Category Archives: Kinh Doanh

VinFast

Hoàng Hữu Phước Nói Về Dòng Họ Vin

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-8-2019

Nhập Đề

Trong một bài viết cách nay hai tháng, tôi có viết rằng đừng có nên quan tâm đầu tư vô mấy cái smart phone made-in-vietnam, đừng có đàu tư vô mấy cái xe máy điện  made-in-vietnam, và đừng có mà đầu tư vô mấy cái ô-tô made-in-vietnam.

Bạn đọc thân thiết nghĩ ngay: “Thấu Thị đây!”

Bạn đọc không thân thiết nghĩ ngay: “Thấy chưa! Y còn biết là nước này không thể làm gì ra ồn mờ!”

Người lang thang kiếm tìm các hình chụp với sen, mệt mõi tình cờ ghé đại vô thùng nước đá ven đường làm một tợp, đọc thấy bài đó thì nghĩ ngay: “Đây là phe chống Cộng rồi! Toàn bàn lui!”

Và người ham học tình cờ đọc bài ấy thì nghĩ ngay: “Lý do là sao vậy? Biết bao giờ mới có lời giải đáp đây? Hỗng lẻ mỗi ngày mỗi vô web này chờ sao ta?”

Bài viết này dành cho bạn đọc thân thiết và bạn đọc “hỗng lẻ”.

Bài viết này – và tất cả các bài viết của Hoàng Hữu Phước từ lúc thiên hạ chưa biết sử dụng máy vi tính (vì chưa có chuyện cá nhơn mua được máy vi tính nhập nguyên bộ, chưa có việc Nhà Nước cho muốn lướt vô hốc nào thì cứ lướt cứ chui, cũng như bọn Aitee thế giới chưa kịp đào hang đào hố đào hốc đào khe trên không gian mạng) để viết thảy lung tung tràn ngập không gian mạng (vì mấy thằng tặc bầy đàn họ Face chưa ra đời) – luôn theo cơ chế “mở” tức là cái mà mãi về sau này thế giới mới bắt chước “mở” tạo điều kiện cho giòng họ Vin mần luôn sờ mạt phone với cái hệ “mở” android, và cũng tức là ai muốn cự cãi lại (hoặc muốn tán dương) Hoàng Hữu Phước thì cứ việc viết cự cãi mái thoải hoặc tán dương thoải mái (ở “nhà” của quý vị, vì Hoàng Hữu Phước có bức tường biên giới như thứ Mỹ-Mê của Donald Trump chứ không cho phép ai muốn nhập cư thì cứ tự do nhập nha) tự do ngôn luận mờ – nghĩa là muốn ở với sen thì cứ ở trong nhà riêng quý vị, ai dám cản?

Trước khi vô đề nói về dòng họ Vin, rút kinh nghiệm mỗi khi vô chốn thiêng rừng độc nước đầy báo chí (hổ báo và chí rận) phải chuẩn bị bộ giáo mác mang trên lưng chĩa mũi nhọn lên trời và đại ná (tức ná bắn đá, cùng kích cỡ với thứ truyền-thông-chính-thống-chống-Phước đã dùng thủa hồng hoang để tấn công khủng long bạo chúa Tứ Nhãn Long tức Rồng Bốn Mắt), tôi xin nói rõ ràng rằng tôi luôn và chỉ ủng hộ hàng Việt Nam chất lượng cao. Nếu mấy loại của Việt Nam có chất lượng tồi thì tôi bắt đầu lựa chọn loại tốt nhất trong số các thứ made-in-nước-ngoài. Tôi dứt khoát phải lấy vợ Việt vì lẽ nào có phụ nữ tuyệt hơn ở nước khác hay sao mà tôi chưa biết vậy ta? Tôi dứt khoát phải ở nước Việt vì lẽ nào có nước khác bình yên không-biểu-tình như nước Việt hay sao mà tôi chưa biết vậy ta? Tôi dứt khoát ủng hộ “chủ nghĩa cộng sản” vì lẽ nào nhơn loại chưa hết mốc 1.000 năm mà đã xuất hiện một triết thuyết mới hơn, thuyết phục hơn, về kinh tế tức hơn cả quyển Tư Bổn Luận của Karl Marx mà tôi chưa biết vậy ta? Tôi dứt khoát ủng hộ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là quốc gia tiêu diệt được các kẻ thù vì lẽ nào có ai đó vừa mới tiêu diệt được cái nước ấy hay sao mà tôi chưa biết vậy ta? Tôi dứt khoát chuộng thức ăn Tây vì lẽ nào nước Việt có món ăn ngon hay sao mà tôi chưa biết vậy ta? Tôi dứt khoát chỉ nghe nhạc “đồng quê Mỹ” tức Country Music vì lẽ nào nước Việt có một “thể loại nhạc” hay hơn và được ưa chuộng tương tự trên thế giới hay sao mà tôi chưa biết vậy ta? Tôi chỉ nghe nhạc Âu Mỹ vì lẽ nào nước Việt có khúc nhạc nào về Việt Nam da diết hay hơn của Marc Lavoine và có lời bài hát nào về Việt Nam lại hay hơn lời Pháp của Yvan Coriat hay sao – dù lời bản nhạc “Bonjour Vietnam” ấy bằng tiếng Pháp mà tôi đã quên sạch tiếng Pháp dù đã là “sinh ngữ 2” của tôi ở Việt Nam Cộng Hòa – mà tôi chưa biết vậy ta?

Như vậy, bài viết này là của một người Việt Nam yêu nước Việt Nam.

Vô Đề

Việt Nam có thể đang phát triển về kinh tế.

Nhưng bài này tập trung nói về “sản xuất” vốn là một mặt của phát triển kinh tế.

Song, do “sản xuất” lại có ít nhất hai chủng loại gồm “sản xuất hàng hóa hữu hình” (tức tangible goods) và “sản xuất hàng hóa vô hình” (tức intangible goods) nên tôi phải nói rõ thêm rằng bài này chỉ nói về “sản xuất hàng hóa hữu hình” mà thôi.

Song, do “sản xuất hàng hóa hữu hình” động đến rất nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân, trong đó có sản xuất nông sản,v.v., nên phải nói rõ thêm rằng bài này chỉ nói về “sản xuất hàng hóa hữu hình” trong kỹ thuật công nghiệp mà thôi.

Song, do “sản xuất hàng hóa hữu hình” trong kỹ thuật công nghiệp lại động đến rất nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân, trong đó có sản xuất công nghiệp nặng, sản xuất công nghiệp nhẹ, sản xuất công nghiệp đầy khói, và sản xuất công nghiệp không khói mà tương lai sẽ bao gồm luôn cờ bạc và nhà thổ, v.v., nên phải nói rõ thêm rằng bài này chỉ nói về “sản xuất hàng hóa hữu hình” trong kỹ thuật công nghiệp nặng mà thôi.

Song, do “sản xuất hàng hóa hữu hình” trong kỹ thuật công nghiệp nặng lại động đến rất nhiều mặt của nền kinh tế quốc dân, nên phải nói rõ thêm rằng bài này chỉ nói về “sản xuất hàng hóa hữu hình” trong kỹ thuật công nghiệp nặng thuộc các ngành của dòng họ Vin.

Phàm sự phát triển về “sản xuất kỹ thuật công nghiệp nặng” của một quốc gia dựa vào 5 điều kiện sau:

1) Nhân lực kỹ thuật công nghiệp nặng tại chỗ có năng lực và tay nghề cao.

2) Nhân lực kỹ thuật công nghiệp nặng tại chỗ có năng lực và tay nghề cao ấy là những người gia giáo có tinh thần yêu nước cực đoan (mà người Đức và người Nhật là điển hình).

3) Nhân lực kỹ thuật công nghiệp nặng tại chỗ có năng lực và tay nghề cao ấy được sống trong lòng nhân dân có gia giáo có tinh thần yêu nước cực đoan tương tự.

4) Nhân lực kỹ thuật công nghiệp nặng tại chỗ có năng lực và tay nghề cao ấy có sự ủng hộ tuyệt đối và cụ thể của chính quyền.

5) Ngành của nguồn nhân lực kỹ thuật công nghiệp nặng tại chỗ có năng lực và tay nghề cao ấy gặp “thời”.

Vậy 4/5 điều kiện là nằm ở vốn người, và điều kiện duy nhất còn lại không nằm ở con người trực tiếp có liên quan mà ở con người khác.

Chúng ta hãy thử xem VinFast ra sao với bảng chuẩn kiểm định trên.

1) Việt Nam không có sẵn nhân lực kỹ thuật công nghiệp nặng tại chỗ có năng lực và tay nghề cao. Chính quyền các nơi – mà cụ thể là Thành Phố Hồ Chí Minh và Đà Nẳng – dồn tiền thu từ thuế của người dân để lén lút (không dám công bố trước danh sách những ai đã được chọn do đã có những ưu thế học tập xuất sắc nào để nhân dân theo dõi và kịp thời phát hiện các trường hợp tiêu cực) “đào tạo nhân tài” bằng cách gởi con em cán bộ cấp lãnh đạo đi du học chỉ để lấy bằng cấp thạc sĩ/tiến sĩ các ngành học-chơi-chơi-cũng-có-bằng-cấp không dính dáng gì đến kỹ thuật công nghiệp nặng để về nối nghiệp cha anh làm lãnh đạo tiếp. Trầm trọng hơn nữa là: chính phủ xem trọng “từ chương”, xem trọng văn bằng (“tạo điều kiện” cho người người nhà nhà “vào đại học” làm “cổ cồn trắng”, xem thường “cổ cồn xanh” qua việc không dùng ngôn-ngữ-viết-bác-học Hán-Việt trang trọng như trong tên các đại học mà dùng chữ ngôn-ngữ-nói bình dân thuần Việt như “nghề” trong tên các trường kỹ thuật). Như vậy, VinFast làm gì có ai để thiết kế được ngoại hình xe, chế tạo được động cơ xe, nghiên cứu được khí động lực học xe, v.v., để tạo điểm ưu việt mang tính “bản quyền” thương hiệu Việt? Mà không có thì cứ bỏ tiền ra mướn công ty nước ngoài thiết kế và mua trang thiết bị của nước ngoài thôi. VinFast không có được nguồn nhân lực hùng mạnh về kỹ thuật công nghiệp nên không bao giờ có thể phát triển chỉ trên cơ sở công nhân lắp ráp và nhân viên vận hành thiết bị (được nước ngoài đào tạo chỉ để sử dụng bộ điều khiển robot do nước ngoài bán cho VinFast).

2) VinFast không được hoạt động trong lòng nhân dân yêu nước cực đoan nên không bao giờ có thể phát triển. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tất cả các doanh nhân Hàn Quốc đều chỉ sử dụng Samsung phone và chỉ dùng ô-tô made-in-korea. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tất cả các doanh nhân Đức đều chỉ sử dụng ô-tô Mercedes. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tất cả các doanh nhân Pháp đều chỉ sử dụng ô-tô Peugeot. Vậy, doanh nhân Việt Nam từ quốc doanh đến tư nhân có sẽ chỉ sử dụng ô-tô VinFast?

3) VinFast không có sự ủng hộ tuyệt đối và cụ thể của chính quyền nên không bao giờ có thể phát triển. Chính phủ Việt Nam không hề có chủ trương từ nay tất cả các mua sắm xe công đều phải từ VinFast, Thủ Tướng không hề nêu gương với toàn dân bằng cách tuyên bố bán đấu giá các xe phục vụ Thủ Tướng và các lãnh đạo chính phủ để lấy tiền đó mua sắm các chiếc VinFast, không bao giờ buộc các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài phải sử dụng VinFast, và không bao giờ dám dùng VinFast để đưa đón các quốc khách.

4) Dù thông tin về VinFast cho biết thiết kế ngoại thất là của Ý (Pininfarina), công nghệ của Đức (động cơ và phụ tùng từ BMW, Robert Bosch GmbH, Magna SteyrSiemens AG), tiêu chuẩn của Châu Âu, thì cái duy nhất của Việt hóa ra là “tinh thần vươn lên của người Việt”. Không rõ “vươn lên” có nghĩa là bỏ tiền ra mở một công ty Việt rồi mua mọi thứ của nước ngoài về lắp ráp rồi tự hào đó là sản phẩm Việt Nam cao cấp, sang trọng? Nước Đức vươn lên kiểu khác: họ tự sản xuất cơ khí để đánh vào hai nơi: sự thần phục của giới nhà giàu toàn thế giới và sử dụng xe/vũ khí/máy bay/xe tăng/đại pháo/tàu ngầm/chiến hạm để đánh bại và chiếm đóng toàn Châu Âu, làm bá chủ Đại Tây Dương trong Đệ Nhất Thế Chiến và Đệ Nhị Thế Chiến. Hai vấn đề đặt ra cho mục này là (a) nếu thực sự động cơ và phụ tùng toàn của các hãng kỹ nghệ lừng danh nước Đức thì phải chăng VinFast sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh thế giới vì ai cũng tìm mua do phụ tùng có thể được mua ngay tại nước họ tức tại các điểm bảo trì của các hãng như BMW; và (b) thiết kế ngoại thất là của Ý và ruột là của Đức thì khung xe chassis là của ai, bằng kim loại gì, độ cứng ra sao, chưa kể túi khí bảo vệ có thuộc những hãng đã từng phát lệnh thu hồi trên toàn thế giới hay không, v.v. và v.v. Do vậy, VinFast không bao giờ có thể phát triển ra ngoài biên giới Việt Nam.

5) Trong thị trường sản xuất ô-tô, Đức đã vươn lên với 3 vai trò đều chỉ tập trung vào kỹ thuật cơ khí: tiên phong, chất lượng tuyệt hảo, và tạo bứt phá mang tính thời cuộc nhằm thống lĩnh Châu Âu; trong khi đó, Nhật đã vươn lên với 3 vai trò khác cũng đều chỉ tập trung vào kỹ thuật cơ khí: chất lượng cao, sản xuất ồ ạt đại trà nhằm đạt giá thành hạ, và tạo bứt phá mang tính thời cuộc nhằm thống lĩnh toàn thế giới; còn Hàn Quốc đã vươn lên với 3 vai trò khác cũng đều chỉ tập trung vào kỹ thuật cơ khí: chất lượng cao với nhiều “cộng thêm” nhắm vào khách hàng trẻ, làm Nhật giảm ưu thế cạnh tranh thượng phong về “giá hạ” nhờ duy trì được mức giá tương đương, và tạo bứt phá mang tính thời cuộc nhằm đua tranh quyết liệt với Nhật tiến đến xóa dần danh xưng chất lượng độc tôn của Nhật trên toàn thế giới. Cả ba nước này đều có yếu tố chiến lược của “thời cuộc”. Không có một “thời cơ” rõ nét của “thời cuộc”, VinFast không bao giờ có thể phát triển ra ngoài biên giới Việt Nam.

6) Cuối cùng, song không phải là kém phần quan trọng hơn: dòng họ Vin đã phạm phải cái kiểu cách ôm đồm kiểu Việt mà các nhà sản xuất kỹ thuật hàng đầu thế giới luôn tránh né, và chỉ có “bọn trẻ” chưa biết “trời cao đất dày” mới hùng hục sấn sổ húc vào: lấn sân. Dòng họ Vin đã đẻ ra VinFast sản xuất ô-tô từ các chi tiết phụ tùng nước ngoài của Đức và tạo ra xe máy điện xài các chi tiết công nghệ của Nhật (Nissan); đã tạo ra VinSmart sản xuất điện thoại thông minh từ mã nguồn mở Android của Google, nhưng không rõ màn hình và pin có phải từ Trung Quốc hay không; và thậm chí đang nặn ra VinUni để kinh doanh trường đại học trên cơ sở “phi lợi nhuận”.

Xe máy đang gây ra khủng hoảng đường bộ tại Việt Nam. Chiêu bài “xe máy chạy bình ắc-quy và bằng pin để bảo vệ môi trường” là hoàn toàn sai (xin đọc Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam để biết cái ắc-quy ghê gớm sát nhân hàng loạt hơn cả “bô-xít” vạn lần như thế nào), chưa kể “pin” theo công nghệ nào, của ai, có sẽ gây cháy tự động hay không, và ở trạm xăng nào có hệ thống sạc pin và sạc ắc-quy cho xe của họ Vin?

Điện thoại thông minh VinSmart ư? Thủ Tướng có xài VinSmart trong công tác trị quốc không? Vào thời buổi mà ở Trung Quốc người người nhà nhà sản xuất điện thoại thông minh ư? Xin hỏi khí không phải, rằng phải chăng điện thoại thông minh VinSmart là hàng Việt vì có ốp lưng sản xuất ở Việt Nam? Nếu chưa biết rõ cái ruột cứng của VinSmart xuất xứ từ những đâu thì người Việt chân chính khó thể sử dụng VinSmart với ý nghĩ mãi lởn vỡn hoài rằng mình có đang làm giàu cho Trung Quốc hay không đây.

Còn VinUni ư? Khi nghe ai đó sắm hàng chục siêu xe, hàng tá siêu mô-tô, đeo gông xiềng hàng tấn vàng quanh cổ, và khoe va-li đầy cứng các bó USD toàn tờ 100 – ít ra là các tờ phía trên cùng cho thấy như vậy – tôi luôn cười ha hả bảo các học trò rằng trên đời chỉ có 3 loại người như vậy thôi, gồm do giàu quá hóa rồ vì điên loạn không biết phải xài tiền vào việc gì trong khi tiền cứ tuôn ào ạt vào nhà gây ngạt thở, hoặc do óc đất thua thiên hạ về trí tuệ và đẳng cấp thượng lưu nên phải gỡ gạc bằng cách tạo nên “đẳng cấp giàu”, hoặc xài vàng giả/chụp hình với xe của thiên hạ/chụp hình với USD âm phủ để lừa những người hoặc ngu muội hoặc trẻ thơ hoặc mất năng lực hành vi. Cách ôm đồm thường thấy mà tiêu biểu là “đại gia” Mai Linh dường như đang hiển hiện nơi “đại gia” họ Vin.

VinUni sẽ không thành công nếu không chịu nghe Hoàng Hữu Phước hãy chỉ đầu tư vào kỹ thuật và công nghệ cơ khí chế tạo máy, với lời khuyên rằng kỹ thuật công nghệ đừng có kèm “bộ môn công nghệ thông tin”, mà hãy lấy “công nghệ thông tin” làm chi tiết gắn liền vào và phục vụ cho kỹ thuật công nghệ cơ khí chế tạo máy, nhằm vào thiết bị quốc phòng, thiết bị y sinh, v.v. VinUni mà nhằm vào mấy thứ vớ va vớ vẩn như quản trị kinh doanh, kinh tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, báo chí, công nghệ thông tin, marketing, Đông Phương Học, hành chính công, v.v. thì thành công sẽ mãi là chuyện lạ nhất Thế Kỷ XXI ở Việt Nam. Tại sao phải nghe lời Hoàng Hữu Phước ư? Đơn giản vì (a) Việt Nam có thảm họa ngập tràn trường đại học đang có “đào tạo” các ngành ấy rồi, và (b) thời cơ duy nhất của cái thời vận quái lạ ở Việt Nam mà VinUni nên nắm bắt là: chính phủ thất bại vì đã chỉ tập trung cho các “từ chương” và “văn bằng cổ cồn trắng” dù chính sách nhất quán của Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn là “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”.

Kết Đề

Hóa ra Hoàng Hữu Phước suốt hai thập niên qua đã chống lại “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” ở Việt Nam chỉ vì Việt Nam không có nhân lực cho cái đại cuộc ấy, mà không có nhân lực thì chỉ dẫn đến (a) ô nhiễm môi trường do lãnh đạo đại cuộc ấy toàn là “từ chương văn bằng cổ cồn trắng” chuyên gia nhập khẩu dây chuyền thiết bị hoặc lạc hậu hoặc tân tiến quá chẳng ai biết sử dụng phải để han gỉ và làm thoát ra ngoài các hóa chất bên trong thiết bị, (b) tham nhũng do lãnh đạo đại cuộc ấy toàn là “từ chương văn bằng cổ cồn trắng” chẳng biết làm gì trừ việc táy máy tài sản công, (c) làm nghèo đất nước do đầu tư công nghiệp nặng luôn khổng lồ mà cho đến nay chả thấy ngành nào làm đất nước vinh danh cả vì ngay cả ngành dầu khí cũng đem bao tiền bạc bỏ vào canh bạc khai thác dầu ở Venezuela để thua sạch thua trắng thua đau, (d) đi lạc vì không gắn công nghiệp vào thế mạnh đang có là nông nghiệp và thủy hải sản khiến công nghiệp đi một đàng, nông nghiệp ì ạch đi một nẽo, còn tàu đánh bắt xa bờ thì thân sắt không chịu được nước biển trong khi thủy động cơ thì chỉ nổ máy khi tàu còn trên bờ, và (e) vô đạo đức nên mới rủ nhau bỏ đi ngủ trong khi đang vận hành hệ thống tinh vi hiện đại kiểm soát không lưu làm máy bay với vài trăm hành khách phải bay lòng vòng trên Thành Phố Hồ Chí Minh đến khi gần hết xăng mới nhận được lệnh cho phép đáp xuống bằng bánh máy bay.

Sẽ là đại phúc cho gia tộc họ Vin nếu xem bài viết này có những lời khuyên bổ ích để có những quyết định dũng cảm kịp thời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo theo thứ tự alphabet:

Aitee: Hoàng Hữu Phước Thấu Thị Aitee Việt Nam  17-5-2019

Gia giáo: Cộng Sản Việt Nam Phải Dân Tộc Và Thiên Khổng  28-6-2019

Hình chụp với sen: Ở Truồng Với Sen 22-6-2019

Thấu thị: Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiên Tri Thấu Thị  25-4-2018

Thùng nước đá ven đường:Thùng Nước Đá Và Blog  14-02-2013

Từ chương: Thế Nào Là “Từ Chương”  25-11-2015

Văn bằng: Bằng Giả – Đại Học Gà Rừng  21-9-2017

Xin đọc về Ắc-quy và Bô-xít: Hội Chứng Bầy Đàn – Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam  20-8-2013

Lời Khuyên Dành Cho Tài Xế GrabBike

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-4-2019

Tuy tựa đề là những Lời Khuyên Dành Cho Taid Xế GrabBike, nội dung này lại dành cho bất kỳ ai là tài xế xe công nghệ hai bánh làm việc cho bất kỳ công ty dịch vụ “xe ôm công nghệ” nào hoạt động tại Việt Nam, bất kể chủ nhân là nội quốc hay ngoại quốc. Chữ GrabBike được dùng do tôi chỉ sử dụng các dịch vụ của khổng-lồ-gia Grab, và dù các lời khuyên sau là từ tổng hợp các ý kiến của đàn cháu của tôi đang là học sinh/sinh viên ở Thành Phố Hồ Chí Minh thường xuyên sử dụng dịch vụ của Grab, cũng như dù các hãng “xe ôm công nghệ” khác biết đâu đã có dịch vụ tốt hơn Grab rồi nhưng do chúng tôi chỉ ngưng sử dụng Grab nếu dịch vụ Grab tệ đi chứ không bao giờ ngưng sử dụng Grab chỉ vì hãng mới nào đó xuất hiện với dịch vụ và/hoặc giá dịch vụ tốt hơn.

1) Hãy nhớ cung cách trước hết và trên hết của bài bản đạo đức kinh doanh của đẳng cấp Âu Mỹ mà tiếc thay hầu như đại đa số người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam hoàn toàn không lưu trữ trong tâm trí của họ là: khách hàng là vua. Định nghĩa thế nào là kinh doanhthế nào là khách hàng đã từng được lần đầu tiên nêu lên thật chi tiết tại Việt Nam trong bài viết Thế Nào Là Doanh Nhân của Hoàng Hữu Phước trên blog này để cung cấp cho người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam sự hiểu biết về nội hàm duy nhất đúng của “phục vụ” cũng như của “khách hàng” để từ đó hành xử đúng mực với tư cách “đầy tớ” nhất là “đầy tớ của nhân dân” vốn hay bạc đãi nhân dân.

2) Hãy nhớ cung cách trước hết và trên hết của bài bản đạo đức kinh doanh của đẳng cấp Âu Mỹ mà tiếc thay hầu như đại đa số người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam hoàn toàn không lưu trữ trong tâm trí của họ là: khách hàng là vua, cũng như không hề có luật lệ nào trong lĩnh vực kinh doanh lại quy định tuổi tác của vua (vua cha vua mẹ vua con vua cháu vua hài nhi), giới tính của vua (vua nam, vua nữ, vua giới tính khác), quốc tịch/ dân tộc của vua (vua người Kinh/Thượng/Mông Cổ/v.v.), và trang phục của vua (vua mặc áo sơ mi dài tay/áo thun/áo học sinh/áo đầm/áo bà ba/áo hoàng bào của nghệ sĩ hát bộ bị nhỡ …long xa,/áo nhiều hơn ba lổ cho gió lùa mát mẻ/ v.v.).

3) Hãy nhớ cung cách trước hết và trên hết của bài bản đạo đức kinh doanh của đẳng cấp Âu Mỹ mà tiếc thay hầu như đại đa số người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam hoàn toàn không lưu trữ trong tâm trí của họ là: khách hàng là vua, mà đã là vua thì không chấp nhận chuyện xe chạy lấn trái, leo lề, phóng nhanh, vượt ẩu, va người rồi bỏ chạy, vi phạm luật pháp giao thông quốc gia, có thể gây hại cho vuathần dân của vua đang cùng sử dụng công lộ (tức…tham gia giao thông).

4) Hãy nhớ cung cách trước hết và trên hết của bài bản đạo đức kinh doanh của đẳng cấp Âu Mỹ mà tiếc thay hầu như đại đa số người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam hoàn toàn không lưu trữ trong tâm trí của họ là: khách hàng là vua, mà đã là vua thì không chấp nhận chuyện tài xế vô tư bắt chuyện với vua, xao nhãng việc điều khiển long xa.

5) Hãy nhớ cung cách trước hết và trên hết của bài bản đạo đức kinh doanh của đẳng cấp Âu Mỹ mà tiếc thay hầu như đại đa số người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam hoàn toàn không lưu trữ trong tâm trí của họ là: khách hàng là vua, mà đã là vua thì không chấp nhận chuyện tài xế quấy rối tán tỉnh thân mật với vua khi vua thuộc phái khác.

6) Hãy nhớ cung cách trước hết và trên hết của bài bản đạo đức kinh doanh của đẳng cấp Âu Mỹ mà tiếc thay hầu như đại đa số người lao động cổ cồn trắng và cổ cồn xanh kể cả không có cổ áo cũng như ở bất kỳ chức danh nào từ tạp vụ đến tổng giám đốc hay bộ trưởng và viện trưởng hoặc bí thư Đảng ở Việt Nam hoàn toàn không lưu trữ trong tâm trí của họ là: khách hàng là vua, mà đã thực sự là vua thì không bao giờ không tặng “5 sao” kèm tiền thưởng cho tài xế đã phục vụ vua tuyệt đối an toàn, tuyệt đối đúng luật giao thông đường bộ, tuyệt đối lễ độ, tuyệt đối lịch sự đỡ đần hành lý cho vua, tuyệt đối đến đúng nơi vua muốn đến, và phục vụ vua với trang phục và long xa sạch sẽ tinh tươm.

32 năm trước, khi nhìn qua cửa sổ chiếc Toyota Crown (có hệ thống logo phong phú chiếc vương miện tuyệt mỹ biến thiên theo năm sản xuất

còn các dòng khác thì mỗi loại cũng có một hệ logo riêng, thế mà sau này Toyota trở nên đại ngu cực xuẩn đại điên cực khùng quyết định đồng hóa tất cả các dòng xe của nó mang cùng một logo chung hình quả địa cầu cách điệu nhìn cứ như đầu con bò giương sừng ngu xuẩn có mặt tóp bụng phình

báo hiệu khởi đầu cho sự suy sụp về danh tiếng của Toyota mà rốt cuộc chỉ còn có dòng Lexus là mang logo triêng cho thị trường Mỹ cứ như cái thị trường ấy gây cho Toyota sự quỳ lụy rẩy run nhất định) do ông Amit Kumar Saxena đích thân lái đến nhà tôi đón tôi cùng đến văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh gặp Anh Ba Huấn và Anh Sáu Hậu, tôi thấy chạy song song là một chiếc Ssangyong đầu tiên xuất hiện trên đường phố Thành Phố Hồ Chí Minh, và quay sang nói (bằng tiếng Anh chứ không phải tiếng Hindu) với ông Saxena rằng: “Loại ô-tô 7 chỗ như chiếc đó rồi sẽ ngự trị ở Việt Nam và toàn thế giới, qua mặt các ô-tô loại 4 chỗ, khiến ngay cả các đại gia như Mercedes cũng sẽ phải sản xuất tương tự vì đó mới là loại xe thực sự sang cả và bề thế cho một đại gia thực thụ”.

62 tháng trước, khi thấy UberGrab xuất hiện ở Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi nói (bằng tiếng Việt chứ không phải tiếng Mỹ) vớiCô Lại Thu Trúc rằng: “Đó là thứ rồi sẽ thống trị ở Việt Nam và toàn thế giới, qua mặt các dịch vụ chuyên chở truyền thống ở đô thị, và các hãng taxi truyền thống nếu khôn ngoan thấu thị thì hãy nên nhanh chóng xin làm đối tác của Uber& Grab chứ đừng ngu mà chống lại.”

Quả Grab đã trở thành khổng-lồ-gia và các tài xế GrabBike nên quan tâm đến các nhắn nhủ mang tính nhắc nhở trên rằng (a) chính Grabkhổng-lồ-gia duy nhất ở Việt Nam so với bất kỳ công ty công/tư/nội/ngoại/nội+ngoại nào ở Việt Nam; rằng (b) chính Grab với GrabBike đang tạo cơ hội việc làm đúng đắn đàng hoàng cho bao người đúng đắn đàng hoàng tích cực mong muốn cải thiện thu nhập với tình thương yêu trên hết dành cho gia đình trong cả nội hàm nuôi gia đình hoặc đỡ đần cho gia đình phương xa bớt đi gánh nặng phải chu cấp cho bản thân đang phải học tập hay lao động hoặc chưa có việc làm nơi thành thị; và rằng rằng (c) chính Grab với GrabBike đã biến nghề của những lái xe ôm hùng cứ chiếm đóng các ngã tư thụ động chờ khách đến và tích cực đánh đuổi những lái xe ôm bơ vơ dám xâm phạm lãnh địa trở thành nghề-có-đóng-thuế-thu-nhập-cá-nhân và giúp Grab đóng thuế thu-nhập-doanh-nghiệp thật dồi dào cho Nhà Nước, qua đó biến những lái xe GrabBike thành người-đóng-thuế taxpayer vốn được người Âu Mỹ kính trọng.

Tôi kính trọng các bạn lái xe GrabBike và tất cả các “tài xế xe ôm công nghệ” của bất kỳ hãng nào nếu ai cũng chỉ quan tâm đến các nội dung trên để khách hàng thực sự được phục vụ như những vì vua; và trong các nội dung trên hoàn toàn không có lời khuyên nào liên quan đến việc hãy tập trung xem nơi nào có tỷ lệ phần tiền tài xế phải nộp lại thấp hơn hoặc hùa theo sự khuấy động kiện tụng của các đại-gia-thiếu-đầu-óc luôn chậm chân với phần còn lại của thế giới trên một Địa Cầu chưa từng ngưng nghỉ vần xoay tới trước.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

Khổng-lồ-gia” là tiếng Việt do Hoàng Hữu Phước chế ra và tiếng Anh tương đương phải là behemoth vì “bự” hơn “đại gia” tức hạng mà tiếng Anh thường gọi là tycoon/giant/v.v. Sự khác biệt giữa quá nhiều nội hàm khác nhau trong một từ ngữ tiếng Việt duy nhất mà Việt Nam có được là “đại gia”, so với từng nội hàm một của từng từ ngữ tiếng Anh “đại gia” một sẽ được làm rõ trong bài viết sau khác để phục vụ các bạn học sinh/sinh viên nào thực sự có mong muốn đơn giản làm chủ tiếng Anh để làm chủ cuộc đấu tranh sinh tồn thay cho khát vọng cao cấp cháy bỏng đam mê nhất đời là làm sao có hai triệu “followers” như Khá Bảnh.

Tham khảo thêm:

Grab Taxi 13-4-2018

Grab  16-11-2018

Thế Nào Là Doanh Nhân 15-12-2015

Anh Ba Nguyễn Văn Huấn 12-12-2015

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Hoàng Hữu Phước Và Cà Phê

Hoàng Hữu Phước, MIB

24-02-2019 

                         Mục Lục

Tôi Và Đặng Lê Nguyên Vũ (2019)

Bài 1: Cà Phê Việt Nam: Vấn Đề Thiếu Tâm và Thiếu Tầm (2011)

Bài 2: Cà Phê : Goût và Hùi Hụi (2010)

Bài 3: Cà Phê : Một Chuyện Nhỏ và Hai Chuyện Lớn (2009)

Bài 4: Cà Phê : Còn Đó Nỗi Buồn (2011)

Bài 5: Cà Phê (2008)

Bài 6: Cà Phê và … (2008)


Dẫn Nhập: Tôi Và Ông Cà Phê Trung Nguyên

Sau nhiều năm viết hàng trăm bài bằng tiếng Anh tại blog của tôi tên Aspiration trên nền Yahoo!3600  tôi bắt đầu chuyển sang viết blog tiếng Việt tại Emotino năm 2008 khi Yahoo!3600đóng cửa để thay bằng Yahoo!Mesh mà tôi viết bài chót bằng tiếng Anh mắng chủ nhân Yahoo! là đồ ngu, thấu thị luôn sự sụp đổ hoàn toàn của cái Yahoo!Mesh.

Viết tiếng Anh vì đó luôn là sở trường của bất kỳ ai đã thực sự học giỏi tiếng Anh và sau đó đã thực sự dạy giỏi tiếng Anh. Kẻ nào không thể viết blog ra hồn bằng tiếng Anh thì các bạn đừng bao giờ tin đó là người đã học giỏi tiếng Anh và đang dạy giỏi tiếng Anh bất kể y hay thị có bằng cấp Tiến Sĩ của một siêu cường, đang giảng dạy tại đại học nhớn, và có đang là hiệu trưởng cái đại học tầm cỡ nhớn nha nhớn nhác ấy.

Viết tiếng Việt vì hai lý do gồm (a) Thầy giáo Hoàng Hữu Phước là người đầu tiên và duy nhất trên Trái Đất luôn phán rằng muốn giỏi ngoại ngữ phải trước hết thật giỏi tiếng “mẹ đẻ” nên phải chứng minh bàn thân có thực sự đã giỏi tiếng Việt, và (b) hơn ai hết Thầy giáo Hoàng Hữu Phước với kinh nghiệm một nạn nhân của sự ganh tỵ đố kỵ tại những “trường học cấp cao” tại chính trên xứ sở của mình nên biết quá rõ rằng cái cách làm cho “chúng ghét” hiệu quả nhất là cứ hãy nói giỏi và viết giỏi tiếng Anh giữa cộng đồng người Việt mà độc giả báo mạng Việt toàn là người Việt – dù có khi có cả những nhân viên tình báo CIA Mỹ cũng nhận lương Nhà Nước Mỹ để làm độc giả trung thành của blog tiếng Việt từ nước Việt.

Thế thì Emotino là gì? Đó là trang mạng của giới doanh chủ Việt Nam. Doanh chủ là chủ doanh nghiệp hoặc trong ban lãnh đạo doanh nghiệp. Và các “blogger” đều là doanh chủ. Emotino không phải trang mạng dành cho giới doanh nhân không ở vị trí lãnh đạo doanh nghiệp; tuy nhiên điều này không cấm nhiều người Việt nào có thói quen hễ thấy lề đường có chỗ trống hoặc đường ô tô hay cao tốc ngay cả ở trên không trung hay không gian có chố trống là cứ thế mà phóng xe máy hai bánh chạy lướt phooon phoooon cùng “tham gia giao thông” cho vui theo đúng từ ngữ của chính quyền, nên có lần một cô gái (qua hình chụp tự giới thiệu dung nhan) là nhân viên kinh doanh của nhãn hàng nọ cũng nhảy vào Emotino để mở tài khoản đăng hình của và báo giá cho quần lót phái nam mà cô gọi là “nội y cao cấp cho lãnh đạo nam cấp cao” mà tôi thắc mắc không rõ phải chăng cái “nội y” ấy mặc tròng bên ngoài quần tây cho thiên hạ biết nam lãnh đạo ấy là cao cấp.

Emotino có tổ chức sinh hoạt hàng tuần bên ly cà phê sáng. Tôi không bao giờ có mặt tại các buổi “mạn đàm” (tức đàm thoại bên tách trà mạn) ấy vì tôi nghiện cà phê chứ không nghiện trà. Nhưng những hình ảnh mỗi buổi sinh hoạt trên mạng cho thấy luôn có sự tham dự của một nhân vật: đó là chủ nhân của Cà Phê Trung Nguyên.

Đoạn dẫn nhập này để khẳng định nhóm chữ “Tôi và Ông Trung Nguyên” không hề mang ý nghĩa rằng Ông Trung Nguyên đã từng có diễm phúc được gặp tôi tại các buổi họp mặt cuối tuần tại Emotino dù sau này tại Quốc Hội tôi – và chán vạn người – thường xuyên nhận được các sách báo do Ông gởi tặng với thánh ý thiện tâm sẻ chia kho tàng tri thức của Ông cùng tôi – và chán vạn người quanh tôi.

Hôm nay có nhân viên hỏi tôi về nhân vật Đỗ Cao Bảo của FPT. Khi biết cái ông Bảo ấy bảo rằng “đừng ai bình luận, phán xét, khen hay chê Đặng Lê Nguyên Vũ”  và ông Bảo cũng bảo rằng “đúng là Đặng Lê Nguyên Vũ không ở trong thế giới của chúng ta”, tôi muốn bảo ông Bảo rằng lời khẳng định trên của ông cho thấy ông “đồng bệnh tương lân” nghĩa là ông cũng ở trong cùng cái thế giới gì gì đó của ông Vũ nên ông mới biết rõ nó không là của phần còn lại của nhân loại, và tôi cũng muốn bảo ông Bảo rằng thế thì nhiều năm trước ở cái FPT của ông nếu có ai tham gia chọi đá tôi về vụ “Luật Biểu Tình thì ông Bảo có đã bảo tập thể FPT của ông rằng “đừng ai bình luận, phán xét, khen hay chê Hoàng Hữu Phước” vì “đúng là Hoàng Hữu Phước không ở trong thế giới của chúng ta” không? Nếu ông có đã nói như thế, tôi rất yên tâm bảo nhân viên tôi bảo nhân viên ông Bảo rằng tôi bảo ông Bảo là “ông Bảo”. Nếu ông đã không nói như thế, tôi hết sức yên tâm bảo nhân viên tôi bảo nhân viên ông Bảo rằng tôi bảo ông Bảo là “thằng Bảo”.

Dưới đây là vài bài viết tôi đã đăng trên Emotino để bình luận, phán xét, chê bai Đặng Lê Nguyên Vũ ngay trong thời gian Đặng Lê Nguyên Vũ sinh hoạt viết lách trên Emotino. Cần nói rõ ở đây là tôi đã chưa hề bình luận, phán xét, chê bai Đặng Lê Nguyên Vũ về khía cạnh con người ông ấy trong đời tư gia đình ông ấy, mà tôi chỉ bình luận, phán xét, chê bai tâm thế trần tục của ông ta đối với thương trường, vài sản phẩm trần tục của ông ta trên thị trường, và vài chiêu thức cạnh tranh trần tục của ông ta trên chiến trường. Tôi, người chiến sĩ hiện thân của tự do báo chí đoan chính, tự do ngôn luận đoan chính, và nhân quyền đoan chính tức quyền làm người đoan chính, chỉ muốn chứng minh rằng việc bình luận, phán xét, hay chê bai hoàn toàn không là đặc quyền của bọn sử dụng không gian mạng để tấn công Nghị sĩ Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước như cách mà báo chí chính thống nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã từng phụ họa, sách động, kề vai sát cánh cùng bọn ấy để cùng nhau tru hú khi trăng tròn vằng vặc nhú mọc đỉnh non cao.

Bài 1: Tâm Và Tầm Của Đặng Lê Nguyên Vũ

Cà Phê Việt Nam: Vấn Đề Thiếu Tâm và Thiếu Tầm

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-7-2011

(Bài đăng ngày 20-7-2011 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19195/ca-phe-viet-nam-van-de-thieu-tam-va. Mạng Doanh Nhân Emotino đã ngưng hoạt động sau vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu” 2012)

Năm 2009:

Ngày 22 Tháng 01 Năm 2009 trong bài Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ Và Hai Chuyện Lớn đăng trên Emotino, tôi có viết về Trung Nguyên và Vinamilk:

…Thay vì tung tiền “xây” thiên đường cà phê hay “tặng” hàng triệu ly sữa từ tiền lời có được do khai thác “thời cơ” cái khổ ải nghèo bấn của nông dân, họ có thể dùng số tiền ấy biến nông dân thành “người” của họ, hàng tháng có thu nhập cố định, còn nguyên liệu “cống nạp” cho họ theo tỷ lệ và thời giá xuống hay lên, để họ chiếm “thời cơ” thành đại gia thực thụ khi là chủ nhân nguồn nguyên liệu đầy ắp kho lẫm, thống lĩnh thương trường xuất khẩu và sản xuất nội địa, điều tiết giá cả giúp chính phủ ổn định kinh tế, còn họ hưởng lợi hoàn toàn và tuyệt đối khi tung hàng ra thị trường hải ngoại. Nếu như một công ty nước ngoài nào đó đột nhiên “tin tưởng tuyệt đối” vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam, thì họ với tài lực ghê gớm sẽ thực hiện việc trên để nắm nguồn nguyên liệu cà phê của Việt Nam một cách quá dễ dàng, và đừng nói chi tất cả các đại gia là nhà sản xuất cà phê thành phẩm của Việt Nam mà ngay cả các nhà buôn nước ngoài khác cũng sẽ mua lại nguyên liệu cà phê Việt Nam từ công ty nước ngoài “nhìn xa trông rộng” ấy…

Năm 2011:

Tháng 6 Năm 2011 vị đại gia “xây thiên đường” cà phê Đặng Lê Nguyên Vũ trả lời phỏng vấn trên VTV nói đại ý rằng chính phủ phải làm gì đấy để trả lại sự công bằng cho doanh nghiệp xuất khẩu vì họ đầu tư cho nông dân vay để rồi công ty nước ngoài vào Việt Nam chẳng đầu tư gì hết mà lại tung tiền mua gom hết cà phê trực tiếp của nông dân khiến doanh nghiệp kinh doanh cà phê gặp khó khăn về nguồn hàng phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Ngày 20 Tháng 7 Năm 2011 một chức sắc ngành cà phê trả lời phỏng vấn trên đài InfoTV nói rằng nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam lỡ k‎ý hợp đồng với giá thấp (sao lại thấp? hay tại nhờ chuyên mua rẻ mạt chèn ép nông dân?) với khách hàng nước ngoài nên bây giờ để giữ uy tín phải tìm đến các công ty nước ngoài ở Việt Nam để mua lại cà phê nguyên liệu với giá cao nhằm thực hiện cho bằng được các chuyến giao hàng.

Than Thở Của Người Viết:

Kinh doanh cà phê mà không có tâm với cà phê, vì nếu có tâm với cà phê ắt đã không xây thiên đường cà phê hay làm cái tách cà phê khổng lồ cẩu bằng trực thăng để ghi vào Kỹ Lục Guiness rồi đổ bỏ khiến cây cỏ “phê” không thể mọc được, mà thay vào đó quan tâm đến những người trồng nên cà phê, chăm lo giúp họ làm giàu từ công sức canh tác của họ – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải chăm sóc cha mẹ của cô gái ấy mới đúng là có cái tâm đúng của đấng nam nhi đoan chính, có tâm thiện và có giáo dục.

Kinh doanh cà phê mà không có tầm nhìn dành cho cà phê, vì nếu có tầm nhìn với cà phê ắt đã biết cà phê là thứ hàng quý hiếm để đầu tư xây dựng chuỗi silo làm kho lẫm lưu trữ cà phê trước khi cà phê rơi vào tay người khác – cũng như nếu thực sự yêu một cô gái thì phải biết cô gái ấy hấp dẫn đối với bao người để chăm sóc cô gái ấy thật nhiều để cô gái ấy không hướng về sự chăm sóc đeo bám của những chàng trai lịch lãm lịch sự khác.

Mọi sự trên đời đều đơn giản như thế, cái sự đời là thế, và chỉ cần sống theo thế là anh đại gia cà phê đã giữ được nàng cà phê đen tuyền kiều diễm mà không phải phát biểu với chính phủ kiểu em bé khóc nhè méc mẹ mách cha như thế.

Từ 01-2009 đến 7-2011 = Hai năm sáu tháng = 30 tháng.

Đó là khoảng thời gian mà tác giả bài viết này “thấu thị” những hoàn cảnh bi hài chắc chắn sẽ đến với đại gia cà phê nói riêng và ngành cà phê Việt Nam nói chung.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú bổ sung tháng 02-2019: Từ 01-2009 đến 02-2019 = 10 năm = 120 tháng: Thiên Đường Cà Phê vẫn chưa hình thành dù một tiểu đoàn kiến trúc sư da trắng đã đổ bộ vào Việt Nam để hình thành bản vẻ cái khách sạn hay cái nhà nghỉ gì đấy mang tên “Thiên Đường Cà Phê”. Hoàng Hữu Phước đã thấu thị quá đúng về số phận của cái thiên đường vớ vẩn ấy.

Bài 2: Cách Đặt Tên Sản Phẩm Và Quảng Cáo Sản Phẩm Của Trung Nguyên

Cà Phê: Goût và Hùi Hụi

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-02-2010

(bài đăng lúc 13g54 ngày 09-02-2010 tại http://www.emotino.com/bai-viet/18417/ca-phe-got-va-hui. Emotino đã ngưng hoạt động sau vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”)

                   Mục Lục Bài 2

1) Dẫn Nhập Về Goût

2) Goût Giang Hồ: Goût Khống Chế và Khống Chế Goût

3) Sự Nhanh Nhạy Về Goût Của Các Nhà Sản Xuất Nội

4) Sự Nhanh Nhạy Về Goût Của Các Nhà Sản Xuất Ngoại

5) Cái Hùi Hụi Về Goût Của Một Đại Gia Nội

6) Kết Luận

1) Dẫn Nhập Về Goût

Cách nay vài tháng, khi đến thăm Tiến sĩ Trần Quí Thanh, chủ nhân của Tân Hiệp Phát, tôi được Tiến sĩ Thanh mời dùng thử một sản phẩm mới chưa được tung ra thị trường, và hỏi thăm nhận xét của tôi đối với sản phẩm mới toanh này, đó là chai cà phê nhãn hiệu VIP. Với sự thích thú, tôi nói rằng sản phẩm này sẽ đáp ứng đúng yêu cầu của người tiêu dùng chính vì nó có độ ngọt nhẹ, thích hợp với nhu cầu giải khát khi được ướp lạnh – vì sự ngọt gắt sẽ chỉ làm gia tăng cơn khát và mức đường huyết một cách không cần thiết. Sản phẩm mới này của Tân Hiệp Phát giúp gia tăng nhiều sự lựa chọn hơn cho người tiêu dùng, từ đó phát sinh nhiều “gu” mới lạ cho những vì vua trong thế giới khách hàng VIP. Song, “gu” là gì?

Gu Là Gì?

Trong 4 bài viết về cà phê trên Emotino tôi đã tránh dùng chữ “gu” vì không muốn lập lại từ ngữ quảng cáo tầm phào của đại gia cà phê Trung Nguyên. Nhưng nay thấy chính đại gia ấy đã “ngộ” ra ‎gần đúng ý nghĩa của “gu” trong thương trường nên tôi viết thêm bài này về cà phê – vì rằng cà phê không phải là thức uống duy nhất có giá trị trên đời hay lâu dài trong đời so với nước suối và …nước đun sôi để nguội, và rằng ngay cả uống cà phê năm bảy chục ly mỗi ngày (số lượng như vậy mới đúng là nghiện cà phê, chứ hai ba ly thì nào phải tín đồ cà phê giáo) riết cũng ngán, huống gì đọc hoài mấy bài hoặc ca ngợi cà phê hoặc coi cà phê là chuyện tầm phào chẳng có gì mà ầm ỉ. Trước khi biện luận tràng giang đại hải về cái chuyện nhà sản xuất hăm hở hiếu chiến về cà phê, ôm lấy cái “gu” của mình mà áp đặt thương trường, nay đã riu ríu chấp nhận “chịu đâu vào đấy”, nhưng vẫn tiếc hùi hụi trước kiểu đại gia ấy bung ra trong lồng nhỏ, tôi xin chêm một chú thích nhỏ: chữ “gu” mà người Việt hay dùng xuẩt phát từ tiếng Tây là “goût”, một kiểu nói mà nhiều người Việt thời Pháp thuộc có thói quen dùng kèm với tiếng Việt, chẳng hạn: “để moa nói cho toa nghe chuyện này nhé: lão ấy có cái gu ăn kem dùng đũa hay nĩa chứ không dùng cùi-dìa” (tức là: để tôi nói cho anh biết chuyện này nhé: lão ấy có sở thích ăn kem dùng đũa hoặc chỉa ba chứ không dùng muỗng/thìa).

2) Hành Sử Giang Hồ: Goût Khống Chế và Khống Chế Goût

“Gu” luôn có sau hàng hóa và “gu” luôn mang đậm dấu ấn cá nhân. Phở phải có trước rồi mới có “gu” ăn phở bò, phở gà, phở lợn, phở chay, phở có đủ thứ rau, phở có đủ thứ trừ rau, phở có nước trong, và phở có nước béo – gu của tôi là ăn phở phải bỏ vào trong tô phở vài cục nước đá vì tôi ghét ăn món ăn nào nóng sốt (y học gần đây có khuyến cáo ăn đồ nhiệt độ cao hơn thân nhiệt dễ dẫn đến nguy cơ ung thư vòm họng). Cà phê phải có trước rồi mới có “gu”: người thích uống cà phê “phin”, người thích uống cà phê pha trong vợt vải, người thích uống cà phê hòa tan – còn “gu” của tôi là uống cà phê đen đá bất kỳ miễn đừng để tôi thấy bản mặt của mấy cái “phin”(tức percolator), tiệm không được để tôi phải chờ đợi lâu hơn hai phút (nếu tiệm “pha vợt” lâu thì phục vụ ngay trước cho tôi một ly cà phê loại ba-trong-một hay một lon cà phê ướp lạnh hoặc một chai cà phê trong khi chờ đợi). Khi pha vợt xong thì không cho đường, không thêm sữa, nhưng có pha chung với nước trà đậm đặc đã pha trước trong ly cối đầy nước đá bào, và khi tôi bắt đầu uống thì họ phải bắt đầu bày thêm trước mặt tôi bánh kẹo cùng một ly sô-đa chanh không đường để tôi uống tráng miệng sau khi nốc hết ly cối cà phê đậm pha trà đặc ấy; trong khi cái “gu” của con cháu tôi là … “tuyệt đối nói không với cà phê là thức uống sinh ra…mụn”. Đại gia Trung Nguyên khoe rang cà phê bằng phương pháp “bí truyền” nào đấy rồi quảng cáo là uống cà phê thế mới đúng “gu” – hóa ra khống chế mọi người, ai mà uống cà phê khác với cái ổng gọi là “gu” là sai “gu” và coi thường thiên hạ có các công thức bí truyền cấp thấp hơn sao? Đại gia cà phê còn có đội quân tiếp thị thời trung cổ nguyên sơ khi mọi rợ hiếu chiến sấn sổ nhào vô khu vực bán hàng của đối thủ cạnh tranh để mời khách hàng của người ta uống thử hàng mình rồi phỏng vấn lấy ý kiến khen hàng mình ngon hơn hẳn người ta mới chịu rút quân về viết bài khoe thành tích trên báo – hóa ra sau khi chế ra một “Goût Khống Chế” họ ra tay làm chuyện “Khống Chế Goût” hay sao? May mà ông ta dần nhận ra các chân l‎ý đơn giản mà bất kỳ doanh nhân thực thụ nào cũng nắm biết trước khi dấn thân vào thương trường là phải tạo nhiều sản phẩm tốt và hấp dẫn để người tiêu dùng sử dụng, ưa thích, hình thành nhiều…“gu”, rồi khi thấy đối thủ cạnh tranh có hàng tương tự, mình phải sản xuất nhiều sản phẩm mới khác hầu thay đổi “gu” của khách hàng. Đối với “gu”, không bao giờ có kiểu áp đặt giang hồ . “Gu” là sở thích của từng cá nhân, có thể giống nhau hoặc khác nhau; “gu” thay đổi theo cơ địa hoặc tình hình đổi thay của sức khỏe cá nhân khách hàng; và cũng y như sở thích thời trang, “gu” thay đổi theo thời gian. Người có nhiều thời gian nhàn rỗi, hay không có gì để làm, hoặc không biết phải làm gì, hoặc không thiết làm gì cả, sẽ thấy rất bình thường khi ngồi rung đùi đến hơn 15 phút nhìn từng giọt cà phê rơi lỏn tỏn từ chiếc “phin” cho đến hết tức lúc mức cà phê lên cao từ 1 cm hay 2 cm từ đáy ly tức nhấp khoảng võn vẹn ba cùi-dìa là hết sạch, có khi “phin” bị nghẽn mạch phải lấy “cùi dìa” chà…đít và có chén nước nóng hy vọng giữ ấm cho ly cà phê “phin” đã nguội ngắt sau ngần ấy thời gian đợi chờ tỏn tỏn. Người có công việc năng động thú vị, tham công tiếc việc, sống kiểu “biết nhàn là đã nhàn rồi, cớ gì phải chờ đến lúc nhàn mới là nhàn – tri nhàn, tiện nhàn; đãi nhàn, hà thời nhàn” thấy thời giờ qu‎ý hơn cả kim cương, muốn dùng thời gian có ích hơn cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, sẽ thấy thật tuyệt vời nếu có các gói cà phê 3-trong-1 trong tầm tay, và trên cả tuyệt vời khi có sẵn các lon hay chai cà phê trong tủ lạnh ở cạnh đấy trong tầm tay.

3) Sự Nhanh Nhạy Về Goût Của Các Nhà Sản Xuất Nội

Từ năm trước tôi đã được vài học trò cũ và vài học trò…online (có ba bạn đọc Emotino gồm hai vị đang học tiến sĩ ở Singapore và một nhà báo gởi email xin được gọi tôi là…Thầy), nhân viên cũ hay nhân viên mới, bạn cũ hay bạn mới, ở nước ngoài hay ở nước trong – và như Cô Lại Thu Trúc có khéo nêu trong bài viết gần đây của Cô (tựa đề “Thầy Nào Trò Đó”), những món quà ấy phải là sản phẩm mới, sản phẩm được tôi ưa thích, và sản phẩm ấy phải ở mức giá không trên mức tình cảm để tôi còn giữ được tiếng thanh liêm – gởi tặng trà và cà phê đa số là hàng nội địa, chỉ có rượu là…ngoại. Ngoài cà phê hút chân không Linh’s Coffee hương vị hazelnut độc đáo mà tôi hết lời ngợi khen trong một bài viết trước đây trên Emotino (Linh’s Coffee nay ghi địa chỉ ở TP Hồ Chí Minh thay vì ở Lâm Đồng), còn có các hộp cà phê hiệu Kafé-Kafé hương thơm Vanilla, Kem Ái Nhĩ Lan, Mocha, và Original tuyệt diệu, đặc biệt là phía sau hộp Kafé-Kafé có hình ảnh các cô gái xinh như mộng cười tươi nâng cốc cà phê. Trên bao bì có ghi đơn vị sản xuất là Top Choice Foods International ở Củ Chi. Nếu như Linh’s Coffee thuộc loại cà phê rang xay nhuyễn dùng pha “phin” (tôi không thích “phin” tỏn tỏn nên ở nhà tự chế ra một cái vợt vải để pha Linh’s Coffee, theo kiểu Ông Ngoại tôi, người xem thường các “phin”, xưa kia hay tự pha như thế) thì Kafé-Kafé là loại 3-trong-1 vô cùng thơm ngon.

Tôi cũng nhận được các hộp cà phê loại 2-trong-1 và 3-trong-1 hiệu Café Rock của nhà sản xuất Cao Nguyên Xanh (Green Highland International) cũng ở Củ Chi, gồm bốn loại Traditional, Instant Coffee, LatéCappuccino. Tôi chưa dùng vì nhiều quá, định để chưng Tết Canh Dần này cho hoành tráng, nhưng chắc hiệu nào cũng thơm ngon ngây ngất vì tất cả cùng chung nguồn gốc cà phê thượng hạng Việt Nam nhà.

Tất cả đã góp phần làm giàu thêm tính đa dạng của các sản phẩm nội địa trên nền nguồn nguyên liệu cà phê chất lượng của Việt Nam.

4) Sự Nhanh Nhạy Về Goût Của Các Nhà Sản Xuất Ngoại

Trong khi đó, tại những xứ miền của văn minh tiên tiến bấy lâu nay chỉ chú trọng sản xuất cà phê decaf tức cà phê uống có hậu chua chua do đã bị loại bỏ chất caffein (decafeinated) nhằm bảo vệ tim mạch của người tiêu dùng, người ta phát hiện những hậu duệ đông đúc của “họa da vàng” vốn chiếm đa số nhân loại lại sính uống cà phê pha “phin” nên cũng nhanh tay sản xuất cà-phê pha “phin”, chỉ khác một điều là họ có khoa học tiến bộ, công nghệ hiện đại, và sáng tạo thực thụ (khác với sáng tạo tửng tửng thăng hoa) nên chế luôn loại “phin” giấy cực kỳ tiện dụng, thay vì phải dùng “phin” nhôm vừa có hại cho sức khỏe, vừa bất tiện trong pha chế, vừa bất hợp pháp khi thải bỏ bã cà phê xuống ống thoát nước của bồn rửa chén. Những sản phẩm ấy được quảng cáo là cà phê rang xay 100% loại Arabica, đã decaf, và chứa trong túi giấy lọc đặc biệt, chỉ cần bỏ túi vào tách hay bình nước sôi (tùy túi nhỏ hay lớn) là có thức uống cà phê hương vị đậm đà hơn loại cà phê hòa tan. Đây là sản phẩm của các hãng cung ứng chủ lực cho các hệ thống khách sạn nhà hàng hạng sang trên thế giới.

5) Ba Cái Hùi Hụi Về Goût Của Một Đại Gia Nội

Trong các bài viết về Cà phê của tôi trên Emotino, tôi có nêu hiện tượng các nhà sản xuất cà phê hạng đại gia ở Việt Nam hoặc chạy theo khuôn cổ lổ chỉ chế cà phê rang xay đựng trong hộp lớn hay bao to để người tiêu dùng pha “phin” (thậm chí có khi kèm quà tặng là một “phin” cà phê móp méo do làm bằng một thứ hợp kim nhôm rẻ tiền mỏng dính) mà chỉ cần dùng không nhanh là cả hộp hay cả bao cà phê bị vón cục, mất hương vị, phải vứt đi; hoặc bo bo kiêu hãnh với một cái “gu” của mình với ảo tưởng toàn dân Việt Nam phải chung dùng và thế giới phải dùng chung; hoặc đầu tư vào những công trình hoang tưởng chẳng-dính-dáng-gì-đến-phát-triển-ngành-cà-phê-dù-có-hai-chữ-cà-phê. Tôi cũng đóng góp ý kiến rằng Việt Nam ta nên lấn sân sản xuất thứ cà phê decaf đáp ứng nhu cầu rất lớn của thế giới đối trọng của Phương Đông. Song, nay thì thế giới Phương Tây đã sản xuất cà phê rang xay để dùng pha “phin” bắt chước Phương Đông để phục vụ cho đa số dân Phương Đông sống tại Phương Tây, đồng thời chào sân dân Phương Tây một cách dùng cà phê mới theo cách Phương Đông để tạo nên một “gu” mới ở Phương Tây – và có khi bán ngược lại Phương Đông, trước nhất là tại các khách sạn nhà hàng sang trọng của các tập đoàn Phương Tây xây tại Phương Đông và các đại siêu thị Phương Tây xây ở Phương Đông cũng như giới giàu sang qu‎ý phái trẻ trung thời thượng ở Phương Đông. Nhưng điều đáng mừng là Việt Nam nay đã có Kafé-Kafé, Rock Café, v.v., sản xuất nhiều chủng loại cà phê hòa tan có nhiều hương vị độc đáo y như ở phương Tây; hay Linh’s Coffee sản xuất cà phê rang xay để pha “phin” nhưng với hương hazelnut sáng tạo dù vẫn còn trong bao bì lớn chưa có túi giấy lọc; tất cả đã và đang góp phần vào việc gia tăng các loại sản phẩm theo phương thức bài bản giúp người tiêu dùng có thêm nhiều sự lựa chọn ngay tại Việt Nam và hình thành các “gu” sành điệu mới như một cách “giành giật” khách hàng đầy hoa mỹ, lịch sự, đẳng cấp chuyên nghiệp cao với giá trị cộng thêm.

Song, tôi lấy làm tiếc hùi hụi khi lại là đại gia Trung Nguyên mới đây đã tổ chức buổi lễ hoành tráng với sự tham dự của các qu‎ý bà thanh lịch để ra mắt sản phẩm cà phê nhãn hiệu Passiona. Trong bài về rượu Pernod trên Emotino, tôi tuy có viết Pernod là rượu nhẹ tuyệt hảo dành cho qu‎ý bà – do trước 1975 các bà lớn ở Sàigòn hay sành điệu gọi một ly nước cam vắt pha Pernod – nhưng chưa bao giờ nhà sản xuất Pernod Ricard lại dại dột ghi trên chai dòng chữ “Rượu dành cho Qu‎ý Bà” cả. Không ai tự trói mình trong ngành thực phẩm bằng cách ghi hoặc quảng cáo giới hạn giới tính người tiêu dùng mà sản phẩm được chế tạo dành cho. Kafé-Kafé của Top Choices ở Củ Chi đã có in hình các cô gái trẻ trung xinh đẹp uống cà phê, hộp in màu tươi vui sống động, nhưng chỉ có thế. Tôi đã có “gu” mới khi uống Kafé-Kafé vì đâm ra nghiện Kafé-Kafé sau khi nghiện Linh’s Coffee; song dù tò mò, tôi cũng sẽ không bao giờ kêu người phục vụ bàn cho tôi một cốc Passiona của Trung Nguyên vì buổi đại lễ do đại gia ấy tổ chức và lời thoại quảng cáo trên tivi đã nói rành rành là dành cho Qu‎ý Bà Thanh Lịch, như một sản phẩm dành cho những phụ nữ thành đạt, làm khách hàng hiểu rằng đó là cà phê không dành cho qu‎ý ông lịch lãm, còn các nội tướng thì dẫy nẫy như bị xúc phạm vì họ theo nghề nội trợ mà Trung Nguyên chẳng thèm nhắc đến do nội trợ không thuộc đẳng cấp nữ thành đạt chăng.  

Cái tiếc hùi hụithứ hai là nhìn bao bì có thể hiểu sản phẩm này được sản xuất dưới hai dạng để pha “phin” và để hòa tan, tức loại thì vẫn cương quyết không màng đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng thế giới mà vẫn đem ấn cái “phin” nhôm Việt Nam ra giới thiệu cho bằng được với nước ngoài, loại thì ghi rõ dòng chữ “cà phê hòa tan Passiona là sản phẩm chuyên dành cho phái đẹp…đem đến cho phụ nữ sự tỉnh táo, tập trung, và một vẻ đẹp quyến rủ để sống trọn với đam mê và thành công trong cuộc sống.” Cà phê chỉ dùng cho phụ nữ, lại có tác dụng làm phụ nữ đẹp quyến rủ để họ sống trọn với đam mê, thì không rõ đã có đối thủ cạnh tranh nào của Trung Nguyên diễn giải kích bác rằng lời quảng cáo như thế chả khác nào như dành cho thuốc kích thích tình dục hay chưa.

Và cái hùi hụi tiếc cuối cùng là ở cái tên Passiona vốn là một nhãn hiệu của Schweppes dùng cho lon nước ngọt hương chanh dây loại 375ml, thậm chí khi Kirks sản xuất nước ngọt hương chanh dây tương tự trong lon 375ml cũng phải tra từ điển ngữ nguyên của passion để tìm ra từ Latinh passio, passus, pati, rồi cho ra nhãn hiệu Pasito, trong khi hãng Cottee vẫn cho ra lon nước ngọt hương chanh dây khác mẫu mã nhưng cùng nhãn hiệu Passiona đơn giản vì … Cottee cũng đã sát nhập vào Cadbury Schweppes năm 1984. Việc sử dụng một từ nhại theo tên sản phẩm đã có sẵn (giả dụ như Pepsi-Cola bị nhại thành Zen-Cola*, 7Up bị nhại thành 9Up*, hay …G-20*) đã là quá dở, huống hồ lại dùng nguyên tên như thế, vừa không phù hợp (lẫn lộn với sản phẩm nước trái chanh dây chứ không ai nghe mà nghĩ đến cà phê), vừa có nguy cơ dẫn đến các tranh chấp bản quyền (nhại tên nhãn hiệu của Schweppes và Kirks). Nếu đại gia đã cho sản phẩm “nặng chịch” là khơi dậy nguồn nào đó, và nay sản phẩm “nhẹ hều” nhằm khơi dậy … đam mê nên mới dùng chữ có lồng từ passion mang nghĩa đam mê chứ chẳng nghĩ đến chanh dây, thì vẫn có nguy cơ trầm trọng vì rằng “đam mê” hay gắn vô sản phẩm nước hoa chứ không cho cà phê, và rằng passion trong ngữ nghĩa tiếng Anh ôm hết trong nó các ý mạnh mẽ, hung hãn, vượt ngoài l‎ý trí, đậm đà nhục dục. Cà phê dành cho qu‎ý bà thanh lịch uống mà khơi nguồn passion kiểu này e thiên hạ đại loạn, khó thể phù hợp.

6) Kết Luận

Kinh doanh hàng hóa – nhất là hàng hóa hữu hình – nhất thiết cần có sự bình tỉnh tự xét mình ở đẳng cấp nào, muốn vươn lên đẳng cấp nào và hướng đến phục vụ đẳng cấp nào, trong một không gian văn hóa nào. “Gu” khác với thời trang vì không một đua đòi nào được gọi là “gu”; thậm chí “gu” đối với thực phẩm mang đậm tính cách cá nhân, trong khi “gu” thời trang có khi có từ sự bắt chước trong một nhóm hay một cộng đồng nhỏ lẻ. Trong hiểu biết tường tận về văn hóa cà phê – hay văn hóa ẩm thực nói chung – sẽ không có cửa cho một phân biệt giới tính rạch ròi. Diet Coke hay Pepsi Light là sản phẩm bình thường thích hợp cho bất kỳ ai muốn ăn kiêng theo phương pháp dưỡng sinh kiểu nhà giàu – tức ăn uống có chế độ cân bằng năng lượng nạp vào cơ thể. CocaColaPepsiCola không bao giờ ghi rằng thức uống “diet” hay “light” của họ dành cho bịnh nhân tiểu đường. Nếu Chivas Regal, Glenfiddich, hay Dalmore không quảng cáo “rượu mạnh dành cho qu‎ý ông”, Pernod hay Galliano không quảng cáo “rượu nhẹ dành cho qu‎ý bà”, thì sản phẩm cà phê quảng cáo tập trung cho qu‎ý bà thanh lịch khó thể là một phát kiến mới của nghệ thuật quảng cáo tiếp thị một sản phẩm mới. Bài Luận Về Sự Thăng Thiên Trong Quảng Cáo Giới Thiệu Sản Phẩm của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino có gợi ý rằng một sản phẩm có thể do tập thể phòng R&D của nội bộ thiết kế, song tên gọi tiếng Anh và nội dung quảng cáo tiếng Anh nhất thiết phải cần đến các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp. Cà phê Passiona chứng tỏ đại gia cà phê Trung Nguyên đã đi theo con đường đúng: chấm dứt ôm khư khư cái “gu” cực đoan để tạo ra thật nhiều sản phẩm không khác với (tức tương tự các hương vị và các chủng loại của) rừng sản phẩm cà phê của thế giới để tạo ra nhiều “gu” mới cho người tiêu dùng Việt Nam. Hai điều còn tồn tại của Trung Nguyên là chưa sản xuất cà phê rang trong “phin” giấy từng gói lẻ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nước ngoài, và chưa có sự tư vấn thích hợp khi đặt tên tiếng Anh cho sản phẩm.

Người tiêu dùng sành điệu Hà Nội ngày nào cũng chen chật ních tại Café Mai, số 96 Lê Văn Hưu, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, của chủ nhân Phạm Duy Anh, để chờ mua các chai nhựa cà phê đậm đà đậm đặc pha sẵn mới ra lò (ra lò liên tục), có dán nhãn hiệu và ghi hạn sử dụng. Theo dòng chữ ghi trên chai, cà phê Mai được rang xay với phương pháp kỹ thuật chế biến gia truyền nổi tiếng Hà Thành từ năm 1936. Café Mai đã phát triển ra các quán cà phê riêng tại 79 Lê Văn Hưu, 52 Nguyễn Du, và 75 Trần Nhân Tông, cùng ở Quận Hai Bà Trưng, và khách hàng đông đảo của họ gồm khách du lịch nhàn du như tôi lần nào ra Hà Nội cũng gọi taxi tìm đến, và đủ mọi thành phần, từ sinh viên nam nữ đến công chức nhân viên, trên các phương tiện xe đạp, xe máy, ô tô, từ tờ mờ sáng đến tờ mờ sáng (from sun to sun). Đó là “gu” độc đáo: cà phê pha sẵn có hạn dùng một hay hai ngày gì đấy, như bánh mì “tươi”, độc đáo còn hơn cả cà phê chai và lon sản xuất công nghiệp, nhưng nói lên một điều rõ ràng, khúc chiết rằng cái “phin” pha cà phê đang dần biến mất khỏi đời sống cá nhân của người tiêu dùng thanh lịch, rằng cà phê đậm đà không chỉ được pha từ cái “phin” nhôm rẻ tiền, thứ kim loại bị cho là đã đặt dấu chấm hết cho sự bành trướng lãnh thổ của A Lịch Sơn Đại Đế (Alexander the Great) cũng như làm tan rã cả đế chế La Mã**. Café Mai đã hiểu “gu” của đa số, và Café Mai cứ thế làm giàu theo cách riêng.       

Mong sao sẽ không xuất hiện các sáng tạo nhãn hiệu cà phê Jackfruita***, Duriana***, hay kiểu cà phê dành cho tuổi teenfifty plus**** sáng tạo của…thăng thiên.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

* Tên đặt theo tưởng tượng

** Khoa học (và Bộ Y Tế các nước, từ Canada đến Quatar, Sri Lanka, v.v. cũng như các nghiên cứu khoa học của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, v.v.) )khuyến cáo hạn chế sử dụng đồ dùng làm bằng nhôm đựng thức ăn vì có thể gây ung thư họng, bụng, ruột, thận, da, v.v., nhất là khi các đồ dùng ấy làm bằng nhôm rẻ tiền, dùng lâu ngày, và có các vết trầy xướt. “phin” cà phê người Việt đang dùng được chế tạo từ những cơ sở thủ công nhỏ, tất nhiên bằng nhôm thứ phẩm, và được dùng lâu năm ở các tiệm cà phê nên thường ở dạng móp méo, có nhiều vết trầy xướt bên trong là nơi tiếp xúc với cà phê. Vì vậy, cần loại bỏ việc sản xuất và sử dụng các “phin” nhôm này. Thay vào đó, người tiêu dùng cà phê rang xay nên sử dụng “phin” vải truyền thống Việt Nam, hoặc máy pha cà phê loại gia dụng (hàng nhập khẩu từ Âu Mỹ) hoặc loại lớn dùng cho các nhà hàng, các quán cà phê.

***Jackfruita và Duriana do Hoàng Hữu Phước đặt theo tưởng tượng, nhại theo kiểu Passiona (hương trái chanh dây): jackfruita (hương trái mít), và duriana (hương sầu riêng)

**** fifty plus: dành cho lứa tuổi trên 50

Bài 3:

Cà Phê – Một Chuyện Nhỏ và Hai Chuyện Lớn

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-01-2009

(bài đăng lúc 0g54 ngày 23-11-2009 tại http://www.emotino.com/bai-viet/17393/ca-phe-mot-chuyen-nho-va-hai-lon. Emotino đã ngưng hoạt động sau vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”)

Cà phê và…” là tựa đề một bài viết trên Emotino, như một khúc dạo đầu đầy phấn khích cho phần chính của vấn đề mang tính “thời cơ”, vốn là từ ngữ luôn gắn liền cùng lúc hai đối tượng “winner” và “loser”, tức người thắng kẻ thua, hoàn toàn đứng ngoài vùng cát cứ của lý thuyết chung chung “win-win” của “đôi bên đều thắng” vốn không bao giờ đúng cho tất cả mọi chuyện và mọi việc, kể cả trong kinh doanh.

Một chuyện nhỏ ở đây là tôi mới được một vị giám đốc trẻ tên N. thỉnh thoảng có bài viết trên Emotino tặng cho tôi với lòng tín thác bản photocopy một thư tay viết bằng tiếng Anh, mô tả chi tiết một công thức chế biến cà-phê bí truyền, mà nội dung cho biết đã một thời rất lừng danh tại xứ sở của gia đình người viết. Vị giám đốc cho biết đã có tài liệu ấy hơn mười năm nay từ một người bạn nước ngoài, là hậu duệ duy nhất của dòng họ, gởi tặng qua email chỉ vài tuần trước khi người ấy tử nạn. Anh in ra rồi đem cất như một kỷ vật cho đến khi biết tôi qua Emotino. Chất lượng mực in cách nay hơn mười năm đã làm những trang in hai mặt khổ A4 dính vào nhau, khiến khi anh cố gắng tách rời từng tờ một để gởi tôi đã gây ra những mảng rách, nhòe, chập chữ không sao tránh khỏi (trong khi bức email gốc đã bị mất từ lâu do một lần quên mật mã của tài khoản Yahoo! anh phải tạo tài khoản mới). Dù vị giám đốc trẻ tuổi đáng kính đó không đặt bất kỳ điều kiện nào, tôi cũng viết đôi dòng cảm ơn anh về sự tín thác, đồng thời khẳng định với anh rằng tôi sẽ cố gắng tối đa đọc tập tài liệu ấy, giải mã những phần chập hay thiếu chữ, để trong thời gian sớm nhất có thể được, có bản tiếng Anh hoàn chỉnh để gởi ngược lại cho anh, với khẳng định sẽ đầu tư tiến hành thực hiện mua nguyên liệu, hóa chất theo đúng công thức, cùng các dụng cụ cần thiết y như bản vẽ có đính kèm trong tài liệu viết tay ấy. Nếu chế biến thành công cho ra thức uống cà phê đặc sắc và độc đáo, công thức đó sẽ mang tên người bạn nước ngoài quá cố của anh đồng thời trở thành tài sản chung của con cái của tôi và con cái của vị giám đốc trẻ ấy, còn việc kinh doanh thì để con cái chúng tôi sau này quyết định (vì con tôi vẫn chưa đến gần lắm đường chinh phục học vị thạc sĩ kinh doanh quốc tế còn con vị giám đốc ấy đang được cha bồng bế cho bú sữa bình mỗi ngày) do tôi và giám đốc N. đang bù đầu bù cổ cho hàng núi công việc mỗi ngày, thậm chí có những … “nhượng quyền” kinh doanh mà giám đốc N. có nhã ý muốn đối tác nước ngoài trao cho tôi mà tôi buộc phải lờ đi, nói chi tới việc mở …chuỗi cửa hàng cà phê “nhượng quyền” khắp nước được. Thật lạ lùng khi những con người trong cuộc sống ắt có bao bạn hữu, người thân, nhưng chỉ khi đọc bài của nhau trên một khung Emotino không thể sờ chạm vào được lại nhớ đến “báu vật” đang cất giữ dưới lớp bụi mờ của thời gian và hư mất để lấy ra trao tặng đúng người mình tôn kính mến phục mà không thốt lên một lời gợi ý bất kỳ về tỷ lệ ăn chia hay bản quyền khai thác. Một cung cách kiểu “tôi-làm-không-đựơc-thì-đây-nè-anh-làm-đi” như gameshow “Đối Mặt”, chứ không phải kiểu “ta-ăn-không-được-thì-để-ôi-để-thiu-chớ-đừng-hòng-ai-ăn-được”.

Còn hai chuyện lớn tiếp theo liên quan đến cà phê là (a) thời cơ thực tế thực sự của cà phê, và (b) cà phê với khoa học sức khỏe của cộng đồng.

Thời cơ thực tế thực sự của cà phê chính là lúc này, khi kinh tế toàn cầu chao đảo, kinh tế nước nhà bị ảnh hưởng tác động phần nào. Đã không ngoa khi nói nền kinh tế thị trường nội địa cực kỳ thông thoáng đã tạo ra bao đại gia, những người đã biết tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở kế hoạch kinh doanh ngắn hạn và trung hạn để tạo ra tài sản kếch sù cho bản thân và doanh nghiệp của riêng mình, nhưng đã chưa tạo ra hàng ngũ những đại gia lãnh đạo thương trường, khiến manh mún là tính từ tiêu cực vẫn sẽ còn gắn vào doanh giới Việt Nam. Hết Cà phê Trung Nguyên đến Sữa Vinamilk biến thành đích ngắm công kích trên báo chí, bên thì bị nông dân than thở cho rằng chỉ biết lo xây thiên đường trong khi nông dân trồng cà phê sống dở chết dở vì giá nguyên liệu tuột dốc phải chịu nợ nần và chặt đốn bỏ cà phê, phía bị dè bỉu cho rằng đã tạo nên quảng cáo vĩ đại tặng hàng triệu ly sữa cho trẻ em nhưng nông dân nuôi bò sữa phải đổ bỏ sữa trắng ngập cả cánh đồng vì sửa bị ôi thiu sau thời gian nông dân dài cổ vô vọng chờ đơn vị tới thu mua. Thay vì tung tiền “xây” thiên đường hay “tặng” hàng triệu ly sữa từ tiền lời có được do khai thác “thời cơ” cái khổ ải nghèo bấn của nông dân, họ có thể dùng số tiền ấy biến nông dân thành “người” của họ, hàng tháng có thu nhập cố định, còn nguyên liệu “cống nạp” cho họ theo tỷ lệ và thời giá xuống hay lên, để họ chiếm “thời cơ” thành đại gia thực thụ khi là chủ nhân nguồn nguyên liệu đầy ắp kho lẫm, thống lĩnh thương trường xuất khẩu và sản xuất nội địa, điều tiết giá cả giúp chính phủ ổn định kinh tế, còn họ hưởng lợi hoàn toàn và tuyệt đối khi tung hàng ra thị trường hải ngoại. Giả như một công ty nước ngoài nào đó đột nhiên “tin tưởng tuyệt đối” vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam, thì với tài lực của họ, thử tưởng tượng xem họ thực hiện việc trên để nắm nguồn nguyên liệu cà phê của Việt Nam dễ dàng như thế nào, và đừng nói chi tất cả các đại gia là nhà sản xuất cà phê thành phẩm của Việt Nam mà đến các nhà buôn nước ngoài cũng sẽ mua lại nguyên liệu cà phê Việt Nam từ công ty nước ngoài “nhìn xa trông rộng” ấy.

Về vấn đề khoa học sức khỏe cộng đồng có liên quan đến cà-phê thì không ai không công nhận cà phê gây tác hại như thế nào với hệ tim mạch của con người. Khi xã hội càng văn minh, con người càng hiểu biết nhiều hơn và giàu có hơn, người ta sẽ muốn có cuộc sống khỏe hơn, thọ hơn, và do đó sự lựa chọn đồ ăn thức uống sẽ khắt khe hơn. Sô-cô-la là sự lựa chọn thay thế tuyệt hảo vì chocolate có lợi cho sức khỏe và hương vị có thể chấp nhận được như một thay thế cho cà phê khi cơn nghiện cà-phê ập đến. Đây cũng là một lý do Mac đã có thêm Mac Chocolate ngoài Mac Coffee trên các kệ hàng ở siêu thị. Sự cười nhạo thuốc lá đầu lọc đã dấy lên khi Bastos ở miền Nam và Điện Biên ở miền Bắc thống trị thị trường tiêu thụ thuốc lá điếu không đầu lọc; song, chỉ một thời gian ngắn sau, điếu thuốc lá có đầu lọc (filter rod) và giấy quấn đầu lọc màu vàng đất hay màu trắng (cork-tipping paper) trở thành loại lịch lãm sang trọng mà điển hình là 555, Dunhill, và More, v.v.. Ấy vậy mà sau này để tăng “giá trị khoa học và trách nhiệm” của thuốc lá điếu sang trọng, nhà sản xuất vẫn phải có dòng chữ cảnh báo in trên bao thuốc lá rằng hút thuốc có hại cho sức khỏe. Tương tự, thế giới đã dùng cà phê loại decaffeinated  tức đã loại bỏ chất kích thích caffeine từ hơn nửa thế kỷ nay, vậy mà các đại gia ở Việt Nam vẫn làm PR và tốn bạc tỷ cho quảng cáo cà phê theo “gu” người Việt, tức là mặc nhiên thừa nhận tôi-sản-xuất-cho-dân-Việt-chúng-tôi, chẳng-phải-để-xuất-khẩu-đi-đâu-hết như một kiểu “áp đặt” rằng dân Việt buộc phải uống theo “gu” Việt do ai đó đang giữ bí quyết, và ai vào Việt Nam buộc phải uống cà-phê theo “gu” kiểu Việt Nam. Thậm chí có đại gia lại quá đà phấn khích, nghe theo lời tư vấn không thích hợp để rồi có hành vi bất lịch sự trong kinh doanh như thời hồng hoang Thủy Hử khi vừa cho thuộc hạ xồng xộc xông vào lãnh địa của đối thủ cạnh tranh mời khách hàng của đối thủ cạnh tranh dùng thử sản phẩm của mình rồi khoe là những khách hàng này ai cũng cho là ngon hơn, vừa cho rằng quyết không để đối thủ nước ngoài này “áp đặt” cái “gu” của họ lên đầu người Việt. Không rõ đã có sự cố gì trong sử dụng ngôn từ, vì rằng người bán MercedesBenz không có nghĩa là đang “áp đặt” cái “gu” xe cộ của con cháu Hitler lên đầu khách hàng Việt Nam. Trong thời đại văn minh, chính cái an toàn cho sức khỏe hơn mới là tiêu chuẩn cao nhất và ưu tiên của người tiêu dùng, còn bao bì được ghi rõ là từ nguồn nguyên liệu tái chế thân thiện với môi trường là tiêu chuẩn thứ hai, chứ không phải hiệu nào ngon nhiều và hiệu nào ngon nhiều hơn một tị là điều người mua ở phương Tây quan tâm. Lời khuyên nghiêm túc nhất dành cho các đại gia sản xuất cà phê ở Việt Nam là nên cùng nhau gắng sức thuyết phục người Việt thay đổi và dần dần chuyển sang dùng decaffeinated coffee, để bảo vệ sức khỏe và vì an nguy của giống nòi; đó là chưa kể sản phẩm decaffeinated coffee của Việt Nam vừa phục vụ người Việt thời đại mới vừa có thể có được thị phần mới ở nước ngoài, nơi người tiêu dùng chỉ dùng decaffeinated coffee và chỉ nhập nguyên liệu thô của Việt Nam về chế biến decaffeinated coffee. Phải chăng vì không thể xuất khẩu cà phê thành phẩm nên trên bao bì sản phẩm của một đại gia tiêu biểu của ngành cà-phê đã không còn in các hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Anh? Khi lời khuyên đầy ắp trên báo chí rằng chỉ nên uống mỗi ngày một ly cà phê, số lượng cà-phê nguyên chất thành phẩm bán ra sẽ đối mặt với sự giảm sút và sự cạnh tranh khỏe khoắn vô tư chắc chắn chiến thắng của thức uống cacao hay sô-cô-la. Sự thay đổi theo “gu” nước ngoài sẽ đồng nghĩa với sự khôn ngoan chiếm thời cơ, sử dụng nội lực sản xuất decaffeinated coffee lấn chiếm thị trường hải ngoại và tiếp tục đạt mức tiêu thụ cao trong nước vì với decaffeinated coffee tức cà-phê đã loại bỏ chất cà-phê-in, người tiêu dùng có thể uống nhiều ly cà-phê mỗi ngày. Cái “gu” ăn phở hay ăn thịt quay đầy mỡ hay ăn thịt chó của người Việt chỉ có thể đưa đến tai họa (bánh phở có pha thuốc ướp xác chết, hay hàn the làm dai sợi phở, hoặc mỡ gây gan nhiễm mỡ, và thịt chó quá giàu đạm gây nguy cơ bịnh “gút”, v.v.) nên cái “gu” ấy chẳng hay ho gì mà quảng bá cho thêm tội với đời sau.

Tuy cà phê có chứa vài chất chống oxy hóa, có thể hạn chế sự phát triển ung thư họng hoặc ung thư gan, nó lại không an toàn cho người bị tim mạch. Ngay cả trong các loại decaffeinated coffee cũng chỉ có thương hiệu Folgers Coffee Crystals là triệt tiêu hoàn toàn chất caffeine, kỳ dư đều chứa một phân lượng nhất định, chẳng hạn một tách decaffeinated coffee do Starbucks phục vụ khách hàng thì có chứa 1mg caffeine trong mỗi ounce (28 gr) trọng lượng, so với các hãng khác mỗi tách decaffeinated coffee chứa 32 mg (mỗi tách cà phê nguyên chất có từ 85mg đến 100 mg caffeine). Suy ra, sản xuất decaffeinated coffee vẫn có thể làm hợp “gu” người Việt – nếu thực sự có cái gọi là “gu” ấy trên đời – qua việc sản xuất có lưu lại một hàm lượng caffeine an toàn, vừa duy trì mức độ “phê” vừa phải của cà-phê, vừa theo đúng tiêu chuẩn nước ngoài, giúp sản phẩm cà-phê Việt Nam được chấp nhận mọi nơi mà không phải ghi bất kỳ khuyến cáo nào trên sản phẩm.

Khi khai trương rầm rộ các tiệm bán cà phê ở nước ngoài, các doanh chủ nên treo bảng khuyến cáo ghi rõ:

 “Cà phê hảo hạng Việt Nam chứa đầy đủ lượng caffeine thiên nhiên nên có thể sẽ không thích hợp với khách hàng nào có tiền sử hoặc đang có vấn đề về tim mạch; quý khách do đó phải tự quyết định và chịu mọi trách nhiệm khi vào gọi uống. Bổn quán xin kính báo.”

Có như vậy mới triệt tiêu tất cả các rủi ro với pháp đình nước sở tại nếu có sự cố xảy ra cho người tiêu dùng nước ngoài, đồng thời đi trước một bước về CSR tức trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng xã hội khi tiên phong in dòng chữ ngoài bao bì “Uống cà-phê nguyên chất chưa loại bỏ hay gia giảm caffeine thích hợp có thể có hại cho sức khỏe tim mạch” mà chắc chắn trong vài năm nửa sẽ trở thành tiêu chuẩn phải theo đối với cà-phê thành phẩm Việt Nam đậm đặc caffeine trên thị trường quốc tế – nếu thực sự có nhu cầu từ nước ngoài đối với loại hàng hóa kém an toàn này.

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài 4:

Cà Phê – Còn Đó Nỗi Buồn

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-3-2011

(bài đăng lúc 15g49 ngày 17-3-2011 tại http://www.emotino.com/bai-viet/19048/ca-phe-con-do-noi-buon. Emotino đã ngưng hoạt động sau vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”)                                                                   

                          

Phóng viên báo Tuổi Trẻ khi phỏng vấn tôi về k‎ý ức của tôi đối với cà phê thời Sài Gòn xưa cũ cho số báo ra ngày 13-3-2011 vừa qua, đã khơi dậy trong tôi những xúc cảm, những hoài niệm của một thời thương động, để làm tôi như chợt khám phá mới mẻ một điều dù đã luôn tồn tại, dù đã luôn rõ nét mồn một, dù đã luôn đầy ắp tháng ngày, dù đã luôn cục cựa vươn vai thức thức ngủ ngủ, đó là: cà phê, giọt đắng vẫn còn đó nỗi buồn.

Cà phê Sài Gòn thật lịch lãm vì không hề có sự phân chia giai cấp hay đẳng cấp nơi người thưởng thức cà phê, vì chỉ có cà phê mới là đẳng cấp còn mọi người tìm đến cà phê như thần tử kiến long nhan, chỉ có cà phê và tín đồ cà-phê giáo. Thời còn mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần ka-ki xanh dương đậm bờ-lơ-ma-rin dài hai ống, đi giày vải Bata, tôi còn cùng vài bạn học đến uống cà phê “sân vườn” tại quán trong hẻm nhỏ đối diện Chùa Kỳ Viên Tự, giữa một tiệm vàng và một trường dạy sữa ô-tô đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3), quanh chúng tôi là những viên chức cổ cồn trắng vận giày tây bóng loáng, vài phu xích lô đạp ăn vận chỉnh tề vác theo ống điếu cày, và có cả các nhà văn, nhà thơ; và chúng tôi có nhiều dịp trò chuyện cùng nhà thơ Bùi Giáng cũng tại nơi ấy, bật cười hào sảng khoái hoạt cùng ông khi nghe ông giải thích ý nghĩa tên bài thơ Lá Hoa Cồn khi nói lái cụm từ này, hay lúc ông nhoài người ra với tư thế một Don Juan mỉm cười hóm hỉnh đưa tình đến sau lưng một phụ nữ vừa bước thoáng qua mà ta chỉ nhận biết qua hương nước hoa luyến lưu gió thoảng. Hầu như tất cả những con người lịch lãm ấy, dù là tôi chàng thư sinh hippy tóc dài hay ông xích lô đạp sạch sẽ tinh tươm, đều có thế giới rất bao la riêng của mình trong khung cảnh rất nhỏ rất riêng và rất chung ấy. Không ai trộn lẫn, nhưng không ai lạc lõng. Một sự tinh tế tuyệt diệu chỉ có ở vương quốc cà phê thủa xa xưa ấy.

Dù lúc thưởng thức cà phê xưa ở Sài Gòn có khi là gặm nhấm nỗi buồn của mình với một người khác phái đã trở thành thiên cổ, nhưng đó là nỗi buồn rất thơ, như một viên ngọc bích trong kho tàng tâm khảm một con người với bao bảo thạch khác, từ hồng ngọc, hoàng ngọc, đến lam ngọc, trân châu. Nỗi buồn chất chứa cho lòng người cao thượng, cho tim người thổn thức để giá trị nâng cao.

Song, nỗi buồn cà phê ngày nay lại khác, do con-người-ngoại-đạo-cà-phê-bán-cà-phê gây ra nơi tín đồ cà-phê giáo. Người ta loại bỏ vị trí cao trọng của cà phê bằng cách phân loại người uống cà phê, phân loại nơi chốn uống cà phê, lấn lướt bằng cơ bắp cho thứ “gu cà phê” áp đặt, và xây dựng thiên đường bê tông cho cà phê “gu” ấy, xóa sổ vương quốc cà phê của cà phê. Quán cà phê trở thành nơi rất chung và cho những người rất chung. Khi vào quán cà phê của “giai cấp” sang trọng, ai cũng làm cùng động tác thật nhuần nhuyễn mang tên “phong thái cạch cạch”: để ngay đùi trên (laptop) hàng hiệu lên bàn đánh cạch, để ngay một hay hai quả dâu đen (Blackberry) lên bàn đánh cạch, và đặt vài phụ kiện khác cũng lên bàn đánh cạch. Và dù bật đùi trên, bấm dâu đen liên hồi, người ta vẫn nói liếng thoắng và rất to, không vì không làm chủ được tốc độ, trường độ, và cường độ âm thanh, mà chỉ vì nơi ấy ai cũng nói liếng thoắng và rất to, mà chỉ vì âm nhạc phát quá to, mà chỉ vì âm thanh đinh tai nhức óc từ các phương tiện tham gia giao thông đang cùng tham gia tấu khúc giao hưởng hoành tráng mang tên Cộng Hưởng Âm Thanh Và Cuồng Nộ, tác phẩm chưa bao giờ được công bố của Ludwig van Beethoven và William Faulkner, người trước hơn người sau chỉ có 127 tuổi. Mọi thứ đều trộn chung, từ tiếng cạch cạch đến tiếng cười, giọng nói. Không ranh giới. Một tuyệt diệu đại đồng. Nhưng sẽ là cực hình cho những ai quá giàu tình cảm, quá sâu lắng nội tâm, quá phong phú tâm hồn của nhiều cõi đi về, vì khi đến quán cà phê cho những riêng tư dồi dào phong phú ấy, người ta có thể bị tập thể – chẳng phải ai cũng bảo đa số thắng thiểu số đó sao – nơi ấy cho là … đồ dở hơi, quân nghèo khổ, hoặc kẻ thất thời/thất chí/thất tình/thất bát, mà nói chung là thất bại, sắp tự tử hay thành khủng bố, cướp nhà băng. Tự dưng vị khách lịch lãm chỉ còn hai sự lựa chọn: hoặc sắm đùi trêndâu đen, hoặc mua cà phê về nhà tự pha uống, tự ngắm mình trong gương – nếu có gương, hoặc dí mắt vào tường – nếu không có gương, hoặc nhìn vào khoảng trống trước nhà – nếu nơi ấy vừa được giải tỏa để làm sân golf.

Cà phê hỡi, hạ thần một tấm lòng trung trinh son sắt, nay luôn đem Bệ Hạ trong bình thủy i-nốc-xi-đáp không han gỉ trong ba-lô để luôn có Đức Kim Thượng bên mình trên khắp nẻo đường thiên lý.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bài 5:

Cà-phê

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-9-2008

(bài đăng lúc 23g54 ngày 07-9-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16976/ca-phe. Emotino đã ngưng hoạt động sau vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”)

Chắc chắn không một ai ở Việt Nam nghiện cà-phê theo style của tôi. Khi tập trung cho việc học năm 1974 để lấy cho được mảnh bằng tú tài toàn phần, tôi đã từ thích cà-phê thành nghiện cà-phê, người bạn thân thương đã luôn nâng đỡ hai mi mắt cứ chực sụp xuống của tôi, đã cùng tôi vượt qua ít nhất vài trăm đêm trắng của năm học lớp 12. Thủa ấy làm gì có cà-phê thương hiệu hay chuỗi quán nhượng quyền. Má tôi mỗi tuần đi chợ Bàn Cờ mua một ký cà phê hột rang sẵn và tùy theo nhu cầu của tôi mà đem một lượng vừa phải ra chợ mướn xay. Cứ thế, tôi có sẵn nguyên liệu là cà-phê xay, và vật liệu là chiếc vợt – tôi có quá đủ kiên nhẫn suốt nhiều tuần không ngủ để viết xong một tập thơ tiếng Anh tặng người yêu là cô nữ sinh tóc dài Đinh Thị Mai Trâm, hoặc mày mò cho được cách giảng môn tóan cho em trai của tôi, song không thể nào đủ kiên nhẫn ngồi nhìn từng giọt cà-phê rơi tỏn tỏn nhẩn nha nhẩn nhít từ một cái percolator (“phin” pha cà-phê) được làm từ thứ kim loại đã dẫn đến sự diệt vong của các binh đoàn La Mã kéo theo sự sụp đổ của toàn đế chế – để tự pha cho mình những vại cà-phê hấp dẫn – tôi uống cà-phê khối lượng lớn như uống bia (nhưng không thích uống bia). Những đêm làm biếng không nấu thêm nước sôi, đã vậy lại hết sạch cà-phê xay, tôi thịnh trọng bày lên bàn học hũ đường cát, lon ghi-gô (lon sữa bột hiệu Guigoz của Pháp) đựng cà-phê hột rang, và một chiếc muỗng, rồi cứ thế mà xúc hạt cà-phê rang cho vào miệng nhai chung với một muỗng đường cát, nuốt hết thứ hợp chất đắng ngọt và lợn cợn tuyệt diệu ấy. Và khi hết đường, tôi nhai hột cà-phê không, để rồi dần trở thành nghiện cà-phê theo cách riêng: nhai cà phê hột, uống cà phê không đường, và sau này nếu không phải là bột cà-phê hòa tan thì cứ cho bột cà-phê rang vào ly nước sôi mà khuấy rồi uống nuốt luôn bã. Không thế thì không cảm nhận được tất cả tinh túy của cà-phê cũng như nồng độ khó tả đến tuyệt diệu của nó – phần xác lẫn phần hồn.

25 năm sau, lúc làm Giám Đốc Điều Hành ABC của Hoa Kỳ tại Tp Hồ Chí Minh, tôi sáng nào cũng ghé Cà phê Trung Nguyên trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, gần quán Nam Sơn, để làm một cử cà-phê sáng. Thủa ấy chỉ có vài ba quán cà-phê Trung Nguyên và sự giản dị, trang trí vừa phải, trang bị giới hạn, cùng những hũ cà-phê hột rang sẵn kiểu giới thiệu sản phẩm bán lẻ cho khách qua đường, làm tôi rất thích thú. Chỗ ngồi quen thuộc của tôi là trên gác, và các cô phục vụ không bao giờ hỏi xem tôi cần gì: họ đã quá quen với những gì Anh Phước cần, đó là một ly cà-phê đá không đường pha sẵn trong bếp từ 4 “cái” cà-phê “phin” (tôi đã cho các cô biết tôi chúa ghét thấy “bản mặt” cái “phin” và không ưa số giọt cà-phê quá ít ỏi dưới đáy ly đá, uống không “đã”) và một dĩa 4 chiếc bánh “su”. (Tôi còn gây sự chú ý cho các cô khi bảo pha luôn cho tôi một ấm trà thật đậm để tôi rót thêm vào ly cà-phê loại bốn-“phin”-trong-một-ly ấy thành một hỗn hợp cà-phê trà uống theo trường phái Phuocism). Không đọc báo, không hút thuốc, không trò chuyện với ai, tôi dùng bánh ngọt, uống một ly cà-phê gồm 4 ly “phin” ấy, rồi đến văn phòng, sau khi trả tiền 4 ly cà-phê, 4 chiếc bánh, và tiền “bo” hậu hĩ vì ấm trà đậm ngon miễn phí. Ủng hộ cà-phê Trung Nguyên, tôi còn mời bạn bè, khách hàng đến với  các quán Trung Nguyên, và chẳng cần biết thế nào là chồn là sói, cứ danh mục nào đắt nhất thì gọi uống.

Thế rồi vật đổi sao dời. Cái từ nhượng quyềnđại gia xuất hiện ngày càng nhiều, và cà-phê Trung Nguyên cũng theo cái dòng thác ấy. Tôi đến nhiều … Trung Nguyên. Cà-phê vẫn mang nhãn hiệu Trung Nguyên. Chiếc ly, miếng lót, v.v., đều in nhãn hiệu Trung Nguyên. Nhưng không khí không còn là của riêng Trung Nguyên. Nó thuộc chủ nhân đứng ra kinh doanh làm chủ mặt bằng sử dụng nhượng quyền của Trung Nguyên. Vách tường. Sự ẩm ướt. Ánh đèn. Khách hàng. Phong thái khách hàng. Phục vụ viên. Phong thái phục vụ viên. Mỗi nơi mỗi khác.  KFC nhượng quyền hay McDonald nhượng quyền có điều khác cơ bản là “hàng hóa” của họ chỉ có tại nơi “nhượng quyền”, trong khi cà-phê Trung Nguyên đóng gói trong bao bì công nghiệp hiện đại lại có sẵn trên các kệ hàng ở tất cả các siêu thị và nhiều quán chợ. Tất nhiên có những cái gọi là bí quyết pha chế bí truyền hoặc gia truyền; song, đó là cho riêng lĩnh vực của các quán kinh doanh cà-phê thành phẩm uống chứ không của các nhà sản xuất cà-phê nguyên liệu chưa pha. Nếu Trung Nguyên nói chỉ uống Trung Nguyên tại quán nhượng quyền của Trung Nguyên mới ngon, còn mua gói hay hộp Trung Nguyên về nhà tự pha uống thì không ngon, lại là sự hạ thấp giá trị hàng hóa chủ lực của chính Trung Nguyên. Còn nếu nói pha cà phê hiệu Trung Nguyên để uống tại nhà hay uống cà phê Trung Nguyên tại quán nhượng quyền Trung Nguyên vẫn thơm ngon chất lượng như nhau, thì lại ảnh hưởng không như ý đối với những nơi gọi là quán nhượng quyền.

Tôi nghiện cà-phê, như nghiện một thứ báu vật trời cho, nên dù có đang lang thang trên phố thị bất cứ quốc gia nào, tôi cũng hài lòng thỏa thích và thỏa mãn uống những tách cà-phê bản xứ. Cà-phê nào ở bất kỳ đâu cũng tuyệt diệu, kể cả khi đó là cà-phê chua loét do đã bị decaffeinated tức đã loại bỏ chất cafein gây nghiện. Ở Việt Nam, tôi nghiện cà-phê sinh ra từ đất đai màu mỡ Việt Nam. Và từ thời không nhãn hiệu đến thời quá nhiều thương hiệu và nhãn hiệu, tôi yêu hết tất cả những sản phẩm cà-phê, dù dó là cà-phê của những thương hiệu vùng Bảo Lộc như Lâm Kim Hoa trước 1975, hay Trung Nguyên, Vinacafe, vân vân và vân vân, của ngày nay, tôi luôn trân trọng những gói cà-phê do sinh viên, học viên, nhân viên, thường hay gởi tặng, bất kể hiệu gì, thậm chí “cây nhà lá vườn” không nhãn hiệu, thơm lừng trong túi nylon. Tôi chỉ lập lại việc đến một quán cà-phê vì những nét khác biệt chứ không vì chất lượng cà-phê. Đã là cà-phê thì phải thơm phưng phức chứ!

Là người Việt, xem cơm là lương thực chính, tôi ăn cơm quanh năm suốt tháng. Ai đó nếu nói ăn cơm nấu từ gạo Nàng Thơm quanh năm suốt tháng và cả đời chứ không nuốt cơm nấu từ gạo khác, ắt là người đó bất bình thường. Là người thích cà-phê, khi cà-phê không hại ai và không bị ai lên án như thuốc lá, tôi uống cà-phê quanh năm, không màng đến nhãn hiệu hay thương hiệu, vì tất cả các tên tuổi lớn của ngành cà-phê đều đã nằm đầy ắp trên các kệ hàng hóa tạo ra nhiều sự lựa chọn thú vị giữa những hàng hóa chất lượng cao y như nhau. Sự khác biệt để người ta mua tại siêu thị, có lẽ là về giá tiền, hay chiếc tách khuyến mại tặng kèm, hay thẻ cào trúng thưởng. Sự khác biệt để người ta uống tại quán có lẽ là về sự khác biệt. Cái khác biệt dễ nhận thấy của các quán nhượng quyền Trung Nguyên là có sự khác biệt nơi từng quán một. Cái khác biệt dễ nhận thấy của các quán Highlands là khó thấy sự khác biệt nơi cách bày trí lịch lãm quý phái (tức sang trọng một cách nhẹ nhàng), nơi đồng phục gọn gàng, và nơi các loại bánh ngọt chất lượng cao. 

Ở thành phố Hồ Chí Minh, khi được mời đi uống cà-phê và được hỏi ý kiến chọn lựa quán, tôi đơn giản trả lời: “Đâu cũng được.” Ở Hà Nội, khi được mời đi uống cà-phê và được hỏi ý kiến chọn lựa quán, tôi đơn giản trả lời: “Mình ra Highlands bờ hồ nhé”.

Đơn giản chỉ vì ở siêu thị nào tôi cũng mua được cà-phê Trung Nguyên giống nhau. Đơn giản chỉ vì ở một vài siêu thị tôi có thể mua được cà-phê Highlands giống nhau. Đơn giản vì tôi thấy khó có được cái không khí giống nhau bản sắc ở các quán nhượng quyền của Trung Nguyên. Đơn giản vì tôi thấy có được cái không khí giống nhau bản sắc ở các quán của Highlands, nơi có những loại bánh ngọt riêng của Highlands, kể cả bánh Trung Thu mới lạ mang nhãn hiệu Highlands tôi vừa nếm qua cách nay ba tuần ở Highlands bờ hồ, Hà Nội.

Đã đúng nửa đêm, và như thường lệ, tôi sẽ đi pha cho mình một tách cà-phê. Không uống cà-phê, tôi không tài nào ngủ được.

Cà-phê nào cũng được. Tôi với tay chọn hũ cà-phê của Ý-Đại-Lợi mà một thương nhân Singapore gởi tặng. Cà-phê ở dạng phiến nhỏ màu vàng mật ong. Sao ở Việt Nam cà-phê chỉ có dạng bột nhuyễn vậy nhỉ?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bài 6:

Cà Phê và …

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-12-2008

(Bài đăng ngày 10-12-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/17261/ca-phe-va. Emotino đã ngưng hoạt động sau vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”)

Tôi thích có một khoảng trời riêng biệt của chính mình, để có thể gọi một lúc nhiều thức uống đặt trước mặt mình mà không khơi dậy sự hiếu kỳ của người lạ, để khỏi bị coi như là một thành viên của Nam Hải Dị Nhân, chẳng hạn một ly cà phê đá không đường có dung lượng ba hay bốn “phin” (perculator) đã pha sẵn từ bếp (nói mấy “phin” thì trả tiền mấy “phin” chứ có Trời mới biết nhà bếp đã thực sự làm mấy “phin”), một bình trà Tàu (tức là trà Việt Nam ở Bảo Lộc) pha đậm đặc (hơn nồng độ trà của bất kỳ ông cụ nào ở Miền Bắc hay ở xứ Thần Kinh) đã nguội để tôi rót thêm vào ly cà-phê đá cho đầy tràn trước khi uống, một ly soda chanh không đường (hoặc một lon Tonic, nếu quán có) để uống xen kẽ với những lần “ực” cà phê, và một dĩa bánh ngọt bất kỳ mà quán có thể có hoặc có thể sai người hỏa tốc chạy đi mua về được. Chẳng bao giờ tôi “làm một ngụm” cà phê. Mỗi lần đưa ly lên môi, tôi luôn “ực” trọn hết một lần cái ly gồm 4 “phin” ấy để còn kêu người phục vụ đem ra một ly “4 phin” khác. Nghiện cà phê mà!

Song, sự đời không phải cứ mãi giản đơn như thế, một phần vì tôi thích những mới lạ của ẩm thực cũ – nghĩa là trà mới, cà-phê mới, bánh mới, nước ngọt có gas mới, v.v. chứ không bao giờ là động vật muông thú mới của những món ăn mới kiểu phạm vào Sách Đỏ của thế giới văn minh của con người hiện đại – một phần vì các sinh viên học trò của tôi biết tính thầy mình chuộng sự mới lạ giản đơn nên dù đi đâu trên trái đất này cũng mua tặng tôi những báu vật kỳ thú, trong đó, cà phê Linh’s Coffee đã biến tôi thành con nghiện ngay từ khi hít lấy hương thơm tuyệt diệu tỏa ra từ tách cà-phê đặc biệt ấy. Ngoài bao bì của Linh’s Coffee có ghi dòng chữ Hazelnut Supreme, trang web tại linhteacoffee.com và địa chỉ ở Thôn 4, Lộc Quảng, Bảo Lâm, Lâm Đồng. Khi chưa thể “định vị” được nơi bán loại cà phê này ở Tp HCM, tôi đành phải cực kỳ “dè xẻn”, chưa dám pha uống kiểu “hũ chìm”. Cũng không dám phone hỏi học trò, sợ bị hiểu lầm là “nhắc khéo” muốn học trò tặng thêm, làm hỏng uy thế liêm chính một đời.

Đã giới thiệu “ăn”, xin nói thêm về “mặc”. Cách đây vài năm, được một cô học trò đem từ Anh Quốc về tặng tôi một xấp vải may veston, tôi đến một nhà may có tiếng ở đường Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Tp Hồ Chí Minh. Khi thấy tôi chăm chú nhìn những kiểu veston trong quyển catalogue, gã chủ tiệm có dáng “ăn chơi thời thượng” nhanh nhảu giằng lấy, vừa lật nhanh sang các trang model mới (với tai hay ve áo nhỏ, cài nút lên rất cao, mặc vào không thể thấy áo sơ-mi hay gi-lê, và cravat chỉ còn trình diện chỏm nút thắt trên cùng), vừa nói: “Mấy kiểu đó cũ, quê lắm. Anh xem mấy kiểu này nè. Model mới đó. Xịn hết sảy luôn!” Bực mình nhìn quanh, thấy nơi để khách vào mặc thử quần hay áo có dán đầy những ảnh chụp toàn phụ nữ lõa lồ phô trương…hoành tráng trong đói nghèo thiếu thốn, tôi mĩm cười khinh miệt nói để về nhà đem vải đến may (thật ra đang cất trong cặp) rồi bảo tài xế chạy thẳng một mạch từ Ngã Tư Phú Nhuận trực chỉ Chợ Tân Định, đầu đường Hai Bà Trưng, ghé đại vào một nhà may “hoành tráng” bên trái mang biển hiệu Sơn, có nội thất được bày trí trang trọng, nghiêm túc, treo vài hình ảnh phụ nữ trang phục cực kỳ dư thừa sung túc. Ông chủ tiệm mập mạp nói tiếng miền Nam, nhanh nhảu mở catalogue giới thiệu những model mới của veston, tức loại cổ tai áo nhỏ và cao y như ở tiệm kia, tức xấu xí na ná quân phục sĩ quan Việt Nam, và khi tôi nói rõ ý muốn của mình, ông lại tươm tướp nói: “Ồ! Hay thiệt! Đúng anh là người lịch lãm! Chỉ có giới quý tộc thượng lưu mới biết veston cổ điển là kiệt tác có giá trị mọi thời. Thiệt may là tui gặp được người như anh có cái gu cổ điển quý tộc!”. Để “tưởng thưởng” cho ông chủ tiệm béo tròn có mồm miệng rất giỏi “sale” và … “đắc nhân tâm” này, tôi chọn thêm ba loại vải màu đen tuyền có sẵn ở đấy (giá cả không trên mặt đất) và đặt may một lúc bốn bộ veston có luôn gi-lê – ngoài xấp vải xanh đen quà tặng của học trò. Nhiều năm nay, mỗi khi có bạn hữu trong hay ngoài nước hỏi thăm tìm nơi may veston đẹp nhất thành phố, tôi đều giới thiệu họ đến Sơn, dù tôi rất đoảng chẳng nhớ rõ số nhà. Sơn nếu có đắt khách, cũng không biết có tôi là người … tiếp thị thương hiệu không công, cần mẫn vẽ bản đồ chỉ đường giao cho tài xế hay nữ thư ký diễm kiều của các VIP nước ngoài. 

Gần đây, tuân theo chỉ thị của vợ tôi, một hiền thê rất cẩn trọng trong chi tiêu (đối nghịch với tôi, người chồng chi xài hào phóng giúp đỡ mọi người), tôi đến nhà may Trung, số 41 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 15, Quận Phú Nhuận, Tp HCM, để may một bộ veston mới cho Tết 2009 này. Đó là tiệm may nhỏ, chật hẹp, công may rẻ (lý do lựa chọn của vợ tôi!). Nhưng thật không ngờ khi chất lượng thành phẩm rất cao, và tôi hài lòng về bộ veston đến độ nếu không có cái nhìn nghiêm khắc của vợ tôi thì tôi ắt hẵn đã… “tưởng thưởng” cho anh chủ tiệm bằng cách mua ba xấp vải của anh để may luôn cho đủ bốn bộ mặc thay đổi trong bốn ngày nghĩ Tết theo luật định (từ dạo vác về nhà bốn bộ veston may ở Sơn, tôi luôn bị vợ hiền giám sát chặt chẽ thói quen miệt mài mua nhiều trăm cravat và may quá nhiều veston cổ điển, khiến chiếc tủ thứ ba tôi mua đã không thể giống như hai chiếc tủ veston chật cứng liền kề).

Xin cảm ơn các em học trò dù đầu đã hai ba bốn năm thứ tóc vẫn luôn nhớ đến người thầy của hai mươi năm trước (nay tóc Thầy vẫn còn đen đẹp tự nhiên). Cảm ơn những nhà sản xuất như Linh’s Coffee, nhà may Sơn, nhà may Trung, những con người kinh doanh với cái tâm chăm chút cho từng sản phẩm của mình. Chúc các bạn sớm thành công, và sự phát đạt của các bạn luôn là lòng ngóng trông chờ đợi chứng kiến của tôi, người biết ơn bình thường, đặc biệt, lăng xăng, điềm tỉnh, ồn ào, thầm lặng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Grab

Hoàng Hữu Phước, MIB

16-11-2018

Tổng Quan

A- Các Thời Đại Công Nghệ Của “Taxi”:

Việt Nam đang có lấn cấn chốn pháp đình từ 2017 đến nay với vụ kiện của cái gọi là “taxi truyền thống” và “taxi công nghệ” do công ty Vinasun kiện cáo Grab.

Vốn người minh bạch – dù trong tư duy đia-chính-trị-kinh-tế-tài-luật-pháp-giáo-văn-xã-tuyên-ngôn(1) hay trong làm-tình(2) – chỉ ủng hộ cái hoàn toàn đúng hoặc cái có nhiều lý đúng nhất hoặc có lắm cái lý đúng hơn, tôi thấy cần nhất thiết phải khẳng định ngay từ câu thứ nhì của bài viết này rằng tôi hiện tại đang ủng hộ Grab.

Vốn người minh bạch, tôi cần nói rõ là dưới thời Việt Nam Cộng Hòa tôi dứt khoát chỉ đi xe lambretta/xe xích lô máy/xe xích lô đạp chứ không đi xe ngựa. May mà không có vụ nào mà xe ngựa kiện xe buýt/xe lam/xe taxi/xích lô máy/xe xích lô đạp/xe ba gác đã làm các “xa phu thổ mộ” (tức tài xế xe ngựa) mất thu nhập. Đó là thời kỳ “taxi công nghệ truyền thống đạp” (đạp bàn đạp pedal hoặc đạp cần khởi động kick-starter) không làm đầu têu cho “taxi công nghệ truyền thống kéo” kiện cáo.

Vốn người minh bạch, tôi cần nói rõ là dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào những năm 2000, tôi dứt khoát không đi xe buýt/xe xích lô đạp mà chỉ đi lại một cách độc lập tự do tự chủ bằng xe taxi công nghệ truyền thống ngoắc/vẫy/kêu. Rồi thì tôi thay đổi, chỉ đi Vinataxi vì xe taxi này đầu tiên sử dụng “công nghệ gọi phone tới tổng đài đăng ký xe”, và cũng tại tôi ủng hộ công ty Tecobest Hong Kong đã mạnh dạn đầu tư tiên phong vào đất nước Việt Nam yêu quý của tôi (tương tự như tôi trong bài viết khác đã nói rằng tôi uống ủng hộ Pepsi Cola vì Pepsi đã đợi chờ ngày Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam để đầu tiên tưng bừng tung sản phẩm đón chào khắp Thành Phố Hồ Chí Minh trong khi CocaCola rình rập nghe ngóng thêm để rồi khi vào Việt Nam thì lợi dụng sự ngu đần của các lãnh đạo kinh tế Việt Nam ở Thành Phố Hồ Chí Minh mà khuynh đảo rồi chiếm hữu các nhà máy thương hiệu giải khát lừng danh từ thời Việt Nam Cộng Hòa). Tôi dứt khoát không sử dụng taxi nào khác của Việt Nam. May mà không có vụ nào mà xe taxi “công nghệ truyền thống ngoắc/vẫy/kêu” kiện xe taxi “công nghệ phone để bàn & phone di động” Vinataxi làm họ mất thu nhập.

Vốn người minh bạch, tôi cần nói rõ là dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào cuối những năm 2000, tôi dứt khoát không đi xe taxi nào khác trừ xe Mai Linh. Là lãnh đạo nhân sự một công ty có non nửa ngàn nhân viên và non vạn đại lý, tôi đề ra chính sách đài thọ chi phí đi taxi cho nhân viên đi công tác xa, nhân viên cấp quản lý cao đi làm mỗi ngày, nữ nhân viên trong thời gian hộ sản đi làm mỗi ngày từ lúc mang thai được 6 tháng cho đến khi mẹ tròn quay như bánh dày còn con vuông vức như bánh chưng xuất viện về nhà và đến hết thời gian xin nghỉ hộ sản (sau đó thì hôm nào đưa con tái khám định kỳ ở phụ sản thì dùng taxi chỉ cho ngày hôm ấy). Vào thời điểm đó, Taxi Mai Linh đã đầu tiên có “taxi công nghệ phone + cà cạc” (tức cái cạc cứng mang tên MCC của Mai Linh cấp để vô xấp biên lai) và có mặt tại rất nhiều  tỉnh thành lớn nơi công ty tôi làm việc có mở chi nhánh nên tôi ra lịnh chỉ sử dụng xe taxi Mai Linh và cấp “cạc” MCC của Mai Linh cho mỗi nhân viên. Sau đó, lãnh đạo công ty Vinasun đã xin gặp riêng tôi để giới thiệu rằng họ nay cũng đã có phát hành thẻ giống MCC của Mai Linh. Tôi đã không chiếu cố Vinasun vì tôi luôn là khách hàng trung thành với những chủ hàng nào chưa gây ra điều tiếng xấu. Do Vinasun lúc đó vẫn chưa có mặt tại các tỉnh thành như Mai Linh, tôi chỉ có thể ủng hộ Vinasun bằng cách tiếp tục hàng năm sử dụng dịch vụ du lịch lữ hành của Vinasun phục vụ nhân viên của tôi trong nhiều chục chuyến du lịch nghỉ dưỡng. (Đó cũng là để đáp lại tình cảm của anh CEO của Vinasun thủa ấy luôn xung phong đích thân làm hướng dẫn viên du lịch riêng cho gia đình tôi mỗi khi tôi “mua tour” của Vinasun cho gia đình tôi du lịch nghĩ dưỡng tại khách sạn của Vinasun ở Vũng Tàu). May mà không có vụ nào mà taxi “công nghệ truyền thống ngoắc/vẫy/kêu” rủ rê taxi “công nghệ truyền thống có phone để bàn & phone di động” kiện xe taxi “công nghệ truyền thống phone để bàn + phone di động + cạc cà” của Mai Linh và Vinasun ra tòa vì hai anh song hiệp tranh hùng long tranh hổ đấu này làm họ mất thu nhập.

Vốn người minh bạch, tôi cần nói rõ là dưới thời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào cuối những năm 2010, tôi dứt khoát không đi xe taxi nào khác trừ xe Grab  thuộc loại “taxi công nghệ phone thông minh định vị ASEAN”. Đoạn này tôi nói ngắn gọn vì độc giả biết thế nào là xe Grab, xe Uber. Phone của tôi có nạp hai “apps” của Grab và Uber vì tôi từ nhỏ luôn trong tư thế chủ động không để mình bị động. Khi Uber không còn hoạt động riêng tại Việt Nam, tôi gỡ bỏ “app” của Uber. Dù vẫn là người luôn “chủ động không bị động”, tôi vẫn không chép bổ sung “apps” khác (dù Mai Linh và Vinasun cũng noi theo Grab để sử dụng “công nghệ phone thông minh” nhưng không ở đẳng cấp định vị ASEAN để tôi có thể sử dụng chính app đó khi ở Singapore chẳng hạn). Ngoài ra, đó cũng vì tôi luôn là khách hàng trung thành với những chủ hàng nào chưa gây ra điều tiếng xấu. Thế nhưng xã hội ta lại nảy sinh vụ “taxi công nghệ phone thông minh không định vị ASEAN nhưng vẫn độc quyền chiếm hữu từ ngữ truyền thống” kiện taxi trụi lũi tức “taxi công nghệ phone thông minh có định vị ASEAN nhưng không có chữ truyền thống” ra tòa.

Trong khi mọi nhúc nhích của cái gọi là “công nghệ’ mấy trăm năm nay đều chứng minh (a) cái gì cũng chạy theo công nghệ; (b) công nghệ mới hơn luôn sẽ đe dọa công nghệ trước đó; (c) b luôn là chân lý thực tế đầy dọa đe từ thời này sang thời khác; (d) c là nội dung luôn được nhận thức nơi mọi người trưởng thành nào có bản lĩnh quyết không để mình tuột hậu hay lạc hậu hoặc bị đá hậu, không để mình lâm vào thế bất lợi cùng đường mạt vận; và (e) d chính là động năng của sáng tạo, động lực của tiếp thu/tiếp nhận, dẫn đến động thái cạnh tranh nắm bắt nhanh hơn cái mới hơn, từ đó có động tác chế biến các “cộng thêm” tạo điểm nhấn cạnh tranh đặc thù differentiation làm điểm bật cho ưu thế cạnh tranh.

Không theo các bài bản chứng minh trên, tức là không theo lẽ thường.

Gọi Grab là “taxi công nghệ” chỉ chứng minh đã có sự bó tay trong sử dụng tiếng Việt, vì cái được quy là “công nghệ” ấy chả là cái thần sầu quỷ khốc gì cả, chưa kể cái “công nghệ” ấy xuất hiện cả một thập niên trước và hiện đang được sử dụng ở một số công ty taxi “truyền thống”.

Việc đang nhao nhao chống “taxi công nghệ Grab” phải chăng là nhằm vào cái tương tự cái Grab Taxi “quá xịn” này vốn đang được những nhà sản xuất công nghiệp và ngân hàng khổng lồ trên thế giới thi nhau đổ tỷ tỷ Đô-la Mỹ vào:

Screen Shot 11-15-18 at 11.56 PM

Và tôi chỉ đi “Grab Car” vậy “Grab Car” có là đối tượng của sự ồn ào kiện cáo không? Nếu đúng, sao lại nhao nhao về “taxi công nghệ” vì theo ngôn ngữ vốn đầy bẫy rập nhưng có giá trị quyết định tuyệt đối chốn công đường Âu Mỹ thì “Grab Car” chưa được công bố bằng văn bản pháp luật nào ở Việt Nam rằng nó cũng được định nghĩa bằng khoa học ngôn ngữ là “taxi”.

B- Thuế Má:

Cần nhớ rằng ngay cả dưới thời các vị minh quân thánh chúa thời phong kiến mà ngày nay dân tộc Việt Nam đời đời thờ phượng, ngợi ca, thì sử sách vẫn không bao giờ có nêu tên bất kỳ vị minh quân thánh chúa nào đã tha cho dân về “sưu” về “thuế”, mà về ngữ sử thì đã nói đến “sưu thuế” thì chỉ có một thành ngữ duy nhất là “sưu cao thuế nặng” như nét đặc trưng suốt xuyên thời phong kiến mà thôi. “Sưu Thuế” các hoàng triều Việt Nam đã phải cao, phải rất rất cao, đã phải nặng, phải rất rất nặng để phục vụ ba đại sự gồm (a) nuôi hoàng tộc hoàng gia hoàng cung hoàng triều(3), (b) duy trì lực lượng quân đội cùng trang bị vũ khí chiến thuyền cho quân đội ấy,và (c) thu mua thu gom thu tịch sừng tê/ngà voi/trầm hương/kỳ nam/ngọc/châu/vàng/bạc/thủy ngân/gái đẹp còn trinh/nhà văn/nhà địa lý/nhà địa ốc/nhà kỹ thuật/và…nhà thấu thị để tiến cống Tê-Lũy-Thừa-Ba tức T3  tức Thiên Triều Tàu.

Còn trong thời hiện đại khi quốc gia cần phải có ngân sách khổng lồ để đầu tư khổng lồ vào bao dự án đại khổng lồ kể cả dự án quân sự quốc phòng, lại gặp phải 7 vấn nạn khủng khiếp như:

(a) Ngân khố quốc gia hạn chế do phải giải quyết các công nợ tồn đọng chất chồng đối với quốc tế.

(b) Nguồn vay ưu đãi hạn chế từ các định chế tài chính quốc tế do tiến trình phát triển kinh tế nước nhà đã gặt hái được những thành quả bước đầu lồ lộ khó thể mãi dấu che trước bàng dân thiên hạ.

(c) Ngân sách thâm hụt do nợ công từ những đầu tư hạ tầng vĩ đại.

(d) Ngân sách không thể tích lũy do triền miên khắc phục thiên tai (tai họa do trời gây ra như: lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh cây trồng, v.v.) và khắc phục nhân tai (tai họa do nhân tài gây ra như: xây đập thủy điện dỏm, xây đường sá dỏm, cạo trọc núi đồi thiệt, phát triển công nghiệp nặng nhẹ nhưng đầu óc không có trí óc về xử lý ô nhiễm môi sinh thiệt, khuyến khích thâm tham thụt thoát(4) thiệt khi kẻ nào mà táy máy mất tỷ Đô-la Mỹ thì chỉ cần nộp khắc phục vài tỷ Việt Nam Đồng là đã có thể được tự hào xem như công trạng đầy cảm động đáng cho một chiếu cố giảm nhẹ tội danh, sự vòi vĩnh của các cháu bé địa phương còi đòi bố mẹ trung ương ốm phải cho tiền hoặc bỏ tiền ra cho mỗi cháu làm sân bay “quốc tế”/bến cảng “nước sâu”/đường bộ cao tốc xịn “xài một tháng phải có lổ khủng long/đường sắt cao tốc/đường sắt tốc độ cao, v.v.).

(e) Ngân sách thâm hụt do nợ công từ những đầu tư vĩ đại không hiệu quả tại bị vì bởi không hợp “thiên thời” (nhập nhà máy cũ xì không thể chạy được hoặc nhà máy hiện đại phải trùm mền chống rỉ sét vì sản phẩm thế giới chưa có ai cần), chẳng hợp “địa lợi” (xây tứ tung các dự án địa ốc cao tầng rồi bỏ đó biến đất vàng thành đất ệch hay đất khè, hoặc ồ ạt xây các cảng nước sâu chỉ để cho ghe/xuồng/thúng/mủng/tắc ráng/võ lãi đến bắt mực con vốn là con của con mực), chớ hợp “nhân hòa” (chỉ được mấy anh báo chí làm ngơ trong giai đoạn đập phá, chứ còn khi ván đã đóng xong thuyền nhiều tỷ đô hoặc thành công trình cao ngất trời mây hoặc tan tành mây khói thì mấy ảnh quyết không tha, khẳng khái trung dũng hào hùng lớn tiếng gầm vang uất hận long trời lỡ đất “trách nhiệm này thuộc về ai vậy chớ hả” đòi đập hết khiến xuất hiện nhiều thêm những bài báo trường thiên tường thuật sâu sắc sâu xa sâu hoắm bao đại án kinh tế chốn pháp đình).

(f) Nguồn tiền lẽ ra “bơm” thêm cho ngân sách cũng bị phun xịt qua hướng khác như bằng chứng không thể chối cãi của mấy giải “doanh nhân thành đạt” hay cái khỉ gió gì ấy thành đạt mà đơn vị thành đạt hay cá nhân thành đạt đoạt giải thành đạt phải đóng tiền từ nửa tỷ đến chục tỷ cho “ban tổ chức thành đạt” để được bay ra Hà Nội dự lễ tôn vinh thành đạt, được lên sân khấu dành cho giới thành đạt, được lãnh đạo Nhà Nước trao “chứng nhận” thành đạt cùng kỹ niệm chương thành đạt để rồi trở về tỉnh nhà bắt đầu tiến trình dành dụm số tiền nửa tỷ hay 10 tỷ cho “niên khóa thành đạt” tiếp theo.

(g) Tiền từ Thuế. Trốn thuế tỷ tỷ + thất thu thuế tỷ tỷ = Thủng túi tiền thuế = Thiếu tỷ tỷ tiền tại thủng túi thất thoát thất thu tỷ tỷ tiền thuế = Tiêu tùng.

Chung quy lại, trước vận mệnh quốc gia hiện đại ngày nay sáng-như-đèn-cầy-đốt-đèn-Trung-Thu như thế, như như thế, câu hỏi đặt ra là: Thế nước yếu, lấy gì lo chiến chinh?

Tất nhiên: phải thu thuế. ThếThuế chỉ khác nhau mỗi chữ U.

Và trọng trách đặt vào tay hay lên vai những con người và những doanh nghiệp nào có năng lực đóng thuế đầy đủ nhất, nhiều hơn, và nhanh hơn.

Vậy cái duy nhất lẽ ra cần xét đến là liệu Grab có phải gồm những con người và là doanh nghiệp có khả năng đóng góp thuế đầy đủ nhất, nhiều hơn, và nhanh hơn cho ngân sách quốc gia hay không, chứ không phải là xem liệu Grab có gây ra khó khăn cho ai về thu nhập và có phải chịu trách nhiệm về sự sụt giảm thu nhập ấy của người khác hay không, cũng như có phải chịu trách nhiệm bồi thường bao nhiêu cho sự sụt giảm thu nhập ấy.

Grab:

Cần phân định rõ ràng ngay từ đầu là có rất nhiều những mặc định không hợp lý từ phía người Việt do đặc thù văn hóa, giáo dục, hưởng thụ, và phong cách nổi trội cá nhân chủ nghĩa.

Việc Grab bị kiện không nên được tự động nhận được ngay sự đồng tình đồng cảm với hoàn cảnh của Vinasun và đội ngũ tài xế của Vinasun, vì trên nguyên tắc thì hoàn cảnh ấy chưa được tòa án ra phán quyết rằng có thật hay không, có thực sự vi phạm luật pháp hay không, và với các phán quyết ra sao. Chưa kể cho dù đã có phán quyết Sơ Thẩm buộc Grab phải chịu trách nhiệm cụ thể gì đó về đạo đức, tài chính, và dân sự hay hình sự, và bản án đã có hiệu lực thi hành thì vẫn còn những cấp xét xử khác như Phúc Thẩm, Giám Đốc Thẩm, và Tái Thẩm cho Grab theo đuổi.

Ngoài sự thật hiển nhiên rất đời thường mang ý nghĩa của không những sự đào thải rất tự nhiên của cái hoặc không còn phù hợp với sở thích khách hàng, hoặc không còn phù hợp với quy định của pháp luật, hoặc không còn có thể cạnh tranh với các đối thủ trong cùng thị trường dù sự bất khả ấy là về phương diện tài chính hay quy mô, thì vẫn còn một sự thật hiển nhiên khác cũng rất đời thường mang ý nghĩa tâm lý của “có mới nới cũ”, khẳng định rằng quyền lựa chọn của khách hàng phải được tôn trọng, và rằng không bao giờ có sự đồng nghĩa ở hai nội hàm “mới phải luôn có nghĩa là tốt hơn” và “chọn mới tức là tự động chê bai cái cũ”. Thay đổi “công nghệ” chính là để (a) xem trọng nhu cầu tự nhiên “có mới nới cũ” của khách hàng để nhanh chóng phục vụ họ, y như sự xuất hiện dồn dập của hàng hóa kim khí điện máy, điện tử, ô tô, và điện thoại thông minh, v.v.; (b) xem trọng bản thân khi không ngừng cập nhật tình hình, không ngừng giữ mới hình ảnh bản thân cơ quan/cá nhân/dịch vụ/và phương tiện phục vụ; và (c) chứng tỏ có sự hiểu biết rằng thế giới hiện đại luôn có sự đồng hành sát cạnh nó của sự thay đổi nhanh chóng của phương tiện cùng tiện nghi khiến ranh giới giữa phần thắng và phần bại trở nên mong manh hơn trên thương trường; rằng phần thắng sẽ thiên lợi thế nhiều hơn cho những ai nắm bắt nhanh hơn, áp dụng sớm hơn, hoạt động hiệu quả hơn, và có năng lực quản lý sự đổi thay bền vững hơn.

Màn hình CRT máy vi tính đã xuất hiện từ những năm 1970 của thế kỷ trước, rồi sự xuất hiện của màn hình LCD năm 1995 dần dẫn đến sự cáo chung của màn hình CRT vốn chỉ dành cho những tivi có bề dày từ 40cm đến 1m50. Một sự đào thải mới nay lại được báo hiệu nhắm vào ngay cả màn hình LED với sự xuất hiện uy nghi của màn hình OLED. Khách hàng rồi sẽ tự nhiên hướng về OLED, trong khi CRT có thể nằm trong bộ sưu tập đồ cổ cá nhân để cho các phim trường thuê khi làm phim “cổ trang”, còn LCD đang nhận thức sự vơi đi vùn vụt của thời gian tung hoành của nó. Sẽ là chuyện tếu lâm rẻ tiền dạng Fake News nếu có kẻ nào đó kể rằng các công ty sản xuất màn hình CRT nắm đầu lôi cổ công ty sản xuất màn hình OLED ra tòa vì đã gây thiệt hại về thu nhập cho CRT.

Grab hay Uber hay những công ty tương tự không phải tự dưng xuất hiện bất ngờ. Uber ra đời năm 2008, và Grab 2012. Giới dịch vụ taxi ở Việt Nam đã có lợi thế tròm trèm 10 năm để lẽ ra đã có thể chủ động tránh né được những hoàn cảnh bất lợi nhưng không bất ngờ từ Grab/Uber, thậm chí có thể biến Grab/Uber thành những kẻ chậm chân trên chiến địa thương mại chứ không phải biến họ thành “bị đơn” nơi đấu  trường tòa án. Những nhà kinh doanh taxi trên toàn thế giới nếu ở đẳng cấp thấu thị/tiên phong sẽ đương nhiên mường tượng ra ngay sự thay đổi của thế giới nếu sự góp mặt của Grab và Uber thành công hay thất bại. Nếu sự thấu thị cho thấy một thành công vượt bậc thì họ quyết định dốc sức cạnh tranh để bản thân nhanh chóng trở thành một Grab khác hay một Uber khác mà thực tế thế giới đang chứng minh, hoặc nhanh chóng tiếp cận Grab để trở thành đối tác của Grab mà thực tế vài công ty taxi ở Hà Nội đang chứng minh. Còn nếu sự thấu thị cho thấy một tiền đồ thất bại đắng cay thì dẫn đến việc họ quyết định dốc sức cạnh tranh để bản thân trở thành một sáng tạo khác hoạt động tốt hơn cái Grab hay Uber ấy, chứ không bao giờ có chuyện nếu thấu thị thấy được tương lai thất bại của mô hình Grab hay Uber thì họ an tâm ngồi rung đùi khuếch trương cái đang có (tức “truyền thống vẫy/ngoắc/kêu”) của mình, lâu lâu dáo dác xem thử nếu có cái gì mới khác xuất hiện đe dọa “truyền thống vẫy/ngoắc/kêu” của mình thì lúc ấy sẽ “thấu thị” tiếp xem số phận của cái mới ấy sẽ như thế nào để biết ta đây nên phản ứng ra sao. Từ đây, câu hỏi đặt ra là Vinasun và những công ty tương tự có đã từng nghe đến Grab và Uber từ trước khi Grab và Uber xuất hiện ở Việt Nam?

Theo hiện tình của vụ kiện Vinasun áp đặt lên Grab, chúng ta có thể thấy rõ rằng có ít nhất 4 vấn đề sơ đẳng sau:

1) Grab nhận được sự cho phép hoạt động thử nghiệm của cơ quan chủ quản có trách nhiệm của Chính Phủ Việt Nam, cơ quan ấy có trách nhiệm quản lý/giám sát/xử lý các sai phạm hay vi phạm – nếu có – của Grab, còn Grab có trách nhiệm tuân thủ các quy định, các giới hạn, các chế tài, v.v., của giấy phép, cùng các luật có liên quan cũng như toàn bộ hệ thống luật pháp của Việt Nam.

2) Bất kỳ các phát hiện nào bởi bất kỳ ai dù đó là cá nhân hay pháp nhân về các sai phạm hay vi phạm của Grab đều có thể được báo cho cơ quan Nhà Nước có liên quan hoặc phản ánh qua báo chí.

3) Bất kỳ các phát hiện nào bởi bất kỳ ai dù đó là cá nhân hay pháp nhân về các sai phạm hay vi phạm của Grab đối với các thỏa thuận, giao kết, hay hợp đồng Grab trực tiếp ký kết với cá nhân hay pháp nhân đó đều có thể được cá nhân hay pháp nhân đó đưa vụ việc ra cơ quan nào được minh định trong các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận, giao kết, hay hợp đồng ấy.

4) Bất kỳ các phát hiện nào bởi bất kỳ ai dù đó là cá nhân hay pháp nhân về các sai phạm hay vi phạm của cơ quan phát hành giấy phép cho Grab, qua đó trực tiếp gây thiệt hại cho cá nhân hay pháp nhân ấy đều có thể được hoặc khiếu nại trực tiếp tại cơ quan ấy hoặc khiếu kiện cơ quan ấy ra tòa án.

Từ những nêu trên, việc Vinasun kiện Grab ra tòa án đã không hề giúp làm rõ xem đã có sự liên kết liên quan liên đới gì giữa Grab đối với các cáo buộc của Vinasun và đối với bản thân Vinasun.

Một thế kỷ yên bình về mặt hoạt động tư pháp ở Việt Nam đối với “taxi” (dù đồng thời là một thế kỷ bão loạn về mặt hoạt động “taxi” như một kế sinh nhai của bao con người mà nghề nghiệp và ngành sinh nhai của họ bị đào thải theo quy luật) cuối cùng đã chấm dứt bằng sự việc Vinasun kiện Grab. Nếu định nghĩa “taxi” như dịch vụ đưa khách từ điểm A đến điểm B theo ý muốn của khách vàcó thu phí, và khoan nói đến taxi thủy, thì chỉ tính trên bộ thôi thì “taxi công nghệ kéo”(bởi ngựa, trâu, bò, và kể cả bởi con người) đã bị lần lượt thay thế bởi “taxi công nghệ ba bánh”, rồi “taxi công nghệ xe hơi kêu/vẫy/ngoắc” tiến qua “taxi công nghệ kêu/vẫy/ngoắc/đặt qua phone để bàn hay phone di động đến tổng đài”, đến “taxi công nghệ phone di động đến tổng đài có cạc cà” của Mai Linh và Vinasun, để rồi nay xuất hiện “taxi công nghệ điện thoại thông minh” bao gồm taxi có bảng hiệu taxi, taxi không có bảng hiệu taxi, và taxi hai bánh, mà cái “taxi công nghệ điện thoại thông minh” này đang bị gọi ngắn ngủn là “taxi công nghệ”.

Có lần từ Hong Kong về đến Tân Sơn Nhất vào buổi tối, do có thẻ MCC của Mai Linh tôi đẩy hành lý đến một tàì xế Mai Linh đang giúp đưa hành lý trên xe xuống cho khách. Anh này bảo với tôi rằng “em không được đón khách anh ơi”. Tôi sực nhớ đến cái cấm đoán ấy, và quay sang đám đông tài xế Airport Taxi đang bắt đầu bu lại quanh tôi. Cái đám đông ấy tự nhiên chứng minh vật chất cụ thể không cần nhiệt lượng vẫn bốc hơi (thảo nào nhiều chục ngàn tỷ bốc hơi như bỡn ở ngân hàng hay công ty Nhà Nước): họ lặng thinh tản đi sau khi nghe tôi nói địa chỉ nhà tôi cách cổng sân bay vài ngõ nhỏ. Nhưng khi thấy tôi cố gắng vẫy một taxi Mai Linh vừa tắp vào lề thả khách, một nhân viên an ninh sân bay tiến đến hỏi tôi tại sao không sử dụng dịch vụ Airport Taxi. Và anh nhân viên an ninh đó đã dám kích hoạt sự thức dậy của một hỏa diệm sơn nhưng lại run rẩy đứng yên không dám làm gì tôi khi tôi gầm lên rằng phải chăng anh ta đang dám động đến quyền tự do sử dụng dịch vụ của tôi và rằng hãy kêu cho tôi một “thằng Airport Taxi” tới phục vụ tôi ngay. Anh ta chạy vội đến “làm việc” với sư đoàn Airport Taxi để rồi sau đó 15 phút một tài xế miễn cưỡng đến phục vụ tôi, mà cũng là lần đầu tiên trong đời tôi không lì-xì tài xế khi đi tuyến đường ngắn. Từ hôm đó, tôi đã không thể ngữi được Airport Taxi.

Có lần tôi gọi Mai Linh. Sau 30 phút, tôi gọi lại tổng đài để nhắc nhở. Mấy đứa cháu bảo để chúng túa ra hai đường để vẫy/ngoắc/kêu bất kỳ xe Mai Linh/Vinasun/Vinataxi nào chạy ngang cho nhanh. Tôi không cho, bảo rằng nếu tài xế đến mà tôi đã đi rồi thì tội nghiệp tài xế vì hao tốn xăng nhớt. Chờ thêm cho đũ 45 phút, tôi phone tổng đài, chỉ để nghe lời xin lỗi của cô gái trực, dù nhiều lần trong 45 phút ấy cô có sử dụng mẫu câu “xe đang đến” để trấn an tôi. Khi nghe tôi dịu dàng như luôn dịu dàng với phái nữ – trừ với Nguyễn Thị Quyết Tâm – rằng tôi đã chờ 45 phút, cô gái ấy rụt rè đề xuất ý kiến rằng tôi nên hủy đăng ký và tôi răm rắp tuân theo lời cô. Thế là mấy đứa cháu chạy bay đi và sau 5 phút đón vào một xe Mai Linh. Tôi sử dụng chiếc xe ấy, bực bội nhận ra tình trạng bụi bặm, ám mùi ẩm mốc, đã vậy tài xế ăn gian không bật máy lạnh trong khi tôi vừa không thể chịu đựng sự nực nội vừa chẳng bao giờ chịu mở miệng xỏ xin ân huệ đối với những gì mình đương nhiên phải được hưởng. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi không lì-xì tài xế Mai Linh.

Khi Grab và Uber xuất hiện, tôi hài lòng với sự sạch sẽ của phương tiện, tác phong của người chủ phương tiện, sự tiện dụng ưu việt của “app”. Tôi sử dụng Grab là chính, còn Uber để dự phòng, do vợ tôi cho rằng cách tính phí của Grab cố định nên ưu việt hơn, và tôi tuy chẳng hiểu ất giáp gì cũng hăng hái tỏ ý đồng tình.

Trong hai năm qua, mỗi khi “book” xe Grab vào giờ cao điểm, tôi thấy giá cước tăng cao hơn nhưng phải chờ lâu hơn mới có xe ắt do nhiều tài xế chán ngán cảnh kẹt xe nên tắt máy tạm ngưng phục vụ. Những hôm như vậy, khi có xe đến đón, tôi lặng thinh – tôi đã nói huyên thuyên rất rất nhiều rằng tôi rất rất ít nói mà – chịu đựng cái cảnh kẹt xe đang khiến xe mình nhích từng chút một. Khi về đến nơi, tôi mới chịu mở miệng ngắn gọn ngắn ngủn lạnh lùng lạnh nhạt trước khi mở cửa rằng “Cho tôi gởi thêm 50 ngàn này phụ tiền kẹt xe tốn xăng”. Còn khi kêu Grab Car đến chở một mình tôi đi một nơi cách đó chưa đầy 100 mét, cước thì thấp lè tè đã vậy còn nhằm hôm khuyến mãi trừ thêm, vậy mà vẫn có một chiếc hoặc 4 chỗ hoặc 7 chỗ sạch sẽ tinh tươm “chịu” đến đón, tôi cũng luôn có khoản lì xì y như vậy. Đó là tình cảm tự nhiên của một khách hàng trung thành dành cho một công ty phục vụ tốt. Trước đây, trong nhiều năm trời đi xe Mai Linh tôi cũng luôn lì xì thêm cho tài xế bằng cách hỏi họ khi đến nơi rằng tổng cộng bao nhiêu tiền rồi bảo họ hãy cộng thêm vài chục ngàn trước khi ghi con số mới ấy vào biên nhận cho tôi ký (Cần nói rõ ở đây là khi Phòng Kế Toán gởi tôi bản sao kê do Mai Linh gởi đến, tôi luôn nghiêm túc ký nhận “công vụ” hoặc “cá nhân” sau mỗi chi tiết liệt kê, để Công ty chỉ thanh toán những khoản “công vụ” mà thôi, và chỉ những lần đi “cá nhân” tôi mới hào phóng với tài xế Mai Linh bằng tiền của tôi, và đây là điểm khiến Phòng Kế Toán nói với tôi rằng ngoài tôi thì “sếp” nào cũng ký toàn vô ô “công vụ” dù vào ngày Chủ Nhật và nơi đến là sân đua Rạch Chiếc hay sân golf Sông Bé).

Nói tóm lại, tôi hài lòng về Grab. Và sự hài lòng ấy còn được thể hiện qua những lần sử dụng dịch vụ Grab Food đặt món ăn. Grab dành cho tôi mấy chục ngàn đồng khuyến mãi ư? Số tiền ấy sẽ được vợ tôi lì xì cho tài xế Grab nào giao mấy phần thức ăn ấy đến cho tôi.

Còn điều tôi không hài lòng khi sử dụng dịch vụ Grab? Làm gì có! Nhưng khoan đã mà! Có đấy! Đó là khi xuất hiện cái yêu cầu xài “ví điện tử Moca” theo quy định gì đó của chính quyền. Nhưng tôi không sao nạp tiền vào ví, dù thẻ ATM là của tôi, thẻ debit là của tôi, và tiền là của vợ tôi phát chẩn hàng tháng chứ tôi có tham nhũng hối lộ lại quả của ai đâu cơ chứ! Đến Vietcombank đôi lần theo hướng dẫn của Moca, tôi đáp ứng tất cả, mà vẫn không sao nạp tiền vào “ví”. Lần chót tôi trở lại Vietcombank cho cớ sự Moca, cô gái lúm đồng tiền ở quầy ái ngại bảo tôi rằng ngay cả cô ấy làm việc tại Vietcombank mà vẫn không thể chuyển tiền của cô vào cái Moca ấy nên nếu dùng Grab cô sẽ phải xài lại bằng tiền mặt. Do sự kỳ cục này là do công nghệ thông tin bốn-chấm-chao vốn là cái tôi khinh thường khinh miệt khinh khi khinh rẻ chứ không phải lỗi của Grab, tôi vẫn tiếp tục xài Grab, và chấp nhận cái trần ai tích lũy tiền mặt tiền đồng (cùng tiền mặt đô-la Mỹ để sang Singapore trả cho tài xế Grab) đầy nhóc túi mình vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chú thích từ ngữ:

(1) địa-chính-trị-kinh-tế-tài-luật-pháp-giáo-văn-xã-tuyên-ngôn = địa lý + chính trị + trị quốc + kinh tế + y tế + tài chính + luật pháp + pháp giáo + giáo dục + văn hóa + xã hội + tuyên truyền + ngôn ngữ

(2) làm-tình = việc làm + tình cảm

(3) nuôi hoàng tộc hoàng gia hoàng cung hoàng triều: hoàng tộc + hoàng gia = mọi người có vai vế quan hệ trực hệ hoặc quan hệ phối ngẫu hoặc kết quả từ phối ngẫu với đức vua và những đức-không-phải-vua, hoặc quan hệ tộc hệ với đức vua hoặc với những đức-không-phải-vua hoặc với những người phối ngẫu của đức vua hoặc với những đức-không-phải-vua, hoặc quan hệ với những người phối ngẫu của người phối ngẫu của đức vua và những đức-không-phải-vua ấy; hoàng cung + hoàng triều = chi phí/kinh phí xây dựng hoàng thành/cung điện/phủ điện kể cả lãnh cung, chi phí/kinh phí nuôi nhiều chục ngàn cung nữ/nhiều ngàn thái giám/nhiều chục ngàn cấm vệ quân, chi phí/kinh phí lương tiền bổng lộc các đại quan, chi phí/kinh phí yến tiệc ăn chơi tưởng thưởng, v.v.

(4) thâm tham thụt thoát: thâm lạm + tham nhũng + “thụt két” + thất thoát

Tham khảo:

Grab Taxi  13-4-2018

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-10-2018

Bài viết sau đây đăng trên trang mạng doanh nhân Emotino lúc 11g09 ngày 01-10-2010 về nội dung khẩu ngữ hoàn toàn kém của một vài lãnh đạo Việt Nam dựa theo một bài viết của Hoàng Hữu Phước đã phê phán trên báo chí tháng 9-2008.

Người Việt Lại Phải Ưu Tiên: Tiếc Cho Ý Kiến Chỉ Đạo Của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân

Trong bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước của Hoàng Hữu Phước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008) và trên mạng doanh nhân Emotino (ngày 11-9-2008), tôi có tư vấn, đặt vấn đề nhất thiết phải thay đổi tư duy phản toàn cầu hóa kiểu “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” thành “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, hoặc thành “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Cao Cấp Của Việt Nam” hoặc thành “Doanh Nghiệp Việt Nam Là Doanh Nghiệp Chỉ Của Chất Lượng Cao”, khơi mào cho những góp ý sôi nổi trên báo chí, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc tận gốc rễ tư duy lối mòn phi l‎ý, hình thành nỗ lực tuyệt vời của các cơ quan nhà nước khi mô phỏng theo câu khẩu hiệu của tôi để cho ra khẩu hiệu mới “Người Việt Nam Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam” dùng đại trà trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng cái nội dung được “nhà nước hóa” ấy vẫn né tránh nội dung khó khăn hơn và cực kỳ tế nhị của sản xuất hàng hóa “cao cấp” tức …“chất lượng cao” mà các khẩu hiệu khởi thủy của tôi luôn nhấn mạnh đến. Ắt người dân Việt Nam được Nhà Nước mặc nhiên cho rằng đã hiểu là ưu tiên dùng hàng Việt nếu…thấy chất lượng tốt. Song, vấn đề đáng tiếc gần đây lại là từ ý kiến thiếu cẩn trọng của Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân khi chỉ đạo Bộ Y tế “chủ trì triển khai cuộc vận động ‘Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam’, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”.

Ở đây không bàn đến chuyện “chất lượng tốt” (vì lẽ nào mấy chục năm nay thuốc tân dược và đông dược do Việt Nam sản xuất không có “chất lượng tốt”?) và “giá thành hợp l‎ý” (vì lẽ nào các nhà thuốc – đa số là quốc doanh – lại trong nhiều chục năm qua bán giá trên trời làm giàu trên sinh mạng, sức khỏe, và cơ cực của nhân dân?), mà ở chính khẩu hiệu “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, vì rằng phải chăng nếu tình hình kinh doanh thuộc lĩnh vực của một vài Bộ nào khác nếu cũng gặp khó khăn thì Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân lại sẽ đề ra các cuộc vận động tương tự, chẳng hạn  “Người Việt Nam ưu tiên mang giầy Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên uống bia Việt Nam”, “Người Việt Nam ưu tiên ăn thịt Việt Nam”? Chỉ một khẩu hiệu duy nhất của “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là đã quá đầy đủ để có thể áp dụng đúng cho tất cả các sinh hoạt sản xuất và tiêu dùng trong nước và ngoài nước (các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài), mà không cần phải chế biến kiểu customization sử dụng riêng cho ngành Y Tế hay lan tỏa sang các ngành nào khác mỗi khi có vướng mắc khó khăn. Đó là chưa kể có rất nhiều nhà sản xuất thuốc nước ngoài trực tiếp sản xuất tại Việt Nam, và “hàng hóa” do họ sản xuất cũng phải được xem là “thuốc Việt Nam”. Lời kêu gọi dễ gây ra hiểu sai trong nhân dân (thí dụ mua thuốc paracetamol của xí nghiệp dược Việt Nam chứ không nên mua paracetamol của xí nghiệp dược nước ngoài sản xuất tại Việt Nam) hoặc phản kháng từ các xí nghiệp dược 100% vốn đầu tư nước ngoài đang sản xuất tại Việt Nam (rằng Chính phủ Việt Nam phân biệt đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, lấn cấn việc áp đặt và khống chế giá thành, dẫn đến tiềm tàng vi phạm các cam kết WTO). Ngoài ra, khi chuẩn GMP tức Good Manufacturing Practice và GLP tức Good Laboratory Practice là các chuẩn hàng đầu áp dụng cho sản xuất dược phẩm trên toàn thế giới, thì không thể “vận động” người dân sử dụng thuốc của bất kỳ nhà sản xuất nào không đạt GMP và GLP.

Như tôi đã nói từ năm 2008: “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”, và đây lẽ ra đã nên là kim chỉ nam thích hợp cho thời đại mới của Việt Nam, vì rằng kêu gọi Bộ Y Tế đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt thì bản chất vấn đề cũng là “sản xuất chất lượng tốt” mà thôi, có khi còn làm chậm hơn quá trình hoàn thiện. Một khi “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” là mệnh lệnh từ Đảng và Chính Phủ, toàn bộ hệ thống sản xuất hàng hóa và dịch vụ sẽ tự thân vận động răm rắp nhanh chóng đáp ứng, thay vì ẩn nấp an toàn sau tấm lá chắn vững chải mang dòng chữ “vận động người tiêu dùng” do Nhà Nước ban cho để cứu nguy, giúp doanh nghiệp thoải mái đá quả bóng trách nhiệm về người tiêu dùng.

Nên luôn đặt danh dự Việt Nam lên trên hết nhưng có kèm các điều không thể tách rời là (a) có nhận thức đầy đủ rằng bọn chống Cộng đông đúc lúc nhúc nhiều vô kể luôn rình rập không một giây phút nghĩ ngơi để chờ các sơ xuất trong hành vi, hành động, và các lời nói thiếu cẩn trọng của lãnh đạo Việt Nam để tận dụng công kích, và (b) có định hướng chiến lược sớm vinh danh cho ngành kỹ nghệ mà lãnh đạo nuốn nói đến. Bộ Y Tế thay vì được chỉ đạo “chủ trì triển khai vận động”, nên được yêu cầu có những hành động thiết thực, kiên quyết, thẳng tay trừng trị bất kỳ quan chức nào đã tiếp tay gây ra sự cố “Tamiflu” đầy xấu hổ, phương hại đến danh dự và uy tín ngành Y Tế Việt Nam, chứ không phải tránh né rồi đùn đẩy các báo cáo lên bàn làm việc của Thủ Tướng, rồi được tạo thời cơ bận rộn với công việc mới và đầy tốn kém của “chủ trì triển khai cuộc vận động ‘Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam’, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”.

Nhiều Việt Kiều khi rời Việt Nam sau chuyến thăm nhà luôn có đầy ắp trong hành l‎ý thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì giá rẻ và chất lượng tốt – nhân viên hải quan sân bay làm chứng dễ dàng sự thật này. Người dân các tỉnh đổ xô đến các hội chợ tìm mua thuốc đông dược và tân dược do Việt Nam sản xuất vì chất lượng đã tốt và giá thành đã thực sự hợp lý – phóng viên báo đài làm chứng dễ dàng sự thật này. Chỉ đạo mở ra một cuộc vận động về thuốc như thế chỉ làm Bộ Y Tế tốn thời gian và công sức nhân lực một cách vô ích còn ngân sách quốc gia bị ngốn mòn do trang trải chi phí luôn luôn khổng lồ cho bất kỳ một cuộc “vận động” nào.

Tiết kiệm xem ra đã không còn là quốc sách khi cứ phải liên tục tổ chức các cuộc vận động – dù không phải cuộc vận động nào cũng vô nghĩa –  với phí tổn vài chục tỷ đồng Việt Nam cho mỗi cuộc vận động như thế. Tiết kiệm sẽ là quốc sách hữu hiệu khi thay thế các cuộc vận động bằng luật pháp chặt chẽ, quy định chặt chẽ, giám sát chặt chẽ, chế tài chặt chẽ, và công nhận giá trị thực tiễn không thể chối cãi của những khẩu hiệu có tầm nhìn xa và cao. Công nhận giá trị của slogan “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” chính là hành động tiết kiệm vô cùng dũng cảm.

Ngoài ra, chất xám cũng là thứ tài nguyên, tài sản cần được tiết kiệm. Không thể phí phạm chất xám để cố đẻ ra “biện pháp khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý”, thay vì dùng chất xám để tạo ra thuốc mới hữu hiệu cho những chứng bịnh còn nan giải trên thế giới. Việt Nam không bao giờ rớ tay được đến giải Nobel Y Học nếu cấp lãnh đạo lại nhận biết không đúng về thực tế của “chất lượng và giá thành” của chính dược phẩm do quốc gia mình chế tạo để rồi chỉ có thể có một tầm nhìn hạn hẹp lẩn quanh lẩn quẩn ở nội dung chiến thuật tìm kiếm “biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước” có thể gây nhiều tranh cãi. Chỉ cần chế được thuốc hữu hiệu thay thế cho Avandamet Avandryl mà nhà sản xuất GlaxoSmithKline của Mỹ đang phải thu hồi do chứa chất cực độc Rosiglitazone (gây trụy tim mạch, mù lòa, đột quỵ, tử vong) và đang đối mặt với các vụ kiện trên toàn cầu, thì dù giá thành có ở ngất ngưởng “bất hợp lý” trên trời thì Việt Nam vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tìm mua cho bằng được của bịnh nhân Việt Nam và thế giới. Một đầu tư nhiều triệu USD cho chuẩn chất lượng sản xuất (chuẩn GMP/GLP) của mỗi xưởng dược và nhiều triệu USD khác cho một nghiên cứu sản xuất một biệt dược hữu hiệu không phải là chuyện đùa để nói về “giá hợp l‎ý” vì rằng trong ngôn từ tiếng Việt khi nói đến “giá cả hợp lý” người ta muốn ám chỉ duy có “giá rẻ” mà thôi. Giá rẻ phải chăng do sẽ có trợ giá từ Nhà Nước như một công khai vi phạm hiển nhiên các cam kết WTO? Thuốc nào phải đâu chỉ gồm hai loại trị nhức đầu và cầm tiêu chảy? Thêm vào đó, bịnh nhân người Việt mua thuốc theo toa bác sĩ, nên cái chính là ngay từ trường Đại Học Y Dược người ta nên dạy cho sinh viên biết về các hiệu thuốc nào đang được sản xuất trong nước để khi tốt nghiệp hành nghề họ kê toa thích hợp, vì dường như đa số họ chỉ có lỗi thiếu thông tin của nhà trường chứ không phải muốn kê toa thuốc ngoại để nhận hoa hồng tiêu cực làm giàu trên sinh mạng và từ túi tiền của bịnh nhân, vì họ mặc nhiên là các vị giỏi giang có tâm thiện từ bi bác ái và có lòng yêu nước – vừa hồng vừa chuyên theo chuẩn sản phẩm giáo dục của ta.

Một cơ sở sản xuất lại không biết hai yếu tố lõi trong cạnh tranh của chất lượng cao và giá thành hợp l‎ý thì e rằng do không được quản lý bởi một ban giám đốc có năng lực đủ và đúng. Một Bộ không biết các đơn vị sản xuất trực thuộc không đang sản xuất với hai yếu tố lõi ấy phải chờ cấp lãnh đạo Chính phủ yêu cầu thì e rằng Bộ ấy không được quản lý bởi những chức sắc có năng lực đủ và đúng về lãnh đạo lẫn chuyên môn. Và đặc biệt là một Bộ phải trực tiếp làm thay cho doanh nghiệp cái đại sự “chủ trì triển khai cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam, đề xuất với Chính phủ các biện pháp để khuyến khích sử dụng thuốc sản xuất trong nước có chất lượng tốt, giá thành hợp lý” thì e rằng Bộ ấy không thể có đủ uy tín khi ngồi chung bàn đàm phán với các “đồng cấp” nước ngoài.

Người Nhật yêu nước.

Người Mỹ yêu nước.

Người Đức yêu nước.

Người Hàn yêu nước.

Họ sản xuất hàng hóa chất lượng cao.

Người Việt cần thuốc Việt chất lượng cao, chữa được bịnh, an toàn cao khi sử dụng, được giới y dược thế giới công nhận tính hiệu quả. Người Việt hiểu rõ về “tiền nào của đó”, và vì thế không xem “giá cả hợp lý” của dược phẩm là điều tiên quyết để cần Bộ Y Tế phải bỏ công sức điều nghiên.

Phải chăng giá sữa đã được quản lý “hợp lý” để đang là “giá cả hợp lý” ?

Sao Nhà Nước vẫn cho phép nhà sản xuất Việt được quyền e thẹn đỏ bừng đôi gò má với hai từ “yêu nước”?

“Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

a) Bài viết trên đăng ở http://www.emotino.com/m.php?p=17004, ngày 11-9-2008. (Emotino nay đã đóng cửa).

b) Bài viết Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước của Hoàng Hữu Phước đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị (số 105 ra ngày 10-9-2008). (Báo Sài Gòn Tiếp Thị đã đình bản).

c) Các bài viết có chủ đề tương tự (khuyên răn các lãnh đạo Việt Nam nhất thiết phải cẩn trọng về ngôn từ):

Nguyễn Thiện Nhân  10-6-2016

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương  18-11-2016

Sự Lộng Quyền Của Nguyễn Thị Quyết Tâm  22-01-2016

Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm  05-3-2016

d) Các bài viết có chủ đề y tế:

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Thực Phẩm Chức Năng

Nhân Tài Y Khoa Miền Nam

Thư gởi Đại biểu Quốc hội Phạm Khánh Phong Lan

Hỡi Ơi Những Thiên Thần Áo Trắng

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc Rượu Tỏi”

Grab Taxi

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-4-2018

Tôi thuộc loại khách hàng khó tính được tất cả các hãng sản xuất hàng hóa hữu hình và vô hình đẳng cấp thượng thặng thế giới ưa thích, vì chỉ có khách hàng khó tính mới là khách hàng trung thành bậc nhất.

Vì là khách hàng khó tính, tôi đã buộc tất cả các nhân viên lái xe của tôi chỉ được sử dụng xăng của Petrolimex kể từ khi mấy chục năm trước SaigonPetro bị phát hiện đã lén sử dụng xăng kém phẩm chất để rồi phải gỡ gạc bằng cách pha thêm phụ gia vào xăng với lập luận để gia tăng thời gian sử dụng xăng.

Vì là khách hàng khó tính, tôi đã buộc gia đình chỉ được sử dụng sữa của TH TrueMilk kể từ khi mấy chục năm trước Vinamilk bị phát hiện đã lén sử dụng sữa bột pha nước để làm “sữa tươi” bán ra thị trường.

Vì là khách hàng khó tính, tôi đã buộc gia đình chỉ được mua áo sơ mi của An Phước  cho tôi kể từ khi mấy chục năm trước Việt Tiến bị phát hiện đã lén sản xuất hàng nhái sản phẩm của đối tác Pierre Cardin làm nhục quốc thể.

Vì là khách hàng khó tính, tôi chỉ sử dụng giày bốt mũi nhọn (kiểu giày tôi thường mang từ cấp tiểu học) của VinaGiày kể từ khi mấy chục năm trước các thương hiệu giày bốt nội địa khác đã làm nhục tôi khi giày của họ mà tôi mang thi nhau ‘há mồm” ngay tại các hội nghị quan trọng ở nước ngoài, rồi sau này tôi tuyệt đối chấm dứt sử dụng giày bất kỳ của VinaGiày kể từ khi VinaGiày tự động dẹp bỏ khỏi các quầy của họ tất cả các giày bốt mũi nhọn (và các kiểu giày nam khác) mà thay vào đó 100% chỉ toàn là giày thường vừa dẹp lép vừa có mỏ vịt mũi vuông dẹt bẹt nghếch lên của những tên ca sĩ sân khấu mà nhân viên bán hàng ngu xuẩn dám phán với tôi rằng đó là thời thượng thời trang.

Tương tự, vì là khách hàng khó tính, tôi chỉ sử dụng bông băng y tế của Bảo Thạch, chỉ mua PepsiCola vì PepsiCola đã đón mừng hết sức trọng thể tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh ngày Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong khi mãi về sau CocaCola mới mon men vào Việt Nam và ra tay tiêu diệt ngay doanh nghiệp sản xuất nước ngọt của Thành Phố Hồ Chí Minh lừng danh từ thời Việt Nam Cộng Hòa, chỉ sử dụng từ điển Anh-Anh của Webster, chỉ sử dụng từ điển Anh-Việt và Việt-Anh của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội ở Hà Nội, không bao giờ “sinh hoạt” trên Facebook, vĩnh viễn không bao giờ đọc báo Việt Nam kể từ sau khi báo chí tiến hành cuộc tổng công kích chống nghị sĩ Hoàng Hữu Phước vụ “Luật Biểu Tình” và “Tứ Đại Ngu”, v.v. và v.v.

Vì là khách hàng khó tính, tôi chỉ sử dụng xe taxi Vinataxi kể từ khi hơn chục năm trước các taxi AirPort ở Phi Trường Tân Sơn Nhất đã vừa không cho tôi lên xe Vinataxi nào thả du khách xuống sảnh sân bay, vừa không có tài xế Airport taxi nào muốn phục vụ tôi sau khi hỏi rôi biết quãng đường tôi sẽ đi là từ sân bay về Ngã Tư Phú Nhuận quá ngắn ngủn.

Vì là khách hàng khó tính, tôi chỉ sử dụng xe taxi Mai Linh kể từ khi hơn chục năm trước chỉ có Mai Linh phục vụ tại tất cả các thành phố lớn nơi công ty tôi làm việc có chi nhánh và chỉ có Mai Linh có phát hành thẻ MCC nhờ đó toàn bộ 400 nhân viên của công ty trên toàn quốc được phục vụ phương tiện đi lại do công ty đài thọ thanh toán sau với Mai Linh.

Vì là khách hàng khó tính, tôi chỉ sử dụng xe taxi Grab kể từ khi Mai Linh và Vinasun có tần suất ngày càng dày hơn của 8 tiêu cực như

(a) tình trạng vệ sinh nội thất xe,

(b) tình trạng vệ sinh ngoại hình xe,

(c) tình trạng trang phục nhễ nhại bèo nhèo của tài xế ắt do bị buộc thắt cravat,

(d) tình trạng chậm đến đón khách,

(e) tình trạng lẳng lặng bỏ không đến đón khách,

(f) tình trạng bất tiện khi đặt xe bằng điện thoại vì phải qua “tương tác” lời thoại dông dài trực tiếp với nhân viên tổng đài,

(g) tình trạng tài xế giả lờ không bật máy lạnh để tiết kiệm xăng, và chưa kể

(h) có đồn đại từ cánh tài xế rất nhiều năm trước song không thể kiểm chứng rằng có hãng đã nhập xe với yêu cầu nhà sản xuất thiết kế bánh xe cỡ nhỏ hơn để vốn đầu tư mua xe thấp hơn có chất lượng thấp hơn.

Vì là khách hàng khó tính, tôi chỉ sử dụng xe Grab và Uber do cả hai đã không có 8 tiêu cực kể trên, đã vậy họ lại có điểm đặc biệt mang tính lịch sử của văn hóa sử dụng phương tiện công thời đại mới như đã từng đánh dấu trong lịch sử Việt Nam như từ xe thổ mộ ngựa kéo sang xe đạp thồ, từ xe đạp thồ sang xe xích lô đạp, từ xe xích lô đạp sang xe xích lô máy, từ xe xích lô máy sang xe Lambretta, từ xe Lambretta sang xe taxi Renault, rồi từ xe taxi Renault đến xe taxi đầu tiên của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Vinataxi, để rồi sau đó từ đồ dần dà xuất hiện các hãng taxi Festival, Saigontourist, Airport, Mai Linh, và Vinasun, v.v. và v.v., cho đến khi xuất hiện hình thức gọi là “taxi công nghệ” trên nền tảng ban đầu của “sử dụng chung” các phương tiện “nhàn rỗi” của chủ xe.

Vì là khách hàng khó tính, tôi hiện nay chỉ sử dụng xe Grab cho các nhu cầu đi lại của cá nhân và gia đình.

Vì là khách hàng khó tính, tôi hiện chỉ sử dụng xe Grab (sau khi có sự biến mất của Uber) vì duy chỉ tất cả những nét đặc thù trên, mà chưa bao giờ trên cơ sở “giá rẻ” cả. Việc Grab định ra mức lấy bao nhiêu phần trăm của tài xế là chuyện của Grab, tôi hoàn toàn không quan tâm. Việc Grab định ra các đợt khuyến mãi là chuyện của Grab, tôi hoàn toàn không quan tâm. Việc tài xế chấp nhận làm đối tác với Grab là chuyện của tài xế, tôi hoàn toàn không quan tâm. Chuyện Grab thuế má thế nào là chuyện của Nhà nước “pháp quyền” của Việt Nam hiệu quả ra sao, tôi hoàn toàn không quan tâm “lấn sân”. Chuyện Grab nhận các thuận lợi hơn nào so với taxi loại công ty mà thiên hạ gợi trớ đi là “truyền thống” thì chả khác gì tranh biện xem xe đạp thồ nhận ưu ái nào hơn từ chính quyền thuộc địa so với xe thổ mộ ngựa kéo mà thiên hạ thủa xưa chưa biết gọi nó là “truyền thống” thì đó là chuyện của hệ thống luật pháp Việt Nam mà mọi người cứ tuân thủ, tôi hoàn toàn không quan tâm. Và còn hàng tá cái “vì’ khác, với cái kết là “vân vân và vân vân”.

Vì vậy, tôi ngạc nhiên khi thấy nào là

(a) công ty này công ty nọ dồn tiền xây dựng công nghệ để thế chỗ Uber, nào là

(b) công ty này công ty nọ dồn tiền xây dựng công nghệ để cạnh tranh với Grab, nào là

(c) nguyên tài xế Uber đa số không muốn gia nhập Grab, nào là

(d) các công ty nội địa muốn thế chỗ Uber và cạnh tranh với Grab tuyên bố sẽ cạnh tranh về giá/khuyến mãi/tỷ lệ ăn-chia với tài xế sẽ y như Uber tức thấp hơn Grab, nào là

(e) người tiêu dùng bối rối băn khoăn sau khi Uber ra đi, và nào là, nào là, nào là…

Trong số các điều làm tôi ngạc nhiên nêu trên, tôi phải nói rằng chủ nhân các công ty/doanh nghiệp lăm le “thế chỗ Uber” và “cạnh tranh Grab” trên đã không nhận biết những điều cơ bản trong kinh doanh sau:

1) Sử dụng công nghệ trong tạo thế cạnh tranh là việc lẽ ra đã phải tự tiến hành theo kiểu sáng tạo khai phá hoặc kiểu mô phỏng theo đuôi, chứ sao lại phải đợi chờ đến khi có sự rút lui của một “đại gia nước ngoài” nào đó?

2) Cạnh tranh về đơn giá, về các chương trình khuyến mãi, về tỷ lệ ăn-chia với tài xế, trong khi chẳng hiểu rằng cạnh tranh phải trên cơ sở cái cốt lõi vì sao khách hàng ưa chuộng Grab và Uber (tức vừa không có 8 cái tiêu cực của “truyền thống” vừa có 1 điểm đặc biệt đặc thù mang tính lịch sử không-bao-giờ-có-thể-xoay-chuyển-ngược-lại của Grab và Uber) nên những số tiền khổng lồ bỏ ra “cạnh tranh” nhằm thu được các khoản ít hơn đối thủ thì cách chi sẽ không dẫn đến sai lầm sai lạc vong thân?

3) Các công ty đang hoạt động trên mô hình kinh doanh nào mà lại làm cùng lúc 2 cái việc quái gở của vừa (a) cạnh tranh với Grab về hạ giá/tăng khuyến mãi/hạ tỷ lệ ăn-chia với tài xế, vừa (b) nắm đầu lôi xềnh xệch Grab ra chốn pháp đình nhằm tước bỏ các “đặc quyền” của Grab mà oái oăm thay các “đặc quyền” ấy lại chính là những cái mà “phe truyền thống” muốn mong có được để “cạnh tranh”.

Trong số các điều làm tôi ngạc nhiên trên, tôi phải nói rằng những tài xế nào không muốn về Grab chứng tỏ họ không thuộc nhóm mà các tiêu chí ban đầu của Grab và Uber và các hình thức tương tự khác tại các nước khác nhắm đến. Điều này cho thấy nhóm các tài xế này đã vay nợ ngân hàng mua xe để “chạy Grab” hay “chạy Uber”, tức trở thành tài xế chuyên nghiệp ngành “vận chuyển hành khách”, chứ không là chủ nhân các xe “nhàn rỗi”. Họ đã không hiểu đối tượng họ phục vụ cần gì, mà chỉ nhằm đến việc họ có đạt được tỷ lệ ăn-chia cao hơn hay không.

Trong số các điều làm tôi ngạc nhiên trên, tôi phải nói rằng chi tiết mà “báo hình” (tức tivi) nêu rằng khách hàng “bối rối băn khoăn” làm tôi nghi ngờ có sự yếu kém trong tác nghiệp của “nhà báo”, vì rằng chỉ có khách hàng ngây thơ mới chỉ sử dụng có mỗi “app” của Uber để sử dụng phương tiện phục vụ của Uber, vì rằng nếu nói khách hàng của Uber “bối rối băn khoăn” thì sẽ tự động đương nhiên đồng nghĩa về ngôn ngữ rằng “khách hàng của Grab mừng húm thở phào nhẹ nhõm hùa nhau nhảy múa hoan ca rằng chúng ta khỏe ghê vì khỏi phải xóa app Grab để chép app Uber!

Cuối cùng, xin nêu một sự thật mang tính đẳng cấp….“hội nhập” vốn là từ ngữ sính được sử dụng hơn chục năm nay ở Việt Nam rằng:

Sau chuyến nghỉ dưỡng nửa tháng ở Singapore đầu năm 2017, tôi toàn đi lại ngao du đó đây mỗi ngày bằng xe Grab; và khi về Việt Nam, tôi ngạc nhiên khi được Grab gởi tin nhắn “nhắc khéo” rằng tôi nên sử dụng điểm thưởng trước ngày tháng nào của năm 2018. Khi kiểm tra tôi thấy có số điểm thưởng mà tiếng bình dân gọi là “khủng”, khiến tôi phải mày mò bấm này bấm nọ lung tung để tìm hiểu nó muốn ám chỉ điều chi, và cuối cùng đọc được một danh sách chi tiết ghi nhận tất cả các chuyến đi Grab của tôi ở Singapore đã được tự động chú thích bao nhiêu tiền đô-la Singapore mỗi chuyến và tự động đổi sang thành bao nhiêu điểm dành cho tôi ở Việt Nam. Thế là tôi lại có rất nhiều chuyến đi lại bằng Grab miễn phí ở Việt Nam để trừ dần cho hết số điểm cứ gia tăng hoài  ấy.

Do đó, tôi tiếp tục ủng hộ Grab, và rất muốn rồi sẽ có dịch vụ xe nào khác của Việt Nam “tương tự Grab” để chép app của họ và sử dụng dịch vụ của họ phụ kèm với Grab vì sẽ rất ngạc nhiên nếu người hoạt động chủ động tích cực hiệu quả như tôi mà lại chỉ sử dụng có một app duy nhất. Tôi đã chọn sử dụng dịch vụ vận chuyển hành khách “tân thời” của cả Grab và Uber, nên tôi tất nhiên sẽ không sử dụng dịch vụ nào chống lại mô hình dịch vụ của Grab/Uber hoặc thấp hơn chất lượng mô hình dịch vụ của Grab/Uber. Nếu hô hào về giá thấp hơn cùng khuyến mãi nhiều hơn với tỷ lệ tốt hơn cho tài xế, sẽ đồng nghĩa với việc hóa ra khinh thường khách hàng vì họ là “vua/thượng đế” mà chẳng hề quan tâm đến chất lượng phục vụ cao nhất chẳng qua vì họ là “vua/thượng đế nghèo” sao?  Khuyến mãi là hành động bày tỏ sự tôn vinh tôn kính tôn trọng đền đáp sự ủng hộ quý báu của khách hàng quý giá, chứ không được là mồi dẫn dụ thu hút khách hàng. Không hiểu được điều này mà vung tiền ra đầu tư cho cái sự cạnh tranh thì không cần là nhà tiên tri thấu thị cũng có thể thị thấu về một mức thành công tí tẹo mà thôi.

Đơn giản vì tôi là khách hàng cực kỳ khó tính, tức là khách hàng hết mực trung thành, nghĩa là thuộc nhóm khách hàng được tất cả các hãng sản xuất hàng hóa hữu hình và vô hình đẳng cấp thượng thặng trên thế giới thích ưa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tin Tặc Tàu Tấn Công Website Việt: Đẳng Cấp Thấp Của Aitee Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-7-2016

Bắt chước thói “giật tít câu view” của báo giới, tôi chọn tựa như trên cho sặc mùi thời thượng. Song, bài này là để đăng lại những bài blog tôi viết năm 2009 cùng những ý kiến tôi công khai phản bác – dù với số lượng thính giả không lên tới số ngàn – về các vấn đề “thời thượng” của từng thời mà lúc đó là về cái gọi là “phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam. Tất nhiên, đối với những gì tôi phản bác (không phải “phản biện” vì “phản biện” là một hình thái khác của “đồng tình”) thì về sau đều diễn ra y như cái “thấu thị” của tôi. Chẳng hạn tôi phản đối sự bãi bỏ án tử hình đối với các tội danh đã từng đưa Tổng Giám Đốc Phạm Huy Phước của Tamexco ra pháp trường do lấy tiền nhà nước qua Macau đánh bạc và lấy xe xịn của công ty tặng một cô nàng diễn viên điện ảnh, và sự thể là sau đó ngày càng có nhiều tên tổng giám đốc ở khu vực nhà nước ngang nhiên làm thất thoát số tiền nhiều gấp tỷ lần số của vụ Phạm Huy Phước. Chẳng hạn tôi phản đối cái sự nhanh nhảu chộp ngay cái mới như đối với sản xuất chai PET (để rồi xây xong các nhà máy to đùng mới biết PET thì không thể tái chế và chai PET chôn lấp 10.000 năm mới phân hủy vào tự nhiên) hay sản xuất “xăng sinh học” ethanol (để rồi xây xong các nhà máy tỷ đô mới biết xăng ấy không ai muốn xài và cũng chẳng xuất khẩu gì được nên sẽ để đó làm kỳ quan kim tự tháp cho ngàn năm sau), v.v. và v.v.

Trở lại vấn đề công nghệ thông tin (gọi tắt là IT hay Aitee). Như đã có đôi lần nêu trong vài bài viết nào đó trên wordpress.com này, tôi đã tích cực phản đối sự nhanh nhảu đầu tư vào aitee, dù sự phản đối ấy của tôi chỉ được thể hiện qua các cuộc nói chuyện với tập thể đại lý và nhân viên hay ứng viên tuyển dụng, nhất là tại khu vực các tỉnh miền Tây với hy vọng làm các ông cha bà mẹ hãy khoan đầu tư cho con mình theo đuổi “đại học aitee” hoặc cho đi du học “đại học aitee”. Lý do phản bác của tôi rất đơn giản – như chưa từng bao giờ phức tạp – là (a) người Việt học aitee để làm giám đốc kinh doanh hàng điện tử, (b) người Việt học aitee phải ở cấp đại học trong khi aitee là ngành hand-on chỉ cần đôi ba tháng là xong chứ làm gì có cấp cử nhân hay thạc sĩ đúng nghĩa, (c) người Việt học để sung sướng chứ không chịu làm “thợ” dù từ chính xác là “chuyên viên kỹ thuật” đầy vinh diệu, và (d) người Việt học aitee không với khả năng sáng tạo nghiêm túc hướng đến y học-sinh học-quân sự-vũ trụ vĩ đại cao siêu mà chỉ nhằm đến viết game hay viết phần mềm quản trị linh tinh tạp nhạp.

Nhân có sự tấn công của hacker Tàu đối với các trang web Việt Nam mà mới đây là hệ thống bảng tin của các sân bay Việt Nam, cho thấy aitee Việt Nam hoàn toàn thất bại vì không những dù đã tập trung phát triển 20 năm qua Việt Nam vẫn (a) thiếu nguồn nhân lực cho các đại gia Aitee nước ngoài vào Việt Nam xây dựng các nhà máy tỷ đô, (b) không ngăn chặn được sự tấn công của các hacker đối với các hệ thống an ninh an toàn cấp nhà nước Việt Nam; tôi xin giới thiệu cụm bài đã đăng trên Emotino.com năm 2009 mang chủ đề Aitee Việt Nam: Tìm Một Lối Đi Đúng Tầm Nội Lực dưới đây để các bạn tham khảo:

Aitee Việt Nam: Tìm Một Lối Đi Đúng Tầm Nội Lực

Bài 1: Từ Hải Chết Đứng Trên Sân Nhà: Bảo Việt Nhân Thọ & Bravura Solutions (08-3-2009)

Bài 2: Phần Mềm Anti-Virus của BKAV (30-3-2009)

Bài 3: Điện Ảnh: Mỏ Vàng Lộ Thiên Chưa Dấu Chân Người (21-4-2009)

Bài 4: Cách Trở Thánh Sticker Không Thể Thiếu Bên Cạnh Windows và Intel Trên Tất Cả Các Laptop

Bài Viết số 1

Từ Hải Chết Đứng Trên Sân Nhà:

Bảo Việt Nhân Thọ & Bravura Solutions

(http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17550)

08-3-2009

Trên Emotino ngày 28/9/2008 (một ngày trước khi Yahoo! Mash bị khai tử y như bài Messy Mash tức Mash Lỗn Nha Lỗn Nhỗn tôi viết bằng tiếng Anh ngày 06/12/2007 trên blog cá nhân http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc tức cách đó 10 tháng) tôi có viết bài Câu Chuyện Có Thật Về Một Nhân Tài Việt Nam Quản Trị Công Nghệ Thông Tin bằng tiếng Việt (về một bạn trẻ tôi đã giúp đỡ từ ngày đầu tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa để trở thành ngôi sao quản trị aitee dù chưa hề kinh qua công tác cụ thể ở cấp nhân viên hay cấp điều hành bao giờ), trong đó khẳng định con đường aitee (công nghệ thông tin) mà Việt Nam đang tiến bước “sẽ không bao giờ chiếm lĩnh thị trường aitee hay một thị phần lớn bất kỳ về aitee, vì Việt Nam chỉ có thể ở trong chuỗi làm thuê gia công, thậm chí ở mức thấp của các đẳng cấp gia công” vì rằng “thế mạnh là sản xuất lớn, mang tính cách mạng, cỡ Microsoft, Apple, Acer hay IBM, chứ không phải ở chỗ thực hiện các đơn hàng gia công riêng lẻ và nhỏ của nước ngoài.” Việc Công ty Bảo Việt Nhân Thọ trong tháng 02 này ký hợp đồng trong một buổi lễ long trọng và hoành tráng mua gói phần mềm quản lý sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thế hệ mới trị giá 4 triệu đô-la Mỹ của nhà cung cấp các phần mềm quản lý tài sản và các dịch vụ chuyên nghiệp Bravura Solutions đã góp phần khẳng định các nhận xét của tôi là đúng khi liên hệ đến chiến lược phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam.

Phát triển aitee ở Việt Nam trong hơn mười năm qua chỉ được thấy rõ nét nhất qua sự đầu tư cực kỳ phí phạm và không tác dụng những số tiền khổng lồ xây dựng các phòng học aitee tại các trường trung học với toàn những desktop thế hệ cũ, sử dụng hệ điều hành ì ạch và phần mềm chắc chắn là khó thuộc loại bản quyền chính hãng, còn học vi tính đích thị là cưỡi ngựa xem hoa, và việc sử dụng internet tại trường học vẫn là chuyện xảy ra trong giấc ngủ, trong khi khoa học aitee tiến như vũ bảo vượt xa mất hút ở vô số các khúc quanh thiên lý. Đó là chưa kể sự hỏng hóc xuống cấp nhanh chóng của máy vi tính tại các trường học và thực tế đa số các con chuột máy tính bị học sinh niềm hy vọng cho tương lai tổ quốc khui đáy lấy mất bi.

Phát triển aitee ở Việt Nam trong hai mươi năm qua còn được thấy rõ nét nhất qua số lượng đông đảo các công ty aitee làm dịch vụ cung ứng máy con, máy chủ, đi mạng LAN, v.v., với vài chục doanh nghiệp làm dịch vụ viết phần mềm, đa số là về quản trị hành chánh nhân sự, giống nhau ở điểm mạnh ai nấy phát triển “bửu bối” và mạnh ai nấy tiếp cận khách hàng với chiếc laptop trình bày phần mềm quản lý mà đa số người xem không sẵn lòng mua hoặc có nhận xét là phần mềm vẫn chưa đủ sức quán xuyến cao các quản lý thực tế đan xen phức tạp chồng chéo, nhất là chưa kết gắn với các biểu mẫu pháp quy thực tế.

Phát triển aitee ở Việt Nam trong dăm ba năm qua có thể thấy được sự phấn khích ở các dự báo năm 2009 các công ty nước ngoài có thể cần đến 70.000 lao động là chuyên viên aitee, dẫn đến sự háo hức cho ra những kế hoạch đào tạo aitee, mừng vui đến độ có người lỡ lời cho rằng thu nhập của lao động aitee sẽ từ cao đến rất cao tạo nguồn thu thuế rất đáng kể mà không biết rằng tính chính xác chưa bao giờ là ưu điểm của các dự báo ở Việt Nam; rằng đào tạo cao cấp về aitee để cung cấp công nhân cho các công ty nước ngoài mà khủng hoảng kinh tế có thể ngăn cản họ đến Việt Nam thực hiện dự án hoành tráng hoặc thúc bách họ nhanh chân rời khỏi Việt Nam hoặc dừng lại trước ngưỡng cửa rộng mở chào đón của Việt Nam; mà chung quy lại cũng đơn thuần du kích (đào tạo người cung ứng khi nào giới chủ gia công lắp ráp “hê” lên rằng sẽ có nhu cầu) chứ chẳng phải chiến lược tầm cao (phát triển công nghệ thông tin để có những sản phẩm giá trị cao thuộc lĩnh vực nào của nền kinh tế quốc dân, giúp định vị Việt Nam trên bản đồ aitee thế giới).

Với thế mạnh vô song do thời thế đem lại, có đại gia aitee đưa đoàn quân tinh nhuệ ra nước ngoài làm lính lê dương chờ khách hàng mướn chế tác hay gia công phần mềm, chứ không với tầm và uy những người đi chinh phạt hay chinh phục Tân Thế Giới. Chẳng một ai có bất kỳ một sản phẩm đẳng cấp quốc tế nào để thiên hạ phải tìm đến mua giành mua giật. Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) vào Việt Nam hai thập kỷ qua, và các công ty BHNT nước ngoài vẫn phải mua phần mềm quản trị kinh doanh từ ngoài vào Việt Nam để sử dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh-nhân sự-tài chính-phát triển đội ngũ cực kỳ phức tạp của họ. Và công ty Anh Quốc Bravura Solutions đã được Bảo Việt chọn mua sản phẩm của họ vì đó là công ty có hơn 20 năm kinh nghiệm phát triển hệ thống quản lý cho các định chế tài chính tại Anh Quốc, Úc, Tân Tây Lan, Châu Âu, Châu Á, và Nam Phi, với các sản phẩm phần mềm quản lý chuyên ngành phức tạp về đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí, chứng khoán, liên kết đầu tư, ngân hàng và thuế vụ, v.v. Mua sản phẩm của Bravura, Bảo Việt làm an lòng khách hàng, vì rằng một sai sót trầm trọng bất kỳ của hệ thống aitee trong hoạt động tài chính cũng sẽ gây thiệt hại cho khách hàng và chôn vùi tên tuổi công ty. Mua sản phẩm của Bravura, Bảo Việt gián tiếp gởi một thông điệp khúc chiết, rõ ràng : Việt Nam chưa có những sản phẩm aitee đẳng cấp cao, có uy tín xác lập qua thời gian dài và lượng khách hàng đông.

Vì vậy, aitee Việt Nam chết đứng ở sân nhà như Từ Hải, khác chăng là Từ Hải cao vời vợi vì đã là đại gia hảo hán khuấy nước chọc trời. Còn Bravura Solutions đường đường chính chính oai vệ hiên ngang tiến vào Việt Nam lã lướt điệu nghệ ghi tên Bảo Việt vào danh sách vàng những đại gia trở thành khách hàng vĩnh viễn của họ, chứ nào phải gã quan tép riu Tôn Hiến dụ khị ả Kiều.

Chừng nào vẫn còn khí thế khoe khoang tưng bừng về doanh số có được từ gia công phần mềm vốn luôn trên cơ sở giá rẻ, chừng ấy Việt Nam vẫn sẽ còn ì ạch trên lối xưa xe ngựa hồn thu thảo bên dưới vòm bê-tông cốt thép con đường siêu tốc của aitee.

Bài Viết Số 2

Phần Mềm Anti-Virus Của BKAV

http://www.emotino.com/bai-viet/17600/aitee-it-viet-nam-tim-mot-loi-di-dung-tam-noi-luc-bai-2-phan-mem-antivirus-cua-bkav

30-3-2009

Thời gian hai mươi năm đầu kể từ ngày giải phóng tính tới sau, mỗi khi nghe mẹ ruột của con trai ruột của tôi nói “rằng” đã nghe ai đó nói “rằng” xe máy Honda DD đỏ của Singapore sản xuất rất … tốt rồi khuyên tôi nên sắm một chiếc đi cho … tốt, tôi luôn gạt phăng “rằng” xe đó không thể nào tốt, đơn giản vì liên tục nhiều năm chả thấy mấy anh Honda Singapore cải tiến cho ra model mới nào cả, và kết luận hùng hồn “rằng” công nghiệp xe máy hai bánh của Singapore lạc hậu. Mãi sau này vợ tôi nói tôi sáng suốt tiên tri thấu thị, chứ lúc đầu thì cứ cho là tôi bảo thủ, cực đoan, bài ngoại, chỉ muốn o bế chiếc mô-tô Voskhod hai ống pô nổ dũng mãnh đinh tai nhức óc của Liên Xô mà em trai tôi du học bên ấy mua gởi về tặng năm 1987.

Thời gian cách nay năm năm kể từ năm 2009 ngược về trước, khi thấy mấy anh sản xuất handphone tức điện thoại di động (tôi luôn nói đầy đủ chữ là “điện thoại di động”, không bao giờ dùng chữ “dế”, vì đó là slang, tức tiếng lóng, không thể thích hợp cho những người như tôi: đứng đắn, sang trọng, quý tộc Ăng-lê yêu thích sự nghiêm túc của ngôn từ) cho ra mẫu mã mới liên tục, tôi phán với mấy đứa em của tôi  – trong đó có cô em út là Marketing Manager chuyên nghiệp của vài công ty nước ngoài – “rằng” mấy ảnh đang “phỉ báng khách hàng” và sẽ nhanh chóng làm giá handphone rớt thê thảm. Bây giờ mấy đứa em tôi nói tôi rất chí lý, chứ lúc đầu thì hồ nghi ông anh mình có dấu hiệu sắp về hưu.

Nói chung thì đối với một sản phẩm đặc thù của ngành Aitee đừng nên nhiều năm ròng không đổi mẫu mã hay cắm đầu mỗi năm tung ra tràn ngập các mẫu mã. Phần mềm diệt virus BKAV danh tiếng của Việt Nam lại rơi vào trường hợp thứ nhất khi từ năm 1995 đến nay vẫn giữ giao diện gần như không đổi nội dung. Không thể nói BKAV hay hơn các phần mềm diệt virus của nước ngoài như Norton, McAfee, Kaspersky, hay PC Tools, v.v. Nếu đại gia Bảo Việt đã cho thế giới thấy họ chưa hề đọc quyển Cổ Học Tinh Hoa in bằng tiếng Việt chính thức ở Việt Nam nên mới cho ra slogan thiển cận “Bảo Hiểm Bảo Việt Bảo Vệ Lợi Ích Người Việt” như một cách tuyên bố hùng hồn kiểu chém đinh chặt sắt và bế quan tỏa cảng hay kỳ thị chủng tộc rằng mấy anh nước ngoài hãy xéo đi chỗ khác mà mua bảo hiểm, thì chắc BKAV sẽ chẳng dại gì tuyên bố BKAV bảo vệ máy tính người Việt. Nhưng nếu có tầm nhìn ra thế giới, BKAV nhất thiết phải có sự khác biệt ở nội dung và hình thức mới có thể nâng sản phẩm ngang tầm quốc tế và có giá trị thương mại cao.

Thế nhưng, từ dạng phục vụ miễn phí trong thời gian đầu, BKAV tiến đến thương mại hóa sản phẩm của mình không theo bài bản phát triển thương hiệu chuyên nghiệp. Tất nhiên, thương mại hóa sản phẩm là điều đúng, nhất là BKAV còn có phiên bản BKAV-Home miễn phí dành cho mọi người. Song, hai yếu điểm chết người của BKAV là (1) nếu tải về phiên bản BKAV-Home, người sử dụng phải thường xuyên vào trang web của BKAV để tải các cập nhật nếu không muốn bị virus mới xuất hiện tấn công, và (2) cho phép người sử dụng tùy thích xóa sạch các macros, mà đây là điều khiến nhiều người có hiểu biết về aitee ở Việt Nam cho rằng sử dụng BKAV quá nguy hiểm vì có những macros cần thiết cho hoạt động nội vi mà nếu BKAV “không biết” hoặc do người sử dụng vô ý – hoặc vì không hiểu biết – click chọn để “diệt” thì ắt “diệt” luôn hoạt động của máy vi tính, chẳng khác nào hiệu ứng trụ sinh gây rối loạn tiêu hóa do tiêu diệt sạch bất cứ gì mang tên vi khuẩn. Rất có thể hiện BKAV đã đạt trình độ tìm và diệt chỉ các macros không nên có, nhưng thông tin này chưa thấy được nêu trên trang web của BKAV.

Screen Shot 07-30-16 at 02.39 PM

Trong khi đó, phần mềm diệt virus như của AVG chẳng hạn lại rất công phu, tất nhiên có cả phiên bản miễn phí và có phí. Hàng năm AVG cho ra phiên bản mới với nội dung dồi dào hơn và giao diện đẹp hơn. Nếu phiên bản miễn phí của năm 2005, 2006, và 2007 vẫn còn “thông báo” đã có các cập nhật mới (updates) qua icon có màu đen sì sì hàm ý đề nghị người sử dụng ấn phím chấp nhận tải về để icon có đủ 4 màu sặc sở thì năm 2008 đã tự động hóa các cập nhật, cứ mở máy vào internet là AVG thầm lặng cập nhật, đồng thời gia tăng phạm vi bảo vệ như hình minh họa dưới đây của phiên bản 8.0, bao gồm diệt virus, diệt phần mềm gián điệp, scan email, scan links, và bảo vệ nội vi. Chỉ cần tải về sử dụng là hầu như chẳng cần phải cho chạy quét gì cả vì phần mềm tự động tìm và diệt, để rồi sau đó mỗi khi một dĩa hay một USB được tra vào máy là phần mềm tự động tìm và thông báo tên tuổi virus hay kẻ thâm nhập đã bị tóm gáy, giúp người sử dụng không nhất thiết phải quét virus trước khi mở dĩa hay USB ra. Trong tuần này của tháng 3 năm 2009, AVG lại có phiên bản 8.5. đúng kiểu của công ty chuyên nghiệp. Việc “chào giá” của AVG chỉ là cho sản phẩm bảo vệ internet hoặc sản phẩm diệt virus có thêm chức năng bảo vệ web và anti-rootkit mà phiên bản miễn phí không có.

Một nữ doanh chủ trẻ của một công ty trách nhiệm hữu hạn đã gởi tặng tôi một laptop mới tinh của Nhật Bản khi thấy tôi sống y hệt Warren Buffett tức yêu … cổ vật, không mua sắm cái không cần thiết, nghĩa là cứ xài hoài hai cái laptop IBM thời Kỷ Băng Hà và Acer thời Kỷ Jurassic của khủng long bạo chúa. Các phần mềm cô đều mua dạng có bản quyền để gia tăng giá trị quà tặng và tấm chân tình của lòng ái mộ. Nhưng sau hai tháng sử dụng, tôi đã tự gở bỏ phần mềm diệt virus “có bản quyền” BitDefender 10 vì quá chán sự … “hỗn hào” của nó khi mỗi lần tự vặn vẹo mình mẩy cập nhật nó làm trẹo trật xương cốt luôn cả hệ thống, nghĩa là coi như tôi không thể làm việc nhanh như ý được nữa. Do đã dùng và có kinh nghiệm sử dụng phiên bản BKAV Pro (bản có tính phí), BKAV-Home (bản không tính phí), và AVG (bản không tính phí), tôi quyết định tải lại AVG để sử dụng cho laptop cá nhân và desktop gia dụng, với ý nghĩ đã thực sự hài lòng về AVG và chuyện mua bản có tính phí của AVG (rất rẻ, chưa đến 50 USD) chỉ là chuyện của thời gian, khi quy mô hoạt động bên ngoài gia đình và không phải cá nhân cần phải có phiên bản nhiều chức năng hơn để bảo vệ hệ thống nhiều máy.

BKAV chỉ thực sự “bảo vệ” người sử dụng nếu như học theo AVG hay PC Tools, nghĩa là phiên bản miễn phí có luôn phần tự động update, đừng để người sử dụng Việt Nam của sản phẩm BKAV-Home trở thành nạn nhân của virus chỉ vì một ngày xui xẻo nào đó quên hoặc không thể vào internet tải các cập nhật. Một vài máy gia dụng cá nhân ở Việt Nam nếu bị virus tấn công có thể dẫn đến sự lây lan toàn quốc, gây nguy hại đến hệ thống thông tin liên lạc quốc gia và khu vực, mà như vậy sẽ có tổn thất cực kỳ to lớn và nghiêm trọng. Nếu vẫn không muốn nâng cấp BKAV-Home để thực sự bảo vệ người-sử-dụng-Việt với lý tưởng cao đẹp vì đất nước, BKAV nên loại bỏ BKAV-Home và chỉ tập trung bán sản phẩm BKAV-Pro. Song, cần nhớ là khi Mercedes hay Ford cho khách hàng lái thử (tức lái miễn phí), họ để khách hàng lái thực với xe thực với tiện nghi đầy đủ của một chiếc xe thực thụ chào bán; khác chăng là khách hàng đừng có hút thuốc trong xe, đừng vất vào trong xe mấy con cá thu đang giảy đành đạch cùng với mắm tôm và chục quả sầu riêng, và đừng lái từ Thành phố Hồ Chí Minh chạy tuốt ra Hà Nội, hay chạy húc vô lô-cốt hoặc tráo lốp xe, v.v.  Khách hàng tiềm năng sẽ trở thành khách hàng thực thụ khi kinh qua việc sử dụng “miễn phí” như thế. Với BKAV-Home, khách hàng tiềm năng sẽ có nhiều thiện cảm hơn để biến thành khách hàng thực thụ nếu thấy có (1) sự “đầu tư” và “động não” thực sự của những nhân tài aitee khi hàng năm đều có khả năng cho ra giao diện mới như một bằng chứng về sự có quan tâm đến giá trị toàn diện của hàng hóa, nâng niu đổi mới sản phẩm, nâng cao tầm vóc sản phẩm, và kinh doanh thành công của BKAV (tin mới nhất trên trang web của BKAV cho biết BKAV sắp có giao diện mới); và (2) bản free tối thiểu phải ngang bằng đẳng cấp hào phóng với bản free của nước ngoài.

Free luôn bao hàm trong nó cả trình độ cạnh tranh cao độ để free này khác biệt với và ưu việt hơn free kia. Không có sự khác biệt mang tính ưu thế cạnh tranh, sẽ khó thể nói đến tính bền vững vốn là điều nhất thiết cần có của phát triển kinh doanh.

Bài Viết Số 3

Điện Ảnh: Mỏ Vàng Lộ Thiên Chưa Dấu Chân Người

(Bài viết tặng Ông Trần Quốc Duy, Chủ nhân D’Passion và Emotino.com)

http://www.emotino.com/bai-viet/17669/aitee-it-viet-nam-tim-mot-loi-di-dung-tam-noi-luc-bai-so-3-dien-anh-mo-vang-lo-thien-chua-dau-chan-nguoi

21-4-2009

Trên báo Tuổi Trẻ cách nay vài tháng có bài viết ngắn về một bộ phim hoành tráng nào đấy (rất tiếc, vì phim Việt Nam không nằm trong danh mục đầu tư thời gian của tôi nên tôi không nhớ tên bộ phim hoành tráng ấy) đang trong giai đoạn thực hiện cho kịp lễ Ngàn Năm Thăng Long, với bức hình diễn viên đóng vai Vua Quang Trung cưỡi trên chú ngựa thấp lè tè và hông bên trái gầy rục nhô xương. Phải chăng vì thực tế là Việt Nam không có giống ngựa nào to cao đẹp như ngựa Âu Mỹ, hay do phim có ngụ ý sâu xa là ngay cả chú ngựa suy dinh dưỡng của Việt Nam cũng góp công lớn cõng đại đế chinh phạt và chiến thắng? Nhưng dù là lý do nào chăng nữa cũng thấy rõ đã không hề có sự tham gia dàn dựng của những hiệu ứng tân kỳ, vì với chiếc đủa quyền năng của aitee các nhà làm phim nước ngoài có thể đưa lên màn ảnh muôn vạn hùng binh trên lưng chiến mã và tuấn mã tung hoành nơi chiến địa bao la khói lửa dù lịch sử của mấy anh nước ngoài đó làm gì có “khí thế” đến dường ấy mà chỉ đong đầy tủi nhục vong quốc, tan tác tang thương dưới vó ngựa xâm lược của Thiết Mộc Chân Thành Cát Tư Hãn.

Ở một đất nước mà chẳng mấy ai xem trọng ngành điều dưỡng, chỉ xem trọng “bác sĩ” dẫn đến sự tầm thường hóa vai trò cực kỳ quan trọng của điều dưỡng – thường được gọi là “y tá” hoặc bị giễu cợt thành “a tý” ở hành lang bịnh viện như tại Việt Nam, đã có một điều không sao hiểu nổi khi những người đi học một ngành cực kỳ cao cấp, cực kỳ thời thượng, không bao giờ lụn tàn ngay cả trước thềm Ngày Tận Thế, đó là ngành công nghệ thông tin, gọi tắt là IT, tức ngành aitee, lại cúc cung chịu đựng cảnh bị các chủ nhân ông ngoại bang chê bai trong các cuộc phỏng vấn gần đây trên báo chí, nào là trình độ đào tạo chưa phù hợp (tiếng bình dân Nam Bộ gọi là “trớt qướt”) và không giao tiếp được bằng Tiếng Anh (nghĩa là trình độ có cao cấp cỡ thạc sĩ hay tiến sĩ aitee mà chỉ giỏi ngôn ngữ Pháp hoặc Nga hoặc Nhật thì cũng thuộc loại “a dime a dozen” – tức rẻ rúng một hào mua được cả tá – hay sao?), trong khi nhu cầu chỉ là cho lực lượng công nhân gia công sản phẩm phần mềm, hoặc lắp ráp, hoặc trực hệ thống máy chủ phức tạp hoạt động 24/24 hít thở biết bao khí độc từ các cổ máy vận hành không êm ả một chút nào trong gian phòng kín mít dễ gây bịnh về hô hấp, da liễu, tuần hoàn, thần kinh, và giảm thọ. Nói thế không có nghĩa là hùa theo những người không xem trọng y tá và công nhân aitee, mà chỉ nêu lên điều bất hợp lý: vì sao y tá không được đưa hình và tên tuổi lên trang quảng cáo báo đài của một bịnh viện – kể cả của nước ngoài – ở Việt Nam, và vì sao chuyên viên aitee Việt Nam phải khuất thân làm thuê với đồng lương chưa tương xứng hoặc hài lòng với sự nghiệp mở một điểm trang bị chừng dăm mười hay hai mươi máy vi tính để bàn loại cũ xì cho học sinh tới chơi game, chát chiết, hay học đòi “cứu net”. Trong khi vấn đề liên quan đến ngành điều dưỡng có khi phải vất vả lắm mới có sự đổi thay vì có va chạm đến kiểu tư duy truyền thống thâm căn cố đế của đa số người Việt và đến chính sách ngành y tế, thì vấn đề lối ra chủ động, tích cực, thu nhập cao cho chuyên viên aitee thì lại đơn giản hơn nhiều, thí dụ như khi IT phục vụ ngành điện ảnh nước nhà.

Điểm yếu kém trầm kha của Điện ảnh Việt Nam lại không nằm trong vô số những điều mà giới điện ảnh chuyên nghiệp, giới phân tích điện ảnh chuyên nghiệp, và những người thuộc giới chức chuyên nghiệp có thẩm quyền cao trọng của ngành điện ảnh tại Việt Nam thường hay nêu ra, chẳng hạn như tại bị vì bỡi thiếu kịch bản hay (vẫn cứ vô tư bỏ tiền của dân ra làm phim dù không có kịch bản hay), thiếu diễn viên tài năng (vẫn cứ vô tư gắn hào quang cho diễn viên dù chỉ dựa trên gương mặt và thân thể chứ không theo giọng nói, dáng người, và diễn xuất, tức những điều không có chiều cao bằng với kích thước thân thể), và thiếu tiền (vẫn cứ theo “cái mửng” công ty điện ảnh quốc doanh mãi vô tư là hài nhi bám víu bầu sữa mẹ, liên tục vô tư dùng tiền của nhà nước và nhân dân kinh doanh sản xuất phim không sinh lợi, triền miên không có tích lũy vốn). “Tài năng” như anh chàng Đơn Dương, “được” hãng phim Mỹ mời đóng vai sĩ quan Cộng Sản Việt Nam, chỉ biết chạy tìm diễn viên cơ bắp Mel Gibson xin chụp hình chung để về Việt Nam khoe khoang mình được vinh dự làm cây-sậy-không-tư-tưởng đứng cạnh gốc Sequois hoành tráng, rồi ngồi viết tự kiểm về cái tội hoặc mù chữ dốt nát hoặc vướng virus hay lây trong giới “nghệ sĩ” là hội chứng sơ-suất-không-đọc-kỹ-kịch-bản nên không biết nội dung phim thóa mạ Đảng Cộng Sản Việt Nam; sau đó dông tuốt qua Mỹ lén quay phim con heo để tống tiền phụ nữ và đang bị kiện ra tòa án Bang Virginia, Mỹ Quốc! Thiếu tiền nên có hãng phim vài năm trước bỏ ra mấy tỷ bạc của nhà nước mua một hỏa tiển SAM của quân đội để bắn “thật” khi quay phim, báo hại cơ quan không lưu quốc gia phải khẩn báo cho tất cả các hãng máy bay nước ngoài không được bay qua không phận Việt Nam vào thời gian khai hỏa, còn đạo diễn thì chạy quờ quạng lăng xăng cho hiệu lịnh “trớt quớt” nên khi “chuyên gia” quay phim chưa lắp xong máy thì hỏa tiển SAM khổng lồ từng bắn hạ pháo đài bay B52 của Mỹ đã vô tư rùng mình rời bệ phóng vút lên trời cao rơi xuống biển sâu khiến hãng phim phải ngậm ngùi bỏ luôn cảnh bắn tên lửa hoành tráng trong phim, xé tan nát tỷ tờ giấy bạc từ ngân khố quốc gia, tạo bia miệng cười chê trong giới điện ảnh khắp các châu lục.

Những dẫn chứng quá ư là dông dài và có vẻ “lạc đề” ở trên chỉ để thấy rõ ngành hiệu ứng dùng trong điện ảnh chưa hề được bất kỳ ai quan tâm, dẫn đến diễn xuất của diễn viên không thể hay, cảnh quang không thể đẹp, và nói chung là chẳng có bất kỳ một hiệu ứng nào được áp dụng cả. Chính hiệu ứng hình ảnh – một trong vô số các lĩnh vực của aitee – mới giúp điện ảnh các nước phát triển mạnh mẽ, và trong tất cả các phim của Mỹ có doanh thu cực cao hay đoạt các giải thưởng hàn lâm điện ảnh đều được các ứng dụng aitee của hiệu ứng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, vân vân và vân vân, làm nên hoành tráng. Những chuyên viên aitee Việt Nam – hoặc những đại gia tiền bạc thừa mứa thay vì bỏ tiền ra bán lẻ laptop và phone di động rồi vi vu hạng business hay first class trên máy bay rung đùi xem phim sex gây tai tiếng quốc gia – có thể tạo sự nghiệp “hoành tráng” khi cùng nhau đầu tư lập nên một hay những công ty cung cấp dịch vụ aitee cho ngành điện ảnh mà không cần phải kinh qua cái việc đớn đau bị ông chủ nước ngoài từ chối tuyển dụng vì nói dở tiếng Anh, nhất là trong bất kỳ hoàn cảnh kinh tế của đất nước và thế giới có tồi tệ đến đâu chăng nữa thì điện ảnh Việt Nam vẫn cứ phải sử dụng đến công nghệ aitee y hệt như bất kỳ tại quốc gia phát triển nào có hoạt động nhộn nhịp của cái gọi là Nghệ Thuật Thứ Bảy này, và cứ thế mà đủng đa đủng đỉnh hốt bạc. Cứ xem trên đài HBO, Cinemax, hay Star Movies, v.v., sẽ luôn thấy bóng dáng lồ lộ lấn lướt của công nghệ aitee trong tất cả các phim truyện người, hoạt hình, người-hoạt hình – tất nhiên trừ phim “bộ” chán ngắt trên các đài truyền hình Việt Nam thuộc loại cổ trang của mấy tên gióc tóc bím đuôi Thanh Triều xấu tởm hay loại xã hội tình cảm ướt sủng Ma-Xinh-Hàn-Thái-Đài-Trung.  Các đoạn giới thiệu phim mới có khi dài đến 36 phút giữa thời gian chiếu của mỗi hai phim trên các đài nước ngoài này có khi cho thấy diễn viên đánh đấm đâm chém cực kỳ chậm chạp trong khung cảnh toàn màu xanh lá, từ vách, nền, tấm trần, đến đống nệm mút dầy đến 37cm dưới đất cho diễn viên thi nhau té êm ái trong ánh đèn chói chang; để rồi trong trích đoạn phim thành phẩm thì diễn viên đánh võ xuất chiêu tới tấp, vồn dập, như gió táp mưa sa, như giông như bão, trong ánh sáng huyền ảo âm u ghê rợn, rồi té nhào lên đất đá lởm chởm đầy rêu phong rắn rít sình lầy nhầy nhụa tởm kinh. Aitee trở thành chiếc đũa thần kỳ trong tất cả các bộ phim, góp phần quyết định cho doanh thu khổng lồ sau đó, cũng như các giải thưởng điện ảnh hàn lâm đầy danh giá theo sau.

Song, những gì thế giới đã có, thậm chí có từ rất lâu, dường như vẫn không sao tìm thấy ở Việt Nam. Mới đây một phim Việt Nam đã phải gởi qua Úc làm hậu kỳ, “chế” luôn cảnh một chiếc phản lực Mỹ bị bắn vỡ tung trên trời, tan xác, có mảnh to nhắm thẳng lao vun vút đập vào ống kính quay phim và … mặt khán giả. Thật là thật! Thật là hay! Thật là ấn tượng!  Vấn đề ở đây là: cũng như trường hợp của Bảo Hiểm Bảo Việt và Bravura, số tiền rất cao để có cảnh hoành tráng đó lẽ ra đã phải ở lại Việt Nam, trong tài khoản một công ty aitee Việt Nam, vinh danh aitee Việt Nam trên trường quốc tế, tóm thâu các đơn hàng của các lân bang nội khối ASEAN, tức những con hổ con rồng hay con giun đất (tức…long thổ) có tiền, có điện ảnh, nhưng chưa hề có công-nghệ-thông-tin-chuyên-ngành-điện-ảnh.

Có thể sức ì và sự ham đi chơi bằng tiền nhân dân của đa số những người có thẩm quyền trong ngành điện ảnh khiến họ luôn mồm nói cần phải có kinh phí để cho đạo diễn đi thực tế bên… Mỹ và học tập bên … Mỹ. Họ không bao giờ đặt câu hỏi: thế những tay aitee Mỹ nào đã có thể “dạy” cho những aitee Mỹ ấy các chiêu thức aitee đó, và người Mỹ nào đã “dạy” cho những-người-có-thể-“dạy”-cho-những-người-có-thể-“dạy” là đấng nào. Chỉ biết mấy anh aitee Mỹ giỏi. Chớ biết ảnh học của ai. Tại sao cứ hễ là người Việt thì phải là ham học hỏi, ham rút kinh nghiệm, mà không phải là ham tìm tòi, ham phát minh, ham sáng tạo, và đặc biệt là ham…dạy công nghệ cao cho thiên hạ?

Có thể sự theo học “thành tài” về aitee của một số không ít các chuyên gia aitee Việt Nam là do chạy theo thời thượng, phong trào, hay tệ hơn là do lỡ bước sa chân chứ không từ một kế hoạch hoành tráng mang tên “sự nghiệp” cho bản thân trước khi nộp đơn ứng thí vào trường aitee. Nhưng cái “có thể” nhất trong tất cả những cái “có thể” là do vấn đề muôn đời của chỉ riêng người Việt là thiếu tiền đối với người có tài về aitee trong khi thừa tiền đối với các chủ nhân ông các công ty thuê mướn nhân tài aitee chỉ để sữa chữa đài vi ba, lắp đặt ăn-ten chảo, lắp ráp tivi LED, lắp ghép công cụ xa xỉ cho laptop, và chép nhạc chuông cho điện thoại di động 3 sim 4 sóng online.

Điện ảnh Mỹ thành công vượt bậc vì họ luôn có cùng lúc ba lực lượng cùng tập trung cho kinh doanh điện ảnh, gồm (1) những người có đầu óc hoành tráng cho ra cốt truyện hoành tráng, (2) những người có két sắt hoành tráng chứa đầy giấy bạc có mệnh giá hoành tráng, và (3) những công ty aitee có tài thực hiện những yêu cầu hoành tráng trên cơ sở cốt truyện hoành tráng được tài trợ hoành tráng.

Aitee đương nhiên sẽ giúp cải thiện tình trạng phim ảnh Việt Nam, phim nhựa và phim hoạt hình, đồng thời đem lại nguồn thu lớn cho chính công ty aitee từ những đơn hàng đa dạng, hào phóng, có suốt tháng quanh năm. Chỉ cần có sự xuất hiện của một công ty dịch vụ bảo vệ chuyên nghiệp, các công ty hay cửa hàng đều có tâm lý phải có nhân viên bảo vệ chuyên nghiệp mặc sắc phục trước công ty hay cửa hàng của mình cho sang trọng, từ đó tạo nên sự mọc lên như nấm của các công ty bảo vệ chuyên nghiệp. Chỉ cần có sự xuất hiện của một công ty Việt Nam – chẳng hạn mang tên do tác giả bài viết này táy máy đặt chơi thư giản ai muốn dùng thì cứ tự nhiên chiếm hữu – như MM Muveee Media,  UMS Universal Movies Services, GM General Movies, hay MTV Movies Techno Venture – cung cấp các giải pháp đáp ứng yêu cầu về hiệu ứng hình ảnh, sẽ khiến tất cả các hãng phim Việt Nam phải tìm đến để có được bộ phim tốt hơn theo yêu cầu của khán giả sành điệu đích thực, giúp điện ảnh Việt Nam tốt hơn, đời sống của các chuyên viên aitee sẽ tốt hơn, và ngành aitee đi lên bậc thang tốt hơn.

Đó mới chính là phát huy nội lực của ngành công nghệ thông tin Việt Nam trên cơ sở tạo ra nội lực mới từ nội lực tự thân.

Bài Viết Số 4

Để Là Sticker Không Thể Thiếu Bên Cạnh Windows và Intel Trên Tất Cả Các Laptop

(Xin cáo lỗi: bài bị mất, chưa xin lại được)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Khởi Nghiệp Entrepreneurship hay Intrapreneurship

Nhận Định Duy Nhất Đúng Về Khởi Nghiệp – Bài Viết Dành Cho Giới Trẻ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

04-5-2016

A- Vấn Nạn

Như đã được đề ra trong các phát biểu bởi những vị lãnh đạo nhà nước hay tại các hội thảo chuyên đề được tải đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam đã và đang có vấn nạn về số lượng bội thực của “đào tạo” cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, số lượng gần như bằng zero những “công trình nghiên cứu” của các vị này trên các tạp chí quốc tế khoa học chuyên ngành, cũng như số tỷ lệ cao ngất ngút hàng năm về thất nghiệp của các vị này.

Từ những gì đã được đề ra trong các phát biểu bởi những vị lãnh đạo nhà nước hay tại các hội thảo chuyên đề được tải đăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Việt Nam dường như đã và đang rất phấn khích đối với chủ đề “khởi nghiệp” mà nội hàm của “khởi nghiệp” bị vô tình hay cố ý nhầm lẫn để chỉ ôm gọn trong nó ý nghĩa duy nhất của “khởi nghiệp doanh nghiệp”, khiến người người sau khi nườm nượp tiến vào các trường đại học, nườm nượp giơ cao tấm bằng đại học, lại nườm nượp mơ màng nuôi mộng trở thành những nhà khởi nghiệp entrepreneur.

Như đã được tác giả bài viết này phân tích trong bài viết trước đây về chủ đề “cẩm nang khởi nghiệp”, lẽ ra người ta đã phải có sự phân định rạch ròi giữa “khởi nghiệp sự nghiệp” tức “khởi nghiệp cá nhân”, “khởi nghiệp doanh nghiệp” và “khởi nghiệp quốc gia” trước khi quảng bá hay hô hào về cái gọi là “khởi nghiệp” để giới trẻ tránh được sự lầm lạc trong ma trận mê cung mà kiếm hiệp gọi là tẩu hỏa nhập ma, vì đối với mọi con người có sự lành mạnh trong cả sức khỏe tinh thần và tâm thần thì khởi nghiệp sự nghiệp mới là điều duy nhất quan trọng cho cả cuộc đời mỗi người.

Khởi Nghiệp Sự Nghiệp còn gọi là khởi nghiệp cá nhân khi một con người có (a) tâm huyết, (b) ý chí, (c) sở thích, (d) sở trường năng lực, (e) hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội, đã dựa trên tất cả năm thứ tương tự hành trang hay trang bị cần và đủ này để lập kế hoạch thích hợp ngay khi còn dưới mái trường trung học cho chính tương lai của mình. Tâm huyết cho biết ý nghĩ của bản thân đã hướng thượng ra sao đối với một lý tưởng – đặc biệt khi phạm trù “lý tưởng” chỉ có thể phát sinh, dưỡng nuôi, phát triển, và tồn tại chỉ khi người ta còn rất trẻ để từ đó hoặc thui chột biến mất theo tuổi tác hoặc thăng hoa bất kể tác động tàn phá của thời gian. Sở thích còn gắn liền với sở trường năng lực trong trường hợp sở thích đồng thời có kèm theo năng lực năng khiếu đáp ứng tương hợp với sở thích. Và hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội để giúp một người đi đến quyết định lựa chọn hợp lý theo đạo lý, từ đó bản thân (a) không vướng vào tình cảnh nhẫn tâm khi buộc cả cha mẹ và anh chị em phải hy sinh để cung ứng cho mình điều kiện trèo lên bậc thang có gắn chữ “đại học” hào nhoáng hữu danh vô thực, (b) không đặt bản thân vào tình cảnh gia nhập đoàn quân thất nghiệp của tập đoàn quân cử nhân – thạc sĩ – tiến sĩ, (c) chủ động cho cuộc mưu sinh của bản thân đáp ứng đúng nhu cầu của xã hội từ đó có thể cưu mang sự sống của đấng sinh thành cùng tương lai của các em mình cũng như gia đình riêng của mình.

Đặc biệt, khi một cá nhân trở nên xuất chúng với nghiệp vụ của mình – nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao đặc thù – được một công ty tầm cỡ tuyển dụng để có môi trường phát triển mạnh mẽ nhất về tài năng, người ấy có thể được gọi là một nhà khởi nghiệp sự nghiệp tức intrapreneur.

Như vậy, đâu là sự khác biệt giữa nhà khởi nghiệp entrepreneur mà quá nhiều bạn trẻ Việt Nam trong thời hiện đại mơ màng đến, và nhà khởi nghiệp intrapreneur mà hầu như chỉ có tất cả các bạn trẻ thời Việt Nam Cộng Hòa đều sống theo như thế để rồi hện nay trở thành trào lưu của các tổng công ty hùng mạnh ở Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao và y-sinh-dược học?

B- Nhận Diện Vấn Đề

1) Entrepreneurship

Khởi nghiệp Entrepreneurship là khi một nhà khởi nghiệp entrepreneur chấp nhận “lời ăn, lỗ chịu” đứng ra mở một doanh nghiệp nhỏ để làm chủ nhân doanh nghiệp ấy, trên cơ sở bản thân vững tin vào ý tưởng kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ của mình, nhất là khi ý tưởng ấy mang tính đột phá, sáng tạo, có khả năng kiến tạo lợi nhuận, dù không thể phủ nhận có sự tiềm tàng những rủi ro thất bại cho sự dấn thân này.

2) Intrapreneurship

Khởi nghiệp Intrepreneurship là khi một người tài giỏi được thuê làm việc cho một công ty lớn và công ty này cung cấp các phương tiện làm việc tối ưu và tối tân phục vụ cho việc nghiên cứu sáng tạo của người tài giỏi ấy, chấp nhận các rủi ro thất bại bất kể các đầu tư tài chính khổng lồ.

Thật ra từ ngữ nhà khởi nghiệp intrapreneur xuất hiện từ năm 1978 và trở nên phổ biến khi được giới truyền thông sử dụng năm 1985 qua phát ngôn của Steve Jobs, Chủ Tịch Apple, và chính thức được ghi vào quyển từ điển The American Heritage Dictionary of the English Language năm 1992. Nếu như entrepreneur là một doanh nhân làm chủ một doanh nghiệp nhỏ, tự lo vốn để hoặc thực hiện sáng kiến của mình hoặc chạy theo thời cùng thị hiếu của thị trường, thì intrapreneur là một doanh nhân làm việc cho một doanh nghiệp lớn để phát huy sáng kiến, sáng tạo, thực hiện biến các sáng kiến, sáng tạo ấy của mình thành những đột phá lợi nhuận cho doanh nghiệp cưu mang mình, theo sự chu cấp tài chính dồi dào của doanh nghiệp lớn ấy. Có thể nói rằng một intrapreneur là một entrepreneur nội bộ của một công ty lớn, tại đó một intrapreneur được chủ động như một entrepreneur nhưng với nguồn cung cấp tài chính dồi dào cùng nguồn nhân lực của công ty lớn ấy để thực hiện sáng kiến sáng tạo của mình cho đến khi thành công mà không bị lâm vào hoàn cảnh của entrepreneur do entrepreneur phải gánh chịu trách nhiệm về tài chính cho mọi thất bại.

Những thí dụ điển hình cho sự động viên “người tài” nội bộ trở thành intrapreneur chủ động theo đuổi dự án riêng, phát huy sáng kiến sáng tạo và thực hiện sáng kiến sáng tạo ấy bằng tiền của công ty thường được đưa ra làm dẫn chứng như tại các công ty Lockheed Martin, 3M, HP, Intel, Google, Xerox, Siemens, và Microsoft, v.v., có nơi lập hẳn một chương trình dài hạn nhằm biến 300 manager (cấp quản lý cấp cao) của họ thành những intrapreneur có khả năng nhận diện cơ hội kinh doanh mới, có tiềm năng lợi nhuận cao, và thực hiện các dự án “tự tìm ra” mang tính đột phá mới lạ hấp dẫn ấy.

Tránh né rủi ro, khiếp sợ thất bại, và trừng phạt sự thất bại là những đặc thù của doanh chủ entrepreneur khiến những điều lý tưởng như phát huy sáng kiến kinh doanh của bản thân hoặc chỉ thực hiện được ở giai đoạn “khởi nghiệp doanh nghiệp” hoặc khó trở thành hiện thực hoành tráng cụ thể về sau do thiếu tài lực chịu đựng các rủi ro, thất bại. Điều này lý giải vì sao mặc cho trên lý thuyết luôn có sự ngợi ca hô hào động viên phát huy các sáng kiến sáng tạo đột phá siêu lợi nhuận tại tất cả các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp vẫn thất bại về mặt phát huy này.

C- Đặc Thù Việt Nam

Như đã nêu ở trên, dạng thức Intrapreneurship đã tồn tại đương nhiên mặc định nơi giới trẻ của Việt Nam Cộng Hòa. Thế nhưng, vì sao hiện nay Intrapreneurship lại trở thành vấn đề thời thượng tại siêu cường Hoa Kỳ? Từ sự tồn tại đương nhiên mặc định, Intrapreneurship trở thành bài bản phát triển chuyên nghiệp mang tính thế lực trỗi vượt cạnh tranh cực cao của các đại gia tư bản do tác động tích cực của Intrapreneurship đối với sự phát triển tổ chức cùng gia tăng lợi nhuận của tổ chức qua thực tế chứng minh rằng các đại gia tư bản nào hình thành cơ cấu và cơ chế ủng hộ sự dấn thân của các doanh nhân Intrapreneur sẽ biến đại công ty thiên hẳn về Intrapreneurship và có cơ hội lớn hơn đối với sự phát triển so với các đại công ty khác có hoạt động Intrapreneurship kém được quan tâm hơn.

Tại Việt Nam Cộng Hòa, học sinh như có khả năng thiên phú trong vô thức tự thân sẵn có các trang bị của năm vũ khí như đã liệt kê ở trên trong phần A nói về Khởi Nghiệp Sự Nghiệp tức khởi nghiệp cá nhân bao gồm (a) tâm huyết, (b) ý chí, (c) sở thích, (d) sở trường năng lực, (e) hiểu biết thấu đáo về hoàn cảnh cụ thể của bản thân, gia đình, và xã hội. Từ những nhận thức mang tính vô thức này, học sinh chủ động khôn ngoan lựa chọn con đường dấn thân của mình để hoặc đi theo con đường trường kỹ thuật (mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay đã hoàn toàn sai khi hạ phẩm giá thành “trường nghề hay trường cao đẳng nghề”) từ năm học lớp 9 để nhanh chóng tốt nghiệp dấn thân cho sự nghiệp thiên năng khiếu kỹ thuật này với danh xưng đầy danh dự của các “cán sự”, hoặc tiếp tục đi theo con đường nhiêu khê mất thời gian hơn để kết thúc lớp 12 với kỳ thi Tú Tài lắm rủi ro trước khi đối mặt với kỳ thi đại học cực kỳ khó khăn, hoặc đi theo đường binh nghiệp.

Tại Việt Nam ngày nay, học sinh hầu như không còn khả năng thiên phú trong vô thức tự thân như trên, dẫn đến hiện trạng học sinh lớp 12 vẫn chưa thể khẳng định sự liên kết chặt chẽ giữa cái mình muốn trở thành gì, mình có năng lực cho cái mình muốn trở thành ấy không, xã hội có chào đón cái mình muốn trở thành ấy không, và gia cảnh có đòi hỏi mọi người phải hy sinh tất cả để mình được vào đại học – chứ không phải để mình trở thành cái mình muốn trở thành. Đại học trở thành từ ngữ duy nhất chứ không là một thành tố của các sự lựa chọn cân đong đo đếm của học sinh, do có sự xuất hiện tràn lan của các trường đại học cùng cả ngàn phân khoa đói khát sinh viên, cũng như do việc thi cử hoặc bị tầm thường hóa thành “chỉ hỏi những gì đã học trong chương trình học” thay vì kén chọn năng khiếu người tài, hoặc bị triệt tiêu không cần thi cử để “đáp ứng nhu cầu học đại học của toàn dân”. Và chính sách giáo dục như thế của nhà nước đã triệt tiêu tất cả nỗ lực của chính nhà nước trong các kế sách phát triển các “trường nghề” nhằm đáp ứng nhu cầu quá cao trong xã hội khi công nghệ kỹ thuật dù được vinh danh trong quốc sách “hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước” ngay từ ngày đầu thống nhất đất nước vẫn chưa bao giờ được đặt ở vị trí trang trọng đúng ra luôn là của nó.

Với sự khập khiểng như thế từ khâu đào tạo và cấp phát văn bằng, người thụ  hưởng – tức các học sinh – lại bị huyễn hoặc bởi các hào quang giả trá của “quản trị kinh doanh” và bởi sự ra rả mọi lúc mọi nơi về “tinh thần khởi nghiệp”, nên vô tư hăng hái trả lời phỏng vấn rằng “Em muốn trở thành Bill Gates”, rằng “Em sẽ mở doanh nghiệp”, rằng “Em muốn làm một doanh nhân”, v.v. và v.v.

Với sự khập khiểng như thế từ khâu đào tạo và cấp phát văn bằng, người thụ  hưởng – tức các học sinh – hưởng thêm lợi lộc từ sự cạnh tranh gay gắt để tồn tại của tất cả các trường đại học nước ngoài (như giảm học phí, cấp học bổng bán phần, chấp nhận cho học thêm tiếng Anh sau do kém tiếng Anh, chấp nhận cho học thạc sĩ quản trị kinh doanh mà không cần phải có tối thiểu bao nhiêu năm làm việc thực tế sau tốt nghiệp đại học, v.v.) nên việc du học luôn ở trong tầm tay của đa số, dẫn đến việc trí hóa chưa kịp hoặc không thể trưởng thành khiến vừa sang nước ngoài du học đã lớn tiếng chê bai nước nhà, to giọng mắng nước nhà không biết trọng dụng nhân tài do bản thân học xong chẳng biết nước nhà có việc gì làm không và thù lao có tương xứng hay không, v.v. và v.v.

D- Kết Luận

Vì vậy, bạn trẻ hỡi, hãy là người tài để bản thân mình làm một intrapreuneur và khi đã trở thành một intrapreuneur thành công, bạn hãy lựa chọn một trong hai con đường rộng mở trước mặt:

1) Tiếp tục là một intrapreuneur ngày càng thành công hơn, danh tiếng lẫy lừng hơn; hoặc

2) Chuyển sang làm một entrepreuneur trên cơ sở đã hội đủ cùng lúc bốn yếu tố của (a) vốn liếng nghiệp vụ cao trên thương trường sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, (b) vốn liếng uy danh cao trên thị trường sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, (c) vốn tài chính cao trong “chiến trường” sau thời gian dài làm người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur, và (d) khả năng thành công gần như tuyệt đối từ ba loại vốn trên.

Tương tự bất kỳ quốc gia lành mạnh nào khác, Việt Nam cần có thật nhiều những người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur để làm cơ sở mang tính nền tảng cho sự phát triển các entrepreuneur thành công.

Tương tự bất kỳ quốc gia lành mạnh nào khác, Việt Nam không cần có quá nhiều người khởi nghiệp doanh nghiệp entrepreuneur trong khi xã hội đang có vấn nạn thiếu vắng các người tài khởi nghiệp sự nghiệp intrapreuneur.

Một cách lành mạnh, bạn hãy rèn luyện – dù ở Việt Nam hay ở nước ngoài – để  trở thành một người tài cho một sự nghiệp cá nhân của bạn tại một đại công ty. Cần nhớ rằng tấm văn bằng bạn đạt được dù do năng lực cao thật sự của chính bản thân bạn, thì cũng chẳng nói lên được điều gì vì “học giỏi” còn đòi hỏi thời gian “hành giỏi”, vì qua “hành” bạn mới chứng minh được năng lực của bạn trong biến tri thức thành thực tiễn hiệu quả trong một môi trường làm việc phức tạp của một tập thể đa dạng với tính cạnh tranh khắc nghiệt, tất cả minh chứng cho sự thành công của bạn để tồn tại, qua đó bạn trở thành kết quả cụ thể của một quá trình học hành thành công.

Ngay cả khi bạn học thành tài tại Việt Nam nhưng rời Việt Nam làm việc cho nước ngoài, hoặc bạn học thành tài ở nước ngoài nhưng không về Việt Nam thì đây vẫn là chuyện bình thường, đặc biệt nếu như bạn là ngôi sao về Vật Lý Nguyên Tử, Vật Lý Thiên Văn, Vật Lý Vũ Trụ, Công Kỹ Nghệ Hóa Sinh, v.v. mà ở Việt Nam bạn không thể phát huy sự nghiệp khoa học cũng như không thể có các tài trợ và phương tiện phục vụ tối ưu cho các nghiên cứu của bạn. Bạn hãy làm việc cho Cơ Quan Nghiên Cứu Vũ Trụ NASA của Hoa Kỳ. Bạn hãy làm việc cho công ty sản xuất chiến đấu cơ phản lực chiến thuật Lockheed Martin. Bạn hãy làm việc cho bất kỳ ai, miễn bạn luôn là người Việt Nam tốt lành. Thầy Trần Chung Ngọc, sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, giảng sư Vật Lý đại học Mỹ, cố vấn chính phủ Singapore, luôn là người tả xung hữu đột đơn thương độc mã tại Hoa Kỳ viết hàng ngàn bài blog bảo vệ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, chống lại bất kỳ kẻ chống Việt Nam nào dù đó là thế lực phản động hay thế lực tôn giáo chống Cộng. Thầy Trần Chung Ngọc không “đóng góp” công sức giảng dạy đại học cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, không “đóng thuế” cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bạn hãy làm sao trở thành bậc kỳ tài như Thầy Trần Chung Ngọc: luôn vì đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chỉ cần như vậy thôi là bạn đã làm vinh danh đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam rồi vậy.

Hãy là một intrapreneur thành công tại một đại công ty trước khi làm một entrepreneur của một công ty nhỏ bạn ạ, vì rằng có như thế bạn với tư thế một người tài mới có nhiều cơ may thành công hơn khi quyết định “ra riêng”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo các bài viết của Hoàng Hữu Phước:

Khởi Nghiệp:

  1. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Khởi Nghiệp
  2. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Singapore
  3. Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc: Hão Huyền Nhật Bản

Người Tài:

  1. Thầy Trần Chung Ngọc: http://hhphuoc.blog.com/?p=89
  2. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!
  3. Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh
  4. Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Giáo Dục:

  1. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai
  2. Tấm Lòng Cựu Nhà Giáo
  3. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân
  4. Thế Nào Là Doanh Nhân
  5. Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam
  6. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Ẩm Thực Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

13-01-2016

Thân nhân của tôi ai cũng thích ăn món Nhật và thường xuyên đăng ký đến ăn tại nhà hàng Nhật như Tokyo Deli – “đăng ký” vì nếu không sẽ gặp phải rắc rối do các nhà hàng này luôn đông nghẹt thực khách mà đa số là người Việt.

Tôi rất thích ăn món Hàn và thường xuyên dẫn nhân viên đến ăn tại các nhà hàng Hàn – và do rút kinh nghiệm tại các nhà hàng Nhật nên tôi cũng phải phone đăng ký giữ chỗ trước ở các nhà hàng Hàn.

Tôi rất thích ăn các món Việt do chính Má tôi nấu như thịt kho trứng, trứng chiên óc heo, thịt bò lá lốt, cá lóc kho, thịt kho tiêu đậm đặc, hay bánh xèo, các món chay với “mì căng”, v.v.

Tôi rất thích các gameshow như Master Chef trên đài tivi nước ngoài vì tất cả các món dù được chế tác bởi người lớn hay trẻ em đều rất hấp dẫn đối với tôi – “chế tác” vì toàn là món mới lạ do các giám khảo ai cũng là đầu bếp nổi tiếng thế giới làm chủ nhân ông của các chuỗi nhà hàng kinh doanh ẩm thực lừng danh đánh giá và thậm chí tuyên bố “xin” được chọn món nào của các đầu bếp “tài tử” người lớn hay trẻ em dự thi làm nên ấy bổ sung vào thực đơn tại chuỗi nhà hàng của mình; và “hấp dẫn” vì sự dồi dào của nguyên liệu cùng màu sắc.

Vì tất cả những điều trên, tôi dị ứng với

1- Các gameshow mô phỏng ở Việt Nam do chẳng giám khảo nào là dân đẳng cấp tương tự Master Chef chấm điểm, chẳng món ăn nào thuộc loại “chế tác hấp dẫn”.

2- Các chương trình dạy nấu ăn Việt trên tivi Việt không do “đầu bếp tài tử” đẳng cấp Master Chef mà do toàn là nghệ sĩ này nghệ sĩ nọ – tức “tay mơ nấu ăn” chứ không phải “đầu bếp tài tử” – thực hiện, mà đa số thời gian để nói láp giáp quàng xiên đa lĩnh vực, còn món ăn thì là những thứ quen thuộc người nội trợ nào cũng nấu được, trong khi màu sắc thì đa số màu xám xịt, xám nâu tẻ nhạt. Việc này chẳng khác nào mời tay mơ lên nói về y học, mời tay mơ lên nói về cách dạy tiếng Anh, mời tay mơ lên nói về ngân sách ngân hàng ngân quỹ ngân nga tiếng chuông chùa vây.

Như đã nêu trong bài Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa, những người buôn gánh bán bưng hàng xén ngày xưa toàn là dân ẩm thực chuyên nghiệp vì họ theo nghề cha truyền con nối với sự am hiểu về nguyên liệu, công thức pha chế gia truyền, đạo đức ẩm thực (tức vệ sinh an toàn thực phẩm và tất cả vì phục vụ sự sành điệu của khách hàng, vì danh dự của nghề nghiệp cũng như danh dự ẩm thực nước nhà).

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi thích uống trà mà cứ vài ngày một lần tôi chạy sang tiệm Chú Hai Tiều người Tàu mua một gói trà quấn trong giấy có in nhãn hiệu gì đó về cho Ba tôi pha. Hai hay ba năm nay tôi loại bỏ hẳn trà (tức là “chè” theo tiếng Bắc) trong thực phẩm hàng ngày của mình, dù tôi nghiện trà rất nặng – như đã từng nói trong một bài blog rằng tôi có “gu” uống cà phê rất lạ khi đến Trung Nguyên: yêu cầu pha cho tôi một ly cối từ 4 đến 6 phin cà phê nhưng pha trong bếp đừng để tôi thấy bản mặt mấy cái phin do tôi rất ghét cái tỏn tỏn từng giọt của phin mà nếu tự pha thì toàn là pha bằng vợt vải như đã nói trong bài Hành Trang Nghị Sĩ, kèm theo một bình trà thật đậm mà ngay cả các cụ ông miền Bắc cũng khó thể uống nổi, để tôi pha hai thứ vào ly đá trước khi vừa uống cái hỗn hợp không đường ấy vừa thưởng thức ít nhất 5 chiếc bánh “su kem” ngọt lịm. Lý do tôi không bao giờ uống trà nữa vì nghe tin có một tên nào đó đã nhúng trà vào bùn đất theo sự dặt mua của bọn Tàu, khiến tôi tởm lợm đối với trà. Mấy năm nay tôi uống trà-không-trà của nước ngoài, tức là uống loại trà thảo dược túi lọc với toàn kỳ hoa dị thảo mà không có chút lá trà (lá chè) nào. Còn nếu muốn uống trà (tức chè) thì tôi uống trà xanh sang trọng của Nhật Bản hay Hàn Quốc, hay trà đen sang trọng của Nga hay Ấn Độ, Anh Quốc, Bangladesh, hay của bất kỳ quốc gia nào mua trà của Việt Nam về chế thành thương hiệu của riêng họ. Tôi sẽ không bao giờ uống trà Việt Nam mua tại Việt Nam.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi hay mua bánh mì thịt ở tiệm Chú Hai Tiều kể trên do Thím Tư Tiều bán. Ổ bánh mì thủa ấy ốm nhom, dài cả cánh tay. Bánh mì thịt được cắt ra từ ổ bánh mì dài ngoằng ấy (mỗi ổ bán được cho 6 người), xẻ dọc, rồi cho vào vài miếng thịt nguội mỏng dính, một chút đồ chua tuyệt diệu từ củ cà rốt và củ cải trắng, rồi hoặc rắc một tí muối tiêu thơm lừng hoặc “xịt” một ít nước tương cực ngon dù chẳng ai quan tâm đến “thương hiệu”. Sau 1975, khi những người nghèo xưa biến mất, người ta bán bánh mì thịt theo kiểu ổ bánh mì nhỏ, xẻ dọc, trét vào đấy ba-tê chèm nhẹp khả nghi, rồi phết bơ nhẹp chèm nghi khả, gắp vào đấy vào miếng thịt nguội khả nghi, và ít đồ chua không thơm, rôi cũng rắc ít muối tiêu không mùi, hoặc “xịt” ít nước tương khả nghi. Tôi không thể nào nhai nuốt thứ bánh mì thịt hổ lốn ấy vì ba-tê và bơ phá tan nát khẩu vị bánh mì thịt đúng nghĩa, nhất là sau khi tivi đưa tin có kẻ bán bánh mì thịt mà ba-tê lúc nhúc giòi bọ. Tất nhiên, tôi thấy cũng là tin mừng khi một số người nước ngoài thích bánh mì thịt kiểu Việt; song, tôi từ nay chỉ ăn hoặc bánh mì thịt kiểu…Thổ Nhĩ Kỳ đang được bán rộng rãi tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc tự mua bánh mì không để về nhà ăn với hoặc ba-tê hộp của Hạ Long hay của nước ngoài, hoặc với thịt nguội của Vissan, hoặc với cá hộp của Hạ Long hay của Nga, hoặc đơn giản chấm nước tương Phú Sĩ ăn ngon lành với mấy trái ớt hiểm mà không cần bất kỳ thịt thà gì cả. Tôi cũng thà ăn mấy chiếc hamburger to đùng cao tầng tầng lớp lớp đầy tràn rau thịt của Mỹ mà vẫn cho đó là thức ăn thanh lịch trọng sang ngon tuyệt chứ không cho nhân viên xếp hàng dài chờ mua ổ bánh mì mập ú nhét đầy tràn rau thịt rất không thanh lịch quá bình dân chẳng thể gọi là ngon như đang bán ở một số nơi tại Quận 1 hay Quận 3.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi nghiện cơm tấm vì sự thơm của hạt gạo tấm, vì những thức “đặc thù” chỉ có ở món này như chả và nước mắm cay. Hiện nay tôi không ăn sáng với cơm tấm vì cơm tấm được nấu bằng gạo thường, không phải “tấm”, và không có hương thơm của “tấm đặc sản”; còn nước mắm cay được pha quái gở đồng bộ khắp nơi nơi với sự sền sệt cứ như được chế với nước đường thắng để xài được lâu hơn, không phải đổ bỏ mỗi ngày theo kiểu pha chế ngày xưa, khiến ăn mất hẳn vị thơm ngon của nước mắm và sự quyến rũ của cách pha chế bí truyền (thậm chí người sành ẩm thực còn cho rằng việc “ai thắng ai” là nhờ ở nước mắm) mà chỉ còn là sự pha chế tạp nham ngọt lịm. Khi thấy có quán cơm tấm của Việt Kiều từ California về “mần ăn”, tôi vội vàng ủng hộ vì ngỡ sẽ được gặp lại cơm tấm trước 1975, không ngờ cũng y chang cơm tấm xuống cấp lề đường ngày nay, chỉ khác một điều là giá bán cao hơn chất lượng ắt tại có xài máy lạnh và có kèm chén canh như thứ phụ thêm kỳ dị, khiến tôi xem như cơm tấm vĩnh viễn đã không còn tồn tại.

Trước 1975 ở Sài Gòn tôi như mọi người dân miền Nam nghiện các món xôi ngọt, từ xôi vò, xôi gấc, đến xôi lá cẩm màu tím có rắc dừa bào, v.v. Sau 1975 tôi không thể nào ăn xôi do kiểu miền Bắc là xôi mặn ăn với thịt gà (!) trong khi tôi chỉ ăn đồ mặn với cơm, và tôi cũng không thể ăn xôi kiểu miền Nam vì xôi không được nấu với nguyên liệu thơm ngon đặc sản như trước, thậm chí xôi ở các chùa phát cho thiện nam tín nữ mà vợ tôi đem về cũng làm tôi nổi giận vì không thể ăn được do sự nấu xôi cẩu thả của các chùa bằng nguyên liệu rẻ tiền, lúc nào cũng chỉ có món xôi đậu xanh nhạt nhẽo vô duyên, phí tiền, phí của.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng tôi thích dùng tiếng Anh để viết lách để khỏi bị kẻ ác tâm “ném đá” vì họ chỉ có thể dùng đá nội chứ không biết dùng đá ngoại.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng tôi thích ăn các món ăn ngoại để khỏi bị kẻ ác tâm biến thành nạn nhân của vấn nạn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tôi yêu Việt Nam, nhưng kết bạn với nhiều người ngoại dù họ là quan chức Mỹ tại Mỹ hay sinh viên Iran chống Mỹ, hoặc doanh nhân Pháp ở Việt Nam, v.v., vì những người này lắng nghe ý kiến “trái chiều” của tôi và cho đó là những ý kiến đầy thú vị, “không đụng hàng”, biến tôi thành người mà họ cho rằng không thể gặp được một nhân vật thứ hai tương tự bất kỳ tại đất nước này; thậm chí họ nhận các trả lời bằng thư của tôi đối với các vấn đề hóc búa họ nêu ra để rồi hoặc cảm ơn với lời khen là độc đáo, hoặc xin tôi cho họ sử dụng các ý kiến ấy trên báo chí ở nước họ, chứ chẳng bao giờ phán phê rằng thư của tôi phức tạp, khó hiểu.

Ẩm thực Việt Nam rốt cuộc chỉ lẩn quẩn quanh món Phở mà nguyên liệu luôn bị đe dọa bởi bò điên lở mồm long móng và gà nhiễm dịch “hát mấy en nờ mấy” cũng như xua đuổi tất cả các du khách ăn chay trường trên thế giới; hoặc các món tầm phào do các nghệ sĩ ca sĩ kịch sĩ và đóng-phim-sĩ thực hiện trên tivi mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 17-9-2014. Hành Trang Nghị Sĩ

Hoàng Hữu Phước. 17-11-2015. Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

Gạo Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-01-2016

 HHP_FBNC

Là người thực hiện thành công chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên có giá trị thương mại của Việt Nam (tức nước nhập khẩu có mở tín dụng thư có bảo lãnh quốc tế, có điều tàu vào nhận hàng, giám định chất lượng xuất khẩu VINACONTROL, có hoàn tất tất cả các yêu cầu về hầm hàng, kiểm kiện, phun trùng, v.v.), tôi tích cực tham dự các hội nghị quốc tế về gạo với khát vọng góp phần biến gạo thành thương hiệu quốc gia như trong bài viết Đề xuất thêm một thương hiệu quốc gia cho Việt Nam: Việt Nam, Vựa Lúa Của Thế Giới đăng trên Emotino. Tuy nhiên, khi nhận thấy các lãnh đạo ngành gạo chỉ lo tập trung mỗi hai việc là (a) khẳng định Việt Nam sau 1975 đã xuất khẩu gạo trước khi Ông Hoàng Hữu Phước xuất khẩu gạo năm 1989, và (b) ý kiến của Ông Hoàng Hữu Phước về Việt Nam nên khẩn trương đầu tư hệ thống silo là viễn vông vì Việt Nam có thiếu gì gạo mà phải lo, tôi cảm thấy tức giận và giận dữ nên nhiều năm nay không đoái hoài đến việc có mặt tại các hội nghị ấy. Tức giận vì họ là chức sắc được chính phủ ban cho ghế lãnh đạo ngành gạo mà không phân biệt được chuyện chở gạo ra khỏi Việt Nam sang cứu trợ Cuba hay Triều Tiên hoàn toàn không phải xuất khẩu có giá trị thương mại tức theo sự ràng buộc hợp đồng giữa bên bán và bên mua có kèm các điều khoản phạt và bồi thường, lại phí thời gian chỉ để tước lấy từ tôi cái danh “người đầu tiên xuất khẩu gạo” luôn thuộc về tôi. Giận dữ vì không ai trong các chức sắc chính phủ ấy có tầm nhìn đủ xa để thấy được silo sẽ làm tăng giá trị hạt gạo chứ không phải các chiến lược do các vị ấy đề ra nhảm nhí như về cái gọi là gạo phải xây dựng thương hiệu, chất lượng gạo phải cao, cũng như không thấy được rằng sẽ có lúc Việt Nam sẽ thiếu gạo và các silo mới là hệ thống chiến lược đảm bảo nuôi sống quốc dân. Cách nay vài tháng, một vị chức sắc ngành gạo lại được tivi phỏng vấn và cũng vẫn các lãi nhãi vô dụng được lập lại trước sự tồn tại miên viễn của vấn đề cái nghèo của nông dân Việt Nam và cái giá rẻ của hạt gạo Việt Nam. Chưa kể, ngày nay Việt Nam không những phải gánh chịu hậu quả của sự ấm lên toàn cầu làm nước biển dâng cao khiến sẽ mất đi phần lớn vùng lúa gạo đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, mà còn của các đập thủy điện liên hoàn trên toàn hệ thống sông Mekong triệt tiêu hoàn toàn sự bồi đắp phù sa khiến kiệt quệ độ màu mỡ của đất đai. Điều này làm tôi nhớ lại buổi phỏng vấn tôi của Đài FBNC đầu năm 2011 nghĩa là sau vài năm bỏ hẵn các hội nghị về gạo, tôi vẫn được phóng viên tìm gặp để hỏi han về các nhận định của tôi đối với gạo Việt Nam trước các thử thách mới, mà các nội dung trả lời của tôi năm xưa ắt vẫn còn nóng hổi; song biết làm thế nào được khi người phụ trách chiến lược về gạo chẳng phải là người có kinh nghiệm về xuất khẩu gạo và tầm nhìn chiến lược, mà người lẽ ra đã có thể làm nên đại sự vì đại cuộc gạo của Việt Nam chỉ còn biết đăng lại nội dung sau để cùng chiêm nghiệm:

*********

Xuân Tân Mão 2011 Trả Lời Phỏng Vấn Đài FBNC

FBNC:  Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu gần 6,8 triệu tấn gạo, liên tiếp lập kỷ lục 2 năm liền. Tuy nhiên, giá xuất khẩu gạo lại không bằng năm 2009. Theo ông, nguyên nhân vì sao?

ThS Hoàng Hữu Phước: Nói về tổng sản lượng gạo năm 2010 thì trên thế giới thu hoạch được 452,4 triệu tấn gạo, trong đó Việt Nam đứng hàng thứ 5 thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và trên Thái Lan – với Trung Quốc 140 triệu tấn, Việt Nam 25 triệu tấn, Thái Lan 20,5 triệu tấn, và M‎ỹ 7,5 triệu tấn hạng 11. Điều cần ghi nhận là hầu như năm sau sản lượng gạo thu hoạch ở các nước luôn cao hơn năm trước.

Nếu lấy giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan làm chuẩn – do Thái Lan là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới và gạo có chất lượng cao – thì chúng ta sẽ thấy giá xuất khẩu gạo FOB/tấn của họ cũng lên xuống thất thường, thí dụ như tháng 3/1981 là USD505, tháng 4/2001 chỉ có USD162.1 và tháng 5/2006 là USD301.26.

Còn theo dõi số liệu hàng tháng của 3 năm 2008, 2009, và 2010 của gạo Thái 5% tấm, chúng ta sẽ thấy biến động giá cao nhất vào hai tháng 4 và 5 của năm 2008 khi giá trên USD1000 tác động đến giá cao của các tháng còn lại của năm 2008 như USD722, USD737, USD799, và USD834, thì trong toàn bộ 12 tháng của năm 2009 giá cao nhất chỉ là USD634 trong tháng 2. Tương tự, giá bán mỗi tháng của năm 2010 thấp hơn của năm 2009, với mức cao nhất là USD598 của tháng 1.

Như vậy, có thể nói giá gạo Thái dần trở lại mức độ cao bình thường và hợp l‎ý sau thời gian khủng hoảng giá lương thực toàn cầu 2008, chứ không thể nói gạo họ mất giá trong năm 2010. Nếu trong tháng 5/2008 giá gạo 5% tấm của Việt Nam là USD1,000 so với USD1,015.21 của Thái Lan, thì đó không là mốc để nói hiện gạo Việt Nam mất giá. Khi giá gạo Thái trong tình hình trở lại bình thường như vậy, ảnh hưởng đến giá gạo Việt Nam sẽ là điều đương nhiên. Cuối qu‎ý III năm 2010 thiên tai tại các nước như Pakistan, Trung Quốc, Philippines, Úc, Nga, và một số nước khác, gây thất mùa khiến tăng nguy cơ thiếu lương thực dẫn đến sự tăng nhu cầu về dự trữ gạo và tăng giá gạo, nhưng cũng không thể tăng đến mức kỳ khủng hoảng 2008.

Nói theo chiều hướng tích cực thì khi nói về giá gạo, chúng ta không theo hướng biến thiên lên mà theo quy luật thị trường, do đó, hai điều mang tính thực tiễn là nhu cầu về gạo đã và sẽ tăng và giá gạo xuất khẩu của ta đã tốt tính trong thời điểm đã và sẽ xuất. Vấn đề duy nhất quan ngại là vì sao giá xuất của chúng ta không thể tốt hơn nữa so với giá của gạo Thái, thí dụ cùng vào thời điểm tháng 1 năm 2010, giá gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức USD440 – USD445 trong khi gạo Thái là USD598 tức chênh nhau mỗi tấn thường là đến USD160.

 

FBNC:   Giá gạo Việt Nam nhiều năm liền vẫn thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan, đôi khi không đủ bù chi phí, nông dân vẫn nghèo. Theo ông, nguyên nhân cốt lõi của vấn đề này là gì?

ThS Hoàng Hữu Phước: Thật ra có những thời điểm trong năm 2010 giá gạo Việt Nam bằng với gạo đồng cấp của Thái Lan, nhưng vấn nạn ở đây là trường hợp ấy là không thường xuyên. Gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn có giá thấp hơn hẳn khiến nông dân Việt Nam rất khó thoát nghèo, do năm lý do sau:

Tính chất cá thể trong sản xuất: chất lượng gạo Việt Nam không đồng đều do nông dân Việt Nam làm ăn cá thể mạnh ai nấy làm, cho nên những cánh đồng liền kề nhau lại trồng nhiều giống lúa khác nhau và hay được tư thương gộp chung vào nhau. Có người nói chất lượng gạo 5% tấm của Việt Nam ngang ngửa với gạo đồng cấp của Thái Lan. Tôi không cho đó là nhận xét nghiêm túc vì mang đầy tính định kiến dân tộc chủ nghĩa.

Vấn đề giá trị hạt gạo: Gạo thơm của Việt Nam không thể có giá cao do không có đặc tính gì nổi trội so với 9 loại gạo thơm hàng đầu thế giới như gạo thơm Arbino của Ý; bốn loại gạo thơm California, Della, Texamati, và Louisiana Pecan của Mỹ; gạo thơm Basmati của Ấn Độ; gạo thơm Jasmine của Thái Lan; và hai loại gạo thơm của Nhật là Mochi Sushi. Đã vậy, gạo thơm Việt Nam rất dễ mất hương thơm. Nghĩa là ngoài sự phó mặc cho sự phát triển các giống lúa gọi là “đặc sản” của mỗi địa phương, đã không có chiến lược phát triển cấp vĩ mô nào cho thương hiệu gạo Việt Nam, khiến gạo Việt Nam và ngay cả “gạo thơm” của Việt Nam vẫn dường như bị đồng nghĩa với gạo bình dân cho người không có thu nhập cao, hoặc phục vụ cứu trợ hay cứu đói.

Vấn nạn bảo quản sau thu hoạch: Từ vấn đề tăng giá trị hạt gạo, chúng ta thấy dẫn đến yêu cầu cao của bảo quản sau thu hoạch. Đã rất nhiều năm qua nhiều quan chức Việt Nam vẫn không cho việc xây dựng các chuỗi silo liên hoàn là việc cần làm, với lý do Việt Nam không thể thiếu gạo, vô hình trung đã tầm thường hóa vai trò tứ diện cực kỳ quan trọng của silo như (a) bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, (b) bảo quản hiệu quả lương thực sau thu hoạch, gia tăng chất lượng hàng hóa, gia tăng giá trị hạt gạo, và gia tăng uy tín thương hiệu gạo Việt Nam, (c) phát triển Tam Nông khi chủ động thu mua gạo của nông dân, không để nông dân vì không có phương tiện kho trữ mà bán tháo bán đổ cho thương lái, và (d) khống chế, kiểm soát lượng xuất để có giá bán cao nhất có thể được ra thị trường nước ngoài.

Một vấn nạn liên quan đến silo là những cơ quan có trách nhiệm ở Việt Nam vẫn đơn giản nghĩ rằng silo là nhà kho, trong khi silo gồm một hệ thống hiện đại có thể giúp giảm thất thu sau thu hoạch đến trên 3% nghĩa là chỉ riêng phần tránh thất thoát đã là hàng trăm triệu USD mỗi niên vụ gạo, chưa kể còn duy trì chất lượng gạo để giá bán tốt hơn. Còn “nhà kho” chỉ có thể giảm thất thoát số lượng từ 1 đến 2% chứ hoàn toàn không bảo đảm được chất lượng gạo trữ.

Tác động của chiến lược quốc gia: Thái Lan luôn có lượng tồn kho gạo khổng lồ vì chính phủ Thái Lan muốn kềm giữ giá gạo ở mức cao nhất có thể được. Nông dân Việt Nam bán ngay cho thương lái do họ gần như là những người mua sẵn sàng mua, so với các doanh nghiệp nhà nước phải có mệnh lệnh từ chính phủ và phải có được ngân hàng cho vay vốn ưu đãi mới tổ chức mua trữ của nông dân.

Tư lợi cục bộ: điển hình là việc thành lập liên doanh xuất khẩu gạo với Cambodia để xuất khẩu gạo giá rẻ của Cambodia vào Việt Nam.

 

FBNC:  Theo lộ trình WTO, năm nay Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp nước ngoài vào tham gia xuất khẩu trực tiếp. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế và khó khăn gì trong trường hợp này?

ThS Hoàng Hữu Phước: Tôi nghĩ Nghị Định 109 của Chính Phủ về tổ chức kinh doanh xuất khẩu gạo có hiệu lực từ năm 2011 là điều tuyệt vời lẽ ra đã nên được ban hành từ nhiều năm trước như quy định doanh nghiệp phải có kho chứa tối thiểu 5000 tấn gạo, có thiết bị xay xát công suất tối thiểu 10 tấn/giờ, và có trữ lượng gạo tương đương 10% tổng số lượng gạo đã xuất trong 6 tháng trước đó để đáp ứng hoạt động xuất gạo tiếp theo, v.v., để không vướng phải tất cả những vấn đề và vấn nạn tôi đã vừa nêu, và nếu vậy thì vào thời điểm thực thi các cam kết WTO về mở cửa thị trường xuất khẩu gạo như hiện nay thì chúng ta lẽ ra đã có các doanh nghiệp tầm cỡ để kinh doanh xuất nhập khẩu gạo ngang sức với các doanh nghiệp nước ngoài. Do trễ nên tất nhiên các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo sẽ có các bất lợi về vốn tiền có thể không đủ mạnh để đầu tư vào hệ thống silo / kho chứa và trang thiết bị, còn vốn thời gian thì không khác các doanh nghiệp nước ngoài vì tất cả đều ở vạch xuất phát đối với yêu cầu silo/kho chứa và trang thiết bị.

Nhưng các quan chức cũng đã nêu nhiều về những thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo khi Việt Nam mở cửa thị trường xuất khẩu gạo. Theo tôi, bất kỳ ai, dù là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài, xuất khẩu được nhiều gạo Việt Nam với giá tốt nhất cũng là làm lợi cho Việt Nam, làm giàu cho Việt Nam, có đóng thuế cho Việt Nam, nên tôi xin công bằng mà lái câu hỏi của Cô sang một đối tượng khác, đó là nông dân, những người đã luôn chịu thiệt thòi ngay từ khi Việt Nam xuất khẩu lô gạo đầu tiên có giá trị thương mại cách nay 22 năm, để xem với việc mở cửa thị trường xuất khẩu gạo này họ sẽ có thuận lợi gì và khó khăn gì.

Tôi nghĩ người nông dân chỉ có lợi mà không có khó khăn nào phải đương đầu cả, vì rằng do các doanh nghiệp phải có lượng trữ theo quy định, người nông dân có thể bán gạo tốt hơn với giá tốt hơn theo sự lựa chọn tốt hơn của họ, thậm chí họ còn có thể nhận các khoản tạm ứng từ các doanh nghiệp muốn tạo thế cạnh tranh về nguồn cung ứng gạo; và thậm chí yêu cầu gắt gao của doanh nghiệp xuất khẩu – nhất là của nước ngoài – đối với quy trình canh tác, bón phân, thu hoạch, v.v. cũng là điều hoàn toàn có lợi cho người nông dân chân chính vì giúp họ vừa nhận thức được giá trị hạt gạo thương mại vừa có được kỹ năng quản lý canh tác nông nghiệp chuyên nghiệp có thể giúp họ nhanh chóng trở thành các nông chủ, tiền đề cho tầng lớp phú nông quyết định sự thành công của sự nghiệp phát triển Tam Nông.

*******HHP Rice Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Việt Nam Hưởng Lợi Từ Lịnh Cấm Vận Của Hoa Kỳ

Ngô Diệu Kế

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-01-2016

Khi Việt Nam thay trời hành đạo đem đại binh đánh đuổi quân xâm lược Khmer Đỏ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và truy bức truy đuổi truy sát Khmer Đỏ đến tận thủ đô Phnom Penh đến tận cùng biên giới Campuchia với nước khác, tiêu diệt con quái thú ghê tởm điên loạn Khmer Đỏ do Trung Quốc dưỡng nuôi, trong khi toàn thế giới Âu Mỹ lặng thinh chiêm ngưỡng dân tộc Campuchia bị diệt vong chỉ vì Khmer Đỏ có đại công đánh phá Việt Nam, thì Mỹ lập tức nguyền rủa Việt Nam xâm lược Campuchia rồi áp đặt lịnh cấm vận kinh tế chống Việt Nam.

Cấm vận kinh tế nghĩa là mọi giao dịch giữa Việt Nam và các nước hoặc giữa các nước với Việt Nam nếu được tiến hành trên cơ sở thanh toán bằng đồng Mỹ Kim (tức USD) sẽ bị Mỹ tịch thu, và không bất kỳ việc mua bán nguyên vật liệu chiến lược nào được phép thực hiện với Việt Nam. Giống như khi một công ty lớn tuyên bố phá sản thì đây sẽ là tin mừng trọng đại của các nhà tư bản vì chỉ có vậy họ mới có thể mua được công ty ấy (tất nhiên không bao giờ với giá rẻ hơn mà chỉ vì nếu không có vụ phá sản thì họ sẽ không bao giờ mua được dù thòm thèm sở hữu từ lâu), việc Việt Nam bị Mỹ cấm vận trở thành cơ hội kinh doanh bằng vàng của các nhà đại tư bản không-phải-Mỹ để làm giàu trước sự bực tức của các nhà đại tư bản Mỹ. Thế là các nước quây quần quanh Việt Nam để cung cấp nguyên vật liệu phục vụ sản xuất công nghiệp của Việt Nam trên cơ sở thanh toán bằng dồng Bảng Anh, đồng Đức Mã, đồng Yên Nhật, và đồng Franc Pháp hay Thụy Sĩ. Thậm chí khi tôi ở Công ty CIMMCO International Ấn Độ còn có thể nhận các thanh toán chuyển khoản bằng đồng Mỹ Kim từ Việt Nam trả thanh toán cho CIMMCO (do đã xây dựng các nhà máy ở Việt Nam) thông qua một đại ngân hàng Tây Âu (tôi xin được dấu tên) hoạt động ở Singapore. Thế là hàng hóa Nhật, thiết bị Mỹ, phụ tùng Mỹ, nguyên liệu vật tư từ các nước Tây Âu vẫn tiếp tục tràn về Việt Nam và Việt Nam vẫn có thể thanh toán bằng đồng Mỹ Kim mà chưa từng có số tiền nào bị Mỹ tịch thu cả.

 CIMMCO 1

Trước khi làm việc tại CIMMCO International, tôi có phụ trách văn phòng đại diện TICO Ltd của Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên tôi không chịu tiếp tay mà đứng ra tố cáo lãnh đạo trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh gian lận thi cử tuyển sinh nên bị đình chỉ giảng dạy, bị hạ tầng công tác làm nhân viên tạp vụ quét dọn phòng thính thị, rồi bị tống qua làm giáo viên Khoa Sử để mai sau biết đâu được gọi là nhà sử học, nên buộc phải làm đơn xin thôi việc nếu không muốn tiếp tục bị chuyển qua dạy Toán-Lý-Hóa-Sinh là những khoa tôi chẳng thuộc lòng bảng cửu chương để dạy dỗ gì được, hoặc bị chuyển qua dạy thể dục thể thao cho bộ môn đua xe thể thức 1 hoặc thể dục nhịp điệu aerobics (việc này có vợ tôi và các sinh viên của tôi làm nhân chứng). Tuy nhiên, tôi vẫn là giáo viên “đắt show” tại các trung tâm ngoại ngữ nên mỗi tối vẫn đi dạy Anh Văn như thường. Lúc ấy tôi gặp anh Ngô Diệu Kế, tiến sĩ Việt Kiều Nhật.

Ngô Diệu Kế là du học sinh của Việt Nam Cộng Hòa tại Nhật Bản, hoạt động Việt Kiều Yêu Nước, thường xuyên tham gia xuống đường trước Đại Sứ Quán Việt Nam Cộng Hòa và Đại Sứ Quán Mỹ ở Tokyo để cắn tay lấy máu viết huyết thư chống Mỹ và chống Thiệu. Chiến tranh đã làm gia đình anh ở Việt Nam có hoàn cảnh đặc biệt vì anh ruột của anh là Ngô Thiết Thạch, thứ trưởng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau 30-4-1975, anh làm việc cho Hitachi và chế tạo ra sợi cáp quang (optic fiber cable), thứ nguyên vật liệu mà lúc còn những 20 năm mới hết Thế Kỷ XX thì thế giới đã đặt tên cho nó là thứ nguyên vật liệu của Thế Kỷ XXI. Nắm bắt được thời cơ kinh doanh, anh lập công ty TICO Ltd (công ty công nghệ quốc tế trách nhiệm hữu hạn) và về Việt Nam xin mở văn phòng đại diện lúc Việt Nam chưa có Luật Đầu Tư và Luật Thuế Thu Nhập Cá Nhân. Sau khi tìm kiếm khắp nơi không ra người quản lý cho sự nghiệp của mình tại Việt Nam dù đã tiếp cận các giảng viên đại học hay các chuyên viên xuất nhập khẩu của các cơ quan xí nghiệp công ty nhà nước, anh đến các lớp đêm ở các trung tâm ngoại ngữ để đứng trong bóng tối ngoài các cửa sổ ngắm nhìn các giáo viên đang giảng dạy, và anh đã mời tôi khi tôi dắt chiếc xe đạp mini ra cổng định phóng đến trung tâm khác để đón vợ tôi. Công việc của tôi tại TICO Ltd (đường Hùng Vương, Quận 5) chủ yếu là thực hiện các giao dịch về xây dựng các nhà máy công nghiệp nhỏ theo mô thức chìa-khóa-trao-tay, đưa các đoàn khoa học gia Nhật Bản thăm các cơ sở giống-cây-trồng ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt, ký kết các hợp đồng với các tổng công ty xuất nhập khẩu các tỉnh thành để nhập khẩu với số lượng rất lớn và thường xuyên hàng hóa Nhật Bản như radio-casette, tivi, xe máy second-hand (đã qua sử dụng), ô-tô mới, ô-tô second-hand, và ô-tô tay lái nghịch. Đặc biệt xe máy Honda second-hand thì chất nhiều ngàn chiếc tại các kho nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh (các Việt Kiều ở Mỹ thanh toán tiền cho TICO Ltd Nhật Bản để TICO Ltd gởi vận đơn và hóa đơn về tôi ở TICO Ltd Việt Nam, còn thân nhân của các Việt Kiều sẽ từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đến nhận để nhận xe đúng số sườn và số máy ghi trên vận đơn tại các kho). Công việc rất đang thuận lợi thì tôi bỏ việc do một ông anh khác của Ngô Diệu Kế là Ngô Văn Phương, chức sắc của cái gọi là Công Ty Dịch Vụ Kiều Hối Và Xuất Khẩu Tại Chỗ Thành phố Hồ Chí Minh, cứ đến đưa tôi các hóa đơn yêu cầu tôi ký thanh toán cho các buổi yến tiệc do ông ta tự tổ chức chiêu đãi các quan chức thành phố, cùng các thứ như vợt tennis và trang phục với giày Adidas mua tặng các đại quan, v.v., và khi tôi dứt khoát từ chối do ông ta chẳng giữ chức vụ gì trong TICO Ltd và cũng chẳng đảm trách việc xài tiền như nước vô tội vạ, ông ta rống lên rằng đó là công ty và tiền của em trai ông ta mà ông ta đã có công gởi qua Nhật học tập trước 1975 nên ông ta có quyền đòi hỏi đáp đền. Thế là tôi đập bàn mắng ông ấy một trận rồi viết thư, đến Hội Việt Kiều ở Nguyễn Đình Chiểu nhờ gởi telex sang cho Tiến sĩ Ngô Diệu Kế báo tin thôi việc và lý do thôi việc. Sau đó, tôi được mời về CIMMCO International như đã nói ở trên.

 TICO1

Sự tường thuật dông dài ở trên nhằm nói lên sự thật rằng cuộc cấm vận của Hoa Kỳ đã giúp cho thế giới bu vào Việt Nam hoạt động kinh doanh sôi nổi, cho Việt Nam vay tiền bằng đồng bạc của nước họ, và cho Việt Nam các khoản vay không hoàn lại, kể cả thanh toán chậm trả, vì nếu không có cấm vận của Mỹ thì chính Việt Nam phải cất công tự tìm đến các chủ hàng một cách không chút dễ dàng gì. Đặc biệt, Việt Nam là quốc gia đầu tiên có mặt hàng chiến lược của Thế Kỷ XXI: sợi cáp quang, trong khi các con tiểu long tiểu hổ của Đông Nam Á và các nước Âu Mỹ không thể có được (không vì không có tiền mà vì đã đầu tư quá lớn cho hệ thống viễn thông, cung cấp dịch vụ cho dân với giá hạ, khiến thậm chí chỉ thu hồi hòa vốn sau những 90 năm, nên không thể nào đập bỏ tất cả để xây mới trạm và hệ thống dây cáp mới. Lịnh cấm vận của Mỹ không hiệu lực đối với sợi cáp quang vì không phải Nhật Bản bán cho Việt Nam mà do chủ nhân tác quyền của sợi cáp quang là Ngô Diệu Kế quyết định cung cấp, nghĩa là nếu Mỹ cấm chuyển giao sợi cáp quang cho Việt Nam thì Ngô Diệu Kế sẽ không cho phép Hitachi bán cho Mỹ sản phẩm ấy. Đây là lý do ngay từ thời cấm vận, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống viễn thông hiện đại tiên tiến của mình để phục vụ an ninh quốc phòng. Chưa kể, do cấm vận dài lâu nên khi cấm vận bị bãi bỏ, Việt Nam tiếp cận với toàn công nghệ tiên tiến tối tân do công nghệ kỹ thuật thế giới đã tiến nhanh hơn vũ bão trong ngần ấy năm cấm vận của Hoa Kỳ.

Cuối cùng, song không kém phần quan trọng, là cuộc cấm vận của Hoa Kỳ chống Việt Nam đã trở thành bài toán khó để các nhà quản trị cộng sản trổ tài về kinh tế như bằng chứng hiển nhiên qua mức lạm phát những ba con số (nhiều trăm phần trăm) được kéo xuống còn một con số (vài phần trăm), tự động biến cộng sản Việt Nam thành những nhà kinh tế thành công dù thế giới phải giữ thể diện bằng cách không công nhận nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa kể cuối cùng thì Âu Mỹ cũng buộc phải tổ chức cái gọi là Tòa Án Quốc Tế Xử Tội Ác Diệt Chủng Của Khmer Đỏ, tự động biến Việt Nam xâm lược thành Việt Nam nghĩa hiệp dù thế giới chẳng dám ghi công trạng hiển hách này so với các đoàn quân “thánh chiến” Crusades nhớp nhơ bẩn thỉu của Châu Âu bao phen xâm lược Constantinople của thế giới Hồi Giáo để cướp bóc, hãm hiếp, và bắt nô lệ.

Mỹ và EU đang cấm vận Nga mà không biết rằng cấm vận không còn là thứ vũ khí trị trừng thiên hạ mà chỉ còn là chiếc mặt nạ nhằm đậy che sự mất thể diện quốc gia. Thậm chí một nước “hề” như Ukraine cũng tuyên bố “cấm vận” Nga do bị lây bịnh của Mỹ và EU hoặc do không biết mình chỉ là “hề”. Nga bị cấm vận nghĩa là cơ hội quý hơn vàng sẽ thuộc về các nước không phải là Mỹ và EU. Chưa kể Mỹ đang tạo đà cho đồng “Nhân Dân Tệ” của Trung Quốc không những trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi trên thị trường tài chính tiền tệ quốc tế mà còn trở thành nguồn dự trữ chiến lược của nhiều quốc gia như Nga, vì rằng núi tiền USD trong quỹ dự trữ của những nước này sẽ lâm nguy nếu Mỹ dỡ trò cấm vận. Giỏ tiền của các quốc gia “cứng đầu” sẽ đa dạng, khiến đồng Mỹ Kim mất dần ưu thế trị vì độc tôn cố hữu.

Mỹ đang ngập ngụa trong bế tắc. Và câu chuyện trên về Tiến sĩ Ngô Diệu Kế chỉ là một trong những điều cho thấy vòng vây cấm vận của Hoa Kỳ đã bị xuyên thủng ra sao bởi không những các Việt Kiều Yêu Nước mà còn của các nước tư bản, đặc biệt là những nước thuộc Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á SEATO (cách gọi của Việt Nam Cộng Hòa, cũng như cái tên Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương NATO) do Mỹ dựng nên (để ngăn chặn đà tiến xâm lược của cộng sản Việt Nam ra toàn khu vực) đã tự động biến mất không kèn không trống ngay khi đoàn xe tăng T54 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, để rồi những nước này chụp cơ hội cấm vận để “làm ăn” với Việt Nam, nhờ đó trở thành những tiểu long tiểu hổ tự xây dựng nên cái đế chế ASEAN (mà người Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại ắt gọi là … Tổ Chức Liên Minh Mần Ăn Đông Nam Á) mới toanh để thịnh trọng mời ân nhân Việt Nam vào cùng ngự trị mà không cần xin phép Hoa Kỳ.

Cấm vận đúng là cách để minh họa cho sự cắt nghĩa (tức giải nghĩa, hoặc cắt cái nghĩa ra làm đôi) của từ nguy cơ, trong cái nguy có cả cái hội may vậy.

Mỹ xem cấm vận chống nước này nước nọ là một diệu kế.

Mỹ đã chưa từng nhận ra rằng Việt Nam do có excellent sense of humor nên cũng xem sự cấm vận của Hoa Kỳ áp đặt chống Việt Nam là một diệu kế.

 CIMMCO 2

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 30-11-2015. Excellent Sense of Humor – Thế Nào Là Khôi Hài. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/11/30/the-nao-la-khoi-hai-nguoi-viet-chua-hieu-ve-sense-of-humor/

Hoàng Hữu Phước. 09-12-2015. Đám Cưới. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/09/dam-cuoi/

Hoàng Hữu Phước. 01-2016. Tôi Ủng Hộ Donald Trump.  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/01/toi-ung-ho-donald-trump/

Thế Nào Là Doanh Nhân

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Doanh Nhan

Trong nhiều mục phỏng vấn trên truyền hình, hầu như chúng ta thường nghe các cô các cậu học trò trung học cơ sở, trung học phổ thông và cả sinh viên sử dụng điệp khúc “em muốn sau này trở thành một doanh nhân” để trả lời cho câu hỏi các “em” ấy ao ước sẽ làm gì cho tương lai. Một câu trả lời cho thấy những bạn trẻ ấy rất nông mà lỗi ắt do những người dạy họ thì cạn nên dù giờ phút toàn cầu hóa đã bắt đầu từ thế kỷ trước mà đến nay những tương lai của nước Việt vẫn chỉ hiểu doanh nhân như người giám đốc công ty, xách cặp da đựng laptop, và đi xe bốn bánh.

Không nhắc lại thủa sơ khai khi chữ Hán quá khó học, ảnh hưởng đến tổng số người biết chữ, dẫn đến cái cung kính cực đoan “nửa chữ cũng Thầy”, mà không phải “Thầy” nào cũng có số phận quan trường, nên những Thầy nào không sinh ra đời dưới một ngôi sao tốt phải sống cảnh dạy học thanh bần không cam tâm khi thấy kẻ thương nhân một chữ bẻ đôi không biết lại sống cảnh giàu sang nên hay đem cái gian giảo cùng thói đầu cơ trục lợi của doanh giới ra miệt thị, dè bỉu, xem như phường hạ đẳng theo cấp bậc từ trên xuống dưới của sĩ–nông–công–thương. Và cũng không cần nhắc hoài cái câu “phi thương bất phú”  như vũ khí đốp chát của thương nhân đối với các Thầy chốn cửa Khổng sân Trình. Nhưng cũng không thể không cho là kỳ quái khi có những Thầy Hiệu Trưởng than thở ngân sách do trên rót xuống không đủ nên phòng thí nghiệm xập xệ, giảng viên dạy không chất lượng, cơ sở hạ tầng xuống cấp, và sản phẩm đào tạo ra chẳng thể đáp ứng yêu cầu của ai, hết sức bi hài cho cái sĩ khí kiểu gì mà làm không được thay vì từ chức để người khác làm, lại vừa cố ghì chặt đôi mông lên mặt ghế chức vụ vừa thở than đổ lỗi Nhà Nước. Phải chăng Thầy Cô là người ban ơn cho học trò và y bác sĩ là người ban ơn cho bịnh nhân nên ở nước ta phải có những ngày Nhà Giáo, ngày Thầy Thuốc, để mọi người quỳ xuống tạ ơn Thầy Cô và Thầy Thuốc? Ắt đó là l‎ý do khiến giáo dục và y tế nước nhà không thể khá hơn, vì lẽ ra ngày Nhà Giáo phải là ngày các nhà giáo nhìn lại xem năm qua mình đã làm được những gì để phục vụ tốt nhất cho khách hàng, đáp ứng được tới đâu sự kỳ vọng của cha mẹ khách hàng, và đã hoàn thành được bao phần trăm mức độ truyền thụ kiến thức cao cấp mà chủ nhân – tức ban giám hiệu – đã giao cụ thể trong hợp đồng lao động cùng bản mô tả chi tiết công việc. Tương tự, lẽ ra ngày Thầy Thuốc phải là ngày các y bác sĩ  nhìn lại xem năm qua mình đã làm được những gì để phục vụ tốt nhất cho khách hàng, đáp ứng được tới đâu sự kỳ vọng của thân nhân khách hàng, bản thân đã giữ trọn lời thề Hippocrates hay đã đột biến thành Hypocrite, đã có những nghiên cứu nào về y học cho xứng tầm người được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cao, và đã hoàn thành được bao phần trăm mức độ phục vụ bịnh nhân  mà chủ nhân – tức ban giám đốc bịnh viên – đã giao cụ thể trong hợp đồng lao động cùng bản mô tả chi tiết công việc. Ngày Nhà Giáo lại là ngày các nhà giáo chờ nhận quà của Hội Phụ Huynh, của học sinh, và nội bộ trường tổ chức cho tập thể vui chơi giải trí tự phong cao qu‎ý đương nhiên và tự sướng đương nhiên – thậm chí các nhà giáo trường trung học cơ sở Lê Qu‎ý Đôn, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh năm 2005 thẳng thắn thật thà thiết tha thậm thà thậm thụt đề nghị phụ huynh học sinh đóng góp tiền cho các Thầy Cô đi nghỉ mát ở Singapore nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam.

Trong xã hội mới, thời đại mới, những ràng buộc nhân-quả mới, cực kỳ khắc nghiệt và nghiêm trọng nhãn tiền, chúng ta nhất thiết phải hiểu rằng tất cả đều đang kinh doanh – hoặc phấn đấu có được cái đạo đức kinh doanh – với ba điều rõ ràng: (a) không ngừng chăm chút tuyệt vời cho sản phẩm chào bán, (b) xem khách hàng là vua, và (c) thu được lợi nhuận chân chính để tự lo có được cuộc sống bản thân và gia đình tốt hơn.

Với ba điều cơ bản này, nhà giáo không ngừng bổ sung kiến thức, cập nhật kiến thức thường xuyên từ tài liệu và internet, xem học trò là vua để luôn chuẩn bị lên lớp hầu hạ vua với chất lượng dạy cao nhất chứ không với tư thế kẻ ban ơn cho lũ ngu đần, và sử dụng tài năng kiến thức của mình để biên soạn sách hoặc những công việc khác trong thời gian nhiều tháng hè để có thêm thu nhập với tư thế người cao trọng, vừa làm gương sáng vừa chứng minh bản thân đúng là Nhà Giáo tức có năng lực giảng dạy và bản lĩnh trưởng thành qua cuộc sống độc lập thành công để hướng nghiệp thành công cho học trò, thay vì than thở tủi thân khóc lóc về thu nhập, làm gương xấu tồi tệ khiến học trò lánh xa ngành giáo dục, còn bản thân tự báo cáo với thiên hạ rằng mình chưa hề biết ý nghĩa của doanh nhân.

Với ba điều cơ bản này, y bác sĩ không ngừng bổ sung kiến thức, cập nhật kiến thức thường xuyên từ tài liệu và internet, xem bịnh nhân là vua để luôn cúc cung tận tụy khám chữa bịnh ân cần lễ độ với chất lượng cao nhất chứ không với tư thế người cứu nhân độ thế ban ơn cho kẻ ốm yếu ho hen lão nhược, và sử dụng tài năng kiến thức của mình để biên soạn sách y học hoặc những công việc y tế hợp đạo lý khác trong thời gian rỗi để có thêm thu nhập với tư thế người cao trọng, vừa làm gương vừa chứng minh bản thân đúng là bậc tôn kính giữ trọn lời thề Hippocrates, có năng lực chữa bệnh và bản lĩnh trưởng thành qua cuộc sống độc lập thành công để hướng nghiệp y đức thành công cho hậu duệ, thay vì góp phần làm gia tăng giá thuốc và không tuân thủ quy định pháp luật trong kê đơn bán thuốc khi hoạt động khám chữa bệnh tư, khiến chứng tỏ bản thân chưa hề biết ý nghĩa của doanh nhân.

Với ba điều cơ bản này, các nhân viên và công nhân không ngừng bổ sung kiến thức, cập nhật kiến thức thường xuyên từ tài liệu và internet, xem khách hàng (theo dịch vụ khách hàng hiện đại, bất kỳ ai đến nêu yêu cầu đều là khách hàng; do đó khách hàng là khách hàng, đồng nghiệp ở phòng ban khác là khách hàng, trưởng hay phó phòng bạn là khách hàng, giám đốc là khách hàng của phòng nhân sự khi đến phòng nhân sự yêu cầu tuyển dụng giúp một thư k‎ý, v.v.) là vua để luôn đáp ứng với chất lượng cao nhất chứ không với tư thế người bị sai bảo hay bị quấy rầy, và sử dụng tài năng kiến thức của mình để nhận thêm trách nhiệm hay những công việc công ty đang cần để có thêm thu nhập với tư thế người cao trọng biết thế nào là đạo lý doanh nhân.

Với ba điều cơ bản này, các hiệu trưởng không ngừng bổ sung kiến thức, cập nhật kiến thức thường xuyên từ tài liệu và internet, xem học sinh/sinh viên là vua để luôn chuẩn bị cơ sở vật chất khang trang nhất thay vì bảo học sinh/sinh viên hạ mình lau rửa nhà vệ sinh dưới danh nghĩa xảo biện làm chủ tập thể, và sử dụng tài năng kiến thức của mình để tập hợp/chỉ đạo giáo viên biên soạn sách tham khảo, mở dịch vụ hợp pháp theo giấy phép có thể xin được – như dịch thuật, nghiên cứu theo chủ đề đặt hàng của các cơ sở hay công ty, hoặc viết hồi k‎ý/gia phả theo yêu cầu của khách hàng – hoặc biết bao công việc khác mà hiệu trưởng có thể chủ động tiếp cận các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp, để kiếm tìm nhu cầu về cho đội ngũ giáo viên có học thức và bằng cấp có thể thực hiện trong thời gian ngoài giờ để có thêm thu nhập hợp pháp với tư thế cao trọng, chứng tỏ nhà trường có những nhà giáo đúng nghĩa được học trò nể phục đúng nghĩa vì có năng lực cao hơn yêu cầu, có cuộc sống cá nhân độc lập, và có kinh nghiệm công việc nên đủ tư cách tư vấn hướng nghiệp cho học trò. Tất cả để chứng minh các hiệu trưởng biết rõ ý nghĩa của doanh nhân.

Và cứ đem ba điều cơ bản ấy áp vào từng người một, ta sẽ thấy ai cũng là doanh nhân, và các học sinh, sinh viên của ta sẽ nói những câu có ý nghĩa doanh nhân hơn, như: em muốn trở thành bác sĩ / dược sĩ / thầy giáo / cô giáo / nhân viên thương mại / nông gia / thư k‎ý / phiên dịch / hướng dẫn viên du lịch / thợ cơ khí / nhà thơ / điều dưỡng / kỹ sư cầu đường, v.v. vì đó mới là cách trả lời duy nhất đúng cho câu hỏi “em muốn làm gì trong tương lai”. Thậm chí khi nói “em muốn làm một chiến sĩ Việt Nam”, người bạn trẻ của chúng ta ắt ngoài tinh thần theo đuổi binh nghiệp như một nghề chuyên nghiệp còn có nhận thức đầy đủ rằng 3 điều cơ bản trên rất cần thiết để bản thân có thể đáp ứng yêu cầu của tổ chức khi mà quân đội ngày nay cũng giỏi mạnh về kinh tế –  như nhiều điển hình của Việt Nam.

Tôi, anh, các anh, họ, chúng tôi, chúng ta, tất cả đều là doanh nhân vì có hàng hóa hữu hình hợp pháp, hàng hóa dịch vụ hợp pháp, hàng hóa chất xám hợp pháp, và hàng hóa sức lao động hợp pháp mà chúng ta muốn sử dụng tốt nhất cho một kế sinh nhai.

Tôi, anh, các anh, họ, chúng tôi, chúng ta, tất cả đều là doanh nhân vì có vốn liếng sức khỏe tâm thần tốt, có vốn liếng sức khỏe vật chất tốt, có vốn liếng năng lực hành vi tốt, có vốn liếng năng lực làm việc tốt, có vốn liếng hiểu biết lĩnh vực và luật pháp có liên quan tốt, có vốn liếng đạo đức tốt, mà chúng ta muốn đem ra sử dụng tốt nhất cho một kế sinh nhai.

Thiếu nhận thức chính ta cũng là doanh nhân, người ta không biết xem trọng hàng hóa của mình, vốn liếng của mình, và do đó không bao giờ thành một doanh nhân. Mà trong đời chỉ có ba hạng người gồm (a) doanh nhân tức bất kỳ ai đang lao động hoặc đang kiếm tìm cơ hội lao động, (b) chuẩn doanh nhân tức người còn đang ở dạng ăn theo cha mẹ tức phụ thuộc mẹ cha vì còn non nớt chưa đến tuổi trưởng thành hoặc chưa trưởng thành, và cựu doanh nhân tức những người đã nghĩ hưu hay mất sức lao động.

Còn thiếu tính chất hợp pháp của hàng hóa, người ta mãi mãi đứng bên ngoài tập thể doanh nhân – cái business circle luôn rộng mở với những khắt khe chào đón, linh động tự do trong khuôn khổ chặt chẽ của pháp luật quốc gia và thông lệ nghiêm ngặt phức tạp của quốc tế, cùng những ràng buộc trách nhiệm cao nhất không những đối với yêu cầu của công việc mà có khi còn đối với cả sự an nguy của cộng đồng và danh dự quốc gia.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng trên Emotino ngày 26-02-2010 dưới tựa đề ban đầu là: Doanh Nhân: Hiểu Đúng Về Doanh Nhân, tại http://www.emotino.com/bai-viet/18447/doanh-nhan-hieu-dung-ve, bản đăng kỳ này được bổ sung để hoàn thiện.

Kính mời tham khảo vài bài viết có chủ đề “Thế Nào Là”

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Thế Nào Là Sử Gia

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Thế Nào Là “Từ Chương”

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Tư Vấn Phát Triển Xuất Khẩu Ngành Hàng Mỹ Nghệ Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Painting1

A- DẪN NHẬP

Bất cứ một đất nước nào cũng có những sản vật địa phương phục vụ du lịch thuộc ít nhất ba nhóm gồm (a) truyền thống – tức những thứ có thể bị người bản xứ cho là “quê mùa” thí dụ như con “tò he” Việt Nam, (b) hiện đại nội – tức do những nghệ nhân hay thợ thủ công bản xứ ngày nay tạo ra như xe xích lô gỗ hoặc nhôm của Việt Nam, và (c) hiện đại ngoại – tức những gì mô phỏng bắt chước từ nước khác thí dụ như màn sáo Việt Nam vẽ chép La Gioconda (Mona Lisa) hay tấm gỗ vẽ hình Tintin. Ở Việt Nam còn có nhóm thứ tư tức hàng hóa nô dịch lấn cấn lấn sân lấn chiếm từ Trung Quốc được con buôn ít học tích cực vận chuyển ào ạt qua biên giới để có mặt ở mọi ngóc ngách hang cùng ngõ hẻm chào bán giúp du khách nước ngoài vừa đặt chân đến bất kỳ một danh lam thắng cảnh nào của hậu duệ xứ Đại Cồ đã biết ngay về Tàu Vĩ (Trung Hoa Vĩ Đại). Song, cái “quê mùa” của thổ dân New Zealand như những khúc gỗ dài gang tay đen đúa chạm trổ sơ sài lồi lõm hình thần nhân hộ mạng hệ ngẫu tượng, hay như những gói ni-lông đựng một võ trai hay hến chứa một chùm cỏ khô quắt khô queo có xuất xứ khả nghi kèm một miếng giấy nhỏ ghi chú linh tinh về sự linh thiêng tẩy độc thanh trùng theo tín ngưỡng của thổ dân nào đã từng hoặc đang sống ở đâu trên những hòn đảo (chỉ dẫn cách đốt nhúm cỏ khô ấy trên miếng vỏ trai để khói tỏa khắp nhà trừ tà ma yêu quái, “thanh nhiệt” tinh thần, tống sạch tà khí, lôi cuốn thịnh khí vũ trụ vào nhà làm gia hưng thế vượng, khi tàn nhang – tức tàn cỏ – thì cầm vỏ trai đựng tro tàn mà…vứt sọt rác vì “công dụng” của vỏ trai chỉ dùng làm đồ đựng mà thôi), có đóng dấu chứng thực sản vật thổ dân có patent công chứng bản quyền cấp quốc gia do một tổng công ty du lịch hoành tráng cỡ Saigontourist chịu trách nhiệm hẳn hoi, khiến du khách Âu Mỹ khi đến New Zealand hay Úc hoặc Canada đều đổ xô mua sắm với khối lượng cực lớn (vì giá cực rẻ – không phải “cực sốc” như từ ngữ quảng cáo cấp thấp lè tè ở Việt Nam); trong khi đó, ở Việt Nam cái vô tổ chức (mạnh ai nấy sáng tạo ra “truyền thống”), tự tôn vô lối (“tò he” hay “Chú Tểu” lại là “truyền thống” cao siêu), và thiếu hiểu biết (người bán vác mô hình chiếc tàu buồm gỗ khổng lồ dài cả thước tây trên vai, chạy lăng xăng chèo kéo du khách trên đường Đồng Khởi hay Nguyễn Huệ ở Thành phố Hồ Chí Minh, mà không chịu nghĩ đến việc làm sao họ có thể mua tàu buồm của một nước chưa hề có tên trong lịch sử hàng hải nguyên sơ của thế giới và làm sao có thể khuân vác thứ cồng kềnh đó theo họ suốt chuyến du lịch vòng quanh thế giới, hay có đủ tiền đóng excess bagage cho hành lý vượt định mức) khiến sản vật quê mùa trở nên đích thị quê mùa thay vì mang ý nghĩa “mộc mạc dân dã truyền thống đặc thù” biết bao cao đẹp của cả một dân tộc hay nhiều dân tộc của bọc trăm trứng Mẹ Âu Cơ.

Dân Việt Nam, từ vi tiểu gia đến vĩ đại gia, đều có thể tự hào trưng bày trên kệ hay trong tủ kính nhà mình một búp bê lật đật bằng nhựa của Nga, hay bộ lật đật gỗ đáy bằng gồm nhiều con lồng vào nhau từ nhỏ xíu xìu xiu đến lớn lởn lờn lơn cũng của Nga. Còn hàng Việt Nam trước đây như mấy con búp bê ở Chợ Bến Thành mặc áo dài tứ thân, áo dài ngũ thân, áo dài Le Mur hay áo dài khăn đóng mà nam và nữ mặt giống y như đúc vì cùng từ một khuôn nhựa mà ra – nghĩa là nếu mặc áo nam vào búp bê thì cứ bóp cho hai bầu sữa nhú cao lún xuống là xong – với y phục may sơ sài không bao giờ sánh được với búp bê mặc áo đầm Tây, áo Chogori-Ch’ima, và áo kimono được may cực kỳ tinh tế y như thật do con cái của Spiderman, con cái nàng Dae Chang Kum, và con cái của biệt đội Thần Phong Kamikaze chế tác, chứ hầu như từ Bắc chí Nam Việt Nam cực kỳ hiếm có một ngôi nhà bình dân mộc mạc hay biệt thự triệu đô nào “dám” trưng bày thứ đồ chơi thuần Việt ấy. Vì thế, nói thật và nói thẳng để tư vấn cho được một hướng nên theo cho sản xuất hàng mỹ nghệ phục vụ du lịch (xuất khẩu tại chỗ) và phục vụ chính người Việt Nam tại Việt Nam, đặc biệt nhắm đến hình thành một doanh giới ngành nghề chuyên biệt có giao thoa liên kết với những mảng khác của cộng đồng, tạo thế chân vạc vững bền mang tính hỗ tương môi hở răng lạnh của sự đoàn kết doanh thương mà cháu con Việt Nam sau này có thể lấy đó làm gương và tự hào; chứ không phải là những phán phê cay độc về những thứ hàng cho dù chúng thật sự thô thiển, bất lợi và vô dụng của nước nhà, mà sản xuất ra chỉ có thêm tội với dân tộc và với cả Mẹ Thiên Nhiên.

B- NGHIÊM TÚC NGHIÊM KHẮC ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG

1- Thêu / Màn Sáo        

Như đã nói ở trên, màn sáo Việt Nam nếu không phải có tranh vẽ nghèo nàn về cảnh nghèo như chiếc thuyền nan đơn sơ bên bờ sông vắng lặng đìu hiu (rất kỵ về phong thủy) hay đứa bé chăn trâu cơ cực hàn vi (sử dụng trẻ em trong lao động cực nhọc và nguy hiểm – vi phạm công ước quốc tế về quyền trẻ em) chẳng mấy ai trong nước chịu mua, thì cũng rập khuôn duy mỗi một hình duy nhất là bức La Gioconda, tức nàng Mona Lisa của Leonardo da Vinci, mà không biết rằng đó là sự nhàm chán (đi chợ nào cũng thấy treo “bản mặt hãm tài” của Mona Lisa). Cũng chính vì lẽ ấy, tranh nhái hay màn sáo hình Mona Lisa không sao bán được ở một thị trường có gần 100 triệu khách hàng, vì bức tranh tăm tối ấy không phù hợp cho khí vượng gia phong.  Chuyện Leonado da Vinci là một thiên tài triệu năm có một, ngay cả khi đấy là sự thật cũng không có nghĩa tất cả những gì của Ông cũng là hào quang đượm hương thơm ngát. Mùi mồ hôi của Ông không thể là hương liệu của Channel. Thiên hạ xúm lại khen bức họa Mona Lisa chỉ sau khi mấy tay họa sĩ trường phái biểu tượng giữa thế kỷ XIX tung hê cho rằng bức họa chính là biểu tượng của sự huyền mặc theo trường phái của họ, chẳng khác nào chuyện thiên hạ xúm lại khen một Đức Kim Thượng mặc long bào rực rở sau khi mấy tay dệt bịp tung hê là chỉ có bậc đại trí mới nhìn thấy được chiếc long bào, và chỉ có một đứa bé mới cười ha hả nói rằng Đức Ngài đang tồng ngồng khỏa thân lông lá giữa lộ mà thôi. Tại Âu Mỹ có rất nhiều người – già có, trẻ có – không ưa khiêu vũ, mà nếu có thích thì thích chỉ một loại điệu gì chứ không thích tất cả; ấy vậy mà hễ làm phim về lối sống Âu Mỹ là Việt Nam ta thế nào cũng chêm các màn nhảy nhót ngã ngớn vào phim. Không thèm để ý đến sở thích của người Việt, đua nhau cho ra tranh chép và màn sáo Mona Lisa chỉ để “nghía” chăm bẳm vào ví tiền du khách nước ngoài, rõ ràng đã tự đẩy mình vào ngõ cụt.

 Painting2

Tranh thêu cũng có chung một tình cảnh do hoặc manh mún kiểu tự thiết kế bởi các nữ tu tại các tu viện Công giáo ở Đà Lạt hay của các cơ sở sản xuất cá thể, để rồi có những tác phẩm “vị nghệ thuật” chẳng thể bán cho bất kỳ ai như bức tranh thêu một bà cụ già người dân tộc có gương mặt nhăn nheo đầy gian truân dù nụ cười đôn hậu do đại gia XQ Đà Lạt sản xuất. Dưới đây sẽ có những ý tư vấn để ngành tranh thêu liên kết chặt chẽ với du lịch, vượt khỏi tình trạng cơ sở hay công ty tranh thêu phải cầu cạnh trông chờ các công ty du lịch đưa khách đến xem hàng trong khi chẳng có hoặc ít có khách thực hiện việc mua hàng bằng bất kỳ loại tiền gì.

2- Tranh Sơn Mài

Gần đây, tình hình sản xuất tranh sơn mài đã tự vượt qua sự cũ rích đến chán chường khi cả trăm năm qua tranh sơn mài Việt Nam chỉ là những tranh sơ sài trắng trên nền đen tăm tối, vốn rất không phù hợp với sở thích của các loại khách hàng khác nhau và cho những cách bày trí trang hoàng phòng ốc khác nhau. Tại các chợ, nay khách hàng đã có thể bắt gặp những bộ tranh ghép hay tranh lẻ sơn mài nhiều màu sắc, như có thêm màu nền xanh lá, hoặc nâu, với tranh cẩn nhiều họa tiết tinh vi. Song, cần có thêm những ý tưởng mới, tahy vì cứ mãi mai-lan-cúc-trúc hay long-lân-quy-phụng để sự cách tân may mắn đã có sẵn này sẽ tăng phần phát triển.

3- Đồ Gốm

Bát Tràng dường như đã trở thành sự dậm chân tại chỗ vì sản phẩm Bát Tràng không đẹp lại thô thiển. Trong khi tại Tử Cấm Thành Bắc Kinh trưng bày những gốm sứ có hoa văn chỉnh chu, men ánh như ngọc đá, nhiều màu sắc rực rỡ, có niên đại cả trăm năm, thì hàng Bát Tràng vẫn mộc mạc, nét vẽ nguệch ngoạc màu xanh dương trên nền trắng men tráng thô sơ lẫn bọt khí và hạt cát, như các chén dĩa đã được một số nhà hàng Việt khôn lanh mua dùng phục vụ thực khách, vừa được tiếng giới thiệu một thứ đơn giản mà giá trị truyền thống có thể hơi cao nhưng trị giá chắc chắn là cực thấp. Trong khi đó sản phẩm của gốm sứ Minh Long chẳng hạn lại là hàng rất tốt với giá bán rất cao, nhưng cứ như dành cho du khách nước ngoài (lại là một sự không quan tâm đến thực tế là du khách ngán ngại hàng nặng, cồng kềnh, dễ vỡ) hay cho người Việt mua làm quà tặng, chứ ít thấy nhà hàng nào dùng hàng này cho thực khách sử dụng. Vậy vấn đề là còn có con đường nào cho các cơ sở gốm sứ nhỏ hơn, không có tài lực và thị trường để có thiết bị hiện đại cho ra những sản phẩm tương đương với Minh Long, có thể tồn tại và vươn lên vượt mặt Minh Long theo một phân khúc thị trường mới thay cho một phần bánh của một ổ bánh thị trường dở dang đang có?

4- Tranh Vẽ

Cũng trong vòng lẩn quẩn, hội họa Việt Nam hoặc ở dạng hoài cổ như phỏng theo trường phái “Phái” (họa sĩ Bùi Xuân Phái), hoặc bắt chước Phương Tây vẽ tranh khỏa thân nhưng theo cách vong thân không-bản-lĩnh kiểu Việt tức vẽ theo tưởng tượng và luôn có dáng dấp khêu gợi khiêu dâm chứ không theo cách truyền thần kiểu Tây tức vẽ theo người thật luôn có dáng dấp phụ nữ bình thường như trong tất cả các bức danh họa Phương Tây, hoặc thi nhau vẽ tranh chép nhưng cũng chỉ toàn là Mona Lisa hay tranh có đề tài tôn giáo như Bửa Tiệc Ly cũng của Leonardo da Vinci, hoặc sáng tạo theo cách dễ nhất là trừu tượng kiểu Georgia O’Keeffe hay lập thể của Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Ruiz y Picasso (gọi tắt là…Picasso). Nghệ thuật vị nghệ thuật, hay nghệ thuật vị nhân sinh? Đó là tiêu đề của một bút chiến thời tiền chiến. Song, chỉ cần quan tâm đến một điều: hội họa phải làm sao vừa đắt hàng nơi nội địa (để nuôi sống bàn tay tài hoa), vừa danh vang chốn ngoại bang (chẳng lẽ hễ là nghệ sĩ thì mù tịt về lòng yêu nước?), vừa chuyển tải được cái tâm hướng thượng đến phong hóa nước nhà (để minh chứng tài hoa của mình được hun đúc từ đấng sinh thành đoan chính), không cứ gì phải khỏa thân trần truồng hay phải trường phái hoặc phải “vị” cái nọ cái kia. Hội họa “kiểu cổ” nữ ăn mặc cực kỳ kín như bưng của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ chẳng luôn có giá quá cao trên thị trường quốc tế hay sao? Nếu là nghệ thuật vị nhân sinh thì hãy tìm hiểu con người quanh ta cần gì và nên cần gì. Nếu mơ mơ màng màng rao giảng nhăng cuội “nghệ thuật vị nghệ thuật” như tâm huyết nhà nghệ sĩ thì xin cứ vẽ tranh theo ý thích rồi cất làm bộ sưu tập cá nhân rồi đóng cửa tự mình thưởng lãm, chứ triển lãm bày bán, rao giá cao cái “tâm huyết” không ai hiểu được ấy, biến nó thành hàng hóa mưu sinh thì vừa không bán được vừa phỏng có gì quý báu.

Như một tiêu cực thâm căn cố đế ở Việt Nam, người ta theo học công nghệ thông tin IT là để hy vọng sẽ làm giàu tỷ đô như Bill Gates (mấy chục năm nay bao vạn người Việt học IT chưa ai có tỷ đô), để mở công ty tranh mua tranh bán laptop và điện thoại di động đại hạ giá mà nguồn toàn là hàng xách tay made-in-Tàu (làm giàu cho Tàu), hoặc để viết phần mềm quản trị này nọ của riêng mình (mà không đại gia nào dám liều mua sử dụng), chứ không thèm học vì mình thích kỹ thuật vi tính để ngày sau thi thố tài năng thuần kỹ thuật vi tính dưới trướng một đại gia IT; rốt cuộc chẳng đại gia IT nước ngoài nào vào Việt Nam đầu tư nhà máy tỷ đô có thể kiếm ra đủ số lao động IT chế tác phần mềm theo phát minh của nước ngoài. Tương tự, các họa sĩ Việt Nam không thèm làm như các họa sĩ Mỹ trong ngành công nghiệp tỷ đô lợi nhuận là vẽ chép các họa phẩm của các họa sĩ lừng danh để cung cấp cho triệu triệu khách hàng như một hoạt động nghề cao quý; rốt cuộc đa số họa sĩ Việt Nam chỉ lo phát triển cái tôi thuần-sao-chép, lo thăng hoa sáng tạo phi-sáng-tạo thuần-sao-chép, lo tổ chức triển lãm tranh của riêng mình thuần-sao-chép, và sau đó tiếp tục chìm nghỉm thuần-sao-chép về danh phận (không như đa số họa sĩ Mỹ chuyên vẽ chép tranh có danh phận công bố chính thức hẳn hoi vì tranh chép bởi họa sĩ này có giá cao hơn tranh chép cùng họa phẩm bởi họa sĩ khác), lo miếng cơm manh áo trong chật vật (không như các họa sĩ Mỹ tài hoa chuyên vẽ chép tranh thuộc ngành dịch vụ tỷ đô lợi nhuận).

5- Tượng Đá

Bất kỳ ai đến Đà Nẵng, Quảng Nam, đều có thể nhìn thấy sự đồng bộ đến bất ngờ, từ Non Nước đến các cửa hàng bán tượng, đâu đâu cũng thấy tượng khổng lồ nặng hàng tấn – bằng cẩm thạch trắng hoặc xanh – gồm sư tử vờn châu, Phật Di Lặc, và ông lão nghèo khổ vác cần câu có sợi chỉ phản trọng lực vì cuối đầu dây câu có một con cá nhỏ bằng đá nhưng sợi chỉ gai vẫn cong queo chứ không thẳng băng như dây dọi thợ hồ; hoặc tượng nhỏ cao tối đa khoảng hai gang tay – bằng đá vụn hoặc bột đá có màu xanh, màu đen, màu nâu, hay màu vàng đất – hình Quan Công, Phúc–Lộc–Thọ, hay Phật Quan Âm. Đó là sự phí phạm cực kỳ khi những bức tượng khổng lồ ấy chỉ thích hợp cho các đền thờ, chùa chiền, hay công trình xây dựng lớn như khách sạn và dinh thự; thậm chí những bức tượng khổng lồ ông lão câu cá cực kỳ vô vị không rõ ai trên thế gian này sẽ là người mua. Tay nghề của những nghệ nhân dường như vẫn chỉ sáng tạo ra các sản phẩm thuần mô phỏng hay chủ quan, không theo hướng tạo tác đặc thù, không điều nghiên vị…“nhân sinh”, không vì phát triển nghề, không vì có mục đích rõ ràng, và không thể nào gia tăng thu nhập nhanh, chính đáng.

C- HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỤ THỂ

Thường do sự dễ dàng khi phê phán và khó khăn lúc vẽ đường cụ thể cho hươu chạy nên người ta hay có rất nhiều những phê bình dài ngoằng, đấu tranh vừa phải, tránh nặng nề, rồi có kết luận không đàng hoàng bất minh bất chánh kiểu đánh đố người đọc là “trách nhiệm thuộc về ai” – nghĩa là nêu vấn đề rồi bỏ lửng, hoặc dũng cảm kiểu “kiến nghị nhà nước nên đầu tư cho có thêm nhiều điểm tham quan du lịch” như của một chức sắc ngành du lịch thốt ra khi được phỏng vấn – nghĩa là nếu may mắn có quan chức Nhà Nước nào đó có xem phỏng vấn thì cảm động tình cảnh ế muộn của ngành du lịch mà tung tiền của dân ra đầu tư cho mấy anh dịch vụ hưởng thụ tiếp. Các gợi ý sau đây, do đó, sẽ bao gồm những phương cách cụ thể, thực dụng, hợp lý hợp tình, không vòi xin Nhà Nước dù chỉ một xu.

1- Tranh Thêu / Màn Sáo / Tranh In Vải

Điều cần làm rõ như một bắt buộc phải tuân theo để phát triển mạnh và cao nhóm ngành hàng thêu–màn sáo–tranh in vải là phải ưu tiên sử dụng các họa phẩm của các họa sĩ lừng danh thế giới nhưng lưu ý (1) loại bỏ hẳn Mona Lisa; và (2) không chọn các tác phẩm có nội dung ưu sầu, tăm tối, bất lợi về phong thủy, và không phù hợp (nói như Linh mục Đinh Ngọc Lễ, trước 1975 là Hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Bá Tòng Gia Định – nơi tôi làm lớp trưởng tất cả các năm học ở đấy – nay coi sóc một giáo xứ dường như ở Gò Vấp hay Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói trên đài truyền hình và báo Tuổi Trẻ rằng Ông khuyên giáo dân hãy phân biệt thực hư trước tin đồn nhảm Tượng Đức Mẹ khóc vì theo Ông: Đức Mẹ khi xuất hiện chỉ có thể mĩm cười thương yêu, thánh thiện, nhân hậu, tươi tắn mà thôi).

a) Tranh Tôn Giáo :

Như đã dẫn về lời phán của linh mục Đinh Ngọc Lễ nêu trên, nhóm ngành thêu – màn sáo – tranh in vải nên chỉ quan tâm đến những danh họa sau về Đức Mẹ và Đức Chúa Hài Đồng có nội dung tích cực (gương mặt của Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng rất đẹp, rất tươi, rất sống động, chan hòa hạnh phúc của người vừa được làm mẹ và của đứa bé trong vòng tay thương yêu chăm sóc bế bồng của người mẹ ấy, như trong rất nhiều tranh cùng chủ đề của các họa sĩ Bartolomé Esteban Murillo (thế kỷ XVII) và Raffaello Sanzio Raphael (thế kỷ XV) đặc biệt vì các tranh này toát ra vẽ đẹp như người thật, ngời rạng, tin yêu, trong khi nhiều bức họa của các danh họa khác lại cho ra bố cục không cân đối, không thực như Chúa Hài Đồng ngồi vững vàng một bên tay của Đức Mẹ, nhưng đầu ngã ra một bên, nét mặt rất người lớn, cùng Đức Mẹ ngồi trên ngai cao nhưng cùng mang vẻ sầu ưu uất.

Riêng bức tranh Bửa Tiệc Ly The Last Supper của Leonardo da Vinci cũng trở nên nhàm chán khi trở thành bức duy nhất được vẻ lại hay thêu cho chủ đề này ở Việt Nam, trong khi còn các bức họa của các danh họa khác như bức của Juan de Juannes (thế kỷ XVI) tinh tế hơn lại chẳng mấy ai biết đến.

Painting4

 b) Người Đẹp:

Chắc chắn Mona Lisa, tức bà Lisa del Giocondo (vì vậy bức tranh còn mang tên La Gioconda), vợ của thương gia tơ lụa Francesco del Giocondo – người đã thuê Leonardo da Vinci vẽ nhân ăn tân gia và mừng sinh nhật của cậu con trai thứ nhì tên Andrea, song nhà họa sĩ vô sĩ vô hạnh vô đạo đức ấy đã ôm bức tranh trốn qua Pháp bán lại cho nhà vua lấy 4.000 đồng ê-cu – không phải là người phụ nữ xinh đẹp trong thời của Bà (như đã nói ở trên, “Bà” chỉ được biết đến nhiều thế kỷ sau đó, nhưng không vì Bà đẹp mà vì Bà bị gán cho là biểu tượng của sự huyền mặc), và cũng không phải là người phụ nữ xinh đẹp thời đại ngày nay. Song, đã có nhiều mỹ nhân khác hơn Bà cả ở sắc đẹp và ở thế gia vọng tộc lại là người mẫu trong tranh của những danh họa có khi còn nổi tiếng hơn cả Leonardo da Vinci và bản thân các bức họa này đã đắt giá ngay từ khi hoàn tất chứ không phải chờ đến quá nhiều năm sau như bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci, nhưng chẳng ai ở Việt Nam trong ngành Màn sáo-Tranh thêu-Tranh in vải thực sự có yêu nét đẹp nữ tính lại từng biết đến để sản xuất chẳng hạn như bức La Donna Velata của Raphael (thế kỷ XVI); các bức La Ghirlandata, Công Nương Lilith, và Fiammetta của Dante Gabriel Rossetti (thế kỷ XIX); các bức Thiếu Nữ Soi Gương, Đóa Hoa Flora, và Violante La Belle Gatta của Tizano Vecellio Titian (thế kỷ XV), bức La Belle Ferronniere của Giovanni Antonio Boltraffio (thế kỷ XV), hay như bức tranh của họa sĩ Jacques-Louis David (thế kỷ XIX) vẽ Phu Nhân Rescamier sắc nước hương trời.

Painting3

 c) Tranh Hoa :

Cho chủ đề này, có rất nhiều những danh họa thời Phục Hưng, trước đó và sau thời đại này để lại cho nhân loại những kiệt tác về hoa; song, “thần” và giá trị của những bức tranh hoa của Van Gogh (thế kỷ XIX) mang tính độc đáo, mỹ thuật riêng biệt đáng để lên ngôi vị cao nhất của dòng tranh hoa quả – tĩnh vật của mọi thời; do đó, nên nằm trong số những bức tranh mà các ngành mỹ nghệ ở Việt Nam nên tham khảo khai thác. Tất nhiên, tranh hoa hiện đại của Âu Mỹ cũng rất tuyệt hảo, có thể làm nguồn mô phỏng để các họa sĩ Việt Nam sáng tác phục vụ thị trường.

d) Tranh Chủ Đề Khác: Phong Cảnh, Người, Khỏa Thân

Những bức họa khác được giới thiệu trong bài viết này bổ sung tính đa dạng cho các sản phẩm mà người viết muốn tư vấn thực hiện, gồm bức họa Paysage Martiniquais của Paul Gauguin (thế kỷ XIX), Cô Bé Và Chiếc Bình Tưới Cây của August Renoire (thế kỷ XIX), Vườn Hoa của Gustav Klimt (thế kỷ XIX), Marguerite Garchet Trong Vườn của Van Gogh, v.v., cho thể loại tranh phong cảnh:

 Painting5

Còn thể loại người, có thể nói đến bức Tình Nhân của Picasso, và các bức về nụ hôn của Gustav Klimt với phong cách vẽ đầy màu sắc và giàu sáng tạo

 painting6

Đối với thể loại tranh khỏa thân, không nên đưa vào danh mục sản xuất của nhóm ngành hàng này vì (1) không bao giờ phù hợp với văn hóa đại đa số gia đình Việt – nhất là các gia đình sang trọng tin phong thủy không bao giờ tự hạ mình treo tranh khỏa thân mang ý nghĩa đói nghèo không mảnh vải che thân, (2) đa số du khách đến Việt Nam không phải là giới trẻ, (3) du khách đến Việt Nam còn có cả giới tu sĩ, và (4) thật sai lầm mỗi khi nghĩ đến người Tây Âu là nghĩ đến tranh ảnh khỏa thân như một xúc xiểm tai hại. Song, nếu nhà sản xuất vẫn cứ muốn có vài sản phẩm khỏa thân “để gọi là” tức để chứng minh người Việt không khó tính, đặc biệt dành riêng cho các khách sạn hạng sang thì nên dùng các họa phẩm sau: Cô Gái Ngủ Trong Phòng Tắm của Renoire, Ba Mỹ Nữ của Raphael (thế kỷ XV), Sự Ra Đời Của Thần Vệ Nữ của Sandro Botticelli (thế kỷ XV), Vũ Nữ của Gustav Klimt (thế kỷ XIX), Thần Vệ Nữ Urbino của Tizano Vecellio Titian (thế kỷ XV), và Thần Vệ Nữ Verticordia của Dante Gabriel Rossetti (thế kỷ XIX) vì sự tinh tế hoàn toàn không dung tục của các bức họa cũng như danh tiếng hoàn vũ của các họa sĩ này.

Painting7

 e) Tư Vấn Thực Hiện:

i. Lợi điểm của những bức họa được chọn lọc đề nghị ở trên là chúng (a) thực sự thuộc kho tàng hội họa của toàn thể nhân loại và là kiệt phẩm của những họa sĩ tài danh thiên cổ mà đa số nhân loại biết đến, (b) việc sử dụng các bức họa này vào những sản phẩm tinh tế của Việt Nam không bị đặt vào môi trường tác quyền, (c) giới thiệu cho du khách sành điệu biết rằng người Việt Nam có kiến thức tinh tế về hội họa hàn lâm quốc tế, và (c) du khách sẽ mua những sản phẩm này vì bản thân tên tuổi họa phẩm giúp sản phẩm trở thành có giá trị văn hóa cao khi đem về xứ sở của họ dùng làm quà tặng, chưa kể giá mua ở Việt Nam chắc chắn hấp dẫn vì không cao.

ii. Đối với tranh Tôn Giáo, chỉ nên dùng cho sản phẩm thêu tay hoặc thêu máy vì ý nghĩa trang trọng của tôn giáo, kích cỡ nên là 20 x 30 cm để bảo đảm giá hạ, và tiện cho người mua cho vào khung kính treo tường. Bao bì của tranh có thể làm giống hư bao bì của áo sơ-mi nam, tức với bì cứng làm đế, tranh thêu để trên đế, cho tất cả vào trong bao ni-lông trong suốt, với tờ giới thiệu in màu của đơn vị sản xuất, có in hình bức tranh, và nội dung giới thiệu tranh cùng tiểu sử danh họa bằng tiếng Anh. Bao bì của tranh cũng có thể làm ở dạng ống nhựa trong suốt, có hai nắp khác màu đậy hai đầu, tranh thêu cuộn tròn bên trong, và tờ giới thiệu hàng hóa bọc quanh tranh và nằm trong lòng ống nhựa trong. Loại tranh thêu này đáp ứng nhu cầu mua làm quà tặng của người Việt Nam, và chắc chắn thu hút du khách nước ngoài.

iii. Đối với nhóm tranh Người Đẹp, Tranh Hoa, và Tranh Chủ Đề Khác: toàn bộ nhóm ngành đều tham gia, với (a) tranh thêu máy hay thêu tay theo kích cỡ và bao bì y như với nhóm tranh Tôn Giáo dùng để bán lẻ cho du khách, (b) màn sáo vừa bán lẻ cho du khách theo kích cỡ bình thường vừa vặn cửa một phòng gia dụng bình thường, vừa cung cấp theo kích cỡ đặt hàng của các khách sạn cũng như công trình dân dụng, với bao bì trong túi vải phù hợp đặt bên trong bao nylon dầy trong suốt và có tờ giới thiệu nội dung y như nêu trên, và (c) tranh in vải được hiểu như hoặc in trên khăn tay đút túi bằng vải thường mà các khách sạn có thể mua với số lượng lớn để làm quà tặng du khách, hoặc in trên vải dệt kim dùng làm khăn tắm cỡ to phục vụ nhu cầu nội địa nhưng khi các khách sạn dùng cho các phòng của khách vừa làm du khách ngạc nhiên thú vị vừa giúp tiêu thụ nhiều hơn khi mỗi phòng đều có để sẵn trong tủ quần áo nhiều sản phẩm khăn tắm đã đóng gói bao bì như trên và ghi giá tiền để khách có thể lấy cất và ký vào bill phòng tính tiền sau.

b- Tranh Sơn Mài & Tranh Vẽ

Như đã nêu rõ ở trên về định hướng của mỹ thuật, vị nhân sinh nên là kim chỉ nam. Thay vì đi theo các khuynh hướng chỉ để thể hiện một cái “tôi” hoành tráng nhưng theo cách ai cũng bắt chước được – tức trên đời có quá nhiều họa sĩ thần đồng vẽ tranh trừu tượng, được gọi là những “tiểu” Picasso vì vẽ tranh lập thể giống như Picasso, song chưa bao giờ có họa sĩ “thần đồng” nào vẽ được một bức tranh kiểu truyền thần có “thần” tức vẽ người có thật và sống động y như người thật ấy, và có giá trị mỹ thuật như Leonardo da Vinci, Raphael, Boltraffio, hay Titian – các họa sĩ nên quan tâm đến sự quan tâm của khách hàng, vì chỉ khi có quan tâm đến sự quan tâm của khách hàng thì họa sĩ mới chính thức đưa hội họa phục vụ con người và con người giúp hội họa phát triển. Không cứ thấy Bùi Xuân Phái để lại cho đời trường phái Phái, là họa sĩ XYZ tạo nên phong cách riêng để hy vọng sau khi mình mất đi sẽ có trường phái XYZ. Điều khôn ngoan là đem tài hội họa của mình khi mình đang sống để tham gia sản xuất phục vụ khách hàng ngay, làm giàu chân chính ngay, làm rạng danh nền hội họa nước nhà trên cơ sở đóng góp nhiều sản phẩm cho xã hội ngay cả khi dùng tài năng đó vào việc vẽ chép tranh tức một ngành kỹ nghệ cực kỳ phát triển ở Hoa Kỳ trong phục vụ nhiều chục triệu khách hàng bình thường bình dân trong xã hội thay vì chỉ lo sở hữu nguyên tác, bán đấu giá nguyên tác, rồi dấu kỹ nguyên tác mua được ấy trong hầm sắt bảo mật cao cấp.

Hiện có nhu cầu rất lớn nhưng không công khai chẳng hạn về tranh hoa mẫu đơn, từ những khách hàng tin tưởng rằng đó là loài hoa vượng ích về hôn nhân. Nhiều người đã tìm hoặc đặt mua từ Trung Quốc những cặp tranh vải to bản hình hoa mẫu đơn thịnh trọng treo hai bên tường trong phòng khách với kỳ vọng những tốt đẹp về hôn nhân sẽ đến với đàn con gái chưa chồng của chủ nhân. Những tranh thêu lộng lẩy, những khăn tay thêu, những tranh vải vẽ cỡ nhỏ và cỡ lớn hoa mẫu đơn đảm bảo có được sự tiêu thụ nội địa rất lớn mà khách hàng đa số là phái nữ. Cùng với kiểu đóng gói bao bì như kể trên, du khách nước ngoài cũng sẽ bị mê hoặc bởi vẽ đẹp của tranh hoa mẫu đơn, vừa “tin” vào “truyền thuyết” hiệu nghiệm của hoa (cũng như tin vào nhúm cỏ khô của thổ dân Australia) và giúp đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm “thuần Việt” trên nền văn hóa Phục Hưng này của Việt Nam. Hãy cứ vẽ những vòng tròn méo mó dị dạng đỏ chói hay một nền hồng có hai sọc đen chạy ngang qua, nếu vẫn cho là chúng “nói” lên được cái gì đó chỉ riêng mình biết rồi đánh đố sự thưởng ngoạn của khách xem tranh; nhưng hãy dùng đôi bàn tay thiên phú của mình vẽ nên những đóa hoa mẫu đơn tuyệt đẹp, vừa giúp đồng bào của mình mua như ý, vừa ngăn chặn chảy máu ngoại tệ làm giàu cho họa sĩ Tàu, vừa làm giàu cho bản thân để giúp đỡ nhiều hơn cho xã hội.

c- Đồ Gốm & Tượng Đá

Thật sẽ không nên nếu các cơ sở sản xuất nhỏ vay vốn ngân hàng xông vào cuộc mua sắm trang thiết bị để chế tác ra các chén dĩa cạnh tranh với Minh Long hay hàng Trung Quốc. Hãy dùng nội lực tự thân chế tác những sản phẩm văn hóa đặc thù trong tầm tay. Đừng xẻ núi lấy đá phí phạm chế tác những thứ không phục vụ cho gần cả trăm triệu khách hàng. Các cơ sở gốm sứ nhỏ và các cơ sở tạc tượng đá nên quan tâm tạo ra những tác phẩm uy nghi tinh tế của những danh nhân Việt Nam như Hoàng Đế Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Phù Đổng Thiên Vương, Bà Triệu, Bà Trưng, v.v. Những bức tượng gốm sứ nhiều màu sắc và những bức tượng nhỏ các danh nhân này sẽ tạo nên một hướng thờ phụng mới từ các hộ gia đình đến tất cả các trường học, cơ quan, trong nước cũng như tại các cơ quan ngoại giao trú đóng ở nước ngoài. Đối với tượng đá lớn, cần tham khảo các kiệt tác của muôn đời thí dụ tượng các dũng tướng cưỡi ngựa chân phương như Nguyên Soái Gattamelata của Donatello (thế kỷ XV), hay Đại Tướng Colleoni của Andrea Verocchio (thế kỷ XV), và Pierre Đại Đế của Facolnet, trong đó có tượng khổng lồ với chiến mã chồm lên nhưng giữ thăng bằng tuyệt diệu với chỉ một chân sau trên bệ đá), để tạo nên những bức tượng uy dũng của các trang dũng tướng Việt Nam, tránh việc cách điệu kiểu Việt vì cách điệu nghĩa là né tránh dễ dàng các yêu cầu cực cao của kiến trúc tạo hình (tượng đồng Phù Đổng Thiên Vương được đúc theo hình ảnh cách điệu với nhiều tầng đá đóng vai các đám mây dưới bụng ngựa như một cách gian xảo của nghệ nhân điêu khắc bất tài không thể đúc nên chiến mã đứng được trên một hoặc hai chân sau).

Khi người dân chỉ mua những gì được trưng bày, hàng hóa Trung Quốc luôn có dịp chen chân, như hiện nay người Việt tiếp tục mua tượng Quan Công, tượng Phúc-Lộc-Thọ, tượng Phật Bà, hay tượng con cóc, v.v. của Tàu, với gương mặt Phật Bà rõ ràng không còn mang vẻ đẹp Việt Nam thanh thoát dịu dàng xinh đẹp tươi tắn có đôi mắt Việt to hai mí như cách nay vài chục năm, mà thay vào đó là vẻ mặt người đàn bà Tàu béo tốt có đôi mắt Tàu. Người Việt thường viếng đền thờ Đức Thánh Trần. Nhưng không có tượng Đức Thánh Trần hay các đấng thánh nhân Việt khác trên các quầy bán tượng. Chỉ cần có các sản phẩm này xuất hiện, nhà sản xuất tạo ra một nhu cầu tín ngưỡng mới tại hàng triệu hộ gia đình. Đó là điều chắc chắn.

D- BÀI BẢN THỰC HIỆN LIÊN KẾT NỘI LỰC CỘNG ĐỒNG

Nếu như các cơ sở sản xuất mỹ thuật thuộc nhóm nêu trên khi xem thông tin tư vấn này rồi có tâm đắc chung để vầy đoàn thực hiện, tất tạo ra một doanh giới đầu tiên của ngành hàng mỹ nghệ. Song, sự phân chia phân khúc thị trường là điều nhất thiết phải được nghiêm túc và nghiêm khắc thực hiện trên cơ sở định vị nội lực, với mỗi đơn vị hay cơ sở sản xuất đảm nhận một hoặc một nhóm mẫu sản phẩm, không được “lấn sân” dẫn đến tàn diệt lẫn nhau như “truyền thống kinh doanh kiểu Việt” bấy lâu nay: nhanh tay lẹ chân chiếm hữu chứ không nhanh chóng thương thảo cho một sự hợp tác.

Khi đề xuất sử dụng nguồn tranh thời Phục Hưng hay Cận Đại của các danh họa nước ngoài, người viết cho rằng đó là (a) cách khôn ngoan nhất do đã và đang phát triển mạnh ở các nước Âu Mỹ ngành dịch vụ chép tranh Phục Hưng và Cận Đại nên Việt Nam không cần mất thời gian điều nghiên thị hiếu thị trường; và (b) để đáp ứng nhu cầu phát triển của các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ trong thời kỳ suy thoái chung, có tạo ra sự khác biệt tích cực đối với du lịch. Việc giới thiệu hàng hóa “thuần Việt” tất nhiên vẫn nên được song song tiến hành nhưng nên ở mức độ nhỏ hơn vì phải ưu tiên phục vụ khách hàng nước ngoài là những người đa số ưu chuộng các họa phẩm cổ điển lừng danh. Màn sáo–Tranh thêu–Tranh vẽ–Gốm sứ–Sơn Mài–Tranh in vải đều có thể giúp giới họa sĩ nội địa cùng vượt khó bằng cách sử dụng một số tác phẩm của các họa sĩ hiện đại Việt Nam, có trả tiền “nhượng quyền”, với điều kiện các họa phẩm ấy phải đa sắc màu, lộng lẫy, sống động, và các họa sĩ nên ra giá nhượng quyền ở mức thấp nhất có thể được để giúp các cơ sở sản xuất hàng mỹ nghệ bớt gánh nặng chi phí, hoặc nên chủ động bỏ tiền ra đầu tư (hay kêu gọi hợp tác đầu tư) sản xuất các sản phẩm phục vụ du lịch có sử dụng các tác phẩm của mình. Tại sao là “nhượng quyền”? Bởi vì họa sĩ Việt Nam luôn sai lầm ở chỗ chỉ muốn tranh của mình được bán với giá cao kiểu “mua đứt, bán đoạn” trong khi bản thân họa sĩ lại chưa có danh gì với thế giới. Nếu “nhượng quyền”, tác phẩm vẫn thuộc sở hữu của họa sĩ, nhưng ảnh chụp điện tử của tác phẩm ấy được dùng in đại trà trên khăn tay, khăn tắm, tranh vải nhỏ, ly tách, v.v., được tiêu dùng ở các khách sạn trên cả nước, thì tích tiểu thành đại, các khoản thu nhập nhỏ nhưng tường xuyên sẽ trở thành khá lớn hay rất lớn, vừa giúp họa sĩ tạo nguồn lực tài chính chủ động, vừa giúp hội họa Việt Nam dần dần như vết dầu loang được biết đến nhiều hơn trên thế giới. Khi sản phẩm có sử dụng tranh của các họa sĩ này được đóng gói bao bì theo cách đã nêu, các họa sĩ được du khách biết đến qua nội dung giới thiệu tên của họa sĩ ở bao bì, đó là cách để các họa sĩ Việt Nam vươn ra thế giới về tên tuổi và dạng thức mới của tác phẩm: không xem bán nguyên gốc tác phẩm là ưu tiên duy nhất mà có cả bán nhượng quyền. Tác phẩm nguyên gốc được bán, nghĩa là tên tuổi họa sĩ lại tiếp tục bị chìm nghỉm trên tường tại một căn nhà nào đó của người nào đó đã mua bức họa; còn khi nhượng quyền xuất hiện, cùng lúc nhiều người sở hữu những vật thể có họa phẩm khiến họa phẩm và họa sĩ được biết đến nhiều hơn. Sự chọn lựa tác phẩm hội họa Việt Nam nhất thiết cần có ý kiến tư vấn chuyên nghiệp cung cấp tư vấn phát triển kinh doanh trong tương quan văn hóa dân tộc và văn hóa các nước đặt trong hoàn cảnh kinh doanh cụ thể, có nhắm đến uy tín quốc gia, dân tộc. Nếu một nước như Thổ Nhĩ Kỳ có thể bán hàng tỷ USD tiền mỹ nghệ phẩm cho mỗi thị trường Nga thôi, thì tất nhiên các mỹ nghệ phẩm ấy thuần dựa trên nghệ thuật hội họa truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ thể hiện trên thảm trải sàn, thảm trải ngồi, thảm treo tường trang trí thay tranh, đã vững vàng vang danh từ thời đế chế Ottoman của Thế Kỷ XIII từ kinh thành Constantinople bán ra khắp thế giới Âu Tây, chứ không phải là tranh khỏa thân vốn mang tiếng khiêu dâm hay tranh lập thể vốn mang tiếng kiêng kỵ phong thủy dị đoan. Và một khi Việt Nam chưa hề có nền hội họa truyền thống vang danh thế giới mà chỉ có vài kiểu cách mang tính địa phương cá biệt nhiều hạn chế hạn hẹp như Đông Hồ hay “Phái” thì đương nhiên phải dựa vào sự khai thác các danh họa cổ điển thế giới và các họa phẩm hiện đại nào của Việt Nam không thuộc loại khỏa thân, lập thể, hay phong cảnh không đặc sắc.

E- LỜI KẾT

Tuy nhiên, sự sáng tạo trong tư vấn như nêu ở bài viết này cũng có thể bị tước đoạt vì nếu như có ai đó ở lân bang nào đó cũng noi theo sử dụng các chiêu thức nêu trên thì sự nỗ lực của người viết nhằm giúp doanh giới Màn sáo–Tranh thêu–Tranh vẽ–Gốm sứ–Sơn Mài–Tranh in vải phát triển cũng đổ sông đổ biển. Từ đó đặt ra vấn đề cần xem xét, nghiên cứu, áp dụng nhanh chóng bởi các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nhỏ và các doanh nghiệp nhỏ, vì mục đích là sự hình thành một doanh giới có thể tự thân đi lên từ thực tế không hoặc chưa vững mạnh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Ghi chú:

– Các chuyên đề tư vấn tiếp theo về phát triển kinh doanh thời suy thoái sẽ bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các lĩnh vực như sản xuất bánh kẹo, sản xuất lương thực, sản xuất thực phẩm chức năng, sản xuất đồ nhựa, và du lịch, v.v. Các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp muốn đọc các bài viết tư vấn phát triển kinh doanh ngành hàng hay ngành nghề nào khác, xin vui lòng báo chi tiết cho tác giả bài viết này qua thư bưu điện (đến Hoàng Hữu Phước,  Công ty MYA, 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

– Phần lớn nội dung bài viết trên đã từng được tác giả đặt vấn đề trên Emotino ngày 25-8-2009. Bản đăng kỳ này được bổ sung, thay đổi, hoàn thiện.

– Các tranh minh họa: nguồn từ internet.

Sources of images of paintings as herein demonstrated are from the internet.

Sự Thật Về ISO Ở Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

ISO không là từ lạ ở Việt Nam dù không ai quan tâm xem ý nghĩa từ vựng của nó là gì, có phải là Tổ Chức Quốc Tế Về Tiêu Chuẩn Hóa hay không, vì đơn giản ISO là ISO.

ISO thường được hiểu bởi người muốn sự rạch ròi thực dụng như một thứ chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng do một công ty dịch vụ về ISO cấp.

Như vậy, ai cũng biết ISO, nghe nói về ISO, và nhìn thấy ISO trên các tở quảng cáo doanh nghiệp từ sản xuất hàng hóa cho đến sản xuất dịch vụ. Và các số hiệu ISO ngày càng nhiều hơn, phức tạp hơn, so với thời gian đầu ISO xuất hiện ở Việt Nam mà có doanh nghiệp đã quảng cáo trên tivi một cách biến hóa tùy tiện rằng sản phẩm của họ có chứng nhận chất lượng cao ISO.

Có ba sự thật chưa từng được ai nói đến về ISO như sau:

Trước hết, những đại gia khổng lồ từ trước khi ISO xuất hiện như các hãng xe hơi (như Rolls-Royce từ 1904, Mercedes từ 1926, Ford từ 1903, v.v.); các hãng đồng hồ Thụy Sĩ; các hãng sản xuất máy bay dân sự, chiến đấu cơ, hỏa tiễn, vệ tinh (như Boeing từ 1916, McDonnell từ 1939, Douglas từ 1921, v.v.); các hãng thực phẩm (như CocaCola từ 1944, Pepsi Cola từ 1893, v.v.); các hãng dầu hỏa lớn như Standard Oil của Rockefeller từ 1870; các hãng hàng hải; các ngân hàng; các tập đoàn năng lượng nguyên tử; các cơ quan đặc thù (như cơ quan nghiên cứu vũ trụ NASA); các tập đoàn dược phẩm; v.v.; cho đến các đại gia khổng lồ khác hình thành sau khi ISO xuất hiện như các công ty sản xuất vũ khí hiện đại từ vũ khí sát thương, tàu ngầm, hàng không mẫu hạm. đến chiến đấu cơ và hỏa tiển hành trình, v.v., không bất kỳ đại gia nào trước thời của ISO hay sau khi ISO xuất hiện lại cần có ISO để trở thành đại gia cả, cũng như họ không cho phép ISO được bén mãng đến gần hàng rào kẽm gai bảo mật tuyệt đối chống thâm nhập vì an ninh quốc gia, bí mật quốc phòng, hoặc bảo mật thông tin tuyệt mật trước tình báo kinh tế. Điều này cho thấy hệ thống quản lý chất lượng do các nhà đại công nghiệp, đại quản lý, tự sáng tạo ra để hình thành các đế chế kinh tài khỏng lồ mà khách hàng tự tìm đến hữu hiệu ra sao so với những doanh nghiệp do không sao tổ chức được hệ thống hiệu quả từ quản lý chất lượng đến tạo ra các biểu mẫu quản lý hiệu quả cũng như tổ chức các khóa bồi dưỡng nhân lực cho riêng mình phải cầu cạnh sự giúp đỡ của ISO để có hình chứng chỉ ISO treo nơi phòng tiếp khách để tìm kiếm và hy vọng thuyết phục được khách hàng.

Thứ đến, một khi đã cậy đến sự giúp đỡ của một công ty ISO để có chứng chỉ ISO của công ty ấy, doanh nghiệp coi như đã giúp đỡ công ty ISO ấy có thu nhập dài hạn và đều đặn vì họ quay trở lại doanh nghiệp hoài hoài theo lịch định trước để kiểm tra, tổ chức thêm các khóa đào tạo hay bồi dưỡng nhân viên của doanh nghiệp rồi tiếp tục đều đặn thu dịch vụ phí của doanh nghiệp.

Và cuối cùng là bí mật kinh doanh của doanh nghiệp trở thành tài sản chất xám cho công ty ISO kiếm ăn nơi khác. Một công ty du lịch lớn hoạt động rất thành công nhưng lại chạy theo thời thượng ISO nên rốt cuộc phơi bày gan ruột tổ chức quản lý hiệu quả của mình, hệ thống văn bản và biểu mấu quản lý hiệu quả của mình cũng như guồng máy hậu cần quản lý kho hàng tại chỗ cho công ty ISO. Tất nhiên, công ty ISO tự nhiên sở hữu kinh nghiệm của doanh nghiệp du lịch khổng lồ ấy, và tất nhiên công ty ISO có vài góp ý thêm vài chi tiết vào những biểu mẫu sẵn có ấy, thêm vài điều chỉnh vô hại vào sơ đồ tổ chức và sơ đồ quản lý sẵn có của doanh nghiệp, tức những việc vô thưởng vô phạt phết phẩy đôi ba nét cực kỳ dễ dàng lên một tác phẩm hội họa đã hoàn chỉnh rồi thực hiện quá trình theo sát giám sát dài hạn trước khi cấp chứng chỉ ISO cho doanh nghiệp, với số tiền dịch vụ cao, và với kinh nghiệm dồi dào hơn về tổ chức kinh doanh du lịch để tiếp cận các công ty du lịch khác với tư thê những nhà chuyên nghiệp trong lĩnh vực ISO cho ngành du lịch. Tương tự, thấy tôi được các đại gia ngành bảo hiểm nhân thọ nước ngoài săn đón, một vị lãnh đạo một công ty ISO ở Việt Nam làm chi nhánh cho một công ty ISO của Úc đã tìm đến nhờ tôi giúp đỡ sao cho vào được một công ty bảo hiểm nhân thọ để cấp chứng chỉ ISO, đồng thời để cho sự năn nỉ của mình hiệu quả hơn, vị lãnh đạo này còn nói thực thà với tôi rằng vị ấy rất cần vào một công ty bảo hiểm nhân thọ vì đó là mảng dịch vụ mà công ty ISO của vị ấy chưa từng có kinh nghiệm tư vấn quản lý chất lượng. Phải ký được hợp đồng tư vấn mới được công ty bảo hiểm nhân thọ phơi bày hết ruột gan về cơ chế tổ chức và vận hành tổ chức hiện hành, hệ thống quản lý công việc dịch vụ tài chính và phát triển kinh doanh cùng phát triển nhân sự trên phạm vi toàn quốc, hệ thống văn bản và biểu mẫu của công ty tại Việt Nam trên tương quan nghiên cứu so sánh các biểu mẫu của công ty mẹ ở nước ngoài, v.v., mà nhờ tất cả những thứ ngồn ngộn này, công ty ISO của vị ấy mới có thể vác mặt lên trời tiếp cận khách hàng bảo hiểm nhân thọ khác để chào vanh vách và chuyên nghiệp về bảo hiểm nhân thọ với giá dịch vụ cao hơn, ký hợp đồng dễ dàng hơn, và thực hiện việc tư vấn gọn gáng hấp dẫn hơn.

Như vậy, ISO chỉ là một thứ giải pháp cần thiết khi bạn chỉ có vốn kinh doanh, ý chí kinh doanh, và khách hàng kinh doanh, nhưng hoàn toàn không biết tổ chức kinh doanh, quản lý kinh doanh, quản lý nhân lực kinh doanh. Một ủy ban nhân dân quận ở Thành phố Hồ Chí Minh có thể cần đến ISO và thực sự một số ủy ban đã có ISO, nhưng Bộ Quốc Phòng sẽ không bao giờ cần đến ISO trừ phi cho một nhánh con không quan trọng và thuần “làm kinh tế” nào đó trực thuộc Bộ Quốc Phòng.

Nếu bạn thực sự là một công ty rất lớn và rất quan trọng trên thị trường, đang hoạt động hiệu quả, bạn nên treo ngoài cổng bảng đồng “Miễn Tiếp ISO”.

Nếu bạn mua một chiếc Boeing hay Airbus cho công ty hàng không của bạn, tôi không tin bạn sẽ yêu cầu Boeing cho xem các thứ chứng chỉ ISO.

Dù trước đây mua chiến đấu cơ SU hay tàu ngầm Kilo-Class của Nga hoặc nay sắp mua các vũ khi sát thương tối tân của Mỹ, Việt Nam không bao giờ yêu cầu các nhà sản xuất ấy xuất trình các chứng chỉ ISO.

ISO nên được xem như một thứ Ibuprofen SOdium, thứ thuốc viên loại 256mg hữu dụng chỉ cho người bị nhức đầu, nhức răng, nhức lưng, nhức nhối.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chí Phèo

Hoàng Hữu Phước, MIB

Mỗi khi cần có bài viết làm phát pháo khuấy động đầu tiên cho một chuỗi loạt bài tràn ngập tiếp theo của các tác giả khác, ban biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị lúc chưa đình bản đều liên lạc nhờ tôi giúp cho một bài khai cuộc. Một trong những bài báo phục vụ mục đích này là bài Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng ngày 10-9-2008. Nội dung bài này sẽ được đăng lại bên dưới, với ý chính là thay vì hô hào một cách vô lý rằng Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước, Việt Nam nên dùng khẩu hiệu Sản Xuất Hàng Hoá Chất Lượng Cao Cấp Là Yêu Nước, khởi đầu cho làn sóng tham gia đầy tích cực vào chủ đề này, dẫn đến việc Chính phủ cho biến mất luôn khẩu hiệu Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước trong các lời kêu gọi, và thay vào đó là một khẩu hiệu mới là Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam sử dụng trên cả nước, nghĩa là cái trách nhiệm với tổ quốc vẫn cứ phải áp đặt duy chỉ trên vai người tiêu dùng, có thể vì các nhà sản xuất Việt Nam vẫn không đáp ứng được yêu cầu của tôi là sản xuất hàng hóa chất lượng cao để tỏ lòng yêu nước của họ.

Khi tôi nói về chất lượng cao cấp, tôi không những nói về những gì bất kỳ ai cũng biết về nội hàm luôn có của chất lượng cao cấp, mà còn ngụ ý bao gồm cả chất lượng cao cấp của các giá trị phi vật thể của hàng hóa tức thương hiệu, nhãn hiệu, hình thức bao bì, nội dung hướng dẫn sử dụng hoặc bảng ghi thành phần, v.v.

Vào thời Mỹ cấm vận Việt Nam, tôi (tại Công ty CIMMCO International) cung cấp cho các công ty điện tử quốc doanh lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tivi màu dạng CKD của Ấn Độ, kể cả tivi màu sử dụng bình ắc-quy cho vùng đồng bằng Sông Cửu Long và vùng sâu vùng xa lúc mà ngay ở Thành phố Hồ Chí Minh còn phải thường xuyên cúp điện. Tôi đã tranh luận gay gắt với các công ty điện tử Ấn Độ vì các thùng các-tông đựng tivi của họ cực kỳ kém chất lượng, mỏng mảnh, mềm nhũn, in ấn sơ sài. Họ đã ngạc nhiên và chống chế rằng người mua sẽ vất ngay thùng đựng nên sao lại phí tiền cho một thứ không cần thiết như thế, miễn tivi của họ là chất lượng tuyệt hảo. Tôi đã phải tuyên bố rằng các ông ấy đang mặc áo sơ mi tơ lụa cực kỳ sang trọng dù chất lượng giáo dục, chất lượng trí tuệ, và chất lượng quản lý kinh doanh của họ tuyệt hảo, và rằng tôi không thể mua hàng của họ nếu thùng các-tông không có chất lượng cao, in ấn bao bì không có chất lượng cao, và không có các miếng xốp trắng độn bên trong thùng để bảo vệ những tivi “chất lượng cao” giống như bao bì tivi của Nhật Bản. Tất nhiên, các nhà sản xuất tivi Ấn Độ phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tôi; sau đó tôi cung cấp hàng của họ cho các công ty lớn, trong đó có Viettronics Tân Bình của Thành phố Hồ Chí Minh.

Thế mà cách nay hai tuần tôi chưng hửng khi xem tivi một cuộc phỏng vấn doanh chủ một công ty sản xuất giày thể thao hình như mang tên Thái Dương. Vị này nói tiếng miền Nam, giới thiệu một rừng sản phẩm giày thể thao mà tôi thấy rất tinh xảo, rất mỹ thuật, từ mũ giày đến đế giày, từ phối màu đến kiểu dáng cho từng nhu cầu thể dục thể thao khác nhau, và cho nam hay nữ, trẻ con hay người lớn. Nhưng tôi không tin vào tai mình khi nghe ông nói với giọng đầy kiêu hãnh về một loại giày thể thao nam mang tên Chí Phèo. Tôi sẽ không bao giờ mua giày của cái công ty đã đặt tên cho sản phẩm mình là Giày Model Chí Phèo vì tôi khẳng định Chí Phèo không phải là từ ngữ chất lượng cao về ngữ nghĩa, tu từ, phát âm, ngữ nguyên, và đẳng cấp. Một tivi màu chất lượng cao không thể chứa trong một hộp giấy dành đựng sản phẩm thùng nhựa chứa rác. Một đôi giày chất lượng cao không thể được dán phủ lên trên bằng một nhãn hiệu hạ đẳng thiếu nghiêm túc và thiếu ngay cả sự khôn ngoan đối với những vấn đề nhạy cảm lẽ ra không thuộc lĩnh vực kinh doanh như sự kiêng kỵ của khách hàng tin dị đoan hay phong thủy đối với một cái tên khiến họ sẽ dứt khoát không mua.

Biết đến bao giờ nhà sản xuất ấy mới chịu hiểu ra rằng sự nghiêm túc cẩn trọng lựa chọn ngôn từ cũng là một yêu cầu cao cấp của sản xuất hàng hóa chất lượng cao cấp.

Xây cầu mà đặt tên là Cầu Dần Xây, bảo sao không bị nhạo báng là không biết đến bao giờ chiếc cầu ấy của Huyện Duyên Hải (nay là Huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh) mới xây xong vì cứ xây dần xây dần từ thập kỷ này sang thập kỷ khác.

Khi thực sự nâng niu đứa con của mình, không ai không chọn cho nó một cái tên tốt đẹp ngay cả trước khi nó lọt lòng mẹ. Khi thực sự nâng niu một đứa con tinh thần là một tác phẩm thơ văn, hay một đứa con vật chất là một sản phẩm thương mại, người ta không thể không chọn cho nó một cái tên tốt đẹp ngay cả trước khi nó ra lò.

Đó là một chân lý giản đơn.

Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Bài viết cho báo Saigon Tiếp Thị, số 105, ra ngày Thứ Tư 10/9/2008)

Lời Tòa Soạn: Xây dựng và phát triển thương hiệu không chỉ đơn thuần là chuyện của doanh nghiệp, khi bản thân doanh nghiệp là một thực thể tồn tại trong thị trường, có ảnh hưởng và chịu sự tác động của thị trường. Chính vì vậy, một trong những chức năng của thương hiệu là tạo ra động năng đòi hỏi sự thay đổi về cơ chế và lề luật nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Giới thiệu bài viết này như một gợi mở để suy nghĩ, phân tích về vai trò của doanh nghiệp trong đời sống thị trường

Hoàng Hữu Phước

Bấy lâu nay, ở Việt Nam hay dùng khẩu hiệu đại loại như “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” hoặc “Dùng hàng Việt Nam là yêu nước”. Những khẩu hiệu này đầy tính cực đoan. Kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu nếu nước nào cũng có khẩu hiệu tương tự, nghĩa là sẽ không xài hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam? Và tại sao chỉ hô hào, kêu gọi, và chuyển giao 100% trọng trách yêu nước cho chỉ người tiêu dùng?

Trong một thế giới toàn cầu hoá, các đối tác thương mại đều phải cố gắng sao cho mức nhập siêu và xuất siêu giữa từng cặp quốc gia có quan hệ song phương đều ở mức hợp lý nhất có thể được. Có bán thì phải có mua để sự thương thảo thêm tốt đẹp. Đã đến lúc phải có sự chuyển giao trọng trách yêu nước cho cộng đồng doanh nghiệp, những nơi mà thương hiệu đơn lẻ đang được nói đến nhiều, đầu tư rất nhiều, song chưa mang lại nhiều hiệu quả. Khẩu hiệu của thời đại mới ở Việt Nam phải là “Sản xuất hàng hoá chất lượng cao cấp là yêu nước”, vì sẽ là vô lý nếu doanh nghiệp quan tâm đến thương hiệu, bảo vệ thương hiệu, quản lý thương hiệu, lo toan nhiều đến bản quyền và nhượng quyền… mà không xem chính sự sản xuất ra hàng hoá chất lượng cực cao tại doanh nghiệp mình là thể hiện lòng yêu nước và gia cố cho sự bền vững và phát triển của thương hiệu. Cái đơn lẻ chỉ lo cho chính cái đơn lẻ ấy, và đó chính là lý do thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa thể vượt tầm quốc gia.

Vì vậy, “Sản xuất hàng hoá chất lượng cao cấp là yêu nước” cần phải là một slogan mới dưới sự tổ chức của Nhà nước. Hàng hoá chất lượng cao được sản xuất theo quy trình hợp lý để có tính cạnh tranh cao hơn, sẽ hấp dẫn các thị trường khác; và dù cho dân Việt Nam có sính mua hàng ngoại nhập đi chăng nữa (để giúp cân bằng cán cân mậu dịch song phương hay đa phương với các nước sản xuất khác) thì việc xuất khẩu được khối lượng lớn và liên tục hàng hoá của các doanh nghiệp mới chính là lòng yêu nước và là trách nhiệm cũng như vai trò thực sự, thực tế, và gần như là duy nhất của doanh nghiệp. Một khi không thể sản xuất hàng hoá chất lượng cao có tính cạnh tranh cao để chiếm lĩnh cho được thị trường thì chưa thể mạnh miệng nói đến vấn đề thương hiệu.

Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng cao cấp của Việt Nam”, “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp chỉ của chất lượng cao”, và “Sản xuất hàng hoá chất lượng cực cao là yêu nước” nên là những slogan mang tính chiến lược quốc gia nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đạt được giá trị thương hiệu đơn lẻ của họ trên con đường tắt.

Hàn Quốc có nhân vật Kim Sang Ok trong bộ phim nhiều tập Thương gia, người đã nhiều trăm năm trước tạo nên doanh giới đầu tiên của một môi trường xã hội vốn xem thương nhân thuộc hàng hạ đẳng. Nhờ vậy, Hàn Quốc ngày nay có doanh giới hùng mạnh vang danh khắp châu lục. Việt Nam không có nhân vật lịch sử nào tầm cỡ như Kim Sang Ok, người từ Hàn Quốc tìm đường bộ qua bao núi non hiểm trở đến tận Tràng An thiết lập và đẩy mạnh giao thương mua bán hai chiều với Trung Quốc, chiếm thị phần rất lớn ở Trung Quốc, đem lợi nhuận dồi dào về cho đất nước. Ông này không chỉ đóng thuế nhiều mà còn tự nguyện đóng góp thêm giúp triều đình củng cố quân đội đánh bại các thế lực ngoại xâm thời ấy.

Do đặc thù dân tộc tính, giới kinh doanh Việt Nam tuy thừa hưởng nhiều thuận lợi trong bối cảnh các nhà đầu tư và kinh doanh nước ngoài đổ xô vào Việt Nam; và trong thời toàn cầu hoá không còn những rào cản của địa lý và sự cấm vận, lại quen với cách hành xử quen thuộc là nêu khó khăn, chờ biện pháp giúp đỡ của Nhà nước; thay vì đề ra được một sách lược chi tiết của toàn doanh giới trình Chính phủ chấp thuận cho thực hiện. Chính vì vậy, một quyết sách, một chủ trương cần thiết mang tính đổi mới tư duy về “lòng yêu nước” cần được Nhà nước quan tâm quyết định. Chỉ có như vậy, thương hiệu mới được phát huy sức mạnh từ cả học thuật lẫn thực tiễn, đặc biệt trong môi trường nội địa hoá.

Không thể mong chờ đất nước lâm vào cảnh lạm phát, kinh tế suy thoái, để cho rằng đó là thời cơ lên ngôi của hàng hoá tốt và thương hiệu tốt. Cần nói với một tư duy mới rằng: hàng hoá sản xuất ra luôn có chất lượng cao, luôn có tính cạnh tranh cao, bảo đảm ngay cả khi nền kinh tế đất nước có lâm vào cảnh lạm phát hay suy thoái, doanh nghiệp vẫn trụ vững và có khả năng chủ động giúp nước nhà vượt qua khó khăn trong thời gian ngắn hơn.

Hoàng Hữu Phước

 Chi Pheo

http://www.sgtt.com.vn/Detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=40125&fld=HTMG/2008/0909/40125

http://cafef.vn/20080910114947295CA33/kinh-te-viet-nam-can-thay-doi-khau-hieu-yeu-nuoc.chn

Âm Nhạc Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tự Bỏ Ưu Thế

Âm nhạc Việt Nam dẫm chân tại chỗ vì đã không cùng lúc duy trì ưu thế và phát triển tự do theo trào lưu thời thượng quốc tế. Nhạc hùng tráng là thế mạnh của Việt Nam; không chỉ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam là minh chứng rõ nét nhất trong lĩnh vực này, mà Việt Nam Cộng Hòa cũng đã có những bản nhạc hào hùng khí thế chẳng hạn như bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Music 1

Thế nhưng, chỉ vài năm sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đã có buổi họp như đưa tin trên báo Sài Gòn Giải Phóng thời ấy về đường hướng sáng tác âm nhạc mới thiên về tình cảm êm dịu, mặc nhiên kết thúc không kèn không trống giai đoạn tập trung sáng tác thuần cách mạng hừng hực như trong chiến tranh. Điều này có nghĩa Việt Nam tự triệt tiêu ưu thế sẵn có và bắt đầu vầy đoàn sáng tác thể loại chưa là ưu điểm và sẽ không bao giờ là hay nên là ưu điểm của mình, khiến nhiều năm sau đã chứng kiến sự thất bại thảm hại của đợt tổ chức thi sáng tác bài hát cổ vũ bóng đá Việt Nam khi cho đến ngày nay lời hát Như Có Bác Trong Ngày Vui Đại Thắng vẫn luôn là bài hát bóng đá của tất cả người dân Việt mỗi khi có trận đấu tranh giải khu vực dù tại Việt Nam hay ở nước khác. Trong khi đó, do có sự chỉ đạo tập trung về sáng tác tình cảm êm dịu, gần như âm nhạc Việt Nam sản sinh ngập ngụa những bài hát diễm tình ướt át ướt lệ và  ước lệ khiến hoặc bỏ hẳn “sân chơi” nhạc trẻ cho nhạc Âu Mỹ hoặc nhường hẳn cho sự lấn sân thống trị của nhạc trẻ Hàn. Chỉ có ở Việt Nam mới có cảnh kỳ quái trong các chương trình âm nhạc: ca sĩ hát nhạc Việt mượt mà, êm dịu, tỉ tê, da diết, thẩn thờ, thở than, thậm chí ngồi bệt xuống sàn để diễn cho đạt cái sự trầm buồn rã rời rũ rượi, thì thoắt một cái sôi động nhảy nhót phấn khích bằng bài ca Âu Mỹ tiếp theo; trong khi K Pop hát nhạc riêng tiếng Hàn nhưng hòa âm phối khi theo nhạc trẻ Âu Mỹ, trẻ trung sôi động như nhạc trẻ Âu Mỹ, và khi hát những bài ca Âu Mỹ thì gần như chỉ có sự khác biệt duy nhất ở thứ ngôn ngữ được phát âm lúc hát mà thôi.

Phát Huy Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc

Âm nhạc Việt Nam dẫm chân tại chỗ vì đã hiểu sai ý nghĩa của cụm từ phát huy bản sắc dân tộc, lầm tưởng rằng bản sắc tức là phần “cổ”, phần “truyền thống”, phần cố gắng để được ghi danh vào di sản văn hóa của nhân loại. K Pop của làn sóng Hàn đã cuồn cuộn đổ ập tràn ngập tất cả các kinh thành âm nhạc thế giới, vậy K Pop có đang trình diễn cổ nhạc Hàn, dân ca Hàn, hay truyền thống Hàn? Hóa ra đối với người Hàn, bản sắc văn hóa dân tộc chính là tinh thần thời thượng của lòng tự hào dân tộc, phong cách hừng hực khí thế hòa nhập vào vòng xoáy của âm nhạc thời thượng thế giới cùng khả năng hòa nhập trên cả thành công vào chính vòng xoáy ấy, bản lĩnh quyết chiến quyết thắng chiếm lĩnh đỉnh cao âm nhạc trên phạm vi thế giới – chứ không phải các giải thưởng quốc tế lẻ loi về âm nhạc – để qua đó vinh danh nước Hàn, phát triển kinh tế Hàn, bắt buộc cả thế giới phải biết đến Hàn, áp đặt sự mô phỏng theo trang phục và phong cách trình diễn của ca sĩ Hàn vào hàng tỷ công dân trẻ của Châu Á, thống lĩnh cảm thụ của giới trẻ toàn thế giới mà điệu nhảy Gangnam Style là thí dụ điển hình, định hình âm nhạc Hàn trong sân chung của thế giới chẳng khác nào có mặt trong vòng chung kết World Cup bóng đá thế giới bằng những cầu thủ bóng đá thượng hạng chứ không phải với những vận động viên “truyền thống dân tộc” karatedo. Âm nhạc Việt phải có bản sắc dân tộc theo kiểu Hàn, nghĩa là âm nhạc Việt không để trình cho vài chục du khách nước ngoài biết Việt Nam hóa ra có thứ cổ nhạc như thế, như thế, và như thế, mà phải để người nghe trên thế giới nhận ra rằng âm nhạc Việt hóa ra thời thượng giống họ, ngang đẳng cấp trình độ hiện đại thời thượng của họ khiến họ cảm thụ được ngay cả khi lời hát không bằng ngôn ngữ của họ, và họ cảm thụ y hệt như thứ âm nhạc Âu Mỹ mà họ luôn sống cùng với trong thức ăn tinh thần thời thượng hừng hực trẻ trung mạnh mẽ của họ. Âm nhạc không thể như những cổ vật cực kỳ quý báu của đế chế Inca trong viện bảo tàng, song đế chế ấy đã bị diệt vong. Âm nhạc không thể như những cổ vật cực kỳ quý báu nhưng không toàn vẹn của Iraq hay Campuchia như đầu tượng Phật bị chặt khỏi thân tượng hay phiến đá ngọc đục vỡ khỏi tường một cung điện của Saddam Hussein trong viện bảo tàng Âu Mỹ, dù cả Iraq và Campuchia còn đang tồn tại. Nước Việt đang tồn tại, hát xoan đang được cứu khỏi nguy cơ biến mất và sắp được vinh danh di sản văn hóa của nhân loại; nhưng hát xoan Phú Thọ cùng vọng cổ đàn ca tài tử hay nhã nhạc cung đình Huế mãi mãi không bao giờ là một thứ V Pop để sánh như K Pop của Hàn đổ ập, tràn ngập, cuốn phăng thành trì âm nhạc thế giới. Muốn có mặt trong vòng chung kết bóng đá World Cup, Việt Nam phải có những cầu thủ bóng đá thực thụ với tất cả sức mạnh của sự trưởng thành, của tính chuyên nghiệp, của bản lĩnh nghiệp vụ. Muốn là ngọn sóng cuốn phăng thành trì âm nhạc thế giới, âm nhạc Việt Nam phải là ngọn sóng với tất cả sức mạnh về khối lượng, tốc độ, và cường độ của nó. Khi không là nước thì không thể là ngọn sóng, và âm nhạc Việt Nam không thể là ngọn sóng Việt trong đại dương âm nhạc do chưa từng là nước của đại dương tức âm nhạc đúng nghĩa như thế giới mà chỉ là âm nhạc của riêng quốc gia mình trong chiếc ao hay giòng suối nhỏ của riêng mình.

Bản sắc văn hóa dân tộc ở Mỹ chính là sự đa dạng đa sắc màu và phát triển đồng loạt tất cả các thế mạnh khiến ngay cả Nhạc Đồng Quê Country Music cũng là một thế lực hùng mạnh đậm đà bản sắc vùng miền của Mỹ nhưng được ưa chuộng trên toàn nước Mỹ và trên toàn thế giới. Mỹ không từ bỏ thế mạnh này của bản sắc văn hóa dân tộc Mỹ.

Bản sắc văn hóa dân tộc ở Hàn Quốc chính là tính mạnh mẽ quyết liệt tự khẳng định mình ra thế giới trên nền tập thể và bằng vũ khí của thế giới, khiến kỹ nghệ Hàn đồng loạt lấn sân công nghiệp Nhật kể cả công nghiệp quốc phòng, và khiến làn sóng Hàn được hình thành từ rất đông những ban nhạc, những nhóm nhạc, chứ không từ những ca sĩ lẻ loi. Hàn không từ bỏ thế mạnh này của bản sắc văn hóa dân tộc Hàn.

Bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam chính là tính quật cường quật khởi tự thân của dân tộc Việt Nam. Dường như Việt đã không hiểu bản sắc văn hóa dân tộc của mình nên từ lâu tự bỏ mất thế mạnh Việt bằng cách gò bó nội dung bản sắc văn hóa dân tộc vào chiếc tủ chật chội của chỉ những gì thuộc về dân gian với việc phát triển các làng nghề vừa gây ô nhiễm vừa không giúp Việt Nam thành cường quốc công nghiệp hiện đại, còn âm nhạc cổ truyền của riêng Việt Nam chỉ giúp Việt Nam có thêm nhiều hơn những giá trị thuần tinh thần được ghi vào di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại chứ không làm giàu hơn cho đất nước từ những di sản văn hóa phi vật thể ấy.

Tư Vấn Phát Triển Âm Nhạc Việt Nam

Nội dung sau đây chỉ dành cho các nữ sinh viên Nhạc Viện Việt Nam, không dành cho quần chúng nói chung.

1) Tại sao là Nhạc Viện

Ở các nước Âu Mỹ, học sinh ngay từ tiểu học đã được học sử dụng nhạc cụ và thanh nhạc, khiến dưỡng nuôi khả năng sáng tác và trình diễn tự tin ngay từ nhỏ, còn khả năng thì phát triển theo thời gian. Đây là lý do tất cả những ca sĩ đường phố cực kỳ điêu luyện, và việc họ hành nghề trên đường phố chẳng qua là do họ chưa tìm được việc làm tại các ban nhạc, các quán cà phê, v.v. trong khi đó, ở Việt Nam dù là Việt Nam Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã phí phạm thời gian học của trẻ thơ khi giờ học Nhạc toàn học nhạc lý để rồi sau khi chấm dứt môn nhạc ở lớp 7 chẳng hạn thì học sinh cũng chẳng thể sử dụng nhạc cụ, chẳng thể cảm thụ được âm nhạc, và việc sử dụng nhạc cụ là từ các tiết học thêm bên ngoài, còn hát ca là từ tự phát tự nhiên. Vì vậy, điều kiện tiên quyết phải là : đối tượng của bài viết này phải xuất thân từ Nhạc Viện để đạt đẳng cấp ngang bằng với ca sĩ–nhạc sĩ nước ngoài ngay cả khi đó là nhạc sĩ–ca sĩ đường phố. Trong những chương trình ca nhạc tại Việt Nam, nhiều khi có nhóm nữ xúm nhau xử dụng khí thế đàn violon, đàn..T’rưng, đàn bầu, đàn tranh, nhưng chỉ gảy đàn chừng vài phút hay vài đoạn thì tự dưng buông đàn, giơ tay lên trên đầu vỗ tay theo điệu nhạc đầy ma quái vì bổng nhiên phát ra từ không trung, rồi bắt đầu hát cho đến cuối bài vẫn không trở lại sử dụng nhạc cụ. Thật là nhục nhã vì tất cả là sự đàn nhép, và tất cả luôn phải dựa vào ca hát, trong khi thế giới sũng sờ trầm trồ thán phục trước màn trình diễn của một nữ nhạc công violon Singapore hoặc nhóm 8 và 12 nữ nhạc công Tàu mặc đầm đỏ hoặc đầm trắng sử dụng nhạc cụ điêu luyện hàng giờ, tuyệt đối không cất tiếng ca nào. Ngoài ra, gần như tuyệt đại đa số nhạc sĩ Việt Nam không thể hát trình diễn tác phẩm của chính mình, trong khi tuyệt đại đa số những ca sĩ Việt Nam vừa không sử dụng được nhạc cụ vừa hát toàn bài ca của tác giả khác. Vì vậy, phải là sinh viên nhạc viện và phải giỏi cùng lúc cả ba lĩnh vực sử dụng nhạc cụ, sáng tác, và thanh nhạc, mới có thể kỳ vọng trở thành celebrity âm nhạc quốc tế đúng nghĩa.

2) Tại Sao Là Nữ Sinh Viên

Cái nặng nề nhất của người Việt trong lĩnh vực ca nhạc là tính tập thể nên dù là nam sinh viên nhạc viện hay nữ sinh viên nhạc viện thì cũng đều tự động có ý xem cá nhân mình là trên hết: xem biểu diễn solo violon hay piano hay guitar danh tiếng hơn biểu diễn violon hay piano trong một dàn nhạc giao hưởng hàng trăm người; xem sự nổi tiếng cá nhân như một ca sĩ celebrity kiểu Elvis Presley hơn là sự nổi tiếng của cả tập thể như ban nhạc The Beatles. Do đặc điểm kém tích cực này, sự lựa chọn sẽ thiên về nữ sinh viên nhạc viện với hy vọng rằng cái tôi nơi nữ sinh viên có thể không quá mạnh như nơi nam sinh viên và do đó sự hình thành ban nhạc nữ hay nhóm nhạc nữ sẽ dễ dàng hơn, có khả năng chậm chia rẻ tan rã hơn, và tất nhiên dễ hấp dẫn khán giả nước ngoài hơn.

3) Tại Sao Là Nhạc Cụ Hiện Đại

Để có mặt ở vòng chung kết bóng đá World Cup, nhất thiết phải quên những phong cách Việt trên sân cỏ thuần ngẩu hứng thiếu tư duy chiến thuật, kể cả cách ăn uống Việt vốn không bao giờ cung cấp đầy đũ dưỡng chất cho thi đấu đỉnh cao. Để tạo nên làn sóng Việt, nhất thiết phải quên những nhạc cụ Việt vốn không bao giờ thích hợp cho thi thố đỉnh cao âm nhạc Mỹ Âu. Không những thế, cần phải cất kỹ vào tủ khóa các cây đàn gỗ kiểu cổ điển mà phải đầu tư sắm những nhạc cụ hiện đại dù đó là violon hay viola, để tương thích với các thiết bị âm thanh hiện đại của sân khấu hoành tráng sôi động, và đáp ứng sự thích thú nơi khán giả trẻ.

Music 2

4) Điều Cần Ghi Nhớ Về Nhạc

Trong khi tác giả Âu Mỹ ưu tiên trau chuốt khúc nhạc thì tác giả Việt ưu tiên trau chuốt lời ca. Đây là lý do nhạc Âu Mỹ thì hay tuyệt, cuốn hút, còn lời ca thì lắm lúc ngô nghê ; và nhạc Việt Nam thì không thể hay tuyệt, với lời ca lắm khi triết lý cao siêu. Song, âm nhạc chính ra là để nghe tiết tấu, không để nghe lời ca, nên mặc cho ca sĩ Âu Mỹ hát gì, khán giả trẻ gào thét nhảy múa theo sự cuốn hút của điệu nhạc, và đó là sự thành công của âm nhạc Âu Mỹ khi đi vào lòng người, điều khiển được con người, và được con người nhớ đến dù từ bất kỳ khoảng cách địa dư nào. Vì vậy nữ sinh viên nhạc viện Việt Nam cần ưu tiên trau giồi tay nghề sử dụng nhạc cụ, có sở thích và cảm thụ nhạc trẻ Âu Mỹ, tiến tới có khả năng sáng tác nhạc trẻ trung tương tự, còn ca từ thì không cần trau chuốt trước mà chỉ cần có ca từ sau khi hoàn tất một sáng tác nhạc khúc chất lượng cao, đặc biệt sáng tác khúc nhạc có tiết tấu tiết điệu phù hợp với từ đa âm để dễ thêm lời ca tiếng Anh hoặc đơn giản giúp khán giả nước ngoài có thể nhẩm ca theo nhạc mà không theo lời. Ca từ tất nhiên có thể bằng tiếng Việt trên cơ sở sao cho đồng thời tương thích với từ đa âm, nhưng tuyệt đối tránh kiểu như hiện nay có những ca khúc Việt chêm vào vài chữ tiếng Anh hoặc ngắn ngủn, hoặc nhàm chán như yêu, em yêu, và đa số là trái tim tan vỡ.

5) Về Cách Sử Dụng Nhạc Cụ

Đa số nhạc sĩ Việt Nam có chiều cao dưới 160cm, vóc dáng sống lâu (tức gầy ốm) và do người Việt không có thận mạnh khỏe nên đứng lâu không được, ra tới sân bay chờ đón người thân thì phải kiếm chỗ ngồi trước, còn dự tiệc đứng buffet thì cũng nhanh chân bưng dĩa đã lấy đầy thức ăn chiếm cho được một ghế ngồi, khi học sử dụng nhạc cụ luôn ngồi trên ghế dù nhạc cụ đó là sáo hay đàn guitar. Đây là lý do dây đeo đàn bị thu ngắn, thân đàn che trước ngực, còn cánh tay bấm phím đàn và cánh tay gảy đàn đều co lại riết thành thói quen tư thế rất xấu, khiến không một nhạc sĩ Việt Nam nào khi phải đứng đàn có được tư thế đứng hấp dẫn. Trong khi đó, nhạc sĩ guitar nước ngoài dù nam hay nữ khi gảy đàn tay duỗi thẳng do dây đeo đàn không bị thu ngắn mà mở dài ra để cả tay bấm phím đàn cũng có thể duỗi thẳng, khiến thân đàn luôn ở vị trí che chắn vùng hạ bộ của nhạc sĩ chơi đàn, trông rất khỏe mạnh, chủ động, trẻ trung, nhiều lúc biểu diển như vật lộn với cây đàn từ dìm đầu cần đàn xuống đất đến ngóc cần đàn dậy hất lên trời.

 Music 3Music 4

Vì vậy, khi bước chân vào nhạc viện, trừ phi khi chọn học các loại đàn buộc phải ngồi như harp, cello, piano hay viola, nhất thiết sinh viên phải luyện đứng lâu nhiều giờ và với cách đeo dây đàn đúng kiểu chuyên nghiệp Âu Mỹ để chuẩn bị cho tương lai trở thành celebrity đẳng cấp Mỹ Âu.

6) Xuất Quân Khuấy Động Làn Sóng Việt

Sau khi đã nhuần nhuyễn và nhất trí 5 điều nêu trên, các nữ sinh nhạc viện có tham vọng trở thành celebrity đối với âm nhạc thế giới, có thể lựa chọn và hình thành ban nhạc hay nhóm nhạc từ năm thứ nhất với 6 hoặc 8 hoặc 12 người. Khi ngay từ khi chưa tốt nghiệp đã thành danh như một ban nhạc có khả năng chính về hòa tấu nhạc cổ điển cùng nhạc thời thượng của Âu Mỹ hay của chính mình, có sức khỏe đứng năng động nhiều giờ liền trên sàn diễn, có tài sáng tác nhạc khúc sống động trẻ trung (có thể sáng tác phụ thêm vài ca khúc), có trang bị nhạc cụ tân kỳ, ban nhạc có thể tìm đến tác giả bài viết này để được tư vấn về sách lược phối hợp lấn sân thị trường biểu diễn ở nước ngoài, và được cung cấp tên tiếng Anh độc đáo cho ban nhạc mà ban nhạc phải tiến hành ngay việc đăng ký tác quyền tên tiếng Anh ấy tại cơ quan chức năng. Quy trình tư vấn trên hoàn toàn miễn phí với điều kiện cả ban nhạc phải giao kết không chia rẽ, mất đoàn kết, đố kỵ, ghen tuông, khiến tan rã trước thời hạn tối thiểu 5 năm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

Người Sài Gòn Chính Hiệu

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trên đời không bao giờ thực sự tồn tại cái gọi là văn học hiện thực phê phán, vì văn học thuộc loại fiction tức thuần túy dựa trên trí tưởng tượng và hư cấu. Điện ảnh là một hình thái khác của văn học nên tất nhiên cũng toàn là sản phẩm hoàn toàn xạo của trí tưởng và hư cấu, mặc cho tác phẩm điện ảnh ấy có thể về một vị vua Anh nói cà lăm thời thế chiến, hoặc về Tần Thủy Hoàng hay Steve Jobs. Để biết một dân tộc thèm khát thèm thuồng thèm muốn điều gì, hãy xem phim ảnh dân tộc ấy làm. Xem phim Mỹ như Siêu Nhân, Người Dơi, Người Nhện, hay ngay cả Thần Thor, v.v., người ta thấy một sự giả trá rằng dường như tất cả các vị thần và những người kiệt xuất từ thiên hà khác đến địa cầu đều phải đáp xuống Mỹ, làm công dân Mỹ, từ đó suy ra ắt một bộ phận rất đông dân tộc Mỹ thèm khát cái họ chưa bao giờ có được: sức mạnh hùng anh ngự trị toàn cầu và được nhân loại kính trọng. Xem phim Việt người ta có thể thấy một sự giả trá rằng có sự ưa chuộng cái môn đăng hộ đối, cái biệt thự, cái xe hơi, cái ăn chơi trác táng, thậm chí cái cởi áo cởi quần, từ đó suy ra ắt một bộ phận rất nhỏ dân Việt thèm được vươn cao lên tận giường ngủ của những người mà họ tưởng thế mới là kiểu Âu Mỹ xịn.

Là dân Sài Gòn chính hiệu, tôi có thể khẳng định ngay rằng tại Sài Gòn đã không hề có cái gọi là “môn đăng hộ đối” trong thực tế đời sống, và rằng chính người nghèo Sài Gòn là thước đo đạo đức đạo lý đạo hạnh đạo nghĩa đầy tự hào và được sự tôn trọng của toàn xã hội dù xã hội ấy trắng hay đen.

Thủa nhỏ, có lần tôi đã đứng trong sân trước nhà để xem đám cưới ở nhà bên cạnh là căn nhà lụp xụp số 16/72/14 đường Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3. Gia đình chú rể Phạm George (Việt kiều Pháp) vầy đoàn đông đúc sang trọng cực kỳ đến rước cô dâu Nguyễn Thị Hòa. Cô Hòa là một phụ nữ người Bắc di cư, gầy gò, ốm yếu, thấp bé, và miệng Cô bị cái mà thiên hạ thường gọi là “hô”. Cô sống cùng anh chị mà tôi gọi là Ông Hai và Bà Hai trong căn nhà thấp lè tè , cũ kỹ, mái lợp ngói, sát bên cạnh nhà Ba Má tôi ấy. Sau giải phóng vài năm, Cô cùng chồng và hai con trai sang Pháp định cư. Cái mà tất cả các gia đình giàu có ở Sài Gòn kiếm tìm tất nhiên không bao giờ là tiền bạc mà là một báu vật ngời sáng chói lòa cho xứng đáng với họ: đứa con dâu đức hạnh của một gia đình đức hạnh. Vậy, cái gọi là “môn đăng hộ đối” tức nhà giàu phải lấy nhà giàu chỉ là sự thoát thai từ trí tưởng tượng của những kẻ chưa từng lớn lên trong chiếc nôi gia đình đức hạnh.

Chưa kể, khi Ba tôi lấy xong tú tài Pháp lên Sài Gòn làm “thầy ký” ở công ty Pháp Moitessieur, Ông Nội tôi là một nhà nho dạy học đã chọn một cô gái quê nhà nghèo chỉ học xong lớp 3 hay 4 tiểu học để xin phép cha mẹ cô gái ấy chấp nhận cho Ba tôi đến hỏi cưới cô gái ấy, và chúng tôi được sinh ra, được dưỡng nuôi, giáo dục bởi đấng sinh thành ấy, chứ không phải bởi một phụ nữ Pháp hoặc nói tiếng Tây như gió ở Sài Thành hoa lệ. Cái mà tất cả các gia đình có danh giá ở Sài Gòn kiếm tìm tất nhiên không bao giờ là tiền bạc mà là một báu vật ngời sáng chói lòa cho xứng đáng với họ: đứa con dâu đức hạnh của một gia đình đức hạnh. Vậy, cái gọi là “môn đăng hộ đối” tức nhà giàu phải lấy nhà giàu chỉ là sự thoát thai từ trí tưởng tượng của những kẻ chưa từng lớn lên trong chiếc nôi gia đình đức hạnh.

Rồi đến khi tôi bước chân vào trung học, dù bản thân bình dân, không giàu có như các bạn cùng lớp: tôi đi bộ đến trường trong khi họ đi xe loại thời thượng thủa ấy như Cady, PC, hay tệ lắm cũng là Velo Solex, hoặc do sĩ quan cận vệ đưa đi học bằng xe Jeep, tôi luôn là người duy nhất nhận được những lá thư tỏ tình của các nữ sinh giàu có thuộc hàng “hoa khôi” con cưng của những gia đình quan chức thân quen Mỹ, dù tôi đang học lớp 8 hay lớp 12, chỉ cần một điều kiện tiên quyết: phải học giỏi và có tư cách chững chạc, không nhí nhố, trẻ con.

Người nghèo ở Sài Gòn là những người có những nghề nghiệp đầy danh dự tự hào nhưng những nghề ấy không đem lại thu nhập cao. Chính vì tự hào với nghề cha truyền con nối mà một bà bán xôi đã chọn những hạt nếp thượng hạng, bà bán cơm tấm đã chọn những hạt tấm của gạo thượng hạng, bà bán cháo lòng đã chọn những phủ tạng heo tươi sống rửa sạch bằng khối lượng nước máy khổng lồ, v.v. và v.v., tất cả đã hình thành nên những món ăn bình dân đường phố cực kỳ thơm ngon, cực kỳ bổ dưỡng, cực kỳ vệ sinh, đem lại sự kính trọng của người tiêu dùng giàu hay không giàu đối với những người bán hàng rong không thể giàu đó. Nghèo cho sạch, rách cho thơm, chính là cung cách, phong thái của người nghèo Sài Gòn trong mưu sinh, trong thể hiện bản thân, và trong giáo huấn con cái. Người nghèo Sài Gòn trở thành thước đo thật chuẩn để phân biệt người giàu sang thế gia vọng tộc với bọn trọc phú, vì người giàu sang thế gia vọng tộc thật sự luôn kính trọng người đức hạnh buôn gánh bán bưng và sẵn sàng tìm dâu tìm rể nơi những gia đình nghèo nhưng đức hạnh đó, vì rằng đối với họ chính đức hạnh của dâu và rể mới đảm bảo cho sự tồn tại hưng thịnh của cái “thế gia vọng tộc” của họ.

Cái cộng nghiệp của Nhà Phật là lời giải thích tuyệt đối đúng cho sự thay đổi toàn xã hội ở Sài Gòn: sự kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, đã đi kèm với cùng lúc 3 vấn nạn: (a) nhiều người nghèo Sài Gòn được người “thế gia vọng tộc” kết thông gia ngay để cùng nhau vượt biển, (b) nhiều người nghèo Sài Gòn rời bỏ Sài Gòn về miền quê, (c) nhiều người nghèo Sài Gòn không thể tiếp tục làm những nghề cha truyền con nối đầy tự hào như trước do những quy định khó khăn và nhất là do thiếu nguồn nguyên liệu cao cấp từ sự cấm chợ ngăn sông. Lớp người nghèo mới bắt đầu xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác, gồm bốn loại: (a) những người dân “chạy giặc” đổ dồn về từ các nơi khác vào thời khắc cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa và mất hết tài sản trên đường “chạy giặc”, (b) những công chức không thể tiếp tục có việc làm dưới chế độ mới, (c) những người giàu có bị liệt vào hạng tư sản mại bản nhất thiết phải dời đi xây dựng kinh tế mới, và (d) những người giàu có không thuộc hạng tư sản mại bản nhưng sợ hãi không dám chường mặt ra nhận tiền do Ủy Ban Quân Quản hoàn trả từ kho tàng các ngân hàng Việt Nam Cộng Hòa. Để tồn tại, những người nghèo mới này phải ra tay tàn diệt những người nghèo cũ: họ làm những việc như bán xôi, bán cơm tấm, bán cháo lòng, thậm chí bán nem “Lai Vung”, v.v. nhưng bán với giá rẻ hơn vì nguyên liệu kém hơn và vì không có tay nghề cha truyền con nối. Hậu quả là người nghèo cũ không thể sống được, phải bỏ nghề, tha phương cầu thực, kiếm kế sinh nhai mới, còn người nghèo mới gây ra sự chụp giựt hỗn loạn nhất là trong “thị trường ẩm thực” khiến xảy ra bao vụ ngộ độc thực phẩm, gây ra vấn nạn an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như sự biến mất của nem “Lai Vung” và những thứ tương tự. Dần dà người nghèo mới này mang một nội hàm mới về ý nghĩa: đó là những người nghèo tay nghề, nghèo đạo đức, nghèo đạo hạnh, nhưng không nghèo tiền, mà tin tức nhan nhản trên báo chí cung cấp thông tin về những đoàn xe tải thu gom thịt gia súc chết bệnh, thiu thối, để chế biến thơm ngon tung ra thị trường.

Sống chết mặc bây không bao giờ là thái độ sống của người nghèo Sài Gòn sang cả, mà là của người bần cùng, vì chỉ có bần cùng mới sinh đạo tặc chứ nghèo chỉ có thể sinh ra cung cách nghèo cho sạch, rách cho thơm.

Sống chết mặc bây không là cung cách sống của người nghèo Sài Gòn từng đu bám theo xe đò bán từng xâu nem Lai Vung danh tiếng thơm ngon bổ dưỡng vệ sinh tuyệt đối, mà là của những kẻ lưu manh bán nem Lai Vung tai tiếng đầy giòi bọ làm mất luôn sản phẩm nem Lai Vung.

Là người nghèo Sài Gòn trong một gia đình nghèo Sài Gòn, tôi chỉ còn biết than rằng: giá như còn đó những người nghèo xưa để xã hội vẫn còn thước đo đạo lý đạo nghĩa đạo đức đạo hạnh, và để người giàu có chiếc gương soi rõ nét nhất chân thật nhất về mức độ đạo lý đạo nghĩa đạo đức đạo hạnh của chính mình, từ đó sự làm giàu của bản thân được tiếp tục tiến lên mà không gây hại cho xã hội.

Giá như còn đó những người nghèo xưa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

TH True Milk

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi vẫn nhớ như in cảm giác ngây ngất lạ kỳ khi đến thăm trang trại TH True Milk ở Nghệ An cách nay vài năm.

Ngây ngất vì cảnh đẹp Tây Phương không thể tưởng tượng lại có thể tồn tại ở Việt Nam: xanh rì cây cỏ đến tận chân trời theo những luống khổng lồ đa dạng cây trồng dùng làm lương thực dinh dưỡng được quy hoạch khéo léo bậc thầy tài hoa để tạo nên bức tranh 5D – tức 3D cộng với sự di động từ gió thoảng và sông chảy suối reo – tuyệt hảo của thiên nhiên. Cảnh đẹp thiên nhên do nhân tạo ấy không bị bất kỳ điểm chen phá nát của công trình nhà ở nào như luôn thấy ở khắp đất nước này. Dường như chỉ cần đến TH True Milk là quá đủ để cảm nhận được thế nào là cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú ở những xứ miền ôn đới Âu Tây.

Lạ kỳ vì tôi dị ứng với sự nóng nực. Khi tôi còn thơ ấu, Ba tôi luôn phải thức khuya để ngồi quạt cho tôi ngủ yên giấc. Còn khi tôi gánh vác việc nuôi cả đại gia đình, em gái tôi lẳng lặng ngồi quạt cho tôi ngủ yên giấc để có sức lên đường đi dạy học suốt trưa-chiều-tối. Còn khi lập gia đình ra ở riêng nhiều chục năm nay, nhà tôi suốt ngày chưa bao giờ để máy lạnh trên 160C, và hóa đơn tiền điện cứ như thể của nhà đại gia do tiêu thụ quá nhiều điện, cũng đặc biệt vì ngoài việc mở máy lạnh cả ngày, tôi còn chỉ cho nhà tôi xài bếp điện, lò điện, chứ không cho phép xài bếp gas vốn là thứ tôi cho rằng chỉ dành cho ai muốn hà tiện chứ không phải là thứ sang trọng vệ sinh an toàn gì sất. Ấy vậy mà đứng giữa khu trang trại TH True Milk cực kỳ nóng nực, cực kỳ ngột ngạt, cực kỳ khô hạn, tôi lại thấy mình vẫn có thể cảm nhận được sự ngất ngây trước cảnh quang thiên nhiên; trước lao động công nghiệp hiện đại tất bật của những cặp xe thu hoạch-xay nhuyễn và rót vào xe tải thùng hứng chạy sát bên; trước bãi phơi ủ bao la như núi những thứ thực phẩm vừa được thu hoạch ấy; v.v. tức tất cả những gì tôi khó thể miêu tả bằng tiếng Việt do không có đủ từ ngữ khác nhau cho những cảm xúc có cường độ tinh tế khác nhau như marveled.

Khi dùng bữa trưa, nhìn vị nữ chủ nhân của TH True Milk lâu lâu nhón lấy một tí xôi đậu, tôi cảm thấy như mình đang chiêm ngưỡng một điều kỳ bí với dấu hỏi to lớn: người phụ nữ nhỏ bé đó, người phụ nữ ăn uống khắc khổ có vẻ như kiêng khem đó, người phụ nữ không thuộc giới quyền lực Nhà Nước đó, lại chính là người đã dám cả gan thu gom vốn đầu tư tiên phong vào lĩnh vực trang trại bò sữa hiện đại mà tất cả các đại gia trong ngành dù có bầu sữa ngân sách căng cứng của Nhà Nước chu cấp nửa thế kỷ nay vẫn chưa ai có tầm nhìn và có gan nghĩ ra ngoài chiếc hộp như thế, đã vậy lại dám đâm đầu vào xứ miền khô hạn nghiệt ngã như Nghệ An xây dựng trang trại phải cần có hệ thống quạt mát cho bò!

Tôi là người khó tính. Vì khó tính, nhiều chục năm nay tôi không cho gia đình được tắp vào mua xăng của cây xăng nào không thuộc hãng Petrolimex sau khi ở Thành phố Hồ Chí Minh mấy chục năm trước phát hiện một hãng tầm cớ khác pha xăng chất lượng thấp hơn, lừa bịp người tiêu dùng.

Tôi là người khó tính. Vì khó tính, nhiều chục năm nay tôi chỉ mua quần áo của An Phước và cấm gia đình được mua quần áo của hãng xấu xa cực kỳ lớn kia của Nhà Nước, chẳng qua hãng xấu xa đó sau khi được Pierre Cardin cho độc quyền sản xuất nhượng quyền ở Việt Nam đã sử dụng thương hiệu và nguyên liệu của Pierre Cardin để sản xuất hàng nhái Pierre Cardin bán rẻ hơn, hốt bạc thu lợi bất chính. Khi Pierre Cardin phát hiện đã lịch sự cắt bỏ hợp đồng, lịch sự chuyển giao cho An Phước mà không túm cổ công ty xấu xa kia ra tòa để tránh cho Nhà Nước Việt Nam bị bẽ mặt. Tất nhiên, do giá An Phước cao, tôi buộc phải nói với học trò là tôi thích mặc áo sơ mi của Dệt Nha Trang để các em không phải tốn tiền nhiều mỗi khi Tết đến.

Tôi là người khó tính. Nhiều năm nay gia đình tôi chỉ dùng sản phẩm của TH True Milk, sau khi ở Thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm trước phát hiện một hãng nọ của Nhà Nước tầm cỡ quốc gia đã sản xuất sữa tươi bằng cách đem sữa bột pha với nước, tức công đoạn hoàn nguyên đầy gian xảo, lưu manh mạt hạng, vì (a) không ai trên thế giới làm cái quy trình quái gỡ đầy tốn kém gây tai hại cho hệ sinh thái cho nhân loại như thế, (b) sữa bột không thể còn đầy đủ chất dinh dưỡng tự nhiên như sữa tươi, (c) khi sữa bột được pha với nước để mang mặt nạ sữa tươi, không ai có thể biết sữa bột ấy có đã quá hạn sữ dụng hay chưa, (d) không ai trên thế gian lại có thể cho rằng sự lừa bịp khách hàng là đạo đức kinh doanh, và (e) không ai trên thế gian này lại có thể ngờ rằng sự lừa bịp khách hàng lại có thể được thực hiện bỡi một doanh nghiệp con cưng của Nhà nước. Sự khó tính của tôi không phải là tác nhân duy nhất, độc đoán. Trong khi tôi luôn khó tính thiên về…vĩ mô, vợ tôi lại rất quan tâm đến tính vi mô của vấn đề: dinh dưỡng tốt nhưng phải tiết kiệm. Sau khi bị một vố về chất lượng sản phẩm của cái hãng mà tôi khinh miệt, vợ tôi phải thừa nhận rằng sẽ từ nay về sau chỉ mua của TH True Milk bất kể phải chi nhiều tiền hơn, vừa để gia đình an toàn, vừa để giảm huyết áp do không phải bực mình đem bỏ thùng rác mấy hộp sữa mà chồng mình không cho đem đi khiếu nại rùm beng để giữ danh tiếng cho Nhà nước.

Hôm nay viết về TH True Milk, tôi như viết về sự thật mà nhiều người ắt cũng đã có thể nhận ra, do sự thật ấy đã thật sự do vị nữ chủ của TH True Milk đã đạt được, mà không cần sự tung hê mang tính phe nhóm nào cả. Khi nói về sự thành công của vị nữ chủ TH True Milk, người ta có thể khó quên cung cách cương nghị của người ấy cả trong quyết định đầu tư, quản lý đầu tư, quản lý rủi ro đầu tư, quản lý truyền thông, của người ấy.

Khi dám vươn lên hàng ngũ đại gia từ giới tư nhân lấn sân vào ngành chiến lược quốc gia mà quốc gia đã đổ biết bao vốn liếng vào vẫn không xây dựng được một thương hiệu sữa đúng nghĩa thực chất, nữ chủ TH True Milk trở thành đích ngắm bắn vô tội vạ của giới truyền thông về những điều chỉ có trong báo lá cải mạt hạng như vốn liếng chạy chọt từ thế lực chống lưng nào, như vì sao tổng vốn chia lên đầu đàn bò hóa ra mỗi con bò có giá khủng như thế ắt có tham nhũng chăng, v.v., thậm chí khi vị nữ chủ nhân TH True Milk phát biểu một sự thật 1000% là trang trại TH True Milk lớn nhất Việt Nam thì vị Chủ tịch Hiệp Hội Sữa Việt Nam đã trả lời dè bỉu với báo chí rằng TH True Milk chỉ như con tem dán trên mông bò. Mông Bò ư? Ông chủ tịch không phải có uẩn ức dục tình do dục tính từ ấu thơ đến nay vẫn chưa được thỏa mãn nên mồm miệng cứ phải nói về mông về vú ngay cả khi nói về vấn đề có liên quan đến một phụ nữ (theo phân tâm học của Signund Freud) đó sao? Ông chủ tịch không từng học hành đến nơi đến chốn nên mới ngu hơn ở chỗ không hiểu rằng chính ông đang ví von Việt Nam – hay ám chỉ toàn dân Việt Nam nào có uống sữa – là cái mông con bò ư? Ông chủ tịch không hiểu rằng khi nói trang trại TH True Milk đứng đầu Việt Nam, nữ chủ nhân của nó chỉ nói lên sự thật rằng trên bình diện quy mô trang thiết bị hiện đại nhất thế giới, dây chuyền khép kín từ nhập khẩu bò giống, lực lượng nhân sự kỹ thuật cao được thuê từ Israel, trồng trọt các loại cây đảm bảo nguồn cung ứng tập trung đồng nhất và đầy đủ chất dinh dưỡng nhất cho bò sữa, sản xuất thực phẩm cho bò sữa, chu kỳ vắt sữa hiện đại cho đàn bò có gắn chip điện tử theo dõi sản lượng, cho đến giám định phẩm chất và sản xuất sản phẩm sữa tươi cùng các sản phẩm từ sữa của chính trang trại TH True Milk, thì TH True Milk đúng là hàng đầu Việt Nam. Ông chủ tịch vội vàng trấn áp, hạ ngay phẩm giá của TH True Milk, ví nó nhỏ như con tem, vừa để giữ thể diện cho đại gia sữa nọ của nhà nước, vừa để khẳng định quyền lực duy nhất của ông tức Nhà Nước trong việc xếp hạng doanh nghiệp lợi ích nhóm.

Khi dám vươn lên hàng ngũ đại gia từ giới tư nhân lấn sân vào ngành chiến lược quốc gia mà quốc gia đã đổ biết bao vốn liếng vào vẫn không xây dựng được một thương hiệu sữa đúng nghĩa thực chất, nữ chủ TH True Milk đã sử dụng chiêu thức chỉ có nơi đại gia tư bản nước ngoài: không đôi co cải lý với Ông Chủ Tịch về chiếc ghế “hàng đầu Việt Nam” mà tiếp tục lặng lẽ vươn lên đoạt các giải thưởng danh giá tầm cỡ châu lục đầy vinh diệu, bỏ mặc cái “hàng đầu” ấy cho Hiệp Hội muốn ban phát cho ai thì cứ phát ban cho có việc để làm, tương xứng với tiền lương cao ngất nhận được của Nhà nước.

Khi vươn lên, người ta cần có cùng lúc cái tâm, cái trí, cái chí, và cái đức. Ngày nay, chỉ với một cái chí hoang đường nào đó thôi là người ta đã dám lao vào cái gọi là khởi nghiệp mà chẳng ai hiểu thấu ý nghĩa của nó, rồi vui vẻ rung đùi ngâm câu hữu chí cánh thành, có chí thì nên. Có cái trí để khi lựa chọn lĩnh vực là do bản thân có nhận thức đầy đủ và hoàn hảo về thị trường, về lĩnh vực, về bản thân, chứ không chạy theo đuôi ai. Có cái chí để có thể thực hiện những gì mà cái trí đã nghiền ngẫm phân tích và tổng kết. Có cái đức để luôn có đường ray vững chắc cho tiến trình thực hiện cái chí. Và có cái tâm để mọi thứ đều dưới quyền giám quản giám sát một vị thống soái. Ngay cả khi có cả bốn điều về tâm, trí, chí, đức, người ta vẫn còn khó thể thành công vì thiếu thời vận, thiếu sự may mắn, thiếu đội ngũ người tài dưới trướng, và thậm chí do bị vướng cái họa của “cộng nghiệp” theo thuyết Nhà Phật, huống hồ chỉ thấy thiên hạ làm được là cứ thế làm theo thì thành công ắt là do hồng đức hồng ân của tiên tổ.

Các bạn nam nữ hãy nghiên cứu về vị nữ chủ nhân TH True Milk nếu muốn có một case study thật sự nghiêm túc cho sự vươn lên của mình.

Một nghị sĩ chức sắc cao cấp của Hạ Viện Thái Lan hỏi ý kiến tôi về đối tác đầu tư cho ngành sữa tại Việt Nam, và tôi đã cho ra vài nhận xét nhưng không nói gì về TH True Milk vì tôi tạo dựng uy tín với nước ngoài chỉ trên cơ sở duy nhất: đã tư vấn là để giúp thực hiện được chứ không chỉ để nói chơi. Trước thực tế các tỷ phú đô-la Thái Lan muốn thâm nhập lấn quyền ngành sữa Việt Nam, và trước thực tế nữ chủ TH True Milk là một thực thể quyền năng đầy trí tuệ và cá tính, hai thực tế này sẽ không bao giờ có chỗ đứng chung.

Một giáo sư Mỹ nêu hai cái tên đại gia một thuộc ngành cà phê và một thuộc ngành sữa, hỏi ý kiến tôi để bổ sung cập nhật cho các case study của ông về thị trường kinh doanh Việt Nam. Tôi đã với tính thật thà thẳng thắn vốn luôn buộc phải có nơi bất kỳ ai thuộc giới hàn lâm ở các siêu cường văn hóa Âu Mỹ – mà tôi luôn cố học hỏi trau giồi để may ra có ngày được gia nhập – tôi khuyên ông hãy vất sọt rác hai cái tên nhàm chán đó đi và hãy dành công sức cho TH True Milk mà rất tiếc tôi chưa thể cung cấp thêm một cái tên nào khác thứ hai vì tôi vẫn chưa thấy có doanh nghiệp nào ở Việt Nam có thể nên được đưa vào case study cho các đại học quản trị kinh doanh thế giới cả.

Nữ chủ TH True Milk ắt không nhớ gì về vị khách tuy ăn trưa chung bàn ngày ấy ở Nghệ An nhưng không bắt chuyện gì với bà dù chỉ một câu xã giao mà cũng chẳng xin trao đổi danh thiếp với bà như bao kẻ thu thập danh thiếp thường làm. Nhưng mỗi ngày mỗi khi vợ tôi đưa tôi một hộp sữa TH True Milk là tôi lại nhớ đến bà trong buổi trưa hè nóng bức ấy ở Nghệ An.

Chính TH True Milk đã đưa đến Việt Nam một thực tế kinh doanh nghiêm túc:

– Một sản phẩm sữa tươi có chất lượng cao nhất phải đảm bảo đồng nhất và đồng bộ đến từ một trang trại cụ thể, từ một đàn bò cụ thể, có nguồn cung cấp lương thực cụ thể đúng quy chuẩn cho sữa của bò, có sự chăm sóc bài bản cho đàn bò sữa từ nhiệt độ môi trường chuồng trại đến nhạc nền phục vụ cho sức khỏe tinh thần của đàn bò sữa, có hệ thống thu sữa và sữa thu được tự động hóa trên cơ sỡ dữ liệu từ chip điện tử của mỗi con bò, và tất nhiên không thể không kể đến hệ thống hiện đại trong lưu trữ, bảo quản, sản xuất và phân phối;

– Sữa tươi không thể được đánh đồng có cùng chất lượng mặc nhiên dưới tên của một thương hiệu chung nếu như do thu mua từ mọi nông hộ “trên toàn quốc”, từ sữa của những con bò không rõ có được bảo vệ sức khỏe nghiêm ngặt, được nuôi bằng thực phẩm tự nhiên hay phản tự nhiên nào – như đã từng có phóng sự của VTV về những con bò ăn rác thải sinh hoạt – và có đựng trong những chiếc xô thiếc bên vệ đường chờ xe thu mua đến nhận hoặc đổ bỏ trắng xóa cả cánh đồng do đã ôi thiu khi xe thu mua không đến do giá nguyên liệu hạ – như đã từng có phóng sự của HTV về sự thật như thế; và

– Sản phẩm sữa tươi phải được gắn liền với một trang trại cụ thể; không thể nào có việc sữa thu mua trên phạm vi toàn quốc đưa về một nhà máy để chế biến rồi mang danh sản phẩm sữa tươi của một tập đoàn, và tên nhà máy sản xuất thuộc tập đoàn tất nhiên chẳng tự động mang ý nghĩa đó là tên của trang trại.

Rất khó để có được một khách hàng trung thành, nhất là đối với một sản phẩm không lấy giá hạ làm vũ khí cạnh tranh, cũng như nhất là khi vị khách hàng đó là người vừa không giàu có vừa cực kỳ khó tính về CSR – trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng mà đạo đức kinh doanh phải là nền tảng tối thượng cho mọi sự trọng vọng.

Tôi là khách hàng trung thành toàn tâm toàn ý và tâm phục khẩu phục của TH True Milk.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ajinomoto

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi đã viết nhiều về quảng cáo bột giặt, rằng càng nhiều bọt càng lạc hậu qua thực tế bột giặt dùng cho máy giặt luôn có rất ít bọt vì nếu nhiều bọt sẽ văng ra bên trong thành máy giặt là rĩ sét hay chập điện phá hỏng máy giặt chứng tỏ bọt chẳng dính dáng gì đến công năng tẩy sạch của bột giặt cũng như bột giặt “siêu bọt” chỉ là bột giặt của nhà sản xuất thấp kém vì chất tạo bọt DBSA chỉ làm gia tăng mức độ ô nhiểm tàn phá môi sinh của các dòng sông, rằng chỉ có nội dung – dù không tưởng – về việc nước thải từ giặt giũ với bột giặt ấy đóng góp vào việc thanh lọc dòng sông mới xứng đáng tầm cỡ cho một quảng cáo lấn sân trên truyền hình.

Báo chí đã nói rất nhiều về ô nhiễm môi trường và những vụ án làm ô nhiễm môi sinh; song, không bất kỳ một sản phẩm tiêu dùng gia dụng nào quảng cáo trên báo chí mang nội dung tác dụng bảo vệ môi trường của sản phẩm ấy cả.

Ấy vậy mà mới đây quảng cáo của Ajinomoto trên tivi có nội dung nói về nước qua sản xuất đã được xử lý để trở thành trong lành, bảo vệ môi trường khi ra hòa với những giòng sông.

Quảng cáo của Ajinomoto là quảng cáo đầu tiên nâng niu giòng sông Việt.

Quảng cáo của Ajinomoto là quảng cáo đầu tiên nâng niu môi trường sống Việt.

Quảng cáo của Ajinomoto hoàn toàn thích hợp với CSR – trách nhiệm doanh nghiệp đối với cộng đồng.

Quảng cáo của Ajinomoto nâng thương hiệu Ajinomoto lên hàng ngũ đại gia đầu tiên biết thế nào là tầm quan trọng cho sự sinh tồn của hậu thế nước sở tại Việt Nam.

Quảng cáo của Ajinomoto tạo tiền lệ đột phá cho quảng cáo, trở thành công ty tiên phong trực tiếp thông qua công cụ gián tiếp để nêu bật sự thành công của doanh nghiệp trong đầu tư lớn cho vấn đề lớn mang thuộc tính văn minh cao của bảo vệ môi trường.

Quảng cáo của Ajinomoto chứng minh sự thành công thực sự trong kinh doanh và thế lực tài chính hùng mạnh thực sự của doanh nghiệp.

Quảng cáo của Ajinomoto cho thấy đất nước Việt Nam này đã thực sự được tôn trọng.

Xin cảm ơn Ajinomoto vì tất cả những điều tích cực trên.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 12 Ý Kiến Tư Vấn Dành Cho Giới Quảng Cáo

20 Yếu Điểm Tai Hại Của Balanced Scorecard

Hoàng Hữu Phước, MIB

Cách nay một tuần tôi tình cờ đọc thấy một mục quảng cáo về buổi hội thảo về chủ đề Balanced Scorecard do các thuyết trình viên da trắng thuộc “công ty” Balanced ScoreCard đi rao bán Balanced Scorecard thực hiện, với giá tham dự vài triệu đồng/người, và như để phân bua vì sao có giá “đại hạ giá” chỉ có vài triệu đồng như thế, quảng cáo còn cho biết những buổi thuyết trình như thế ở Singapore và các nước khác thì giá tiền tham dự phải lên đến cả ngàn đô-la Mỹ/người. Tôi chợt nhớ đến bài viết tôi đã đăng trên Emotino ngày 31-8-2010 vạch ra 20 yếu điểm tai hại của cái gọi là Balance Scorecard ấy, nay xin lập lại dưới đây để các độc giả có thêm thông tin về điều tuy cũ và ế đang được gia cố hào quang chào hàng trở lại tại Việt Nam.

20 Yếu Điểm Tai Hại Của Balanced Scorecard

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vào năm 2002 khi tham dự một hội nghị về Nhân Sự Human Resources khu vực Châu Á tại Hong Kong, tôi nghe một đồng nghiệp Mỹ báo cáo về Balanced Scorecard (gọi tắt là BSC hay nghĩa tiếng Việt hiện đang được tạm dùng là Bảng Điểm Cân Bằng), và qua năm 2003 khi tham dự một hội nghị quốc tế về Luật tại Rex Hotel, Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lại thấy một diễn giả Singapore nói về Balanced Scorecard, tạo sự quan tâm vừa phải nơi một số người Việt có mặt. Với kinh nghiệm thuần Việt kiểu Võ Nguyên Giáp – Giapist experience hay Giap-styled experienece – mà tôi luôn không những trải nghiệm cho chính bản thân trong bước đường sự nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau mà còn hay thuật lại với lòng kiêu hãnh cao hơn Non Thái (núi Thái Sơn của…Tàu) với bè bạn nước ngoài về việc giáo viên Sử Ký tiểu học Võ Nguyên Giáp của Việt Nam đã đánh bại tất cả các danh tướng quý tộc Pháp cũng như vĩnh viễn chôn vùi tên tuổi các tướng lĩnh lừng danh xuất chúng xuất thân xuất phát xuất hiện từ các học viện quân sự danh giá nhất thế giới như West Point của Hoa Kỳ, tôi không bao giờ xem trọng những đồn thổi về học thuật nước ngoài, nên khi học lớp Đệ Lục (lớp 7) đã bài xích phương pháp Direct Speech dạy tiếng Anh của Mỹ (phương pháp này sau đó phá sản); lớp Đệ Ngũ (lớp 8) tuyên bố với Thầy Cô dạy tiếng Anh rằng nhà xuất bản McGraw Hill của Mỹ đã sai lầm khi cải biên English for Today điều chỉnh gia tăng quá nhiều trọng tâm cho “nói” (và thực tế là 4 năm sau đó sự điều chỉnh đó đã chôn vùi vĩnh viễn bộ sách dạy tiếng Anh duy nhất tuyệt diệu trên thế giới này); lớp Đệ Nhất (lớp 12) khẳng định với bạn học rằng kiểu thi trắc nghiệm không bao giờ phù hợp với sự phát triển trí hóa người Việt ở Việt Nam (đúng cho đến tận ngày nay với bằng chứng về sự thất bại nơi các học sinh “tốt nghiệp”); và lớp Thạc Sĩ xem MBO (Management by Objective) chỉ là một thứ ý tưởng thú vị chỉ có giá trị tham khảo đơn thuần (nay gần như chẳng mấy ai còn quan tâm đến MBO, thậm chí còn xem nó là thủ phạm gây ra các hành vi vi phạm đạo đức trong kinh doanh), phê phán BOP (Bottom of Pyramid) là kiểu vơ vét lấn sân đáng thương hại của đại gia tư bản, và khẳng định Chindia (Trung Quốc + Ấn Độ) là một gán ghép bạo hành không tưởng vì đã không màng đến bản chất thực tế ngàn năm (và thực tế đã chứng minh cái gọi là Chindia đã tự biến mất khỏi tháp ngà kinh tế một cách lặng lẽ đầy tủi nhục). Tương tự, Balanced Scorecard đối với tôi cũng chẳng khác gì một nghiên cứu, một đề xuất, một khởi xướng kiểu MBO mà ai muốn tham khảo thì tham khảo, muốn áp dụng thì cứ bỏ tiền tỷ ra mà áp dụng, chứ hoàn toàn không có giá trị như một chân lý áp đặt kiểu toán học “hai cộng hai là bốn” tức “áp dụng Balanced Scorecard là thành công”.

Hai mươi vấn nạn thường gặp nhất khi đưa vào áp dụng Balanced Scorecard là:

1- Các công cụ định lượng để đánh giá định tính rất nghèo nàn;

2- Thiếu các động thái thu thập và báo cáo dữ liệu hiệu quả;

3- Thiếu cơ chế nhận xét chính quy chuẩn mực;

4- Quá tập trung hướng nội sao cho đạt chuẩn mà bỏ mặc các hướng ngoại đối với nguy cơ đe dọa từ đối thủ cạnh tranh hay các cơ hội phát triển kinh doanh tức hai mặt quan trọng của phân tích SWOT;

5- Khi đưa Balanced Scorecard áp dụng vào doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sẽ phát sinh các bất tiện như

  1. a) Tốn rất nhiều thời gian và công sức (thường thì mất từ 2 đến 3 tháng để xong các khâu đầu tiên của quy trình Balanced Scorecard, và mất khoảng hơn 2 năm quy trình ấy mới vận hành đầy đủ, trong khi việc đào tạo công nhân vẫn phải được tiếp tục mãi, việc cập nhật vẫn phải được tiến hành mãi, việc đáp ứng các thử thách mới vẫn phải được tiếp diễn mãi, và lãnh đạo cao cấp buộc phải theo dõi mãi nhằm bảo đảm quy trình được tuân thủ chính xác);
  2. b) Buộc phải có hỗ trợ từ cấp cao nhất khiến quản l‎ý cấp cao khó tập trung vào công việc chuyên môn chức năng;
  3. c) Cần có nhiều nhân lực, tài lực, và ý chí để đương đầu với các thách thức, chẳng hạn toàn bộ công nhân phải được đào tạo tương thích, rất nhiều nhân viên phải tập trung tạo các lượng chuẩn phục vụ định lượng, phải sắm phần mềm quản trị tương ứng (kể cả chi phí cao của bản quyền phần mềm, lắp đặt, thử nghiệm, mà riêng phần bảo trì thường ở mức 20% chi phí ban đầu);

6- Tỷ lệ thất bại lên đến 70% trong số các doanh nghiệp Âu Mỹ có áp dụng Balanced Scorecard (ngay cả cha đẻ của “cuộc cách mạng tái cấu trúc” là Mike Hammer cũng cho ra nhận xét rằng có rất ít cấp quản l‎ý và nhân viên cho rằng các công cụ dùng định lượng tác vụ và đo lường mục tiêu đang được sử dụng theo quy trình Balanced Scorecard tại công ty họ thực sự giúp công ty đạt được các mục tiêu kinh doanh);

7- Cấp cao nhất buộc phải giao quyền lực cho rất nhiều nhân viên;

8- Hàng năm phải chi nhiều tiền để tái gia hạn hiệu lực các chuẩn định lượng đánh giá định tính;

9- Tất cả những thành phần trong “các bên có liên quan” – như khách hàng chẳng hạn – đều phải được tham vấn trực tiếp để biết và đưa các mong muốn của họ vào các chuẩn định lượng đánh giá định tính của công ty;

10- Hoàn toàn không có công cụ trung gian để đánh giá một dự án Balanced Scorecard;

11- Balanced Scorecard không là sản phẩm của Thế Kỷ XXI nên không thể võ đoán cho rằng nó có thể giải quyết được các vấn nạn quản trị chưa xuất hiện trong Thế Kỷ này;

12- Mỗi phòng ban trong một doanh nghiệp đều có những công cụ tác nghiệp riêng, có khi để đáp ứng các yêu cầu luật định hay pháp định của các cơ quan chức năng Nhà Nước, trong khi Balanced Scorecard lại đề ra thêm các công cụ khác, dễ gây rối chức năng hoạt động các phòng ban này;

13- Những phạm vi như “sự hài lòng của khách hàng” khó thể dựa vào kết quả của một “công cụ định lượng” để cho ra một đánh giá đúng;

14- Sự đồng thuận của tất cả ban lãnh đạo, tập thể nhân viên và công nhân đối với dự án Balanced Scorecard của doanh nghiệp là rất lý tưởng – và do đó, không có thật;

15- Balance Scorecard bị vô hiệu hóa khi có các biến động lớn trên thị trường hay trong ngành nghề kinh doanh;

16- Balance Scorecard chỉ có thể thành công khi bản thân nó được tạo lập ở mức đơn giản nhất có thể được – mà như thế sẽ phát sinh nghi vấn liệu có nên đầu tư quá nhiều cho một dự án không thể thành công nếu môi trường kinh doanh đa dạng và phức tạp;

17- Dự án Balanced Scorecard nhất thiết phải được hiểu thấu cặn kẽ bởi tất cả mọi người – không trừ một ai – và bởi tất cả các phòng ban/bộ phận – không trừ một đơn vị nào, nên khó đạt yêu cầu;

18- Balanced Scorecard không phát huy tác dụng với các kế hoạch ngắn hạn, nên đòi hỏi trình độ và tầm nhìn của doanh nghiệp phải hướng đến dài hạn;

19- Không có các liên kết giữa các chuẩn đánh giá và kết quả, khiến thế mạnh của Balanced Scorecard trong hình thành hành vi đúng mực lại biến thành tử huyệt Gót Chân Achilles khi thường xuyên phát sinh nguy cơ tạo nên các hành động và hành vi không mong đợi, phá hỏng nền nếp doanh nghiệp; và trong khi tiêu tốn khối lượng khổng lồ công lao động và ngân sách của doanh nghiệp thì

20- Balanced Scorecard vẫn không có giá trị đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thông tin của cấp lãnh đạo.

Mike Hammer qua tác phẩm của ông mang tựa đề The Seven Deadly Sins of Performance Measurement (Bảy Tội Lỗi Chết Người Trong Đánh Giá Tác Nghiệp) đã cho ra năm nhận định đối với những thất bại của các dự án đánh giá định lượng các định tính của hiệu quả công việc hay tác nghiệp như (a) nguy cơ có những chuẩn đánh giá chỉ có lợi cho những ai “sáng tạo” ra các chuẩn ấy, (b) thiếu sự tham vấn của tất cả “các bên có liên quan” với doanh nghiệp, (c) không ai biết hành vi nào sẽ nảy sinh nơi một người được đánh giá nếu một chuẩn đánh giá được đưa ra áp dụng, (d) không có bất kỳ một “chuẩn” nào để “đánh giá” một vấn nạn nổi cộm trong doanh nghiệp, và (e) chẳng có toàn ban lãnh đạo nào dành 100% sức lực và thời gian để hỗ trợ và tham gia vào dự án Balanced Scorecard ngay tại chính doanh nghiệp của minh cả.

Đó là lý do vì sao mỗi khi nêu các “case study” nhằm khoe thành tích và minh chứng cho sự “thành công” của Balanced Scorecard, các công ty cung ứng giải pháp Balanced Scorecard (kể cả rất nhiều công ty mong muốn làm giàu với việc bán các phần mềm quản trị Balanced Scorecard) chỉ có thể nêu vài trường hợp của những công ty mà nếu không do phe Balanced Scorecard kể ra thì chẳng ai biết hóa ra có mấy cái thương hiệu lạ hoắc ấy trên thương trường quốc tế. Với tham vọng đánh bóng cho sản phẩm của mình, cha đẻ của Balanced Scorecard thậm chí còn khuyên chính phủ – cụ thể là chính phủ Việt Nam – nên áp dụng Balanced Scorecard vào quản lý Nhà Nước với một minh chứng rất hùng hồn về sự thành công của một quốc gia khác – cụ thể là một nước Châu Phi chưa thoát nghèo – cũng đủ cho thấy Balanced Scorecard BSC ngoài việc giống y như MBO ở chỗ phát sinh ra thêm khối lượng giấy tờ khổng lồ cho doanh nghiệp – và…chính phủ – áp dụng, sẽ còn giống y như MBO ở chỗ sẽ nhanh chóng bị loại thải như một lẽ đương nhiên.

Nói tóm lại, Balanced Scorecard chẳng khác gì chiếc Tivi 3D với nhiều phiền toái mà người ta mua có thể vì hiếu kỳ, vì hiếu thắng, vì hiếu thảo, vì hiếu khách, vì hiếu chiến, hay đơn giản chỉ vì hiếu sự cần một vật dụng trang trí cho phòng khách, dù biết rõ mười mươi là chẳng mấy chốc giá sẽ rớt và công nghệ mới hơn sẽ nhanh chóng xuất hiện. Ông Đoàn Đình Hoàng đã sử dụng tài tình câu thơ số 489 của Truyện Kiều vào bài viết của Ông trên Emotino về công nghệ 3G của điện thoại di động, nay tôi bắt chước đem câu ấy để kết cho bài viết này – cũng như các bài viết tương tự khác của tôi đối với các sản phẩm liên quan đến quản trị của thế giới Phương Tây – vậy:

Rằng: Hay thì thật là hay,

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

12 Ý Kiến Tư Vấn Dành Cho Giới Quảng Cáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

Quảng cáo ở Việt Nam thường có những nội dung “có vấn đề”. Tết 2015 có màn quảng cáo các em bé trai gái mặc áo dài ca hát ỏm lên rằng “…thoải mái nâng ly, chẳng lo bị nóng…” một cách vô giáo dục vì không quốc gia văn minh nào trên thế giới “dạy” con nít gào lên trấn an người lớn hãy yên tâm nhậu nhẹt cả! Tối nay lại có màn quảng cáo bột giặt với từ “siêu bọt” khiến tôi nhớ đến bài viết thứ 181 của tôi đăng ngày 03-10-2010 trên Emotino và nay xin lập lại như dưới đây để may ra trong các bạn có người sẽ giúp dạy cho các nhà quảng cáo trên tivi biết thế nào là phải học, phải học thêm, học thêm mãi theo tinh thần của Lenin vĩ đại.

12 Ý Kiến Tư Vấn Dành Cho Giới Quảng Cáo (http://www.emotino.com/bai-viet/18837/12-y-kien-tu-van-danh-cho-gioi-quang-cao)

Hoàng Hữu Phước, MIB

03-10-2010

Mục Lục

Quảng Cáo Bột Giặt

Quảng Cáo Thức Uống

Quảng Cáo Kem Đánh Răng

Quảng Cáo Khác

Gần đây các mục quảng cáo phát trên đài truyền hình đã như thêm khẳng định kiến thức người làm quảng cáo đang có vấn đề và trách nhiệm dường như đang bị những người làm quảng cáo đơn giản cho rằng là của nhà sản xuất, và một khi nội dung quảng cáo đã được cơ quan chức năng đóng dấu cho phép thì mức độ an toàn đương nhiên cao và trách nhiệm mặc nhiên đầy đủ.

Về Quảng Cáo Bột Giặt:

Chẳng hạn, quảng cáo bột giặt Tide hiện nay diễn cảnh một phụ nữ khen bột giặt tốt vì chỉ dùng một ít mà bọt rất nhiều giúp làm áo trắng mới và êm dịu bàn tay. Ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, những người làm công tác xuất nhập khẩu tại Việt Nam đã biết bột giặt có chất DBSA Dodecyl Benzene Sulphonic Acid, còn gọi là LAS Linear Alkylbenzene Sulfonic Acid, hay LABSA Laurylbenzenesulfonic Acid, với công thức hóa học  CH3(CH2)11C6H4SO3H, là chất tạo bọt chẳng có tác động hữu ích gì vào công dụng tẩy rửa của bột giặt cả. Và dù DBSA chưa được liệt kê vào bảng danh mục các độc chất, người ta vẫn nêu các cảnh báo mà DBSA có thể gây ra cho người sử dụng nếu hít phải (ho, đau họng, thở khó, nhức đầu, buồn nôn, ói mửa), dính vào mắt (xót mắt, đỏ mắt, mờ mắt), vấy vào da (ngứa ngáy, tróc da, đỏ da, đau rát), hay nuốt phải (đau bụng, bồn chồn, buồn nôn, ói mửa, sốc, ngất xỉu), và thậm chí các cơ quan y tế Hoa Kỳ còn soạn thảo các hướng dẫn thật cụ thể để cấp cứu khi xảy ra các trường hợp dị ứng trên, khuyến cáo phải để xa thực phẩm, và rửa tay ngay sau khi có chạm vào DBSA. Việc dùng DBSA chỉ là để tạo ấn tượng cho bột giặt, không phục vụ cho chức năng tẩy rửa, và nhất là không phục vụ cho việc giặt bằng tay trần của các bà nội trợ miền quê Việt Nam. Trong khi thế giới chưa khuyến cáo loại bỏ hẳn DBSA trong bột giặt với lý do phí tiền vô ích, có thể gây dị ứng và ngộ độc với người sử dụng bột giặt, và có khả năng gây ô nhiễm nước sông nước biển về lâu về dài, thì việc biên tập rằng bột giặt Tide có nhiều bọt giúp giặt trắng sáng rõ ràng là việc làm không cẩn trọng, thiếu hiểu biết, không đạt tầm cỡ “đi trước đón đầu”, và thậm chí xem thường người tiêu dùng Việt Nam khi nghĩ rằng họ chẳng biết gì về hóa chất DBSA bên trong bột giặt.

Lời khuyên số 1 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: đừng bao giờ nhắc đến “bọt nhiều” khi quảng cáo bột giặt hay các chất tẩy rửa khác, kể cả sữa tắm.

Lời khuyên số 2 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: không được giả định rằng khách hàng thiếu kiến thức và không có hiểu biết về sản phẩm họ sẽ lựa chọn mua dùng .

Cũng liên quan đến bột giặt, mọi quảng cáo cho mọi nhãn hiệu đều tập trung cho hai từ “trắng sáng”, trong khi tại thế giới văn minh tiên tiến Âu Mỹ người ta rất kỵ “trắng tinh” và “trắng sáng” vì nó gây hại cho mắt, vì thế giấy in báo luôn có màu trắng xám thật nhạt (chữ đen trên nền giấy trắng toát như ở Việt Nam sẽ gây hại cho thị giác với độ lóe cao nhưng lại nhòe cao – đây chính là lý do bảng số xe ô-tô tại các nước Âu Tây luôn là số đen trên nền bảng vàng bảo đảm độ tương phản cao hơn, an toàn cho mắt hơn, và tất nhiên giúp người dân và nhân viên công lực nhìn rõ và nhớ rõ số xe của những xe vi phạm đang cao chạy xa bay), còn áo sơ mi trắng sang trọng luôn có sắc hơi ngà (vàng thật nhạt – giống như màu mà ở miền Nam hay gọi là màu … cháo lòng, ngà ngà, hay màu áo…cũ) còn vải trắng tinh như người Việt thích mặc thì ở Phương Tây chỉ do các ca sĩ mặc biểu diễn cho nổi bật dưới ánh đèn sân khấu mà thôi – nếu doanh nhân hoặc người nam mà mặc áo trắng tinh trắng toát trắng sáng kiểu “ngạc nhiên chưa” sẽ bị xem là nhà quê hoặc nhà sang (tức là từ bên nhà ở các nước đang phát triển như Việt Nam mới bay sang). Thêm vào đó, kiểu quảng cáo như vậy phải chăng nhắc nhở đa số người tiêu dùng đừng nên dại dột sử dụng Tide hay OMO hay bột giặt nào có quảng cáo tương tự vì quần áo màu của họ sẽ bị phai màu hoặc mất màu do các bột giặt ấy làm thành màu “trắng sáng”?

Lời khuyên số 3 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: đừng bao giờ nhắc đến “trắng sáng” khi quảng cáo bột giặt, thay vào đó, hãy dùng cụm từ “bền màu, sáng đẹp” để bán được nhiều hơn do sử dụng được cho bất kỳ loại vải bất kỳ màu nào.

Lời khuyên số 4 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: đối với bột giặt đừng bao giờ tạo cảnh có nước giặt băng ngang thân thể người ta, làm áo dài của người ta thay đổi từ màu trắng xanh nhạt cực đẹp dịu mát và tao nhã sang trọng quý phái phuơng Tây thành vệt trắng tinh chói mắt cực kỳ quê mùa thô thiển, như một hành vi mất lịch sự, vô văn hóa, xúc phạm quyền tự do lựa chọn màu sắc của người khác.

Về Quảng Cáo Thức Uống:

Chẳng hạn với mục quảng cáo chai trà a-ti-sô Vfresh với diễn xuất của Siu Black, người đã tuyên bố diễn quảng cáo “không có kịch bản”, không có nghiên cứu y học để phát biểu về tác dụng dược học và dược tính của trà a-ti-sô, lại nói diễu nói cợt về sự nhẹ nhàng của bản thân, và cười ha cười hả như điên như dại kết thúc video clip quảng cáo non nớt dại dột ấy. Diễn không có kịch bản luôn đồng nghĩa với “diễn cương”, diễn ẩu. Diễn impromptu tức diễn ứng khẩu là cách diễn của những kịch sĩ hài tài ba mà trên thế giới chỉ có vài người, đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón, ở Việt Nam tất nhiên không có ai trong số đó, kể cả mọi diễn viên đoạt giải Oscar danh giá đều luôn phải tuân thủ nghiêm túc nội dung kịch bản và theo chỉ đạo của đạo diễn tài ba. Siu Black không là diễn viên hài chuyên nghiệp hay chính kịch chuyên nghiệp hay diễn viên điện ảnh chuyên nghiệp có qua đào tạo bài bản. Siu Black càng không nằm trong danh sách diễn viên hài tài ba đếm-được-trên-đầu-ngón-tay-của-một-bàn-tay-đủ-ngón để có thể tự hào nói mình đang diễn impromptu. Chẳng khác nào khi tổ chức tiệc chiêu đãi thượng khách người ta liều mạng thuê một anh không phải là đầu bếp và bảo anh này muốn nấu gì thì nấu, nhóm dịch vụ quảng cáo cho trà a-ti-sô đã thuê Siu Black muốn diễn gì thì diễn. Phá hỏng hình ảnh trà a-ti-sô bằng nội dung kệch cỡm, hình ảnh thô thiển, và tiếng cười dung tục đầy phản cảm là tất cả những gì đáp lại đồng tiền nhà sản xuất bỏ ra với bao kỳ vọng gia tăng giá trị thương hiệu và doanh số bán của sản phẩm yêu quý của mình. Mới đây, tiếng cười phản cảm của Siu Black đã bị xóa khỏi đoạn video clip quảng cáo trà a-ti-sô, nhưng vết sẹo của công trình dựng clip vẫn còn. Mọi thành viên dễ tính trong đại gia đình của tôi  sẽ khó bị thuyết phục để chịu bỏ tiền ra mua một sản phẩm được quảng cáo không nghiêm túc như trà a-ti-sô Vfresh của Vinamilk.

Hoặc tương tự, các quảng cáo của CocaCola và PepsiCola rất nhàm chán, luôn là cảnh những bạn trẻ nhảy múa cuồng nhiệt ồn ào như thể họ vừa uống thuốc kích thích không thể tự kềm chế bản thân – điềm tĩnh trang trọng tự chủ chốn đông người là ưu thế đặc thù của giới quý tộc Á Đông mà Âu Mỹ phải muôn đời kính sợ và/hay kinh sợ – hoặc như đang phê ma túy, trong khi càng uống nhiều các loại nước ngọt ấy chỉ càng làm tăng gia khủng khiếp số lợi nhuận kếch sù của các hãng sản xuất thuốc trị bịnh tiểu đường trên hành tinh này.

Lời khuyên số 5 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: đối với các thức uống hãy quảng cáo như đó là thực phẩm nghiêm túc luôn có mặt tại những bàn tiệc sang trọng, như một life style – phong cách sống – của sự trang nhã, trang trọng có ý thức mà giới học thức thượng lưu nâng niu thưởng thức, chứ không là thứ hàng hóa bình dân của những đấng trẻ người non dạ uống ừng ực ngoài đường, nhảy múa điên cuồng ngoài lộ, rống họng cười ha hả ngoài trời. Dù đó là chai bia hay lon nước ngọt hay chai trà, nhất thiết phải có cảnh rót ra ly thủy tinh trang trọng, vì uống từ ly và uống từng ngụm nhỏ thật chậm rãi mới là cung cách người sang trọng mà các clip quảng cáo thức uống cho đến nay  ở Việt Nam vẫn chưa thoát lên khỏi chốn ao tù của thể loại bình dân (tất nhiên là trừ tất cả các clip của Heinerken luôn mang sắc thái độc đáo signature không thể trộn lẫn với bất kỳ clip của các nhãn hiệu bia khác).

Lời khuyên số 6 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: quảng cáo sản phẩm phải làm tăng giá trị tư thế và tư cách người sử dụng chứ không bình dân hóa hay tầm thường hóa người ấy.

Lời khuyên số 7 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: quảng cáo sản phẩm không phải chỉ vì đáp ứng một đơn hàng của một chủ hàng cho một sản phẩm mà còn vì đánh bóng tên tuổi, trình độ, kiến thức, đẳng cấp,  trách nhiệm doanh nghiệp với cộng đồng và trách nhiệm xanh của người hay đơn vị thực hiện nội dung quảng cáo.

Về Quảng Cáo Kem Đánh Răng:

Cách nay vài năm đã có video quảng cáo kem đánh răng với màn một nam diễn viên xiếc cười nhe hàm răng trắng sáng cắn sợi dây xích trắng sáng treo lủng lẳng một nữ diễn viên xiếc mặc trang phục trắng sáng, với giọng quảng cáo sang sảng rằng hãy sử dụng kem ấy để có hàm răng cứng chắc hơn thép. Một quảng cáo mà Âu Mỹ sẽ có thể vừa cho rằng thiếu ánh sáng trí tuệ vừa mong muốn sản phẩm ấy sớm có mặt ở nước họ để họ –  thuộc hàng triệu người khoái kiếm tiền trong thời suy thoái – có cớ ùn ùn mua dùng và ùn ùn nộp đơn ngay trong ngày cho tòa án đòi bồi thường vài triệu USD cho mỗi chiếc răng gảy rụng do làm theo clip quảng cáo ấy.

Ai cũng biết là kem đánh răng chỉ có một công dụng duy nhất là làm sạch răng, chứ không làm chắc răng hay bao phủ thêm lớp calci nào cho chắc răng cả, đơn giản vì muốn các chất tưởng tượng nào đó phát huy tác dụng như quảng cáo, người ta phải cặm cụi đánh răng mỗi lần mất hơn 5 tiếng đồng hồ để các chất ấy có cơ may ngấm được xuyên qua men răng và sừng răng, còn nếu kem đánh răng phủ được thêm calci lên răng thì từng chiếc răng một sẽ thành dị hình dị dạng do không có gì bảo đảm rằng calci sẽ tự động tráng mỏng dầy đều đặn tuyệt hảo lên mọi góc cạnh của từng chiếc răng, khiến mồm miệng người sử dụng kem ấy sau đó một thời gian nhất thiết phải được đi chỉnh nha, cà răng (không căng tai) để hy vọng trở lại hình thù răng mà cha sinh mẹ đẻ ban đầu.

Lời khuyên số 8 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: quảng cáo sản phẩm nhất thiết phải không vi phạm đạo đức nghề nghiệp khi làm hại khách hàng, biến khách hàng phải đối mặt với các vụ kiện tụng chốn pháp đình hoặc danh tiếng của khách hàng bị tổn thương do công kích của người tiêu dùng..

Về Quảng Cáo Nói Chung:

Lời khuyên số 9 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: quảng cáo luôn phải trên cơ sở có kiến thức đa ngành chuyên sâu và có chánh tâm vì trách nhiệm nghiêm túc với cộng đồng rộng khắp bao gồm tất cả mọi thành phần có quyền lợi trực tiếp liên quan (stakeholders).

Hiện nay dường như trên các kênh truyền hình Việt Nam chỉ có quảng cáo của bia Heineken là ít lời nhất với vài chữ  ngắn gọn “Chỉ Có Thể Là Heineken” xuất hiện cuối video clip. Còn quảng cáo tuyệt hảo hơn cả Heineken vì không những chẳng nói một lời mà lại còn chẳng viết một chữ trong khi nội dung cực kỳ xuất sắc lại đến từ công ty CMS Forex trên đài Bloomberg (có cảnh giữa đấu trường Cổ La-Hy với hàng vạn khán giả – nhà đầu tư –  trên khán đài, còn các đấu sĩ gồm một ninja bịt mặt dùng ám khi hình Đồng Yen Nhật, một ngự lâm quân dùng kiếm của Đồng Euro, một chiến sĩ giáp sắt Anh Quốc của Đồng bảng Anh, và một cowboy bắn súng lục của Đồng Mỹ Kim quần thảo võ nghệ tuyệt luân bất phân thắng bại).

Lời khuyên số 10 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: do giới hạn trầm kha về tri thức thực hành vốn là hậu quả của các cuộc cải cách giáo dục, người Việt ít có lợi thế về khẩu ngữ hùng biện tu từ trong những nội dung không thuộc lĩnh vực chính trị, do đó mức độ an toàn của quảng cáo liên quan đến sản phẩm hữu hình ở Việt Nam sẽ cao hơn nếu có hạn chế số lượng ngôn từ.

Lời khuyên số 11 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: quảng cáo là việc tạo ra một giá trị đúng, một kiệt tác văn hóa đầy tính nghệ thuật, chan hòa mỹ thuật, chứ không là đáp số của công thức âm thanh + hình ảnh + ngôn từ = quảng cáo.

Trước đây rất tiếc đã có nhiều tán tụng tán dương thán phục những slogan tuy đắt tiền (dường như phải trả cho tác giả cả tỷ đồng) nhưng cực kỳ rẻ tiền vì cực đoan, địa phương hóa, hạn hẹp, ao tù, đẳng cấp thấp như “Nâng Niu Bàn Chân Việt” của Bitis hay “Bảo Vệ Lợi Ích Người Việt” của Bảo Việt, cái công thức có thể bấm nút sản xuất ra bao sản phẩm, chẳng hạn có thể là “Nâng Niu Vết Thương Việt” (nạn nhân du khách nước ngoài cứ nằm chờ chết ngoài đường?) hoặc “Bảo Vệ Cứu Hỏa Nhà Người Việt” (cơ sở sản xuất 100% vốn nước ngoài nếu cháy thì hãy tự chữa?).

Lời khuyên số 12 của nhà tư vấn chuyên nghiệp: quảng cáo là quảng bá nhân văn lồng chứa niềm  tự hào dân tộc khiến người nước ngoài cũng phải ngạc nhiên vì sức sáng tạo và thán phục về ngữ nghĩa.

Chẳng hạn như nội dung quảng cáo trước đây cho sản phẩm của Tân Hiệp Phát đã biến chất liệu “cung đình” thành thứ dành cho cung quăng đình đám tức đám đông trụy lạc say xỉn thâu đêm suốt sáng gây phản cảm nơi và phản đối từ khán giả hay độc giả của các phương tiện truyền thông. Trong khi đó, một quảng cáo gần đây của Tân Hiệp Phát lại là một thí dụ tuyệt diệu mà chưa từng tồn tại bất kỳ một quảng cáo nào ở Việt Nam có thể sánh bằng, và không một quảng cáo nào của nước ngoài có thể chế tạo tương tự cho sản phẩm của quốc gia họ:

 ScreenShot891

Sản phẩm của Tân Hiệp Phát tất nhiên tốt. Tấm lòng chủ nhân doanh nghiệp tất nhiên tốt. Chí khí chủ nhân doanh nghiệp tất nhiên cao. Nhưng sức sống của sản phẩm, tấm lòng và chí khí của chủ nhân không bao giờ được biết đến theo tiêu chí cũ xưa của hữu xạ tự nhiên hương. Trong trường hợp này, kỳ công thuộc về đơn vị thực hiện nội dung quảng cáo với mức độ xạ hương rất đạt yêu cầu, khiến hiện chưa một quảng cáo nào trong nước có thể sánh bằng, hay nước ngoài có thể chế tạo tương tự cho sản phẩm nào đó của quốc gia họ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Các bài viết trên Emotino của cùng tác giả và cùng chủ đề Quảng Cáo:

Tiếng Việt:

Luận Về Sự Thăng Thiên Trong Quảng Cáo Giới Thiệu Sản Phẩm: http://www.emotino.com/m.php?p=18305

Nào Phải Đâu Chỉ Là Chuyện “Nóng Trong Người”: Vấn Nạn Văn Hóa Của Quảng Cáo:  http://www.emotino.com/m.php?p=17873

Quảng Cáo X-Men : X-Men Là Napoleon : http://www.emotino.com/m.php?p=18630

Thương Hiệuhttp://www.emotino.com/m.php?p=16948

Thương Hiệu & Nhãn Hiệu – Từ Ấy Đến Nay: http://www.emotino.com/m.php?p=17386

Tiếng Anh:

On Advertisement Impact In Vietnamhttp://www.emotino.com/m.php?p=16884

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam (Bilingual writing: Vietnamese & English)

Bài viết Song Ngữ Việt và Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot535

Thương hiệu quốc gia là nội dung mang tính thời thượng được nói về rất nhiều và đặc biệt dậy sóng khi Giáo sư Philip Kotler thuyết trình tại Việt Nam năm 2007 để rồi không còn được nhắc đến sau đó. Gần đây thấy có bài phỏng vấn Bà Tôn Nữ Thị Ninh về chủ đề này, tôi có nhận xét rằng Bà Ninh cũng như tất cả những phát biểu trước đây của nhiều người khác đều giống y nhau ở điểm nêu miên man những vấn đề trừu tượng, mà đã là trừu tượng thì có ba yếu điểm gồm (a) bản thân người phát biểu không thuộc đẳng cấp nhà tư vấn chiến lược quốc gia, (b) vấn đề được nêu không thuộc phạm trù thực tiễn khả thi khả dụng, và (c) không giúp gì được cụ thể cho phát triển và hiện thực hóa “thương hiệu quốc gia” thậm chí có khi mang nội hàm đổ cho chính phủ và nhà nước phải chịu trách nhiệm duy nhất và tất cả cho việc có hình thành nên được một thương hiệu quốc gia hay không. Khi viện dẫn sai về Nhật Bản, người ta cho rằng chất lượng của tất cả hàng hóa của Nhật đều cao và từ đó hình thành thương hiệu quốc gia của Nhật Bản như xứ sở chế tạo những sản phẩm chất lượng cao, và từ đó Việt Nam cũng nên làm sao cho tất cả các sản phẩm của mình cũng như thế để khi nói đến Việt Nam thì nội hàm chất lượng cao cũng sẽ thành thương hiệu quốc gia tương tự.

Cái sai cụ thể của cách ví von trừu tượng trên là ở chỗ ngay từ đầu hoàng gia và chính phủ Nhật Bản đã không có chủ trương hay chính sách sản xuất nhằm tạo thương hiệu quốc gia. Họ sản xuất chất lượng cao vì đó là tư cách tuyệt đối đúng của bất kỳ nhà sản xuất chân chính nào trên toàn thế giới. Trong bài viết tựa đề Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước được báo Sài Gòn Tiếp Thị đăng lại ngày 09-9-2008, tôi có nêu cần phải thay đổi tư duy từ “Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước” sang “Sản Xuất Hàng Hóa Chất Lượng Cao Là Yêu Nước” và có phê phán rằng không hiểu sao đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn “e thẹn” trước yêu cầu mang tính quốc thể này. Ngoài ra, việc các nhà sản xuất ô-tô Nhật Bản (sau này là Mỹ và vài nước Châu Âu) liên tục thu hồi nhiều triệu ô-tô trên toàn thế giới do các khiếm khuyết kỹ thuật nghiêm trọng chỉ cho thấy sự nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường với giá cạnh tranh luôn tiềm tàng nguy cơ chất lượng không thể đảm bảo cao tuyệt đối. Như vậy, phải chăng “thương hiệu quốc gia” của Nhật đã trở thành “chuyên gia thu hồi ô tô”?

Là nhà tư vấn chuyên nghiệp được ít nhất một công ty tư vấn lớn của Mỹ mời tham gia ban lãnh đạo và một công ty tư vấn trung bình của Malaysia mời làm cộng tác viên khu vực ASEAN, tôi luôn có hai việc đồng hành mỗi khi phê phán ai hoặc cái gì là (a) nêu nhận xét về vấn đề và (b) nêu biện pháp giải quyết vấn đề. Đây là cung cách được hình thành từ những năm đại học, mỗi khi chê bai thật chi tiết và thật thuyết phục về chất lượng một bài sonnet của Shakespeare hay Spencer hay Byron hay Shelley, v.v., tôi đều kèm theo một bản chỉnh sửa lại bài thơ thật chi tiết và thật thuyết phục để bài thơ hay hơn, phong phú hơn, chất lượng cao hơn. Khi giỏi đổ thừa, giỏi “giao phó” trách nhiệm về thương hiệu quốc gia cho Nhà nước, lẽ ra cái bộ phận không lớn phát-biểu-viên trong thiên hạ đừng nói về một cõi bao trùm vì đó là điều phi lý, hoang đường, mà nên tập trung về những mặt cụ thể nào mà các vị ấy có thể nghĩ ra được để Nhà nước tham khảo xem có thể cung cấp tài chính cùng các quyết sách kinh tế vĩ mô cụ thể hay không. Và sau đây là bài viết thứ nhất của tôi đề nghị cụ thể một thương hiệu cụ thể cho Việt Nam, thay vì nói miên man về những gì mà ai cũng nói được để rồi đất nước vẫn chẳng có gì. Bài viết này đã được báo Tuổi Trẻ đăng lại ở dạng rút ngắn.  (Bài viết thứ hai đề nghị một thương hiệu cụ thể khác cho Việt Nam được tạp chí Thương Hiệu Việt, Diễn Đàn Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam đăng lại nguyên văn trên hai số 02 ngày 01-11-2008 trang 18-19, và số 03 ngày 22-11-2008 trang 18-19, sẽ sớm được post lại lên blog này phục vụ bạn đọc có quan tâm đến chủ đề “thương hiệu quốc gia”)

*** BẢN TIẾNG VIỆT – VIETNAMESE VERSION ***

Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam

Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới

(bài của Hoàng Hữu Phước bản tiếng Anh đăng ngày 05-11-2007 trên http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc và bản tiếng Việt đăng ngày 07-8-2008 tại http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam)

Trong buổi Hội Thảo Quốc Tế tháng 8 năm 2007 về Marketing ở Sheraton Hotel với chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới do Philip Kotler, người khai sinh ra nền marketing hiện đại của thế giới, là diễn giả đặc biệt, đã chậm rãi khoan thai phát âm thật rõ ràng rành mạch những ý tưởng mà nhiều ngày liên tiếp sau đó báo chí Việt Nam cuộn cuồn dậy sóng thông tin, đặc biệt là về “thương hiệu quốc gia” và “bếp ăn của thế giới”.

Thiết nghĩ cần có một khẳng định ở đây là Philip Kotler không hề gợi ý Việt Nam nên là một Bếp Ăn Của Thế Giới với ý nghĩa ẩm thực, mà chỉ đơn giản ngụ ý thế giới chưa biết nhiều về Việt Nam và Việt Nam cũng chưa định vị được uy thế của mình trong lĩnh vực nào để làm marketing thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế, và Ông nói với nụ cười hóm hỉnh rằng trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới cũng là điều có thể nghĩ đến. Một thí dụ chứa đựng những ẩn ngữ của một bậc thầy tài hoa cần được giải mã nghiêm túc, chứ không chỉ là trần trụi như nói về phở hay bánh xèo, hoặc nói cho văn hoa bóng bẩy hơn là “ẩm thực”, nghĩa là Việt Nam có “món” nào “ngon” để cung cấp cho thế-giới- kinh-doanh-toàn-cầu-hội-nhập hay không, chứ không phải Việt Nam có “món ăn” nào để kéo thế giới tới ăn nhai uống ực hay không. Có người thậm chí nêu ý kiến cho rằng đã muộn rồi vì dường như con người Philip Kotler quá vĩ đại nên không biết đến chuỵện nhỏ là Thái Lan đã và đang thực hiện chương trình trở thành “Kitchen of the World” (Kim Hạnh, 2007). Một ngộ nhận. Thương hiệu một quốc gia không do chính quốc gia đó tự đặt cho mình khi chưa làm nên gì cả để thuyết phục cả thế giới. Everest là “Nóc Nhà Của Thế Giới” vì bản thân nó là đỉnh núi cao nhất rồi được thế giới đặt tên sau khi đã đo đạc hẵn hoi. Là một đất nước-thị trường với dân số khổng lồ và giá nhân công rẻ, Trung Quốc đã hấp dẫn các công ty nước ngoài đổ xô tìm đến mở nhà máy sản xuất hàng hóa cung ứng cho thế giới và từ đó cái danh “Cơ Xưởng Của Thế Giới” được hình thành. Tương tự, sau vài thập kỷ nổi đình nổi đám thu hút nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, chưa kịp thành Cơ Xưởng Của Thế Giới thì Ấn Độ đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay vẫn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống (www.bhopal.com), và một hướng mới đã mở ra khi đất nước có quá nhiều nhân tài ai-ti (IT, công nghệ thông tin) này cung cấp dịch vụ sao lưu “backup” cho các công ty trên thế giới khiến có cái tên “Văn Phòng Của Thế Giới”. Trong khi đó, Úc là đất nước ít dân nhưng có hệ thống y tế hoàn hảo chất lượng cực cao và nổi danh trong điều trị các bịnh nan y. Song, chưa bao giờ Úc trở thành “Dưỡng Đường Của Thế Giới”, chỉ vì còn thiếu yếu tố hàng đầu, đó là: Úc chăm lo hoàn hảo cho sức khỏe toàn dân còn bệnh nhân nước ngoài có thể đến Úc chữa trị, chứ Úc chưa hề tự tổ chức để đạt được “thương hiệu” đó, cũng như đem dịch vụ của mình bung ra cung ứng mạnh mẽ đến các châu lục khác trên thế giới. Thái Lan tạo nên vài festival với tên tự đặt là “Kitchen of the World” nghe cho vui tai chỉ để giới thiệu ẩm thực Thái như một bổ sung thứ yếu cho ngành công nghiệp du lịch đã phát triển rồi của Thái, kéo thêm du khách đến Thái Lan (vì hàng triệu du khách đến Thái trong thập kỷ qua đã nếm món ăn Thái rồi chứ không phải bây giờ mới trình làng những báu vật còn giấu kín), trong khi để được cái danh Bếp Ăn Của Thế Giới, một quốc gia đúng ra phải như một…tổng công ty cung cấp suất ăn công nghiệp catering, nghĩa là anh phải đáp ứng được nhu cầu ẩm thực cho khách hàng của anh ở bất kỳ đâu trên thế giới, phù hợp với khẩu vị của riêng họ, bằng nguyên vật liệu chất lượng từ hoặc y như của xứ sở họ, và để làm được điều chắc chắn là không tưởng này phải có hệ thống thu mua, nhập khẩu, lưu trữ, bảo quản, vệ sinh tuyệt đối, và hệ thống phân phối cỡ DHL hay TNT, chứ không phải đơn giản giới thiệu món phở hay bánh xèo ngay tại Việt Nam. Thậm chí nếu món phở xoàng xỉnh của Việt Nam mà có nổi danh toàn cầu thì cái thương hiệu quốc gia của Việt Nam ắt là … Đất Nước Của Phở, như Ý là Đất Nước Của Pizza vậy, chứ sao là Bếp Ăn Của Thế Giới được. Nhiều người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam cả chục năm vẫn không thích thú gì khi được đãi các món ăn Việt, dù phở đã, đang, và sẽ mãi ngon đối với một bộ phận lớn người Việt dù không bất kỳ ai ăn phở trừ cơm mỗi ngày trong trọn cuộc đời, nhất là bò điên lở mồm long móng, gà cúm, và rau xanh tưới phân tươi, vệ sinh không kiểm chứng luôn khiến phở thành món ăn kém an toàn hoặc góp phần gây các chứng mỡ trong máu, trong gan, còn những lời khen tặng của ngoại nhân chỉ mang tính xã giao ước lệ. Vì vậy, theo tôi, khi nói về “Bếp Ăn Của Thế Giới”, Philip Kotler đã sâu sắc hàm ý ngay cả điều hiểu theo nghĩa đen thuần túy là cái bếp nấu ăn vẫn là điều chưa nước nào đạt được, hay chưa hiểu được, là bếp dùng để nấu (chứ không phải để mọi người chui vào bếp để ăn), và nấu xong thì bưng ra ngoài cho khách (tức xuất khẩu đến tận tay khách hàng), cho thấy để có được một thương hiệu quốc gia đòi hỏi một hiểu biết cặn kẽ, một tổ chức tổng lực cùng một kế hoạch tổng hợp dài lâu. Cùng trong thế kỷ XXI một số lớn con cháu Lạc Hồng nói phở ngon, tất cả hậu duệ của Đế Chế Inca vẫn thích ăn bánh mì kẹp lúc nhúc giống kiến to đen của họ, còn dòng giống Châu Sơn Cổ của Truyền Thuyết Du-mông mê cháo thằn lằn đến độ khi tổ chức sự kiện thể thao vĩ đại cấp hành tinh chính phủ phải yêu cầu dân chúng ngưng ăn chó và thằn lằn quốc hồn quốc túy đó, nên bảo đảm không ai dám vỗ ngực nói ẩm thực của mình là đứng đầu thiên hạ mà cả thế giới phải ăn. Pizza siêu tuyệt của Ý lan toàn thế giới, còn phở Việt Nam không bao giờ ở đẳng cấp như vậy. Ở đây, tôi xin có ý kiến cụ thể xây dựng thương hiệu quốc gia cho đất nước của chúng ta, đó là : “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” tức “The Campus of the World”.

Khác xa với nhu cầu ẩm thực vốn tùy vào ý thích riêng từng khách hàng chứ không tùy vào bản thân hàng hóa là món ăn, nhu cầu học tập chú trọng vào bản thân hàng hóa vốn gần như có giới hạn nhất định và đồng nhất, sẵn có; chẳng hạn đã học xong đại học thì đa số mong có điều kiện lấy thêm một cái MBA (Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, vốn đang dần mất sức hấp dẫn về tay MIB tức Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế). Vấn đề là học nơi đâu cho phù hợp túi tiền: học ở Mỹ như mấy nhân vật phim Hàn Quốc mỗi khi thất tình là qua Mỹ du học rồi về làm giám đốc ngay, học ở lân bang cho gần và khỏi bị phỏng vấn trầy trật khi xin visa vào một siêu cường, hay học ở một nước thân thiện có nhiều ưu thế cạnh tranh hơn cho tương lai của bản thân người đi học. Việt Nam chính là đất nước có quá nhiều những thế ưu việt cho du học sinh nước ngoài theo các phân tích và trình bày ở các phần tiếp theo, thực sự phù hợp cho một chiến dịch quảng bá dành lấy thương hiệu đẳng cấp cao này một cách an toàn tuyệt đối mà không phải tranh cải lung tung về gia vị hay dư lượng chất kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc uớp xác chết làm bánh phở, hoặc đối mặt với án lịnh pháp đình khi có các ca gây ngộ độc thực phẩm cho khách hàng, gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự quốc gia.

Trước hết, xin được nêu duy chỉ những thế mạnh của Việt Nam cho thương hiệu quốc gia Ngôi Trường Của Thế Giới, vì những phân tích còn lại theo nội dung SWOT và TOWS chỉ cần thiết hơn cho một kế hoạch kinh doanh chi tiết dài ít nhất 100 trang in khổ A4 mà chúng tôi có thể thực hiện nếu được tham gia chương trình quốc gia cho mục tiêu này.

An toàn và an ninh trật tự luôn là điểm nhấn quan trọng khi thế giới nói về Việt Nam, và đây là thế mạnh vững chắc tuyệt diệu để chúng ta sử dụng trong marketing cho một thương hiệu quốc gia. Du học sinh được học tại những ngôi trường chi nhánh của Mỹ, Anh, và nhiều nước khác hoạt động tại Việt Nam, nơi không có những vụ xả súng sát hại bạn học, không có bạo loạn chính trị, không có biểu tình ẩu đả, hay thiên tai, khiến du học sinh và thân nhân của họ có thể an tâm đầu tư cho học vấn. Đó là chưa kể đến các đặc trưng mà du học sinh cảm nhận đựợc duy chỉ có tại Việt Nam : tinh thần hiếu học, tôn sư, trọng đạo của người Việt Nam, mà ngay cả đất nước sản sinh ra Nho Giáo cũng không thấy có. Đây là một giá trị cộng thêm: anh dạy ở nước khác và anh có quyền mặc quần khaki ngắn đưa cẳng chân lông lá, áo hoa hòe hoa sói bỏ ngoài, ngay trong giảng đường đại học, đơn giản vì anh thực hiện hợp đồng phục vụ khách hàng là sinh viên, những người chỉ muốn nhận hàng hóa anh chuyển giao; còn dạy tại chi nhánh cũng của trường ấy nhưng mở Việt Nam anh phải ăn vận chỉnh tề, và tuy cũng thực hiện hợp đồng với trường của anh, anh vẫn sẽ thấy mình là một bậc thầy được sinh viên Việt Nam trân trọng, kính trọng, nể trọng, tri ân, và tất cả sẽ tác động lên sinh viên từ các nước khác, khiến họ cùng học tập sinh hoạt theo nền nếp lạ lẫm nhưng thú vị và đúng đắn không chê vào đâu được, hình thành nơi họ một nhân cách cao hơn, đó là nhân cách nhân bản và văn minh mang tính xã hội cộng đồng tôn ti trật tự thay cho kiểu nhân cách dưới quyền điều khiển của cái tôi bản ngã. Học tại Việt Nam với người Việt Nam và các quốc tịch khác, trong môi trường xã hội văn hóa Việt Nam, đó cũng là một lợi điểm kỳ thú, vì chính những yếu tố văn hóa giữ vai trò tác động lớn lao đối với các kỳ tích về kinh tế, chiếm hơn 50% trong các khác biệt đối với mức tăng trưởng kinh tế (Kotler, Jatusripitak, and Maesincee 1997, 113). Theo giáo sư Werner Soontiens, Khoa Trưởng Viện Đại Học Công Nghệ Curtin của Úc, phát biểu trong buổi hội thảo về Toàn Cầu Hóa Và Các Tiềm Năng Kinh Doanh Giữa Úc Và Việt Nam được tổ chức tại trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh chỉ hai ngày sau cuộc hội thảo quốc tế của Philip Kotler, Việt Nam có một lợi thế lạ kỳ là đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh với sự chiếm đóng và tham gia chiếm đóng của Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, v.v., nhưng dường như chỉ khiến người Việt Nam hiểu biết nhiều hơn về đối phương chứ không chồng chất trong mình thêm những mối căm thù và tinh thần bài ngoại. Chính điều này làm những doanh nhân và người dân từ các nước có “vấn đề lịch sử” với Việt Nam cực kỳ thích thú, tự tin, an tâm, và mến mộ Việt Nam hơn, rằng ở giữa người Việt họ không thấy lạc lõng vì được người Việt hiểu biết, cảm thông, hợp tác, đối xử thân thiện, cũng như trân trọng văn hóa riêng của họ; trong khi dân chúng ở vài nước khác trong khu vực nhìn họ với vẻ hoặc hằn học, hoặc tò mò đầy dọ xét, hoặc lạ lẫm, hoặc không thân thiện, khiến họ không sao có được sự thoải mái, an tâm, ngay cả trong một tour du lịch nhiều sao.

Những thế mạnh khác lại hoàn toàn khả thi vì nằm trong tay chính phủ để tạo nên được nét khác biệt độc đáo cho chiến dịch “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” . Trong lĩnh vực đầu tư, nhà nước nhất thiết phải có các chính sách thông thoáng đối với giáo dục-đào tạo, cụ thể là về quy trình cấp phép và ưu ái cấp đất cho tất cả các dự án của các học viện có danh tiếng của nước ngoài thay vì chú trọng đến các sân golf chẳng giúp ích gì về lâu về dài cho quốc gia dân tộc, cộng với các ưu đãi về chuyển lợi nhuận về chính quốc. Trong khi cấp đất cho một công ty sản xuất có thể dẫn đến hệ quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà bản thân Việt Nam cũng không còn “mơ” gì (và đừng nên mơ) đến danh xưng Cơ Xưởng Của Thế Giới mà Trung Quốc đã chiếm hữu, việc cấp đất cho các trường nước ngoài xây dựng campus chỉ giúp tạo nên cảnh quan văn hóa cao, đồng thời lợi nhuận thu được cho quốc gia tất nhiên là lớn tính trên bình diện tương quan chung của các ngành và lĩnh vực của đời sống. Ngoài ra, còn kể đến các chính sách đặc thù như cho phép sinh viên nước ngoài được lao động có thu nhập trong thời gian học tập tại Việt Nam cũng như ưu tiên dành cho họ những công việc họ quan tâm và có khả năng đáp ứng được ngay cả tại các công ty nhà nước Việt Nam sau khi họ tốt nghiệp, mà không phân biệt đối xử, xem họ như đối thủ cướp giật việc làm với người dân Việt Nam. Tất nhiên, chính sách là để chứng tỏ với thế giới ta có sức hấp dẫn như thế nào, chứ bản thân du học sinh nếu chọn Việt Nam là mái trường của thế giới thì họ cũng biết rõ mười mươi là cơ hội việc làm rất lớn cho họ vì ở Việt Nam ngày càng có nhiều công ty nước ngoài tìm đến kinh doanh và đầu tư.

Những lợi thế mà các đối tác là các học viện và trường học nước ngoài có thể có được khi tập trung về Việt Nam để biến Việt Nam thành Ngôi Trường Của Thế Giới, gồm chi phí thấp hơn và điều kiện bành trướng kinh doanh cực kỳ thuận lợi trong tình hình sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo-dạy nghề trên thế giới đã trở nên rất cao. Một trường đại học ở Mỹ chẳng hạn, khi được Việt Nam cấp phép mở chi nhánh, sẽ có được lợi thế trước hết là với “khách hàng” tại chỗ của đất nước 80 triệu dân mà đa số là giới trẻ, ngày càng có nhiều người có điều kiện kinh tế khả quan hơn, và ý thức về học-học nữa-học mãi cho một tương lai tốt hơn là đặc điểm nổi bật so với giới trẻ Âu Mỹ chú tâm nhiều đến việc kiếm “giốp” (job) hơn là cho việc học tập vốn có thể để thư thả về sau. Thứ đến là thay vì phải đến Mỹ với chi phí cao hơn, du học sinh vùng Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, và Bắc Á sẽ dễ dàng bị cuốn hút về Việt Nam để có được mảnh bằng danh giá nhưng với chi phí thấp hơn. Đó là chưa nói đến an toàn trong đầu tư vì rõ ràng là ngày nay mở trường tại những con hổ con rồng lân bang của Việt Nam đã không còn tính hấp dẫn và an toàn. Cuối cùng, các học viện nước ngoài khi đến Việt Nam không nhất thiết phải có làng sinh viên campus vì đặc điểm dân cư và địa lý của Việt Nam sẽ phù hợp hơn cho mô hình trường học với du học sinh cư ngụ bên ngoài tại các nhà trọ, khách sạn nhỏ, hay chung cư, giúp thiết kế được các gói học phí thấp hơn, tạo nên tính cạnh tranh cao hơn trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Nói tóm lại, khi chọn một con đường để theo đuổi, cao nhất và ưu tiên số một vẫn là dựa trên sức mạnh nội tại độc đáo, có bình diện rộng lớn hơn, có lợi thế tâm lý cao hơn trong danh dự và vinh dự của một quốc gia, có số đầu tư không quá lớn, có ít rủi ro hơn, và có nhiều lợi nhuận hơn. Phở, nếu ngon, sẽ chỉ sướng miệng, vì chưa hề có công trình nghiên cứu quốc gia về lợi điểm ưu việt của phở ở khía cạnh dinh dưỡng và sức khỏe (thí dụ như ăn một bát phở-có-đăng-ký-thương-hiệu sẽ có hiệu năng thay thế … một viên viagra), và nếu phải là phở thì sẽ chỉ tạo nên sự bất công đối với những phở-bình-dân-chưa-có-đăng-ký-thương-hiệu, rốt cuộc chỉ có lợi hơn cho cổ phiếu của các đại gia kinh doanh một món ăn nào đó mà thôi. Trong khi đó, Hàn Quốc đã nổ tung trời đất với nghiên cứu khẳng định đầy thuyết phục là món kim chi của họ giúp chống lại cúm gia cầm nên H5N1 không thể tấn công dân Hàn, và các chương trình nấu ăn của họ cực kỳ chuyên nghiệp, đầy ắp thông tin dinh dưỡng, và hấp dẫn hơn Yan Can Cook cả vạn lần, vậy mà họ có thèm làm cái chuyện nặn óc đặt một slogan “Nhà Bếp Của Thế Giới” như mấy anh Thái Lan đâu. Với một kế hoạch chiếm lĩnh vị trí “Ngôi Trường Của Thế Giới”, chúng ta giúp hạn chế “chảy máu ngoại tệ” khi mô hình du học tại chỗ vừa giúp sinh viên-học sinh Việt Nam vừa tiết kiệm được chi phí, vừa không bỏ lỡ cơ hội việc làm cũng như luôn theo kịp những đổi mới của nước nhà để hòa mình nhanh chóng ngay khi tốt nghiệp; việc đào tạo nhân tài, hệ thống đại học và cao học nước nhà có cơ hội cọ xát thực tiễn phát triển mạnh mà không phải tốn kém chi phí lặn lội ra nước ngoài “học hỏi”; lực lượng lao động đẳng cấp cao cung ứng kịp cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân thu ngắn thời gian đưa Việt Nam lên hàng cường quốc; ngành kinh tế mũi nhọn là du lịch được “ăn theo” khi gia đình và người quen của du học sinh sang Việt Nam thăm nom hoặc du lịch nhờ cách “marketing truyền khẩu” của du học sinh, giúp hình thức kinh doanh du lịch–lữ hành–khách sạn–nhà nghĩ phát triển; và cuối cùng ngay cả những người dân nghèo buôn gánh bán bưng cũng có thể tạo ra nhiều Phạm Công cho xã hội, khiến câu chuyện Phạm Công-Cúc Hoa không mãi là cổ tích, vì rằng cảnh tượng đẹp nhất tôi đã nhìn thấy trên đường Nguyễn Huệ một buổi chiều năm 2006 không phải là Chợ Hoa xô bồ tốn kém vô bổ, mà là một người đàn bà đứng tuổi, tươi vui rạng rỡ ngồi bên gánh hủ tíu mì rong bà đặt xuống gần lề đường trước khách sạn Kim Đô, phe phẩy chiếc nón lá, vui vẻ chờ một chàng da trắng cao gầy ngồi xổm trên vệ đường húp xì xà xì xụp, lóng cóng dùng đũa vớt mấy cọng mì váng mỡ lềnh bềnh trong chiếc tô mẻ. Thật tuyệt diệu nếu đó là một du học sinh, và sẽ tuyệt vời hơn khi hình ảnh như vậy rồi sẽ được bắt gặp như chuyện thường ngày ở huyện tại Việt Nam.

Và tại sao không nghĩ đến một tương lai không xa, khi Ngôi Trường Của Thế Giới đào tạo ra quá nhiều nhân tài đa chủng tộc, những người đã ở lại Việt Nam làm việc sau khi tốt nghiệp, cùng nhân tài Đất Việt giúp Việt Nam trở thành Chất Xám Của Thế Giới đoạt luôn vị trí Văn Phòng Của Thế Giới từ tay Ấn Độ?

*** BẢN TIẾNG ANH – ENGLISH VERSION ***

APROPOS OF A NATIONAL BRANDING FOR VIETNAM

National Branding: Vietnam, the Campus of the world

(posted at 17:42 on 06 August 2008 at  http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world)

Hoang  Huu Phuoc, MIB

PACE has set an exploit in deed!” said a foreign businessman, when we sipped some coffee during one of the tea-breaks at the International Conference on Marketing “New Marketing for New Age” organized on 22 August 2007 at the Sheraton Hotel, Hochiminh City, with Philip Kotler, the founder of modern marketing, as the special speaker. Yes, it is really fantastic PACE could bring to Vietnam one of the four greatest management gurus of all time (i.e. Philip Kotler, Jack Welch, Bill Gates, and Peter Drucker), attracting even many CEOs who flew to Hochiminh City from various countries to be present in the auditorium flocked by a 700-strong army of participants failing the air-conditioning facility of the five-star hotel, and to attentively listen to every word uttered leisurely and clearly by the great personage, the very words that dominated the mass media of Vietnam for days thereafter, particularly on the issues of “national branding” and “the kitchen of the world.”

There should be a slight clarification here that Philip Kotler did not propose Vietnam be a kitchen of the world with a literal meaning relating to gourmets; instead, he simply implied that the world has not known much about Vietnam and Vietnam has not positioned itself in whatsoever field of its utmost strength for a possible marketing campaign for a national branding internationally. With a witty smile he added that the position of a Kitchen of the World could also be considered. This example embodies within itself a riddle to be seriously decoded rather than just a straightforward sticking of a pointblank note of such dishes like “pho” or “banh xeo” or the like; i.e. whether Vietnam has had any “unique thing” to offer to serve the world – not whether Vietnam having any “delicious dish” to invite the world to come to eat or taste. Ironically, there even arises some idea that due to the fact that Philip Kotler is of so great a profile that he fails to be aware of what Thailand has been doing to already acquire the title of The Kitchen of the World (Kim Hanh, 2007). This sounds another misleading reference. A national branding can hardly be attained as a matter of course by a concerned country without achieving any convincing outcome to the world. Everest gets the title of “The Roof of the World” simply because it is the highest acknowledged and certified upon the scientific measurement conducted academically in comparison with the balance peaks of the whole world. As a market-country of a huge population of cheap labour, China welcomes foreign investors who flock to her to set up manufacturing units for products to export worldwide, thus making the country labeled The Factory of the World. Things are similar to India. After some decades successfully attracting foreign manufacturers to come to meet India’s strategy of import substitution but yet attaining the fame of the Factory of the World, India incurred so costly a price when its environment was so seriously devastated, making situations the worst with the leaking of 27 metric tons of the deathly gas of methyl isocyanine from the Union Carbide Plant of the American company Dow Chemical in Bhopal in end 1984, tolling the death of 20,000 inhabitants; 120,000 still suffering from ailments of cancer, brain-damage and birth-defect problems; half a million people still exposed to threats of diseases; and the site not cleaned up for ever (www.bhopal.com). However, a new opportunity comes when this country of numerous talents provides the backup services to corporate customers worldwide, thus becoming the “Office of the World”. Meanwhile, Australia though not a populated country is having an excellent health services known for their capability in successful treatment of critical diseases; however, it has not been labeled “The Clinic of the World” due to the fact that its services have not been aggressively provided towards beyond its borders. Thailand manages its so-called “Kitchen of the World” campaign just to secondarily support the further promotion to its already developed tourist industry, attracting more tourists to visit Thailand to enjoy its dishes which have been already known by millions of tourists during the past decades, i.e. those dishes are not secret treasures of the nation. In order to get the title The Kitchen of the World, a country contestant need somewhat be a general catering corporation, ensuring to meet the gourmet requirements, tastes, and orders of customers worldwide, whereas the food provided must be from ingredients from customers’ countries or equal to qualities of such original ingredients; furthermore, in order to materialize this practically impossible and imaginary project, the country contestant must set up a huge system of procurement, importing, storage, preserving, hygienic conditioning, and DHL-like distribution networks. This is never like the simple work of introduction of Pho or Banh Xeo on site in Vietnam; and even if the Vietnamese Pho were worldwide acclaimed as the best dish, Vietnam then would get the label of The Country of Pho only. A fact is that many foreigners working for years in Vietnam are still reluctant to take Vietnamese dishes, regardless of whether a majority of the Vietnamese people consider their Pho the best. It is therefore assumed that when referring to the so-called the Kitchen of the World, Philip Kotler profoundly implied that even the literal meaning of the phrase could hardly be properly understood. Corporate Kitchens are where food is prepared according to the orders of customers and prepared food is brought out to serve customers. Corporate Kitchens are not where food is prepared according to the fancies of chefs then customers flock into to eat prepared food. Figuratively, unique products of national branding are for export purposes, whilst food of household is offered free to guests. And as the national branding establishment requires thorough understanding of rules, processes, and progresses; a strongly organized enforced mechanism; and a long-term general planning, I wish to propose the following target title for Vietnam: The Campus of the World with details are as follows.

Totally different from gourmet requirement which basically depends on individual customer and not on the food particulars of billions of dishes, the needs for education and training have the focus on a limited and seemingly uniformed list of available fixed goods; e.g. upon graduated from universities, most of people wish to get an MBA (which is losing its priority to the MIB) and the points of concerns are on where to apply affordably and conveniently, away from unnecessary torture at visa application interview process, and well within among friendly environment of much more competitive offerings tangibly and intangibly to the students. Vietnam is the very country of so much affordable convenience and preferential competitiveness to overseas students as per the following analysis, actually really factually practically suitable for an advertisement campaign for this country branding at an absolutely safe level without involving into any dispute or court case due to excessive residue of fatal insecticides or antibiotics or morphine used in making of noodle for “Pho”, or the like, which all so easily damage the country image, prestige, and pride.

Saying Vietnam is the safest haven for business operation is a fantastic emphasis on its high level of security politically, economically, and naturally favourably. Overseas students will find Vietnam an ideal place for admission to universities and colleges of the USA or other countries who operate in Vietnam, without any fear of school massacre shooting, racial discrimination, political chaos, riots, messy demonstration protests, or natural disasters, etc., where their parents and families would release themselves of any anxiety when investing in the schooling of their children in Vietnam. The unique and exclusive pluses to the studying in Vietnam of overseas students and to the teaching in Vietnam of foreign teachers include the traditional environment of desires of learning of Vietnamese people, total respect paid to teachers by students, their families, and the whole community, making positively interesting impacts on overseas students in building a constructive profound personality which prove the cultural factors play an important role in the growth rates of the economy (Kotler, Jatusripitak, & Maesincee 1997, 149). In a speech delivered by Professor Werner Soontiens of Curtin University of Technology of Australia at the seminar on globalization and business potentiality between Australia and Vietnam organized just two days after the Philip Kotler’s international conference, an interesting note was given about a unique advantage of Vietnam to the world that the people of this war-torn country undergoing the torture from invaders from China then France then Japan then the USA with its allies just to experience more the diversifying prototypes of “enemies” to understand them thoroughly, and not for an eventual revenge or a terrible xenophobia . This is why business people from even the countries of past problems with Vietnam flock to the country without any fear of falling victims to vengeance.

To make the country further qualified for the national brand name of the Campus of the World, the government can improve the licensing procedures for campus projects, provide preferential adjustment on profit transfer back home, land use, and even policies to provide job opportunities to foreign students upon graduation. And why it is not possible if together with the local talents, the foreign students who work in Vietnam after graduation will further contribute to the development of the economy of the country, even making it gain the other national branding of The Gray Matter of the World in the long run?

Hoang Huu Phuoc, MIB

References:

Kim Hạnh. n.d. Người Thái Đã Đi Trước. http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=216595&ChannelID=11

Kotler, P., S. Jatusripitak, & S. Maesincee. 1997. The Marketing of Nations. New York: Free Press.

What Happened in Bhopal. http://www.bhopal.org/whathappened.html#_ftn1#_ftn1 (accessed August 24, 2007)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

“Make in India”

Lối Mòn và Lối Mới của Tư Duy

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Danang 24Dec2014_11

Đà Nẳng, 24-12-2014

Hai mươi năm trước, khi vầng dương của công nghệ thông tin vừa ló dạng ở chân trời, khi thấy sự háo hức hừng hực hồ hởi của thông tin trên báo chí tác động đến người đọc trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm dẫn đến việc nhà nước mạnh tay chi tiền cho phát triển aitee tức IT tức công nghệ thông tin còn người dân thì mạnh tay đầu tư cho con em học hành lên cao cho ngành aitee, tôi đã tuyên bố tại tất cả những buổi đứng lớp và các buổi thuyết trình rằng sẽ chẳng thể nào có được ngày bừng sáng của aitee tại Việt Nam. Và hai mươi năm sau, xuất hiện những thông tin rằng các đại gia aitee Nhật và Hàn không thể tìm ra đủ nguồn nhân lực cho cơ sở đầu tư công nghiệp aitee của họ tại Việt Nam. Phải chăng tôi là bậc tiên tri thấu thị, một man of vision theo cách gọi trọng vọng của ngôn ngữ phương Tây? Hoàn toàn không. Đơn giản tôi chỉ là một người Việt biết rất rành người Việt. Hầu như ai khi học aitee cũng phạm bốn lệch hướng ngay từ đầu gồm (a) đã học thì phải ở “đẳng cấp đại học”, trong khi aitee chủ yếu là loại “hand-on” tức cầm tay chỉ việc, vừa không là ngành học hàn lâm để mất thời gian 3 hay 4 năm dưới mái trường “đại học”, vừa tiến hơn vũ bảo, biến toàn bộ các kiến thức của thầy/cô nhanh chóng lạc hậu và trang thiết bị đắt tiền loại không-ăn-cắp-bản-quyền của nhà trường biến thành sự đổ sông đổ biển ngân sách hàng năm; (b) đã là aitee thì phải làm giàu như Bill Gates; (c) đã là “cử nhân” aitee thì dứt khoát không chịu làm “thợ” tức chuyên viên kỹ thuật; và (d) đã học aitee “thành tài” thì phải mở “doanh nghiệp” làm giám đốc, mà toàn là mua bán handphone/laptop chính hãng hoặc “xách tay” hoặc viết những phần mềm “quản trị” không đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp nước ngoài [1].

Nhiều chục năm nay, khi toàn cầu hóa trở thành từ ngữ chót lưỡi đầu môi của những nhà hoạch định chính sách và những nhà-thích-nói-về-hoạch-định-chính-sách, những người nói nhiều về “thương hiệu quốc gia” gồm ba nhóm: (a) nhóm cho ra những định nghĩa mà sách vỡ hàn lâm dịch thuật ra tiếng Việt có thể cung cấp được chi tiết lập luận đủ đầy một cách ấm áp lổ tai, (b) nhóm vồ lấy những thông tin sai lệch làm thành thông tin chính thống tràn ngập tất cả các trang báo giấy và báo mạng như trường hợp câu nói ví von theo nghĩa bóng khôi hài của giáo sư Philip Kotler tại Việt Nam năm 2007 về “Nhà Bếp Của Thế Giới” [2] biến thành sự hồ hởi phấn khích cực độ tuyên truyền đòi món ăn đầy yếu điểm như “Phở” làm thương hiệu quốc gia của Việt Nam, và (c) nhóm tự chế tạo linh tinh một khái niệm mới bằng tiếng Anh dù hoàn toàn không có trình độ về tiếng Anh như hô hào trên Thời báo Sài Gòn năm 2008 về đổi Made in Vietnam thành Made by Vietnam để….phù hợp với toàn cầu hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia một cách đáng thương hại. Bài viết này sẽ phê bình nhóm thứ ba này trước khi nói về “Make in India”.

“Made in Vietnam” có nghĩa là sản phẩm này được chế tạo tại Việt Nam, bất kể là do người Việt Nam là chủ nhân sáng chế hay thực hiện theo đơn hàng và bằng sáng chế của người khác. Và theo thông lệ của tính ưu thế thì ai đến nước khác (hoặc đặt hàng nước khác) sản xuất thì luôn tận dụng nguồn nhân lực tại chỗ nên dù muốn dù không cũng luôn mang sẵn nội hàm được làm bởi người bản xứ mà trong trường hợp này thì đó là “Made by Vietnam”. Như vậy, “Made by Vietnam” nằm sẵn trong “Made in Vietnam”. Vấn đề là thế giới chỉ cần biết xuất xứ theo thông lệ xuất nhập khẩu để áp thuế thích hợp, nên luôn luôn có dòng chữ thí dụ như MADE IN VIETNAM trên bao bì, và chẳng ai cần quan tâm đến cụm từ vô nghĩa MADE BY VIETNAM mà nhóm thứ ba lập luận một cách thơ ngây, đề xuất một cách vô ích đối với “thương hiệu quốc gia”.

Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phải học đại học nên mới có đại học aitee, đại học múa, v.v. Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phải làm việc đại sự, phải chế tạo xe hơi, nên hai chục năm nay không thể có ngành công nghiệp phụ trợ, đẩy toàn bộ lợi nhuận và cơ may phát triển công nghiệp ô-tô vào tay các lân bang. Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phải làm ông chủ chứ không được đi làm thuê trên chính đất nước của mình. Tư duy lối mòn kiểu Việt luôn là phát hoảng thất kinh hồn vía khi thấy lân bang chế được cái gì đó, chẳng hạn phát sốt khi nghe nói Thái Lan đã cướp mất thương hiệu quốc gia “Bếp Ăn Của Thế Giới”, và phát rồ lớn tiếng chỉ trích chê bai chính phủ đã chậm chân vì Campuchia đã chế được xe hơi cỡ nhỏ giá rẻ, v.v.

Khi Trung Quốc được mang danh “Công Xưởng Của Thế Giới”, nơi thế giới đổ xô về đấy để đầu tư mở các nhà máy sản xuất với đôi mắt sáng rở trước viễn cảnh thị trường bao tỷ dân có sẵn, và Ấn Độ được mang danh “Văn Phòng Của Thế Giới”, nơi cung cấp các giải pháp quản lý từ xa cho các doanh nghiệp Âu Mỹ [3], thì Việt Nam có kế sách rất nhu mì “hiện đại hóa” nền công nghiệp nước nhà nhưng hoàn toàn không nói lên sự cạnh tranh mạnh mẽ nào đối với ai, tại đâu, bằng cách gì, vào lúc nào, vì sao, và ai “đứng mũi chịu sào” trong những ngành “mũi nhọn” như điện tử, máy nông nghiệp, chế biến nông-thủy sản, đóng tàu, môi trường và tiết kiệm năng lượng, sản xuất ô-tô và phụ tùng ô-tô.

Ấn Độ, trái lại, không lẳng lặng như Trung Quốc a-thần-phù biến mình thành công xưởng của thế giới, và cũng không nhu mì như Việt Nam chẳng khẳng định mình khi hiện đại hóa và công nghiệp hóa sẽ là gì của thế giới. Ấn Độ đã một cách hùng hồn và ồn ào qua quảng bá trên đài CNN suốt tháng 11 năm 2014 và phổ biến trên toàn thế giới công khai chiếm đoạt tước đoạt thương hiệu “công xưởng của thế giới” từ tay Trung Quốc đồng thời vô hiệu hóa nổ lực hiện đại hóa và công nghiệp hóa của Việt Nam bằng siêu dự án đẳng cấp thiên hà MAKE IN INDIA. Vậy MAKE IN INDIA là gì?

Nếu MADE IN INDIA – giống như Made in Vietnam hay Made in Japan, v.v. – có nghĩa là dòng chữ thụ động (passive voice) chứng thực rằng “sản phẩm này được sản xuất tại Ấn Độ” (đương nhiên bởi người Ấn Độ, theo sáng chế của Ấn Độ hoặc sáng chế của bất kỳ ai đặt hàng cho Ấn Độ sản xuất), thì MAKE IN INDIA lại mang nghĩa mời gọi chủ động (imperative mood) rằng “hãy sản xuất hàng hóa của bạn tại Ấn Độ” với nội hàm “trên cơ” một cách khủng khiếp rằng Ấn Độ có sẵn nguồn nhân lực hùng hậu, thị trường sẵn có rất thông thoáng rộng mở và đang có sự hoạt động sản xuất của các nhà đầu tư nước ngoài cỡ lớn, cơ chế chính sách pháp luật hoàn toàn đầy đủ, cơ hội kinh doanh sẵn có cùng lợi nhuận dồi dào, và các hỗ trợ tài chính đủ đầy về 25 lĩnh vực như: ô-tô, phụ tùng ô-tô, hàng không, kỹ thuật vi sinh, hóa học, xây dựng, vũ khí quốc phòng, máy điện, hệ thống điện tử. chế biến thực phẩm, công nghệ thông tin, đồ da, truyền thông và giải trí, khai khoáng, dầu khí, dược phẩm, cảng, đường sắt, năng lượng tái tạo, xa lộ – cầu đường, vũ trụ không gian, dệt may, nhiệt điện, du lịch – khách sạn, và y dược dân tộc. Mỗi lĩnh vực của Nhị Thập Ngũ Sư này

 MII

đều được cung cấp đầy đủ thông tin chi tiết và đầy sức thuyết phục dưới 10 tiêu đề gồm (a) tóm tắt nội dung lĩnh vực, (b) lý do thuyết phục vì sao nên đầu tư sản xuất trong lĩnh vực này tại Ấn Độ, (c) các số liệu thống kê phát triển cùng triển vọng ngành này tại Ấn Độ, (d) các động lực phát triển, (e) chính sách dành cho đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào ngành này, (f) các chính sách liên quan đến ngành này, (g) các hỗ trợ tài chính đối với đầu tư vào ngành này, (h) những cơ hội đầu tư từ ngành này, (i) những nhà đầu tư nước ngoài hiện hữu trong lĩnh vực này tại Ấn Độ, và (j) các cơ quan Nhà nước hỗ trợ riêng về lĩnh vực này.

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ! Đó là ý nghĩa của MAKE IN INDIA.

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ vì chúng tôi sẵn sàng “làm thuê” cho bạn ngay tại đất nước của chúng tôi! Hãy đổ xô đến Ấn Độ vì các bạn không thể được chào đón tương tự tại những quốc gia mà nơi đó còn “sĩ diện” mãi thở than sao họ cứ mãi “làm thuê trên chính đất nước mình”nghĩa là họ chỉ muốn làm ông chủ!

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ! là một khẩu hiệu quốc gia mới của Ấn Độ cho một chủ trương đã rất cũ – vì rằng Ấn Độ đã mở cửa nhiều thập niên nay cho biết bao nhà sản xuất nước ngoài đến mở nhà máy sản xuất thậm chí cả hóa chất độc hại [4].  

Hãy Sản Xuất (Hàng Của Bạn) Tại Ấn Độ vì chúng tôi vừa có dân số chẳng kém gì anh kia – nghia là thị trường cũng khổng lồ tương tự – vừa không có chủ trương bá quyền nước lớn như ảnh cứ luôn gây hấn ở biển nọ biển kia, cự chống nước đấy nước này.

Đó là những thông điệp khúc chiết đầy tính tu từ và thuyết phục từ MAKE IN INDIA.

Biến đổi một cụm từ mặc định của xuất khẩu hàng hóa MADE IN INDIA thành một khẩu hiệu mang tính thương hiệu quốc gia đẳng cấp cao MAKE IN INDIA, đó là cái tài của những nhà kinh thương tầm cỡ thế giới.

Việt Nam rất cần những cơ quan tầm cỡ như vậy, có đầy những nhân lực tầm cỡ như vậy, mới có những hiện thực hóa về nguồn nhân lực đủ đầy cho tất cả các ngành, mới có những chính sách chủ trương lót đường vững chắc sẵn sàng cho tương lai để tương lai biến thành hiện tại chứ không phải xây đường du kích tương lai khi hiện thực manh nha ở tương lai, mới có thể nhìn lại xem người ta còn thiếu lĩnh vực nào để mình có thể lảnh ấn tiên phuông và người ta còn yếu lĩnh vực nào để mình lấn lướt, vì rằng phát kiến đổi Made in Vietnam thành Made by Vietnam chỉ là lời nói thiếu nghiêm túc, không hiểu biết, của những người muốn lấn sân ngôn ngữ Anh chứ không của bậc tài trí chiến lược đúng nghĩa về “thương hiệu quốc gia”.

Hỡi các vị hay phê phán chính sách kinh tế của Nhà Nước, xin đừng hốt hoảng! Vì Ấn Độ vẫn còn bỏ sót ít nhất là một lĩnh vực mà Lăng Tần đã đóng góp ý kiến từ năm 2007 [5].

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 08-3-2009. Aitee Việt Nam: Bài Viết Số 1 – Tìm Một Lối Đi  Đúng Tầm Nội Lực – Nhân Sự Kiện Bảo Việt Nhân Thọ và Bravura Solutions. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17550 / http://www.emotino.com/bai-viet/17550/aitee-it-viet-nam-tim-mot-loi-di-dung-tam-noi-luc (hiện không truy cập được tại emotino.com– sẽ post lại trên blog này sau hai tuần)

[2] [4] [5] Hoàng Hữu Phước. 07-8-2008. Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. Bản gốc tiếng Anh đăng 05-11-2007 tại http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc, và Bản tiếng Việt đăng 07-8-2008 trên http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam. (hiện không truy cập được tại emotino.com– sẽ post lại trên blog này sau một tuần)

Bản gốc tiếng Anh: Hoang Huu Phuoc. 05-11-2007. On the National Branding: Vỉetnam, the Campus of the Worldhttp://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc. Re-posted 07-8-2008 at http://www.emotino.com/bai-viet/16872/national-branding-vietnam-the-campus-of-world.(presently not accessible, to be re-posted herein within the following week)

[3] Hoàng Hữu Phước. 2007. People Say Chindia. I Say Vietnam. Bài viết tiếng Anh đăng trên http://uk.360.yahoo.com/hoanghuuphuoc, không còn bản lưu. Nội dung: thế giới nói quá đáng về Thị Trường Trung-Ấn Vĩ Đại (China+India = Chindia) như hấp lực to lớn đối với đầu tư của toàn thế giới dồn về, trong khi tôi cho rằng thế giới sẽ trả một giá rất đắt cho viễn cảnh sai lầm đó, và rằng doanh gia thế giới nếu khôn hãy đầu tư vào Việt Nam. Bạn nào có lưu bài viết này xin vui lòng cho nhận một bản sao. Xin chân thành cảm ơn.

15.000 Tấn Gạo = 1 Xấp Vải Quần

(Bài đã đăng trên Emotino ngày 26-12-2010[1] và có chỉnh vài chi tiết nhỏ trong phần đăng lại dưới đây)

 Rice (1)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Khi được ở gần Cha Mẹ, được Cha Mẹ thực sự đùm bọc, thực sự thương yêu, thực sự hết lòng dạy bảo lẽ phải điều hay và đạo lý ở đời, người ta chắc chắn sẽ biết thế nào là thực sự yêu nước, tức lòng yêu nước hoàn chỉnh bao gồm tất cả những khái niệm và nội dung của dựng nước vẻ vang, bảo vệ đất nước thành công, xây dựng đất nước hùng mạnh, xây dựng con người giỏi giang văn minh cho đất nước, phục vụ đất nước, và tôn thờ tôn vinh tôn trọng đất nước. Từng thành tố trong xã hội có một hay hơn một vai trò – chứ không bao giờ đảm trách hay có khả năng quán xuyến tất cả các vai trò – tác động vào việc hình thành “lòng yêu nước” nơi con người văn minh của đất nước, vì vậy có những cán bộ đảng viên hủ hóa tham ô tham nhũng dù đã hy sinh trọn tuổi thanh xuân, thân thể, người thân cho đại cuộc bảo vệ đất nước thành công, chỉ vì ngoài sự giáo dục của Đảng họ đã không may mắn có được sự dạy dỗ của Mẹ Cha để biết ngoài thế lực thù địch của cách mạng mà Đảng đã dạy cho họ thấu đáo, còn có thế lực tàn phá nội tại mang tính “con” người mà chỉ có sự răn dạy và gương sống của Mẹ Cha cùng những giáo huấn mang tính 50% tín ngưỡng và 50% bài học sống của quá khứ cùng kinh nghiệm sống thực tế của Mẹ Cha mới có thể làm dây cương kềm chế chắc chắn, hữu hiệu.

Khi đã có lòng yêu nước thực sự theo diễn giải bao trùm của khái niệm mới trong thời đại mới trên, người ta nếu được chứng kiến cuộc sống thật sự đạo hạnh và thật sự đạo đức của Cha Mẹ, người ta chắc chắn sẽ không gặp chút khó khăn nào để tránh xa tham nhũng và hối lộ.

Hai mươi sáu năm trước, lúc Việt Nam chỉ có công ty nhà nước, quảng cáo chưa hề xuất hiện thừa mứa trên báo chí hay quấy rầy thường trực trên tivi, xã hội chưa có luật đầu tư nước ngoài hay luật thuế thu nhập cá nhân, và số văn phòng đại diện công ty nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đếm được trên đầu ngón tay của chỉ một bàn tay đủ ngón, khi nghe tin tôi tiếp cận VCCI dọ hỏi thông tin để mua gạo cho chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam có giá trị thương mãi sang một nước tư bản, tự dưng xuất hiện rất nhiều công ty nhà nước ở rất nhiều tỉnh thành đã tìm đến tôi.

Do tôi đã dạy vợ cực kỳ nghiêm khắc từ thủa ban sơ mới về, rằng đừng bao giờ nhận bất kỳ quà cáp nào, tiền bạc nào, phong bì nào, của bất kỳ ai, nhất là của người lạ – đề phòng đó là truyền đơn chống Cộng, ma túy, hay chất nổ – nên vợ tôi khi thấy nhiều người lạ bí hiểm đến tìm lúc ở nhà một mình, thân gái ngây thơ, chưa có con mọn, kinh hãi trốn núp trong nhà, vái van Trời Phật sao cho nhanh chóng trở lại tương lai hai mươi sáu năm để có điện thoại di động gọi chồng. Khi tôi về đến nhà (thường sau 21 giờ, do làm việc xong còn phải chạy đi dạy ở Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội và một số trung tâm ngoại ngữ do không thể nói không trước các lời mời mọc của…nhà nước, nên thường xuyên để vợ nhịn đói xem phim Người Giàu Cũng Khóc trên tivi Lucky Goldstar Hàn Quốc chờ cơm), đã thấy từ xa ngồi thu lu trước sân nhà tôi những bóng đen của Men in Black với đốm lửa bập bùng của thuốc lá y như phim Cảnh Sát Hình Sự. Thế là tôi buộc phải tỏ lòng hiếu khách mời họ vào nhà từng người – hoặc từng “công ty” – một. Nội dung công ty thứ nhất nói với tôi gồm: nếu tôi tác động ký hợp đồng 15 ngàn tấn gạo với công ty họ, ngay lập tức ngày hôm sau họ chở một máy lạnh Nhựt Bổn, một tủ lạnh Nhựt Bổn, một máy giặt Nhựt Bổn, một tivi Nhựt Bổn, hai chiếc Honda Cub Nhựt Bổn, kèm 15 ngàn đồng tiền đồng minh Nhựt Bổn (USD) để tôi … có phương tiện chạy đi thanh toán tiền điện hàng tháng cho mấy thứ máy Nhựt Bổn lỉnh ca lỉnh kỉnh đó. Chưa hết, khi bên tôi mở tín dụng thư e-lờ-xê không hủy ngang (irrevocable elcee) hơn 4 triệu USD xong, họ đưa tiếp 7.500 USD tiền mặt; khi tôi điều tàu vào tới Cảng Sài Gòn sẽ nhận tiếp 7.500 USD tiền mặt; và khi họ nhận được tiền thanh toán qua ngân hàng sẽ gởi tôi 22.500 USD tiền mặt, vị chi là cứ mỗi tấn gạo tôi hưởng tiền mặt là 4 USD. Các công ty vào sau thì tất nhiên đẩy giá lên cao hơn đến 4,5USD/tấn, rồi 5 USD/tấn, rồi 10 USD/tấn, khiến vợ tôi nằm ở phòng trong đã đói meo meo nay nghe loáng thoáng con số hối lộ 150.000 USD – vào thời điểm mà mỗi khi tôi cho ai một gói thuốc 555 là người ấy cảm ơn rối rít, chạy bay ra bán lại cho xe bán thuốc lá lẻ lề đường – mà hết cồn cào khỏi cần uống mật ong nghệ đen trị đau bao tử. Khi mọi người đã về hết, tôi ăn cơm nguội canh lạnh cùng vợ hiền lúc 23 giờ. Vợ tôi không nhắc gì về “phi vụ” ấy vì có hỏi cũng bằng thừa do biết anh chồng trẻ của mình sẽ làm gì qua cái cười khinh khỉnh khinh người khinh miệt khinh khi khinh rẻ khinh thường vừa nhai cơm vừa nhai xương vịt đầy giận dữ của “anh ấy”.

Và đây là việc tôi làm: tôi chủ động liên lạc với Imexco vì đó là tổng công ty xuất nhập khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh (tôi phải lịch sự với chính quyền sở tại nơi đóng văn phòng đại diện của mình để chứng tỏ ngay từ thủa thế giới chưa ai phát minh ra khái niệm CSR[2] thì tôi đã tỏ trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng rồi); kế đến là Generalimex Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Ngoại Thương để yên tâm có … “trung ương” (tôi phải lịch sự với trung ương để chứng tỏ mình có giáo dục); và sau đó là Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Đồng Tháp (để yên tâm có…nguồn cung ứng gạo thật sự). Mỗi công ty ký hợp đồng cung ứng 5.000 tấn cộng/trừ 10%, gạo trắng, hạt dài, không dẻo, 35% tấm. Không ai trong số ba công ty này có mặt tại nhà tôi để ra giá mua tôi trước đó. Tôi chọn Đồng Tháp vì cân nhắc chính xác về nguồn gạo đáng tin cậy hơn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (vào thời điểm đó), và vì trước khi “làm ăn” với công ty địa phương nào, tôi luôn “chấm điểm” cung cách và tư cách vị lãnh đạo nơi công ty ấy. Anh Võ Hùng Dũng, Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty Xuất Nhập Khẩu Đồng Tháp, là người khiến tôi thích thú hơn vì Anh chứng tỏ biết người trước mặt mình như thế nào để có cách ứng xử thích hợp.

Ngày tàu đến lại nhằm lúc kẹt cảng phải neo giữa sông Sài Gòn. Cả ba công ty cho đoàn đoàn xà lan tắp đông đúc hai bên mạn tàu. Dù đã có Vinacontrol cùng Công ty Kiểm Kiện làm công việc của họ, tôi vẫn theo ca-nô của Cảng Vụ Port Authority Operation ra tàu, leo lên chiếc thang dây chão đung đưa bên mạn tàu (lúc ấy tôi nặng 84kg net đã trừ bì) để lên tàu kiểm tra việc lót cót các hầm tàu, chứng kiến tiến độ lên hàng và giám sát việc chất gạo sao cho bảo đảm hệ số chất xếp storage factor hầu có thể chất thêm nhiều gạo hơn, có lợi cho “phe ta” tức các công ty xuất khẩu gạo tức các nông dân. Dưới ánh nắng chói chang, tôi thích đứng cạnh các cô nhân viên kiểm kiện “Bắc Kỳ” cực kỳ xinh đẹp đội nón lá gò má ửng hồng mà mấy anh thủy thủ nước ngoài bụng bự răng sún (không đeo vải đen che một bên mắt và không có bàn tay câu móc như trong phim hoạt hình Peter Pan) đầm đìa mồ hôi lạng qua lạng lại hềnh hệch cười nhe răng tán tỉnh.

Sau khi tàu rời bến, ba thương vụ gạo đầu tiên của Việt Nam thành công. Anh Võ Hùng Dũng bảo một cán bộ là Anh NVL đến nhà tôi gởi tặng tôi một…xấp vải may quần tây màu gì ấy, trộn lẫn giữa đen, xanh nước biển đen, xanh lá cây đen, xám đen, và…vàng đen. Đó là món quà tôi vui vẻ nhận từ người sâu sắc biết tôn trọng người học đòi nết hạnh thanh liêm ở thánh nhân. Vợ tôi đã phải vừa đưa tiền cho tôi đi may quần từ xấp vải ấy, vừa than rằng phải chi họ đưa tiền thì nàng đã có thể mua xấp vải Sài Gòn tốt hơn vải Đồng Tháp, và có màu…đàng hoàng hơn.

Thanh liêm ư? E rằng dùng từ quá to tát cho một việc nhỏ bé mà bất kỳ ai có Cha Mẹ, được Cha Mẹ thực sự đùm bọc, thực sự thương yêu, thực sự hết lòng dạy bảo lẽ phải điều hay và đạo lý ở đời, đều có thể dễ dàng làm được. “Ăn” vài chục ngàn hay cả trăm ngàn USD đồng nghĩa với việc hàng hóa sẽ không có chất lượng cao, phá nát uy tín quốc gia, bôi nhọ hạt gạo Việt Nam, gây tội ác với nông dân, và làm hại nông nghiệp nước nhà. Danh dự quốc gia không thể bị đánh mất chỉ vì những kẻ không biết thế nào là danh dự bản thân và trách nhiệm cá nhân với cộng đồng [3].

Tôi thường gặp Anh Võ Hùng Dũng – nay là Tiến Sĩ, Giám Đốc VCCI Cần Thơ – tại các hội nghị quốc tế về lúa gạo, lương thực quốc gia. Tại World Rice Outlook 2011 ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 11 năm 2010 này, Anh Dũng lúc giải lao đã gọi Cô Lê Thị Mỹ Dung, phó giám đốc Công ty Lương Thực Đồng Tháp đến chào tôi, do trước đây Cô là nhân viên lo đôn đốc thức khuya dậy sớm theo sát các chành gạo để bảo đảm lượng hàng chất lượng tốt đáp ứng đúng yêu cầu nghiêm khắc của tôi. Nữ doanh nhân này rất khéo ăn nói khi bảo “Anh Phước bi giờ trẻ hơn hồi đó!” làm tôi hoảng sợ, chẳng qua vì tôi không thích ở tuổi…teen lo nhìn ngón chân cái [4]. Thật ra, chắc tại hồi đó tôi làm mặt “ngầu” (không phải để vòi vĩnh hoa hồng mà để ai cũng sợ mà chuẩn bị hàng hóa cho đàng hoàng) nên giống “Bố Già” hơn, còn bây giờ lịch lãm làm tư vấn nên giống Ông Trẻ. Khi trò chuyện nhắc về chuyến xuất khẩu gạo ngày xưa, Anh Dũng nói anh NVL dường như vừa bị bắt ở Thành phố Hồ Chí Minh vì buôn lậu. Tôi lặng người, mất vui, vì người thay mặt Anh Dũng đưa tôi xấp vải quần đã bảo tôi rằng tôi thật lạ vì đã từ chối cơ hội bằng vàng mà bạn bè anh ấy ở các công ty kia muốn trao cho tôi làm giàu nhanh chóng. Ắt anh NVL đã không khen tôi khi dùng chữ “thật lạ” ấy.

 Rice (2)

Tôi cảm ơn Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng đã cho tôi một giai thoại mang tên 15 ngàn tấn gạo bằng một xấp vải quần để vợ tôi có chuyện kể cho con tôi nghe từ lúc cháu còn bé tí tẹo, để tự hào về Bố của nó và để giáo dục chính nó.

Tôi mong sao mọi người đều hiểu rằng tham nhũng[5] là chuyện làm điếm nhục gia phong, và rằng sống thanh liêm chính là sống tròn đạo hiếu vì chỉ khi sống thanh liêm người ta mới khiến người khác phải tin rằng mình đã thực sự có Cha Mẹ tốt đẹp, được Cha Mẹ thực sự đùm bọc, thực sự thương yêu, thực sự hết lòng dạy bảo lẽ phải điều hay và đạo lý ở đời. Đó mới là cách vinh danh Cha Mẹ chứ không phải là khoe với Cha Mẹ về chức tước cao vời của mình và đem về cho Cha Mẹ bạc tiền chất cao ngút ngất mình kiếm được không do đức độ và tài năng chân chính.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 26-12-2010. Tôi Và Tiến Sĩ Võ Hùng Dũng: 15.000 Tấn Gạo Bằng 01 Xấp Vải Quần. http://www.emotino.com/bai-viet/18927/toi-va-tien-si-vo-hung-dung-cau-chuyen-15000-tan-gao-bang-1-xap-vai-quan

[2] Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng.

[3]Thuật ngữ mới của Hoàng Hữu Phước: ISR Individual Social Responsibility / PSR Personal Social Responsibility,  như một khái niệm mới về nền tảng quan trọng hơn và quyết định cho sự thành bại của CSR. (Sẽ có bài viết về ISR/PSR).

[4] Hoàng Hữu Phước. 2009. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật: Nhìn Ngón Chân Cái. http://www.emotino.com/m.php?p=18336. Đăng lại ngày 06-10-2014 tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/06/tuoi-teen-khong-bao-gio-co-that/

[5] Khi nói “tham nhũng”,  cụm từ này phải bao gồm bất kỳ ai đề nghị tham nhũng để tham nhũng, bất kỳ ai đáp ứng đề nghị tham nhũng để thành kẻ đưa hối lộ, bất kỳ ai đòi hối lộ để thành tên tham nhũng, và bất kỳ ai đáp ứng lời đòi hối lộ để là kẻ đưa hối lộ, vì tất cả đều có tội làm vấy bẩn môi trường sống và đều có tội đối với luật pháp quốc gia, làm điếm nhục gia phong.

Nguồn khác (Emotino.com, hiện không truy cập được):

Hoàng Hữu Phước. 2009. Hành Trình Hạt Gạo Việt: Gạo Việt Ra Chợ Quốc Tế . http://www.emotino.com/m.php?p=18302

Hoàng Hữu Phước. 2009. Người Đầu Tiên Góp Phần Đưa Hạt Gạo Đi Xa. http://www.emotino.com/m.php?p=17638

Hoàng Hữu Phước. 2010. Dạy Vợ. http://www.emotino.com/m.php?p=18722

Hoàng Hữu Phước. 2010. Tham Nhũng Tại Việt Nam. http://www.emotino.com/m.php?p=18916

Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ

Mở Hướng Kinh Doanh

(bài viết của Hoàng Hữu Phước trên Emotino ngày 23-12-2011)

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi do xuất thân giảng dạy Anh Văn và có sở thích sáng tác thơ văn bằng tiềng Anh, tôi cùng vợ tôi thậm chí đã tự thiết kế thiệp cưới của chúng tôi năm 1987 trên nền trích đoạn một khổ stanza từ bài sonnet Epithalamium của tôi và một khổ stanza khác từ bài sonnet Amor Fantasia của vợ tôi như:

 HHP_VTL POSTScreenShot638

và cùng tham dự vài giải thưởng quốc tế bằng tiếng Anh.

Ngoài một giải thưởng của Thông Tấn Xã Novosti năm 1986 cho bài luận tiếng Anh về chủ đề hòa bình, vào năm 2000 tôi có gởi một bài sonnet tựa đề How to Overwhelm the Un-overwhelmed cho một hiệp hội thơ ca của Hoa Kỳ tên The International Library of Poetry, sau đó nhận được thư của họ, với nội dung:

 Poetry

 “Ông Hữu Phước kính,

      Cảm ơn Ông đã tham gia giải thi này của chúng tôi. Chúng tôi rất vui được trao Ông giải Editor’s Choice Award (Giải Bình Chọn Của Chủ Biên) dành cho tác phẩm dự giải của Ông được in trong tuyển tập Devotion of the Mind (Tâm Hồn Hiến Dâng). Tài năng thơ ca cùng cách nhìn độc đáo của Ông đã đóng góp thêm giá trị cho ấn bản rất được kỳ vọng này.

      Chúng tôi mong rằng giải thưởng này sẽ khích lệ Ông chuyên tâm đưa tài năng này của Ông trở nên thành tựu thơ ca cả cuộc đời.

      Một lần nữa, xin chúc mừng Ông về thành tích của Ông.

Trân trọng,

Hội Đồng Giám Khảo”

 Overwhelmed

Sự tích cực và tính chuyên nghiệp trong kinh doanh của The International Library of Poetry còn được thể hiện qua những bước tiếp theo chẳng hạn như:

1- Phát hành thi tập Devotion of the Mind  (số lưu chiểu Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ ISBN 0-7951-5006-7) gồm gần 300 trang, loại bìa cứng. Mỗi đợt thi sẽ phát hành một thi tập với tên gọi khác nhau, thí dụ năm 2001 có thi tập Devotion of the Mind (đăng bài sonnet How to Overwhelm the Un-overwhelmed đoạt giải Editor’s Choice của tôi), năm 2002 có 2 thi tập The Harvest of Dreams (Vụ Mùa Những Giấc Mơ – đăng bài sonnet A Summer Night đoạt giải Editor’s Choice của vợ tôi) The Best Poems & Poets of 2002 (Tuyển tập các Bài Thơ và các Nhà Thơ Hay Nhất Năm 2002 — đăng bài sonnet Love đoạt giải Editor’s Choice của vợ tôi), v.v.

 ggg

2- Phát hành bộ dĩa CD gồm 33 bài của 33 tác giả trong số 300 tác giả có thơ được chọn in trong tuyển tập. 33 bài này được các nhà ngâm thơ chuyên nghiệp nổi tiếng của Hoa Kỳ thực hiện trên nền nhạc baroque, và có đoạn đánh giá cho từng bài trước khi ngâm thơ. Riêng bài thơ How to Overwhelm the Un-overwhelmed của tôi được lời bình rằng “This poem is more than a music of language. It’s a variable painting of imagination. Any further description would only fail to do a justice” (Bài thơ này còn hơn cả một khúc nhạc của ngôn từ, một bức họa muôn sắc màu của trí tưởng mà bất kỳ sự miêu tả thêm nào cũng vẫn không sao nêu được hết giá trị của bài thơ).

3- Tổ chức đại hội thi sĩ thế giới. Chẳng hạn Mùa Hạ 2001 tổ chức tại Washington, Mùa Xuân 2002 tại Walt Disney World Resort, Orlando, Florida, hoặc Mùa Hạ 2002 tại Hollywood, California, v.v., với sự tham dự của 1.800 “thi sĩ” từ 55 quốc gia, trong từ 3 đến 4 ngày đêm, v.v.

 iii

“Tháng 5 năm 2001

VIP P2575040

Ông Hữu Phước kính:

      Tôi xin thông báo cùng Ông về việc đề cử Ông tham dự giải Ngôi Vương Thi Sĩ Tài Tử Thế Giới Năm 2001, và kính mời Ông đến ngâm thơ của Ông tại buổi hội thanh thế nhất của các nhà thơ trên thế giới, nơi Ông sẽ được trân trọng đưa vào làm Thi Sĩ Kiệt Xuất Quốc Tế và là Thành Viên Danh Dự của Hiệp Hội Thơ Ca năm 2001.

      Lễ giới thiệu Ông sẽ được tiến hành vào tối Thứ Sáu, ngày 17 tháng 8 tại Thủ Đô Washington của Hoa Kỳ, trong thời gian diễn ra Hội Nghị và Gala Mùa Hè Hiệp Hội Quốc Tế Các Nhà Thơ. Ông cũng sẽ được vinh danh với hai giải thưởng rất đặc biệt khác dành cho thành tựu thơ ca của Ông tại những buổi lễ đặc biệt tổ chức suốt kỳ cuối tuần.

      Trước tiên, để vinh danh và ghi nhận thành tựu thi ca của Ông, sau khi Ông ngâm thơ của Ông trước các nhà thơ trên thế giới, giữa những tiếng vỗ tay của khán giả, Ông sẽ được trao Huy Chương Thi Sĩ Kiệt Xuất Quốc Tế. Huy Chương bằng đồng này là một tác phẩm nghệ thuật, được chạm khắc độc đáo và đính vào dải ruy-băng đặc biệt sắc màu. Và thêm vào đó là một khung ảnh nền bằng gỗ quý in khắc bài thơ của Ông và một International Poet of Merit Silver Award Bowl tức một cúp làm bằng bạc có chạm khắc tên Ông”…

 AWARD

Do tình hình những năm đầu của thập kỷ 2000 không phải là chuyện dễ dàng để rời Việt Nam sang Mỹ, tôi đã từ chối tham dự đại hội, và ngay lập tức họ gởi email nêu một cách rất chuyên nghiệp rằng miễn tôi gởi đến họ một bài thơ mới khác (ngoài bài thơ đã được chấm nhận giải thưởng của tôi) và cho phép nghệ sĩ Alan Rose được thay mặt tôi ngâm bài thơ ấy tại đại hội là tôi xem như được đặc cách nhận tất cả các phần thưởng của giải dù vắng mặt:

 Poetry (19)

4- Cung cấp dịch vụ in ấn:  Poetry.com còn giới thiệu dịch vụ in ấn thơ cho các tác giả trên thế giới. Việc in ấn có chất lượng cao của Mỹ, theo phông (chữ) do tác giả lựa chọn và kèm hình ảnh do tác giả cung cấp, với bảo đảm rằng các ấn phẩm đều có lưu chiểu danh chính ngôn thuận tại Thư Viện Quốc Hội – tức có mã số ISBN (International Standard Book Number), và được đóng gói báo bì chuyên nghiệp cho từng quyển trước khi các kiện sách được gởi đến địa chỉ ở quốc gia của tác giả, v.v. Như vậy, mỗi “nhà thơ” tham dự có thể bỏ tiền ra đặt in theo số lượng mong muốn để có đủ số quyển thơ được gởi về tận quê nhà làm quà tặng cho thân nhân cùng bạn hữu.

Nói tóm lại, Poetry.com là một sân chơi thú vị cho những “nhà thơ” tài tử nghiệp dư trên toàn thế giới sáng tác thơ ca trực tiếp bằng tiếng Anh, đồng thời mỗi kỳ đại hội cũng là dịp các nhà xuất bản tìm đến tham dự để phát hiện các tác giả tiềm năng và ký kết hợp đồng cho thị trường phát hành sách của Hoa Kỳ. Qua việc cung cấp cái chúng ta gọi là “sân chơi”, Poetry.com (và rất nhiều tổ chức khác cũng “kinh doanh” y như Poetry.com) đã vừa chủ động làm giàu cho chính họ, vừa làm phát triển ngôn ngữ Anh (Mỹ) khắp thế giới – dù họ có lẽ không chủ động hay chủ tâm như thế.

Trông người lại gẫm đến ta. Việt Nam có tổ chức thi hoa hậu có sự tham dự của các Việt Kiều. Việt Nam có tổ chức giải Vovinam Việt Võ Đạo có sự tham gia của các đấu sĩ nước ngoài. Việt Nam có tổ chức khiêu vũ có sự tham gia của các vũ công nước ngoài. Giả dụ có một Việt Kiều đăng quang Hoa Hậu, ắt cô ấy khi rời Việt Nam ra về sẽ rất vẻ vang tại nước cô đang sống và làm việc, nhưng ắt không mấy ai ở nước ấy quan tâm đến quê hương gốc của cô ấy hoặc quan tâm đến ngôn ngữ của quê hương gốc của cô ấy; nếu có chăng là chỉ khi các báo lá cải bắt đầu đăng bài này bài nọ nhặng lên về những đơm đặt dành cho cô ấy từ những người ganh tỵ. Giả dụ có một võ sĩ nước ngoài đoạt chức vô địch Vovinam, anh ấy hay cô ấy ắt khi rời Việt Nam ra về sẽ rất vẻ vang tại nước anh ấy hay cô ấy  đang sống và làm việc, nhưng ắt không mấy ai ở nước ấy quan tâm đến quê hương gốc của anh ấy hay cô ấy hoặc quan tâm đến ngôn ngữ của quê hương gốc của anh ấy hay cô ấy; nếu có chăng là sẽ có thêm một số người đến các võ đường bên ấy học Vovinam, mà tâm lý dân “Tây” ít khi cho rằng nguồn gốc Vovinam là thông tin quan trọng cần nhớ suốt đời. Giả dụ có một Việt Kiều hay một ngoại kiều đoạt giải vô địch khiêu vũ, ắt người ấy khi rời Việt Nam ra về sẽ rất bình thường tại nước họ đang sống và làm việc, vì các vũ điệu thuộc các nền văn hóa khác, không phải của Việt Nam, và do đó ắt không mấy ai ở nước ấy quan tâm đến đất nước tổ chức giải khiêu vũ làm gì.

Nhưng nếu có hiệp hội (như Hội Nhà Văn chẳng hạn), tổ chức (như ban-ngành Văn Hóa), doanh nghiệp (kinh doanh ấn phẩm văn hóa), v.v., tổ chức những “đại hội thơ ca tiếng Việt” tương tự cho các “thi sĩ tài tử nghiệp dư” trên toàn thế giới , ắt số lượng người nước ngoài đã hay đang học tiếng Việt tại Việt Nam hay tại nước ngoài sẽ gia tăng, khiến giúp tiếng Việt – và thông qua tiếng Việt là văn hóa Việt cùng lịch sử Việt – sẽ phát triển mạnh hơn. Đó là chưa kể sự phát triển “ăn theo” của các ngành du lịch, in ấn, và nhiều dịch vụ khác.

Nếu nói theo ý của bài “Hiểu Đúng Về Doanh Nhân” tôi đã đăng trên blog emotino.com, thì quả Poetry.com đã rất đúng khi hết lòng về lĩnh vực của chính mình vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, nguyên giảng viên English Lexicology, British Civilization & Literature, English Composition, Business English, Interpretation & Translation, và English Grammar (Cao Đẳng Sư Phạm TP HCM, Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội, Trung Tâm Điều Phối Đại Học Michigan, Trung Tâm Nghiên Cứu & Dịch Thuật, Trung Tâm Ngoại Ngữ -Tin Học FOSCO KM, và Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ)

*********

Như đã nêu đầy đủ trong bài viết trên, tôi cho rằng Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam có đủ tài lực, nhân lực, và thế lực để tổ chức một đại hội thơ ca tiếng Việt hàng năm hay mỗi hai năm (International Society of Poets Hiệp Hội Quốc Tế Các Nhà Thơ, tức chủ nhân của Poetry.com nói trên, thậm chí còn tổ chức mỗi năm ít nhất hai đại hội, mỗi đại hội tại một tiểu bang khác nhau ở các khu du lịch danh tiếng khác nhau), với giải thưởng có trị giá “bình thường” (tham khảo các giải thưởng của Poetry.com ở các mức 500USD, 1.000USD, 2.500USD, 5.000USD, và 20.000USD), tại các khu du lịch nào của Việt Nam tham gia khuyến mãi, và cũng có các phần thưởng kèm theo các giải thưởng (tham khảo các phần thưởng của International Society of Poets: chiếc cúp giá 175USD tặng người thắng giải có tham dự, và tính tiền kèm cước phí đối với người đoạt giải nhưng không thể sang Mỹ tham dự); thu tiền sách mà mỗi “nhà thơ” muốn mua thêm; thu tiền in sách theo số lượng từ 50 đến hàng trăm hàng ngàn quyển được đặt in bởi các “nhà thơ” đoạt giải hoặc bất kỳ nhà thơ nào có bài được chọn đăng trong tuyển tập — mỗi tuyển tập có thơ của hàng trăm nhà thơ; thu tiền băng dĩa; và đồng thời Nhà Xuất Bản Giáo Dục đương nhiên có thêm tác phẩm (những tác phẩm trở thành bản quyền của chính Nhà Xuất Bản) để gia tăng số lượng đầu sách hàng năm trên kệ sản phẩm của Nhà Xuất Bản, v.v.

Tất cả những điều thuộc phạm vi kinh doanh rất tiềm năng và nhiều lợi nhuận kể trên vẫn chưa thể vượt qua tầm quan trọng lớn hơn rất nhiều: đó là nâng cao vị thế tiếng Việt trên thế giới. Tất nhiên, giải thưởng trên sẽ phải cân nhắc xem Việt Kiều có sẽ được tham dự cuộc thi vì kiều bào Việt Nam được mặc định rằng sẽ giỏi tiếng Việt hơn ngoại kiều. Có thể tham khảo việc International Society of Poets dành riêng cho “nhà thơ” tiếng Anh từ “hải ngoại” – nghĩa là kể cả từ Anh Quốc và các nước nói tiếng Anh. Còn thể loại thơ thì không giới hạn chỉ ở thơ lục bát (tôi và vợ tôi là những “nhà thơ” tiếng Anh duy nhất trong các tuyển tập của Hiệp Hội Thơ Ca Quốc Tế Hoa Kỳ chọn gởi sáng tác thơ cổ điển loại sonnet, nghĩa là sẽ có thể có trường hợp “nhà thơ” nước ngoài gởi thơ Tiếng Việt theo thể loại cổ điển của Thơ Đường chứ không chỉ toàn là “thơ mới” tức “thơ tự do”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Lá Thư Hải Ngoại

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vào thời điểm sắp bế mạc Kỳ họp thứ 8 tháng 11 vừa qua của Quốc Hội Khóa XIII tôi có nhận được một thư điện tử của một phụ nữ Việt Nam tên Lệ Minh là một nhà giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh sang sinh sống tại Nhật đã ba bốn năm nay. Chị này cho biết thường đọc các bài viết trên các blog của tôi, và do mới thấy có vụ công kích tôi trên mạng, Chị quyết định viết ngay thư động viên tôi và nhân tiện qua bức thư đầu tiên này cung cấp cho tôi những thông tin có giá trị so sánh mà những nhà hoạch định chính sách rất nên quan tâm và suy gẩm.

Về “Đầu Tư Nước Ngoài”

Chị cho biết con của Chị đầu tư vốn mở một công ty tại Nhật và visa được Nhật cấp là visa loại có thời hạn nhất định dành cho “nhà đầu tư”. Khi visa sắp hết hạn, con của Chị phải qua thủ tục được cơ quan nhà nước Nhật nghiên cứu xem xét tổng số tiền thuế con của Chị đã nộp cho Chính phủ Nhật trong thời gian của thời hiệu visa hiện hữu. Và visa được tái cấp cho con Chị vì doanh nghiệp của con Chị làm ăn có lãi trong năm tài khóa trước đó.

Chị hỏi tôi vì sao thấy có thông tin nhiều “nhà đầu tư” nước ngoài ở Việt Nam vừa liên tục báo lỗ để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, vừa là đối tượng bị điều tra của trò chuyển giá, và vừa tăng vốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh chiếm lĩnh thị trường Việt Nam từ Bắc chí Nam.

Câu này thì tôi vẫn chưa trả lời Chị, vì là một nghị sĩ, tôi khó thể nói rằng mấy chục năm qua Quốc Hội Việt Nam đã theo các kế sách thu hút đầu tư do các chuyên gia kinh tế đề xuất, mà có một số trong những chuyên gia này lúc về hưu thường có các phát biểu bày tỏ sự trăn trở trước các vấn nạn và sự trì trệ của nền kinh tế nước nhà cứ như thể họ là kẻ bàng quan chưa từng hiến kế gì nên chưa hề có trách nhiệm gì đối với những kế đã hiến, cũng như mấy chục năm đương nhiệm họ chẳng hề phản bác các đề xuất phát triển kinh tế “lạ lùng” không dính dáng gì đến họ ấy – đặc biệt có vài vị cựu chuyên gia kinh tế khi nghỉ hưu biến thành những người tích cực nói về nhân quyền, dân chủ, xã hội dân sự, v.v., tức là những lĩnh vực họ không chuyên, chưa từng qua đào tạo bài bản về, và chưa từng nói đến dù nói riêng hay nói theo bầy đàn trong suốt nhiều chục năm ở ngôi cao chức trọng trong nền kinh tế.

Về Trái Cây Việt Nam

Chị thấy trong siêu thị của Nhật có bán rất nhiều loại hoa quả nhập khẩu từ rất nhiều nước – dựa theo các nhãn mác ghi rõ xuất xứ địa lí – nhưng Chị hầu như không thấy hoa quả Việt Nam. Chị thậm chí đã mừng hụt khi thấy bảng ghi bằng tiếng Việt “Nước Dừa” nhưng hộp nước cốt dừa ấy “Made in Thailand”. Còn khi thấy các quầy trái thanh long và đu đủ, Chị đã buồn đúng vì biết ngay chúng từ Philippines và Indonesia vừa nhỏ, vừa không ngon, vừa không đẹp và vừa có giá trên trời. Là người xa xứ, Chị đau đáu nỗi buồn phiền trước tin thanh long Việt Nam phải đem nuôi bò hoặc bỏ chất đống hư thối ven đường cái quan.

Tôi đáp rằng vì doanh nghiệp Việt có thói quen chờ người đến mua theo kiểu “đáp ứng nhu cầu khách hàng đối với những thứ họ muốn có”, thay vì tiếp cận chào mời theo kiểu “tạo nhu cầu từ khách hàng đối với những thứ họ chưa từng biết đến”. Một cách thì ung dung thủ lợi, bàng quan trước thành quả của nông dân đem đổ sông đổ biển, một cách thì cực nhọc khai phá khai thác thị trường tuy vì nông dân mà xa hơn là nông nghiệp nước nhà nhưng chưa chắc thu hồi đủ vốn đã bỏ ra huống hồ thu về lợi nhuận.

Về Người Yếu Thế

Chị cho tôi một lời đánh giá cao đối với những bài viết của tôi về người khuyết tật. Theo Chị, ở Nhật thì các tiện ích dành cho người yếu thế như trẻ em, người già, người khuyết tật, và kể cả phụ nữ được quan tâm đầu tư vô cùng chu đáo, tỉ mỉ đến từng chi tiết ở tất cả các hệ thống giao thông và tất cả các nơi công cộng. Chẳng hạn ở tất cả nhà ga tàu lửa/tàu điện/tàu thủy, sân bay, siêu thị, công viên, v.v., thì phòng vệ sinh ở vị trí thuận lợi nhất là dành riêng cho những người thuộc diện “yếu thế” này, với đầy đủ trang thiết bị đặc chế phục vụ phù hợp cho nhu cầu vệ sinh của các hành khách thuộc diện này. Ví dụ như ghế cho trẻ em ngồi tại nhà ga hay trên phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt nâng/hạ/xếp rất tiện cho bà mẹ cho con bú hoặc thay tả cho bé. Chị bảo Chị có cảm tưởng như các đối tượng yếu thế này ít hoăc  không tồn tại trong tư duy của các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý qua các thiết kế hệ thống giao thông hoặc các công trình công cộng không hề thấy thể hiện rõ nét sự chăm sóc mang tính nhân văn cao.

Tôi trả lời rằng đó là do có ba vấn đề nghiêm trọng có liên quan là (a) ngân sách Nhà nước luôn có hạn chế dù luôn phải bội chi, (b) tư duy của đa số cho rằng đó không là việc của mình mà là của riêng Nhà nước Trung ương nên khi chưa có chính sách hay Nghị định thì địa phương không phải bày vẻ ra thêm làm gì, và (c) tính cạnh tranh cao của nền kinh tế thị trường đi đôi với sự quan tâm tập trung cho lợi nhuận nên các “nhà đầu tư” địa ốc tận dụng khoảng không để cơi nới gia tăng tối đa diện tích có thể cho thuê mướn thu lợi nhuận, thậm chí những tòa nhà cao nhiều chục tầng không có bãi đậu xe, và sự “đầu tư” nội thất cực kỳ tiện nghi sang trọng dành cho “khách hàng” thường không hàm ý bao gồm “khách hàng người khuyết tật”.

Về Công Nghiệp Phụ Trợ

Chị cũng có quan tâm đến công nghiệp phụ trợ. Chị kể về sức mạnh của loại công nghiệp này tại Nhật, cũng như tầm quan trọng mang tính chiến lược của loại công nghiệp này, v.v. Nội dung Chị nói rất giống với các thông tin trên thế giới về công nghiệp phụ trợ.

Tôi cho Chị hay rằng tôi đã quan tâm đến nội dung này cách nay hai mươi năm khi tôi có các quan hệ với vài công ty trách nhiệm hữu hạn nhỏ và vừa của Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như với Tổng Lãnh Sự Nhật Bản; và Việt Nam cũng đã có những quan tâm ở tầm vĩ mô đối với loại công nghiệp này từ lâu. Song, để giải thích vì sao vẫn chưa tồn tại một ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam, tôi có ý kiến cá nhân rằng do thói quen của đa số người trong xã hội thuộc bất kỳ giai tầng nào cũng thích chuộng hư danh hơn là thực chất. Người ta cho ra kế sách phát triển ngành chế tạo ô-tô để rồi mấy chục năm qua vẫn toàn là lắp ráp, trong khi lẽ ra phải loại bỏ hẳn kế sách này khỏi bất kỳ một chương trình phát triển kinh tế nào của nước nhà. Hãng Boeing không chế ra lốp dùng cho bánh đáp, hệ thống lạnh, ghế ngồi, giấy dùng trong toilet, bóng đèn, ghế ngồi, tấm bọc ghế, v.v., vì những thứ này do hàng trăm hàng ngàn công ty tại nhiều quốc gia cung ứng theo đơn hàng của Boeing. Việt Nam ắt đã không cho rằng chế tạo đinh ốc cho các hãng ô-tô Nhật là việc tương xứng với danh dự vĩ đại của dân tộc Việt Nam vĩ đại. Thậm chí khi nghe Campuchia chế tạo ô-tô, lập tức có chuyên gia kinh tế viết tỏ bức xúc trên báo rằng Việt Nam đã chậm chân, đã sai trong chiến lược, v.v. , trong khi với tư cách nhà tư vấn tôi có thể khẳng định rằng nền kinh tế của Campuchia sẽ bị suy thoái suy yếu suy vong nếu cái gọi là ngành công nghiệp ô-tô ấy thực sự “phát triển”.

Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang tuần trước có cho biết tại buổi tiếp xúc cử tri một kinh nghiệm của Ông khi đến thăm một nhà máy thuộc Tập Đoàn Samsung ở Hàn Quốc, ông có hỏi giá đầu tư của các máy móc thiết bị có kích thước nhỏ gọn hoặc trung bình mà Ông thấy xếp thành chuỗi nhiều trăm máy đang hoạt động náo nhiệt tại đó, và Ông được lãnh đạo đơn vị cho biết máy này vài trăm ngàn đô-la Mỹ, máy kia vài triệu đô-la Mỹ, v.v. Tôi đã dùng ý này của Chủ Tịch Nước để trả lời Chị là do công nghiệp phụ trợ đòi hỏi số vốn đầu tư khổng lồ nên hiện vẫn còn ở ngoài tầm tay của các doanh nghiệp Việt Nam.

Cuối thư trả lời, tôi có chúc con của Chị mạnh khỏe, tiếp tục thành công để visa Nhật được liên tục tái cấp để doanh nghiệp công nghệ thông tin của cháu ấy làm nên làm ra tạo công ăn việc làm cho các bậc kỳ tài Nhật Bản, để tài năng lãnh đạo của cháu được thán phục trên đất Nhật làm vẻ vang cho người Việt và nước Việt, cũng như để Chị sống an vui với sự thành nhân và thành công của đứa con mà vì nó Chị đã chấp nhận rời Việt Nam sang Nhật để sớm hôm kề cận.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế