Category Archives: Luật Pháp

Chính Phủ Đàn Áp Tôn Giáo

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-12-2016

god

A) Nhập Đề

Trong thời đại kéo dài hàng chục thiên niên kỷ với sự thống trị tuyệt đối của các vương triều phong kiến ngập ngụa trong các cuộc chiến tranh triền miên dù nội chiến hay chinh phạt, sự bần cùng hóa là điều đương nhiên, nỗi thống khổ ám u là lẽ tự nhiên, sự tuyệt vọng và vô vọng dù trước sức mạnh khủng khiếp bất khả đương cự của thiên nhiên hay sức mạnh bạo tàn của các vị minh quân bạo chúa là thứ tình cảm dĩ nhiên duy nhất tại tồn nơi những người cùng khổ vốn là tuyệt đại đa số nhân gian. Và thánh thần thượng đế xuất hiện từ tất cả những sự thật sau: (a) một số thánh thần thượng đế hoàn toàn có thật để cứu độ chúng sinh dù không bao giờ khoa học có thể chứng minh khẳng định họ có thật hoặc có phép thuật kỳ vĩ thật sự nào, (b) một số thánh thần thượng đế khác thì lại hoàn toàn thực sự là từ trí tưởng tượng của con người để tự an ủi kỳ vọng vào sức mạnh thần bí vô hình nào đó ắt sẽ là thế lực tâm linh duy nhất chịu quan tâm đến thân phận bọt bèo nô lệ bần cùng khổ ải của mình, và (c) một số thánh thần thượng đế khác nữa lại hoàn toàn thực sự được tạo nên từ mưu đồ kẻ gian manh tự tạo hào quang màu nhiệm cho chính mình để nghiễm nhiên ngoi từ thân phận bần hàn lên cao trở thành giáo chủ được đám đông cung phụng.

Lịch sử nhân loại từ Sau Công Nguyên đã cho thấy đó là chuyện bình thường khi rất nhiều người trong cảnh thống khổ tìm đủ mọi cách để con cái trở thành tu sĩ, trước hết là để chúng được cung phụng và sau đó có thể giúp ích cho gia đình. Và để trở thành tu sĩ, người ta nhất thiết cần có ai đó nổi lên như một vị giáo chủ để theo khuôn phò hầu hạ. Sự vầy đoàn cộng sinh “cần nhau” như thế có thể đã giúp một số giáo phái hình thành tạo đà cho (a) một tin tưởng tín cuồng của số đông dân chúng khổ nghèo mà lịch sử nhẫn tâm chưa thể ban cho họ điều kiện đủ ăn để mà có học vấn; và (b) một số giáo phái có thể mạnh hơn, lan tỏa hơn, hùng mạnh hơn, tiến gần đến danh xưng “tôn giáo” hơn để thành lập những đế chế tôn giáo chẳng khác gì những đế chế thế tục nghĩa là cũng có các ngôi vị và những cuộc chinh phạt bạo tàn.

Lịch sử Việt Nam cũng đã cho thấy đó là chuyện bình thường khi không phải là không có những gia đình ở Miền Bắc thời Pháp Thuộc đã cho con theo học đạo làm tu sĩ Nhà Thờ để gia đình được cấp thêm đất ruộng.

Lịch sử Việt Nam Cộng Hòa cũng đã cho thấy đó là chuyện bình thường khi có thông rin truyền khẩu trước 1975 rằng Đạo Tin Lành khi khai triển vào Đà Lạt chẳng hạn đã tặng mỗi gia đình chịu theo đạo một chiếc xe Honda Dame nhập khẩu từ Nhật Bản.

Tất cả đều phải đáp ứng một nhu cầu mang tính quyền lợi hoặc tài lợi dù tâm linh vô hình hay vật chất hữu hình của số đông, nhờ đó một số ít đã tự xưng mình là sự tái thế của một vị chủ tể tôn giáo.

Những chi tiết dưới đây khi sử dụng các cụm từ thí dụ như “Chúa Jesus A”, “Chúa Jesus B”, v.v., đơn thuần vì theo phép lịch sự văn minh phải luôn tỏ sự tôn trọng với các vị ấy vì dù gì vẫn còn tồn tại các tín đồ của họ và giáo phái của họ, nhất là khi nhân gian không phải đã toàn bộ có hiểu biết về sự khác nhau giữa “tín ngưỡng” và “tôn giáo”, đã thế lại hay vu vạ cho chính quyền những vụ việc “đàn áp tôn giáo” dù cho chưa từng có bất kỳ vụ “đàn áp tôn giáo” – nói đúng nghĩa từ vựng nhất của “tôn giáo – nào xảy ra bất kỳ đâu trên thế giới – ít ra là trong liên tục một hai thế kỷ gần đây.

1) Những Người Tự Xưng Chúa Jesus Giáng Lâm hoặc Đức Ki-tô Hóa Thân Tái Lâm:

Trong số những “quý ông” nổi đình nổi đám nhất tức có hoạt động “giáo hội” công khai và có nhiều tín đồ thờ phượng thì 33 Chúa Jesus sau là có tiếng – danh tiếng hay tai tiếng – nhất: John Nichols Thorn, Arnold Potter, Jones Very, Bahá’u’lláh, William W. Davies, Mirza Ghulam Ahmad, Lou de Palingboer, John Hugh Smyth-Pigott, Haile Selassie I, Ernest Norman, Krishna Venta, Ahn Sahng-Hong, Sun Myung Moon, Yahweh ben Yahweh, Laszlo Toth, Wayne Bent, Ariffin Mohammed, Mitsuo Matayoshi, José Luis de Jesús Miranda, Inri Cristo, Thomas Harrison Provenzano, Shoko Asahara, Hogen Fukunaga, Sergey Torop, Maurice Clemmons, Apollo Quiboloy, Alan John Miller, David Shayler, Oscar Ramiro Ortega-Hernandez, Marshall Applewhite, Charles Manson, Jim Jones, và David Koresh, cùng nhiều Chúa Jesus khác yếu thế hơn. Tất cả các Chúa Jesus này đều có đặc tính biết tận dụng tốt nhất các “đặc tính” sau chỉ riêng có ở Đạo Chúa:

a- Đặc Tính Dễ Lợi Dụng:

Tuyên bố mình là Đức Chúa Ki-tô Tái Giáng Lâm là điều cực kỳ dễ dàng vì

– Đức Chúa Jesus thực sự trong lịch sử loài người đã xuất thân nghèo khổ, không thuộc giới hàn lâm, không có tay nghề cao trong nghiệp mưu sinh, và cho đến cuối đời cũng vẫn không tạo dựng nên tài sản hữu hình nào có giá trị vật chất cũng như không có thành tựu nào về vật chất để truyền lưu cho tín đồ;

– Đức Chúa Jesus thực sự trong suốt cuộc đời đã không biến phép màu nhiệm kỳ vĩ gì cả;

– Đức Chúa Jesus đã có vũ khí tối thượng bằng lời nói rằng phải có “đức tin” vào Chúa, đồng nghĩa với việc mọi người phải tự nguyện tin tưởng, phải không được hồ nghi, phải  không được yêu cầu hay thách đố Chúa phải tự chứng minh quyền phép quyền năng; và

– Đức Chúa Jesus ở trên tất cả các tôn giáo thờ Chúa nên sẽ không cần phải được Tòa Thánh Vatican công nhận thì người ta mới được nói chính mình là Chúa Jesus tái lâm.

Vì vậy, bất kỳ ai cũng có thể tự xưng mình là Đức Chúa tái giáng sinh, điển hình như lời phán của Chúa Jesus Charles Manson mà người ta phải có “đức tin” để tự động “tin” Ngài là Chúa Ki-tô:

god-1

b- Đặc Tính Cách Mạng:

Đức Chúa Jesus đã rất công bằng và thời thượng bình đẳng giới nên đã tái giáng lâm thành ít nhất là hai quý bà Marina Tsvigun và Ann Lee – tất nhiên theo tiết lộ của hai quý bà này về bí mật giáng lâm của họ để thu nạp tín đồ.

c- Đặc Tính Quyền Năng:

Đức Chúa Jesus giáng lâm Arnold Potter đã chứng minh quyền phép của mình bằng cách bay lên trời từ mỏm núi đá cheo leo tại Bang Iowa, Hoa Kỳ, năm 1872, và các tín đồ của Chúa cùng leo lên đỉnh núi tụ tập chứng kiến phép màu đã phải mất cả tuần mới xuống được vực sâu muôn trượng đưa Chúa về hỏa táng. Các Chúa Jesus tái giáng lâm khác thì thi thố quyền năng bằng những cách hoàn toàn khác nhau nhưng kết thúc biểu diễn lại hoàn toàn giống nhau ở chỗ (a) trở nên giàu có vì tín đồ đưa toàn bộ tài sản và vợ con thê thiếp vào tiến cống các Đức Chúa Jesus ấy, (b) luôn bị “chính quyền đàn áp tôn giáo”, và (c) kết thúc hoàn toàn không có hậu ở trần gian.

d- Đặc Tính Khoa Học Kỹ Thuật Hiện Đại:

Đức Chúa Jesus tái giáng lâm Oscar Ramiro Ortega-Hernandez vốn ưa chuộng sản phẩm kỹ thuật hiện đại nên vào ngày “tam thập-nhất” 11-11-2011 đã lái chiếc Honda Accord đời 1998 do Nhật Bản sản xuất, xách khẩu súng trường bán tự động Cugir do Lỗ-Ma-Ni (Romania) sản xuất theo mô hình AK-47 của Nga, nã 8 băng đạn vào cửa sổ Tòa Bạch Ốc vị trí phòng gia đình Tổng Thống vì Đức Chúa Jesus Oscar Ramiro Ortega-Hernandez có nhiệm vụ phải giết Quỷ Satan Barack Obama cùng vợ con của hắn. Điều màu nhiệm của việc bắn súng của Đức Chúa là phải 4 ngày sau thì cơ quan an ninh Mỹ mới phát hiện kính cửa vỡ do đạn bắn cùng những vết đạn khác trên tường, và FBI vội chấm dứt ngay việc nhiều ngày qua đã cho rằng tiếng súng nổ nghe được là do các băng đảng da đen ở đâu đó thanh trừng nhau rồi vang vọng đến Tòa Bạch Ốc, rồi vội dốc toàn lực cả chục ngày trời mới tìm thấy Đức Chúa có phép mầu ấy để đón về cung phụng tại tòa thành kỳ vĩ đồ sộ mang tên USP Beaumont tại Texas từ nay cho đến ngày 24-10-2033.

god-10

Trong khi đó Đức Chúa Jesus Shoko Asahara lại chứng minh chính mình tái giáng lâm để tiến hành “Phán Xét” bằng cách tạo ra Ngày Tận Thế: sử dụng tài năng đấng đã tạo nên tất cả các chất hóa học của thế gian chế ra chất khí độc sarin mới tinh mà Đức Chúa Trời xưa kia chưa từng biết đến để xì ra gây nên cuộc thảm sát năm 1995 dưới đường tàu điện ngầm ở Tokyo. Đức Chúa Jesus Shoko Asahara bị kết tội giết người, âm mưu lật đổ chế độ chính trị quân chủ lập hiến của Nhật Bản để lên ngôi hoàng đế như chế độ Tsar Hoàng, và bị kết án tử hình bằng treo cổ năm 2004. Tuy nhiên, bản án đến nay vẫn chưa được thi hành vì đó là Đức Chúa Jesus quyền năng quyền phép.

god-9

e- Đặc Tính Hợp Chủng Quốc: Các Đức Chúa Jesus thi nhau tái giáng lâm xuống làm công dân nhiều quốc gia, dù ưa chuộng Hoa Kỳ giàu có nên tập trung ào ạt đổ bộ Hoa Kỳ vẫn có vị đáp dĩa bay xuống Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Nga, Ấn Độ, Iran, v.v. (chưa đến Việt Nam).

e- Đặc Tính Đa Dạng: Các Đức Chúa Jesus ào ạt tái giáng lâm đã làm nhiều nghề khác nhau, từ nhà thơ, học giả, nhạc sĩ, giáo sư Đại Học Harvard, v.v, cho đến nhân viên tình báo và thất nghiệp.

f- Đặc Tinh Tận Dụng:

Đa số các “Đức Chúa Jesus” đều có vợ, có con, thậm chí có “Đức Chúa” chiếm hữu  nhiều chục nữ tín đồ hoặc vợ của các tín đồ, với lý do đầy thuyết phục các tín đồ của họ từ dẫn chứng trong Kinh Thánh rằng Tổ Tông Adam có vợ và rất nhiều con, rằng Tổ Phụ Abraham có rất nhiều vợ và rất nhiều con, rằng Bố của Đức Chúa Jesus có vợ là Đức Mẹ Maria và có con là Đức Chúa Jesus, và rằng Thánh Kinh Tân Ước có ghi Đức Chúa Jesus có rất nhiều nữ nhân hầu hạ quanh Người: ngoài các nữ nhân là thân nhân của Chúa Jesus (nhiều chị em gái trong đó có Mary Salome, và các vợ của bốn anh em trai của Chúa Jesus), các nữ nhân là vợ các Thánh Tông Đồ (trừ Thánh John độc thân), các nữ nhân là chị em gái các Thánh Tông Đồ, và các phụ nữ phạm tội dâm dục được Chúa Jesus rửa tội.

2) Những Người Tự Xưng Đức Phật Giáng Hạ Phàm Trần Hoặc Đức Phật Hóa Thân

Do Đức Phật Thích Ca Gautama Buddha xuất thân hoàng tộc ở Châu Á, số lượng người tự xưng Đức Phật Hóa Thân không nhiều vì phải đáp ứng tiêu chuẩn “quyền sang”, và đa số ở Châu Á, chẳng hạn như Võ Tắc Thiên, Nỗ Nhĩ Cáp Xích, và Lữ Dương Gia của Tàu, Cung Duệ của Hàn Quốc, Peter Deumov của Áo Quốc, Bhagwan Shree Rajneesh của Ấn, Samael Aun Weor của Colombia, Ram Bahadur Bomjon của Nepal, v.v.

3) Những Người Tự Xưng Đa Thần Đa Nguyên Đa Đảng

Nhưng nổi bật nhất là những vị “đa nguyên đa đảng” chẳng hạn như

– Đức Ông Mirza Ghulam Ahmad ở Pakistan tiết lộ mình là hiện thân của Tam Giáo Đồng Nguyên: vừa là Chúa Jesus giáng lâm, vừa là Đức Phật tái thế, và rao giảng Đạo Hồi;

– Đức Bà Ruth Norman ở Hoa Kỳ là đầu thai của Đức Phật sau 55 kiếp làm toàn vua chúa “đàn ông” trong đó có lúc đã làm Vua Arthur Anh Quốc Hiệp Sĩ Bàn Tròn, Hoàng Đế đế chế thoại thần Atlantis, Khổng Tử, và triết gia Socrates;

– Đức Ông Jim Jones của Mỹ vừa là Chúa Jesus vừa là tái thế của Đức Phật, Vua Pharaoh Ai Cập Cổ Đại Akhenaten, và …Vladimir Lenin của Cộng Sản Liên Xô; và

– Đức Ông Ariffin Mohammed của Malaysia vừa là tái thế của Chúa Jesus, Đức Phật Thích Ca, Tiên Tri  Muhammad Hồi Giáo, và Thần Shiva Ấn Giáo.

Ngoài ra, còn có bao vị tuyên bố – hoặc tiết lộ bí mật rằng – mình là đấng tái thế để cứu thế của các đạo khác như Do Thái Giáo và Hồi Giáo, hoặc mình là “thân nhân” của các đấng quyền năng chẳng hạn như đức ngài Hong Xiuquan ở Tàu tuyên bố mình là em trai ruột Chúa Jesus, đức bà Jacobina Mentz Maurer người Brazil gốc Đức tuyên bố là thiên sứ chủ quản của Chúa Trời, các đức ông Cyrus Reed Teed ở Mỹ và André Matsoua ở Congo đều tuyên bố là Đấng Cứu Thế Messiah của nhiều tôn giáo, đức ngài Inri Cristo ở Brazil bảo mình là Chúa Jesus song sinh với Chúa Jesus kia, đức ngài Apollo Quiboloy tuyên bố mình là Con Trai Của Thượng Đế mà Thượng Đế là Jesus Christ nên mình đương nhiên là con của Chúa Jesus Christ, v.v. và v.v.

Nhưng vị Chúa tối cao tối thượng ắt phải kể đến Thượng Đế George Baker ở Mỹ vì đã dám tiết lộ chính mình là Đức Chúa Trời, Thượng Đế Iesu Matayoshi tuyên bố mình vừa là Đức Chúa Cha vừa là Đức Chúa Con, còn Thượng Đế José Luis de Jesús tuyên bố mình vừa là Chúa Jesus Christ tái giáng lâm vừa là Satan giáng thế, v.v. và v.v.

B) Chúa Jesus Được Thượng Đế Đón Bỏ Mỹ Về Trời

Không như dân Mỹ luôn cho rằng Chúa Trời đã ban cho họ vùng lãnh thổ Tân Thế Giới mênh mông để hình thành nên đất nước Hoa Kỳ hùng mạnh uy trấn toàn cầu từ đó có Ngày Lễ Tạ Ơn hàng năm, Đức Chúa Trời thật ra đã không muốn con của Người nấn ná lâu hơn trên đất Mỹ ấy.

Đức Chúa Jesus tái giáng lâm mang tên Marshall Applewhite đã bảo các tín dồ của mình rằng dĩa bay của Đức Chúa Trời bay núp bám sau đuôi Sao Chổi Hale-Bopp 22 sẽ đến đón giáo sư âm nhạc Đại Học Alabama Marshall Applewhite đại tài trở về thượng giới nên các tín đồ được chọn hãy cùng theo mình lên dĩa bay gặp Đức Chúa Trời vào ngày 26-3-1997, mà sau đó cơ quan an ninh phát hiện 39 xác chết do cùng nhau tự tử bằng độc dược tại một điền trang ở thị trấn Santa Fe, Bang California.

god-7

C) Chúa Jesus Tự Tiêu Diệt Để Chống Chính Phủ Mỹ

 god-5

Jim Jones là Đức Chúa Jesus tái giáng lâm làm công dân Hoa Kỳ. Ngay từ lúc sinh ra đã được mẹ cha tin rằng đã hạ sinh được Đấng Cứu Thế Toàn Năng. Đức Chúa Jim Jones thấu hiểu Joseph Stalin, Karl Marx, Mao Trạch Đông, Mahatma Gandhi và Adolf Hitler, nhiệt tình ủng hộ người Mỹ gốc Phi, dân nhập cư, và Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ. Cho rằng chiến tranh nguyên tử sẽ nổ ra ngày 15-7-1967, Đức Chúa Jim Jones đưa giáo dân của mình về California lánh nạn, để rồi năm 1977 đưa nhiều trăm giáo dân bỏ Mỹ sang Guyana ở gần Brazil và Argentina, lập nên thị trấn mang tên mình là Jonestown, một thứ thiên đường nơi hạ giới. Xây dựng Jonestown như một thành trì “công-xã” nội bất xuất ngoại bất nhập, với lực lượng vũ trang sẵn sàng bắn hạ tín đồ nào ra khỏi trang viên, Đức Chúa Jim Jones phán dạy rằng sẽ cùng giáo dân cùng nhau chung sống hạnh phúc, cùng nhau chết vinh quang, cùng nhau lên hành tinh khác đời đời sung sướng tột đỉnh vinh hoa. Khi tin tức về sự hà khắc xâm hại nhân quyền xâm hại tình dục tại Jonestown lan đến Quốc Hội Hoa Kỳ, Nghị sĩ Leo Ryan thành lập đoàn tìm hiểu sự thật gồm các phụ tá, vài thân nhân các tín đồ của Jim Jones, vài tín đồ của Jim Jones vẫn còn lại ở Mỹ, và các nhà báo đến Guyana tháng 11-1978 với hai chiếc máy bay rồi dùng xe băng rừng đến Jonestown. Jim Jones đã cho người dùng dao tiếp đón Ryan, khiến cả đoàn phải quày quả bỏ của chạy lấy người trở lại ngay đường băng máy bay Kaituma. Trong ngày 18-11-1978 ấy, trong lúc mọi người vội vã lên hai chiếc phi cơ thì đội vũ trang của Jim đuổi kịp, xả súng vào đoàn, sát hại nghị sĩ Leo Ryan, hai nhà báo của NBC, một phóng viên ảnh của San Francisco Examiner và một giáo dân.

Do lỡ sát hại Nghị Sĩ Leo Ryan nghĩa là phạm trọng tội với Chính Phủ Hoa Kỳ gồm (a) ủng hộ thể chế chính trị khác với thể chế chính trị của Hoa Kỳ, (b) chống Chính Phủ Hoa Kỳ qua việc sát hại một Nghị Sĩ Hoa Kỳ đang “thi hành công vụ”, (c) đưa cả ngàn công dân Hoa Kỳ đem tài sản trốn khỏi Hoa Kỳ, (d) làm rối loạn dân tâm kỹ cương phép nước, và (e) “cạnh tranh không công bằng” với các Chúa Jesus khác, nên dứt khoát sẽ bị Chính phủ Hoa Kỳ trừng phạt nghiêm khắc kinh hoàng, đặc biệt khiếp sợ quân đội CIA tỷ lần hơn là quân đội của quân lực Hoa Kỳ, Đức Chúa Jim Jones ngay trong ngày 18-11-1978 ấy lập tức bảo tất cả giáo dân ở Jonestown phải uống thuốc độc cyanide (xi-a-nuya) để cùng về thượng giới với mình. Tất nhiên, việc đổ thuốc độc vào tất cả trẻ em chết la liệt tại chỗ cũng nhằm khiến tất cả giáo vân làm cha làm mẹ không còn thiết sống và tự nguyện nhận phần độc dược cho chính mình. Khi cơ quan an ninh Guyana đến thì đã thấy la liệt 918 xác chết công dân Hoa Kỳ, trong đó có 304 trẻ em, riêng Đức Chúa Jim Jones tự sát bằng súng.

god-3god-2

D) Chính Phủ Mỹ Tiêu Diệt Chúa Jesus

Rút kinh nghiệm từ sự bị động trong vụ “giáo dân làm loạn” dưới trướng Đức Chúa Jesus Jim Jones ở Gyana năm 1978, Chính Phủ Mỹ đã mạnh tay tiêu diệt Đức Chúa Jesus David Koresh bằng vũ lực ngay khi có manh nha “giáo dân làm loạn” ở Bang Texas năm 1993.

 god-8

Cuộc tấn công vào khu phức hợp của giáo phái Davidian gần Waco, Bang Texas, ngày 19-4-1993 làm cả thế giới chấn động, bàng hoàng. Đó là cuộc tàn sát kéo dài nhất lịch sủ chấp pháp Hoa Kỳ, với một tuần phong tỏa bao vây, 51 ngày chiến đấu (từ 28-02 đến 19-4-1993), làm chết 75 tín đồ mà đa số là phụ nữ và trẻ em. Điều đặc biệt với giáo phái này là: giáo dân đều có học thức cao, bản thân Đức Chúa David Koresh có bằng cấp thần học, và tất cả đều tin tưởng tuyệt đối rằng thế giới đang bị Quỷ Vương lãnh đạo, rằng Chương Khải Huyền của Thánh Kinh Tân Ước đúng chính xác từng chữ một.

Lấy cớ các giáo dân tàng trữ trái phép 305 vũ khí (gồm các khẩu súng trường bán tự động AK-47, AR-15, HKSP-89, MAC10, và các khẩu súng lục, và đạn dược, các đặc vụ ATF đem trát bắt giam và lục soát đến khu phức hợp. Cho đến nay không ai rõ phát súng đầu tiên do bên nào khai hỏa, mở màn cho sự tấn công của FBI và quân đội Hoa Kỳ, mà dư luận vẫn còn hoài nghi với bằng chứng cho thấy cả CIA (Trung Ương Cục Tình Báo), FBI (Cục Điều Tra Liên Bang), BATF (Cơ Quan Quản Lý Rượu/Thuốc Lá/Vũ Khí/Thuốc Nổ), Quân Đội Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Mỹ, Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng Mỹ), Lực Lượng Delta (CAGFB) theo mật lịnh trực tiếp của Tổng Thống Bill Clinton, Trung Tâm Xử Lý Khủng Hoảng của Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton tại Tòa Bạch Ốc, và Mafia đều muốn tận diệt Đức Chúa Davis Koresh cùng giáo dân trong hỏa ngục, cứ như thể nhằm diệt khẩu ai đó và xóa sạch chứng cớ nào đó ắt về liên minh ghê gớm ấy trong Chính Phủ Bill Clinton. FBI thậm chí còn thuê các sát thủ bắn tỉa mà khét tiếng nhất là Lon Horiuchi người Mỹ gốc Nhật để bắn hạ bất kỳ sinh vật sinh linh nào chạy ra khỏi hỏa ngục Waco, bất kể đó là phụ nữ hay trẻ em. Có người ví von đội đặc nhiệm của BATF vần vũ bằng trực thăng vũ trang xã súng xuống khu phức hợp tương tự như cảnh thảm sát đã xảy ra tại một làng quê Việt Nam thời chiến. Còn các khai hỏa từ xe tăng quân đội, việc ném hàng trăm bình khí CS và bơm tưới xăng tràn ngập khu phức hợp, khó thể được cho đó là để trấn áp “giáo dân làm loạn” dưới trướng Đức Chúa Jesus David Koresh vốn nổi bật vì có nhiều vợ, có hàng tá đứa con từ lời phán đã nhận lịnh trực tiếp của Đức Chúa Trời phải làm cho các nữ giáo dân có thai nhằm tạo nên giòng giống David đặc biệt, nên buộc tất cả các nam giáo dân không được quan hệ tình dục với vợ mà phải dâng vợ cho Đức Chúa.

god-12god-11god-4

E) Kết Luận

Từ bài học đã bỏ mặc cho Đức Chúa Jesus Jim Jones được “tự do ngôn luận” rao giảng chống đối Nhà Nước Hoa Kỳ, dẫn đến cuộc thảm sát đông dân Mỹ nhất lịch sử Mỹ, Mỹ đã bất kể Đạo Luật Posse Comitatus cấm ngăn quân đội dùng sức mạnh vũ trang thực thi luật dân sự, thậm chí sử dụng điều khoản “vét” của Posse Comitatus rằng bất kỳ ai sử dụng quân đội và không quân để thực thi luật pháp dân sự sẽ bị phạt không quá 10.000 USD hoặc tù giam không quá 2 năm, để ra lịnh quân đội và Lực Lượng Delta tham gia cùng các cơ quan chấp pháp khác của CIA, FBI, và BATF tiêu diệt Waco, yên tâm đóng tiền phạt “không quá 10 ngàn USD/người cho các quan chức ra lịnh ấy.

Chi tiết trên chứng minh Chính Phủ Mỹ đã nêu gương cho thế giới trong kiên quyết xử lý bất kỳ cuộc khủng hoảng nào trong nội tình Mỹ (a) có nội dung chống lại Nhà nước pháp quyền Hoa Kỳ, và (b) có nguy cơ sẽ gây hại cho các công dân là nạn nhân tự nguyện hay vô tình bị hại bởi sự rao giảng kích động từ kẻ/những kẻ sử dụng tín ngưỡng để chống lại Nhà Nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, sự tiêu diệt – chứ không phải bắt giam – là bắt buộc phải thực thi đối với những công dân Mỹ nào dám chống đối Nhà Nước Mỹ không với “tự do ngôn luận” của cá nhân mà dùng thế số đông như của các tín đồ để “tự do ngôn luận” làm suy yếu chính thể của Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, những nội dung sau có liên quan đến “tôn giáo” nên được quan tâm đến

1) Tôn Giáo Không Bao Giờ Chống Chinh Phủ

Không bao giờ tồn tại trên thế gian này cái khái niệm “tôn giáo chống chính phủ” vì rằng

a- Không bất kỳ điều nào trong Kinh Thánh hay kinh kệ dạy bảo tín đồ chống chính phủ;

b- Kể cả Đức Chúa Jesus trong Thánh Kinh Tân Ước của Đạo Chúa không hề trực tiếp chống, xúi giục chống, hay di ngôn chống nhà nước La Mã; còn các tổ phụ trong Thánh Kinh Cựu Ước chỉ đưa dân bỏ đi nếu không đồng thuận chứ không trực tiếp/xúi giục/tổ chức/di ngôn dân mình chống lại nhà cầm quyền, bất kể đó là nhà cầm quyền tàn độc hay không;

c- “Tôn giáo” không là một thực thể nên không thể là đối trọng của một đối kháng cụ thể, nghĩa là chỉ có những chức sắc hay tu sĩ của một tôn giáo tự ý làm loạn chống nhà cầm quyền chứ không có tôn giáo chống nhà cầm quyền;

d- Tôn giáo thiên về tâm linh nên không bao giờ liên quan đến “chính trị” và “trị chính” vốn là những phạm trù cụ thể của thế tục, nghĩa là chỉ có những chức sắc hay tu sĩ của một tôn giáo làm sai lời giáo lý của tôn giáo mình, tự ý xông ra “làm chính trị” mà 100% là chống nhà cầm quyền chứ không có tôn giáo “làm chính trị” để tôn thờ nhà cầm quyền; và

e- Không bao giờ tôn giáo không tập trung lo chỉ cho “phần hồn” của giáo dân, dạy giáo dân nhẫn để thân tâm thường lạc cả.

2) Chính Phủ Không Bao Giờ Chống Tôn Giáo

Không bất kỳ chinh phủ nào của quốc gia nào lại chống tôn giáo cả, vì đó là tự do tín ngưỡng trong tự do ngôn luận, tự do hội họp, và nhân quyền.

Giáo dân Ki-tô ngoan đạo Karl Marx có quyền tự do ngôn luận nêu hồ nghi về thần quyền, tự do viễn tưởng về sự suy yếu của thần quyền. Bất kỳ ai mạt sát Karl Marx “vô thần” là kẻ chà đạp tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tư duy, và nhân quyền của Karl Marx. Kẻ chà đạp tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tư duy, và nhân quyền của người khác không bao giờ là kẻ hiểu biết bất kỳ điều gì về tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, tự do tư duy, tự do tín ngướng, và nhân quyền để nói về ngần ấy thứ.

Từ luận đề “Tôn Giáo Không Bao Giờ Chống Chính Phủ” nêu trên, ta có luận đề đương nhiên của “Chính Phủ Không Bao Giờ Chống Tôn Giáo”.

Chính phủ Mỹ không chống các “tôn giáo” của các Đức Chúa Jesus.

Chính phủ Mỹ chỉ trừng trị các công dân Mỹ mang tên Jim Jones hay David Koresh, tức những công dân không những làm loạn chống Chính Phủ Mỹ mà còn đưa nhiều công dân Mỹ vào sự u mê, cuộc tự sát tập thể, và sự buông xuôi tất cả để đón chào Ngày Phán Xét hay dĩa bay nào đó.

Chính phủ Mỹ, do đó, chỉ quan tâm đến duy trì sự tồn tại của chế độ, bảo vệ cuộc sống chính đáng của công dân nói chung, bảo vệ quyền “tự do ngôn luận” của từng cá nhân công dân, không cho phép có “tự do ngôn luận” của tập thể nhất là nếu tập thể ấy sử dụng “tự do ngôn luận” để sử dụng số đông chống lại Chính phủ, chống lại “tín ngưỡng” khác, chống lại “tập thể” công dân khác.

Công dân có nghĩa vụ phải răm rắp tuân theo luật pháp quốc gia và đóng góp cho xã hội có thật, hữu hình, thế tục.

Giáo dân nghĩa là có nghĩa vụ phải tuân theo những giáo điều của Kinh Thánh và kinh kệ, và đóng góp cho giáo hội những hữu hình thế tục theo sự bày ra của giáo hội và theo sự khống chế của luật pháp quốc gia.

Giáo dân không thể giơ Kinh Thánh lên để cho mình có quyền lái xe vào đường cấm, lái xe ngược chiều, lái xe vượt đèn đỏ, lái xe lấn tuyến, và kêu gào bị “chính phủ đàn áp tôn giáo” khi bị xử phạt vi phạm luật giao thông đường bộ.

Giáo dân là người có trí hoa cao vời nên hiểu trọn vẹn Kinh Thánh kinh kệ, có mức độ tu thân đẳng cấp cao nhất vì có tinh thần trách nhiệm cao với bản thân nhằm đến làm gương cho xã hội nhân quần, và có tư duy cao thượng để biết chế ngự cái tôi, tất cả vì chân lý của đạo pháp chứ không vì tôn giáo đang do một người công dân khác rao giảng. Đó là sự phân biệt giữa người làm chủ đại cuộc tu thân tu thánh và kẻ hầu hạ tay sai vô trí.

Tóm lại,

– việc chính phủ Ngô Đình Diệm cấm Phật Tử ở Huế treo lá cờ quen thuộc của Phật Giáo đúng là “đàn áp tôn giáo”;

– việc chính phủ Bill Clinton tàn sát giáo phái Davidian không là “đàn áp tôn giáo” mà chỉ vì nước vì dân mạnh tay trừng phạt những công dân mưu phản trong lớp áo tôn giáo;

– việc Chính quyền Quân Quản Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tấn công Nhà Thờ Vinh Sơn ngày 10-02-1976 là để bắt các tên sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trốn trình diện như Nguyễn Việt Hưng, Phạm Văn Hậu và Trần Kim Định cùng các tu sĩ Nguyễn Hữu Nghị và Nguyễn Quang Minh đã lập nên tổ chức Dân Quân Phục Quốc với tuyên ngôn, quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, lập lực lượng vũ trang, phát thanh chông Cộng, in truyền đơn và tiền giả, lật đổ chính quyền, phá hoại kinh tế, thậm chí sử dụng súng sát hại cán bộ an ninh Việt Nam; do đó, không là “đàn áp tôn giáo”;

– việc Chính Phủ Việt Nam có sẽ như Chính Phủ Mỹ vì nước vì dân mạnh tay trừng phạt những công dân mưu phản trong lớp áo tôn giáo cũng sẽ không bao giờ bị Mỹ dán nhãn “đàn áp tôn giáo” hay “đàn áp tự do ngôn luận”.

– việc Chính Phủ Việt Nam có sẽ như Chính Phủ Mỹ vì nước vì dân sử dụng quân đội mạnh tay trừng phạt những công dân mưu phản trong lớp áo tôn giáo cũng sẽ không bao giờ bị Mỹ dán nhãn sai luật vì Việt Nam không có đạo luật Posse Comitatus.

3) Ai Chống Ai? Phản Động Tập Thể

Như vậy, không có việc Tôn Giáo Chống Chính Phủ vì không bao giờ có việc tôn giáo vốn là một tên gọi lại có quân đội hữu hình và vũ khí sát thương hạng nặng để chống Chính Phủ, tàn sát Chính Phủ, mà chỉ có những công dân có Thẻ Căn Cước nổi loạn vi phạm luật pháp quốc gia.

Như vậy, không có việc Chính Phủ Đàn Áp Tôn Giáo vì tôn giáo chỉ là một tên gọi dành cho một tin ngưỡng chính thức, công khai, hợp pháp. Tôn Giáo không bao giờ có quân đội hữu hình và vũ khí sát thương hạng nặng để chống Chính Phủ, tàn sát Chính Phủ, để Chính Phủ phải vì nước vì dân vì tự vệ mà đàn áp tôn giáo. Chính phủ Việt Nam luôn – và sẽ – trấn áp tất cả các bọn phản động mưu loạn lật đổ chính quyền, thể chế chính trị quốc gia, và Hiến Pháp, bất kể những công dân phản động phản quốc đó hữu thần hay vô thần, theo đạo lớn hay có tín ngưỡng nhỏ.

Tất cả các chính phủ trên thế gian này đều có chung một hành động không bao giờ thay đổi dành cho công dân phản động tập thể: trấn áp, và tiêu diệt.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Pháp Luân Công  07-10-2015

Thư Gởi Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Thừa Thiên – Huế

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-8-2016

Hue

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 8 năm 2016

 

Kính gởi Đại Tá Lê Quốc Hùng, Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Thừa Thiên – Huế

 

Bản sao kính gởi:

– Bộ Trưởng Bộ Công An Tô Lâm, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Nghị Sĩ  Quốc Hội Khóa XIV

– Hòa Thượng Tiến Sĩ Thích Chơn Thiện, Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIV

 

Kính thưa Ông Giám Đốc:

 

V/v.  Việc in ấn bản đồ của Công ty Villa Louise Hue Resort

 

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính lời chào trân trọng đến Ông và kính trình bày cùng Ông nội dung sau:

Tôi có nhận được lời kêu cứu và kêu oan của công dân Dương Thị Hồng, quê quán Bắc Giang, trợ lý của Ông Michel Scharwitzel, Giám đốc Công ty Villa Louise Hue Resort.

Công dân Dương Thị Hồng cho biết đã bị Ông Michel Scharwitzel gây áp lực khiến phải thôi việc, rằng Cô đã bị ông này đổ tội oan, và rằng việc điều tra của Phòng An Ninh Kinh Tế Công An Tỉnh Thừa Thiên – Huế nhằm xác minh làm rõ sự phạm tội của Cô là không đúng.

Nếu cho rằng thông tin cùng cách dùng từ ngữ trong các bản tin tường thuật sự việc trên báo chí là chính xác, thì tôi xin khẳng định sự việc đã bị xử lý hoàn toàn sai, vì

Tên gọi Biển Đông là South China Sea là do giới bản đồ quốc tế đặt; do đó cái sai duy nhất của Ông Michel Scharwitze là viết thiếu chữ South. Đã là tên riêng thì không được phép dịch sang ngôn ngữ khác; do đó, South China Sea không được phép tự động dịch sang tiếng Việt thành Biển Nam Trung Hoa. Tương tự, ta đặt tên tiếng Việt là Biển Đông thì không được phép tự động dịch sang tiếng Anh thành East Sea (xin vui lòng xem bài viết tôi đăng ngày 17-8-2012 như đính kèm theo thư này).

(Tương tự, trong bài viết đã dẫn ở trên tôi cũng chứng minh rằng nếu ở Đà Nẳng có gọi Bãi Biển Đà Nẳng là China Beach thì cũng không sai vì đó là tên tiếng lóng do quân viễn chinh Mỹ dùng để gọi bãi biển Đà Nẳng).

Trong hoàn cảnh ở Việt Nam báo chí chỉ đơn giản đưa tin mà không có nhà báo nào có đủ trình độ hiểu biết sâu sắc các vấn đề có liên quan để hoặc có thể đặt vấn đề giúp cơ quan chức năng xử lý đúng vụ việc nhằm không di họa cho công dân bị luận tội oan sai, hoặc đủ sức khiến người phạm tội phải tâm phục khẩu phục trước luật pháp quốc gia, tôi xin qua thư này kính làm rõ các hành vi sau:

1) Ông Michel Scharwitze là người duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc phát hành các tấm bản đồ – nếu thực sự có vi phạm cụ thể pháp luật quốc gia và quy định của địa phương.

2) Cô Dương Thị Hồng hoàn toàn không vi phạm bất kỳ điều cụ thể nào của luật pháp quốc gia và quy định của địa phương – dù cho Cô có tư vấn khuyên Ông nên dùng hoặc không có tư vấn cho Ông Michel Scharwitze về việc không nên sử dụng từ China Sea trên bản đồ. Chưa kể, theo các tư liệu tôi đã nêu trong bài viết đã dẫn ở trên, việc sử dụng những từ ngữ như thế là chính xác đối với thế giới. Khi ta đấu tranh với tòa án quốc tế – nếu có – về Biển Đông của chúng ta, chúng ta phải luôn dùng từ South China Sea tại pháp đình. Khi muốn cuốn hút du khách Mỹ nhất là các cựu binh tham chiến ở Việt Nam cùng gia đình của họ, Đà Nẳng nếu muốn dùng từ China Beach hoàn toàn không sai vì đó là tên gọi do chính lực lượng viễn chinh Hoa Kỳ sử dụng trước đây tại Việt Nam Cộng Hòa.

3) Từ điểm 2 nêu trên, chỉ có thể nói rằng do tình hình tế nhị của Việt Nam trong tranh chấp ở Biển Đông, điều khôn ngoan là nên tránh việc sử dụng từ “China” do dễ làm người Việt khác do chưa rõ nguồn cơn sẽ chống đối, còn bọn chống Việt ở hải ngoại có cớ vu vạ.

4) Từ điểm 3 nêu trên, nếu đã không có điều luật nào quy định rằng “cấm việc sử dụng từ China do từ ấy có nghĩa là Trung Quốc” thì Ông Michel Scharwitze vô tội. Và nếu ông ấy vô tội, Công An Thừa Thiên – Huế chỉ có quyền khuyến nghị ông ấy nên chủ động thu hồi và thay thế các bản đồ ấy để giúp ông ấy tránh nguy cơ tạo nên ác cảm từ những khách hàng người Việt của ông ấy cũng như từ sự công kích của báo chí trên cả nước.

5) Từ điểm 4 nêu trên, công dân Dương Thị Hồng có quyền (a) kiện ông Michel Scharwitze ra tòa án lao động đối với việc gây căng thẳng, đổ lỗi, xử ép, khiến cô phải nghỉ việc cho một lỗi chưa chắc là do cô gây ra cũng như chắc chắn không nằm trong các phạm vi có thể dẫn đến hình thức phải thôi việc, (b) yêu cầu Công An Thừa Thiên – Huế chấm dứt việc tiến hành điều tra xác minh việc “phạm tội” của cô, và (c) yêu cầu cơ quan Công An làm rõ với báo chí về việc này để công dân Dương Thị Hồng không bị phong tỏa các đường sinh nhai chính đáng kiếm tìm việc làm trong danh dự của công dân này.

 

Kính mong Ông Giám Đốc quan tâm đến sự việc trên và nhanh chóng chỉ đạo can thiệp cho công dân Dương Thị Hồng.

Trong điều kiện phức tạp của nước nhà, khi cần sự hỗ trợ nếu có vụ việc liên quan đến người nước ngoài xảy ra trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên – Huế, xin Ông Giám Đốc vui lòng liên hệ với tôi để tôi có thể giúp sức trên cơ sở tự nguyện. Chỉ cần Ông Giám Đốc cho tôi biết số điện thoại của cán bộ được phân công liên lạc với tôi – vì tôi không bao giờ trả lời cuộc gọi từ bất kỳ ai không có sẵn trong danh bạ điện thoại cá nhân của tôi.

Kính đề nghị Ông khuyến khích cán bộ chiến sĩ thuộc quyền thường xuyên đọc các bài viết của tôi tại blog cá nhân của tôi để nắm bắt những thông tin cần thiết có thể có lợi trong thi hành công vụ của ngành.

Kính chúc Ông Giám Đốc và gia quyến sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Kính biết ơn và trân trọng kính chào.

Hoàng Hữu Phước

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII

Địa chỉ thư tín: MYA BizCorp 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Email công ty: hoanghuuphuoc@myabiz.biz

Web công ty: www.myabiz.biz

Blog cá nhân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Hồ sơ đính kèm in từ: 

“Biển Đông” có phải là “East Sea” tại  Biển Đông Có Phải Là East Sea?  

“Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa” tại  “Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa”

Thư gởi Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Luật Biểu Tình

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-7-2016

 

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 7 năm 2016

 

Kính gởi : Chủ tịch Quốc Hội

 

Bản sao kính gởi:

Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

Chủ Tịch Nước

Thủ Tướng Chính Phủ

Bộ Trưởng Bộ Công An

 

Kính thưa Chủ Tịch:

 

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam,

Nhân sự cố Luật Hình Sự 2015,

Và nhân Chủ Tịch công bố quyết định lùi thời gian soạn thảo dự án Luật Biểu Tình,

Tôi kính gởi đến Chủ Tịch các đường link những bài viết của tôi về Luật Biểu Tình để các chuyên viên luật pháp và pháp chế cũng như các ủy ban chuyên trách của Quốc hội có những tư liệu cùng lý luận có liên quan nhằm bảo đảm nội dung Luật Hình Sự 2015 có những bổ sung phù hợp và dự thảo Luật Biểu Tình được hoàn hảo:

A) LUẬT HÌNH SỰ:

1) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo Luật Hình Sự: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/10/14/nghi-si-hoang-huu-phuoc-gop-y-cho-du-thao-luat-hinh-su/

2) Hậu Sự Cố Luật Hình Sự: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/07/03/hau-su-co-luat-hinh-su-2015/

B) LUẬT BIỂU TÌNH:

1) Phát Biểu Của Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Về Luật Biểu Tình: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/06/05/phat-bieu-ung-khau-cua-hoang-huu-phuoc-dai-bieu-tp-ho-chi-minh-ve-luat-bieu-tinh/

2) Luật Biểu Tình: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/26/luat-bieu-tinh/

3) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Luật Biểu Tình: Vấn Đề Ngữ Nguyên: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/02/nghị-sĩ-hoang-hũu-phuoc-noi-ve-luạt-biẻu-tinh/

4) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Luật Biểu Tình: Vấn Đề Pháp Luật Quốc Gia: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghị-sĩ-hoang-hũu-phuoc-noi-ve-luạt-biẻu-tinh-2/

 

Kính đề nghị Chủ tịch yêu cầu các chuyên viên trên thường xuyên tham khảo các ý kiến của tôi về pháp luật tại https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com.

 

Tôi sẵn sàng hỗ trợ các bộ phận pháp luật và pháp lý giúp việc của Chủ Tịch ngay khi có lịnh của Chủ Tịch.

 

Kính chúc Chủ Tịch sức khỏe, hạnh phúc, thành công, và mọi điều tốt đẹp.

 

Trân trọng,

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Đương Nhiệm Quốc Hội Khóa XIII

Hậu Sự Cố Luật Hình Sự 2015

9 Yếu Kém Trầm Kha Trong Làm Luật Của Quốc Hội Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Đương Nhiệm Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII

03-7-2016

LamLuat

Như đã nêu trong bài Sự Cố Luật Hình Sự 2015 đăng vào tuần trước, tôi có nêu các quy trình cực kỳ chi li, cực kỳ tốn kém tiền bạc, cực kỳ tốn kém thời gian, cực kỳ mang tính huy động nguồn lực nhân sự toàn xã hội cho mỗi dự án luật. Cũng vì vậy mà tôi có thể khẳng định rằng tất cả những lời bào chữa của các quan chức đối với sự cố Luật Hình Sự 2015 đều hoàn toàn sai khi trả lời phỏng vấn của báo chí rằng sắp tới đây để rút kinh nghiệm cho sự cố Luật Hình Sự 2015 các quy trình tham vấn cần được tiến hành lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và cử tri. Quy trình đã và đang có. Quy trình đã và đang rất bao trùm đối với khâu lấy ý kiến. Quy trình đã và đang rất tốn kém. Và tôi đoan chắc rằng nếu các quan chức Quốc Hội “rút kinh nghiệm” kiểu này thì mọi sự vẫn sẽ y như cũ vì “quy trình” đã chặt chẽ đủ đầy bao trùm rồi và hậu quả vẫn sẽ là những sai sót được lập đi lập lại trong công tác lập pháp. Chín lý do duy nhất gây ra “sự cố Luật Hình Sự 2015” và các Luật khác là như sau:

1- Tư Tưởng Cầu An: Chuyên Gia Tất Không Sai

Chuyên gia của Quốc Hội đã hoặc tự cao tự đại (ta là chuyên gia nên luôn đúng) hoặc giáo điều (những kỹ thuật văn bản mà Quốc Hội áp dụng từ thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh thì luôn luôn đúng) hoặc cầu xin hai chữ bình an (công việc đa đoan nên chẳng dại gì động vào hệ thống cho rách việc trước khi ta nghĩ hữu hưởng nhàn từ bổng lộc dồi dào thụ hưởng từ Nhà Nước), nên đã không làm gì khi được Chủ Tịch Quốc Hội chuyển đến họ công văn sau của tôi, cho thấy họ sẵn sàng chấp nhận cái sai dù cái sai ấy chỉ là về kỹ thuật văn bản dự án Luật chứ chưa nói đến nội dung dự án Luật:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Cách Đánh Số Trong Các Đạo Luật

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về cách đánh số trong các đạo luật của Việt Nam:

1) Hiện nay tại tất cả các trường đại học ở Việt Nam dù đội ngũ giảng viên cơ hữu đều có danh xưng học vị thạc sĩ, tiến sĩ – mà đa số tốt nghiệp từ các trường tư bản – nhưng không hiểu sao trong các giáo trình họ soạn hay viết, các văn bản hay thông báo nội bộ trường, các hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp cho sinh viên, v.v., đều không theo bài bản khoa học chuyên nghiệp của nước ngoài trong cách đánh số. Chẳng hạn họ sử dụng rất nhiều những ký hiệu như dấu hoa thị (*) và dấu chấm (.) trước vô số những chi tiết dẫn giải phụ, thay vì phải dùng đến mức độ thí dụ như  IV.A.a.8.iii. chẳng hạn, khiến sinh viên sau này có ra nước ngoài học cao hơn sẽ gặp khó khăn về lập bố cục luận án.

2) Trong khi đó, các đạo luật ở Việt Nam lại vướng vấn đề khác, có thể do tự ái dân tộc hay vì hiểu nhầm ý nghĩa của “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên mặc định sử dụng thứ tự mẫu tự tiếng Việt để đánh dấu các đoạn trong văn bản pháp luật, pháp quy, của nhà nước, đặc biệt xuất hiện trong các đạo luật, theo đó thứ tự thí dụ tuần tự là A, B, C, D, Đ, E, G,… hay a, b, c, d, đ, e, g, …, v.v, (sử dụng đ nhưng không rõ lý do cho phép dùng đ trong khi lại không sử dụng các chữ như ă/â/ê/ơ/ô/ư trong đánh số thứ tự) khiến các bản tiếng Anh (hay tiếng nước ngoài khác) sẽ gây khó khăn cho sự tham khảo của người nước ngoài do không có từ tương đương trong tiếng Anh để họ hiểu ký hiệu đ đó là gì và phải phát âm ra sao trong quá trình tranh tụng của họ tại tòa án Việt Nam, hoặc khi đánh máy dẫn chứng trong văn bản của họ gởi cơ quan nước ta.

Với sự thể như trên, tôi kính đề nghị Quốc hội quy định sử dụng thống nhất mẫu tự bảng chữ cái tiếng Anh để “quốc tế hóa” cách đánh số văn bản pháp luật, pháp quy của Việt Nam, theo đó các số thứ tự sẽ là A, B, C, D, E, F, G…,J, …,W, Y, Z, và a, b, c, d, e, f, …, j, …, w, y, z. Sự sử dụng theo cách này hoàn toàn không xa lạ với người Việt hay vi phạm bất kỳ nguyên tắc nào về văn hóa Việt, khi mà chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hay dùng các mẫu tự như F và Z trong các bản thảo của Người, còn văn bản của Trung Ương Đảng luôn dùng ký hiệu TW, trong khi xã hội đã quen với J từ tên quốc gia Nhật Bản (Japan).

Ngoài ra, xin quy định cấm sử dụng các ký hiệu như dấu hoa thị (*) hay dấu chấm (.) trong đánh số các đoạn trong văn bản pháp luật/pháp quy để sự dẫn chứng tham khảo trở nên chuyên nghiệp và thực tế hơn, thí dụ như:

– theo nội dung điều II.A.1.c.ix

vì không thể nào dẫn chứng bằng cách nói rằng

–  theo điều II Khoản A Mục 1 dấu hoa thị thứ ba, dấu chấm thứ 9

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

2- Tư Tưởng Cực Đoan Duy Ý Chí: Thiếu Linh Hoạt Hấp Ta Hấp Tấp

Sự cố Luật Hình Sự 2015 được bào chữa là do phải “tuân theo” quy trình thảo luận tại một kỳ họp toàn thể của Quốc Hội và thông qua tại kỳ họp toàn thể tiếp theo. Đây vừa thể hiện (a) sự không nghiêm túc nhận khuyết điểm ngay, (b) sự dối trá với nhân dân vì thực tế đã có sự linh hoạt đối với Luật Đất Đai vốn trải qua ba kỳ họp toàn thể của Quốc Hội cũng như bộ luật “gốc” là Hiến Pháp kéo dài nhiều kỳ họp toàn thể Quốc Hội, (c) sự chạy theo thành tích bằng mọi giá, và (d) sự sùng bái ý kiến lãnh đạo.

Đối với phần “sùng bái ý kiến lãnh đạo” nêu trên, dẫn chứng ở đây là chỉ cần Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thực hiện Nghị quyết Trung Ương Đảng tuyên bố khởi động soạn thảo dự án Luật Biểu Tình, là mọi sự phải răm rắp tuân theo. Khi tôi phát biểu ứng khẩu tại nghị trường Quốc Hội về sự hấp ta hấp tấp đối với đề xuất dự thảo dự án Luật Biểu Tình, tôi đã dựa trên sự thật rằng (a) nội dung “biểu tình” chưa hề được Việt Nam làm rõ về ngữ nghĩa, (b) vẫn có nghị sĩ chưa hiểu biết gì về sử liệu “biểu tình” nên phát biểu sai sự thật, (c) vẫn chưa nghị sĩ nào lưu ý đến một sự thật là quyền “biểu tình” không thể được thực thi bởi toàn dân mà chỉ đối với thị dân các đô thị lớn nên nhất thiết phải qua trưng cầu dân ý, (d) đa số nghị sĩ bất tài vô dụng đã luôn xem “luật biểu tình” là cái phao để bấu víu vào đấy như “trả xong nợ với nhân dân” hầu tránh sự thật rằng sự chậm đưa đất nước thành cường quốc mới là cái nợ duy nhất đối với toàn dân tộc, và nhất là (e) khi cái gọi là quy trình “hai kỳ họp” sẽ khiến có sự hấp ta hấp tấp trong soạn thảo và thông qua tại Quốc Hội bất chấp yêu cầu “phải biết lo trước cái lo của người dân” nơi mỗi chính khách thực thụ khiến sẽ dẫn đến một sự cố lớn hơn sự cố “Luật Hình Sự”. Chính sự “sùng bái ý kiến lãnh đạo” này mà báo chí hùa nhau lập công, xách động cuộc tấn công toàn diện nhằm vào tôi không những trên báo in mà còn trên không gian mạng. Chân lý bao giờ cũng chiến thắng, vì nhân dân – qua sự đại diện của các nghị sĩ – đã ủng hộ tôi nên tôi đã thành công trong việc ngăn chặn được sự hấp tấp đối với cái gọi là “Luật Biểu Tình” trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016). Tất nhiên, cũng trong suốt nhiệm kỳ này tôi đã tích cực viết blog các bài nghiên cứu sâu về “biểu tình” cả về ngữ nghĩa và thực tế, nhằm giúp Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) có thể có đủ các tham khảo cần thiết cho sự soạn thảo dự án “Luật Biểu Tình”.

Tóm lại, dự án “Luật Biểu Tình” đã tránh được vết xe đổ của dự án “Luật Hình Sự 2015”.

3- Tự Tung Tự Tác Của Chuyên Gia

Có một sự cố đã bị dấu giếm tại Kỳ họp thứ 11 của Quốc Hội Khóa XIII đối với  Dự Thảo Luật Dược Sửa Đổi mà tôi có chống gậy ra Hà Nội tham dự . Người dân chỉ biết rằng ngày 06 tháng 4 năm 2016 Quốc Hội đã biểu quyết thông qua Luật Dược Sửa Đổi với hiệu lực thi hành từ tháng 7 năm 2016. Sự thể là sau khi đã họp Tổ, thảo luận lần chót tại phiên họp toàn thể Quốc Hội tại nghị trường, cũng như lấy phiếu góp ý về những điều khoản “nhạy cảm”, Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội đã được “chuyên gia” trình ký bản tiếp thu giải trình của Ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội. Song, khi bản in cuối cùng dự án luật trên cơ sở các điểm mà các nghị sĩ đã viết phiếu góp ý và được ủy ban chuyên trách chuyên môn của Quốc Hội chấp nhận để thường Vụ thông qua, được gởi đến các đoàn nghị sĩ thì các nghị sĩ của đoàn Thành phố Hồ Chí Minh như Bà Phạm Khánh Phong Lan (Giám Đốc Sở Y Tế) và Ông Nguyễn Đông Phong (Giám đốc Sở Công An) phát hiện nội dung của vài điều đã bị sửa đổi khác với nội dung kiến nghị của họ đã được Thường Vụ chấp nhận. Sự nghiêm trọng ở chỗ nếu không phát hiện sự tự  tung tự tác tự ý sửa đổi các điều luật ấy, cơ quan an ninh trên cả nước sẽ bó tay trước các tội phạm ma túy, còn cơ quan y tế trên toàn quốc sẽ bó tay đối với việc kinh doanh tự do các tiền chất ma túy. Khoan hãy nói đến nghi án là các “chuyên gia” văn bản pháp luật của Quốc Hội đã “ăn tiền” của Mafia để sửa nội dung Luật nhằm trói tay Quốc Hội với mặc định là luật đã ban hành thì phải có hiệu lực thực hiện ít nhất là 10 năm mới được sửa đổi, mà chỉ cần nêu sự việc họ tự ý sửa điều khoản Luật đã là hành vi phạm pháp cực kỳ nghiêm trọng.

Đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh đã phải hỏa tốc gởi công văn đến Tân Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân để báo cáo sự việc, chưa kể phải tranh luận thuyết phục vị chủ nhiệm ủy ban có liên quan vì vị này do sợ bị trách nhiệm liên đới nên cố gắng biện minh rằng “tuy đúng là mấy em đó có lỡ tay sửa đổi nhưng tôi thấy nội dung vẫn có thể hiểu được là tương đồng”.

4- Chạy Theo Hư Danh

Cái mang tính “thời thượng” ngày nay là nghị sĩ Việt Nam hay nói về “nhân quyền” như một thứ trang sức à-la-mode. Hàng chục năm trước, khi nghe Quốc Hội nói về “tính nhân đạo” trong xóa bỏ nhiều tội danh tử hình, tôi đã than với đồng sự rằng luật pháp nước ta đã hỏng bét rồi vì tội phạm sẽ gia tăng, và các đồng sự đã khuyên tôi rằng “anh nên cố ra làm nghị sĩ một lần đi”. Đến khi tôi làm nghị sĩ thì cái thứ trang sức ấy đã quá choáng ngợp đến độ người ta thi nhau nói về “biểu tình”, về “nhân quyền”, và về “tiêm thuốc độc”. Rốt cuộc, cái việc “tiêm thuốc độc” sau khi luật đã ban hành lại không thực hiện được vì Việt Nam không sản xuất được, còn các viện bào chế thế giới không chịu bán cho Việt Nam vì họ viện lý do…nhân đạo! Thế là Quốc Hội lại họp toàn thể để bàn việc lùi ngày áp dụng Luật hoặc ra Nghị Quyết sửa đổi Luật.

5- Cung Cách Lãnh Đạo “Camouflage” Ở Đoàn Đại Biểu Quốc Hội

Như đã nêu trong một trong những bài “tư vấn các nghị sĩ mới” về công việc một nghị sĩ Việt Nam, tôi có ngụ ý về cung cách “camouflage” của lãnh đạo Đoàn Nghị Sĩ. Ở đây, tất nhiên, tôi chỉ nói về Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh chứ không dám nói nội dung sau đây có ở tất cả các đoàn của các tỉnh thành trên cả nước.  Lãnh đạo Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn nói thẳng rằng Đoàn Nghị Sĩ Thành phố Hồ Chí Minh phải luôn luôn phát biểu hay nhất tại nghị trường. Hay nhất, tất nhiên chỉ mang nội hàm liên quan đến cái sự “nghe lọt lổ tai” của người dân và của báo chí, chứ không bao giờ mặc định phải luôn kèm sáu thuộc tính quan trọng hơn là (a) đúng thực tế thực hành, (b) có sức thuyết phục đối với chính phủ và quốc hội, (c) có tính khả thi cao đối với Nhà nước, (d) áp dụng được đối với toàn hệ thống, (e) có tính định tính, và (f) sau đó định lượng được với kết quả minh bạch như ý.

Để đạt yêu cầu về “hay”, sau mỗi lần họp Tổ, Trưởng Đoàn dựa vào hai biện pháp  duy nhất là Thu Hút (phải là người mà báo chí luôn tập trung ghi chép ý phát biểu để dăng báo) và Từ Chương (phải là chức sắc của ngành) để chỉ định nghị sĩ nào sẽ nhấn nút đăng ký phát biểu trước ở nghị trường, và nếu thời gian cũng như số lượng đăng ký ít thì các nghị sĩ khác trong Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh có thể nhấn nút đăng ký tiếp. Điều này khiến các nghị sĩ khác hoặc không làm gì cả hoặc như tôi miệt mài viết kiến nghị gởi email đến lãnh đạo Quốc Hội.

Suy ra, việc đóng góp ý kiến cho các dự thảo dự án Luật đã không thể nào có chất lượng cao khi các nghị sĩ dù họp Tổ hay họp toàn thể ở Nghị Trường chỉ được phát biểu trong 7 phút, thay vì lẽ ra họ nên soạn thảo bằng văn bản để các ý kiến được trình bày đầy đủ hơn, khoa học hơn, dễ tham khảo hơn đối với các ủy ban chuyên trách có liên quan, và đặc biệt là phục vụ tốt nhất cho công tác lưu trữ tàng thư cực kỳ quan trọng như tại tất cả các Nghị Viện trên thế giới.

“Camouflage” tức là đội lốt, ngụy trang.

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh luôn có bộ “camouflage” hào nhoáng trong phát biểu 7 phút phục vụ cho các trang báo in vốn là công cụ tuyên truyền của Nhà Nước, và sự phồn vinh thịnh vượng của đất nước thì vẫn chưa thấy dù ở chân trời, trong khi sự phát triển tốt đẹp của Thành phố Hồ Chí Minh chỉ thuần ở ngôn từ tổng kết.

6- Cung Cách Đại Biểu Quốc Hội Là Chức Sắc Địa Phương

Cũng tại Thành phố Hồ Chí Minh, do tuyệt đại đa số các nghị sĩ đều là chức sắc cùng đứng dưới mái nhà của Thành Ủy, mà điều lệ của Đảng rất nghiêm ngặt về tính phục tùng, nên dù muốn dù không thì sự sinh hoạt nội bộ thiên nhiều về phe nhóm quyền lực của thứ tự trên dưới chứ không của đẳng cấp ngang bằng tức cùng là nghị sĩ đại diện cho dân.

Như dẫn ra trong thí dụ dưới đây, tôi đã gởi ngay cho Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm một công văn khẩn cấp, ngay khi đến dự phiên họp của Hội Đồng Nhân Dân, được phát tập tài liệu các nghị quyết sẽ được thông qua, và nhận ra ngay những lỗi nghiêm trọng trong một dự thảo:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 12 năm 2013

Kính gởi : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Đồng kính gởi: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Bản sao kính gởi:

-Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

-Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

-Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

-Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v.: Thư góp ý khẩn cấp về Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Báo cáo số 790/BC-VHXH ngày 05-12-2013 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm tra tờ trình nói trên.

Kính thưa Quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh,

Qua tham dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh  Khóa VIII sáng Thứ Hai 09-12-2013, và tham khảo Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin kính gởi đến Quý Lãnh đạo các ý kiến đóng góp khẩn cấp theo thứ tự nội dung sau:

A- Về 8 Tên Nhân Vật Người Nước Ngoài:

1- Những điểm không đúng và các kiến nghị (về xem xét lại sự lựa chọn, và phương pháp viết tên):

a) Marie Cuirie: Tên viết đúng phải là Marie Curie (tên đầy đủ là Marie Sklodowska-Curie) và thích hợp theo cách dùng của tên tiếng Anh.

b) Nêru. J – Jawaharlãl Nehru: Tên viết đúng nên là Jawaharal Nehru vì kiểu Việt hóa phiên âm thành Nêru không nên tiếp tục tồn tại ở Việt Nam trong thế kỷ XXI này, nhất là khi các tên khác trong danh mục của tờ trình lại không ở dạng Việt hóa phiên âm tương tự. Đồng thời loại bỏ dấu ngã trên chữ cái “a” như thể hiện trong báo cáo, để cho đúng theo cách dùng của tên tiếng Anh.

c) Hô-xê Mác-ti: Việc Việt hóa phiên âm này là điều không nên tiếp tục tồn tại như trường hợp ở trên của “Nêru”. Dù tên viết bằng tiếng bản xứ của nhân vật này là José Martí với hai từ và mỗi từ có một dấu sắc (tên đầy đủ là José Julián Martí Pérez tức là có bốn từ và mỗi từ đều có một dấu sắc) thì chúng ta cũng nên sử dụng cách viết trong tiếng Anh là Jose Marti. Đặc biệt nên chấm dứt kiểu phiên âm cho đúng với bản ngữ đặc thù thí dụ Mê-hi-cô, vua Hoan Các-lốt, Hô-xê, v.v., thay vì sử dụng tiếng Anh chung với toàn nhân loại là Mexico, vua Juan Carlos, Jose, v.v. Lập luận một cách khác: từ “Hồ Chí Minh” ở tiếng Việt không bao giờ được phát âm đúng ở tiếng Nga (phiên âm thành “khô-si-min”) vậy thì Việt Nam không có lý do gì lại phải tự trói buộc rằng mình phải phát âm (thậm chí viết ra cho giống y như cách phát âm) cho đúng ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đối với chữ cái “J” trong Jose và Juan, thành Hô-xê và Hoan, v.v…

d) Kovalevskaya: Trong khi tên của những nhân vật khác được viết quá đầy đủ thì tên của nữ nhân vật này lại bị bỏ hết phần tên và chữ lót. Tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya theo kiểu dùng tiếng Anh viết lại y cách phát âm tiếng Nga Со́фья Васи́льевна Ковале́вская. Đây là trường hợp củng cố lập luận đối với Hô-xê Mác-ti ở trên, nghĩa là khi chữ cái một ngôn ngữ – ở đây là tiếng Nga – không thể được thể hiện bằng bàn phím của đa số nhân loại, người ta chấp nhận sử dụng cách ghi tên theo tiếng Anh. Ngoài ra, đối với trường hợp của Sofia Kovalevskayacần phải để ý thêm đến chi tiết Bà thích dùng tên Sophie Kowalevski (hay Sophie Kowalevsky) trên tất cả các tác phẩm nghiên cứu của Bà và đó cũng là cách giới khoa học quen viết về tên Bà, nên cần cân nhắc lựa chọn giữa việc “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga thành tên tiếng Anh Kovalevskaya” hay “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga để cho ra Kowalevski/Kowalevsky thuần Anh.” Diễn giải theo cách khác, nếu chúng ta “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga thành tên tiếng Anh Moskva” thì e là đa số nhân loại không hiểu ta đang nói về ai hay về cái gì, nhưng nếu ta “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga để cho ra Moscow” thì đa số nhân loại sẽ hiểu ngay. Vì vậy, trong trường hợp này, tôi đề nghị nên xem xét sử dụng Sophie Kowalevsky (hoặcSophie Kowalevski) là tên danh chính ngôn thuận của Bà khi dời sang sống và làm việc ở Đức và Thụy Điển.

e) Albert Bruce SabinRobert Koch tuy là hai nhà y học có công lớn đối với nhân loại (Sabin chế tạo ra vắc xin ngừa bại liệt, còn Koch tìm ra vi khuẩn bịnh than, bịnh tả, và bịnh lao), nhưng vẫn dễ gây tranh cải về vai trò của nhiều người cũng có tầm quan trọng tương tự như Alexander Fleming đã chế ra Penicillin hay các vị chế ra các thứ thuốc khác cho những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, dẫn đến yêu cầu có thể có nơi cử tri đối với việc đưa thêm nhiều tên tuổi y học khác cũng đoạt giải Nobel Y học như Koch vào danh sách này.

f) Jean Baptiste Louis Pierre: Xin xem lại trường hợp này vì nếu vị này có “công” xây dựng Thảo Cầm Viên Sài Gòn thì sẽ không tránh khỏi chất vấn rằng sau này sẽ có những đường phố mang tên các vị đã có “công” xây Nhà thờ Đức Bà, Nhà Hát Lớn, Vườn Tao Đàn, và tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.v.v..

2) Tôi xin giới thiệu thêm tên 7 nhân vật người nước ngoài thật sự có giá trị giáo dục cao, mang ý nghĩa chính trị lịch sử cách mạng Việt Nam sâu sắc

a) Francis Henry Loseby (Luật sư Anh đã làm thất bại âm mưu của chính quyền Hong Kong muốn giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho thực dân Pháp)

b) Norman Morrison (Công dân Mỹ tự thiêu ngày 02-11-1965 trước Ngũ Giác Đài, nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, để phản đối Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Norman là nhân vật trong bài thơ “Emily” của Tố Hữu)

c) Olof Palme (Thủ tướng Thụy Điển, ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ, bị ám sát ngày 28-02-1986). Tên đầy đủ là Sven Olof Joachim Palme

d) Jeffrey Glenn Miller (Nam sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

e) Allison B. Kraus (Nữ sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

f) William Knox Schroeder (Nam sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

g) Sandra Lee Scheuer (Nữ sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

B- Về 19 Tên Nhân Vật Lịch Sử Trước Thế Kỷ XX:

– Vũ Phạm Hàm: Xin xem lại trường hợp này vì theo chú thích của Tờ trình thì vị danh sĩ này nhờ “quán” tờ báo “Đông Văn” nên được đánh giá là “tuy chưa bộc lộ rõ nét nhưng qua đó cũng đã thể hiện lòng yêu nước kín đáo của ông”. Tôi cho rằng nếu dựa vào chi tiết đây là vị thi đỗ thủ khoa Thi Hương và tiến sĩ Thi Hội và Thi Đình rồi làm quan thì nhất thiết phải đưa vào danh sách rất nhiều vị khoa bảng khác. Riêng ghi chú rằng ông có “nhiều tác phẩm được nhiều người tìm đọc và đánh giá cao” thì rất vô nghĩa do các nhà nho đều có các tác phẩm xướng họa thi văn, và vấn đề ở đây là chỉ có kiệt tác mới được đưa vào chương trình văn học ở các cấp lớp trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu thêm về danh sĩ này và viết lại nội dung về ông trong tờ trình để việc đề nghị dùng tên ông đặt tên đường mới không gây những phản ứng không có lợi từ cử tri.

C- Về 45 Tên Nhân Vật Lịch Sử Sau Thế Kỷ XX

Trần Sĩ Hùng: Kính đề nghị điều tra thêm về năm mất của vị anh hùng cách mạng này, vì ghi chú rằng ông “về nhận công tác ở Cục Bảo Vệ Chính Trị 1 – Bộ Công An cho đến khi nghỉ hưu” có thể sẽ gây ra thắc mắc vì sao Bộ Công An không biết cán bộ của mình mất lúc nào, và vì sao “nghỉ hưu” vốn liên quan đến nhiều cơ quan giải quyết chế độ chính sách mà không nơi nào biết vị này ở đâu, mất lúc nào, để lo việc hậu sự long trọng cho người anh hùng cách mạng này.

D- Về 27 Tên Nhà Nghiên Cứu, Nhà Hoạt Động Văn Hóa Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật:

1- Đề xuất cách lựa chọn:

a) Đối với các “nhà nghiên cứu, hoạt động văn hóa-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật” nên đặt ra các thang bậc để đánh giá những đóng góp (ưu tiên lựa chọn nhân vật thuộc bậc thang “cao”):

– Trung bình: làm tốt công việc chuyên môn, phẩm hạnh tốt

– Khá: phát triển được chuyên môn của bản thân có lợi cho nước cho dân và cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, kinh tế, v.v.

– Cao: rạng danh nước Việt Nam với thế giới (ở nước ngoài ngay cả một cá nhân ca sĩ hay một ban nhạc cũng có thể gây ảnh hưởng đến cả thế giới)

b) Đối với tác phẩm văn hóa phải theo cách nhìn nhận giá trị thông lệ là qua thử thách của thời gian bao nhiêu chục năm

2- Đề nghị xem lại các trường hợp sau:

a) Phạm Trọng Cầu: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

b) Thanh Nga: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

c) Út Trà Ôn: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

d) Xuân Quỳnh: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng các tác phẩm  chưa qua thẩm định của đủ thời gian thông lệ để được nhìn nhận giá trị văn học cũng như vị trí cao trọng trong văn học sử nước nhà để từ đó làm vẻ vang cho tên tuổi của tác giả.

E- Về 2 Tên Địa Danh:

Xin giới thiệu thêm tên địa danh:

– Phong Nha : đây là nơi được Hiệp Hội Hang Động Hoàng Gia Anh Quốc đánh giá là đẹp nhất thế giới và được tạp chí National Geographic phát hành số chuyên khảo giới thiệu với nhân loại. “Làm rạng danh Việt Nam trên thế giới” cũng nên là tiêu chuẩn xét đưa vào danh sách tên đặt cho đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh.

F- Kiến Nghị:

Kính đề nghị Quý Lãnh Đạo Thành phố Hồ Chí Minh cho phép tôi được tham gia tham khảo đóng góp ý kiến đối với những chương trình, dự tính, dự án, của địa phương về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, học thuật, an ninh-trật tự, v.v., nếu không thuộc loại tối mật của Thành phố, để giúp được nhiều hơn cho Thành phố.

Kính mong nhận được sự quan tâm của quý lãnh đạo.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, bà Chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đã không cho sửa sai cũng như chưa hề cảm ơn tôi dù là bằng lời nói hay bằng công văn.

Tương tự, tôi đã có thư gởi Nghị sĩ Phạm Khánh Phong Lan (Phó Giám Đốc Sở Y Tế) để nêu những tồi tệ trong việc kê toa thuốc tắc trách đầy nguy hiểm nơi các bịnh viện lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thay vì nhận được ý kiến phản hồi của vị chức sắc ấy, tôi lại nhận được lời nhắc nhở của Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) Thành phố Hồ Chí Minh rằng tôi đã làm mếch lòng nghị sĩ Phong Lan; cũng như khi tôi gởi thư đến Nghị sĩ Huỳnh Ngọc Ánh (Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị can thiệp vụ làm ngơ kéo dài việc khiếu kiện của vị bô lão trên 90 tuổi Lý Vĩnh Bá ở Quận Phú Nhuận thì tôi chỉ làm cụ Lý Vĩnh Bá phải chịu đựng thêm sự “hành hạ” của Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh mà thôi.

Đấy là ở phạm vi một Thành phố. Liệu ở phạm vi Quốc Hội thì có chăng việc tương tự trong cách hành xử đối với các góp ý của các nghị sĩ địa phương – nhất là khi đó là nghị sĩ ngoài Đảng, không thế lực, chẳng ô dù?  Vì rằng nếu cung cách này phổ biến thì các dự án Luật sẽ luôn có vấn đề về nội dung sau khi được Chủ Tịch Nước ban hành.

7- Sự Bất Cập Trong “Tạo Điều Kiện” Cho Đại Biểu Quốc Hội

Có vị mới đây đã trả lời phỏng vấn rằng Quốc Hội có khoản trợ cấp để giúp các nghị sĩ có tiền làm việc với chuyên gia khi nghiên cứu về luật.

Trên thực tế: có mục trợ cấp ấy. Đây là việc bình thường, vì trên toàn thế giới không phải cứ là nghị sĩ thì biết tất tần tật mọi thứ.

Trên thực tế: trên cơ sở định mức của Quốc Hội cho mỗi lần sử dụng chuyên gia, nghị sĩ phải điền vào một biểu mẫu hợp đồng và phải nộp hợp đồng ấy cùng bài viết của chuyên gia cho Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội để được nhận vài triệu đồng trả công cho chuyên gia.

Tôi đã gởi thư đến Chủ Tịch Quốc Hội để nêu các luận điểm sau:

1- Hợp đồng quá sơ sài

2- Ai mới được gọi là “chuyên gia” và Quốc Hội có danh sách “chuyên gia” trên toàn quốc cho mỗi lĩnh vực không?

3- Nếu “chuyên gia” về một lĩnh vực đặc thù không sẵn có ở địa phương thì phải làm sao?

4- Nếu chỉ có một “chuyên gia” của một lĩnh vực đặc thù nào đó thì phải chăng Quốc hội cho phép chi trả cho một “chuyên gia” ấy bất kể anh ta nhận “viết bài” cho 450 nghị sĩ và gởi cùng một bài viết cho 450 vị ấy để nhận 450 phần tiền do các nghị sĩ không thể biết ngoài mình ra còn có ai sử dụng dịch vụ của “chuyên gia” ấy?

5- Tại sao phải nộp “bài viết” kèm theo, vì đó là thứ mà nghị rất cần giữ để “đọc” tại hội trường vào những buổi “trực tiếp truyền hình”?

6- Tôi – và chắc nhiều nghị sĩ khác cũng thế – không bao giờ cần thuê mướn “chuyên gia” kiểu đó, mà chính tôi phác thảo các yêu cầu cho một đề tài và rất cần thuê người dựa theo đó mà tìm các tài liệu giúp tôi, dịch các tài liệu ấy nếu từ nguồn nước ngoài, in ấn các tài liệu ấy để tôi đọc và đánh dấu các đoạn cần thiết, đánh máy tổng hợp các phần tôi đã đánh dấu để in ra nộp lại cho tôi dùng trong công văn góp ý do chính tôi soạn. Vậy những nhu cầu này có được xem là sử dụng “chuyên gia” không?

7- Do không phải tất cả các tư vấn của “chuyên gia” đều có giá trị sử dụng nên Quốc hội có sẽ đồng ý thanh toán cho “chuyên gia” ấy không nếu “công trình” của “chuyên gia” bị nghị sĩ có liên quan quyết định bỏ, không dùng đến?

Tất nhiên, tôi chưa từng nhận được phúc đáp của Chủ Tịch Quốc Hội, và suốt từ năm 2011 đến nay tôi luôn xuất tiền túi ra để thanh toán cho “chuyên gia” của tôi chứ không dại gì làm hồ sơ xin thanh toán cho “chuyên gia” vì tôi luôn thận trọng không bao giờ để bản thân bị mang tiếng đối với bất kỳ việc gì có liên quan đến tiền bạc một khi hợp đồng quá yếu kém dù do Bộ Tài Chính chấp bút, còn điều kiện thì quái gở.

Như vậy, các nghị sĩ khác nếu có sĩ diện giống tôi nhưng lại không muốn bỏ tiền túi ra thuê “chuyên gia” thì bảo sao mà không thụ động trong nghiên cứu các dự án luật mà đóng góp cụ thể được, khiến dự án luật cứ có nhiều hạt sạn từ nhỏ đến to.

8- Sự Hợp Tác Của “Dân”

Thật là lý tưởng tuyệt đối khi dùng hai chữ nhân dân trong việc lấy ý kiến toàn dân. Song, có một thực tế hiển nhiên ai cũng biết là Việt Nam sau năm 2000 rất khác với Việt Nam của thời 1975-1990.

Vào thời 1975-1990 việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc, luôn đông đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ dù không đặc sắc vẫn hàm chứa các nội dung chính quyền cần phổ biến và các hộ cần nắm thông tin.

Vào thời từ 2000 cho đến nay, việc họp Tổ Dân Phố ở Thành phố Hồ Chí Minh trở thành sự gượng gạo, không bao giờ đầy đủ đại diện các hộ, với nội dung họp Tổ vẫn không đặc sắc với nội dung chính quyền cần phổ biến lại không là thứ thông tin các hộ cần nắm bắt. Ba trong những nguyên nhân chính là (a) thông tin không hề thiếu trên truyền thông mạng cũng như báo in và truyền hình, (b) người dân có nhiều nhu cầu giải trí và có nhiều tiện nghi giải trí ở khắp nơi để tham gia sau giờ làm việc khiến khó thể có mặt để tham dự họp Tổ, và (c) đa số người dân không còn quan tâm đến sinh hoạt Tổ Dân Phố mà họ xem như một cực hình. Thậm chí khi “vận động” mọi người dân trong tuổi “cử tri” đi họp “tiếp xúc ứng cử viên đại biểu quốc hội” thì ngay cả việc có một người đại diện cho cả hộ dù hộ ấy có rất nhiều người trong độ tuổi luật định làm cử tri có mặt cũng là điều bất khả ở nhiều nơi.

Vì vậy, việc “lấy ý kiến” của người dân đối với một dự án luật không bao giờ đạt yêu cầu, trừ phi “người dân” đó là cán bộ Mặt Trận Tổ Quốc ở phường xã đứng lên phát biểu để ghi vào biên bản biến thành “đóng góp ý kiến của nhân dân khu phố” rồi nộp lên cấp cao hơn. Đây là lý do đã, đang, và sẽ khiến việc “lấy ý kiến đóng góp của nhân dân” tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với một dự án luật không bao giờ giúp dẫn đến việc dự án luật ấy được nghiên cứu sâu sắc hơn để được hoàn thiện hơn.

9- Tranh Luận Về Dự Án Luật

Như đã nêu trong công văn sau tôi gởi đến Chủ tịch Quốc Hội và cũng như đã luôn được nêu lên bởi các cơ quan ngôn luận, việc tranh luận tại Quốc Hội về một dự án luật đã chưa hề được diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử của Quốc Hội:

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân như sau về về việc phát biểu tại Hội trường Quốc hội trong các kỳ họp.

1) Tình hình thực tế:

Qua các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII tôi nhận thấy quy trình phát biểu của đại biểu như sau:

a- Đại biểu vào hội trường bấm nút đăng ký

b- Lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp mời đại biểu phát biểu

c- Đại biểu phát biểu (chủ yếu đọc bài viết soạn sẵn để chủ động bảo đảm thời lượng quy đinh 7 phút)

Quy trình trên hoàn toàn công bằng theo mặc định (người trước người sau theo thứ tự ấn nút đang ký trước-sau) và theo tổ chức (lãnh đạo chủ trì sẽ điều tiết để tránh nhiều đại biểu cùng đơn vị cùng đăng ký trước nếu phát biểu theo thứ tự trước-sau sẽ không ành thời gian cho các đại biểu ở đơn vị khác).

Tuy nhiên, hai yếu điểm bộc lộ từ quy trình trên là người dân hoàn toàn không thấy có sự tranh luận bất kỳ tại Quốc hội mà chỉ có việc mạnh ai nấy đọc bản tham luận của mình, trong khi đó lại chứng kiến (qua trực tiếp truyền hình) việc lãnh đạo Quốc hội yêu cầu đại biểu không lập lại nội dung trùng ý của đại biểu khác đã phát biểu trước đó nhưng các đại biểu vẫn vô tư đọc đầy đủ và trọn vẹn các bài viết sẵn có các đoạn trùng ý.  Hai yếu điểm này sẽ được người dân nhận ra, làm gia giảm sự quan tâm đến các buổi trực tiếp truyền hình, khiến nỗ lực gia tăng thời lượng phát sóng trực tiếp bớt hiệu quả chính trị, trong khi đó lại gia tăng cơ hội cho bọn chống Việt Nam lợi dụng để chỉ trích.

2) Kiến nghị:

Để sự phát biểu mang ý nghĩa ích lợi thực tế, tôi kính đề nghị:

a- Trước kỳ họp, các đại biểu gởi bài phát biểu đến Quốc hội để được đăng tải trên trang web Quốc hội. Do đại biểu đã biết kỳ họp sẽ có nội dung nào, về các luật gì, và các đoàn đều có tổ chức mời giới luật gia và ban ngành đoàn thể đến tập trung góp ý cho từng dự án luật hay từng vấn đề một nên các đại biểu đều nắm thông tin, nghiên cứu thêm, và hình thành trước các bản góp ý hay phát biểu. Vấn đề là đem theo các bài soạn sẵn chờ đến kỳ họp đúng ngày đúng buổi để nhấn nút phát biểu và gặp phải sự phát biểu trùng ý sẽ khiến sinh hoạt như vậy kém hiệu quả và thiếu chuyên nghiệp. Việc đăng bài lên trang web Quốc hội (mỗi đại biểu có quyền gởi  hàng chục bài cho hàng chục đề tài khác nhau theo chương trình dự kiến của Quốc hội) giúp người dân theo dõi, và giúp các đại biểu đọc của nhau, từ đó phát hiện những vấn đề nào cần phải tranh luận thêm vì chưa đồng thuận để ghi nhận và chờ đến kỳ họp để tranh luận trực tiếp tại hội trường.

b- Tại kỳ họp, việc nhấn nút của đại biểu là để tranh luận về chi tiết ý kiến mà đại biểu khác đã thể hiện trong bài viết đã đăng tải trên web Quốc hội mà người dân đã đọc và đã nắm thông tin. Việc theo dõi tranh luận – nếu nhằm phiên có trực tiếp truyền hình – của người dân do đó sẽ có hứng thú trước nội dung tranh luận, khả năng hùng biện, hiệu quả thuyết phục, để qua đó nhận xét về khả năng của từng đại biểu của dân. Theo cách này, thời gian mỗi kỳ họp có thể ngắn hơn, hoặc có nhiều thời gian hơn cho những vấn đề trọng đại khác mà từng thời điểm có thể đặt, thay vì chỉ là việc đọc các bài soạn sẵn để góp ý cho một dự án luật nào đó mà sự góp ý có thể thực hiện sớm hơn (gởi email để được đăng ngay lên web Quốc hội), ít tốn kém cho Nhà nước hơn (chi phí cho thời lượng phát sóng trực tiếp để dành giúp dân nghèo).

c- Ngoài ra, về vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin (xin được gọi tắt là IT) cũng cần nâng cấp hợp lý, theo đó, khi một đại biểu đang phát biểu (theo hướng b ở trên), các đại biểu khác nếu thấy nhất thiết phải tham gia phản bác thì có thể nhấn nút để “chen ngang”, theo đó, sau khi đại biểu ấy phát biểu xong, lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp sẽ mời đại biểu nhấn nút “chen ngang” phát biểu thay vì mời đại biểu đã đăng ký tiếp theo trước đó. Theo cách này, sự tranh luận sôi nổi tại hội trường sẽ được hình thành, và đó là điều cần thiết trong sinh hoạt Quốc hội. Việc thêm một chức năng như vậy vào hệ thống IT, theo tôi, không phải là điều có khó khăn về kỹ thuật và tài chính.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng biết ơn Chủ tịch Quốc hội và các Phó Chủ tịch Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Như vậy, có thể nói rằng các phát biểu của nghị sĩ về một dự án luật tại Nghị Trường – đặc biệt vào những buổi có trực tiếp truyền hình – chưa bao giờ giúp hoàn thiện một dự thảo dự án luật do đa số các vị đọc các bài soạn sẵn mà nhiều khi lập lại ý kiến trùng lặp với nghị sĩ đã phát biểu trước đó, đến độ có khi chủ tọa phiên họp phải chen ngang nhắc khéo là hãy bỏ các ý trùng lặp để dành thời gian cho nghị sĩ khác thì vị nghị sĩ đang đọc cũng không thể loại bỏ phần nào cả vì không rõ đoạn nào mới là đoạn trùng lặp vì đã không tập trung lắng nghe bài phát biểu của vị khác trước mình. Đã không có tranh luận sâu sắc để hùng biện đả phá những điều khoản của từng điều khoản quan trọng của mỗi dự thảo dự án luật thì việc một đạo luật ban hành đạt yêu cầu hoàn hảo lại tùy phần lớn vào sự may mắn.

Làm luật mà đặt vấn đề quan trọng nhất là rà soát xem dự thảo có phù hợp với chủ trương không, có phù hợp với trào lưu “tiến bộ văn minh” của thế giới không, có phù hợp với “nhân quyền” không, trong khi phớt lờ chín điều nêu trên thì quả là khiến việc lập pháp sẽ luôn đối mặt với những vấn nạn này nọ.

Với các hiểu biết thấu đáo và kinh nghiệm va chạm thực tế tại Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi lẽ ra đã có thể ra tay chấn chỉnh đoàn Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong Khóa XIV để đem Đoàn từ căn bịnh trầm kha thâm căn cố đế camouflage tiến vào thực tế chuyên nghiệp nghị viện. Tuy nhiên, tôi sẽ dõi mắt quan tâm đến hoạt động của từng thành viên trong Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) của Thành phố Hồ Chí Minh để có thể viết các góp ý mới khác để tiếp tục gởi Chủ Tịch Quốc Hội nhằm xây dựng một Quốc Hội Việt Nam lành mạnh thực chất hơn trong chức năng lập pháp và giám sát.

HHP Poem (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

A) QUỐC HỘI

1) Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng November 9, 2013

2) Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện.  November 14, 2013

3) Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. 26 November 2013

4) Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 April 29, 2014

5) Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc May 11, 2014

6) Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội May 31, 2014

7) Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm” July 1, 2014

8) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường. July 18, 2014

9) Thư Gởi Thủ Tướng August 20, 2014

10) Hành Trang Nghị Sĩ September 17, 2014

11) Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam October 4, 2014

12) Phản Hồi Của Bộ Giao Thông Vận Tải November 4, 2014

13) Bài 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội December 21, 2014

14) Bài 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam December 24, 2014

15) Bài 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam January 20, 2015

16) Thư Gởi Chủ Tịch Quốc Hội – Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp January 21, 2015

17) Bài 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội February 5, 2015

18) Báo cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước December 4, 2015

19) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi Của Người Dân December 13, 2015

20) Bài 5: Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. February 24, 2015

21) Bài 6:  Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang” December 27, 2015

22) Bài 7:  Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân December 28, 2015

23) Phải Biết Lo Trước Cái Lo Của Người Dân December 31, 2015

24) Bài 8: Công Tác Tiếp Dân January 2, 2016

25) Bài 9: Công Tác Giám Sát Của Nghị Sĩ January 3, 2016

26) Bài 10: Công Tác Ủy Ban Quốc Hội January 4, 2016

27) Hãy Ủng Hộ Ứng Cử Viên Tự Do Cho Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) January 9, 2016

28) Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021) March 8, 2016

29) Quyền Lực Của Cử Tri March 24, 2016

*** Thư Gởi Bộ trưởng Bộ Công Thương January 21, 2015

B) PHÁP LUẬT

1- Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình  June 5,2013

2- Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992. 05 June 2013

3- Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp July 25, 2013

4- Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân  November 22, 2013

5- Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi) November 26, 2013

6- Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 November 26, 2013

7- Biểu Tình và Ô Danh. May 20, 2014

8- Luật Biểu Tình. May 26, 2014

9- Tôi Và Các Luật Sư . September 24, 2014

10- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 1: Vấn Đề Ngữ Nguyên. April 2, 2015

11- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. April 14, 2015

12- Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? September 18, 2015

13- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” October 14, 2015

14- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)” October 18, 2015

15- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)” October 18, 2015

16- Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân” November 14, 2015

17- Huỳnh Văn Nén December 6, 2015

18- Điều Luật 258 April 2, 2016

19- Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague May 22, 2016

20- Hình Sự Hóa Quan Hệ Hợp Đồng Kinh Tế June 8, 2016

21- Sự Cố Luật Hình Sự June 28, 2016

*** Pháp Luân Công October 7, 2015

Trích từ Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016

Lam Luat 1Lam Luat 2Lam Luat 3Lam Luat 4

Sự Cố Luật Hình Sự

Những Góp Ý Viết Trên Giường Bệnh

Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Khóa XIII

28-6-2016

Năm 2015 là năm tôi không thể dự kỳ họp thứ 9 của Quốc Hội do phải nằm viện trị bệnh với cơ man nào là dây truyền dịch, truyền máu, và truyền dưỡng chất; và cũng không thể dự kỳ họp thứ 10 của Quốc Hội do trùng với thời gian tôi phải dưỡng bệnh và luyện tập phục hồi chức năng. Song, chỉ vào lúc dưỡng bệnh tôi mới được cho phép làm việc với máy vi tính để dù không trực tiếp có mặt tại nghị trường Quốc Hội tôi vẫn có thể nghiên cứu các dự án luật do Quốc Hội gởi đến và ngồi đánh máy các bản góp ý để gởi qua email đến các lãnh đạo Quốc Hội.

Như tôi đã nêu trong nhiều bài trước trong chủ đề “Quốc Hội” và “Luật Pháp”, quy trình làm luật tại Việt Nam cực kỳ tốn kém về tiền bạc và thời gian, qua nhiều  khâu trong đó cần lưu ý các điểm chính sau qua thí dụ hoạt động của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh:

1- Cơ quan chức năng được phân công – thường là các Bộ-Ban-Ngành – soạn dự thảo dự án luật trình các ủy ban chuyên trách của Quốc Hội nghiên cứu báo cáo Thường vụ Quốc Hội.

2- Dự thảo được in ra bản giấy gởi đến tất cả các văn phòng các Đoàn Đại Biểu Quốc Hội khắp các tỉnh thành. Văn phòng Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh in ra hàng trăm bộ gởi tất cả các đại biểu trong đoàn, các cơ quan Hội Đồng Nhân Dân/Ủy Ban Nhân Dân/Sở/Ban/Ngành/Mặt Trận/Hội Luật Gia/Hội Chuyên Ngành tại địa phương để lấy ý kiến – thậm chí có cả trường hợp gởi đến từng phường xã để lấy ý kiến “người dân”. Tất nhiên có sự mặc định rằng các nơi nhận được dự thảo sẽ có họp lấy ý kiến để đúc kết thành văn bản gởi cơ quan quản lý hàng dọc cấp trên trực tiếp. Ngay cả khi sự “mặc định” ấy có là “giả định” thì tổng số tiền bỏ ra cho các hoạt động thật sâu thật sát thật “thiên la địa võng” ấy không bao giờ không nhiều hơn 8 chữ số.

3- Văn phòng Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức họp tại Đoàn với thành phần tham dự gồm Đại Biểu Quốc Hội của Đoàn (thường mỗi buổi họp về luật chỉ có từ 1 đến 3 người trong tổng số 30 đại biểu của đoàn đến dự), đại diện các cơ quan/sở/ban/ngành/mặt trận/quận-huyện của Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây tất cả các người dự họp lại được cung cấp bản in giấy các dự án luật, lại thay nhau phát biểu, và Văn phòng Đoàn sẽ đúc kết để gởi ra Thường Vụ Quốc Hội.

4- Văn phòng Quốc Hội tổng hợp các ý kiến gởi về từ toàn quốc, ủy ban chuyên trách của Quốc Hội nghiên cứu phản biện, thường vụ Quốc hội chuẩn y để Văn phòng Quốc Hội in ra hơn 500 bộ để phát cho các Đại Biểu Quốc Hội về Hà Nội dự kỳ họp Quốc Hội (mỗi năm có 2 kỳ họp). Tại kỳ họp, các Đại Biểu Quốc Hội họp tại Tổ, thảo luận tại Tổ, và Tổ đúc kết thành văn bản gởi Thường Vụ. Trên cơ sở phản biện của các ủy ban chuyên trách, Thường Vụ cho phép in ra hơn 500 bộ đã có bổ sung chỉnh lý để các đại biểu nghiên cứu tiếp rồi phát biểu góp ý thêm tại hội trường có hoặc không có trực tiếp truyền hình.

5- Đúc kết các góp ý tại hội trường nêu trên, sau khi kết thúc kỳ họp các đoàn trở về địa phương, Văn phòng Quốc Hội in gởi các bản dự thảo đã chỉnh lý theo các “đúc kết” cho các Đoàn Đại Biểu Quốc Hội các tỉnh thành trên toàn quốc phục vụ việc tổ chức lấy ý kiến lần 2. Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tổ chức y nội dung số 2 nêu trên với các việc in ấn, gởi dự thảo mới, họp tại văn phòng đoàn với cũng bấy nhiêu thành phần tham dự, và gởi biên bản họp cho Thường Vụ.

6- Nội dung như ở mục số 4 nêu trên lại được thực hiện y hệt, chỉ có thêm một điều là sau khi các đại biểu phát biểu góp ý thêm tại hội trường có hoặc không có trực tiếp truyền hình thì sẽ có việc biểu quyết thông qua dự án luật (cùng nhiều dự án luật khác mà mỗi dự án luật đều theo chính xác 6 mục ghi như trên) trước khi bế mạc kỳ họp.

Như vậy, tại sao với quy trình tối thiểu như trên với tiêu tốn tối đa chất xám, tối đa tiền của, tối đa thời gian, và tối đa uy tín của chính Quốc Hội, vẫn có những bộ Luật được ban hành thay vì “applicable” tức thực hiện thực thi thực tế được ít nhất là 5 hay 10 năm lại phải được khẩn cấp sửa sai sau khi ban hành nhưng chưa đến ngày bắt đầu có hiệu lực? Ai cũng biết khi còn là đứa trẻ thì sự lớn nhanh của cơ thể luôn dẫn đến sự cần thiết phải thay đổi trang phục hàng năm, còn khi đã qua tuổi trưởng thành thì chỉ có bia rượu và sự phàm ăn mới làm người đàn ông có chiếc bụng bự hơn để cần có trang phục đo mới để ôm được khít chiếc bụng ấy. Cũng vậy, đối với một Việt Nam son trẻ thì sự cập nhật nhanh chóng các luật là điều dễ hiểu. Song, (a) uy tín quốc gia cùng với (b) sự khẳng định quốc gia đã có được “nền kinh tế thị trường” để tự sánh mình ngang hàng với bốn bể năm châu trong sân chơi thương mại toàn cầu hóa thì không thể tha thứ cho việc có sự cố lập đi lập lại trong công tác xây dựng pháp luật ở Quốc Hội Việt Nam, đòi hỏi nhất thiết phải có một cá nhân, nhiều hơn một cá nhân, hoặc một tập thể ủy ban hay cả tập thể Quốc Hội phải được nêu đích danh để phải chịu trách nhiệm trước các tắc trách mang tính làm nhục quốc thể này.

Nha sĩ không phải là người chế tạo ra máy chữa răng hay chất liệu xi-măng trám răng hoặc chất liệu làm răng giả hoặc thuốc tê nhổ răng. Nha sĩ sử dụng tất cả những thứ sẵn có ấy để hành nghề phục vụ khách hàng cho một kế sinh nhai.

Phi công không phải là người chế tạo máy bay dân dụng mà chỉ sử dụng máy bay  sẵn có để hành nghề phục vụ hành khách cho một kế sinh nhai.

Thầy giáo không phải là người tạo ra Truyện Kiều hay các định đề toán học mà chỉ dùng các công trình sẵn có ấy để hành nghề phục vụ khách hàng tức học trò cho một kế sinh nhai.

Luật sư không phải là người tạo ra các đạo luật mà chỉ sử dụng các luật đã được ban hành để hành nghề phục vụ thân chủ cho một kế sinh nhai.

Quốc Hội là cơ quan lập pháp, và – như tôi đã chia sẻ trong nhiều bài viết trước đây với chứng minh cụ thể về sụ hình thành Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ – sẽ là điều ấu trỉ nếu mặc định rằng các luật sư nên được bầu vào Quốc Hội Việt Nam để bảo đảm Việt Nam có Bản Hiến Pháp tuyệt vời và các bộ Luật không sai sót.

Đối với Bộ Luật Hình Sự 2015, tôi đã có thư góp ý viết trên giường bịnh gởi lãnh đạo Quốc Hội như đã đăng tải trên blog này. Trong thư ấy, tôi đã loại bỏ bớt một nội dung quan trọng vì cho rằng một mình tôi không thể chõi lại tập thể hơn 450 nghị sĩ khác, đó là về việc Luật Hình Sự đã nêu quá chi tiết về số tiền phạt như 50 triệu hay 100 triệu, vì rằng (a) bản thân các con số ấy hoàn toàn không có tính răn đe, rằng (b) khi có khủng hoảng tiền tệ khiến đồng tiền mất giá thì số tiền phạt theo luật định ấy có khi chỉ còn bằng giá trị một chiếc xích lô đạp; rằng (c) sao không sử dụng tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trị phạm tội hay tổng thiệt hại để ấn định mức phạt tiền trong Luật Hình Sự – thí dụ như 50% hoặc 70% chẳng hạn; rằng (d) việc ấn định số tiền phạt thấp cho tội hiếp dâm rất lố bịch, phi thực tế; và rằng (e) sao không quy định đối với tội tham nhũng/hối lộ thì hình phạt phải là tịch thu 100% số tiền tham nhũng/hối lộ nộp vào công quỹ, cộng với số tiền bằng số 100% ấy làm tiền phạt, cộng với số tiền bằng số 100% ấy làm tiền thưởng cho cá nhân/tập thể có công phát hiện/tố cáo tham nhũng/hối lộ; v.v. Luật Hình Sự mà ỏn ẻn thì làm sao mà giảm được các trọng án và làm sao mà trừ tuyệt được tham nhũng/hối lộ cơ chứ.

HHP Poem (6)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo: những góp ý của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đã viết trên giường bệnh đối với các dự thảo dự án luật trong năm 2015:

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Hình Sự” Ngày 14-10-2015. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/10/14/nghi-si-hoang-huu-phuoc-gop-y-cho-du-thao-luat-hinh-su/

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)”  Ngày 18-10-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)”  Ngày 18-10-2015

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân”  Ngày  14-11-2015

Hình Sự Hóa Quan Hệ Hợp Đồng Kinh Tế

Không Lời

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-6-2016

P1Presentation1A1AA2

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Mỹ Linh

Hoàng Hữu Phước, MIB

07-6-2016

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi chỉ thích Nhạc Đồng Quê Mỹ.

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi chỉ thích nhạc của quân giải phóng.

Tôi xin lập lại một khẳng định rằng tôi không thể thưởng thức bất kỳ bản nhạc Việt Nam hiện đại nào.

Tôi xin khẳng định rằng là người nghiên cứu quốc ca (chính ra là tập trung cho “quốc thiều”) của các dân tộc từ nhỏ, tôi – và nhiều thân nhân của tôi – rất thích bản quốc ca Hoa Kỳ vì sự hùng tráng của tiết tấu mà sau này tôi phải lấy công tâm của riêng cá nhân tôi mà nói rằng bản quốc ca Việt Nam cũng hùng tráng và cùng với bản quốc ca Hoa Kỳ là hai bản quốc ca hay nhất.

Tôi xin khẳng định rằng tôi không có ác cảm gì với Mỹ Linh, đơn giản vì tôi không thể thưởng thức nhạc Việt Nam hiện đại nên chẳng nghe Mỹ Linh hát bao giờ.

Và tôi xin khẳng định rằng Mỹ Linh đã không có lỗi gì khi hát Quốc ca Việt Nam lúc chào đón Tổng thống Hoa Kỳ Obama.

Cái sai tày trời là của ban tổ chức vì tôi nghe rằng họ đã yêu cầu Mỹ Linh gởi các phiên bản hát khác nhau để họ lựa chọn, quyết định Mỹ Linh sẽ hát theo phiên bản nào.

Ban tổ chức đã chưa bao giờ biết những sự thật sau:

1) Đối với nghi lễ quốc gia, bài quốc ca phải được trỗi lên theo đúng với nội dung từ lời ca đến nốt nhạc theo ghi nhận trong Hiến Pháp.

2) Đối với trình diễn thăng hoa bản quốc ca, thì tùy vào văn hóa của mỗi quốc gia. Mỹ là nước cho phép dùng quốc kỳ may quần lót phụ nữ như thiên hạ đã từng thấy trong kỳ vận động tranh cử tổng thống của Richard Nixon, thì quốc thiều cũng được phép biến tấu tại các buổi hòa nhạc khi chẳng ai phải đứng dậy chào cờ mà chỉ thưởng thức âm nhạc, như biến tấu hard rock của Zakk Wylde.

3) Hát quốc ca tại các sự kiện lớn, hoành tráng, luôn là đơn ca và không có nhạc đệm. Ca sĩ nào nói khó ca hát nơi đông người mà không có ban nhạc, thì đó không là danh ca để được mời hát cho sự kiện.

4) Chính vì tự do thái quá và do bất cẩn, Mỹ sau đó đã phải đớn đau khi tại các buổi lễ trang trọng nơi sân vận động hoành tráng khai mạc giải bóng bầu dục hay khúc côn cầu trên băng, lịch sử Hoa Kỳ đã phải lần lượt chứng kiến những ca sĩ hát quốc ca (đơn ca, không có âm nhạc kèm theo) như các “diva” Christina Aguilera, Alexis Normand, Victoria Zarlenga, hoặc các nam danh ca như Steven Tyler, Michael Bolton, Cuba Gooding Sr., Mike Eli, Scott Stapp, và Robert Kelly đã làm nhục quốc thể, khiến các cầu thủ, khán giả, huấn luyện viên, trọng tài, và thậm chí các em bé phục vụ căng lá cờ giữa sân phải phì cười hoặc lắc đầu ngao ngán. Chưa kể danh sách những kẻ đã “làm thịt” bản quốc ca Hoa Kỳ còn có lực sĩ Carl Lewis và bà hề Roseanne Barr, những kẻ mà ban tổ chức nghĩ rằng sẽ nhờ tên tuổi của họ mà làm giải đấu thêm phần hoành tráng. Hình ảnh video của Roseanne Barr rất kinh tởm khi thấy bị cầu trường la chộ, bà hề này đã phun một bãi nước bọt đầy trịch thượng.

5) Chỉ có bọn phản động, chống phá Việt Nam, và thất học mới từng đòi phải bỏ chữ Xã Hội Chủ Nghĩa trong quốc hiệu, viết lại lời quốc ca mà chúng cho rằng để “bớt sắt máu” cho phù hợp với thời đại hòa bình. Và tương tự, chỉ có những người kém hiểu biết, kém khôn ngoan mới nói rằng phải hát quốc ca Việt Nam với tiết tấu khác đi, dịu dàng hơn, cho phù hợp với cái sự “yêu hòa bình” của cái thời đại hội nhập. Nói vậy là vi hiến vì dám làm sai với nội dung của Hiến Pháp về quốc ca. Phải chăng sẽ đến lúc nào đó xuất hiện lá cờ hồng sao vàng vì lập luận rằng màu đỏ quá “sắt máu”, cần được thay thế bằng màu hồng của tình yêu?

6) Muốn có hòa bình, phải có sức mạnh răn đe cực mạnh bằng vũ khí hiện đại, tối tân. Muốn có hòa bình, phải có lời cảnh báo nghiêm khắc trong quốc ca hùng tráng rằng “cờ in máu chiến thắng mang hồn nước”,  “đường vinh quang xây xác quân thù”, để ngoại bang phải chùn tay. Muốn có hòa bình, phải có giọng ca hùng tráng đúng với nội dung hùng tráng.

7) Quốc ca Hoa Kỳ được Quốc hội Hoa Kỳ chuẩn y năm 1931, dựa theo bài thơ Ngọn Cờ Lấp Lánh Ánh Sao của nhà thơ chiến sĩ Francis Scott Key viết năm 1814 trong trận tử thủ Pháo đài McHenry, dựa theo hình ảnh lá cờ bị đạn bắn rách bươm nhưng vẫn ngạo nghể bay phất phới, và ánh trăng qua các lỗ đạn trông như các vì sao lấp lánh giữa đêm đen. Không bất kỳ ai ở Hoa Kỳ nói rằng Mỹ nên thay quốc ca vì xuất xứ “rách bươm” của lá cờ cả. Hồn thiêng sông núi Hoa Kỳ là ở đấy. Sự hào hùng của nhân dân Mỹ là ở đấy. Thế thì sao ở Việt Nam lại có những kẻ cho mình có quyền (và được cấp trên để yên cho) tự tung tự tác giải thích lung tung về “hòa bình” và “hội nhập” nên phải “mềm hóa” quốc ca?

Lời cảnh báo ở đây qua bài viết này là các quan chức ngành giáo dục và truyền thông phải bảo đảm rằng không ai được phép “thăng hoa” động đến bản quốc ca trong những buổi đại lễ hay quốc lễ. Đã là quốc lễ thì áo dài phải là áo dài truyền thống, cổ điển, không phải là áo dài không có lưng áo cũng như chỉ có một tay áo thậm chí khoét sâu khoe ngực. Người Mỹ đã có những trãi nghiệm xấu hổ mà chính dân chúng của họ cũng phải lên tiếng chê bai, nhạo báng, còn các danh ca lừng danh hoàn vũ của họ như các vị giám khảo American Idol Christina Aguilera và Steven Tyler phải muối mặt, bị “ném đá” trên không gian mạng.

Những người như Christina Aguilera và Steven Tyler hoàn toàn sai và phải chịu trách nhiệm cá nhân của họ trước nhân dân của họ.

Mỹ Linh không sai và không phải chịu trách nhiệm, vì Mỹ Linh hát theo phiên bản đã được “cấp trên” duyệt.

Vấn đề mãi ngân vang rằng “cấp trên” ấy là ai.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Quốc Nhục

Lưu Hữu Phước – Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa

Việt Nam Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án The Hague

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-5-2016

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, Philippines đã kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người dân, nhiều bài báo, thậm chí kể cả vị luật sư là nghị sĩ Quốc Hội, chưa nắm rõ quy trình cẩn trọng tối đa tại Tòa án The Hague, đều cùng lên tiếng đề nghị Chính phủ Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người gốc Việt ở nhiều nước trên thế giới như Úc, Thụy Điển, v.v., kể cả ở Đài Loan, đã cùng bạn bè nước sở tại đã xuống đường giương cao ngọn cờ đỏ sao vàng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mong muốn Việt Nam kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Trước sự hung hăng lấn chiếm của Trung Quốc tại Biển Đông, nhiều người Mỹ gốc Việt “chống Cộng” mừng rở hung hăng lấn chiếm các trang mạng “chùa” và các đài phát thanh “có tài trợ” để lập tức ra rả bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam “bán nước”, “làm tay sai Trung Cộng”, v.v. và v.v., mà cụ thể là một bức ảnh trên internet hình đám đông giương cờ vàng ba sọc đỏ (mà những người cộng sản trên đài phát thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam luôn gọi mỉa là cờ “ba que”) với tấm bảng ghi dòng chữ ngô nghê ngu xuẩn điên dại “Muốn Chống Tầu Cộng Xâm Lược Phải Diệt Việt Cộng Bán Nước” (nghĩa là muốn chống Trung Quốc “xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa” thì trước hết phải giết sạch sành sanh nhiều chục triệu người ở Việt Nam bao gồm cả quân đội Việt Nam cùng các tướng lĩnh, tất cả các đảng viên cùng gia đình của họ, tất cả đoàn viên thanh niên, và sau khi giết sạch, xác chất thành núi, máu chảy thành sông thì mấy anh “cờ ba que” sẽ về dùng núi xác và sông máu đó làm chướng ngại vật chặn đường xe tăng Trung Quốc rồi lên làm tổng thống đuổi đi vùng “tân kinh tế” những ai còn sống để lấy lại nhà cửa mà cha ông đã bỏ lại khi bại trận phải chạy ra nước ngoài), đồng thời gởi các chiếc mặt nạ có in dòng chữ “yêu nước, chống Trung Quốc” về Việt Nam cho một số người có cái để đeo lên mặt mỗi khi tụ tập đông người hoặc gây ách tắc giao thông hoặc manh động đốt phá, đòi phải kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Tất nhiên, đối với mấy cái trò la hét vớ vẩn của cái cộng đồng hạng bét chống Cộng ở hải ngoại thì Đảng Cộng Sản và Chính Phủ Việt Nam chẳng xem ra thể thống gì để mà quan tâm, để ý.

Tuy nhiên, đối với người dân yêu nước cùng những kiều dân vốn là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, thì trước quan tâm chính đáng đầy lòng ái quốc của họ, những bài viết và các phát biểu từ những người có trách nhiệm của quốc gia, từ những người có hiểu biết thực tế và sâu rộng về thực thi thực hành bài bản công pháp quốc tế, từ những người có tâm huyết luôn đặt an nguy quốc gia là trên hết, và từ những người có tầm nhìn chiến lược vốn luôn là thứ gien sinh học đặc thù sẵn có nơi tất cả các vị minh quân thực sự và tướng tài thực sự của Việt Nam suốt chiều dài gần 5000 năm lịch sử thực sự của Việt nam cũng như các hậu duệ thực sự chưa thoái hóa của Việt Nam thực sự, luôn là hình thức giải bày cụ thể, khoa học, chính đáng, và thích hợp hầu chứng tỏ lòng tôn trọng của họ đối với người dân yêu nước thực sự và các Việt kiều thực sự yêu nước.

Một trong những bài viết ấy nêu những chi tiết công pháp quốc tế mà thậm chí đa số các nghị sĩ xuất thân ngành luật cũng chưa hề biết đến, là bài của Tiến sĩ Bành Quốc Tuấn thuộc trường Đại Học Kinh Tế-Luật Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Luật Pháp số thứ 9 năm 2016 mang tựa đề “Phán Quyết Điển Hình Của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye Về Giải Quyết Tranh Chấp Biển Đảo Và Bài Học Kinh Nghiệm” mà những chi tiết tổng kết cho thấy các điểm chính cực kỳ quan trọng từ một án lệ của The Hague có giá trị tham khảo như sau:

Screen Shot 05-21-16 at 01.07 PMScreen Shot 05-21-16 at 01.09 PM

 

Từ các chi tiết trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng:

1) Chính phủ Việt Nam đã đúng khi đầu tư thời gian tập trung nghiên cứu, thu thập tài liệu, nghiên cứu các tiền lệ, không chủ quan cho rằng những tài liệu đang có là đã đầy đủ thich hợp, đã có giá trị pháp lý đúng tuyệt đối, và đã có đội ngũ nhân sự chuyên gia chuyên viên cao cấp về công pháp quốc tế có khả năng trực tiếp làm việc với các luật sư và thẩm phán của The Hague bằng ngoại ngữ. Không bao giờ vội vàng đưa vụ kiện Trung Quốc ra The Hague.

2) Phán quyết của The Hague là cuối cùng, song lại không ràng buộc và tùy thuộc vào ý thức của các quốc gia thành viên trong tuân thủ phán quyết của The Hague, chứ The Hague không có cơ chế chế tài bất kỳ nếu có sự bất tuân phán quyết. Trong vụ kiện Palmas nói trên, Hoa Kỳ và Hà Lan thậm chí ký thỏa thuận đồng ý đưa vụ việc cho The Hague xử lý và cam kết tuân thủ phán quyết của The Hague. Đối với vụ kiện của Philippines tại The Hague, ngay từ đầu Trung Quốc dù là quốc gia thành viên của The Hague đã ngạo mạn tuyên bố sẽ không dự các phiên xử nếu bị triệu tập (tức được “mời”) và sẽ phủ nhận giá trị phán quyết của The Hague nếu gây bất lợi cho Trung Quốc.

3) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, nghĩa là Việt Nam phải chuẩn bị chấp nhận tình thế rằng trong thời gian dài The Hague đang thụ lý hồ sơ, nếu có sự manh động của Trung Quốc trong cải tạo, khai thác, chiếm đóng thêm các đảo khác tại Trường Sa, thì Việt Nam phải (a) vừa đương đầu ngoại giao với các manh động ấy, (b) vừa bị trói buộc bởi tư thế thành viên nghiêm túc của The Hague tức là phải chờ đợi sự phán quyết của The Hague, (c) vừa chuẩn bị nhiều hồ sơ khởi kiện mới đối với một hay những hòn đảo mới bị Trung Quốc lấn chiếm thêm, và (d) thậm chí vừa thực hiện lệnh tổng động viên toàn quốc và áp dụng thiết quân luật để chuẩn bị chiến tranh.

4) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, và khi có phán quyết của The Hague nhưng Trung Quốc không tuân thủ thì Việt Nam phải làm gì hay làm những gì, phải chăng sẽ bắt đầu sử dụng lực lượng đã tổng động viên vào cuộc chiến tranh cục bộ đánh chiếm lại các đảo hay tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện tổng lực chống Trung Quốc với nguy cơ những con ngựa thành Troy đánh tập kích cùng lúc từ phía Tây để hỗ trợ Trung Quốc, và sẽ đánh trả ra sao nếu Trung Quốc sử dụng vũ khí nguyên tử tiêu diệt ngay Hà Nội, Đà Nẵng, và Thành phố Hồ Chí Minh?

5) Mỗi vụ kiện kéo dài trong vài năm, và khi có phán quyết của The Hague nhưng lại công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn Biển Đông, Việt Nam với tư cách vừa là thành viên nghiêm túc của The Hague vừa là nguyên đơn khởi kiện tại The Hague tức mặc nhiên phải 100% tuân thủ phán quyết của The Hague, phải chăng sẽ chấp nhận mất biển, mất toàn bộ Hoàng Sa và Trường Sa, vì tòa án The Hague không phải là tòa án xã phường quận thành phố tỉnh quốc gia để có thể chống án xin phúc thẩm tái thẩm giám đốc thẩm.

6) Do khả năng có xác suất của mục số 5 nêu trên, liệu Việt Nam có sẽ tiến hành trưng cầu dân ý để dân quyết định việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan, để nếu phán quyết theo hướng của mục số 5 thì xem như toàn dân Việt Nam đã chấp nhận cùng chịu trách nhiệm dâng đảo dâng biển cho Trung Quốc và công nhận chủ quyền của Trung Quốc, chấm dứt việc chống Trung Quốc “xâm lược”?.

7) Vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc là một cơ hội bằng vàng do Việt Nam (a) yên tâm không đơn độc khi phải đương đầu với Trung Quốc về mặt công pháp quốc tế; (b) có thời gian chuẩn bị cho chính mình từ những tài liệu thu thập được từ khắp nơi trên thế giới; (c) kết luận phán quyết của The Hague trong vụ Philippines sẽ giúp Việt Nam có kinh nghiệm phải xử lý ra sao đối với những nội dung trùng lặp đã có kết quả như ý ,cũng như đối với các nội dung trùng lặp có kết quả không như ý, đồng thời dự liệu tốt hơn đối với những nội dung không trùng lặp với vụ kiện của Philippines; và (d) kết luận phán quyết của The Hague nếu tuyệt đối đáp ứng đúng các nội dung Philippines kiện Trung Quốc, dẫn đến các phản đối, bất tuân phán quyết của The Hague, hoặc manh động của Trung Quốc tại Biển Đông làm cộng đồng quốc tế có những phản ứng mạnh mẽ, hiệu quả, có thể sẽ làm Trung Quốc hoặc bị cô lập hoặc do Trung Quốc là một trong số 117 quốc gia thành viên của The Hague sẽ phải buộc lòng tuân thủ để từ đó trở nên “biết điều” hơn trong đàm phán đàng hoàng với Việt Nam trong giải quyết cụ thể từng trường hợp của từng hòn đảo một ở Biển Đông mà Việt Nam có tuyên bố chủ quyền khiến sự việc của “tiền lệ” Palmas của thế kỷ XX và “tiền lệ” Biển Đông của thế kỷ XXI mang cơ chế quyết định cho các tranh chấp lãnh thổ trên toàn thế giới, nhờ đó Việt Nam vừa bảo vệ được chủ quyền biển đảo quốc gia, tránh được những xung đột chiến tranh, vừa thực hiện đúng vai trò một thủ lính của khu vực đã biết khôn khéo đặt sự an nguy toàn cục song hành với ổn định phát triển kinh tế, vì  an ninh khu vực và thế giới.

Tóm lại, 7 điểm nêu trên chứng minh Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam hoàn toàn đúng khi đã không vội vàng nhanh nhảu kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan.

Sự cân nhắc, đắn đo, khôn ngoan, của “Việt Cộng” luôn nhằm vào chiến thắng triệt để, cuối cùng.

Võ Nguyên Giáp đã cho đẩy đại bác lên các đỉnh đồi Điện Biên Phủ, rồi lại lịnh cho tất cả các khẩu đại bác phải được đem trở xuống, trước khi ra lịnh đẩy chúng lên trở lại và từ đó cấp tập bắn chụm xuống khống chế, tiêu diệt đại quân Pháp, chiến thắng nước Đại Pháp, tiêu diệt chủ nghĩa thực dân Pháp trên toàn thế giới.

Chính vì vậy mà “Việt Cộng” chỉ bằng một trận Điện Biên Phủ “đưa pháo vào, lại rút pháo ra, rồi đưa pháo vào, bắn” đã tiêu diệt ngay lập tức sự tồn tại hàng trăm năm của chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam.

Chính vì vậy mà “Việt Cộng” một khi đã dùng tên Hồ Chí Minh để đặt cho Chiến Dịch Hồ Chí Minh – vào năm 1975 chứ không phải trước đó – là đại thắng ngay sau một tuần, vĩnh viễn xóa tên Việt Nam Cộng Hòa trên bản đồ thế giới.

Đối đầu với một siêu cường nguyên tử mọi rợ điên dại lưu manh như Trung Quốc cùng đám lâu la của nó dù về quân sự hay tại chốn pháp đình trên bình diện quốc gia nào phải là việc hát karaoke chỉ cần cầm micro đơn giản nhấn nút kê mồm vào micro tại nghị trường hay trên vĩa hè hùng dũng kêu gào đòi đánh kẻ này kiện kẻ nọ là đã có thể giải quyết được, mà phải dùng trí lực, chí lực, tâm lực, thể lực, thế lực, tài lực, nhân lực, nội lực, ngoại lực, thời lực, và vũ lực, mà cả mười một thứ lực này đều phải là ở mức cao nhất – theo phong cách của cộng sản Việt Nam – vậy.

Võ Nguyên Giáp đã dùng “quyết chiến và toàn thắng” trong mệnh lệnh ban ra cho Chiến Dịch Hồ Chí Minh: “Thần Tốc, Thần Tốc Hơn Nữa, Táo Bạo, Táo Bạo Hơn Nữa,Tranh Thủ Từng Phút, Từng Giờ, Xốc Tới Mặt Trận, Giải Phóng Miền Nam, Quyết Chiến Và Toàn Thắng.” Võ Nguyên Giáp không dùng cụm từ cực kỳ quen thuộc của tất cả các lãnh đạo: “quyết chiến và quyết thắng” vì “quyết chiến và quyết thắng” là một khẩu hiệu mang tính động viên, kêu gọi, được dùng trong nhiều chục năm chỉ nói lên 2 thứ “lực” là chí lực và tâm lực. “Toàn thắng” là một mệnh lệnh mang tính kết quả dứt khoát, tuyệt đối, cuối cùng, nghĩa là sau khi đã có đầy đủ cả 11 thứ “lực”.

Việc kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng Tài Thường Trực PCA của The Hague ở Hà Lan phải là một “toàn thắng” kiểu Võ Nguyên Giáp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Đả Đảo Tập Cận Bình!  (bài blog đăng ngày 01-12-2015 của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước)

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc! (bài blog đăng ngày 30-12-2015 của Nhà viết blog  Hoàng Hữu Phước)

Điều Luật 258

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-4-2016

Điều 258 Và Điều 2.7

Mỗi khi Việt Nam có vụ tuyên bố cáo trạng hay tuyên án xử một công dân về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ Luật Hình Sự Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thì y như đồng loạt các tổ chức như Giám Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch), Liên Đoàn Quốc Tế Nhân Quyền (International Federation for Human Rights), Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Without Borders), Bảo Vệ Nhà Báo (Committee to Protect Journalists), cùng một số cơ quan ngoại giao như các đại sứ quán cùng Cao Ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc (United Nations Human Rights Office of the High Commissioner) đều lên tiếng nói bản án vi phạm không những Hiến Pháp Việt Nam với các quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí đã được minh định, mà còn vi phạm các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết trong đó có Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights), từ đó đòi Việt Nam chấm dứt các bản án theo Điều 258 do truy bức các cá nhân sử dụng quyền tự do phát biểu ý kiến. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đường đường chính chính áp dụng Điều luật 258 vào cuộc sống, mà không một nhà báo hay cá nhân công dân nào tìm đến phỏng vấn trực tiếp các luật sư nghị sĩ Quốc hội Việt Nam về những thắc mắc của họ đối với Điều luật 258 ấy; trong khi đó, các biện luận cao cấp như trên Báo Nhân Dân số ra ngày 29-3-2016 thì không được đọc bởi đa số độc giả để giúp tỏa lan những cơ sở hiến định và luật định của Việt Nam đối với Điều luật 258. Vậy Điều 258 vì sao trở thành thứ trái tai gai mắt với nước ngoài cũng như những người Việt chống Việt trong khi lại được áp dụng danh chính ngôn thuận tại Việt Nam?

Trước hết, cần tham khảo Điều 2.7 Chương I Hiến Chương Liên Hợp Quốc (Article 2.7, UN Charter) vốn đã xác quyết rằng “Hiến Chương này hoàn toàn không cho phép Liên Hợp Quốc được can thiệp vào các công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào, cũng như không đòi hỏi các quốc gia thành viên phải đưa những công việc ấy ra giải quyết theo quy định của Hiến Chương này; song nguyên tắc này sẽ không ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp chế tài theo Chương VII” (Nothing contained in the present Charter shall authorize the United Nations to intervene in matters which are essentially within the domestic jurisdiction of any state or shall require the Members to submit such matters to settlement under the present Charter; but this principle shall not prejudice the application of enforcement measures under Chapter VII). Nội dung này cho thấy mức độ quan trọng ưu tiên trên hết của “công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ” của mỗi quốc gia, và chỉ khi những nội dung nghiêm trọng như tội diệt chủng dưới sự điều chỉnh của Công Ước Về Diệt Chủng 1948 (1948 Genocide Convention) mới khiến “việc” diệt chủng không còn là “công việc nội bộ” nên nhất thiết phải có các biện pháp can thiệp chế tài từ quốc tế. Cũng dưới góc độ này, việc thế giới làm ngơ trước nạn diệt chủng ở Campuchia là vi phạm Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc, còn việc Việt Nam tấn công vào chính phủ diệt chủng Campuchia không bị xem như can thiệp vào công việc “cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ” của Campuchia. Như vậy, Việt Nam – cũng như Mỹ và nhiều quốc gia khác – đã tuân thủ các điều đã được minh định trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để có những quy định làm luật lệ đối nội mà không bất kỳ quốc gia nào khác có thể can thiệp.

Việc các tổ chức và cơ quan ngoại giao hay lên tiếng chỉ trích Việt Nam thực thi Điều luật 258 có thể do hai nguyên nhân tế nhị sau:

1) Họ đã nhầm lẫn, quên rằng Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc (UN Charter) hoàn toàn khác với Điều 15.8 của Thỏa Ước Hội Quốc Liên (Covenant of League of Nations), vì chỉ có Hội Quốc Liên mới tuyên rằng: “Nếu sự tranh chấp giữa các nước thành viên do một trong số họ nêu lên, và nếu Hội Đồng nhận thấy vấn đề phát sinh mà theo luật pháp quốc tế hoàn toàn thuộc thẩm quyền đối nội của nước ấy thì Hội Đồng sẽ ghi nhận và cho biết ý kiến cách giải quyết vụ việc” (If the dispute between the parties is claimed by one of them, and is found by the Council, to arise out of a matter which by international law is solely within the domestic jurisdiction of that party, the Council shall so report, and shall make recommendation as to its settlement), nghĩa là ngay cả khi đó là “việc riêng” theo luật quốc tế thì Hội Đồng vẫn có quyền can thiệp theo “ý riêng” vào nội tình quốc gia thành viên.

2) Giữ thể diện là thái độ thâm căn cố đế của toàn bộ loài người, nên những quốc gia gọi là cường quốc kinh tế tiên phong (như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, v.v.) hoặc đã từng là cường quốc kinh tế thực dân đế quốc (như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, v.v.) một khi đã tạo ra những hào quang về tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền cho chính mình, họ sẽ không bao giờ cam tâm chấp nhận tình trạng suy đồi suy vi hỗn loạn trong nước của họ vì những hào quang tự tạo đang gây tác dụng ngược chõi lại họ, trong khi các nước thoát thai từ Thế Giới Thứ Ba nhược tiểu mà đa số từng là thuộc địa của họ lại ổn định cao về chính trị và phát triển con người, kể cả phát triển vượt bậc về nhân quyền – qua thành tích xóa đói, giảm nghèo, tôn trọng nữ quyền, bảo vệ trẻ em, tôn trọng người già, vinh danh bình đẳng giới, xóa nạn mù chữ, tăng cao quyền lợi bảo hiểm y tế toàn dân, thông thoáng kinh doanh, phát triển giáo dục, và cuốn hút đầu tư, v.v. Cách duy nhất để giữ thể diện là luôn chỉ trích chê bai về tình hình nhân quyền và dân quyền tại các quốc gia ổn định ấy, như một chứng minh cho thứ tồi tệ duy nhất có thể tạo ra để gán ghép cho những thể chế chính trị “phi truyền thống” ổn định, nhằm tạo nên sự “ổn định” trong tư duy của dân chúng đất nước đang giữ thể diện rằng chẳng có gì đáng để mơ tưởng từ những môi trường sống thường xuyên vi phạm nhân quyền ấy, nơi khủng khiếp mà con người có miệng không được phép phát ngôn, có đầu mà không được phép nghĩ khác.

Các vụ “việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ” của Mỹ theo luật Mỹ mà Việt Nam tuân thủ Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc không bao giờ lên tiếng cáo buộc Mỹ vi phạm nhân quyền:

1) 2012:

Ngày 09-11-2012, báo Huffington Post của Mỹ đăng tin nữ công dân 22 tuổi Denise Helms Bang California, Hoa Kỳ, đã bị sa thải khỏi Công ty Turlock Cold Stone Creamery do đã dám đăng trên Facebook gọi Tổng thống Obama là “mọi đen” (Nigger), thậm chí còn cho rằng trong vòng 4 năm thế nào Obama cũng sẽ bị ám sát. Cơ Quan Mật Vụ Mỹ đã vào cuộc điều tra các “phát ngôn” của cô gái này và cô đã viết tiếp trên Facebook rằng cô không phân biệt chủng tộc, không điên, mà chỉ đơn giản nêu ý kiến của mình. Tài khoản Facebook của cô sau đó bị xóa. Cơ Quan Mật Vụ Sacramento và Mật Vụ Thủ Đô Washington cho biết nếu có cơ sở để buộc tội các lời viết của cô, Helms có thể bị bắt giam theo Điều luật 871 của Mỹ theo đó nghiêm cấm các xúc xiểm, đe dọa tổng thống, phó tổng thống hay các quan chức khác có thể kế nhiệm tổng thống theo luật định. Đối với các tải đăng trên Facebook của Helms, cơ quan chức năng tìm đến nhà trường có các học sinh đã phát tán truyền đi các lời viết của Helms, và các học sinh này sau đó hầu hết phải xóa các tài khoản Twitter của mình. Đó là tự do ngôn luận tại Mỹ, theo công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của Mỹ mà tất cả các quốc gia khác không có quyền can thiệp, như đã minh định tại Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc. Việt Nam không kêu gọi Mỹ phải thả Denise Helms và hủy các cáo buộc Helms theo Điều luật 871 của Mỹ.

2) 2013:

Trang Politico ngày 22-10-2013 đưa tin Jofi Joseph, quan chức cấp cao Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ và là thành viên đoàn Phủ Tổng Thống thương thuyết về chương trình vũ khí hạt nhân Iran, đã bị sa thải khỏi chức vụ và khỏi cơ quan quyền lực này chỉ vì đã đăng trên Twitter những chỉ trích đối với Ngoại Trưởng Hillary Clinton và các quan chức Hội Đông An Ninh Quốc Gia như Ben Rhodes, và về những thông tin như lạm dụng tình dục hay dịch vụ nữ hộ tống cùng những thâm cung bí sử Bộ Ngoại Giao. Các luật sư Phủ Tổng Thống đã ra lệnh cho Joseph phải rời khỏi khu vực Phủ ngay, và mất luôn vị trí sắp được luân chuyển đến làm quan chức tại Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng Mỹ). Nếu như Helms là cô nhân viên tầm thường trẻ tuổi, thì Joseph là một cái tên quen thuộc của thế giới chính sách đối ngoại, có vợ là Carolyne Leddy, một nhân viên cấp cao của Đảng Cộng Hòa trong Ủy Ban Đối Ngoại Thượng Viện Mỹ. Tất cả đều không được tự tiện tùy tiện “phát biểu” trên Facebook và Twitter. Mỹ không cho phép, và đó là công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của Mỹ mà tất cả các quốc gia khác không có quyền can thiệp, như đã minh định tại Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc. Việt Nam không kêu gọi Mỹ phải hủy các cáo buộc liên quan đến  Joseph.

3) 2015:

Barrett Brown là một nhà báo Mỹ sinh năm 1981 tại Dallas, Bang Texas. Ông đồng thời là nhà viết tiểu luận và châm biếm, tác giả của nhiều tác phẩm, viết bài cho những tờ báo tên tuổi như The Guardian, Huffington Post, và Vanity Fair, v.v. . Ông lập ra Dự Án PM nhằm tạo nên một mạng chuyên nói về các đe dọa đối với nhân quyền, đối với đời tư cá nhân, và đối với tình hình sức khỏe của các định chế dân chủ, v.v., với mục đích cung cấp các thông tin để các blogger, các phóng viên, và các nhà báo công dân sử dụng làm nội dung viết lách. Ngày 12-9-2012, Barrett bị bắt giam, không được phép tại ngoại với lý do “nguy hiểm cho an ninh của cộng đồng”. Nhiều đoạn đăng tải cũng như lời bình luận của Barrett lên YouTube và Twitter được sưu tầm để làm bằng chứng chống lại ông với gần 20 tội danh cấp liên bang. Tháng 1 năm 2015, sau thời gian dài đối mặt với nhiều phiên xử và những nghị án có thể lên đến 105 năm tù rồi giảm xuống 45 năm tù giam, Barrett cuối cùng bị kết án 63 tháng tù tại nhà tù liên bang với tội danh phạm trọng tội, cản trở luật pháp, đe dọa một nhân viên liên bang, phát tán các thông tin của tin tặc Anonymous, và phải bồi thường 890.250 USD cho Công ty Stratfor vì đã chia sẻ đường link dẫn đến những dữ liệu bị rò rỉ của công ty này. Mẹ của ông bị kết án 6 tháng tù treo và bị phạt 1.000USD vì đã cản trở thi hành công vụ khám xét nhà. Mỹ không cho phép thứ tự do tự tung tự tác mang tên tự do ngôn luận (freedom of speech) trên không gian mạng, và đó là công việc cấp thiết thuộc thẩm quyền nội bộ của Mỹ mà tất cả các quốc gia khác không có quyền can thiệp, như đã minh định tại Điều 2.7 Hiến Chương Liên Hợp Quốc. Việt Nam không kêu gọi Mỹ phải thả nhà báo Barrett cũng như hủy bản án dành cho mẹ của ông ấy.

Kết luận

Từ những tình tiết trên, có thể thấy rằng:

1) Các nước Âu Mỹ nhất thiết phải giải tán Liên Hợp Quốc (như đã giải tán Hội Quốc Liên) và thành lập một tổ chức quốc tế khác, nếu mơ tưởng đến việc viết bản Tân Hiến Chương phục vụ cho giấc mộng hão huyền có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, buộc Việt Nam phải xóa bỏ Điều 258 trong Bộ Luật Hình Sự của Việt Nam.

2) Công dân Mỹ phải tuân thủ luật pháp Mỹ. Không ai trên thế giới có quyền nói động đến nhân quyền tại Mỹ – trừ Tàu là cường quốc duy nhất hàng năm phát hành The Human Rights Record of the USA tức Ghi Nhận Tình Hình Nhân Quyền Tại Mỹ dành toàn bộ công trình đánh giá mức độ vi phạm nhân quyền tại Mỹ.

3) Công dân Việt Nam phải tuân thủ luật pháp Việt Nam. Không ai trên thế giới có quyền nói động đến nhân quyền tại Việt Nam – trừ Mỹ là cường quốc duy nhất hàng năm phát hành Country Reports on Human Right Practices tức Báo Cáo của Bộ Ngoại Giao Mỹ Về Thực Thi Nhân Quyền Tại Các Quốc Gia trong toàn bộ công trình đó có dành ra đôi ba trang đánh giá mức độ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.

4) Người Việt Nam nhất cử nhất động nhất thiết phải cẩn trọng khi sang Mỹ du học, tham quan, thăm thân, cư trú, vì những thông thoáng quá mức về tự do ngôn luận và dân chủ ở Việt Nam rất dễ hình thành thói quen hoàn toàn không thích hợp với sự hà khắc của luật pháp Hoa Kỳ, dẫn đến các cáo buộc và tội danh nghiêm trọng có khi đến hàng trăm năm tù dành cho ngay cả việc mà nếu băt chước theo ngôn phong luật pháp Việt Nam sẽ là lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Mỹ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân Mỹ, chứ không phải trọng án nhiều trăm năm tù chỉ dành cho tội giết người hàng loạt hay khủng bố kinh hoàng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam Khóa XIV (2016-2021)

Lời Đe Dọa Dành Cho Nghị Sĩ Đương Nhiệm Hoàng Hữu Phước và Ứng Cử Viên Tự Do Lại Thu Trúc

Hoàng Hữu Phước, MIB

08-3-2016

Chỉ cần thực hiện 1.000% lời hứa vì nước vì dân qua khẩu khí tranh cử Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) rằng luôn biết lo trước cái lo của người dân (theo gương tất cả các hiền nhân quân tử từ ngàn xưa của Á Đông trong tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ), rằng luôn bảo vệ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Namluôn bảo vệ thể chế chính trị của Việt Nam (theo thực hành thực tế của tất cả các nghị sĩ chính khách tại tất cả các quốc gia văn minh tiên tiến tư bản toàn cầu đối với thể chế chính trị của quốc gia họ), tôi đã nhận những lời đe dọa sau từ không gian mạng:

Baochi1

Trong thời gian qua, ngoài việc tích cực viết blog để phổ cập kiến thức chính trị và phổ biến các nhận định cá nhân về nhiều lĩnh vực khác nhau, tôi còn tích cực nhận lời mời đi dùng cà phê sáng với nhiều bạn trẻ quan tâm đến việc tham gia ứng cử vào Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh để giải đáp thắc mắc, trấn an, khuyến khích, hướng dẫn, cung cấp tài liệu – thậm chí tài liệu hồ sơ ứng cử của tôi với toàn bộ chi tiết kê khai về tiểu sử, lý lịch, và tài sản của tôi (để họ tham khảo và chuẩn bị trước cho riêng họ), và động viên họ tham gia tự ra ứng cử nhiệm kỳ mới (tức nhiệm kỳ 2016-2021 của Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân Thành phố). Mới đây tôi lại phải cố gắng thuyết phục họ hãy yên tâm khi họ dao động và bức xúc trước những thông tin trên báo chí:

BCQH5

Điều đáng ngạc nhiên là có kẻ không muốn tôi tiếp tục ra ứng cử Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) nên đã giả bộ gọi tôi là “Thầy” khi gởi tin nhắn sau đến trợ lý của tôi là Cô Lại Thu Trúc:

BCQH

Gọi là “giả bộ” vì đã là học trò của tôi thì phải biết một số phone thực tế của tôi mà khi bất kỳ ai trong họ gọi đến thì tôi luôn trả lời, luôn biết địa chỉ email loại “đặc biệt” của tôi mà không bất kỳ ai không phải học trò tôi được biết, chứ không phải vào web của công ty tôi rồi chỉ thấy số phone đường dây nóng dẫn đến cô trợ lý Lại Thu Trúc của tôi. Ngoài ra, kiểu nói “chính trị là lợi dụng” là kiểu nói thấp hèn, không bao giờ có nơi những học trò của tôi vốn luôn thuộc đẳng cấp tư duy cực cao; kiểu nói tôi bị “người ta lợi dụng” là xúc phạm trình độ và đẳng cấp của tôi mà đó là việc khiến người nói đương nhiên bị tất cả các học trò tôi nguyền rủa; chưa kể khi lôi ông Saddam Hussein ra và nói “giống” ắt hàm ý đe dọa tôi sẽ bị giết như Saddam Hussein  nếu dám cãi lời tiếp tục “làm chính trị nữa” tức là dám ra ứng cử trong khóa tiếp chăng.

Do họ không biết rằng:

1) tôi là chính khách “tu hành nhập thế” kiểu Việt [1];

2) đã mở miệng nói “vì nước vì dân” thì dù là ngồi ghế cao quyền trọng hay là thứ dân đều phải “vì nước vì dân” nên dù là nghị sĩ hay là không còn là nghị sĩ thì tôi vẫn tiếp tục đại nghĩa “vì nước, vì dân”, nghĩa là bất kỳ ai khi thực lòng “vì nước, vì dân” thì người đó phải ra sức bảo vệ Đảng Cộng Sản, thể chế chính trị Cộng Sản, quân đội Cộng Sản, để đất nước này, dân tộc này được bảo vệ mãi sinh tồn và trường tồn miên viễn;

3) một khi đã trải qua những năm kinh nghiệm sẻ chia, đồng cảm, thấu hiểu, và trực tiếp can thiệp cho những oan khuất, những bất bình của người dân cũng như biết rất rõ những nguyên nhân đưa đến các oan khuất và bất bình ấy để có thể mạnh tay giúp dân giúp nước hiệu quả hơn và bằng cách hiệu quả nhất;

4) một khi đã nêu gương liêm chính và liêm khiết từ thủa nhỏ cũng như trong suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII;

5) một khi đã ra sức động viên giúp đỡ hơn 50 công dân trẻ tuổi về mặt tư tưởng chính trị để gia tăng lượng ứng viên ngoài Đảng, có trình độ cao về năng lực và học vấn, kể cả động viên công dân diện yếu thế như nữ công dân và người khuyết tật ra ứng cử để dùng trí tuệ ra phục vụ quốc gia, dân tộc chốn nghị trường; và

6) một khi đã luôn nhận được lời động viên của người dân từ nhiều tỉnh thành trong cả nước cũng như của các “đồng chí” tức những bạn hữu và đồng nghiệp đồng tâm vì nước vì dân;

Tôi, Hoàng Hữu Phước, nghị sĩ đương nhiệm Quốc Hội Khóa XIII, kính báo cùng quốc dân đồng bào là tôi đã nộp đơn ứng cử Quốc Hội Khóa XIV tại Sở Nội Vụ Thành phố Hồ Chí Minh lúc 16g20 ngày 07-3-2016, diện tự ứng cử, diện tái tranh cử, và diện ứng cử viên ngoài Đảng.

Đồng hành cùng tôi nộp hồ sơ ứng cử cùng ngày còn có Cô Lại Thu Trúc [2], ứng cử viên Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021), diện tự ứng cử, diện nữ ứng cử viên, và diện ứng cử viên ngoài Đảng. Cô Lại Thu Trúc từ năm 2011 đã nhận nhiều lời đe dọa đến tính mạng nếu tiếp tục làm việc tại công ty tôi. Cô Lại Thu Trúc cũng là người nhận tin nhắn đe dọa “Saddam Hussein” kể trên.

BCQH6

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo:

[1] Nghị sĩ Hòa Thượng Thích Chơn Thiện: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/02/16/nghi-si-hoa-thuong-thich-chon-thien/

[2] Lại Thu Trúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/22/lai-thu-truc/

Vấn Đề Tâm Thần Của Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm

Thư Khẩn Cấp Của Công Dân Lại Thu Trúc Gởi Lãnh Đạo Đảng Và Quốc Hội Về Cái Sai Của Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị Sĩ Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII (2011-2016), Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Của Quốc Hội, Thành  Viên Hội Hữu Nghị Nghị Sĩ Việt Nam-Philippines

05-3-2016

Công dân Lại Thu Trúc của Thành phố Hồ Chí Minh vừa gởi thư góp ý khẩn cấp đến lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, và Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia, đặt vấn đề về Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh đã cố ý làm trái Nghị Quyết 41 của Ủy Ban Bầu Cử Quốc Gia, gây tác động bất lợi đối với sự kiện chính trị cực kỳ quan trọng của quốc gia.

Theo yêu cầu của công dân Lại Thu Trúc và với lòng tin của Cô vào blog này, tôi xin đăng lại toàn văn như sau. Kính mời bạn đọc tham khảo:

*********

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 03 năm 2016

THƯ GÓP Ý KHẨN CẤP VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIV & ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021

Kính gửi:

–         Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia

Đồng kính gửi:

–         Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

–         Chủ Tịch Quốc Hội và Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

Kính thưa quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, công dân Thành phố Hồ Chí Minh, xin được kính góp ý khẩn cấp đến Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia về việc liên quan đến kỳ bầu cử Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIV & Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp Nhiệm Kỳ 2016-2021 với các nội dung chính như sau:

A- Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh Làm Trái với “Nghị Quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử quốc gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử; hướng dẫn về hồ sơ ứng cử và thời hạn nộp hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và ĐB HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”

B-Thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng về nội dung cuộc họp chiều Thứ Sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh gây phản cảm và có tác động xấu về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

1) Sự Tùy Tiện Của Lãnh Đạo Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh

2) Các Lập Luận Vô Lý và Tai Hại trong nội dung cuộc họp do Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì chiều Thứ Sáu ngày 04/03/2016

Phụ Lục Đính Kèm

 

A- Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh Làm Trái với “Nghị Quyết số 41/NQ-HĐBCQG ngày 29/01/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử quốc gia quy định các mẫu văn bản trong công tác bầu cử; hướng dẫn về hồ sơ ứng cử và thời hạn nộp hồ sơ ứng cử ĐBQH khóa XIV và ĐB HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021”

Theo thông tin được đăng tải trên báo Tuổi Trẻ vào buổi chiều thứ Sáu ngày 04/03/2016, Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí đã có phiên họp báo cáo tiến độ công tác bầu cử Đại Biểu Quốc Hội khóa XIV & Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố nhiệm kỳ 2016-2021. Tại phiên họp này, Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử TP cho biết TPHCM sẽ chính thức đề xuất Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia quy định ứng viên ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND phải có giấy chứng nhận sức khỏe, và TPHCM thống nhất kiến nghị Hội đồng Bầu cử Quốc gia quy định bổ sung giấy chứng nhận sức khỏe vào hồ sơ ứng cử Đại Biểu Quốc Hội và Đại Biểu HĐND. Bên cạnh đó, đề nghị Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá, xác nhận đủ điều kiện sức khỏe cũng như quy định danh mục các cơ sở y tế đủ chức năng cấp giấy chứng nhận sức khỏe” (như phụ lục đính kèm thư này)

Các ý kiến thống nhất thông qua tại phiên họp chiều thứ sáu 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã hoàn toàn trái với nội dung của nghị quyết số 41-NQ-HĐBCQG do Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia ban hành ngày 29/01/2016 đã được công bố rộng rãi đến nhân dân trên toàn quốc. Theo Quy định tại Nghị quyết số 41-NQ- HĐBCQG hạn chót nộp hồ sơ ứng cử và tự ứng cử là chủ nhật 13/03/2016, trong khi đó chiều ngày 04/03/2016 Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh lại đưa ra một đề xuất “đề nghị Hội Hội đồng bầu cử Quốc gia có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá, xác nhận đủ điều kiện sức khỏe cũng như quy định danh mục các cơ sở y tế đủ chức năng cấp giấy chứng nhận sức khỏe” là hoàn toàn không khả thi vì chỉ còn 9 ngày là hết hạn nộp hồ sơ ứng cử trên toàn quốc. Ngoài ra, nếu Thành Phố Hồ Chí Minh có ý định ban hành những quy định riêng cho công dân Thành Phố Hồ Chí Minh thì sẽ trở thành khu tự trị tạo điều kiện cho các thế lực thù địch tấn công vào tính nghiêm túc của sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

B-Thông tin đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng về nội dung cuộc họp chiều thứ sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh gây phản cảm và có tác động xấu về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước

1) Sự Tùy Tiện Của Lãnh Đạo Ủy Ban Bầu Cử Thành phố Hồ Chí Minh:

Trong phiên họp chiều thứ năm 03/03/2016 của Hội Đồng Bầu Cử Quốc Gia đã có những nội dung chính như “không được phân biệt đối xử với người tự ứng cử”; “đã có 50 người tự ứng cử Đại Biểu Quốc Hội trên toàn quốc” và dự kiến những ngày sắp đến sẽ có thêm nhiều ứng viên tự ứng cử nộp hồ sơ tạo sự phấn khởi cho cử tri trên toàn quốc. Thì ngược lại việc các phương tiện truyền thông đại chúng đăng tải nội dung buổi họp chiều thứ sáu ngày 04/03/2016 của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ dẫn đến sự hoang mang không đáng có cho nhân dân trên toàn quốc nói chung và những người tự ứng cử nói riêng dù là những người ứng cử đã nộp hay sẽ nộp hồ sơ trong 9 ngày còn lại trước hạn chót nộp hồ sơ ứng cử là 17 giờ chủ nhật ngày 13/03/2016. Và điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là việc Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã đưa ra các đề xuất tại buổi họp này không đúng thời điểm khi ngày hết hạn nộp hồ sơ ứng cử đã gần kề dễ gây ra phản cảm rằng Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh đã không làm việc nghiêm túc, thiếu cân nhắc đối với sự kiện chính trị trọng đại này.

2) Các Lập Luận Vô Lý và Tai Hại trong nội dung cuộc họp do Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì chiều thứ sáu ngày 04/03/2016

a– Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm cho rằng khi người lao động xin việc phải có hồ sơ khám sức khỏe, thì ứng cử vào cơ quan quyền lực quan trọng như Quốc Hội phải có hồ sơ khám sức khỏe là việc đương nhiên. Đây là kiểu ví von hoàn toàn sai vì:

– Ứng cử viên Đại biểu Quốc hội không “xin việc” tại Quốc Hội, và Quốc Hội không phải là “người sử dụng lao động”

– Đại biểu Quốc hội diện kiêm nhiệm hoàn toàn không hưởng lương của Quốc Hội, hoàn toàn không có quan hệ người sử dụng lao động và người lao động để có các yêu cầu ngoài quy định của Quốc Hội.

– Cái gọi là “giấy khám sức khỏe” mà các nhà tuyển dụng lao động cần có lại chưa bao giờ là thứ tài liệu quan trọng vì trên thực tế nội dung giấy khám sức khỏe rất sơ sài và cũng chưa được chuẩn hóa ở cấp độ quốc gia để có thể đưa ra làm lập luận so sánh trong kỳ bầu cử Quốc Hội khóa XIV.

– Nếu hồ sơ sức khỏe là quan trọng, vậy phải chăng việc khám sức khỏe phải tiến hành hàng năm, vì không bao giờ có mặc định rằng một Đại biểu Quốc hội có sức khỏe tốt năm nay lại sẽ tốt mãi như thế trong suốt nhiệm kỳ, và phải chăng năm nào bị ngã bệnh thì năm đó phải bãi nhiệm Đại biểu Quốc hội ấy để bầu bổ sung Đại biểu Quốc hội khác? Và nếu vậy thì nội dung này được quy định tại điều nào của luật nào.

–  Việc “khám sức khỏe” nhất là “khám sức khỏe tâm thần” có được yêu cầu nơi người được Trung Ương giới thiệu không hay chỉ áp dụng với người tự ứng cử là nội dung cần được cân nhắc một cách nghiêm túc tránh sự hoang mang không đáng có trong nhân dân trên toàn quốc khi Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu trong phiên họp báo tuyên truyền về sự kiện chính trị quan trọng của đất nước.

– Tại tất cả các nước văn minh trên toàn thế giới, các chi tiết sức khỏe của cá nhân là tối mật. Vậy Quốc Hội sẽ xử trí ra sao nếu một người bị loại vì lý do sức khỏe và người này đưa ra hai yêu cầu rằng hãy cho biết công khai chi tiết sức khỏe nào của họ không đạt, và hãy cho biết công khai chi tiết sức khỏe một ứng viên khác hay một Đại biểu Quốc hội đương nhiệm khác mà người bị loại ấy cho biết có đủ thông tin về căn bệnh tương tự của vị này như người ấy?

b– Theo Báo Tuổi Trẻ thì nội dung chính của khám sức khỏe mà Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm đề ra là “khám sức khỏe tâm thần”. Tôi cho rằng trên toàn cõi Việt Nam chỉ có các bệnh viện tâm thần chứ khắp các tỉnh thành và địa phương hoàn toàn không có các y bác sĩ chuyên viên khám bệnh tâm lý – tâm thần.

Tóm lại, buổi họp báo của Ủy Ban Bầu Cử Thành Phố Hồ Chí Minh vào chiều thứ sáu 04/03/2016 đã có nội dung hoàn toàn trái với nghị quyết 41-NQ-HĐBCQG. Ngoài ra, các lập luận của Chủ Tịch Ủy Ban Bầu Cử TP.HCM-Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm được đăng tải công khai bởi các phương tiện truyền thông gây phản cảm và tạo ra ấn tượng xấu là đang có xu hướng tạo ra những sự phân biệt đối xử, những rào cản đối với những công dân có tâm huyết với đất nước có nguyện vọng tự ứng cử vào Quốc Hội khóa XIV nhiệm kỳ 2016-2021 tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Kính cảm ơn quý lãnh đạo đã dành thời gian đọc bản góp ý khẩn cấp này và xin kính chào trân trọng.

Lại Thu Trúc

Phone: 0903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

Phụ lục: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160304/nguoi-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi-hdnd-phai-kham-suc-khoe-tam-than/1061821.html

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kinh mời tham khảo thêm các bài viết của Hoàng Hữu Phước về:

Lại Thu Trúc: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/22/lai-thu-truc/

Nguyễn Thị Quyết Tâm:  https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2016/01/22/nguyen-thi-quyet-tam/

Nét Mới Cần Phải Có Tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-02-2016

 TPHCM

Sáng nay HTV9 có phát chương trình giải quyết khiếu nại của công dân Thành phố Hồ Chí Minh do bà Trương Thị Ánh, Nghị sĩ Khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đương nhiệm, chủ trì với các ban ngành về khiếu nại của gia đình ông Nhan Phước ở Quận 6. Nội dung này làm tôi nhớ đến lúc trước Đại Hội Đảng, tôi đã có công văn sau gởi Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ khiếu nại của công dân Lê Văn Hải, mà giọng văn với lời khẳng định rằng Ủy Ban Nhân Dân Quận 9 “hoàn toàn sai” và rằng “hệ thống hành chánh công quyền của Thành phố Hồ Chí Minh đang thực sự có vấn đề”, ắt sẽ không làm bất kỳ chức sắc nào của Thành phố Hồ Chí Minh hài lòng:

 Print1Print2

Trở lại vụ họp sáng nay trên HTV9, theo trình bày của con trai ông Nhan Phước thì ngay sau ngày giải phóng, do nhà ông Phước buôn bán vải lẻ có chứa các súc vải, Ủy Ban Nhân Dân Quận 6 đã liệt gia đình ông vào diện phải cải tạo tư sản nên đưa cả gia đình ông đi vùng Kinh Tế Mới, còn gia sản của ông trở thành tài sản do nhà nước quản lý, và Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định cấp căn nhà của ông cho hai hộ gia đình cán bộ đến ở. Thế nhưng, sau đó Ủy Ban Nhân Dân Quận 6 phát hiện sai lầm này, do quy mô kinh doanh của ông Nhan Phước chỉ là tiểu thương bán lẻ, không phải “tư sản mại bản”, nên đã cùng lúc ra hai quyết định rất đúng đó là xóa bỏ “tội danh” tư sản của ông và giao trả căn nhà lại cho ông. Tuy nhiên, do căn nhà đã được giao cho hai hộ khác, mọi việc đã trở nên chuyện bi hài ở chỗ gia đình gần chục người của ông Phước trở về thành phố sống lây lất đến tận ngày nay nhiều chục năm trời, còn cả hệ thống chính quyền hoặc nhẫn tâm làm ngơ trước cảnh tang thương ngẫu lục của người dân hoặc do sự bó tay do bất lực bất tài vô dụng của các Sở Ban Ngành của Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kể nhiều nhiệm kỳ của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh vẫn để tồn tại những sự việc như thế trong khi theo tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng thì Thành phố Hồ Chí Minh luôn đạt được các thành tích và thành quả phát triển to lớn, thậm chí thành phố còn chi ra bao tỷ đồng để lập cái siêu dự án gọi là megacity nhằm dựng xây Thành phố Hồ Chí Minh thành một thành phố vĩ đại ôm trong lòng nó những cái mà tôi nghe qua đã thấy mùi thất bại tức các thành phố “con” như Thành Phố Bắc, Thành Phố Nam, Thành Phố Tây, Thành Phố Đông nhảm nhí, trong khi – như tôi trước đây đã nêu – với nhân lực công chức công quyền như thế thì đào đâu ra lớp người quản lý siêu đại dự án ấy.

Bà Trương Thị Ánh đã yêu cầu con trai ông Nhan Phước cho biết nguyện vọng, trong khi lẽ ra nguyện vọng ấy đã được biết rõ trong tất cả các lá đơn của ông đã gởi chính quyền trong nhiều chục năm qua, thậm chí từ lúc vợ ông còn sống.

Bà Trương Thị Ánh đã yêu cầu các Sở Ban Ngành nghiên cứu đề xuất các hướng giải quyết, trong khi lẽ ra chính các chức sắc của các Sở Ban Ngành ấy trong nhiều nhiệm kỳ qua của ngần ấy mấy chục năm đã phải thực hiện, nếu như họ không là đảng viên đội lốt. Gọi là đảng viên đội lốt hoặc đảng viên phản Đảng vì Đảng Cộng Sản Việt Nam không thể có những cán bộ Đảng được Đảng tuyển chọn kỹ lưỡng, đào tạo kỹ lưỡng, giao lắm quyền uy, lại ra sức làm nhục Đảng qua sự phô bày sự bất lực bất tài vô dụng của họ, và qua việc làm người dân phải oán than oán thán oán hận Đảng. Tại sao đến ngày hôm nay tức 19-02-2016 mà các vị chức sắc Sở Ban Ngành lại phải chờ một lãnh đạo cao cấp như bà Trương Thị Ánh nêu yêu cầu và ra kỳ hạn cho họ trình đề xuất hướng giải quyết.

Điều tich cực ở đây là (a) Ủy ban Nhân Dân Quận 6 trước đây đã nhìn nhận sai sót của mình để từ đó sửa sai bằng các quyết định như đã nói ở trên; (b) ông Nhan Phước già yếu nói với phóng viên ghi hình rằng cả gia đình ông luôn tuân thủ luật pháp nên chính quyền bảo đi Kinh tế Mới thì ông ra đi, còn khi giải oan cho ông và ra quyết định trả nhà cho ông thì ông rất biết ơn, và nhiều chục năm qua vẫn tuân thủ luật pháp đợi chờ sự giải quyết của chính quyền thành phố, trong khi con trai ông Nhan Phước đã rất hợp tác trong buổi họp với bà Trương Thị Ánh khi nhỏ nhẹ nói chỉ mong chính quyền giải quyết sớm giao lại nhà hoặc đền bù một số tiền để cả gia đình có thể có cuộc sống đõ vất vả hơn; và (c) sự xuất hiện của nhân vật Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có những tín hiệu tích cực đầu tiên cho sự nề nếp phục vụ nhân dân đi vào thực chất và trách nhiệm.

Chính vì sự tích cực phục vụ nhân dân chỉ là cụm từ phải nêu trong các phát biểu chính trị của các quan chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, và chính vì sự tích cực chuyển đơn thư khiếu nại của công dân của hầu như đại đa số các nghị sĩ Quốc Hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm qua mà ngày nay Thành phố vẫn còn tồn đọng nhiều vụ khiếu nại trơ gan cùng tuế nguyệt.

Sai thì phải nói ngắn gọn là “sai”. Bất tài vô dụng thì phải nói ngắn gọn là “bất tài vô dụng”. Đã hưởng lương cao, bổng hậu, phúc lợi dồi dào, địa ốc khang trang, vinh thân phì gia, mà không làm việc cho ra hồn vì nước vì dân, thì chỉ là phường bất lương bất hảo bất hiếu mà thôi.

 TPHCM (2)TPHCM (2)TPHCM (1)

Hy vọng dưới sự lãnh đạo của Tân Bí Thư Thành Ủy Đinh La Thăng, những công văn với lời lẽ làm mếch lòng các quan chức thành phố như trên sẽ không tiếp tục được viết nên, nhất là khi người viết lại là một nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, không có quyền lực quyền hành ép buộc các quan chức phải vì dân.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2013. Cần Giải Quyết Dứt Điểm Những Khiếu Nại, Tố Cáo Của Người Dân. Bài phỏng vấn của báo Văn Nghệ Trẻ với Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/22/257/

Hoàng Hữu Phước. 28-12-2015. Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/28/doi-pho-voi-su-xo-cung-vo-cam-cua-chuc-sac-xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

Hoàng Hữu Phước. 04-12-2015. Báo Cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/12/04/bao-cao-viec-thuc-hien-chuong-trinh-hanh-dong-suot-nhiem-ky-quoc-hoi-khoa-xiii-2011-2016-cua-dai-bieu-hoang-huu-phuoc/

Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

02-02-2016

 IDEA

A- Cẩm Nang Bửu Bối Của Hồ Chí Minh

Giống như trong chương trình sinh vật, học sinh trung học có thể học về trái tim, về vận hành của các tâm thất, nhưng chỉ khi vào đại học y khoa các bài giảng về các vấn đề bịnh lý của tim mới được đưa ra, nghĩa là không phải bài cứ vì học trung học về trái tim không nói gì về bịnh tim nên trái tim phải luôn mạnh khỏe; trong các năm qua những bài viết của tôi về dân chủ nhằm làm rõ điểm quan trọng cơ bản nhất của dân chủ, theo đó dân chủ là một hình thức người dân thực hiện quyền bầu cử của mình để bầu chọn người/những người thay mình ra lo việc nước, như một phân định rạch ròi sự khác biệt cơ bản so với các thời phong kiến trước đó khi các vị vua hoặc tự mình dấy binh giành lấy ngôi vua hoặc thừa kế ngai vàng của vua cha chứ hoàn toàn không qua hình thức phổ thông đầu phiếu bỏ phiếu kín của thời đại dân chủ. Hôm nay tôi viết về những điều phức tạp hơn của dân chủ như viết về các chứng bịnh của trái tim như đã ví von ở trên vậy.

Khi tại Quốc Hội, lúc đại biểu DTQ phát biểu hùng hồn đòi hỏi phải “trao quyền phúc quyết cho nhân dân” thì bản thân ông ta cũng chẳng hiểu ất giáp gì về cái gọi là “quyền phúc quyết”, khi ông ta phát biểu phê phán Việt Nam như “ốc đảo” không giống ai trên thế giới thì bản thân ông ta cũng chẳng biết ất giáp gì về “ốc đảo”, lúc ông đòi Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa mà phải luật hóa “mại dâm” đi thì bản thân ông ta chẳng hiểu “mại dâm” gồm có những phức tạp mới lạ nào ngoài cái gọi là đạo đức gia phong cũ rích mà ai cũng biết, và khi ông ta ủng hộ cái gọi là “luật biểu tình” thì bản thân ông ta chớ biết cái quái gì về “biểu tình”. Tôi đã phải viết một bài về Ốc Đảo [1] để thay mặt các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt bảo vệ sự đúng đắn vời vợi của tiếng Việt, viết nhiều bài về Biểu Tình để hỗ trợ về pháp luật cho các luật sư bạn thân của DTQ hiểu rõ thế nào là “biểu tình”, và ghép nội dung “mại dâm” trong bài Tứ Đại Ngu cũng để hỗ trợ về pháp luật cho các luật sư bạn thân của DTQ hiểu thế nào là mại dâm thời đại mới. Nay xin viết về cái gọi là quyền phúc quyết để làm sáng tỏ về chính trị và luật pháp dưới góc độ tôi là một nhà lập pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trước khi nói về quyền phúc quyết, tôi thấy cần khẳng định lại hai lập luận của tôi trong nhiều năm qua là: (a) tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng thực tế đời sống đã khiến những khái niệm hay quan niệm trước đây trở nên hoặc obsolete không còn phù hợp hoặc cần có các upgradation chỉnh lý nâng cao tương thích, và (b) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng tiên tri thấu thị về những đổi thay mang tính thời đại mới ây nên để lại cho các học trò một bửu bối trong trị quốc bình thiên hạ: đó là câu “Dĩ Bất Biến, Ứng Vạn Biến” với đại ý rằng cái gì có lợi cho độc lập dân tộc và quốc gia ổn định cường thịnh thì cứ biến hóa ra vạn cách để làm hầu thực hiện cho được mục tiêu ấy chứ không cớ gì phải bám theo sát sàn sạt từng chữ một tất cả những lời Người đã dạy. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh, 13 khóa Quốc Hội đã không đoái hoài đến cái gọi là “luật biểu tình”. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam thắt chặt quan hệ chiến lược với các siêu cường tư bản trong đó có Hoa Kỳ. Do thực hiện đúng và chính xác cẩm nang bửu bối của Hồ Chí Minh mà Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam áp dụng chính sách mở cửa cùng đề cao vai trò của kinh tế tư nhân, v.v., để Việt Nam phát triển như ngày nay. Ấy vậy mà bọn chống Việt sau thời gian thóa mạ Hồ Chí Minh là “cẩu tặc” trong tuyệt vọng, chúng xoay ra ca tụng Hồ Chí Minh để qua đó có cớ kết tội Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đã “làm sai lời dạy của Người”; cùng hòa âm điền dã có đám tự xưng “nhân sĩ trí thức” ở viện này viện nọ tại Việt Nam cũng viết lách in ấn gởi spam lung tung tố cáo Đảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đã “làm sai lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu” khiến đột nhiên cả hai bọn này đều trở nên “giáo điều” một cách kỳ lạ, biến tất cả những lời nói của Hồ Chí Minh thành thánh thư, biến Hồ Chí Minh thành vĩ nhân của cả thế giới chống Cộng, và biến Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng các lãnh đạo Việt Nam tự nhiên trở thành cấp tiến!

Vì vậy, có thể nói việc DTQ đòi phải trao quyền phúc quyết cho dân mà Hiến Pháp “Cụ Hồ” có ghi rõ, là việc hô hào rỗng tuếch vô giá trị của DTQ do DTQ đã không hiểu các nội dung mà các phần sau sẽ nêu rõ.

B- Dân Chủ Trực Tiếp

Dân chủ là sự tham gia của người dân trong các hoạt động của chính quyền trong phạm vi mức độ được quy định trong Hiến Pháp và pháp luật của mỗi quốc gia. Có hai loại dân chủ gồm dân chủ đại diệndân chủ trực tiếp, loại thứ nhất được áp dụng tại tất cả các quốc gia nào áp dụng hình thức phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín để bầu chọn người thay mình ra lo việc quốc gia, trong khi loại thứ hai để bổ sung cho loại thứ nhất trong vài trường hợp đặc biệt nào đó như được minh định hoặc không được minh định trong hiến pháp của quốc gia ấy. Các hình thức của dân chủ trực tiếp của một quốc gia có thể bao gồm một hoặc nhiều hơn một trong bốn loại sau đây:

1- Trưng Cầu Dân Ý:

Nội dung “quyền phúc quyết” mà DTQ phát biểu chỉ liên quan đến loại hình này của dân chủ trực tiếp, với những điều quan trọng mà DTQ cùng những đấng tương cận nhất thiết cần ghi nhận và ghi nhớ như:

a) Trưng Cầu Dân Ý gồm trưng cầu dân ý bắt buộc nếu có ghi rõ chi tiết trong Hiến Pháp một nước loại nội dung nào buộc phải qua trưng cầu dân ý thí dụ như việc quốc gia đó cần tham gia các hiệp ước quốc tế quan trọng như tham gia EU hay NATO, v.v., và trưng cầu dân ý không bắt buộc do không có ghi trong Hiến Pháp mà chỉ do chính phủ nước đó tự đề ra hay do quốc hội nước họ đề xuất thí dụ như để hỏi ý kiến về một dự án luật đang chờ được thông qua, về lương hưu, về hôn nhân đồng giới, về tự do phá thai, v.v.

b) Trưng Cầu Dân Ý không bao giờ được mặc định là hinh thức dân chủ bậc nhất mà tất cả các nước buộc phải có để chứng tỏ quốc gia mình thực sự có dân chủ.

Tại Châu Mỹ, hai quốc gia lớn là Mỹ và Mexico hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý. Hiến Pháp Hoa Kỳ không có điều khoản nào ghi về trưng cầu dân ý dù trong bất kỳ lĩnh vực nào, tình huống nào; trong khi đó, hiến pháp của chỉ 12 tiểu bang trong số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ là có ghi trưng cầu dân ý nhưng chỉ với một vài nội dung nội bộ riêng của tiểu bang, không được phép động đến Hiến Pháp Hoa Kỳ và các đạo luật liên bang Hoa Kỳ.

Tại Châu Âu, các nước như Đức và Bỉ, hoặc Vatican, v.v. hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý.

Tại Châu Á, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaysia, Brunei, Lào, Đông Timor, Triều Tiên, Bhutan, Afganistan hoàn toàn không áp dụng cơ chế dân chủ trực tiếp đối với loại hình trưng cầu dân ý (riêng Nhật Bản có điều luật về trưng cầu dân ý nhưng chưa từng bao giờ đem ra áp dụng trong lịch sử do tất cả các chính phủ cầm quyền đều quá giỏi giang, quá kiệt xuất, quá có tinh thần trách nhiệm cực cao nên chưa bao giờ tỏ ra bất lực đến độ cần phải “đá trái bóng trách nhiệm” qua người dân trong quyết định việc quốc gia đại sự); trong khi đó, Việt Nam cùng Thái Lan và Singapore đều có mức độ áp dụng trưng cầu dân ý cao bằng nhau dưới hình thức này hay hình thức khác.

Như vậy, (a) thế giới nhìn nhận Việt Nam có trao quyền phúc quyết cho người dân, và (b) việc trao quyền phúc quyết tức trưng cầu dân ý cho người dân chẳng có ý nghĩa gì cả về thưc chất dân chủ của các quốc gia vì dân chủ đại diện tuyệt đối như của Hoa Kỳ mang ý nghĩa thực chất về trách nhiệm của “người đại diện” là làm cho dân giàu, nước mạnh, an ninh, chứ không chạy đua tranh giành cái hư danh “dân chủ”. Như vậy, cái mà Việt Nam cần – nếu có thời gian dư thừa – là một bộ luật mang tên Luật Trưng Cầu Dân Ý. Phải có thời gian dư thừa mới soạn cái luật mà chỉ có quốc gia bất thường, biến loạn, muốn gây hỗn loạn dân tâm mới đem ra áp dụng thường xuyên. Các ghi nhận này về sự bất thường có khả năng khiến người dân bất an về năng lực cùng sự ổn định của chính phủ một nước là do chính những tổ chức quốc tế về dân chủ như IDEA quan ngại nêu lên.

c) Kết quả của một cuộc Trưng Cầu Dân Ý ở một quốc gia hoàn toàn không được mặc định rằng sẽ phải được thực hiện bởi quốc hội hay chính phủ của nước đó, vì mục đích chính của bất kỳ cuộc trưng cầu dân ý nào cũng phục vụ cho sự tham khảo mà thôi.

d) Ngoài việc các cuộc trưng cầu dân ý ít khi được tổ chức, nhiều quốc gia còn lồng ghép cuộc trưng cầu dân ý chung vào các cuộc bầu cử quốc gia để tiết kiệm do chi phí khổng lồ và tổ chức phức tạp của trưng cầu dân ý, càng cho thấy trưng cầu dân ý không mang thuộc tính của sự quan trọng và/hay cấp bách hoặc cấp thiết.

2- Sáng Kiến Công Dân

Sáng kiến công dân là hình thức dân chủ trực tiếp tại một số quốc gia khi người dân đề xuất ý kiến chẳng hạn đối với một dự thảo luật đang được bàn luận hay một phần hoặc toàn phần của một luật hiện hành hoặc một luật sắp được ban hành. Người dân khi trình bày ý kiến mong muốn như thế, sau đó phải tìm kiếm sự đồng thuận của bao nhiêu người dân khác (mấy chục ngàn hay mấy trăm ngàn người tùy theo luật định) để ý kiến này được Quốc hội xem xét chấp thuận cho đưa ra trưng cầu dân ý. Trên thế giới chỉ có các quốc gia sau đây cho phép công dân được đề xuất ý kiến sửa đổi Hiến Pháp của quốc gia họ để được quốc hội nước họ xem xét đưa ra trưng cầu dân ý: Châu Mỹ có 5 nước (Colombia, Costa Rica, Ecuador, Uruguay, và Venezuela), Châu Âu có 9 nước (Belarus, Georgia, Hungary, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Moldova, Slovakia, và Thụy Sĩ), Châu Phi có 3 nước (Cape Verde, Liberia, và Uganda), trong khi Châu Á chỉ có 1 nước (Philippines), cho thấy không một cường quốc nào áp dụng, vì Hiến Pháp không phải là lĩnh vực mà công dân có quyền đưa ra các đề xuất để có những thay đổi dù cho đó chỉ là một chi tiết nhỏ của Hiến Pháp.

3-Sáng Kiến Lập Pháp Của Công Dân

Trong khi “sáng kiến công dân” là một hình thức dân chủ trực tiếp để người dân nêu lên đối với một dự thảo luật đang được thảo luận tại Quốc hội, một đạo luật đã được ban hành đang có hiệu lực hay một đạo luật sắp được thông qua, thì “sáng kiến lập pháp” tức hình thức dân chủ trực tiếp mà theo đó người dân được hiến định có quyền đề nghị chương trình nghị sự của quốc hội nên quan tâm đến đề xuất cho một đạo luật mới mà người dân cho rằng cần được đưa vào chương trình nghị sự. Và khi công dân đáp ứng được các yêu cầu về số lượng chữ ký đồng thuận theo quy định của pháp luật, quốc hội có thể xem xét để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý nhưng quốc hội nắm toàn quyền quyết định không tuân theo kết quả của cuộc trưng cầu dân ý ấy.

Trên toàn thế giới, việc áp dụng hình thức dân chủ trực tiếp của sáng kiến lập pháp của công dân tại Châu Mỹ có 13 nước (không có Hoa Kỳ và Canada), Châu Âu có 22 nước (không có Pháp và Anh), Châu Phí có 8 nước (không có Nam Phi), và Châu Á chỉ có 4 nước (Kyrgyzstan, Philippines, Thái Lan và Turmenistan). Điều này cho thấy không một cường quốc nào cho phép công dân được đưa ra sáng kiến lập pháp vì đó là công việc của quốc hội chuyên nghiệp và có trách nhiệm.

4- Bãi Miễn

Hình thức thứ tư của dân chủ trực tiếp là khi người dân có quyền đề nghị bãi miễn một quan chức đã được bầu lên trước đó và đang làm việc tại chính quyền địa phương hay chính quyền trung ương. 18 tiểu bang của Hoa Kỳ có các quy định bải miễn các quan chức ở cấp tiểu bang, 36 tiểu bang có quy định bải miễn các quan chức ở cấp địa phương trong tiểu bang. Tuy nhiên, luật pháp Hoa Kỳ cấm các tiểu bang không được bải miễn các nghị sĩ Quốc hội ngay cả khi luật của tiểu bang có quy đinh cho phép bải miễn. Dù việc bải miễn được thực hiện sau kết quả một cuộc trưng cầu dân ý hoặc không qua trưng cầu dân ý thì hình thức bải miễn của dân chủ trực tiếp này cũng không phổ biến rộng khắp.

C- Thay Đổi Hệ Thống Chính Trị Tại Việt Nam

Khi nói về quyền của các hình thức dân chủ trực tiếp trong yêu cầu thay đổi hệ thống chính trị của một quốc gia, người ta chỉ có thể nêu duy chỉ một dẫn chứng của nước Uganda ở Châu Phi, theo đó Điều 69 của Hiến Pháp 1995 của Uganda ghi nhận người dân có quyền được lựa chọn và áp dụng một hệ thống chính trị theo sự lựa chọn của họ thông qua các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý, trong khi đó Điều 70.1 Hiến Pháp Uganda năm 1995 còn quy dịnh trưng cầu dân ý sẽ dược tổ chức với mục đích thay dổi hệ thống chính trị. Việc này chứng minh toàn thế giới không có quốc gia nào khác quy định tương tự, biến hệ thống chính trị của mỗi nước gần như bất khả xâm phạm, bất khả đổi thay. Đây là một mặc định đương nhiên.

Việc thay đổi hệ thống chính trị ở Việt Nam là ước mơ của duy chỉ bốn nhóm người gồm (a) các nhóm chống Việt ở hải ngoại, (b) các nhóm nhân sĩ trí thức tự xưng ở Việt Nam, (c) các nhóm “lương tâm” trẻ người non dạ, và (d) các đảng viên cộng sản ngây thơ khờ dại.

Các nhóm chống Việt hoàn toàn không trên một khung khái niệm logic nào của dân chủ trực tiếp, thứ mà họ lầm tưởng là vũ khí của xã hội dân sự mà một cuộc tự diễn biến có thể giúp họ trả dược mối thù truyền kiếp chống Cộng qua việc chứng kiến Cộng sản Việt Nam bị tiêu diệt, bất kể ngay cả hậu quả là Việt-Nam-không-cộng-sản có bị thôn tính bởi Trung Quốc hay không. Thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Các nhóm nhân sĩ trí thức tự xưng giàu óc tưởng tượng ở Việt Nam tự rặn ra những giá trị và sức mạnh không bao giờ có thật của dân chủ trực tiếp, đòi trao quyền phúc quyết cho nhân dân, với mong muốn nhân dân có thể sẽ tác động đến sự thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam mà chưa từng nghiên cứu để biết rằng thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Các nhóm “lương tâm” trẻ người non dạ chỉ biết bấu víu nép mình vào tên tuổi các vị nhân sĩ trí thức tự xưng và vào tiền bạc của các vị chống Việt nên cũng u mê, mơ màng đến việc thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam, mà không biết rằng thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Và các đảng viên cộng sản ngây thơ khờ dại hoặc do thất học, hoặc tại thất thời, hoặc bởi thất chí do theo Đảng để mong vinh thân phì gia nhưng đến tuổi già bóng xế vẫn chỉ có phì bụng bia bọt nên uất ức trở mặt, láu cá, hoặc hùng hồn tuyên bố bỏ Đảng, hoặc hăng hái ký tên vào các kiến nghị, mà không biết rằng (a) tại tất cả các nước văn minh các kiến nghị hoàn toàn không có giá trị thực hiện vì chỉ có “sáng kiến công dân” và “sáng kiến lập pháp” như quy định trong hiến pháp của họ tức phải thu thập đủ số lượng chữ ký đồng thuận theo luật định mới có giá trị tham khảo sau khi có kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý, rằng (b) phạm vi hiến pháp và thể chế chính trị không bao giờ nằm trong phạm trù cho phép của các cuộc trưng cầu dân ý, rằng (c) các siêu cường tư bản của “thế giới tự do” không ai áp dụng trưng cầu dân ý, và rằng (d) thực tế dân chủ trực tiếp trên toàn thế giới mà nội dung của 4 hình thức đã nêu trên chưa hề cung cấp bất kỳ thứ vũ khí tư tưởng hay pháp luật thực dụng khả thi nào cho phép bất kỳ ai động đến Hiến Pháp và thể chế chính trị của từng quốc gia.

Thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam là một chủ đề mà ngay cả Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia trên toàn thế giới cũng không bao giờ dám công khai tuyên bố, và do đó sẽ không bao giờ công khai ủng hộ bất kỳ hoạt động bát nháo nào để chống Việt Nam, trừ phi phải lên tiếng cầu xin Việt Nam hãy thả một “lương tâm” hay một “nhân sĩ trí thức” nào đó mà ngay cả người Việt Nam tại Việt Nam cũng chưa từng biết đó là một “lương tâm” hay một “nhân sĩ trí thức”.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

1) Ở Việt Nam có tình trạng lậm khái niệm “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên từ ngữ “dân ý” là từ ngữ quen thuộc vậy mà khi đưa thành tên dự thảo luật lại đổi thành “ý dân” mà không ai chịu hiểu rằng khi giải phóng Miền Nam thì toàn bộ cơ sở kho tàng vật chất hạ tầng của Mỹ – kể cả các khoản nợ vay của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại các định chế tài chính thế giới như World Bank và IMF – đều trở thành tài sản của riêng nước Việt Nam cộng sản thống nhất – tài sản có để hưởng và tài sản nợ phải trả thay – thì tương tự như vậy toàn bộ những từ ngữ Hán Việt hay từ vay mượn của ngôn ngữ khác một khi bước vào tiếng Việt đều trở thành tài sản ngôn ngữ của riêng Việt Nam mà Việt Nam có toàn quyền sử dụng nên không thể cứ tên người thì cứ vô tư chọn từ Hán Việt cho văn hoa tuyệt mỹ còn tên cơ quan thì cứ buộc phải trần trụi thành cửa hàng ăn uống hay trường cao đẳng nghề, khiến có thời bọn chống Việt có cớ để mĩa mai nói kháy là ở Việt Nam ắt xài từ “xưởng đẻ” hay “nhà đẻ” thay cho bảo sinh viện Từ Dũ vậy. Dân Ý là Dân Ý, nếu chuyển thành Ý Dân, vậy khi nói đi nắm Dân Tình thì có phải đổi thành Tình Dân không? Dân Ý là một danh từ duy nhất (lẽ ra có dấu gạch nối như đã giải thích trong bài viết Vũ Khí Tối Thượng[2] ), phục vụ duy chỉ cho phạm trù của cụm “trưng cầu”; còn Ý Dân là một cụm từ khác gồm hai danh từ Ý và Dân với từ Của ở giữa được hiểu ngầm giản lược. Tương tự, những từ Hán-Việt khác như Dân Tâm (tức lòng của dân), Dân Trí (tức trí hóa của dân), Dân Sinh (tức thuộc về khu vực sinh sống của dân), Nhân Thân (tức bản thân đương sự), v.v., có phải sửa thành Tâm Dân, Trí Dân, Sinh Dân, và … Thân Nhân không?

2) Số liệu trong bài viết trên trích xuất từ tài liệu Dân Chủ Trực Tiếp – Sổ Tay IDEA Quốc Tế (International Institue for Democcracy and Electoral Assistance – Viện Quốc Tế Về Dân Chủ Và Hỗ Trợ Bầu Cử, Stockholm, Thụy Điển), ấn bản 2008, bản dịch tiếng Việt năm 2014 của Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội.

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 04-12-2012. Thế Nào Là Ốc Đảo – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/12/04/the-nao-la-oc-dao-su-can-trong-trong-su-dung-ngon-tu-han-viet/

[2] Hoàng Hữu Phước. 19-10-2009. Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/10/25/vu-khi-toi-thuong-cua-tieng-viet-cho-thoi-ky-thuat-so-hoi-uc-ve-mot-su-that-chang-con-nguoi-viet-nam-nao-tren-the-gioi-con-nho-hay-biet-den/

Các tài liệu khác, có nhắc đến trong bài viết:

Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Luận Về Trang Phục Và Trang Bị Cảnh Sát Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-01-2016

 CS

Trong bài Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình”, tôi có nêu về vấn đề trang bị vũ khí xe chuyên dùng cho lực lượng cảnh sát để chống bạo động, cùng các chiến thuật tác chiến chống bạo động của cảnh sát như một chuẩn bị phải có để sau suốt nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016) phải đình chỉ tất cả các việc liên quan đến soạn thảo dự án luật “Biểu Tình” do tôi đã thuyết phục thành công để Quốc Hội chưa cho bàn thêm về nội dung luật này, Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) sẽ có đủ điều kiện vật chất, tư duy, ngôn ngữ, thời gian nghiên cứu để bắt đầu chấp bút. Và mới đây, trên báo chí đã đăng tải hình ảnh các xe chuyên dùng chống bạo loạn có trang bị cả trung liên để bảo vệ tuyệt đối thành công Đại hội Đảng. Tất nhiên, thử thách vẫn còn nhiêu khê trước mắt đối với lực lượng cảnh sát do hỏa lực mạnh được trang bị cho các xe chuyên dùng, song liệu cảnh sát có dám xả súng trung liên vào đám đông lợi dụng “biểu tình” để gây bạo loạn hay không lại là vấn đề chưa ai tính đến, mà nếu không dám xả súng thì liệu có bảo vệ “an toàn tuyệt đối” hay không. Thử thách này do chính ngành công an tự chuốc lấy, khi lột lon chiến sĩ công an nào tát “dân” hay đánh “dân”, nghĩa là vô hình chung tự dưng trộn lẫn “người dân lương thiện” với “kẻ gây rối” chỉ vì cả hai cùng có thẻ Chứng Minh Nhân Dân, thậm chí cảnh sát cực kỳ run sợ nếu bị người đi đường quay phim thảy lên mạng chùa. Cần rút từ bài viết trên của tôi và bài viết gần đây để biết rằng cảnh sát Mỹ đánh đập người Mỹ, bắn hạ người Mỹ bất tuân hiệu lệnh, và tự do có nghĩa là người dân có quyền “tự do biểu tình” theo sự thông báo với cơ quan chức năng theo luật định, trong khi chỉ huy cảnh sát địa phương có toàn quyền yêu cầu đoàn “biểu tình” phải giải tán khi cho rằng có thể sẽ xảy ra bạo động, và nếu người “biểu tình” bất tuân sẽ bị “tự do đánh đập hoặc tự do bắn hạ”.

CS1

Còn trong năm 2011 tôi có viết blog bài mang tên Luận Về Trang Phục Và Trang Bị Cảnh Sát Việt Nam nói về bản thân người công an – ở đây xin gọi chung là “cảnh sát” cho đúng thông lệ quốc tế đối với chữ “Police”. Mới đây thấy Cô Rebecca Volent viết trên mạng Những Câu Chuyện Về Đồng Phục có viết cạnh bức hình này

 CS2

rằng người nước ngoài bảo trang phục của cảnh sát Việt Nam “không giống ai”, khiến du khách nước ngoài thêm rối rắm chẳng biết tin vào ai để mà cậy nhờ, cầu cứu, tôi mới sực nhớ bài luận nêu trên mà nội dung tôi có nêu tại một trong mười bài tư vấn ứng viên tự do cho cuộc bầu cử Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021) rằng khi tôi đặt vấn đề tại buổi “giám sát” ở Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh, vị Trưởng Đoàn Giám Sát lập tức bảo tôi đã hết thời gian phát biểu, do sợ mếch lòng Sở Công An. Nay xin đăng lại bài trên để biết nếu xe cứu thương của thế giới có hình dấu thập đỏ (hoặc xanh lá) để mọi người luôn dễ hiểu dễ nhận ra, mà xe cứu thương của Việt Nam có hình trái táo cắn dỡ hoặc trái dưa hấu bổ đôi đỏ hườm chẳng hạn thì sẽ không ai hiểu nó là gì trừ người Việt Nam; và tương tự, cảnh sát Việt Nam mặc trang phục hoàn toàn đứng ngoài khả năng nhận diện của phần còn lại của nhân loại.

Luận Về Trang Phục Và Trang Bị Cảnh Sát Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

CS3

A) Dẫn Nhập: Từ Hai Mẩu Tin Cảnh Sát Giao Thông Thành Phố Hồ Chí Minh Bị Sát Thương

Đêm 10/9/2011 Trung úy Cảnh Sát Giao Thông Lê Trọng Tuấn và Thượng sĩ Cảnh Sát Cơ Động  Phan Thanh Nhơn trên xe mô-tô 51A1- 0161 tuần tra trên đường phố phát hiện hai thanh niên đi xe máy vượt đèn đỏ bèn rượt theo truy bắt qua các đường Nguyễn Đình Chiểu, Đinh Tiên Hoàng, Võ Thị Sáu đến góc Phan Liêm – Điện Biên Phủ thì áp sát được xe vi phạm nhưng ngay sau đó đã bị hai đối tượng dùng chân đạp hai anh ngã xuống đường bị trọng thương và vẫn đang được điều trị tại Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình.

Hai ngày sau,  Thượng sĩ Lương Khánh Việt và Thượng sĩ Trần Võ Hoài Thanh thuộc đội Cảnh Sát Giao Thông Bến Thành tuần tra trên xe mô tô 51A1-0448 phát hiện một nhóm thanh niên tu tập đua xe trái phép nên truy đuổi đến đường Nguyễn Trãi, Phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, thì xe trượt húc vào tường rào trường Mầm Non khiến Thượng sĩ Việt tử vong, còn Thượng sĩ Thanh bị trọng thương hiện đang điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy.

Hai tai nạn xảy ra bởi vì cảnh sát giao thông Việt Nam đã được trang bị quá đơn giản, quá thiếu thốn, và không thể chấp nhận được cảnh xảy ra quá nhiều năm nay khi chiếc xe mô tô cảnh sát – tức loại mô tô dùng để rượt bắt chứ không là mô tô chạy đường trường – lại được sử dụng chở hai chiến sĩ, cảnh này chứng tỏ cảnh sát giao thông Việt Nam đã không hiểu biết về chức năng chiếc mô tô cảnh sát và nếu ở nước nào một mô tô cảnh sát chở hai cảnh sát tuần tra ắt nước đó cực kỳ nhược tiểu.

 CS4

 B) Những Hình Ảnh Về Trang Phục Và Trang Bị Cảnh Sát Giao Thông Việt Nam

Phiên xử hai kẻ thủ ác giết chết Bà Bí Thư Quận Ủy Quận Phú Nhuận vẫn còn là tin nóng hổi, và hình ảnh sau trên báo Tuổi Trẻ cho ta thấy những điều sau về cảnh sát giao thông:

 CS5

Các chiến sĩ chỉ được trang bị mũ bảo hiểm loại thường, súng ngắn, và chiếc còng. Ngoài ra, chiếc đai da trắng cũ kỹ là thứ vô dụng của cảnh sát mô tô chế độ Sài Gòn trước 1975 nay đầy vết cáu bẩn không hiểu sao vẫn tiếp tục được sử dụng trông rất phản cảm vì không tôn được thế của dáng dấp người chiến sĩ.

C) So Sánh Trang Phục Và Trang Bị Cảnh Sát Nước Ngoài

Trước khi có các đề xuất hợp lý hóa trang phục và hiện đại hóa trang bị của cảnh sát giao thông Việt Nam, thiết nghĩ những tư liệu hình ảnh sau có thể cho ta cái nhìn khái quát về lực lượng cảnh sát nói chung ở các nước khác, từ cường quốc đến các nước phát triển và đang phát triển.

1-HOA KỲ:

Chẳng hạn cảnh sát giao thông Mỹ:

 CS6

Mỗi chiến sĩ một xe mô tô, mũ chuyên dùng có gắn thiết bị micro truyền tin, mặc trang phục đen, đi ủng chuyên dùng cho sử dụng xe mô tô phân khối lớn, đeo găng tay bảo vệ, đeo kính bảo vệ, và xe mô tô có gắn máy ghi hình.

Còn đối với lực lượng cảnh sát tuần tra ô tô hay địa phương, trang phục của họ qua các ảnh minh họa sau cho thấy màu chủ đạo là đen, giày bốt chuyên dùng, tác phong “trấn áp chuyên nghiệp” qua các hình xâm dữ dội hay đầu trọc, trang bị đầy đủ,

 CS7CS8

đặc biệt luôn có gậy trấn áp (tonfa hay side-handle baton) và một số lực lượng sử dụng hỏa lực tiêu diệt (súng tiểu liên), v.v.

 CS9

  2-VƯƠNG QUỐC ANH:

 CS10

Cảnh sát ở thủ đô London cả nam lẫn nữ đều mặc sơ mi trắng (hoặc đen), khoác áo giáp đen, trang bị cùng lúc súng ngắn và tiểu liên MP5. Điểm khác biệt duy nhất là nam đội mũ lưỡi trai hoặc mũ cổ điển, còn nữ đội mũ nồi bowler duyên dáng (Ở Mỹ và Canada không có phân biệt trang phục cảnh sát nam và nữ). Thường thì cảnh sát Anh theo truyền thống ít khi mang vũ khí, nhưng an ninh đã trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh Và Bác Ái Nhĩ Lan đến độ sự trang bị “tận răng” ngày nay đã trở thành nét đẹp mới trên đường phố.

3-THÁI LAN:

 CS11

 4-ÚC:

 CS12

5- NA UY:

 CS13

6- PAKISTAN:

 CS14

7- THỤY ĐIỂN:

 CS15

8- PHÁP:

Cảnh sát Pháp thì tùy chức năng nhiệm vụ riêng mà sắc phục có màu sậm hoặc màu trắng, nhưng trang bị đầy đủ, và thường dùng giày bốt chuyên dùng.

 CS16

9-TÂY BAN NHA:

Cảnh sát mặc trang phục màu tối, trang bị súng ngắn và gậy trấn áp.

 CS17

10- ĐAN MẠCH:

Cảnh sát nước này phân biệt trang phục không những theo giới tính mà còn theo mùa trong năm, nhưng sắc đen là màu chủ đạo.

 CS18

11- MEXICO:

 CS19

12- HÀN QUỐC:

 CS20

13- NHẬT BẢN:

 CS21CS22

14- NGA:

 CS23CS24

15- HÀ LAN:

 CS25

16- UKRAINE:

 CS26

17-BỈ:

 CS27

18- JORDAN:

 CS28

19- TRUNG QUỐC:

 CS29

20- ẤN ĐỘ:

Ngay cả khi cảnh sát Ấn Độ có trang phục như sau:

 CS30

thì họ cũng sang nghiên cứu tại Sở Cảnh Sát New York Hoa Kỳ vì rất quan tâm đến kiểu trang phục mới này cho đúng với thế giới:

CS31CS32

D) Những Ý Kiến Đề Xuất

1) Quân Phục:

Trang phục của cảnh sát nên là màu đen hoặc xanh đen hay xám đen, phải nổi bật giữa đám đông. Đây không chỉ là lý do thẩm mỹ mà còn là yếu tố tâm lý vì rằng (a) chiến sĩ áo sậm rất nổi bật giữa đám đông nên có tác dụng dễ nhận diện bởi người dân có nhu cầu cứu giúp hoặc bởi kẻ định làm việc xấu khiến hắn có cái gọi là “second thought” tức chần chừ, chùn tay, suy nghĩ lại, không gây án, triệt tiêu một nguy cơ tiềm tàng cho một nạn nhân nào đó; (b) đồng thời màu đen có tính nghiêm khắc, dữ dội, tạo tâm lý sợ hãi nơi người nào định phạm tội; và (c) màu đen lạnh lùng khiến người vi phạm không thể nổi nóng manh động. Trang phục hiện nay của cảnh sát giao thông màu vàng rất (a) dễ hòa lẫn với cảnh quang chung của bụi bặm và nóng bức, (b) kém thẩm mỹ, (c) dễ gây tâm lý nóng bức nơi người vi phạm khiến có to tiếng hoặc manh động; còn trang phục công an màu xanh lá lại không tôn được sắc thái uy dũng rất cần có nơi lực lượng mà công việc quan trong nhất là trấn áp tiêu diệt tội phạm chứ không phải mang hào quang nhũn mềm của “bảo vệ nhân dân”. Chưa kể ngoài màu vàng kỳ dị gây cảm giác nóng bức bực bội tại một nước miền nhiệt đới ngày càng nóng bức hơn thì màu xanh của áo công an lại làm người nước ngoài hiểu lầm đó là chiến sĩ quân đội chứ không phải công an viên. Đâu cần phải sợ mang tiếng “bắt chước” màu đen của “tư bản” mà xài màu vàng nóng nực và đấu cần phải gán cho bằng được tính “nhân dân” để chế ra trang phục màu xanh lá đầy lẫn lộn.

2) Phương Tiện:

Phương tiện chủ yếu của cảnh sát giao thông Việt Nam là mô-tô do ô-tô cảnh sát ở Việt Nam không thể được dùng để truy bắt rượt đuổi đối tượng mà chỉ đùng để mở đường cho đoàn xe yếu nhân. Nhất thiết phải trang bị mỗi chiến sĩ một mô tô, chấm dứt nạn hai người đèo trên một mô-tô; đặc biệt mô-tô phải có lắp thiết bị ghi hình gắn phía trước mô-tô giống mô-tô cảnh sát Mỹ và các mô-tô đua giải quốc tế để truyền hình ảnh đối tượng (và số xe của phương tiện) đang bị rượt đuổi, nơi chốn đang rượt đuổi ngay về trung tâm để được trung tâm điều viện binh chận đầu đón bắt hoặc có băng hình làm bằng chứng bảo vệ chiến sĩ trong trường hợp chủ xe vi phạm ngừng phía trước trình giấy tờ sau đó nộp đơn vu cáo chiến sĩ đánh đập hay chìa tay nhận hối lộ.

Nếu chỉ vì lý do phòng chống tham nhũng mà phải cử hai chiến sĩ đi với nhau thì hai người trên hai chiếc mô tô lại càng tốt, nhất là trong việc cùng nhau rượt đuổi truy bắt tội phạm, mà vẫn giám sát nhau để tránh các hành vi tiêu cực.

Ở nước ngoài, người dân sử dụng xe mô tô đều phải dùng giày bốt chuyên dùng cho mô tô, mang leg cover bảo vệ đầu gối và cẳng chân, mang elbow cover để bảo vệ khuỷu tay, mang găng tay chuyên dùng để bảo vệ bàn tay nếu xảy ra té ngã. Cảnh sát giao thông Việt Nam sử dụng mô-tô thực hiện chức năng nguy hiểm của rượt đuổi truy bắt tội phạm mà lại ăn vận chỉ với áo ngắn tay, quần vải thường, giày tây cột dây bình thường như nhân viên văn phòng, mũ bảo hiểm thường, thì rõ là không đáp ứng đúng yêu cầu của nhà sản xuất mô-tô cảnh sát và công việc cảnh sát.

 CS33

3) Vũ Khí:

 CS34

Ngoài súng ngắn, cảnh sát giao thông Việt Nam còn được trang bị một gậy chỉ đường dường như bằng gỗ hay nhựa màu trắng bị tróc sơn nham nhở. Hơn hai mươi năm trước, thậm chí Việt Nam còn học theo Cộng Hòa Dân Chủ Đức trang bị dụng cụ như chiếc muỗng dài 25cm có kính nhựa tròn màu đỏ phản quang để chỉ đường, trong khi lẽ ra phải là gậy trấn áp bằng nhựa cứng màu đen như của cảnh sát Mỹ để tự vệ hữu hiệu (nắm thanh ngang để thanh dọc bảo vệ cánh tay khi đối tượng vung đao chém) và trấn áp đối tượng (đánh trọng thương để vô hiệu hóa đối tượng) hay để cứu người dân (đập cửa kiếng nhà bị hỏa hoạn, đập kính ô tô, v.v.). Cảnh sát Mỹ còn được trang bị đèn pin chiến thuật, tức là loại đèn nhỏ sử dụng hai pin điện tử tròn theo cơ chế hội tụ cao chỉ cần chiếu vào mắt đối tượng gây hấn là vô hiệu hóa hắn trong vài giây đủ để chiến sĩ áp sát tước vũ khí và còng tay bắt giữ.

4) Quy Định:

Ngay tại Anh Quốc vốn tự hào về sự uy nghiêm của cảnh sát đến độ trước đây không bao giờ mang vũ khí (kẻ phạm tội gặp cảnh sát chỉ còn nước cố chạy cho thoát, không dám đánh cảnh sát, càng không dám giết cảnh sát vì nếu có phạm tội gì đó tày trời cách mấy vẫn không sao chứ động đến cảnh sát là bị tử hình), ấy vậy mà hiện nay họ trang bị tận răng như minh họa ở trên, đồng thời với sự đe dọa từ tai họa khủng bố, họ đã có  “shoot to kill” cho phép bắn hạ ngay kẻ nào có hành vi tình nghi khủng bố để bảo vệ người dân vô tội ở gần đấy. Phim ảnh Holywood còn cho thấy cảnh sát Mỹ đánh đập phạm nhân ngoan cố để lấy khẩu cung. Việt Nam không theo kiểu “tự do” của Mỹ, chính vì vậy nhất thiết phải cẩn trọng với những biện pháp phòng vệ cực kỳ hữu hiệu để phạm nhân không thể lờn mặt pháp luật.

Ở Việt Nam không hiểu sao lại muốn cảnh sát công an là những “ông bụt”, khiến nhiều tên tội phạm lờn mặt, khai báo rồi phản cung, nói bị công an đánh đập ép cung, v.v., trong khi chỉ cần bổ sung máy quay phim lúc lấy cung để có bằng chứng bổ sung vào vụ án, vừa để kẻ cung khai không thể phản cung, vừa để bảo vệ nghiêm phép nước rằng điều tra viên đã không nhục mạ hay dùng nhục hình khi tra vấn phạm nhân. Ngoài ra còn cần xem lại các quy định kỳ lạ về sử dụng vũ khí (quy trình nhiều bước buộc phải theo trước khi nổ súng trực diện đối tượng).

E) Kết Luận: Thanh Bảo Kiếm Của Nhân Dân

Chiến sĩ công an là “thanh bảo kiếm của nhân dân”. Nhân dân dùng thanh bảo kiếm ấy để trấn áp, tiêu diệt kẻ gian. Nhân dân không dùng thanh kiếm ấy để lật từng trang sách tiểu thuyết hay quơ mạng nhện. Vì vậy, các chiến sĩ cảnh sát giao thông Hà Nội đã sai khi nói với phóng viên VTV rằng họ không phạt những trường hợp đi xe máy không đội mũ bảo hiểm mà chỉ nhắc nhở giáo dục người dân. Việc “giáo dục” bằng lời không phải là chức năng, nhiệm vụ của cảnh sát, công an. Vì làm sai chức năng nên họ khiến người dân lờn mặt, và cho đến ngày nay ở Hà Nội vẫn có bao người không đội mũ bảo hiểm, và đến phiên nhiều người ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng vin vào đó mà không đội mũ bảo hiểm. Việc giáo dục của cảnh sát công an dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng chỉ bao gồm việc truy bắt tiêu diệt kẻ gian và thực thi luật pháp. Tiêu diệt kẻ gian nhằm giáo dục người dân hoặc làm lành lánh dữ, hoặc chùn tay không dám gây án. Thực thi pháp luật để sử dụng các hình phạt luật định giáo dục người dân kiêng sợ phép nước.

Để thanh bảo kiếm ấy luôn sắc bén, nhất thiết phải thường xuyên mài dũa bằng thứ đá mài tốt nhất. Để lực lượng cảnh sát giao thông không trở thành sự đàm tiếu của quốc tế về tệ tham nhũng ở Việt Nam, nhất thiết phải có những tưởng thưởng thật cao cùng những biện pháp chế tài khắc nghiệt nhất. Tưởng thưởng bằng các chế độ chính sách dành thật nhiều vinh dự cho gia đình các chiến sĩ để trường hợp họ hy sinh hay thương tật thì ngay cả cha mẹ của họ, vợ hay chồng của họ cũng được nuôi dưỡng đầy đủ trọn đời, con cái của họ được chu cấp học hành theo khả năng và ưu tiên có việc làm phù hợp trong cơ quan công quyền, v.v.. Trừng trị thật nghiêm khắc khi chiến sĩ phạm tội, tước bỏ tất cả các chế độ chính sách của gia đình, và phạt tiền thật nặng hoặc tịch thu tài sản.

Để thanh bảo kiếm ấy đúng là bảo kiếm, nhất thiết phải có vỏ kiếm tuyệt hảo. Để cảnh sát/công an là thanh bảo kiếm, nhất thiết phải có các trang bị đầy đủ, trang bị hảo hạng, trang bị tối tân. Thiếu những trang bị này nghĩa là Nhà Nước đã không xem trọng người cánh sát/công an, và từ đó đã không xem trọng sự an nguy của người dân.

Khi một cô gái không được dạy dỗ nên người đã hung hãn tát vào mặt một cảnh sát giao thông, thanh bảo kiếm rõ là đã cùn nhụt. Khi một tên say (sau mới rõ là thanh tra viên) xông đến đánh một cảnh sát giao thông làm cảnh sát này lùi lại né vào nhà dân, thanh bảo kiếm rõ là đã cùn nhụt. Vậy cái trọng trách bảo vệ lương dân thì cảnh sát/công an có đảm nổi hay chăng? Người dân lương thiện sẽ yên tâm nếu thấy viên cảnh sát phản ứng nhanh nhẹn, quyết đoán chụp tay cô gái hung hãn ấy, bẻ quặt ra sau lưng và vừa còng vừa dõng dạc nói lớn cho mọi người nghe rằng cô ta đã phạm vào điều nào, luật nào, quyền lợi của cô ta sẽ như thế nào, rồi gọi công an địa phương hỗ trợ. Người dân lương thiện sẽ yên tâm nếu thấy viên cảnh sát phản ứng nhanh nhẹn, rút gậy trấn áp đánh gảy khúc côn của tên say, đánh mạnh vào chân để y khuỵu xuống nhằm vô hiệu hóa sự điên cuồng của y  trước khi bẻ quặt tay hắn ra sau rồi còng lại. Họ yên tâm vì tin rằng anh cảnh sát khống chế hữu hiệu một tên say điên cuồng ắt có khả năng vô hiệu hóa một tên côn đồ, một gã  khủng bố.

Chỉ cần ngành công an hiểu rõ ý nghĩa của “thanh bảo kiếm của nhân dân”, mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn với cộng đồng: Nhà Nước trang bị đầy đủ cho cảnh sát/công an không những về vũ trí, phương tiện mà còn về chính sách đãi ngộ; còn cảnh sát/công an thực hiện vai trò trừ gian, diệt bạo, thực thi pháp luật, xứng đáng với sự hy sinh của quân đội gian khổ ngoài hải đảo, biên cương, và sự kỳ vọng của người dân lương thiện.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 14-4-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về “Luật Biểu Tình” Bài 2: Vấn Đề Pháp Luật. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

Sự Mất Dạy Của Một Tên Ngoại Giao Đức

Em gái tôi và Helmut Kohl, Tôi và Sigurd Schmitt

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-01-2016

ái Nghe đâu có một thằng Đức phụ trách cái gọi là “nhân quyền” ở Đại Sứ Quán Đức lên tiếng yêu cầu Việt Nam phải thả ngay một ai đó là công dân Việt Nam bị bắt theo các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam.

Thằng ngoại giao Đức mất dạy này làm tôi nhớ đến hai người Đức đàng hoàng và một Tổng Lãnh Sự Quán Đức bầy hầy chẳng ra chi ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên em gái út của tôi trở thành giảng viên Đức Ngữ của trường đại học mà tiền thân là Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh khi chỉ mới học năm thứ hai do năng khiếu ngoại ngữ của em ấy. Là sinh viên, nhưng khi nghe tin bọn quốc xã đầu trọc kỳ thị chủng tộc ở Đức đã ra tay sát hại và đánh đập một số Việt Kiều, em tôi đã gởi thư cho Thủ Tướng Đức là Helmut Kohl để lên tiếng phản đối, yêu cầu Ông là Thủ Tướng một nước từng là cái nôi của nền triết học tư duy toàn nhân loại không được để cho những việc tồi tệ phi nhân như thế xảy ra và phải bảo vệ các công dân nhập cư trong đó có cộng đồng người Việt. Sau đó, Tổng Lảnh Sự Quán Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm đến ngôi nhà nhỏ cũ kỹ của Ba Má tôi ở Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, để trao “công hàm…cá nhân”. Đó là thư tay của Thủ Tướng Helmut Kohl, mà do em tôi giữ như báu vật trong tàng thư cá nhân nên tôi không thể có bản chụp để post lên đây hầu chứng tỏ tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Trong thư, Ông nói Ông không thể tưởng tượng rằng có thể nhận được một bức thư được viết bằng tiếng Đức tuyệt hảo như thế từ một người nước ngoài, rằng người nước ngoài ấy chỉ là một nữ sinh viên Đức Ngữ, rằng người nữ sinh viên ấy làm Ông xúc động vì lòng yêu giống nòi dân tộc của Cô dù Ông biết rằng những người Đức gốc Việt bị đánh đạp dã man đó chẳng ai ưa thích gì đất nước Việt Nam của Cô, rằng Ông cảm kích trước đánh giá cao của Cô đối với kho tàng trí tuệ của dân tộc Đức, và rằng Ông đã lịnh cho Đại Sứ Quán Đức ở Hà Nội phải đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào của em gái út của tôi, kể cả khi đó là yêu cầu sang Đức thăm Ông. Và khi Thủ Tướng Helmut Kohl sang thăm Thành phố Hồ Chí Minh, em gái tôi nhận được thư mời dự yến tiệc tại New World Hotel, trở thành “dân đen” duy nhất tại bửa tiệc chỉ có các quan chức Bộ Ngoại Giao và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Hôm đó, tôi chở em tôi bằng xe hai bánh và phải ngừng lại do cảnh sát chận đường toàn khu vực trong công tác bảo vệ yếu nhân, nên em tôi phải đi bộ một đoạn đường Lê Lai dài để đến New World Hotel vốn là nơi duy nhất đẳng cấp 5 sao vào thời điểm đó. Đây là sự việc mà báo chí hoàn toàn không biết đến. Cũng như việc tôi được nhà giáo lừng danh Nguyễn Quang Tô của Việt Nam Cộng Hòa viết khen tặng hai chữ đức tài mà tôi giữ kỹ như báu vật, chỉ khi bị bọn mất dạy tấn công bôi nhọ trên mạng, tôi mới buộc lòng phải trưng ra trên blog, nay trước sự mất dạy của thằng Đức ở Đại Sứ Quán Đức tôi mới phải kể lại chuyện này của em gái tôi. Nếu Đại Sứ Đức có ngờ vực về tính chính xác của thông tin trên, hãy kiểm tra lại tàng thư của Đại Sứ Quán để kiếm tìm “công hàm cá nhân” ấy của Thủ Tướng Helmut Kohl để biết thế nào là lễ độ, ngưng ngay mấy cái việc bá láp cứ như thể Đức là cường quốc muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì cứ việc có cái quyền đó vậy!

Ngoài ra, các nhân viên Đại Sứ Quán Đức tại Việt Nam nếu có khả năng Đức Ngữ tốt, hãy dịch bài sau đây ra tiếng Đức cho các quan chức Đại Sứ Quán biết là tôi, anh ruột của cô gái mà Helmut Kohl viết thư cảm ơn, đã từng mắng Tổng Lãnh Sự Quán Đức ở Thành phố Hồ Chí Minh ra sao.

Thêm Một Câu Chuyện Có Thật: Nhà Đầu Tư Tài Chính Sigurd Schmitt Tại Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Năm 1999 lúc đang làm giám đốc điều hành một công ty Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi hay đến Oasis Bar ở Super Bowl gần Sân bay Tân Sơn Nhất nhâm nhi thứ rượu tôi thích nhất trên đời là Vodka Nga với mấy doanh nhân Tây Âu (chủ nhân bar là một người Ý có chiếc bụng chứa đầy rượu bia). Tại đấy, tôi tình cờ quen Tiến Sĩ Sigurd Schmitt, người Đức, 66 tuổi, là giám đốc một công ty chứng khoán tại Thái Lan, có nhà và văn phòng tại số 337bis/12 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 13, Quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh (nay không rõ ở đâu, sau khi khu vực này được mở rộng theo đường Cộng Hòa quận Tân Bình). Và câu chuyện thương tâm có thật về Sigurd Schmitt, người không gặp đúng thời cơ, như sau.

Sigurd cô đơn vò võ một mình trên trái đất này, không còn ai thân thích. Đầu những năm 1990 nghe tin Việt Nam bắt đầu xây dựng thị trường chứng khoán, Sigurd vội vàng bán công ty của mình ở Bang Kok và vào Việt Nam, muốn trở thành nhà tài chính đầu tiên ngự trị thị trường chứng khoán tại đây với sự lão luyện, tinh tường, kinh nghiệm, và quá trình kinh doanh tài chính thành công ở Thái Lan. Ông đã cầu kỳ xây nhà tại địa chỉ trên với tất cả trang thiết bị hiện đại nhất mà thời ấy người Việt chỉ có thể thấy trên phim ảnh Holywood mà thôi. Lúc trên xe ô-tô đón tôi về nhà Ông dùng bửa tối, Ông dùng remote control từ ngoài đầu ngõ để mở cửa garage! Trong nhà Ông, mọi thứ đều bình thường, lạnh lùng, đơn điệu, không góc cạnh phá cách hay hoa văn, nhưng thật ngạc nhiên khi qua hồ sơ giao hàng kèm bản vẽ thiết kế, tôi tá hỏa tam tinh biết rằng chiếc ghế gỗ trông rất bình thường này là của một công ty tầm cỡ của Ý chế tác với giá CIF HCMC là 12.700 USD, chiếc bàn ăn nhỏ cũng bình thường nọ là của Tây Ban Nha với giá rẻ mạt 8.000 USD, còn toàn bộ gạch ống xây nhà được chở qua từ …Pháp, vân vân và vân vân. Sigurd cho tôi xem hồ sơ shipment của vật liệu và trang bị toàn ngôi nhà vì Ông đang kỳ vọng tôi, một … “đại gia” (thủa ấy chưa xuất hiện “đại gia” nào cả, trừ mấy tay khét tiếng bịp bợm kiểu Nước Hoa Thanh Hương) có uy tín rất cao trong giới doanh nhân tư bản thời ấy có thể mua lại hoặc giúp bán căn nhà xịn ấy của Ông. Cần nói thêm là Sigurd khi vào Việt Nam mua nhà và xây nhà đã nhờ một người Việt Nam ở Phan Rang đứng tên làm chủ.

Thế nhưng cuộc đời có những khúc quanh không phải lúc nào cũng cho thấy những cảnh tươi tắn xinh đẹp và rực rỡ hơn, và tia sáng cuối đường hầm có khi là bầu trời bao la xanh đẹp nhưng chỗ đứng của người bước ra từ đường hầm tăm tối lại là vực sâu muôn trượng, không cây cối, không dây leo, và người ấy chỉ còn lão đão trên mép vực trơn trợt rêu phủ phong sương không còn đuờng quay lại rồi rơi xuống vực thẳm của ngàn đời hư mất. Thị trường chứng khoán tại Việt Nam sau nhiều năm vẫn chưa thấy hình thành. Ông ăn dần vào tài sản đang có. Và nhiều cô gái chân dài (kể cả chân không dài chút nào) cũng giúp Ông thanh lý nhanh gọn cái tài sản kếch sù của Ông, để rồi khi gặp tôi, Ông chỉ còn căn nhà, đồ đạc, chiếc ô-tô, và sự đau yếu triền miên, với nợ nần bủa giăng tứ phía. Tôi phải dùng các mối quan hệ thân quen ra sức liên hệ với cộng đồng Việt Kiều ở San Jose, California, để nhờ đăng báo giới thiệu cho Ông bán nhà lấy tiền trả nợ về Đức chữa bệnh (Ông hút thuốc nhiều quá nên hầu như các huyết khối hiện diện khắp nơi, chẽn tắt sự lưu thông của máu, và Bác Sĩ Ngươn, Trưởng Khoa Thần Kinh Bệnh Viện Chợ Rẫy, nhân vật có tên trong bài Nhân Tài Y Khoa Miền Nam, cho tôi biết trong cuộc giải phẩu lần thứ tám đã phải luồn cắt một mạch máu hai bên hông của Sigurd để kéo nối xuống đầu gối vì đoạn chính giữa nghẹt cứng không còn lưu thông máu được để nuôi đôi chân).

Tôi cũng vì bản tính anh hùng Hoàng Ngọc Ẩn (nhân vật trong tiểu thuyết Châu Về Hợp Phố của Phú Đức, thời Việt Nam Cộng Hòa) muốn cứu Ông mà tìm đến một nữ tỷ phú ở đường Kỳ Đồng, Quận 3, TP.HCM, để dùng tài hùng biện cùng tính cách có nơi Phan An-Tống Ngọc của thời trung đại Trung Hoa lay động trái tim cứng rắn của người phụ nữ 40 tuổi ấy, cuối cùng trở nên nhân hậu đồng ý đình lại việc khởi kiện, cho Sigurd có thời gian 3 tháng bán nhà. Trở về nhà mệt nhoài vì công việc và vì buổi tối trò chuyện quá lâu với nữ tỷ phú địa ốc này, tôi lại nhận phone của anh Nhi là tài xế của Sigurd báo tin vừa chở Sigurd trở lại Chợ Rẫy và Sigurd đang thều thào muốn gặp tôi để giao phó chuyện cơ mật. Vì đã bao lần vào bệnh viện thăm Sigurd, tôi quá quen thuộc với bệnh tình của Sigurd (cấp cứu rồi ra viện chứ chẳng thể nặng hơn) nên bảo Nhi là ngày mai tôi sẽ đến. Nhưng vào lúc nửa đêm, Nhi phone báo tin Sigurd đã mất. Tôi vội đi taxi đến ngay nhà xác bệnh viện Chợ Rẫy trên đường Thuận Kiều. Nhìn hai nhân viên trung thành là Nhi và cô thư ký khóc lóc hôn lên gương mặt người chết giá lạnh trắng bệt hốc hác trong hộc tủ đựng xác, tôi vừa thấy rùng mình vừa thương cảm. Tôi gởi hai người một số tiền để họ xoay sở sống tạm trong thời gian vài tháng mất việc sắp tới, và một số tiền khác lo tống táng ma chay hoả thiêu cho Sigurd. Tôi không quên chi tiền cho người quản lý nhà xác, căn dặn Ông phải nhang đèn hoa quả giấy tiền vàng bạc cung phụng đầy đủ cho người quá cố, rồi ra về. Tôi phone ngay trong đêm đến Tổng Lãnh Sự Quán Đức nhưng không ai bắt máy (tất nhiên rồi), còn thư thoại thì xổ một tràng tiếng Đức. Tôi phải viết thông tin bằng tiếng Anh (kèm theo lời dạy nghiêm khắc đầy giận dữ bảo họ đừng có làm tàng đem cái chủng tộc thượng đẳng Arien vớ vẩn của họ ra hù thiên hạ mà phải biết nhập gia tùy tục, phải có dùng tiếng Việt, hoặc chí ít phải có tiếng Anh kèm theo để hướng dẫn thư thoại) rồi fax cho họ từ nhà của tôi.

Tôi đã không đưa Sigurd đến lò hoả táng vì tôi không thích kiểu bày tỏ cảm tình rơi nước mắt ở chốn đông người, nhất là gặp lại những bộ mặt lũ ký sinh mặc váy ngắn ngủn y như có áo không quần từng hay bâu vào bàn ăn của tôi và Sigurd ở Oasis Bar để được ăn uống nhồm nhoàm miễn phí và vòi vĩnh tiền của Sigurd để chạy bộ qua cửa hàng thời trang kế đó mua sắm (toàn đồ nam giới chắc để tặng mấy tên “bồ” trẻ). Vài ngày sau, anh Nhi đến nhà tôi cho hay Tổng Lãnh Sự Quán Đức khi nhận fax báo tin của tôi đã đổ quân ngay lập tức đến nhà Sigurd lấy tivi, máy móc, trang bị nhà bếp như máy rửa chén, đồ đạc, v.v. và đòi giấy chủ quyền nhà. Vì ở Việt Nam người nước ngoài không được làm chủ bất động sản, nên Sigurd có nhờ một người tên Thanh ở Phan Rang đứng tên làm chủ, do đó Tổng Lãnh Sự Quán Đức không làm gì được, chỉ có thể chở đồ đi không phải để trao lại cho người nhà vì Sigurd chẳng có ai thân thích trên đời. Họ cũng không …dại dột hỏi gì về chi phí an táng, dù họ biết rõ là công dân Đức Sigurd Schmitt qua đời mà chỉ có tôi là công dân Việt Nam cưu mang hậu sự cho Ông. Anh Nhi trao cho tôi chiếc đồng hồ Rolex nạm ngọc và chiếc máy ghi âm nhỏ xíu Sigurd đã trao cho Nhi nhờ đưa cho tôi vì tôi đã không đến gặp Ông. Tôi bảo Nhi và cô thư ký hãy bán đi chiếc đồng hồ giá trị cả gia tài ấy rồi hai người chia nhau để dùng trong thời gian đi tìm công việc mới. Còn chiếc máy ghi âm thì để tôi nghe xem ông dặn dò gì trong phút lâm chung, nhưng tiếc là tiếng Anh của Ông bình thường nghe đã khó, nay lại thều thào, khản đặc, và thở thoi thóp thì tôi chịu thua. Tôi bảo anh Nhi bán luôn chiếc máy, nhưng anh bảo Sigurd trăn trối với cô thư ký muốn tặng tài sản gì đó cho tôi vì tôi đã là người bạn mà Ông tiếc đã gặp quá muộn màng trong cuộc sống này song định mạng cản ngăn Ông không còn kịp làm gì nữa. Thế nên hai người trung tín này muốn trao lại tôi hai vật duy nhất trên mà họ còn cất giữ trước khi thấy quân đoàn dũng mãnh của Tổng Lãnh Sự Quán Đức tiến đến. Do tôi quyết tặng lại họ món đồ quá đắt tiền nên họ xin tôi hãy giữ chiếc máy ghi âm để tôi còn chút kỷ vật của người đã khuất. Tôi nghe theo ý của mấy nhân viên này và đến nay vẫn còn giữ chiếc máy ghi âm nhỏ xíu cùng cuộn băng nhỏ xíu có ghi lời thì thào nhỏ xíu của Tiến sĩ Sigurd Schmitt.

Mấy tuần sau là thời gian cực nhọc của tôi vì anh Thanh đứng tên chủ nhà, nghiễm nhiên thành chủ của tòa nhà hàng triệu đô-la đó, liên tục phone hỏi xem tôi có muốn mua căn nhà ấy không vì anh ta sẽ để lại với giá phải chăng. Tất nhiên, tôi từ chối mua, chỉ yêu cầu anh hãy hứa rằng khi bán được nhà sẽ trả nợ (và lãi) cho vị nữ tỷ phú kia để Ông Sigurd không ra đi như một con nợ trốn tránh chủ nợ và để tôi có thể đường hoàng gặp lại người phụ nữ đẹp người đẹp tính đó; đồng thời phải giúp luôn anh Nhi cùng cô thư ký mỗi người vài tháng lương để họ đỡ vất vả vì sau gần mười năm tận tụy làm việc cho Sigurd, họ lại phải đi tìm việc mới nuôi cả gia đình. Hy vọng anh Thanh thừa hưởng một gia sản khổng lồ tự trên trời rơi xuống là do anh là người nhân hậu và tổ tiên của anh thật dồi dào phúc đức, nên anh sẽ làm thêm nhiều điều phước thiện khác cho xã hội.

Thế đấy các bạn, có khi một lúc nào đó định mạng dun rủi cho ta gặp người tri kỷ, và niềm vui nhỏ bé nơi người lại là sự tự hào đã làm hết sức mình để cưu mang một người bất hạnh lạ xa. Hiện anh Nhi (số phone trước đây là 8425554) và cô thư ký đã có việc làm ở hai đơn vị khác nhau. Thỉnh thoảng họ phone hỏi thăm sức khỏe của tôi khi tôi chưa thay các số phone mới, và chỉ những lúc ấy, ông lão người Đức gầy gò nghiêm nghị khắc khổ, tiến sĩ Sigurd Schmitt, con người vô phúc trên đường sự nghiệp đã chọn Việt Nam gởi nắm xương tàn với tư cách một người hữu phúc khi có sự tâm giao với một người bạn Việt Nam đầu tiên và cuối cùng, mới lại là bóng ma hiện về từ quá khứ .

Hoàng Hữu Phước, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

*******

Nào có ra chi mấy thằng nhãi ranh mất dạy hậu duệ của Adolf Hitler! Tư cách gì nói về nhân quyền hỡi bọn đã đưa hàng triệu người Do Thái vào lò thiêu và hơi ngạt!

 Hitler (3)

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước: 

Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân

(Bài thứ 7 trong chuỗi 10 bài tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021)

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII

28-12-2015 (bài viết thứ 30 trong tháng 12-2015)

Tiếp theo mạch 6 bài [1] [2] [3] [4] [5] [6] đã viết phục vụ người dân muốn hiểu thấu đáo về sinh hoạt ở Quốc Hội và đặc biệt phục vụ các công dân – nhất là người ngoài Đảng – có mong muốn tự ra ứng cử Quốc Hội kể từ Khóa XIV (2016-2021) trở đi, hôm nay tôi xin khẩn trương nói về những vấn đề các bạn cần biết khi phải đối phó với sự xơ cứng vô cảm của chức sắc xử lý đơn thư khiếu tố của người dân vì tính cấp bách của thời gian sắp đến kỳ bầu cử Quốc Hội đầu năm 2016.

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII Nguyễn Thị Quyết Tâm, đương kim Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Tân Phó Bí Thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh, là nhân vật quan trọng mà mỗi lời Bà thốt ra tại các buổi họp Tổ ở Quốc Hội hay tại các buổi họp toàn thể tại Hội trường Quốc hội có trực tiếp truyền hình luôn luôn được các phóng viên báo đài của Thành phố Hồ Chí Minh ghi hình ghi phim ghi nhận ghi âm ghi chép đủ đầy ắt có thể theo các ghi chú tác nghiệp dạng chỉ thị đã nhận được, dù cho chẳng biết có ai ghi lòng tạc dạ hay không, và dù cho các phát biểu ấy bình thường, chẳng có giá trị gì trong thực tiễn dựng xây đất nước hùng cường, Thành phố Hồ Chí Minh hùng mạnh, nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh an vui, nhân dân cả nước ấm no hạnh phúc. Đã vậy, trong suốt nhiệm kỳ XIII (2011-2016) Bà luôn bị – dù cho bởi chỉ một người dân – cáo buộc đã không thèm trả lời núi hồ sơ khiếu tố của người ấy dù chỉ một lần, và cũng không cho biết bằng văn bản lý do vì sao Bà quyết tâm không cho người dân ấy được gặp trực tiếp để giải bày dù người dân ấy cũng quyết tâm phải gặp Bà cho bằng được. Bà đã nêu gương cực kỳ xấu khiến người dưới Bà là Ông Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy Viên Trung Ương Đảng, Ủy Viên Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh, cũng noi theo để quyết tâm không trả lời thư cũng như quyết tâm không cho người dân ấy được diện kiến, thậm chí cũng quyết tâm không thèm phúc đáp các thư mà Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước chuyển các khiếu tố của người dân đến Ông trong suốt nhiệm kỳ của Ông. Vậy thì khi bạn là một Đại biểu Quốc hội thuộc diện ngoài Đảng, ứng cử viên tự do, không thuộc đội ngũ quyền lực trong hệ thống hành chính công quyền nên bị các chức sắc địa phương, kể cả chức sắc địa phương cùng là Đại biểu Quốc hội với bạn trong Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh khinh thường, xem thường, thậm chí có khi ra oai quyền lực để ngăn chặn các phát biểu của bạn ngay tại các buổi thảo luận Tổ hay họp Tổ Đại biểu Quốc hội trong kỳ họp Quốc Hội tại Hà Nội thì bạn phải làm sao để thực sự giúp nước, thực sự cứu dân? Chính những người hành xử giống như Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm và Ông Lê Hoàng Quân mà còn tồn tại quá nhiều những vụ khiếu tố của người dân kéo dài qua hai thế kỷ và bạn phải làm gì để triệt tiêu các mối họa này cho đất nước và dân tộc?

Điều khó khăn tiếp theo là khi bạn ấn nút đăng ký chất vấn tại nghị trường Quốc Hội, bạn có khi sẽ phải ấn nút hủy đăng ký ấy. Khi tôi ấn nút đăng ký chất vấn Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình, thì vào giờ giải lao Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh là Huỳnh Ngọc Ánh, Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh, đeo theo tôi để hỏi tôi định chất vấn gì vị “sếp” của đại biểu Ánh ấy. Tất nhiên, tôi không bao giờ – xin nhắc lại là “không bao giờ” – tiết lộ trước cho bất kỳ ai – xin nhắc lại là “bất kỳ ai” – biết nội dung sắp phát biểu của tôi, nên tôi lập tức nói xạo một nội dung cỏn con. Và đại biểu Ánh ấy đã khuyên tôi đừng chất vấn vì việc ấy “cỏn con”. Để chứng tỏ mình không nói xạo lừa gạt Đại biểu Ánh ấy, tôi sau đó vào hội trường nhấn nút hủy đăng ký thật. Tất nhiên, các vấn đề quan trọng thì tôi tốt hơn nên viết thành văn bản gởi trực tiếp cho vị đại quan có liên quan chứ chẳng quan tâm tranh giành nhấn nút để chỉ có 7 phút phát biểu cỏn con mà nội dung thì chẳng có nhà báo nào quan tâm chuyển tải cho nhân dân biết làm gì vì còn lo chầu chực đợi chờ lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu để khỏi bị quở trách.

Tôi đã bảo vệ người dân trên tinh thần công chính liêm minh của người bảo vệ, bảo vệ sự nghiêm minh của luật pháp vì bản thân là nhà lập hiến và lập pháp, và trên cơ sở các bằng chứng cụ thể, đã làm những việc chưa có tiền lệ sau. Nhưng trước hết, tôi cần nói rõ ràng rằng những cái tên như Hoàng Hữu Nghĩa, nguyên Giám Đốc Sở Điện Lực Thành phố Hồ Chí Minh, hay Hoàng Hữu Hiệp là nhà báo và là đương đơn của những vụ khiếu tố kéo dài hàng chục năm nay ở Thành phố Hồ Chí Minh, hay bất kỳ ông Hoàng Hữu nổi đình nổi đám nào khác mà giới báo chí truyền thông và không gian mạng biết đến đều không phải là người nhà, người thân, người bạn, người quen của tôi (hay của bất kỳ ai trong đại gia đình của tôi) mà đơn giản chỉ là người dân của tôi.

Bịnh Hợp Pháp:

Bịnh hợp pháp là căn bịnh dựa vào hai chủng loài vắc-xin được cấp phép là (a) không xem xét do người khiếu kiện không trưng thêm tình tiết gì mới, và (b) không xem xét vì đã có kết luận hoặc đã có quyết định. Vì được cấp phép, nên các lời phán hay hành xử trên hoàn toàn không sai về mặt pháp lý. Nhưng cái quái gở ở đây là (a) liệu có mặc định luật pháp rằng tình tiết mới phải chỉ do bản thân người khiếu tố cung cấp, (b) liệu việc xử theo tình tiết đã có thì có đã tuyệt đối đúng chưa, và (c) liệu các kết luận hay quyết định có đã hoàn toàn chính xác chưa. Nếu đã đúng, đã chính xác, thì sao có các vụ án oan mà vụ Huỳnh Văn Nén là vụ mới nhất. Nếu đã đúng, đã chính xác, thì lãnh đạo cơ quan hành chính công quyền sao lại không dám đối thoại theo đơn yêu cầu gặp mặt trực tiếp của người khiếu tố để dùng sức mạnh công chính nghiêm minh của luật pháp mà nói thẳng vào mặt (và sau đó là gởi biên bản cho) người dân ấy rằng người ấy đã sai, hoàn toàn sai. Việc tránh né đối thoại, chỉ vin vào hai loại vắc-xin-được-cấp-phép đó, thì dù muốn dù không cũng đóng góp dâng tặng kẻ thù của chế độ ba cơ hội quý hơn vàng sau:

1- Chính quyền của dân, do dân, vì dân, nhưng đã né tránh dân trong những vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, không dám gặp dân trong những vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, không thèm trò chuyện với dân trong những vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, không thèm trả lời dân bằng văn bản mà không sử dụng đến hai loài vắc-xin-được-cấp-phép trong những vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, luôn đùn đẩy những vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài cho các chức sắc nắm quyền của các nhiệm kỳ sau để giúp làm rõ hơn nội hàm ý nghĩa từ vựng của phức tạp kéo dài.

2- Chính quyền của dân, do dân, vì dân, nhưng đã sử dụng cách hành xử né tránh và đẩy đùn như nêu ở điểm 1 trên ắt do nội tình của các vụ khiếu tố có liên quan đến sự tắc trách của một hay nhiều vị lãnh đạo nào đó của Thành phố Hồ Chí Minh mà các vị ấy về sau đã trở thành lãnh đạo cao cấp của quốc gia và đã nghĩ hưu.

3- Chính quyền của dân, do dân, vì dân, nhưng đã sử dụng cách hành xử né tránh và đẩy đùn như nêu ở điểm 1 và 2 nêu trên ắt muốn chờ cho thời gian làm nhụt chí người khiếu kiện, hoặc thời gian biến người khiếu kiện thành người thiên cổ, giúp mọi sự tự động hóa bùn.

Để giúp nước giúp dân, tôi đã đề xuất đến các lãnh đạo các cách giải quyết, chẳng hạn đối với công dân Hoàng Hữu Hiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh, người đã hàng chục năm nay gởi nhiều trăm ký hồ sơ đến các lãnh đạo các cơ quan công quyền từ trung ương đến địa phương, thay vì đơn giản và ngắn gọn viết cái gọi là “phiếu chuyển”, tôi đã gởi công văn vào tháng 7 năm 2013 đến Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình, có nội dung chính sau:

***

… Trong buổi tiếp công dân ngày 17-7-2013 tại văn phòng đoàn Đại biểu Quốc hội Tp.Hồ Chí Minh, tôi có tiếp Ông Hoàng Hữu Hiệp, địa chỉ liên lạc số 207/7 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 8, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, và nhận Đơn Tố Cáo của Ông Hiệp ký ngày 17-7-2013 được đính kèm theo công văn này.

Ông Hoàng Hữu Hiệp là người trong nhiều năm qua đã liên tục gởi các đơn khiếu nại/tố cáo đến lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo chính phủ, lãnh đạo quốc hội, và lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, v.v., với nội dung liên quan đến việc giải quyết tranh chấp chủ quyền những căn nhà và khu đất ở Thành phố Hồ Chi Minh và Tỉnh Đồng Nai, việc tố cáo tiêu cực, và việc tố giác tham nhũng;

Tôi nhận thấy:

1) Một số báo chí nhiều năm nay đăng tải nhiều bài viết về những khiếu nại/tố cáo của Ông Hoàng Hữu Hiệp, có thể gây hoang mang trong nhân dân, và không thể không có sự lợi dụng khai thác của các thế lực thù địch chống phá chế độ nhà nước ta.

2) Những giải quyết của các cơ quan chức năng đối với các khiếu nại/tố cáo của Ông Hoàng Hữu Hiệp tuy đúng với các quy định pháp luật hiện hành dành cho cơ quan tiếp nhận đơn thư và xử lý đơn thư, nhưng vẫn không thể buộc Ông Hoàng Hữu Hiệp – cũng như nhiều công dân khác – không sử dụng những quy định pháp luật hiện hành dành cho người gởi đơn thư khiếu nại/tố cáo, dẫn đến thực tế là Ông Hoàng Hữu Hiệp – cũng như nhiều công dân khác – tiếp tục khiếu nại/tố cáo nhiều năm nay, khiến lãnh đạo nhiều cơ quan và nhiều đại biểu quốc hội nhiều khóa phải dành nhiều thời gian để tiếp xúc, lắng nghe, chuyển đơn, đôn đốc, làm hao phí nguồn lực của các cơ quan và tổn hại đến uy danh của nhà nước.

3) Ngoài ra, Ông Hoàng Hữu Hiệp còn sử dụng quyền công dân pháp định khi nêu nguyện vọng được gặp Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao để trình bày về các nội dung khiếu nại/tố cáo mà Ông Hiệp chưa đồng thuận với các cách xử lý, nhưng từ năm 2009 đến nay không những vẫn chưa được chấp thuận mà vẫn không nhận được văn bản trả lời giải thích lý do vì sao Ông Hiệp không được gặp Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao.

Trước thực trạng và tình hình nêu trên, tôi xin đề nghị như sau:

1) Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao dành thời gian bất kỳ vào ngày nào trong hai tháng còn lại của Quý III năm 2013 cho đến trước ngày khai mạc Kỳ họp 6, Quốc hội Khóa XIII, tại bất kỳ địa phương nào thuận tiện cho lịch công tác của Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, để công dân Hoàng Hữu Hiệp được gặp trực tiếp để trình bày các bức xúc đối với các nội dung có liên quan đã nêu trên. Tôi sẽ cùng có mặt với công dân Hoàng Hữu Hiệp trong buổi tiếp xúc này.

2) Với trách nhiệm Đại biểu Quốc hội, tôi sẽ yêu cầu công dân Hoàng Hữu Hiệp (a) cam đoan không được để sự bức xúc cá nhân gây ra các hành vi không thích hợp tại buổi tiếp xúc như nói lớn tiếng giận dữ gây mất trật tự, phát ngôn xúc phạm Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao; trình bày sự việc trong thời gian hạn định – nếu có; lắng nghe và tôn trọng các ý kiến trả lời của Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao; (b) chấp nhận vô điều kiện rằng sẽ không tiếp tục khiếu nại/tố cáo hay phản ảnh trên các phương tiện truyền thông đại chúng kể cả trên blog cá nhân đối với những nội dung này nếu để xảy ra các hành vi như nói lớn tiếng giận dữ gây mất trật tự hay phát ngôn xúc phạm Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao; (c) chấm dứt tiếp tục gởi các đơn thư khiếu nại/khiếu tố có cùng nội dung đến các cơ quan nếu Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao có các tài liệu hay bằng chứng hay luận điểm chứng minh các nội dung khiếu nại/tố cáo ấy không có cơ sở để tiếp tục xem xét; và (d) sau buổi tiếp xúc này chỉ được gởi tiếp đơn thư khiếu nại/khiếu tố cho Tòa Án Nhân Dân Tối Cao với các tài liệu mới về nội dung hay những nội dung nào chưa thể đồng thuận với Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao tại buổi tiếp xúc để Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao tiếp tục xem xét giải quyết….

***

Tất nhiên, cho đến nay là ngày 28 tháng 12 năm 2015, tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ văn bản trả lời nào của Ông Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình, người đã bận rộn không thể phúc đáp ắt cho rằng tôi chỉ có dăm ba người dân ủng hộ tìm đến cậy nhờ, chỉ có thẻ Đại biểu Quốc hội chứ không có thẻ Đảng, chỉ là con số không trong hệ thống công quyền của chính phủ.

Đối với những trường hợp khác, tôi còn giúp người dân (như Cụ Lý Vĩnh Bá trên 90 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh khiếu nại việc vụ án mà Cụ là nguyên đơn đã bị ngâm nhiều năm bởi Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh, hay như Bà Hồ Thị Kim Chung ở Hà Nội khiếu tố vụ sát hại em trai của Bà nhiều chục năm trước mà kẻ thủ ác vẫn đang sống an nhàn hợp pháp, v.v.) viết lại đơn khiếu tố cho có sức mạnh tập trung, hướng dẫn gởi cho đúng nơi đúng người; thậm chí viết thêm thư tay cho lãnh đạo cơ quan chức năng để yêu cầu sớm xem xét, đừng để kéo dài hơn; có trường hợp áy náy do người dân nghèo ở xa mà hồ sơ lại vừa dày cộm vừa không đạt yêu cầu tôi đã đề nghị sẽ gởi tiền phụ chi phí in ấn cùng chi phí gởi bảo đảm bưu điện bộ mới cho tôi – nhưng tất cả đều chỉ mong tôi giúp cho một việc duy nhất là: để các khiếu tố của họ được lắng nghe chứ dứt khoát không nhận hỗ trợ chi phí vì sợ tôi bị mang tiếng này nọ rồi bị báo chí tấn công. Tất nhiên, không vị đại quan nào phúc đáp tôi, vì tôi là Đại biểu Quốc hội mà họ biết quá rõ là không thuộc hệ thống quyền lực của họ.

Khi nói đến người dân, tôi không ám chỉ rằng các quan chức không phải là người dân, nên khi một quan chức nào đó cầu cứu tôi, thì sau khi nghiên cứu hồ sơ nếu thấy có cơ sở để tin đó là án oan tôi đã gởi ngay thư kiến nghị thí dụ như trường hợp sau:

 Khieu Nai (4a)

Ngay cả đối những khiếu nại đã mất thời gian tính nhưng người dân vẫn kiên trì khiếu nại, tôi vẫn tích cực nghiên cứu vụ việc cùng tài liệu rôi viết kiến nghị để bảo vệ sự nghiêm minh của luật pháp, chẳng hạn trong thí dụ sau tôi đã nêu luôn cái sai của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh:

 Khieu Nai (1a)

Tôn trọng luật pháp, tôi tuy ra sức kiến nghị giải pháp cho các khiếu tố thí dụ như của công dân Hoàng Hữu Hiệp, vẫn soạn văn bản trả lời như sau gởi công dân này để giải thích rõ, khi thấy đơn khiếu tố mới của công dân này không đúng theo yêu cầu luật pháp:

 Khieu Nai (3a)Khieu Nai (2a)

Ngay cả khi “người dân” ở đây là một chủ thể “pháp nhân” như Trường Đại Học Hoa Sen, khi thấy Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã sai do đã rất máy móc xơ cứng diễn giải thông tư hay nghị định có liên quan của năm 2005, bất kể tính “bất hồi tố” của luật pháp, để năm nay 2015 lại ra văn bản không công nhận tính cách hoạt động phi lợi nhuận của trường dù trường đã theo tôn chỉ này suốt 25 năm qua kể cả khi trở thành trường đại học hơn 10 năm qua như đã ghi rõ trong điều lệ hoạt động cùng cáo bạch của trường, tôi đã gởi công văn đến Thủ Tướng thỉnh cầu xem xét và chuẩn thuận cho Đại Học Hoa Sen tiếp tục hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận để không gây bất lợi cho trường, đặc biệt quan tâm đến tính bất hồi tố của luật pháp nếu điều kiện mới lại gây bất lợi cho đối tượng của sự điều chỉnh luật pháp.

Cách Chữa Bịnh:

Sau thời gian dài theo dõi, nghiên cứu cách hành xử và làm việc của các cơ quan công quyền, tôi đã biết cách để vì dân mà chữa chứng bịnh xơ cứng vô cảm của lãnh đạo các cơ quan này, dù ở trung ương hay địa phương, qua bốn bước tuần tự như sau mà chưa từng có tiền lệ tại Quốc Hội Việt Nam:

1- Tăng cường viết blog (như đã bắt đầu trong nhiều năm qua) để hướng dẫn người dân trong khiếu nại, tố cáo;

2- Tăng cường viết blog chuyển giao kinh nghiệm (như đã bắt đầu trong hai năm qua) cho người dân nào muốn trở thành các đại biểu dân cử thuộc diện tự ứng cử;

3- Nêu danh tính của các đại quan và tài liệu thật có liên quan (như đã bắt đầu từ tháng 12 năm 2015) để chứng minh không có bất kỳ rào cản quyền lực nào và không bất kỳ ai được phép vô cảm vô tâm trước các bức xúc của người dân; và

4- Tiếp tục thể hiện thực quyền và thực uy của một Đại biểu Quốc hội của dân, do dân, và vì dân trong việc sẽ bắt buộc các cơ quan công quyền phải nghiêm chỉnh phúc đáp ngay các công văn của Đại biểu Quốc hội “tự ứng cử” gởi đến, nếu không muốn bị Đại biểu Quốc hội ấy (a) nêu tên và sự việc trên blog cá nhân của Đại biểu Quốc hội “tự ứng cử” này, và (b) kiên trì kiến nghị với lãnh đạo cấp cao hơn bãi nhiệm quan chức nào dám quên phúc đáp Đại biểu Quốc hội “tự ứng cử” ấy.

Đúc Kết:

Qua bài viết trên, các bạn có thể thấy công việc một đại biểu dân cử của một người tự ứng cử sẽ gặp rất nhiều khó khăn, mà những khó khăn ấy tôi đã giúp các bạn qua đúc kết sau:

1- Phải hết lòng vì nước, vì dân, vì sự công chính liêm minh; phải biết lo trước cái lo của người dân;

2- Phải hình thành một tập thể (không phải “phe nhóm”) các Đại biểu Quốc hội thuộc diện “tự ứng cử’ để không bị lạc lõng, bị vô hiệu hóa, bị áp chế, giữa tập thể Đoàn Đại biểu Quốc hội toàn là các chức sắc cao cấp vốn đã luôn luôn tự động hình thành một “tập thể” khác (không phải “phe nhóm”) trong bản thân Đoàn Đại biểu Quốc hội;

3- Phải tích cực viết blog để tự tin, minh bạch, trước nhân dân rằng bạn là người có tri thức, có dũng tâm, và có nhiệt tình vì Đảng, vì Nước, vì Dân;

4- Phải chứng tỏ các bạn có khả năng quản trị thời gian (time management) để công tác toàn thời gian tại các kỳ họp Quốc Hội – trừ phi phải vắng vì lý do sức khỏe có xin phép đủ đầy theo quy định – để bạn không như các Đại biểu Quốc hội chức sắc khác thường phải trở về địa phương để họp hành khiến Chủ Tịch Quốc Hội luôn phải than phiền trong mỗi kỳ họp;

5- Phải chứng tỏ bạn nhận thức đủ đầy thế nào là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của chính nghĩa, qua việc thể hiện thực quyền và thực uy của một nghị sĩ mà chính người dân đã tín thác quyền uy vào bạn, đưa bạn vào Quốc Hội để bạn phục vụ đất nước, phục vụ dân tộc;

6- Nên nhận thức rằng chính cách làm việc theo luật định một cách xơ cứng vô cảm vô tâm (chỉ ký công văn “chuyển” để đẩy tiếp sự việc qua nơi khác) mà cho đến nay cuối Quốc Hội Khóa XIII rồi vẫn tồn tại các khiếu tố kéo dài nhiều Khóa Quốc Hội chưa thể giải quyết được; và

7- Nên liên lạc với tôi để có sự hỗ trợ, tư vấn, động viên, cần thiết trong việc tham chính của các bạn tại cơ quan quyền lực cao nhất của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, vì tôi là Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp (không phải chuyên trách vì “chuyên trách” chỉ có nghĩa có hưởng lương hưởng phúc lợi tương đương hàm thứ trưởng hay cục trưởng, chứ không tự động mang nghĩa “chuyên nghiệp”) và dày dạn kinh nghiệm đối phó với các vấn nạn rất có thể sẽ còn mất nhiều thời gian mới giải quyết được.

Chúc các bạn thành công. Tất cả vì Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, vì dân tộc Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sĩ Quốc-Hội nước Cộng-Hòa Xã-Hội-Chủ-Nghĩa Việt-Nam Khóa XIII (2011-2016)

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-12-2014. Bài Số 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/21/ra-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi/

[2] Hoàng Hữu Phước. 24-12-2014. Bài Số 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/24/phat-bieu-tai-nghi-truong-viet-nam/

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-01-2015. Bài số 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/20/cach-soan-bai-phat-bieu-va-thuc-hien-viec-phat-bieu-tai-quoc-hoi-viet-nam/

[4] Hoàng Hữu Phước. 05-02-2015. Bài số 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/05/nhung-van-de-gap-phai-trong-sinh-hoat-doan-dai-bieu-quoc-hoi/

[5] Hoàng Hữu Phước. 24-02-2015. Bài số 5: Xử Lý‎ Đơn Thư Khiếu Nại – Tố Cáo Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/24/xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

[6] Hoàng Hữu Phước. 26-12-2015. Bài số 6: Đối Phó Với Bọn Nhà Báo “Hai Mang”

Kính mời tham khảo thêm:

Hoàng Hữu Phước. 17-9-2014. Hành Trang Nghị Sĩ.

Hoàng Hữu Phước. 22-11-2013. Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

Hoàng Hữu Phước. 24-02-2015. Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân.

Hoàng Hữu Phước. 06-12-2015. Huỳnh Văn Nén.

Hoàng Hữu Phước. 13-12-2015. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Trả Lời Các Câu Hỏi Của Người Dân.

Hoàng Hữu Phước. 16-12-2015. Nhân Sự Lãnh Đạo “Tứ Trụ Triều Đình” Tại Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XII

Đối Phó Với Đám Nhà Báo “Hai Mang”

(Bài thứ 6 trong chuỗi bài tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021)

Hoàng Hữu Phước, MIB, Nghị Sĩ Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII

 Baochi1

Tiếp theo mạch 5 bài [1] [2] [3] [4] [5] đã viết phục vụ người dân muốn hiểu thấu đáo về sinh hoạt ở Quốc Hội và đặc biệt phục vụ các công dân – nhất là người ngoài Đảng – có mong muốn tự ra ứng cử Quốc Hội kể từ Khóa XIV (2016-2021) trở đi, hôm nay tôi xin khẩn trương nói tiếp về những vấn đề các bạn cần biết khi phải đối phó với đám nhà báohai mang” vì tính cấp bách của thời gian do đã cận kề kỳ bầu cử.

Như đã viết trong bài Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc[6], tôi đã phát biểu khẳng định rằng “ở Việt Nam, toàn bộ những gì là cơ quan ngôn luận chính thống đều là của Nhà Nước Việt Nam”; rằng “nguồn lực về tài chính, cơ sở hạ tầng và nhân lực do đó đều là của Nhà Nước ban cho, tức là từ ngân sách nhà nước, mà ngân sách có từ Tam Quốc: tiền kinh doanh sinh lợi của quốc gia, tiền thuế thu của quốc dân, và tiền vay của quốc tế, mà tiền vay của quốc tế cũng được hoàn trả bằng tiền kinh doanh sinh lợi của quốc gia, tiền thuế thu của quốc dân, và tiền vay của quốc tế…khác”; rằng “nhà báo chính thống chính quy chính đạo chính danh chính nghĩa của Việt Nam phải nói về những sự thật có tác dụng làm đẹp đời sống, đẹp môi trường sống, vinh danh đạo đức – danh dự – trách nhiệm, phổ biến phổ quát phổ cập nhân rộng nhân bản nhân văn nhân đạo để xã hội tốt hơn nhờ con người tốt hơn giúp đất nước mạnh hơn chống chọi lại tất cả các thế lực thù địch một cách hiệu quả hơn bất kể nó đến từ đâu, từ quân thù xâm lược, từ bọn phá hoại từ hải ngoại, từ kẻ chống lại chế độ của đất nước này, từ bọn bá láp bêu xấu đất nước này, từ đám tham nhũng hối lộ làm ô danh đất nước này, từ lũ lưu manh đội lốt tôn giáo – nhân sĩ – trí thức – nhân quyền – tự do – dân chủ – lương tâm để bôi nhọ đất nước này; và rằng “nhà báo Việt Nam đương nhiên phải là những nhà báo chính thống chính quy chính đạo chính danh chính nghĩa, …không phải là những chuyên gia sales giúp tòa soạn mở rộng phụ trang quảng cáo, gia tăng doanh thu quảng cáo, gia tăng 3D tức chiều rộng chiều sâu và chiều cao của duy chỉ tòa nhà tòa soạn chứ không gia tăng chiều rộng chiều sâu và chiều cao của tầm vóc uy thế uy danh của tờ báo đối với toàn dân và toàn cầu.”

Lý tưởng luôn là vậy.

Thực tế luôn ngược lại.

Bọn nhà báo hai mang đã phát triển thứ tư duy nha phiến rằng báo chí là thứ quyền lực tối cao tức cái thứ mà thế giới truyền thông tư bản lập thành đế chế mafia-like khuynh đảo cả chính quyền – bất kể thể chế chính trị nào, tức kể cả chế độ cộng sản – và chính sách quốc gia – bất kể quốc gia nào, tức kể cả nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tại Kỳ họp Thứ 2 của Quốc Hội Khóa XIII vào tháng 11-2011, thành công vang dội của bài phát biểu của tôi về Luật Biểu Tình [7] ngăn chặn được sự sa đà hấp ta hấp tấp vô nghĩa lý và cực kỳ thiếu thận trọng của đề nghị soạn thảo dự án luật Biểu Tình đã làm hội trường Quốc Hội rền vang tiếng vỗ tay tán thưởng của hơn 490 Đại biểu Quốc hội, một việc chưa hề có tiền lệ bất kỳ tại kỳ họp toàn thể nào của Quốc Hội Việt Nam từ ngày lập quốc, và nhiều nghị sĩ tướng lĩnh đã đến chào tôi theo nghi thức trang trọng của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, bọn hai mang trong các tòa soạn báo chí đã ngay lập tức lờ đi sự hân hoan ngập tràn Quốc Hội trong thời khắc lịch sử ấy để sáng tạo ngay kiểu “giật tít” vu cáo theo kiểu mất dạy côn đồ lưu manh rằng tôi miệt thị nhân dân Việt Nam có “dân trí thấp” [8] trên Báo Tuổi Trẻ (và ngay sau đó là thế giới hai mang tại “một bộ phận không nhỏ chẳng có tí chút đạo đức nghề nghiệp” của một số tờ báo ở Việt Nam cùng hòa âm điền dã theo cái sự thật trá ngụy đớn nhục đê hèn ấy), thậm chí muốn lợi dụng vị thế truyền thông để ra uy nhằm làm tôi bị tống cổ ra khỏi Quốc Hội, kích động hàng trăm tên côn đồ lưu manh phản động gởi đến tôi những tin nhắn đòi giết tôi, đốt nhà tôi, và đánh bom văn phòng của tôi, đe dọa nhân viên của tôi chẳng hạn như:

Baochi1

Tất nhiên, là nghị sĩ, tôi được Nhà Nước bảo vệ triệt để trước các đe dọa có tính chất khủng bố như vậy:

 Baochi3

Tất nhiên, điều đại ngu mà bọn hai mang “mafia-like” trong các tòa soạn báo chí đã phạm phải đó là: đã chưa từng biết Hoàng Hữu Phước là ai ngay tại đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này, người mà trong thời gian làm giảng viên Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong thập niên 80 của Thế kỷ trước đã luôn tuyên bố với hàng ngàn sinh viên của anh ta và sau đó là nhiều trăm nhân viên cùng nhiều ngàn đại lý của anh ta (nhiều người ngang tuổi với các phóng viên Tuổi Trẻ thủa ấy như Lưu Đình Triều hay Nguyễn Phúc Tiến) rằng bất kỳ kẻ nào có mưu đồ bất chính mà lại muốn có thể tranh luận hùng biện tay đôi với tôi – bằng tiếng Việt hay tiếng Anh – muốn thắng được tôi thì phải về nhà đóng cửa học tập miệt mài thêm 60 năm mới có thể thắng được người chính đạo như tôi.

Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là bọn hai mang đã sử dụng báo chí để đe dọa sự tồn tại của một nghị sĩ tại cơ quan quyền lực cao nhất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nghĩa là sự thách đố đầy xấc xược và hỗn láo đối với Quốc Hội với hàm ý sức mạnh của báo chí là ở vị trí ngồi trên đầu Quốc Hội. Cái hèn của bọn hai mang là chỉ dám động đến – và chỉ dám tơ tưởng vạch kế hoạch nhằm bãi miễn – một nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, thậm chí ngoài tất cả các hội đoàn, thân cô, thế cô, đơn độc tự ứng cử thậm chí không có đến một chiếc ô dù che nắng che mưa.

Tất nhiên, tôi đã làm thất bại toàn bộ các âm mưu, kế hoạch của bọn nhà báo hai mang, ngay cả khi sau đó chúng còn khuấy động ầm ĩ nhân vụ bài viết loại bút chiến luận của tôi tựa đề Tứ Đại Ngu [9] để quyết tâm bằng mọi cách dùng quyền lực của truyền thông nhằm làm cho tôi phải bị bãi miễn khỏi Quốc Hội. Tôi, nhà hùng biện đã trả lời phỏng vấn gần 4 tiếng đồng hồ với Phố BolsaTV của California[10] theo kiểu ứng khẩu không được cho biết trước các câu hỏi mà không phạm bất kỳ sơ sót nào làm nhục quốc thể cũng như phương hại đến tư cách nghị sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thì không lý do gì tôi lại không làm tất cả bọn nhà báo hai mang phải thất bại, không cho chúng có cơ hội thực hiện bất kỳ mưu đồ bất chính nào trước các tranh luận chính đạo chính nghĩa chính danh chính thức của tôi.

 Baochi4

Lời khuyên thứ nhất: Trước tình hình và trong hoàn cảnh bọn hai mang lúc nhúc khắp nơi từ sự buông lơi quản lý của những người có trách nhiệm, tôi khuyên các bạn phải thận trọng khi trả lời “phỏng vấn” bởi những kẻ thay vì lắng nghe lời phát biểu chính thức của bạn tại nghị trường rồi về viết bài tường thuật hoặc viết nhận xét phê bình chính luận đẳng cấp cao, chúng chỉ tập trung phỏng vấn bạn ngoài hành lang với thiết bị rẻ tiền thô thiển để chầu chực ngóng trông một sự lỡ lời nào đó của bạn để có cái “giật tít câu view” gây sóng gió để triệt tiêu bạn – nếu bạn dám nổi bật hơn nghị sĩ thuộc phe cánh của chúng – hoặc chỉ để có bài viết mà tòa soạn đã giao nhiệm vụ cho chúng.

Lời khuyên thứ hai của tôi là các bạn nên lập blog riêng để nêu chính kiến của các bạn do các bạn hiện vẫn chưa thể trông mong gì được nơi báo chí cả. Hãy xem TV và hãy đọc báo để thấy ống kính và tin tức luôn toàn tập trung vào các nghị sĩ là chức sắc cao cấp của địa phương. Bạn là nghị sĩ ngoài Đảng, ngoài hệ thống chính quyền, và tự ứng cử, bạn sẽ chẳng là “cái thá gì” cả, nhất là báo chí truyền thông của Thành phố Hồ Chí Minh phải đưa tin và hình ảnh về các phát biểu của các đảng viên chức sắc cao cấp của Thành phố Hồ Chí Minh để làm cái việc mà đến ngày nay vẫn được cho là “đưa thông tin đến người dân” một cách ngây thơ, ấu trĩ, vì hóa ra chỉ có các nghị sĩ chức sắc cao cấp đó là hoạt động tích cực vì nước vì dân tại Quốc Hội, trong khi rất nhiều khóa Quốc Hội đã qua mà những vị nghị sĩ “chuyên phát biểu tâm huyết vì nước vì dân” – nhất là phát biểu tại nghị trường Quốc Hội vào những hôm có trực tiếp truyền hình – ấy vẫn chưa hề làm cho Việt Nam trở thành cường quốc.

Lời khuyên thứ ba là các bạn phải thể hiện – và nên kiên quyết đòi nắm lấy cho bằng được – cái thực quyền và thực uy[11] của bạn, một nghị sĩ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đối với báo chí truyền thông. Trong loạt 3 bài viết mới đây của tôi về Thầy Nguyễn Quang Tô [12], Cô Trương Tuyết Anh [13], và Thầy Lê Văn Diệm [14], tôi có khẳng định là “sẽ ra sức can ngăn phản đối Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh nếu có bất kỳ sự cất nhắc nào đối với vị cựu Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ”, người đã bị Thành Ủy triệu hồi khẩn cấp về phụ trách tuyên giáo cho Thành Ủy, bỏ báo Tuổi Trẻ như rắn không đầu – và tôi kiên quyết sẽ thực hiện cho bằng được sự can ngăn đó. Thực quyền và thực uy của tôi là: Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ đã dám buông lơi quản lý để đám hai mang lộng hành manh động giật tít câu view ngụy tạo thông tin để ám hại tôi, một nghị sĩ dân cử có thực quyền và thực uy của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà từ lúc còn đương nhiệm cho đến khi bị rút về Thành Ủy vẫn chưa biết tự hối cải lên tiếng chính thức xin lỗi tôi nên dứt khoát phải bị tôi nghiêm trị và trừng trị, không cho y xứng đáng tồn tại trong lĩnh vực “tuyên truyền giáo dục” của Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tôi cũng thực hiện quyền uy Đại biểu Quốc hội của tôi trong từ chối trả lời phỏng vấn của báo chí và của Đài Truyền Hình Việt Nam kể từ Kỳ Họp Thứ 8 của Quốc Hội nếu người phỏng vấn không đáp ứng bốn điều kiện của chính tôi: phải là chức sắc cấp cao (để bảo đảm có trách nhiệm cao), phải trên 50 tuổi (để bảo đảm có trình độ tác nghiệp cao), phải có giấy giới thiệu gởi đích danh tôi ghi tên công dân của người phỏng vấn (vì tôi phủ nhận giá trị tất cả các thẻ nhà báo nào chỉ ghi bút danh, tức một thứ practice rất kỳ quái không giống nơi nào khác trên toàn thế giới văn minh tiên tiến, và vì sẽ là một practice kỳ quái phản văn minh nếu người được phỏng vấn không được biết gì về tên của người phỏng vấn cùng nguồn gốc của anh ta hay chị ta), và tôi phải trả lời bằng văn bản dựa theo bảng câu hỏi của người phỏng vấn (để triệt tiêu vấn nạn “vu khống” mà Báo Tuổi Trẻ đã từng dở trò với tôi năm 2011 trong vu cáo tôi nói “dân trí thấp”).

Lời khuyên thứ tư: khi bạn trả lời phỏng vấn của báo chí, bạn phải tổ chức chu đáo với toàn sức mạnh của công cụ vì nếu như nhà báo hai mang có “trang bị tận răng” với nanh vuốt sẵn sàng cắn xé tiêu diệt bạn thì bạn phải “trang bị tận chân lông kẻ tóc” sao cho từng sợi lông và sợi tóc của bạn trở thành những mũi tên thép tiêu diệt bọn chúng:

 Baochi5

Lời khuyên thứ năm và cũng là lời khuyên chót là các bạn không kiến tạo “câu view” cho báo chí, vì chẳng hạn như phát biểu của Đại biểu Quốc hội Lê Như Tiến của Tỉnh Quảng Trị đã dẫn đến tít sau trên báo Người Cao Tuổi số ra ngày 09-11-2013

 Baochi6

khiến người dân có hiểu biết sẽ ngạc nhiên nghi ngờ Nghị sĩ Lê Như Tiến và nhà báo của Người Cao Tuổi đồng lòng “câu view” cứ như thể bọn tham nhũng rất hùng hậu, rất thực – song, chỉ có hai vị thiên lý nhãn và thiên lý nhĩ này nhìn thấy nghe thấy được cái lực lượng hùng hậu ấy của tập đoàn tham nhũng, nhìn thấy và nghe thấy được cái táo tợn của bọn tham nhũng trong đầy lùi cả tập thể Đại biểu Quốc hội; mà cái kỳ lạ ở đây là khi cả hai vị đều không nêu được tên của bất kỳ một kẻ nào cụ thể trong cái lực lượng tham nhũng hùng hậu cụ thể ấy. Lẽ nào nghị sĩ khiếp sợ tham nhũng và báo chí kinh sợ tham nhũng đến thế ư? Nghị sĩ Lê Như Tiến có bị đẩy lùi thì đó là việc của ông ấy, và ông ấy đừng có lôi cả tập thể nghị sĩ Quốc Hội trong đó có tôi nhập nhằng vào tập thể yếu ớt ươn hèn suy yếu suy tàn của ông ta. Lãnh đạo Tỉnh Quảng Trị đã tuyệt đối đúng khi bảo hãy ngưng nói về tham nhũng, vì (a) nói hoài mà chẳng ai dám đưa ra cái tên nào có thực cả, và vì (b) hãy hành động đi, chứ đừng có lạm dụng cụm từ “chống tham nhũng” để láu cá hú gió gọi mưa tự đánh bóng chính mình. Tiếc là lãnh đạo Tỉnh Quảng Trị không phải Đại biểu Quốc hội.

Tóm lại, báo chí Việt Nam chỉ có một vai trò duy nhất là công cụ tuyên-giáo (tuyên truyền và giáo dục) của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Do đó, báo chí Việt Nam phải phục vụ Đại biểu Quốc hội Việt Nam để phục vụ nhân dân Việt Nam qua phân công giao nhiệm của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Báo chí luôn cần đến sự bảo ban, giáo dục, hướng dẫn, răn dạy của bạn, vì bạn là trí tuệ đại diện cho nhân dân, phục vụ Đảng và phục vụ nhân dân.

Báo chí Việt Nam không phải là mafia và không bao giờ có thứ quyền lực của mafia để tự tung tự tác phạm pháp khi đe dọa hay kích động đe dọa sự an nguy của bạn, nghị sĩ Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Và nếu có ai đó trong giới báo chí mơ tưởng thực hiện mafia-hóa báo chí, hắn ta hay ả ta sẽ bị Đảng trừng trị, thải loại, tiêu diệt – với sự giúp đỡ của các Đại biểu Quốc hội.

Những bài viết khác cho cùng chủ đề tư vấn phục vụ các ứng cử viên tự do ra tranh cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV 2016-2021 sẽ được khẩn trương đăng tiếp trên blog này (tiếp theo lần lượt là: Bài số 7 Đối Phó Với Sự Xơ Cứng Vô Cảm Của Chức Sắc Xử Lý Đơn Thư Khiếu Tố Của Người Dân, Bài số 8 Công Tác Tiếp Dân, Bài số 9 Công Tác Giám Sát, và Bài số 9 Công Tác Ủy Ban Quốc Hội) để kịp phục vụ sự tham khảo của các bạn cho đợt ứng cử Quốc Hội Khóa XIV (2016-2021). Kính mời các bạn đón đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.

Nếu có quan tâm đến nội dung tư vấn nào khác có liên quan đến việc ra ứng cử và trở thành Đại biểu Quốc hội Khóa XIV, xin các bạn vui lòng gởi thư về tôi tại MYA 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, để tôi kịp thời viết bài đăng sớm trên blog này. Nếu muốn bảo mật danh tính, xin ghi rõ yêu cầu này trong thư. Nếu muốn bảo mật cả nội dung câu hỏi và danh tính, xin cung cấp địa chỉ email (hoặc số phone Viber) trong thư để nhận được trả lời riêng bằng file PDF hoặc JPG.

Kính chúc các bạn thành công trên bước đường phục vụ quốc gia dân tộc chốn nghị trường Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIV (2016-2021).

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị sĩ Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII (2011-2016)

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-12-2014. Bài Số 1: Ra Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/21/ra-ung-cu-dai-bieu-quoc-hoi/

[2] Hoàng Hữu Phước. 24-12-2014. Bài Số 2: Phát Biểu Tại Nghị Trường Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/12/24/phat-bieu-tai-nghi-truong-viet-nam/

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-01-2015. Bài số 3: Cách Soạn Bài Phát Biểu Và Thực Hiện Việc Phát Biểu Tại Quốc Hội Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/20/cach-soan-bai-phat-bieu-va-thuc-hien-viec-phat-bieu-tai-quoc-hoi-viet-nam/

[4] Hoàng Hữu Phước. 05-02-2015. Bài số 4: Những Vấn Đề Gặp Phải Trong Sinh Hoạt Đoàn Đại Biểu Quốc Hội. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/05/nhung-van-de-gap-phai-trong-sinh-hoat-doan-dai-bieu-quoc-hoi/

[5] Hoàng Hữu Phước. 24-02-2015. Bài số 5: Xử Lý‎ Đơn Thư Khiếu Nại – Tố Cáo Của Người Dân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/24/xu-ly-don-thu-khieu-to-cua-nguoi-dan/

[6] Hoàng Hữu Phước. 22-01-2015. Năm Mới Thử Bàn Về Báo Mới Trên Cơ Sở Siêu Cường Quốc. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/01/22/nam-moi-thu-ban-ve-bao-moi-tren-co-so-sieu-cuong-quoc/

[7] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Hoàng Hữu Phước Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[8] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[9] Hoàng Hữu Phước. Tứ Đại Ngu

[10] Lại Thu Trúc. 30-6-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII. Đăng lần đầu tại http://www.emotino.com/bai-viet/19627/phobolsatv-hoa-ky-phong-van-ong-hoang-huu-phuoc và đăng lại trên http://hhphuoc.blog.com/?p=75

[11] Hoàng Hữu Phước. 26-11-2013.Thực Quyền và Thực Uy. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/26/ve-thuc-quyen-thuc-uy-2/

[12] Hoàng Hữu Phước. 22-02-2015. Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-thay-nguyen-quang-to/

[13] Hoàng Hữu Phước. 22-02-2015. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-co-truong-tuyet-anh/

[14] Hoàng Hữu Phước. 22-02-2015. Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/toi-va-thay-le-van-diem/

Tham khảo thêm:

Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=93

Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/ hoặc http://hhphuoc.blog.com/?p=342

Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/21/bao-sai-gon-giai-phong/

Hoàng Hữu Phước. 28-9-2014. Báo Người Lao Động. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/28/bao-nguoi-lao-dong/

Hoàng Hữu Phước. 16-10-2014. Báo Tuổi Trẻ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/16/truong-trong-nghia-va-bao-tuoi-tre/

Hoàng Hữu Phước. 13-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/13/quyen-luc-thu-sau-3/

Hoàng Hữu Phước. Báo cáo Việc Thực Hiện Chương Trình Hành Động Suốt Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII 2011-2016 Của Đại Biểu Hoàng Hữu Phước

Huỳnh Văn Nén

Hoàng Hữu Phước, MIB

Vu án oan của ông Huỳnh Văn Nén đã chiếm lĩnh tất cả các trang báo và được nói đến rất nhiều. Ở đây tôi nói về một khía cạnh khác của vấn đề.

Ai đọc về các gương nghiên cứu của các nhà bác học đã chế ra các loại kháng sinh và các loại vắc-xin để cứu nhân loại cũng đều thán phục. Nhưng không bất kỳ ai theo học ngành Dược từng có lần tự nhủ sẽ trở thành một nhà bác học như thế, thay vào đó, tuyệt đại đa số nhắm đến việc sẽ mở tiệm bán thuốc Tây hay cho người khác thuê văn bằng của mình để mở tiệm bán thuốc tây.

Ai đọc về tiểu sử của Bill Gates cũng thán phục ông ở tính quyết tâm và sự dứt khoát từ bỏ những cái thói thường mang tính từ chương luôn chạy theo bằng cấp của thiên hạ. Nhưng không bất kỳ ai dám can đảm làm như Bill Gates để không chen lấn vào trường đại học bằng mọi giá, song bất kỳ ai trẻ người non dạ đang chen lấn giành giật một chỗ ngồi trong đại học đều dám can đảm nói rằng sẽ thành người giàu nhất thế giới như Bill.

Ai đọc qua quyển Bao Công Kỳ Án cũng thán phục Bao Chửng. Ai xem bộ phim dài nhiều tập Bao Công cũng thán phục Bao Thanh Thiên. Nhưng không bất kỳ ai theo học ngành Luật từng có lần tự nhủ sẽ trở thành một Bao Công bảo vệ công lý bảo vệ nhân dân lương thiện, thay vào đó, tuyệt đại đa số nhắm đến việc sẽ trở thành một đại quan chí ít ở cấp bậc ngang hàng với Bao Đại Lão Gia để vinh thân phì gia, hoặc mở văn phòng Luật để bảo vệ khách hàng bao gồm công dân lương thiện và công dân gây hại cho công dân lương thiện.

Chính cái sự thật quái gở trên mà Việt Nam mãi mãi không có nhà bác học dược, không có nhà giàu bằng hay xém bằng hoặc hơn Bill Gates, và không có nhà luật phán xét như “thần” cỡ Bao Công. Mà nếu không có Bao Công thì đương nhiên không tránh khỏi oan sai trong nhiều phán quyết, vì ngay cả học trò Bao Công và cháu của Bao Công cũng là ác quan gây oan sai cho lương dân mà Bao Công cũng phải ra tay xử trảm, huống hồ cả đất nước Tàu rộng lớn mà chỉ có mỗi ông Bao ở mỗi một Phủ Khai Phong thì tất nhiên có bao triệu lương dân bị hãm hại oan sai từ vô số các quan lại trấn nhậm ở các địa phương khác mà ông Bao chỉ có thể xử lý được vài vụ trong một quyển Kỳ Án dày có 2 xen-ti-mét nếu nạn dân còn sống và còn đủ sức lết ngàn dặm đến Phủ Khai Phong gióng trống kêu oan. Song, không nói tiếp về các vụ trọng án hình sự mà oan sai dẫn đến các án chung thân hoặc có khi đã thi hành xong án tử hình của các vụ hình sự, tôi xin nói về các tranh chấp, khiếu tố dân sự, vốn phức tạp tương tự, đòi hỏi Bao Công tương tự, dù chẳng ai là bị đơn phải lo sợ bất kỳ vì không có các phán quyết chung thân hay tử hình.

Trong nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII vơi tư cách nghị sĩ tôi đã nhận nhiều đơn thư khiếu tố của công dân mà tôi thấy toát ra từ những vụ kéo dài dây dưa hàng chục năm những vấn nạn như sau:

– Đã chưa từng có đối thoại giữa người-với-người giữa chức sắc cơ quan xử lý khiếu tố với người khiếu tố. Tất cả những “đối thoại” thuần dựa trên các văn bản đã phát hành, nhất là những văn bản mang chữ “kết luận” được xem như đã đóng hồ sơ, không xem xét thêm, và tất nhiên mặc cho không có sự đồng thuận của người đứng đơn khiếu tố, dẫn đến việc người khiếu tố tiếp tục khiếu tố từ chục năm này qua chục năm khác bất chấp đã có “kết luận”. Nếu đã có đối thoại giữa-người-với-người thay vì giữa-người-với-văn-bản, lẽ ra đa số các trường hợp đều có thể đã được đồng thuận nếu bên xử lý (a) dẫn chứng đầy đủ trong buổi đối thoại những điều luật có liên quan và nhất là chứng minh việc xử lý không những đúng luật theo lý mà còn có theo tình ở những xét nhẹ có thể được, và (b) trân trọng kính mong bên khiếu tố thông hiểu và thông cảm để đồng thuận do không thể xét xử khác hơn luật định.

– Ắt đã có suy nghĩ quái gở nơi bậc chức sắc xử lý đơn thư khiếu tố rằng đó là việc gây ra bởi chức sắc tiền nhiệm hoặc chức sắc trước chức sắc tiền nhiệm có thể có liên quan đến một chức sắc cao hơn đã quy điền hoặc có thể đã quy tiên mà mình không nên khuấy động hay động chạm đến, và tốt hơn cứ ngâm đấy để chức sắc của nhiệm kỳ tới sau mình xử lý hoặc không xử lý tùy anh ta/chị ta.

– Ắt đã có suy nghĩ quái gở nơi bậc chức sắc xử lý đơn thư khiếu tố rằng công việc bề bộn họp hành đa đoan nên nếu việc khiếu tố đã kéo dài nhiều năm thì có chờ thêm một vài năm thì cũng không phải là điều nghiêm trọng.

– Ắt đã có suy nghĩ quái gở nơi bậc chức sắc xử lý đơn thư khiếu tố rằng mình còn có cấp trên của mình nên cứ để đấy rồi người khiếu tố khiếu nại sẽ tự động khiếu nại lên trên, cứ để cấp trên hoặc xử lý hoặc ngâm thêm và gánh chịu búa rìu dư luận thay minh.

– Ắt đã có suy nghĩ quái gở nơi bậc chức sắc xử lý đơn thư khiếu tố rằng mình thuộc sự quản lý hàng dọc của cơ quan cấp trên nên các đơn thư khiếu tố của công dân do Đại biểu Quốc hội chuyển đến thì chẳng cần quan tâm xử lý hoặc phúc đáp làm gì vì Đại biểu Quốc hội chẳng là gì cả mà luật không bao giờ quy định các chức sắc cơ quan công quyền sẽ bị chế tài ra sao nếu chậm trể xử lý đơn thư do Đại biểu Quốc hội chuyển đến hay gởi đến.

– Và ắt đã có suy nghĩ quái gở nơi bậc chức sắc xử lý đơn thư khiếu tố rằng cứ để yên đấy vì sẽ đến lúc mọi việc hóa bùn hoặc người khiếu tố đã hưởng thọ đầy đủ chốn trần gian nên sẽ có cớ đóng lại hồ sơ một lần và mãi mãi.

Mẹ vợ của tôi lúc sinh tiền hay kể chuyện bà nội của bà đã đau khổ rồi mất sớm vì đứa con trai bé bỏng kháu khỉnh xinh đẹp của bà bị một nữ gia nhân bắt đem đi mất mà gia đình đã chi ra biết bao vàng bạc cử người truy lùng khắp miền Bắc vẫn không ra. Đứa bé ấy bị bắt cóc hoặc để bán qua Tàu hoặc đơn giản vì nữ gia nhân ấy muốn đứa bé thành con của mình nên đã bắt đem vào miền thượng du hay sơn cước vùng sâu vùng xa nuôi nấng. Đứa bé ấy lớn lên không biết mình xuất thân từ gia đình đại điền chủ quan lại thế gia vọng tộc. Đứa bé ấy nếu còn sống ắt đã hơn 300 tuổi. Bắt cóc thuộc phạm trù hình sự, nhưng vụ bắt cóc trên chưa từng được xét xử nên không có án phạt. Thí dụ này chỉ để cho thấy ngay cả khi không tạo ra một án oan, thì việc bó tay trước một vụ phạm tội cũng dẫn đến đau thương như thế nào cho gia đình người bị hại, huống hồ một vụ án có bị can trước vành móng ngựa nhưng việc điều tra xét xử không đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ rất có thể – như từng đã – dẫn đến oan sai đối với bị can cũng như có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường từ gia đình người bị hại đối với bị can bị xử oan thành kẻ thủ ác thủ phạm chính của vụ án.

Lời phát biểu của ông Huỳnh Văn Nén rất có thể sẽ được các quan chức luật pháp ghi nhớ để cẩn trọng hơn trong những vụ trọng án hình sự. Song, điều tôi mong muốn các quan chức pháp luật cần quan tâm đến một sự thật khác quan trọng hơn: đó là các khiếu tố dân sự; quan trọng hơn vì số lượng nhiều hơn, được kéo dài hơn trong xử lý, không thể miễn nhiễm với tiêu cực tham nhũng phạm pháp, không thể không dẫn đến oan sai oan ức của người khiếu tố, và luôn tiềm tàng nguy cơ khiếu kiện đông người gây bất ổn xã hội, gây mất sự tôn trọng Đảng nơi người dân.

Một khiếu nại dân sự như trường hợp công dân Tăng Kim Tây ở Quận 1 đã nhiều chục năm nay đi tìm sự công bằng do gia đình ông đã đóng gớp nhiều tài chính cho chính quyền cách mạng, nhưng khi ông đưa mẹ lên Sài Gòn chữa bịnh dài ngày ở bịnh viện Chợ Rẩy, thì ở tỉnh nhà chính quyền địa phương đã niêm phong nhà của ông vì lý do vắng chủ và chủ vượt biên. Lúc trở về tỉnh, ông ngạc nhiên thấy căn nhà của tổ tiên đã có người khác đến ở, còn khi hỏi về tài sản nhiều trăm năm tuổi như bàn ghế cổ vật, đặc biệt là tủ thờ các bài vị của gia tộc tổ tiên, thì mọi người đều nói là không biết. Dù xuất trình hồ sơ bịnh án của mẹ, cùng các giấy chứng nhận gia đình có công, ông vẫn không lấy lại được nhà. Và sau nhiều chục năm khiếu nại qua nhiều khóa Quốc Hội, ông thấy căn nhà ông đã đổi chủ quyền nhiều phen, nay trở thành chi nhánh một ngân hàng lớn nhất nước, nghĩa là việc lấy lại trở nên bất khả, và ông đã kiên trì gởi đơn khiếu nại đến tôi trong nhiều năm tại các buổi tiếp xúc cử tri chỉ để mong nhận được lời công khai xin lỗi của chính quyền địa phương do đã tự động chiếm hữu, bán hóa giá căn nhà của cha mẹ ông và làm mất tài sản gia tộc ông, chứ không yêu cầu phải bồi thường bất kỳ. Tuy nhiên, chẳng ai quan tâm đến yêu cầu công khai xin lổi ấy của một nhà trí thức tốt bụng như ông luôn nghĩ đến đại cuộc vì danh dự của quốc gia, vì các chức sắc ắt cho rằng lỗi do các vị tiền nhiệm gây ra nhiều chục năm trước và họ không phải chịu trách nhiệm để rồi phải muối mặt xin lổi người dân. Tương tự, nhiều vụ khiếu nại nhà cửa bị chiếm hữu bởi chính quyền địa phương thời gian đầu giải phóng mà người dân kiên trì gởi tôi nhiều thư khiếu nại cũng như phản ảnh bức xúc qua điện thoại cũng không được bất kỳ quan chức nào đương nhiệm quan tâm phúc đáp dù sự phúc đáp ấy có là sự khẳng định chính quyền ngày trước đã đúng với những bằng chứng thuyết phục nào đó hay không. Một thí dụ khác như trường hợp môt nữ công dân ở Quận 3 xin được cấp phó bản của quyết định tịch thu căn nhà mặt tiền đường Lý Thái Tổ của bà vì bà vượt biên khiến các con của bà phải ra ngoài đường rồi được cưu mang bởi người quen ở Bình Dương, dù bà chứng minh bà không vượt biên qua giấy tờ công an Quận 1 tạm tha sau thời gian tạm giữ vì tham gia buôn bán chợ trời ở Sài Gòn, một việc bị cấm thời mới giải phóng. Tất nhiên, cái bằng chứng chứng minh chính quyền địa phương đã đúng vì chiếm hữu nhà với sự hiện hữu của một quyết định hành chính lại không bao giờ được cấp cho công dân trên, đồng nghĩa với việc các công văn của tôi chưa bao giờ được chính quyền địa phương ấy phúc đáp.Tất cả sự im lặng này sẽ không bao giờ có cơ hội được biết đến như trường hợp án hình sự của ông Huỳnh Văn Nén.

Làm một Bao Công đâu phải là chuyện đội đá vá trời mà lại tránh né, khiếp sợ, không dám làm cơ chứ?

Làm một chức sắc luật pháp lại xem chuyện dây dưa, chuyện tiêu cực, chuyện chạy án, chuyện phủi tay trách nhiệm không phải là chuyện động trời để không tránh né, không khiếp sợ và không không dám làm, thì rõ là đầu óc không những của vị chức sắc luật pháp ấy mà còn của những vị đề cử vị chức sắc luật pháp ấy có vấn đề nghiêm trọng thuần-phe-nhóm, thuần-vây-cánh, và phi-bịnh-lý.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân”

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2015

Kính gởi: Chủ Tịch Quốc Hội

Bản sao kính gởi:

– Bộ Chính Trị

– Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

– Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

– Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

– Tổ Đại Biểu Đơn vị 1 Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

– Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội

V/v Góp Ý Cho Dự Án Luật Trưng Cầu Ý Dân

Kính thưa Chủ Tịch:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, kính có các góp ý sau cho Dự Án Luật Trưng Cầu Ý Dân được đưa ra cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 Quốc Hội Khóa XIII.

1) Về Điều 4.1

Đề nghị đổi cụm từ “bảo đảm để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chỉ của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước” thành “bảo đảm để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chỉ của mình khi được yêu cầu tham gia đưa ra quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước”.

Lý do kiến nghị: Cử tri đã bầu ra các Đại biểu Quốc hội để thay mặt nhân dân trong quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; do đó, nhân dân không trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trừ phi (a) được yêu cầu thông qua một cuộc trưng cầu ý dân theo luật định khi (b) Quốc Hội không thể tự quyết định và không thể tự chịu trách nhiệm trước tổ quốc và dân tộc về quyết định đó.

2) Về Điều 6: Những Vấn Đề Trưng Cầu Ý Dân

a) Đối với Điều 6.1 của Dự Thảo: Hiến pháp là tối thượng; bao trùm; gần như cố định, không thể thường xuyên thay đổi, tu chỉnh, trừ phi có yêu cầu cấp bách khẩn thiết của đất nước. Vì vậy, không thể chỉ ghi liệt kê với vỏn vẹn một từ “Hiến Pháp” vốn mang nghĩa toàn bộ Hiến Pháp và tất cả mọi điều của Hiến Pháp, trong khi ở Việt Nam có một thực tế rằng sau mỗi chu kỳ thí dụ như 20 năm có thể sẽ có sửa đổi Hiến Pháp, đưa ra cho toàn dân nghiên cứu, góp ý, tập trung trí tuệ toàn dân, cực kỳ tốn kém. Quy trình này không thuộc phạm trù Trưng Cầu Ý Dân, vì quy trình Trưng Cầu Dân Ý chỉ có thể có nếu một điều khoản nào đó của Hiến Pháp hiện hành cần được sửa đổi để tạo điều kiện mang tính nguyên tắc cho các nội hàm luật pháp có liên quan trong phát triển kinh tế quốc dân. Đề nghị loại bỏ hẳn Điều 6.1 này.

b) Đối với Điều 6.2 của Dự Thảo:

– Việc liệt kê “chủ quyền, lãnh thổ quốc gia” là việc liệt kê chỉ mang tính thời thượng, hoàn toàn không thực tế, vì nội hàm này chỉ mang ý nghĩa thí dụ như liệu nhân dân có cho phép giao cho nước khác một phần lãnh thổ nước mình để họ dùng làm nhượng địa trong 99 năm hay không, và đây hoàn toàn là điều không bao giờ được phép xảy ra cho một cuộc trưng cầu ý dân; còn nếu trong một nội hàm khác chẳng hạn như liệu nhân dân có cho phép Chính phủ tiến hành kiện Trung Quốc ra Tòa Án Quốc Tế hay không thì đây cũng là việc riêng mà Chính phủ không thể đùn đẩy cho nhân dân quyết định.

– Việc liệt kê “quốc phòng, an ninh, đối ngoại” là việc liệt kê không bao giờ gặp trong luật trưng cầu ý dân của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Vấn đề quốc phòng – an ninh – đối ngoại là những vấn đề chung phạm trù an ninh quốc gia và bí mật quốc gia. Mỹ không bao giờ tổ chức trưng cầu ý dân để đem quân qua Việt Nam, rút quân khỏi Việt Nam, cấm vận Việt Nam, bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.

Đề nghị loại bỏ hẳn Điều 6.2 này.

c) Đối với Điều 6.3 của Dự Thảo:

Việc liệt kê “các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” là việc liệt kê thiếu nghiêm túc, hoàn toàn sai. Nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền là nền tảng chính trị không bao giờ là thứ để đưa ra trưng cầu ý dân. Không bất kỳ bộ luật trung cầu ý dân của bất kỳ quốc gia nào lại có nêu nội dung tương tự. Đề nghị loại bỏ hẳn Điều 6.3 này.

d) Đối với Điều 6.4 của Dự Thảo:

Việc ghi “các vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế-xã hội có ảnh hưởng lớn đến quốc kế dân sinh” lại thuộc nội hàm chung của “các vấn đề quan trọng”, vì vậy, đề nghị loại bỏ hẳn Điều 6.4 này.

e) Đối với Điều 6.4 của Dự Thảo:

Việc ghi “những vấn đề quan trọng khác do Quốc hội quyết định” là kiểu viết vét đuôi luôn thấy ở các dự thảo dự án luật; vì vậy, đề nghị loại bỏ hẳn Điều 6.4 này.

Kiến nghị Điều 6 mới

Đề nghị thay toàn bộ 5 nội dung của Điều 6 trong Dự Thảo bằng 3 nội dung sau:

1- Quyết định các vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với Nhà Nước

2- Phê duyệt một thay đổi đưa vào Hiến Pháp

3- Phê duyệt văn kiện phê chuẩn một điều ước quốc tế quan trọng đặc biệt

Kính mong Chủ Tịch quan tâm đến các ý kiến đóng góp trên.

Kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Diệt Tham Nhũng

Tư Vấn Chuyên Đề

Hoàng Hữu Phước, MIB

 ScreenShot658

Chống tham nhũng luôn là vị cứu tinh của tất cả các chức sắc hoặc ứng cử viên để có cái mà nói trong các diễn văn, phát biểu; do đó tham nhũng luôn tồn tại để đại sự chống tham nhũng luôn phát huy vai trò vị cứu tinh. Thế nhưng, hầu như chẳng mấy ai hiểu được tham nhũng là gì, và chính vì vậy mà việc chống tham nhũng trở thành việc trừu tượng, mơ hồ, lẫn lộn, khiến tham nhũng luôn tồn tại nhờ tấm áo khoác vô hình một cách vật chất cụ thể của nó.

Vì lý do trên, các lý giải sau sẽ như chiếc cọ nhúng vào lọ mực tàu để vẽ nên những nét chân phương chân thật nhất về tham nhũng để tham nhũng phải lộ diện cho một sự diệt tiêu trọn vẹn với sự thành công mà toàn nhân loại từ khai thiên lập địa cho đến nay vẫn chưa từng có tiền lệ.

1- Tham Nhũng Tại Việt Nam Không Phải Là Corruption

Bất kỳ ai học tiếng Anh cũng sẽ nói tham nhũngcorruption ở tiếng Anh. Nhưng không phải vậy. Đó là lý do cho sự cẩn trọng trong phát biểu, phản ảnh, và trả lời phỏng vấn mà những nội dung phát biểu, viết lách, trả lời phỏng vấn ấy sẽ được chuyển tải sang tiếng Anh, vì rằng tham nhũng ở Việt Nam không phải là corruption ở các nước Âu Mỹ.

Tham nhũng mà Việt Nam đã và đang chống – cũng như phe chống Việt đã và đang dùng để chống Việt – luôn chỉ là sự táy máy tiền bạc của các quan chức chính phủ và bộ máy hành chính công quyền đối với công quỹ và kho tàng nhà nước, cho đúng nghĩa của tham quan nhũng nhiểu.

Corruption mà Âu Mỹ đã và đang chống bao gồm ý nghĩa của sự suy đồi, mục nát, thối nát của giới quyền lực sử dụng quyền lực để thu lợi cho cá nhân như đưa hối lộ, nhận hối lộ, ăn cắp/chiếm đoạt tài sản chung, đòi hỏi thỏa mãn tình dục, mua quan bán chức, mua ưu thế bán ưu đãi trong kinh doanh, v.v. và v.v. Giới quyền lực bao gồm các quan chức chính phủ và bộ máy công quyền cùng các công chức, các đảng phái chính trị, quốc hội, ngành giáo dục, ngành tòa án, ngành báo chí truyền thông, cơ quan cảnh sát, các nhà thờ, các doanh nghiệp, khối tư nhân.

Việt Nam chống tham nhũng chứ không chống corruption, vì vậy anh nào là chức sắc Nhà Nước nhận tiền hối lộ hay bòn rút của công nếu bị bắt sẽ bị xử tội tham nhũng. Anh nào đưa hối lộ không bị kết tội tham nhũng. Anh nào bỏ một trăm triệu mua ghế công chức không bị kết tội tham nhũng. Anh nào dùng quyền lực tín ngưỡng hù dọa tín đồ để phá trinh tín đồ thì không bị kết tội tham nhũng. Anh nào dùng quyền lực báo chí truyền thông để kiếm chác nơi doanh nghiệp hoặc vu vạ trấn áp người khác thì cũng không bị kết tội tham nhũng. Cũng vì vậy mà tham nhũng luôn bị chống ở Việt Nam, tội phạm tham nhũng lần lượt đứng trước vành móng ngựa ở Việt Nam, song sự suy đồi, thối nát, mục ruỗng trong giới quyền lực trong xã hội thì sinh sôi nảy nở chỉ vì chỉ có các tham quan mới bị dính tội tham nhũng mà thôi, trong khi chính những vị còn lại trong danh mục giới quyền lực của phạm trù corruption mới là những kẻ tích cực tạo ra binh đoàn tham nhũng mới để lấp đầy tràn khoảng trống để lại từ sự xộ khám của các tham quan tham nhũng đó.

Cũng vì không hiểu chữ corruption nên khi trả lời phỏng vấn của các điều tra viên Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế Transparency International (gọi tắt là TI) về tình hình…corruption ở Việt Nam, vô số người dân vô tư nói về sự tham nhũng của cảnh sát giao thông, mà không biết rằng khi anh nói anh bị cảnh sát giao thông vòi vỉnh và anh phải cống nạp bao nhiêu tiền, thì cả anh cùng anh cảnh sát đều phạm tội corruption ngang nhau về mức độ phạm tội vì hoặc anh cảnh sát vòi vỉnh hoặc chinh anh đưa hối lộ để được tha cho lỗi vi phạm giao thông. Sự thật này khiến trong nhiều năm, các chỉ số về mức độ corruption của cảnh sát Việt Nam luôn là nghiêm trọng nhất trong các báo cáo hàng năm của TI.

2- Ngày Tàn Của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế

Vạn vật đều biến đổi. Nước chảy đá mòn. Nhưng không bao giờ có việc đá mãi mòn vì phải có lúc chạm đến phần cứng nhất để không còn mòn nữa, hình thành nên sự uốn khúc cố định của tất cả các con sông như ngày nay. Sụ thay đổi hình dạng của các con sông ngày nay ở Việt Nam không do nước chảy đá mòn mà do khai thác những thứ đã mòn, nghĩa là khai thác cát vô tội vạ.

Song, vạn vật đều biến đổi, nước chảy đá mòn, nên Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế cũng bị bào mòn, nhẵn thín, trọc lóc, đổi thay dòng chảy từng giúp nó ở hai vai trò lớn nhất của cuộc sinh tồn của nó : (a) quyền năng đánh giá xếp hạng các quốc gia như thể TI là một thực thể trong sáng, minh bạch, giương cao ngọn cờ chống corruption toàn cầu cho một thế giới bơt suy đồi, bớt thối nát, bớt mục ruỗng, vì sự đoan chính và công chính của loài người ; và (b) giúp phe chống Việt có cớ để dè bỉu dèm xiểm kích bác chê bai Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam cứ như thể tham nhũng là căn bịnh trầm kha đặc trưng độc quyền của một nhà nước Cộng Sản, dù Việt Nam cho phép các điều tra viên TI tự do vào Việt Nam kiếm tìm sự thật về corruption ở Việt Nam. Các bài viết hàng năm của tôi trên Emotino dựa theo các Báo Cáo Thường Niên của TI (tức CPI – Corruption Perceptions Index) hay cho ra các xếp đặt so sánh Việt Nam với phần còn lại của thế giới, như bài viết năm 2010 có các bảng về tỷ lệ bất lực của chính phủ trong chống tham nhũng (Chính phủ Việt Nam chống tham nhũng hiệu quả hơn Đức, Canada, Mỹ, Pháp, Anh, Nhật, Tàu), bảng so sánh nạn tham nhũng nghiêm trọng nhất ở các đảng phái chính trị (Đảng Cộng Sản Việt Nam không nằm trong danh sách đảng tham nhũng hàng đầu, mà tham nhũng hạng nhất là đảng cầm quyền Mỹ đứng đầu trong số 24 quốc gia toàn là tư bản); bảng so sánh các nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở Quốc Hội và các cơ quan lập pháp (Việt Nam không có tên trong bảng này); bảng so sánh những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở cơ quan cảnh sát (Việt Nam cùng Azerbaizan có chỉ số tốt nhất): bảng so sánh những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở doanh nghiệp và khu vực tư nhân (Việt Nam không có tên trong bảng này); bảng so sánh những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở khối truyền thông (Singapore tồi tệ nhất; Việt Nam không có tên trong bảng này) ; bảng so sánh những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở khối công chức nhà nước (tồi tệ nhất là Nga và Thái Lan; Việt Nam không có tên trong bảng này); bảng ghi những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở khối tư pháp và tòa án (Việt Nam không có tên trong bảng này); bảng ghi những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở khối tôn giáo (tệ nhất là Na Uy); và bảng kê những nước mà vấn đề tham nhũng nghiêm trọng nhất ở khối giáo dục (Việt Nam không có tên trên bảng này).

Sự bào mòn của TI được thể hiện ở chỗ CPI 2014 của TI đã phải giản lược hóa, xóa bỏ các nội dung nhạy cảm phạm thượng như tôn giáoquốc hội chẳng hạn, đồng thời thêm thắt cho ra mục lục hợp thời thượng như đánh giá về corruption tại khu vực chính phủ/mua sắm công, khu vực đảng chính trị, khu vực cảnh sát, khu vực tòa án, khu vực hệ thống giáo dục & đại học, khu vực thể thao, khu vực tổ chức phi chính phủ NGO, khu vực sử dụng tài trợ cho vấn đề biến đổi khí hậu và cứu trợ, và khu vực công đoàn. Các chi tiết đánh giá cũng bị thay thế bằng những biểu đồ hiện đại, to đùng, đơn giản với những vòng tròn đen to hay nhỏ dành riêng cho giới bác học nghĩa là thiên hạ đừng hòng khai thác gì được chi tiết điều tra, ngoài bảng tổng sắp cho biết nước nào hạng mấy mà thôi, theo đó Đan Mạch hạng 1, Mỹ hạng 17, Cuba hạng 63, Mông Cổ hạng 80, Việt Nam hạng 119, Nga hạng 136, và Somalia hạng chót 174. Việt Nam có thể nói Đan Mạch tốt đấy. Việt Nam cũng có thể nói tôi không muốn kinh tế y như Cuba hay Mông Cổ để được cái hạng quá tốt là 63 và 80. Việt Nam cũng có thể nói hú hồn, ta còn nằm trên đại siêu cường quốc nguyên tử Nga, tuy giá như ta giàu và mạnh như ảnh. Nói tóm lại bảng báo cáo thường niên CPI của TI chỉ là một thứ đồ chơi chẳng có giá trị gì cả. Cái chính trên trang web của TI là kêu gọi đóng góp tài chính và đóng góp thông tin. Và TI đã chỉ còn là sự tồn tại vô nghĩa lý insignificant nonentity đáng thương hại.

Do khác biệt quá lớn không thể nào tương hợp giữa tham nhũng theo cách nghĩ của người Việt và corruption theo nội dung thực sự của thế giới Âu Mỹ, các phần dưới đây sẽ chỉ liên hệ đến các tham quan nhũng nhiểu tức các quan chức có tư túi tiền công quỹ khổng lồ hoặc nhận hối lộ thật lớn mà thôi.

2- Chống Tham Nhũng: Chuyện Luôn Luôn Dễ

Việc chống tham nhũng ở Việt Nam luôn luôn dễ: ai muốn nói chống tham nhũng thì cứ nói. Ông Nghị Hoàng Hữu Phước thì do là dân đen không có quyền lực chẳng có ô dù nên nói gì phải luôn có sách mách gì phải luôn có chứng như cung cách một thạc sĩ có đi học thiệt nên đưa ra sự thật rằng CPI của TI chỉ nói Việt Nam có tham nhũng nghiêm trọng ở ngành cảnh sát. Ông Nghị Lê Như Tiến thì do không là dân đen, có quyền lực, và có du ồ, nên có đặc quyền dùng trí tưởng tượng để tuyên bố hùng hồn rằng đoàn quân tham nhũng rất hùng mạnh đang đẩy lùi tập thể có ông ấy cứ như thể đoàn quân ấy có thể thấy được song ông và cái tập thể chống tham nhũng như chống cái cối xay gió của ông không nêu được đích danh ai và không cung cấp cho Chính phủ một cái tên nào để cứu nước trong cơn quốc nạn tham nhũng cả.

Việc chống tham nhũng ở Việt Nam luôn luôn dễ vì người tố cáo chỉ việc gởi thơ nặc danh tố cáo tham nhũng để được an toàn, khiến các thư tố cáo không có giá trị pháp lý, tố cáo suông mà không có bằng chứng cụ thể.

Việc chống tham nhũng ở Việt Nam luôn luôn dễ vì người tố cáo chỉ tố cáo nếu tên tham nhũng sừng sỏ nào đó muốn vu vạ mình, còn nếu y không vu vạ mình thì y cứ việc tham nhũng, tiền bạc nhà nước cứ việc bốc hơi, đất nước cứ việc điêu đứng.

Việc chống tham nhũng ở Việt Nam luôn luôn dễ vì người bị tố cáo luôn có nhân thân tốt vì là những đảng viên kỳ cựu có nhiều công trạng phục vụ tại nhiều địa phương mà chưa hề có tai tiếng gì trước khi bị tố cáo tham nhũng, nên việc xử lý – nếu phải xử lý – luôn được nương nhẹ, còn tài sản tham nhũng thì luôn có tỷ lệ thu hồi quá thấp, coi như Nhà nước thì mất trắng, kẻ phạm tội thì tích lũy tài sản kếch sù dành cho ngày mãn hạn tù.

3- Chống Tham Nhũng: Chuyện Không Bao Giờ Có Thể

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do Việt Nam không xem hối lộ là từ đồng nghĩa với tham nhũng như corruption trong tiếng Anh. Không chống toàn bộ các hành vi suy đồi, thối nát, mục ruỗng thì không bao giờ giáo dục được giới trẻ trở thành tốt lành, lánh xa tham nhũng cùng bè bạn mật thiết của tham nhũng, lánh xa việc lợi dụng chức quyền để tư lợi.

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do Việt Nam có nhiều chức sắc có quyền lực phát biểu ngu xuẩn (nhưng được giới truyền thông ưu ái ưu tiên lập lại) rằng không nên áp dụng án tử hình cho tội danh tham nhũng vì tội phạm tham nhũng cần sống lâu để khắc phục hậu quả.

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do các quan chức đều có Đảng tịch, có tuổi Đảng dài lâu, và các cơ sở Đảng chưa bao giờ phát hiện đảng viên của mình có hành vi tham nhũng. Việc phát hiện là do (a) hậu quả quá nghiêm trọng trở thành sự thật hiển nhiên không còn có thể dấu diếm được, không thể không xử lý, (b) các công ty nước ngoài đã hối lộ nhiều năm trước đó nay bị chính phủ của họ phanh phui, và (c) nhân viên thuộc quyền tại cơ quan tố cáo do bị xử bức.

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do việc bảo vệ nhân chứng chưa bao giờ là thế mạnh thực tế vầ hiệu quả tuyệt đối của cơ quan an ninh.

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do không có phần thưởng thật cao về vật chất dành cho người tố giác hiệu quả thành cồng các vụ trọng án tham nhũng.

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do Việt Nam xem trọng nghiêm minh chứ né xa nghiêm khắc, trong khi nghiêm minh chỉ có nghĩa nếu luật bảo tội tham nhũng một triệu đô-la Mỹ của anh sẽ bị phạt một trăm ngàn đồng Việt Nam thì tòa án phải phạt anh đúng một trăm ngàn đồng không bớt một xu, còn nghiêm khắc tương tự như việc anh tham nhũng một trăm ngàn đồng sẽ bị tịch thu toàn bộ gia sản của toàn bộ gia đình anh.

Việc chống tham nhũng tại Việt Nam là điều bất khả thi do toàn bộ ngành truyền thông không thực sự tham gia chống tham nhũng mà chỉ tải đăng những diễn văn hay phát biểu hùng biện chung chung mang tính chỉ đạo của các chức sắc về chống tham nhũng.

4- Tiêu Diệt Tham Nhũng

Chống tham nhũng ở Việt Nam rất khó khăn, gần như bất khả thi, do những lý do trên; song, tiêu diệt tham nhũng tại Việt Nam lại hoàn toàn khả thi vì :

– Chỉ ở Việt Nam mới tuyên bố tất cả sức mạnh chính trị và xã hội cũng như sự tập hợp sức mạnh toàn dân qua Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng, tạo tiền đề cho thế lực lấp biển dời non để tiêu diệt tham nhũng;

– Chỉ ở Việt Nam, nội dung chống tham nhũng mới luôn xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, bởi mọi chức sắc địa phương và trung ương, tạo tiền đề cho việc chống tham nhũng phối hợp diễn ra ở toàn quốc, không chừa chốn dung thân cho tham nhũng; và

– Chỉ ở Việt Nam, người dân mới quan tâm và phát biểu rất tích cực đến chống tham nhũng, tạo tiền đề cho việc yêu cầu người dân chuyển từ tích cực nêu yêu cầu chống tham nhũng sang tích cực ra tay phát hiện và tố giác tham nhũng.

Ngoài ra, việc chống tham nhũng phải luôn đi kèm với việc

– tước quyền phát biểu của các chức sắc muốn nhẹ hóa tội tham nhũng, đòi cho tội phạm tham nhũng sống để khắc phục hậu quả, làm ngơ trước thực tế rằng số người tham nhũng có thể có rất nhiều, và việc chỉ một kẻ hiếm hoi nào đó bị phát hiện tham nhũng sẽ an hưởng tuổi già một số năm trong tù với sự chu cấp cao cấp của các con các cháu là tỷ phú nhờ tiền trên trời rơi xuống sẽ khuyến khích sự lớn mạnh khủng khiếp của binh đoàn tham nhũng mà Ông Nghị Lê Như Tiến có đặc quyền trông thấy;

– tịch thu toàn bộ tài sản của kẻ phạm tội tham nhũng, toàn bộ tài sản của bất kỳ thân nhân nào của y cũng như của người phối ngẫu của y nếu có sự giàu lên nhanh chóng và bất thường của các thân nhân này;

– đồng thời, ngoài việc thu đủ số tiền tham nhũng, luật pháp phải có khoản buộc kẻ phạm tội đóng tiền phạt tối thiểu gấp 10 lần số tiền tham nhũng để Nhà Nước nhập công quỹ sau khi trích ra tối thiểu 15% tặng thưởng người/tập thể có công tố giác và cung cấp tài liệu đưa đến việc xử án tham nhũng thành công;

– cho người dân nhất là nhân viên các cơ quan biết rằng không chỉ đơn giản cương quyết không để nhúng chàm để bản thân không kết vây cánh với tham nhũng là tốt, vì sự yên lặng sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho đất nước về kinh tế và có khi bản thân cũng bị vạ lây không những do sự sụp đổ của cơ quan nơi mình công tác mà còn do sự vu cáo vốn là chiêu trò cố hữu của bọn tham nhũng khi tìm kẻ phải chịu tội thay mình; và cuối cùng là

– giáo dục trẻ thơ khinh bỉ tham nhũng, nguyền rủa tham nhũng, xem tham nhũng là sự điếm nhục gia phong, suy đồi, thối nát.

Các bạn cần tố giác tham nhũng, xin hãy gởi hồ sơ hoặc trực tiếp hoặc qua bảo đảm bưu điện, ghi Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, 2bis Lê Duẫn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 09-11-2013. Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng . https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/09/phat-bieu-cua-dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-tai-quoc-hoi-ngay-07-11-2013-ve-tham-nhung/

Hoàng Hữu Phước.13-9-2012 .Tham Nhũng. http://hhphuoc.blog.com/?p=82

Hoàng Hữu Phước. 20-5-2011. Chống Tham Nhũng. http://hhphuoc.blog.com/?p=24

Hoàng Hữu Phước. 2010. Tham Nhũng Tại Việt Nam. Bài đăng trên Emotino

Hoàng Hữu Phước. 2011. Vì Sao Việc Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế Đánh Giá Cảnh Sát Việt Nam Tham Nhũng Nhất Nước Bị Khai Thác Tối Đa

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Báo Chí (Sửa Đổi)”

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 10 năm 2015

Kính gởi: Chủ Tịch Quốc Hội

Bản sao kính gởi:

– Bộ Chính Trị

– Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

– Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

– Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

– Tổ Đại Biểu Đơn vị 1 Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

– Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội

V/v Góp Ý Cho Dự Thảo Luật Báo Chí (Sửa Đổi)

Kính thưa Chủ Tịch:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, kính có góp ý sau cho Dự Thảo Luật Báo Chí (Sửa Đổi) dự kiến sẽ được đưa ra cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 Quốc Hội Khóa XIII.

Điều 34: Thẻ Nhà Báo

Trước thực tế nhiều chục năm nay Thẻ Nhà Báo không theo thông lệ quốc tế, tôi đề nghị ghi tên họ đầy đủ của nhà báo/phóng viên đúng như tên họ ghi trên Chứng Minh Nhân Dân vì kiểu ghi bút hiệu trên bài viết đăng trên báo cũng như ghi trong thẻ nhà báo là kiểu “nghệ danh” chỉ dành cho những tác giả văn học tức những người không-viết-về-sự-thật.

Ngoài ra, việc ghi tên họ thật sự trên Thẻ Nhà Báo đáp ứng năm yêu cầu sau:

(a) đồng nhất với tất cả các “thẻ” khác như thẻ nhân viên ở tất cả các cơ quan, xí nghiệp, v.v., không tạo ra bất kỳ ngoại lệ nào đối với nhà báo;

(b) cá nhân, địa phương hoặc cơ sở được nhà báo tiếp cận có thể kiểm tra so sánh Chứng Minh Nhân Dân và Thẻ Nhà Báo khi nhà báo đến liên hệ tác nghiệp;

(c) hạn chế việc giả danh nhà báo;

(d) đồng nhất với thực tế áp dụng của các nhà báo nước ngoài là những người chỉ sử dụng tên thật trong các bài đăng báo (nhà báo có đẳng cấp – dù trong lĩnh vực báo in hay báo hình – ở nước ngoài không bao giờ dùng “nghệ danh” hay “bút danh” vì muốn chứng tỏ những gì được viết ra là từ sự thật và bởi con người thật chứ không từ sự tưởng tượng và bởi công cụ người máy); và

(e) nên có phần tiếng Anh cùng in trên thẻ nhà báo cho phù hợp với giao tiếp thời hội nhập.

Kính mong Chủ Tịch quan tâm đến các ý kiến đóng góp trên.

Kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)”

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 10 năm 2015

Kính gởi: Chủ Tịch Quốc Hội

Bản sao kính gởi:

– Bộ Chính Trị

– Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

– Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

– Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

– Tổ Đại Biểu Đơn vị 1 Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

– Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại của Quốc Hội

– Chủ Nhiệm Ủy Ban Văn Hóa, Giáo Dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi Đồng

– Chủ Nhiệm Ủy Ban về Các Vấn Đề Xã Hội

V/v Góp Ý Cho Dự Thảo Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi)

Kính thưa Chủ Tịch:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, kính có các góp ý sau cho Dự Thảo Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc, Và Giáo Dục Trẻ Em (Sửa Đổi) dự kiến sẽ được đưa ra cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 Quốc Hội Khóa XIII.

1) Về Điều 40.4

Với nội dung “sống trung thực, khiêm tốn” ở Điều 40.4, tôi đề nghị loại bỏ từ “khiêm tốn” vì “khiêm tốn” hoàn toàn đối nghịch với “trung thực”. Ý nghĩa của “khiêm tốn” đã được tôi phân tích trong bài viết blog của tôi mà tôi xin gởi đính kèm với bức thư này, trong đó có nêu không những sự khác biệt của “khiêm tốn ngoại vi” và “khiêm tốn nội tại” trong tiếng Anh, mà còn sự sai lầm của người Việt trong tôn vinh sự “khiêm tốn”, cũng như dẫn chứng và phân tích của tôi về lý do có sự thay đổi năm 1965 trong lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” vì trong nguyên tác của Người năm 1961 chưa có từ “khiêm tốn”.

2) Về Chương II: Các Quyền Và Bổn Phận Của Trẻ Em

Tôi kính đề nghị thêm một điều khoản về Quyền Lao Động đối với trẻ em có năng khiếu bẩm sinh về khoa học, kỹ thuật, mỹ thuật, thể dục thể thao, và văn nghệ. Điều này nhằm bảo đảm các em có biệt tài trong các lĩnh vực trên có quyền được lao động với đầy đủ quyền lợi như có hợp đồng lao động; có thù lao tương xứng và bình đẳng với các thành phần lao động khác trong xã hội; có quyền có thu nhập hợp lý từ tài năng của mình trên co sở được ưu tiên về thời gian hợp lý trong thực hiện hợp đồng lao động (người đại diện ký kết hợp đồng là Cha/Mẹ hoặc người Giám hộ trẻ) và điều kiện lao động; và được bảo vệ cao nhất trong lao động.

Kính mong Chủ Tịch quan tâm đến các ý kiến đóng góp trên.

Kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

Tài liệu đính kèm: bài viết Khiêm Nhường của tác giả Hoàng Hữu Phước

Khiêm Tốn

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi thụ hưởng một nền giáo dục Tây học, theo một ngành thiên hẳn về Tây học khi tài liệu tham khảo toàn học Tây, và trong những ngành nghề mà tôi làm chuyên gia lại có cả ngành thuần Tây là nhân sự. Thế nên tổi hiểu rất rất rõ một điều về đức tính trung thực của người bản lĩnh theo phong cách Tây. Từ nhỏ, qua tài liệu tiếng Anh tôi đã biết khi dự phỏng vấn tuyển dụng, ứng viên Âu Mỹ phải cho người phỏng vấn biết rõ mình có khả năng gì, có thể làm lợi nhuận của công ty gia tăng bao nhiêu phần trăm sau bao nhiêu tháng, v.v., và thậm chí các cẩm nang dạy viết tiếng Anh cũng có những mẫu thư xin việc nêu những nội dung mang tính khẳng định ấy. Điều kỳ lạ là nhiều người Việt Nam cho rằng sự khẳng định đầy chuyên nghiệp của tôi là biểu hiện của sự không khiêm tốn, trong khi tôi chào thua trước kiểu vĩ nhân cực kỳ phóng đại nổ đại bác mà nhiều người Việt sử dụng như “sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu và nhận bất cứ sự phân công nào của tổ chức.” Vài năm đầu sau giải phóng, khi tôi làm hồ sơ tốt nghiệp đại học để nhận phân công, anh lớp trưởng mà tôi đã giúp viết giùm luận án để anh ấy chính thức trở thành giảng viên đại học (tôi không là đoàn viên cộng sản nên dù thầy cô đề nghị giữ tôi lại dạy đại học, trường vẫn không chịu vì không yên tâm với một sinh viên hippie ngoài Đảng ngoài Đoàn như tôi) giật mình khi đọc giòng chữ tôi viết trong hồ sơ (rằng tôi chỉ có một khả năng hạn hẹp duy nhất là dạy Anh Văn từ hệ cao đẳng trở lên, và chỉ có thể dạy hạn hẹp tại Thành phố Hồ Chí Minh) nên muốn đền ơn tôi bằng cách chạy xin bộ hồ sơ mới rồi tìm tôi năn nỉ tôi viết lại theo kiểu vĩ nhân cực kỳ phóng đại nổ đại bác để lãnh đạo trường không kiếm cớ cho tôi thất nghiệp dài dài vì cái tội học xong mà chẳng … đa tài, phụ lòng Nhà nước. Nhưng tôi nói với anh ấy là tôi không phải vĩ nhân, tôi chỉ làm được mỗi một việc cỏn con “dạy Anh văn hệ từ hệ cao đẳng trở lên” để giúp nước mà thôi, và do đó không dám bỏ đức khiêm nhường để nhận láo rằng mình có thể làm bất kỳ việc gì. Anh ấy chào thua, buồn rầu bỏ đi, và sau đó tôi được Tổ Chức Chính Quyền phân công về dạy ở…Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh do trường này làm đơn xin tôi sau khi đọc hồ sơ bảng điểm của tôi (cùng lúc đó Sở Công An cũng xin tôi về làm công tác an ninh tình báo sau khi đọc hồ sơ rất “thành thật, chân chất, và …cực kỳ khiêm tốn” của tôi). Còn anh ấy được cho đi nước ngoài học, lấy bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, về làm lãnh đạo khoa.

Như vậy, bạn thấy đấy, tôi là người trung thực kiểu Tây. Tôi thậm chí còn dạy con tôi rằng khiêm tốn đồng nghĩa với dối trá và tránh né gánh nặng trách nhiệm. Giỏi mà nói mình không giỏi, thế chẳng dối trá là gì, chẳng nhát gan là gì, và chẳng bị đánh rớt bởi những đại gia cỡ Donald Trump là gì. Giỏi mà không nói gì cả, chẳng xung phong nhận các việc gai góc để người khác lao lung còn mình thảnh thơi, thế chẳng né tránh trách nhiệm là gì.

Khiêm tốn đích thực không thể là vấn đề ngoại vi mà là nội tại.

Khi bạn khiêm tốn nội tại, bạn không bao giờ hài lòng với chính mình, tự thấy mình vẫn còn thua kém nên bạn cứ phải học, phải học thêm, học thêm mãi. Khi bạn khiêm tốn nội tại, mỗi khi nghe ai ngợi khen bạn, bạn sẽ chỉ cảm ơn một cách nghiêm trang với nụ cười biết ơn – theo đúng phong cách Tây – rồi nói lảng qua chuyện khác, không nói thêm điều gì có liên quan đến cái kỳ tích mà nhờ nó bạn vừa được khen ấy.

Khi bạn khiêm tốn ngoại vi, bạn chỉ đợi có người khen là bạn lập tức nói câu chót lưỡi đầu môi rằng “có gì đâu, tôi còn phải học hỏi nhiều” cùng nội dung vĩ nhân như “thì tôi chỉ biết làm tốt mọi nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo phân công mà thôi” kèm nội dung rộng-lượng-lễ-độ-kéo-dính-chùm như “cũng nhờ có lãnh đạo luôn động viên, chỉ đạo sát sao, giúp đỡ tận tình” với nụ cười mãn nguyện rồi khai thác thêm các chi tiết liên quan đến kỳ công mà nhờ nó bạn vừa được khen. Khi bạn khiêm tốn ngoại vi, bạn rất vui vẻ khi những người xuất sắc hơn bạn giở cùng chiêu thức “có gì đâu, tôi còn phải học hỏi nhiều” vì khi họ nói như thế, bạn tự nhiên có được cơ hội sánh ngang bằng với họ dưới mắt mọi người.

Tôi dạy học trò của tôi tiếng Tây, trung thực kiểu Tây, tiếp thu mọi cái hay của Tây để làm việc cho Tây hầu kiếm thật nhiều tiền phục vụ Việt Nam và đem sự kính trọng của Tây về cho người Việt, không được xài ngôn ngữ…vĩ nhân kiểu Việt để tránh bị Tây cho rằng mình là siêu nhân superman học nhiều quá nên bị hâm hóa tửng tửng, và khiêm tốn kiểu nội tại theo định nghĩa và định hướng của tôi, nhờ vậy đa số các em đang là những công dân Việt Nam thành đạt, chân chính, không tì vết, được lãnh đạo các công ty nước ngoài nể trọng.

Tóm lại, thưa bạn, tôi không sợ bị cho là không khiêm tốn. Học trò tôi, những công dân đáng kính ấy, luôn nhớ tôi là “anh Thầy” duy nhất mỗi khi gặp câu hỏi hóc búa của sinh viên luôn trả lời (bằng tiếng Anh bình dân đơn giản) rằng “nội dung này Thầy chưa từng nghiên cứu nên mấy em cho Thầy vài ngày tìm tài liệu rồi trả lời vào tuần sau nghen”, trong khi các Thầy Cô khác thì quát lên (bằng tiếng Anh hàn lâm phức tạp) rằng “hãy ngồi xuống, xử sự cho đàng hoàng, sao lại phá phách hỏi tào lao làm mất thì giờ của lớp!”.

Chắc bạn đồng ý với tôi là một khi đã trả lời như trên với sự tôn trọng học trò và với cung cách người phải học, phải học thêm, phải học thêm mãi, tôi sao lại phải sợ bị cho là không khiêm tốn.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” như lời dạy thiếu niên Việt Nam năm 1961, thiết nghĩ các bạn cần biết một sự thật là Người đã không nêu từ “khiêm tốn” trong năm 1961 ấy mà phải đợi đến năm 1965 từ ngữ ấy mới được bổ sung vào. Nhiều vị cố gắng giải thích nào là Hồ Chủ Tịch thêm vào cho đủ 6 chữ cân đối toàn nội dung của 3 cụm (Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm), nào là Hồ Chủ Tịch thêm vào vì sợ thiếu nhi tự mãn với các kỳ tích đạt được trong thi đua yêu nước sẽ ngưng không phấn đấu nữa. Tôi nghĩ khác, rằng Hồ Chủ Tịch là bậc uyên bác ngôn ngữ tiếng Việt nên làm gì có sự e sợ tức cười như thế, mà ắt sự đắn đo suy nghĩ lâu của Người là do ái ngại ý nghĩa dễ nhầm lẫn của “khiêm tốn” vốn là từ chỉ dành riêng cho người lớn có trình độ hiểu biết cao chứ không phải của trẻ em, và sự chỏi nhau của “khiêm tốn” với “thật thà, dũng cảm”, vì rằng khiêm tốn khiến người ta không dám nói thật về cái giỏi của mình, mà như thế là nói dối tức không “thật thà”, và nhát gan tức không “dũng cảm” nhận mình giỏi; rằng khiêm tốn còn khiến người ta luôn nói mình chưa giỏi khiến toàn bộ công sức giáo dục của Đảng và Nhà nước hóa ra chỉ đào tạo ra những thế hệ công dân không bao giờ giỏi hay sao?

Thật thà khiến người ta nói sự thật rằng mình yếu kém. Thật thà khiến người ta nói sự thật rằng mình xuất sắc.

Dũng cảm khiến người ta dám nói sự thật rằng mình yếu kém. Dũng cảm khiến người ta dám nói sự thật rằng mình xuất sắc.

Chỉ có người trưởng thành có học thức mới phân biệt được rằng “khiêm tốn” là nhận thức ngầm tự thân để bản thân luôn không ngừng phấn đấu hoàn thiện hơn, còn “thật thà, dũng cảm” là sự thể hiện ra bên ngoài, vì thế “khiêm tốn” là cái không thể nghe được, và ai phát âm ra những lời nói khiêm tốn nghĩa là đang hiểu sai về khiêm tốn.

Không ngừng học tập nâng cao tri thức và học hỏi từ người khác ngay cả khi đó là học trò hay nhân viên dưới quyền hoặc người dân nghèo ít học, đó là tư cách người có tâm khiêm tốn và tầm cao khiêm tốn của bậc đạt nhân quân tử đại trượng phu. Khi nhận mình yếu kém hay giỏi giang, đó là thể hiện lòng tự trọng, tính chân thật, và sự dũng cảm của người đoan chính.

Tôi tin chắc rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có liên hệ đến tiếng Anh và tiếng Pháp nên có sự đắn đo suốt 5 năm trước khi quyết định dùng từ khiêm tốn làm lời khuyên bổ sung vào vế chót, ắt với sự tin tưởng rằng những nhà giáo, những đoàn viên thanh niên sẽ biết cách giải thích cặn kẽ cho thiếu nhi và thiếu niên để rèn khiêm tốn nội tại sớm hơn trẻ em nước ngoài. Phân tích thêm trong tiếng Anh bạn sẽ thấy người phương Tây hiểu rất rõ về xảo ngôn và trung ngôn nên tạo ra hai từ modestyhumility khác nhau, trong khi tiếng Việt chỉ có mỗi một từ khiêm tốn (tức khiêm nhường). Modesty là sự thể hiện ra bên ngoài, giả vờ không biết mình giỏi hoặc cố tình nói thấp bản thân mình xuống nhằm mục đích hấp dẫn người khác ngợi khen mình thêm nhiều hơn, và trong nhiều trường hợp là để không trung thực với người khác, nên modesty dính với cách ăn nói, cách ăn mặc và cách ứng xử. Modesty là cái để xã hội nhìn thấy, qua đó đánh giá mỗi một con người, trong khi humility là nhận thức tự thân và có khi rất khắc nghiệt với bản thân, ép bản thân phải lao tâm khổ tứ tìm học cái hay của người khác (y hệt như câu nói của Lenin), vì kính trọng và tôn trọng người khác. Tuy hiện nay ngay cả người Âu Mỹ vẫn chưa phân định rõ ràng sự khác biệt giữa khiêm tốn modestykhiêm tốn humility, nhiều nhân vật tên tuổi như C.S. Lewis vẫn khuyên hãy khiêm tốn humility vì nết này đánh bật khiêm tốn modesty. Ý lớn gặp nhau: tôi nhiều chục năm nay đã nói với học trò và con cháu về khiêm tốn nội tạikhiêm tốn ngoại vi là những từ do tôi chế ra, nay nếu gán khiêm tốn nội tại cho humilitykhiêm tốn ngoại vi cho modesty ắt là cách dịch không phải là không thích hợp.

Nhờ khiêm tốn, tôi đã ép mình không ngừng học tập để thật thàdũng cảm nói rằng các nhà biện thuyết giáo sư nước ngoài vào Việt Nam thuyết trình đã nói sai ra sao.

Nếu bạn gặp người nào khiêm tốn ăn nói kiểu nội tại tôi vừa nêu trên, bạn hãy hỏi thăm vì ắt họ hoặc là học trò ruột của tôi hoặc là học trò ruột của học trò ruột của tôi hoặc là học trò ruột của học trò ruột của học trò ruột của tôi, vì thầy nào trò nấy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết của Hoàng Hữu Phước năm 2011 về Khiêm Tốn đăng lần đầu trên mạng Emotino.com ngày 10-10-2011 (http://www.emotino.com/bai-viet/19329/khiem-ton-tra-loi-cau-hoi-nhay-cam-cua-doc-gia-emotino), đăng lại trên blog Hoàng Hữu Phước Và Thầy Cô ngày 12-3-2013 (http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/khiem-t%e1%bb%91n/), và gần đây nhất là đăng lại ngày 22-02-2015 trên wordpress.com (https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/khiem-ton/