian, của mỗi người. Học xong lớp 9 vào Trường Kỹ Thuật nghĩa là đến khi học xong Tú Tài 2 đã trở thành cán sự kỹ thuật bắt đầu sự nghiệp, gia đình, tạo vốn lập cơ nghiệp riêng sớm hơn, thay vì phải đầu tư thêm 4 năm để có danh “kỹ sư” trong khi nhu cầu kỹ thuật của xã hội lại rất nhiều và cấp bách mà “thời cơ” thì không luôn chờ đợi.

4)   Cái Sai Của Chương Trình Học Của Việt Nam Sau 1975

Như đã nêu trong nhiều bài viết trong nhiều năm qua, tôi luôn cho rằng việc thêm các tiết về Đội, về Đoàn, về lao động vệ sinh trường lớp nhằm phát huy quyền làm chủ tập thể, về thể dục thể thao, v.v., vào chương trình học là hoàn toàn sai.

Trước 1975, vệ sinh trường lớp là do tạp vụ “biên chế” của mỗi trường phụ trách. Lẽ nào sau 1975, nhà trường lại kiếm thêm thu nhập từ tiết kiệm chi phí bằng cách buộc học sinh phải làm vệ sinh trường lớp và toilet, khiến học sinh bị phơi nhiễm trước bụi bẩn, hóa chất tẩy rửa chắc chắn thuộc loại rẻ tiền độc hại, và phí phạm thời gian quý báu của học sinh lẽ ra nên được dành cho vui chơi, giải trí, học tập, và giúp đỡ việc nhà phụ mẹ phụ cha? (Tại trường tiểu học Phan Đình Phùng Quận 3, tôi đã được cô giáo dạy rằng phải mỗi ngày giúp mẹ trong giúp mẹ phơi quần áo, xếp quần áo, v.v., và mọi học sinh phải được mẹ ghi cụ thể vào sổ tay những việc cụ thể mà con mình đã làm tại nhà trong việc nội trợ rồi trình cô giáo xem vào ngày học tiếp theo).

Các sinh hoạt Đội và Đoàn, nếu có, lẽ ra phải được tiến hành chỉ vào ngày nghỉ cuối tuần như sinh hoạt Hướng Đạo trước 1975, không được cấy ghép vào thời gian học ngày thường tại trường, và không được xem như là điểm cộng thêm bổ sung hoặc thay cho điểm hạnh kiểm học sinh.

Về thể dục thể thao, đã có sự sai lầm cơ bản khi cho rằng giáo dục văn-thể-mỹ phải có cả thể dục-thể thao và mỹ học kèm phụ thêm vào học văn hóa nhằm tạo nên người công dân vẹn toàn. Học văn hóa là duy nhất chủ lực và hoàn toàn không tùy thuộc vào sở thích hay năng lực của học sinh. Trong khi đó, thể dục thể thao lại tùy vào sở thích cùng năng lực thể chất của từng học sinh. Do đó, một học sinh buộc phải theo cả trăm học sinh khác phí bỏ thời giờ khi tập trung nhiều giờ tại một nơi chẳng hạn như đường cung bên ngoài Sân Vận Động Quân Khu 7 đường Phổ Quang, Quận Tân Bình, để được một nữ giáo viên thể dục la hét trong sự ồn ào hơn sấm của cả trăm học sinh nam nữ giởn hớt, cười cợt, cũng đang la hét, để “dạy” học sinh chạy nhảy, để rồi rất có thể một số học sinh trong số đó lại phải mất thời gian sau học để đến một sân tennis tập dợt hay một trung tâm thể dục thể thao để học võ Vovinam chẳng hạn tức những nội dung “thể dục-thể thao” đúng sở thích cá nhân của học sinh. Thậm chí một trường điểm lớn như Lê Hồng Phong Quận 5 sau khi yêu cầu học sinh đăng ký tham gia học các môn thể thao ưa thích theo danh mục trường đề ra, lại dùng quyền lực tự ý san sẻ một số học sinh vào những “môn thể thao” như “chơi cờ vua” do chẳng ai chịu đăng ký. Như vậy, thể dục-thể thao chẳng khác nào chỉ để phục vụ cái văn-thể-mỹ vô bổ đầy hư danh, để “nuôi gà đá” nhằm có đội ngũ tham dự Hội Khỏe Phù Đổng đầy hư danh, và để gia tăng mức độ “stress” của học trò, mà hậu quả nhãn tiền là chưa bao giờ sự đầu tư cho văn-thể-mỹ đó giúp có thêm nhiều triệu học sinh ưu tú thực sự về văn hóa, nhiều triệu học sinh lừng danh thực sự về thể thao để ngự trị ASEAN và Châu Á, và nhiều triệu nhà mỹ học làm Việt Nam hãnh diện. Nếu bỏ hẳn môn thể dục-thể thao chung chung vô bổ, học sinh có thêm thời gian để đầu tư cho bộ môn ưa thích, và đây là cơ sở để có ngày Việt Nam cung cấp cho thế giới một Novak Djokovic (hoặc một Serena Williams) da vàng.

Tại Sài Gòn trước 1975, môn hội họa ở tiểu học hoàn toàn không nhằm vào cái “cảm thụ mỹ thuật” vớ vẩn nào cả. Môn hội họa được xác định là để học sinh từ việc vẽ những nét thẳng đơn giản nhất của vật chất nhìn thấy cụ thể xung quanh tiến đến vẽ những vật chất cụ thể ấy dạng cong và 3D chính xác. Sự học này chỉ để giúp học sinh khi lên trung học vẽ được bản đồ khi học và thi môn Địa Lý, vẽ được tinh thể các loại đá khi học và thi môn Vạn Vật Học (Sinh Vật), và vẽ được các đường toán học, chưa kể để phục vụ cho cấp đại học đối với các môn như kiến trúc và đồ họa, v.v. Trong khi đó, môn Vẽ ở tiểu học Việt Nam ngày nay là để có những bộ tranh nguệch ngoạc vẽ “sinh hoạt sân trường” hay vẽ “hòa bình thế giới” hay vẽ “du hành không gian” chỉ nhằm góp mặt đông vui cho những buổi triển lãm tranh “thiếu nhi”. Đã sai về mục đích và mục tiêu thì rõ ràng là các môn học các cấp như môn vẽ không để làm học sinh giỏi hơn về môn vẽ để thành họa sĩ cũng như hoàn toàn không hỗ trợ gì các môn học khác ở các cấp cao hơn.

Ngay cả việc thêm môn học vi tính cũng là một sự phí phạm về tiền bạc, thời gian học sinh, gây ra gánh nặng ngân sách về lao động (lực lượng giáo viên “cơ hữu”), và gây ra cả sự bất công do không phải 100% các trường học ở vùng sâu vùng xa và hải đảo đều được đầu tư phòng học “công nghệ thông tin”. Bản chất của việc “dạy” vi tính là “cầm tay chỉ việc” chỉ cần vài tháng chứ không là thứ để học lâu dài để các trường phải có phòng vi tính, có hàng chục máy vi tính không bao giờ hiện đại, sử dụng toàn phần mềm bẻ khóa làm nhục quốc thể và phản tác dụng giáo dục, gắn máy lạnh, và thường xuyên đối phó với nguy cơ trộm cắp từ bên ngoài. Gia đình nào quan tâm đến vi tính có thể vào thời điểm thích hợp khi con cái đến độ tuổi an toàn mà gia đình có thể mua máy vi tinh cũng như có thể cho con đến học một hai khóa vài tháng ở một trung tâm nào đó gần nhà, thì lúc ấy sẽ tự lo liệu cho con mình.

Một cái sai khác ở Việt Nam mà tác giả bài viết này đã nói đến trong nhiều năm qua đó là dù cho chính sách của Đảng và Nhà Nước luôn cổ súy cho sự phát triển công nghiệp nặng và đại cuộc công nghiệp hóa thì vẫn luôn tồn tại sự tầm thường hóa ngành kỹ thuật, ưu ái từ chương, qua cách dùng chữ “nghề” cực kỳ thô thiển, cực kỳ hạ thấp phẩm giá, như trong các cụm từ Trường Trung Cấp Nghề và Trường Cao Đẳng Nghề, cũng như trong sự tự tiện sai quấy khi hạ thấp ý nghĩa của “cao đẳng”, xem “cao đẳng” thấp hơn “đại học” (xin liên hệ phần links bài “Đại Học” ở mục tham khảo bên dưới), khiến hủy phá ngành học kỹ thuật, gây mất cân đối nghiêm trọng vô phương cứu chữa đối với nội dung cung ứng đủ nhân lực kỹ thuật cho xã hội.

Tóm lại, chương trình học trung học của Việt Nam đa dạng hơn, dồi dào hơn, nhiều hơn, đầy đủ hơn, lý tưởng hơn, và tất cả những điều không giá trị thực chất ấy dẫn đến vấn nạn học sinh bị stress nhiều hơn, sức khỏe tâm thần bị đe dọa nhiều hơn, chất lượng dạy xuống thấp hơn, hiệu quả học rơi tự do, khiến Bộ Giáo Dục phải cứu vớt học sinh bằng cách dùng biện pháp quái gở là đánh giá để thay thế việc cho điểm ở bậc tiểu học, cắt giảm rất nhiều các môn chỉ cần học mà không thi, tiến đến bài thi đại học không khác bài thi tú tài, tiến đến tuyển sinh đại học không cần thi. Toàn xã hội và cả dân tộc phải gánh chịu hậu quả từ nguồn nhân lực luôn được trang điểm với đầy đủ bằng cấp cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ hoàn toàn không từ nền móng vững chắc của một nền giáo dục đáng tin cậy.

5)   Tổ Chức Nhà Trường Của Việt Nam

a) Ở Sài Gòn:

– Tất cả các lớp tại tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư thục đều chỉ học một buổi trong ngày. Một lớp thí dụ có tên là Lớp 8A2 thì lớp đó cùng nhiều lớp khác chỉ học buổi chiều từ Thứ Hai đến Thứ Bảy (trước 1975 Việt Nam Cộng Hòa mõi tuần chỉ có Chủ Nhật là ngày nghỉ cuối tuần), trong khi các lớp còn lại thì học toàn buổi sáng. Nhờ vậy, học sinh học rất lành mạnh và khỏe khoắn. Thí dụ nếu chỉ học buổi sáng thì học sinh có thể sử dụng cả buổi chiều để nghỉ ngơi và buổi tối để làm bài tập cho ngày hôm sau. Tất nhiên, học sinh có thể sử dụng một trong hai buổi rảnh rỗi lúc chiều và tối để đi học thêm nếu muốn.

– Tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ có cái gọi là sinh hoạt hội phụ huynh học sinh, không bao giờ cho phép phụ huynh học sinh được can dự vào việc dạy học của giáo viên và của trường; và phụ huynh chỉ được nhà trường mời đến nếu (a) học sinh phạm lỗi nghiêm trọng vì nếu ít nghiêm trọng thì chỉ cần sự giải quyết bằng  roi vọt thẳng tay của Thầy Tổng Giám Thị, (b) học sinh trường tư thục chậm đóng học phí, và (c) học sinh được giải thưởng xuất sắc toàn trường nếu trường có tổ chức lễ hội.

day-them-6

(Tương tự bịnh viện Âu Mỹ: không bao giờ sinh hoạt cái gọi là “hội thân nhân bịnh nhân”, không bao giờ cho phép thân nhân được động tay vào bịnh nhân đang nằm điều trị tại bịnh viện vì tất cả mọi việc từ chữa trị, điều trị, chăm sóc, phục vụ bịnh nhân đều do người của bịnh viện thực hiện!)

– Tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư  thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ yêu cầu (xin xỏ) phụ huynh học sinh đóng góp tiền “cơ sở vật chất” mua sắm trang thiết bị vì nhà nước phải cung cấp đầy đủ cho trường công lập và chủ nhân phải cung cấp đầy đủ cho trường tư thục. Không đầy đủ cơ sở vật chất thì không bao giờ được gọi là trường học. (Tương tự bịnh viện Âu Mỹ: không bao giờ yêu cầu thân nhân bịnh nhân đóng góp tiền xây dựng “cơ sở vật chất” mua sắm trang thiết bị vì nhà nước phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện công và chủ nhân phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện tư. Không đầy đủ cơ sở vật chất thì không bao giờ được gọi là bịnh viện!)

– Tất cả các trường tiểu học và trung học dù công lập hay tư  thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ yêu cầu (xin xỏ) phụ huynh học sinh đóng góp tiền để mua quà cho học sinh giỏi và mua quà cho giáo viên Ngày Nhà Giáo (Việt Nam Cộng Hòa không có cái gọi là Ngày Nhà Giáo), vì toàn bộ chi phí phải lấy từ tiền do Nhà Nước cung cấp cho trường công lập và do chủ nhân cung cấp cho trường tư thục. Không có tiền mua phần thưởng cho học sinh và cho lao động của trường thì đó không là trường học. (Tương tự bịnh viện Âu Mỹ: không bao giờ yêu cầu thân nhân bịnh nhân đóng góp tiền để thưởng cho bác sĩ, y tá, nhân viên bịnh viện vì tất cả phải sẵn có trong kinh phí hoạt động của bịnh viện mà Nhà Nước phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện công và chủ nhân phải cung cấp đầy đủ cho bịnh viện tư. Không có tiền lo các phần quà cho tập thể lao động của bịnh viện thì không bao giờ được gọi là bịnh viện!)

– Tất cả các trường tiểu học và trung học tư thục đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ có cái gọi là “lực lượng giáo viên cơ hữu” vì việc kinh doanh luôn phải trên cơ sở phục vụ tốt nhất, do đó lực lượng giáo viên phải có danh tiếng và đang dạy tại những trường công lập có danh tiếng.

– Tất cả các trường tiểu học và trung học công lập đều cực kỳ chuyên nghiệp: không bao giờ – và cũng không có quyền – ngăn cấm giáo viên “cơ hữu” của mình  dạy thêm tại các lớp dù ban ngày hay buổi tối của các trường tư thục.

b) Ở Thành phố Hồ Chí Minh:

– Trường học hoàn toàn bất lực không bao giờ có thể thu xếp cho lớp học chỉ học một buổi cố định trong ngày và cố định suốt tuần suốt năm học, khiến học sinh phải học hai buổi sáng, chiều, hoặc có hôm sáng có hôm lại là  chiều; và do đó, (a) học sinh và phụ huynh học sinh bị tước mất sự chủ động trong tổ chức sinh hoạt gia đình, (b) thời gian ít ỏi còn lại của buổi tối nếu phải dành để học thêm hay để tự học chuẩn bị bài cho hôm sau sẽ khiến tạo áp lực “stress” khủng khiếp lên học sinh và phụ huynh học sinh, và (c) phá tan nát giềng mối gia đình vốn cực kỳ quan trọng trong định hình nhân cách học sinh.

– Trường học luôn tồi tệ về tính chuyên nghiệp khi yêu cầu (tức “xin xỏ”, hoặc “xin đểu”) phụ huynh học sinh đóng góp tiền xây dựng cơ sở vật chất, tiền làm phần thưởng cho học sinh (gần như 100% học sinh đều có phần thưởng) và cho giáo viên (có nơi như Trường Lê Quý Đôn trên đường Võ Văn Tần Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu phụ huynh đóng góp tiền cho tập thể giáo viên nghỉ hè tại Singapore), v.v. Việc này rất kỳ quái nếu liên tưởng đến việc một công ty taxi yêu cầu khách hàng đóng góp tiền để công ty mua xe hơi phục vụ khách hàng, hoặc một người tửng tửng gỏ cửa từng nhà yêu cầu người dân đóng góp tiền cho hắn đi học cử nhân, cao học và tiến sĩ để y sẽ phục vụ họ tốt hơn vậy.

– Trường tư thục luôn buộc phải có lực lượng giáo viên “cơ hữu” mới được cấp giấy phép khiến hoặc (a) phải “bứng” giáo viên cơ hữu của trường công lập nghĩa là giáo viên ấy bỏ hẳn trường công lập, hoặc (b) phải phải “bứng” giáo viên cơ hữu của trường tư thục khác, hoặc (c) phải nhận các giáo viên bất kỳ dù tay mơ mới tốt nghiệp miễn hình thành nên danh sách theo quy định.

6)   Cái Sai Của Chương Trình Thi Cử Của Việt Nam Sau 1975

Khi hòa tan hệ 9 năm vào với hệ 12 năm, ngoài việc hạ thấp chất lượng giáo trình hệ 12 năm hoặc kéo dãn giáo trình hệ 9 năm để dạy đủ 12 năm, còn có việc sai hoàn toàn trong thi của vào đại học ngay từ kỳ thi đại học khóa đầu tiên của “cách mạng” vào đầu năm 1976.

Thí dụ có thực sau đây đã xảy ra tại Đại Học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1978 hòa nhập vào Đại Học Khoa Học để thành Đại Học Tổng Hợp, và cách nay vài năm lại tách ra để mang tên Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn đầy thô thiển).

Lớp Anh Văn năm thứ nhất của Khoa Ngoại Ngữ có cả những sinh viên không hề xin thi vào Ban Anh Văn. Nhiều bạn đã tâm sự cùng tôi vào giờ giải lao rằng họ rất sợ tiếng Anh vì học rất kém môn này ở trung học, thậm chí không học do chiến tranh, nhưng dù họ nài nỉ van xin trường cho họ được học khoa Văn Tiếng Việt hoặc Khoa Sử mà họ đã thi đậu vào, họ vẫn được trường “động viên” bảo họ phải đảm đương trọng trách chính trị được Đảng giao phó, đơn giản vì họ không những là dân sống ở các tỉnh Miền Trung nhưng có thân nhân lén tham gia cách mạng và trở thành liệt sĩ, mà bản thân còn là Đoàn Viên Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh ngay sau ngày giải phóng. Thậm chí họ còn được chọn để làm luận án nghĩa là để được giữ lại trường để giảng dạy đại học, trong khi các sinh viên còn lại phải thi tốt nghiệp với tất cả các môn. Một bạn trong số họ đã luôn đối xử tốt với tôi kể cả lúc tôi bị các sinh viên đảng viên chi bộ Ngữ Văn Việt được phân công quản lý sinh viên “quần chúng” các lớp Anh và Pháp vu khống tôi phản động (do thấy tôi được người họ tôn làm hoa khôi thương yêu) nhằm làm tôi bị đuổi học, nên khi người ấy ngỏ lời với tôi rằng người ấy chỉ muốn thi tốt nghiệp chứ không thể làm luận án tiếng Anh và tỏ sự bực tức vì sao Khoa lại loại tên tôi khỏi danh sách trình luận án dù tôi được các thầy cô tiến cử, tôi đã động viên người ấy hãy cố gắng và không những đã viết hộ người ấy bản luận án, đánh máy nhiều lượt để hình thành nhiều bộ luận án nộp hội đồng đúng số lượng yêu cầu, mà còn hướng dẫn anh ấy cách trả lời các câu hỏi phản biện nào rất có thể được nêu lên trong buổi trình luận án. Người ấy trở thành chức sắc ở Khoa Ngoại Ngữ Đại Học Tổng Hợp sau này, còn tôi phải thi tốt nghiệp, được Sở Công An và Cao Đẳng Sư Phạm cùng tranh nhau xin về sau khi nghiên cứu hồ sơ tốt nghiệp của trường, và tôi chọn trở thành giáo viên Anh văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong gần 10 năm trước khi phải bỏ nghề duy nhất tôi yêu thích chỉ vì không những đã không chịu gian lận thi cử tuyển sinh giúp “con em” của lãnh đạo theo gơi ý của lãnh đạo trường mà còn dám tố cáo họ lên cấp trên.

Như vậy, trong thời kỳ thi cử đại học còn nghiêm túc và khó khăn, chất lượng cao, mà vẫn xảy ra việc “duy ý chí”, đưa sinh viên không dự thi Ban Anh Văn vào học Ban Anh Văn để trở thành lãnh đạo Ban Anh Văn do lo sợ nội dung học và dạy tiếng Anh không bảo đảm đúng tư tưởng chính trị, thì bảo sao từ những giảng viên đại học môn Anh Văn, những sinh viên học trò của họ sau này trở thành giáo viên – thậm chí giảng viên đại học tiếp nối họ – như thế, các sinh viên tốt nghiệp sau này đã không thể sử dụng được tiếng Anh trong đời sống, người sử dụng lao động cứ mãi chê bai chất lượng tiếng Anh của ứng viên có bằng cử nhân Anh Văn, còn Nhà Nước cứ phải tiến hành nhiều đợt cải cách giáo dục loại 3600  nghĩa là quay về chốn cũ.

Chỉ cần tham khảo mới chỉ một trong nhiều môn học mang tính “lược khảo” tức “đại cương” của sinh viên năm thứ nhất Đại Học Luật Khoa ở Sài Gòn trước 1975 như dưới đây cũng đủ biết một học sinh thi đậu Tú Tài II đã đạt trình độ ra sao về tư duy và năng lực trước khi bước vào ngưỡng cửa đại học Luật:

chau-dieu-ai-b-5chau-dieu-ai-b-4chau-dieu-ai-b-3

So với một vài chi tiết của chương trình đại học Luật hiện nay thí dụ với tổng cộng 131 tín chỉ trong đó các phần “đại cương” và “kiến thức cơ sở” như sau:

day-them

Lòng sông đã nông thì các mô hình vĩ đại như hàng không mẫu hạm hay du thuyền vĩ đại cũng sẽ không bao giờ vào được bến bờ.

Căn bản đã nông thì mọi cách giảng dạy hiện đại đều mãi mãi không bao giờ có thể áp dụng thành công ở Việt Nam.

7)   Thực Chất Của Dạy Thêm Và Học Thêm

a) Ở Sài Gòn:

– Chỉ các giáo viên danh tiếng, có thâm niên, có điều kiện, mới có thể tự tổ chức dạy thêm (đây là điều kiện tự nhiên và tự thân, không phải do quy định của chính quyền hay pháp luật).

– Việc dạy thêm được thực hiện chủ yếu tại nhà riêng của các giáo viên.

– Việc dạy thêm có thể dưới hình thức nhận lời dạy tại các trường tư thục với tư cách dạy chính, được nêu tên để quảng cáo cho uy danh của trường tư thục ấy, dù giáo viên nhận hợp tác dạy “chính” thêm không là “cơ hữu”. “Dạy chính” nghĩa là có trách nhiệm cao nhất, nghĩa là đảm bảo chất lượng cao nhất, và bảo đảm duy trì suốt năm học không bao giờ bỏ buổi dạy hay trể giờ dạy (tất nhiên trừ trường hợp có sự cố nghiêm trọng hay sự việc quan trọng của cá nhân giáo viên).

– Việc học thêm là nhu cầu của duy chỉ năm đối tượng học sinh gồm (a) yếu kém, (b) quan tâm đến “môn” ưa thích nhưng không được dạy ở trường chẳng hạn như thanh nhạc hoặc đàn guitar hoặc tennis hoặc bơi lội, (c) muốn học “trước” để dọn đường cho năm học sau, (d) muốn va chạm với các bài tập cao hơn và khó hơn như tại các lớp luyện thi Tú Tài I hoặc Tú Tài II hoặc TOEFL, và vì (e) muốn được gần “đối tượng” nào đó mà mình mơ tưởng thầm thương trộm nhớ đang theo học tại lớp học thêm ấy dù môn học ấy mình chẳng cần phải “học thêm”.

– Việc học thêm thường được đặt trên ba tiêu chí cơ bản như (a) nhà thầy/cô dạy thêm gần nhà mình, (b) cha mẹ mình có biết về thầy/cô dạy thêm đó cả về danh tiếng và về nhân thân do cùng hay gần khu phố, và (c) thầy/cô ấy không phải là thầy/cô đang dạy lớp của mình tại trường chính mà mình đang theo học vì mục đích là muốn học điều mới lạ từ thầy/cô khác.

– Việc học thêm tại một trung tâm không gần nhà chỉ được thực hiện khi (a) đó là trung tâm ngoại ngữ danh tiếng thí dụ như London School hay Hội Việt Mỹ VAA mà mục đích uy nhất là để luyện nói và luyện nghe vốn là hai phần không bao giờ được dạy hiệu quả tại lớp học tại trường trung học, và (b) đó là trung tâm luyện thi Tú Tài II có các giáo sư danh tiếng cho môn học duy nhất thuộc hạng khó nhất là Triết Học.

– Việc học thêm tại nhà một thầy/cô có danh tiếng nhưng lại xa nhà mình được thực hiện chỉ vì một lý do duy nhất: khu phố nhà mình và các vùng lân cận không có thầy/cô danh tiếng nào cho môn học mình quan tâm.

b) Ở Thành phố Hồ Chí Minh:

– Việc dạy thêm tại nhà riêng của giáo viên hay tại nơi giáo viên thuê mướn được thực hiện bởi bất kỳ giáo viên nào, kể cả giáo viên mới vào nghề và không danh tiếng.

– Việc dạy thêm được thực hiện đối với chính môn học và chính học sinh mà mình dạy môn học ấy tại trường trung học nơi mình làm giáo viên cơ hữu.

– Việc dạy thêm được thực hiện tại nhà của học sinh do phụ huynh mời thỉnh.

– Việc học thêm được diễn ra không chắc chắn do học sinh yếu kém, mà chủ yếu vì phụ huynh học sinh và học sinh muốn bày tỏ sự “biết điều” trong ủng hộ thầy/cô để học sinh được hưởng lợi từ sự nương tay của giáo viên trong điểm số tại lớp.

– Việc học thêm bị diễn ra vì phụ huynh muốn có nơi để gởi con mình trong thời gian mình bận việc vào buổi tối. Trong buổi họp Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi có lịnh Thành Ủy cấm dạy thêm, một nữ đại biểu đã phát biểu (qua phóng sự truyền hình HTV) chống lại lịnh cấm với lý do rằng có những “cử tri” bức xúc nói với bà rằng nếu thế thì họ không biết đem con họ gởi vào đâu.

8) Cái Đúng Của Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh Đinh La Thăng

Từ nội dung 7.b nêu trên vốn đã kéo dài nhiều thập kỷ, Bí thư Thành Ủy Đinh La  Thăng đã hoàn toàn đúng khi đề ra chủ trương nhằm ngăn cấm việc dạy thêm của giáo viên. Việc cấm đoán này không sai do có sự vô lý rằng giáo viên đã dạy tại lớp nhưng lẽ nào lại thất bại đến độ học sinh không thể tiếp thu, phải đi học thêm từ chính giáo viên đó cho chính bài học giáo viên đó đã giảng tại lớp.

9)   Cái Sai Của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, cái đúng của Bí thư Thành Ủy Đinh La Thăng không được mặc định rằng việc Thành Ủy nghị quyết cho bên hành chính công quyền thực hiện ngay và triệt để điều đúng ấy sẽ luôn là một việc đúng như được chứng minh dưới đây.

a- Sự Yếu Kém Về Giáo Dục Của Ban Tuyên Giáo

Điều rõ ràng ở đây là Ban Tuyên Giáo chỉ là Ban Tuyên Truyền do đã không có gì chứng minh đã có sự sáng suốt về Giáo Dục trong tất cả các thời kỳ của Thành Ủy từ sau 1975 đến nay. Thực tế là tất cả các chức sắc phụ trách các Sở đều là đảng viên, thậm chí là thành ủy viên, và các chủ trương chính sách từ các nghị quyết của thành ủy đều được thực hiện xuyên suốt nhiệm kỳ của các Hội Đồng Nhân Dân và Ủy Ban Nhân Dân. Sự xuống cấp của tổ chức giáo dục và chất lượng giáo dục là minh chứng rõ nét nhất cho sự yếu kém có thật này của Ban Tuyên Giáo của tất cả các thời kỳ Thành Ủy.

b- Sự Vi Phạm Hiến Pháp Và Luật Pháp

Việc mưu cầu hạnh phúc là điều cơ bản về quyền công dân như được minh định trong Tuyên Ngôn Độc Lập Việt Nam và sự chế định trong Hiến Pháp Việt Nam có nội hàm liên quan đến khía cạnh đảm bảo quyền được sống cuộc sống bình thường, được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển.

Pháp Luật về Lao Động không bao giờ quy định người lao động là một thực thể luôn luôn thuộc quyền sở hữu của bên sử dụng lao động 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần trong suốt thời gian thực hiện một hợp đồng hay khế ước lao động.

Vì vậy, việc dạy thêm của giáo viên không làm giáo viên ấy vi phạm hợp đồng lao động hoặc khế ước lao động hoặc hình thức nào đó tương tự đã ký hoặc thỏa thuận với nhà trường. Trong khi đó, việc cấm giáo viên không được dạy thêm ngoài thời gian phục vụ cho trường sẽ phạm phải các điều cơ bản sau:

– Thành Ủy, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Sở Giáo Dục & Đào Tạo không phải là bên sử dụng lao động, không là một bên trong hai bên trực tiếp có liên quan là nhà trường và giáo viên, nên hoàn toàn không có quyền cấm giáo viên dạy thêm, nhất là khi việc dạy thêm không nằm trong danh sách những ngành nghề và nội dung việc làm bị cấm hành nghề trong luật pháp quốc gia.

– Nhà trường dù là một trong hai bên trực tiếp có khế ước liên quan đến lao động tại trường, cũng hoàn toàn không có thẩm quyền luật định nào để ngăn cấm giáo viên liên kết hợp tác với các trường khác, các trung tâm khác, hay các lớp nơi khác kể cả lớp tự tổ chức tại gia, ngoài các nội dung đã được minh định trong hợp đồng hay khế ước hoặc thỏa thuận về lao động giữa nhà trường và giáo viên.

– Việc dạy thêm về chuyên môn – kể cả chuyên môn tay trái – của giáo viên là việc không thể cấm đoán nêu không làm tiết lộ bí mất quốc gia, bí mật quốc phòng, bí mật an ninh trật tự xã hội, bí mật tổ chức hoạt động của nhà trường là cơ quan mà giáo viên phục vụ trong biên chế, hoặc vi phạm tác quyền tài liệu có đăng ký sở hữu trí tuệ của trường, hoặc sử dụng giờ giấc lao động phục vụ trường để làm việc dạy thêm ấy tại nơi khác.

– Việc dạy thêm của giáo viên không thể bị phân biệt đối xử một cách bất công, do người thuộc các ngành nghề khác lại không bị cấm đoán như vậy, chẳng hạn như nghề y, nghề cơ khí kỹ thuật, nghề vi sinh hay y sinh, v.v.

– Việc dạy thêm của giáo viên đáp ứng nhu cầu học tập các môn học bất kỳ của học sinh, đặc biệt trường hợp học sinh muốn học thêm các môn năng khiếu như ca hát, sử dụng nhạc cụ, hội họa đồ họa, toán nâng cao, hoặc ngay cả ngoại ngữ nâng cao, v.v., vốn không nằm trong chương trình trung học tại trường.

– Việc dạy thêm của giáo viên cũng là việc đáng khích lệ và biểu dương khi chủ động đảm bảo quyền của con cái mà giáo viên phải dưỡng nuôi và quyền của phụ mẫu mà giáo viên phải phụng dưỡng để các thân nhân này được sống cuộc sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển. Việc cấm dạy thêm sẽ đồng nghĩa với việc Nhà Nước phải cung cấp các khoản trợ cấp để giáo viên đủ trang trải cho các nội dung trên, vốn là việc không bao giờ Nhà Nước thực hiện được.

c- Sự Chủ Quan Không Tham Vấn Chuyên Gia Thực Thụ Về Giáo Dục

Ý kiến chỉ đạo đúng đắn của Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng đã được thực hiện như một cái máy, khiến người quan tâm và kẻ thù của chế độ có thể liên tưởng đến một đế chế đã luôn tồn tại ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó các Bí Thư Thành Ủy là một vị vương mà tất cả các ý chỉ và khẩu dụ hoặc chiếu thư đều được răm rắp thực hiện, hoàn toàn không có sự góp ý của các thành ủy viên là chuyên gia thực thụ về giáo dục để nội dung sắp phổ biến mang tính thuyết phục nhất, các nội dung phản biện nào có thể được dự kiến trước để hóa giải, và việc thực hiện sẽ được thông suốt. Việc không có thành ủy viên nào là chuyên gia giáo dục không bao giờ là yếu điểm của Ban Tuyên Giáo nếu như Ban Tuyên Giáo có tham vấn chuyên gia thực thụ về giáo dục và luật pháp có liên quan đối với các kế sách định ban hành nhất là khi các kế sách ấy không thuộc danh mục bí mật an ninh quốc gia.

10) 4 Đề Xuất Khả Thi Của Hoàng Hữu Phước

1) Giáo viên của tất cả các môn học đều có quyền dạy thêm tại bất kỳ trung tâm nào, bất kỳ cơ sở trường học nào, nếu được mời bởi những trung tâm hay cơ sở trường học ấy, bất kể giáo viên được mời là giáo viên có thâm niên công tác hay là giáo viến mới nhận việc giảng dạy chưa có kinh nghiệm.

2) Giáo viên của tất cả các môn học đều có quyền mở lớp dạy thêm tại nhà của mình với điều kiện được chính quyền địa phương cho phép, trên cơ sở (a) giáo viên ấy có giấy chứng nhận thâm niên công tác giảng dạy chính thức tối thiểu 5 năm tại một trường học và có thành tích giảng dạy tốt, (b) nhà dùng làm nơi dạy thêm có trang bị tiện nghi thích hợp cho việc giảng dạy cũng như không gây cản trở đi lại do việc dựng xe của học sinh và thân nhân, và không bị hàng xóm khiếu nại về tiếng ồn hay vệ sinh chung, và (c) phải có danh sách học sinh ghi rõ địa chỉ liên lạc để công an địa phương tham khảo khi cần.

3) Giáo viên nói đến ở mục 10.2 ở trên có thể mời thêm giáo viên khác đến sử dụng cơ sở vật chất tại nhà của mình để cùng tham gia dạy thêm để giúp học sinh không phải đi xa hơn hoặc đến nhiều nơi hơn, với điều kiện giáo viên mời phải có những giấy tờ sau từ giáo viên được mời: giấy chứng nhận thâm niên giảng dạy của trường nơi giáo viên ấy dạy chính thức, bản lý lich cá nhân, và bản sao Chứng Minh Nhân Dân, để công an địa phương tham khảo khi cần.

4) Nhà trường không được phép sử dụng cơ sở vật chất của trường để tổ chức “dạy thêm”; tuy nhiên, nhà trường có thể cho giáo viên của trường khi đáp ứng điều kiện về thâm niên cùng uy tín chuyên môn thuê một phòng nào đó của trường để dạy thêm ngoài giờ tức sau tan học buổi chiều và vào ngày nghỉ cuối tuần. Các giáo viên thiếu thâm niên, ít thành tích trong giảng dạy, và lớp đang dạy có vấn đề về kết quả học tập đối với bộ môn mình phụ trách thì không được trường cho thuê cơ sở vì như vậy chẳng khác nào giáo viên tổ chức lớp dạy thêm không bằng trình độ uy tín cá nhân mà bằng cách lạm dụng danh tiếng của nhà trường.

11) 5 Đề Xuất Bất Khả Thi Của Hoàng Hữu Phước

Do chưa có sự râm ran hay rầm rộ chê bai về chất lượng đào tạo của các ngành khác trừ bộ môn Tiếng Anh, năm đề xuất sau là dành riêng cho bộ môn này, và tất cả đều bất khả thi như điều tất yếu từ các mặc định xơ cứng cố hữu ở Việt Nam:

1) Thay đổi toàn bộ các chức sắc cao nhất của ngành Anh Văn ở tất cả các trường đại học với lý do đơn giản là vì có thực tế không thể chối cãi là đã luôn có sự thất bại về trình độ tiếng Anh nơi các sản phẩm đã được đào tạo xong tại trường của họ.

2) Thay đổi toàn bộ các chương trình, giáo trình, và phương pháp giảng dạy tiếng Anh đang được áp dụng tại các trường đại học, với lý do đơn giản là vì có thực tế không thể chối cãi là đã luôn có sự thất bại về trình độ tiếng Anh nơi các sản phẩm đã được đào tạo xong tại các trường này.

3) Bỏ tất cả các sách giáo khoa tiếng Anh ở bậc trung học dù soạn bởi người Việt hay bởi tập thể người Việt và người nước ngoài, để sử dụng bộ sách của Mỹ sau khi tham vấn chuyên gia thực thụ về giảng dạy tiếng Anh bậc trung học ở Việt Nam, với lý do đơn giản là vì có thực tế không thể chối cãi là đã luôn có sự thất bại về trình độ tiếng Anh nơi các học sinh đã được học với các sách giáo khoa này.

4) Hình thành một học thuyết mới và đặc thù về dạy và học tiếng Anh cho học sinh  Việt ở Việt Nam, theo đó (a) khẳng định tầm quan trọng hơn hẳn của đọc và viết so với nói và nghe vì chính trình độ tốt của đọc và viết giúp nâng cao trình độ nói và nghe, (b) quy định việc học tiếng Anh hoặc ngoại ngữ tự chọn bắt đầu từ lớp 6 và học thêm ngoại ngữ khác cũng tự chọn từ lớp 10, (c) chỉ áp dụng hình thức trắc nghiệm cho các bài kiểm tra nhưng không bao giờ áp dụng trắc nghiệm cho kỳ thi tú tài và đại học – bất kể đó là đại học ngành Anh Văn hay bất kỳ ngành nào khác, và (d) loại bỏ khỏi chương trình trung học các môn vô ích vô dụng vô duyên như đã nêu ở các phần trên để học sinh có thể học nhiều hơn, thi đầy đủ các môn đã học để đưa các môn học như Lịch Sử hay Công Dân, v.v. trở lại phẩm giá cao vốn có của các môn học ấy, và chủ động học thêm nhiều hơn do có thời gian nhiều hơn để từ đó khắc phục các yếu kém – nếu có – và đầu tư đúng trọng tâm cho những lĩnh vực quan tâm thực sự hơn thay vì để các quan tâm ấy thui chột do không có thời gian để đầu tư kịp lúc kịp thời.

5) Trước khi đi đến một quyết định mang tính chủ trương, chính sách, kế sách, hoạch định, quy định, có liên quan đến giáo dục & đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bí Thư Thành Ủy nên đích thân đến tư gia của tác giả bài viết này để được tham vấn chi tiết, ngõ hầu bảo đảm khi quyết định đã ban thì không bao giờ vấp phải ý kiến phản bác bất kỳ từ các đại biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như bảo đảm sự đồng tình đồng thuận của những người trong cuộc bao gồm giáo viên và phụ huynh học sinh, từ đó nâng cao vị thế tuyệt đối đúng đắn của tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

Đại Học

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Thế Nào Là “Từ Chương”

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Tấm Lòng Cựu Nhà Giáo

Hướng Đạo

Đồng Phục Học Sinh

Tuyệt Thực

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(Dual Language: English & Vietnamese – Song ngữ Anh – Việt )

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-9-2016

Lúc trang mạng doanh nhân Việt Nam Emotino.com còn hoạt động, tôi có tham gia Anphabe.com của chủ nhân là Cô Thanh Nguyễn (xin lỗi tôi đã không nhớ tên đầy đủ của Cô trong khi hiện nay trang mạng của Cô cũng chỉ ghi “Thanh Nguyen”) sau khi nhận được lời mời của Cô vốn cũng là một gương mặt sáng giá trên Emotino.com.

Có lần tôi thấy có lời bình phẩm của một tên ngoại kiều làm việc tại Việt Nam (tôi biết thế qua nội dung ý kiến của hắn) trên LinkedIn.com và ngay cả trong “comments” của Anphabe.com để nhạo báng hoạt động của Anphabe trong “tổ chức mời diễn giả” trong nước hoặc ngoài nước, tôi đã viết nội dung sau cho Cô Thanh Nguyễn tại Anphabe và đồng thời trên Emotino. Tôi không viết comments mắng y ngay dưới comment của y, đơn giản vì sáu lý do gồm (a) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại đối đáp trực tiếp với tên mạt hạng bẩn dơ như y sao, (b) tôi là người Việt Nam thuộc chủng tộc hơn cả “thượng đẳng” há lại để lời comment của tôi bên dưới comment “hạ đẳng” của y sao, (c) tôi phải viết trên Emotino để nhiều người Việt Nam biết đến nội dung hơn, (d) tôi phải viết trên Emotino để người học tiếng Anh ở Việt Nam có dịp đọc bài viết tiếng Anh của tôi vốn hoàn toàn vắng bóng từ khi Yahoo! đột xuất ngu xuẩn đóng cửa 3600 , (e) tôi phải viết trên Emotino vì muốn các doanh nhân Việt Nam biết tôi vẫn hữu thủy hữu chung tức trước sau như một đối với bảo vệ danh dự quốc gia, và (f) đặc biệt tôi viết trên cả Anphabe cùng Emotino để Cô Thanh Nguyễn biết Cô – cũng như qua đó đến các doanh nhân doanh nghiệp khác sinh hoạt trên Emotino – biết sẽ được tôi bảo vệ về biện luận đối với các xúc xiểm của ngoại nhân.

Kính mời các bạn tham khảo nội dung nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt tiếp theo sau.

Kính cảm ơn đã quan tâm đọc và kính chào trân trọng.

Phần Nguyên Bản Tiếng Anh

Don’t Ever Talk Nonsense Against Vietnam, You Expatriate Businessmen!

(originally posted on Emotino.com at http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen)

Hoang Huu Phuoc, MIB

14-4-2011

aaa-1aaa-2

Dear Ms Thanh Nguyen:

I have read a message from Mr David E giving a strong comment on your list of 100 speakers. Obviously his wordings are not strange to Vietnamese people and other people of nations suffering the racial discrimination from those coming from Western countries boasting about their super power even in the thinking modes, ignoring the fact that all strong representatives of capitalism have become shameful culprits of all world’s economic crises including the most recent economic downturns as well as the huge bailouts at economic giants.

Since his saying that Vietnam is so tied to old-school techniques is so ambiguous, I wonder if he can clarify the field or fields in or of Vietnam he wishes to refer to, as in this very world of complicacy the notion should be as much specific as possible. Even once the field or fields can be specified by his good self, nobody on earth – let alone the Vietnamese sages – is so much foolish to reveal the “new ideas” to him or to anybody else just to satisfy the thirst for knowledge just for free. Furthermore, things depend on various factors, among which those of suitable time, suitable situations and suitable personnel and/or personages are naturally decisively included and never ignored. To make Vietnam better, all of these factors need be incorporated into one “something”. The old Vietnam hands are said by him to know something about the old Vietnam, this would literally and figuratively mean he and the old and young foreign hands will never know anything about that old Vietnam. The Bible is much old, but wise people never say something new should be posed by priests and clergymen to make the Bible better.

Vietnam needs new ideas, of course. However, he seems illogically intentionally ignoring one crucial fact that ideas are just ideas. To overphilosophize or exagerate the “importance” of ideas will obviously expose the messy mode of thinking of irrational people. Additionally, it never means everything is in need of new-fangled ideas at the same time. Therefore, Vietnam is having tremendously new ideas for many fields, and leaves some others intact for the new generations to come to explore and exploit. Please also note that “new” never automatically means “good”, and never indicates that everybody must follow the “new” everywhere. To make it easier to understand, let me prove this: communism comes into existence after capitalism, i.e. communism is “new”. Has he ever tried to do his best to convince the USA and all Western countries to establish communist society to replace capitalist ones? Vietnam applies the so-called socialist-oriented market economy to successfully help itself sustainable throughout the worldwide economic downturn of the 2007-2009 crises damaging the proud image of the USA and others; hence, would he and people like him be assumed to laboriously try to convince the Western governments and the US administration to have the same modus operandi applied?

Every wise man on earth now is talking about customization. Only he says the market in Vietnam should not replicate Western ideas in a Vietnamese context. If he participates in an MBI academic program, he will have to study a lot about China, its market, its ways of doing business, and what Westerners should do to satisfy the Chinese if he goes partnering with them. When he comes to Vietnam to do business, his only option for a survival is to do as per Vietnamese terms, and vice versa, when the Vietnamese people go global, they have to follow the common practice, rules and regulations internationally imposed.

He may think he has the right to call those Vietnamese experts a “bunch of old Vietnamese managing directors and Navigos people” who make him “bored”. It is a pity for him. Speakers will deliver suitable notes to suitable audience. If he participates in a paid seminar then gets bored, it may simply mean either he selects a wrong topic or subject or his boss thinks he needs further training on a topic/subject he is considered inadequately qualified. It is a pity also because he has not had any opportunity to participate in any seminar lectured by me. Those names mentioned by him e.g. Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, and Hillary Clinton are to me of good-for-nothing wretched. Who is Bill Gates then? He means the illiterate person failing to complete college years then playing a dirty monopoly game to annihilate all Western IT talents? Who is Hillary Clinton? He means the old woman proudly having a photo taken with the tall proud son of Muammar Gaddafi at the White House, then two years later bombing Tripoli? He can buy books by or of (i.e. autobiography or biography) them to know their life and their ideas – if they can have “new ideas” for their own countries. Personally, the names as mentioned by him are not worth a tinker’s dam. I want to remind him of this information: General Vo Nguyen Giap of Communist Army of Vietnam was just a high school teacher of history, but he humiliated all the noble generals of France and proud generals from Army Academies like West Point of the USA simply by winning all the wars to wipe out the French from Indochina for good then to chase the US troops out to the open sea, burying them all under the thick slimy mud of dishonor.

In short, the advice is that he should respect the Vietnamese people (and any other local people of places on earth whereat he is an expatriate) because they have a bigger advantage over him a foreigner: they know well (a) their country and people and culture and all odds, and (b) his own; whereas he knows only whatever his. This is the reason why the proverb of “When in Rome, do as the Romans do” comes as a suitable guidance for amateur businessmen. He may have a better chance for survival in Vietnam if he spends time to make himself more competitive by learning the Vietnamese ways instead of nonsensically grumbling about the imaginary “old” and the meaningless “new”.

Very truly yours,

Hoang Huu Phuoc, MIB

Bản Dịch Tiếng Việt

Hỡi Các Thương Nhân Nước Ngoài: Đừng Bao Giờ Xúc Xiểm Việt Nam!

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2011

Tuần trước tôi có đọc “công thư” (thư “công cộng” viết cho bá tánh chứ không phải thư dạng “công hàm” ngoại giao) của Mr David E trên LinkedIn gởi Cô Thanh Nguyên, CEO của Anphabe, và thấy thật khó lòng cưỡng lại sự “cám dỗ” phải chống lại y đối với nội dung bá láp y đã viết.

aaa

Tuy nhiên, để thể hiện mình đã có sự giáo dục quý phái trọng sang đối với kẻ được cho là một thương nhân Âu Mỹ có “nền tảng” văn hóa đáng ngờ, tôi cho rằng thay vào đó tốt hơn hết nên gởi cho Cô Thanh Nguyên một bức thư mà nội dung xin được lập lại như dưới đây:

Cô Thanh Nguyễn kính:

Tôi có đọc đoạn viết nặng nề của Mr David E đối với danh mục 100 diễn giả của  Cô. Rõ ràng là lời lẽ của y chẳng xa lạ gì đối với người dân Việt Nam cũng như người dân các nước phải hứng chịu cảnh bị phân biệt chủng tộc từ những nước Âu Mỹ luôn khoe khoang về sức mạnh siêu việt của chúng ngay cả trong hành trạng tư duy, nhưng lại luôn lờ đi một sự thật rằng tất cả những đại diện manh mẽ nhất của chủ nghĩa tư bản đã luôn trở thành những tên tội phạm đầy nhục nhã gây ra tất cả các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kể cả những suy thoái kinh tế gần đây cùng với sự cứu nguy khổng lồ (mà chính phủ của chúng phải ra tay cứu) các tên khổng lồ kinh tế.

Do ý của hắn khi bảo “Việc kinh doanh ở Việt Nam quá bám víu vào những cung cách trường phái cũ mèm” quá mơ hồ, tôi không rõ hắn có thể vạch ra lĩnh vực hoặc những lĩnh vực nào ở Việt Nam mà y muốn nói đến hay không, vì rằng trong thế giới phức tạp ngày nay thì mọi ý kiến đều cần phải cụ thể cao nhất có thể được. Ngay cả khi một hay nhiều hơn một lĩnh vực có thể được y nêu ra đích danh thì không ai trên thế giới này – nói chi đến các nhà thông thái Việt Nam – lại ngu đần đến độ tiết lộ miễn phí các “tư tưởng mới” cho y hay bất kỳ ai chỉ để thỏa mản sự khát khao kiến thức. Thêm vào đó, cái gì cũng còn tùy vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó sự vào đúng thời điểm, lúc đúng tình thế hoàn cảnh, và có đúng nguồn nhân lực thực hiện và nhân lực cốt cán (tức “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”)  phải luôn được bao gồm với vai trò quyết định tự nhiên mà không bao giờ được lờ đi. Để làm Việt Nam tốt đẹp hơn, tất cả những nhân tố này cần phải được lồng ghép vào một điều cụ thể. Khi y cho rằng “mấy tay người Việt cũ xì vốn là những kẻ có thể biết gì đấy về Việt Nam cũ xì”, thì về cả nghĩa đen và nghĩa bóng bản thân y cùng những tay ngoại nhân trẻ và già sẽ chẳng đời nào biết gì về Việt Nam cũ xì cả. Kinh Thánh rất rất rất cũ, nhưng những người khôn ngoan không bao giờ bảo cái gì đó mới hơn nên được đề ra bởi các linh mục và mục sư để làm Kinh Thánh tốt hơn.

Tất nhiên là Việt Nam cần có các ý tưởng mới. Song cái anh chàng trên dường như đã lờ đi một cách cố tình và xằng bậy một sự thật cực kỳ quan trọng rằng ý tưởng vẫn chỉ là ý tưởng. Triết lý hóa quá mức hoặc phóng đại “tầm quan trọng” của ý tưởng chỉ sẽ làm bộc lộ rõ hơn cái phong cách tư duy hỗn độn của những kẻ vô trí. Ngoài ra, không bao giờ có việc tất tần tật mọi thứ đều cùng lúc cần phải có các ý tưởng mới xì (phản nghĩa của…“cũ xì”). Do đó, Việt Nam đang có biết bao ý tưởng mới cho nhiều lĩnh vực, nhưng gác lại một bên để các thế hệ sau này tìm tòi và khai thác. Cũng cần lưu ý rằng “mới” không bao giờ tự động có nghĩa là “tốt”, cũng như không bao giờ hàm ý rằng mọi người đều phải theo cái “mới” ở mọi nơi. Để dễ hiểu hơn, tôi sẽ chứng minh như sau: chủ nghĩa cộng sản xuất hiện sau chủ nghĩa tư bản, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản thuộc loại “mới”. Thế thì cái anh chàng trên có đã từng dốc hết sức để thuyết phục các quốc gia Âu Mỹ hãy dựng xây xã hội cộng sản chủ nghĩa thay thế cho xã hội tư bản chủ nghĩa? Việt Nam áp dụng cái gọi là nền kinh tế thị trường theo định hường xã hội chủ nghĩa vốn đã giúp Việt Nam tồn tại thành công suốt cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu trong những cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009 vốn làm tổn hại thanh danh của Hoa Kỳ và các nước khác; vậy thì, liệu hắn ta và những tên tương cận có nên được cho rằng đang miệt mài ra sức thuyết phục các chính phủ Âu Mỹ áp dụng cùng mô hình hoạt động kinh tế ấy?

Mọi người khôn ngoan trên thế giới đang nói về sự tùy biến cho tương thích với  hoàn cảnh thực tế. Chỉ có hắn là nói “Thị trường ở đây không phải là để sao chép các ý tưởng Phương Tây vào bối cảnh Việt Nam”. Nếu hắn có học một chương trình hàn lâm Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế, y sẽ biết rằng y sẽ phải học rất nhiều về Trung Quốc, về thị trường Trung Quốc, về cách “làm ăn” ở Trung Quốc, và về những gì mà thương nhân Âu Mỹ nên thực hiện để làm hài lòng người Trung Quốc nếu muốn làm đối tác với Trung Quốc. Khi hắn đến Việt Nam “làm ăn”, cái tùy chọn duy nhất mà y phải chọn để tồn tại là phải làm theo các thông lệ của Việt Nam; và ngược lại, khi người Việt Nam tiến ra thế giới họ phải theo các thông tục, các luật lệ và quy định được áp đặt toàn cầu.

Có thể hắn cho rằng hắn có quyền gọi các chuyên gia Việt Nam là “một dúm những giám đốc điều hành người Việt cũ xì” làm y “phát ngấy”. Y thật đáng thương hại. Các diễn giả luôn phát biểu những nội dung phù hợp với khán-thính giả phù hợp. Nếu hắn tham dự một hội thảo có đóng tiền để rồi “phát ngấy” thì đơn giản có nghĩa là hoặc y đã chọn sai chủ đề để tham dự, hoặc ông chủ của hắn cho rằng hắn vẫn chưa đạt yêu cầu cơ bản nên bỏ tiền ra cho hắn đi đào tạo thêm về điều cơ bản chăng. Y cũng đáng thương hại ở chỗ hắn đã chưa từng có bất cứ cơ hội nào dự bất kỳ buổi thuyết trình nào của tôi. Những cái tên mà y gợi ra như Bill Gates, Steve Jobs, Paul McCartney, Tina Brown, và Hillary Clinton tôi đều sem như đám vất đi. Bill Gates là ai nhỉ? Chắc y muốn nói đến người đã không học xong đại học rồi giỡ chiêu trò nhơ bẩn độc chiếm thiên hạ bằng cách triệt đường sống của các bậc kỳ tài công nghệ thông tin ở Châu Âu? Và còn Hillary Clinton là ai vậy cà? Y muốn nói đến cái mụ già đã tự hào chụp hình chung với “hoàng tử” cao to đẹp trai đầy tự hào của Muammar Gaddafi tại Tòa Bạch Ốc (tức…”Nhà Trắng”), để rồi hai năm sau tự hào dội bom thủ đô Tripoli giết Muammar Gaddafi? Y có thể mua những quyển viết bởi họ hoặc viết về họ (tức là hồi ký tức do chính đương sự viết về chính mình hoặc tiểu sử tức do các nhà nghiên cứu khác viết về một nhân vật nổi tiếng) để biết về cuộc đời và ý tưởng của họ – nếu những kẻ ấy có “ý tưởng” mới nào dành cho xứ sở của họ. Tôi cho rằng những cái tên do y kể ra chẳng đáng một xu teeng. Tôi muốn y nhớ đến thông tin này: Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Quân Đội Cộng Sản Việt Nam chỉ là một giáo viên Việt Sử nhưng đã làm nhục tất cả các tướng lĩnh quý tộc của Pháp và các tướng lĩnh vinh diệu xuất thân từ các học viện quân sự như West Point của Hoa Kỳ bằng cách cực kỳ đơn giản: chiến thắng tất cả các cuộc chiến tranh quét hất Pháp vĩnh viễn khỏi Đông Dương rồi sau đó dí đuổi quân đội Mỹ bỏ chạy ra biển khơi, vùi chôn tất cả dưới bùn sâu quánh đặc của sự nhục nhã.

Tóm lại, lời khuyên ở đây là hắn ta nên kính trọng người dân Việt Nam (cùng tất cả các cư dân địa phương của các xứ miền trên thế giới mà y đến để làm ngoài kiều) vì rằng những cư dân địa phương của các nước này có một thuận lợi lớn hơn  rất nhiều so với ngoại kiều như y vì họ biết rất rõ (a) xứ sở của họ, người dân của họ, văn hóa của họ, cùng mấy thứ linh tinh của họ; và (b) mọi thứ về y, người dân của y, văn hóa của y, cùng mấy thứ linh tinh của y; vậy mà y chỉ biết mỗi có những gì của y mà thôi. Đây cũng là lý do có thành ngữ “nhập gia tùy tục” như một kim chỉ nam phù hợp cho các thương nhân tay mơ. Y sẽ có cơ may tốt hơn để tồn tại ở Việt Nam nếu bỏ thời gian làm sao cho y tăng thêm tính cạnh tranh bằng cách học hỏi các kiểu cách Việt thay vì càu nhàu xằng bậy về cái “cũ mèm” hoang đường và cái “mới” vô nghĩa.

Trân trọng kính chào Cô,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoa Hậu Nói Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-9-2016

hhp-8-2016

Ảnh: Hoàng Hữu Phước, 08-2016

Giữa lúc cuộc diện thế giới và nước nhà có lắm điều cần bàn đến thế mà lại nói về cách mà cái cô hoa hậu người Việt gì đó họ Vũ – dưới đây gọi tắt là Vũ Hậu – đọc tiếng Anh thì rõ là vớ vẩn, không phù hợp chút nào. Song, biết làm thế nào được khi có đến những 3 vấn nạn trầm kha của (a) những người khóc mướn, (b) những người chả biết ất giáp gì về tiếng Anh nhưng sính nói nhặng lên về tiếng Anh dù cho có mặt đầy ngạo nghễ trong hàng ngũ các nhà hoạch định chính sách giáo dục đào tạo tiếng Anh hoặc trong hàng ngũ tay mơ, và (c) những người mặt dày mày dạn bô bô cái mồm tửng tửng làm nhục quốc thể, khiến dù Vương Tử Trực đã phán “Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi” thì tôi cũng vì đại nghĩa trừ dịch bịnh mà ra sức lấy chổi chà ra đập ruồi đuổi nhặng vậy.

Những kẻ khóc mướn đã hoàn toàn sai khi nói rằng (a) có nhiều người Việt nói tiếng Anh như Vũ Hậu ấy và rằng (b) chính MC chương trình người Philippines cũng bảo vì cô giám khảo Vũ Hậu vốn dĩ là dân nước Việt Nam mà nước ấy không nói tiếng Anh nên Vũ Hậu đương nhiên không đọc được tiếng Anh.

Xin thưa rằng cái việc bình thường của một người may mắn không có khiếm khuyết bẩm sinh đối với một ngôn ngữ bao gồm 8 nội dung: nghe, nghe-hiểu, nói, nói-hiểu, đọc, đọc-hiểu, viết, và viết-hiểu. “Nghe” khác với “nghe-hiểu” vì “nghe” như vịt nghe sấm rất khác với nghe mà hiểu được nội dung vừa nghe. Tương tự, một người thí dụ người Việt có thể cầm một tài liệu vật lý vũ trụ bằng tiếng Việt để đọc ra thành tiếng nhưng không hiểu gì cả.

Và cũng xin thưa rằng cái mà người Việt Nam hay lầm to cả trăm năm nay là khi cho rằng việc học tiếng Anh gồm 4 nội dung – xếp theo quy trình theo thứ tự trước-sau của một đứa bé hay người bắt đầu “học” – nghe, nói, đọcviết. Thực ra, đã học thì phải hiểu. Và do đó, dù tiếng Anh ghi cái quy trình ấy là listening, speaking, readingwriting, thì tiếng Việt tương đương lẽ ra phải là nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu. Điều khẳng định ở đây là một người chỉ khi học tiếng Anh đến trình độ làm chủ tiếng Anh (mastering English) thì mới nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu tiếng Anh. Còn nếu có “học” mà không “làm chủ” được thì người đó chỉ có thể nghe, nói, đọc, và viết tiếng Anh – có thể nói lưu loát (nhờ “học” thuộc lòng các mẫu câu), phát âm tốt (theo rèn luyện tại lớp), nghe tốt (nhờ đã nghe trước bản ghi âm), đọc tốt (theo rèn luyện phát âm và đọc câu hay đoạn văn tại lớp) và viết được (nhờ học thuộc lòng câu mẫu hay đoạn văn mẫu), nghĩa là cái gì cũng được trừ sự hiểu biết toàn phần hoặc một phần.

Trong khi việc nói tiếng mẹ đẻ bất kỳ của một đứa bé bất kỳ của một đất nước bất kỳ đúng là theo trình tự của nghe – nói – đọc – viết, nghĩa là sau một thời gian ngắn nghe những âm thanh lời nói của cha mẹ và/hay người thân, đứa bé sẽ phát âm lập lại những âm thanh đã nghe, và lớp học tiểu học giúp tạo nên hai khả năng còn lại là đọc và viết; thì việc học một ngoại ngữ – ở đây xin nói cụ thể về tiếng Anh – lại hoàn toàn khác: hoàn toàn không theo quy trình trước-sau như cách đứa hài nhi đối với tiếng mẹ đẻ của bé, mà là một gói học đồng thời cùng lúc của nghe-hiểu, nói-hiểu, đọc-hiểu, và viết-hiểu. Đây là một sự thật dễ y như “quả trứng của Christopher Columbus” nhưng sự thật là chưa hề có bất kỳ người Việt Nam nào trong hàng trăm năm nay nói đến.

Ngoài ra, việc có quá nhiều sự lập đi lập lại tại Việt Nam rằng người ta nên học tiếng Anh từ khi còn là trẻ nhỏ thì (a) tôi đã chứng minh là xằng bậy trong tất cả các bài viết về “học tiếng Anh” dù trên báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, và Sài Gòn Tiếp Thị cách nay 20 năm hay trên các blog hơn chục năm qua; (b) chưa hề có bất kỳ nghiên cứu nào cho ra số liệu về những trẻ nhỏ Việt Nam cụ thể nào học tiếng Anh thì sau 20 năm đã trở thành nhà hùng biện tiếng Anh; và (c) có sự tồn tại cách học tập “bất thường” dành cho những người lớn “phi thường” tại tất cả các cơ quan tình báo lừng danh thế giới để nắm bắt một ngoại ngữ tuyệt hảo trong một thời gian tuyệt ngắn.

Từ tất cả những lập luận trên, có thể tin rằng nếu Vũ Hậu có thực sự học cấp trung học thì chắc chắn 100% ả ta có thể đọc được tiếng Anh một đoạn văn từ một bản in giấy cầm trên tay, ngay cả khi ả chẳng hiểu nội dung đoạn văn viết in sẵn đó, trong khi chưa chắc ả nghe được tiếng Anh, chưa chắc ả nói được tiếng Anh, và tất nhiên chưa chắc ả viết được tiếng Anh. Bởi cái sự dạy và học tiếng Anh ở tuyệt đại đa số các trường trung học ở Việt Nam như bấy lâu nay sẽ cho ra lò những học sinh đa số có khả năng đọc được các bài văn một cách dễ dàng, vấn đề là đọc với phát âm và ngữ điệu có tốt nhiều, tốt, hay hơi tốt mà thôi.

Ở đây, cái quái gở là Vũ Hậu đã không như một người đã từng học tiếng Anh ở trung học, nghĩa là đương nhiên phải đọc được một câu tiếng Anh in sẵn, bất kể có hiểu câu đó nghĩa gì hay không. Vũ Hậu đã thốt nên những âm thanh gì đó chẳng dính dáng đến tiếng Anh hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác trừ trong kịch bản hài. Vũ Hậu đỗ thừa cho chất lượng micro, rồi sau đó lại tuyên bố rằng khả năng nói tiếng Anh của ả không tệ nhưng thiên hạ không nghe được chẳng qua là do ả phát âm với chất giọng đặc trưng của người Việt Nam. Đây không những là một sự xúc phạm nặng nề người Việt mà còn là tư cách thấp lè tè của Vũ Hậu, vì rằng chính người Việt mới là người có ưu thế trời sinh để phát âm hay nhất bất kỳ ngoại ngữ nào, thậm chí phát âm tiếng Anh hay nhất Á Châu kể cả hơn hẳn người Ấn vốn có tiếng Anh là một trong những quốc ngữ của họ và họ viết tiếng Anh tuyệt hảo hơn cả người Anh.

Tôi chỉ có thể khẳng định Vũ Hậu đã hoặc chưa  từng học trung học hoặc chưa từng học bất kỳ một giờ nảo của bộ môn tiếng Anh trong suốt 7 năm trung học của ả. Hãy hỏi các giáo viên Anh Văn của tất cả các trường trung học ở Việt Nam để biết một sự thật rằng trong khi nghe-nói-viết có thể vẫn là một vấn nạn thì đọc luôn là điều mặc định sẽ đạt được ở tất cả các học sinh có bước chân vào lớp học tiếng Anh mà lớp ấy có người hưởng lương “giáo viên tiếng Anh” đang đứng lớp giảng dạy. Chưa kể, “đọc” ở đây là “reading” tức mới chỉ nói về cái khả năng máy móc của cái mồm bật lên âm thanh khi đôi mắt nhìn thấy các chữ, chứ không là “reading compehension” tức “đọchiểu” vốn thuộc đẳng cấp cao hơn, quan trọng hơn, chủ lực hơn, chủ động hơn, trí tuệ hơn, trong việc học tiếng Anh.

Cuối cùng, cái anh MC người Philippines sở dĩ nói thế là để cứu nguy cho ban tổ chức đã ngu muội mời Vũ Hậu, chứ không phải để khẩn thiết cầu mong khán giả thông cảm cho Vũ Hậu. Song, anh MC của thế giới giải trí do ít học đã không đủ trí tuệ để nhận ra rằng anh ta đang chửi cha dân Việt khi bảo ở Việt Nam tiếng Anh đâu là quốc ngữ nên người Việt không nói được tiếng Anh. Từ giọng điệu của tên MC mất dạy người Philippines đó mà suy ra thì người Việt cũng không nói được tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Bồ, tiếng Phạn, tiếng La Tinh, tiếng Tàu, v.v., vì mấy thứ tiếng này không phải quốc ngữ của Việt Nam. Cũng từ đó suy ra người Việt không thể biết 2+2=4 vì chẳng có định đề toán học nào được đẻ ra ở Việt Nam; hoặc mấy ông cộng sản Việt Nam không thể giỏi lý luận chính trị Mác-Lê Nin vì nước Việt đâu có đẻ ra chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít; hoặc đừng thèm nghe mấy giáo sư Triết Tây ở Việt Nam nói chuyện về Sigmund Freud vì Việt Nam không là xứ sở đẻ ra ngành phân tâm học hay tâm bệnh lý học; hoặc quân Việt không biết bắn súng, lái tiêm kích siêu thanh, hay lái tàu ngầm vì mấy món vũ khí này do nước khác chế tạo ra; vân vân và vân vân.

Tôi khẳng định:

– Ai bảo có nhiều người Việt đọc tiếng Anh giống Vũ Hậu thì chính kẻ đó chưa từng học tiếng Anh hay tiếng Pháp, kể cả tiếng Việt.

– Vũ Hậu đã chưa từng học tiếng Anh nên việc dễ dàng nhất là đọc “read” một câu hỏi tiếng Anh in sẵn sao cho người ta nghe ra ngô ra khoai cũng bất khả thi.

– Người Việt Nam (nếu đã học tiếng Anh đạt yêu cầu bình thường tại Việt Nam) phát âm tiếng Anh hay nhất toàn Châu Á chứ không chỉ ở Đông Nam Á, thậm chí dứt xa dân các nước Đông Âu ngay cả khi các dân Á Châu hay Đông Âu này đã học tiếng Anh đạt yêu cầu tại nước họ hay ngay tại nước Mỹ.

Xin hãy hỏi các giáo viên tiếng Anh bậc trung học ở Việt Nam về sự thật trên để đừng khóc mướn khóc thuê cho kẻ tội đồ mặt dày làm nhục quốc thể và sĩ nhục quốc thể.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết có liên quan:

WordPress.com:

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Tips for Learners of English (có đăng trên Aspiration Blog của uk.360, và trên LinkedIn.com)

Emotino.com (Đã đóng cửa. Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Phường Có Đúng Là Ward?

Kinh Nghiệm Về Việc Học Ngoại Ngữ

Chia Sẻ Kinh Nghiệm Về “Học Giỏi” Tiếng Anh.

Kịch Của Hoàng Hữu Phước: Thorns of Life.

Báo Người Lao Động (Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Anh Văn Bằng A, B, C Hay Cử Nhân?

Báo Tuổi Trẻ (Sẽ được đăng lại trên WordPress.com):

Có Nên Cho Trẻ Em Học Tiếng Anh?

Hoàng Hữu Phước Mắng Mụ Già Mồm Marie Cordiez Của Cộng Đồng Pháp Kiều Ở Việt Nam – Marie Cordiez The God-Damned Flibbertigibbet

Hoàng Hữu Phước, MIB

15-9-2016

french1

A) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bài này của mụ Marie Cordiez xuất hiện ngày 12-9-2016 trên http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam và được gởi đến tôi bởi một nhà báo Pháp do bực tức trước luận điểm càn quấy của Marie Cordiez)

french2

EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam

Il y déjà presque un an, nous vous vantions 10 bonnes raisons de s’expatrier au Vietnam. Nous manquerions à notre devoir d’objectivité si nous ne faisions pas également état des quelques désagréments qui ne manqueront pas aux expats sur le départ. Ils sont en effet nombreux, aux mois de juillet et août, à rentrer au pays ou être appelés sous d’autres latitudes.

  1. La pollution

D’après un rapport d’experts dont nous vous parlions ici, nous respirons l’un des plus mauvais airs de la planète. Ici, le masque n’est pas un luxe ou un effet de mode, c’est une nécessité. La pollution est palpable à la crasse qui s’accumule sous nos ongles et qui s’écoule dans la douche en fin de journée.

  1. L’humidité

Qui dit pays tropical, dit humidité ambiante permanente. Nos accessoires en cuir n’apprécient pas vraiment. En moins de deux, ils se couvrent d’une fine couche de moisissure verte. Le linge a du mal à sécher, surtout en saison des pluies. Et à la sortie de la douche, le répit est de courte durée avant que nos vêtements ne soient à nouveau trempés.

  1. Les conditions sanitaires

La qualité de l’eau courante est tellement déplorable que certains médecins déconseillent même de l’utiliser pour se laver les dents ou laver ses légumes. Pas étonnant qu’on retrouve des choses pas très nettes dans les glaçons! Il faut dire qu’il y a encore du boulot de sensibilisation à faire pour inciter les Vietnamiens à ne pas considérer la rue et la rivière comme des dépotoirs à ciel ouvert.

  1. Les soucis de santé

Les points précédents ont un impact direct sur la santé : nombreuses infections aggravées, problèmes de toux et d’asthme, cicatrisation difficile… Auxquels il faut ajouter des maladies endémiques dues notamment aux moustiques, comme la dengue, dont on ne peut se prémunir. Mieux vaut prévoir une bonne assurance pour pouvoir faire face aux frais médicaux que cela engendre.

  1. Le bruit

Quand il ne s’agit pas des travaux incessants (oui, ici les ouvriers travaillent jour et nuit), du trafic (la symphonie des coups de klaxons intempestifs), du karaoké d’à côté (les Vietnamiens semblent être sourds de naissance tant ils aiment pousser le volume à fond), c’est l’air conditionné ou le ventilateur qui vous empêchera de dormir.

  1. Le manque des “produits de chez nous”

Qui n’a pas rêvé d’une bonne fondue savoyarde ou d’une raclette, de chocolats dignes de ce nom, voire d’un foie gras coupable ? D’une cuite au champagne, de bonnes bières belges (on ne se refait pas…), de tomates goûtues et surtout d’une vraie baguette ? Certains de ces produits peuvent se trouver ici à prix d’or, mais rien ne vaut le plaisir de faire les courses une fois de retour au bercail !

  1. Les frais de scolarité

Pour ceux qui, comme moi, viennent d’un pays où l’éducation est gratuite, les frais de scolarités sont un vrai coup de massue. Quand on arrive, on rêve parfois d’inscrire ses enfants en anglais, mais ceux dont l’employeur ne prend pas ces frais en charge se ravisent généralement bien vite (jusqu’à 30.000 $ par an pour un enfant… mieux vaut ne pas être une famille nombreuse !) et restent en français.

  1. Les machines à laver à eau froide

Ça. Ne. Lave. Absolument. Rien. Le linge blanc sera vite jaunâtre, oubliez l’idée de faire partir les auréoles et encore moins les taches difficiles. Vous pouvez utiliser tous les trucs de grand-mères et les produits que vous voulez, votre linge sortira de plus en plus sale de cette fichue machine. Evidemment, la qualité de l’eau n’y est pas pour rien. Un conseil : faites bouillir régulièrement votre linge de maison au pressing si vous voulez éviter les odeurs.

Au final, vous le voyez, il reste quand-même plus de raisons d’y venir que de le quitter!

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12 Septembre 2016

B) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Pháp Của Marie Cordiez

(Bản ý nghĩa tiếng Việt này có thể chưa được hoàn chỉnh do Pháp Văn cùng Nga Văn là các sinh ngữ phụ của người dịch. Xin vui lòng xem như chỉ có các ý chính được tập trung nêu rõ. Xin đa tạ. Hoàng Hữu Phước)

Ra Đi Biền Biệt – 8 Lý Do Để Bỏ Việt Nam Không Chút Hối Tiếc

Đã gần một năm kể từ khi chúng tôi đăng bài 10 Lý Do Để Đến Việt Nam. Chúng tôi sẽ không đạt yêu cầu khách quan nếu không nêu ra vài thứ phức phiền khiến người nước ngoài ở Việt Nam phải ra đi. Thật ra trong hai tháng 7 và 8 đã có nhiều người như vậy: bỏ về nhà hoặc đến các nước khác.

  1. Sự Ô Nhiễm

Theo một báo cáo của chuyên gia thì chúng ta hít thở không khí của một trong những nơi tồi tệ nhất thế giới. Tại xứ sở này thì khẩu trang không là thứ xa xỉ hay  kiểu thời trang dị hợm, mà là sự cần thiết. Sự ô nhiểm đến độ sờ thấy bụi bẩn mồn một bám đầy dưới các móng tay rồi từ đó trôi tuột theo dòng nước khi tắm rửa cuối ngày.

  1. Ẩm Độ

Ai bảo những xứ nhiệt đới tức nói về sự ẩm ướt triền miên. Đồ dùng bằng da của chúng ta thật không chịu nổi và bị phủ lớp mốc meo xanh rì. Vừa tắm xong là sự ngơi nghỉ biến mất vì áo quần lại ướt đẫm mồ hôi.

  1. Điều Kiện Sức Khỏe

Chất lượng nước máy thì cực kỳ tồi tệ đến độ có bác sĩ khuyên đừng dùng nó để đánh răng hay rửa rau. Chả trách có mấy vật mờ mờ trong mấy cục nước đá. Cần phải nói rằng vẫn có công tác khuyến nghị người Việt Nam đừng xem đường sá và sông ngòi là nơi tự do đổ rác.

  1. Các Quan Ngại Y Tế

Những điều trên cho thấy có tác động trực tiếp đến sức khỏe: nhiều vụ lây nhiễm tồi tệ, ho và hen suyển, chưa kể những dịch bệnh đặc biệt do muỗi gây ra như sốt xuất huyết mà ta không thể tự bảo vệ được. Phải có bảo hiểm tốt mới đương đầu được đối với chi phí y tế từ các hậu quả đó.

  1. Tiếng Ồn

Nếu không vì vấn đề làm việc ngày đêm (ở nước này là vậy đấy) thì tiếng còi xe , tiếng hát karaoke của hàng xóm (người Việt Nam dường như sinh ra đã bị điếc rồi do họ thích mở hết volume), tiếng máy lạnh và tiếng quạt máy đủ làm bạn khỏi ngủ.

  1. Thiếu Hàng Của Chúng Ta

Ai mà lại không mơ đến các món phó mát Savoie, sô-cô-la danh tiếng, và món gan ngỗng cơ chứ! Làm gì mà sánh được với thú vui mua sắm khi trở lại quê mình!

  1. Học Phí

Đối với những người như tôi chẳng hạn, đến từ xứ sở mà việc học hành được miễn phí thì học phí tại Việt Nam như một cú búa giáng xuống vậy. Khi bạn đến đây, bạn mơ đến việc cho con cái đi học tại trường tiếng Anh, song những người không được công ty đài thọ việc này thì phí tổn hàng năm lên đến 30.000 USD cho mỗi đứa trẻ. Tốt hơn là gia đình ít người thôi, và cứ xài tiếng Pháp.

  1. Máy Giặt Nước Lạnh

Màu trắng sẽ nhanh chóng biến thành ố vàng, nói chi đến các vết bẩn. Bạn có thể xài đồ của bà nội bà ngoại, vì đồ đạc giặt xong sẽ bẩn hơn với thứ máy giặt quỷ tha ma bắt này. Rõ ràng là chất lượng nước có vấn đề. Mẹo ở đây là hãy thường xuyên đun sôi quần áo của bạn nếu bạn muốn tránh mùi hôi.

Và cuối cùng thì chừng nào mới có việc có thêm lý do để bạn đến đây thay vì bỏ đi cơ chứ.

Marie Cordiez (lepetitjournal.com/Hochiminhville) 12-9-2016

C) Nguyên Văn Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

(Bài này được đăng ngay trên LinkedIn.com. Do yêu cầu của lepetitjournal.com đòi phải vào Facebook mới đăng trực tiếp vào phần commentaries của bài viết của Marie Cordiez trong khi tôi không sử dụng Facebook, tôi cũng đã gởi bài đến một nhà báo Pháp – theo yêu cầu của chính nhà báo này – để ông phổ biến khắp nơi)

french3

EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good

Hoang Huu Phuoc, MIB

In her aricle in French entitled EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam posted on 12 September 2016 at  http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez becomes a non-compos mentis when saying nonsense agaisnt Vietnam. To teach her and people like her about the fact that limitations are always the must-have parameters of the civilized world and that absolute freedom never exists even among barbarous societies and cavemen, I hereby wish to respond to her with my article entitled EXPATRIATION – 10 Reasons for Marie Cordiez not to regret to leave Vietnam for good to simply tell her a proverb of the Oriental Wisdom of “when you take a mouthful of blood to spit on to the face of other people, you are sure to first make your own mouth besmirched”, a lesson which I regretfully believe she has not been educated to know from the first day she was thrown by God on to the lap of her mother.

1- National Shame on French Language

Though France dominated Vietnam for a century, it failed to make French language dominating the tongue of the Vietnamese people – hence forcing the French colonialists’ offspring like Marie Cordiez to waste huge money to invest to studying English in order to survive the struggling for jobs in Vietnam in this millennium.

2- National Shame on Health Concerns

Though France dominated Vietnam for a century, it seemed the Vietnamese people could not learn anything from the French conquerors on best practices on health concerns, probably possibly due to the fact that the French colonialists – i.e. the ancestors of Marie Cordiez – did leave only traces and proofs of their total satisfaction of daily inhaling and enjoying the unhygienic situations and accommodations available for a hundred years!

3- National Shame on Pollution

Similarly, it seemed the one-hundred-year colonization of France did instil in the mind of the Vietnamese people to consider the sick morbid way of living in dirtiness of the French colonialists worthy of imitating, without knowing that in the new millennium the offspring of such colonialists like Marie Cordiez glue the word “pollution” to the face of the offspring of the ones who overthrew not only the French colonialism but also the French Empire.

4- National Shame on Security

Though France dominated Vietnam for a century, it is so well-proven nowadays that Vietnam is so much secured than France on the issues like human rights, dignity, and terrorism that Marie Cordiez’s French patriots can hardly enjoy peacefulness even in Paris.

5- Personal Shame on Being Ignored

It is absolutely understandably normal to take vengeance on the culprits for their heinous crimes. However, Vietnamese people never take any revenge on Marie Cordiez and the offspring of the French colonialists, making this seem that the Vietnamese people look down upon guys like Marie Cordiez as if those guys did not exist or were not worth a tinker’s damn. Such disgrace and humiliation can hardly be taken by proud people like Marie Cordiez and therefore they – including herself – are in dire need of running away from Vietnam as fast as possible.

6- Personal Shame on Personal Disqualification

During the past two three decades all the expatriates in Vietnam have been offered by their companies the schooling expenses for their children at foreign schools in Vietnam. People like Marie Cordiez if incapable of self-funding the school fees at foreign “English” institutions in Vietnam for their own children, it simply means they are not at senior or important positions due to their disqualification. For a cover up for such shame, they should run away from Vietnam as fast as possible.

7- Personal Shame on Being Unknowledgeable

When lamenting on the unbearable natural high moisture degree in Vietnam, Marie Cordiez and people like her are totally unknowledgeable. This raises a surprising question on how a person in this modern much competitive world decides to come to a far away place without even investing at least five minutes to google the FAQs of such place. It seems they come to Vietnam as a desperado!

8- Personal Shame on Being Named Flibbertigibbet or Blabbermouth

The civilized expatriates always behave educatedly by making recommendation to the local authorities as a responsibility of the global citizen in making contributions to make things better for the benefits of the humankind or at least the local people. Telling stories of a place then advising people to leave such place are the jobs of the non-compos mentis.

9- Personal Shame on Ancestors’ Stupidity

To help save the face of their ancestors for failing throughout a century to understand the terrible things of Vietnam then to be beaten black and blue by such terrible people, what Marie Cordiez and people like her can do is to talk nonsense against Vietnam to make it still the underdog to the highly valuable and proudly civilized country like France, then to shout aloud to warn people to leave Vietnam for good.

10- Personal Relief to All Above-Mentioned Shames

However, Marie Cordiez and people like her can leave Vietnam for good with a blessed relief because big investors the world over have been flocking to Vietnam in endless queues for business opportunities. Such overcrowded community will play the excellent role of shielding away the with-the-tail-between-the-hind-leg escapade of Marie Cordiez and people like her. Thank God for all this!

And finally, if any other terrible thing about Vietnam could be further defined by Marie Cordiez or people like her, they are hereby requested to kindly keep the undersigned informed so that the humankind may have another opportunity to read my highest quality counter-attack comments. Being a Vietnamese, though never a communist party member, I vow to the world over that nobody on earth can say or write anything against my Vietnam without facing the strongest retribution from my very self.

“Assez! Voici la punition!”

Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoang Huu Phuoc, Ho Chi Minh City, Vietnam.

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

D) Bản Dịch Tiếng Việt Bài Viết Tiếng Anh Của Hoàng Hữu Phước Mắng Marie Cordiez

france

Bỏ Đi Biệt Xứ – 10 Lý Do Marie Cordiez Nên Rởi Việt Nam Vĩnh Viễn Không Chút Hối Tiếc

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Trong bài viết bằng tiếng Pháp nhan đề EXPATRIATION – 8 raisons de ne pas regretter le Vietnam đăng ngày 12-9-2016 tại http://lepetitjournal.com/hochiminhville/communaute-expat/communaute/256903-expatriation-8-raisons-de-ne-pas-regretter-le-vietnam, Marie Cordiez đã trở thành kẻ bất khả tư nghị khi nói xằng bậy chống Việt Nam. Để dạy cô ta và những tên tương cận về sự thật rằng các giới hạn luôn là những thước đo phải có trong thế giới văn minh và rằng sự tự do tuyệt đối không bao giờ tồn tại ngay cả trong các cộng đồng man di mọi rợ kể cả người của thời kỳ sống trong hang động, tôi qua đây muốn phản pháo băng bài viết của tôi nhan đề Bỏ Đi Hẳn – 10 Lý Do Marie Cordiez Không Nên Tiếc Nuối Khi Bỏ Việt Nam Ra Đi Không Bao Giờ Quay Lại ngõ hầu đơn giản cho cô ta biết về một câu tục ngữ của trí tuệ Á Đông rằng “hàm huyết phún nhân, tiên ô ngã khẩu”, một bài học mà tôi lấy làm tiếc tin rằng cô ta đã chưa từng được giáo dục để biết đến kể từ ngày đầu được Thượng Đế quẳng ném cô ta lên bắp đùi của mẹ cô ta cho đến ngày nay.

1- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Pháp Ngữ

Mặc dù đô hộ Việt Nam trong một thế kỷ, Pháp vẫn thất bại không biến Pháp Ngữ thành ngôn ngữ của người Việt – vì vậy đã khiến các hậu duệ của các tên thực dân Pháp như Marie Cordiez phải phí số tiền khổng lồ để đầu tư học tiếng Anh để có thể chen lấn kiếm được việc làm tại Việt Nam trong thiên niên kỷ này.

2- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Các Quan Tâm Về Sức Khỏe

Mặc dù Pháp đô hộ Việt Nam hàng trăm năm, có vẻ như người Việt chẳng học hỏi được gì từ các nhà chinh phục Pháp đối với các thực hành thực tế tốt về sức khỏe, ắt có thể do có sự thật là các tên thực dân Pháp – tức tổ tiên của Marie Cordiez – chỉ để lại chứng tích về việc chúng đã hoàn toàn thỏa mãn với việc hàng ngày hít thở thưởng thức những điều kiện mất vệ sinh tồn tại những hàng trăm năm (ý nói bọn thực dân Pháp quen ăn ở dơ dáy nên người dân Việt chẳng bắt chước được gì từ chúng đối với cách sống vệ sinh mà chúng tự hào là văn hóa văn minh Pháp).

3- Quốc Nhục (Của Pháp) Về Ô Nhiễm

Tương tự, dường như thời gian làm thuộc địa Pháp trong hàng trăm năm đã khắc ghi vào tâm khảm người Việt Nam để xem cách sống bịnh tật và bịnh hoạn của thực dân Pháp sống trong sự dơ dáy là thứ đáng để bắt chước mà không biết rằng qua thiên niên kỷ sau thì đám hậu duệ của bọn thực dân Pháp như Marie Cordiez lại mặt dày đem dán từ “ô nhiễm” lên trán các hậu duệ của những người lật đổ không những chế độ thực dân Pháp mà còn cả đế chế Pháp.   

4- Quốc Nhục (Của Pháp) Đối Với Vấn Đề An Ninh

Dù Pháp chiếm đóng Việt Nam trong một thế kỷ, đã có sự minh chứng hùng hồn ngày nay rằng Việt Nam an toàn hơn Pháp rất nhiều đối với các vấn đề như nhân quyền, phẩm giá, và khủng bố mà những nhà ái quốc Pháp của Marie Cordiez khó thể có được ngay tại Thủ đô Paris.

5- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Ngó Lơ

Thật bình thường một cách hoàn toàn dễ hiểu đối với việc rửa thù báo oán dành cho những kẻ đã gây ra tội ác tởm kinh. Song, người Việt lại không bao giờ trả thù  Marie Cordiez cùng hậu duệ của đám thực dân Pháp, cứ như thể người Việt khinh thường khinh khi những kẻ như Marie Cordiez cứ như thể đám này không tồn tại hoặc chẳng đáng giá một xu teeng. Những sự bị điếm nhục và hạ nhục như thế khó lòng chịu đựng được bởi những kẻ vác mặt lên trời như Marie Cordiez và do đó chúng – có cả cô ta – nhất thiết cần kíp phải chuồn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể.

6- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bất Tài Vô Dụng

Trong vài ba thập niên qua, tất cả những người nước ngoài công tác tại Việt Nam đều được công ty của họ đài thọ chi phí cho con họ được học tại các trường quốc tế ở Việt Nam. Những kẻ như Marie Cordiez nếu không thể lo được chi phí học hành cho con cái họ tại các trường dạy bằng tiếng Anh thì điều này đơn giản có nghĩa rằng họ không ở vị trí lãnh đạo hay quan trọng vì bất tài vô dụng. Để đậy che nỗi nhục này, họ nên chạy trốn khỏi Việt Nam nhanh nhất có thể được.

7- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Vô Trí

Khi than vản về ẩm độ cao tự nhiên không thể chịu đựng được ở Việt Nam, Marie Cordiez và những tên tương cận hoàn toàn vô trí. Việc này đặt ra một nghi vấn đầy ngạc nhiên vì sao trong thời hiện đại và lắm cạnh tranh này lại có kẻ quyết định đến một nơi xa xôi mà lại không đầu tư ít nhất là năm phút để kiếm tìm trên Google những câu hỏi thường gặp có liên quan đến nơi chốn ấy. Cứ như thể họ đã đến Việt Nam với tư thế những kẻ cùng đường mạt vận cùng đinh!

8- Nỗi Nhục Bản Thân Vì Bị Gọi Là Quân Mồm Loa Mép Dải Già Mồm Bá Láp Láo Xạo Tào Lao

Những ngoại kiều có văn minh đều luôn hành xử một cách có học thức bằng cách gởi những ý kiến đóng góp cho chính quyền nước sở tại như một trách nhiệm của người công dân toàn cầu có những cống hiến nhằm tạo nên những ích lợi tốt hơn cho nhân loại hoặc chí ít là cư dân địa phương. Đơm đặt về một nơi rồi khuyên bảo người khác bỏ nơi ấy mà đi là việc mà những chỉ những kẻ bất khả tư nghị mới làm.

9- Nỗi Nhục Bản Thân Đối Với Sự Ngu Xuẩn Của Tiền Nhân

Nhằm giữ thể diện cho tổ tiên vì đã thất bại suốt thế kỷ vẫn không nhận ra các điều kinh khủng ở Việt Nam để rồi bị những người Việt Nam kinh khủng ấy đánh cho tơi tả tơi bời, những gì mà Marie Cordiez cùng đám tương cận có thể làm là đơm đặt điều láo xạo chống Việt Nam nhằm biến Việt Nam vẫn như là nước ở chiếu dưới so với đất nước Pháp văn minh tột đỉnh giá trị tột cùng, rồi hô hào kêu gọi mọi người hãy rời bỏ Việt Nam mãi mãi.

10- Sự Thở Phào Nhẹ Nhỏm Của Bản Thân Đối Với Những Nỗi Nhục Nêu Trên

Tuy nhiên, Marie Cordiez và đám tương cận có thể bỏ Việt Nam không bao giờ quay lại với một sự thở phào nhẹ nhỏm được Thượng Đế tặng ban, vì rằng các nhà đầu tư lớn trên toàn thế giới đã và đang đổ xô về Việt Nam đứng sắp hàng dài vô tận để kiếm tìm cơ hội kinh doanh. Cái cộng đồng đông đúc khủng khiếp đó sẽ đóng vai trò tuyệt hảo trong che chắn cảnh tháo chạy lúp xúp với đuôi cụp giữa hai chân sau của Marie Cordiez và đám tương cận. Tạ ơn Thượng Đế cho ân phú này!

Cuối cùng thì nếu có điều gì khác khủng khiếp về Việt Nam có thể được nhận diện  bởi Marie Cordiez hoặc những người như cô ấy, kính xin họ hãy vui lòng báo cho người ký tên dưới đây được biết để nhân loại có thêm cơ hội đọc những ý kiến phản pháo chất lượng tuyệt hảo của người ký tên dưới đây. Là người Việt Nam, dù không bao giờ là Đảng viên Cộng Sản, tôi xin thề với toàn thế giới rằng không bất kỳ ai trên trái đất này có thể nói hay viết bất kỳ điều gì chống lại đất nước Việt Nam của tôi mà không phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của chính tôi.

“Assez! Voici la punition!”

(Thôi quá đủ! Hãy xem đây hình phạt!)

Thơ Jean Nicolas Arthur Rimbauld (1854-1891)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

hhphuoc@yahoo.com

https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Các bài viết thể loại Dạy Bảo Ngoại Nhân:

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Tôi Và Philipp Rösler

Lao Xao Láo Xạo

Quà Quạ An Tri Hồng Hộc Chí

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-8-2016

Laoxao1

Tôi luôn ở bậc thang trưởng thượng không màng đến các thùng rác bên vệ đường lịch sử nên không hề quan tâm đến những lao xao láo xạo trên không gian mạng.

Từ cách nay hai mươi lăm năm tôi đã không-ai-biết-chẳng-ai-hay-nào-ai-thuê-mướn miệt mài bút chiến hùng biện ầm ỉ trên không gian mạng với đủ loại người ngu xuẩn có mà chưa hiểu biết cũng có, gốc Việt có mà gốc lung tung cũng có, và đã âm thầm đạt được bao “thành quả” chẳng hạn như đã làm đám chống Cộng chấm dứt hẳn việc mắng chưởi thóa mạ Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc đã khiến mấy trang mạng nước ngoài buộc phải thêm tên Việt Nam vào ô xổ xuống của mục thanh toán online, v.v. và v.v. Tôi chưa từng kể công – nhưng chắc hôm nào rỗi rảnh phải cố nhớ mà ghi ra để thiên hạ biết rằng không phải tự dưng cái gì cũng tự nhiên có được và rằng chỉ cần là một công dân yêu nước thật sự thì đâu cần được “phân công” mới bảo vệ quê hương – và cũng chưa hề được thưởng công. Thế nhưng sự oái oăm lại ở chỗ những thọc chọt lại ập đến tôi từ cả hai phía chống Việt như một lẽ đương nhiên tự nhiên dĩ nhiên và báo Việt như một sự suy đồi suy vi suy tàn quái đản.

Nhiều tháng trước, các học trò tôi có gởi tôi ảnh chụp trên. Nếu như mọi lần mỗi người nhắn hay báo cáo tóm tắt một sự việc gì đó riêng lẻ, thì kỳ này lạ lùng là  ngoài 4 học trò tôi gởi cùng lúc còn có 1 người lạ hoắc nhưng bị nhắc đến chung trong cái lời lao xao láo xạo đó nên cũng cố gắng tìm hiểu về tôi để gởi cái quỷ ấy cho tôi để xin được làm quen, khiến tôi tự nhủ để hôm nào “bí” đề tài sẽ viết đôi dòng về nó.

Gọi là láo xạo vì kẻ bẩn thỉu đó không biết gì về LinkedIn, chưa từng dám bước vào LinkedIn. Y chỉ đơn giản lấy các sự thật gồm: (a) ở Việt Nam thực sự có ông tên Hoàng Hữu Phước, (b) trên thế giới thực sự có cái nhà mạng tên LinkedIn, (c) Việt Nam thực sự có sự việc “bầu cử” năm 2016, và (d) Thành phố Hồ Chí Minh thực sự có nhân vật tên Lộc họ Đỗ có tên trên danh sách ứng cử được niêm yết. Thực hiện thói quen bịnh hoạn của kẻ ngàn đời thua trận, muôn kiếp đê hèn, y pha trộn các sự thật ấy với hy vọng tạo ra một chuyện có mùi sự thật để quăng vô mặt độc giả mạng vì thế nào cũng có người bị dính bẩn. Và nếu như tập hợp các nguyên liệu nào cùng bổ dưỡng thật sự như sầu riêng, chuối sống, trái khế, quả chanh, nước mía, tép tỏi, bó hành, củ cải trắng, củ giềng, và quả cà “dái dê” (từ ngữ trong Truyện Cổ Nước Nam) y đem xay nghiền thành hỗn hợp “đại bổ” đút cho người khác ăn thì bảo đảm từ trẻ nít đến người lớn đều phát ói với thứ hổ lốn ấy.

Nhân đây tôi xin chụp cơ hội này để nói rằng:

1) LinkedIn là trang mạng của doanh nhân thế giới, viết qua viết lại bằng tiếng Anh, cho đến lúc gần đây nhờ tôi phổ biến rộng khắp, cái gì cũng hê tên LinkedIn, nên mới bắt đầu có sự tham gia của nhiều người Việt, doanh nhân có mà sinh viên kiếm việc cũng đi lộn vô đó cũng có, và cộng đồng này viết tiếng Việt cao cấp ngân lượng có mà bình dân kiểu Facebook ba xu cũng có. Tóm lại, vào LinkedIn để “vận động bầu cử” đúng là ý tưởng của kẻ lao xao láo xạo, đơn giản vì (a) không lẽ “vận động” doanh nhân toàn cầu dồn phiếu cho me-sừ Hoàng Hữu Phước ở Việt Nam, (b) ngay cả nhiều người dân các tỉnh miền Bắc muốn dồn phiếu cho ông Hoàng Hữu Phước cũng không bao giờ thực hiện được vì chỉ có người dân ở mỗi ba quận 1, 3, và 4 của Thành phố Hồ Chí Minh mới có quyền đó, và (c) lộn rồi vì me-sừ Lộc Đỗ gì đó không phải là “cộng sự” hay là học trò tôi vì học trò thực thụ của tôi đa số làm nhà giáo và tất cả đã nghĩ hưu cũng như đã nghe lời tôi đừng bao giờ chường mặt ra cõi đời ô trọc này để hứng chịu gạch đá của bọn lao xao láo xạo ném trị tội ủng hộ “Thầy” Hoàng Hữu Phước, cũng như (d) quê xệ rồi vì me-sừ Lộc Đổ nhà ta cho biết chỉ ứng cử vào Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Quốc Hội.

Kẻ lao xao láo xạo còn nói “lính” của tôi cũng ở trên LinkedIn vận động “PR rầm rộ” ì xèo cho tôi, trong khi (a) “lính” tôi không bao giờ đi lộn sân vì tôi không bao giờ tuyển “lộn” lính, và (b) tôi luôn sẵn sàng dạy cho bất kỳ ai đi “lộn sân” – kể cả mấy kẻ đi “lộn” vô Quốc Hội – như thí dụ đối với một em sinh viên chạy “lộn” vô LinkedIn:

Laoxao2Laoxao3Laoxao4Laoxao5

2)  Từ hơn 30 năm trước tôi đã luôn dặn dò sinh viên của tôi sắp định cư bên Mỹ 4 điều rằng (a) hãy cẩn trọng giáo dục con cái về nguồn gốc Việt Nam và đừng bao giờ chống Việt Nam Cộng Sản; (b) hãy cố học tập trong im lặng, đừng bao giờ mở miệng “thân Cộng sản Việt Nam” kẽo bị phe chống Cộng phát huy tự do dân chủ nhân quyền kiểu Mỹ quánh sưng mỏ không ai cứu; rằng (c) nếu buộc phải mắng chưởi “Cộng sản Việt Nam” để ngụy trang trong hang ổ sài lang thì cứ cố gắng diễn tuồng xuất sắc cất tiếng hòa âm điền dã, đừng sợ Thầy Phước ở quê nhà giận trách; rằng (d) đừng bao giờ trở về Việt Nam mà hãy tập trung phục vụ nước Mỹ để tất cả cùng nhằm hướng đến giấc mơ các con cháu của các em có ngày có đứa sẽ trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ “da vàng gốc Việt” đầu tiên và lúc ấy ngầm giúp được nước Việt Nam quê cha đất tổ này hiệu quả nhiều hơn, vinh diệu hơn, cụ thể hơn.

Thế nên, cái lao xao láo xạo rằng tôi kéo một anh “cộng sự” gì đó về “phụng sự tổ quốc” thì rõ ràng là kẻ lao xao láo xạo đó đích thị là tên ngu đần, còn thua cả “yến tước an tri hồng hộc chí” (loài chim Yến chim Tước cách chi mà biết ý chí của chim Hộc chim Hồng) vì ít ra Yến và Tước còn có ngoại hình đẹp và âm thanh hay, không hề lao xao láo xạo như cái tên Hồ Hải thuộc giống loài quà quạ. Cũng vì tuyệt đối tuân lời dạy dỗ của Thầy mà các học trò của tôi dù ở Việt Nam hay hải ngoại không bất kỳ ai tham gia viết blog để đấu khẩu với bọn lao xao láo xạo nào dám chống Thầy mình và đất nước mà Thầy mình ra sức to mồm bảo vệ, còn các học trò giỏi đội lốt hăng say chống Cộng ở Mỹ thì thỉnh thoảng nếu có rời Mỹ đi Hà Lan hay Bắc Âu du lịch thì mới điện thoại cho Thầy bằng card điện thoại giảm giá để khỏi lưu chứng tích hoặc gởi bưu điện xứ lạ về cho Thầy một hủ đa sinh tố to đùng đủ uống mỗi hai năm.

3) Và cuối cùng, lý do vì sao cùng lúc nhiều người gởi tôi cùng lúc cái hình chụp lao xao láo xạo ở trên đã được họ giải thích cụ thể như sau:

– Họ bảo hình cho thấy rõ nhất sự láo xạo của kẻ đần vì lẽ ra sau khi viết xạo láo về Thầy Phước thì hãy để vài ngày sau hãy viết về Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, chứ viết liền kề như thế thì rõ là láo xạo chưởi tuốt bất kỳ ai là lãnh đạo Việt Nam và bất kỳ ai là cảm tình viên của cái chế độ của vị lãnh đạo ấy;

–  Họ cho rằng việc nói xạo láo về Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cho thấy kẻ viết cay cú cay đắng cay độc trước sự thành công của môt vị lãnh đạo của một nước Việt Nam thành công; cũng như

– Họ khẳng định việc nói xạo láo về “Thầy” Hoàng Hữu Phước càng cho thấy kẻ viết đã cay cú cay đắng cay độc đến dường nào vì phe “tự do – dân chủ – nhân quyền – lương tâm” của kẻ ấy có rọi đèn pha giữa ban ngày nắng nóng kiếm khắp trong phe cũng không có bất kỳ ai ở đẳng cấp cao bằng tương tự ông Thầy Phước của mấy ông mấy bà học trò đang hoặc sắp nghỉ hưu trí này cả, vì nếu họ có đấng nào cao cấp như thế thì họ lẽ ra nào có sá gì “con tép riu” tên Hoàng Hữu Phước không quyền lực chẳng ô dù không uy thế kinh tài gì sất mà cứ ra tay viết lao xao láo xạo nhọ bôi mài miệt “con ruốc con rươi” ấy.

Nói tóm lại, dựa vào các “thông tin” láo xạo do cái kẻ mang danh xưng “Hồ Hải” gì đấy nêu lên về tôi, các bạn từ đó có thể suy ra ngay rằng các lời “phán” của y về Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng toàn là lời láo xạo nhơ bẩn vốn là những thứ duy nhất mà y và những kẻ tương cận muôn đời thất bại như y có thể rặn ra được để có cái ăn trong đời. Cũng từ đây mà suy ra: nếu tôi chỉ là kẻ viết lách trong xó xỉnh wordpress.com riêng biệt này, không dám chường mặt ra chốn phù hoa đô hội facebook.com, không được tập đoàn quyền lực báo chí chính thống quốc gia ưa gì cái bản mặt, mà bọn “Hồ Hải” còn dựng chuyện vu vạ đến thế, thì các lãnh đạo Việt Nam chường mặt ra thế giới vinh quang và được tập đoàn báo chí chính thống quốc gia tiền hô hậu ủng thì bọn “Hồ Hải” còn xúc xiểm vu vạ khủng khiếp đến dường nào. Cũng từ đó mà suy ra: hãy vứt sọt rác những lời ca ngợi mà bọn “Hồ Hải” dành cho ai đó vì cũng chỉ toàn là lao xao láo xạo tuốt.

 

Dạo này tôi chậm viết hơn và đọc nhiều hơn, đơn giản vì ngày nay đã có sự gia tăng khủng khiếp về số lượng các blog viết bảo vệ chính nghĩa Việt Nam, tấn công các blog lao xao láo xạo trên không gian mạng, bằng quá nhiều các bài viết quá hay, quá chuẩn, quá mạnh, quá hiệu quả, và quá “độc” (đáo), khiến tôi tự an ủi rằng đã đến giai đoạn bùng phát của lực lượng chính nhân quân tử trí tuệ trí hóa vì nước vì dân nên tôi có thể yên tâm an phận mọn, rung đùi ngồi đọc thưởng thức bài họ viết, trong mỗi ngày nhàn hạ.

Tôi tất nhiên sẽ tiếp tục đóng góp cho LinkedIn các bài viết tiếng Anh để đáp lại các lời khen tặng của các nhà báo nước ngoài cũng như chính khách nước ngoài trong nhiều chục triệu dân cư cộng đồng LinkedIn cũng như sẽ viết các comments phê phán bằng tiếng Anh hay tiếng Việt đối với các ý kiến của thế giới doanh nhân trên LinkedIn, tất cả vì vinh danh tư cách một công dân nghiêm túc của nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam vậy.

Laoxao6Laoxao7Laoxao8

 

Nhân tiện, để chuộc lỗi vì đã viết về cái tên ngợm “Hồ Hải” đã lao xao láo xạo về tôi và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm bẩn tai bạn đọc, tôi xin kính trình cùng bạn đọc một số những đối đáp của tôi trên LinnkedIn để bạn đọc thấy tác giả bài viết này chỉ luôn uốn nắn sửa sai những xúc xiểm động đến Việt Nam, những giúp đỡ hoàn thiện các lập luận yếu kém, những phản bác các tư duy thiển cận, cùng những ủng hộ tham gia làm rõ các ý kiến xuất sắc của thiên hạ, qua đó các bạn có thể đánh giá thêm về tác giả bài viết này:

Laoxao9Laoxao10

Laoxao11

Laoxao12

Laoxao13Laoxao14

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:
A) Con Cái Gia Đình Láo Xạo Bị Lăng Tần Mắng Đại Ngu:

Những Lập Luận Ngu Xuẩn Của Kẻ Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng

B) Những Bài Viết Trên LinkedIn (Bằng Tiếng Anh, có dịch sang tiếng Việt)

Ngày Chiến Thắng 30-4-1975

Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt Trước Đây Về Đất Nước

Luận Về Tác Động Của Quảng Cáo Tại Việt Nam – On Advertisement Impact in Vietnam

Lời Khuyên Về Học Tiếng Anh – Tips for Learners of English

C) Những Comments Viết Trên LinkedIn Bằng Song Ngữ Anh-Việt

Không Lời 1

Không Lời 2

Có Lời

Một Thoáng Tư Duy

Mạng Xã Hội

Mỹ Linh

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-6-2016

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi chỉ thích Nhạc Đồng Quê Mỹ.

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi chỉ thích nhạc của quân giải phóng.

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi không thể thưởng thức bất kỳ bản nhạc Việt Nam hiện đại nào.

Tôi xin khẳng định rằng là người nghiên cứu quốc ca (chính ra là tập trung cho “quốc thiều”) của các dân tộc từ nhỏ, tôi – và nhiều thân nhân của tôi – rất thích bản quốc ca Hoa Kỳ vì sự hùng tráng của tiết tấu mà sau này tôi phải lấy công tâm của riêng cá nhân tôi mà nói rằng bản quốc ca Việt Nam cũng hùng tráng và cùng với bản quốc ca Hoa Kỳ là hai bản quốc ca hay nhất.

Tôi xin khẳng định rằng tôi không có ác cảm gì với Mỹ Linh, đơn giản vì tôi không thể thưởng thức nhạc Việt Nam hiện đại nên chẳng nghe Mỹ Linh hát bao giờ.

Và tôi xin khẳng định rằng Mỹ Linh đã không có lỗi gì khi hát Quốc ca Việt Nam lúc chào đón Tổng thống Hoa Kỳ Obama.

Cái sai tày trời là của ban tổ chức vì tôi nghe rằng họ đã yêu cầu Mỹ Linh gởi các phiên bản hát khác nhau để họ lựa chọn, quyết định Mỹ Linh sẽ hát theo phiên bản nào.

Ban tổ chức đã chưa bao giờ biết những sự thật sau:

1) Đối với nghi lễ quốc gia, bài quốc ca phải được trỗi lên theo đúng với nội dung từ lời ca đến nốt nhạc theo ghi nhận trong Hiến Pháp.

2) Đối với trình diễn thăng hoa bản quốc ca, thì tùy vào văn hóa của mỗi quốc gia. Mỹ là nước cho phép dùng quốc kỳ may quần lót phụ nữ như thiên hạ đã từng thấy trong kỳ vận động tranh cử tổng thống của Richard Nixon, thì quốc thiều cũng được phép biến tấu tại các buổi hòa nhạc khi chẳng ai phải đứng dậy chào cờ mà chỉ thưởng thức âm nhạc, như biến tấu hard rock của Zakk Wylde.

3) Hát quốc ca tại các sự kiện lớn, hoành tráng, luôn là đơn ca và không có nhạc đệm. Ca sĩ nào nói khó ca hát nơi đông người mà không có ban nhạc, thì đó không là danh ca để được mời hát cho sự kiện.

4) Chính vì tự do thái quá và do bất cẩn, Mỹ sau đó đã phải đớn đau khi tại các buổi lễ trang trọng nơi sân vận động hoành tráng khai mạc giải bóng bầu dục hay khúc côn cầu trên băng, lịch sử Hoa Kỳ đã phải lần lượt chứng kiến những ca sĩ hát quốc ca (đơn ca, không có âm nhạc kèm theo) như các “diva” Christina Aguilera, Alexis Normand, Victoria Zarlenga, hoặc các nam danh ca như Steven Tyler, Michael Bolton, Cuba Gooding Sr., Mike Eli, Scott Stapp, và Robert Kelly đã làm nhục quốc thể, khiến các cầu thủ, khán giả, huấn luyện viên, trọng tài, và thậm chí các em bé phục vụ căng lá cờ giữa sân phải phì cười hoặc lắc đầu ngao ngán. Chưa kể danh sách những kẻ đã “làm thịt” bản quốc ca Hoa Kỳ còn có lực sĩ Carl Lewis và bà hề Roseanne Barr, những kẻ mà ban tổ chức nghĩ rằng sẽ nhờ tên tuổi của họ mà làm giải đấu thêm phần hoành tráng. Hình ảnh video của Roseanne Barr rất kinh tởm khi thấy bị cầu trường la chộ, bà hề này đã phun một bãi nước bọt đầy trịch thượng.

5) Chỉ có bọn phản động, chống phá Việt Nam, và thất học mới từng đòi phải bỏ chữ Xã Hội Chủ Nghĩa trong quốc hiệu, viết lại lời quốc ca mà chúng cho rằng để “bớt sắt máu” cho phù hợp với thời đại hòa bình. Và tương tự, chỉ có những người kém hiểu biết, kém khôn ngoan mới nói rằng phải hát quốc ca Việt Nam với tiết tấu khác đi, dịu dàng hơn, cho phù hợp với cái sự “yêu hòa bình” của cái thời đại hội nhập. Nói vậy là vi hiến vì dám làm sai với nội dung của Hiến Pháp về quốc ca. Phải chăng sẽ đến lúc nào đó xuất hiện lá cờ hồng sao vàng vì lập luận rằng màu đỏ quá “sắt máu”, cần được thay thế bằng màu hồng của tình yêu?

6) Muốn có hòa bình, phải có sức mạnh răn đe cực mạnh bằng vũ khí hiện đại, tối tân. Muốn có hòa bình, phải có lời cảnh báo nghiêm khắc trong quốc ca hùng tráng rằng “cờ in máu chiến thắng mang hồn nước”,  “đường vinh quang xây xác quân thù”, để ngoại bang phải chùn tay. Muốn có hòa bình, phải có giọng ca hùng tráng đúng với nội dung hùng tráng.

7) Quốc ca Hoa Kỳ được Quốc hội Hoa Kỳ chuẩn y năm 1931, dựa theo bài thơ Ngọn Cờ Lấp Lánh Ánh Sao của nhà thơ chiến sĩ Francis Scott Key viết năm 1814 trong trận tử thủ Pháo đài McHenry, dựa theo hình ảnh lá cờ bị đạn bắn rách bươm nhưng vẫn ngạo nghể bay phất phới, và ánh trăng qua các lỗ đạn trông như các vì sao lấp lánh giữa đêm đen. Không bất kỳ ai ở Hoa Kỳ nói rằng Mỹ nên thay quốc ca vì xuất xứ “rách bươm” của lá cờ cả. Hồn thiêng sông núi Hoa Kỳ là ở đấy. Sự hào hùng của nhân dân Mỹ là ở đấy. Thế thì sao ở Việt Nam lại có những kẻ cho mình có quyền (và được cấp trên để yên cho) tự tung tự tác giải thích lung tung về “hòa bình” và “hội nhập” nên phải “mềm hóa” quốc ca?

Lời cảnh báo ở đây qua bài viết này là các quan chức ngành giáo dục và truyền thông phải bảo đảm rằng không ai được phép “thăng hoa” động đến bản quốc ca trong những buổi đại lễ hay quốc lễ. Đã là quốc lễ thì áo dài phải là áo dài truyền thống, cổ điển, không phải là áo dài không có lưng áo cũng như chỉ có một tay áo thậm chí khoét sâu khoe ngực. Người Mỹ đã có những trãi nghiệm xấu hổ mà chính dân chúng của họ cũng phải lên tiếng chê bai, nhạo báng, còn các danh ca lừng danh hoàn vũ của họ như các vị giám khảo American Idol Christina Aguilera và Steven Tyler phải muối mặt, bị “ném đá” trên không gian mạng.

Những người như Christina Aguilera và Steven Tyler hoàn toàn sai và phải chịu trách nhiệm cá nhân của họ trước nhân dân của họ.

Mỹ Linh không sai và không phải chịu trách nhiệm, vì Mỹ Linh hát theo phiên bản đã được “cấp trên” duyệt.

Vấn đề mãi ngân vang rằng “cấp trên” ấy là ai.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Quốc Nhục

Lưu Hữu Phước – Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa

Áo Phao

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-6-2016

AAA (1)

Vào cuối những năm 1970 của thế kỷ trước, khi đang rảo bước trên đường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, tôi bắt gặp hai người đi chân đất gồm một bà cụ đầu chít khăn mỏ quạ, gầy gò ốm yếu, dáng người đã thấp lại thêm khòm lưng ắt vì tuổi tác, răng nhuộm đen, tay dắt cháu gái cũng bé nhỏ ắt lên 6 tuổi. Bé gái đã cất tiếng thơ ngây vừa trỏ tay vào mấy dãy nhà cao tầng vừa hỏi: “ Bà ơi, nhà cao thế, sao người ta trèo lên trên ấy được?” Có lẽ hai bà cháu ở miền quê Bắc Bộ vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm đến chỗ đóng quân của mấy anh bộ đội người nhà chăng, và cả đời chưa bao giờ nhìn thấy nhà cao tầng cũng như chẳng thể tưởng tượng được cách mà những người ngụ cư bên trong ấy lên được các tầng cao để tỳ người vào lan can nhìn xuống những người dân quê đang dọc đường gió bụi.

AAA (3)

Vào đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, bất kỳ đi đâu bằng xe máy, tôi đều đội mũ bảo hiểm và trở thành hiện tượng quái lạ đến nỗi mỗi khi dừng lại ở đèn đỏ, người ở hai bên xe tôi đều hỏi câu tương tự như “Anh đội cái đó chi vậy?” hoặc “Nặng thế không mõi cổ à?” hoặc “Hầm hơi khó thở thế sao lại mang cái của nợ ấy vậy?” Có lẽ những nam thanh nữ tú ấy (a) ở các miền quê Nam Bộ mới đổ bộ vào Thành phố Hồ Chí Minh nên không biết là đối với tất cả các chàng trai thực sự có nam tính đều mê được đội các mũ bảo hiểm như các chiến sĩ cảnh sát công lộ chạy mô tô Harley của chế độ Sài Gòn, hoặc (b) ở thời hiện đại chỉ có ở Việt Nam đó là vừa thần phục Âu Mỹ hiện đại văn minh vừa chẳng biết các quy định Mỹ Âu văn minh hiện đại nghiêm ngặt ra sao đối với bất kỳ ai sử dụng xe đạp, xe máy, ô tô trên đường phố.

Vào đầu những năm 2000 của thế kỷ này, mỗi khi đi đâu một mình bằng ô tô dù đó là taxi Mailinh (thanh toán bằng thẻ) hay là xe cơ quan, tôi đều ngồi băng ghế trên, bên cạnh tài xế, và đóng cửa xong là tôi lần tìm dây đai bảo hiểm để cài. Tài xế nào dù của xe taxi hay của công ty tôi cũng đều nói ngay với tôi rằng “Sếp ơi, chỉ có quy định là em lái xe thì phải cột cái của nợ này nên sếp khỏi cần đeo đai”.  Có lẽ tài xế các ô-tô hiện đại ấy cộng với quy định quái lạ ắt chỉ có ở Việt Nam nên không biết rằng tất cả mọi người đã ngồi vào trong một phương tiện gọi là xe ô tô thì đều phải thắt dây an toàn, và rằng người ta hay mơ màng được đi du học hay du lịch nước ngoài nhưng không biết một điều rằng ngay cả tại Hong Kong trong xe taxi vẫn còn dán dòng chữ tiếng Anh rằng quý vị hãy thắt dây an toàn, nếu dọc đường phát hiện quý vị cởi bỏ dây, tài xế được phép ngừng xe yêu cầu quý vị thanh toán đủ tiền rồi bỏ quý vị xuống ngay tại chỗ dừng đột ngột ấy.

Sử dụng đường hàng không suốt từ những năm 1990 của thế kỷ XX đến nay đã qua hơn nửa của một phần tư thế kỷ XXI, tôi sau khi ngồi vào ghế, thắt dây đai an toàn xong là tắt luôn hai điện thoại di động của mình. Máy bay nào cũng phát yêu cầu bằng tiếng Việt và tiếng Anh có nói về nội dung sử dụng điện thoại di động, giữa lúc hành khách vẫn đang lục đục kiếm tìm chỗ ngồi ồn ào chẳng ai nghe nội dung phát thanh là gì và có nghe cũng chẳng để ý làm gì. Và trong tất cả các chuyến bay tôi đều thấy những người bất ổn thần kinh sử dụng điện thoại di động để chơi game, xem hình, hoặc bấm bấm liên tục – biểu hiện của bịnh nhân chứng nghiện di động mắt luôn chằm chằm nhìn vào màn hình ngón tay luôn bấm bấm quẹt quẹt, vì rằng đối với người thần kinh khỏe mạnh thì luôn tận dụng thời gian trên máy bay để hoặc nghỉ ngơi, hoặc mơ về những hoa mộng của cuộc đời. Mà tất cả những “chơi” này đều được tất cả các tiếp viên hàng không nam nữ từ bi nhân hậu không bao giờ yêu cầu hành khách ngưng ngay các hành động nguy hiểm đến an toàn bay như vậy, bất kể phone của họ có hiện đại đến đâu chăng nữa, như có phần tắt các gây nhiễu khi sử dụng phi cơ chẳng hạn. Thậm chí máy bay vừa đáp xuống xong và đang tiến dần dần vào nơi đỗ quy định thì toàn máy bay đã nghe tiếng bật phone vang lên kèm những câu nói như máy bay vừa đáp xuống xong, chịu khó chờ anh (hay chờ em) tí nhé, v.v. và v.v. Nghĩa là họ chưa bao giờ nghĩ rằng họ có thể là kẻ bất nhân vì rằng tuy máy bay đã hạ cánh an toàn nhưng việc bật phone khi chưa ra khỏi máy bay có thể gây nhiễu thiết bị điều khiển bay khiến chuyến bay sau với nhiều trăm hành khách mới sẽ có nguy cơ gặp nạn cao.

Và khi có mặt trong đoàn nghị sĩ Việt Nam sang Campuchia, tôi là người duy nhất mặc áo phao khi trên chiếc tàu máy lênh đênh trên Biển Hồ giữa trời nắng nóng như thiêu đốt. Không bất kỳ ai, dù đó là Đại sứ Việt Nam ở Campuchia, các nghị sĩ Việt Nam, các nghị sĩ Campuchia, các cận vệ, các lái tàu, lại mặc áo phao. Tuy áo phao chật cứng tôi không thể nào cài dây thắt được, tôi vẫn cố vật lộn với nó để mặc cho bằng được, kể cả khi rời tàu trèo lên thăm một “trường học nổi” neo cạnh bờ. Có vị đã hỏi tôi “Mặc làm gì, nóng nực lắm.” Có vị hỏi “Ông không biết bơi à?” Có vị hỏi “Ông sợ ư?”

AAA (2)

Chẳng ai biết tôi (a) đội mũ bảo hiểm nhiều chục năm trước khi Việt Nam có quy định phải đội như thế khi đi xe máy; (b) thắt dây đai an toàn nhiều chục năm trước khi Việt Nam có quy định tài xế phải thắt dây đai, rồi cách nay vài năm lại quy định tiếp rằng người ngồi kế bên tài xế phải thắt dây (ắt sau vài năm nữa sẽ quy định tiếp rằng ai ngồi băng ghế sau sẽ phải thắt dây an toàn, và vào thế kỷ sau sẽ quy định bất kỳ ai ngồi trên xe dù 4 chỗ hay 50 chỗ đều phải thắt dây an toàn); và (c) mặc áo phao khi sử dụng đường thủy dù đi ngắm cảnh hay ngồi…ăn tiệc cưới trên tàu lênh đênh trên sông; đơn giản chỉ vì tôi vì quốc thể, khi luôn muốn chứng minh rằng những quy định an toàn trong sử dụng phương tiện giao thông của thế giới hiện đại văn minh đều được tôi, một công dân đất nước Việt Nam văn minh hiện đại, tuân thủ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử

(Bài viết đã đăng trên Emotino tháng 11-2011)

Hoàng Hữu Phước, MIB

31-5-2016

Trong tiếng Việt, từ “vấn đề” có khi được dùng khi có “vấn đề”, nhất là khi đó là vấn đề tiêu cực. Việc học môn Lịch Sử là việc học bình thường như mọi môn học khác; song, khi nói “vấn đề học Sử” mà không dùng “việc học Sử” thì ắt đã có nội hàm tiêu cực. Vậy “việc” học Sử đã gặp phải “vấn đề” gì và do đâu, là nội dung phân tích từ những trải nghiệm thực tế, thực tình, thực tâm, thực sự sau. Nhưng trước khi vào nội dung chính, nhất thiết cần làm rõ ý nghĩa ở đây là danh từ của Sài Gòn trước 1975 đã đúng hơn và chính xác hơn khi gọi là Việt Sử (từ lớp 6 đến lớp 11) và Thế Giới Sử (lớp 11 và 12), trong khi cứ gọi như hiện nay là Sử thì rốt cuôc chẳng ai biết cái “nhà sử học” XYZ nào đó ở Việt Nam là chuyên gia về Sử gì, chưa kể có rất nhiều thứ Sử ở thế giới tư bản siêu cường hiện đại nên có rất nhiều danh xưng chuyên gia cao cấp chuyên ngành hàn lâm chẳng hạn như Sử Gia Hàng Không, Sử Gia Hàng Hải, Sử Gia Vũ Khí, Sử Gia Thời Phục Hưng, Sử Gia Hội Họa, Sử Gia Thế Chiến II, Sử Gia Chiến Tranh Việt Nam, v.v., như đã nêu trong các bài viết khác trong bảng tham khảo dưới bài viết này.

Người Dạy Việt Sử

Trước tiên, sử gia, giáo sư Việt Sử, hay giáo viên Việt Sử, là những vị có những tài năng kiệt xuất như bác cổ thông kim (uyên bác tinh túy xưa, tinh thông tinh hoa mới, từ đó hiểu biết sâu rộng về những gì cần thiết cấp bách cho việc chấn hưng đạo lý và văn hóa dân tộc, phát triển thật cao ngành Việt Sử học của nước nhà, giải mã làm sáng tỏ các vấn nạn lịch sử, và đề đạt các gợi ý xây dựng đất nước cho nhưng nhà quản trị chuyên môn), tinh tường ngoại ngữ (và cổ ngữ như Tiếng Nôm, tiếng Phạn,v.v., để nghiên cứu tài liệu nước ngoài về Việt Sử và Thế Giới Sử, cũng như để giao lưu với các học giả hàn lâm nước ngoài về Việt Sử), biết lo trước cái lo của người dân (từ nhận thức sâu sắc về vô vàn bài học lịch sử của quốc gia và thế giới mà nghiệm ra đâu là điều tối cần thiết có giá trị sống còn đối với sự an nguy của tổ quốc và đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân để có các kiến giải qua các công trình nghiên cứu hàn lâm), cùng phong cách sống triết nhân (do đã thấm nhuần biến vi xoay vần thời cuộc của các triều đại lịch sử nhân loại trong Thế Giới Sử, và hiểu biết thấu đáo lẽ huyền vi của tạo vật, của trung hiếu tiết nghĩa, v.v.).

Cá nhân một “thầy” dạy Việt Sử dù không tài năng, kém nhân cách, cũng không làm phương hại đến việc học của học sinh, khi cá nhân đó lạc lõng trong cộng đồng các sử gia chân chính và các “thầy” dạy Việt Sử đúng nghĩa. “Thầy” Lê Trọng Phỏng, giáo sư Việt Sử trường trung học Pétrus Trương Vĩnh K‎ý lừng danh của Sài Gòn, khi dạy môn Thế Giới Sử ở trường tư thục Tân Việt hay đem theo cái tẩu hút thuốc làm từ lõi ngô (cùi bắp) Mỹ, khoe với lớp đã mua khi du học tại Hoa Kỳ, nói rằng nó cứng hơn đá, là một trong vô số thứ quà lưu niệm tuyệt diệu nhất trên đời chỉ có ở Hoa Kỳ mà bất kỳ ai đến Mỹ không thể không mua, và vừa gỏ chiếc tẩu ấy lên bàn vừa lên giọng bài xích Liên Xô, kể chuyện tiếu lâm rằng Stalin do hối hận vì đã rút súng lục của Mỹ bắn chết vợ do bà này lắm mồm điêu ngoa, nên đặt làm tấm bia ghi dòng chữ “anh rất tiếc thương hiền phụ” để rồi sau đó một tuần cặp bồ với một phụ nữ khác, rồi bảo Hồng Quân khắc lên bia mộ thêm vài chữ “đến độ không thể sống một mình”. “Thầy” Lê Trọng Phỏng không làm hỏng học trò vì chưa bao giờ có vấn nạn đa số thí sinh thi tú tài hay đại học thời Việt Nam Cộng Hòa có điểm zero môn Sử, vì học sinh nhìn thấy trước mắt họ không phải thầy giáo Việt Sử Lê Trọng Phỏng, mà là một kẻ mất tư cách do “tài năng” và “phong cách” đối nghịch với toàn bộ các thầy dạy Việt Sử họ đã học suốt 12 năm từ tiểu học đến tú tài II. Thái độ của học trò lớp ấy là vào giờ ra chơi đã tụ năm tụ ba gọi “Thầy” ấy là “thằng cha ba xạo”.

Nếu những “tài năng” và “phong cách” là điều mà nếu tất cả các sử gia, các “nhà sử học”, và các giáo viên Việt Sử đều có, ắt đã không khiến “việc” học Việt Sử biến thành “vấn đề” vì bản thân các sử gia, các “nhà sử học”, và các giáo viên Việt Sử là hiện thân của tài năng và phong cách triết nhân, đầy hấp dẫn cuốn hút sự thán phục, kính trọng, được học sinh noi theo, biến học sinh chưa giỏi trở thành giỏi, và học sinh giỏi trở thành giỏi hơn về môn Việt Sử. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp chính là thí dụ lý tưởng, điển hình, đúng nghĩa của một giáo viên dạy môn Sử Ký tức Việt Sử.

Sách Việt Sử

Điểm tiếp theo là về tài liệu dạy Việt Sử. Người viết bài này và bao người cùng trang lứa đã biết yêu nước Việt Nam ngay từ bậc tiểu học nhờ được học môn Sử K‎ý từ sách giáo khoa được in công phu trên giấy thượng hạng, có hình vẽ màu chân thực, nghiêm túc, thật đẹp, với lời văn trau chuốt, với bìa giấy dày mặt phủ giả da và có giòng chữ tiếng Việt ở bìa sau “Sách do Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa biên soạn, được in theo chương trình viện trợ của Cơ Quan USAID Hoa Kỳ”. Mỗi bài trong quyển sách – thí dụ lớp 3 chẳng hạn – dài 3 trang, với trang đầu tiên là tựa bài và hình vẽ màu tuyệt đẹp, còn phần nội dung Việt Sử thì mỗi bài bắt đầu từ ngay dưới của hình vẽ với font chữ lớn cỡ 16, kéo dài hết trang tiếp theo và kết thúc ở trang thứ ba, đặc biệt là cuối bài bao giờ cũng là hai câu thơ trích từ văn học Việt Nam của chính bậc danh nhân của thời đại lịch sử của bài Việt Sử ấy, chẳng hạn bài Việt Sử về Đặng Dung, vị tướng Nhà Trần đã quên mối thù nhà để theo phò vị vua đã nghe lời xu nịnh xử trảm cha mình (tức trung thần Đặng Tất), hết lòng chống giặc ngoại xâm đền nợ nước, giữ yên bờ cõi Việt, đã cùng Trần Quý Khoách, Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Súy tuẫn tiết khi cuộc tập kích Trương Phụ bất thành bị Tướng Minh này bắt sống giải về Yên Kinh, và tôi vẫn còn nhớ thuộc lòng hai câu thơ dùng làm đoạn kết của bài Sử ấy:

          Thù trả chưa xong, đầu đã bạc

          Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài

để rồi sau vài chục năm kiếm tìm do các bài Sử ấy đã không ghi xuất xứ đoạn thơ trích dẫn, tôi mới nhờ internet của ngày nay mà biết được hai câu thơ đó từ nguyên tác nào của Đặng Dung, và đã cố gắng diễn dịch thêm cho đầy đủ thành một bài thơ Đường Luật của riêng mình (nhưng có dùng hai câu thơ trên đã thuộc lòng hơn nửa thế kỷ qua) như sau:

Wordpress Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Su (1)Wordpress Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Su (2)Wordpress Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Su (4)Wordpress Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Su (3)

 

Những bài khác như về Trần Bình Trọng, Phạm Ngũ Lảo, Võ Tánh, Phan Đình Phùng, v.v., cũng được soạn theo cùng chuẫn mực ấy, tức là với sự công phu, sự hiểu biết của những nhà chuyên nghiệp, và tấm lòng của những người yêu công việc, yêu Việt Sử, yêu nước, từ người viết, người vẽ, người sắp chữ, đến người lựa chọn loại nguyên vật liệu in ấn và người cắt xén đóng bìa thành phẩm. Từng quyển sách Việt Sử như thế cho học sinh tiểu học đã hình thành không những trí nhớ thật lâu, niềm tự hào dân tộc thật cao, và cung cách Việt thật vững, đến độ nội dung bài Việt Sử rất khó phai mờ trong tâm khảm học trò, còn niềm tự hào dân tộc thì cao vời vợi đến độ biết bao học sinh trở nên bài ngoại tức chống lại cả cái quốc gia Mỹ đã bỏ tiền tài trợ in nên các quyển sách Việt Sử tuyệt đẹp ấy, vì lòng mong muốn nước Việt Nam phải vinh danh hùng mạnh như tâm huyết của các bậc hùng anh của tất cả các triều đại, không muốn nước nhà nằm dưới ách đô hộ hay cai trị của ngoại bang. Nói vậy để nhìn lại xem các quyển sách Việt Sử cho bậc tiểu học của ta bấy lâu nay đã được soạn như thế nào, có công phu trau chuốt không, và có truyền tải được cái hào khí oai hùng cực cao của dân tộc xuyên suốt liên tục từ thời lập quốc hay không, nhất là có sự điểm tô bằng thơ ca đặc biệt từ các tác phẩm lừng danh của các danh nhân lịch sử của đúng từng thời kỳ đang nói đến chưa.

Riêng đối với nội dung Việt Sử còn nhất thiết phải tính đến một sự thật khác là đã có theo trình tự phân bổ trước trước sau sau chưa. Nhiều sinh viên của tôi nhiều năm trước nói rằng phần Việt Sử liên quan đến cách mạng Việt Nam gọi là Lịch Sử Đảng đã học rất nhiều ở Trung Học, trở thành nội dung chính để thi Tú Tài, vậy mà lên Đại Học lại học y như vậy dưới tên môn khác, biến nội dung này thành nhàm chán ở đại học, gây tác động tiêu cực đến nhận thức của những công dân sắp ra “phục vụ” đất nước. Ngoài ra, trong thời gian dài từ sau ngày giải phóng phần Việt Sử của Việt Nam Cộng Hòa thời kỳ chiến tranh chưa được nghiên cứu, thu thập, đối chứng, biên dịch tham khảo, biên soạn để đưa vào chương trình học Việt Sử, khiến khoảng trống này dễ bị lấp đầy bởi các thông tin sai lệch từ các nguồn không chính thống mà học sinh có thể đọc thấy nhan nhản trên internet.

Phim Tài Liệu Lịch Sử

Vài năm trở lại đây, tivi có những “công trình” phim tài liệu kể truyện lịch sử, với những hình vẽ, những hoạt họa, những âm thanh như đang có xung trận với tiếng vó ngựa, gươm đao, và lời thuyết minh cùng bảng hiện chữ. Ai sẽ là khán giả xem các chương trình đó? Và người xem có thích thú xem? Mà nếu có chịu xem thì có nhớ nội dung “công trình” ấy? Trên đài Discovery có chiếu những phim tài liệu lịch sử do chính Discovery thực hiện, thí dụ phim về Cổ La Mã, Cổ Hy Lạp, về thời hoàng đế này, bà hoàng nọ của Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, v.v. Trong mỗi phim như vậy, họ có thuê diễn viên đóng vai các nhân vật lịch sử (không có lời thoại của các nhân vật vì không phải phim truyện), vận trang phục cổ đại mà các nhà nghiên cứu của họ đã dày công tìm tòi, phục dựng, và nếu về những trận đánh kinh hồn thì tất nhiên họ sử dụng kỹ thuật vi tính tân kỳ để tái lập các trận thủy chiến hay tượng chiến, v.v., y như thật, khiến không những khán giả say mê theo dõi mà người dân của từng quốc gia có lịch sử được Discovery dựng phim tài liệu cũng tự hào với thế giới. Việt Nam ta chỉ có một con đường duy nhất để làm phim tài liệu về Việt Sử: đó là tìm đến Discovery. Không có họ, ta chẳng bao giờ có phim tài liệu về trận thủy chiến kinh thiên động địa Bạch Đằng Giang, trận Hà Hồi – Ngọc Hồi – Đống Đa, Khởi Nghĩa Bà Triệu, Bà Trưng, Hội Nghị Diên Hồng, Phù Đổng Thiên Vương, v.v., hay những thành trì được phục dựng sống động, chính xác, y như thật, v.v., để người Việt và phần còn lại của nhân loại xem, học, nhớ, ngưỡng mộ. Phim tài liệu lịch sử không bao giờ là việc Việt Nam có thể tự thực hiện. Phim tài liệu lịch sử đừng bao giờ là phim hoạt hình.

Kết Luận

Nói tóm lại, vấn đề học sinh Việt Nam có học giỏi môn Việt Sử hay không sẽ tùy vào các yếu tố sau:

1- Giáo viên Việt Sử phải có trình độ tri thức rất cao (vì Sử không chỉ là những sự kiện, những con số ngày-tháng-năm, mà bao trùm cả các biến vi về văn hóa, phong tục, tôn giáo, xung đột, giao thoa, hòa nhập, tan tách, chủng tộc, triết học, triết lý sống, v.v., của nước nhà, của lân bang, và của thế giới), văn hóa rất cao (do nắm vững và hiểu biết hết các biến vi ấy), được học sinh yêu quý và kính phục vì thầy cô thực sự không ngừng có các công trình nghiên cứu Việt Sử có giá trị chuyên ngành, vinh danh Việt Sử chứ không phải uể oải dạy, tích cực nhấn chìm Việt Sử xuống dưới lớp bụi dày của lãng quên và hư mất.

2- Sách giáo khoa Việt Sử phải chuyên nghiệp cao: được biên soạn công phu, tư liệu chính xác, trình bày tuyệt hảo cả về lối hành văn, bố cục và hình vẽ (hay ảnh chụp) minh họa mỹ thuật cao. Đặc biệt chương trình Sử phải trải dài 7 năm trung học theo các bước cơ bản gồm từ Việt Sử (lớp 6 đến lớp 10) tiến đến Thế Giới Sử (lớp 11 và lớp 12), với các lưu ý rằng:

– Việt Sử phải dạy từ đầu đến cận đại tức đến cuối triều đại nhà Nguyễn.

– Do đặc thù Việt Nam, tất nhiên có thêm phần Lịch Sử Đảng cho lớp 11 và lớp 12. Lịch Sử Đảng không nằm trong Việt Sử, vì các lý do như (a) theo hàn lâm, một sự việc chỉ được ghi vào lịch sử sau một thời gian nhiều chục năm qua một quy trình thu thập tư liệu toàn thế giới, nghiên cứu, tổng hợp, biên dịch, phân tích, tranh biện, nên cách tốt nhất và duy nhất đúng là gọi giai đoạn của chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước là Lịch Sử Đảng như từ trước đến nay; và (b) nếu giai đoạn ấy được chính thức ghi vào Việt Sử thì bắt buộc phải ghi luôn phần lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ khi phần về Việt Nam Cộng Hòa được thu thập tư liệu toàn thế giới, nghiên cứu, tổng hợp, biên dịch, phân tích, tranh biện xong, thì mới cùng với Lịch Sử Đảng được chính thức ghi vào Việt Sử, những cũng chỉ đến năm 1975, vì khoảng thời gian từ 1975 đến nay chưa được ghi vào Lịch Sử do chưa đủ thời gian theo yêu cầu hàn lâm và chưa qua quy trình nghiêm ngặt như đã nêu trên. Hoặc tốt nhất là việc tích hợp ấy của Lịch Sử Đảng và Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa vào Việt Sử là dành cho các lớp Khoa Sử ở đại học, thay vì ở cấp trung học. Nếu Việt Sử ở trung học viết đến 1975, và nếu cả Lịch Sử Đảng và Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa đều được đưa vào sử sách, thì sẽ không còn môn Lịch Sử Đảng trừ phi đó là môn nghiên cứu chuyên sâu ở đại học cho các học vị thạc sĩ Việt Sử và tiến sĩ Việt Sử.

– Phần thế giới sử cho lớp 11 và 12 nêu khái quát từ thời các đế quốc cổ đại, khái quát về Đệ Nhất Thế Chiến, tập trung vào Đệ Nhị Thế Chiến do sau đó thế giới hiện tại được định hình. Còn Thế Giới Sử cho thời gian từ cuối Đệ Nhị Thế Chiến cho đến khi kết thức chiến tranh Việt Nam – nếu như Việt Nam đã có thu thập tư liệu toàn thế giới, nghiên cứu, tổng hợp, biên dịch, phân tích, tranh biện – thì cũng chỉ nên đưa vào môn Thế Giới Sử ở Đại Học.

3- Phim tài liệu lịch sử Việt Nam phải đạt yêu cầu hấp dẫn không những học sinh và phụ huynh học sinh, mà còn phải là công cụ truyền bá lịch sử Việt Nam ra nước ngoài, nghĩa là phải do các hãng phim lớn về làm phim tài liệu lịch sử của nước ngoài như Discovery thực hiện bằng tiếng Anh, có ghi phụ đề tiếng Việt, chứ không phải ngược lại.

Tổng hợp các ý tóm tắt trên: môn Việt Sử là môn học cực kỳ quan trọng. Không xem trọng môn Việt Sử, không có lực lượng giáo viên Việt Sử tài hoa ở trung học, không có các “nhà sử học” miệt mài cống hiến duy chỉ cho nghiên cứu Việt Sử, không dành ngân sách thật cao để có thể đáp ứng các nhu cầu thật cao đối với tài liệu và quảng bá lịch sử Việt ra thế giới, thì xem như đã chấp nhận việc học môn Việt Sử nơi học sinh sẽ luôn có “vấn đề”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo thêm:

Thế Nào Là Sử Gia

900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075-30/4/1975

Hồ Chí Minh – Cách Mạng Tháng Tám – Giải Phóng Miền Nam

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn

Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Anh Văn

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn

Bài Viết Sẻ Chia Cùng Giáo Viên Môn Văn Học

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-5-2016

Nhân “lời khuyên” dành cho cô giáo môn Văn có bằng cấp thạc sĩ, tôi xin đăng lại bài viết sau đã post trên Emotino năm 2011. Kính mời bạn đọc tham khảo.

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-11-11

hoawcjNhân có bạn hỏi tôi về bài thơ tếu về Trung Quốc đăng trong bài viết “Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino” post trên Emotino tháng 10 vừa qua, vì sao thỉnh thoảng thấy tôi chêm thơ tôi viết kiểu Đường của Tàu mà không là lục bát của Việt (tôi đáp vì tôi không “cảm nhận” được cái hay của lục bát và vì tôi thích Đường luật ở chỗ nó buộc ta phải chỉ trong ngần ấy câu với 8 dòng mỗi dòng 7 chữ phải nói kỳ hết những điều muốn nói – tức là “cô đọng hình thức và súc tích nội dung), tôi chợt nhớ đến một chủ đề đã lâu chưa có thời gian để viết: đó là vấn đề giỏi môn Việt Văn của học sinh. Cần nói rõ là sau ngày giải phóng, cách bỏ những từ của Sài Gòn như Việt Văn (đổi thành Văn), bỏ các phân loại Cổ Văn và Kim Văn, nhưng chêm vào mấy cách dùng từ chế biến kỳ lạ như “thể loại văn bản” thay thế “văn xuôi”, lấy mấy bài báo làm đoạn văn đọc thêm trong các sách giáo khoa Văn trong khi bản thân các vài báo vừa không là thể loại văn xuôi của văn học vừa không đạt yêu cầu sau thời gian vài chục năm để có giá trị văn học vừa là một thể loại riêng cho cấp đại học, v.v., là những việc làm hoàn toàn sai của ngành giáo dục. Vì vậy, tôi trong bài này vẫn ghi rõ ràng rành mạch là Việt Văn để phân biệt với môn Anh Văn hoặc Pháp Văn hay Hoa Văn, v.v.,  (đang được gọi bình dân hóa là môn Tiếng Anh, vì người ta lẽ ra nên tiếp tục dùng các nhóm từ như: nói tiếng Anh, viết tiếng Anh, học Anh Văn).

Trước hết, như đã nói ở nhiều bài viết rằng tôi có thói quen trữ lưu những bút tích của Thầy Cô và người thân (tức người trong gia đình và …người yêu), do ảnh hưởng của Ba Má tôi, nhất là Má tôi luôn qu‎ý trọng các tờ giấy có chữ Tàu vì cho rằng đó là chữ thánh hiền, không tôn trọng chữ thì làm sao tạo lập sự nghiệp được từ chữ, nên ắt Chị Hai Hoàng Thị Ngọc Sương của tôi đang sống bên Mỹ cũng không ngờ là tôi vẫn còn giữ các báu vật của Chị (tức những “thành tích biểu”, bằng danh dự toàn niên 7 năm trung học, và bút tích của các Thầy Cô của Chị mà Chị trao lại cho tôi giữ hộ trước khi cùng chồng lên đường sang Mỹ cách nay 20 năm) nên hôm nay có thể post “người thật, việc thật, đồ thật” mẫu giấy bài tập sau của Chị, mà tôi muốn mời bạn lưu ý đến lời phê của Thầy giáo (hay Cô giáo) trước khi cho điểm 18/20 (trước 1975 ở Sài Gòn áp dụng thang điểm cao nhất là 20):

Bài làm của Hoàng Thị Ngọc Sương, Lớp 11C10

Ngày Thứ ba, 16-11-1971

Bài thơ Thất Ngôn Bát Cú, Đường Luật, Luật Trắc, Vần Bằng

Nắng Hè

   Nhớ những ngày xưa buổi nắng hè

   Ra ngồi chơi ở bóng cây me

   Rung rinh lá rụng đầy sân cỏ

   Xào xạc chim bay khắp rặng tre

   Thấp thoáng bóng dừa in dưới nước

   Xa xa vịt ngỗng chạy le te

   Mây chiều vương vấn bên đồi núi

   Lẳng lặng ngồi nghe trẻ hát vè.

 

Lời bình của Thầy (hay Cô):

   Ý đượm tình quê quá dịu dàng

   Nghe hồn dân tộc đã mang mang

   Chừ muôn kiếp trước còn mơ tưởng

   Thoáng một làn hương rất ngỡ ngàng

Wordpress_Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Ý nghĩa toát lên từ trang giấy ố vàng trên gồm:

1) Thầy Cô dạy Việt Văn: luôn chứng tỏ bản thân mình không những cũng là (hoặc có tài ngang bằng) các nhà văn, nhà thơ mà còn có những rung động và xúc động trước những áng văn thơ, ngay cả khi đó là sáng tác non nớt của học trò. Việc dạy về thơ, cho bài tập về nhà làm để học sinh sáng tác (chủ yếu muốn học trò phải bộc lộ cho bằng được cái “riêng” của học trò theo sự “thăng hoa” của riêng học trò, từ đó phát triển tính tự chủ, tự lập, sáng tạo trong học tập, tức là khởi điểm cho tính cách nghiên cứu sau này) theo đúng niêm luật, rồi chấm điểm với kiểu viết lời bình bằng một khổ thơ theo kiểu 7 chữ cứ như phân nửa dỡ dang của một bài Đường Luật khác, với nội dung tùy theo bài tập sáng tác của mỗi học trò đem lại người chấm những cảm xúc nào, khiến mỗi học sinh có được các tác phẩm thật hay của Thầy Cô, thêm thán phục Thầy Cô, từ đó thêm yêu môn Việt Văn và thêm giỏi Việt Văn.

2) Học trò học Việt Văn: luôn học Việt Văn như học tất cả các môn học khác, nghĩa là với sự yêu thích, bất kể mục tiêu nhắm đến của cuộc đời phía trước có là Đại học Văn Khoa hay Đại học Y Khoa, chỉ bởi vì Việt Văn là tâm hồn, Việt Văn là con người, Việt Văn là trí hóa, Việt Văn là nền tảng cho sự tiếp cận và tiếp thu mọi tri thức khác, và Việt Văn là phương tiện diễn đạt cốt lõi của các khoa học khác, kể cả các ngoại ngữ khác. Đó là đặc điểm về Việt Văn mà học trò nếu nắm bắt được ắt không thể không thành công khi ra đời đối mặt với cuộc tìm kế sinh nhai, nẽo sinh tồn, và đường sinh sống.

3) Sách giáo khoa môn Việt Văn: Thế nhưng, không phải đơn giản cứ nói học trò “nắm bắt” là cứ tự mà “nắm bắt”, muốn “nắm” gì thì nắm, muốn “bắt” gì thì bắt, vì tất cả tùy thuộc vào chương trình dạy, cách dạy, và bản thân người dạy – tức Thầy Cô giáo môn Việt Văn.

Nếu thực sự hiểu giá trị của và xem trọng chính trị, người ta đã không đem nội dung chính trị vào chương trình Việt Văn quá sớm. Tư tưởng chính trị dành cho những bộ óc trưởng thành hoặc cận trưởng thành, vì thế nên dành lồng chính trị – tức các tác phẩm sáng tác trong thời kỳ chiến tranh bởi lực lượng cách mạng Việt Nam – vào chương trình Việt Văn của các lớp 11, 12.

Ở cấp trung học cơ sở, nên để học trò chạm đến duy chỉ những áng văn thơ trác tuyệt và mang tính kế thừa trước trước sau sau, nghĩa là nếu thơ (tức văn vần) thì tiến dần dần từ những tác phẩm khuyết danh hay hữu danh của người xưa, từ khuôn phép như Nguyễn Công Trứ “phải có danh gì với núi sông”, đến tác phẩm của người không xưa, khoái hoạt, như Trần Tế Xương, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, v.v.; còn nếu là văn (tức văn xuôi) thì vẫn y như vậy, nghĩa là bắt đầu bằng những trích đoạn từ các tác phẩm từ thời Pháp Thuộc đến thời cận đại, bao gồm cả Khái Hưng, Thạch Lam, Nhất Linh, v.v. Sử dụng tài liệu học và tham khảo theo cách này để học trò bị cuốn hút bởi cái đẹp của văn phong, cái vững của tình tiết, và cái thần của diễn tả nội tâm cùng phong cảnh, dù cho đó là nền cũ lâu đài bóng Tịch Dương, hay Thằng Nỡm đang chạy tung tăng nhặt lá bàng, hay hai tai và đuôi vắt chéo lên mông màu xanh lá mạ. Và qua sự giảng dạy điêu luyện của Thầy Cô cùng sự bắt đầu các buổi trần thuyết mà tiếng Việt hiện đại gọi là thuyết trình, học trò càng thêm “tâm phục khẩu phục” với Việt Văn, thích thú Việt Văn, hình thành nhân cách con người từ Việt Văn từ rất sớm, và càng thêm yêu nước.

Nếu để học trò thấy Thầy Cô như cái máy dạy theo giáo án, nghĩa là nếu Thầy Cô có nghỉ phép và giao cho Thầy Cô khác dạy thế, thì nội dung dạy giống y nhau, thời lượng các bước lên lớp y nhau, cùng nhau không có bài văn bài thơ mẫu của Thầy Cô, và cùng nhau sử dụng bài mẫu trong sách giáo khoa giống nhau cấp độ toàn quốc, thì vẫn sẽ có những học trò giỏi Việt Văn theo điểm số có thể đi thi viết những bài văn đoạt giải này giải nọ nhưng thiếu nét riêng của sự vượt ra ngoài chiếc hộp tư duy và chưa chắc trong cuộc sống thực đã có thể viết được một lá thư cho Cha, một đơn khiếu nại giúp Mẹ, hay một đơn xin việc xuẩt sắc, và một bức thư tình đầy chất văn học, văn hóa, nhân văn, nhân bản tầm nhân loại, nói gì đến việc trở thành những nhà văn lớn ngấp nghé giải Nobel Văn Chương. Chưa kể, không phải tất cả các học sinh đều giỏi Việt Văn như nhau, cứ như đã rèn xong thủ pháp cho chính mình cho cuộc đời trước mặt bản thân sắp lao vào, cũng như cho nhân cách của từng em.

Văn là người.

Văn là nhân cách.

Văn là trình độ.

Văn là tất cả.

Vì vậy, học Việt Văn đúng cách, người ta làm việc đúng cách, nghiên cứu khoa học đúng cách, thể hiện tình yêu đúng cách dù cho đối tượng là một người hay cả một quốc gia. Cá tính mỗi người mỗi khác, tự thân bùng nổ hoặc tự thân lặng trầm, tự thân thế tục hay tự thân hướng thượng, mà mỗi người có quyền tự do thể hiện cho riêng mình; song tất cả nếu đã lớn lên từ Việt Văn đúng cách thì cách hành sử sẽ như nhau khi đối với tha nhân.

Dạy Việt Văn đúng cách sẽ làm những công dân tương lai của xã hội làm việc đúng cách, nghĩa là nếu Thầy Cô dạy Việt Văn có thực tài của một nhà thơ nhà văn, Thầy Cô dạy Toán có thực tài của một nhà toán học (qua các bài nghiên cứu thường xuyên trên các tạp chí chuyên đề), thì Dược sĩ tương lai cũng sẽ thực sự là những dược sĩ (có những công trình nghiên cứu vang dội về thuốc trị bệnh), cứ thế mà cả dân tộc tiến nhanh đúng hướng sánh vai với hào kiệt năm châu.

Vấn đề là Thầy Cô dạy Việt Văn có được phép (và đủ tầm) để dạy Việt Văn đúng cách hơn và người học trò học Việt Văn có được cho phép đễ học Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một bác sĩ giỏi, tận tâm, giữ trọn lời thề y học, ta có thể sẽ nhận ra dáng dấp một học trò xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn, từ những Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một công nhân vệ sinh quét dọn rác tươm tất, lịch sự với mọi người, ta có thể hiểu đó là một học sinh xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn dù cuộc đời đã không được thuận lợi dễ dàng để có thể đi trọn đường học vấn.

Hãy nhìn một người bình thường dừng xe ở vạch trắng khi đèn đỏ trời đang mưa lưu lượng xe không đông và bóng dáng cảnh sát thì không thấy, ta có thể hiểu đó là hiện thân của một học sinh ngày xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một học sinh cá biệt, bùng nổ, lúc trưởng thành trở nên người nghiêm túc, có lý tưởng, có trách nhiệm, có lòng yêu nước chân chính, và vì cộng đồng, tha nhân, ta có thể biết ngay đó là từ thành quả của việc học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn những doanh nhân biết trọng danh dự quốc gia, biết gìn chữ tín, và biết vì lợi ích của người dân, vươn cao thoát được sự khinh miệt của thế nhân thủ cựu, ta có thể hiểu đó là hiện thân của những học sinh ngày xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Cứ nhìn một quan chức tuy không cai được thuốc lá, không cai được rượu, nhưng vẫn luôn nói « Không ! »  với hối lộ, tham ô, nhũng nhiễu, quan liêu, hạch sách dân lành, ta có thể biết vị quan ấy là học sinh xưa đã được học Việt Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Khi đọc những nội dung email hay tin nhắn nghiêm túc chỉnh chu trang trọng từ những người lạ hay những người chào hàng, ta có thể biết người lạ ấy là những học sinh xưa đã được học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Và khi đọc báo thấy tin về những chiến sĩ sống nhiều chục năm ngồi tắm nước ngọt trong thau để tái dùng nước tắm ấy cho việc khác trên nhà giàn trơ trọi giữa biển khơi để minh định chủ quyền vùng lãnh hải quốc gia, ta có thể hiểu đó là những học sinh xưa đã được học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Học sinh đã giỏi hơn về môn Việt Văn? Vâng, kết quả điểm số cao môn Việt Văn của những năm học khiến ta có thể tạm hài lòng rằng các em sẽ không thi rớt môn Việt Văn, không gây ra sự cố bẽ bàng đớn đau vô phương cứu chữa như đối với môn Sử.

Song, ta có thể yên tâm nhiều hơn nếu nhân cách các em đã thực sự bừng sáng rõ nét nhờ Việt Văn. Mà đó là trọng trách duy nhất của những thầy giáo cô giáo môn Việt Văn đúng nghĩa thực sự tài hoa.

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo thêm :

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Khiêm Tốn

Đại Học

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Để Đoạt Giải Nobel Văn Chương

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-5-2016

Screen Shot 05-29-16 at 12.45 PM 001

A) Kẻ Bận Rộn

Tôi có thói quen hay tìm đọc những bài báo nước ngoài, những tác phẩm nước ngoài, về những đề tài tôi đã biến thành thói quen tìm tòi từ những năm đại học để có tư liệu và kiến thức phục vụ công việc một giảng viên Anh Văn, đó là về quân sự, vũ khí, thế giới sử, triết sử, tôn giáo, chính trị, môi trường sinh thái, cổ sinh vật học, và văn học nước ngoài. Những nội dung này của thói quen ấy gần đây càng trở nên vừa dễ dàng vừa ít tốn kém nhờ vào phương tiện internet và các công cụ kiếm tìm online. Song, cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà tôi chẳng có thời gian để đọc bất kỳ những gì trái lề trái lẽ trái đạo của bất kỳ ai.

Thời gian trong ngày có hạn nên tôi lại có thêm một thói quen khác để phục vụ thói quen trên, đó là chẳng quan tâm đọc những bài viết chê bai Việt Nam bằng tiếng Việt hay tiếng Anh của người trong nước hay người ngoài nước viết, do nội dung toàn bộ các chủ đề chê bai của các bài viết ấy đều nằm gọn trong sự hiểu biết của tôi, chẳng hạn khi cựu giám đốc Sở Tư Pháp Thành phố Hồ Chí Minh nhân buổi tiếp xúc cử tri của tổ đại biểu số 1 gồm ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch, và tôi, tại Quận 3 cuối năm 2011 cầm micro lớn tiếng chống tôi rồi gởi cho cả ba người bức thư mà theo ông nêu rõ các lý do chính đáng cần phải có Luật Biểu Tình, thì tôi phải trung thực thú thật rằng do biết hết các kiểu lập luận tung hê ý nghĩa của Luật Biểu Tình của bất kỳ ai trên toàn thế giới, tôi đã để bức thư còn trong phong bì niêm kín ấy nơi nào mà đến nay tôi cũng chẳng rõ. Tôi chỉ biết rõ một điều là khi ông ấy tại vị, ông ấy vì giữ ghịt lấy chiếc ghế quyền lực mà chẳng mở mồm đề nghị Nhà Nước sớm cho ra Luật Biểu Tình bao giờ, cũng như chẳng hề viết dự thảo Luật Biểu Tình giúp Nhà Nước đẩy nhanh tiến độ ra Luật Biểu Tình, và ông chẳng làm gì để Thành phố Hồ Chí Minh không còn tầy huầy các vụ khiếu kiện kéo dài hàng thập kỷ của người dân.

Gần đây, các nhà giáo là học trò tôi có cho tôi biết tin cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền Thành phố Hồ Chí Minh đã gởi 8 thỉnh cầu đên bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ, tôi cũng không đọc nội dung mà học trò tôi chuyển bằng email đến, chẳng qua vì tôi có thể hiểu tất cả các thỉnh cầu có thể có cho nền giáo dục Việt Nam, nên dù rất kính trọng cô giáo Hoàng Thị Thu Hiền, tôi vẫn không quan tâm dành thời gian để đọc xem 8 thỉnh cầu ấy gồm những gì.

Và trước cái gần đây ấy, tôi cũng được các học trò cho biết về vụ một giáo viên Văn ở tỉnh nào đó có bằng cấp Thạc sĩ đã đăng một bài thơ lên Facebook mang tựa đề Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh. Tôi cũng theo phong thái cố hữu là sau khi rối rít cảm ơn các em đã không ngừng báo cáo các sự việc diễn ra trong xã hội dân sự, tôi lại tiếp tục tìm đọc trau giồi kiến thức chứ chẳng xem bài thơ đó theo thể nào, gồm mấy câu, gieo vần có chuẩn không. Tôi không cần xem nội dung vì chẳng lẽ tôi lại chưa nắm hết tất tần tật những gì mà những kẻ bất tài vô dụng thường càm ràm ca cẩm về đất nước Việt Nam, về Đảng Cộng Sản Việt Nam, về Chính phủ Việt Nam, về con người Việt Nam, nhất là mới có những sự cố mới tinh xảy ra như tin tức tivi loan tải? Đối với tác giả bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh, tôi có các ý kiến sau, mà tôi biết chắc chắn rằng nếu cô giáo tác giả ấy đọc được bài viết này của tôi sẽ có cơ may tuyệt diệu trở thành văn tài đất Việt đoạt giải Nobel Văn Chương, vì đẳng cấp Thạc Sĩ tại một quốc gia hám chuộng hư danh như Việt Nam luôn máy móc mặc định Tiến Sĩ giỏi hơn Thạc Sĩ, Thạc Sĩ giỏi  hơn Cử Nhân, và ai có mấy cái bằng cấp đại học và trên đại học sẽ tự động trở thành “trí thức”, thì hơn ai hết cô giáo Văn có bằng Thạc Sĩ như tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh lẽ nào không thuộc hàng ngũ đại tài hiếm hoi của ngành giáo không những bản thân sẽ đoạt Nobel Văn Chương mà còn khiến môn Văn trở thành ngành học mũi nhọn ở Việt Nam nhiều nghìn năm văn vật này.

B) Một Ngày Trong Đời

Cuối năm học lớp Nhất (nay là lớp 5) trường Tiểu học Phan Đình Phùng ở Quận 3 Sài Gòn, tôi đoạt giải thưởng toàn niên hạng nhất, với danh dự là Trưởng Đội dự thi Đố Vui Để Học trên Đài Truyền Hình Sài Gòn (tương tự như Đường Lên Đỉnh Olympia của VTV hiện nay) đã cùng các bạn khác là Tống Kim Lan (nay ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh) và Nguyễn Sơn Hải (nay ở Hoa Kỳ) thắng đội nữ sinh áo đầm hồng của trường Hồng Bàng, tôi thấy trong núi phần thưởng ôm về nhà có quyển truyện dịch của tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà lời nói đầu cho biết tác giả là Alexander Solzhenitsyn của Nga Sô (cách Sài Gòn gọi Liên Xô) đã trốn khỏi Nga Sô và được nhận giải Nobel Văn Chương cho tác phẩm ấy. Tác phẩm dày cộm đó bắt đầu câu truyện vào sáng sớm khi các tù nhân lũ lượt ra công trường lao động khổ sai và kết thúc vào buổi chiều tà trong cùng ngày hôm ấy khi các tù nhân lê lết trong tuyết giá trở lại trại giam, cho thấy mức độ khủng khiếp của chỉ một ngày thôi đã ra sao trong suốt thời gian lao động chung thân tại địa ngọc trần gian đó.

Thế nhưng, nay với phương tiện internet, tôi biết bảy chi tiết quan trọng từ thông tin nội khối tư bản phương Tây rằng (a) sự cứng rắn tuyệt đối thời Stalin là có thật do bàn tay sắt có thật đã phát huy tác dụng tối đa có thật trong cai trị đất nước để có thể đơn thương độc mã thật sự đánh thắng Đức Quốc Xã, Phát Xít Ý, và Quân Phiệt Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến; (b) bản thân Alexander Solzhenitsyn chỉ huy một cánh quân Hồng Quân chiến đấu trên các chiến trường chính trong Đệ Nhị Thế Chiến với 2 lần được thưởng huy chương và một Huân Chương Sao Đỏ năm 1944; (c) bản thân Alexander Solzhenitsyn từng bị tù đày từ 1945 đến 1953 tại trại Karaganda ở Bắc Kazakhstan do viết lách chống đối, gọi Stalin là Lão Già Râu Kẽm; (d) sau khi mãn hạn tù đày, Alexander Solzhenitsyn dự theo kinh nghiệm bản thân viết nên tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich để tả lại những hà khắc tại trại lao động mà bản thân ông đã kinh qua, và bản thảo này đã được lãnh đạo Cộng Sản Nga là Nikiti Khrushchev duyệt cho phép in ấn phát hành; (e) Alexander Solzhenitsyn được trao giải Nobel Văn Chương năm 1970 cho tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nhưng ông chỉ gửi bài phát biểu nhận giải chứ quyết định không đi nhận giải tại Stockholm vì sợ bị cấm trở về nước; (f) Alexander Solzhenitsyn bị lên án là kẻ thù của quốc gia, bị tước quốc tịch, và bị trục xuất khỏi Liên Xô năm 1974 sang Tây Đức và trở về Nga năm 1994 khi Liên Xô tan rả; và (g) tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich được nước Anh dựng thành phim nhưng bị nước Phần Lan cấm chiếu.

Screen Shot 05-29-16 at 11.25 PM

Như vậy, không như tuyên truyền hoàn toàn xằng bậy của Việt Nam Cộng Hòa, Alexander Solzhenitsyn (a) không đào thoát trốn khỏi Liên Xô, (b) không bị Cộng Sản “đì” vì viết Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich mà tác phẩm này được chính lãnh tụ cứng rắn Khrushchev cho phép ấn hành, (c) bản thân rất sợ không được cho ở lại đất nước Liên Xô, (d) bản thân không đến Stockholm nhận giải Nobel nên không có chuyện buộc phải sống lưu vong vì Liên Xô phong tỏa đường về, (e) bản thân là người yêu nước chiến đấu trên mặt trận lửa đạn kinh hoàng của Thế Chiến II dưới quân lệnh nghiêm ngặt khủng khiếp của Stalin và có chứng kiến những sự hành quyết quân thù mà sau đó các địa điểm mồ chôn đều được kiểm chứng, và (f) bản thân là tù nhân của trại cải tạo lao động khét tiếng mà bản án còn ghi sau mãn án lưu đày viễn xứ sẽ bị quản thúc suốt đời nơi vùng sâu vùng xa biên cương Kok-Terek.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ câu chuyện về văn hào Alexander Solzhenitsyn là:

Nếu muốn sáng tác rùm beng một vụ việc “tiêu cực” hoặc “đáng sợ” hay “đáng tởm” ở Việt Nam chẳng hạn như vụ “cá thối” thì bản thân cô giáo thạc sĩ nên có thâm niên bản thân hành nghề săn bắt cá, có thực tế bản thân bần cùng khốn khổ do hết nẻo sinh nhai do cá chết sạch mà nhà nước cộng sản Việt Nam chẳng ra tay cứu tế chẩn bần, có thực tế bản thân bị hỗn bệnh tức bệnh hỗn hợp của tịt mũi, tắt tiếng, sưng họng, loét ruột và tiêu chảy vì ăn cá chết ngay tại vùng biển bị nhiểm độc hóa chất ấy, có thực tế bản thân từng nhiều lần được nhà nước trao tặng huy chương vì sự nghiệp bảo vệ môi sinh, có thực tế bản thân yêu đất nước rất sợ bị tước quốc tịch Việt Nam để phải sang Mỹ lưu vong, v.v. Và chỉ cần hội đủ các điều ấy – cộng với việc nhờ một nhà dịch thuật tài hoa nào đó không rõ có ở Việt Nam không để chuyển tải bài thơ Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh ra tiếng Anh thơ ca hàn lâm – thì bảo đảm Giải Nobel Văn Chương không thể nào rơi khỏi tay cô giáo Văn có bằng cấp thạc sĩ ấy.

Do chỉ lo sáng tác toàn tưởng tượng, đơm đặt về đất nước, về chế độ cộng sản, hoặc nêu những sự thật có mức độ tiêu cực bình thường nước nào chẳng có, nên các “nhà văn” hầu như chỉ viết lên những chi tiết điên khùng như chuyện anh bộ đội sau chiến tranh về ôm hít chiếc quần xì-líp phụ nữ, thậm chí nhai nuốt chiếc quần ấy, như sự bung ra của dồn nén tình dục mà đời sống khắc khổ khiến các chiến sĩ giải phóng quân nào cũng bị ức chế hóa điên, chứ không như các chiến sĩ Cộng Hòa lành mạnh tinh thần vì mỗi lần xả trại là đến ngay các khu vực như Ngã Ba Chú Ía tấp nập cung cấp dịch vụ giải quyết sinh lý với giá cả phải chăng cho những anh hùng chống Cộng bảo vệ quê hương. Cũng vì vậy mà tất cả – xin nhắc lại là tất cả – những cái gọi là “tác phẩm” văn thơ mang hơi hướm tấn công tiêu cực hay “hiện thực phê phán” xuất phát từ Việt Nam đều là thứ thậm chí không có được ngay cả cái danh dự được nằm trong sọt rác của ban xem xét giải Nobel Văn Chương mà chỉ cung cấp cho giới chống Cộng có tư liệu bằng vàng để hả hê cười nhạo chế độ Cộng sản Việt Nam, cười nhạo nhiều chục triệu người dân Việt Nam đang sống tự hào tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nghĩa là ngoài sự được ngợi ca bởi những kẻ thù của chế độ và những kẻ không bao giờ nằm trong danh sách những nhà xuất bản danh tiếng hàn lâm toàn cầu, các “tác phẩm” ngay cả có được in ra ở nước ngoài thì cũng chỉ phục vụ một bộ phận không lớn những người gốc Việt hoặc những người ngoại quốc tò mò, rồi quyển này quyển nọ cũng tự động xếp hàng tuần tự trước sau nghiêm chỉnh bước lùi hết vào quên lãng.

C) Trong Trại Tập Trung

Screen Shot 05-29-16 at 03.57 PM

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm văn học nào của nước ngoài để hiểu tính nhân văn nhân đạo luôn là chuẩn mực cao nhất, quyết định sự sinh tồn miên viễn của một tác phẩm với thời gian. Chỉ cần đọc các nhật ký viết trong các trại tập trung Đức Quốc Xã của những bé gái mà ngay cả mộng ước được trở thành cô giáo cũng bốc hơi trong lò thiêu diệt chủng, nói gì đến chuyện được ăn học thành tài, có bằng thạc sĩ, được sống với nghề giáo trong một đất nước hòa bình, ổn định, hào hùng như cô giáo dạy Văn có bằng thạc sĩ nhà ta.

Hãy tìm đọc các quyển nhật ký được viết trên những tờ giấy vàng bẩn được các đoàn quân giải phóng của Mỹ và Liên Xô moi ra được từ những hốc kẹt trong vách tường, như của các cô bé Helga Weiss, Helga Deen, Regina Honigman, Miriam Watternberg, Irena Gluck, Renia Knoll, Halina Nelken, Elsa Binder, Luthka Leiblich, Ilya Gerber, Tamara Lazerson, Gertrude Schneider, mà đặc biệt là Ann Frank, v.v., hay của các cậu bé Alexander Mayer, Dawid Sierakowiak, Dawid Rubinowicz, Yitskhok Rudashevski, Gabik Heller, v.v., để biết rằng sự bất tử của các “tác phẩm” ấy là do (a) được viết nên một cách chân phương chân thật chân chất chân thiết chân thành bởi những người thực sự trong cuộc, thực sự nếm trải mà kết cuộc thực sự của sự nếm trải thực sự đó là thân thể héo hắt trơ xương trần truồng của họ chất chồng trong các lò hơi ngạt; (b) được viết nên với sự trong sáng yêu đời dù trong hàng rào kẽm gai của lao động khổ sai đói lạnh khi chưa bị kêu xếp hàng để tiến đến lò thiêu; (c) nội dung toàn là những sự thật được kiểm chứng qua số liệu kinh hoàng của núi răng bọc vàng nhổ từ các đầu lâu mà các sĩ quan Đức Quốc Xã thu gom; và (d) nội dung về những sự kinh hoàng giống nhau dù được lén viết bởi những bé khác nhau tại các trại tập trung khác nhau ở nhiều nước khác nhau mà quân đội Đức chiếm đóng.

Screen Shot 05-29-16 at 03.54 PM

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương, từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, là: hãy cứ sáng tác các bài thơ bài viết bươi móc các thối hôi của các thùng rác nếu như khẳng định rằng (a) bản thân không thể viết gì tốt hơn, (b) bản thân hiểu rõ nước nào cũng có những thùng rác, và (c) bản thân viết để đừng quên từ vựng tiếng Việt và chỉ để trữ lưu cho cá nhân chứ không để tung lên mạng xã hội vì đã có sự hiểu biết rằng người nghèo khổ có thể bới thùng rác để tìm thứ vẫn còn hữu dụng chứ chỉ có kẻ vô giáo dục mới lấy các rác ấy đi vất khắp hẽm các đường phố như ném một thứ gì đó tiêu cực lên không gian mạng vậy.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những nhật ký của các em bé mà tuổi thơ đã bị giằng ra khỏi tay mẹ cha, bị vất ném vào chốn địa ngục trần gian, chỉ biết yêu cuộc sống của mỗi ngày còn nhìn thấy xung quanh, còn là: nếu thực sự người ta có linh hồn thì các cô bé cậu bé ấy ắt sẽ ngạc nhiên không thể hiểu vì sao trong lúc các em vẫn yêu đời, vẫn làm thơ ngợi ca cuộc sống, vẫn cố kiếm màu để vẽ các cảnh vật xung quanh, thì các bác các chú các cô các dì các mợ ở Việt Nam ăn ngon, mặc đẹp, đi xe tốt, giải trí đủ đầy, tiện nghi thừa mứa, lướt web kết bạn bốn phương tám hướng, học hành tới nơi tới chốn, có người thân ở gần, có đồng bào ở quanh, được dân chủ tự do mà vẫn không nhìn thấy bất kỳ cái gì hay cái gì đẹp ở quanh mình.

Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 001Screen Shot 05-29-16 at 03.49 PM 002

D) Gương Báu Ngàn Xưa

Ngoài sự thật mang tính trải nghiệm bắt buộc phải có của người cầm bút bình thường – huống hồ cô giáo có học vị Thạc sĩ – như đã dẫn chứng qua trường hợp của nhà văn cộng sản Nga Alexander Solzhenitsyn, cùng các em bé tận dụng những ngày trước khi bị ném vào lò hơi ngạt để tập tành làm nhà văn, cô giáo dạy Văn có bằng cấp Thạc sĩ và những người như cô giáo đã hoàn toàn không đọc các tác phẩm của các danh nhân thuộc gương báu ngàn xưa của lịch sử Việt Nam.

Đặng Dung trong hoàn cảnh cha của ông là Đặng Tất bị vua (tức…“chế độ” quân chủ) xử trảm, nhưng ông vẫn ra giúp vua cứu nước, và khi cất tiếng ngâm bi tráng “Thù trả chưa xong, đầu đã bạc; Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài”, Ông đã nói “thù” với nghĩa “thù” quân xâm lược, với nỗi lòng khắc khoải muộn phiền tuổi tác chất chồng mà vẫn chưa giúp vua hoàn tất đại cuộc bảo vệ quê hương. Đó là nghĩa khí nghĩa dũng nghĩa nhân của bậc hiền nhân quân tử Việt Nam. Đó là cung cách sống của tất cả những người Việt Nam có giáo dục.

Bài học kinh nghiệm và lời khuyên cho cô giáo Thạc sĩ tác giả Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh cùng những ai quan tâm nhắm đến giải Nobel Văn Chương từ những gương báu của ngàn xưa của các danh nhân lịch sử Việt Nam mà Đặng Dung làm biểu tượng là:  không phút giây nào đặt danh dự nước nhà thấp hơn sự ngẫu hứng cá nhân, thấp hơn quyền lợi cá nhân, thấp hơn định kiến cá nhân, và thấp hơn chủ quan cá nhân.

Alexander Solzhenitsyn đoạt giải Nobel Văn Chương vì tác phẩm Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denisovich nói lên sự thật mà bản thân ông thực sự trải nghiệm, được lãnh đạo Liên Xô công nhận giá trị, được đất nước cộng sản của ông nhìn nhận giá trị, từ đó lan ra thế giới. Ông không là kẻ hèn hạ viết vớ va vớ vẩn lén lút gởi ra nước ngoài cho những kẻ chống lại đất nước của ông.

Cô giáo dạy văn có bằng cấp thạc sĩ – tuy không rõ bằng thạc sĩ về cái gì – ắt không khó khăn để hiểu bức thông điệp ngắn gọn gởi đến cô qua bài viết không ngắn gọn ở trên, đó là sự kỳ vọng rằng trình độ của cô sẽ giúp cô hiểu vấn đề, thi thố tài năng để cho ra đời những áng văn thơ ngợi ca cuộc đời, làm bật ra được những tốt đẹp mà người đời chưa nhận ra được, để làm cho học trò của cô yêu môn Văn, giỏi môn Văn nhờ thán phục thực tài của cô, giúp môn Văn trở thành môn đỉnh của các anh tài nước Việt, củng cố cho học thuyết của tôi rằng muốn giỏi ngoại ngữ trước hết phải giỏi Văn tiếng Việt, và chẳng thể yêu nước nếu không giỏi Văn tiếng Việt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giới thiệu vài bài đọc thêm:

Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán 23-11-2015

Tuyệt Thực 02-7-2013

Đại tướng Võ Nguyên Giáp 26-10-2013

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phụng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa – Bài Viết Song Ngữ Anh & Việt 01-9-2014

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Đối Lập 06-4-2015

Bức Ảnh Tổng Thống Obama “Ăn Bún Chả” Là Tác Phẩm Xạo

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-5-2016

biahanoi_JVVB

Nguồn ảnh: Internet

Tựa đề bài viết này là nội dung bình phẩm nghe đâu của một ông nhà báo Brazil và của mấy thằng Tàu ở Trung Quốc.

Ông nhà báo Brazil nêu ý kiến trên trang mạng quái gì đấy, và ông không có mặt ở Việt Nam để đưa tin về chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Thống Obama, có lẽ vì tòa soạn của ông nhà báo không phải là thứ gì ghê gớm hoặc ông nhà báo không phải là nhà báo gớm ghê.

Mấy thằng Tàu ở Trung Quốc khi bình phẩm như trên thì rõ mười mươi chúng vẫn còn là hạng bần cùng.

Ở Việt Nam, con cái dòng dõi thế phiệt trâm anh có giáo dục cấp cao từ cha mẹ cao cấp – dù đang giàu có cực kỳ hay đang “nghèo ta vui cảnh nghèo” cực khổ – thì sự tinh tế lịch sự luôn được đặt lên hàng đầu đối với khách đến nhà là người ngoài, nhất là người ngoại quốc. Cách hành xử như vậy giống như khuôn đúc cách hành xử của giới quý tộc Ăng-lê. Khi ở bàn ăn, nếu một vị khách vô ý làm đổ nước súp ra bàn thì những người cùng ăn sẽ ngay lập tức vờ như không thấy, nói ngay chuyện trên trời dưới đất gì đấy để khuấy động tiếng cười đánh lạc hướng làm người sơ ý hay vụng về ấy không phải ngượng ngùng, còn người ngồi bên cạnh sẽ kín đáo vừa nhìn hưởng ứng sự diễn trò của người khác vừa nhẹ nhàng rút khăn tay của mình ra và lẳng lặng đưa qua người vụng về ấy. Người viết bài này trong một lần cùng Ông Trương Tấn Sang, Tiến sĩ Trần Du Lịch tiếp xúc cử tri, đã chăm chú nhìn tập trung lắng nghe một cử tri phát biểu nhưng đã nhẹ nhàng kín đáo lấy ra một gói khăn tissue để chìa qua dưới gầm bàn cho Ông Trương Tấn Sang vì nghe tiếng ông ho hen, sổ mũi.

Vì vậy, một giả định phù hợp nhất cho bức ảnh Tổng Thống Obama “Ăn Bún Chả” sẽ là:

– Khi nhận được kế hoạch “ăn bún chả”, bộ phận an ninh tiến hành kiểm tra bảo đảm an ninh tuyệt đối, trên giăng thiên la, dưới bày địa võng, triệt hạ ngay cả một con kiến con muỗi cố ý hay vô tình hẻo lánh xâm nhập, báo cho chủ nhân biết sẽ có các đại gia đến nên chủ quán phải dọn dẹp sạch sẽ gọn gàng tinh tươm hơn nữa, phải bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm tuyệt đối, ngoài ra còn “động viên” chủ quán rằng các đại gia này khi hài lòng với chất lượng món ăn và cung cách phục vụ sẽ còn trở lại thường xuyên hơn và đông hơn đem lại nguồn lợi lớn cho chủ quán. Chưa kể đầu bếp lừng danh cũng đã đặt trước bữa ăn nên càng làm chủ quán phấn khởi.

– Khi nhận được lịnh xác nhận “chiến dịch ăn bún chả” bắt đầu, bộ phận an ninh lập tức tiến vào kiểm tra giấy tờ các thực khách, đề nghị các thực khách hãy vì thể diện quốc gia mà tuyệt đối không được nhìn chòng chọc vào hai vị khách sắp đến, không được liếc nhìn họ, không được đưa máy ảnh hay phone lên chụp hình họ, vì nếu xảy ra việc họ làm rớt đũa hay đổ nước mắm lênh láng ra bàn thì phải chăng các thực khách sẽ phản ứng tự nhiên là bật cười (làm thượng khách ngượng ngùng) hoặc chạy ào lại giúp đỡ (làm cận vệ Mỹ phản ứng phản xạ nhanh hơn tia chớp rút vũ khí ra khống chế)?

Thế nên, diễn giải cho bức ảnh tuyệt vời ấy là (a) bộ phận tổ chức đã làm công tác tư tưởng rất tuyệt vời về văn hóa và quốc thể, (b) các thực khách may mắn có mặt ngày hôm ấy đã hành xử rất tuyệt vời răm rắp tuân theo các yêu cầu của các cán bộ an ninh, (c) sự răm rắp tuân theo của các thực khách đã tăng thêm tính tuyệt vời cho bức ảnh đang muốn lột tả sự thật rằng Tổng Thống Obama đã hòa mình tuyệt vời vào đám đông bình dân biến mọi việc như bình thường không còn khoảng cách với những người bình thường, (d) sự răm rắp tuân theo của các thực khách đã tăng thêm tính tuyệt vời cho bức ảnh đang muốn lột tả sự thật rằng ngay cả người Việt Nam có thu nhập thấp cũng cực kỳ lịch sự khi tập trung cho thú vui ẩm thực và không bất lịch sự soi mói ngắm nghĩa người “nước ngoài”, và (e) qua tất cả những điều này cho thấy một điều tuyệt vời khác rằng những người bình dân thu nhập bình thường đến ăn tại một quán bé tí bình dị  lại là những người phi thường khi hành xử y như những nhà quý tộc Ăng-lê chứ không phải như mấy thằng Tàu nhà quê ở Trung Quốc.

Chỉ có kẻ nghèo đói thất học mới thèm thuồng bữa ăn 2 ngàn USD. Chỉ có kẻ nhà quê mới luôn cầm trên tay chiếc IPhone dù đang đi bộ ngoài đường, lái xe hai bánh, hay đang tiến vào toilet. Và bọn Tàu ở Trung Quốc không có khả năng trí tuệ để biết chúng ở tận cùng đáy xã hội loài người sang cả.

Người Việt Nam là như vậy đấy: sẽ lịch sự một cách quý phái với người nước ngoài, không nhòm miệng người nước ngoài, không trừng trừng nhìn người nước ngoài.

Nhưng người Việt Nam sẽ nhòm miệng bọn Tàu Trung Quốc để xem chúng ăn gì mà ngu mà ác thế, sẽ trừng trừng mắt nhìn bọn Tàu Trung Quốc để cảnh giác xem chúng có đang sắp động thủ ném ám khí gì chăng hoặc sửa soạn cướp chiếm gì chăng.

Chưa kể bọn Tàu Trung Quốc đâu phải là “con người” .

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhà Giáo Mỹ

“National Teacher of the Year 2016” 

Thử Ngẫm Về Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-5-2016

Bản dịch tiếng Việt từ một email tiếng Anh:

*********

Ngày 06 tháng 5 năm 2016 lúc 2 giờ sáng

From:  …….@……gov.com

To: hhphuoc@yahoo.com

Chào Thầy:

Em là………….. và tuần này em có vinh dự thật lớn lao được vinh danh Quốc Sư  Năm 2016 của Hoa Kỳ.

Em muốn Thầy đọc email của Bộ Trưởng Giáo Dục John King gởi cảm ơn các nhà giáo trên toàn quốc. Cả Thầy và em đều biết vai trò quan trọng mà các nhà giáo đảm trách trong việc xây dựng tương lai cho đất nước, và rằng các nhà giáo nên đi đầu trong sự thay đổi có ý nghĩa vì lợi ích của học trò.

Học trò của Thầy trong nghề giáo,
……………….
From:   John King, Bộ trưởng Giáo dục
Date:   Thứ Hai 2 tháng 5, 2016
Subject: Cảm ơn các bạn nhà giáo

Bạn thân mến,

Tuần này, đất nước chúng ta công nhận và tôn vinh các nhà giáo trên toàn quốc cho những nỗ lực không mệt mỏi của họ vì học trò của chúng ta ở khắp nơi, từ các thị trấn và vùng ngoại ô, cho đến các cộng đồng nông thôn và vùng bộ tộc cùng các thành phố lớn. Các nhà giáo làm một trong những công việc đầy thách thức và hoàn chỉnh: định hình và thay đổi những cuộc đời.

Nếu bạn là một nhà giáo, hoặc nếu bạn quen biết một nhà giáo, bạn sẽ biết những thời gian dài và công sức nhà giáo đã dành ra để thiết kế những bài học đầy thách thức, hướng dẫn học trò và cung cấp thông tin phản hồi, gắn bó với bố mẹ và gia đình học trò, cộng tác với đồng nghiệp, thể hiện qua giảng dạy, và không ngừng cập nhật nghiên cứu.

Song, nhiều việc bạn cũng thực hiện lại mang tính phi vật thể – đó là củng cố ngọn lửa gần như không thể tả được nhưng không thể nhầm lẫn giữa bạn và học trò của bạn. Ngọn lửa ấy hiện hữu khi bạn nhìn thấy được tiềm năng của mỗi học trò nào bước vào qua cánh cửa của bạn, ngay cả khi học trò ấy có thể chưa nhận ra năng lực bẩm sinh của riêng mình.

Đối với tôi, tầm quan trọng của giáo viên mang tính cá nhân. Thầy Cô của tôi đã cứu cuộc đời tôi qua việc dành cho tôi sự yêu thương, sự hỗ trợ, sự an toàn, và những kỹ năng đặt nền móng cho rất nhiều những cơ hội tôi đã may mắn có được trong suốt sự nghiệp của mình trong ngành giáo dục.

Dạy học thực sự là một nghề nghiệp đặt bệ phóng cho mọi sự nghiệp. Cảm ơn các bạn đã chia sẻ với các học trò của mình niềm đam mê của bạn dành cho các ngôn ngữ, âm nhạc, văn học, toán học, khoa học, kịch nghệ, lịch sử, và vô số các môn học khác. Cảm ơn các bạn đã trao quyền cho giới trẻ của chúng ta và thúc đẩy hơn nữa công bằng xã hội bằng cách không bao giờ hài lòng cho đến khi tất cả trẻ em được tiếp cận với một nền giáo dục tuyệt hảo.

Chúng tôi hiểu rằng tiếng nói của nhà giáo là một phần quan trọng của những đối thoại ảnh hưởng đến học trò cũng như nghề giáo của bạn, và chúng tôi cam kết đảm bảo các bạn được hỗ trợ để bạn có thể hàng ngày làm tốt nhất công việc của bạn thay mặt cho trẻ em của chúng ta.

Hôm nay và từng ngày một, chúng tôi chào mừng và cảm ơn các bạn vì vai trò quan trọng các bạn đã giữ trong việc hỗ trợ học trò và tăng cường sức mạnh cho tương lai của đất nước chúng ta.

Với lòng biết ơn to lớn,

John B. King, Jr.
Bộ trưởng Giáo dục
Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ

*********

Hình thức cùng nội dung của bức email trên đã nêu bật rằng

1) Vai trò của Bộ Trưởng Giáo Dục Mỹ rất to lớn, rất thực quyền và thực uy, rất mang tính trách nhiệm cá nhân, cũng như quan trọng bậc nhất và duy nhất trong nền giáo dục Hoa Kỳ; và rằng

2) Tương tự, vai trò của nhà giáo Mỹ rất to lớn, rất mang tính trách nhiệm cá nhân trong đáp ứng các yêu cầu của nghề giáo, kể cả hai việc bình thường luôn có của không ngừng nghiên cứu cập nhật kiến thức và truyền tải được niềm đam mê học tập từ bản thân lan tỏa sang các học trò đối với tất cả các môn học.

 

Thử ngẫm và thử nghĩ:

Tại sao học trò Việt Nam không đam mê học Sử? Việt Sử và Thế Giới Sử?

Và tại sao học trò Việt Nam bị tước đoạt quyền được tiếp cận đại dương kiến thức qua việc “bị” miễn / giảm số lượng môn học và môn thi để nhóm từ “and myriad other subjects” tức “và vô số các môn học khác” vĩnh viễn không bao giờ tồn tại trong các diễn văn của lãnh đạo nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Khởi Nghiệp Entrepreneurship hay Intrapreneurship

Nhận Định Duy Nhất Đúng Về Khởi Nghiệp – Bài Viết Dành Cho Giới Trẻ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-5-2016

A- Vấn Nạn

Như đã được đề ra trong các phát biểu bởi những vị lãnh đạo nhà nước hay tại các hội thảo chuyên đề được tải đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam đã và đang có vấn nạn về số lượng bội thực của “đào tạo” cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, số lượng gần như bằng zero những “công trình nghiên cứu” của các vị này trên các tạp chí quốc tế khoa học chuyên ngành, cũng như số tỷ lệ cao ngất ngút hàng năm về thất nghiệp của các vị này.

Từ những gì đã được đề ra trong các phát biểu bởi những vị lãnh đạo nhà nước hay tại các hội thảo chuyên đề được tải đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam dường như đã và đang rất phấn khích đối với chủ đề “khởi nghiệp” mà nội hàm của “khởi nghiệp” bị vô tình hay cố ý nhầm lẫn để chỉ ôm gọn trong nó ý nghĩa duy nhất của “khởi nghiệp doanh nghiệp”, khiến người người sau khi nườm nượp tiến vào các trường đại học, nườm nượp giơ cao tấm bằng đại học, lại nườm nượp mơ màng nuôi mộng trở thành những nhà khởi nghiệp entrepreneur.

Như đã được tác giả bài viết này phân tích trong bài viết trước đây về chủ đề “cẩm nang khởi nghiệp”, lẽ ra người ta đã phải có sự phân định rạch ròi giữa “khởi nghiệp sự nghiệp” tức “khởi nghiệp cá nhân”, “khởi nghiệp doanh nghiệp” và “khởi nghiệp quốc gia” trước khi quảng bá hay hô hào về cái gọi là “khởi nghiệp” để giới trẻ tránh được sự lầm lạc trong ma trận mê cung mà kiếm hiệp gọi là tẩu hỏa nhập ma, vì đối với mọi con người có sự lành mạnh trong cả sức khỏe tinh thần và tâm thần thì khởi nghiệp sự nghiệp mới là điều duy nhất quan trọng cho cả cuộc đời mỗi người.

Khởi Nghiệp Sự Nghiệp còn gọi là khởi nghiệp cá nhân khi một con người có (a) tâm huyết, (b) ý chí, (c) sở thích, (d) sở trường năng lực, (e) hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội, đã dựa trên tất cả năm thứ tương tự hành trang hay trang bị cần và đủ này để lập kế hoạch thích hợp ngay khi còn dưới mái trường trung học cho chính tương lai của mình. Tâm huyết cho biết ý nghĩ của bản thân đã hướng thượng ra sao đối với một lý tưởng – đặc biệt khi phạm trù “lý tưởng” chỉ có thể phát sinh, dưỡng nuôi, phát triển, và tồn tại chỉ khi người ta còn rất trẻ để từ đó hoặc thui chột biến mất theo tuổi tác hoặc thăng hoa bất kể tác động tàn phá của thời gian. Sở thích còn gắn liền với sở trường năng lực trong trường hợp sở thích đồng thời có kèm theo năng lực năng khiếu đáp ứng tương hợp với sở thích. Và hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội để giúp một người đi đến quyết định lựa chọn hợp lý theo đạo lý, từ đó bản thân (a) không vướng vào tình cảnh nhẫn tâm khi buộc cả cha mẹ và anh chị em phải hy sinh để cung ứng cho mình điều kiện trèo lên bậc thang có gắn chữ “đại học” hào nhoáng hữu danh vô thực, (b) không đặt bản thân vào tình cảnh gia nhập đoàn quân thất nghiệp của tập đoàn quân cử nhân – thạc sĩ – tiến sĩ, (c) chủ động cho cuộc mưu sinh của bản thân đáp ứng đúng nhu cầu của xã hội từ đó có thể cưu mang sự sống của đấng sinh thành cùng tương lai của các em mình cũng như gia đình riêng của mình.

Đặc biệt, khi một cá nhân trở nên xuất chúng với nghiệp vụ của mình – nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao đặc thù – được một công ty tầm cỡ tuyển dụng để có môi trường phát triển mạnh mẽ nhất về tài năng, người ấy có thể được gọi là một nhà khởi nghiệp sự nghiệp tức intrapreneur.

Như vậy, đâu là sự khác biệt giữa nhà khởi nghiệp entrepreneur mà quá nhiều bạn trẻ Việt Nam trong thời hiện đại mơ màng đến, và nhà khởi nghiệp intrapreneur mà hầu như chỉ có tất cả các bạn trẻ thời Việt Nam Cộng Hòa đều sống theo như thế để rồi hện nay trở thành trào lưu của các tổng công ty hùng mạnh ở Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao và y-sinh-dược học?

B- Nhận Diện Vấn Đề

1) Entrepreneurship

Khởi nghiệp Entrepreneurship là khi một nhà khởi nghiệp entrepreneur chấp nhận “lời ăn, lỗ chịu” đứng ra mở một doanh nghiệp nhỏ để làm chủ nhân doanh nghiệp ấy, trên cơ sở bản thân vững tin vào ý tưởng kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ của mình, nhất là khi ý tưởng ấy mang tính đột phá, sáng tạo, có khả năng kiến tạo lợi nhuận, dù không thể phủ nhận có sự tiềm tàng những rủi ro thất bại cho sự dấn thân này.

2) Intrapreneurship

Khởi nghiệp Intrepreneurship là khi một người tài giỏi được thuê làm việc cho một công ty lớn và công ty này cung cấp các phương tiện làm việc tối ưu và tối tân phục vụ cho việc nghiên cứu sáng tạo của người tài giỏi ấy, chấp nhận các rủi ro thất bại bất kể các đầu tư tài chính khổng lồ.

Thật ra từ ngữ nhà khởi nghiệp intrapreneur xuất hiện từ năm 1978 và trở nên phổ biến khi được giới truyền thông sử dụng năm 1985 qua phát ngôn của Steve Jobs, Chủ Tịch Apple, và chính thức được ghi vào quyển từ điển The American Heritage Dictionary of the English Language năm 1992. Nếu như entrepreneur là một doanh nhân làm chủ một doanh nghiệp nhỏ, tự lo vốn để hoặc thực hiện sáng kiến của mình hoặc chạy theo thời cùng thị hiếu của thị trường, thì intrapreneur là một doanh nhân làm việc cho một doanh nghiệp lớn để phát huy sáng kiến, sáng tạo, thực hiện biến các sáng kiến, sáng tạo ấy của mình thành những đột phá lợi nhuận cho doanh nghiệp cưu mang mình, theo sự chu cấp tài chính dồi dào của doanh nghiệp lớn ấy. Có thể nói rằng một intrapreneur là một entrepreneur nội bộ của một công ty lớn, tại đó một intrapreneur được chủ động như một entrepreneur nhưng với nguồn cung cấp tài chính dồi dào cùng nguồn nhân lực của công ty lớn ấy để thực hiện sáng kiến sáng tạo của mình cho đến khi thành công mà không bị lâm vào hoàn cảnh của entrepreneur do entrepreneur phải gánh chịu trách nhiệm về tài chính cho mọi thất bại.

Những thí dụ điển hình cho sự động viên “người tài” nội bộ trở thành intrapreneur chủ động theo đuổi dự án riêng, phát huy sáng kiến sáng tạo và thực hiện sáng kiến sáng tạo ấy bằng tiền của công ty thường được đưa ra làm dẫn chứng như tại các công ty Lockheed Martin, 3M, HP, Intel, Google, Xerox, Siemens, và Microsoft, v.v., có nơi lập hẳn một chương trình dài hạn nhằm biến 300 manager (cấp quản lý cấp cao) của họ thành những intrapreneur có khả năng nhận diện cơ hội kinh doanh mới, có tiềm năng lợi nhuận cao, và thực hiện các dự án “tự tìm ra” mang tính đột phá mới lạ hấp dẫn ấy.

Tránh né rủi ro, khiếp sợ thất bại, và trừng phạt sự thất bại là những đặc thù của doanh chủ entrepreneur khiến những điều lý tưởng như phát huy sáng kiến kinh doanh của bản thân hoặc chỉ thực hiện được ở giai đoạn “khởi nghiệp doanh nghiệp” hoặc khó trở thành hiện thực hoành tráng cụ thể về sau do thiếu tài lực chịu đựng các rủi ro, thất bại. Điều này lý giải vì sao mặc cho trên lý thuyết luôn có sự ngợi ca hô hào động viên phát huy các sáng kiến sáng tạo đột phá siêu lợi nhuận tại tất cả các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp vẫn thất bại về mặt phát huy này.

C- Đặc Thù Việt Nam

Như đã nêu ở trên, dạng thức Intrapreneurship đã tồn tại đương nhiên mặc định nơi giới trẻ của Việt Nam Cộng Hòa. Thế nhưng, vì sao hiện nay Intrapreneurship lại trở thành vấn đề thời thượng tại siêu cường Hoa Kỳ? Từ sự tồn tại đương nhiên mặc định, Intrapreneurship trở thành bài bản phát triển chuyên nghiệp mang tính thế lực trỗi vượt cạnh tranh cực cao của các đại gia tư bản do tác động tích cực của Intrapreneurship đối với sự phát triển tổ chức cùng gia tăng lợi nhuận của tổ chức qua thực tế chứng minh rằng các đại gia tư bản nào hình thành cơ cấu và cơ chế ủng hộ sự dấn thân của các doanh nhân Intrapreneur sẽ biến đại công ty thiên hẳn về Intrapreneurship và có cơ hội lớn hơn đối với sự phát triển so với các đại công ty khác có hoạt động Intrapreneurship kém được quan tâm hơn.

Tại Việt Nam Cộng Hòa, học sinh như có khả năng thiên phú trong vô thức tự thân sẵn có các trang bị của năm vũ khí như đã liệt kê ở trên trong phần A nói về Khởi Nghiệp Sự Nghiệp tức khởi nghiệp cá nhân bao gồm (a) tâm huyết, (b) ý chí, (c) sở thích, (d) sở trường năng lực, (e) hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội. Từ những nhận thức mang tính vô thức này, học sinh chủ động khôn ngoan lựa chọn con đường dấn thân của mình để hoặc đi theo con đường trường kỹ thuật (mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay đã hoàn toàn sai khi hạ phẩm giá thành “trường nghề hay trường cao đẳng nghề”) từ năm học lớp 9 để nhanh chóng tốt nghiệp dấn thân cho sự nghiệp thiên năng khiếu kỹ thuật này với danh xưng đầy danh dự của các “cán sự”, hoặc tiếp tục đi theo con đường nhiêu khê mất thời gian hơn để kết thúc lớp 12 với kỳ thi Tú Tài lắm rủi ro trước khi đối mặt với kỳ thi đại học cực kỳ khó khăn, hoặc đi theo đường binh nghiệp.

Tại Việt Nam ngày nay, học sinh hầu như không còn khả năng thiên phú trong vô thức tự thân như trên, dẫn đến hiện trạng học sinh lớp 12 vẫn chưa thể khẳng định sự liên kết chặt chẽ giữa cái mình muốn trở thành gì, mình có năng lực cho cái mình muốn trở thành ấy không, xã hội có chào đón cái mình muốn trở thành ấy không, và gia cảnh có đòi hỏi mọi người phải hy sinh tất cả để mình được vào đại học – chứ không phải để mình trở thành cái mình muốn trở thành. Đại học trở thành từ ngữ duy nhất chứ không là một thành tố của các sự lựa chọn cân đong đo đếm của học sinh, do có sự xuất hiện tràn lan của các trường đại học cùng cả ngàn phân khoa đói khát sinh viên, cũng như do việc thi cử hoặc bị tầm thường hóa thành “chỉ hỏi những gì đã học trong chương trình học” thay vì kén chọn năng khiếu người tài, hoặc bị triệt tiêu không cần thi cử để “đáp ứng nhu cầu học đại học của toàn dân”. Và chính sách giáo dục như thế của nhà nước đã triệt tiêu tất cả nỗ lực của chính nhà nước trong các kế sách phát triển các “trường nghề” nhằm đáp ứng nhu cầu quá cao trong xã hội khi công nghệ kỹ thuật dù được vinh danh trong quốc sách “hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước” ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước vẫn chưa bao giờ được đặt ở vị trí trang trọng đúng ra luôn là của nó.

Với sự khập khiểng như thế từ khâu đào tạo và cấp phát văn bằng, người thụ  hưởng – tức các học sinh – lại bị huyễn hoặc bởi các hào quang giả trá của “quản trị kinh doanh” và bởi sự ra rả mọi lúc mọi nơi về “tinh thần khởi nghiệp”, nên vô tư hăng hái trả lời phỏng vấn rằng “Em muốn trở thành Bill Gates”, rằng “Em sẽ mở doanh nghiệp”, rằng “Em muốn làm một doanh nhân”, v.v. và v.v.

Với sự khập khiểng như thế từ khâu đào tạo và cấp phát văn bằng, người thụ  hưởng – tức các học sinh – hưởng thêm lợi lộc từ sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại của tất cả các trường đại học nước ngoài (như giảm học phí, cấp học bổng bán phần, chấp nhận cho học thêm tiếng Anh sau do kém tiếng Anh, chấp nhận cho học thạc sĩ quản trị kinh doanh mà không cần phải có tối thiểu bao nhiêu năm làm việc thực tế sau tốt nghiệp đại học, v.v.) nên việc du học luôn ở trong tầm tay của đa số, dẫn đến việc trí hóa chưa kịp hoặc không thể trưởng thành khiến vừa sang nước ngoài du học đã lớn tiếng chê bai nước nhà, to giọng mắng nước nhà không biết trọng dụng nhân tài do bản thân học xong chẳng biết nước nhà có việc gì làm không và thù lao có tương xứng hay không, v.v. và v.v.

D- Kết Luận

Vì vậy, bạn trẻ hỡi, hãy là người tài để bản thân mình làm một intrapreuneur và khi đã trở thành một intrapreuneur thành công, bạn hãy lựa chọn một trong hai con đường rộng mở trước mặt:

1) Tiếp tục là một intrapreuneur ngày càng thành công hơn, danh tiếng lẫy lừng hơn; hoặc

2) Chuyển sang làm một entrepreuneur trên cơ sở đã hội đủ cùng lúc bốn yếu tố của (a) vốn liếng nghiệp vụ cao trên thương trường sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, (b) vốn liếng uy danh cao trên thị trường sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, (c) vốn tài chính cao trong “chiến trường” sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, và (d) khả năng thành công gần như tuyệt đối từ ba loại vốn trên.

Tương tự bất kỳ quốc gia lành mạnh nào khác, Việt Nam cần có thật nhiều những người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur để làm cơ sở mang tính nền tảng cho sự phát triển các entrepreuneur thành công.

Tương tự bất kỳ quốc gia lành mạnh nào khác, Việt Nam không cần có quá nhiều người khởi nghiệp doanh nghiệp entrepreuneur trong khi xã hội đang có vấn nạn thiếu vắng các người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur.

Một cách lành mạnh, bạn hãy rèn luyện – dù ở Việt Nam hay ở nước ngoài – để  trở thành một người tài cho một sự nghiệp cá nhân của bạn tại một đại công ty. Cần nhớ rằng tấm văn bằng bạn đạt được dù do năng lực cao thật sự của chính bản thân bạn, thì cũng chẳng nói lên được điều gì vì “học giỏi” còn đòi hỏi thời gian “hành giỏi”, vì qua “hành” bạn mới chứng minh được năng lực của bạn trong biến tri thức thành thực tiễn hiệu quả trong một môi trường làm việc phức tạp của một tập thể đa dạng với tính cạnh tranh khắc nghiệt, tất cả minh chứng cho sự thành công của bạn để tồn tại, qua đó bạn trở thành kết quả cụ thể của một quá trình học hành thành công.

Ngay cả khi bạn học thành tài tại Việt Nam nhưng rời Việt Nam làm việc cho nước ngoài, hoặc bạn học thành tài ở nước ngoài nhưng không về Việt Nam thì đây vẫn là chuyện bình thường, đặc biệt nếu như bạn là ngôi sao về Vật Lý Nguyên Tử, Vật Lý Thiên Văn, Vật Lý Vũ Trụ, Công Kỹ Nghệ Hóa Sinh, v.v. mà ở Việt Nam bạn không thể phát huy sự nghiệp khoa học cũng như không thể có các tài trợ và phương tiện phục vụ tối ưu cho các nghiên cứu của bạn. Bạn hãy làm việc cho Cơ Quan Nghiên Cứu Vũ Trụ NASA của Hoa Kỳ. Bạn hãy làm việc cho công ty sản xuất chiến đấu cơ phản lực chiến thuật Lockheed Martin. Bạn hãy làm việc cho bất kỳ ai, miễn bạn luôn là người Việt Nam tốt lành. Thầy Trần Chung Ngọc, sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, giảng sư Vật Lý đại học Mỹ, cố vấn chính phủ Singapore, luôn là người tả xung hữu đột đơn thương độc mã tại Hoa Kỳ viết hàng ngàn bài blog bảo vệ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chống lại bất kỳ kẻ chống Việt Nam nào dù đó là thế lực phản động hay thế lực tôn giáo chống Cộng. Thầy Trần Chung Ngọc không “đóng góp” công sức giảng dạy đại học cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không “đóng thuế” cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bạn hãy làm sao trở thành bậc kỳ tài như Thầy Trần Chung Ngọc: luôn vì đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chỉ cần như vậy thôi là bạn đã làm vinh danh đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam rồi vậy.

Hãy là một intrapreneur thành công tại một đại công ty trước khi làm một entrepreneur của một công ty nhỏ bạn ạ, vì rằng có như thế bạn với tư thế một người tài mới có nhiều cơ may thành công hơn khi quyết định “ra riêng”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết của Hoàng Hữu Phước:

Khởi Nghiệp:

  1. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Khởi Nghiệp
  2. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore
  3. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Người Tài:

  1. Thầy Trần Chung Ngọc: http://hhphuoc.blog.com/?p=89
  2. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!
  3. Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh
  4. Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Giáo Dục:

  1. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai
  2. Tấm Lòng Cựu Nhà Giáo
  3. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân
  4. Thế Nào Là Doanh Nhân
  5. Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam
  6. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Phá Luật

Tôi Thấy Mình Trong Phim

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-4-2016

Cách nay 3 hay 4 năm tôi có xem một bộ phim trên đài HBO, tựa đề Dead Poets Society (nghĩa tiếng Việt là Hội Những Nhà Thơ Quá Cố) và tôi đã xúc động khi thấy mình không còn là kẻ cá biệt lẻ loi vì rằng tôi đã thấy mình trong phim.

Dead Poets Society là bộ phim Mỹ do hãng Walt Disney – Touchstone Pictures phát hành giữa năm 1989, tiêu tốn hết gần 17 triệu USD, đạt doanh thu gần 250 triệu USD. Bộ phim xoay quanh việc Thầy giáo Anh văn John Keating (do Robin Williams thủ vai chính) đã thông qua các tiết dạy thơ ca của mình truyền được cảm hứng nơi học trò ở Học Viện Welton ở Vermont dành cho giới quý tộc bảo thủ trong bối cảnh Hoa Kỳ của thời gian 1959. Với những gò bó bởi truyền thống, danh dự, kỹ luật và đẳng cấp siêu đẳng, nhiều sinh viên chẳng hạn như Neil và Todd bị áp lực của cha mẹ bắt buộc phải trở thành bác sĩ và luật sư trong khi bản thân hai em lại có thiên hướng khác, thì kiểu dạy của ông Thầy giáo tiếng Anh John Keating mới đến nhận công tác đã quá phá cách phá lệ phá rào phá luật so với khuôn mẫu chuẩn mực của Học Viện Welton: Thầy Keating dẫn sinh viên bỏ ra ngoài thực nghiệm thực tế, còn lúc trong giảng đường thì đọc bài giới thiệu trong quyển giáo trình thơ ca rồi cười nhạo nó dị hợm và bảo tất cả các sinh viên xé vất bỏ ngay trang giới thiệu ấy khỏi giáo trình, hoặc kêu sinh viên hãy leo lên đứng trên bàn của Thầy y như Thầy leo đứng trên bàn sinh viên để nói xem các em đã nhìn thấy thế giới quanh mình có gì khác biệt, v.v. Các sinh viên về sau phát hiện Thầy Keating là cựu sinh viên Welton từng ra sức gầy dựng lại cái gọi là Hội Những Nhà Thơ Quá Cố mà Thầy là thành viên thường hay tụ tập xướng họa tại một hang động cách trường không xa mà ban giám hiệu nhà trường liệt vào loại bất hảo bất lương bất hợp pháp. Nhiều sự việc sau đó đã xảy ra như (a) Todd rớt bài viết luận nên Thầy Keating dẫn dắt Todd qua một quá trình tập luyện viết diễn đạt, nhờ đó nhận ra năng khiếu đặc biệt nơi sinh viên này; (b) Charlie viết bài báo tường nêu ý kiến là trường nên có tuyển nữ sinh để rồi nhận lấy cơn thịnh nộ từ Hiệu Trưởng, và Thầy Keating lập tức theo sát động viên, ủng hộ, với lời khuyên hãy khôn ngoan hơn khi chống lại nhà trường; (c) Knox nhận ra trong mình sự ưa thích mới mẻ đối với thơ ca, và khi được Thầy Keating tán thưởng nhiệt liệt khi Knox đọc trong lớp một trong những bài thơ tình của mình, Knox đã can đảm tìm đến trường nữ trung học tìm gặp nữ sinh Chris để đọc bài thơ ấy tặng cô và có được tình yêu của cô; còn (d) Neil đã nói ở trên muốn trở thành kịch sĩ nên lẻn đi đăng ký thi tuyển chọn phân vai cho nhân vật Puck trong vở Giấc Mộng Đêm Hè (A Midsummer Night’s Dream) của Shakespeare, và khi không có đủ can đảm theo lời khuyên của Thầy Keating hãy giải bày cho cha mẹ mình thông hiểu, Neil đã bị bố giận dữ xông lên sân khấu khi đang diễn xuất để lôi cổ về tuyên bố phải chuyển sang học Đại học Harvard theo nghiệp y khoa, khiến trong cơn tuyệt vọng và xấu hổ Neil đã tìm đến cái chết. Theo yêu cầu của cha mẹ Neil, hiệu trưởng tổ chức cuộc điều tra và buộc học trò đẩy Thầy Keating ra làm vật tế thần. Charlie bị đuổi học vì đấm Cameron khi biết cậu này tố cáo Thầy và rủ rê bạn bè cùng tố cáo Thầy Keating. Todd bị cha mẹ và trường buộc ký tên vào bản cáo buộc Thầy Keating lạm dụng quyền hành, kích động học trò tái khởi động cái câu lạc bộ phi pháp mang tên Hội Những Nhà Thơ Quá Cố ấy, cũng như xúi giục Neil chống lại cha mẹ, khiến đẩy Neil đến chỗ tự sát. Bản cáo buộc ấy đã có nhiều chữ ký của các sinh viên khác. Và Thầy Keating bị sa thải. Lúc lớp tập trung học giờ tiếng Anh với sự giảng dạy của thầy giáo khác, Thầy Keating bước vào lấy lại vài vật dụng cá nhân. Todd đứng lên xin lỗi Thầy Keating, tuyên bố tất cả các bạn đều đã bị đe dọa buộc phải ký tên chống lại thầy. Thầy giáo mới lập tức quát bào Todd câm miệng lại và bảo Thầy Keating phải cút đi ngay. Todd lập tức leo lên bàn đứng; và dù thầy giáo mới quát bảo Todd phải ngồi xuống ngay nếu không muốn bị đuổi học, nhiều sinh viên lần lượt cùng leo lên đứng trên bàn học, kiểu mà Thầy Keating đã thực hiện trước đó như một phá cách phá rào phá lệ cho sự làm khác và nhìn khác. Thầy Keating lầm lũi bước đi với vẻ xúc động tột cùng trước sự tiễn đưa như thế.

Keating

Lúc khởi nghiệp làm thầy giáo tiếng Anh tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã từng phá cách phá rào phá lệ phá luật.

Như đã từng viết trong một bài blog nào đó tôi có nói về việc tôi đã khơi dậy trong sinh viên – thậm chí là sinh viên lớp “Kế Hoạch B” nghĩa là ở các tỉnh phía Nam mà đa số chưa từng học tiếng Anh đủ số thời gian 7 năm trung học – lòng yêu thích sáng tác thơ văn tiếng Anh, và tôi có đăng một thí dụ như bài “A Long Long Lapse of Time” của em Trần Duy (hiện sống tại Hoa Kỳ). Tôi thậm chi còn muốn – nhưng đã không bao giờ được cho phép – phát hành tuần san hay nguyệt san tiếng Anh do tôi làm “tổng biên tập” và các sinh viên của tôi làm “cộng tác viên” để sinh viên toàn trường có cơ hội trau giồi và thưởng thức tiếng Anh. Lý do của sự cấm đoán ấn hành là: không ai trong ban lãnh đạo hiểu các bài thơ bài văn ấy nói về cái gì, có phản động không, có đúng đường lối chủ trương của Đảng không, có nhằm hun đúc con người mới xã hội chủ nghĩa không, và có bị tiêm nhiễm khuynh hướng lãng mạn tiểu tư sản không. Một cô giáo đồng nghiệp cũng theo gương tôi và cũng đã có những sinh viên được cô truyền cảm hứng để sáng tác thơ ca tiếng Anh, và tôi cũng đã từng đưa một bài thơ tiếng Anh của cô sinh viên Lâm Hoàng Yến lên blog, từ tuyển tập thơ ca viết tay bằng mực tím gởi tặng cô giáo ấy, mà cô giáo này về sau trở thành vợ tôi nên tôi được xem quyển tuyển tập thơ ca bí mật dễ thương ấy của Hoàng Yến.

Keating1

Trước sự thật kỳ quái những lãnh đạo Khoa Anh Văn trước 1975 toàn là MA (thạc sĩ) ở Mỹ nhưng đề ra những quy định kỳ dị như sinh viên nào đến trường sau khi giáo viên đã vào lớp thì giáo viên phải giải sinh viên ấy xuống Văn Phòng Khoa gặp Phó Khoa (cũng là một vị MA Mỹ) để ngồi viết vài chục trang “tự kiểm điểm” với dòng chữ “Em đã vi phạm đi học trể. Em sẽ không tái phạm”, tôi đã nói với tất cả các lớp rằng vào những giờ tôi dạy thì các em nào đến trể cứ việc chạy ngay vào lớp, không cần chào xin phép tôi, vì rằng các em không được phí phạm thời gian, vì rằng các em phải được học nhiều nhất, vì rằng việc các em đi trể tôi đều có thể hiểu được do các em còn phải dạy thêm buổi tối hoặc phục vụ tại các quán cà phê kiếm thêm thu nhập nuôi thân.

Trước sự thật kỳ quái duy ý chí khi các tỉnh “gởi” lên Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh các “sinh viên” chưa từng học tiếng Anh ở trung học – hoặc không được học tiếp tiếng Anh từ lớp 9 đến lớp 12 do không có giáo viên – để đào tạo thành giáo viên tiếng Anh sau 3 năm hầu bảo đảm các tỉnh có đủ số lượng giáo viên Anh văn cho các trường trung học, tôi phải nói với sinh viên tỉnh Đồng Nai do tôi chủ nhiệm rằng các em buộc phải biến 3 năm thành có giá trị như 6 năm để có “chất lương” theo đúng bài bản của tôi, theo đó, mỗi tối sau khi tôi dạy xong ở các trung tâm ngoại ngữ, tôi sẽ đến ký túc xá để dạy phụ đạo các em từ 21 giờ đến 23 giờ, các môn tiếng Anh do tôi phụ trách tại lớp như Dịch Thuật (Translation), Luyện Viết (Composition), Luyện Nói (Speaking), Văn Phạm (Grammar), Văn Học (Literature), Văn Minh (Civilization), và Từ Vựng (Lexicology), trừ các môn tiếng Anh khác của các giáo viên khác như Luyện Nghe (Listening), Ngữ Âm (Phonetics) và Phương Pháp Giảng Day (Methodology); và sinh viên các tỉnh khác ở chung ký túc xá nhưng thuộc lớp chủ nhiệm của giáo viên khác nếu muốn cứ tập trung tại canteen để học chung. Tất nhiên, tôi dạy miễn phí, và thậm chí không cho phép các em mua nước đá chanh đường cho tôi, với lý do mấy em nghe rất hợp lý là do tôi chưa ăn tối nên uống sẽ làm hại bao tử. Việc “bán phá giá” hay “khuyến mãi” tức “miễn phí” như trên ắt vào thời điểm những năm 1980 của thế kỷ trước được xem là trọng tội nên tôi trở thành tội phạm không thể nào được tha thứ chốn sư phạm hàn lâm.

Và trước sự thật kỳ quái rằng Khoa Anh Văn buộc tất cả các sinh viên “dự thi tốt nghiệp” đều phải có kèm thêm “luận văn tốt nghiệp công trình nghiên cứu khoa học” viết bằng tiếng Anh với đầy đủ ban bệ của các giáo viên bảo trợ và giáo viên phản biện, chứ không phải theo hướng sinh viên giỏi làm luận văn tốt nghiệp còn sinh viên không giỏi dự thi tốt nghiệp, tôi đã phải “bảo trợ” hàng trăm công trình và “phản biện” hàng trăm công trình khác, mà tôi đã “bảo trợ” hay “phản biện” đều làm việc nghiêm túc, hướng dẫn tường tận, sửa chữa chi li vì các em khó thể viết lách tiếng Anh đạt yêu cầu tầm cỡ “công trình nghiên cứu”. Kết quả thuần tình cảm: tất cả các quyển luận văn của các em đều có bút phê sửa lỗi và viết lại đỏ lòm đặc nghẹt, mà nhiều em khoe tôi rằng vẫn còn giữ đến tận ngày nay sau hơn 30 năm lúc các em sắp sửa nghĩ hưu. Còn hậu quả thuần vật chất: tất cả các lãnh đạo Khoa và Tổ kết tôi vào tội là đã “phá luật” vì có quy định rằng Thầy Cô không được phép sửa trực tiếp vào các tập luận án của sinh viên vì như thế là “xúc phạm sinh viên”, “phá lệ” vì không có Thầy Cô bảo trợ hay phản biện nào bảo ban bất kỳ điều gì cho sinh viên để “phát huy tính tự chủ tự lập” của sinh viên, và “phá hoại sự đoàn kết nhất trí” vì khi sửa bài cho sinh viên và bảo ban sinh viên nên nghiên cứu gì và theo hướng nào thì tôi đã bị coi như “làm nhục” các giáo viên khác, tất cả dẫn đến việc tôi bị tước mọi danh hiệu thi đua, ngay cả Giấy Khen của Bí Thư Thứ Nhất Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Vũ Mão dành cho cá nhân tôi cho thành tích giảng dạy và chủ nhiệm thành công cũng bị Khoa thu giữ và làm thất lạc để tôi sau này không thể “khoe khoang” gì với hậu thế.

 

Khác với Thầy John Keating, tôi đã không lầm lũi đơn độc bước đi khỏi trường, vì cô giáo đồng nghiệp ấy cũng bị “xử đẹp” triệt hết tất cả các danh hiệu dạy giỏi để cùng tôi trắng tay bước ra khỏi trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp HCM để trở thành vợ của tôi.

Khác với Thầy Keating, tôi không nhằm tái lập bất kỳ cái “hội kín” nào như cái hội Dead Poets Society của Thầy ấy.

Khác với Thầy Keating, tôi là một thực thể có thật, trong khi Thầy là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Khác với Thầy Keating, tôi có các sinh viên xuất sắc tuyệt vời xuất thân từ những gia đình nghèo đa số ở các tỉnh nghèo nước Việt chăm chỉ theo đuổi con đường trở thành các nhà giáo tiếng Anh, trong khi Thầy có các sinh viên toàn thuộc gia đình quý tộc thượng lưu xứ Mỹ đứng núi này trông núi nọ.

Khác với Thầy Keating sử dụng ngoại hình ngổ ngáo leo đứng trên bàn để dạy học trò cách thể hiện “cái tôi” trong “muốn gì thì hãy cứ làm điều đó”, tôi sử dụng ngoại hình nghiêm túc nghiêm trang quý phái để dạy học trò cách thể hiện “cái tôi” cao cấp chuẩn bị cho một thị trường nhân lực cấp cao đáp ứng nhu cầu xã hội mà tôi tin chắc rằng sẽ đến.

Khác với Thầy Keating có sinh viên rủ nhau leo lên dứng trên bàn để tiễn đưa trong khi Thầy lặng thinh bỏ ra đi vĩnh viễn, tôi có các sinh viên nghe lời tôi cố gắng ở lại học tốt, cố gắng trở thành những nhà giáo tiếng Anh giỏi, và các em có con cái tiếp tục được cha mẹ đưa đến gặp tôi để được tôi giải đáp thắc mắc, giúp đỡ những chỉ dẫn bảo ban trên đường lập nghiệp, giúp đỡ hoàn thiện lý lịch tiếng Anh và đơn xin việc tiếng Anh, và do các công dân “con em” này của học trò tôi đều đã ở lứa tuổi 30 nghĩa là các học trò tôi bắt đầu có cháu nội cháu ngoại nên tôi lại phải chỉ dẫn cách chăm sóc các cháu này để các cháu được phát triển trí tuệ lành mạnh, đồng thời có điều kiện giỏi…tiếng Anh như ông bà, cha mẹ của chúng.

Tuy nhiên, tôi cảm ơn tác giả bộ phim Dead Poets Society vì đã cho tôi có được vài giờ đồng hồ thưởng thức một xuất phẩm xuất sắc của điện ảnh Hoa Kỳ mà qua đó, tôi đã thực sự có đôi dòng nước mắt vội vàng dấu diếm không để ai phát hiện, của một thoáng ủi an khi chợt thấy mình không cô độc: tôi đã thấy chính mình trong phim.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Đám Cưới

Trẻ Trung

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-4-2016

Trẻ Trung (2)

Cách nay ba ngày, một cô gái đến bắt tay tôi và nói vài năm trước Cô có đọc một bài viết về Tuổi Trẻ (bài Tuổi Trẻ – Định Tính và Định Lượng) mà Cô đã vừa in ra để đọc đi đọc lại trên đường công tác vừa chuyển tặng nhiều bạn bè của Cô trên không gian mạng. Đã vậy, cô còn phán rằng tôi rất trẻ trung. Được cô gái trẻ tuổi ấy gọi tôi là “anh” giữa chốn đông người thanh thiên bạch nhật thay vì là “chú” hay “bác”, tôi nghĩ ắt cô ấy trẻ trung nên cũng nghĩ rằng – hay thấy rằng – tôi trẻ trung qua những lời đối đáp khôi hài của tôi. Cái sự trẻ trung mà người đời hay tưởng lầm rằng chỉ cần qua quá trình trẻ hóa xóa bỏ vết nhăn ở mỹ viện là có thể đạt được, lại là thứ nơi người đàn ông mà phụ nữ có thể rất quan tâm đến.

Nhiều năm trước, cô em gái út của tôi có lần cho tôi biết “chính kiến” của nó về người đàn ông lịch lãm mà nó hy vọng sẽ được gặp trong đời để nên vợ nên chồng: đó là đấng nam nhi biết giữ gìn trau chuốt ngoại hình chẳng hạn như người luôn sạch sẽ tức biết trị cho dứt các chứng bịnh như gàu, hôi nách, hôi miệng, biết tránh xa việc hút thuốc để miệng không bị hôi còn răng không bị ố vàng hơi thở không bị nặng mùi, biết tránh xa việc nhậu nhẹt để dáng người không bị hỏng bét cái bụng, đầu óc không bị kém minh mẩn, và những thứ khác không bị tổn hại; tóc tai đàng hoàng, không vuốt keo dựng đứng hoặc chôm bôm kiểu hài nhi; trang phục nghiêm túc, giày vớ chỉnh chu, cộng với một tí thoang thoảng hương nước hoa nhẹ nhàng của phái nam và sự vui tính trẻ trung; v.v. Mà tất cả những điều này thì chẳng có mỹ viện nào ghi trong danh mục dịch vụ của họ cả; chỉ cần được như thế thì bất kể anh có phì nhiêu quá khổ hay gầy guộc, bất kể anh cao hai mét hay một mét bốn mươi nhăm, bất kể anh là đại gia hay là công nhân, bất kể trang phục của anh là sản phẩm của An Phước Piere Cardin hay của Dệt Nha Trang, bất kể anh đi ô tô bốn bánh hay xe máy hai bánh, bất kể dung nhan anh như Tom Cruise hay Mr.Bean, thì anh ấy sẽ là “nam giới đích thực” tức người đàn ông lịch lãm đáng yêu mà em gái tôi cho rằng đúng như liệt kê trong danh sách chuẩn hóa của nó để chọn chồng. Cô gái trẻ trên và đứa em gái út của tôi làm tôi nghĩ đến chủ đề trẻ trung và muốn viết đôi lời về cái sự này.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – không có nghĩa là khi vào tuổi 40+ hoặc 50+, các ông ăn mặc thời thượng hoa hòe như các cháu tuổi teen với nào là quần jean chẽn, áo bó bỏ ngoài, không cài đủ khuy hoặc chẳng cài khuy nào vì đã có áo thun ba lổ bên trong; để tóc dài hoặc tóc đinh hoặc không có tóc; đeo thắt lưng đầu lâu xương chéo; chạy mô-tô phân khối lớn chầm chậm vừa vì nặng quá, chống chân không tới, vừa vì muốn thiên hạ kịp nhìn thấy nhãn hiệu vĩ đại của chiếc mô-tô giá 200.000 USD, đội mũ bảo hiểm loại dành riêng cho người đi xe đạp; tham gia các sinh hoạt nhộn nhịp ngoài trời hay trong các vũ trường; sử dụng ngôn ngữ viết kiểu của con nít online và luôn xưng “anh” với các cháu teen, vân vân và vân vân.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được biểu hiện qua sự quan tâm đến an nguy của giới trẻ, vì rằng với tâm trí lão nhược người ta sẽ chỉ biết đến bản thân, chỉ lo cho ngày tận thế của bản thân, hằn học ganh tức với tuổi trẻ, và trong một số trường hợp sẵn sàng tàn hại tuổi trẻ của người khác qua sự xúi dại, loạn ngôn, vô tâm, phó mặc, hoặc xâm hại tình dục, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được thể hiện qua tác phong làm việc tích cực, tháo vác, nhanh nhẹn, nhạy bén, hợp tác, chân tình, hòa thuận, vì rằng với tâm trí lão nhược người ta sẽ trốn việc, tránh việc, đùn đẩy việc, ích kỷ, vị kỷ, vô tâm, hằn học tị hiềm với tuổi trẻ, và trong một số trường hợp sẵn sàng cản trở đường tiến thân của các cháu qua sự xúc xiểm, vu vạ, đơm đặt, cướp công, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được hiển hiện qua cung cách của bậc trưởng thượng, vì rằng chỉ có kẻ tiểu nhân mới không ra sức bảo ban truyền thụ kinh nghiệm nhằm giúp người trẻ hơn làm việc tốt hơn, không chịu làm việc dưới quyền người trẻ hơn vì không có đủ tư cách để dám công nhận thực tài của người đó hơn mình, và trong một số trường hợp sẵn sàng gây mất đoàn kết nội bộ, làm phương hại đến sự đi lên chung của toàn đơn vị, v.v.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được xuất hiện cụ thể qua việc tương tác giữa một bên là người ấy luôn được các “cháu” tôn trọng trong vui tươi, gần gũi, và một bên là các “cháu” luôn được người ấy giúp đỡ ngay khi được yêu cầu, vì rằng nếu vắng sự “tương tác” như thế thì sẽ không thể có tính “giao lưu” như giữa hai người bạn, mà ông lão nam giới nghiêm trang nghiêm túc nghiêm khắc nghiêm nghị lại hòa đồng với các “cháu” vui vẻ vui tươi vui mừng vui hết biết thì ông lão ấy không trẻ là gì, còn các “cháu” không học được tính trưởng thượng là gì.

Trẻ trung của nam giới – theo tôi – được hô biến hiện ra ngay khi bạn không nghĩ gì đến việc trục lợi giới trẻ, vì rằng có như vậy bạn mới chứng tỏ được một điều quan trọng rằng bạn thực sự đã có thời làm người trẻ tuổi trong hạnh phúc, trãi qua những nghiệt ngã thời tuổi trẻ một cách thành công, để từ đó biết thương người trẻ tuổi, biết tôn trọng các nổ lực vượt khó của người tuổi trẻ, biết người trẻ tuổi cần gì cho sự vươn lên, và biết mình nên làm những điều đúng đắn nào để người tuổi trẻ được sống và làm việc trong hòa bình của đất nước, hạnh phúc của gia đình, và thành tựu của bản thân.

Sau cùng, sự trẻ trung của nam giới – theo tôi – được biểu hiện, thể hiện, hiển hiện, xuất hiện, và hô biến hiện ra ngay khi bạn – một lão nam – có cách sống theo lời của Lenin: học, học nữa, học mãi, vì rằng khi học mãi, bạn sẽ học ngay cả nơi người trẻ tuổi để cảm nhận được rằng mình đang trong thời tuổi trẻ. Trẻ trung, do đó, không là những cái tửng tửng chân nhảy nhót miệng nhồm nhoàm của trẻ nít. Hãy nhìn nội thất của những gia đình phú quý trẻ tuổi: họ có những trang bị hiện đại, và họ cũng có những cổ vật đắt tiền. Giới trẻ thành công luôn cần đến những bậc trưởng thượng dù họ có nhiều những bạn bè trẻ tuổi hiện đại khác. Bậc trưởng thượng rất khác với người già của hiện tượng vật lý hóa học. Giá trị của bậc trưởng thượng là ở chỗ tuổi đời càng chất chồng theo năm tháng thì họ lại càng trẻ trung hơn, sống động hơn, tích cực hơn, mạnh mẽ hơn, hữu dụng hơn cho đời, và do đó trở nên cần thiết hơn. Đó chính là điều mà người trẻ tuổi đoan chính luôn mong nhìn thấy nơi các lão nam để mình được thành công vậy.

Trẻ Trung (1)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 21-11-2011. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/12/dinh-tinh-va-dinh-luong-tuoi-tre/

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-4-2016

Rami J. Ronald Viitiemi, nhà tư vấn phát triển tổ chức, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, huấn luyện kỹ năng quản trị cấp cao, sáng tạo chính sách nhân sự và tuyển dụng Công ty Gateway Norway AS của Na Uy, đã có bài viết thú vị trước những người hay luôn ca cẩm phàn nàn về đất nước Việt Nam. Chân lý cuộc sống rất đơn giản: hoặc bạn chấp nhận, hoặc bạn thay đổi, hoặc bạn hãy đi chỗ khác chơi. Ngay cả trong nội hàm thay đổi lại ngụ ý nhiều đến bản thân, từ cách nghĩ, cách làm, với trọng tâm là cống hiến – chứ không phải là lời ca cẩm phàn nàn chê bai hay chống lại – để làm cho mọi thứ hoàn thiện hơn, tốt hơn.

Mới đây, ông R.J.R.Viitiemiđã viết bài sau mà một người quen của tôi là luật sư Oliver Massmann, Tổng Giám Đốc Công ty Duane Moris Vietnam LLC, Chủ Tịch Ủy Ban Pháp Luật Phòng Thương Mại Châu Âu EuroCham, giới thiệu trên LinkedIn. Xin gởi đến bạn đọc bản dịch nghĩa tiếng Việt của bài viết ấy:

Việt Nam – Hãy Chấp Nhận Nó, Hoặc Hãy Đổi Thay Nó, Hoặc Hãy Bỏ Nó Mà Đi Nơi Khác

Rami J. Ronald Viitiemi

05-4-2016

Một tuyên bố thật rõ ràng đâu ra đấy, phải không nào? Vâng, tuyên bố ấy đủ mạnh mẽ để được bạn chú ý; vì lẽ ra bạn hẵn đã không nhấp chuột vào đây để đọc, mà bạn sẽ …

Chấp nhận và thay đổi mọi thứ không nhất thiết phải biệt lập với nhau; có rất nhiều điều dễ dàng để chấp nhận và đồng thời có nhiều thứ cần phải thay đổi. Ở Châu Âu cũng thế.

Nếu có người cho rằng cả hai là bất khả, thì coi như bỏ qua sự lựa chọn cuối cùng.

Tôi có nhiều bạn là người nước ngoài mới đến hoặc đã ở lâu tại Việt Nam, và thậm chí có nhiều bạn và người quen là người Việt; thì thoảng tôi nghe họ ca cẩm hết điều này đến điều nọ, hầu hết liên quan đến môi trường kinh doanh hoặc con người. Nếu ca cẩm ấy không về việc thiếu kỹ năng hoặc thái độ thấp kém, thì cũng về sự thay đổi hoặc thiếu sự thay đổi.

Kể từ năm 1997 khi lần đầu tiên đến Việt Nam, tôi tất nhiên đã tham gia chia sẻ các ca cẩm phàn nàn của mình, và rồi tôi dần dần tự sửa sai mình. Trong những năm qua, tôi đã rất tích cực trong việc đóng góp để cải thiện Việt Nam và môi trường kinh doanh của đất nước này thông qua các phòng thương mại và Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), và vì vậy đã làm nhiều người khác thật sự yêu mến Việt Nam.

Tình yêu này được sinh ra bởi nhiều thứ, trong đó quan trọng không kém là con người thật thà, thiên nhiên tươi đẹp, cà phê ngon nhất thế giới, và các món ăn tinh tế nhất. Đối với tôi, dù bạn tin hay không tin, tình yêu đó cũng là về sự tự do trong lựa chọn.

Gần đây, và cứ từng ngày qua, tôi thấy bản thân mình khó chịu bởi những người luôn mồm ca cẩm phàn nàn nhưng sẳn sàng chẳng làm gì để thay đổi bất cứ điều gì và cải thiện những vấn đề. Gần đây sau mỗi lần nghe những lời phàn nàn, tôi trước hết tự hỏi “Thế thì anh đã làm gì để thay đổi nó hoặc bạn đang định làm những gì để thay đổi?” – Có khi lời đáp chỉ là sự im lặng với cái nhìn trống rỗng.

Điều sai lầm là chúng ta thường tin rằng chẳng có gì để một người lẻ loi có thể làm được. Trong thực tế, có rất nhiều thứ mà mỗi người chúng ta có thể làm để đóng góp cho một tương lai tốt hơn, đơn cử vài thí dụ như tạo công ăn việc làm, chuyển giao kiến thức và kỹ năng, làm việc từ thiện hay phục vụ công ích, học tập và tự hoàn thiện, v.v.

Có một điều là hãy thực hiện lời nói đi đôi với việc làm. Điều này đúng cho cả người nước ngoài và người dân địa phương. Chúng ta học hỏi lẫn nhau mọi lúc – hoặc chí ít cũng nên thế – và chúng ta tạo ảnh hưởng đến hành vi của nhau. Sự lựa chọn đường hướng là của chúng ta và chỉ của chúng ta. Đạo đức kinh doanh và đạo lý con người đóng một vai trò rất lớn trong việc này, cũng như cách xử thế tốt vậy.

Học tập đòi hỏi một thái độ cầu thị và biết chấp nhận cái mới. Điều này không đến nếu có sự kiêu căng hay thiếu hiểu biết. Tại Singapore, điều này đã được thấu hiểu từ ngày đầu lập quốc. Singapore đã rất thành công trong kiểm soát sức mạnh của sự đa dạng, thu hút những người tốt nhất, và định chuẩn những phương thức thực hành tốt nhất.

Một cách khác là quy tụ sức mạnh và thuộc về một cái gì đó có ý nghĩa, như các phòng thương mại tại Việt Nam. Nhiều phòng thương mại có ảnh hưởng trên thực tế trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh và môi trường sống tốt hơn cho tất cả, người nước ngoài cũng như người trong nước, các cá nhân và các doanh nghiệp. Mạnh nhất là Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) và Phòng Thương Mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham).

Là dân Châu Âu, tôi có sự lựa chọn tự nhiên là EuroCham, nơi đã thực hiện một công việc tuyệt vời với Sách Trắng, các Ủy Ban chuyên trách, và các ủy ban hỗ tương khác. Nhiều nhân sự giỏi giang tại đó đã tận tụy cống hiến cho công việc xã hội công ích Việt Nam ngoài giờ làm việc. Thật đáng kính trọng!

Tôi nghiêm túc tin rằng làm thành viên của một phòng thương mại có tầm ảnh hưởng lớn là một cách để đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam, cải thiện các điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài cũng như xã hội nói chung.

Là người một nước Bắc Âu, công dân Phần Lan, tôi làm thành viên của EuroCham thông qua Phòng Thương Mại Bắc Âu (NordCham, Chi nhánh Hà Nội) và điều này như đạt cùng lúc hai mục tiêu – hay nhiều hơn thế nữa .

Nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi không làm điều này chỉ để hỗ trợ tốt nhất cho môi trường kinh doanh. Như bất kỳ người thực dụng có hơi vị kỷ nào khác, tôi muốn có những lợi ích cá nhân như các giảm giá, những lời mời tham dự các sự kiện kinh doanh và tiệc tùng. Mà ai lại không thích tiệc tùng cơ chứ?

Tôi có lẽ là một trong những ngoại kiều Âu Châu biếng lười nhất về công tác công ích xã hội, và tôi nhận ra mình cần thiết phải hoạt động trong lĩnh vực này, ngay cả với cảm giác hơi xấu hổ khi thừa nhận điều này do tôi biết rất nhiều người đang cống hiến thật nhiều như vậy.

Nếu vì bất kỳ lý do gì trong tương lai, tôi muốn không phải đóng góp theo những cách khác nhau cho sự thành công của Việt Nam – bao gồm cả các hoạt động trên LinkedIn – thì tôi hứa sẽ bỏ ra đi. Chấp nhận tất cả mọi thứ như vốn dĩ đang là, đó sẽ không bao giờ là một lựa chọn vì điều đó hoặc có nghĩa là tôi không đóng góp mà chỉ biết kiếm ăn, hoặc có nghĩa tôi không còn quan tâm đến nữa.

Một điều đáng ghi nhớ là đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam không phải tại vì chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Có và có rất nhiều sự lựa chọn. Chẳng hạn Myanmar là nước vượt lên rất nhanh.

Một khía cạnh khác của câu chuyện đối với bất kỳ một đầu tư nước ngoài nào tại Việt Nam là để được trở thành một doanh nghiệp công dân tốt, góp phần vào tương lai lành mạnh của Việt Nam. Có rất nhiều những doanh nghiệp công dân tốt như thế tại Việt Nam, tạm kể ra vài tên tuổi như Điện Thoại Di Động Microsoft, ABB, và Mercedes-Benz, v.v.

Hãy bình tĩnh, hãy yêu Việt Nam, và hãy dành sự tốt nhất của bạn cho Việt Nam!

Rami J. Ronald Viitiemi

********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

“Doanh nghiệp công dân tốt”: doanh nghiệp có trách nhiệm cao với xã hội nước sở tại về luật pháp, đạo đức và kinh tế; thể hiện niềm tin sâu sắc và giá trị thực sự qua việc tiến hành hoạt động kinh doanh minh bạch.

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-4-2016

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

(Đã post ngày 29-01-2009 trên Emotino.com)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm mới nói về những người của thế hệ y khoa trước, về những nhân tài hiếm hoi không phải ai cũng còn nhớ đến sau những cơn giông ba bão táp của thời gian và dưới lớp bụi mờ của lãng quên. Bác sĩ Đặng Minh Chiếu, Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô, và Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa của Sài Gòn hoa lệ, và Bác Sĩ Ngươn của Thành phố Hồ Chí Minh cường thịnh. Những cái tên không thể nào quên với gia đình họ Hoàng chúng tôi.

ScreenShot1147

Bác sĩ thì ai lại không có phòng mạch riêng. Đó là cách nghĩ của người trong cuộc và người đời. Song, có hai thực tế tại Sài Gòn trước 1975 là (a) bác sĩ có phòng mạch riêng là những bác sĩ tài danh thực thụ vì chẳng có tài danh thực thụ thì chẳng bịnh nhân nào tìm đến, mà “tài danh” ấy không do quảng cáo hay do treo bảng hiệu hoành tráng; (b) xem việc mở phòng mạch không bao giờ là để kiếm thêm thu nhập mà chỉ để đem tài ra “cứu nhân độ thế” như những bậc thầy của chính mình đã luôn học, luôn sống, và luôn làm theo lời thề thiêng liêng của chức nghiệp; và không những thế (c) không nhất thiết phải có phòng khám riêng, đơn giản vì còn tận tụy dành trọn thời gian quy định tại bịnh viện nơi làm việc chính.

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô

Nha sĩ Nguyễn Tư Mô là nguyên khoa trưởng Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, có phòng mạch tại 39C đường Cao Thắng, Quận 3, Sài Gòn, nay là tòa nhà dường như hai năm trước trở thành Kinh Đô Bakery. Nha Sĩ Mô chỉ khám chữa răng buổi sáng, còn buổi chiều do nha sĩ Đoàn Ân phụ trách, còn phòng răng 39C Cao Thắng ấy là tư thất của gia đình nha sĩ Đoàn Ân. Đó là một phòng chữa răng trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại thời bấy giờ như máy lạnh và máy chụp quang tuyến X. Nha sĩ Mô không có trợ tá mà tự mình làm tất cả mọi việc kể cả việc chụp hình răng bằng máy quang tuyến ấy. Bác sĩ Mô đến phòng mạch bằng xe Mercedes đen, tự lái, đậu trong sân (vì nhà nào ở mặt tiền đường cũng luôn xây thụt vào trong khoảng 5 hay 10 mét để chừa khoảng không khoáng mát phía trước để đậu xe, chứ không như bây giờ ai cũng xây áp sát đường để nhà rộng lớn hơn, cảnh quang tầm thường hơn, đường chật chội xấu xí hơn, còn ô tô thì hoặc đậu nơi lòng đường, trên lề đường, hoặc chui tọt vào bên trong căn nhà).

Khi em trai tôi lên 6 tuổi, có một răng cửa hàm trên bị sâu; như thường lệ đối với thành viên toàn gia đình, Má tôi đưa em đến Nha Sĩ Mô để nhổ răng, tất nhiên rồi – và tất nhiên có tôi đi kèm theo. Nha sĩ Mô nhẫm hát là lá la một đoản khúc nhạc cổ điển dường như là Fantasia của Liszt Ferenc. Ông nhìn chiếc răng rồi bảo Má tôi rằng Ông nhất thiết phải đưa em tôi vào Đại Học Nha Khoa giải phẫu cho sinh viên học tập, vì đây là một ca hiếm theo y văn thế giới. Theo Ông, răng cửa trên bị hỏng không do bị sâu, chẳng do bị răng khác mọc chêm mà tiếng trong Nam gọi là “lòi xỉ”, mà Ông nhìn là biết ngay do răng khác mọc thẳng hàng vào giữa chân răng đang tồn tại, nghĩa là có răng khác ẩn ở dưới “ngạc” tức vòm miệng, và phải rạch để gắp ra, cứu răng cửa. Ông trấn an Má tôi rằng đấy là chuyện nhỏ. Với sự lo âu vì một khi đã là “ca hiếm” phải giải phẫu biểu diễn dạy các sinh viên đại học thì đúng là đại sự hiểm nguy và tốn kém, Má tôi rụt rè hỏi về chi phí, Ông bật cười, nói (giọng Bắc) rằng Ông đài thọ  toàn bộ chi phí, và khôi hài nói thêm rằng lẽ ra Ông phải trả thật nhiều tiền để Má tôi cho phép Ông đuợc giải phẫu ấy chứ, vì em tôi cho Ông có cơ hội bằng vàng dạy cho sinh viên Nha Khoa biết thực tế một ca mà chỉ có thể bắt gặp trong một trong các pho tài liệu tiếng Pháp dày cộm trong thư viện trường mà thôi! Và em trai tôi được lên lịch giải phẫu tại Đại Học Nha Khoa Sài Gòn, tất nhiên cuộc giải phẩu có kết quả tốt đẹp. Tôi vẫn còn giữ hai chiếc răng mọc sâu bên trong “ngạc” của em tôi.  Thật là một nha sĩ đại tài, thay vì nhổ ngay răng sâu, chỉ cần nhìn cách mà răng bị sâu là đã biết ngay đó không là sâu răng: răng sâu không bị nhổ bỏ mà hai răng thủ phạm ẩn núp trong “ngạc” khiến chặn đường dinh dưỡng làm răng giống như bị sâu thì được gắp ra! Phòng khám tư của Ông treo khoảng sáu văn bằng y khoa của Mỹ, Anh và Pháp. Nhiều trang thiết bị hiện đại thời ấy, kẻ cả máy chụp X-quang nha khoa. Nhưng Ông đã không dùng máy X-quang khi định bệnh cho em tôi. Ông không nhổ phức chiếc răng sâu của chú bé 6 tuổi, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông cũng sẽ làm. Ông không thu một xu chi phí, điều mà tất cả các nha sĩ nào không phải là Ông và đặc biệt thời nay không ai làm thế, trái lại họ có thể thu tiền cao nếu bịnh nhân trực tiếp đến phòng khám của họ, hoặc nếu bịnh nhân tìm đến bịnh viện công nơi nha sĩ công tác thì nha sĩ thường sẽ thuyết phục họ hoặc đến phòng mạch tư của ông ta, hoặc ra một bịnh viện tư để nha sĩ này sẽ đến đó phẫu thuật giúp – tất nhiên nhằm thu tiền nhiều hơn sau khi trả hoa hồng cho bịnh viện tư ấy, thay vì để bịnh viện nhà nước “hưởng” còn bản thân chỉ có chút ít phụ cấp theo quy định. Đơn giản: Ông là Nguyễn Tư Mô, một Nha Sĩ tài danh, một Nha Sĩ đích thực, một bậc Thầy luôn xem việc phục vụ y học là mục đích cuộc sống và việc đào tạo ra cho đời những nha sĩ giỏi là ý nghĩa cao trọng nhất của sự nghiệp một bậc thầy.

Giá như Ông ở lại với đất nước Việt Nam thống nhất, đừng ra hải ngoại ngày 30-4-1975, Ông đã có thể giúp ngành Nha Việt Nam và “người” Nha Việt Nam tốt đẹp và phát triển mạnh đến dường nào, vì Ông là tấm gương.

Không có gương báu và gương sáng để soi, người ta sẽ chẳng biết mình sáng và tốt  ra sao để mà chỉnh đốn mình cho đẹp, răn mình có được thứ gọi là “y đức” mà trước đây tự nhiên ai cũng có tự thân và tự nhiên, còn ngày nay trở thành thứ trang sức lệ thuộc tuyệt đối vào giáo dục ý thức mà cái sự giáo dục ấy thường được chứng minh là tương đối có hiệu quả.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa

Nếu Nha Sĩ Nguyễn Tư Mô cứu một chiếc răng cửa cầu kỳ của em trai tôi, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa cứu mạng em gái Thúy Hồng của tôi ngay tại phòng mạch – cũng là tư gia của Bà – tại biệt thự xinh đẹp cây cối um tùm hoa giấy đỏ ngay đầu ngã ba Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai, đối diện Vuờn Tao Đàn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Do em gái tôi bị sốt dài ngày, Ba và Má tôi đưa em tôi đến nhiều phòng mạch bác sĩ tư để đem về bao thuốc hạ sốt, thuốc cảm cúm, thuốc viêm họng, thuốc viêm phổi, mà em tôi vẫn không thuyên giảm. Má tôi chợt nhớ tới Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa và tất cả lập tức đưa em tôi đến phòng mạch của Bà, tất nhiên có tôi đi kèm. Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa là một phụ nữ tuyệt đẹp, dáng người không cao, nhưng phong thái quyến rũ, dịu dàng. Bà mặc đầm hồng phấn khi khám bịnh. Khi nhìn thấy em tôi, Bà chợt mím môi, tức giận, nói lớn tiếng: “Sao ai lại ác vậy? Khám vậy mà khám! Chết đứa nhỏ còn gì! Đây là bịnh thương hàn!” Bà lập tức viết toa thuốc trong lúc nói chuyện hướng dẫn Ba tôi bằng tiếng Pháp, rồi dặn Má tôi bằng tiếng Việt phải nấu súp gì cho em tôi uống, tuyệt đối không được ăn gì, v.v. và v.v. Em tôi được cứu sống chỉ với cái nhìn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà không cần thử máu hay chụp hình gì cả!

Sau đó gia đình tôi nghe tin Bà vào Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Sau 1975, chúng tôi mừng vui thấy Bà là Bộ Trưởng Y Tế. Nhưng chúng tôi không có dịp gặp lại Bà, và Bà cũng đâu có nhớ thằng bé tên Phước đã đứng lặng trân chiêm ngưỡng sắc đẹp của Bà. Sau này không còn tin tức gì về Bà, cho đến ngày Bà mất. Một bác sĩ đại tài, tự mình nghe bịnh, tự mình khám bịnh, và tự mình chỉ định chính xác bịnh án cùng phác đồ điều trị, chứ không sai bảo bất kỳ ai trong số hai y tá phục vụ tại phòng mạch riêng ấy.

Bác sĩ Đặng Minh Chiếu

Trong khi đó, bác sĩ Đặng Minh Chiếu có phòng mạch tư và biệt thự gần rạp hát Long Phụng (trên đường Gia Long, ngày nay gọi là đường Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh), lừng danh về phụ khoa tại Sài Gòn. Ông đã tư vấn cho Ba Má tôi phải bảo vệ thai nhi thế nào mỗi khi Má tôi mang thai một đứa con. Mỗi khi theo Má tới phòng khám của Bác sĩ Chiếu, tôi thấy có nhiều sản phụ nước ngoài cùng chồng ngồi chờ ngoài sảnh. Nói tiếng Pháp điêu luyện, Ông có tài làm tất cả mọi người an tâm, vui vẻ, bình yên, hạnh phúc, xem như thai sản là chuyện dễ dàng, tự nhiên, trong một giai đoạn thời đại mà những ân cần chi tiểt như vậy vẫn chưa là tiêu chuẩn cả trời Âu. Tất cả những chỉ dẫn của Ông dành cho Má tôi đã được gia đình áp dụng cho đến sau ngày giải phóng, khi các em tôi lập gia đình và trở thành sản phụ đều được Má tôi lập lại những lời dặn dò của vị bác sĩ đại tài Đặng Minh Chiếu. Đặc biệt, những căn dặn của Ông là tổng hợp của kiến thức uyên bác Tây Y trên cơ sở không phản bác kinh nghiệm dân gian nào Ông cho là lành mạnh đáng tin cậy dù không bao giờ được Tây Y nghiên cứu. Chúng tôi không còn nghe tin về Ông sau ngày 30-4-1975, ắt Ông đã theo dòng thác người cuồn cuộn di tản của thời biến động ấy.

Bác Sĩ Ngươn

Bác sĩ Ngươn, trưởng khoa ngoại thần kinh Bịnh Viện Chợ Rẫy Tp Hồ Chí Minh, lại là một trường hợp khác. Sau 1975, lúc Việt Nam vẫn còn chịu đựng sự cấm vận của Chính phủ Hoa Kỳ, tôi công tác tại Văn phòng đại diện Công ty CIMMCO International thuộc tập đoàn Công-Thương-Kỷ Birla lừng danh toàn Ấn Độ và Khối Liên Hiệp Anh. Có lần tôi đưa Trưởng Đại Diện người Ấn Độ của CIMMCO đến Chợ Rẫy khám bịnh tim mạch. Bác Sĩ Ngươn lúc ấy phụ trách khoa khám ngoại kiều. Tài năng chẩn định bệnh và khẩu ngữ tiếng Anh của Bác sĩ Ngươn làm Ông Trưởng Đại Diện ngạc nhiên, thán phục. Ông nói với tôi là Việt Nam thực sự có bác sĩ giỏi đến thế sao! Thậm chí, khi thấy sự chậm chạp của con rùa hành chính của bịnh viện với hàng chục lần thân nhân phải liên tục chạy xuống lầu đóng tiền lấy hàng chục biên nhận đóng tiền cho những xét nghiệm khác nhau, có thể gây phản cảm nơi bịnh nhân nước ngoài, bác sĩ Ngươn đã “phá luật”, viết lịnh tay để Ông Trưởng Đại Diện được xét nghiệm ngay lập tức, nghĩa là việc thanh toán thì tôi từ từ thực hiện trọn gói sau, và cũng nghĩa là nếu tôi không thực hiện thì bác sĩ Ngươn sẽ phải bị kỷ luật thật nặng! Để có thể “đền ơn”, tôi hỏi xin địa chỉ phòng mạch thì Bác sĩ Ngươn nói Ông và vợ Ông cũng là một bác sĩ đều không có phòng mạch riêng và không bao giờ muốn có phòng mạch riêng. Tôi xin số phone nhà thì bác Sĩ Ngươn bảo nhà không có phone. Tôi xin địa chỉ nhà, thì Bác sĩ Ngươn nói hai vợ chồng thường xuyên vắng mặt. Ông Trưởng Đại Diện nhờ tôi đến Chợ Rẩy tìm bác sĩ Ngươn để trao tặng vợ bác sĩ Ngươn một món nữ trang bằng vàng theo thói quen của người Ấn, thì bác sĩ cười bảo với tôi rằng “Tôi không nhận đâu. Tôi làm vì danh tiếng Chợ Rẩy và vì danh dự một bác sĩ. Anh Phước mà đặt vấn đề đền ơn nữa là tôi không coi anh là bạn đâu. Chúng tôi không mở phòng mạch vì đã dành hết sức lực phục vụ bịnh nhân ở bịnh viện, còn đâu hơi sức mà lo phòng mạch. Với lại vợ chồng tôi nhất trí không để danh tiếng bị tổn hại vì nếu mở phòng mạch sẽ bị tai tiếng là không tận tụy với bịnh viện và dẫn dụ bịnh nhân của bịnh viện về phòng khám tư của mình. Thành ra, chỉ biết lui về nhà với gia đình sau khi ở bịnh viện về thôi Anh Phước ạ. ” Tôi trả lại Trưởng Đại Diện chiếc hộp nhung đỏ với món nữ trang bên trong, thuật lại nội dung. Hai vợ chồng ông tần ngần hồi lâu, cảm động, rồi cười to: “Tưởng chỉ có Ông từ chối vàng, bây giờ biết thêm Ông ấy là hai!” Sau này ông Trưởng Đại Diện làm Chủ tịch Hội Hữu Nghị Ấn-Việt, còn vợ ông giảng dạy tiếng Anh tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh. Còn bác sĩ Ngươn, vị bác sĩ tài ba ấy, vì áy náy trước sự ân cần kính trọng thái quá của người nước ngoài đã phải buộc lòng phá lệ khi lịch sự nhận lời chạy xe máy Honda đến dùng cơm tối tại nhà ông Trưởng Đại Diện trên đường Phùng Khắc Khoan. Tôi cũng có mặt, vì đó là sự đương nhiên ở CIMMCO, và vì bác sĩ Ngươn bảo cần có tôi để có chứng nhân rằng Ông không nhận bất kỳ vật chất nào của ông Trưởng Đại Diện cả. Con người thanh liêm đức độ ấy chỉ đến ăn cơm cà ri và trò chuyện.

Có lẽ Bác sĩ Ngươn đã nghỉ hưu. Tôi thậm chí không nhớ tên đầy đủ của Ông sau 16 năm đằng đẵng vì Ông không cho danh thiếp chắc vì không in danh thiếp. Một vị bác sĩ tài ba, tận tụy với nghề đến nỗi không sao còn dư thời gian để có phòng mạch tư dù cũng để cứu người.

 

Cung cách sống đặc biệt của những bậc y khoa tài hoa ấy, luôn xem Lời Thề Hippocrate trước Thần Chữa Bệnh Apollon, Thần Y Học Esculape, Thần Hygie và Panacée cùng các nam nữ thiên thần là lời thề của con tim và từ khối óc, để cứu nhân độ thế, và vì danh dự chức nghiệp cao trọng của một đời.

Chúng tôi – và hy vọng là chúng ta – gọi họ là những con người thanh liêm, những y sĩ có y đức; vì rằng y đức không phải là một chủ đề cho một lời kêu gọi hay một kế hoạch đầy tốn kém để giáo dục và dựng xây – nhất là nơi khởi xướng nếu lại là từ Ngành Y thì quả là sự nhức nhối khôn khuây với muôn đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hoàng Sa

Tàu Mỹ Ta

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-3-2016

Hoàng Sa gần đây đã trở thành phao cứu sinh cho bất kỳ ai đột ngột muốn hùng biện về lòng yêu nước vì sẽ là luôn là điều đội đá vá trời hay vượt tầm vói hoặc quá tầm với nếu lồng ghép lòng yêu nước với  việc tu thân, tề gia, luyện trí, phát triển kinh tế dựng xây quốc gia cường thịnh. Song, muốn hùng biện cho hay về Hoàng Sa, nhất thiết phải hiểu đúng về Hoàng Sa trong tương quan hiểu rõ về thế giới sử mà từ đó rất có thể sẽ có những cái nhìn tường tận về Tàu, về Mỹ, về ta.

Tàu

Từ cuộc chiến tranh xâm lược Ấn Độ của Tàu nhằm “dạy cho Ấn một bài học” do Ấn đã cho Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng tỵ nạn chính trị khi Tàu chiếm Tây Tạng 1959, khi ngày 20-10-1962 Tàu ồ ạt tấn công theo thế gọng kìm suốt chiều dài 3.225 km dọc biên giới tự nhiên của dãy Hy Mã Lạp Sơn đánh vào hai trận tuyến Ladakh và McMahon chiếm lấy Rezang La ở phía Tây và Tawang ở phía Đông, thế giới sử đã cho thấy có những sự thật sau:

1- Sự giao tranh đã nổ ra trên quy mô rộng lớn trên nóc nhà của thế giới với điều kiện núi non trùng điệp và hiểm trở cao hơn 4.000 mét đầy băng giá, với một bên là quân Tàu ồ ạt biển người và một bên là quân Ấn với số quân tuần tra ít ỏi trang bị thô sơ. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp tấn công bất ngờ và vào nơi khó ngờ.

2- Cả hai bên chỉ sử dụng bộ binh; và trong khi sự vắng bóng của hải quân hai bên là sự đương nhiên, thì điều kỳ lạ là Ấn Độ hoàn toàn sai lầm khi đã không sử dụng không quân. Vào thời điểm đó, không quân Ấn mạnh hơn, và Tàu đã không thể sử dụng không quân do (a) Tàu chưa phát triển không quân hùng mạnh, (b) địa hình núi non hiểm trở, (c) quân đội Ấn tại dãy Himalaya chỉ có số ít, và (d) vững tin vào chiến thuật biển người tràn ngập dồn Ấn vào thế lưỡng đầu thọ địch theo binh pháp cổ Tàu. Cũng vào thời điểm đó, Ấn chỉ sử dụng không quân để tiếp tế lương thực và đạn dược cho đoàn quân đã bị Tàu đánh cho tan tác, vì (a) lãnh đạo Ấn là Thủ Tướng Nehru bối rối và lúng túng với dàn tướng lĩnh không biết phải đối phó ra sao cũng như chưa bao giờ cho rằng biên cương Himalaya thiên nhiên khắc nghiệt sẽ không làm chùn bước bất cứ mưu đồ xâm chiếm nào, (b) run sợ việc ném bom và không kích sẽ gây nên tội ác lớn vì giết quân Tàu đang ồ ạt xông lên đông hơn kiến trên mặt đất chết như rạ, (c) bàng hoàng vẫn không tin là nước cộng sản mà Ấn đã nhanh chóng công nhận, thiết lập quan hệ ngoại giao và ủng hộ lại bất ngờ tấn công mình, và (d) đợi chờ sự ra tay cứu viện của Mỹ và Liên Xô. Điều này cho thấy Tàu đã biết rõ về cung cách của đối phương “dám làm gì” và “không dám làm gì” để xuất chiêu chiếm thế thượng phong.

3- Cuộc tấn công của Tàu nổ ra cùng ngày với biến cố mà thế giới Sử gọi là “Cuộc Khủng Hoảng Tên Lửa Cuba” khi Mỹ và Liên Xô đối đầu nhau với sự chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều này cho thấy Tàu luôn áp dụng binh pháp cổ Tàu trong chớp lấy thời cơ bành trướng ngay khi hai siêu cường Mỹ và Liên Xô (nay là Nga) có vấn đề căng thẳng về quân sự.

4- Ngày 20-11-1962 tức sau 32 ngày xâm lược Ấn Độ, Tàu đơn phương tuyên bố rút quân ngay khi hay tin đáp lời kêu gọi của Ấn, Mỹ bắt đầu đưa hàng không mẫu hạm và các chiến đấu cơ đến Ấn. Việc “rút quân” này khiến đặt Mỹ vào tình trạng không thể triển khai chiến đấu gây tổn thất nặng nề cho Tàu, thậm chí làm Tàu tránh nguy cơ bị đại bại phải mất các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Ấn. Điều này cho thấy Tàu chỉ tuyên bố “rút quân vì đã dạy xong cho kẻ thù một bài học” khi đã đại bại hoặc khi đánh hơi thấy sắp có nguy cơ đại bại.

5- Vào ngày 03-10-1962 tức chỉ chục ngày trước khi xua quân xâm lược Ấn, Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai thăm New Delhi và đã hứa với Thủ Tướng Ấn Jawaharlal Nehru rằng hai nước hữu hảo tốt đẹp sẽ không bao giờ có chiến tranh với nhau. Điều này cho thấy Tàu mỗi khi mở miệng hứa điều gì là chỉ để che đậy một mưu đồ ngược lại.

6- Liên tục trong các năm 1951 và 1952, Tàu tái khẳng định Tàu không có vướng mắc gì về lãnh thổ với Ấn. Tháng 11-1956 Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai tái tuyên bố  rằng Tàu không có tranh chấp gì về lãnh thổ với Ấn nhưng bản đồ chính thức sử dụng toàn quốc của Tàu luôn vẽ nước Tàu gồm luôn 120.000 km2 bên trong lãnh thổ của Ấn. Để rồi sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu lặng lẽ xây dựng hệ thống đường sá cùng các tiền đồn tại vùng Aksai Chin của Ấn từ năm 1956 mà đến 12 năm sau, lúc tất cả đã hoàn tất thì Ấn mới hốt hoảng phát hiện. Thậm chí gần đây vào ngày 15-4-2013 Tàu chiếm 640km lãnh thổ Ấn dọc theo biên giới Depsang, Chumar và Pangong Tso của Ấn; và năm 2014 Tàu lấn sâu vào vùng Burtse ở Ladakh đến 30km và khi binh sĩ Ấn tiến đến, lính Tàu cầm bảng ghi câu tiếng Anh “This is Chinese Territory. Go Back!” (Đây là lãnh thổ Tàu. Hãy lùi lại!). Điều này cho thấy Tàu không bao giờ có tranh chấp lãnh thổ với bất kỳ quốc gia nào cả, mà Tàu chỉ xây dựng cơ sở tại những nơi Tàu bảo đó là của Tàu.

7- Năm 1954 Tàu đề ra khẩu hiệu Hindi-Chini bhai bhai (Ấn-Hoa huynh đệ) cùng Năm Nguyên Tắc Chung Sống Hòa Bình với Ấn Độ, theo đó hai nước sẽ hữu hảo giải quyết các bất đồng . Thủ Tướng Nehru bỏ ngoài tai lời khuyên của Thủ Tướng Ba Swe của Miến Điện (tức Burma, nay là Myanmar) rằng đừng tin những hứa hẹn của Chu Ân Lai. Nehru bị huyễn hoặc bỡi những lời hoa mỹ của Tàu, và thậm chí nhân nhượng Tàu về vấn đề Tây Tạng để hy vọng nhận được từ Tàu sự hình thành một liên minh khối trục Á Châu giữa Ấn và Tàu trên cơ sở đối tác chiến lược hùng mạnh. Hậu quả là sau khi chiếm Tây Tạng, Tàu tuyên bố vùng Arunachal Pradesh 90.000km2 của Ấn có tên gọi Nam Tây Tạng nên thuộc về Tây Tạng tức thuộc về Tàu do Ấn đã công nhận Tây Tạng thuộc Tàu. Khi đã quá muộn lúc biết được bộ mặt thật của Tàu, Nehru vào năm 1959 chấp nhận cho Đức Dalai Lama tỵ nạn chính trị sau khi Dalai Lama đào thoát khỏi Lhasa vì cuộc khởi nghĩa chống Tàu thất bại. Điều này cho thấy Tàu không bao giờ muốn làm bạn với bất kỳ ai, và chuyên đề ra các khẩu hiệu để sử dụng các khẩu hiệu này như thứ bùa mê thuốc lú để săn mồi.

8- Tàu đã dồn Ấn vào thế bị lấn chiếm, đến độ Ấn sẵn lòng không tiếp tục đòi chủ quyền với phần diện tích 38.000km2 Jammu và Kashmir trong vùng Aksai Chin nếu Tàu không tiếp tục bảo phần diện tích 90.000km2 trong vùng Arunachal Pradesh kể cả Tawang là của Tàu. Điều này cho thấy Tàu luôn giở thủ đoạn chây lỳ tức kéo dài thời gian cho mọi sự trở thành việc đã rồi trong bành trướng xâm lược để những khi không thể ra tay sáp nhập bằng vũ lực thì cứ tự động vẽ bản đồ gồm thâu luôn lãnh thổ hay lãnh hải nước khác mà không cần tài liệu chứng minh chủ quyền, và tự động đổ quân đến đồn trú xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự và dân dụng.

Mỹ

Việc Mỹ đã không có tầm nhìn chiến lược quân-địa-chính-kinh-tài đã quá hiển nhiên không thể nào chối cãi. Vì không có tầm nhìn xa tối thiểu 50 năm, Mỹ đã xem Việt Nam như kẻ thù phải diệt tiêu bằng mọi giá, kể cả ủng hộ Tàu (mà Việt Nam dũng cảm gọi thẳng là Trung Quốc) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và ủng hộ chư hầu của Tàu là Campuchia (mà Việt Nam hay ỏn ẻn gọi là Khmer Đỏ chứ không dám gọi tên nước) tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Khi 70.000 dân quân Việt Nam đánh tan 700.000 chiến binh tinh nhuệ Tàu bỏ chạy về bên kia biên giới, Mỹ không có cớ cấm vận Việt Nam vì Việt Nam không bước qua đường biên giới Việt-Tàu trên dường truy sát giặc Tàu. Mỹ vội có nhiều bài báo nói Tàu đã rút quân sau khi dạy cho Việt Nam một bài học. Khi dân quân Việt Nam đánh bật Campuchia ra khỏi lãnh thổ, đồng thời nhận thấy nhân dân Campuchia bị nạn diệt chủng do chính phủ Campuchia điên loạn mà thế giới làm ngơ, Việt Nam đành tiến quân qua bên kia đường biên giới truy sát tiêu diệt chính phủ quái vật của Campuchia “once and for all” (kiểu Mỹ: một lần cho tuyệt mối họa về sau), thì Mỹ lập tức xem như có cơ hội bằng vàng để tuyên bố cấm vận kinh tế Việt Nam vì tội xâm lược Campuchia. Mỹ sau đó tăng cường viện trợ cho Campuchia, giúp Campuchia đoạt các đơn hàng khổng lồ về may mặc do Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO tận tình tận tụy tận tâm chỉ dẫn chỉ bảo chỉ dạy Campuchia đáp ứng các yêu cầu về tổ chức công đoàn kiểu Mỹ và tổ chức sản xuất để cấp cho Campuchia giấy thông hành ưu tiên bán hàng vào Âu Mỹ. Cấm vận Việt Nam để bần cùng hóa Việt Nam, giúp đỡ Campuchia để tước luôn khả năng kiếm sống bằng nghề may mặc của Việt Nam, Mỹ đã như kẻ thất học không nhìn xa trông rộng. Việt Nam yếu đi, dẫn đến sự lấn lướt của Tàu, đe dọa cả ASEAN. Campuchia mạnh hơn, và Campuchia trở về cạnh Tàu để phản phúc Mỹ, trở thành con ngựa thành Troy làm Mỹ muối mặt ở hội nghị thượng đỉnh ASEAN.

Nhận ra việc Việt Nam là chỗ dựa về an ninh cho cả khu vực ASEAN từ đó bảo vệ được Châu Đại Dương với vùng Nam Cực có nhiều căn cứ nghiên cứu tối mật của Mỹ, Mỹ đã có những bước đi đúng nhưng muộn màng. Đúng, chẳng hạn như mời Việt Nam làm một thành viên của Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP. Đúng, chẳng hạn như đã nhận ra tầm quan trọng cực kỳ của Biển Đông. Muộn màng vì Việt Nam bây giờ mới được Mỹ xem trọng để yên thân leo lên được ngưỡng đầu tiên của  sự phát triển, thay vì đã hùng mạnh hùng cường từ nhiều chục năm trước – với sự giúp đỡ của Mỹ. Muộn màng, vì Tàu đã quá mạnh đối với Mỹ và thế giới khi đầu tư Tàu tràn ngập thế giới từ Châu Phi ngập tràn khoáng sản đến khu vực Nam Mỹ trực tiếp đe dọa Mỹ từ phía Nam, từ thực tế đồng tiền Tàu đã thành tự do chuyển đổi, và từ thực tế Tàu thành lập hệ thống các ngân hàng cạnh tranh với cả các định chế tài chính như Ngân Hàng Thế Giới World Bank, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, hay Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ADB, v.v.

Việc Mỹ đưa các chiến hạm đến Biển Đông với chiêu bài xoay trục về hướng Đông đã không tôn được vị thế và vai trò của Mỹ ở khu vực này của thế giới. Khi Mỹ hùng dũng tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý đối với các đảo trên Biển Đông mà Trung Quốc chiếm hữu tiến hành xây dựng sân bay bến cảng, Mỹ đã chỉ làm Tàu cười to nhạo báng, vì rằng “khi anh tuyên bố sẽ duy trì việc tuần tra 12 hải lý, nghĩa là anh tuần tra cách các đảo chìm đảo nổi của tôi 12 hải lý, cũng có nghĩa là anh mặc nhiên thừa nhận rằng các đảo ấy là của tôi, thuộc chủ quyền của tôi! Ngay cả một tuyên bố thôi mà Mỹ cũng hoặc bất cẩn hoặc do biết chính mình bó tay không thể làm gì khác hơn được.

Ta

Sau khi đã biết Tàu đốn mạt như thế và Mỹ thiếu tầm nhìn như thế, ta sẽ nói gì – hay làm gì – về Hoàng Sa?

Nói Hoàng Sa đã là lịch sử, thì thế nào cũng có kẻ hê lên rằng: “Thế mầy dâng cho Tàu luôn à, thằng tay sai Tàu?

Nói Hoàng Sa mãi mãi là của Việt Nam, thì thế nào cũng có kẻ hét lên rằng: “Thế sao không kiện Tàu? Không đánh Tàu để đòi lại?”

Nói bây giờ Tàu tiến xuống chiếm mấy đảo của Trường Sa, thế nào cũng có kẻ gầm lên rằng: “Chính phủ vô dụng. Đảng vô dụng. Hèn nhát. Không dám làm gì.”

Chẳng ai đặt câu hỏi khi tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc, bị đánh cho đại bại phải rút về Tàu, quân Tàu do bản chất mất dạy có cố vớt vát vừa ở lỳ trên vài kí lô mét vuông đất nào của Việt Nam vừa hét lên rằng đó là đất của nó mà nó đã thua chạy về phần đất của nó rồi, vậy sao còn xâm lược nó? Có hay không việc Tàu đã giở thói lưu manh đó như nó đã từng làm với Ấn Độ để chiếm giữ một ít đất của ta?

Việc Tàu đưa ra lập luận “đường chín đoạn” mà ta gọi là “đường lưỡi bò” là để chiếm hữu toàn bộ Biển Đông, biến Việt Nam chỉ còn có thể cho tàu thuyền đi sát bờ biển, và tất cả các máy bay dân sự Việt Nam sẽ bị tên lửa đất đối không của Tàu bắn hạ nếu bay trên Biển Đông mà Tàu bảo là thuộc lãnh hải của Tàu. Tất nhiên toàn bộ các mỏ dầu hỏa của Việt Nam bây giờ tự động nằm bên trong cái đường lưỡi bò ấy. Việc Tàu sau khi đã chiếm hữu Hoàng Sa, nay tiến xuống Trường Sa chỉ là một bước tiếp theo chứ không phải là sự lấn chiếm lần lượt hết đảo này đến đảo khác để cho dân Tàu có “ngư trường” đánh bắt hải sản. Mưu đồ thâm độc và táo tợn, ghê gớm hơn nhiều, chứ không chỉ là chiếm đảo: chiếm toàn bộ Biển Đông, từ đó làm suy yếu toàn bộ ASEAN để chiếm cả ASEAN từ đó tiến xuống Châu Đại Dương và đẩy Mỹ khỏi Nam Cực.

Thay vì hùng dũng đặt câu hỏi chất vấn vì sao sách giáo khoa Sử vẫn chưa có viết về Hoàng Sa, hãy quan tâm đến những điều thiết thực sau:

1) Một sự việc được ghi vào sử sách luôn sau một thời gian hàn lâm hạn định tối thiểu 50 năm hoặc hơn, tùy theo từng loại sử liệu mà chính phủ mỗi nước quy định.

2) Trước khi Hoàng Sa được ghi vào sử sách, việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa phải luôn được tiến hành, đặc biệt khai thác các tài liệu của Việt Nam Cộng Hòa cũng như của thế giới, tính cả đến việc chờ đợi đến khi Chính Phủ Mỹ cho phép tiếp cận các hồ sơ mật về chiến tranh Việt Nam để giải mã các sự kiện, sau 50 năm hay 90 năm. Việc nghiên cứu và tập hợp sử liệu về Hoàng Sa như nói trên được thực hiện bởi các tổ chức Sử và cá nhân các nhà nghiên cứu Sử, chứ không bao giờ là của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo vì tại tất cả các nước Bộ Giáo Dục chỉ sử dụng các pho lịch sử để lên chương trình học chứ không đứng ra tổ chức nghiên cứu Sử. Câu hỏi do đó hãy đặt ra cho các viện Sử học, các tổ chức nghiên cứu Sử, các nhà nghiên cứu Sử, viết khảo luận Sử, v.v., và tất cả các công trình đều phải cơ sở dữ liệu tham khảo chi tiết từ nguồn của Việt Nam và nguồn của nước ngoài, có liệt kê cuối mỗi công trình để tăng mức độ đáng tin cậy, và sau thời gian dài tranh luận, tranh cãi, thẩm tra, bút chiến, lúc các tài liệu khảo cứu biến thành sử liệu, các pho sử tân biên với các phần bổ sung sẽ được hình thành để các trường học sử dụng dạy Sử. Chính các sử gia, các nhà nghiên cứu sử, mới là những người duy nhất có trách nhiệm phải làm tất cả, từ kiếm tìm tài liệu, dịch thuật tài liệu, kiểm chứng tài liệu, hình thành tác phẩm về Hoàng Sa. Đây là việc của họ, vì đó là chuyên môn nghiệp vụ của họ, vì đó là quy trình tất yêu của sử liệu và pho sử, và vì đó cũng là kế sinh nhai của họ, đem lại cho họ nguồn thu nhập đương nhiên.

3) Không những chỉ có Hoàng Sa, mà Trường Sa cùng tất cả các đảo khác dù nhỏ dù lớn như Phú Quốc hay Côn Đảo cũng nhất thiết cần được sưu tầm tài liệu, cập nhật dữ liệu, vì chưa nói đến chuyện kiện tụng ra tòa án quốc tế đòi công lý chủ quyền, việc tập trung tài liệu đủ đầy sớm ngay từ trước luôn là cách tốt nhất phục vụ cho những đòi hỏi chủ quyền cho quốc gia khi hiểm họa tranh chấp chủ quyền không chỉ là một nguy cơ tiềm tàng, và khi khu vực có tồn tại một kẻ lưu manh mất dạy như Tàu.

4) Không để mất thêm những Hoàng Sa, nhất thiết phải có tiềm lực quốc phòng hùng mạnh. Để có tiềm lực ấy phải có rất nhiều tiền. Để có rất nhiều tiền phải phát triển kinh tế vượt bậc. Để phát triển kinh tế vượt bậc phải có những con người xuất sắc. Để có những con người xuất sắc, giáo dục đạo đức của gia đình là tối quan trọng, tự rèn luyện của bản thân là tiên quyết, đào tạo của nhà trường là định hướng, và cơ chế chính sách là lực đẩy.

Tàu đã cướp Hoàng Sa bằng quân sự.

Tàu đang cướp Trường Sa bằng sự trơ tráo.

Tàu đang cướp Biển Đông bằng sự lưu manh.

Tàu đang cướp lúa gạo vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng cách gây hạn hán từ chuỗi đập thủy điện liên hoàn ở thượng nguồn Mekong.

Tàu đang cướp sự sống của dân Việt bằng các sản phẩm độc hại gây bịnh.

Vì tất cả các lý do trên, ta không trông mong gì Tàu sẽ trả lại cho ta Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông.

Vì tất cả các lý do trên, ta không thể kỳ vọng lớn vào Mỹ vì Mỹ đã mặc nhiên tuyên bố tuần tra 12 hải lý nghĩa là không dám tiến sát các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Vì tất cả các lý do trên, ta không chỉ có đấu tranh đòi lại Hoàng Sa và các đảo ở Trường Sa, mà ta còn phải tranh đấu để dành lại sự sống còn của đất nước và dân tộc.

Đó mới là hiểu đúng nhất về Hoàng Sa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế.

Không Quên Và Không Chê

Hoàng Hữu Phước, MIB

25-3-2016

Cách nay hơn một phần tư thế kỷ, vợ tôi sinh khó phải mổ, lúc ấy vào tháng 12, trời Thành phố Hồ Chí Minh lạnh ngắt chứ không như bây giờ nóng quanh năm suốt tháng. Sau khi đưa vợ và con tôi về ngôi nhà nhỏ xíu ở Phú Nhuận mà tôi vẫn đang cư trú tại đấy cho đến tận ngày nay, tôi một mình lo toan mọi việc mà người đàn ông lập gia đình ra ở riêng nào cũng phải gánh vác trong hoàn cảnh tương tự.

Không quên và không chê lời dạy của Má tôi về chăm sóc sản phụ – đúc kết từ kinh nghiệm dân gian bao đời nay – tôi đã phối hợp với kiến thức Tây học để thực hiện việc sau:

Nếu kinh nghiệm dân gian nói về việc sản phụ nên “nằm than”, còn Tây học nói bếp than sinh ra khí carbonic cực kỳ độc hại cho sản phụ và hài nhi, tôi phối hợp bằng cách đặt bếp than hồng ngoài sân, đưa úp hai bàn tay của mình hứng lấy sức nóng của than, rồi chạy nhanh vào phòng trong, thử úp sơ bàn tay vào hai bên mặt của mình để yên tâm về độ nóng ấm vừa phải trước khi đặt hai bàn tay lên ngực vợ tôi, ôm từng bầu sữa một. Xong, tôi lại chạy ra chạy vào như thế, để ấp hơi ấm lên ngực vợ tôi, hai bầu sữa của vợ tôi, lên bụng vợ tôi, cũng như nhè nhẹ trên vết khâu đường giải phẫu. Sau đó, tôi lại tiếp tục việc chạy ra chạy vào để ấp ấm lên người, tay và chân của con tôi.

Má tôi đã truyền lại kinh nghiệm dân gian ấy mà Bà ngoại của tôi đã dạy Má tôi thủa sắp về nhà chồng, rằng khi sinh con, phải nằm than, không được nằm trước gió, không được tắm gội ngay cả tắm gội bằng nước ấm, mà nếu cần chỉ được lau mình qua loa bằng khăn thấm nước ấm, vì rằng nếu không thì sẽ thấy hậu quả nhãn tiền: chỉ cần vừa bước qua tuổi 30 là người phụ nữ sẽ phải luôn mặc áo ấm vì luôn thấy ớn lạnh dù trưa hè nóng bức, cũng như không thể chịu nỗi lúc trái gió trở trời. Còn việc ấp tay lên bộ ngực sản phụ để kích thích tiết sữa, lên bụng để vừa ấm bụng vừa săn chắc da bụng vừa ổn định tình hình dạ con đang bị tổn thương bên trong bụng.

Thế là sau khi cho vợ ăn sáng, cho con bú bình, ấp vợ ấp con xong, tôi chạy đi làm, để trưa quay về làm tiếp công việc y như sáng, và lại chạy đi làm đến chiều. Chưa kể, để vợ tôi ngủ yên, tôi đêm khuya bế con ra chốn thư phòng (tức nơi có một cái bàn, bốn chiếc ghế và một tỷ quyển sách) vừa cho con bú bình, vừa nói chuyện với nó bằng tiếng Anh, kể nó nghe tôi yêu nó biết bao, và mong muốn nó ngày sau hãy cố gắng hiếu thảo với mẹ, hãy là công dân tốt, và hãy thay tôi mà hết lòng chăm sóc mẹ của nó, người đã chấp nhận làm vợ một hàn sĩ như bố của nó để rồi phải trãi qua thử thách khắc nghiệt hiểm nguy để sinh nó ra đời.

Hơn nửa thế kỷ nay, Má tôi ở khu Bàn Cờ  Quận 3 vẫn đánh gió cho các con cũng như cho hàng xóm. Còn tôi ra Hà Nội họp Quốc Hội bao giờ hành trang vẫn có chai dầu khuynh diệp và dụng cụ đánh gió, để khi trái gió trở trời nhức đầu mõi cổ tôi có thể tự mình đánh gió sau gáy. Ngay cả khi không cần đến cái gọi là dụng cụ đánh gió, tôi vẫn có thể dùng ngón tay cái thấm dầu khuynh diệp để miết tới miết lui sau gáy như một cách đánh gió massage.

Phóng sự quốc tế cho thấy nhiều người Âu Mỹ ngồi xếp hàng chầu chực ở các cơ sở y học dân tộc bên Hàn Quốc chờ đến phiên được vào để được đánh gió, giác hơi. Còn tại Việt Nam thì bác sĩ thay vì nói “đánh gió là một kiểu massage tốt, đặc biệt nếu các bạn không bị cao huyết áp”, thì lại nói “đánh gió rất nguy hiểm nếu bạn bị cao huyết áp”.

Quên hết và chê hết những tinh hoa của dân tộc gần như là một đặc điểm thường thấy nơi những con người Việt Nam hiện đại. Nhưng lẽ nào người Hàn Quốc không hiện đại hay sao?

Tôi không quên và không chê những gì đã luôn được dùng để chăm sóc hiệu quả cho các chiến binh Việt trên đường Phạt Tống, Bình Chiêm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Quyền Lực Của Cử Tri

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-3-2016

Có nhiều người cho rằng câu nói sau là câu nói đúng đắn, bình thường: “Nếu được cử tri tín nhiệm, tôi sẽ ra ứng cử Quốc Hội / Hội Đồng Nhân Dân khóa tới”. Thật ra, nói như thế là xúc phạm quyền lực của cử tri.

Khi động viên nhiều bạn trẻ không phải Đảng viên hãy tự ra ứng cử Quốc hội và Hội Đồng Nhân Dân kỳ này (2016-2021), tôi luôn gặp phải câu nói rằng họ sợ rớt sẽ vừa rất xấu hổ vừa bị mang tiếng không biết thân biết phận đua đòi. Tôi đã phải hùng biện như sau:

1) Có bao giờ bạn đi thi đại học với điều kiện tiên quyết rằng nhà trường phải bảo đảm bạn thi đậu tuyển sinh 100%? Bạn phải cố gắng học tập chăm chỉ và ứng thí vào trường đại học có chuyên ngành bạn yêu thích, cố gắng làm bài thi cho tốt và đi thi đủ môn đủ ngày, để bạn có hy vọng trúng tuyển đại học, thay vì hy vọng đó là zero nếu chẳng đi thi. Ngay cả khi kết quả thi không có tên của bạn, đó vẫn là điều bình thường, không phải vì bạn học kém, mà đơn giản vì chỉ có 20 ghế trống chẳng hạn, mà đã có 15 thí sinh đạt điểm mười, 5 thí sinh đạt điểm chín phẩy chín, bạn đạt điểm chín phẩy năm nên rớt chung với cả trăm người nhỏ điểm hơn bạn. Đó là quyền năng của ban giám khảo dựa theo quy định nghiêm ngặt của điểm số và của số lượng được tuyển, chứ hoàn toàn không ai xúc phạm bạn về học lực của bạn.

2) Có bao giờ bạn chỉ đi thi TOEFL với điều kiện tiên quyết rằng trung tâm tổ chức thi phải bảo đảm 100% bạn sẽ có chứng chỉ TOEFL ngay để nộp hồ sơ xin du học? Bạn phải cố gắng học tập tiếng Anh thật chăm chỉ và đăng ký thi tại trung tâm khảo thí chính thức của TOEFL, cố gắng làm bài thi cho tốt và đi thi đủ môn đủ ngày, để bạn có hy vọng đạt đủ điểm để được cấp chứng chỉ TOEFL. Không dự thi thì bạn không bao giờ biết trình độ tiếng Anh của bạn đã đạt đến ngưỡng nào, chưa kể bạn không thể du học nếu thiếu chứng chỉ ấy. Đó là quyền năng của ban giám khảo dựa theo quy định nghiêm ngặt của điểm số theo một đề bài cụ thể từ Mỹ, chứ hoàn toàn không ai xúc phạm bạn về trình độ tiếng Anh nói chung của bạn.

3) Có bao giờ bạn chỉ tỏ tình với người bạn yêu thương với điều kiện tiên quyết rằng người ấy phải chấp nhận tình yêu của bạn và trở thành vợ (hay chồng) của bạn? Bạn tỏ tình vì bạn tự tin, có can đảm thố lộ tình yêu. Còn việc người ấy không chấp nhận tình yêu của bạn, đơn giản vì con người đáng kính ấy chung thủy với người khác, chứ không vì bạn hèn kém. Việc tỏ tình và chấp nhận kết quả của việc tỏ tình chứng tỏ bạn trưởng thành, biết tôn trọng tình yêu của bạn, tôn trọng người bạn yêu, và bạn sẽ được tôn trọng tương xứng như một người văn minh. Đối tượng bạn yêu thương có lý lẽ riêng của người đó, và đó là quyền của người đó, hoàn toàn không xúc phạm chê bai gì bạn cả.

4) Có bao giờ bạn từ chối nộp đơn xin việc tại một công ty khổng lồ đa quốc gia nếu công ty khổng lồ ấy không bảo đảm bằng giấy trắng mực đen với bạn là bạn sẽ được tuyển dụng nếu chịu nộp đơn? Bạn vẫn phải nộp đơn nhiều nơi, dự nhiều cuộc phỏng vấn, đối chọi với bao đối thủ cạnh tranh, để hy vọng đạt được một khởi nghiệp như ý. Ngay cả khi bạn không được tuyển dụng, hãy khoan nghĩ tiêu cực rằng bạn kém cỏi, mà hãy tin rằng vị trí tuyển dụng chỉ có một, mà kết quả cho thấy bạn cùng một ứng viên nọ ngang tài ngang sức, nhưng quyết định lại không được trao cho bạn chỉ vì ững viên kia có sơ yếu lý lịch cho thấy gia cảnh là con trưởng phải phụng dưỡng cha mẹ già và nuôi đàn em những năm đứa, trong khi bạn có gia cảnh sung túc hơn qua thể hiện nơi trang phục và trang bị đắt tiền của bạn lúc dự phỏng vấn. Vị giám đốc nhân sự có lỹ lẽ riêng của vị ấy, hoàn toàn không xúc phạm gì đến tư cách hay trình độ của bạn cả.

5) Và bạn lẽ nào chỉ nộp đơn dự thi The Voice nếu ban giám khảo cam đoan rằng bạn sẽ đoạt giải nhất? Bạn phải luyện hát cật lực, luyện giọng gian khổ, để đến trình bày tác phẩm dự thi của bạn. Ban giám khảo sẽ quyết định về bạn, và ngay cả khi quyết định ấy không vì bạn, đó cũng là lẽ công bằng vì mọi người dự thi có thể có trình độ biểu diễn ca khúc hay như nhau, nhưng sự lựa chọn hay không lại có khi tùy vào sự luyến láy của một nốt nhạc yếu thế. Đó là quyền của các giám khảo, những người có trình độ cao về âm nhạc, và có đặc quyền mà ban tổ chức đã trao cho họ. Bạn đi thi vì bạn tự tin, vì bạn đã cố hết sức, và bạn để ban giám khảo thực hiện quyền năng của họ.

Đối với việc ra ứng cử Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân, bạn và tôi thuộc diện ngoài Đảng, tự ứng cử, không được người dân biết đến do chưa từng có công trạng với cách mạng, chưa từng ngồi ghế cao quyền trọng để được nhắc đến trong phạm vi cả nước; vì vậy, bạn và tôi phải xác định rằng (a) việc ra ứng cử là vì muốn cống hiến tâm lực trí lực cho nước cho dân, (b) chấp nhận khi trúng cử sẽ phục vụ đất nước và nhân dân mà không hưởng lương, (c) bản thân bạn và tôi chỉ là con số không đối với người dân, (d) bản thân bạn hay tôi cùng từng thành viên trong đại gia đình của bạn hay của tôi kể cả cha mẹ anh chị em của bạn hay của tôi tất cả đều phải luôn là những công dân tốt của xã hội chưa từng có tiền án tiền sự, và (e) bạn và tôi phải ra sức bày  tỏ thuyết phục người dân – tức cử tri – chịu tin vào tấm lòng của bạn và của tôi để từ đó toàn quyền quyết định có cho phép bạn và tôi có cơ hội được thay họ ra giúp nước giúp dân hay không.

Nếu bạn và tôi đã chuẩn bị chăm chút từng li từng tí một như thế mà vẫn chưa có được sự cho phép của cử tri, đó là điều đơn giản và công bằng.

Đơn giản vì cử tri đang thực hiện quyền năng của họ.

Đơn giản vì mọi người có lòng vì nước vì dân khi thu xếp được thời gian để phụng sự và chấp nhận các hy sinh đều có thể tự ra ứng cử, và cử tri bắt đầu công việc một ban giám khảo nghiêm túc, công tâm, để chấm điểm, lựa chọn ứng viên hay những ứng viên có điểm số chung nhỉnh hơn để trao lá phiếu bầu chọn của mình.

Công bằng vì nếu bạn và tôi chưa được trao lá phiếu ấy, nghĩa là sự chuẩn bị của bạn và tôi vẫn chưa được đủ đầy, chưa ở vị trí vượt trội.

Vì tất cả những điều công bằng đơn giản trên, cộng với sự công nhận và tôn trọng quyền lực của cử tri, bạn hãy tự tin nộp đơn tự ứng cử. Được cử tri lắng nghe, được cử tri cân nhắc, được cử tri chấm điểm: đó là vinh dự của bạn chứ bạn không thể nói bạn “xấu hổ” hay “đua đòi trèo cao” nếu kết quả điểm bạn thấp hơn người khác.

Bạn và tôi, chúng ta không bao giờ được phép nói chúng ta sẽ ra ứng cử nếu được cử tri tín nhiệm, vì nói thế là xúc phạm sự công minh của cử tri, gây áp lực nơi cử tri, và tước lấy nơi họ quyền quyết định chỉ thuộc riêng về họ.

Bạn và tôi, chúng ta cùng ra tự ứng cử vì chúng ta muốn phục vụ quốc gia, dân tộc. Và chúng ta đợi chờ sự quyết định của cử tri. Quyết định ấy có thể đến với bạn trong kỳ này, hoặc kỳ sau, hoặc sau kỳ sau, miễn bạn kiên tâm, bền chí, vì bạn có lợi thế về tuổi trẻ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Có Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-3-2016

VoDuyen1Vo Duyen2

Vo Duyen3Vo Duyen4XYZ

Bài này cùng hai bài trước chỉ đưa ra một vài thí dụ tôi từ khi internet xuất hiện đến nay đã liên tục đơn thương độc mã chống chọi với các xúc xiểm đất nước Việt Nam từ không gian mạng. Gọi là đơn thương độc mã vì đa số những người chống Chống Cộng ở Việt Nam đã dùng những từ thật ngắn gọn, mạnh mẽ, để nguyền rủa những ai thóa mạ Việt Nam cùng Hồ Chí Minh. Gọi là đơn thương độc mã vì chỉ có tôi miệt mài bút chiến bằng tiếng Anh vì đối tượng tôi nhắm đến là sinh viên – học sinh Việt Nam ở Việt Nam hay hải ngoại, và những người nước ngoài, chứ không bao giờ bút chiến luận với những ai là tác giả các bài thóa mạ bôi nhọ Việt Nam cả.

Hai thí dụ ở trên là hai thí dụ mới nhất của ngày hôm qua. Thí dụ thứ nhất là bức tranh hạ đẳng của một gã tên Nguyễn Đất, Nguyễn Đạt, hay Nguyễn Dật gì đó, với chức danh ghi là “quản lý chương trình phát triển Việt Nam tại Đại Học Nam Columbia”. Rất có thể y là một chiến sĩ cộng sản trẻ ưu tú đang tạo lớp vỏ bọc chống Việt để lấy lòng phe nhóm chống Việt để có thể leo cao trong hàng ngũ chống Việt để từ đó đánh phá tan tành hàng ngũ ấy. Rất có thể y giống như bao kẻ tầm thường khác hễ ra nước ngoài du học là cứ triền miên lầm tưởng là phải chửi cha Việt Nam để phù hợp với xã hội Âu Mỹ. Nhưng dù y là ai đi nữa thì tôi bảo đảm với các bạn rằng nếu các bạn đừng khinh thường y mà chịu khó nhớ tên của y thì sau 50 năm nữa các bạn cũng sẽ chẳng hề nghe tin tức gì về y như nhà trí thức hay nhà bác học vĩ đại của Âu Mỹ, đơn giản vì các vị trí ấy không bao giờ dành cho những gã hoặc hề hoặc ngu muội.

Nếu các bạn thực sự muốn người thân của mình là nhân tài ở Việt Nam hay ở Âu Mỹ, xin hãy tìm đọc các bài viết của giáo sư tiến sĩ Trần Chung Ngọc. Tiến sĩ Trần Chung Ngọc là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, Cử nhân Giáo khoa Khoa Học 1962 (Đại học Khoa học Saigon), Tiến sĩ Vật lý 1972 (Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ), Trưởng khoa Vật lý và Hóa học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1962-1965), giảng viên Vật lý Đại học Khoa học Saigon (1965-1967), giảng sư Vật lý Đại học Khoa học Saigon (1972-1975), giảng sư Vật lý Đại học Wisconsin – Madison (1975-1977), Giám đốc phòng thí nghiệm phân tích của Trung tâm Vật liệu Đại học Wisconsin – Madison (1977-1996), và là Cố vấn kỹ thuật Viện Tiêu chuẩn và Nghiên cứu Công nghiệp Singapore (1989), khi nghỉ hưu tại thị trấn Grayslake, bang Illinois, Hoa Kỳ, đã dành nhiều thời gian nghiên cứu tôn giáo, lịch sử, v.v., với nhiều tác phẩm được xuất bản ở Mỹ. Tiến sĩ đã qua đời cách nay hai năm.

Trang web của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc cung cấp hàng trăm bài viết có sức thuyết phục cao do Ông không những là một bậc trí thức đại tài mà còn là một nhà khoa học đáng kính trọng. Chỉ cần đọc các bài viết của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, các bạn trẻ Việt Nam vừa có thể mở rộng tầm mắt, mở mang trí tuệ, học hỏi thuật phân tích khoa học cùng nhận định sâu sắc, vừa có thể trau giồi hoàn thiện tiếng Anh (do Tiến sĩ Trần Chung Ngọc thường có các trích dẫn làm luận cứ cho các luận điểm của Ông và dịch ngay các dẫn chứng ấy ra tiếng Việt trong bài viết để tạo cơ sở so sánh cho người đọc) một cách hiệu quả nhất là đối với thuật hùng biện. Tấm lòng Ông với Việt Nam, các nhận định công tâm công bằng của Ông với chế độ cộng sản ở Việt Nam, cũng như lòng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của mình và về đất nước Việt Nam đang ngày càng giàu mạnh, đã quá đủ để nêu danh nghĩa khí bậc kỳ tài cao thượng và hướng thượng, những thứ mà chưa hề thấy có được nơi hàng vạn du học sinh Việt Nam ở hải ngoại, và do không tồn tại nơi họ, chẳng ai trong họ lập nên những kỳ tích hàn lâm danh vang thế giới như Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc.

Tôi không tìm sự nổi tiếng trên không gian mạng, nên chỉ chăm chút cho blog này trên WordPress.com dù cho các bài viết từ trái tim khối óc chỉ được tìm đọc bởi vài ba chục bạn đọc mà thôi. Xin cảm ơn các bạn ấy, và xin đội ơn các bạn nếu các bạn rộng lượng chuyển các đường link những bài viết này đến các bạn trẻ người Việt và gốc Việt để các bạn biết thế nào là quốc thể và lòng hướng thiện đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính Mời Tham khảo:

Thầy Trần Chung Ngọc: http://www.sachhiem.net/TCN/Ndir.php

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp Quốc Gia: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/22/de-viet-nam-tro-thanh-cuong-quoc/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 2: Hão Huyền Singapore: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/23/de-viet-nam-tro-thanh-cuong-quoc-hao-huyen-singapore/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Bài 3: Hão Huyền Nhật Bản: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/28/2744/?preview=true&preview_id=2756&preview_nonce=6f505f96f0&frame-nonce=0d9ea09f6d&iframe=true

Không Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-3-2016

HHP L1 (1)HHP L1 (2)HHP L2 (1)HHP L2 (2)HHP L3 (1)HHP L3 (2)HHP L4HHP L5HHP Viet1HHP Viet2HHP Viet3HHP Viet4HHP Viet5HHP Viet6HHP Viet7HHP Viet8HHP Viet9HHP Viet10HHP Viet11HHP Viet12

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Bài 3: Cẩm Nang Kiến Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Hoàng Hữu Phước, MIB

28-02-2016

Là một quốc gia không có nguồn nhân lực có ý chí cực cao, tính kỹ luật cực cao, sự trung thành cực cao đối với chế độ chính trị nước nhà, sự khôn ngoan cực cao làm chúa ngoại bang chớ không làm tôi tớ ngoại bang, và có sự giúp đỡ cực cao của Mỹ như Nhật Bản, Việt Nam sẽ không bao giờ kiến quốc theo mô hình độc nhất vô nhị của Nhật Bản để được hùng mạnh về kinh tế như Nhật Bản.

Có một thực tế ở Việt Nam là hay có dư luận dù vô tình bởi người thiếu hiểu biết hay dù cố ý bởi kẻ chăm chỉ chống chế độ cộng sản đều hay sử dụng Nhật Bản dù chỉ là một cái cớ rất nghèo nàn yếu đuối để chứng minh Cộng sản Việt Nam Cộng Sản đã thất bại không thể xây dựng được nền kinh tế thần kỳ như Nhật Bản do Nhật Bản cũng trải qua sự tàn phá kiệt quệ sau chiến tranh có khi còn tàn khốc hơn cả Việt Nam.

Tất nhiên, do Việt Nam chỉ lo tập trung vào các môn Lịch Sử Việt và Lịch Sử Đảng khiến học sinh trung học thì “dốt” Sử còn nhà sử học thì chỉ giỏi phát biểu về Việt Sử trong khi sách sử thì ai cũng có thể đọc được và biết được, chẳng cần phải có các vị nhà sử học ấy làm gì cho chật chội tháp ngà hàn lâm vốn đã chưa từng cao và không còn rộng, những kẻ thậm chí góp phần miệt thị môn Sử qua việc chẳng làm gì ra hồn khiến cho môn Sử lụn bại đến nỗi bị loại ra khỏi tất cả các kỳ thi cuối lớp hay cuối cấp ở trung học. Còn môn Thế Giới Sử thì đã biến mất cùng với sự sụp đổ Việt Nam Cộng Hòa nên ở Việt Nam ngày nay mỗi khi nói đến “Sử” thì người ta chỉ biết đó là “lịch sử Việt Nam” mà quan trọng nhất là môn Lịch Sử Đảng – tất cả khiến có sự mù mờ về lịch sử thế giới và sự thần phục Singapore – còn đối tượng của bài này là Nhật Bản – xuất hiện như sự đương nhiên, tất nhiên, hiển nhiên, và dĩ nhiên là tự nhiên. Bài viết này, do đó, trở thành một dẫn chứng về những sự thật lịch sử của thế giới hầu giúp lành mạnh hóa giới trẻ nai tơ và vô hiệu hóa các bài bản công kích của Việt gian cáo già nhắm vào Việt Nam Cộng Sản, theo các nội dung chính sau:

ScreenShot1109

A) Tội Ác Ngút Trời Của Nhật Bản Trong Đệ Nhị Thế Chiến

Giới cầm quyền Nhật Bản bị quy phải chịu trách nhiệm đã tàn sát nhiều triệu thường dân và tù binh chiến tranh tại các quốc gia Nhật chiếm đóng mà hình ảnh trữ lưu như các “chiến tích anh hùng” của các sĩ quan và chiến binh Nhật Bản cho thấy từ những cảnh xử tử bằng súng cho đến chặt đầu và chôn sống tù nhân, mà chỉ trong một cuộc thảm sát Nam Kinh thôi cũng đã có 300.000 hàng binh Trung Quốc bị xử tử và 80.000 phụ nữ dân thường từ 10 đến 80 tuổi kể cả các nữ tu bị hãm hiếp trước khi bị sát hại bằng cách cắt rời hoặc đóng cọc sắt vào bộ phận sinh dục của họ, hoặc bị bắt theo làm nô lệ tình dục phục vụ quân đội Thiên Hoàng. Những hình chụp hai chiến binh Nhật Bản đứng cầm khoe hai chiếc thủ cấp chiến sĩ Việt Minh bên cạnh hai thi thể không đầu của họ, hoặc hình chụp hai sĩ quan Nhật cầm gươm hãnh diện cá cược với nhau ai sẽ là người tự mình dùng gươm chặt đầu 100 tù binh trước, v.v., cho thấy sự tàn bạo tập thể mà mức độ của nó ắt khó thể so sánh ai-hơn-ai với các cuộc thảm sát của các đế chế thời Trung Cổ hay của Campuchia thời hiện đại. Xua quân gieo rắc kinh hoàng trên quy mô thế giới thì toàn nhân loại cận đại chỉ có Thiên Hoàng Chiêu Hòa Hirohito, chí ít xét về mức độ tàn bạo của các cuộc chinh phạt Châu Âu của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn cùng các hậu duệ Mông Cổ, và chín cuộc Thập Tự Chinh chính thức mà thế giới Cơ-đốc giáo dưới lịnh các Đức Giáo Hoàng tiến hành xâm lược cướp bóc tàn phá thế giới Hồi Giáo trong thời gian từ năm 1095 đến 1291.

B) Lý Do Mỹ Cấp Viện Trợ Khổng Lồ Cho Nhật Bản

Cùng với đại tội hình thành Khối Trục Đức-Ý-Nhật gây ra Đệ Nhị Thế Chiến cũng như các tội ác ngút trời nêu trên, Nhật Bản còn gây thiệt hại nặng nề cho Hải Quân Hoa Kỳ trên mặt biển, thậm chí còn táo tợn chế tạo được cả tàu ngầm khủng khiếp khổng lồ Sentoku Lớp I-400 có thể đi một vòng rưỡi quanh trái đất không cần tiếp nhiên liệu, đặc biệt mỗi chiếc có thể chứa trong lòng tàu những ba chiến đấu cơ không kích M6A1, lặn đi vòng qua Mũi Horn Nam Mỹ định tấn công Hoa Kỳ bằng không quân từ phía Đại Tây Dương hầu biến Hoa Kỳ bị phơi mình trước các cuộc không kích của Nhật Bản từ hai phía Đông và Tây. Tuy nhiên, Nhật Bản không kịp triển khai các cuộc tấn công Mỹ từ Đại Tây Dương và cũng không kịp đánh đắm tất cả các tàu ngầm I-400, nên Mỹ đã bắt được một chiếc “tầu ngầm sân bay” I-400 đầu hàng để khẩn cấp đổ các nhà kỹ thuật đến khẩn trương nghiên cứu công nghệ (sau này mô phỏng theo mà chế ra tàu ngầm lợi hại hơn, hợp lý hơn: phóng tên lửa tấn công có mang đầu đạn hạt nhân) trước khi nổ bom phá tan đánh chìm do không muốn phải chia sẻ với Liên Xô (do đã có thỏa ước với Liên Xô theo đó tất cả các vũ khí hiện đại của Khối Trục nếu bị tịch thu phải để các “đồng minh” cùng nhau nghiên cứu). Ấy vậy mà đối với kẻ thù táo tợn đến như thế, Mỹ lại đã ra tay cứu vớt mà thế giới sử đã có các ghi nhận các lý do như sau:

1) Gây hấn với Liên Xô do vầy đoàn với Đức và Ý trong Khối Trục, và gây chiến trực tiếp với Liên Xô trên lãnh thổ phía Đông của Nga tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Nhật vào thời điểm cuối Thế Chiến khi Đức và Ý đã bị Liên Xô đánh tan nát và Liên Xô hủy diệt đạo quân Quan Đông của Nhật, xóa sổ Mãn Châu Quốc mà Nhật đã dựng nên, khiến triệt tiêu bộ binh Nhật Bản ở Trung Quốc, làm nghiêng lệch cán cân cuộc chiến, Nhật Bản đã hốt hoảng trước việc Liên Xô sắp thừa thắng vượt biển tấn công trừng phạt và chiếm luôn Nhật Bản. Mỹ và Nhật Bản đã cùng có hành động kỳ dị như nhau: đối với Nhật Bản đã kiệt quệ thua trên tất cả các mặt trận sắp buộc phải đầu hàng trong ngày một ngày hai, Mỹ vội vàng hấp tấp ném ngay hai quả bom nguyên tử tàn phá Hiroshima và Nagasaki để (a) thị uy với Liên Xô và (b) giúp Nhật có cớ để tuyên bố đầu hàng; còn Nhật chỉ chờ có thế để vội vàng đầu hàng Mỹ dù biết Mỹ không có thêm quả bom nguyên tử nào khác. Sự đầu hàng Mỹ của Nhật Bản được đặt ra với điều kiện tiên quyết là Nhật Hoàng Hirohito cùng toàn bộ hoàng gia kể cả các hoàng tử vương công khét tiếng tàn ác diệt chủng như Chichibu, Asaka, Takeda, và Higashikuni phải được Mỹ cam đoan không bị đưa ra tòa án quốc tế về (a) tội phạm chiến tranh, (b) tội phạm chống nhân loại, và (c) tội phạm chống hòa bình hầu tránh các án tử hình dù các nhân vật này nắm quyền lực chính trong chỉ đạo và trực tiếp tiến hành chiến tranh thế giới ở Châu Á – Thái Bình Dương. Để chặn đà tiến của cộng sản Nga ra Thái Bình Dương, Mỹ đã chấp nhận điều kiện của Nhật Bản, và cuộc đầu hàng đã diễn ra nhanh chóng trong 23 phút trên chiến hạm USS Missouri của Hoa Kỳ. Hoàng Đế Nhật Bản được Hoa Kỳ biến thành vị vua chỉ là biểu tượng quốc gia không quyền lực nên không phải chịu trách nhiệm gì. Hoa Kỳ được Nhật Bản trao cho danh dự giải phóng Châu Á – Thái Bình Dương, tước danh dự này khỏi tay Liên Xô một cách ngoạn mục. Hoàng gia Nhật Bản hoàn toàn thoát tội. Và ngay cả các quan tướng cao cấp dù phải làm bình phong chịu bị kết án nhưng sau đó đều được hoặc Tướng Mỹ Douglas MacArthur cứu vớt hoặc được các tổng thống Mỹ lần lượt ân xá, như Mamoru Shigemitsu (sau này trở thành Bộ trưởng Ngoại Giao), Okinori Kaya (sau này làm Bộ Trưởng Tài Chính), cùng những cái tên khét tiếng tàn bạo khác như Hashimoto Kingoro, Hata Shunroku, Minami Jiro, Oka Takazumi, Araki Sadao, Hiranuma Kiichiro, Hoshino Naoki, Kaya Okinori, Kido Koichi, Oshima Hiroshi, Shimada Shigetaro, và Suzuki Teiichi, v.v., đều được ân xá, không như các “đồng chí” Đức Quốc Xã và Phát-xít Ý của họ bị tòa án Nuremberg lôi xềnh xệch lên giảo đài treo cổ tại trời Âu.

2) Dù chương trình tái thiết hậu chiến mang tên Kế Hoạch Marshall do Mỹ tài trợ không bao gồm Nhật Bản, Mỹ vẫn hỗ trợ Nhật Bản hồi phục và phát triển kinh tế bằng cách biến Nhật Bản thành cơ sở hậu cần cung cấp vật tư phương tiện vận tải chiến tranh cho Mỹ và Liên Hợp Quốc trong chiến tranh Nam-Bắc Hàn, khiến Nhật Bản nhận được một nguồn thu thậm chí còn lớn hơn gấp nhiều lần bất kỳ các quốc gia nào khác của Châu Âu có nằm trong danh sách nhận viện trợ tái thiết của Mỹ từ Kế Hoạch Marshall.

3) Ngoài ra, Nhật Bản còn được Mỹ xem như vòng cung tuyệt diệu phối hợp cùng Hàn Quốc trong ngăn chặn và kềm chế sự bung ra Thái Bình Dương của Trung Quốc, giúp giữ an toàn cho bờ biển phía Tây của Hoa Kỳ tức Thái Bình Dương.

Như vậy, vừa thoát tất cả các sự trừng trị của quốc tế để bảo toàn danh dự cho hoàng đế và hoàng tộc, vừa được sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, chỉ trong vòng 5 năm sau Thế Chiến, Nhật Bản đã đạt mức tăng trưởng GDP cao hơn cả chính Hoa Kỳ. Các thuận lợi ấy đều phải tính đến giá trị nhận được cao nhất của Nhật Bản là chính sự tiếp tục tồn tại của hoàng triều đã (a) duy trì lòng tự hào dân tộc, (b) các giá trị đặc thù dân tộc tính không bị tổn thương hay bị xúc phạm nên tính cách Nhật được tồn tại và phát huy mạnh mẽ hơn dù theo một đường hướng mới chinh phạt và chinh phục khác, (c) các tủi hổ tủi nhục không có cơ hội tồn tại vì đã có cái cớ “bị Mỹ tàn ác ném bom nguyên tử nên hoàng đế phải vì cứu dân mà tuyên bố đầu hàng” chứ quân đội Thiên Hoàng không bao giờ thất trận, và (d) người Nhật nhất thiết phải tạo ánh hào quang mới để vinh danh Nhật Bản trên trường quốc tế: đó là khoa học kỹ thuật hiện đại của đất nước đã từng chế tạo thành công tàu ngầm sân bay I-400 suýt nữa đã gây tang thương ngẫu lục ngay chính trên lãnh thổ Hoa Kỳ từ hai phía Đông và Tây.

C) Tam Đại Ngu Của Nhật Bản

Nhật Bản lẽ ra ngày nay là quốc gia rộng lớn nhất thế giới, và do đó đồng thời là siêu cường đứng đầu thế giới, nếu như Chiêu Hòa Thiên Hoàng Hirohito có dưới trướng những vị quân sư có tầm nhìn chiến lược của những nhà chinh phục chiến thắng, thay vì những thầy dùi chỉ có tầm nhìn chiến thuật của những kẻ lầm lũi chinh phạt đại bại. Ba viện dẫn cho sự ngu xuẩn khiến ngày nay Nhật Bản chỉ là một đảo quốc nhỏ bé bị bủa vây bởi thiên tai và sự đe dọa của Trung Quốc cũng như sự hằn học của Hàn Quốc gồm:

1- Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên vĩnh viễn dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Japonchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản lại hùa theo Khối Trục để chõi lại với Liên Xô. Đây là cái đại ngu thứ nhất: đã không biết gì về sức mạnh muôn đời của Nga dù là của chế độ Sa Hoàng, của chế độ cộng sản Liên Xô hay của chế độ phi cộng sản Nga.

2– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra đã nên dừng lại, tập trung lập thành một tân đế chế hùng mạnh có thể mang tên mới Nipponchin bao gồm diện tích rộng lớn gộp lại của Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, và Nhật Bản; tiến hành dời kinh đô về Bắc Kinh, biến đảo quốc Nhật Bản nguyên thủy thành cửa ngõ tiền tiêu thiên nhiên tuyệt diệu phòng vệ đại quốc cũng như vươn sức mạnh tài chính ra thống chế và thống soái thống lĩnh khu vực vành đai Châu Á – Thái Bình Dương. Thay vì như thế, Nhật Bản với số dân ít ỏi lại muốn làm bá chủ trực tiếp cai trị cả vùng Châu Á – Thái Bình Dương, tức biến Nhật Bản thành một siêu quốc gia tức lớn hơn cả “đế quốc Đại Đông Á” vốn đã quá khổng lồ so với “đế quốc Tân Nhật Bản Nipponchin”. Đây là cái đại ngu thứ nhì: đã (a) tấn công Trân Châu Cảng tàn phá căn cứ hải quân Hoa Kỳ, (b) tìm diệt các hạm đội Hoa Kỳ trên toàn Thái Bình Dương, (c) tìm diệt các binh đoàn Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, và do đó (d) tạo thêm kẻ thù Hoa Kỳ hùng mạnh mới, khiến sự dàn trải quá rộng trên phần địa lý chiếm phân nửa địa cầu làm tiêu hao sinh lực quốc gia, đẩy Nhật Bản đến sự diệt vong lẽ ra không bao giờ có thể là sự thật.

3– Sau khi chiếm được Trung Quốc và Mãn Châu, Nhật Bản lẽ ra phải dừng lại và đứng sững vĩnh viễn ngay tại trước cột mốc biên giới Việt Nam. Đây là cái đại ngu thứ ba, song lại là cái đại ngu lớn nhất, vì rằng đã chưa từng biết Việt Nam mãi mãi là tử địa muôn đời đối với bất kỳ thế lực đế quốc nào dù hùng mạnh đến đâu chăng nữa. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu cả Châu Âu bằng cách đánh bại bộ binh và kỵ binh của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn và hậu duệ của ông, khiến vó ngựa chinh phục của Mông Cổ phải dừng lại vĩnh viễn trước khi đến được bờ biển Đại Tây Dương, giúp các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Đức, Ý, v.v., có cơ hội vàng tồn tại để sau đó trở thành các thực thể đế quốc thậm chí có kẻ dám hổn láo bất hiếu bất mục xâm lược đô hộ Việt Nam. Chính tổ tiên của Việt Nam đã cứu Nhật Bản bằng cách đánh bại các hạm đội thủy quân và hải quân Tàu khiến Tàu không thể tiến ra biển khơi tóm thâu Nhật Bản, mà Sử Tàu giỏi lắm cũng chỉ có đoạn viết ngợi ca mấy con tàu chỉ dám giong buồm mon men dọc theo sát bờ biển tiến đánh Đại Hàn để hình thành tiểu thuyết dã sử Tiết Nhân Quý Chinh Đông nhảm nhí. Trong thời cận đại, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cổ điển, khiến Pháp – và sau đó là hiệu ứng domino xô sập các đế quốc Châu Âu – mất đi các thuộc địa, làm cho Vương Quốc Anh dù mon men theo đóm ăn tàn đổ bộ Việt Nam toan tiếp nhận thuộc địa từ tay Pháp cũng phải vội vã rút quân, thay đổi chiến lược và chiến thuật, biến các thuộc địa của Anh trở thành các quốc gia độc lập trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh thay vì mất trắng mất sạch thuộc địa. Tương tự, Việt Nam đã xô sập hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới qua việc đánh bại Hoa Kỳ.

Từ ba đại ngu của Nhật Bản, nhân loại có thể rút ra ba bài học quý báu rằng nếu muốn sống còn hay còn sống thì (a) đừng bao giờ chọc giận Nga phải ra tay, (b) đừng bao giờ chọc giận Hoa Kỳ phải xuất chiêu, và (c) đừng bao giờ chọc giận Việt Nam phải động thủ. Tất nhiên là về quân sự.

D) Tứ Đại Phúc Của Nhật Bản

Thế giới – kể cả các tiểu thế giới chống cộng – đều biết nhiều, viết nhiều, và nói nhiều về sự thần kỳ của sức mạnh Nhật Bản. Lập lại các lời khen tặng đó trong bài viết này sẽ chỉ biến người viết thành kẻ thuộc đẳng cấp tầm thường. Nếu như sự đại bại của Nhật Bản là hậu quả của ba điều ngu muội lớn mà tiếng Hán Việt gọi là “tam đại ngu” thì sự vươn lên tuyệt vời của Nhật Bản không thể không nói đến “tứ đại phúc” tuyệt diệu cơ duyên Trời ban vĩ đại độc đáo sau, khiến mỗi người dân Nhật Bản có bốn chí khí không thể bắt gặp nơi bất kỳ dân tộc nào trên toàn thế giới:

1- Trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của nước nhà

Người Nhật là minh chứng cho tất cả các giải nghĩa giải thích thế nào là “trung thành tuyệt đối” khi hoàng gia của họ là độc nhất vô nhị duy trì quyền lực từ thủa xa xưa cho đến nay, bất kể trong cái “ngàn xưa” ấy thể chế quân chủ chuyên chế của họ có hà khắc bạo tàn đến đâu chăng nữa. Muốn đất nước hùng mạnh thì đất nước phải có con người hùng mạnh, và muốn trở thành con người hùng mạnh cần thiết cho một quốc gia thì bản thân người ấy phải trung thành tuyệt đối với thể chế chính trị nước nhà. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu không có đức tính trung thành tuyệt đối giống y hệt của người Nhật Bản.

2- Tận tụy hy sinh vì đất nước ngay cả trong mặt trận hiền hòa của giáo dục và đào tạo

Người ta chỉ hay nói đến các chiến binh Nhật Bản xa xưa với tinh thần được gọi quen thuộc là “tinh thần võ sĩ đạo Samurai” với hành động Seppuku tức Hara-kiri tức là dùng ngọn dao “tantō” tự mổ bụng tự sát để bảo toàn thanh danh trung thành trung tín đến cùng, bất kể đó là lòng tận trung của một nam nhân đối với chủ nhân là hoàng đế hay chỉ là một chủ nhân. Đến thời cận đại, người ta lại nói đến các phi đội Thần Phong Kamikaze với bao phi công cảm tử lái máy bay chở đầy bom lao xuống các ống khói của các hàng không mẫu hạm và soái hạm Hoa Kỳ để làm nổ tung đánh chìm các chiến hạm này. Tuy nhiên, sự tận tụy hy sinh của người Nhật Bản hầu như chỉ được nhắc đến ở Hara-kiri và Kamikaze khiến có sự lầm tưởng rằng sự dữ dội chỉ có nơi các chiến binh Nhật Bản đối với quân thù. Người ta ít khi nhớ đến sự thật rằng đã có những sự việc cho thấy trong khi Samurai dữ dội liên quan đặc thù đến những võ sĩ dũng mãnh, thì sự dữ dội còn được thể hiện bởi các văn nhân hiền hòa, qua các giai thoại về những du học sinh Nhật Bản tại Mỹ đã tình nguyện tự sát theo kiểu hara-kiri mà Mỹ và thế giới lầm tưởng là “thói quen mổ bụng của người Nhật” nên mất cảnh giác, giúp các du học sinh Nhật Bản khác có thể nhét dấu tài liệu tình báo khoa học kỹ thuật thu thập được của Mỹ vào bên trong xác các du học sinh tự sát ấy trước khi khâu vá ổ bụng lại để đưa linh cữu về Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng phát triển đội ngũ khoa học gia và kỹ thuật gia tiên tiến, trở thành siêu cường quốc công nghệ hàng đầu thế giới. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản chê bai Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên bỏ sang Mỹ học để bỏ Nhật Bản. Chẳng ai trong số du học sinh này của Nhật Bản lại không cho rằng chính vì Nhật Bản điêu tàn kiệt quệ điêu linh nên phải sang Mỹ học để bằng mọi giá đem được về Nhật Bản các “tài sản trí tuệ khoa học Mỹ” để giúp Nhật Bản hùng cường. Nhiều “nhân sĩ” hay “chí sĩ” Việt Nam hớn hở định “đi tắt đón đầu” bằng cách hăm hở “Đông Du” để thâu tóm kiến thức Mỹ mà người Nhật Bản đã phải cất công hy sinh lặn lội sang Mỹ để học tập mà không “nhân sĩ” hay “chí sĩ” nào của Việt Nam phải hara-kiri như người Nhật Bản. Tất nhiên, người Nhật Bản đủ khôn để không truyền lộ cho kẻ khôn vặt khôn lõi chỉ chuyên đi tắt ấy các bí kíp kỹ thuật công nghệ tối tân, nên tất cả các “nhân sĩ” và “chí sĩ” Việt Nam của các phong trào Đông Du không bất kỳ ai sau đó trở về Việt Nam giúp Việt Nam trở thành cường quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa cả. Người viết bài này khi lập gia đình đã được một ông chú bên nhà vợ tặng một bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú. Ông là Lê Phục Thiện, một “nhân sĩ chí sĩ” người Hà Nội đã “Đông Du” sang Nhật Bản học…làm thơ tiếng Hán và làm “chính trị”, trở về hoạt động chính trị chống “Cộng”, di cư vào Sài Gòn sống ở đường Dạ Nam gần Cầu Chữ Y, trước tác dịch thuật một số tác phẩm chữ Hán ra quốc ngữ, trở thành một học giả thường được Nhật Bản mời sang dự những hội nghị về … Hán Học, và sống thọ cho đến hàng chục năm sau ngày “Cộng” giải phóng miền Nam. Chú Lê Phục Thiện của bên Nội của bà mẹ vợ của tác giả bài blog này đã chưa từng cùng bất kỳ các vị “đồng chí” nào của Phong Trào Đông Du trở thành danh nhân xây dựng Việt Nam thành cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài khi sang du học tại đất nước Nhật Bản cường quốc kỹ thuật công nghệ kinh tài ấy. Không bao giờ giàu mạnh như Nhật Bản nếu như đức tính tận tụy hy sinh dữ dội không tồn tại nơi tất cả người dân thuộc tất cả ngành nghề dù võ hay văn.

3- Dũng mãnh vươn ra thế giới toàn cầu hóa với tinh thần bài ngoại triệt để

Từ xua quân tràn ngập phân nửa địa cầu làm bá chủ Đại Đông Á và Thái Bình Dương, Nhật Bản đã xua sản phẩm công nghệ cao chất lượng tuyệt hảo tràn ngập toàn bộ địa cầu, đẩy ngay cả tượng đài công nghiệp vĩ đại nhất thế giới là Đức Quốc lùi vào bóng tối của kẻ chiếu dưới. Các công ty Nhật Bản có mặt ở nơi nơi. Và sự cúi đầu chào cung kính của người Nhật Bản gióng lên hồi chuông cảnh báo toàn cầu mà thành ngữ stoop to conquer (nhún nhường nhu mì hạ mình để chinh phạt) của tác phẩm She Stoops to Conquer của kịch tác gia Oliver Goldsmith thế kỷ XVIII là thích hợp nhất, vì cùng với thái độ lịch sự cung kính cúi rạp người của doanh nhân Nhật là sự cứng rắn dứt khoát phải sử dụng xe ô-tô do Nhật sản xuất dù đang công tác tại bất kỳ quốc gia nào trên toàn thế giới. Chính các doanh nhân Nhật đã khiến các doanh nhân Đức tại Việt Nam buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Đức, và doanh nhân Pháp buộc phải giữ thể diện bằng cách phải sử dụng xe ô-tô nhãn hiệu Pháp khi làm việc tại Việt Nam. Tất nhiên, doanh nhân các quốc tịch khác tại Việt Nam thì ưu tiên dùng xe ô-tô…Nhật. Nếu stoop vì ươn hèn, khom mọp mình luồn cúi ngoại nhân, thì đó không là tư cách người Nhật Bản mà là của giống dân nào đó. Nếu stoop để ru ngủ đối phương tiến đến mất cảnh giác, thì đây là một chiêu thức võ thuật tuyệt luân của nhà chinh phạt và chinh phục mà người Nhật Bản là bậc thầy duy nhất. Nếu bài ngoại để gây ác cảm với thiên hạ, tự cô lập hóa mình, thì đó không là tư thế người Nhật Bản. Nếu bài ngoại để khiến thiên hạ phải kính sợ mình, biến bài ngoại thành một thương hiệu dân tộc tính tích cực đầy hấp dẫn (nghĩa là: tôi dứt khoát chỉ xài hàng hóa của nước tôi vì đó là hàng tốt nhất thế giới, anh mua dùng đi rồi sẽ biết), thì đó chính là tư thế chỉ có nơi người Nhật Bản.

4- Nỗ lực chỉ làm chúa ngoại bang chứ không làm tôi mọi cho ngoại bang

Đây là đặc điểm tuyệt vời của người Nhật Bản, giúp Nhật Bản nhanh chóng trở thành siêu cường kinh tế thế giới. Hãng Toyota đã từng vung tiền “bứng” được một CEO người Mỹ của một công ty Mỹ về làm tổng giám đốc Toyota tại Nhật Bản. Người dân nước khác – trong đó có người Việt – thường lấy làm vinh dự khi được các công ty lớn ở nước ngoài tuyển dụng, nhất là khi cơ quan tuyển dụng thuộc cỡ như cơ quan nghiên cứu vũ trụ Hoa Kỳ NASA, nhưng chẳng ai nhận ra một sự thật là dường như chẳng nghe hay rất ít khi nghe nói đến một người Nhật nào đó được tuyển dụng bởi các cơ quan khổng lồ tương tự. Chính vì vậy mà Nhật Bản chế tạo phi cơ tiêm kích, máy bay cường kích; hàng không mẫu hạm, khu trục hạm, chiến hạm; sản xuất vệ tinh nhân tạo và tự phóng vệ tinh nhân tạo, v.v., trong khi người dân các nước khác – trong đó có người Việt – dù làm việc cho NASA thì cũng chỉ là người lao động làm công ăn lương chứ không bao giờ được nắm bắt các công nghệ kỹ thuật để các nước của họ – trong đó có Việt Nam – chế tạo được ngần ấy thứ như Nhật Bản.

Người Nhật Bản biết chính họ mới làm Nhật Bản thành cường quốc. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – chất vấn cật vấn tra vấn Chính phủ nước họ tại sao Chính phủ vẫn chưa luyện xong phép màu hô biến làm cho nước họ thành cường quốc.

Người Nhật Bản biết nước họ nhỏ hẹp, tài nguyên thiên nhiên hạn chế, thể chế chính trị quân chủ quân phiệt sai lầm đẩy quốc gia vào Thế Chiến điêu linh điêu tàn, nên họ càng phải hy sinh tuyệt đối để quốc gia khắc phục khó khăn về sự nhỏ hẹp chật chội, khó khăn về sự thiếu hụt tài nguyên, khó khăn về hậu quả từ sự sai lầm nghiêm trọng của nhà cầm quyền thể chế chính trị quốc gia ấy. Người dân nước khác – trong đó có Việt Nam – dù biết nước họ rộng lớn hơn, tài nguyên dồi dào hơn, chính phủ nước họ có kỳ tích giải phóng dân tộc và từng bước chậm rãi phát triển kinh tế nước nhà, vẫn điềm nhiên chê bai chính phủ nước họ, tích cực đòi hỏi “cãi thiện dân chủ”, hùng hổ vung tay đòi “đa đảng” và “biểu tình” nhằm tơ tưởng đến chuyện vi hiến là thay đổi thể chế chính trị nước nhà, tiến tới tiêu diệt thế lực hùng mạnh duy nhất có thể bảo vệ đất nước của họ trước hiễm họa xâm lăng.

Nếu như tiểu thuyết Tam Quốc Chí của nước Tàu có tuyên bố ai có một trong nhị đại quân sư Phục Long (tức Khổng Minh Gia Cát Lượng) và Phụng Sồ (tức Bàng Thống) thì sẽ lập thành đế nghiệp, thì đại thuyết Lăng Tần của nước đánh bại Tàu lại tuyên cáo rằng nếu nước nào có nhân dân sở hữu một trong tứ đại phúc của người Nhật Bản thì nước đó đã có quá dư điều kiện để trở thành siêu cường kinh tế.

E) Sự Tốt Đẹp Của Nhật Bản và Việt Nam

Nhật Bản và Việt Nam như một duyên nghiệp của sự hòa thuận điển hình độc nhất vô nhị trên toàn thế giới.

Nhật Bản có một quá khứ tàn bạo trong Đệ Nhị Thế Chiến, làm hơn một triệu người Việt chết đói. Nhật Bản biết phục thiện, nên ngay từ thời chiến tranh giải phóng của Việt Nam chống Mỹ, Nhật Bản đã đối xử tốt với cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa, mà Bịnh Viện Chợ Rẩy hiện đại nhất ở Sài Gòn là một bằng chứng.

Trong khi đến tận ngày nay nhiều bà lão Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn còn kéo đến khóc lóc trước các đại sứ quán Nhật Bản đòi Nhật Bản chính thức xin lỗi và bồi thường do quân đội Thiên Hoàng đã hãm hiếp họ, bắt họ làm nô lệ tình dục phục vụ các đạo quân Quan Đông cũng như tại tất cả các vùng Nhật chiếm đóng, thì người Việt Nam lại hiền hòa không lưu giữ chút ký ức cỏn con nào mang dấu ấn căm thù căm hận, thay vào đó là sự mở rộng vòng tay cười đôn hậu đón tiếp bất kỳ “người chạy lại” nào có lòng phục thiện.

Sự hòa thuận giữa người biết lỗi ra sức chuộc lỗi và người xởi lởi thích bầu bạn bốn phương thân tình chứ chẳng biết oán thù là gì, đã giúp quan hệ Việt-Nhật tốt đẹp hơn hẳn các mối quan hệ ngoại giao khác. Sau ngày giải phóng miền Nam, Việt Nam bị bủa vây bởi lịnh cấm vận của Hoa Kỳ, và Nhật Bản, đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Châu Á, lại là sức mạnh xuyên thủng hàng rào cấm vận của Hoa Kỳ để đưa vào Việt Nam các nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất của nền kinh tế quốc dân, kể cả các vật liệu chiến lược như sợi cáp quang mà các siêu cường kinh tế chưa chắc có được – như đã dẫn trong bài Việt Nam Hưỡng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ trên blog này – kể cả việc đồng Yên Nhật trở thành đồng ngoại tệ giúp Việt Nam trụ vững trong thời gian Mỹ phong tỏa và tịch thu tất cả các chuyển dịch giao dịch bằng đồng Mỹ Kim của Việt Nam. Và trong thời điểm Việt Nam chưa mở cửa thì các doanh nhân và các nhà khoa học Nhật đã có mặt để đi đến các tỉnh thành của Việt Nam để nghiên cứu phát triển các giống cây trồng giúp Việt Nam và nhập khẩu hải sản từ Việt Nam, mà tác giả bài viết này đã là người đưa các nhà khoa học ấy lặn lội đến các vùng thâm canh chuyên canh nông nghiệp, cũng như đã ngạc nhiên khi Seaprodex bó tay không biết kiếm đâu ra baby octopus tức bạch tuộc con (tức con của con bạch tuộc) để gởi bản chào giá quotation cung cấp cho các nhu cầu của các doanh nghiệp Nhật Bản (với lý do ngư dân Việt Nam mà lưới nhằm “mực ma” tức bạch tuộc là ném trở lại biển hết vì sợ xui) mà tác giả bài này đã cất công kiếm về cho đất nước.

F) Lục Chân Lý Dành Cho Việt Nam

Từ tất cả các chi tiết trên, có thể rút ra sơ khởi 6 chân lý sau cho Việt Nam:

1- Khi người Việt không trung thành tuyệt đối với chế độ chính trị của Việt Nam, đất nước không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

2- Khi sinh viên học sinh Việt vừa ngày đầu đặt chân ra hải ngoại du học đã lớn tiếng chê bai nền giáo dục nước nhà, ca cẩm về thu nhập thấp ở quê nhà không tương xứng với sự vĩ đại của cá nhân (công thức bất lương: “được” học ở nước ngoài = vĩ nhân), đánh tiếng sẽ ở lại nước ngoài để làm việc (lạy giời, nếu có kẻ đại khôn nào đó thuê mướn đứa thua xa tư cách sinh viên học sinh Nhật ấy để trả lương thấp hơn) nếu nước nhà không “trọng dụng nhân tài” (công thức vô sĩ: nhân tài = du học nước ngoài về), Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

3- Khi sinh viên học sinh Việt Nam ngay khi còn ở Việt Nam đã vọng ngoại, tức đánh mất bản sắc dân tộc (nền tảng của sự phát triển đại thụ rừng sinh thái sinh quyển của nhân loại) mà chỉ còn là thứ lai F2 hay F3 nào đấy (cây ươm vườn rồi xuất khẩu trong túi nylon để trồng vào thổ nhưỡng khác để thành…cây dây leo hay cây cối hoặc cây kiểng), thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

4- Khi sinh viên học sinh Việt Nam dù đang học ở Việt Nam hay đã học “ở bển” mới về, đều hoặc muốn “khởi nghiệp” tức “mở công ty” ở Việt Nam để ngồi trên đầu dân Việt Nam, hoặc muốn làm việc cho công ty nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, tức đội chủ nước ngoài trên đầu mình, thì Việt Nam sẽ không thể nào trở thành cường quốc như Nhật Bản.

5- Bất kỳ sinh viên học sinh nào của Việt Nam dù đang học trong nước hay đang học “ở bển” ngay khi đọc xong bài viết này đều sẽ trở nên người có tư cách, có lòng tự trọng, khiến sẽ biết thân biết phận hèn kém của mình so với người Nhật ra sao nên sẽ học trong im lặng, sẽ làm việc trong yên lặng, sẽ tạo dựng “khởi nghiệp” trong lặng im, sẽ gầy dựng gia đình trong lặng yên, và sẽ không bao giờ dám mở miệng kém hèn của mình để lên mặt lên tiếng lên giọng dè bỉu, chê bai chế độ Việt Nam, bảo chính phủ Việt Nam bất tài vô dụng không thể dựng xây đất nước phú cường như Nhật Bản.

6- Việt Nam sẽ trở thành cường quốc kinh tế nhưng phải theo một tiến trình gian nan không nhanh chóng dựa trên đặc thù Việt Nam gồm (a) tự thân bương chải, (b) bốn phương tám hướng tổng cộng mười hai ngõ đều thọ địch bủa vây, (c) nguồn nhân lực có 5 “đức tính siêu tích cực” nêu trên, (d) thành công của Việt Nam khiến các ưu đãi từ các định chế tài chính quốc tế hoặc gia giảm hoặc không còn, và (f) thế giới không thực sự thực tâm tập trung giúp đỡ tận tình do không bao giờ cam tâm nhìn thấy một Việt Nam hùng mạnh biến chủ nghĩa xã hội cùng “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trở thành khuôn mẫu quá hoành tráng trước nhân loại.

 

Hỡi ôi, là người có thẻ căn cước Việt Nam mà không nhận ra các sự thật trên, cứ mãi đít ngồi, đùi rung, lưỡi liếm bia bọt, răng nhai râu khô mực chấm tương ớt, mồm dè bỉu chế độ, miệng chê bai Đảng, mõ phát tán loa các nhạo báng Chính Phủ, gật gù ngợi ca Nhật Bản, trong khi chẳng hy sinh bất cứ thứ gì đáng giá hơn cọng tóc sợi lông cho đại cuộc phát triển quốc gia Việt Nam thành cường quốc thì chẳng phải chẳng là tự hạ mình thãm hại trước ánh mắt thương hại của người Nhật Bản lắm ru? Bản thân người ngợm chẳng bằng người Nhật mà còn rống họng đòi Cộng Sản Việt Nam phải có trách nhiệm dựng xây đất nước Việt Nam giàu mạnh y như Nhật Bản há chẳng phải là diễn tuồng hý hước chọc cười cho con cháu Thái Dương Thần Nữ hay sao?

Con cháu Bà Âu Cơ không có đặc tính dân tộc dữ dội trong huyết quản từ muôn đời, không từng đem sự dữ dội ấy ra đánh nhau với cả thế giới để mài giũa sắc bén thêm và làm tiêu hao dân số địa cầu, chưa từng thực hiện việc tìm-và-diệt cùng lúc đối với Hoa Kỳ và kẻ thù khác của Hoa Kỳ để phải bị Hoa Kỳ ném bom nguyên tử rồi được Hoa Kỳ đổ tiền vào tái thiết hầu biến thành đồng minh chống các kẻ thù khác của Mỹ như con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ nên không cách chi đất nước của con cháu Bà Âu Cơ sẽ biến thành cường quốc y hệt đất nước của con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ cả.

Tuy nhiên, con cháu Bà Thái Dương Thần Nữ mà hợp tác với con cháu Bà Âu Cơ thì con cháu Bà Nữ Oa chỉ còn nước khóc òa.

Kỳ sau: Bài 4: Ý Chí Quốc Dân và Yêu Cầu Công Dân

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

16-7-2014: Vững Tâm Kiến Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/16/vung-tam-kien-quoc/

29-10-2014: Trăm Trứng Âu Cơ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/29/tram-trung/

06-01-2016: Việt Nam Hưởng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/06/viet-nam-huong-loi-tu-linh-cam-van-cua-hoa-ky/

06-02-2016: Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Cụm bài về “Nhân Tài”:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp

Hoàng Hữu Phước, Hoàng Hữu Phước, MIB

Việt Nam đang phải đương đầu với bốn vấn nạn triền miên gồm (a) nhiều người dân vẫn cho rằng Việt Nam có là cường quốc hay không thì đó là trách nhiệm và bổn phận của chỉ riêng chính phủ – mà ở Việt Nam quy tất cả đổ tất cả về cho “chế độ” và/hay Đảng Cộng Sản, nếu đạt được gì đấy thì dù Ngân Hàng Thế Giới có đánh giá cao vẫn trề môi chê “chả thấm vào đâu”,

 CNKH1

còn nếu chưa đạt gì đấy thì nói tại “độc tài Đảng trị”; (b) giới trẻ tức công dân hiện tại và là nguồn lực tương lai của đất nước vẫn luôn tự cho minh cái quyền đứng trên cương vị, tư thế, tư cách, và phong cách người ngoài cuộc khi đánh giá cao và thần phục các phát triển vượt bậc về kinh tế của nước ngoài; (c) các sự thật lịch sử thế giới hiển nhiên ngồn ngộn đầy ắp thông tin vẫn không được màng đến – hoặc vô tâm hoặc cố ý – bởi các đối tượng nêu trong mục a và b ở trên; và (d) gần như giới trẻ luôn cho rằng “khởi nghiệp” chính là “mở doanh nghiệp và làm chủ doanh nghiệp”.

Với kinh nghiệm của người đã luôn làm sáng tỏ bản chất sự việc của nào là “đa đảng”, “dân chủ”, “tự do”, “tuyệt thực”, “tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”, hay “nhân quyền”, hoặc “biểu tình”, v.v., khiến không gian mạng trong và ngoài nước đã giảm hẳn các giật tít câu view vớ vẩn chỉ nhằm công kích nền dân chủ và thể chế chính trị của Việt Nam, tác giả bài viết này hôm nay làm sáng tỏ các nội hàm liên quan đến khởi nghiệp và cường quốc như một “cẩm nang kiến quốc” dành cho công dân, theo các mục lục sau:

 CNKQ2

mà bài viết sau là bài số 1 :

Cẩm Nang Khởi Nghiệp

1- Khởi Nghiệp Lành Mạnh Nguyên Thủy

Từ ngàn xưa trên thế giới cho đến trước khi từ ngữ ‘‘start up” du nhập vào Việt Nam ở dạng distorted tức méo mó thì khởi nghiệp đã luôn là hơi thở lành mạnh của con người dù là người Việt hay người của phần còn lại của thế giới. “Hơi Thở” vì khởi nghiệp là việc hết sức bình thường, hết sức tự nhiên; còn “lành mạnh” vì chỉ có người chẳng may vì khuyết tật nặng, hoặc do hoàn cảnh chiến tranh, hoặc vì bị tù đày, mới khó thể “khởi nghiệp”, trong khi kẻ chây lười sống bám ký sinh trùng mới không thèm “khởi nghiệp”.

Khởi nghiệp dựa vào ước mơ, năng khiếu, năng lực, thời cơ. Khởi nghiệp là bắt đầu môt sự nghiệp. Chính vì vậy mà có người theo đuổi sự nghiệp một nhà giáo, một nhà văn, một nhà thơ, một người theo binh nghiệp để làm một quân nhân, một nhà chăn nuôi, một nhà trồng trọt, v.v., thậm chí một nhà tu hành cũng theo một khởi nghiệp cho một duyên nghiệp cứu độ chúng sinh. Từ ý thức khởi nghiệp này, xã hội trở nên lành mạnh vì không gì tuyệt diệu bằng đa số con người được sống và làm việc theo đam mê riêng, ước mơ riêng, năng khiếu riêng, năng lực riêng, và hòan cảnh thời cơ riêng của mình, khiến xã hội phát triển đa ngành nghề để dù là người chiến sĩ, nhà giáo, hay nhà văn – hoặc thậm chí như người kiểm tra bảo trì đường ray xe lửa mà phóng sự truyền hình VTV mới đây cho biết đã chọn nghề vì ước mơ từ nhỏ lúc chăn trâu đã thán phục nhìn những con tàu dũng mãnh vững chắc băng ngang đồng ruộng quá uy nghi – thì ai cũng an vui với chức nghiệp của mình. Một nữ danh ca lừng danh của Mỹ đã làm vợ một anh da đen khi thấy anh chàng này đu bám sau xe rác vừa nhảy xuống lấy rác quẳng lên sau xe vừa ca hát nhảy múa yêu đời. Cả hai đều thấy “sự nghiệp” của bản thân họ là cao quý. Lòng tự trọng là thứ vật phẩm cao quý nhất cộng với nếp sống tích cực, yêu đời, yêu quý công việc mình cho là đáng làm để phục vụ công ích, nên dù là cha của siêu sao bóng đá bầu dục nhà nghề Mỹ NFL Richard Sherman của đội Seattle Seahawks, ông Kevin Sherman vẫn hàng ngày thức dậy lúc 3 giờ 45 sáng lái xe đi lấy rác trên đường phố Los Angeles và thậm chí làm cả ngày cuối tuần để kiếm thêm ít tiền ngoài giờ dù con trai ông xin ông hãy cho con ông báo hiếu đón ông về an hưởng cuộc sống xa xỉ xa hoa. Hay như những nhà tu hành theo phân công của giáo hội đã ra hành đạo tại các đảo xa của tổ quốc Việt Nam luôn phải đối mặt với thiếu thốn vật chất cùng hiểm nguy của thiên nhiên và hiểm họa của chiến tranh. Tất cả mọi sự tốt đẹp này đều đến từ lòng tốt hướng thiện ngay từ ngày đầu nghĩ đến khởi nghiệp.

2- Khởi Nghiệp Tâm Bệnh Phong Trào

Với tâm bệnh “sĩ” của nhiều người Việt, khi chương trình MBA tức Master of Business Administration thâm nhập vào các trường đại học Việt Nam, người ta chọn đặt một cái tên cho thật kêu thành “chương trình Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh” và các trường thi nhau mở các khoa “cử nhân quản trị kinh doanh” chứ dứt khoát không chấp nhận danh xưng đúng hơn là “quản trị công việc”, khiến hầu như sinh viên nào cũng mơ mơ màng màng đến việc học xong sẽ làm quản lý doanh nghiệp, làm “sếp” doanh nghiệp, cứ như thể thiên hạ có tiền thì hãy mở công ty để ta đây đến làm giám đốc vậy, mà không biết rằng đó chỉ là ngành học về quản lý công việc trong thời đại mới cho một cuộc mưu sinh ngập đầy tính cạnh tranh khốc liệt, nghĩa là những gì liên quan đến cuộc sống của lương-tiền-cơm-áo nhất thiết phải được biết đến. Một nhân viên hay một giáo viên hoặc một người quản lý một “cây xăng” đều cần phải qua “business administration” để biết qua về hoạt động ngân hàng, về tiếp thị, về nhân sự, về chứng khoán, về kế toán, về thuế má, luật pháp kinh doanh, v.v., đơn giản vì ở xã hội Âu Mỹ ai mà không mua chứng khoán, không sợ nhất là các sai sót về thuế thu nhập cá nhân, không tự lo cho quyền lợi phúc lợi của mình như một người lao động, và không quan tâm đến luật pháp kinh doanh để hiểu biết rõ nhất về nơi mình làm việc để còn tự bảo vệ mình, v.v. và v.v. Tất nhiên, với sự hiểu biết như vậy, người bán xăng ở một “cây xăng” được thuê để một mình vừa bán xăng vừa phụ trách cửa hàng tiện ích bán hàng hóa cho khách mua xăng, nghĩa là phải biết về công việc tồn kho, thu ngân, kết toán, v.v. và v.v. mà chương trình “quản trị công việc” cung cấp đủ đầy các kiến thức chung ấy. Cũng tất nhiên, với sự hiểu biết ấy, người ta nếu muốn vẫn có thể tự mình lo toan cho một cơ sở kinh doanh riêng mà “trẻ em” Việt Nam sính dùng từ “doanh nghiệp” cho thêm phần hiển hách vì lẽ nào học 4 năm cử nhân đại học để ra đứng bán xăng!

Tương tự, đến khi thuật ngữ “start up” du nhập Việt Nam thì ai cũng gọi đó là “khởi nghiệp” vì cùng chứng bịnh “sĩ”, nhưng với ý nghĩa mới hoàn toàn chật chội: khởi đầu một doanh nghiệp! Thế là từ sự “khởi đầu một sự nghiệp” đa dạng và phong phú, thực tế, nhân văn, “start up” đã bị Việt Hóa co cụm lại thành “khởi đầu một doanh nghiệp”, khiến thay vì khởi nghiệp lẽ ra là điều dẫn dắt đúng đắn luôn có nơi chốn học đường dành cho lớp người tương lai của đất nước lại méo mó thành việc khẳng định mặc định rằng ai đi học xong mà không mở công ty thì chẳng thể gọi là có khởi nghiệp. Như tôi đã bao lần kêu gọi trong vô vọng là bạn trẻ hỡi hãy học tiếng Anh cho thực sự ra hồn đi, người ta lẽ ra nên dùng từ chính xác là “business startup” (hoặc business start up, hay entrepreneur startup) nếu muốn nói về việc bắt đầu một doanh nghiệp tức “start your own business” chứ đừng nói tắt là “khởi nghiệp” vì sai bét.

Startup company, startup business, startup hay start-up hoặc startup entrepreneurship đều có nghĩa là một cơ sở kinh doanh mới thành lập dưới dạng một công ty, một mô hình đối tác tạm thời. Nhưng khởi nghiệp trong tiếng Việt hoàn toàn không phải startup company, startup business, startup hay start-up của tiếng Anh, vì khởi nghiệp là từ dùng chung cho tất các trường hợp nghề nghiệp khác nhau chứ không cứ chỉ có mở doanh nghiệp!

Những kẻ không biết gì về ngôn ngữ Việt và tiếng Anh đã góp phần không những hủy phá ý nghĩa cao vời của khởi nghiệp mà còn làm lệch lạc định hướng nghề nghiệp lành mạnh của giới trẻ Việt Nam.

3- Quốc Gia Khởi Nghiệp

Một bằng chứng khác cho thấy sự sử dụng sai từ “start up” ở Việt Nam: tác phẩm Start-up Nation: The Story of Israel’s Economic Miracle của Dan Senorr và Saul Singer viết năm 2009 về sự phát triển kinh tế thần kỳ của Israel sau 60 năm lập quốc. Tác phẩm được tạp chí New York Times và Wall Street Journal xếp hạng thứ 5 những quyển bán chạy nhất thế giới năm 2010 này nói về “quốc gia khởi nghiệp” (start-up nation), từ đó có thể liên tưởng đến mẫu câu “doanh nghiệp khởi nghiệp” (start-up business) trong tiếng Việt chứ không chỉ ngắn gọn là “khởi nghiệp”.

4- Việt Nam Khởi Nghiệp

Từ các nội dung trên, tiến trình Việt Nam Khởi Nghiệp tức Start-up Vietnam theo ý nghĩa và công thức tạo từ của Start-up Nation để hy vọng có sự phát triển kinh tế thần kỳ như Israel, nhất thiết đòi hỏi

a) Các trường đại học Việt Nam cùng sinh viên phải hiểu rõ và đúng về cá nhân khởi nghiệp, về doanh nghiệp khởi nghiệp, và về Quốc gia khởi nghiệp, theo đó cá nhân khởi nghiệp là việc bắt đầu một sự nghiệp mà hoài bảo, ước mơ, năng lực, năng khiếu, v.v., đã trở thành kim chỉ nam hay một thứ xung lực và động lực mà trên hết là từ nền tảng của lòng cao thượng tổng hợp của vị tha, vì nước, vì dân, vì nét đẹp của nghề nghiệp, mà mọi người trên thế gian này từ ngàn xưa đã đều biết đến; doanh nghiệp khởi nghiệp là những gì cần và đủ nên có để một cơ sở kinh doanh nên được thành lập để người chủ có thể tồn tại, phát triển, đối phó xử lý khi phải phá sản; còn quốc gia khởi nghiệp là khi một quốc gia bắt đầu tiến trình kiến quốc sau thời gian lập quốc, sau thời gian thống nhất đất nước, hay sau thời gian khó khăn dẫm chân tại chỗ đã đề ra được phương hướng và kế hoạch dài hơi để phát triển đất nước.

b) Chính phủ phải có cơ chế quy định không cho phép sự tự do sử dụng từ ngữ trên các phương tiện truyền thông đại chúng trước khi các từ ngữ được thẩm định bởi cơ quan chức năng. Việc Việt Nam hoàn toàn không có khái niệm và phân định cụ thể giữa “formal” và “informal” (tức giữa “trang trọng” và “bình dân”) như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới là cái sai của các nhà ngôn ngữ hoc Việt Nam mà tôi đã luôn lập đi lập lại trên các blog, cũng như không lưu ý đến các rạch ròi mang tính luật pháp như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới đẫn đến các nguy cơ nhãn tiền như:

– học sinh và sinh viên khó thể bảo đảm viết lách tiếng Việt đúng đắn về ngôn phong

– học sinh và sinh viên bị tác động lệch tâm của sự sử dụng từ “khởi nghiệp” tự tung tự tác trong xã hội khiến các nỗ lực hướng nghiệp bị thất bại khi “sự nghiệp” không còn quan trọng mà chỉ có “mở doanh nghiệp” mới là điều duy nhất

– cơ quan như công an chẳng hạn mới đây đã bị cho là vi phạm pháp luật do dùng từ “trưng dụng” trong trưng dụng phương tiện đi lại hoặc truyền tin để phục vụ công tác, đơn giản chỉ vì đã không liên hệ đến tiếng Anh[*] để nhận ra một điều rằng nhất thiết phải tạo từ mới vì yêu cầu phức tạp của luật pháp.

c) Việt Nam cần hiểu ró rằng không thể có Việt Nam khởi nghiệp nếu nguồn nhân lực khởi nghiệp Việt Nam không hiểu biết gì đến các nội dung trên, khiến môi trường nghề nghiệp hỗn loạn, thiếu hụt, bát nháo, đẩy xa hơn ngoài tầm với tiến trình khởi nghiệp Việt Nam để khó kỳ vọng có được một Việt Nam khởi nghiệp sau 50 năm nữa.

Kỳ sau: Bài 2 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: [1] Trong khi tiếng Anh có nhiều từ ngữ khác nhau để sử dụng như các động từ to confiscate, to requisition, to appropriate, to commandeer, to expropriate, to sequester, to sequestrate, v.v. tùy vào các đặc điểm của các hành động khác nhau trong hoàn cảnh khác nhau như sung công, sung dụng, tịch thu, trưng dụng, trưng thu, v.v. (chẳng hạn động từ commandeer được dùng trong trường hợp cảnh sát Mỹ chặn lấy xe của công dân để rượt bắt đối tượng phạm pháp), thì ở Việt Nam chỉ dùng mỗi một chữ “trưng dụng” nên nếu nội hàm “trưng dụng” đã lỡ được dùng trong một đạo luật cụ thể trước đó thì đương nhiên việc sử dụng từ “trưng dụng” trong thông tư của Bộ Công An khiến Bộ này “vi phạm pháp luật”. Điểm này sẽ được bàn kỹ hơn trong một bài viết khác sau.

Tham khảo:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/25/nhan-quyen-va-pham-gia/

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-02-2016

Thói thường thì người Việt Nam mỗi khi đi nước ngoài về đều hết lời tán dương ca ngợi sự giàu có, tiện nghi, lộng lẫy, nguy nga biểu hiện lồ lộ qua các điều vật thể cụ thể như đền đài, thành quách, phố xá, công trình, v.v. ; cũng như qua những điều phi vật thể như các nét văn hóa, cách ứng xử, lễ hội, v.v., tất cả toát lên sức sống sinh động, trù phú, đáng khâm phục.

Và cũng theo thói thường thì mỗi khi có cái “thói thường” nêu ở trên, người Việt Nam ngao ngán, ngúc ngoắc đầu ra dáng ngại ngùng, ngán ngẩm, khi liên tưởng đến những điều vật thể và phi vật thể biểu hiện lồ lộ qua bao việc, tất cả toát lên sự tồn tại mà không ai cho là không dị thường, ngay cả nơi các nhà giáo dạy Sử và những người tự phong là “nhà sử học” hay “sử gia”.

Cái hệ lụy từ hai thứ “thói thường” ở trên là chưa thấy ai nhìn ra được – hay chí ít đề ra được một phương pháp cụ thể, khoa học, thuyết phục để nói về – sự giàu đẹp “lồ lộ” định hình được, định tính được, định lượng được của Việt Nam, vì vậy chả trách không đâu thấy có sự tự hào, nhận ra được niềm vinh dự, của việc được sinh ra làm người Việt Nam, dẫn đến việc tay thì ngửa ra nhận tiền lương, mà việc dạy Sử vẫn không làm tròn, khiến học trò Việt thì dốt Sử (điểm zero mà không gọi là “dốt đặc” mới là lạ!), còn hệ thống giáo dục nước nhà cứ mãi dùng chữ “trăn trở” với “băn khoăn”, khiến nước ngoài lầm tưởng người Việt ta khoái nằm ưỡn trên giường để thở dài (“trăn trở” lăn qua trở lại mà lị!) hoặc ngồi đực ra bên bàn trà để nhíu mày nhăn trán (“băn khoăn” mà lại!).

Bài viết này, do đó, cung cấp cho các nhà giáo dạy Sử, các “nhà sử học” tự phong, và các “sử gia” trên trời rơi xuống những luận cứ khoa học cho một công thức hàn lâm chuẩn xác nhằm cân đong đo đếm được mức độ giàu mạnh của Việt Nam để sử dụng trong các bài giảng Sử, bài viết Sử, phát biểu Sử, nhắm đến việc “minh bạch hóa” sức mạnh và vẻ đẹp của quốc gia này.

Trước khi vào phần cốt lõi của các luận cứ, xin nói vi von thêm rằng Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dù có phát triển vùn vụt đến đâu, điều này chẳng dính dáng gì đến việc phát triển vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam, nghĩa là những gì đang có ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh như nhà cao tầng đồ sộ, đường nhiều tầng hiện đại, hệ thống điều khiển giao thông phức tạp, v.v., không mang nội hàm rằng ngần ấy thứ cũng có đầy dẫy khắp nơi ở các vùng biên giới Việt-Trung, Việt-Lào, và Việt-Cam. Sự chịu đựng thành công của các vùng biên giới đầy gian truân, lắm khổ ải, thừa thiếu thốn, đưa đến sự tồn tại phát triển phồn hoa của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các phố thị khác của Việt Nam. Đã là chốn biên phòng, nơi ấy buộc phải chịu nhiều thiếu thốn, thiếu hụt, cả về tiện nghi sống lẫn sự phô trương vật chất phù hoa.

Việt Nam là xứ sở kỳ lạ vì gánh lấy gánh nặng làm chốn biên phòng của toàn vùng Đông Dương và Đông Nam Á.

Khi đi thăm Campuchia, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu, dồn của cải cứu đất nước ấy không bị Trung Quốc tuyệt diệt giống nòi, không bị Trung Quốc cướp sạch kho tàng đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành, để mọi thứ bảo vật Khmer mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước ấy phát triển vượt bậc, trở thành một thành viên của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi đi thăm Thái Lan, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là thốt nên tiếng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính Thái Lan cướp sạch kho tàng Thái Lan đem về Bắc Kinh hoặc phá nát kinh thành Thái Lan, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để đất nước Thái Lan phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành một thành viên đầy vinh diệu của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Và khi đi thăm Mã Lai, Singapore, hay Indonesia, thậm chí cả Australia bao la giàu mạnh, đến ngắm các thành quách đền đài nguy nga, các di tích khổng lồ hoành tráng, cách hành sử duy nhất đúng của du khách Việt Nam là buộc miệng khen “Việt Nam thật vĩ đại, thật đẹp, thật hào hùng” vì đã đổ xương máu nhiều ngàn năm không mệt mỏi chống chọi với Trung Quốc, vơ vét đến cạn kiệt ngân khố quốc gia Việt Nam để hàng năm tiến cống Trung Quốc, ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống thôn tính toàn bộ Đông Dương và Đông Nam Á, ngăn chặn Trung Quốc chiếm giữ Biển Đông, ngăn chặn Trung Quốc tràn quân thôn tính Châu Đại Dương, để mọi thứ bảo vật mang giá trị văn hóa của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại, để toàn vùng phát triển kinh tế vượt bậc, trở thành những thành viên đầy tự hào của cộng đồng nhân loại ngày nay.

Khi nói đến tên các quốc gia Đông Nam Á và Úc châu, không có nghĩa là Việt Nam chỉ có thể tìm thấy sự vĩ đại của chính mình tại những nơi ấy. Sự giàu có của Pháp cũng đến từ tài sản cướp được của nước Việt ta trong hàng trăm năm xâm chiếm.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực sở dĩ có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Phủ nhận điều này chỉ khiến người lên tiếng phủ nhận biến thành phường ăn cháo đái bát, phụ nghĩa, vong ân, mà như thế có khác gì loài dã thú.

Việt Nam đã làm chốn biên phòng của toàn khu vực; do đó, sự phồn vinh của các quốc gia trong khu vực có được là nhờ vào sự vững chắc của chiến lũy Việt Nam. Không biết gì về sự thật này để dạy học trò chỉ khiến nhà giáo dạy Sử biến thành vô trí vô hóa vô lương vô tâm, chỉ là những cỗ máy vô tri nhào nặn ra những học trò dốt Sử, giỏi chê bai nước nhà, hám chạy theo phục dịch ngoại bang.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải mãi gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Thái Lan khi đã thức tỉnh trước sự thật này đã không tiếp tục cho phép các nhóm người Việt từ Úc hay Mỹ đến lập căn cứ “Kinh Kha” trên đất Thái chống phá Việt Nam. Các quốc gia trong khu vực do đã thức tỉnh trước sự thật này nên đã ủng hộ Việt Nam trên trường quốc tế. Đó là hành động duy nhất đúng của các chính phủ có trí tuệ.

Việt Nam phải luôn lao đao, phải luôn lận đận, vì phải luôn gánh vác trọng trách bảo vệ sự tồn tại của hàng tỷ người trong toàn khu vực, thành vùng đệm an toàn ngăn cách khu vực với hiểm họa xâm lược từ Trung Quốc. Do đó, người dân Việt Nam cần nhận thức rõ nhất về vai trò này của Việt Nam, để tự hào về đất nước, từ đó vững vàng trước các chống phá của các thế lực thù địch chống Việt mà thực chất là bọn Việt gian tiếp tay Trung Quốc thôn tính Việt Nam và phần còn lại của Đông Nam Á.

Muốn biết Việt Nam giàu đẹp đến dường nào, hãy đi du lịch ra các nước trong vùng Đông Nam Á, để tấm tắc khen rằng người dân ở các nước ấy thật may mắn đã có Việt Nam dạn dày sương gió trấn giữ biên cương vùng đất, vùng biển, vùng trời tại khu vực này của thế giới.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đồng Phục Học Sinh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Có một chân lý ở Việt Nam rằng khi học đường quan tâm tạo dáng cho đồng phục của học sinh như cách để tạo sự khác biệt đặc trưng thì đó là nơi chốn không bao giờ là của nguồn nhân lực tương lai hùng mạnh của quốc gia.

Có trường thì các cấp lớp tự tranh nhau tạo sự khác biệt thí dụ như tại một trường nọ ở Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh trang phục thể dục khác nhau do có lớp quyết định chọn màu tím cho cả nam sinh và nữ sinh, có lớp lại chọn màu hồng hay màu vàng, và tất nhiên các lớp khác chọn những màu sắc chưa được chọn để khỏi “đụng hàng”.

Nhưng tất cả các trường ở Thành phố Hồ Chí Minh đều có các kiểu gọi là “đồng phục” riêng, chẳng hạn như tại trường dưới đây ở Quận Phú Nhuận:

 Dong Phuc

thay vì dạy học sinh cách thắt cra-vat vốn cực kỳ cần thiết do có rất nhiều “người lớn” ở thành thị và tại tất cả các công ty lớn cũng như nhỏ vẫn chưa biết thắt cra-vat cho chính mình, nhà trường lại “bán” cho học sinh cả nam và nữ sợi dây đeo trước cổ như trong ảnh trên. Gọi là dây đeo cổ vì không phải thắt mà là một sợi dây may dính vào cái lưỡi thè dài nhìn xa giống như một cra-vat nhưng luôn được buông lã lơi một cách diễu hề không nghiêm túc, bất lịch sự, vô văn hóa, cực kỳ nhếch nhác. Nếu như ban giám hiệu và giáo viên nam nữ của trường trung học trên vẫn không có ý kiến gì về cái kiểu “thời trang” như thế thì rõ là cái danh xưng nhà giáo dục của họ rõ là có vấn đề nghiêm trọng.

Tôi không phải người bảo thủ trong lĩnh vực thời trang vì tôi luôn “đa sắc màu” ngay cả tại nghị trường Quốc Hội cũng vận áo sơ mi từ tím than đến tím…hoa sim hay mọi màu sắc khác thay vì lẽ ra nên luôn là màu trắng trang trọng

 Dongphuc2

cũng như luôn thoải mái khuyến khích vợ tôi khi chúng tôi vừa mới lập gia đình thích đi đó đi đây chu du thiên hạ cách nay 30 năm hãy tự nhiên ăn mặc “sexy” dù bộ áo tắm có “hở hang” thế nào cũng được khi tắm biển Vũng Tàu hay Nha Trang (dù chính vợ tôi lúc nào cũng ngượng ngùng, kín đáo, cứ tự ý kiếm voan may thêm vào áo tắm để che bới đùi, mông) tôi vẫn cho rằng cái gọi là “đồng phục” của học sinh thời Việt Nam Cộng Hòa mới là duy nhất đúng. Thủa ấy, nữ sinh bất kỳ trường học nào cũng mặc áo dài trắng; còn nam sinh bất kỳ trường học nào cũng mặc áo sơ mi trắng (hoặc dài tay hoặc dài tay hoặc ngắn tay) bỏ trong quần dài ka-ki xanh dương đậm, đi giày vải hoặc giày xăng-đan – nói chung là “có quai hậu”.

 Dongphuc3

Sự phân biệt học sinh trường này với trường khác chỉ dựa vào huy hiệu bằng vải có tên trường, thứ duy nhất mà phụ huynh mua của trường để về tự may vào trên túi áo trái của con mình. Tất nhiên, có trường – thiểu số cực kỳ hiếm hoi – như trường Nguyễn Bá Tòng chế ra huy hiệu hình chiếc lá bằng kim loại màu vàng có nền nhựa trong màu đỏ như trong ảnh dưới đây:

 Dongphuc4

Điều thuận lợi ở đây là (a) người mẹ trong gia đình hoặc tự may áo dài cho con gái, áo sơ mi cho con trai, tự đính huy hiệu vào áo cho con; (b) do áo chất lượng tốt nên áo của anh chị có thể được sử dụng tiếp bởi các em, chỉ cần người mẹ trong gia đình tháo huy hiệu ra và đính huy hiệu mới vào nếu các con nhỏ tuổi hơn theo học trường khác với anh chị; (c) ngay cả huy hiệu như của Nguyễn Bá Tòng lại càng dễ sử dụng và tiết kiệm do có kim gài mà anh chị nếu học khác buổi với các em đều có thể cùng sử dụng chung – đặc biệt cơ chế tổ chức cực kỳ khoa học của nhà trường Việt Nam Cộng Hòa khiến dù học 6 ngày mỗi tuần tức kể cả Thứ Bảy, dù học rất nhiều môn, dù môn nào cũng phải thi cuối năm, cuối cấp, và tú tài, thì vẫn chỉ học một buổi duy nhất trong ngày tức học toàn bộ các buổi sáng hoặc toàn bộ các buổi chiều; (d) học sinh chỉ lo chăm học chứ không lo đua đòi vì mọi đua đòi bị triệt tiêu nơi chốn học đường, còn nhà trường không ai bị mang tiếng tranh thủ bòn rút kiếm chác tiền của phụ huynh qua việc bày trò “kiểu đồng phục riêng” hầu cơ sở may mặc của gia đình các vị chức sắc trong ban giám hiệu có dịp “độc quyền kiếm ăn” quanh năm suốt tháng; và (e) nữ sinh dù không bao giờ được hướng dẫn phải tu dưỡng ra sao vẫn tự nhiên hình thành nếp tư thế khoan thai, sang trọng, cẩn trọng, thướt tha, với chiếc áo dài đồng phục của mình do không thể chạy giỡn, phá phách, thét gào teen teen tửng tửng tứng từng tưng.

Mỗi khi tan trường, học sinh trung học của Việt Nam Cộng Hòa chỉ cần kéo áo sơ mi ra để “thoải mái” dù nhếch nhác

 Dongphuc5Dongphuc6

thì học sinh tại trường đã nói ở trên tại Quận Phú Nhuận lại “nhếch nhác” toàn bộ thời gian từ nhà đến trường, trong trường, và từ trường về nhà chỉ vì cái kiểu đeo toòn teng cái “thè lưỡi” nhái nhái cra-vat chẳng giống ai đó.

Học đường là nơi nghiêm túc vì đào tạo nguồn nhân lực cao cho xã hội. Chốn tu hành là nơi nghiêm túc vì là nơi xuất phát của các bậc cao tăng. Học đường không thể thi nhau bày ra đồng phục riêng với phụ tùng riêng để tạo sự riêng biệt trong ngoại hình đối với trường học khác trong quận nhà hay quận khác. Chốn tu hành không thể bày ra đồng phục riêng với phụ tùng riêng để tạo sự riêng biệt trong ngoại hình đối với cơ sở tôn giáo khác trong quận nhà hay quận khác. Cái tự do về tạo hình trong trang phục chỉ có đối với học sinh đã bước chân vào đại học hay vào đời. Cái tự do về tạo hình trong trang phục chỉ có đối với nhà tu hành đã hoàn tục hoặc tu xuất. Thậm chí cái tự do về tạo hình trong trang phục có khi cũng không được tồn tại đối với những “người lớn” nào làm việc cho những công ty “lớn” có Dress Code tức quy định về trang phục hay đồng phục, khiến cái tự do về tạo hình trong trang phục chỉ có thật đối với đời sống cá nhân bên ngoài nơi làm việc. Chỉ cần hiểu biết về điều này, nhà trường tất nhiên sẽ phải quy định như các trường học – dù công lập hay tư thục – của Việt Nam Cộng Hòa để chuẩn bị cho những học sinh làm quen với “dress code” để tiến từ học đường ra xí nghiệp, cơ quan, lực lượng vũ trang, v.v., phù hợp với kỷ cương chung, quy định chung, ngay từ thủa nhỏ.

Một khi đầu óc chỉ nghĩ đến sự tranh đua về độ nổi bật của trang phục, sẽ không bao giờ có chỗ cho tri thức, mà học đường là nơi cung cấp tri thức, hướng dẫn hình thành trí thức, càng không thể nào là nơi bày ra “thời trang” hoặc mặc cho học trò bày ra “thời trang”.

Thật bình thường khi tại trung học vào giờ ra chơi nam sinh tụ năm tụ ba bàn tán với nhau về một hoa khôi, còn nữ sinh tụ năm tụ ba bàn tán với nhau về một nam khôi. Đây là điều chứng tỏ sự phát triển tư duy thẩm mỹ lành mạnh, phát triển tâm sinh lý lành mạnh, và phát triển nhân cách lành mạnh. Thật đáng thương hại nếu vào giờ ra chơi các học sinh trung học lại bàn với nhau về màu trang phục nên mua sắm hay đặt may cho môn thể dục của lớp, bàn với nhau về giày Adidas, về xe phân khối lớn và cách dấu xe phân khối lớn ấy tại nhà dân gần trường, v.v.

Thật đáng thương hại khi tại trường trung học hay đại học có tổ chức thi hoa khôi hoặc thi hoa hậu, thi thời trang. Đây là điều chứng tỏ trường trung học ấy, trường đại học ấy đã không còn ở bậc thang lành mạnh.

Đồng phục là công cụ hình thành nhân cách học sinh chứ không phải là thứ tạo sự khác biệt giữa trường này với trường khác, vì sự khác biệt – nếu có – luôn chỉ là trình độ cao đến đâu của thầy cô cũng như của học trò so với các trường khác.

Đồng phục là công cụ hình thành giềng mối gắn kết của gia đình khi (a) mẹ và chị may áo và thêu thùa gắn đính dãi băng huy hiệu lên áo ấy cho con em, và (b) tiết kiệm là gia sách (so với quốc sách).

Trường học không hiểu gì về tầm quan trọng của đồng phục thì e là giới con buôn đã tràn ngập chốn học đường mất rồi!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tầm Nhìn Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Tam Nhin1

Tầm nhìn là thứ luôn có nơi mỗi người. Vấn đề là nhìn vào gì hay vào những gì và thấy gì hay thấy những gì trong vô số những gì; nhìn đến đâu: ở gần, ở xa, ở rất xa, ở đường chân trời, ở phía sau đường chân trời; nhìn phía nào của trên dưới trái phải; và quan trọng nhất là bản thân người nhìn có thiên hướng như thế nào sau khi nhìn và thấy, đồng thời có diễn giải được bằng ngôn ngữ để phổ biến cái đã nhìn đã thấy được ấy cũng như luôn kèm theo đó là những đánh giá, những phê phán, những phân tích, những tổng hợp, những đề nghị, và các đề xuất hay không. Chính những khác biệt này mà cái gọi là tầm nhìn của một người mới được xem là sự thấu thị mang tính tiên tri chiêm nghiệm – gọi tắt là tiên tri thấu thị mà tiếng Anh gọi người có khả năng như thế là man of vision – hay chỉ là khả năng cơ học của đôi mắt chưa đến lúc phải đeo kính cận, kính viễn, kính loạn, hay kính lão, có gọng vàng, gọng nhựa, gọng dây thun, hay loại áp tròng.

Thủa ấu thơ tôi rất kính nể các cụ chơi cờ tướng vì tầm nhìn của các cụ đối với các nước cờ mà đối thủ sẽ đi sau tối thiểu dăm ba nước đi, thậm chí chính các cụ đã biến thành ngữ “thí chốt” trở thành lạc hậu khi các cụ thí cả xe – pháo – mã để bảo vệ các quân chốt đang lừ đừ từ đồ dần dà tiến bước vây hãm tướng soái của đối phương. Tôi vốn người minh bạch, nên sau thời gian dài từ lúc chưa có cái gọi là vi tính viễn thông cho đến ngày nay đã làm gì khi nhìn thấy gì, muốn ghi lại dăm ba nội dung nào mà tôi còn nhớ được, vừa để sẻ chia với mọi người về cái tầm nhìn của mình, vừa để mong có ngày sẽ được vài người rộng lượng nhìn nhận đó là tầm nhìn, để tôi tự an ủi rằng ít ra mình xứng đáng với vai trò một nghị sĩ trong một nhiệm kỳ qua, do nghị viện chính trường là nơi chỉ dành riêng cho những người luôn có tầm nhìn. Không có tầm nhìn thì chỉ đơn giản là người lạc lối chốn bàn đào, không đủ lực đứng ra tham gia lo chuyện quốc gia đại sự, quốc kế đại minh, vì quốc dân đại phát trong quốc tế đại hỗn mang.

A- Tầm Nhìn Học Thuật

1- Đế chế Kinh Tài Chindia

Còn khi thế giới học thuật hàn lâm bắt đầu nói về toàn cầu hóa và hí hửng đem thuật ngữ “Chindia” vào chương trình thạc sĩ kinh doanh quốc tế để nói về sự hình thành một đại siêu cường kinh tài của tương lai gồm sự cộng sinh tương hổ của hai thị trường khổng lồ của China – công xưởng của thế giới – và Ấn Độ – văn phòng của thế giới – sẽ thống trị toàn cầu, thì tôi đã tận dụng tính tự do trong nghiên cứu hàn lâm để một mặt viết khóa luận cho Đại Học Curtin (Australia), một mặt viết trên Yahoo!3600 một bài tiếng Anh mang tựa đề “People Say Chindia. I Say Vietnam” với nội dung rằng thật là sai lầm hoang tưởng bậy xằng khi đánh bóng về Chindia do không bao giờ có sự hình thành của cái gọi là Chindia ấy. Tôi đã phân tích về thế mạnh của Ấn Độ. Tôi đã phân tích về thế mạnh của Tàu. Tôi đã phân tích vì sao sẽ là sự kém khôn ngoan khi đầu tư vào Ấn Độ chỉ vì Chindia. Tôi đã phân tích vì sao sẽ là sự tự sát nếu đầu tư vào Tàu chỉ vì Chindia. Tôi đã phân tích vì sao không bao giờ có Chindia. Kết luận của bài viết ấy là: một nhà tư bản nếu thật sự khôn ngoan sẽ chọn Việt Nam làm nơi đổ tiền vào thay vì vào Ấn Độ và Trung Quốc bởi vì cái hình ảnh hào nhoáng từ cái tên Chindia vớ vẩn ấy. Thế rồi quả nhiên Chindia biến mất một cách nhục nhã khỏi diễn đàn hàn lâm. Thế rồi quả nhiên các đại gia sau khi đã đổ xô đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất ở Trung Quốc dẫn đến việc biết bao bí mật phát minh kỹ thuật bị ăn cắp, công ty bị đập phá đốt phá tan tành bởi những đám đông người Tàu xuống đường biểu thị lòng “yêu nước, chống xâm lược” mỗi khi có căng thẳng ở Biển Hoa Đông rốt cuộc cũng phải bỏ chạy khỏi Trung Quốc và dời nhà máy sang Việt Nam. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về số phận Chindia!

 TamNhin

2- Phát kiến BoP

Án binh bất động là căn bệnh trầm kha của giới thức giả Việt Nam, còn dệt thêu là căn bệnh kinh niên của giới thức giả Âu Mỹ. Cũng vì vậy, Việt Nam chớ có công trình nghiên cứu nào làm thế giới phải ghi danh, còn Âu Mỹ mới có vô số công trình tầm cỡ Nobel cùng lắm tác phẩm cưc kỳ vớ vẩn. Một trong những cái vớ vẩn đó là việc rặn ra cái gọi là BoP (Bottom of the Pyramid – đáy kim tự tháp – ví von nơi có đông dân nghèo nhất ) xem như phát kiến vĩ đại về một nơi mà giới tư bản có thể đổ quân đến thu hốt lợi nhuận cao nhờ bán cho số đông (đơn giản: cứ mỗi 1 tỷ người nghèo thì chỉ cần moi của mỗi người 1 USD thôi là sẽ có ngay 1 tỷ USD), cho đến khi tôi phản bác trong bài tiểu luận ở Đại Học Curtin rằng nào có hay ho gì việc đại gia tư bản chen chân vào vừa vơ vét tiền xu của người cùng khổ vừa lấy thịt đè người tiêu diệt luôn ngành tiểu thủ công nghiệp ở nước sở tại chẳng hạn như công ty đại gia tư bản thế giới rao ra rả trên tivi Ấn bán cà-rem giá rẻ mạt cho trẻ em cùng khổ rồi trên tivi Việt quảng cáo gói bột giặt hay dầu gội đầu nhỏ xíu giá rẻ mạt hai trăm đồng. Rốt cuộc, đại gia tư bản tuy vẫn cứ tiếp tục moi móc từng xu lẻ của dân nghèo các nước nhưng câm miệng lại không dám tung hê BoP như nền tảng hàn lâm cho sự lấn chiếm tổng lục của họ nữa khiến BoP lặng lẽ biến mất khỏi tháp ngà hàn lâm. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về số phận hèn hạ của BoP!

B- Tầm Nhìn Kinh Tế

1- Hàng Trung Quốc

Từ nửa cuối những năm 1990 của thế kỷ trước tôi đã yêu cầu cô thư ký của tôi là Phan Nguyễn Tường Uyên không được mua văn phòng phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc vì chúng có chất lượng tồi tệ so với văn phòng phẩm Nhật Bản mà tôi đã quen dùng từ trước 1975, và khẳng định với các nhân viên thuộc quyền rằng chất lượng hàng Trung Quốc sẽ tồi tệ hơn theo năm tháng. Mà quả thật, ngày nay hàng Trung Quốc toàn là thứ vất đi, độc hại, rẻ mạt, ngay cả việc xây dựng kỹ thuật hiện đại hơn như đường sắt cao tốc trên cao ở Hà Nội do Trung Quốc xây dựng cũng là một thứ đường sét thấp tốc với thời gian xây dựng cực kỳ cao. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa như thế về nơi đến của hàng hóa cùng dịch vụ Tàu, từ miếng dán sticker khiến trẻ em gái Việt Nam lao vọt như tên bắn đến tuổi dậy thì, cho đến hàng không mẫu hạm của lĩnh vực quốc phòng, v.v. Nơi đến là các thùng rác.

2- Slogan cho Việt Nam

Như đã đăng lại trong bài Chí Phèo mới đây trên blog này, tôi có nói về chuyện tôi khai phát pháo đầu tiên về khẩu hiệu của Việt Nam ngày 10-9-2008 trên báo Sài Gòn Tiếp Thị phê phán chê bai cái slogan kém cỏi vô lý “Sử Dụng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước”, đồng thời đề xuất 3 khẩu hiệu mới để thay thế, trong đó có khẩu hiệu “Người Việt Nam Ưu Tiên Sử Dụng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam”. Ở Việt Nam sau đó xuất hiện khẩu hiệu này, chỉ thiếu có chữ “Cao Cấp”, biến thành hướng kêu gọi của Đảng và Chính Phủ hơn nửa thập niên nay – tất nhiên chưa hề có ai nói chuyện với tôi về … tác quyền vốn là điều quan trọng thuộc sở hữu trí tuệ mà các định chế song phương và đa phương thường nêu lên như điều kiện tiên quyết với Việt Nam, ắt tại thiên hạ biết tôi ưa tư vấn miễn phí. Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về khẩu hiệu đàng hoàng nên có của Việt Nam.

3- Thương hiệu quốc gia cho Việt Nam

Trong bài viết song ngữ Việt–Anh đăng trên Yahoo!3600 năm 2007 mang tên Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam, tôi đã phê phán cái sai của tất cả các báo khi không ai hiểu nội dung thuyết trình của giáo sư Philip Kotler nên đã tập trung diễn giải sai về cụm từ “Nhà Bếp Của Thế Giới” khiến tràn ngập trên báo chí suốt tháng ca ngợi món Phở, phỏng vấn anh Phở, hí hửng hí ha về chuyện Việt Nam sẽ có thương hiệu Nhà Bếp Của Thế Giới đầy vinh diệu ấy. Tôi phán phê rằng Philip Kotler là nhà chuyên nghiệp nên không bao giờ nói cụ thể tại một buổi thuyết trình công chúng, nghĩa là nếu muốn ông cho ra một thương hiệu quốc gia thì phải ký hợp đồng nhiều triệu USD với ông, rằng Phở thì có ra chi mà chỉ với nó Việt Nam lại dám kỳ vọng sẽ đè bẹp ngay món pizza vĩ đại để có ngay thương hiệu ấy, rằng anh Phở thì biết quái gì về ẩm thực và thương hiệu quốc gia, và rằng không bao giờ cái thương hiệu Nhà Bếp Của Thế Giới thuộc về Việt Nam. Thế mà quả thực đến tận ngày nay sau 10 năm thì chí ít mọi người chứng kiến chuyện anh Phở bán luôn thương hiệu Phở để chấm dứt kinh doanh món Phở nhạt thếch của anh ta, cũng như chuyện Việt Nam đâu có thành cái bếp ăn điên khùng ấy.

Như mọi nhà tư vấn chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi phân tích vì sao không bất kỳ quốc gia nào sở hữu thương hiệu nhà bếp ấy.

Như mọi nhà tư vấn chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi đề xuất ý kiến chiến lược về một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam, gọi là Campus of the World, tức Trường Đại Học Của Thế Giới, với các sách lược mở cửa cấp đất cho các trường đại học danh tiếng nước ngoài vào xây dựng các trường đại học và các làng đại học thay vì xây các sân golf. Nay thì sau một thập niên, mọi người đang chứng kiến việc hết tỉnh này đến tỉnh kia bắt đầu tạo điều kiện cho các trường đại học nước ngoài vào mở trường. Lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ khi tiếp nguyên thủ các cường quốc Âu Mỹ đã luôn có bàn đến các đề án mở các làng đại học ở Việt Nam.

Đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn chiến lược xa như thế về một thương hiệu quốc gia đẳng cấp cao, thực tiễn, thực tế, thực dụng, và thực lợi cho Việt Nam!

4- Cà phê Việt Nam

Ngày 22 Tháng 01 Năm 2009 trong bài “Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn” đăng trên Emotino, tôi có viết: …Thay vì tung tiền tung hô “xây” thiên đường cà phê hay “tặng” hàng triệu ly sữa từ tiền lời có được do khai thác “thời cơ” cái khổ ải nghèo bấn của nông dân, họ có thể dùng số tiền ấy biến nông dân thành “người” của họ, hàng tháng có thu nhập cố định, còn nguyên liệu “cống nạp” cho họ theo tỷ lệ và thời giá xuống hay lên, để họ chiếm “thời cơ” thành đại gia thực thụ khi là chủ nhân nguồn nguyên liệu đầy ắp kho lẫm, thống lĩnh thương trường xuất khẩu và sản xuất nội địa, điều tiết giá cả giúp chính phủ ổn định kinh tế, còn họ hưởng lợi hoàn toàn và tuyệt đối khi tung hàng ra thị trường hải ngoại. Giả như một công ty nước ngoài nào đó đột nhiên “tin tưởng tuyệt đối” vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam, thì với tài lực của họ, thử tưởng tượng xem họ thực hiện việc trên để nắm nguồn nguyên liệu cà phê của Việt Nam dễ dàng như thế nào, và đừng nói chi tất cả các đại gia là nhà sản xuất cà phê thành phẩm của Việt Nam mà đến các nhà buôn nước ngoài cũng sẽ mua lại nguyên liệu cà phê Việt Nam từ công ty nước ngoài “nhìn xa trông rộng” ấy…

Tháng 6 Năm 2011 vị đại gia “xây thiên đường” cà phê trả lời phỏng vấn trên VTV nói đại ý rằng chính phủ phải làm gì đấy để trả lại sự công bằng cho doanh nghiệp xuất khẩu vì họ “đầu tư cho nông dân “vay” để rồi công ty nước ngoài vào Việt Nam chẳng “đầu tư” gì hết mà lại tung tiền mua gom hết cà phê trực tiếp của nông dân khiến doanh nghiệp kinh doanh cà phê gặp khó khăn về nguồn hàng phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Cho vay mà gọi là đầu tư! Cho vay thì phải tính lời, và nông dân bán giá cao cho công ty nước ngoài để có dư tiền trả nợ đầu tư nào phải là chuyện sai quấy vì đã trả cả vốn vay lẫn tiền lãi vay sòng phẳng. Và rồi ngày 20 Tháng 7 Năm 2011 một chức sắc ngành cà phê trả lời phỏng vấn trên đài InfoTV nói rằng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lỡ k‎ý hợp đồng giá thấp với khách hàng nước ngoài nên bây giờ để giữ uy tín phải tìm đến các công ty nước ngoài ở Việt Nam để mua lại cà phê với giá cao thực hiện cho bằng được chuyến giao hàng.

Tôi đã từng viết rằng kinh doanh cà phê mà không có tâm với cà phê thì hỏng bét, vì nếu có tâm với cà phê ắt đã không xây thiên đường cà phê hay làm cái tách cà phê khổng lồ cẩu bằng trực thăng để ghi vào Kỹ Lục Guiness rồi đổ bỏ làm chết bao thảm thực vật, mà quan tâm đến những người trồng nên cà phê, chăm lo giúp họ làm giàu từ công sức canh tác của họ – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải chăm sóc cha mẹ của cô gái ấy mới đúng là có cái tâm đúng của đấng nam nhi đoan chính, có giáo dục; rằng kinh doanh cà phê mà không có tầm nhìn dành cho cà phê, vì nếu có tầm nhìn với cà phê ắt đã biết cà phê là thứ hàng quý hiếm để đầu tư xây dựng chuỗi silo làm kho lẫm lưu trữ cà phê trước khi cà phê rơi vào tay người khác – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải biết cô gái ấy hấp dẫn đối với bao người để chăm sóc cô gái ấy thật nhiều để cô gái ấy không hướng về sự chăm sóc đeo bám của chàng trai lịch lãm khác; và rằng mọi sự trên đời đều đơn giản như thế, cái sự đời là thế, và chỉ cần sống theo thế là anh đại gia đã giữ được nàng cà phê đen tuyền kiều diễm mà không phải phát biểu với chính phủ kiểu em bé khóc nhè méc mẹ thế kia.

Vậy là phải mất hai năm sáu tháng tức 910 ngày các đại gia cà phê mới thấy được cái tầm nhìn của tôi; mà đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện đại gia cà phê sẽ mất nguồn cung cà phê và đại gia ấy sẽ chẳng bao giờ xây được cái gọi là thiên đường cà phê trẻ con trẻ nít trẻ người non dạ tức cười ấy.

5- Gạo Việt Nam

Là người thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam năm 1989, tôi cực kỳ quan tâm đến phát triển hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trong số những bài viết về gạo đăng trên Emotino, bài “Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam” đăng năm 2010 có nội dung sau:

 Tam Nhin2

đặc biệt có nói đến sự thật thứ nhất là có những trái khoáy được bộc lộ trong quy trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đã hoạch định, khiến gạo Việt Nam lâm vào tình thế lục đầu thọ địch khi (1) nông dân vẫn là mắc xích yếu ớt dễ bị tổn thương nhất trong chuỗi giá trị gạo; (2) đất nông nghiệp dành cho canh tác lúa bị thu hẹp; (3) biến đổi khí hậu và sự dâng cao của nước biển làm ngập mặn diện tích lớn vùng đồng bằng Sông Cửu Long; (4) thiên tai lũ lụt gây thất bát mùa màng; (5) sự non yếu của hiệp hội lúa gạo trong vai trò phân tích sâu sắc, tổng hợp đáng tin cậy, đánh giá chính xác cao về thông tin thị trường gạo thế giới, và tư vấn hiệu quả sách lược giá bán; và (6) lề lối làm việc của các nhà hoạch định chính sách hay những quan chức chỉ giỏi phát biểu về chính sách; còn sự thật thứ hai là khi đề ra cơ sở Tam Nông trong kế hoạch phát triển nông nghiệp nước nhà, không bất kỳ quan chức nào nhận thức được vị trí quan trọng của silo như sợi liên kết vật chất cụ thể cho nền tảng nông dân – nông thôn – nông nghiệp. Và dù đã gắng sức viết tư vấn hết kế sách này đến kế sách khác thì tôi vẫn không tác động được vào guồng máy chiến lược an ninh lương thực quốc gia và phát triển tam nông, khiến nhiều chục năm qua, Việt Nam vẫn không có hệ thống silo bảo quản chất lượng gạo sau thu hoạch, còn gạo Việt Nam thì chất lượng thấp giá bán thấp lại càng phải phập phồng rớt giá do sự non yếu của cái gọi là Hiệp Hội Lúa Gạo. Rất nhiều năm trước, khi tôi lúc tham dự hội nghị lúa gạo quốc tế có đề nghị Việt Nam nên có hệ thống silo hiện đại thì một chức sắc cao cấp của VCCI đã nhắc khéo tôi rằng tôi lo bò trắng răng vì Việt Nam đâu có thiếu gạo bao giờ đâu mà phải phí tiền nhập silo. Và chỉ cần một câu nói như thế của vị chức sắc ấy là tôi đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện gạo Việt Nam vẫn mãi ở thứ hạng chiếu dưới so với Ấn Độ, Thái Lan, v.v., và thậm chí hiện nay nhiều người Việt Nam thi nhau mua gạo Campuchia vì có hương thơm hơn, hương bền hơn, và vị ngon hơn.

 Tam Nhin2a

Ngoài ra, phần kết luận của bài viết trên tôi phê phán cách dùng cụm từ “đi tắt đón đầu” hoàn toàn sai do muốn đi tắt đón đầu phải là cường quốc kinh tài, chứ hành động duy nhất đúng của Việt Nam phải là cụm từ “lao nhanh, bắt kịp, chặn đầu, tạo thế”. Và nhiều năm nay hầu như không ai còn dám buộc miệng nói ra các chữ “đi tắt đón đầu”.

6- Sản xuất và Môi trường

Trong những năm 1980 khi giảng dạy tại các trường Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh và các trường đại học khác, chỉ với khát vọng học trò của mình ngày sau sẽ giúp Đảng và Nhà Nước hiệu quả hơn, tôi đã luôn thẳng thắn trao đổi với sinh viên về những chủ đề mà thời ấy thuộc lọai nhạy cảm và dễ bị chụp mũ vì “đi trước thời đại”, nói ngược lại chủ trương, chẳng hạn theo tôi: Việt Nam nên ưu tiên dựa vào nông nghiệp để trở thành cường quốc, chứ ngợi ca phát triển công nghiệp nặng chỉ đưa đến hủy phá tàn tạ môi sinh do tâm, tầm, thế của lãnh đạo phát triển công nghiệp hoàn toàn là con số không. Trong thời điểm cơn sốt của chính sách “ưu tiên công nghiệp hóa” dựa vào sự ưu ái mang tính chính trị và lý tưởng học thuật dành cho giai cấp công nhân, đã có công trình xây dựng nhà máy sản xuất máy kéo (tractor) từ vốn vay hay viện trợ của Liên Xô và các nước khối Xã Hội Chủ Nghĩa ở Đông Âu, để rồi xây xong bỏ đó, mang nợ ân tình và tiền nong, xây mà không biết rằng một nhà máy công nghiệp nhất thiết phải hoạt động sản xuất liên tục 24/24 và sản phẩm nhất thiết phải có thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, đặc biệt tổ chức đồng ruông bị cắt nhỏ như ở Việt Nam sẽ không thể sử dụng được tractor. Thêm vào đó, những khẩu hiệu tuy tốt đẹp như “sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu” đã không màng đến cái thực tế phũ phàng của phát trỉển những ngành công nghiệp không-thuộc-thế-mạnh-chuyên-biệt-tiềm-năng-của-nước-nhà. Tôi đã đưa ra dẫn chứng bài học thương đau của Ấn Độ khi nỗ lực thu hút các công ty hóa chất nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, nhưng chưa kịp thành Khu Chế Xuất Của Thế Giới (The SEPZONE of the World) thì đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa kinh hoàng chấn động địa cầu cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, khiến 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và làm hơn nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay còn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống. Số lượng các công ty quốc doanh ở Việt Nam rồi sẽ dần trở thành thiểu số, khiến sẽ có sự chuyển hướng cơ bản và thực chất của lực lượng công nhân sang khu vực tư nhân và tư bản, trong nước hoặc nước ngoài, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của khu vực và toàn cầu của các ngành công nghiệp, khiến người công nhân sẽ đối mặt nhiều hơn và dày hơn với sự chèn ép quyền lợi từ giới chủ, dẫn đến các cuộc đình công hợp pháp xảy ra nhiều hơn, cũng như khiến giai cấp công nhân không còn mang ý nghĩa duy nhất chủ lực trong phát triển kinh tế nước nhà; và trong điều kiện đa số trong các ngành sản xuất công nghiệp tham gia tích cực vào quá trình gia tăng ô nhiễm nghiêm trọng với môi trường sống của cộng đồng, thì sự tập trung đưa nền kinh tế dựa vào phát triển nông nghiệp và nông sản sẽ là một chiến lược khôn ngoan. Và rồi biết bao vụ việc xả thải tàn diệt bao dòng sông, triệt nguồn sống của bao cư dân, gieo rắc mầm bệnh nhãn tiền cho người dân đã được phát hiện, gây nên những chấn động xã hội, khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện môi trường sẽ bị hủy hoại ở Việt Nam.

7- Hợp Tác Bốn Nhà

Ngay khi nghe kế sách quốc gia về “hợp tác bốn nhà giữa Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, và nhà khoa học”, tôi đã viết ngay trên Emotino một bài mang tên “Hợp Tác Bốn Nhà Hay Năm, Sáu, Bảy, Tám Vạn Nhà” để khẳng định rằng kế sách ấy sẽ thất bại vì chỉ có hai nhà là Nhà nước và nhà nông mới là động lực duy nhất của phát triển tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân). Tôi đã lập luận và đưa ra dẫn chứng với số liệu và chi tiết của các cường quốc Âu Mỹ –đặc biệt là Anh Quốc và Hoa Kỳ – để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi cho rằng không bao giờ ở Việt Nam có nhà khoa học tự nghiên cứu về nông lâm thủy hải sản để rồi đi kiếm nông dân để rao bán công trình, mà chỉ có mấy anh được gọi là nhà khoa học ở các viện khoa học hưởng lương Nhà nước ngồi chờ Nhà nước rót tiền để thực hiện các công trình nghiên cứu rồi đúc kết in vi tính nộp Nhà nước lưu cất tàng thư. Nếu các doanh nghiệp tư nhân nghiên cứu khoa học thì họ là doanh nhân đi cung cấp dịch vụ cho nông dân để lấy tiền chứ không phải với tư cách nhà khoa học đi hợp tác với nông dân. Thậm chí tầm nhìn cũng là vấn đề nghiêm trọng nơi các “nhà khoa học” của Việt Nam, chẳng hạn có vị giáo sư tiến sĩ lừng danh tên VTX ở Miền Tây chuyên tạo ra các giống lúa cho Việt Nam, nhưng Ông không có tầm nhìn chiến lược nên gạo Việt Nam của Ông có thể kháng rầy tốt, có thể vươn cao theo đà nước dâng, v.v. và v.v., chứ tuyệt đối không thơm hơn, không thơm lâu hơn, không ngon hơn, không có giá trị cao hơn, không đáp ứng nhu cầu chất lượng cao hơn của thế giới, hoặc Ông không thể giúp gì được cho việc bảo tồn giống cây ăn quả khiến cây trái Miền Nam gần như thoái hóa gần hết. Còn doanh nghiệp nếu hiểu như là doanh nghiệp thu mua nông sản thì hoặc họ là quốc doanh thu mua theo lịnh của Nhà nước và dùng tiền Nhà nước để mua, hoặc họ là tư nhân thì thu mua theo thương thảo giá cả với nông dân mà trong trường hợp này nông dân ở vai trò đối tác của một thương vụ nên do đó cũng được gọi là doanh nhân. Rốt cuộc chỉ có Nhà nước đứng ra hợp tác với nông dân mới nên đại cuộc mà thôi, chẳng hạn Nhà nước đặt hàng cho các viện nghiên cứu của Nhà nước hoặc các công ty ứng dụng khoa học tư nhân thực hiện các nghiên cứu theo chủ đề của Nhà nước – thí dụ qua đề xuất cụ thể và chi tiết của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn – hoặc xuất tiền mua bản quyền nghiên cứu của nước ngoài rồi Nhà nước thông qua các tổng công ty Nhà Nước cung cấp các giải pháp đã nghiên cứu hay đã ứng tiền mua cho nông dân dưới hinh thức các công ty này ký hợp đồng với nông dân để khấu trừ vào lượng sản phẩm thu mua mùa thu hoạch, v.v. Tuy tôi có hí hước trong bài viết rằng nếu liệt kê ra 4 thì còn thiếu vì ngay cả nhà tu hành cũng đứng ra thành hợp tác 5 nhà do có công cầu cho mưa thuận gió hòa giúp nông dân được mùa, và kể thêm nhiều nghề khác cũng đóng góp thành “hợp tác vạn nhà”, tôi vẫn nhằm nêu lên một vấn nạn là các nhà hoạch định chính sách hay cho ra các cụm từ giống như để thỏa thú chơi chữ chứ hoàn toàn không có tính khả thi, khiến “phát triển tam nông” vẫn không phát triển được cho đến tận ngày nay. Và đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện “hợp tác bốn nhà” sẽ chẳng bao giờ tồn tại trên thực tế.

C- Tầm Nhìn Giáo Dục & Đào Tạo

1- Sự xuống cấp

Tình trạng này tôi đã nói và viết nhiều trong mấy chục năm qua. Sự xuống cấp về trình độ học sinh sinh viên đến từ sự xuống cấp của nhà trường và giáo viên, của lề lối suy nghĩ và nội dung hoạch định của ngành giáo dục. Đây là việc hiển nhiên đối với học lực thực chất, kỹ năng mềm thực chất, giảng dạy thực chất, mà đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về sự đi xuống của giáo dục và đào tạo của nước nhà.

2- Tiếng Anh

Lĩnh vực này tôi cũng đã nói và viết rất nhiều trong mấy chục năm qua – và sẽ còn viết mãi – rằng cách dạy và học ở Việt Nam hoàn toàn sai do chỉ áp dụng các phương pháp của Âu Mỹ một cách vừa máy móc vừa nông cạn đến độ bày ra việc cho trẻ em học tiếng Anh từ nhỏ, mà không quan tâm đến thế mạnh của người Việt. Việc 40 năm qua dù đã trải qua bao lần cải cách giáo dục đầy tốn kém mà xã hội Việt Nam cứ mãi băn khoăn về trình độ tiếng Anh bất-khả-sử-dụng của học sinh và sinh viên Việt Nam, và đây là việc hiển nhiên đến độ đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện sau gần nửa thế kỷ áp dụng các điều “tân tiến” từ phương pháp đến giáo trình giáo cụ mà người Việt vẫn cứ lẹt đẹt sau thiên hạ về tiếng Anh.

3- Phát triển IT

Khi công nghệ thông tin (gọi tắt là IT hay Aitee) bùng phát, thiên hạ ở Việt Nam thi nhau cho con cái học Aitee, còn chính phủ thì ưu ái phát triển Aitee, rót ngân sách dồi dào cho toàn bộ hệ thống giáo dục để xây dựng phòng Aitee. Ngay chính thời điểm đó, tôi đã ra sức can ngăn các bậc phụ huynh mà tôi quen biết không cho con em du học về Aitee, thậm chí còn tận dụng các buổi phỏng vấn tuyển dụng để “tuyên truyền giáo dục” người dân hiểu đúng hơn. Tôi cho rằng Aitee sẽ không bao giờ phát triển ở Việt Nam vì (a) người đi học Aitee không vì có năng khiếu về Aitee, không vì có đam mê làm một chuyên viên Aitee hay kỹ sư Aitee, mà chỉ vì muốn trở thành tỷ phú như Bill Gate; (b) Aitee là hands-on cầm tay chỉ việc trong đào tạo nên việc bỏ phí 4 năm đại học để học Aitee là việc không khôn ngoan; (c) học xong về chỉ ôm mộng mở công ty hoặc viết phần mềm hoặc mua bán laptop điện thoại di động vậy sao không chịu bỏ tiền ra ngay – nếu có tiền – khỏi đi học, mở công ty thuê người về viết phần mềm hoặc cứ tham gia mua đi bán lại laptop và điện thoại di động; và (d) sẽ không thể mở công ty vì không thuê được người do tất cả những ai học Aitee đều chỉ muốn làm ông chủ doanh nghiệp. Thực tế hiện nay các đại gia Aitee thế giới đã xây dựng các dự án khổng lồ về vốn đầu tư ở Việt Nam nhưng vấn đề đau đầu của họ luôn là không thể tuyển đủ số “thợ Aitee” cho các nhà máy của họ ở Việt Nam. Chỉ cần biết lối suy nghĩ của người Việt là đã có thể biết ngay Aitee có thể phát triển mạnh ở Việt Nam hay không, chứ đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế.

D- Tầm Nhìn Chính Trị

1- Quốc Hội Khóa XIII

Khi nhận thức được các thách thức hết sức quan trọng và đặc biệt nghiêm trọng sẽ ập đến nước nhà khiến Quốc Hội ắt rất cần có những nghị sĩ sáng suốt, cương quyết để phục vụ Khóa XIII làm thất bại tất cả các mưu toan “diễn biến hòa bình” cũng như hoàn thành sứ mệnh lịch sử trước dân tộc bảo vệ được đất nước, tôi quyết định tự ra ứng cử Đại biểu Quốc hội Khóa XIII. Dần dà có các thách thức gồm sự tấn công của các thế lực thù địch vào dự thảo sửa đổi Hiến Pháp Việt Nam nhằm đạt được những thay đổi mang tính tấn công vào thể chế chính trị như đổi tên nước, đổi lời quốc ca, v.v.; sự phức tạp của bộ đại luật Đất Đai; diễn biến phức tạp ở Biển Đông với các hành vi gây hấn của Trung Quốc; cũng như sự việc Luật Biển phải được thảo luận trong bí mật và được thông qua trong tình hình đe dọa của Trung Quốc; v.v. Với sự sáng suốt và cương quyết như thế, tôi phát biểu ngăn chặn sự vô tư hồn nhiên ngây thơ của một hai nghị sĩ nêu yêu cầu phải có cái gọi là Luật Biểu Tình để “trả xong món nợ với nhân dân”. Tôi ngăn chặn vì (a) Khóa XIII sẽ đầy ắp những biến động đại sự liên quan đến sự tồn vong của đất nước đối với chiến tranh – hòa bình cũng như những thời cơ ngập tràn từ các định chế kinh tế song phương và đa phương mà Việt Nam phải gặt hái cho bằng được để phát triển kinh tế nước nhà, và vì (b) ngay cả vị nghị sĩ “luật sư” của Thành phố Hồ Chí Minh lớn tiếng ủng hộ việc có cái gọi là “Luật Biểu Tình” cũng không biết mình dại dột khi nói với báo chí rằng “chúng ta chưa có kinh nghiệm nên phải ra Luật Biểu Tình để học tập” mà không hiểu rằng chính vì những người tay mơ chưa có kinh nghiệm như ông ta mà tôi phải cản ngăn để tôi có thời gian truyền các kinh nghiệm của tôi về “biểu tình” qua các nghiên cứu sâu sắc nhất và đầy đủ nhất với các bài viết đăng blog không những về ngữ nguyên mà còn về luật pháp cùng thực tế hành xử của các cường quốc tư bản Âu Mỹ và các thực tế lịch sử cận đại và hiện đâị của “biểu tình”. Chỉ cần có tầm nhìn chiến lược đối với quốc gia đại sự mà tôi nêu vấn đề khiến Quốc Hội nhận ra sự thật, ủng hộ, rồi quyết định không lập dự thảo cái gọi là Luật Biểu Tình trong toàn khóa XIII (2011-2016) còn tôi đã hoàn thành sứ mệnh cung cấp các lập luận, tư liệu, kể cả chiến thuật và chiến lược, cho cơ quan sẽ được phân công thảo dự án ấy cho Khóa XIV (2016-2021), khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện Quốc Hội Khóa XIII vừa chưa rõ gì cả về “biểu tình” do chưa ai từng nghiên cứu thấu đáo để công khai công bố về “biểu tình” vừa phải đương đầu với các lấn xâm của Trung Quốc nên không thể cho ra dự thảo “Luật Biểu Tình”.

2- Đề Án Chính Quyền Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh

Ngay khi lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh lập đề án Chính Quyền Đô Thị trình Bộ Chính Trị xin chủ trương để có cư sở trình Quốc Hội, tôi đã viết ngay bản thảo mang tựa đề “Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Nguyên Nhân Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Thành phố Hồ Chí Minh” có nội dung mục lục như sau:

 Tam Nhin3

nhưng đã quyết định không đăng trên WordPress vì những lý do tế nhị. Tôi đã nêu trong bản thảo ấy rằng (a) việc bỏ Hội Đồng Nhân Dân sẽ không bao giờ được thực hiện, rằng (b) khái niệm “thành phố trong thành phố” là tùy tiện và sai hoàn toàn vì khi diễn giải ra tiếng Anh thì “Thành Phố Bắc thuộc Thành Phố Hồ Chí Minh” sẽ viết ra sao, rằng (c) Thành phố Hồ Chí Minh sẽ co rúm lại trong vòng 10 năm sắp đến vì diện tích đất bị ngập mặn do sự cố nước biển dâng thì sao lại cắm đầu phân chia thành các thành phố bị ngập nước bên trong thành phố bị nước lấn xâm, rằng (d) phục vụ người dân thì cứ phục vụ người dân sao lại phải đòi xây dựng “thành phố trong thành phố” mới phục vụ dân “tốt hơn”, rằng (e) xây cái megacity đó rồi ai là lớp người quản lý vì hiện nay có lực lượng công chức nào đang tận tụy phục vụ nhân dân hiệu quả đâu mà mong làm nòng cốt cho tầng lớp lãnh đạo đó, và rằng (f) tiền đâu mà xây. Và rồi sau thời gian “thí điểm” thì Hội Đồng Nhân Dân được tái lập như một đặc thù tổ chức chính quyền Việt Nam, còn cái megacity trên dự án trở thành núi giấy tờ ngốn tiền tỷ nghiên cứu và phác thảo chìm vào quên lãng, khiến đâu cần phải có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn xa đến như thế về chuyện “Thành phố trong Thành phố” sẽ không bao giờ biến thành hện thực.

E- Tầm Nhìn Địa Chính Trị

1- Hậu quả từ sự biến mất của Saddam Hussein và Muamar Gadafi

Trong bài viết “Tôi và Saddam Hussein” đăng trên Emotino tôi có nói về sự liên lạc bằng thư và bằng điện tín của tôi gởi Tổng Thống Saddam Hussein trong thời gian tôi công tác tại CIMMCO International, với nội dung đề nghị Ông theo cách liên hoành để liên kết với Iran và Bắc Triều Tiên nhằm tạo thế sinh tồn, giúp thế giới ổn định như vốn có về chiến lược, vì nếu Ông đơn thương độc mã đương cự với Hoa Kỳ thì Ông sẽ bị tiêu diệt, đến phiên Iran bị đàn áp kiệt quệ, còn Bắc Triều Tiên bị vây hãm chỉ ngẫu hứng một mình một cõi không cài vào thế chiến lược quan trọng hơn cho chính sự sinh tồn của nước ấy, theo kiểu từng chiếc đũa bị vô hiệu hóa, nhưng lại dẫn đến việc không phải là thế giới có một nước Hoa Kỳ hùng mạnh bậc nhất mà làm cho nước Mỹ suy yếu hơn, tiền đề cho sự bùng phát không bao giờ còn có thể chế ngự được của chủ nghĩa khủng bố. Còn trong bài “Hậu Muammar Gaddafi” cũng đăng trên Emotino, tôi cũng nêu ra lập luận tương tự rằng Âu Mỹ sẽ đại ngu nếu tấn công triệt hạ Gaddafi vì cũng như Saddam Hussein, Gaddafi có năng lực dìm đầu khống chế chủ nghĩa khủng bố. Chuyện đã cũ, nhưng với sự thật như đang xảy ra trên toàn cầu thì đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về sự vùng lên hơn nấm không bao giờ còn có thể được chế ngự của chủ nghĩa khủng bố.

2- Ngày tàn của Bắc Kinh

Thật nhiều năm trước, khi Trung Quốc điên rồ phát triển công nghiệp luyện kim bằng khẩu hiểu “nhà nhà luyện kim, người người luyện kim” khiến cả tỷ người suốt ngày ngồi chổng mông quạt lửa nấu chảy vài cục sắt để nộp cho hợp tác xã, tôi đã phì cười, nói với thân hữu rằng cái đất nước ấy rồi sẽ thành hỏa ngục với khói bụi đậm đặc và ô nhiễm môi sinh (từ ngữ của Việt Nam Cộng Hòa, có nghĩa: môi trường sinh sống). Rồi khi đến thời hiện đại, lúc Trung Quốc hồ hởi phấn khởi với danh xưng Công Xưởng Của Thế Giới, thì tôi – với tư cách cảm tình viên của Hòa Bình Xanh – càng tin tưởng vững chắc rằng ngày tàn của Bắc Kinh đã đến. Đây thuần túy không là một nhận xét chính trị mang tính định kiến chống Trung Quốc, mà hiện đã có thực tế về mức độ ô nhiễm khủng khiếp về môi sinh ở Bắc Kinh, khiến đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về ngày tàn của Bắc Kinh.

3- Ngày tàn của EU

Tôi vốn tin tưởng vào một thế giới đại đồng trong đó các quốc gia riêng rẻ chung sống hòa hợp với nhau, tôi đã luôn cho rằng (a) dân tộc tính là điểm bất khả triệt tiêu nên xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽ không bao giờ được xây dựng nên; rằng (b) việc hình thành các khối thuần kinh tế là mô hình duy nhất đúng để sống nương tựa vào nhau; và rằng (c) việc hình thành các khối thành một “đại quốc gia” với đồng tiền chung, nghị viện chung, tự do đi lại chung sẽ dẫn đến việc bị kẻ thù của khối lợi dụng, lạm dụng, khiến cả khối bị đe dọa về an ninh, còn chính điểm a về dân tộc tính sẽ đe dọa sự kết liên vững bền của khối khiến EU sẽ phải đối mặt với sự tan rã mà hậu quả là từng quốc gia tách ra từ sự tan rã đó sẽ yếu ớt hơn là chúng đã là trước khi gia nhập mà hậu quả ấy lại sẽ gây ra sự suy vong sụp đổ của các quốc gia từng là cường quốc này. Hết thành viên này đến thành viên khác trong cái “đại quốc gia” EU ấy đã tiến hành các cuộc trưng cầu dân ý về việc có tách ra khỏi EU hay không, còn hiện nay sau khi đã dấn thân với NATO gây hấn với Nga rồi gánh chịu sức nặng của sóng người di cư tị nạn từ Syria và các nước Châu Phi, giềng mối gắn kết EU đang bị rung lắc dữ dội với các chính phủ thực hiện “bế quan tỏa cảng” ngăn chặn làn sóng di cư tị nạn đồng thời hủy phá tinh thần tự do đi lại trong toàn khối, mà gần đây nhất là việc Đan Mạch ra luật cho tịch thu tài sản người di cư tị nạn đã xo sập hoàn toàn bức tường ý thức hệ đầy kiêu hãnh của EU. Còn vụ thảm sát ở Na Uy vài năm trước gióng lên hồi chuông báo động của chủ nghĩa bài Hồi Giáo, bài ngoại, và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đường hướng Quốc Xã bài chủng tộc.

Xây dựng một khối để chơi riêng với nhau dành cho nhau nhưng ưu ái về kinh tế kinh doanh là chuyện bình thường nên làm. Xây dựng mối giao hảo xóm giềng hòa thuận, hỗ tương, đầy tính nhân văn là chuyện bình thường nên làm.

Xây dựng một khối để hình thành một “đại quốc gia”; xóa nhòa ranh giới văn hóa, chủng tộc, quốc gia, dưới chiêu bài “tự do”, là việc của những kẻ rồ dại. Xây dựng xóm giềng thành một “đại gia đình” để ai muốn qua nhà người khác ở chung đụng thì cứ tự do, là việc của những kẻ muốn đi thụt lùi về thủa hồng hoang ăn lông ở lổ.

Cứ luận việc xóm giềng ăn ở luôn tuồng sẽ dẫn đến sự vô luân vô đạo ra sao thì có thể biết ngay số phận của EU, khiến đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về ngày tàn của EU.

4- Vấn nạn ASEAN

Tương tự, mấy năm trước tôi có viết bài trên Emotino cảnh báo về nguy cơ Trung Quốc Hóa đối với một khối ASEAN mà tất cả các thành viên đều ngó lơ chấp nhận sự tồn tại của một Con Ngựa Thành Troy. Khi Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, chính Con Ngựa Thành Troy ấy đã phản phúc như đặc tính cố hữu của nó tuyên bố đó không phải là chuyện của nó vì tuy nó là thành viên ASEAN đất nước nó chẳng có biển nào mang tên Biển Đông, thậm chí nó còn làm nhục cả Hoa Kỳ trong công khai ủng hộ Trung Quốc đối đầu với Mỹ. ASEAN không có cùng văn hóa. ASEAN không có cùng bản chất dân tộc. ASEAN không có cùng bất kỳ điểm tương đồng nào, kể cả về màu da hay lịch sử. ASEAN không cùng nhìn về một hướng. Thành ngữ “Đồng Sàn Dị Mộng” là một bi kịch của hai người nằm ngủ chung giường, đắp chung chăn, nhưng mỗi người mơ tưởng đến một việc – hay một người – hoàn toàn khác nhau. Song, ASEAN là tổ chức “Dị Sàn Dị Mộng” tức là một thảm họa khi hai người nằm khác giường, đắp khác chăn, mỗi mỗi người mơ tưởng đến một việc – hay một người – hoàn toàn khác nhau, những vẫn nói với người ngoài rằng đó là gia đình đầm ấm. Gần đây cac vụ khủng bố rộ lên ở Indonesia và Malaysia, trong khi các quan chức an ninh ASEAN bàn đến chuyện một khi một người đã qua sự kiểm tra giấy tờ ở một nước ASEAN thì có quyền sang các nước khác của ASEAN mà các nước ấy không có quyền kiểm tra lại giấy tờ cá nhân. Sẽ ra sao nếu trong một phường người ta có quyền sang nhà hàng xóm ngủ? Sẽ ra sao nếu một quan chức an ninh là cảm tình viên của mạng lưới khủng bố đóng dấu kiểm tra xong đối với một đối tượng khủng bố để tạo điều kiện cho đối tượng này ra vào các nước còn lại để thực hiện các vụ khủng bố?

Sự hỗn loạn hỗn mang như ASEAN đang phải đương đầu thì đâu cần có kính viễn vọng mới có được tầm nhìn như thế về sự rung lắc tương tự EU của ASEAN trong một vài năm sắp đến.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo :

1) Hoàng Hữu Phước. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. Bản song ngữ Việt & Anh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/14/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam-bilingual-writing-vietnamese-english/ ; bản tiếng Anh đăng ngày 05-11-2007 tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc; và bản tiếng Việt đăng ngày 07-8-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam. Bài viết này đã được báo Tuổi Trẻ đăng lại ở dạng rút ngắn. (Bài viết thứ hai đề nghị một thương hiệu thứ nhì cho Việt Nam liên quan đến gạo được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam đăng lại nguyên văn trên hai số 02 ngày 01-11-2008 trang 18-19, và số 03 ngày 22-11-2008 trang 18-19).

2) Hoàng Hữu Phước. 23-10-2010. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/04/nhung-phan-tich-moi-l%E2%80%8Ey-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan/

3) Hoàng Hữu Phước. 22-01-2009. Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn. http://www.emotino.com/bai-viet/17393/ca-phe-mot-chuyen-nho-va-hai-lon. Sẽ được đăng lại trên blog này.

4) Hoàng Hữu Phước. 26-12-2010. 15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/09/15-000-tan-gao-1-xap-vai-quan/

5) Hoàng Hữu Phước. 2009. Hành Trình Hạt Gạo Việt: Gạo Việt Ra Chợ Quốc Tế . http://www.emotino.com/m.php?p=18302

6) Hoàng Hữu Phước. 2009. Người Đầu Tiên Góp Phần Đưa Hạt Gạo Đi Xa. http://www.emotino.com/m.php?p=17638

7) Hoàng Hữu Phước. 08-01-2016. Gạo Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/08/gao-viet-nam/

8) Hoàng Hữu Phước. 04-12-2015. Chí Phèo. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/04/chi-pheo/

9) Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Khía Cạnh Pháp Luật Của Luật Biểu Tình. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Nguyễn Thị Quyết Tâm

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-01-2016

 HHP 22Jan2016

Nguyễn Thị Quyết Tâm là Nghị sĩ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016), Tân Phó Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà đương nhiên không là người khéo léo, hoàn toàn thiếu nữ tính, tuyệt đối thích phô trương quyền lực hoàn toàn không đúng lúc, hoàn toàn chẳng đúng nơi, tuyệt đối chớ đúng người.

Khi HTV9 đang trực tiếp truyền hình phiên họp Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh nơi Bà đảm trách chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bà đã quát bảo Đại Biểu Từ Minh Thiện ngồi xuống không được tiếp tục phát biểu. Đó là sự phô trương quyền lực không đúng lúc dễ khiến đồng bào Thành phố Hồ Chí Minh liên tưởng rằng những cuộc họp không có trực tiếp truyền hình thì ắt Bà còn ra uy khủng khiếp đến đâu, vì ngay cả Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh do nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bầu nên mà Bà còn ra tay chẹn họng, tước quyền phát biểu, thì số phận người dân ắt phải cứ cam chịu kiếp dân đen do Bà từ chối cho họ làm con đỏ.

Khi nghị sĩ Hoàng Hữu Phước trong thời gian tham dự kỳ họp Quốc Hội có đăng một bài blog chỉ trích chê bai Trương Trọng Nghĩa là Đại biểu Quốc hội Khóa XIII nghe đâu có bằng cấp “luật”, nghe đâu đã từng có thời gian hành nghề luật sư, và nghe đâu là chức sắc của Hội Luật Gia hay Liên Đoàn Luật Sư gì đó, tất nhiên ngay lập tức Nghị sĩ Phước bị thế giới quyền lực phe nhóm có sự tiếp tay của báo chí ra tay đàn áp. Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phải tổ chức buổi họp Tổ để nghe Trương Trọng Nghĩa phát biểu “bức xúc” và nghe Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước “giải trình”. Cuộc họp đã không có sự tham dự của hai vị Ủy Viên Bộ Chính Trị là các Nghị sĩ Trương Tấn Sang và Nghị Sĩ Lê Thanh Hải đều của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi Trương Trọng Nghĩa phát biểu xong, Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập mời Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cho biết ý kiến. Nghị sĩ này vừa mở miệng nói có một câu thì Nguyễn Thị Quyết Tâm hét vào mặt Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập rằng “Anh Tư Lập! Nếu cứ tiếp tục như vầy thì tui sẽ bỏ đi về ngay!”. Vì lịch sự khi thấy vẻ mặt ngượng ngùng của Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước tự động ngồi xuống, kéo phẹc-ma-tuya mồm lại, không nói gì thêm. Và Trưởng Đoàn Huỳnh Thành Lập cho phát một văn bản đã soạn in sẵn cho mọi người có mặt ký tên và mọi người im lặng ký tên, kể cả Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cũng ký tên mà không thèm đọc – dường như đó là “biên bản cuộc họp xử lý Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước.”

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã ra uy quyền một đảng viên cao cấp hơn các Nghị sĩ khác toàn là đảng viên – trừ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước – để quát bắt mọi người không được phép nghe những lời mà Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước sắp trình bày.

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã khiến Nhiệm Kỳ XIII của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh có một văn bản pháp quy mang tính chất của một tờ giấy hốt rác do không có giá trị pháp lý vì được sáng tạo ra từ đầu, vì do không bất kỳ nghị sĩ nào cùng ký tên xác nhận vào đấy hiểu biết ất giáp gì cả, và vì đấy là hành động lén lút sau lưng Thường Vụ Quốc Hội Khóa XIII của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nguyễn Thị Quyết Tâm, do đó, đã phạm một lỗi ngu xuẩn khi dám hỗn láo với Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước là người chưa bao giờ tha thứ bất kỳ cường quyền nào dám động đến sự đoan chính vì nước vì dân của Nghị sĩ này.

Một phụ nữ thiếu nữ tính, thiếu khôn khéo, thiếu khôn ngoan như Nguyễn Thị Quyết Tâm mà là chức sắc cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một sai lầm lớn của Đảng Bộ Thành phố Hồ Chí Minh vì không bao giờ có thể đặt sự lãnh đạo Nhà nước hay lãnh đạo chính trị vào tay người như Nguyễn Thị Quyết Tâm.

Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh không nên vì bài viết này mà phí công tổ chức buổi họp mời tôi đến trình bày để rồi yêu cầu tôi gỡ bỏ bài này trên WordPress vì tôi sẽ không đến dự cũng như không gỡ bỏ. Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh phải lấy làm xấu hổ vì đã sáng tạo ra tờ giấy biên bản “xử lý” rác rưởi đó, và vì đã để một Đại biểu Quốc hội tầm thường như Nguyễn Thị Quyết Tâm khuynh đảo.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Anh Ba Nguyễn Văn Huấn

Tình Yêu

Các Loại Tình Yêu – Tôi Và Những Cuộc Tình

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-01-2016

Có lần tôi viết blog rằng các bạn nên trau giồi tiếng Anh cho khá để có thể biến nguồn tư liệu của Wikipedia thành kho tàng kiến thức khổng lồ cho riêng bạn. Song, tại sao phải là tiếng Anh trong khi Wikipedia có cả phần tiếng Việt? Phải là tiếng Anh vì nếu Wikipedia cứ có mỗi 10.000 tài liệu cực kỳ dồi dào thông tin thì có ai đó là người Việt (không phải người nước ngoài giỏi tiếng Việt) tham gia “dịch” sang tiếng Việt võn vẹn 01 tài liệu chắc để nhận thù lao vài xu của Wikipedia, mà các “công trình dịch” này (a) hoặc ngắn ngủn dăm ba đoạn của nguyên tác tiếng Anh, (b) hoặc né không dám “dịch” các tài liệu hàn lâm học thuật hay khoa học, (c) hoặc gặp các tài liệu liên quan đến chính trị là lập tức “sáng tạo” toàn những ý tứ giải thích để chống lại ý thức hệ cộng sản mà ác tâm là chỉa vào Nhà nước Việt Nam cùng thể chế chính trị Việt Nam trong khi nguyên tác tiếng Anh rất công tâm thuần học thuyết hàn lâm không hề viết thế, và (d) hoặc gặp những tài liệu chung chung thì be ra, tán ra, theo hiểu biết nông cạn của cá nhân mình chứ không dịch từ nguyên bản.

Mới đây tình cờ tôi xem thử bản tiếng Việt về “tình yêu” trên Wikipedia thì hết hồn nhận thấy “nó” thuộc loại “be tán” chứ không phải là bản dịch nghiêm túc từ nguyên bản tiếng Anh về Love, khi kẻ ấy “be tán” ra nào là Tình Yêu Nước, tình yêu này nọ, thậm chí còn khủng khiếp dịch Unrequited LoveThất Tình, trong khi cái gọi là Tình Yêu Nước là Lòng Ái Quốc chứ không dính dáng gì đến Love, còn Unrequited Love có thể dẫn đến Thất Tình chứ bản thân nó không phải Thất Tình. Hơn 30 năm trước, tôi đã dạy sinh viên của tôi về các loại Love chính trong tiếng Anh, nay xin lập lại như sau – kèm với những chuyện tình có thật của tôi để minh họa – để giúp các bạn hiểu rõ hơn chứ các bạn sinh viên sẽ không bao giờ có thể học tập gì được nơi phần tiếng Việt của Wikipedia vĩ đại cả đâu, cũng như sẽ không có bất kỳ giảng viên Anh văn nào dù là người Việt hay người nước ngoài có thể giải thích tường tận và chính xác tương tự.

Các Loại Tình Yêu

Dù về phương diện ngôn ngữ thì Love của tiếng Anh thua kém các từ tương đương trong tiếng Việt, do người ta nói anh love em, anh love mẹ, anh love cà rem, anh love cà ri, v.v., còn tiếng Việt thì anh yêu em, anh thương em, anh yêu cha mẹ, anh thương cha mẹ, anh thích cà rem, anh khoái cà ri, v.v., trong đó thậm chí chữ thương lại dễ…thương hơn chữ yêu. Ở đây xin nói về tình yêu trai gái theo ý tứ chính quy từ ngàn xưa dành cho hai người khác phái chứ không vì cái gọi là “phân biệt đối xử”, và theo đúng tài liệu về Love của Wikipedia tiếng Anh.

1) Unrequited Love:

Đây là tình yêu đơn phương (tức one-sided love) khi bạn yêu một người mà không được đáp lại. Nếu sự đáp lại sở dĩ không có là do bạn yêu mà không dám tỏ nên đối tượng không biết để đáp hoặc không đáp, thì Unrequited Love sẽ được dịch thành thầm thương trộm nhớ, hoặc tình yêu thầm lặng. Nếu sự thầm lặng này làm bạn ưu sầu, khổ đau, héo úa, mà tất cả do bạn tự chuốc lấy thì có thể bạn sẽ tương tư tức lovesick. Nếu sự thầm lặng này không làm bạn héo hon vì bạn là người bản lĩnh thì xem như bạn có một mối tình đẹp thuần khiết để nhớ trong đời. Còn nếu bạn tỏ tình mà người ấy không đáp lại, khiến bạn khổ sầu héo hắt thì lúc ấy bạn có thể xem như mình thất tình tức lovelorn (chứ không phải được yêu rồi bị….”đá” mới là thất tình đâu bạn ạ, mà là “tình phụ” hay “phụ tình”, mà ngữ này thì tiếng Anh không có, vì Âu Mỹ cứ theo hợp đồng hôn nhân để “love” rồi “hết love” trong pháp luật).

2) Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Đây là từ thường được dịch thành Mối Tình Đầu, nhưng nếu bạn trên 18 tuổi mới có mối tình đầu tiên thì đó gọi là First Love chứ không phải Puppy Love, vì Puppy Love là khi bạn yêu ai lúc bạn còn ở tuổi ấu thơ hay tuổi thiếu niên hoặc vị thành niên. Puppy là “cún con” nên không dành cho loại..bẹc-giê.

3) Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Bài viết này như đã nói rõ ở trên là về tình yêu trai gái, do đó Platonic Love là tình yêu cao thượng khi cả hai không dụng mưu hoặc không để cuốn theo đòi hỏi tình dục trước ngày cưới, nghĩa là không để vấn đề tình dục xen vào như điều kiện tiên quyết nằng nặc phải có trong quan hệ gọi là “tình yêu” của hai người.

4) Compassionate Love: Tình Yêu Trắc Ẩn

Khi tình yêu được một người dành cho một người khác xuất phát từ lòng vị tha hay sự trắc ẩn, chỉ quan tâm đến việc làm điều tốt hơn cho người ấy, thì đó là compassionate love. Có thể liên tưởng đến những cuộc hôn nhân mà một trong hai người là người chịu thiệt thòi do yếu thế hoặc vì khuyết tật.

5) Conjugal Love: Tình Yêu Chung Thủy

Khi hai người yêu nhau và trở thành vợ chồng gắn bó keo sơn với nhau đến trọn đời thì đó là conjugal love, với ý nghĩa “tình yêu” là đẹp và cao trọng. Cảm xúc nhất thời, hoặc ngắn hạn, không thể được gọi là “tình yêu” tức tiền đề cho một tình yêu keo sơn gắn bó. Báo chí thường đưa tin diễn viên này chia tay người mẫu kia sau 9 năm yêu nhau mà lẽ ra họ nên viết chính xác là: sau 9 năm chung sống với nhau. Đã là tình yêu thì chỉ luôn hướng đến chuyện lâu dài mà chỉ có sự ngang trái bất ngờ ngoài ý muốn của cả hai mới khiến không thành ước nguyện song tình yêu vẫn còn trong tâm khảm nhung nhớ đến trọn đời.

6) Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Tình yêu sét đánh (tiếng Pháp gọi là coup de foudre) là tình yêu bùng phát ngay từ cái nhìn đầu tiên với người lạ mặt. Đã là sét đánh thì cực kỳ dữ dội, cực kỳ chấn động, cực kỳ dài lâu, cực kỳ lãng mạn. Đã là sét đánh thì ngoài thực tế đời sống không ai có thể sống sót, vì vậy trong “tình yêu” mà bạn cứ gặp ai cũng yêu ngay từ cái nhìn đầu nghĩa là bị sét đánh đi đánh lại vô số lần thì thứ tình cảm của bạn không thể gọi đó là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên tức tình yêu sét đánh mà cũng không thể nói đó là “tình yêu” bất kỳ mà là một kiểu lệch lạc cần sự giúp đỡ của bác sĩ phân tâm do bạn đã bị sét đánh đen thui tóc dựng đứng và bốc khói.

7) Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Star-Crossed Love do chính tôi đặt ra (bạn không thể thấy có trong tự điển bất kỳ) từ nhóm chữ Star-Crossed Lovers của William Shakespeare gọi đôi tình nhân Romeo và Juliet. Đây là loại tình yêu có thể xảy ra không ít trong xã hội Việt Nam do sự can thiệp của mẹ cha vì vấn đề tôn giáo hoặc gia thế.

Ngoài ra, còn những thứ “Love” khác xin được kể ra sau đây, không với dụng ý xem đó là những loại “tình yêu”, mà chỉ đơn giản muốn nói rằng từ “Love” đã rất yếu kém và được sử dụng quá thoải mái vô tư cho những phạm trù khó thể gọi là “tình yêu”:

1) Free Love: Tình Yêu Không Giá Thú

Đây là thứ “love” theo trào lưu Âu Mỹ, theo đó nam nữ sống với nhau không muốn có sự ràng buộc về hôn thú, không bị bó buộc bởi các quy định kế hoạch hóa gia đình, và thậm chí cả hai đều có quyền tự do ngoại tình với bất kỳ ai khác trong thời gian chung sống với nhau, kể cả theo kiểu đăng báo kiếm “đối tác” để đổi vợ đổi chồng vài ngày để thay đổi không khí.

2) Infatuated Love: Tình Yêu Cuồng Si

Cái tên cuồng si ắt cho bạn biết sự si dại, mê cuồng, đắm đuối ghê gớm của ngôn từ nên ắt bạn cũng hiểu là thứ tình yêu này khó thể là lành mạnh vì nó khống chế toàn bộ hành vi của con người, dễ dẫn đến các hành vi manh động, dữ dội, và do đó ắt chỉ có thể thấy trong miêu tả các nhân vật trong các quyển tiểu thuyết. Do “tình yêu” thì mang ý nghĩa tốt đẹp, trong khi “love” được dùng thoải mái trong tiếng Anh nên Infatuated Love tốt nhất nên chỉ dịch thành sự si mê cuồng dại một người khác phái, chứ yêu đương gì mà giống mafia như thế thì rõ ràng không thể nào là yêu mà chỉ là sự ra tay chiếm đoạt, sở hữu mà thôi.

3) Love Triangle:

Tình Tay Ba (còn gọi là Romance Triangle hay Romantic Love Triangle tức “love” lãng mạn…tam giác), mà nếu trên cơ sở Phim Hàn Quốc hàng trăm tập thì hoặc gồm hai anh yêu một cô, hoặc hai cô yêu một anh. Thật ra thì đây là cách gọi chơi cho vui vì dù cho trên thực tế có sự cố “tay ba” như vậy thì cũng chỉ có hai người yêu nhau thôi, chứ nếu một anh yêu hai cô hoặc một cô yêu hai anh thì không gọi là tình tay ba mà phải gọi là tình khùng chạy vì hai cô sẽ bỏ chạy cùng với hai anh kia cũng đang bỏ chạy.

4) Obsessive Love: Tình Chiếm Đoạt

Đây cũng là thí dụ về sự kém cỏi của từ Love trong tiếng Anh, vì Obsessive Love nói về một cảm xúc mang tính bịnh lý tâm thần, hỗn loạn nhân cách, nơi người thèm khát chiếm đoạt một người khác phái cho bằng được mà không chấp nhận bị thất bại hay bị khước từ kể cả để thỏa mãn tình dục. Do Obsessive Love tồn tại trong tiếng Anh nên cực chẳng đã được nêu lên trong bài viết này chứ bản thân tính cách ấy không thể gọi là “tình yêu”.

5) Unconditional Love: Tình Yêu Thần Tượng

Unconditional love tức Tình Yêu Vô Điều Kiện có thể được hiểu như một thứ “love” phát sinh từ lòng vị tha thương người, hoặc từ một thứ “love” tuyệt đối, mà người có thứ “love” này dâng tặng tất tần tật cho đối tượng mình xem như thần tượng mà không đòi hỏi bất kỳ điều kiện hay sự đền đáp tương xứng nào, vì xem tình yêu mình dành cho người mình yêu mới là duy nhất quan trọng với cuộc đời mình. Loại “love” này cũng không được xem như lành mạnh vì có thể có lấn cấn vấn đề tâm lý bất bình thường hoặc trẻ dại nơi người hiến tặng, trừ phi đó là tính cách cao thượng nơi những nữ tu, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì “love” cũng không phải là “love” vì không phải là “tình yêu trai gái”.

Tôi Và Những Cuộc Tình

Tất nhiên, tôi sẽ không nói gì về 5 loại tình yêu khác thường không phải tình yêu mà chỉ là Love. Trong 7 loại tình yêu bình thường thì tôi đã có những trải nghiệm tình yêu chính như kể dưới đây. Dù tôi và những người con gái ấy nay ai cũng đã trên 50 tuổi, có những trường hợp tôi sẽ không nêu tên thật do những vấn đề tế nhị khác – chứ toàn bộ sự thật tôi đều đã “khôn ngoan” kể hết cho vợ tôi từ trước ngày cưới như đã ghi trong bài blog khác.

1) Tôi và Unrequited Love:

Dù tôi luôn được nhiều nữ sinh (tôi từ lớp 1 đến lớp 10 học ở các lớp nam sinh, và lớp 11 trở lên mới học lớp nam nữ học chung) mến thương gởi thư tỏ tình trước, tôi khi vào đại học vẫn có những tình yêu thầm lặngtình yêu đơn phương do những năm đầu sau giải phóng ai cũng “thủ thế”: Thầy Cô không nói chuyện với học trò vì sợ “lỡ lời” và vì giữ an toàn chờ ngày vượt biên, còn sinh viên thì không trò chuyện với nhau cũng do sợ “lỡ lời” và cũng vì giữ an toàn cho bản thân chờ ngày vượt biển. Tôi yêu say đắm Nguyễn Thị Hồng Loan ở Khoa Pháp Văn, một cô gái đẹp xinh, trầm lặng, khỏe mạnh, quý phái, và sáng tác bài thơ tiếng Anh tựa đề Bạch Hồng Riêng Tặng Hồng Loan The Rhododendrons for Hong Loan trao tặng nàng. Song, nàng lặng thinh không trả lời, nhìn tôi với ánh nhìn buồn bã, để rồi vài tuần sau nàng biến mất. Cứ vài tháng tôi vờ dọ hỏi các sinh viên Khoa Pháp về Hồng Loan nhưng chẳng ai biết gì, và tôi chỉ mong Loan không là nạn nhân của hải tặc ngoài biển khơi. Rồi khi trong hội trường giờ học Lịch Sử Đảng, tôi nhận được nụ cười tuyệt đẹp của một búp bê tên Lệ Thủy cũng của Khoa Pháp, tôi xao xuyến ngồi sau nàng hai dãy bàn vẽ tranh nàng, cô gái xinh đẹp có mái tóc ngắn chạm vai, rồi nhờ các bạn chuyển lên để tôi lại được nàng quay lại tặng tôi thêm một nụ cười đẹp tuyệt não nùng. Vài bạn hỏi tôi sao hôm trước làm bài thơ Autumnal Dew tức Sương Thu Dành Tặng Nguyễn Thị Thu Sương ở Khoa Anh trong giờ Kinh Tế Chính Trị Mác-Lê Nin trong khi Sương tóc dài tuyệt đẹp lại không vẽ nay lại vẽ mái tóc ngắn của Thủy, thì tôi trả lời do không làm thơ tiếng Pháp được nên vẽ tranh. Và rồi Lệ Thủy lại biến mất theo làn sóng vượt biên mà không ai nhận được tin tức gì sau đó. Tôi yêu Hồng Loan vì nét đẹp quý phái nghiêm trang. Tôi yêu Lệ Thủy vì nét đẹp thanh tú quyến rũ hơn tranh vẽ của nàng nhất là nụ cười Liêu Trai đẹp hơn cả nụ cười bừng sáng của Catherine Jeta-Jones. Gọi là tình yêu đơn phương thầm thương trộm nhớ hoặc tình yêu thầm lặng của tôi vì tôi chưa từng tỏ tình bằng lời nói mà chỉ qua một bài thơ và một bức tranh gởi tặng thay lời muốn nói. Tất nhiên, sự thầm lặng này không làm tôi héo hon héo hắt héo úa, mà xem như tôi đã có hai lần cảm nhận được sự thương yêu mình dành cho hai người con gái vào hai thời điểm khác nhau thật thuần khiết để mãi nhớ trong đời.

Love (2)Autumnal Dew

2) Tôi và Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Do đây là từ của văn hóa Âu Mỹ, nhưng vì tôi đã trải qua, cũng xin kể lại vào năm học lớp 4 tiểu học (lúc ấy gọi là “lớp nhì”) tôi có thương cô bé Lê Thị Cẩm Hà học lớp 3. Cẩm Hà ở gần nhà tôi nên khi chúng tôi đi bộ đến trường Phan Đình Phùng (nay vẫn là trường Phan Đình Phùng ở Quận 3), tôi cứ mãi ngắm nhìn cô bé trắng mũm mĩm có đôi môi hồng dễ thương ấy. Gọi là “Love” vì khi đi học về là tôi nằm ôm chiếc gối ôm, nghĩ đến chuyện ngày sau sẽ cưới Cẩm Hà làm vợ. Khi biết chuyện tôi thương nàng (qua cái nhìn say đắm say mê của tôi), “bé” Cẩm Hà cứ gặp tôi trên đường là bẽn lẽn, gò má thêm ửng hồng, nụ cười thêm e ấp, còn những ngày không đi học thì hay đứng nép bên cửa nhìn tôi đắm đuối tương tự. Rồi vài năm sau, gia đình Cẩm Hà dọn về Miền Tây nên “đôi trẻ” không còn dịp gặp nhau mỗi ngày trên đường đi học. Vài chục năm sau, có người hàng xóm thuật cho Má tôi nghe chuyện Cẩm Hà lấy chồng và sống rất cơ cực ở miền quê. Lúc ấy – và cho đến tận bây giờ – tôi vẫn còn nhớ đến ánh mắt long lanh, đôi môi hồng, nụ cười thật đẹp và gương mặt sang trọng nghiêm nghị của cô bé Cẩm Hà của ngày xa xưa ấy.

3) Tôi và Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Tôi có thể nói rằng giáo dục gia phong và tinh thần trách nhiệm đã cho tôi sự tự hào để bảo rằng tất cả những tình yêu đã đến với tôi đều là Platonic Love.

4) Tôi và Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Đinh Thị Mai Trâm có thể là tình yêu sét đánh (tiếng Pháp hay dùng là coup de foudre) bùng phát bùng nổ ngay từ cái nhìn đầu tiên của tôi. Là lớp trưởng lớp 9 ở trường Nguyễn Bá Tòng, mỗi khi chào cờ tại sân trường, tôi phải luôn đứng đầu hàng ngũ của lớp nam sinh của tôi. Và trong rừng nữ sinh áo dài trắng đứng đối diện, một hôm tôi chợt tình cờ nhìn thấy Mai Trâm cũng đứng đầu hàng ngũ lớp 9 nữ sinh của nàng ngay trước mặt tôi. Từ hôm đó, tôi mất ăn mất ngủ, luôn có hình ảnh Mai Trâm trong ý nghĩ, ước mơ, nhung nhớ. Nhưng tuy sét đánh làm tôi chấn động, tôi vẫn không nghĩ đến việc tỏ tình vì rất sợ các linh mục mà chúng tôi gọi là “hiệp sĩ áo đen” với cây roi mây đầy chất khủng bố bạo hành trẻ em. Rồi một hôm nọ, một bé gái ở học khu tiểu học đã chạy qua học khu nam sinh để trao tôi một phong thư màu xanh biển, vừa nói “của chị kia kêu em đưa cho anh” vừa chỉ tay về Mai Trâm đang nhìn tôi cười bẻn lẻn bên kia hàng rào kẽm gai điện tử MacNamara phân chia học khu nam sinh và học khu nữ sinh. Nàng nói rằng nàng rất mến thương tôi vì tôi là lớp trưởng gương mẫu toàn trường mà lớp của nàng cùng các lớp khác hạ quyết tâm sẽ tranh nhau làm quen cho bằng được, nhưng vì tôi nghiêm quá nên dù nàng không là lớp trưởng vẫn cố dàn xếp cho lớp trưởng mượn các tiểu thuyết của Quỳnh Dao để được nhường chỗ đứng đầu hàng mà tôi cũng cứ như linh hồn tượng đá chẳng chịu nhìn nàng trong nhiều tháng, nay nàng thấy tôi đã chịu nhìn nàng với bộ tịch ngất ngây như say rượu dáng đứng loạng choạng như đang động đất, hơi thở dập dồn, không cất tiếng hát quốc ca hào hùng dậy sấm như mọi lần khác, và không nghe cả lời của linh mục Phạm Minh Công đang xướng tên tôi xuất sắc, nên nàng yên tâm tôi có trái tim đang thổn thức để tự tin gởi thư tỏ tình cho tôi để dứt điểm ghi bàn toàn trường. Tôi hơi đoảng nên sau này mới biết hóa ra lớp tôi gọi nàng là hoa khôi và họ cũng cùng các lớp nam sinh khác quyết tâm tranh nhau làm quen với nàng cho bằng được với bao chàng công tử chạy xe Cady lạng qua lạng lại trên đường nàng đi bộ đến trường. Thảo nào vừa nhìn thấy nàng tôi đã bị sét quất trúng làm bốc khói khét lẹt, nên đến nay vẫn còn nhớ như in gương mặt tuyệt đẹp của nàng (và do vẫn đang còn giữ một bức ảnh học sinh của nàng), bàn tay thon mịn ấm áp của nàng mà tôi đã nâng niu hôn trong tối Giáng Sinh ở sân trường, và đôi môi của nàng vì nàng là người con gái đầu tiên tôi hôn trong đời mỗi khi hẹn hò tại vườn Tao Đàn ngồi trên thảm cỏ nói chuyện tương lai chồng vợ, cùng nhau đặt tên trước thật đẹp thật văn hoa cho các đứa con của ngày sau gồm 6 gái 6 trai dù chúng tôi chỉ mới học lớp 9. Nếu như tình yêu thời tiểu học của tôi với Cẩm Hà là Puppy Love thì tình yêu của tôi với Mai Trâm thời trung học cũng là Puppy Love vì chúng tôi còn ở tuổi thiếu niên của thời niên thiếu. Nàng thuộc gia đình công giáo người Bắc di cư, với Bố của nàng là bác sĩ quân y Hoa Kỳ, nhưng nàng yêu tôi là kẻ ngoại đạo, thậm chí khi tôi bịnh nàng lập tức đòi Bố kê toa mua thuốc và nhờ linh mục làm phép lên sợi dây chuyền thánh giá đem đến cho tôi. Đến khi lên lớp 11 tôi phải thôi học trường Nguyễn Bá Tòng ở Gia Định do nhà trường không mở được lớp Ban C (thiên hạ sợ chuyên khoa ngoại ngữ và triết học) để chuyển qua Tân Việt ở Quận 3, nàng vẫn mỗi trưa chạy xe Honda PC từ đường Chi Lăng đến chờ đợi tôi ngoài cổng vì sợ tôi có bạn gái mới ở Tân Việt, vậy mà tôi vẫn lâm vào tình huống của Phim truyện Hàn Quốc khi tin lời một cô bạn học chung lớp với Mai Trâm tự nhiên một hôm đến tìm tôi tỉ tê với tôi những chuyện tệ hại của Mai Trâm sau khi tôi chuyển trường – chỉ vì cô bạn tên Tuyết này là dân công giáo nên tôi tin không thể nói điêu ngoa – nên đã giận dữ cắt đứt quan hệ với Mai Trâm, cố tình chấp nhận ngay tình cảm của một nữ sinh khác ở Tân Việt tên B.K.H. Rồi tôi “dạy học” tại Tân Việt khi giải phóng đến lúc tôi đã học xong lớp 12 tú tài (do giáo viên tan rã bỏ đi mất khiến cán bộ giải phóng là Anh Ba Châu tiếp quản Quận 3 nhờ tôi giúp dạy Anh Văn cho mấy lớp đàn em để giữ trường, giữ lớp, giữ học sinh cho cách mạng), sau đó đậu vào đại học năm 1976. Có lần đang nắm tay N.T.K.K. nữ sinh Đại Học Văn Khoa tuyệt đẹp với mái tóc dài đến dưới thắt lưng học cùng lớp Anh Văn với tôi đi bộ trên đường Lê Duẩn, tôi thấy một cô gái chạy xe lên ngoáy đầu lại nhìn, thậm chí còn quay xe lại để nhìn tôi thêm một lần nữa. Đó là Mai Trâm và cũng là lần cuối tôi gặp nàng. Giá như không đang nắm tay đi cùng N.T.K.K., tôi đã chạy theo xe Mai Trâm để xin nàng tha lỗi, cho tôi được cùng nàng hoàn tất bức tranh gia đình đã phác thảo từ lớp 9. Đinh Thị Mai Trâm là người con gái tôi mãi yêu và ánh mắt u buồn của nàng trong bức ảnh tôi còn cất giữ cứ làm tôi lo lắng, mong sao cuộc đời của nàng an bình, an vui, an nhàn, không lận đận khổ đau như Lê Thị Cẩm Hà. Và giá như nàng biết tôi nhớ thương nàng biết bao.

Love (1)

5) Tôi và Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Mỵ là nữ sinh đã khóc khi thấy tôi vì cứu người mà bị công an do tin lời vu cáo mà quất một báng súng vào gáy làm tôi té đập mặt xuống đất quần áo lấm lem bị giải đi giơ hai tay lên trời vào giam ở Phòng Giáo Viên, câu truyện mà tôi đã kể trong một bài blog gần đây. Xin chỉ tạm gọi nàng là Mỵ (vì trong bài thơ tiếng Việt Hiên Mi tặng nàng tôi có ví von đôi hàng mi của nàng cong dài mà tôi áp đầu vào ngực nàng để núp dưới hàng mi ấy chở che như mái hiên, và để mộng mỵ về hạnh phúc gia đình), thay vì ghi ra tên của nàng. Mỵ hôm ấy mặc áo dài trắng, đứng khóc suốt ngoài cửa sổ phòng “tạm giam”, làm tôi xúc động, sau đó làm một bài thơ tiếng Anh tặng nàng, và thậm chí viết tặng nàng cả một thi tập sau đó. Chúng tôi yêu nhau, và gia đình hai bên đều đánh giá cao chàng rể tương lai cùng cô dâu tương lai. Thế rồi toàn bộ đại gia đình của nàng được bảo lãnh xuất ngoại nhờ có một người chị ở nước ngoài làm vợ một quan chức ngoại giao Phương Tây khiến thủ tục giấy tờ can thiệp với Chính phủ Việt Nam được ưu tiên giải quyết nhanh cấp kỳ. Vì tôi không chịu nghe theo lời gia đình nàng làm hôn thú để nàng sẽ bảo lãnh tôi “qua bển” nên chúng tôi phải chia tay, và nơi Sân bay Tân Sơn Nhất đông nghẹt người tôi và nàng hôn nhau quấn quýt không rời, nước mắt ràn rụa, mặc cho cha nàng và các anh chị thúc giục nàng vào phòng cách ly. Nhiều lần tôi nhận được giấy báo của bưu điện và tôi ra đúng theo lịch hẹn, để chờ đến phiên kết nối được đường truyền để vào ô nói chuyện điện thoại với Mỵ do Mỵ đăng ký từ nước ấy. Để rồi khi tôi trở ra quầy để ký xác nhận thời gian điện đàm bao nhiêu chục phút để bưu điện thành phố tính tiền “bên bển”, cô thu ngân hỏi “anh có sao không vì em thấy anh với chị chỉ khóc mà không nói gì cả”, lúc ấy tôi mới biết là ở trong ô kính kín đáo ấy mình nói gì bưu điện cũng nghe hết! Cô gái tên Mỵ ấy đã làm việc rất tốt ở hải ngoại, ắt do đã có thời gian làm học trò của tôi vì Mỵ thuộc Khoa Nga Văn, nên khi đã yêu nhau, mỗi tối khi đã dạy xong ở các trung tâm lúc 21 giờ, tôi đến dạy kèm Mỵ tiếng Anh và dạy xong đến 23 giờ là chúng tôi ngồi hôn nhau suốt cả nửa tiếng đồng hồ, không nói lời nào vì đã nói quá nhiều tiếng Anh trong hai tiếng đồng hồ, tôi mới đạp xe về chong đèn soạn bài cho cả ngày mai dạy tiếp, khiến đấy là điều tôi nhớ nhất về Mỵ yêu quý và trong trắng ngây thơ của tôi trong cuộc tình ngang trái.

Love

Hien Mi

Trước đây trên blog Emotino tôi có đăng bài “Chuyện Tình Tự Kể” viết về lúc tôi học lớp 12 ở Tân Việt trước 1975 có thương một nữ sinh tên N.T.H. Ngày nọ, cùng đạp xe song song với nàng đến thăm nhà nàng ở con đường sau này gọi là Cách Mạng Tháng 8, tôi thấy có treo hình đen trắng thật to anh của nàng là một sĩ quan cao cấp (vì có cầm gậy chỉ huy) chụp chung với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời tôi thấy một phụ nữ gầy gò mặc áo nâu sồng ẩn sau rèm cửa đứng nhìn tôi. Nàng cho biết đó là Mẹ của nàng. Mẹ xuống tóc đi tu sau khi đi thăm Cha của nàng ở tiền đồn về, do kinh hoàng thấy Cha của nàng hễ hành quân bắt được Việt Cộng nào là lôi về cho mổ bụng rồi đem vất ruột gan lên nóc trại khiến cả trại bốc mùi hôi thối nồng nặc. Mẹ nàng sợ “con gái hưởng đức cha” mà cha ở ác quá nên bà đi tu để nguyện xin bớt tội cho chồng và cầu xin chút đức cho đứa con gái út ngoan hiền xinh như thiên thần của bà. Nghe xong, tôi vì kinh sợ đã từ bỏ ý định tiến xa hơn với người con gái ấy. Ắt nàng không hiểu vì sao sự không gian dối của nàng lại khiến nàng phải gánh chịu thiệt thòi từ tôi như vậy. Tôi thì không xem đó là cuộc tình ngang trái vì tôi định hôm ấy đến nhà nàng sẽ nói nàng biết tôi yêu thương nàng đến dường nào sau một thời gian im lặng dành cho nàng những chăm sóc ân cần; mà do đã chưa thốt ra, chưa thể gọi đó là tình yêu để mà ngang trái. Tôi đã viết lời kết rằng tôi không mong nàng đọc được bài viết ấy của tôi vì tôi cứ bị ám ảnh bởi niềm tin rằng nàng ắt đã theo mẹ bình lặng quy y nơi cửa Phật vì tội ác của người cha.

 IM000125.JPG

Trên đây là những “tình yêu” chính mà tôi chọn lựa cho tương hợp với các tên gọi các loại “love” chủ yếu của tiếng Anh. Tất cả những nhân vật trên đều được vợ tôi hoặc đã nghe kể về hoặc chính vợ tôi làm nhân chứng do đã học chung với tôi ở đại học và dạy chung với tôi sau khi tốt nghiệp, thậm chí có khi còn chọc ghẹo tôi mỗi khi có những cô gái ấy chờ đợi tôi ở cổng trường hoặc khi thấy tôi đạp xe song song với “người ta” được “người ta” nhí nhảnh chồm qua đút ăn ô mai ngoài đường ngoài sá. Song, khi nói về vợ tôi, tôi muốn nêu sự khác biệt giữa “love” và “tình yêu” vì “love” thuần túy mô tả thực tế thực dụng, trong khi “tình yêu” nhiều khi đượm tính nghĩa tình nghĩa ơn sâu đậm, do đó “tình yêu” của tôi dành cho vợ tôi khó được diễn tả tương hợp với bất kỳ loại “love” nào đã kể ở trên theo tinh thần ngôn ngữ Anh và thực tế đời sống Anh Mỹ. Vợ tôi đã chứng kiến những năm dài “đoan chính” của tôi tại Đại Học Văn Khoa, từng là “cánh chim đưa thư” của tôi gởi tặng những bài thơ tiếng Anh cho bạn học chung lớp của nàng và những bạn học của nàng tại các khoa khác, sau đó thậm chí chứng kiến những cuộc tình của tôi với các nữ sinh của lớp tôi chủ nhiệm, của lớp nàng chủ nhiệm và của lớp thuộc giáo viên chủ nhiệm khác. Đó là khía cạnh “luôn luôn thấu hiểu” nơi nàng. Còn khi nàng đơn độc “hoa lạc giữa rừng gươm” đấu tranh chống lại cường quyền để bảo vệ tôi khi tôi bị xử bức, bị đình chỉ công tác phải đi quét rác tại Khoa Ngoại Ngữ, bị bôi nhọ, bị vu khống, để rồi chính nàng bị vạ lây, bị tước hết các danh hiệu “thi đua” hay “dạy giỏi”, bị tước bỏ khỏi danh sách cùng tôi du học thạc sĩ Anh văn ở Úc, nhưng vẫn điềm nhiên cười khẩy rồi mỗi khi trên đường dạy thêm vì kế sinh nhai vẫn đến thăm tôi, động viên với câu nói giản đơn giản dị mang chiều hướng tâm linh rằng “ở hiền như anh sẽ gặp lành”, rằng “Trời Phật biết hết về anh mà, lo gì”, rằng “em cũng bị xử bức như anh, có sao đâu”, rằng vân vân và vân vân. Và khi nàng và tôi nên nghĩa vợ chồng với sự thương phục ủng hộ giúp đỡ thật cao nơi cha và mẹ của nàng (trừ câu nói nhẹ nhàng của mẹ nàng rằng mẹ rất lo lắng vì “nó cứng đầu không chịu luồn cúi ai thì khó ngóc đầu lên lắm con ơi”) thì tôi vẫn chưa thấy tiếng Anh có loại “love” nào thích hợp mang cả nội hàm bao trọn ý của nghĩa tình, nghĩa ơn của tôi đối với nghĩa cử nghĩa vụ nghĩa khí cùng sự hiểu biết, hiểu thấu, phục nết phục tài và sẵn sàng…phục vụ của nàng. Khi nào sáng tạo ra từ ngữ “love” thích hợp, tôi sẽ phổ biến tiếp trên blog này.

Tôi tin rằng các bạn sinh viên từ nay có thể gọi tên những cuộc tình của mình thật đúng khi viết hồi ký những ngày xưa năm cũ đầy ắp những yêu thương nồng cháy của đời mình.

Thương chúc các bạn có những tình yêu thật đẹp, thật bền vững, hữu thủy hữu chung đúng nghĩa keo sơn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo;

Hoàng Hữu Phước. 09-12-2015. Đám Cưới

Hoàng Hữu Phước. 18-12-2015. Tôi Dạy Vợ

Hoàng Hữu Phước. 09-10-2014. Bài Thơ Về Đinh Thị Mai Trâm: Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/09/tho-cung-ban-huu-tren-khong-gian-mang/

Viết Phức Tạp

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-01-2016

Có người cho rằng tôi viết các bài tiếng Việt câu cú phức tạp, đọc khó hiểu. Thật ra người ấy không sai vì ngay cả chính những thạc sĩ/tiến sĩ dạy tiếng Anh chuyên khoa ở đại học cũng không biết thế nào là một câu đơn giản (simple sentence) thật sự trong tiếng Anh mà chỉ bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt nên câu đơn giản tức là đơn giảncâu phức tạp tức là phức tạp. Nếu người ấy giỏi tiếng Anh hoặc đã là học trò của học trò tôi thì người ấy đã thay vì nói các bài viết tiếng Việt của tôi phức tạp sẽ bảo rằng chúng được viết đơn giản một cách cực kỳ văn vẻ cầu kỳ.

Tôi là giảng viên Anh Văn đại học duy nhất ở Việt Nam dạy rõ ràng rằng trong tiếng Anh, câu đơn giản là câu không có quan hệ chính-phụ, còn câu phức tạp thì có quan hệ ấy; cũng như câu đơn giản không bao giờ được mặc định là câu ngắn gọn ngắn ngủn, còn câu phức tạp không bao giờ được mặc định là câu dài lượt thượt lê thê. Để chứng minh cái đáng sợ đầy bẫy rập của câu đơn giản nhằm giúp sinh viên nhận chân giá trị của câu đơn giản nơi các đại văn hào, tôi viết kiểu impromptu ứng khẩu lên bảng các thí dụ đại khái như sau (“đại khái” vì ở mỗi lớp khác nhau tôi “ứng khẩu” các thí dụ hoàn toàn khác nhau mà tôi chỉ còn nhớ “đại khái”):

Câu phức tạp: I went there where I met her. (Tôi đến đấy, nơi tôi gặp nàng). Câu này thuộc loại câu phức tạp, có 7 từ trong 1 mệnh đề chính main clause và 1 mệnh đề phụ adverbial subordinate clause, mỗi mệnh đề có 1 chủ từ và 1 động từ chia finite verb.

Câu đơn giản: Wearily trudging on the winding narrow dusty path leading to an old ramshackle pagoda built halfway on the slant slope of the barren hill, the rickety old man smilingly thought of his heyday embellished with laughter from his beloved folks and close acquaintances gathering around him at times to enjoy whatsoever blessings bestowed so generously by the Almighty God to all. (Mệt nhọc lê bước trên con đường đất đầy bụi bặm nhỏ hẹp ngoằn nghoèo dẫn lên một ngôi cùa cổ xiêu vẹo được xây ở lưng chừng đồi trọc thoai thoải, ông lão khập khiễng nghĩ suy về thủa vàng son xưa cũ của đời mình đầy ắp những tiếng cười của những người thân thương và bạn hữu quây quần quanh ông để vui hưởng những điều tốt đẹp mà Trời đã ban tặng mọi người). Câu này thuộc loại câu đơn giản với 61 từ, không có mệnh đề chính, không có mệnh đề phụ, chỉ có 1 chủ từ duy nhất là man và chỉ có một động từ chia duy nhất là thought.

Như vậy, thí dụ trên cho thấy không bất kỳ giảng viên Anh Văn nào (dù là người Việt Nam hay người nước ngoài) ở tất cả các trường đại học ở Việt Nam (của Việt Nam hay của nước ngoài) có thể cho được những thí dụ đầy sức thuyết phục như trên để giảng dạy và do đó không thể đào tạo được những sinh viên thực sự giỏi tiếng Anh, có khả năng đọc hiểu các văn bản cực kỳ phức tạp của luật pháp hay văn học bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cũng như có khả năng thưởng thức từ bài văn câu cú lúc ngắn lúc dài của tác giả cận đại vĩ đại Ernest Hemingway đến truyện ngắn câu cú cực kỳ cầu kỳ của tác giả truyện kinh dị lừng danh Edgar Poe.

Mỗi khi đến mùa Giáng Sinh, rất nhiều người gởi nhau những cánh thiệp thật đẹp, thật đa dạng, mừng đón Noel, đa số bằng tiếng Anh, bất kể người gởi và người nhận có sử dụng tiếng Anh trong đời sống thường nhật hay không, và có tôn thờ Đức Chúa hay không, đơn giản vì đó là ngày lễ của công chúng chứ không của riêng tôn giáo. Ngày lễ ấy tuyệt diệu vì vào thời điểm tại hầu hết các nơi trên thế giới tiết trời đẹp hơn và Năm Mới đã rất cận kề, khiến ngày Noel thành ngày vui chào đón Tân Niên.

Khi thời đại internet đến, sự tất bật của sinh nhai đã được giải cứu khi người ta thay vì lang thang từng góc phố con đường tìm chọn mua thiệp rồi len lỏi luồn lách giữa giao thông chen chúc để tìm đến một bưu cục tốn tiền gởi xe vào mua tem dán gửi đi, đó là chưa kể phải canh thời gian nhiều ngày trước đó với mong muốn thiệp mừng đến được tay người nhận ở đâu đó trên thế giới bao la hoang dã này kịp lúc, nay lại đơn giản ngồi vào bàn gởi email những giòng chữ do mình sáng tác, những thiệp điện tử do mình sưu tầm, hoặc những thông điệp ai đó đã chuyển đến mình và mình đơn giản chuyển tiếp đi cho hàng trăm người bạn dân cư mạng toàn cầu khác.

Văn ôn võ luyện là việc cực kỳ bình thường của những con người nhận thức đầy đủ được thế mạnh vô song và giá trị vượt bậc của văn và võ trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Với quyết tâm phải là người giỏi tiếng Anh nhất – chứ không phải là người kiếm nhiều tiền nhất – tôi đã luôn sửa sai và hoàn thiện tất cả văn thơ của bất kỳ bậc kỳ tài nào của văn học Anh Mỹ, cũng như tất cả những “thiệp điện tử” eCard mà học trò và bạn hữu bốn phương gởi tặng trong những dịp lễ Noel tương tự. Bạn hữu và học trò tôi ở nước ngoài đã hình thành một thói quen tốt là ngoài việc chuyển đến tôi những “sứ điệp chống Cộng” (để qua các bút chiến phân tích phản biện của tôi họ hiểu biết thêm về thực tế Việt Nam thay vì đọc các bài trên trang web của các cơ quan truyền thông cộng sản mà họ không tin tưởng), còn gởi tôi những thiệp mừng lễ mà họ cho là tuyệt hảo để xem tôi có biến cái tuyệt hảo đó của dân Anh Mỹ thành đồ chơi trẻ nít hay không, mà sau đây là ví dụ.

Từ một Cây Thông Noel một tầng trong chậu bằng tiếng Anh do Cô Lê Tâm Hạnh ở ngân hàng Deustche Bank nhận được từ internet gởi tôi mùa Giáng Sinh 2000 có nội dung nguyên văn như sau mà tôi đã phân tích các yêu điểm ở phần ghi chú: PineTreeXmas1

tôi đã sáng tác ngay một cây thông khác với bốn tằng trên mặt đất bằng tiếng Anh có nội dung và ghi chú đặc điểm như sau: Xmas2Pine Tree (1)

Như vậy, nhảy múa theo điệu nhạc rất tốt trên bình diện luyện tập thể dục kèm hưởng thụ nghệ thuật âm nhạc, còn nhảy múa với ngôn từ rất tốt trên bình diện luyện tập trí nhớ kèm hưởng thụ văn học văn vẻ văn chương, nghĩa là tất cả đều vì lợi ích của bản thân và của người khác vì việc nhảy múa theo âm nhạc góp phần sinh động vào tập thể đang nhảy múa kể cả tập thể ngồi nghe nhạc ngắm nhìn sự nhảy múa của nam thanh nữ tú dập dìu, trong khi việc nhảy múa với ngôn từ góp phần sinh động vào tập thể các nhà viết lách kể cả tập thể ngồi đọc blog và thưởng thức sự nhảy múa ấy của ngôn từ.

Tương tự những kiến trúc có thật trong đời, từ cung điện đến căn hộ liền kề hay song lập, từ khu phố đến khu đô thị mới, sự cầu kỳ hoặc giản đơn đều có những cái hay của nó tùy vào sự thăng hoa của các nhà sáng tạo, và đương nhiên môi trường sống sẽ khó thể gọi là bình thường nếu mọi nơi đều chỉ có những kiến trúc đơn giản đơn điệu đơn sơ; cách hành văn cũng mang cái đẹp đến với văn chương chữ nghĩa vì không bao giờ có cái mặc định rằng phải chỉ được viết đon giản. Tùy túi tiền của mỗi người mà việc đầu tư lựa chọn một kiến trúc căn nhà được tiến hành. Tùy mức độ tư duy cảm thụ của mỗi người mà việc quan tâm lựa chọn kiểu hành văn thích hợp được thực hiện.

Song vẫn có một điều duy nhất đúng, tuyệt đối đúng là chỉ những ai viết – và nói – tiếng Anh đơn giản một cách cầu kỳ chặt chẽ về cú pháp mới có thể được gọi là người thực sự giỏi tiếng Anh được người Anh nể trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-01-2016

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua từ ngày giải phóng 30-4-1975, thế mà thiên hạ vẫn cứ nói về trình độ yếu kém tiếng Anh của lực lượng lao động Việt Nam dù đã bao phen cải cách giáo dục. Như tôi đã khẳng định với sinh viên của tôi cách nay hơn 30 năm rằng cách dạy và học ở Việt Nam hoàn toàn sai do không biết đâu là ưu thế sẵn có của người Việt nên sẽ mãi mãi không thể nào có chuyện người Việt Nam sẽ giỏi tiếng Anh, và rằng các sinh viên của tôi muốn giỏi tiếng Anh – kể cả muốn giỏi tiếng Anh hơn tôi – hãy áp dụng phương pháp của tôi. Bảy chứng bịnh trầm kha ở Việt Nam rất rõ nét như sau:

1) Rập khuôn bài bản nước ngoài chú trọng đến khâu nói, trong khi không hiểu gì về các cái khuôn ấy, nên dù có thay đổi tăng cường xoành xoạch, lớp có trang bị wifi, máy vi tính, overhead projector, micro, phục vụ việc dạy và học tiếng Anh thì chẳng học sinh nào “giỏi” được tiếng Anh.

2) Sử dụng sai người theo cách từ chương: giao một người phụ trách ban khảo thí tiếng Anh ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ vì đó là một nữ tiến sĩ dạy đại học để rồi đề thi Tú Tài môn tiếng Anh mà các câu hỏi lại phải ghi bằng tiếng Việt ở các tiêu đề (thí dụ: “hãy điền vào chỗ trống một trong các từ cho sẵn ở a, b, c, và d”; hoặc “hãy dịch đoạn sau đây ra tiếng Anh”) còn Báo Tuổi Trẻ thịnh trọng đăng bài của nữ tiến sĩ ấy dạy cách học giỏi tiếng Anh bằng cách hãy vào trang web nọ để kiểm tra từ vựng.

3) Dạy tiếng Anh mà khư khư tự ái dân tộc nên sách tiếng Anh phải do người Việt của cách mạng soạn nên giáo trình thuộc cấp thấp, không như thời Việt Nam Cộng Hòa sử dụng bộ English for Today của Nhà xuất bản McGraw Hills của Hoa Kỳ rất đạt yêu cầu dạy và học.

4) Dạy tiếng Anh ở trung học mà cứ khư khư phải nhét cho bằng được tinh hoa Việt Nam nên nay thì soạn sách giáo khoa tiếng Anh có mời một người nước ngoài tham gia biên soạn chung với bốn người Việt Nam, in ấn màu sắc công phu, nhưng khi học trò tôi đưa tôi xem qua sách tiếng Anh cải cách ấy mà các em đang phải dạy thì tôi nói ngay với các em là sách chỉ đáng ở trong sọt rác do có bài “Phở”. Tôi bảo các em rằng đó là sự ngu xuẩn của người soạn vì (a) “phở” không là cái thá gì của tiếng Anh để viết về nó, và (b) thầy giáo cô giáo bị đặt vào vị thế nguy hiểm khi dạy do sẽ lúng túng cà lăm nếu học sinh cắc cớ yêu cầu thầy cô nói và viết bài luận mẫu về bánh xèo, bánh cóng, bánh cuốn, bánh canh cua, bún bò Huế, bò nướng lá lốt, v.v.

5) Phí tiền của để tạo các chương trình “dạy tiếng Anh” trên tivi VTV Hà Nội do một thạc sĩ (MA) tên Hùng học ở Anh Quốc về phụ trách, nhưng ông Hùng MA này luôn luôn ngồi thừ ra trước máy thu hình, giọng nói buồn ngủ, tiến hành dạy ca mấy bài hát tiếng Anh cho bốn nữ sinh mà bốn cô bé này cũng ngồi thừ như mông bị ngấm keo vạn năng hiệu Con Voi dính khắng vào mặt ghế – nghĩa là không thấy cái sinh động hoạt bát hoạt náo của cả “thầy” và “trò”.

6) Toàn bộ các chức sắc phụ trách môn học tiếng Anh trung học ở Việt Nam đều sai bét do không hiểu được tầm quan trọng của viết tiếng Anh và văn phạm tiếng Anh trong tương hỗ tương tác với nói tiếng Anh.

7) Các trường đại học ở Việt Nam đã dùng sai người trong đội ngũ giảng huấn tiếng Anh, khiến sinh viên tốt nghiệp ngay cả của chuyên khoa tiếng Anh cũng không thể đạt yêu cầu về Tiếng Anh. Một nhân viên của tôi ở CIMMCO International thuộc lớp đàn em của tôi ở Khoa Anh Văn Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh sang định cư ở Mỹ, lấy bằng thạc sĩ toán học, dạy học ở nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ (chủ yếu ở Texas và California), sang dạy cả ở Canada, sau 20 năm ở hải ngoại nay mới hồi hương trở về định cư ở Việt Nam, có về thăm trường xưa (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn), và đã nổi giận đùng đùng xin gặp lãnh đạo trường để chất vấn vì sao toàn bộ lãnh đạo Khoa Anh lại là thạc sĩ / tiến sĩ ngành “giảng dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai” ở Philippines vì như thế thì số người này cách chi có trình độ để dạy văn chương Anh, văn chương Mỹ, v.v., là các môn cao cấp của ngôn ngữ Anh. Tất nhiên, không lãnh đạo nào ưa thích các câu hỏi đó do không có câu trả lời, và em Việt Kiều Mỹ này đến thăm tôi để nói lên bức xúc của em, tức giận của em trước sự xuống cấp của trình độ dạy và học ở đại học từng lừng danh ấy mà em tự hào là lớp đàn em xứng đáng của tôi, đồng thời trách tôi sao làm nghị sĩ mà thờ ơ để cho cớ sự đó xảy ra cho tiền đồ tiếng Anh của Việt Nam. Thấy em có cái trực tính của nhà chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi phải giải thích với em rõ (a) tôi đâu có quyền hạn gì đối với ngành giáo dục, (b) tôi ngoài Đảng nên có đóng góp ý kiến cũng chẳng quan chức nào của ngành quan tâm, và (c) chẳng đại học nào dại dột mời tôi đến giúp do các giáo sư Anh Văn ở đấy không muốn vừa bị tôi vạch mặt chỉ tên là dạy sai dạy dỏm dạy tầm bậy tầm bạ vừa bị tôi thu hút hết sinh viên của họ, thậm chí cái trường Cao Đẳng Sư Phạm nay là Đại Học Sài Gòn cũng bỏ luôn vài môn sau khi làm tôi phải thôi việc do không ai dạy nổi nên sinh viên đâu được học các phân môn đặc thù ấy để có đẳng cấp tiếng Anh như kỳ vọng của các nhà tuyển dụng và của xã hội.

Tôi từng định viết trên Emotino một loạt 7 bài theo yêu cầu của một số giáo viên Anh Văn ở Hà Nội (ưa thích các bài viết tiếng Anh của tôi trên Aspiration và Emotino) và Thành phố Hồ Chí Minh (học trò cũ của tôi), gồm các tựa đề soạn sẵn như:

– Bài 1: Chuẩn bị hành quân: Ngoảnh nhìn chân lý, Vất bỏ hoang đường

– Bài 2: Chuẩn bị hành quân: She Don’t và You Is

– Bài 3: Vào trận: Quy trình duy nhất đúng để học giỏi một ngoại ngữ

– Bài 4: Vào trận: Tiếng Anh Formal

– Bài 5: Vào trận: Nói giỏi tiếng Anh

– Bài 6: Cắm cờ chiến dịch: Sa trường

– Bài 7: Bí kíp trận mạc

Tuy nhiên, sau khi đăng được hai bài thì xảy ra sự việc bọn đạo tặc chui vào Emotino xóa bài của tôi vì tôi chưởi mắng Đài BBC, đồng thời bày đặt viết liung tung bằng tiếng Việt chê bai trình độ tiếng Anh của tôi sau khi đã gởi hàng trăm tin nhắn đe dọa ném lựu đạn vào văn phòng tôi, khiến tôi nổi giận không viết thêm, đồng thời từ bỏ Emotino, tự lập ra blog mới. Nay xin đăng lại hai bài ấy để qua đó các bạn có thể sơ lược nắm được hành trạng tư duy của tôi đối với việc làm thế nào học tiếng Anh thực sự giỏi ở Việt Nam.

Để Học Giỏi Tiếng Anh

Bài 1

Chuẩn Bị Hành Quân: Ngoảnh Nhìn Chân Lý, Vất Bỏ Hoang Đường

Hoàng Hữu Phước, MIB

KHÚC DẠO ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu của rất nhiều người (học trò, đồng nghiệp, phụ huynh, nhân viên, và bạn hữu) trong vài chục năm qua – ngay cả trước khi có internet và Emotino – về cách học giỏi tiếng Anh, sau thời gian suy nghĩ đắn đo vì rằng nếu viết “thật” thì hóa ra tôi ở vị trí cao để bài xích, phản bác tất cả mọi điều đã và đang áp dụng ở Việt Nam do những chức sắc cao nhất về Tiếng Anh đề xuất và thực hiện; mà nếu làm lơ, viện cớ bận rộn để tránh né việc viết lách về chủ đề này thì chỉ sợ tuy được một hay hai bậc thầy trong thiên hạ tắc lưỡi cảm thông ngậm ngùi đồng cảm thương cho thân phận thất thời thất thế của mình không đất dụng võ phục vụ sự nghiệp giáo dục nước nhà, nhưng lại bị đa số sẽ cho rằng mình dấu nghề y như cung cách tổ tiên bọn Tàu luôn dấu bớt tuyệt chiêu vì sợ học trò làm đảo chính chiếm môn phái hay dành mối khách hàng khiến võ nghệ bọn Tàu dần bị triệt tiêu (bị phương Tây đánh chiếm dễ dàng chỉ với một cái phất tay, chỉ còn một tên dở hơi là Lý Tiểu Long chạy tóe khói sang Mỹ trốn) còn Đông Y bọn Tàu thì bây giờ toàn thuốc gây bá bịnh, tôi quyết định giữ lời hứa với loạt bài này để chứng minh mình là người Việt, có nghĩa là đương nhiên còn đủ tuyệt chiêu. Tất cả là sự thật, không gì khác hơn ngoài sự thật.

Đây là bài thứ nhất của loạt bài nói về cách học giỏi tiếng Anh. Muốn tiến tới mặt trận “giỏi tiếng Anh”, nhất thiết phải chuẩn bị quân trang, quân dụng, hậu cần, kể cả nghiên cứu sa bàn trận địa đối phương, công tác chính trị tư tưởng, và tâm lý chiến. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc cốt lõi là: Ngoảnh Nhìn Chân Lý & Vất Bỏ Hoang Đường, giống như tắm gội sạch sẽ tinh tươm trước một lễ nghi.

NGOẢNH NHÌN CHÂN LÝ & VẤT BỎ HOANG ĐƯỜNG

Đã là chân lý thì luôn đúng. Đã là ngoảnh nhìn thì ắt đã là quá khứ. Nhưng phải chăng chân lý đã không còn nên phải ngoảnh nhìn? Không phải vậy, ngoảnh nhìn vì đã ngộ nhận trong thời gian dài; ngoảnh nhìn để tôn vinh chân lý vì không thể tìm ra cái gì khác khi đã lao tới trước quá xa nên phải quay lại nơi xuất phát; và ngoảnh nhìn để thấy con đường lãng phí đã dẫn đến việc đến nay đã mấy chục năm sau giải phóng mà Việt Nam vẫn còn nói rằng học sinh Việt Nam không nói được Tiếng Anh. Đây là một tuyên bố hay nhận xét hoàn toàn sai, dựa trên các nhận xét phân tích sau về những hoang đường bấy lâu nay ấy và 8 Chân Lý đúc rút được:

1) Chỉ luôn mồm cho rằng học sinh Việt Nam không nói được tiếng Anh, sinh viên Việt Nam không nói được tiếng Anh, nhân viên Việt Nam không nói được tiếng Anh, vậy phải chăng muốn ám chỉ rằng học sinh Việt Nam viết giỏi tiếng Anh, sinh viên Việt Nam viết giỏi tiếng Anh, nhân viên Việt Nam viết giỏi tiếng Anh; và phải chăng muốn nói rằng học sinh Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh, sinh viên Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh, nhân viên Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh?

Hoàn toàn sai vì học sinh Việt Nam cũng không viết giỏi tiếng Anh, sinh viên Việt Nam không viết giỏi tiếng Anh, nhân viên Việt Nam không viết giỏi tiếng Anh; và học sinh Việt Nam cũng không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh, sinh viên Việt Nam không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh, đa số nhân viên Việt Nam không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh. Nhưng hai thế kỷ nay ở Việt Nam mãi than thở về chuyện học trò Việt không nói được tiếng Anh rồi đổ lỗi cho cái gọi là “từ chương” dù “từ chương” chẳng dính dáng gì đến việc “nói tiếng Anh” cả, vì viết tiếng Anh còn không được nừa là. Cái căn cơ của chứng bịnh hoang tưởng này bắt nguồn từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi những kẻ mông muội phương Tây đề ra cái gọi là “Direct Method” tức cách học tiếng Anh trực tiếp mà tôi ngay lúc còn nhỏ đã nhún vai xem thường, và khi nhà xuất bản McGraw Hill phát hành phiên bản mới của bộ English for Today vào cuối thập kỷ 1960 theo hướng gia tăng phần “nói” thì tôi đã khẳng định ngay với bạn học là ngày tàn của bộ sách ấy đã đến (hiện tôi còn giữ nguyên bộ English for Today nguyên thủy, và đã vất bỏ sọt rác bộ English for Today phiên bản mới sau ngày 30/4/1975).

Chân lý 1: Chúng ta cần phải đồng ý với nội dung rằng học sinh Việt Nam học kém tiếng Anh nói chung chứ không chỉ là “không nói được tiếng Anh”, và rằng học sinh Việt Nam sở dĩ không nói được tiếng Anh vì học sinh Việt Nam…không viết được tiếng Anh, không giỏi dịch thuật Anh-Việt/Việt-Anh, không có sách giáo khoa “đúng”, chứ hoàn toàn không tại bị vì bỡi Việt Nam không xem trọng thực hành nói tiếng Anh!

2) Nói sai về “từ chương”

Trong một bài viết khác, tôi sẽ nói thật rõ về “từ chương”, về việc đổ lỗi sai cho “từ chương”, hiểu sai về “học thuộc lòng”, và đề xuất nhầm về việc đả phá “từ chương”.

Trước tiên, cần phải làm rõ một điều là không nhất thiết phải ra nước ngoài mới học tốt một ngoại ngữ. Trước 1975 ở Miền Nam có vô số người du học ở Mỹ, nhưng chỉ một ít thực sự tài giỏi về tiếng Anh để trở thành các giáo sư hay giảng sư Anh văn (trước 1975 ở Việt Nam Cộng Hòa: danh từ “giáo sư” được dùng cho người dạy trung học, “giáo viên” dùng cho người dạy tiểu học, và “giảng sư” dành cho người dạy đại học, chính vì vậy nên nhà giáo rất tự hào và lấy làm danh dự với danh xưng ấy, trước đây luôn cố gắng tự sống tốt, tự dạy tốt, tự gương mẫu, tự thành đạt, tự thành công, tự chịu trách nhiệm về cuộc sống sinh nhai của bản thân và gia đình, khiến nhiều học trò bị hấp dẫn dấn thân theo nghề giáo), và chỉ cần được học các vị giảng sư này tại các trường đại học Việt Nam (không có trường đại học 100% vốn nước ngoài, chẳng có hình thức “liên kết đào tạo” với nước ngoài), sinh viên Việt Nam đã có thể tham gia các cuộc thi hùng biện tiếng Anh, đoạt học bổng du học Mỹ/Anh ngay (không như hiện nay có tình trạng du học nhưng phải bỏ ra khối tiền cả năm rèn lại tiếng Anh nếu đạt mới được học ở nước ngoài hay được cho … thiếu nợ nếu “liên kết” học…song ngữ ở Việt Nam). Từ sau 1975 Việt Nam có vô số người du học Âu Mỹ, và nhiều người trong số “vô số” này hoặc giữ chức vụ cao về Anh Văn trong các trường đại học ở Việt Nam hoặc giảng dạy Anh Văn tại các trường đại học ở Việt Nam, nhưng họ cho ra lò toàn những “sản phẩm” đầy tì vết, luôn có vấn đề như được thể hiện qua các nhận xét của nhà tuyển dụng nước ngoài là ứng viên có bằng cấp cử nhân Anh văn nhưng không nói được tiếng Anh.

Như vậy, chương trình học chắc chắn có bài tập, chắc chắn có thực tập, chắc chắn có thuyết trình (bằng chứng là hiện có sự sử dụng thường xuyên một cách đáng sợ công cụ PowerPoint© của sinh viên), được dạy bởi các thạc sĩ/tiến sĩ có bằng cấp của đại học nước ngoài, vậy thì có dính dáng gì đến “từ chương” đâu mà vẫn không đào tạo ra người “nói/viết được tiếng Anh” rồi đổ thừa cho “từ chương”?

Cái sai ở đây xuất phát từ trình độ người dạy, vì không phải cứ là tiến sĩ vật lý là tự động thành nhà bác học đào tạo được các nhà vật lý kiệt xuất, cứ là cử nhân thể dục thể thao là tự động thành nhà vô địch …đô lực sĩ quyền anh hạng nặng đào tạo được các tuyển thủ Việt Nam mà tất cả các câu lạc bộ Châu Âu phải đánh đấm nhau để giành chữ ký, và cứ là thạc sĩ/tiến sĩ Anh văn là tự động thành nhà giáo kiệt xuất có thể đào tạo những sinh viên giỏi tiếng Anh. Mặc định theo kiểu văn bằng như thế rồi trao trọng trách là đích thị “từ chương”, tất nhiên kết quả sẽ không bao giờ là như ý.

Chân lý 2:

Tóm lại, ở Việt Nam từ rất lâu đã không còn cách học “từ chương”.

Tóm lại, ở Việt Nam từ rất lâu đã không còn cách dạy “từ chương”.

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại cách bố trí/bổ nhiệm kiểu “từ chương” của Nhà nước và các cơ quan chức năng.

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại các hành vi “từ chương” của các giáo viên đối với học sinh/sinh viên (cho thực tập, cho thảo luận, cho thuyết trình, nhưng cho điểm theo cách tiêu cực tùy vào trọng lượng quà cáp từ phụ huynh hay sự biết điều của sinh viên đối với các gợi ý bóng gió không khó hiểu chút nào của thầy/cô).

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại tấm mộc có khắc chữ “từ chương” để những kẻ vô lương tâm, vô trách nhiệm, và vô hạnh được chở che, đỡ đạn trước các công kích của công luận và báo chí về thực trạng chất lượng đào tạo ở Việt Nam, trong đó có đào tạo về tiếng Anh.

3) Nói sai về “thực học”

Ở Mỹ, học sinh tất nhiên học tiếng Anh với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Anh, thương yêu ngôn ngữ Anh, thưởng thức ngôn ngữ Anh, sử dụng ngôn ngữ Anh thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ở Pháp, học sinh tất nhiên học tiếng Pháp với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Pháp, thương yêu ngôn ngữ Pháp, thưởng thức ngôn ngữ Pháp, sử dụng ngôn ngữ Pháp thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ở Việt Nam, học sinh tất nhiên học tiếng Việt với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Việt, thương yêu ngôn ngữ Việt, thưởng thức ngôn ngữ Việt, sử dụng ngôn ngữ Việt thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ấy vậy mà khi nói về “học tiếng Anh”, những kẻ kém hiểu biết nhất ở Việt Nam lại lớn tiếng nhất trong hô hào cuộc “tổng nổi dậy” nhằm lật đổ các môn “văn phạm” và “luận văn” cứ như thể sẽ nói giỏi tiếng Anh ngay khi bỏ các môn “thực học” không-phải-nói này! Đây là việc hoàn toàn sai, như hậu quả nhãn tiền là dù họ đã nhiều chục năm qua tập trung cho “nói” thì học sinh/sinh viên Việt Nam vẫn không nói giỏi tiếng Anh. Nếu bị tiêm nhiễm ý nghĩ bậy bạ rằng văn phạm Anh văn giết chết khả năng nói tiếng Anh, thì học trò cứ tự nhiên đừng thèm học văn phạm tiếng Anh nữa, thầy/cô dạy văn phạm thì mặc thầy/cô, thầy/cô dạy viết thì mặc thầy/cô, rồi xem mình có nói giỏi tiếng Anh không.

Chân lý 3: Muốn giỏi “nói” tiếng Anh, học sinh/sinh viên phải học giỏi tất cả các nội dung nêu trên về tiếng Anh. Làm gì có chuyện học trò Mỹ học đủ thứ, còn học trò Việt Nam đi đường tắt, xem thường văn phạm, lại giỏi y như học trò Mỹ! Các giáo viên Việt Nam dạy tiếng Anh cần phải thấu hiểu điều cực kỳ căn bản này.

4) Nói sai về vai trò của “viết” trong tiếng Anh

Viết là thể hiện mức độ sâu sắc cao cấp thượng đẳng của tư duy con người. Từ khả năng viết, người ta có thể thu xếp để việc nói trở nên chỉnh chu, ngắn gọn súc tích hoặc dài đầy đủ như ý, tăng sức thuyết phục, gia cố biện luận, lèo lái phản biện, phù hợp hoàn cảnh bình dân hay cung đình, thích hợp nội dung chuyện phiếm hay đề tài nghiêm túc, v.v.

Giá trị của “viết giỏi” trong “thực học” còn ở chỗ mặc cho có các nội dung thuyết trình nhóm, thực tập thực tế, v.v, thì điểm số quan trọng của các chương trình thạc sĩ vẫn đến từ các bài viết nghiên cứu nhóm, bài viết nghiên cứu cá nhân, và bài thi viết.

Giá trị của “viết giỏi” trong “thực hành” còn ở chỗ chỉ những đơn xin việc được viết chỉnh chu, ngắn gọn súc tích hoặc dài đầy đủ như ý, tăng sức thuyết phục, phù hợp hoàn cảnh, thích hợp nội dung, v.v. mới được nhà tuyển dụng quan tâm, mời đến phỏng vấn mà tại buổi phỏng vấn đó ứng viên “nói giỏi” mới có cơ hội “nói giỏi”, nghĩa là “viết giỏi” quyết định số phận của “nói giỏi”; song, nhất thiết cần lưu ý rằng ứng viên có đơn xin việc “viết giỏi” nhưng không “nói giỏi” vẫn có cơ may trúng tuyển đối với các vị trí cao vì “viết giỏi” là điểm ưu việt cần có nơi các chức sắc cấp cao, những người luôn phải đối mặt với các yêu cầu hoạch định chiến lược, sách lược, kế hoạch, chỉ thị, và các báo cáo mật, nhạy cảm chỉ được soạn bởi và lưu hành trong nội bộ ban lãnh đạo.

Kinh nghiệm thực tế của người viết bài này đã luôn ở vị trí lãnh đạo ở các công ty nước ngoài nhờ biết xem trọng việc ưu tiên trau giồi viết tiếng Anh sao cho thật giỏi ngay từ nhỏ, cũng như việc viết giỏi ấy đã tác động thành công đến ban lãnh đạo ở nước ngoài trong việc nhiều lần “cứu nguy” nhân viên Việt Nam hoặc đã gây sức mạnh thuyết phục công ty mẹ sa thải gần chục lãnh đạo cấp cao – kể cà Tổng Giám Đốc và 3 Phó Tổng Giám Đốc tiêu cực – tất cả đều là người nước ngoài ở chi nhánh Việt Nam.

Chân lý 4: Viết tiếng Anh chính là một thể hiện trước, hoặc một chuẩn bị thích hợp cho nói tiếng Anh, chứ không là phần độc lập, đối chọi với nói tiếng Anh. Viết tiếng Anh giúp hoàn thiện nói tiếng Anh. Trong cả học tập cấp cao ở nước ngoài – dù đó là về ngôn ngữ Anh hay khoa học kỹ thuật hoặc kinh tế tài chính – thì viết tiếng Anh giỏi quyết định số phận của văn bằng. Người có hiểu biết, có thực sự học “cao”, luôn nhận thức được tầm quan trọng của viết giỏi tiếng Anh, cũng như hiểu rằng rất khó đạt đến trình độ viết giỏi chứ còn nói giỏi đâu phải là kỳ công.

5) Nói sai về… “nói” trong tiếng Anh

Nhiều người cho rằng “nói” là “nói” mà không chịu hiểu rằng “nói” phải gắn chặt vào nghĩa “nói cái gì, với ai, tại đâu, và với mục đích gì”.

Nếu nói để … “thoát hiểm” thì phi công Mỹ có tờ giấy ghi vài câu để khi bị bắn hạ trên vùng trời Miền Bắc Việt Nam sẽ dùng để nói với người dân Việt Nam như: “xin cho tôi ăn, xin giúp che dấu tôi, chính phủ Hoa Kỳ sẽ cứu tôi và đền ơn, v.v.”

Nếu nói để… “thoát hiểm” thì người Việt chỉ cần biết hỏi thăm đường sá, v.v.

Quá nhiều người không hiểu biết gì mới cho rằng văn viết khác văn nói, rằng văn nói đi vào đời sống còn văn viết ở trên trời, v.v. Tất nhiên có sự khác nhau vì khi viết người ta có nhiều thời gian hơn để trau chuốt lời văn, còn chỉ có người cực giỏi mới trong tích tắc trau chuốt lời nói kịp ngay trước khi bật ra âm thanh. Thật sai lầm khi cho rằng nói dễ hơn viết vì không bị ràng buộc bởi văn phạm. Thật sai lầm khi cho rằng dựng túp lều tranh dễ hơn xây tòa nhà chọc trời vì không bị ràng buộc bởi công thức thiết kế và quy định kiến trúc hay cấu trúc vật liệu. Khi không bị ràng buộc về văn phạm, đấy sẽ không là câu nói giữa các đại gia kinh tế hay các chính khách nguyên thủ tại Liên Hợp Quốc. Khi không bị ràng buộc bởi thiết kế, túp lều tranh không bao giờ là nơi cho hai quả tim vàng vì gió có thể thổi bay bất cứ lúc nào. Sự ràng buộc kỹ thuật văn phạm cực kỳ rõ nét khi đó là phát biểu của một luật sư, một giảng viên, hay một chính khách. Vì vậy, dựa vào mức độ văn phạm bạn đang sử dụng, người ta biết bạn ở đẳng cấp nào, thuộc giới chuyên môn nào, đang ở cộng đồng nào, và cũng biết ngay bạn sẽ đấu khẩu thắng hay thua.

Chân lý 5: Muốn nói giỏi hãy tìm đọc tác phẩm của những người…viết giỏi để có thêm thông tin, kiến thức, bổ sung chất lượng cho tài “nói giỏi” của mình. Đặc biệt lưu ý rằng “nói giỏi” tiếng Anh không đồng nghĩa với “hùng biện” tiếng Anh, vì hùng biện là năng khiếu bẩm sinh hoặc là kết quả rèn luyện thực tập hiệu quả nhằm luôn đạt thế thượng phong khi sử dụng khẩu ngữ hoặc văn viết, còn nói giỏi chỉ là sử dụng được ngôn ngữ ấy bằng khẩu ngữ và sử dụng đúng việc, đúng người, đúng chỗ, thường bị giới hạn về thời gian (đối tượng xua tay không muốn nghe tiếp hoặc quay mặt bỏ đi hoặc bảo gia nhân… “tiễn khách”).

6) Hoang đường huyễn hoặc về… “rửa chén” để “nói” giỏi tiếng Anh

Nhiều người du học Âu Mỹ về hay khoe rằng mình đã tích cực thực tập “nói” tiếng Anh bằng cách xin việc rửa chén ở các nhà hàng ở gần trường. Đây là điều hoang đường vì mục đích rửa chén là để kiếm tiền, only this and nothing more (chỉ có thế thôi chứ làm gì còn lý do nào khác). Điều dễ nhận ra là việc rửa chén xảy ra về đêm, giữa những người nghèo khổ – đa số là dân nhập cư Mễ hay Đông Âu – luôn sử dụng tiếng lóng, tiếng sai, tiếng tục, tiếng địa phương, giọng thổ ngữ, chưa kể làm việc tất bật làm gì có thời gian (và ai cho phép cà-khịa tại nơi làm việc) để nói chuyện phiếm hầu “thực tập” nói tiếng Anh để bị ông chủ tống cổ ra khỏi quán. Ngay cả khi làm những việc lao động tay chân khác thì cũng bảo đảm rằng khi về Việt Nam người ấy không thể dạy học trò nói giỏi tiếng Anh được với kiểu ăn nói quàng xiên của tầng lớp thấp ấy. Ngoài ra, việc trắng đêm rửa chén sẽ không bao giờ bảo đảm du học sinh có thể tỉnh táo, tinh anh, tiếp thu bài vở tuyệt hảo trong các tiết học buổi sáng-chiều, và kết quả học tập – dù có được văn bằng – cũng không bao giờ có đủ chất lượng để làm “thầy/cô” cho học sinh/sinh viên ở quê nhà. Đó là lý do chất lượng đào tạo tại Việt Nam luôn có vấn đề, mà đào tạo Anh văn không là một ngoại lệ.

Chân lý 6: Chất lượng nói (và viết) tiếng Anh chỉ có được qua sự tập trung học tập cao độ với người thực sự có trình độ giỏi, và nhất thiết tránh xa – chí ít là trong giai đoạn chưa học thành tài – những cộng đồng cư dân bản địa có văn hóa thấp, học thức thấp, hay cách sử dụng văn nói không chính quy để vốn từ, cách phát âm, và cách sử dụng cấu trúc câu trong văn nói không bị bình dân hóa, địa phương hóa, hay hạn hẹp hóa (mà chính người Mỹ “đẳng cấp” cũng xem thường), và bị hỏng hóa cả khẩu ngữ và phong cách.

7) Hoang Đường Về Giọng Mỹ Giọng Anh

Trong một bài viết trên báo Người Lao Động cách nay gần 20 năm (sẽ đăng lại sau khi…kiếm lại được) tôi có viết rằng không tồn tại trong đời sống thực cái gọi là nói tiếng Anh giọng Mỹ và nói tiếng Anh giọng Anh, và rằng bạn hãy nói tiếng Anh bằng giọng của bạn, với điều cần nhớ là người Việt có nhiều lợi thế hơn nhiều dân tộc khác ở Châu Á vì sắc điệu của tiếng Việt giúp người Việt nói tiếng Anh hay hơn hẳn phần còn lại của Châu Á. Ấn Độ dùng tiếng Anh làm quốc ngữ và vài trăm năm dưới sự đô hộ của Vương Quốc Anh cũng chỉ giúp họ viết báo hay hơn người Anh chứ họ vẫn nói tiếng Anh với giọng Ấn. Ông Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon nói tiếng Tiếng Anh với giọng Hàn. Các CEO công ty Đài Loan ở Việt Nam nói tiếng Anh với giọng Tàu. Các nhà tài phiệt người Hong Kong và Nhật Bản nói tiếng Anh rất tệ. Vì vậy, vấn đề là bạn là ai và tiếng Anh mà bạn nói đang truyền tải thông điệp gì, với mục đích gì, nhắm vào đối tượng nghe nào, chứ không phải có kiểu phát âm Mỹ hay Anh. Bất kỳ “giáo viên” Anh văn nào nói với bạn rằng sẽ dạy bạn nói giọng Mỹ hay Anh, bạn hãy tự tin nói với người đó rằng chính tôi nói họ có trình độ rất khả nghi về tiếng Anh.

Chân lý 7: Học sinh/sinh viên chỉ nên tập trung xây dựng bản thân thành người có kiến thức sâu rộng và học đủ giỏi tiếng Anh để hiểu người nói nói gì, người viết viết gì, và để người nghe hiểu mình nói gì hay viết gì. Chú mục xem ai đó nói giọng gì, hoặc luyện cho mình nói theo giọng gì chỉ tiết lộ mình là điệp viên của Việt Nam, hoặc khiến mình trở thành người duy nhất trên thế gian này làm điều vô bổ.

8) Hoang đường về việc muốn giỏi tiếng Anh phải học từ nhỏ

Điều hoang đường cuối cùng được nêu trong bài viết này (vì còn những 10 điểm khác, thiết nghĩ sẽ tốt hơn nếu để dành khi thuyết trình đầy đủ trước một hội nghị cấp quốc gia về chấn chỉnh việc dạy và học tiếng Anh hiệu quả cao cho người Việt ở Việt Nam) là khi cho rằng người ta sẽ học giỏi tiếng Anh hơn nếu được cha mẹ cho học tiếng Anh từ rất sớm, việc mà tôi đã có một bài viết dài phản bác trên báo Tuổi Trẻ cách nay 20 năm (sẽ đăng lại sau khi…kiếm lại được), với bằng chứng là sau 20 năm thì chẳng thấy các cháu bé “học tiếng Anh từ sớm” ấy có gì nổi đình nổi đám về tiếng Anh trong hay ngoài nước cả. Tất cả đều do trình độ tiếng Anh yếu kém của dịch giả người Việt khi dịch một tác phẩm của Noam Chomsky và của độc giả người Việt khi đọc nguyên tác hay bản dịch tiếng Việt ấy, mà sự thể là như sau:

Noam Chomsky là giáo sư tiến sĩ và nhà ngôn ngữ học người Mỹ. Ông đặc biệt ủng hộ chính nghĩa của nhà nước Cộng sản Việt Nam (và thậm chí dũng cảm đến thăm Hà Nội trong khi cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt, cũng như đứng đầu ủy ban các giáo sư tiến sĩ và phóng viên chiến trường Mỹ cùng bác sĩ quân y Mỹ vạch trần tội ác của Mỹ và quân đội Cộng Hòa trong cuộc thảm sát người dân Huế “đối lập” với Thiệu và phật tử Huế trong Tết Mậu Thân 1968 rồi đổ cho “Việt cộng”). Theo ông, người ta (tức người Mỹ) nên cho con mình (tức trẻ em Mỹ) học tập sớm để phát triển ngôn ngữ (tức tiếng Mỹ tức tiếng Anh) sớm, nắm bắt ngôn ngữ (tức tiếng Mỹ tức tiếng Anh) sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm. Thế mà nội dung dịch “người ta nên cho con mình học tiếng Anh sớm để phát triển tiếng Anh sớm, nắm bắt tiếng Anh sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm” thay vì phải hiểu như “người Việt nên cho con mình học tiếng Việt sớm để phát triển tiếng Việt sớm, nắm bắt tiếng Việt sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm”, hoặc “người ta nên cho con mình học tiếng mẹ đẻ sớm để phát triển tiếng mẹ đẻ sớm, nắm bắt tiếng mẹ đẻ sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm”, người ta nhao nhao lên rằng người Việt nên cho con em học tiếng Anh từ nhỏ để giỏi tiếng Anh. Đây là một điều sai hoàn toàn về phương diện khoa học và tinh thần nghiên cứu của Noah Chomsky! Những người Mỹ ở Trung Ương Cục Tình Báo Mỹ CIA nói tiếng Việt như gió, phải chăng đã học tiếng Việt từ năm lên 4 ở Mỹ? Alenxandre de Rhode soạn tự điển tiếng Việt ắt nhờ học tiếng Việt lúc lọt lòng mẹ và được đưa vào nhà thờ? Nội dung đơn giản chỉ là: thay vì chờ đợi lúc con đến tuổi đến trường theo luật định mới cho con học chữ, các bậc cha mẹ nên tích cực tập con nói chuyện, nói chuyện với con ngay từ lúc con còn nằm nôi (có nhà khoa học còn đề nghị cha mẹ nói chuyên với con qua…da bụng của người mẹ, lúc con còn là bào thai), và kể chuyện cho con, tập cho con nhận diện chữ cái, màu sắc từ trước khi con đến tuổi đến trường, vì rằng việc kích thích trí não của bé vào thời điểm này rất thích hợp giúp bé nhớ nhanh hơn, dễ hơn, tạo đà cho hoạt động học tập khi đến tuổi vào trường, chứ không khuyên cha mẹ cho con học “ngoại ngữ” từ trong bụng mẹ! Việc cha mẹ người Việt cho con học tiếng Anh từ nhỏ sẽ vướng phải các tai hại sau:

– Nhiễu loạn: (a) môi trường xung quanh nói toàn tiếng Việt đa số thời gian nên không thể “giỏi” tiếng Anh, (b) học tiếng Việt ở lớp thiểu số thời gian nên không thể “giỏi” tiếng Việt, còn (c) người dạy tiếng Anh ở nhà trẻ Việt Nam khó thể nào là người có trình độ cử nhân hay thạc sĩ Anh văn nên việc dạy sai là nguy cơ đương nhiên đối với hệ thống phát âm luyện tiếng của trẻ.

– Bất phân định: không thể hiểu được đâu là “tiếng mẹ đẻ” và đâu là “ngoại ngữ” vì không phải cứ sinh ra tại Việt Nam, có khai sinh Việt Nam thì đương nhiên “tiếng mẹ đẻ” là tiếng Việt Nam, đương nhiên “giỏi” tiếng Việt Nam. Khái niệm “tiếng mẹ đẻ” chỉ liên quan đến ngôn ngữ chính của một người, được người ấy học từ nhỏ, dùng từ nhỏ đến suốt cuộc đời mà không cần có văn bằng chứng chỉ về “tiếng mẹ đẻ”. Trong khi đó, “ngoại ngữ” là ngôn ngữ khác mà một người học thêm theo phương pháp thích hợp và chương trình bài bản, mà kết quả học tập không dựa theo chủ quan, nghĩa là có thể thành công (sử dụng nhuần nhuyễn, có văn bằng chứng chỉ chứng nhận), hoặc có thể thất bại do năng khiếu thiên về lĩnh vực khác. Một đưa bé Việt Nam ngay cả khi chỉ ở Việt Nam, học tiếng Anh từ nhỏ và chỉ học tiếng Anh, đến độ “giỏi” tiếng Anh thì có nghĩa đứa bé Việt Nam ấy có “tiếng mẹ đẻ” là tiếng Anh tức ngôn ngữ chính và tiếng Việt có khi trở thành “ngoại ngữ”, nhất thiết phải rời Việt Nam do khó thể đấu tranh sinh tồn trong môi trường sống tại Việt Nam.

Chân lý 8: Người Việt Nam càng trưởng thành càng dễ học giỏi tiếng Anh, viết giỏi tiếng Anh, nói giỏi tiếng Anh. “Trưởng thành” có nghĩa là có năng lực hành vi, năng lực trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tính tự chủ, sáng tạo, siêng năng, bản lĩnh, tự quyết, kiên trì và độc lập. Còn bị chi phối bởi ngoại cảnh, luôn cho mình là “teen”, không làm chủ được bản thân, dựa dẫm vào người khác, v.v. thì chỉ là đứa trẻ, và không thể học giỏi được tiếng Anh (hay bất kỳ ngoại ngữ nào), đó là chưa kể ngay cả tiếng Việt cũng chưa chắc sử dụng được hiệu quả cho cuộc sinh tồn và sinh nhai. Tiếng mẹ đẻ dành cho trẻ em; còn ngoại ngữ dành cho người không còn là trẻ nít.

ĐOẠN KẾT

Tóm lại, chân lý mà ta cần ngoảnh lại nhìn trước khi dấn bước vào tiến trình “nói giỏi tiếng Anh” là: không bao giờ có sự tách bạch độc lập giữa nói và viết. Viết càng giỏi thì nói càng có chất lượng tốt hơn. Khi một người được phong tước Hiệp Sĩ để được có chữ Sir ngay trước tên họ của mình, người đó được hướng dẫn các nghi lễ hành vi và lời nói khi vào hoàng cung Anh Quốc, lúc quỳ trước Nữ Hoàng để được người đặt lưỡi kiếm trên vai trái và vai phải. Người dân Mỹ xem phát biểu ứng khẩu của Tổng Thống Abraham Lincoln tại Gettysburgh là kiệt tác. Người dân Anh xem phát biểu của Nữ Hoàng Anh là mẫu mực của sự kiệt tác ngôn từ. Tiếng Việt bạn nói trực tiếp với Ông Trương Tấn Sang sẽ không là tiếng Việt bạn dùng trực tiếp với các bạn của bạn trong quán cà phê. Tiếng Anh khi bạn dùng “Mr President!” khiến người nghe nghĩ rằng bạn hoặc là người trình độ đang phỏng vấn Ông Obama hoặc bạn là nhân vật quan trọng được ở gần vị tổng thống ấy. Tiếng Anh khi bạn dùng “Ê President!” khiến người ta nghĩ rằng bạn đang réo một người hàng xóm tên President thường hay chỉ trích chê bai bạn. Vì thế, văn nói cũng là loại văn cần được bạn trau chuốt, học tập, thực hành nghiêm túc giống như điều tất cả những học sinh gia giáo của những gia đình giàu có qu‎ý phái tại các cường quốc Âu Mỹ đều làm, mà nếu cần thí dụ, bạn hãy theo dõi gameshow Người Tập Sự Của Donald Trump để nghe cậu con trai Don và cô con gái Ivanka của Trump ăn nói ra sao, tác phong khi nói ra sao, và để biết rằng chính Donald Trump mới là người giàu nhất thế giới vì chỉ có Trump mới có những đứa con tuyệt vời, đẳng cấp cao, chưa bị dính vào những scandal làm tổn hại thanh danh bản thân và uy danh người Bố. Hãy học theo những người như vậy, và bạn sẽ hiểu ra rằng chỉ có việc học hành nghiêm túc, kiến thức rộng, bạn mới giỏi tiếng Anh, và khi giỏi tiếng Anh, bạn viết giỏi tiếng Anh và không còn có tên trong danh sách những học sinh/sinh viên/nhân viên có bằng cử nhân Anh văn nhưng không nói được tiếng Anh.

Tiếng Anh như một “ngoại ngữ” là tiếng Anh dạy theo bài bản chuyên nghiệp, khoa học, đầy đủ, thực dụng cả về viết và nói, theo từng cấp độ, và có các loại sát hạch cho những người cần chứng chỉ, văn bằng, nhằm phục vụ việc mưu sinh hay đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.

Nếu bạn là người trưởng thành, hãy yên tâm nếu bạn muốn giỏi tiếng Anh như một “ngoại ngữ” theo cách lành mạnh, bình thường, khoa học, và nghiêm chỉnh.

Để Học Giỏi Tiếng Anh (Bài 2)

Chuẩn Bị Hành Quân: She Don’t, You Is, D’Passion, I and You, Th’ Universe, Emotino, Anh Văn Hoàng Tộc

KHÚC DẠO ĐẦU

Đây là bài thứ nhì của loạt bài nói về cách học giỏi tiếng Anh. Muốn tiến tới mặt trận “giỏi tiếng Anh”, nhất thiết phải chuẩn bị quân trang, quân dụng, hậu cần, kể cả nghiên cứu sa bàn trận địa đối phương, công tác chính trị tư tưởng, và tâm lý chiến. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc thứ nhì: học đẳng cấp cao của She don’tYou is để hiểu thấu đáo thế nào là chân giá trị của ngôn từ và ai có thẩm quyền tối cao đối với thứ ngôn ngữ đang thống trị thiên hạ.

D’PASSION EMOTINO

Cách nay vài năm được một bạn – rất tiếc tôi không thể nhớ tên – gởi email giới thiệu “phát hiện một trang web” lý thú tên Emotino vào thời điểm tôi chán ngấy cái anh Yahoo! 360 mà tôi đã báo trước sự suy tàn của nó qua một số bài viết, tôi vào xem và tuy mừng vì đó là trang web cực kỳ nghiêm túc của “những người trong cuộc” của giới kinh doanh, nhưng vẫn lo vì ở Yahoo!360 tôi chỉ viết toàn tiếng Anh nay vào Emotino mà viết tiếng Anh thì rất không an tâm vì tôi biết quá rõ có những người Việt Nam sẽ nhao nhao lên rằng tôi “khoe khoang” ngoại ngữ, mà nếu viết tiếng Việt thì chỉ giỏi văn chương thi phú thời còn học về Nguyễn Công Trứ, Lục Vân Tiên, hay Sãi Vãi, v.v., hồi xửa hồi xưa, chứ về các vấn đề học thuật mới tinh của thế kỷ XXI thì thật là run tay. Song, tôi bắt đầu tập viết tiếng Việt, nhờ vợ tôi hay nhân viên công ty tôi giúp sửa các dấu hỏi dấu ngã trước khi post lên Emotino. Vậy Emotino có dính gì đến bài nói về Học Tiếng Anh ở đây? Xin thưa, từ cái ngày đầu đến với Emotino và biết D’Passion lập nên Emotino, cho đến tận ngày hôm nay tôi chưa bao giờ gọi phone, gởi email hay tin nhắn bất kỳ để bảo Ông Chủ của Emotino và D’Passion rằng Emotino sai rồi vì phải là Emotion, và D’Passion sai rồi vì trong tiếng Pháp chữ De chỉ khi ở trước nguyên âm mới biến thành D’. Tôi không bảo hay hỏi hoặc mách vị chủ nhân ấy, vì tôi biết chỉ những người thật giỏi ngoại ngữ mới có hai quyền tối thượng là đặt ra từ mới và phá cách từ cũ. Chỉ cần nhìn chữ Emotino và D’Passion, tôi lặng thinh…trầm trồ thán phục. Tôi cũng có sáng tác một bài thơ tiếng Anh lúc còn ở đại học năm 1977, trong đó lập đi lập lại từ th’Universe, nay ngẫm lại thấy mình thậm chí còn táo bạo hơn cả chủ nhân D’Passion vì nhiều người sẽ bảo tiếng Anh làm quái gì có kiểu the trước nguyên âm được viết tắt thành th’.

Như vậy, phải chăng chăng ông chủ của D’Passion và ông Hoàng Hữu Phước viết sai chính tả lung tung, thua xa người mới học tiếng Anh hoặc đã học xong căn bản của tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

SHE DON’T YOU IS

Bất kỳ ai mới học tiếng Anh đều biết phần sơ đẳng nhất là chia động từ TO BE và TO DO, để biết luôn là She does not hay She doesn’t nghĩa là “nàng ấy đâu có (làm việc ấy)” và You are nghĩa là “ngươi là…” hay “ngài thì…”.

Thế nhưng:

1- Nữ ca sĩ LeToya Luckett trong album phát hành năm 2006 mang tên cô đã hát bài She Don’t theo thể loại R&B của hai nhạc sĩ nổi tiếng Walter Milsap and Candice Nelson, với phần điệp khúc thú vị:

     She don’t even touch you like this

     She don’t even kis you like this

     She don’t even treat you like I do

         Boy you know that

     She don’t even touch you like this

     She don’t even kis you like this

     She don’t even treat you like I do

         Boy you know that

2- Ban nhạc The Beatles lừng danh thì có bài She’s a Woman trong đó từ don’t được dùng cho ngôi thứ ba số ít:

     …My love don’t give me presents,

     I know that she’s no peasant.

     Only ever has to give me forever and forever;

     My love don’t give me presents.

     ………

     She don’t give boys the eye.

     She hates to see me cry.

     She is happy just to hear me

     Say that I will never leave her,

     She don’t give boys the eye…..

3- Trong khi đó ca sĩ nhạc rock huyền thoại Frank Zappa có album phát hành năm 1981 mang tên You Are What You Is cũng là tên một ca khúc thể loại pop rock trong album ấy, với lời ca rất dài mà chỉ trong một đoạn ngắn sau đã có những phá cách dữ dội như you is và thậm chí you am:

     ….. Do you know what you are?

     You are what you is

     You is what you am

     A cow don’t make ham…

   You ain’t what you’re not

     So see what you got

     You are what you is

     An’ that’s all it ‘tis

…….

Như vậy, phải chăng chăng các ca sĩ Anh và Mỹ lừng danh này thất học, không biết văn phạm, và thậm chí trình độ tiếng Anh thua xa người Việt mới học tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

I AND YOU

Trở lại phần bọn bị bịnh thần kinh chống đối tôi đã la toáng trên mạng rằng tôi sai tiếng Anh khi dùng I and You (chẳng hạn như tiêu đề các bài viết tiếng Anh của tôi trên Yahoo!360 như I and Dr Le Van Diem, I and Mr Nguyen Quang To, v.v.), một ca sĩ nổi tiếng khác là Lobo ắt cũng bị la toáng lên như thế do đã dám viết bài ca tuyệt diệu hàng đầu loại “top hit” mang tên Me and You and the Dog Named Boo (Anh và Em cùng Chú Cún Tên Boo) thay vì phải viết You and Me theo điều sơ đẳng mà con nít và bọn tâm thần ấy được dạy.

Như vậy, phải chăng chăng ca sĩ Mỹ lừng danh Lobo thất học, không biết văn phạm, và thậm chí trình độ tiếng Anh thua xa người Việt mới học tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

ANH VĂN HOÀNG TỘC

Các bạn ắt biết tác phẩm điện ảnh gần đây mang tên The King’s Speech (Diễn Văn của Nhà Vua, hoặc Nhà Vua Cà Lăm ) đoạt nhiều giải thưởng lớn, nói về Vua George Đệ Lục của Anh Quốc thời Đệ Nhị Thế Chiến đã phải nỗ lực ra sao để khắc phục tật nói lắp của mình, từ đó có các hiệu triệu quốc dân đồng tâm hiệp lực chống Đức Quốc Xã. Tôi chưa xem phim The King’s Speech, nhưng lúc học lớp 12 năm 1974 tôi đã được đọc quyển The King’s English tức Tiếng Anh Hoàng Tộc của anh em nhà Fowler, dày 383 trang, ấn bản năm 1906 của Đại học Oxford, mua tại Nhà Sách Khai Trí, Sài Gòn, và đây là lý do vì sao tôi “cứng và vững” văn phạm và luận văn Anh hơn mọi người đồng trang lứa, vì khi tất cả các tác giả văn học vĩ đại của nước Anh, tất cả các báo và tạp chí lừng danh (còn tồn tại cho đến ngày nay hàng trăm năm tuổi) đều bị lôi ra vô số các trích đoạn để chứng minh các điểm sai về văn phạm, từ ngữ, ngôn phong, v.v., chẳng hạn như:

1) …Mrs. Downe Wright had not forgiven the indignity of her son having been refused by Mary…       FERRIER

2) …Hurried reading results in the learner forgetting half of what he reads, or in his forming vague conceptions….         SWEET

3) …As to the audience, we imagine that a large part of it, certainly all that part of it whose sympathies it was desired to enlist, …        TIMES

thì tôi đã được tiếp cận các câu văn vẻ tiêu biểu được chọn lọc, học được vô số điều từ các phê bình đẳng cấp cung đình, những điều mà tất cả các sách vở và thầy cô ở Việt Nam không hề (hoặc không thể) nói đến ở tầm cao tương tự.

(Ghi chú về ba câu tiếng Anh có “ngoại hình” rất cao cấp ở trên:

– Phê bình (luôn ngắn gọn, chỉ ghi tên gọi của lỗi, không giải thích) ghi trong sách The King’s English: Câu 1 và 2 sai ở sở hữu cách

– Tôi giải thích với sinh viên khi đem vốn liếng The King’s English của tôi ra dạy sinh viên: Chữ her son trong Câu 1 nếu là her son’s và chữ the learner trong câu 2 nếu là the learner’s mới đúng. Trong câu 1, đối tượng liên quan đến indignity là “cái việc” having been refused by Mary của her son, chứ không phải bản thân her son, nếu viết như S. Ferrier thì hóa ra having been refused by Mary không còn là “cái việc” tức là một danh từ/nhóm từ danh từ noun phrase mà trở thành một tính từ loại perfect participle. Còn ở câu 2 thì rất rõ vì xuất hiện yêu cầu đối xứng của tiêu chí parallelism khi viết văn: từ OR liên kết 2 phần cân xứng y như nhau, do đó, nếu vế sau OR có IN HIS với HIS ở sỡ hửu cách thì vế trước OR buộc phải có sở hữu cách nên phải là IN THE LEARNER’S. Còn câu 3 có phần sau phải viết lại thành whose sympathies were enlisted mới đúng tiếng Anh.

ĐOẠN KẾT

Các thi sĩ, nhạc sĩ có đặc quyền áp dụng các phá cách mà không cần giải thích, và những người hiểu biết không bao giờ đặt câu hỏi, càng chẳng bao giờ tung email không chỉ vì muốn khoe các phát hiện của mình mà có khi vì những lý do xấu khác, chẳng hạn như nhằm chê bai hay bôi nhọ đối thủ cạnh tranh.

Lý do của các phá cách như She don’t rất đơn giản: nhà thơ hay nhạc sĩ đều giống nhau ở điểm họ cần số lượng âm nhất định cho một khổ thơ hay một đoạn nhạc. Nếu ở một đoạn đặc thù chỉ còn trống chỗ cho 2 âm tiết thì She doesn’t đúng văn phạm nhưng có 3 âm tiết, và She don’t trở thành một giải pháp 2 âm tiết tuyệt hảo được các fan hâm mộ tán dương, khen ngợi, thần phục. The cow don’t (thay vì the cow doesn’t) cũng là trường hợp tương tự.

Lý do của You IsYou Am lại nhằm mục đích khác, có thể mang tính triết lý sâu sắc sâu xa, hoặc diễu cợt, hoặc “chơi chữ” của tác giả, chứ không vì giới hạn của số lượng âm tiết, chẳng hạn muốn hàm ý “anh chỉ là số ít, anh chỉ là cái tôi của anh”. Và cũng như việc không ai đến viện bảo tàng nghệ thuật đứng ngắm nhìn các bức họa kiệt tác lại mở miệng nói linh tinh hoặc hỏi lung tung – thậm chí ngay cả khi bức họa là một tấm giấy trắng khổ lớn như đang có tại một viện bảo tàng hình như ở New York nghe đâu được mua với giá vài trăm ngàn USD – độc giả và khán giả cũng sẽ thưởng thức các cái “sai cố tình” và tán thưởng vì đó là sự độc đáo độc quyền trong lĩnh vực nghệ thuật, mỹ thuật, chẳng khác nào tranh truyền thần và tranh trừu tượng đều vẽ về người phụ nữ nhưng theo cách khác nhau và giá tiền của tranh trừu tượng của Picasso luôn đắt hơn tranh truyền thần thời hiện đại.

Về I and You / Me and You thì rất đơn giản:

– Lobo muốn Me and YouYou đồng âm với Boo, nên khi hát Me and You and the Dog Named Boo sẽ tạo tác dụng ngữ âm hợp vận tuyệt hảo theo ngắt đoạn: Me and You…. and the Dog Named Boo.

– Tôi không kiếm tìm sụ hợp vận như Lobo mà chỉ thực hiện cái quyền sử dụng tiếng Anh cho mục đích của riêng tôi, người ở vị trí cao hơn tất cả mọi người ở Việt Nam (dù là người Việt Nam hay người nước ngoài làm việc ở Việt Nam) về tiếng Anh nên có cái đặc quyền này, và nếu văn phạm tiếng Anh chưa ai giải thích thì tôi sẽ lấy làm vinh dự giải thích rằng: khi tôi viết I and Professor Le Văn Diem, tức theo kiểu I and You, thì tôi ngụ ý rằng từ I trở thành nhân vật chính và duy nhất, với nhân vật You ở vị trí phụ trợ, biến chữ and mang ý tương tự của together with cho một tình huống tương tự của nhu cầu 1 âm tiết của and mà không là 4 âm tiết của together with hoặc thậm chí chỉ một từ with với chỉ một âm tiết tôi cũng không muốn sử dụng vì with thuộc âm vực lên cao rất chỏi với các âm trước và/hay sau nó, trong khi and lại là một trầm bình thanh, đáp ứng dụng ý vần điệu cho thơ ca hoặc âm điệu cho văn xuôi. Nói đơn giản hơn, bạn dùng đúng văn phạm tiếng Anh thí dụ như You and I will go to the market để nói lên một sự thật là cả hai cùng đi chợ, nhưng khi tôi viết I and you will go to the market, tôi muốn nói tôi buộc bạn là cấp dưới của tôi phải đi với tôi ra chợ và khi phát âm tôi sẽ nhấn mạnh chữ and you cùng với việc chỉ ngón tay vào bạn. Khi tôi viết Professor Le Van Diem and I, ý nghĩa sẽ là thực sự Thầy Diệm và tôi cùng nhau thực hiện một công việc gì đó, chẳng hạn cùng đóng góp tư liệu và hiệu đính cho giáo trình văn học Anh Mỹ cho Đại Học Boston. Nhưng khi tôi viết I and Mr Nguyen Quang To, tôi và Thầy Tô là hai cá nhân riêng biệt vì chỉ có tôi nói về Thầy chứ không phải cùng Thầy cùng nói về nhau.

Nói tóm lại, trước khi bắt đầu cuộc chinh phục tiếng Anh để nói giỏi tiếng Anh và viết giỏi tiếng Anh, bạn cần quan tâm đến những điều sau:

1- Đừng dùng tiếng Việt viết phê phán chất lượng tiếng Anh của tôi trong khi bản thân bạn chỉ mới nắm phần sơ đẳng của tiếng Anh. Muốn biết bạn đã vượt qua phần sơ đẳng hay chưa, khi “phát hiện” điều mà bạn cho là “kém” của tôi, bạn hãy viết một bức thư thật dài bằng tiếng Anh để gởi tôi, trong thư bạn nêu rõ điểm hay các điểm sai, đưa ra các dẫn chứng hàn lâm mà bạn có để chứng minh đó đúng là các điểm sai, và bạn đề nghị các sửa sai. Khi bạn nhận được thư cảm ơn của tôi – dù tôi rối rít cảm ơn bạn hay trình bày bạn rõ các dụng ý của tôi – bạn sẽ biết chắc chắn rằng bạn đã giỏi tiếng Anh.

2- Đừng bắt chước việc phá cách của các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, và những người giỏi tiếng Anh, vì đó là quyền lực của riêng họ. Bạn là người đi học, và bài làm của bạn phải đúng theo đáp án; thậm chí bạn có là giảng viên dạy tiếng Anh kiệt xuất, bạn cũng không có quyền phá cách. Phá cách là phạm vi privacy (riêng tư), ego (cái tôi), meditation (hành trạng tư duy), creation (sáng tạo), experience (trải nghiệm), và talent (tài năng) mà bạn chưa chắc đã có đủ.

3- Đừng bắt chước việc tạo từ của các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, và những người giỏi tiếng Anh, vì đó là quyền lực của riêng họ. Bạn là người đi học, và bài làm của bạn phải đúng theo đáp án; thậm chí bạn có là giảng viên dạy tiếng Anh kiệt xuất, bạn cũng không có quyền tạo từ. Tạo từ là phạm vi privacy (riêng tư), ego (cái tôi), meditation (hành trạng tư duy), creation (sáng tạo), experience (trải nghiệm), và talent (tài năng). Tạo từ cũng là quyền của giới học thuật và truyền thông, chẳng hạn Liên Xô chê từ astronaut (phi hành gia) của Mỹ thuộc đẳng cấp thấp (vì astro có ngữ nguyên tiếng Ai Cập nghĩa là ngôi sao) nên chế ra từ mới cosmonaut (nhà du hành vũ trụ) cho “vĩ đại hơn (chơi chữ: tạo từ có cùng ngữ nguyên Ai Cập, nhưng cosmo nghĩa vũ trụ nên bao trùm hơn và rộng lớn vĩ đại hơn astro); hay vào những năm đầu sau Giải Phóng Miền Nam, các đài phát thanh tiếng Việt và tiếng Anh của Mỹ và Anh chế tạo ra từ mới tiếng Việt “thuyền nhân” và “boat people” gọi những người vượt biên, vì việc vượt biên không mang ý nghĩa chính trị do không có bằng chứng về các ngược đãi nên không thể dùng từ refugee tức người tỵ nạn đã dùng thời Thế Chiến II.

Khi bạn biết bạn đang ở bậc thang nào của tiếng Anh và biết giữ theo ba lời khuyên trên, xem như bạn đã chuẩn bị kỹ càng cho tư thế một chiến binh chinh phạt và chinh phục ngôn ngữ ấy vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời bạn tham khảo thêm:

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Các bài cùng chủ đề tiếng Anh:

1) Hoàng Hữu Phước. 07-12-2011. Phường có đúng là Ward? http://www.emotino.com/bai-viet/19422/phuong-co-dung-la-ward

2) Hoàng Hữu Phước. 13-5-2011. Kinh Nghiệm Về Việc Học Ngoại Ngữ . http://www.emotino.com/bai-viet/19112/kinh-nghiem-ve-viec-hoc-ngoai-ngu

3) Hoàng Hữu Phước. 20-6-2011. Chia Sẻ Kinh Nghiệm Về “Học Giỏi” Tiếng Anh. http://www.emotino.com/bai-viet/19153/chia-se-kinh-nghiem-ve-hoc-gioi-tieng-anh

4) Hoàng Hữu Phước. 14-04-2011. Don’t Ever Talk Nonsense against vietnam, You Expatriate Businessmen. http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen

5) Hoàng Hữu Phước. 05-06-2010. Tips for Excellent Learners of Excellent English. http://www.emotino.com/bai-viet/18651/tips-for-excellent-learners-of-english

6) Hoàng Hữu Phước. 03-06-2010. The Three Important P’s in a Seven-Sentence Writing. http://www.emotino.com/bai-viet/18642/the-three-important-ps-in-a-sevensentence-writing

7) Hoàng Hữu Phước. 08-03-2010. Kịch: Thorns of Life. http://www.emotino.com/bai-viet/18458/kich-thorns-of-life

8) Hoàng Hữu Phước. 17-9-2008. Anh Văn Bằng A, B, C Hay Cử Nhân? http://www.emotino.com/bai-viet/17025/anh-van-bang-a-b-c-hay-cu-nhan

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Em gái tôi và Helmut Kohl, Tôi và Sigurd Schmitt

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-01-2016

ái Nghe đâu có một thằng Đức phụ trách cái gọi là “nhân quyền” ở Đại Sứ Quán Đức lên tiếng yêu cầu Việt Nam phải thả ngay một ai đó là công dân Việt Nam bị bắt theo các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam.

Thằng ngoại giao Đức mất dạy này làm tôi nhớ đến hai người Đức đàng hoàng và một Tổng Lãnh Sự Quán Đức bầy hầy chẳng ra chi ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên em gái út của tôi trở thành giảng viên Đức Ngữ của trường đại học mà tiền thân là Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh khi chỉ mới học năm thứ hai do năng khiếu ngoại ngữ của em ấy. Là sinh viên, nhưng khi nghe tin bọn quốc xã đầu trọc kỳ thị chủng tộc ở Đức đã ra tay sát hại và đánh đập một số Việt Kiều, em tôi đã gởi thư cho Thủ Tướng Đức là Helmut Kohl để lên tiếng phản đối, yêu cầu Ông là Thủ Tướng một nước từng là cái nôi của nền triết học tư duy toàn nhân loại không được để cho những việc tồi tệ phi nhân như thế xảy ra và phải bảo vệ các công dân nhập cư trong đó có cộng đồng người Việt. Sau đó, Tổng Lảnh Sự Quán Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm đến ngôi nhà nhỏ cũ kỹ của Ba Má tôi ở Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, để trao “công hàm…cá nhân”. Đó là thư tay của Thủ Tướng Helmut Kohl, mà do em tôi giữ như báu vật trong tàng thư cá nhân nên tôi không thể có bản chụp để post lên đây hầu chứng tỏ tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Trong thư, Ông nói Ông không thể tưởng tượng rằng có thể nhận được một bức thư được viết bằng tiếng Đức tuyệt hảo như thế từ một người nước ngoài, rằng người nước ngoài ấy chỉ là một nữ sinh viên Đức Ngữ, rằng người nữ sinh viên ấy làm Ông xúc động vì lòng yêu giống nòi dân tộc của Cô dù Ông biết rằng những người Đức gốc Việt bị đánh đạp dã man đó chẳng ai ưa thích gì đất nước Việt Nam của Cô, rằng Ông cảm kích trước đánh giá cao của Cô đối với kho tàng trí tuệ của dân tộc Đức, và rằng Ông đã lịnh cho Đại Sứ Quán Đức ở Hà Nội phải đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào của em gái út của tôi, kể cả khi đó là yêu cầu sang Đức thăm Ông. Và khi Thủ Tướng Helmut Kohl sang thăm Thành phố Hồ Chí Minh, em gái tôi nhận được thư mời dự yến tiệc tại New World Hotel, trở thành “dân đen” duy nhất tại bửa tiệc chỉ có các quan chức Bộ Ngoại Giao và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Hôm đó, tôi chở em tôi bằng xe hai bánh và phải ngừng lại do cảnh sát chận đường toàn khu vực trong công tác bảo vệ yếu nhân, nên em tôi phải đi bộ một đoạn đường Lê Lai dài để đến New World Hotel vốn là nơi duy nhất đẳng cấp 5 sao vào thời điểm đó. Đây là sự việc mà báo chí hoàn toàn không biết đến. Cũng như việc tôi được nhà giáo lừng danh Nguyễn Quang Tô của Việt Nam Cộng Hòa viết khen tặng hai chữ đức tài mà tôi giữ kỹ như báu vật, chỉ khi bị bọn mất dạy tấn công bôi nhọ trên mạng, tôi mới buộc lòng phải trưng ra trên blog, nay trước sự mất dạy của thằng Đức ở Đại Sứ Quán Đức tôi mới phải kể lại chuyện này của em gái tôi. Nếu Đại Sứ Đức có ngờ vực về tính chính xác của thông tin trên, hãy kiểm tra lại tàng thư của Đại Sứ Quán để kiếm tìm “công hàm cá nhân” ấy của Thủ Tướng Helmut Kohl để biết thế nào là lễ độ, ngưng ngay mấy cái việc bá láp cứ như thể Đức là cường quốc muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì cứ việc có cái quyền đó vậy!

Ngoài ra, các nhân viên Đại Sứ Quán Đức tại Việt Nam nếu có khả năng Đức Ngữ tốt, hãy dịch bài sau đây ra tiếng Đức cho các quan chức Đại Sứ Quán biết là tôi, anh ruột của cô gái mà Helmut Kohl viết thư cảm ơn, đã từng mắng Tổng Lãnh Sự Quán Đức ở Thành phố Hồ Chí Minh ra sao.

Thêm Một Câu Chuyện Có Thật: Nhà Đầu Tư Tài Chính Sigurd Schmitt Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm 1999 lúc đang làm giám đốc điều hành một công ty Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi hay đến Oasis Bar ở Super Bowl gần Sân bay Tân Sơn Nhất nhâm nhi thứ rượu tôi thích nhất trên đời là Vodka Nga với mấy doanh nhân Tây Âu (chủ nhân bar là một người Ý có chiếc bụng chứa đầy rượu bia). Tại đấy, tôi tình cờ quen Tiến Sĩ Sigurd Schmitt, người Đức, 66 tuổi, là giám đốc một công ty chứng khoán tại Thái Lan, có nhà và văn phòng tại số 337bis/12 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 13, Quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh (nay không rõ ở đâu, sau khi khu vực này được mở rộng theo đường Cộng Hòa quận Tân Bình). Và câu chuyện thương tâm có thật về Sigurd Schmitt, người không gặp đúng thời cơ, như sau.

Sigurd cô đơn vò võ một mình trên trái đất này, không còn ai thân thích. Đầu những năm 1990 nghe tin Việt Nam bắt đầu xây dựng thị trường chứng khoán, Sigurd vội vàng bán công ty của mình ở Bang Kok và vào Việt Nam, muốn trở thành nhà tài chính đầu tiên ngự trị thị trường chứng khoán tại đây với sự lão luyện, tinh tường, kinh nghiệm, và quá trình kinh doanh tài chính thành công ở Thái Lan. Ông đã cầu kỳ xây nhà tại địa chỉ trên với tất cả trang thiết bị hiện đại nhất mà thời ấy người Việt chỉ có thể thấy trên phim ảnh Holywood mà thôi. Lúc trên xe ô-tô đón tôi về nhà Ông dùng bửa tối, Ông dùng remote control từ ngoài đầu ngõ để mở cửa garage! Trong nhà Ông, mọi thứ đều bình thường, lạnh lùng, đơn điệu, không góc cạnh phá cách hay hoa văn, nhưng thật ngạc nhiên khi qua hồ sơ giao hàng kèm bản vẽ thiết kế, tôi tá hỏa tam tinh biết rằng chiếc ghế gỗ trông rất bình thường này là của một công ty tầm cỡ của Ý chế tác với giá CIF HCMC là 12.700 USD, chiếc bàn ăn nhỏ cũng bình thường nọ là của Tây Ban Nha với giá rẻ mạt 8.000 USD, còn toàn bộ gạch ống xây nhà được chở qua từ …Pháp, vân vân và vân vân. Sigurd cho tôi xem hồ sơ shipment của vật liệu và trang bị toàn ngôi nhà vì Ông đang kỳ vọng tôi, một … “đại gia” (thủa ấy chưa xuất hiện “đại gia” nào cả, trừ mấy tay khét tiếng bịp bợm kiểu Nước Hoa Thanh Hương) có uy tín rất cao trong giới doanh nhân tư bản thời ấy có thể mua lại hoặc giúp bán căn nhà xịn ấy của Ông. Cần nói thêm là Sigurd khi vào Việt Nam mua nhà và xây nhà đã nhờ một người Việt Nam ở Phan Rang đứng tên làm chủ.

Thế nhưng cuộc đời có những khúc quanh không phải lúc nào cũng cho thấy những cảnh tươi tắn xinh đẹp và rực rỡ hơn, và tia sáng cuối đường hầm có khi là bầu trời bao la xanh đẹp nhưng chỗ đứng của người bước ra từ đường hầm tăm tối lại là vực sâu muôn trượng, không cây cối, không dây leo, và người ấy chỉ còn lão đão trên mép vực trơn trợt rêu phủ phong sương không còn đuờng quay lại rồi rơi xuống vực thẳm của ngàn đời hư mất. Thị trường chứng khoán tại Việt Nam sau nhiều năm vẫn chưa thấy hình thành. Ông ăn dần vào tài sản đang có. Và nhiều cô gái chân dài (kể cả chân không dài chút nào) cũng giúp Ông thanh lý nhanh gọn cái tài sản kếch sù của Ông, để rồi khi gặp tôi, Ông chỉ còn căn nhà, đồ đạc, chiếc ô-tô, và sự đau yếu triền miên, với nợ nần bủa giăng tứ phía. Tôi phải dùng các mối quan hệ thân quen ra sức liên hệ với cộng đồng Việt Kiều ở San Jose, California, để nhờ đăng báo giới thiệu cho Ông bán nhà lấy tiền trả nợ về Đức chữa bệnh (Ông hút thuốc nhiều quá nên hầu như các huyết khối hiện diện khắp nơi, chẽn tắt sự lưu thông của máu, và Bác Sĩ Ngươn, Trưởng Khoa Thần Kinh Bệnh Viện Chợ Rẫy, nhân vật có tên trong bài Nhân Tài Y Khoa Miền Nam, cho tôi biết trong cuộc giải phẩu lần thứ tám đã phải luồn cắt một mạch máu hai bên hông của Sigurd để kéo nối xuống đầu gối vì đoạn chính giữa nghẹt cứng không còn lưu thông máu được để nuôi đôi chân).

Tôi cũng vì bản tính anh hùng Hoàng Ngọc Ẩn (nhân vật trong tiểu thuyết Châu Về Hợp Phố của Phú Đức, thời Việt Nam Cộng Hòa) muốn cứu Ông mà tìm đến một nữ tỷ phú ở đường Kỳ Đồng, Quận 3, TP.HCM, để dùng tài hùng biện cùng tính cách có nơi Phan An-Tống Ngọc của thời trung đại Trung Hoa lay động trái tim cứng rắn của người phụ nữ 40 tuổi ấy, cuối cùng trở nên nhân hậu đồng ý đình lại việc khởi kiện, cho Sigurd có thời gian 3 tháng bán nhà. Trở về nhà mệt nhoài vì công việc và vì buổi tối trò chuyện quá lâu với nữ tỷ phú địa ốc này, tôi lại nhận phone của anh Nhi là tài xế của Sigurd báo tin vừa chở Sigurd trở lại Chợ Rẫy và Sigurd đang thều thào muốn gặp tôi để giao phó chuyện cơ mật. Vì đã bao lần vào bệnh viện thăm Sigurd, tôi quá quen thuộc với bệnh tình của Sigurd (cấp cứu rồi ra viện chứ chẳng thể nặng hơn) nên bảo Nhi là ngày mai tôi sẽ đến. Nhưng vào lúc nửa đêm, Nhi phone báo tin Sigurd đã mất. Tôi vội đi taxi đến ngay nhà xác bệnh viện Chợ Rẫy trên đường Thuận Kiều. Nhìn hai nhân viên trung thành là Nhi và cô thư ký khóc lóc hôn lên gương mặt người chết giá lạnh trắng bệt hốc hác trong hộc tủ đựng xác, tôi vừa thấy rùng mình vừa thương cảm. Tôi gởi hai người một số tiền để họ xoay sở sống tạm trong thời gian vài tháng mất việc sắp tới, và một số tiền khác lo tống táng ma chay hoả thiêu cho Sigurd. Tôi không quên chi tiền cho người quản lý nhà xác, căn dặn Ông phải nhang đèn hoa quả giấy tiền vàng bạc cung phụng đầy đủ cho người quá cố, rồi ra về. Tôi phone ngay trong đêm đến Tổng Lãnh Sự Quán Đức nhưng không ai bắt máy (tất nhiên rồi), còn thư thoại thì xổ một tràng tiếng Đức. Tôi phải viết thông tin bằng tiếng Anh (kèm theo lời dạy nghiêm khắc đầy giận dữ bảo họ đừng có làm tàng đem cái chủng tộc thượng đẳng Arien vớ vẩn của họ ra hù thiên hạ mà phải biết nhập gia tùy tục, phải có dùng tiếng Việt, hoặc chí ít phải có tiếng Anh kèm theo để hướng dẫn thư thoại) rồi fax cho họ từ nhà của tôi.

Tôi đã không đưa Sigurd đến lò hoả táng vì tôi không thích kiểu bày tỏ cảm tình rơi nước mắt ở chốn đông người, nhất là gặp lại những bộ mặt lũ ký sinh mặc váy ngắn ngủn y như có áo không quần từng hay bâu vào bàn ăn của tôi và Sigurd ở Oasis Bar để được ăn uống nhồm nhoàm miễn phí và vòi vĩnh tiền của Sigurd để chạy bộ qua cửa hàng thời trang kế đó mua sắm (toàn đồ nam giới chắc để tặng mấy tên “bồ” trẻ). Vài ngày sau, anh Nhi đến nhà tôi cho hay Tổng Lãnh Sự Quán Đức khi nhận fax báo tin của tôi đã đổ quân ngay lập tức đến nhà Sigurd lấy tivi, máy móc, trang bị nhà bếp như máy rửa chén, đồ đạc, v.v. và đòi giấy chủ quyền nhà. Vì ở Việt Nam người nước ngoài không được làm chủ bất động sản, nên Sigurd có nhờ một người tên Thanh ở Phan Rang đứng tên làm chủ, do đó Tổng Lãnh Sự Quán Đức không làm gì được, chỉ có thể chở đồ đi không phải để trao lại cho người nhà vì Sigurd chẳng có ai thân thích trên đời. Họ cũng không …dại dột hỏi gì về chi phí an táng, dù họ biết rõ là công dân Đức Sigurd Schmitt qua đời mà chỉ có tôi là công dân Việt Nam cưu mang hậu sự cho Ông. Anh Nhi trao cho tôi chiếc đồng hồ Rolex nạm ngọc và chiếc máy ghi âm nhỏ xíu Sigurd đã trao cho Nhi nhờ đưa cho tôi vì tôi đã không đến gặp Ông. Tôi bảo Nhi và cô thư ký hãy bán đi chiếc đồng hồ giá trị cả gia tài ấy rồi hai người chia nhau để dùng trong thời gian đi tìm công việc mới. Còn chiếc máy ghi âm thì để tôi nghe xem ông dặn dò gì trong phút lâm chung, nhưng tiếc là tiếng Anh của Ông bình thường nghe đã khó, nay lại thều thào, khản đặc, và thở thoi thóp thì tôi chịu thua. Tôi bảo anh Nhi bán luôn chiếc máy, nhưng anh bảo Sigurd trăn trối với cô thư ký muốn tặng tài sản gì đó cho tôi vì tôi đã là người bạn mà Ông tiếc đã gặp quá muộn màng trong cuộc sống này song định mạng cản ngăn Ông không còn kịp làm gì nữa. Thế nên hai người trung tín này muốn trao lại tôi hai vật duy nhất trên mà họ còn cất giữ trước khi thấy quân đoàn dũng mãnh của Tổng Lãnh Sự Quán Đức tiến đến. Do tôi quyết tặng lại họ món đồ quá đắt tiền nên họ xin tôi hãy giữ chiếc máy ghi âm để tôi còn chút kỷ vật của người đã khuất. Tôi nghe theo ý của mấy nhân viên này và đến nay vẫn còn giữ chiếc máy ghi âm nhỏ xíu cùng cuộn băng nhỏ xíu có ghi lời thì thào nhỏ xíu của Tiến sĩ Sigurd Schmitt.

Mấy tuần sau là thời gian cực nhọc của tôi vì anh Thanh đứng tên chủ nhà, nghiễm nhiên thành chủ của tòa nhà hàng triệu đô-la đó, liên tục phone hỏi xem tôi có muốn mua căn nhà ấy không vì anh ta sẽ để lại với giá phải chăng. Tất nhiên, tôi từ chối mua, chỉ yêu cầu anh hãy hứa rằng khi bán được nhà sẽ trả nợ (và lãi) cho vị nữ tỷ phú kia để Ông Sigurd không ra đi như một con nợ trốn tránh chủ nợ và để tôi có thể đường hoàng gặp lại người phụ nữ đẹp người đẹp tính đó; đồng thời phải giúp luôn anh Nhi cùng cô thư ký mỗi người vài tháng lương để họ đỡ vất vả vì sau gần mười năm tận tụy làm việc cho Sigurd, họ lại phải đi tìm việc mới nuôi cả gia đình. Hy vọng anh Thanh thừa hưởng một gia sản khổng lồ tự trên trời rơi xuống là do anh là người nhân hậu và tổ tiên của anh thật dồi dào phúc đức, nên anh sẽ làm thêm nhiều điều phước thiện khác cho xã hội.

Thế đấy các bạn, có khi một lúc nào đó định mạng dun rủi cho ta gặp người tri kỷ, và niềm vui nhỏ bé nơi người lại là sự tự hào đã làm hết sức mình để cưu mang một người bất hạnh lạ xa. Hiện anh Nhi (số phone trước đây là 8425554) và cô thư ký đã có việc làm ở hai đơn vị khác nhau. Thỉnh thoảng họ phone hỏi thăm sức khỏe của tôi khi tôi chưa thay các số phone mới, và chỉ những lúc ấy, ông lão người Đức gầy gò nghiêm nghị khắc khổ, tiến sĩ Sigurd Schmitt, con người vô phúc trên đường sự nghiệp đã chọn Việt Nam gởi nắm xương tàn với tư cách một người hữu phúc khi có sự tâm giao với một người bạn Việt Nam đầu tiên và cuối cùng, mới lại là bóng ma hiện về từ quá khứ .

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

*******

Nào có ra chi mấy thằng nhãi ranh mất dạy hậu duệ của Adolf Hitler! Tư cách gì nói về nhân quyền hỡi bọn đã đưa hàng triệu người Do Thái vào lò thiêu và hơi ngạt!

 Hitler (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước: 

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ngành Quản Trị Kinh Doanh

Bài viết thứ 33 của tháng 12-2015

Ngày đăng: 30-12-2015

Trong một bức thư gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi có nêu các định nghĩa cần thiết cho các cấp tú tài, cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ.

Gần đây báo chí có những bài nói về những bất cập trong “đào tạo” thạc sĩ và tiến sĩ, và tất nhiên không những vì các thạc sĩ/tiến sĩ ngoài một số trở thành giảng viên đại học thì đa số không rõ đang ở đâu vì không thấy họ ngự trong tháp ngà hàn lâm tức là dinh thự xây sẵn dành riêng cho họ tự bao đời nay để họ không ngừng nghiên cứu công trình, không ngừng viết lách công trình, không ngừng sáng tạo công trình, không ngừng giải quyết những vấn đề và vấn nạn tri thức hàn lâm có liên quan; mà cũng chẳng hề thấy họ xông xáo trong môi trường chuyên nghiệp thực tế có liên quan để hiện thực hóa lý thuyết có ghi trên bằng cấp thạc sĩ hay tiến sĩ của họ vào đời sống kinh tế thực để cho ra kết quả thực; mà lại còn vì các nhà báo vừa thiếu hiểu biết vừa đa số cực kỳ “từ chương” khi chỉ biết cầm máy ghi âm dí vào mặt các vị – mà nhân dân thì không rõ các vị đang ở đâu, duy chỉ các nhà báo là có số phone để liên lạc – trên để phỏng vấn rồi viết lại thành bài mang tên mình để trả nợ quỷ thần cho tiền lương nhận được mỗi tháng từ tòa soạn; nên các “bất cập” tuy có thật nhưng nghe cứ như một thoáng mơ hồ vớ vẩn, mà vấn đề thì cứ được ghi nhận hoài hoài, viết ra thập kỷ này qua thập kỷ khác trong khi cái sự bất cập thì cứ tồn tại trơ gan cùng tuế nguyệt, phình to phập phù phổng phao phát triển vẩn vơ.

Nói thế cũng tội cho các nhà báo vì Đảng chỉ lo phần của Đảng là tổ chức các lớp lý luận chính trị cao cấp cho các nhà báo, trong khi các nhà báo lại không có được cái chủ động của những người có học thức: tích cực tìm tòi học hỏi những lĩnh vực hàn lâm khác nhau, xông pha vào những lĩnh vực khác nhau mang những vấn đề to tát khác nhau nên không có khả năng viết bài phân tích phê bình tức đẳng cấp cao nhất theo thang bậc của báo chí chuyên nghiệp nước ngoài, mà chỉ có việc thủ cái máy ghi âm thậm chí chụp hình bằng điện thoại rất không chuyên nghiệp, rồi tự tiện cắt xén, đổi thay nội dung thật sự phát biểu của người được phỏng vấn, và đẻ ra cái tít thật giật gân để câu view là xem như đã tác nghiệp xong, tức là đẳng cấp thấp nhất theo bậc thang của báo chí chuyên nghiệp nước ngoài – tất nhiên trừ những phóng viên chiến trường xông pha lửa đạn đồng hành cùng các đoàn quân trực tiếp chiến đấu. Phỏng vấn đúng người mà (a) chỉ có mình do nhanh trí lão luyện tuyệt vời mới nghĩ ra, trong khi các nhà báo đối thủ cạnh tranh mãi mê móc cẩm nang ai cũng có để xem hễ nội dung gì thì phỏng vấn ai, và (b) phỏng vấn mà sau đó không bị người được phỏng vấn cự nự bắt xin lỗi vì đưa tin sai, thì đó đúng là nhà báo kiệt xuất rất hiếm thấy ở Việt Nam. Chính vì công thức hễ liên quan đến Sử thì hỏi nhà sử học Dờ nên môn Sử trên bờ vực triệt tiêu, hễ liên quan đến ẩm thực thì hỏi anh Phờ nên ẩm thực nước nhà chẳng làm nên trò trống gì ngoài việc vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng tồi tệ, hễ liên quan đến cà phê thì hỏi đại gia Trờ, hễ liên quan đến kinh tế tài chính thì hỏi giáo sư tiến sĩ Ngờ nên chẳng bao giờ thấy nội dung trả lời hùng hồn của vị ấy ấy phát huy tác dụng gì trong kinh bang tế thế dù đến tận nhiều năm sau đó, còn hễ liên quan đến giáo dục thì hỏi “thầy” ấy “cô” ấy nên giáo dục Việt Nam cứ phải cần nhiều chục ngàn tỷ cho mỗi lần của vô số lần cải cách mà vẫn chưa thể đạt yêu cầu. Chỉ cần nhà báo hiểu ra một điều giản đơn mang tính chân lý luôn luôn mang dấu ấn sức khỏe tâm thần ổn định rằng muốn biết rõ về giày thì hãy phỏng vấn anh nhân viên KCS kiểm tra chất lượng thay vì phỏng vấn anh giám đốc công ty giày, và rằng nếu trên đường đi tác nghiệp phỏng vấn mà xe SH bị hỏng thì hãy đến anh thợ sửa xe lề đường thay vì điên khùng vác xe đem về nhà đóng thùng gởi phát chuyển nhanh sang hãng Honda bên Nhật kêu nhà khoa học nào đã thiết kế SH ra vá lốp xe, thì coi như chất lượng công việc của nhà báo tự nhiên tăng cao về thực chất, hấp dẫn người đọc, thay vì để họ cứ mãi nhìn thấy công thức chán nhàm hễ hễ hễ hễ như đã nói ở trên.

Cũng vì vấn nạn trên của báo chí, tôi đành phải viết bài này để đưa sự việc cụ thể liên quan đến trình độ các vị học cao đối với kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến ngành nghề mà các vị ấy đã được đào tạo và đang tham gia đào tạo sau khi đã được đào tạo, mà mục đích nhằm cảnh báo các đơn vị Nhà Nước hay có thói quen thay vì đưa cho các nhà tư vấn chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn, lại mặc định giao cho các trường đại học nghiên cứu những đề tài đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn thương trường chứ không phải kinh nghiệm lý luận hay kinh nghiệm giảng dạy lý‎ thuyết.

Thí dụ có thật sau đây (đã thay đổi tên thành XYZ và ABC vì lý do bảo mật thông tin khách hàng và giữ uy tín cho trường đại học) cho thấy tổng công ty XYZ của Việt Nam có nhu cầu đào tạo về Quản Trị Quy Trình cho các chức sắc nên gởi đơn hàng đến trường đại học công lập ABC rất lớn của Việt Nam, và khi nhận được bản chào giá có ghi nội dung phác thảo của chương trình như sau của các giáo sư tiến sĩ, XYZ đã tá hỏa tam tinh:

Nguyên văn dàn bài trong bản chào của Đại Học ABC, Môn: Quản Trị Quy Trình (trong bài viết này không ghi lại các chi tiết không cần thiết về số tiết cho mối mục như đã thực ghi trong bản chào; phần ghi chú tiếng Anh là do Đại Học ABC thực ghi trong bản chào, dù chẳng biết tại sao phải ghi chú như thế):

 TrinhDo1TrinhDo2

Khi người của Công ty XYZ đến đưa tác giả bài viết này xem bản Outline kỳ dị đó do các giáo sư của Đại học ABC biên soạn, và đề nghị tác giả bài viết gởi một bản chào khác cung cấp chương trình đào tạo cho cùng chủ đề, tác giả đã ngay lập tức cho họ các nhận xét sau:

a- Hình thức bản chào không chuyên nghiệp do hỗn độn vì không có mục lục, không đánh số thứ tự mà chỉ gạch đầu dòng mỗi khi sang hàng cho mỗi mục nội dung, thậm chí sử dụng dấu chấm cho mỗi tiểu mục.

b- Nội dung trên của Đại Học ABC không phù hợp vì lồng ghép nội dung “tư vấn” (như: cải tiến dịch vụ Công ty XYZ) trong khi tư vấn thuộc dịch vụ khác, có tính phí riêng (thí dụ công ty nào đó về quản lý chất lượng sẽ tư vấn ISO theo phí của công ty ấy, còn công ty nào đó chuyên tư vấn cải tiến dịch vụ nhằm phát triển kinh doanh sẽ thu theo giá sàn của họ), không thể cung ứng miễn phí kiểu “cấy ghép” vào chương trình đào tạo nhưng lại qua phần học viên nêu phương hướng cải tiến, nghĩa là chính học viên “tư vấn” còn người giảng sẽ “tư vấn” xem “tư vấn” nào của học viên là khả thi một cách đầy hí hước.

c- Dàn bài phân bổ thời gian cố định bao nhiêu phút cho mỗi tiết và bao nhiêu tiết cho mỗi mục nên chẳng khác gì giáo án bậc tiểu-trung học.

Sau đó một tuần, tác giả bài viết này đã gởi bản chào chi tiết có nội dung sau đối với dàn bài:

Nguyên văn dàn bài trong bản chào của tác giả bài viết này cho Chuyên Đề: Quản Trị Quy Trình Chuyên Nghiệp Và Hiệu Quả

 TrinhDo3

Thí dụ trên cho thấy trong thực tế xã hội ở Việt Nam đang tồn tại hai vấn đề nghiêm trọng của (a) thực lực thực chất về trình độ một người có học vị cao lẽ ra phải quen thuộc với các yêu cầu dứt khoát phải có về mặt hình thức của một luận án hàn lâm thì lại dường như chẳng biết gì cả nên không những trong bản chào trên mà còn trong các thông báo nội bộ tại các đại học luôn có cách dùng dấu gạch đầu dòng và dấu chấm cho mỗi mục được nêu; và (b) thực lực thực chất về trình độ một người có học vị cao lại ít khi chứa bất kỳ một nội hàm nào rằng người ấy có kinh nghiệm thực tế cho dù bằng cấp có thể do trường đại học uy tín của nước ngoài cấp phát. Dựa theo nội dung các giải thích trong thư gởi Thủ tướng, học vị vừa cho biết mục đích của người học tiến sĩ là nghiên cứu để phục vụ các chuỗi nghiên cứu khác tiếp theo, dài lâu, vô hạn; vừa khẳng định học vị được cấp dựa trên kết quả của một công trình duy nhất nghiên cứu sâu một đề tài nhỏ cụ thể của một tổng thể, do đó tiến sĩ không thể là người chấm dứt sự nghiên cứu sau khi nắm trong tay văn bằng để rồi chỉ làm quản lý trường đại học và/hoặc chỉ dạy học, đồng thời không thể là người được tự động mặc định có hiểu biết về thực tế thực hành. Một giáo sư đại học là thạc sĩ quản trị kinh doanh hay tiến sĩ quản trị kinh doanh hoàn toàn không thể có hiểu biết và kinh nghiệm thực tế quản trị doanh nghiệp – nhất là quản trị cấp cao – nếu chưa từng làm lãnh đạo phòng ban hay cơ quan doanh nghiệp nên khó thể giảng dạy hiệu quả về các case study nước ngoài trên tương quan so sánh với sự việc cụ thể ở Việt Nam mà chính mình đã từng kinh qua vai trò CEO hay giám đốc hoặc quản lý cấp cao thật sự, hay giải đáp các câu hỏi của sinh viên về các vấn đề gặp phải trong kinh doanh hay đối với con người tức nhân sự ở doanh nghiệp cùng các đề xuất xử lý tình huống, thậm chí không thể hướng dẫn sinh viên trước và trong các kỳ thực tập mà sinh viên sẽ phải trải qua tại các doanh nghiệp, v.v. Điều mà các trường đại học ở Việt Nam nên đẩy mạnh áp dụng là phải luôn mời giảng viên từ những người có kinh nghiệm thực tế bất kể người ấy có học vị hoặc chẳng có học vị nào cả. Nếu sai lầm mãi mặc định rằng tất cả phải do giáo sư cơ hữu giảng dạy, rằng tiến sĩ đương nhiên phải biết tất cả, rằng tiến sĩ đương nhiên phải ở trình độ cao nhất nên đương nhiên biết tất tần tật về thực tế thực hành và có thể giải đáp mọi chất vấn của sinh viên, v.v., thì hậu quả sẽ luôn là sinh viên tốt nghiệp với hai cái không: (a) không xem trọng trình độ “thầy/cô” từ đó chẳng bao giờ “mang ơn thầy/cô” ngay sau khi tốt nghiệp, và (b) không đạt yêu cầu về “kinh nghiệm” từ đó mãi thở than không đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển dụng của các doanh nghiệp nước ngoài.

Ngày nào chữ “kinh nghiệm” từ thực tế làm việc của bản thân (first-hand knowledge) không được yêu cầu phải có nơi thầy/cô thạc sĩ/tiến sĩ lên lớp vốn chỉ truyền thụ cái “kinh nghiệm thực tế của người khác ở nước khác” (second-hand knowledge) như sẵn in trong sách vở nước ngoài hay sẵn cung cấp bởi “Quý Ông” Google, nhưng việc mời đội ngũ giảng dạy phi-cơ-hữu phi-học-vị từ thực tế công việc lại không hề được quan tâm thì sinh viên tốt nghiệp vẫn mãi là “tay mơ” khó thể kiếm được việc làm, dễ trở thành gánh nặng ngay cả đối với chính sách xã hội của quốc gia.

Việc truyền thụ kinh nghiệm thực tế đối với kinh doanh và quản trị kinh doanh cùng quản trị doanh nghiệp, v.v., không thể được thực hiện duy chỉ bởi các thầy/cô thạc sĩ/tiến sĩ cơ hữu trong các trường đại học vì các vị này đương nhiên thiếu kinh nghiệm thực tế đối với kinh doanh và quản trị kinh doanh cùng quản trị doanh nghiệp vốn chỉ có nơi người có thực tế làm các việc đó.

Tổng công ty XYZ là một pháp nhân với những điều kiện và môi trường cụ thể, phức tạp, đầy tính cạnh tranh cao, dưới sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia, công ước quốc tế, tình hình thế giới, vấn đề nội địa, kiến trúc thượng tầng vĩ mô hoặc vi mô, chuỗi các tranh chấp, phá sản doanh nghiệp, phát triển kinh doanh trong trì trệ kinh tế nói chung, v.v. và v.v. Ngần ấy thứ hoàn toàn nằm ngoài những gì mà một văn bằng thạc sĩ hay tiến sĩ có thể đảm bảo có được nơi sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tế của người sở hữu văn bằng. Và do đó, các công ty như XYZ sẽ nhận được những bản chào chương trình đào tạo yếu kém kỳ lạ như của trường đại học ABC đơn giản vì đó là yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp chứ không nằm trong danh mục những đề tài được giảng dạy chính thức ở trường đại học; và khi không có sẵn tài liệu giáo trình đúc rút từ kinh nghiệm thực tế thực tiễn thực chất và thực sự thì sự sáng tạo sẽ chỉ đưa đến những kết quả nhảy múa thăng hoa đầy vui vẻ với bao hậu quả và hậu hoạn mà thôi.

Tất nhiên, không phải tất cả các thạc sĩ/tiến sĩ đều được đánh đồng như nhau, phải đáp ứng các yêu cầu như nhau như kể trên đối với thạc sĩ/tiến sĩ quản trị kinh doanh, vì còn tùy thuộc vào chuyên ngành của vị thạc sĩ/tiến sĩ đó.

Tiến sĩ thiên văn, tiến sĩ vật lý, tiến sĩ hóa học, tiến sĩ cổ sinh vật học, v.v., của Việt Nam chỉ cần một điều tiên quyết chứng tỏ mình thực sự là tiến sĩ: có các công trình nghiên cứu sáng tạo đăng trên các tạp chí khoa học nước ngoài một cách thường xuyên hoặc có những công trình nổi bật thế giới phải biết đến trước khi ngưng nghiên cứu để làm viện trưởng các viện, nếu không thì chắc chắn chỉ là tiến sĩ giấy.

Thạc sĩ/tiến sĩ Việt Nam đang dạy Anh Văn tại các trường đại học ở Việt Nam chỉ cần một điều tiên quyết: tạo trang blog cá nhân để viết bài bằng tiếng Anh, nếu không chắc chắn chỉ là thạc sĩ/tiến sĩ giấy mà sinh viên không bao giờ nể trọng. Cần nhớ rằng kể cả khi có tham gia dịch sách hoặc tự điển, hoặc viết sách văn phạm tiếng Anh thì cũng không được tính đến như trình độ thạc sĩ/tiến sĩ do sách vở văn phạm thì thừa mứa ngập tràn trên thế giới mà người soạn chỉ đơn thuần lập lại chứ không có gì mang tính sáng tạo, còn dịch thuật là công việc mà không bao giờ có ai phải miệt mài đi lấy bằng tiến sĩ để được hành nghề dịch thuật cả, nhất là dịch thuật không cho phép sáng tạo nội dung.

Nếu ở cơ quan bạn có mấy vị Em-Bi-Ê tức MBA tức thạc sĩ quản trị kinh doanh giữ chức trưởng phòng trở lên mà chẳng viết gì cho bản tin, tập san của cơ quan, hay trên blog cá nhân của người đó, thì tôi bảo đảm với bạn một điều chắc chắn là người ấy là chuyên gia copy bài và hưởng điểm của người khác do tất cả các chương trình Em-Bi-Ê (kể cả MIB tức thạc sĩ kinh doanh quốc tế) đều theo cung cách học nhóm, thảo luận nhóm, một người thuyết trình lấy điểm cho cả nhóm, và một người viết tiểu luận lấy điểm cho cả nhóm, tất nhiên trên nền lý thuyết mặc định không cần nhà trường giám sát kiểm tra: đã là bài thuyết trình thì ắt là công trình tập thể nhóm, đã là tiểu luận thì ắt là công sức đóng góp chung của cả nhóm.

Đã thực sự theo đuổi miệt mài thật sự cho một đẳng cấp thạc sĩ/tiến sĩ thật sự, người thực sự sẽ bị mê hoặc hoàn toàn bởi tiến trình nghiên cứu và viết lách đến độ nghiên cứu và viết lách trở thành thói quen, hơi thở, sẽ không bao giờ thực sự rời xa người thực sự ấy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

Có một thực tế kỳ lạ ở các trường đại học và ngay cả các cơ quan làm luật của Quốc hội cũng như các cơ quan Chinh phủ là đã có cách đánh số thứ tự rất kỳ lạ, phản khoa học, trong các giáo trình, công văn, thông báo, v.v., chẳng hạn như (a) dùng dấu gạch ngang, dấu chấm, và dấu hoa thị, thay vì dùng các ký ‎hiệu chữ cái in như A B C, chữ cái thường như a b c, số La Mã in như I II III IV, số La Mã thường như i ii iii iv, số đếm như 1 2 3 4, v.v.; (b) khóa luận và văn bản pháp quy tiếng Việt lại không dùng mẫu tự tiếng Anh cho phù hợp cho tham khảo quốc tế lại sử dụng mẫu tự tiếng Việt làm k‎ý hiệu đánh số thứ tự như a b c d đ e nhưng không rõ vì sao lại loại bỏ ă â ê ô ơ ư và cũng không cần biết khi chuyển ngữ sang tiếng Anh thì đ sẽ biến thành gì; và (c) các đại học không quan tâm đến chuẩn mực reference tức thư mục tham khảo ở cuối mỗi công trình nên sinh viên Việt Nam trong luận văn tốt nghiệp vẫn theo kiểu kỳ lạ là viết các chức danh và chức vụ của các vị “tiến sĩ” Việt Nam nào có “công trình” mà sinh viên trích dẫn từ đó, tức kiểu cách không thể giúp sinh viên tốt nghiệp cử nhân có thể học thạc sĩ nước ngoài mà không phải được dạy lại về reference toàn thế giới hàn lâm nghĩa đã, đang, và luôn áp dụng là chỉ ghi tên họ của tác giả mà mình có sử dụng các trích dẫn. (Người viết bài này đã viết thư phản ảnh nội dung nêu trên đến Chủ tịch Quốc hội năm 2012, đề nghị xem lại cách đánh số thứ tự trong tất cả các đạo luật và văn bản pháp quy do Quốc hội soạn thảo và ban hành).

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 20-8-2014. Thư Gởi Thủ Tướng

Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”

(Bài thứ 6 trong chuỗi bài tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021)

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII

 Baochi1

Tiếp theo mạch 5 bài [1] [2] [3] [4] [5] đã viết phục vụ người dân muốn hiểu thấu đáo về sinh hoạt ở Quốc Hội và đặc biệt phục vụ các công dân – nhất là người ngoài Đảng – có mong muốn tự ra ứng cử Quốc Hội kể từ Khóa XIV (2016-2021) trở đi, hôm nay tôi xin khẩn trương nói tiếp về những vấn đề các bạn cần biết khi phải đối phó với đám nhà báohai mang” vì tính cấp bách của thời gian do đã cận kề kỳ bầu cử.

Như đã viết trong bài Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc[6], tôi đã phát biểu khẳng định rằng “ở Việt Nam, toàn bộ những gì là cơ quan ngôn luận chính thống đều là của Nhà Nước Việt Nam”; rằng “nguồn lực về tài chính, cơ sở hạ tầng và nhân lực do đó đều là của Nhà Nước ban cho, tức là từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách có từ Tam Quốc: tiền kinh doanh sinh lợi của quốc gia, tiền thuế thu của quốc dân, và tiền vay của quốc tế, mà tiền vay của quốc tế cũng được hoàn trả bằng tiền kinh doanh sinh lợi của quốc gia, tiền thuế thu của quốc dân, và tiền vay của quốc tế…khác”; rằng “nhà báo chính thống chính quy chính đạo chính danh chính nghĩa của Việt Nam phải nói về những sự thật có tác dụng làm đẹp đời sống, đẹp môi trường sống, vinh danh đạo đức – danh dự – trách nhiệm, phổ biến phổ quát phổ cập nhân rộng nhân bản nhân văn nhân đạo để xã hội tốt hơn nhờ con người tốt hơn giúp đất nước mạnh hơn chống chọi lại tất cả các thế lực thù địch một cách hiệu quả hơn bất kể nó đến từ đâu, từ quân thù xâm lược, từ bọn phá hoại từ hải ngoại, từ kẻ chống lại chế độ của đất nước này, từ bọn bá láp bêu xấu đất nước này, từ đám tham nhũng hối lộ làm ô danh đất nước này, từ lũ lưu manh đội lốt tôn giáo – nhân sĩ – trí thức – nhân quyền – tự do – dân chủ – lương tâm để bôi nhọ đất nước này; và rằng “nhà báo Việt Nam đương nhiên phải là những nhà báo chính thống chính quy chính đạo chính danh chính nghĩa, …không phải là những chuyên gia sales giúp tòa soạn mở rộng phụ trang quảng cáo, gia tăng doanh thu quảng cáo, gia tăng 3D tức chiều rộng chiều sâu và chiều cao của duy chỉ tòa nhà tòa soạn chứ không gia tăng chiều rộng chiều sâu và chiều cao của tầm vóc uy thế uy danh của tờ báo đối với toàn dân và toàn cầu.”

Lý tưởng luôn là vậy.

Thực tế luôn ngược lại.

Bọn nhà báo hai mang đã phát triển thứ tư duy nha phiến rằng báo chí là thứ quyền lực tối cao tức cái thứ mà thế giới truyền thông tư bản lập thành đế chế mafia-like khuynh đảo cả chính quyền – bất kể thể chế chính trị nào, tức kể cả chế độ cộng sản – và chính sách quốc gia – bất kể quốc gia nào, tức kể cả nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tại Kỳ họp Thứ 2 của Quốc Hội Khóa XIII vào tháng 11-2011, thành công vang dội của bài phát biểu của tôi về Luật Biểu Tình [7] ngăn chặn được sự sa đà hấp ta hấp tấp vô nghĩa lý và cực kỳ thiếu thận trọng của đề nghị soạn thảo dự án luật Biểu Tình đã làm hội trường Quốc Hội rền vang tiếng vỗ tay tán thưởng của hơn 490 Đại biểu Quốc hội, một việc chưa hề có tiền lệ bất kỳ tại kỳ họp toàn thể nào của Quốc Hội Việt Nam từ ngày lập quốc, và nhiều nghị sĩ tướng lĩnh đã đến chào tôi theo nghi thức trang trọng của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, bọn hai mang trong các tòa soạn báo chí đã ngay lập tức lờ đi sự hân hoan ngập tràn Quốc Hội trong thời khắc lịch sử ấy để sáng tạo ngay kiểu “giật tít” vu cáo theo kiểu mất dạy côn đồ lưu manh rằng tôi miệt thị nhân dân Việt Nam có “dân trí thấp” [8] trên Báo Tuổi Trẻ (và ngay sau đó là thế giới hai mang tại “một bộ phận không nhỏ chẳng có tí chút đạo đức nghề nghiệp” của một số tờ báo ở Việt Nam cùng hòa âm điền dã theo cái sự thật trá ngụy đớn nhục đê hèn ấy), thậm chí muốn lợi dụng vị thế truyền thông để ra uy nhằm làm tôi bị tống cổ ra khỏi Quốc Hội, kích động hàng trăm tên côn đồ lưu manh phản động gởi đến tôi những tin nhắn đòi giết tôi, đốt nhà tôi, và đánh bom văn phòng của tôi, đe dọa nhân viên của tôi chẳng hạn như:

Baochi1

Tất nhiên, là nghị sĩ, tôi được Nhà Nước bảo vệ triệt để trước các đe dọa có tính chất khủng bố như vậy:

 Baochi3

Tất nhiên, điều đại ngu mà bọn hai mang “mafia-like” trong các tòa soạn báo chí đã phạm phải đó là: đã chưa từng biết Hoàng Hữu Phước là ai ngay tại đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này, người mà trong thời gian làm giảng viên Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong thập niên 80 của Thế kỷ trước đã luôn tuyên bố với hàng ngàn sinh viên của anh ta và sau đó là nhiều trăm nhân viên cùng nhiều ngàn đại lý của anh ta (nhiều người ngang tuổi với các phóng viên Tuổi Trẻ thủa ấy như Lưu Đình Triều hay Nguyễn Phúc Tiến) rằng bất kỳ kẻ nào có mưu đồ bất chính mà lại muốn có thể tranh luận hùng biện tay đôi với tôi – bằng tiếng Việt hay tiếng Anh – muốn thắng được tôi thì phải về nhà đóng cửa học tập miệt mài thêm 60 năm mới có thể thắng được người chính đạo như tôi.

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là bọn hai mang đã sử dụng báo chí để đe dọa sự tồn tại của một nghị sĩ tại cơ quan quyền lực cao nhất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nghĩa là sự thách đố đầy xấc xược và hỗn láo đối với Quốc Hội với hàm ý sức mạnh của báo chí là ở vị trí ngồi trên đầu Quốc Hội. Cái hèn của bọn hai mang là chỉ dám động đến – và chỉ dám tơ tưởng vạch kế hoạch nhằm bãi miễn – một nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, thậm chí ngoài tất cả các hội đoàn, thân cô, thế cô, đơn độc tự ứng cử thậm chí không có đến một chiếc ô dù che nắng che mưa.

Tất nhiên, tôi đã làm thất bại toàn bộ các âm mưu, kế hoạch của bọn nhà báo hai mang, ngay cả khi sau đó chúng còn khuấy động ầm ĩ nhân vụ bài viết loại bút chiến luận của tôi tựa đề Tứ Đại Ngu [9] để quyết tâm bằng mọi cách dùng quyền lực của truyền thông nhằm làm cho tôi phải bị bãi miễn khỏi Quốc Hội. Tôi, nhà hùng biện đã trả lời phỏng vấn gần 4 tiếng đồng hồ với Phố BolsaTV của California[10] theo kiểu ứng khẩu không được cho biết trước các câu hỏi mà không phạm bất kỳ sơ sót nào làm nhục quốc thể cũng như phương hại đến tư cách nghị sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thì không lý do gì tôi lại không làm tất cả bọn nhà báo hai mang phải thất bại, không cho chúng có cơ hội thực hiện bất kỳ mưu đồ bất chính nào trước các tranh luận chính đạo chính nghĩa chính danh chính thức của tôi.

 Baochi4

Lời khuyên thứ nhất: Trước tình hình và trong hoàn cảnh bọn hai mang lúc nhúc khắp nơi từ sự buông lơi quản lý của những người có trách nhiệm, tôi khuyên các bạn phải thận trọng khi trả lời “phỏng vấn” bởi những kẻ thay vì lắng nghe lời phát biểu chính thức của bạn tại nghị trường rồi về viết bài tường thuật hoặc viết nhận xét phê bình chính luận đẳng cấp cao, chúng chỉ tập trung phỏng vấn bạn ngoài hành lang với thiết bị rẻ tiền thô thiển để chầu chực ngóng trông một sự lỡ lời nào đó của bạn để có cái “giật tít câu view” gây sóng gió để triệt tiêu bạn – nếu bạn dám nổi bật hơn nghị sĩ thuộc phe cánh của chúng – hoặc chỉ để có bài viết mà tòa soạn đã giao nhiệm vụ cho chúng.

Lời khuyên thứ hai của tôi là các bạn nên lập blog riêng để nêu chính kiến của các bạn do các bạn hiện vẫn chưa thể trông mong gì được nơi báo chí cả. Hãy xem TV và hãy đọc báo để thấy ống kính và tin tức luôn toàn tập trung vào các nghị sĩ là chức sắc cao cấp của địa phương. Bạn là nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, và tự ứng cử, bạn sẽ chẳng là “cái thá gì” cả, nhất là báo chí truyền thông của Thành phố Hồ Chí Minh phải đưa tin và hình ảnh về các phát biểu của các đảng viên chức sắc cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh để làm cái việc mà đến ngày nay vẫn được cho là “đưa thông tin đến người dân” một cách ngây thơ, ấu trĩ, vì hóa ra chỉ có các nghị sĩ chức sắc cao cấp đó là hoạt động tích cực vì nước vì dân tại Quốc Hội, trong khi rất nhiều khóa Quốc Hội đã qua mà những vị nghị sĩ “chuyên phát biểu tâm huyết vì nước vì dân” – nhất là phát biểu tại nghị trường Quốc Hội vào những hôm có trực tiếp truyền hình – ấy vẫn chưa hề làm cho Việt Nam trở thành cường quốc.

Lời khuyên thứ ba là các bạn phải thể hiện – và nên kiên quyết đòi nắm lấy cho bằng được – cái thực quyền và thực uy[11] của bạn, một nghị sĩ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đối với báo chí truyền thông. Trong loạt 3 bài viết mới đây của tôi về Thầy Nguyễn Quang Tô [12], Cô Trương Tuyết Anh [13], và Thầy Lê Văn Diệm [14], tôi có khẳng định là “sẽ ra sức can ngăn phản đối Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất kỳ sự cất nhắc nào đối với vị cựu Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ”, người đã bị Thành Ủy triệu hồi khẩn cấp về phụ trách tuyên giáo cho Thành Ủy, bỏ báo Tuổi Trẻ như rắn không đầu – và tôi kiên quyết sẽ thực hiện cho bằng được sự can ngăn đó. Thực quyền và thực uy của tôi là: Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ đã dám buông lơi quản lý để đám hai mang lộng hành manh động giật tít câu view ngụy tạo thông tin để ám hại tôi, một nghị sĩ dân cử có thực quyền và thực uy của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà từ lúc còn đương nhiệm cho đến khi bị rút về Thành Ủy vẫn chưa biết tự hối cải lên tiếng chính thức xin lỗi tôi nên dứt khoát phải bị tôi nghiêm trị và trừng trị, không cho y xứng đáng tồn tại trong lĩnh vực “tuyên truyền giáo dục” của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tôi cũng thực hiện quyền uy Đại biểu Quốc hội của tôi trong từ chối trả lời phỏng vấn của báo chí và của Đài Truyền Hình Việt Nam kể từ Kỳ Họp Thứ 8 của Quốc Hội nếu người phỏng vấn không đáp ứng bốn điều kiện của chính tôi: phải là chức sắc cấp cao (để bảo đảm có trách nhiệm cao), phải trên 50 tuổi (để bảo đảm có trình độ tác nghiệp cao), phải có giấy giới thiệu gởi đích danh tôi ghi tên công dân của người phỏng vấn (vì tôi phủ nhận giá trị tất cả các thẻ nhà báo nào chỉ ghi bút danh, tức một thứ practice rất kỳ quái không giống nơi nào khác trên toàn thế giới văn minh tiên tiến, và vì sẽ là một practice kỳ quái phản văn minh nếu người được phỏng vấn không được biết gì về tên của người phỏng vấn cùng nguồn gốc của anh ta hay chị ta), và tôi phải trả lời bằng văn bản dựa theo bảng câu hỏi của người phỏng vấn (để triệt tiêu vấn nạn “vu khống” mà Báo Tuổi Trẻ đã từng dở trò với tôi năm 2011 trong vu cáo tôi nói “dân trí thấp”).

Lời khuyên thứ tư: khi bạn trả lời phỏng vấn của báo chí, bạn phải tổ chức chu đáo với toàn sức mạnh của công cụ vì nếu như nhà báo hai mang có “trang bị tận răng” với nanh vuốt sẵn sàng cắn xé tiêu diệt bạn thì bạn phải “trang bị tận chân lông kẻ tóc” sao cho từng sợi lông và sợi tóc của bạn trở thành những mũi tên thép tiêu diệt bọn chúng:

 Baochi5

Lời khuyên thứ năm và cũng là lời khuyên chót là các bạn không kiến tạo “câu view” cho báo chí, vì chẳng hạn như phát biểu của Đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến của Tỉnh Quảng Trị đã dẫn đến tít sau trên báo Người Cao Tuổi số ra ngày 09-11-2013

 Baochi6

khiến người dân có hiểu biết sẽ ngạc nhiên nghi ngờ Nghị sĩ Lê Như Tiến và nhà báo của Người Cao Tuổi đồng lòng “câu view” cứ như thể bọn tham nhũng rất hùng hậu, rất thực – song, chỉ có hai vị thiên lý nhãn và thiên lý nhĩ này nhìn thấy nghe thấy được cái lực lượng hùng hậu ấy của tập đoàn tham nhũng, nhìn thấy và nghe thấy được cái táo tợn của bọn tham nhũng trong đầy lùi cả tập thể Đại biểu Quốc hội; mà cái kỳ lạ ở đây là khi cả hai vị đều không nêu được tên của bất kỳ một kẻ nào cụ thể trong cái lực lượng tham nhũng hùng hậu cụ thể ấy. Lẽ nào nghị sĩ khiếp sợ tham nhũng và báo chí kinh sợ tham nhũng đến thế ư? Nghị sĩ Lê Như Tiến có bị đẩy lùi thì đó là việc của ông ấy, và ông ấy đừng có lôi cả tập thể nghị sĩ Quốc Hội trong đó có tôi nhập nhằng vào tập thể yếu ớt ươn hèn suy yếu suy tàn của ông ta. Lãnh đạo Tỉnh Quảng Trị đã tuyệt đối đúng khi bảo hãy ngưng nói về tham nhũng, vì (a) nói hoài mà chẳng ai dám đưa ra cái tên nào có thực cả, và vì (b) hãy hành động đi, chứ đừng có lạm dụng cụm từ “chống tham nhũng” để láu cá hú gió gọi mưa tự đánh bóng chính mình. Tiếc là lãnh đạo Tỉnh Quảng Trị không phải Đại biểu Quốc hội.

Tóm lại, báo chí Việt Nam chỉ có một vai trò duy nhất là công cụ tuyên-giáo (tuyên truyền và giáo dục) của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Do đó, báo chí Việt Nam phải phục vụ Đại biểu Quốc hội Việt Nam để phục vụ nhân dân Việt Nam qua phân công giao nhiệm của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Báo chí luôn cần đến sự bảo ban, giáo dục, hướng dẫn, răn dạy của bạn, vì bạn là trí tuệ đại diện cho nhân dân, phục vụ Đảng và phục vụ nhân dân.

Báo chí Việt Nam không phải là mafia và không bao giờ có thứ quyền lực của mafia để tự tung tự tác phạm pháp khi đe dọa hay kích động đe dọa sự an nguy của bạn, nghị sĩ Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Và nếu có ai đó trong giới báo chí mơ tưởng thực hiện mafia-hóa báo chí, hắn ta hay ả ta sẽ bị Đảng trừng trị, thải loại, tiêu diệt – với sự giúp đỡ của các Đại biểu Quốc hội.

Những bài viết khác cho cùng chủ đề tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021 sẽ được khẩn trương đăng tiếp trên blog này (tiếp theo lần lượt là: Bài số 7 Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân, Bài số 8 Công Tác Tiếp Dân, Bài số 9 Công Tác Giám Sát, và Bài số 9 Công Tác Ủy Ban Quốc Hội) để kịp phục vụ sự tham khảo của các bạn cho đợt ứng cử Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021). Kính mời các bạn đón đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.

Nếu có quan tâm đến nội dung tư vấn nào khác có liên quan đến việc ra ứng cử và trở thành Đại biểu Quốc hội Khóa XIV, xin các bạn vui lòng gởi thư về tôi tại MYA 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, để tôi kịp thời viết bài đăng sớm trên blog này. Nếu muốn bảo mật danh tính, xin ghi rõ yêu cầu này trong thư. Nếu muốn bảo mật cả nội dung câu hỏi và danh tính, xin cung cấp địa chỉ email (hoặc số phone Viber) trong thư để nhận được trả lời riêng bằng file PDF hoặc JPG.

Kính chúc các bạn thành công trên bước đường phục vụ quốc gia dân tộc chốn nghị trường Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIV (2016-2021).

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị sĩ Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII (2011-2016)

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-12-2014. Bài Số 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/21/ra-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi/

[2] Hoàng Hữu Phước. 24-12-2014. Bài Số 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/24/phat-bieu-tai-nghi-truong-viet-nam/

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-01-2015. Bài số 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/20/cach-soan-bai-phat-bieu-va-thuc-hien-viec-phat-bieu-tai-quoc-hoi-viet-nam/

[4] Hoàng Hữu Phước. 05-02-2015. Bài số 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/05/nhung-van-de-gap-phai-trong-sinh-hoat-doan-dai-bieu-quoc-hoi/

[5] Hoàng Hữu Phước. 24-02-2015. Bài số 5: Xử Lý‎ Đơn Thư Khiếu Nại – Tố Cáo Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/24/xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

[6] Hoàng Hữu Phước. 22-01-2015. Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/22/nam-moi-thu-ban-ve-bao-moi-tren-co-so-sieu-cuong-quoc/

[7] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Hoàng Hữu Phước Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[8] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[9] Hoàng Hữu Phước. Tứ Đại Ngu

[10] Lại Thu Trúc. 30-6-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII. Đăng lần đầu tại http://www.emotino.com/bai-viet/19627/phobolsatv-hoa-ky-phong-van-ong-hoang-huu-phuoc và đăng lại trên http://hhphuoc.blog.com/?p=75

[11] Hoàng Hữu Phước. 26-11-2013.Thực Quyền và Thực Uy. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/26/ve-thuc-quyen-thuc-uy-2/

[12] Hoàng Hữu Phước. 22-02-2015. Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-thay-nguyen-quang-to/

[13] Hoàng Hữu Phước. 22-02-2015. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-co-truong-tuyet-anh/

[14] Hoàng Hữu Phước. 22-02-2015. Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-thay-le-van-diem/

Tham khảo thêm:

Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=93

Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/ hoặc http://hhphuoc.blog.com/?p=342

Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/21/bao-sai-gon-giai-phong/

Hoàng Hữu Phước. 28-9-2014. Báo Người Lao Động. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/28/bao-nguoi-lao-dong/

Hoàng Hữu Phước. 16-10-2014. Báo Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/16/truong-trong-nghia-va-bao-tuoi-tre/

Hoàng Hữu Phước. 13-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/13/quyen-luc-thu-sau-3/

Hoàng Hữu Phước. Báo cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước

Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

SANYO DIGITAL CAMERA

SANYO DIGITAL CAMERA

Tôi có nhiều bạn hữu và học trò luôn là những công dân tốt đẹp, yêu nước, thành công, thành đạt. Hầu hết đều giống tôi ở chỗ yêu sự tĩnh lặng, yên bình, hòa bình, không xem không gian mạng là thứ đáng để quan tâm đến. Thế rồi, trước cảnh nhiều người phản Đảng, phản nước, phản dân, phản loạn, hoặc phát ngôn xằng bậy lung tung, hoặc chỉ chứng tỏ mình có dũng khí phán phê sau khi rời ghế lực quyền và được một đài nước ngoài khét tiếng nào đó phỏng vấn, còn lúc hùng dũng hiên ngang đứng trong Quốc hội thì phát huy sự năng động bằng cách ngợi ca cái vô lối vô đạo vô trí vô mưu đạp chà phong hóa dân tộc, tôi buộc phải xuất đầu lộ diện, rời bỏ tháp ngà, từ vị trí kín đáo chỉ biết miệt mài viết blog với hy vọng nhỏ nhoi giúp Đảng giúp nước qua việc cảnh tỉnh người dân trước các chiêu trò vu vạ xảo biện quậy phá tàn độc của ngoại nhân, giáo dục giới trẻ biết thế nào là nẻo chánh đường ngay, chống chọi lại các luận điệu xúc xiểm nước nhà, tôi đơn độc đường đường chính chính tiến ra xin bộ hồ sơ tự ứng cử Đại biểu Quốc hội để tích cực chặn ngăn những điều không tích cực. Tôi buộc phải yêu cầu bạn hữu và học trò thân thương ấy tuyệt đối không được ra mặt phản ứng gì mỗi khi thấy tôi bị “ném đá” vì tôi không muốn họ phải hứng “đá” vạ lây từ cái không gian mạng thấp hèn. Để bảo vệ họ, tôi sẽ không viết gì về họ, và chấp nhận sự nói chuyện thân tình phải toàn được thực hiện qua email, qua phone, qua những lần gặp nhau nhân những ngày lễ nọ lễ kia. Thế nhưng, hôm nay tôi viết về Lại Thu Trúc vì Cô không thuộc nhóm “trí thức nhân sĩ yêu nước ẩn dật” nói trên của tôi, vì Cô đã là người của thế giới phẳng hơn chục năm nay mà những doanh gia ưa thích viết blog sẻ chia những đề tài trí tuệ kinh doanh chuyên nghiệp trên mạng doanh nhân Emotino đều biết đến, và vì Cô cả chục năm qua luôn sát cánh cùng tôi như người cùng chí hướng vì nước, vì dân, vì Đảng, dù Cô cũng chẳng ô dù chở che, không quyền lực ra uy, không Đảng tịch hộ thân.

 LTT2

Trước đây, Lại Thu Trúc thường viết blog trên Emotino về những đề tài kinh tế, tài chính, thương mại, và … thơ văn. Tôi gặp Cô vô số lần trên trang mạng này.

 LTT3

Lại Thu Trúc cũng tham gia đăng vài bài blog bằng tiếng Anh trên mạng ấy, trong đó có bài tựa đề “Vài Ý Kiến Ngắn Về Sản Phẩm Dầu Hỏa” mà tôi rất có ấn tượng tốt đẹp vì nội dung đầy sáng tạo và đẳng cấp cao của bài viết ấy chẳng hạn như đề xuất ý kiến nhằm chế tạo một thiết bị phụ trợ an toàn hơn cho các bình gas gia dụng và dân dụng, đồng thời tư vấn miễn phí 4 slogan tiếng Anh cho công tác marketing sản phẩm dầu nhờn động cơ, v.v.., rất độc đáo, mang tính sáng kiến sáng tạo, vốn không là chủ đề thuộc thế mạnh của tôi

LTT4

Lại Thu Trúc cũng xuất hiện trên các báo và tạp chí cùng với các phát biểu của Cô khi được các phóng viên phỏng vấn, hoặc qua các bài viết dài của Cô như t