Category Archives: Ngôn Ngữ

Cảnh Báo: Nguyên Thủ Canada

Hoàng Hữu Phước, MIB

10-02-2018

Mới tuần trước đây thôi, Thủ Tướng Canada Justin Pierre James Trudeau – gọi ngắn là Justin Trudeau và gọi tắt là Trudeau – đã phạm phải một lỗi mà bất kỳ thằng nhóc nào ở bất kỳ quốc gia nào học đòi làm chính trị cũng bắt buộc phạm phải: đó là miệng phát ngôn xằng bậy trong khi cùng lúc đó đầu óc ngỡ là vừa truyền lịnh cho mồm nhả ngọc phun châu.

Sự thể là vào ngày đầu tháng 02-2018, tại buổi gặp mặt sinh viên Đại Học Edmonton ở Alberta, khi một nữ sinh đứng lên trình bày kiến nghị mong Thủ Tướng hãy xem xét việc thay đổi các chính sách công nhận năng lực và sức mạnh mà phụ nữ thực sự sở hữu vì rằng “tình yêu của mẹ chính là thứ tình yêu sẽ làm thay đổi tương lai nhân loại” (nhân loại = “mankind”), thì cứ như thể đĩa phải vôi (“recoil like being shot by a crossbow”) vừa nghe đến chữ “mankind” là Trudeau lập tức chen ngang sửa lưng đề nghị cô ấy hãy dùng chữ trung dung trung tính hơn đó là “peoplekind” thay cho “mankind” (với “people” có nghĩa “người ta” còn trong “mankind” có chữ “man” là “đàn ông” sẽ có hơi hướm phân biệt giới tính và đặt “đàn ông” cao quý hơn phụ nữ vì đàn ông tạo ra nhơn loại).

Canada

Ngoài hành động bất nhã chặn họng một nữ sinh, Trudeau còn sai hoàn toàn về từ nguyên tiếng Anh, vì theo từ nguyên học tiếng Anh thì vào thời xa xưa, người nam được gọi là “werman” còn người nữ được gọi là “wyfman” và trong cả hai từ này thì “man” là từ trung tính chỉ có nghĩa là “người”. Nghĩa là ngay từ khi xuất hiện, từ “mankind” đã mang nghĩa “nhơn loại” tức “loài người” chứ không hề có công thức cấu tạo từ nào mang dáng dấp “man + kind” cả để mà bảo “man” là “đàn ông” vì như thế chẳng khác nào cho ra tiếp các chữ như boykind (giới…trai tráng) hay girlkind (giới…gái gáng) – thậm chí có người Mỹ còn nhạo rằng cũng không thể có womankind (giới…phụ nữ) vì lại có chữ man nên lẽ nào Trudeau lại sẽ rặn đẻ ra từ wokind để không phân biệt giới tính rằng nam ưu việt hơn, và tôn vinh phụ nữ chăng?

Ắt ở Canada sẽ gọi phụ nữ là “wo”. Tất nhiên rồi. Trudeau phải rặn đẻ ra Canenglish tức Tiếng Anh Của Canada cho vinh diệu giòng họ Trudeau chớ!

Sau một tuần chứng kiến sự dấy lên của các công kích từ thế giới nói tiếng Anh mà đa số các công kích thóa mạ nhạo báng đến từ Mỹ – có một góp ý nhỏ nhẹ nhún nhường hạ mình sát rạt sàn nhà rất lịch sự lại đến từ Việt Nam mang tính giáo dục & đào tạo cao của đạo lý người Việt:

Canada (5)

Trudeau đã phân bua – rất khôn ngoan bằng cách nói pha trộn tiếng Anh với tiếng Pháp để ra vẻ bản thân ắt có lẫn lộn gì chăng – với các nhà báo là ông chỉ đùa thôi, và thêm rằng: “Các khanh biết rồi đấy, trẫm đâu cần được sử sách ghi nhận nổi tiếng cực đỉnh về nói đùa đâu” (You all know that I don’t necessarily have the best of track records on jokes). Thấy vị nguyên thủ mặc tã hút ấy càng nói càng hớ, vị chuyên gia Lexicology người Việt trên suýt nữa đã phang thêm rằng “Này nhóc, Thiên Tử Bất Hý Ngôn đấy. Bộ không cần danh tiếng diễu có duyên nên cứ diễu vô duyên nhảy vô họng phụ nữ hử? Cái đồ…bất hiếu!

Thật ra, kể từ khi Donald Trump thâu tóm xã tắc đền đài miếu mạo Hoa Kỳ vào tay mình, nước Mỹ và Châu Âu trở nên điên loạn, cực đoan, và đại ngu. Thí dụ gần đây nhất là khi Cabot Phillips vừa đọc từng “phát biểu của Donald Trump” vừa hỏi ý kiến sinh viên Đại Học John Jay College ở New York, thì ai cũng chê bai, phản bác nội dung, gọi đó là những phát biểu của “một thằng đần độn” không thể sánh với tuyệt đỉnh thông tuệ uyên bác Barack Obama, để rồi khi kết thúc buổi gặp mặt, Cabot Phillips mới cho họ biết toàn bộ các phát biểu nãy giờ “thầy” đã đọc lấy ý kiến các em thực ra là của Barack Obama thốt lên khi còn tại nhiệm:

Canada (6)

Lần lượt, chỉ vì chống Trump mà những người từng là “nguyên thủ” hay từng mơ tưởng đến ghế “nguyên thủ” trở thành đối tượng của sự miệt thị công khai, như:

Canada (3)

Theo đà suy đồi đó, ngay cả tên giáo sư đoạt giải Nobel Kinh Tế Paul Krugman mà Việt Nam có kẻ từng khúm na khúm núm thỉnh qua Việt Nam phun châu nhả ngọc cũng lên Twitter (@paulkrugman) ngu xuẩn chê bai Trump bằng thứ tiếng Anh hạ đẳng rồi tiên đoán ngu xuẩn về kinh tế Mỹ sụp đổ thời Trump chỉ để bị @HoangHuuPhuoc mỉa mai mắng mỏ. Còn Đại Học Yale lừng danh thế giới cũng bày đặt ra quyết định trong khuôn viên trường sẽ không được dùng các từ  freshman (sinh viên năm thứ nhất) và upperclassman (sinh viên lớp trên) vì các từ này có chữ “man” là “đàn ông” mang hơi hướm cho đàn ông là chủ tể và hạ phẩm giá phụ nữ. Những từ mới sẽ lần lượt là first year studentupper-level student.

Canada (2)

Trước sự thật rằng sở dĩ thế giới Âu Mỹ đang điên loạn về cái gọi là nữ quyền là do phụ nữ ở nước họ chưa từng được hưởng dân chủ tự do đặc biệt về nữ quyền như ở Việt Nam Cộng Sản, đất nước duy nhất trên Địa Cầu đã thực sự giải phóng phụ nữ mà vị trí người phụ nữ được thể hiện rõ nét nhất trong tập tục tiến đến hôn nhân, tập tục tiến hành hôn lễ, và quy định từ ngàn xưa đến nay trong căn cước nữ công dân sau hôn lễ;

Trước sự thật rằng sở dĩ thế giới Âu Mỹ đang điên loạn với hết phong trào này đến phong trào khác là do sự kích động của Đảng Dân Chủ Mỹ chống lại và phá thối Tổng Thống Donald Trump, khiến khuấy động sự nhận ra của dân Tây Âu đối với một sự thật nhiều trăm năm quên khuấy rằng hóa ra Tổng Thống là kẻ mà người dân có quyền chống lại, bôi nhọ, chửi bới, thóa mạ, dọa giết; và

Trước sự thật rằng sở dĩ thế giới Âu Mỹ đang điên loạn với hết phong trào này đến hết phong trào khác là do toàn bộ các đế chế truyền thông chính thống Âu Mỹ đều bị lột mặt nạ thành các cơ quan Fake News đưa tin giả trá từ các cáo buộc mạnh mẽ không khoan nhượng của Donald Trump, khiến thế giới truyền thông càng ra sức chống Trump tạo nên cuộc chiến trong nội tình truyền thông khiến người đọc tin tức càng đấu khẩu chống nhau tàn độc hơn trên không gian mạng, còn báo giới càng tàn độc hơn trong phỏng vấn, đưa tin, bất kể đó là lúc đặt câu hỏi với Sarah Sanders hay với các nguyên thủ nước ngoài;

Nguyên thủ Việt Nam mỗi khi trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài hoặc trò chuyện với các nguyên thủ con nít nước ngoài cần lưu ý:

(a) bảo đảm cán bộ thông-phiên dịch đã chuẩn bị tinh thần và cẩm nang tránh tuyệt đối các sơ xuất về lựa chọn từ ngữ tiếng Anh có liên quan đến các phong trào nữ quyền, phân biệt chủng tộc, thượng đẳng da trắng, v.v;

(b) chuẩn bị tinh thần và cẩm nang đối đáp cho trường hợp bị bắt bí về nội dung có liên quan đến các phong trào nữ quyền, phân biệt chủng tộc, thượng đẳng da trắng, v.v.

(c) chuẩn bị tinh thần và cẩm nang đối đáp cho trường hợp bị bắt bẻ về từ ngữ tiếng Anh có liên quan đến các phong trào nữ quyền, phân biệt chủng tộc, thượng đẳng da trắng, v.v.; linh động biến hoàn cảnh này thành cơ hội để thi thố “sense of humor” tức khiếu hài hước bằng cách nói: “Bạn biết gì không, Việt Nam chúng tôi có nhiều chuyên gia Lexicology tiếng Anh lắm. Nếu bạn cần học cách tạo từ tiếng Anh, thư ký của tôi sẽ cung cấp cho bạn một cái tên. Giá cả nghe đâu cũng rất phải chăng cho lớp ngày với phụ thu chút ít cho lớp đêm, và không nhận thanh toán bằng đồng Bitcoin.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Giảng-viên Lexicology Tiếng Anh, Nghị-sĩ Quốc-hội Khóa XIII, Ủy-viên Ủy-ban Đối-Ngoại Quốc-hội Khóa XIII.

Tham khảo:

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”  30-11-2015

Sarah Sanders  09-01-2018

Vì Sao Tôi Không Quan Tâm Đến Buổi Hội Thảo Của Paul Krugman Bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng ngày 08-6-2009 trên Emotino (đã đóng cửa); nội dung vể Giáo Sư Paul Krugman, nhà kinh tế học duy nhất đoạt giải Nobel Kinh Tế năm 2008, tại  buổi thuyết trình ngày 21-5-2009 về đề tài “Tìm Kiếm Cơ Hội Và Giải Pháp Trong Khó Khăn Và Khủng Hoảng” do trường Doanh Nhân PACE tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh; đặc biệt nêu lời thú nhận của ông rằng ông đã chưa hề nghiên cứu về Việt Nam, rằng ông mới ở Việt Nam chưa quá 24 giờ và chủ yếu ở trong khách sạn nên Ông không thể khuyên Việt Nam điều gì, rằng Ông ra Hà Nội để học hỏi với tư cách một columnist (nhà báo viết chuyên mục), một nhà báo, chứ không phải như một nhà tư vấn chính sách. http://www.emotino.com/bai-viet/17866/vi-sao-toi-khong-quan-tam-den-buoi-hoi-thao-cua-paul-krugman

Advertisements

Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt – Bài 2

Những Nội Dung Duy Nhất Đáng Quan Tâm Cho Việc “Cải Tiến” Tiếng Việt

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-12-2017

Bai2

A- Phân Định Phạm Vi: Đừng Lẫn Lộn

Những dẫn dắt đẩy sự việc tiến đến các quái gỡ trong các cái gọi là “công bố” liên quan đến hoặc “Sử học” hoặc “Ngôn ngữ học” hay “Ngôn ngữ tiếng Việt học” bao gồm – song không chỉ có bấy nhiêu đây – nhà công bố (a) toàn là các giáo sư tiến sĩ chốn lô-cốt ngà chưa bao giờ biết thế nào là tháp ngà và chưa bao giờ trong đời đã từng tiến hành làm luận án nghiên cứu kể cả cái gọi là luận văn tốt nghiệp theo bài bản thực hành tốt nhất của Âu Mỹ về kỹ thuật, hình thức, và nội dung; (b) toàn theo bản sắc đặc trưng thuần Việt tối kỵ trong sinh hoạt hàn lâm thế giới: ta là số một nên không bao giờ chịu tìm đọc các tài liệu của người khác dù phải mày mò rị mọ mò mẫm một mình vùi trọc lóc đầu nghiên cứu trớt quớt suốt 40 năm; và (c) toàn theo công thức cố định của những nhà ngự trị lô-cốt ngà: khi nghỉ hưu chỉ phải làm một trong các việc quan trọng để lưu truyền hậu thế gồm “công bố” công trình nghiên cứu đầu tiên và cuối cùng đã tự tiến hành 40 năm trước đó, tham gia bầy đàn hùa nhau ký tên kiến nghị Đảng và Nhà Nước làm hay không làm cái gì đó, và “độc lập tác chiến” không đứng chung tên với bất kỳ tên lô-cốt ngà nào khác đối với lĩnh vực dân chủ-nhân quyền-tù nhân lương tâm-đa đảng-đa nguyên-tam quyền phân lập-vân vân và vân vân tức những nội dung lạ hoắc chưa bao giờ nghĩ đến trong suốt 40 năm nghiên cứu việc riêng.

Chính bởi chưa từng tiến hành làm luận án nghiên cứu kể cả cái gọi là luận văn tốt nghiệp theo bài bản thực hành tốt nhất của Âu Mỹ về kỹ thuật, hình thức, và nội dung hàn lâm, nên mới có mấy kẻ hùng hổ tuyên bố “Sử không có vùng cấm”, hoặc “cải tiến Tiếng Việt”, v.v. toàn bá láp tầm phảo.

Chính bởi không bao giờ chịu tìm đọc các tài liệu của người khác dù phải mày mò rị mọ mò mẫm một mình vùi trọc lóc đầu nghiên cứu trớt quớt suốt 40 năm nên “tiến sĩ” Bùi Hiền không biết rằng đã có “nhà nghiên cứu” duy nhất về ngôn ngữ tiếng Việt là “thạc sĩ” Hoàng Hữu Phước nêu lên vấn đề dấu gạch nối và sau đó là vấn đề luật hóa bảng chữ cái mới của chữ viết tiếng Việt tức hai nội dung duy nhất có liên quan đến “cải tiến”.

Do dốt đặc về ngoại ngữ mà vẫn được Đảng và Nhà Nước phân công lãnh đạo đại học ngoại ngữ khiến nước nhà chưa thể có sinh viên ngoại ngữ tốt nghiệp viết/nói ngoại ngữ thượng đẳng, “Tiến Sĩ” Bùi Hiền đã hoàn toàn không biết các nội dung mang tính phân định sau để không phí hoài 40 năm lẽ ra đã dành cho phục vụ và phụng sự đất nước dân tộc ra hồn:

1) Sinh Ngữ:

Một ngôn ngữ sống luôn bao trùm các phạm trù tồn tại, phát triển, điều chỉnh biến hình, hấp thụ, đào thải bộ phận, thay thế bộ phận. Đó là chân lý muôn đời ở muôn nơi. Không biết chân lý này thì không có quyền bất kỳ để “công bố” ngay cả một “công trình cá nhân” về ngôn ngữ.

2) Đổi Thay Hình Thức:

Đổi thay hình thức là một đổi thay toàn diện về hình thức tức về ngôn ngữ viết. Chỉ về ngôn ngữ viết.

Ngôn ngữ tiếng Việt tất nhiên có những phạm trù chung của một sinh ngữ. Tuy nói chung ngôn ngữ nói tiếng Việt tồn tại dài lâu, ngôn ngữ viết tiếng Việt đã có đổi thay toàn diện triệt để và dứt khoát khi xuất hiện cách sử dụng mẫu tự alphabet để thể hiện ra chữ viết mới của ngôn ngữ nói hiện hành của người Việt. Đó là thay đổi triệt để chứ không là “cải tiến”. Không hiểu nội hàm của từ ngữ “cải tiến” trong ngôn ngữ thì đừng nói đến “nghiên cứu” ngôn ngữ quái gì cả mà đem ra công với bố.

Việt Nam đã có quá nhiều những kỳ cải cách giáo dục, và cách viết – chứ không phải chữ viết – các mẫu tự tiếng Việt đã bao phen thay đổi, và đa số các lần đều bị phụ huynh càm ràm chê bai cho rằng chữ trông trọc lóc hoặc đứng không vững vì mất đế trụ, v.v. Đó là cải tiến.

Trong tiến trình hoàn thiện hóa, tiếng Việt (tức “chữ Quốc ngữ”) cũng đã có những thay đổi nhất định không mang tính hệ thống về chữ viết. Những thí dụ cụ thể nhất là từ câu viết Lạy Đức Chúa B’lời biến thành Lạy Đức Chúa Trời, do ngôn ngữ nói phát âm “trời” thì ắt nên được viết sao cho có chữ t và r thay vì chế ra ký hiệu b’l.

Ngoài ra, việc đổi thay hình thức ngoài dạng triệt để như tiếng Việt từ chữ tượng hình của Hán và Nôm dứt khoát sang mẫu tự alphabet, còn có dạng đổi thay hình thức bổ sung như tiếng Hàn, tiếng Nhật, nghĩa là cùng với chữ viết truyền thống Nhật/Hàn được dùng hàng ngày trong toàn xã hội nước họ, còn có chữ viết theo mẫu tự alphabet để ghi lại theo phiên âm ngôn ngữ nói, nên thê giới mới biết đến các từ như Yamamoto, Nagasaki, hay giám khảo Jay Park của Asia’s Got Talent 2017.

Chưa kể còn có dạng đổi thay hình thức cũng triệt để nhưng không do mô phỏng hệ chữ viết ngoại lai, như từ chữ viết tiếng Anh cổ thời thiên anh hùng ca Beowulf sang chữ viết tiếng Anh ngày nay, từ chữ viết tiếng Nga cổ sang tiếng Nga thời nay, v.v.

Bùi Hiền đã “công bố” cái nhằm thay đổi triệt để chữ viết tiếng Việt. Việc thay đổi triệt để tiếng Việt chỉ xảy ra có một lần khi mẫu tự alphabet được áp dụng, và được cải tiến dần cho đến tiếng Việt hiện nay. Cần ghi nhớ rằng Chữ Nôm không là một thay đổi triệt để tiếng Việt mà chỉ là một thay đổi bổ sung do luôn có hai thứ song song tồn tại trong xã hội là Chữ Hán và Chữ Nôm mà các nhà tinh hoa trí thức đặc thù Việt luôn thể hiện thói sính ngoạitật chống chính quyền bằng cách tỉnh bơ sáng tác thơ văn bằng chữ Hán và miệt thị chữ Nôm, gọi nó là “mách qué”.

Khi Việt thay đổi triệt để chữ viết tiếng Việt đã nhằm sử dụng hệ thống mẫu tự quen thuộc đối với đa số các quốc gia, và dù ý chí ban đầu chỉ là để các giáo sĩ giúp dân chúng thuộc địa có thể đọc được bản dịch Thánh Kinh Cơ Đốc, thì nói chung ai đó có thể nhảy cẩng lên mà khoe khoang rằng cái sự “hội nhập” và “toàn cầu hóa” đao to búa lớn ngày nay hóa ra đã khởi sự từ xưa lắm ở nước tôi đấy nhé!

Nay Bùi Hiền đề xuất ý kiến thay đổi triệt để chữ viết tiếng Việt mà theo ông ta nhằm (a) tiết kiệm và (b) giúp thế giới học tiếng Việt dễ hơn.

Vĩ đại thay! Giá như Bùi Hiền đừng ỏn ẻn mà tự tin “công bố” tư duy ấy cách nay 40 năm thì đã nhận tài trợ khủng khiếp của Nhà Nước để đẩy nhanh nghiên cứu đem ra thực hiện thì có phải nước nhà đã phát triển sớm nửa thế kỷ cũng như đã tiết kiệm biết bao giấy mực giúp nhân loại khỏi phải lâm cảnh biến đổi khí hậu thế này!

3) Cải Tiến:

Như vậy tóm lại, Bùi Hiền muốn thay đổi toàn diện triệt để chữ viết Tiếng Việt chứ không phải cải tiến nó. Có phân định rạch ròi như vậy mới có thể phê bình hay phê phán Bùi Hiền. Và khi đã phân tích để khẳng định cái đề xuất ấy là thay đổi toàn diện triệt để chữ viết Tiếng Việt thì có thể khẳng định đó là đề xuất ngu xuẩn, trá ngụy, do không dính dáng gì đến “tiết kiệm” hay “dễ học” cả. “Tiết kiệm” và “giúp người nước ngoài dễ học” không bao giờ là lý do cho bất kỳ một đại cuộc đầy tốn kém mà người ở bất kỳ quốc gia nào lại ngu đần đến mức thực hiện cả.

“Cải tiến” tự thân ngữ nghĩa không có nội hàm bao trùm mà chỉ là bộ phận, thí dụ như cải tiến hệ thống phanh xe ô tô (không phải chế xe mới), cải tiến mẫu mã (không phải chế hàng hóa khác từ bên ngoài đến bên trong), cải tiến hệ thống quạt (không phải chế hệ thống khác).

Tất cả những ai sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn cùng thời với tác giả bài viết này ắt còn nhớ vào những năm 1960 của thế kỷ trước có xuất hiện quyển từ điển Anh-Anh hoặc Anh-Pháp dày khoảng 1,5cm, bìa màu vàng tươi, gáy lò xo xoắn, nhập khẩu vào Việt Nam, trong đó đã dùng các con số thay cho cách ghi phiên âm thông thường. Đó là một “thăng hoa” cá nhân, không là một “công bố cải tiến”, và nó đã tự hủy cứ như chưa từng được đề ra.

Tất cả những ai giảng dạy Anh Văn chính quy đại học vào đầu những năm 1980 của thế kỷ trước cùng thời với tác giả bài viết này ắt còn nhớ đã có lúc từ điển Anh-Anh Oxford đã thay đổi cách ghi phiên âm (thí dụ a âm ngắn và a: âm dài thành a âm dài và A âm ngắn, v.v.) và bỏ tất cả các dấu chấm sau Mr và Mrs, khiến toàn ban Anh Văn ở các đại học cao đẳng đều tuân theo răm rắp, mà chỉ có tác giả bài viết này tuyên bố với sinh viên rằng đó là sự ngu xuẩn của Oxford, rằng mọi sự sẽ trở lại như cũ, và rằng bất kể các thầy cô khác đều gạch bỏ đỏ lòm trừ điểm các chỗ “sai vì không giống Oxford” trên bài viết của học trò thì sinh viên khi viết luận văn vào giờ dạy của tôi hãy cứ duy trì viết Mr. và Mrs. Nghĩa là có dấu chấm. Thực tế lịch sử sau đó đã chứng minh: Oxford sau này ấn hành từ điển đã trở lại cách ghi phiên âm truyền thống, còn toàn thế giới hiện nay không có bất kỳ ai không dùng Mr. và Mrs., biến Mr và Mrs thành trò tên đại ngốc Hornby ở Đại Học Oxford. Đó là một “thăng hoa” cá nhân, không là một “công bố cải tiến”, và nó đã cứ như chưa từng được đề ra trong thế giới hàn lâm nếu như hôm nay không được Hoàng Hữu Phước nhắc đến.

Như vậy, chỉ có một động tác duy nhất đúng của nhà hàn lâm bẩm sinh khi gặp phải “công trình” của kẻ không phân biệt được ý nghĩa của “cải tiến”: vất xấp công trình đó ngay vào sọt rác.

4) Tiết Kiệm:

Bùi Hiền lạm ngôn về “tiết kiệm.” Mặc xác chuyện y phí bỏ 40 năm của y. Nhưng phải nêu lên sự thật rằng nếu chẳng may lãnh đạo nước nhà ngu đột xuất cho đem thực hiện cái ý tưởng của Bùi Hiền thì sự phí phạm sẽ cực kỳ khủng khiếp về thời gian toàn quốc và chi phí …giáo dục toàn dân cũng như chi phí đổi tất cả các cột mốc biên giới, các bảng tên bằng kim loại quý đính trên dinh thự các đại sứ quán và cơ quan ngoại giao của Việt Nam, đại cuộc thay đổi căn cước cùng các loại giấy tờ công chứng, v.v. và v.v., tức cuộc rung chuyển toàn cầu tại bất cứ xó xỉnh nào có chữ Việt Nam.

B- Cải Tiến Chữ Viết Tiếng Việt

Như vậy, với tất cả những gì mà trong rất rất nhiều năm qua tác giả bài viết này đã liên tục nêu những vấn đề của tiếng Việt, có thể tóm tắt tập trung trong phần B này những cốt lõi duy nhất thực sự có liên quan đến chữ viết tiếng Việt ngày nay cần phải quan tâm nghiên cứu.

Nhưng trước hết và trên hết phải xây dựng 5 nền tảng lý luận mặc định khẳng định và bất di dịch như sau:

a) Tiếng Việt đã qua giai đoạn hình thành, điều chỉnh, phát triển.

b) Tiếng Việt đang trong tiến trình bình thường của tất cả các ngôn ngữ hiện đang tồn tại trên thế giới: tồn tại, thải loại bớt do yêu cầu thích nghi theo thời đại, tăng mới vốn từ ngữ qua sáng tạo thêm/biến nghĩa/du nhập/vay mượn, v.v. để tiếp tục trụ vững, tiếp tục phát triển.

c) Tiếng Việt cần sang giai đoạn “hậu kiểm” về văn phạm để chuẩn hóa logic tương hợp với hình thái văn phạm nền của ngôn ngữ quốc tế chẳng hạn như của tiếng Anh, giúp tiếng Việt trở nên dễ học đối với người nước khác, tạo điều kiên cho tiếng Việt lan tỏa toàn cầu.

d) Tiếng Việt đang vướng vào lập luận nhóp nhép chưa mõi mồm của thiên hạ quyền lực về mấy cái như là “hội nhập”, “toàn cầu hóa”, “hiện đại hóa”, và “hợp lý hóa”, nên nhất thiết cần có những bổ sung rất rất logic mà tác giả bài viết này đã từng nêu lên rất rất nhiều lần trong các bài viết trước đây và được tổng kết trong các phần ngay dưới đây.

e) Tiếng Việt hoàn toàn không có lý do gì để cần “cải tiến”, vì “cải tiến” cách nói tức cách phát âm là chuyện hoàn toàn điên rồ chưa từng xảy ra trên toàn thế giới, còn “cải tiến” cách thể hiện bằng chữ viết chỉ là những ý tưởng sở dĩ có là do có tự do ngôn luận hoặc do Bộ Giáo Dục Việt Nam có những tên lô-cốt ngà chẳng biết làm gì ngoài xé vụn ngân sách quốc gia, chứ không từ một nhu cầu đúng đắn, thực tế, có thật, hữu lý, nào cả.

Tuy nhiên, xem ra vẫn có người quan tâm đến “cải tiến tiếng Việt”, và do số lượng đông khủng khiếp của bọn lô-cốt ngà đặt ra vấn đề đe dọa sự an nguy đến đôi tai của dân chúng khiến tác giả bài viết này nhất thiết phải trên nền lý luận mặc định về ngôn ngữ tiếng Việt ở phân đoạn c và d nêu trên mà nói rõ rằng tiếng Việt chỉ cần hoàn thiện bằng những cách sau đây và chỉ bằng những cách sau đây mà thôi chứ vĩnh viễn không có bất kỳ nhu cầu “cải tiến” nào khác:

1-  Văn Phạm Tiếng Việt

Lý do vì sao phải “cải tiến” cách xét đến hình thức của văn phạm tiếng Việt đặc biệt đối với các khái niệm phạm trù “câu”, “mệnh đề”, và “nhóm từ” , đã được tác giả bài viết này nêu rõ trong tham luận Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt mà độc giả có thể tham khảo trong đó.

2- Bảng Mẫu Tự 33 Chữ Cái Tiếng Việt

Tất nhiên ai cũng biết bảng mẫu tự tiếng Việt bao gồm 29 mẫu tự, gồm:

a   ă   â   b  c   d   đ  e   ê   g   h   i   k   l  m  n   o   ô  ơ   p  q   r    s    t   u  ư   v  x  y

(Ghi chú: đã có sự tự tung tự tác của những người ăn không ngồi rồi khi xếp mẫu tự Y ngay sau mẫu tự I như muốn khoe tài rằng “ta đây đã nhận ra sự phát âm gần giống nhau giữa Y và I nên xếp chúng đứng gần nhau”. Đó không là “phát kiến” mà là sự ngu xuẩn, hủy phá cái nền tương đồng giữa các ngôn ngữ mà theo đó các ngôn ngữ khác nhau có thể dựa vào nhau trên cở sở thứ tự trước sau nhằm phục vụ sự dễ nhớ vốn là một nét quan trọng của yếu tố sư phạm nơi người muốn học.)

Nhưng để hiện đại hóa và hợp lý hóa tiếng Việt trong tình hình thực tế sử dụng mới, nhất thiết phải quy định lại bảng mẫu tự tiếng Việt mới bao gồm thêm 4 mẫu tự loại “du nhập” sau để thành tổng cộng 33 chữ cái:

f   j   w  z

Lý do của việc nên luật hóa sự nhìn nhận những chữ cái này dưới tên gọi Mẫu Tự Tiếng Việt Du Nhập, gồm:

a) Không thể chối cãi rằng trong thời gian nhiều chục năm qua, những chữ cái của tiếng Anh đã được sử dụng trong các văn bản pháp quy ở Việt Nam, chẳng hạn mẫu tự W đã được dùng để thay thế chữ cái Ư trong chữ viết tắt TW của TRUNG ƯƠNG do khó thể sử dụng chữ tắt TƯ  khi văn bản đó được dịch sang tiếng Anh (đồng thời xét về hình dạng thì W cũng tương tự Ư) và thậm chí một công dân Việt Nam Cộng Hòa còn mang tên trên căn cước là Wòng Chấn Sềnh. Ngoài ra, những từ như “zero” hoặc cách nói “từ A đến Z” hay việc sử dụng F trên báo chí như đối với FIFA hay IMF hoặc Festival v.v. (chưa kể ai cũng biết chữ F hay được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thay thế cho chữ PH khi viết nháp các bản thảo) đã trở nên rất quen thuộc với người dân Việt. Còn “Made in Japan” thì xem như tuyệt đại đa số người tiêu dùng Việt đều biết nó là cái gì, tượng trưng cho chất lượng sản phẩm ra sao.

b) Lý do thêm f j w z từ mẫu tự tiếng Anh mà không là của các ngôn ngữ khác hoàn toàn không phát xuất từ bất kỳ thiên kiến hay định kiến nào đối với các ngoại ngữ khác. Tiếng Anh được lựa chọn ngoài sự thật đó là ngôn ngữ có sự thuận lợi trong sử dụng toàn cầu còn có lý do bảng chữ cái tiếng Anh đã hiện diện đầy đủtrong bảng chữ cái tiếng Việt, chỉ thiếu mỗi 4 chữ cái còn lại như F, J, W và Z mà cả 4 đều không xa lạ với tuyệt đại đa số người Việt. Trong khi đó tên tiếng Pháp hay Đức có những mẫu tự rất khó thể hiện trên bàn phím máy chữ hành chính thông thường, chẳng hạn như

ç   ß  œ  æ  î  û  ä   ï   ë   ö  ü  ÿ

c) Số lượng thêm mới chỉ có 4, khó thể nói sẽ gây khó khăn về phương diện ứng dụng ngôn ngữ Việt nói chung.

d) Việc gia tăng 4 mẫu tự sẽ không bao giờ có thể bị phản biện chống đối vì với thực tế Con Cầy với Kon Tum (C có vẻ tương đồng về âm với K và Q nhưng có thể cho ra cách luyến láy khác nhau giữa Con và Kon dù Kon không là tiếng thuần Việt) và Bánh Bao với Pánh Pao hay Ngầu Pín ( B có vẻ tương đồng về âm với P nhưng có thể cho ra cách luyến láy khác nhau giữa Bánh và Pánh với Pánh có âm bật nổ hơn dù Pánh không là tiếng thuần Việt mà chỉ là cách sử dụng cho ám chỉ cách phát âm nặng hơn bởi người gốc Hoa), việc ghép đôi mức tương đồng về âm giữa PH và F, W và Q, cũng như bộ D và J với Z đều có thể biện luận được dễ dàng.

3- Bảng 6 Dấu Thanh Dùng Trong Chữ Viết Tiếng Việt

Đây chỉ là phần được ghi ra như một khẳng định về số lượng chính xác của dấu thanh trong tiếng Việt mà nội dung này cũng nhất thiết cần được ghi rõ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học trong kỳ xài tiền tiếp theo của Bộ Giáo Dục

a- dấu huyền: Hoàng, Trường

b- dấu sắc: Trúc, Thúy

c- dấu hỏi: Thủy,  Hải

d- dấu ngã: Diễm, Vũ

e- dấu nặng:  Thạch, Trọng

f- không dấu: Linh, Trâm

4- Bảng 2 Dấu Hình Dùng Trong Tiếng Việt:

Dấu Hình là những dấu luôn có trong thực tế đời sống ở Việt Nam nhưng chưa hề được đặt tên hay được công nhận.

Tiếng Việt có hai dấu hình như sau:

a- Dấu gạch nối:

Dấu gạch nối như trong Hoàng-Hữu-Phước, Hoàng Hữu-Phước, Đinh Thị Mai-Trâm, Lý Quỳnh-Hoa, Lâm Mỵ-Tiên, Phan-Nguyễn Tường-Uyên, Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, v.v., là kiểu được sử dụng như trên báo chí và các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, Thánh Kinh, căn cước, khai sinh, công văn, v.v. tại Việt Nam từ thời tiền chiến. Ngay sau “The Fall of Saigon” tức “Sài Gòn Thất Thủ” theo cách gọi đắng cay của người Mỹ thì dấu gạch nối hoàn toàn biến mất trong báo chí cách mạng và tất cả các sách giáo khoa từ Miền Bắc gởi vào cho Miền Nam khai giảng năm học mới của đất nước thống nhất. Tầm quan trọng của dấu gạch nối trong xác quyết ngữ nghĩa từ tiếng Việt đã được phân tích nêu rõ trong bài Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. Độc giả có thể tham khảo chi tiết tại đấy.

b- Dấu phẩy trên:

Có nhiều công dân Việt Nam người sắc tộc thiểu số đang mang tên K’Rấp, R’Lấp trên chứng minh nhân dân, và có nhiều địa danh ở Việt Nam như  Tỉnh Đắk Lắk, Tỉnh Bắc Kạn, Huyện Đăk R’lấp, Huyện Đăk Glong, v.v. , trong khi tất cả những tên riêng này tuy đang tồn tại ngay tại Việt Nam nhưng không theo cấu trúc luôn có của tiếng Việt chuẩn trong sách văn phạm đã và đang được sử dụng tại trường học Việt Nam (lẽ ra nếu không được liệt kê chấp nhận trong gia đình tiếng Việt thì buộc phải được “Việt Hóa” thành Ông Cơ Rấp, Ông Cơ Rá, Tỉnh Đắc Lắc, Tỉnh Bắc Cạn, Huyện Đắc Rờ Lấp, Huyện Đắc Gờ Long cho “đúng là tiếng Việt”).

Như vậy, nhất thiết phải luật hóa việc công nhận dấu phẩy trên vào tiếng Việt. Đây là dựa vào thực tế đã và đang sử dụng tại Việt Nam, trong khi dấu phẩy trên cũng là dấu hình đang tồn tại trong rất nhiều ngôn ngũ chính trên thế giới. Cần ghi nhớ rằng một khi đã luật hóa thì toàn dân Việt Nam đều có quyền sử dụng để đặt tên cho các con của mình.

C- Ghi Chú Bản Quyền

Như đã nêu ở phần nhập đề về tật xấu cố hữu của người Việt trong vinh bản thân thì muốn bản thân riêng hưởng, còn nhục bản thân lại muốn san sẻ phát phân cho  toàn thiên hạ chịu phụ, dẫn đến việc ngư dân dấu biệt vị trí tàu cá và ngư trường của mình khiến khi gặp nạn thì đất liền không biết đâu mà ra cứu còn khi gặp hên thắng lớn thì bị nước ngoài không chịu mua do thiếu tài liệu xác nhận ngư trường, còn các vị lô-cốt ngà thì có vị chỉ kiếm đọc tài liệu của sinh viên vô danh tiểu tốt Lào ở bên Lào để yên tâm thế giới nào ai biết đến kẻ tiểu tốt vô danh nên mình tha hồ lấy làm luận văn tiến sĩ Việt Nam tại Việt Nam của mình cho tuyệt đối an toàn. Kỳ dư, khi có thời gian dài những 40 năm ở không nghiên cứu gì đó thì họ cũng chẳng hơi đâu tìm đọc các tài liệu của người khác vì sợ rủi chẳng may mà công trình mình “tinh anh phát tiết ra ngoài” có ngày thành kiệt tác, nên nếu để có gì dính dáng đến ý tưởng của “mấy thằng khác” thì tụi nó đòi hưởng chung danh tác quyền nghiên cứu thì uổng quá, thà mày mò rị mọ mò mẫm một mình vùi trọc lóc đầu nghiên cứu trớt quớt suốt 40 năm cũng không sao.

Vì thấy thảm thương thay cho các đấng lô-cốt ngà, tác giả bài viết này nhân đây tuyên bố toàn bộ các chi tiết trong bài viết này và các bài viết nơi các đường link có liên quan đều được tác giả cho bất kỳ ai trong thiên hạ tùy nghi sử dụng để nghiên cứu hình thành luận án luận văn bất kỳ, không cần xin phép, không cần thông báo, chẳng cần chia chác tiền bạc bất kỳ.

Lý do của sự “hào phóng” trên là tác giả ở chòi ngà chứ không ở tháp ngà hải ngoại hay lô-cốt ngà nội địa nên không được Nhà Nước quan tâm lắng nghe, nên càng rất cần các vị lô-cốt ngà sử dụng quyền uy nêu lên ắt Nhà Nước đương nhiên lắng nghe tôn bái, cho đem áp dụng, nhờ đó quốc gia thái bình, quốc dân an lạc, khu vực hân hoan, châu lục yên ắng, thế giới hoan ca, thì biết đâu bổn thân sẽ được ké phần nào phước đức chăng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Tham Luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc 18/6/2010: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến     18-10-2009

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? 26-9-2012

Ngoại Ngữ Hệ Mặt Trời

Hoàng Hữu Phước, MIB

19-12-2017

a) Từ tiếng Hỏa Tinh sang tiếng Việt:

Translation (3)Translation (2)Translation (1)

b) Từ tiếng Việt sang tiếng Em (nhánh ngoài hộ khẩu của tiếng Anh):

Translation (6)Translation (4)Translation (7)Translation (8)Translation (9)Translation (10)Translation (11)Translation (12)Translation (13)

c) Từ tiếng Việt sang tiếng Em rồi ngược lại tiếng Việt:

Translation

(ghi chú: Nguồn các hình ở trên: từ internet)

Nguyên nhân cái sự tức cười trên:

Việt Nam không có Phòng Cảnh Sát Đặc Trách …Quốc Thể, nên người dân tự do đeo bám quấy rầy xin đểu du khách, tự do ăn mặc nhố nhăng nơi đền thờ miếu mạo chùa chiền, tự do ném rác xuống kênh rạch sông biển, tự do quẳng đồ dơ ra ngoài đường và thảy lên mạng xã hội, tự do sử dụng ngôn ngữ ngoài hành tinh.

Riêng phần “tự do sử dụng ngôn ngữ ngoài hành tinh”, ắt cơ quan chức năng cho rằng đó là “tự do ngôn luận” và thiếu gì thứ tương tự xảy ra ở các nước khác mà có chết thằng Tây nào chăng:

Translation (17)Translation (16)Translation (15)Translation 1Translation (5)

Cách khắc phục:

Cứ đọc nguyên nhân khắc biết.

Hoàng Hữu Phước, Nhà Tiếng Thái Dương Hệ Học, Viện Sĩ Viện Ngoại Ngữ Thế Giới (House Sound Thailand Goat Elo Study, Academy Student Academy Grand Father Language Mortgage Sex)

Tầy Huầy Ngôn Ngữ Báo Chí Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-12-2017

                                      Mục Lục

A) Dẫn Nhập: Tính Không Chuyên Nghiệp Của Giáo Khoa Việt Nam

B) Lổ Trống Tác Hoác Của Các Khoa Báo Chí Đại Học Việt Nam

1- Lỗi Vĩ Mô: Vô Chính Phủ Về Ngôn Từ Văn Phạm Tiếng Việt

2- Hội Chứng Máy Dịch Google

3- Láu Táu Từ Với Ngữ

C) Nhắc Lại Văn Phạm Tiếng Anh Với Câu Tường Thuật

D) Kết Luận: Tính Chuyên Nghiệp Của Giáo Khoa

A) Dẫn Nhập: Tính Không Chuyên Nghiệp Của Giáo Khoa Việt Nam

Sách giáo khoa ở Việt Nam luôn luôn có vấn đề vì tuyệt đối thiếu tính chuyên nghiệp.

Mọi người từ cấp lãnh đạo đến thường dân đều tự động tự nhiên mặc định hễ là thạc sĩ tiến sĩ là chuyên nghiệp đủ điều kiện thành chuyên gia hoặc tư vấn Nhà Nước hay tư vấn Chính Phủ.

Một người chỉ chuyên nghiệp khi cùng lúc đáp ứng cả ba yêu cầu của (a) hiểu biết và thực thi đúng – qua đào tạo tại nơi làm việc – thế nào là tính chuyên nghiệp đòi hỏi phải có nơi một người làm việc, (b) nắm rõ kiến thức và có thời gian dài thực hành về nghiệp vụ – qua đào tạo và/hoặc nghiên cứu chuyên sâu – đối với môt công việc đặc thù, và (c) khả năng truyền thụ/phát hiện vấn đề của/xử lý vấn đề phát sinh từ kinnh nghiệm làm việc trong lĩnh vực của công việc đặc thù ấy.

Một khi ai cũng lẫn lộn cho chuyên môn tức là chuyên nghiệp, nước nhà sẽ có lắm sự hỡi ôi, như từ việc sách giáo khoa kiến thức là chính cứ như là tác phẩm khoa giáo tuyên truyền là chính, và tư vấn Chính Phủ hầu như để giải thích giải nghĩa cho lãnh đạo Chính Phủ các chi tiết học thuật hay thuật ngữ của ngành có liên quan đến nội dung câu hỏi của lãnh đạo, chứ không hề có trình độ tư vấn kinh bang tế thế nên nước nhà mãi lết lê hỗn độn từ việc lớn lờn lơn như đại án các công ty lớn/ngân hàng lớn đến việc nhỏ xíu xìu xiu như chuyện trạm thu phí đường cao tốc toàn được các chuyên gia tư vấn cấp Bộ cho phép xây lộn chỗ làm sụp đổ hoàn toàn uy thế quốc gia chỉ bằng mớ tiền lẻ xạc xào và nắm tiền xu lẻng kẻng chứ không phải bằng cơn mưa rào rạt Mẹ Của Các Loài Bom hay Bố Của Các Loài Bom.

Chính vì cái tự động tự nhiên mặc định như thế mà sách giáo khoa Tiếng Việt trung học mỗi khi cải cách bởi các “giáo sư tiến sĩ” là gây rối loạn vô phương cứu chữa như tơ nhện vò, chẳng hạn nặn óc phát huy sáng kiến sáng tạo đổi tên cái gì gì đó thành “thể loại văn bản” trong khi nó chẳng dính dáng gì đến thứ “văn bản” mà lẽ ra phải lên cấp đại học mới được rớ vào học đến – ít nhất là theo bài bản ngôn ngữ Tiếng Anh – cũng như vô tư lấy các đoạn từ các bài báo làm bài văn mẫu mỗi bài hai đoạn (paragraph) in vào các sách giáo khoa ấy mà hoàn toàn ngu muội không biết rằng đã là bài luận mẫu ở cấp trung học cơ sở thì (a) mỗi bài phải có ít nhất ba đoạn cho đủ ba phần mở đầu/thân bài/kết luận, (b) văn báo chí hoàn toàn khác với văn viết thường và văn viết văn học, (c) văn báo chí chỉ được dạy tại các khoa báo chí ở cấp đại học, (d) các bài báo không bao giờ được thế giới dùng làm bài luận mẫu tham khảo ở cấp trung học, và (e) các bài luận  mẫu phải trích từ các tác phẩm văn học có giá trị văn học sử nghĩa là các tác phẩm văn học “mới tinh” thì không được bày ra ở cấp trung học do chưa có giá trị văn học sử tức chưa vượt qua thành công thời gian mấy chục năm, huống hồ các bài báo mang tính thời sự nóng hổi cập nhật.

Một cách tự động, khi “văn bản” và các trích đoạn từ “báo chí” được đưa vào môn Tiếng Việt thì rõ là dẫn đến hai hệ lụy của (a) văn Tiếng Việt của học sinh trung học thì lạc lối vì được dạy lộn sân, còn (b) văn “báo chí” Tiếng Việt đương nhiên không hề được dạy ở các khoa báo chí tại các trường đại học nên sản phẩm khi ra trường khiến có bài viết này.

B) Lổ Trống Tác Hoác Của Các Khoa Báo Chí Đại Học Việt Nam

Từ hệ lụy nêu ở phần trên cho thấy trình độ ngôn ngữ Tiếng Việt các “nhà báo” xuất thân từ các khoa báo chí các trường đại học luôn có vấn đề từ bản thân và từ những tác nhân ngoại lai quyết định như từ vĩ mô chẳng hạn.

1- Lỗi Vĩ Mô: Vô Chính Phủ Về Ngôn Từ Văn Phạm Tiếng Việt

Như đã từng được nêu lên rất nhiều lần mà cụ thể là tại bài Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”, đã luôn có sự tự ý tự tung tự tác vô chính phủ trong cách chế tạo tên tiếng Việt cho các lãnh đạo tối cao của chỉ nước Tàu anh em hữu hảo nhằm bảo vệ thanh danh uy tín cho các vị đó, nghĩa là trong khi thế giới nghe tên cái ông khổng lồ ấy thành Xi Jinping thì Việt Nam thay vì nương theo đó mà gọi ông ta thành Xì Dính Bình hoặc Xì Dính Bịnh, thì lại chế thành Tập Cận Bình, cũng như gọi một thằng tướng Tàu là Thường Vạn Toàn, v.v. Gọi là vô chính phủ vì toàn dân chẳng thấy có quy định riêng hễ tên tiếng Tàu nào thì phải gọi bằng tiếng Việt ra sao. Hãy đọc các bản tin sau để nhận ra các quái đản cũng như để minh chứng toàn bộ nhận định nhận xét nhận thấy nhận ra của Hoàng Hữu Phước là tuyệt đối đúng, chính xác đúng, không gì khác hơn là hoàn toàn đúng:

Baochi1

Như biểu diễn ở trên thì Goh Chok Tong nối ngôi Lý Quang Diệu, và Lý Quang Diệu có hai vợ tên Wong Ming Yang và Ho Ching; và bốn con tên Li Xiuqi, Li Yipeng, Li Hongyi, và Lee Haoyi. Thậm chí còn có đoạn ghi Lý Quang Diệu có con tên Lý Hiển Long. Vậy, phải chăng chỉ có Lý Quang Diệu và Lý Hiển Long hoặc là người Việt hoặc được Việt Nam đặc cách ban cho tên tiếng Việt để cho thật kỳ quang kỳ diệuhiển vinh hóa rồng, trong khi Thủ Tướng kế nhiệm Goh Chok Tong vẫn cứ là Goh Chok Tong hoặc…Gô Chốc Tông?

Chính vì vô chính phủ, tùy tiện, mà truyền thông chính thống chỉ được phép lập lại những gì mà ai đó ở Trung Ương phán ra, thay vì có cẩm nang quy định âm tiếng Tàu nào thì phải dùng chữ tiếng Việt nào để gọi tên trên truyền thông.

Bản thân các giáo sư tiến sĩ Tiếng Việt và giáo sư tiến sĩ dạy các Khoa Báo Chí có đã từng nhận thấy cái điều quái gỡ này chưa, và nếu đã từng thấy thì có đã từng nghiên cứu để hình thành công trình khoa học trình Bộ Giáo Dục xem xét quyết định áp dụng thống nhất toàn quốc chốn học đường hay chưa?

Tất nhiên, lời khuyên của Hoàng Hữu Phước luôn là: hãy chỉ dùng tên tiếng Anh khi nêu tên tiếng nước ngoài dù tên đó là của người, của địa danh, hay của quốc gia nào chưa hề có sẵn tên Hán-Việt trong đời sống ngôn ngữ ở Việt Nam, như đã nêu trong các bài Giao ThoaCu Dơ Nhét Xốp.

2- Hội Chứng Máy Dịch Google

Do viết tiếng Việt không thông, ngoại ngữ thì không tinh thông, nghiệp vụ săn tin thì thụ động, khả năng biện luận bằng không, tất cả các nhà báo viết tin thời sự nước ngoài đã một cách nhanh nhất sử dụng công cụ máy dịch thuật Google. Khi thấy có một mẫu tin tiếng Anh (đa số trên truyền thông nước ngoài bằng tiếng Anh, kể cả nếu truyền thông đó là của Ả Rập hay Pháp, Ý, v.v.), các nhà báo ta lập tức copy cả đoạn vào máy dịch để có bản tiếng Việt. Tất nhiên, bản dịch tiếng Việt do Tiếng Việt có yếu điểm như đã được nêu rõ trong bài Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt nên đọc lủng ca lủng củng, và nhà báo dễ dàng chỉnh sửa lại cho nghe xuôi tai hơn.

Chính vì vậy, việc diễn dịch kiểu as-is tức nguyên trạng đã cho ra câu Tiếng Việt y trên nền vị trí câu cú Tiếng Anh, khiến có hình dạng như sau:

Baochi2

nghĩa là “Long Room hôm qua đưa tin” ở cuối câu, thay vì lẽ ra đã phải chứng tỏ ta đây là trạng nguyên để đem “Long Room hôm qua đưa tin” lên đầu câu cho đúng là thứ tự văn phạm Tiếng Việt. (Xin xem thêm Phần C bên dưới, nêu văn phạm sơ đẳng tiếng Anh đối với câu tường thuật tức Reported Speech).

Từ thói quen dựa hơi máy dịch Google, các nhà báo tự cho mình cái quyền viết theo hình thức tương tự tiếng Anh thành kiểu sau, với cái kiểu kết “ông Khái nói” đặt ở cuối câu:

Baochi3

Điều cần lưu ý là:

a) Giới chuyên viên/nhân viên công nghệ thông tin (IT) thường cực yếu về văn chương chữ nghĩa, thậm chí ít học hoặc không học đầy đủ tất cả các môn ở bậc trung học do IT luôn chỉ là các khóa đào tạo ngắn hạn kiểu cầm-tay-chỉ-việc, nên không biết rằng đã là câu tường thuật trực tiếp thì phải đặt giữa hai cặp dấu ngoặc kép trước từ Stephen và sau dấu phẩy dưới của từ hero của đoạn dưới đây khiến cả câu sai văn phạm Tiếng Anh mà nếu nhà báo Việt Nam bê câu này vào máy dịch Google sẽ cho ra đoạn tiếng Việt sai tương ứng tức luông tuồng rồi kết thúc bằng the Daily Mail reports:

Baochi4

Và việc luông tuồng do thiếu học của dân làm báo điện tử ở các nước Âu Mỹ ngày nay sẽ cho ra những sản phẩm như sau, cho thấy phải đọc rất nhiều câu để rồi cuối đoạn mới cho biết những điều vô thiên lủng ở trên là từ cửa miệng của một ông tên Kepper:

Baochi5

b) Sự luông tuồng không có dấu ngoặc kép hai đầu câu tường thuật trực tiếp sẽ dẫn đến ý tứ khôi hài sau, nếu ngay khi đọc lần đầu một cách Goóc-Ba-Chốp tức ba chớp ba nháng vội cho rằng nạn nhân bị giết trong vụ tấn công là công dân Bỉ, Phó Thủ Tướng Bỉ và Bộ Trưởng Ngoại Giao Bỉ:

Baochi6

tất nhiên rồi ai cũng hiểu ra, dù chậm, rằng nếu câu trên là câu tường thuật trực tiếp có hai cặp dấu ngoặc kép (một trước A victim và một sau dấu phẩy dưới của  citizen, hoặc một câu tường thuật gián tiếp (như Phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao Bỉ đã tweet hôm Thứ Ba rằng một nạn nhân bị sát hại trong cuộc tấn công là công dân Bỉ) thì không bất kỳ ai hiểu sai ý cả câu cả.

c) Việc mô phỏng theo hình thức câu tường thuật của tiếng Anh do thói quen dựa vào máy dịch thuật Google vốn dịch sát sàn sạt đúng y vị trí từ trong câu tiếng Anh gốc là điều sai hoàn toàn – nhất là nếu câu tường thuật quá dài – do không đúng văn phạm tiếng Việt mà độc giả người Việt quen dùng. Chưa kể, cách viết như vậy chưa hề tồn tại trong sách giáo khoa tiếng Việt dù là tiểu học, trung gọc, hây đại học, trong khi ngôn ngữ báo chí nhất thiết phải gãy gọn, súc tích, rõ ràng. Rõ ràng nghĩa là không gây hiểu nhầm hoặc không nêu lên ngay từ đầu câu nguồn của thông tin sắp dẫn ra, để người đọc có thể thực thi quyền đọc tiếp hay không đọc tiếp khi thấy tên nhân vật hay nguồn của phát biểu ngay sau đó.

3- Láu Táu Từ Với Ngữ

Tuần trước, một phụ nữ đến Ủy ban Nhân dân Phường 2 Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xin chứng nhận giấy ủy quyền để bà đến bịnh viện nhận thuốc bảo hiểm y tế thay cho mẹ của bà do mẹ chồng của bà già yếu gần 90 tuổi mà còn bị trặc chân. Nhân viên công quyền đã đọc nội dung giấy, trầm ngâm rất lâu rồi phán rằng đơn đã viết sai vì phải là “bệnh viện” chứ không được dùng “bịnh viện”. May mà nhờ có sự giáo dục của Đảng nên thay vì bắt người phụ nữ ấy về đánh máy lại và in bản khác, người đầy tớ của nhân dân sau hơn 15 phút trầm ngâm đã quyết định cho qua. Người phụ nữ ấy là giám đốc tài chính tại gia, kiêm kế toán trưởng tại gia,  kiêm thủ quỹ tại gia, chủ nhà và chủ hộ của tác giả bài viết này.

Cái “bệnh” và “bịnh” xuất phát từ sự láu táu với từ ngữ của những đấng quyền lực quyền năng quyền hành, trong đó có nhà nô bộc của nhân dânnhà báo của Đảng.

Nhà báo có quyền chơi nổi để câu view, chẳng hạn qua cách thường xuyên dùng chữ “lộ” cứ như là đã phát hiện được điều tối mật

Baochi7

Trong khi đó, nhà báo (báo chữ, báo hình, báo nói) tự do dùng những cụm ẩn ngữ lồ lộ liên quan hay dùng như xứ sở chuột túi, xứ sở sương mù, xứ sở kim chi, v.v. để gọi các nước Úc, Anh, Hàn, v.v., vì rõ ràng các nước này nổi tiếng về các biểu tượng của đại thử kangaroo, sương mù smog, kim chi, v.v. Nhưng khi nhà báo sử dụng tiếng lóng Cờ Hoa của Việt Nam Cộng Hòa (gọi USA là Mỹ với ý nói đẹp vô cùng, và Hoa Kỳ với ý nói lá cờ rất nhiều ngôi sao nở rộ như hoa) để nói xứ sở cờ hoa thì hoàn toàn sai. Việt Nam Cộng Hòa có đại đa số người dân chống Mỹ nên các nhà báo Việt Nam Cộng Hòa chống Mỹ chế ra hai từ lóng nhạo báng đầy miệt thị gồm Mẽo thay cho Mỹ và Cờ Hoa thay cho Hoa Kỳ. Cờ hoa không hề là biểu tượng của USA. Cờ sao thì có thể đấy, nhưng sẽ không ai trên thế giới hiểu ý nghĩa liên quan của nó do thiếu gì cờ của các quốc gia đều có ngôi sao. Gọi USA là xứ sở cờ hoa thì tương đương với cách gọi USA là xứ sở mẽo vậy. Đừng bao giờ gọi Cambodia là xứ sở Miên và đừng bao giờ gọi USA là xứ sở cờ hoa.

Baochi8

Ngoài ra, tương tự tất cả các ngôn ngữ toàn cầu, tiếng Việt có loại từ vay mượn mà bộ môn Lexicology gọi là borrowed words  hoặc loanwords hoặc loan-words hay borrowings, v.v. và v.v., tức những từ nước khác được bê nguyên xi (as-is) vào nước mình mà không cần dịch thuật do không thể dịch hoặc không nên phá tính toàn cầu sẵn có của nó. Trong các borrowings trong tiếng Việt thì nổi bật là các từ club, cinema, camera, chíp (điện tử), phone, telex, Halloween, Valentine, violon, piano, diva, rock-n-roll, biscuit, whisky, spaghetti, pizza, v.v. và v.v.

Tuy nhiên, do không biết hangar (nhà để lắp ráp, sửa chữa máy bay) là một borrowing của tiếng Việt (thậm chí còn được Việt hóa thành hang-ga), nhà báo đã không tùy nghi sử dụng hangar mà lại dịch thành nhà chứa

Baochi9

trong khi nhà chứa tức nhà thổ là nơi làm ăn của các cô gái này:

Baochi10

còn hangar dùng để lắp ráp, bảo trì, đại tu, cất dấu máy bay, như nơi này:

Baochi11

cho nên thay vì dùng hangar hoặc hang-ga mà rất nhiều người biết, hoặc dịch đầy đủ dài dòng thành nhà chứa máy bay mà mọi người đều hiểu, nhà báo đã biến chuyên cơ của người quyền lực nhất thế gian tá túc trong nhà chứa và thông báo với nhân loại rằng sân bay Đà Nẳng có nhà chứa phục vụ du khách chăng.

C) Nhắc Lại Văn Phạm Tiếng Anh Trung Học Cơ Sở Việt Nam (Lớp 6-9) Đối Với Câu Tường Thuật

Các điều căn bản sau đều được các giáo viên tiếng Anh tại tất cả các trường trung học ở Việt Nam nắm vững, mà nếu các nhà báo đừng trốn học giờ tiếng Anh đều nắm vững tương tự đối với câu tường thuật trực tiếp:

a) Nội dung phát biểu trực tiếp luôn ở giữa hai cặp dấu ngoặc kép.

b) Nôi dung trực tiếp ấy nếu ở dạng đơn giản ban đầu cấp trung học sẽ luôn có hình thức thứ tự đơn giản nhất của: Chủ Thể Phát Biểu + Động Từ Phát Biểu + Dấu Hai Chấm + Dấu Ngoặc Kép + Nội Dung + Dấu Chấm Câu + Dấu Ngoặc Kép. (Dấu chấm câu gồm dấu chấm hết, dấu chấm hỏi, dấu chấm than.)

Baochi12

Cách trên sử dụng tối thiểu trong các tác phẩm tiểu thuyết.

c) Nôi dung trực tiếp ấy nếu ở dạng cao cấp tức văn học đặc biệt trong tiểu thuyết thì tối đa được sử dụng sẽ là Dấu Ngoặc Kép + Nội Dung Phát Biểu + Dấu Phẩy hoặc Dấu Chấm Câu + Dấu Ngoặc Kép + Động Từ Phát Biểu + Chủ Thể Phát Biểu.

Baochi13

Một biến thể luôn thấy ở dạng thường xuyên này sẽ được áp dụng bằng cách ngắt đôi thành hai cụm nội dung có hai cặp dấu ngoặc kép riêng nếu nội dung phát biểu hoặc dài hoặc do tác giả muốn hoa lá cành thêm văn vẻ như:

Baochi14

D) Kết Luận: Tính Chuyên Nghiệp Của Giáo Khoa

Sách giáo khoa tiếng Việt sẽ được gọi là hoàn hảo khi trên nền đang tồn tại của ngôn ngữ tiếng Việt

1) Tiến hành phân định rạch ròi giữa tiếng Việt Formaltiếng Việt Informal như hình thức phân định luôn tồn tại ở các ngôn ngữ chính của thế giới Âu Mỹ.

2) Tiến hành phân định rạch ròi giữa các loại như từ cổ, từ văn học, từ văn nói, từ bình dân, từ mất nghĩa, từ lóng, từ dung tục, từ kỹ thuật, từ y học, v.v., như hình thức phân định luôn tồn tại ở các ngôn ngữ chính của thế giới Âu Mỹ, để hạn định mức độ và phạm vi sử dụng của mỗi loại, từ đó chặn đứng hoàn toàn việc vô tư phát thanh tin thời sự trên TV oang oang các từ nhí, phượt, ngáo đá, v.v.

3) Tiến hành soạn sách giáo khoa về ngôn ngữ báo chí tức một phân ngành đặc thù cao cấp luôn tồn tại ngành báo chí chuyên nghiệp bằng các ngôn ngữ chính của thế giới Âu Mỹ, chẳng hạn báo chí Âu Mỹ không dùng tiếng lóng của xã hội bình dân, và khi buộc phải sử dụng chẳng hạn bởi vì đó là nguyên văn ngôn từ phát biểu của một nhân vật nào đó thì sẽ luôn viết né tránh bớt thí dụ như “b***h” thay cho “bitch”, “a**” thay cho ass, “f*****g” thay thế cho “fucking”, v.v. Việc viết né này không phù hợp với tiếng Việt (hạn chế tối đa trong một hai trường hợp, chẳng hạn viết tắt trong “Đ.M. mày”), do đó phải luật định hoặc quy định riêng của ngành đào tạo báo chí rằng dứt khoát không được sử dụng tiếng lóngtiếng dung tục trong các sản phẩm truyền thông.

4) Ngành ngữ học tiếng Việt nói chung phải đề ra nguyên tắc văn phạm rằng trong cả hai trường hợp dùng câu tường thuật trực tiếp và cấu tường thuật gián tiếp, thì ngay cả khi dịch thuật một nguyên tác tiếng nước ngoài, cũng luôn áp dụng công thức bất di bất dịch rằng chủ thể phát biểu luôn đứng đầu câu, bất kể trong nguyên tác tiếng nước ngoài thì chủ thể phát biểu đa số đứng cuối câu, thường nhét giữa câu, và ít khi đứng đầu câu.

Soạn sách giáo khoa về Văn phạm Tiếng Việt không phải là công việc đòi hỏi sự sáng tạo, sự nặn óc đẻ ra những thứ hoành tráng hoang đường, hay sự chứng tỏ quyền năng sinh sát, mà là sự chứng minh được ngành Tiếng Việt đạt trình độ sử dụng được các khung khoa học sẵn có và đang tồn tại trong giới học thuật mang tính so sánh được, định lượng được, phát triển được bên-ngoài-cương-thổ-quốc-gia như các ngôn ngữ chính của nhân loại

Các nhà ngôn ngữ học, các vị tiến sĩ có đặc quyền cấp Nhà Nước biên soạn sách giáo khoa, khi cần tham khảo lời tư vấn của chuyên gia thực thụ về lĩnh vực ngôn ngữ, ắt biết sẽ gõ cửa nhà ai để đàm đạo thêm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  22-11-2015

Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”  25-7-2014

Chủ Tịch – Già – Cu Dơ Nhét Xốp 05-5-2010

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt  18-6-2010

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến  19-10-2009

Ý Dân – Cái Sai Của Truyền Thông Và Quốc Hội

Hoàng Hữu Phước, MIB

17-11-2017

KCS (Kiểm tra Chất lượng Sản phẩm) là bộ phận không bao giờ thiếu tại các dây chuyền sản xuất sản phẩm hữu hình của những đơn vị lớn thực và sản xuất sản phẩm thật. Lớn thực có nghĩa là thật lớn. Còn sản phẩm thật có nghĩa đó không là hàng giả, hàng nhái, hàng thịt tạng thối không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Chính vì vậy mà một khi không cho cái gì đó là sản phẩm lớn, thật, hữu hình, thì người Việt ta – kể cả cơ quan lập pháp và truyền thông – có thói quen phớt lờ yếu tố chất lượng cao cấp của, cũng như yếu tố “bộ phận KCS” cho, những hàng hóa vô hình.

Những hàng hóa vô hình có thể bao gồm – song không chỉ túm gọn trong mỗi một mớ này – nội dung văn bản, ngôn từ văn bản, hình thức trình bày văn bản, v.v., nhất là khi đó là văn bản pháp luật hay pháp quy của cơ quan lập pháp, và là sự lập lại các nội dung văn bản pháp luật hay pháp quy ấy của cơ quan truyền thông.

Là người cẩn trọng luôn rà soát ngôn ngữ ngôn phong tiếng Việt của các bài viết của chính mình, tôi thường nhờ Cô Lại Thu Trúc làm KCS đọc lại bản thảo để giúp sửa những lỗi chính tả tiếng Việt của tôi nhất là về dấu hỏi dấu ngã. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tôi đã không thực hiện sự nhờ vả đó, nên tất cả các lỗi tiếng Việt – nếu có – trong các bài viết của tôi đều là do sự tắc trách của chính tôi.

Là người cẩn trọng với các bài viết tiếng Anh của họ, rất nhiều tác giả hay nhờ tôi làm KCS rà soát ngôn ngữ ngôn phong tiếng Anh các bài viết ấy để bảo đảm chất lượng và sự chính xác về văn phạm, tu từ, tự loại, ngữ nghĩa tiếng Anh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tôi đã không thực hiện đủ chu đáo kỹ lưỡng để đáp ứng sự nhờ vả đó, nên tất cả các lỗi tiếng Anh nếu còn sót trong các bài viết của họ đều là do sự tắc trách cũng của chính tôi.

Là người duy nhất trên hành tinh này nói về “dấu gạch nối trong tiếng Việt” rồi khẳng định tiếng Việt hiện nay có hình thức tạo từ hoàn toàn sai, tôi cho rằng sự làm ngơ của những người có trách nhiệm xuất phát từ ba lý do sau được xếp theo thứ tự từ quan trọng nhất đến ít quan trọng hơn như (a) nếu chỉnh sửa lại tất cả thì hóa ra Lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng viết sai hay sao, (b) nếu chỉnh sửa lại thì hóa ra tất cả các nhà văn/nhà báo/nhà khoa học/nhà…sử học đều viết sai hay sao, và (c) nếu chỉnh sửa lại thì lấy đâu ra tiền để đài thọ cho việc in ấn lại khối lượng tài liệu ấn phẩm khổng lồ có thể xếp thành thang bậc lên đến tận Hỏa Tinh. Tất cả ba lý do trên đều có thể dễ dàng hóa giải, chẳng hạn lập luận sự sửa sai chỉ thực hiện khi các tác phẩm đó được tái bản chứ các bản in trước đó đều giữ nguyên giá trị tư liệu tham khảo, chẳng hạn lý luận việc sai là do hệ thống bị hỏng do bom đạn chiến tranh khiến chẳng còn ai quan tâm đến văn phạm chứ không phải lãnh tụ và lãnh đạo sai, và bàn luận chẳng hạn cứ đem cân ký bán núi sách chưa đúng ấy ắt có tiền cho núi sách đúng khác, lo gì.

Là người duy nhất tại Quốc Hội Việt Nam đã thẳng thắn phê bình Quốc Hội – và tất cả các cơ quan công quyền kể cả tất cả các trường đại hoc toàn quốc – đã sai trong đánh số thứ tự các điều trong bộ luật/nghị định/công văn/luận án, chẳng hạn đánh số thứ tự đầu dòng không chịu dùng bảng mẫu tự alphabet tiếng Anh cho đúng với toàn thế giới, lại đi dùng a,b,c,d,đ,e,.. vừa quái đản (vì bản tiếng Anh của văn bản đó làm sự tham khảo của người nước ngoài bối rối trước từ lạ “đ”) vừa quái gỡ (vì thất bại khi đã không có bất kỳ ai ở Việt Nam có thể giải thích vì sao các từ lạ sau lại bị kiêng kỵ né tránh không dùng: “ă, â, ê, ô, ơ, ư” làm chữ số thứ tự, v.v.), tôi vẫn phải chịu thua trước việc các thư góp ý của mình đã không bao giờ được Thường Vụ Quốc Hội quan tâm hồi đáp hoặc quan tâm xem xét, nên tôi bắt đầu phó mặc cái sự đời có liên quan đến hữu hình hay vô hình. Và đó là lý do tôi có văn bản đóng góp ý kiến cho Dự Thảo Dự Án Luật Trưng Cầu Ý Dân chứ chẳng còn hứng thú gì tiếp tục vạch lỗi dùng từ sai, đòi phải chỉnh lại thành Dân Ý cho đúng tiếng Việt.

Ý Dân hay Dân Ý?

Chỉ có việc cán bộ tình báo hoặc quần chúng chiến mới đi nắm “dân tình”, chứ không có chuyện họ đi nắm “tình dân”. Tất nhiên sẽ có trường hợp cán bộ đi nắm “dân tình” lại nhận được “tình dân”.

Chỉ có việc cán bộ điệp báo được cài cắm vào vùng địch để nắm “địch tình” chứ chẳng ai được cử đi để túm cổ nắm đầu “tình địch”. Tất nhiên có trường hợp trong lúc luồn sâu đi nắm “địch tình” thì cán bộ điệp báo lại tình cờ gặp phải “tình địch” thời còn đi học.

Chỉ có tồn tại cụm từ “Hồng Quân Liên Xô”, chứ không bao giờ có “Quân Hồng Liên Xô”, dù ở Việt Nam khi ví von về “phe cục cưng” với “phe tốt thí” người Miền Bắc hay dùng thành ngữ “quân xanh, quân đỏ”, mà quân đỏ lợt nhách phai màu có thể hóa thành quân hồng chăng? Ngoài ra, Hồng Quân không là quân đỏ, còn quân đỏ không thể đổi thành Hồng Quân.

Chỉ có những bức “bích họa” (tức tranh vẽ tường) chứ không bao giờ gọi đó là họa bích. Trước 1975, tại các trường học ở Sài Gòn mỗi năm đều có thi đua các lớp làm “bích báo” (tức báo tường) và tất nhiên không ai gọi là báo bích cả. Đã là Hán-Việt tức sử dụng nghiêm trang trọng thị thì phải luôn theo công thức rằng từ chính luôn phải đứng sau.

Dan Ý

Chỉ có Bịnh Viện Phụ Sản chứ không có Viện Bịnh Sản Phụ. Bịnh viện là nhà thương trị bịnh. Viện bịnh ắt là nơi nghiên cứu bịnh chăng, giống với viện sử học hay viện bịnh nhiệt đới. Phụ sản là liên quan đến sức khỏe bịnh lý phụ nữ đặc biệt là liên quan đến việc sinh sản của phụ nữ, trong khi sản phụ là người phụ nữ đang mang thai hoặc vừa sinh con.

Chỉ có chuyện sinh viên Hoàng Hữu Phước khi tốt nghiệp đại học được sự quan tâm tuyển dụng của cơ quan “tình báo” chứ không phải của cơ quan báo tình.

Để dễ hiểu hơn, có thể tham khảo các đôi từ sau hoàn toàn không đồng nghĩa với nhau dù là Hán-Việt hay thuần Việt: nước nhà và  nhà nước, đại tướngtướng đại, nhi việnviện nhi, v.v và v.v.

Như vậy, chỉ có Trưng Cầu Dân Ý chứ không thể có Trưng Cầu Ý Dân.

Lý do dẫn đến sự nhập nhằng bất minh trong sử dụng ngôn từ tiếng Việt là:

Tuy từ Hán-Việt là từ của Việt Nam, là tài sản ngôn ngữ của riêng chỉ Việt Nam do được thể hiện bằng các thành tố bảng chữ cái Việt Nam và bảng dấu thanh Việt Nam, vẫn có bao kẻ nắm quyền về giáo dục, truyền thông, sai lầm sai quấy cứ cho rằng từ Hán-Việt không là từ tiếng Việt còn việc sử dụng từ Hán-Việt là phạm tội không “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.

Để lý giải cho sự khác nhau của “dân ý” với “ý dân” cần quan tâm đến các chi tiết sau:

1) Hồng quân là một danh từ riêng bằng chữ Hán-Việt, không là danh từ quân kèm với tính từ màu sắc bổ nghĩa miêu tả màu của cái quân ấy. Đã là riêng thì không được tự ý đổi vị trí trước-sau của từ, mà theo quy luật thì chữ chính phải đứng sau.

2) Bích họa là tên riêng bằng chữ Hán-Việt cho một thể loại hội họa đặc thù. Đã là riêng thì không được tự ý đổi vị trí trước-sau của từ, mà theo quy luật thì chữ chính phải đứng sau.

3) Hai thí dụ trên cũng đồng dạng với các từ dân tìnhđịch tình như được nêu ra ở trên.

4) Dân ý là một danh từ riêng bằng chữ Hán-Việt, không thể tách rời, không là danh từ “ý” kèm với tính từ miêu tả thuộc tính của cái “ý” ấy. Dân ý được tạo ra chỉ để sử dụng riêng cho thành ngữ “trưng cầu dân ý”. Đã là riêng thì không được tự ý đổi vị trí trước-sau của từ, mà theo quy luật thì chữ chính phải đứng sau. “Dân ý” chỉ liên quan đến việc trọng đại của quốc gia, và phải được tổ chức theo quy mô pháp định hoặc hiến định. “Ý dân” là ý kiến của người dân về bất kỳ nội dung gì, được đề đạt bằng thư, bằng nêu câu hỏi chất vấn tại các buổi tiếp xúc cử tri, các buổi phỏng vấn. Dân ý mang nội hàm mặc định phải của số đông và có giá trị quyết định nhất định đối với nhà cầm quyền. Ý dân hoàn toàn không mặc định phải mang nội hàm của số đông, không mặc định phải có giá trị quyết định, nhưng được mặc định chỉ có giá trị tham khảo hoặc xem xét cho ý kiến của nhà cầm quyền.

Dân ý lẽ ra phải được viết là dân-ý với dấu gạch nối do là một, là riêng biệt, giống như dân tình, dân vận. Còn ý dân thì mãi vẫn là ý dân không-dấu-gạch-nối , giống như ý anh, ý em, ý chúng ta, hay ý mọi người, ý cá nhân, v.v. vậy.

Nói tóm lại, Trưng Cầu Ý Dân hoàn toàn sai tiếng Việt. Điều đáng mừng là trong rất nhiều bản tin thời sự của rất nhiều đài truyền hình thì cụm từ Trưng Cầu Dân Ý đã được sử dụng thường xuyên hơn Trưng Cầu Ý Dân, và nếu sự sử dụng ấy là sự lỡ lời theo thói quen thì đó là sự lỡ lời đáng yêu về tính chuẩn xác của ngôn từ tiếng Việt vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến 19-10-2009

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Cho Dự Thảo “Luật Trưng Cầu Ý Dân”  14-11-2015

Lại Thu Trúc  22-12-2015

Tứ Đại Đần

Bọn “Nhà Sử Học” Đần

Hoàng Hữu Phước, MIB

01-9-2017

Nghe đâu có một dúm mấy thằng tự phong – hoặc được phong bởi phe nhóm Sử Đần, thân nhân Sử Đần, hoặc bọn đần đột nhập vào trong Đảng hay bọn đần đột nhập truyền thông – “nhà sử học” làm ô danh “nhà sử học”, không rõ bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ bọn chúng có phải được cấp bởi các “viện hàn lâm khoa học” Việt Nam (tức cái máy sinh sản vô tính rặn đẻ ra nhiều ngàn thằng tiến sĩ mỗi năm chất lượng như rác vừa bị soi bởi đài VTV) hay không mà chúng chỉ chuyên cần tỉ mỉ làm 9 điều vớ vẩn chỉ để chứng minh bản thân chúng cũng đang tồn tại đầy vinh diệu như ai, gồm

(a) có lần đòi quốc hội phải có luật đĩ – may mà nhờ Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước chưởi cho một trận ngay tại Nghị Trường nên mới “yên ắng” từ 2012 đến nay;

(b) luôn vác cuốc đập tanh banh đền đài miếu mạo cao trọng của Sử để biến nó thành môn bị khinh thường không ai thèm học;

(c) luôn hiên ngang thề nguyền quyết không bao giờ đẻ ra các công trình biên khảo nào về Thế Giới Sử/Đông Dương Sử/Cam-Pu-Chia Sử thậm chí về Mỹ Sử bằng tiếng Việt dù đó là công việc dành cho đẳng cấp đầu một “nhà sử học” thực thụ theo chất và chuẩn Mỹ Âu tức phải nghiên cứu tất tần tật;

(d) luôn hiên ngang thề nguyền quyết không bao giờ viết các công trình biên khảo nào về Việt Sử bằng tiếng Anh hay ngoại ngữ khác để thế giới đừng hòng biết gì đúng về Việt Nam;

(e) luôn hiên ngang ký tên vào các kiến nghị tập thể về dân chủ nhân quyền để tự động được danh “nhân sĩ”;

(f) luôn hiên ngang tru tréo đòi sự công bằng cho các triều vua và quan lại Nhà Nguyễn thối tha do bất tài vô dụng không biết phải làm gì với Sử;

(g) luôn hiên ngang tréo tru về “Hải Chiến Hoàng Sa” thối hoắc;

(h) luôn hiên ngang sủa nhặng về Việt Nam Cộng Hòa thối nát; và

(i) luôn hiên ngang nhặng sủa đòi loại trừ chữ Ngụy thối rùm.

Bài viết này, do đó, nhằm dạy cho bọn “nhà sử học” mất dạy chưa từng học xong đại học đúng nghĩa về môn Sử biết bốn cái đại đần của chúng về lĩnh vực Sử như sau:

A- Đệ Nhất Đại Đần: Công Nhận Việt Nam Cộng Hòa

Bọn soạn sách Sử – không phải các nhà viết Sử – hân hoan hả hê hoan ca hoan lạc ồn ào đú đởn về cái gọi là “công nhận Việt Nam Cộng Hòa” như một thành tích ghê gớm tuyệt đỉnh hợp ca của chúng đối với quyển sách sử do chúng biên soạn từ tiền thuế của dân.

Bọn chúng – và những tờ báo nào hoan hỷ y như chúng – đã cực kỳ đần độn do không biết 6 sự thật lịch sử cùng sự thật thực tế mang tính công pháp toàn cầu rằng:

1) Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều không hề là thành viên Liên Hợp Quốc.

Cả hai đều không được nhận vào làm thành viên Liên Hợp Quốc, trong khi quy chế thành viên Liên Hợp Quốc lại được chấp nhận áp dụng cho Đông Đức và Tây Đức (18-9-1973) cũng như Hàn Quốc và Triều Tiên (17-9-1991). Lý do đơn giản là: bốn “nước” này được các siêu cường nhất trí phân chia, trong khi Việt Nam được “quốc tế” ấn định ngay từ đầu là phải tổ chức tổng tuyển cử thống nhất hai miền thành một quốc gia duy nhất, mà sự phá hoại tiến trình đó của bọn chống Cộng đã dẫn đến việc Liên Xô dùng quyền phủ quyết để chặn ngăn các nổ lực xằng bậy của Mỹ và đồng minh trong cố gắng trong vô vọng nhằm hợp thức hóa vị thế của Việt Nam Cộng Hòa tại Liên Hợp Quốc để chia cắt vĩnh viễn Việt Nam thành hai “quốc gia”. Cũng vì vậy mà chỉ khi Việt Nam thống nhất thì Liên Hợp Quốc mới kết nạp Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam ngày 20-9-1977 theo Nghị Quyết số 413 ngày 20-7-1977 nhất trí 100% của Hội Đồng Bảo An, dù rằng trước đó trong cơn bấn loạn hốt hoảng mang tên Việt Nam Giải Phóng, Hội Đồng Bảo An đã run lập cập công bố Nghị Quyết ngày 08-8-1975 ghi rằng “chấp thuận bản dự thảo của 9 nước gồm Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết Byelorussia, Trung Quốc, Guyana, Iraq, Mauritania, Thụy Điển, Liên Xô, Cộng Hòa Thống Nhất Cameroon và Cộng Hòa Thống Nhất Tanzania, nay kiến nghị Đại Hội Đồng xem xét cho …. Việt Nam Cộng Hòa làm thành viên Liên Hợp Quốc” quên phéng chuyện lẽ ra đã phải gạch bỏ cụm từ Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi các bộ óc siêu cường Âu Mỹ:

Wordpress Tứ Đại Đần

Như vậy tất cả các chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đều tự động trở thành tài sản thống nhất và của duy chỉ Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam một cách không bao giờ có thể tranh cãi được về mặt pháp lý ngay khi Việt Nam thống nhất.

Như vậy, tất cả các hải đảo do Việt Nam Cộng Hòa “quản lý” và “tuyên bố chủ quyền” đều tự động trở thành tài sản thống nhất và của duy chỉ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam một cách không bao giờ có thể tranh cãi được về mặt pháp lý ngay khi Việt Nam thống nhất.

Như vậy, việc bọn Sử đần nêu lên rằng nhất thiết phải công nhận Việt Nam Cộng Hòa để có cơ sở pháp lý đòi lại Hoàng Sa chỉ chứng tỏ bọn Sử Đần thực sự đần và chỉ là một đám trẻ con chưa hề cắp sách đến trường học môn Sử.

Tất nhiên, việc không là thành viên Liên Hợp Quốc cũng chẳng là điều quan trọng, vì không những hai bên có riêng cho mình những sự “công nhận” của các quốc gia khác về ngoại giao và như một thực thể ngoại giao, mà còn vì Liên Hợp Quốc cũng chỉ là một tổ chức vô duyên – chẳng hạn dù Đài Loan là một trong những thành viên chính thức đầu tiên từ năm 1945 và là một trong số 5 ủy viên thường trực vĩnh viễn của Hội Đồng Bảo An, Liên Hợp Quốc vẫn ra Nghị Quyết số 2758 năm 1971 tống cổ Đài Loan để lấy ghế thành viên Liên Hợp Quốc cùng ghế ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An dâng tặng Trung Quốc, chứ không như trường hợp Đông Đức-Tây Đức và Triều Tiên-Hàn Quốc. Đài Loan bị Liên Hợp Quốc từ chối xem như “quốc gia” mà chỉ là một tỉnh lỵ thuộc Trung Quốc; tuy nhiên, Mỹ và 18 nước thành viên cùng Vatican và Việt Nam Cộng Hòa là 21 thực thể “chính thức công nhận” Đài Loan để có các quan hệ ngoại giao đồng minh dù không ai dám gọi Đài Loan là “quốc gia”, còn Đài Loan thì duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức với gần 100 quốc gia khác.

Tương tự, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được các nước Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba, và các nước Đông Âu cùng Trung Á “công nhận” (như Hung Gia Lợi, Ba Lan, Tiệp Khắc, Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, Nam Tư, v.v.). Ngoài ra, còn có một số các nước Tây Âu như Thụy Điển cũng đã với công tâm và lòng nể trọng Hồ Chí Minh công nhận quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ những năm 1960. Richard Sackett Thompson, quan chức Mỹ tại Hòa Đàm Paris 1972-1974, khi trả lời phỏng vấn đã nói rằng: “Trận ném bom Giáng Sinh 1972 đã có quả rơi nhầm Đại Sứ Quán Pháp ở Hà Nội khiến bạn gái của Đại Sứ tử vong, thật là một việc thất lễ (killed the ambassador’s mistress, which is very unkind indeed). Đây là lần đầu tiên B52 bị bắn hạ. Không rõ có mấy chiếc bị rơi. Nhưng bên tình báo cho biết phía địch hết trọi hỏa tiễn rồi nên chúng sẽ tuyệt vọng trước các trận ném bom của chúng ta” với ngụ ý B52 bị rơi tại vì cộng sản đem hết hỏa tiển ra bắn tua tủa như mưa nên không trúng ruồi sao được, mà có trúng thì phải trả giá đắt cực kỳ vì phải xài sạch bách cả kho vũ khí.

Còn Việt Nam Cộng Hòa dù không được “toàn thế giới công nhận” vẫn trở thành thành viên của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, Ngân Hàng Thế Giới, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Cảnh Sát Quốc Tế, Hội Hồng Thập Tự Và Trăng Lưỡi Liềm Đỏ Quốc Tế, và vài tổ chức của Liên Hợp Quốc như UNESCO và Liên Minh Bưu Chính, v.v., vì những tham gia này chẳng dính dáng gì đến “công nhận” hay “không công nhận” cả.

Như vậy, chỉ có bọn Sử Đần mới hô hào hoan hỷ đòi Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam phải “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa trong sách về Sử, mặc cho sự thật là Việt Nam Cộng Hòa khi còn tồn tại đã thường xuyên ngay từ đầu hô hào “Bắc Tiến” tiêu diệt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tàn sát thường dân và tu sĩ Phật Giáo “thân Cộng”, và năn nỉ Mỹ hãy sử dụng bom nguyên tử biến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành Hiroshima và Nagasaki để không những cộng sản bị tiêu diệt mà còn để thế gian năm 2017 không thể có sự xuất hiện của bọn Sử Đần do đã bị phóng xạ hủy diệt  từ lâu.

2) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” là một hành vi ngoại giao giữa hai “quốc gia” hoặc hữu hảo hoặc với dụng ý khác, mà Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một thực thể sinh sau đẻ muộn tồn tại chỉ có 20 năm từ 1955 đến 1975, đã bị tiêu diệt, có còn đâu mà Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thực hiện được trò tuyên bố “công nhận”. Chỉ có bọn Sử Đần mới mở miệng nói điêu không sợ các nhà hàn lâm ngoại giao và sử gia thế giới khinh bỉ khinh miệt khinh thường khinh khi khinh rẻ và khinh khỉnh.

3) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì tất cả các sử gia trên thế giới sẽ cho đó là hành vi quái đản không bao giờ tồn tại hoặc không bao giờ có tiền lệ ở thế giới văn minh.

4) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” là một cái bẫy để ngay khi có nhân vật lãnh đạo cấp cao nào đó của Nhà nước mất cảnh giác tuyên bố “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa thì bọn phản động hải ngoại lập tức hình thành một thực thể đấu tranh đòi Liên Hợp Quốc bắt Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam phải “trả lại” đất đai tài sản toàn Miền Nam cho chúng trở về “lập quốc”, tiến hành hành quyết bằng máy chém của Ngô Đình Diệm các quan chức công chức chế độ cộng sản và xua đuổi nam phụ lão ấu công dân Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành phía Nam ra đường phố để thu hồi tất cả các nhà cửa đất đai trước đó thuộc quyền sở hữu các cư dân Việt Nam Cộng Hòa đã đào thoát bỏ lại. Há miệng mắc quai là cái mà bọn “nhà sử học” đần mong Đảng Cộng Sản Việt Nam đủ ngu để phạm phải.

5) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì “công nhận” chẳng dính dáng gì đến việc khôi hài “đòi lại Hoàng Sa” mà bọn Sử Đần đang sủa. Trung Quốc đã “công nhận” Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam từ khuya, và còn khuya Trung Quốc mới giao trả Hoàng Sa, Trường Sa, cùng các vùng đất mà chúng chiếm đóng trên đường tháo chạy sau Chiến Tranh Biên Giới 1979. Đất của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mà nó còn chiếm, không bao giờ trả lại cho chủ nhân, sá gì trò hề “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa để có tư cách làm chủ mà đòi lại Hoàng Sa? Trung Quốc sẽ đơn giản nói rằng “Nị công nhận Việt Nam Cộng Hòa, vậy thì hãy để nó tới đây thương thảo với ngộ, hoặc nị chừng nào có công văn ủy quyền của nó thì hãy cho ngộ biết nhe. Chào tạm biệt bạn hiền. Ngộ còn lo đánh thằng Ấn Độ kiếm thêm vài miếng đất đây!” Chưa kể, trước 1955 thì Việt Nam Cộng Hòa không tồn tại vậy phải chăng Hoàng Sa nói riêng và toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thuộc chủ quyền của Pháp nên giờ đây chỉ có Pháp mới có quyền đòi lại Hoàng Sa vì Pháp chưa hề ký giấy giao Hoàng Sa cho Việt Nam Cộng Hòa còn Việt Nam Cộng Hòa chưa ký giấy giao lại cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam?

6) Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam không bao giờ có thể “công nhận” Việt Nam Cộng Hòa đơn giản vì sao lại phải “công nhận” khi chân lý tự ngàn xưa đến nay luôn là: toàn bộ tài sản – kể cả “nợ” và “có” – của kẻ thua sẽ tự động thuộc về bên thắng trận. Toàn bộ khí tài quân sự và quân trang quân dụng kể cả kho tàng ngân khố của Việt Nam Cộng Hòa, các tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại, v.v, đều tự động thuộc về chủ quyền của Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam mà không cần bất kỳ sự “công nhận” nào cả, và thậm chí dù không “công nhận” Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì tất cả các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Cộng Hòa cũng tự động bỏ ngân sách ra mà bảo quản, giữ gìn tất cả các tài sản của Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại cho đến ngày nào đó của tương lai khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam thì trao hoàn lại đầy đủ 100% cho Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam trong tình trạng bảo quản tốt nhất có thể được. Không bất kỳ quan chức nào của Việt Nam Cộng Hòa bị đánh đuổi chạy sang các nước đồng minh lại được các nước đồng minh ấy cho vào sống tại các đại sứ quán của Việt Nam Cộng Hòa hoặc đem bán các tòa nhà đó để bảo đảm Cộng Sản đừng hòng hưởng được gì. Chỉ có bọn Sử Đần mới không biết về khoản này.

B- Đệ Nhị Đại Đần: Ngụy Quân – Ngụy Quyền

Ngoài nội dung ngữ nghĩa mang tính lịch sử của “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” mà tác giả bài viết này đã nêu kỹ trong bài đăng tuần trước trên blog này, bọn Sử đần nhất thiết phải được dạy về các chi tiết lịch sử và thực tế sau:

1) Tất cả các guồng máy quản trị một quốc gia, một lãnh thổ, một địa phương đều được dùng chung bởi một từ duy nhất trong tiếng Anh là “government” mà tiếng Việt gọi là “chính phủ”.

2) Như đã bao lần được nêu trong blog này chẳng hạn đối với các từ ngữ như “dân chủ” chẳng hạn, thì luôn có sự bất tương thích giữa tiếng Việt và tiếng Anh, khiến “dân chủ” bị người Việt hiểu nhầm thành “dân làm chủ” dẫn đến việc vô tư lạm dụng để làm nhặng lên chống Cộng, trong khi tiếng Anh của nó là “democracy” chỉ nêu lên nội dung duy nhất là thể chế mà nơi đó người dân bỏ phiếu bầu nên chính phủ tùy theo quy định của Hiến Pháp chứ không phải cái thể chế trên trời rơi xuống một đấng quân vương làm vua trọn kiếp rồi truyền ngôi cho con cái. Ở đây, chữ “chính phủ” trong tiếng Việt lại bị vướng chữ “chính” mà người Việt hiểu nhầm rằng mang nghĩa “danh chính ngôn thuận” trong khi từ ngữ tiếng Anh của nó là “government” chỉ mang nghĩa tập thể điều hành cai trị đất nước/lãnh thổ/địa phương chứ chẳng có chính chính phụ phụ chính chính tà tà chính chính ngụy ngụy gì cả.

Do hiểu theo kiểu Việt, những con người đoan chính nghĩa khí tuân thủ luật pháp quốc tế và các thỏa thuận quốc tế ở Miền Bắc đã giận dữ trước sự tráo trở của “phe Miền Nam” phá hoại Tổng Tuyển Cử tự lập nên “government” ở Miền Nam, nên không cam chịu chữ “chính” cao trọng của Hán Việt lại được dùng gọi bọn tay sai phá hoại nên thay vì chọn chữ “tà” cho đối chọi với “chính”, đã tự chế ra từ “ngụy quyền” để thay cho “chính quyền,”  do chữ “tà” trong “tà quyền” có hơi hướm tôn giáo, còn quân đội của “ngụy quyền” ấy là “ngụy quân” vì quân đội luôn cao quý bảo vệ sự toàn vẹn thống nhất đất nước chứ ai lại làm tay sai cho Mỹ chia cắt đất nước bao giờ.

Cái nghĩa khí ấy khi cặp chung với cái hạn chế muôn thủa về tương quan tiếng Việt với tiếng nước ngoài  đã khiến hình thành nên các từ “ngụy quân” và “ngụy quyền”. Thế nhưng, về mặt ngôn ngữ toàn cầu thì dù là chính quyền, phụ quyền, hay ngụy quyền hoặc… giả trá quyền hay ba xạo quyền thì chung quy vẫn chỉ có một từ tiếng Anh duy nhất là government. Về mặt ngôn ngữ hàn lâm, “chính quyền” là từ ngữ chính thức chính quy tức “formal”, còn “ngụy quyền” là từ ngữ không chính thức chính quy tức “informal” hoặc “colloquial” hoặc tiếng lóng tức “slang”.

Như vậy, do tiếng lóng không bao giờ được xem như thích hợp trong ngôn ngữ hàn lâm, Việt Nam có quyền sử dụng “ngụy quyền” tùy thích ở nội bộ Việt Nam vì đó là tiếng Việt đặc thù được chế tạo ra trong thời gian chiến tranh để phân định chính với tà. Còn khi dịch “ngụy quyền” ra tiếng Anh thì vẫn phải dùng chữ “government”. Từ đó, việc sử dụng từ “chính phủ” để gọi giới cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng là lẽ thường tình do chữ “chính” trong “chính quyền” đâu có nghĩa là chính đạo chính thức chính quy chính nghĩa gì cả.

Tóm lại, việc sách dạy Sử bằng tiếng Việt nên dùng chữ “chính quyền” để nếu chẳng may quyển sách ấy bất ngờ có giá trị toàn cầu thì các học giả nước ngoài khi tự dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước họ thì họ sẽ biết chữ đó là chữ “government”, chứ nếu ghi là “ngụy quyền” thì họ hoàn toàn không sao hiểu nổi. Đối với tiếng Anh, chỉ có các cụm từ chính quyền dân cử, chính quyền dân sự, chính quyền quân sự, và chính quyền bù nhìn, chứ thế giới hàn lâm không bao giờ có khái niệm chính quyền chính và chính quyền tà (tức chính quyền ngụy, gọi tắt là ngụy quyền).

Tóm thêm lần nữa, việc dùng “chính quyền” để gọi giới cầm quyền của chế độ Sài Gòn là chuyện nhỏ, chuyện bình thường, chuyện chuyên nghiệp, chuyện đương nhiên, chuyện ngôn ngữ (do thiếu dấu gạch nối để biết chính-quyền tức “government” hoàn toàn khác với chính quyền tức “main power”) chứ làm quái gì có liên quan đến “công nhận” hay “không công nhận” mà tru tréo rỡ mừng như vừa gặp khúc xương trong tô bánh canh giò heo trên nắp cống Kênh Nhiêu Lộc.

C- Đệ Tam Đại Đần: Làm Chính Trị

Cái đần của bọn “nhà sử học đần” là không hiểu sự khác biệt của sử gia chính trị và sử gia làm chính trị.

Sử gia chính trị là những sử gia tri thức uyên bác chỉ có ở Âu Mỹ, chuyên nghiên cứu thâm sâu để có các công trình biên khảo xuất chúng về lịch sử chính trị các nước các khu vực các thời kỳ từ trung cổ đến cận đại của nước này nước nọ.

Tại sao cận đại mà không hiện đại? Đơn giản vì những gì của hiện đại chỉ có giá trị ghi vào sử sách sau một thời gian tối thiểu 50 năm hoặc 100 năm. Soạn sách mà la lối về Việt Nam Cộng Hòa là hoàn toàn sai vì chưa được 50 năm hay 100 năm hạn định đó, chưa kể 50 năm hay 100 năm không phải là số năm của số học mà là 50 năm hay 100 năm nghiên cứu thu thập sử liệu và tài liệu cũng như là 50 năm hoặc 100 năm có sự ra đời của vô số công trình biên khảo, phản biện, bút chiến, khẩu chiến, để chờ thời điểm đến là đem ra tranh luận lần cuối để thống nhất ghi vào sử sách hoặc điều chỉnh sử sách. Từ Giải Phóng Miền Nam đến nay đã gần 50 năm, song đã có những pho sách nghiên cứu nào về Việt Nam Cộng Hòa đã ra đời mà bọn Sử đần lại tự tung tự tác ghi vào quyển sách mới in về môn Sử vậy?

Tại sao nước này nước nọ mà không là nước mình? Đơn giản vì “nước mình” là công việc của giáo viên dạy Việt Sử, không cần nghiên cứu quái gì cả mà phải dựa 100% vào sách giáo khoa vốn dựa theo quyển lịch sử chính thức chính thống của các tiền nhân đã ra người thiên cổ; còn công việc của sử gia thứ thiệt là hoặc nghiên cứu các vấn đề chưa rõ để góp phần thắp thêm ngọn nến soi rọi lịch sử cho hậu thế quyết định chứ dứt khoát không có quyền đòi sửa chữa sử liệu, hoặc nghiên cứu các vấn đề sử tương tự hay dị biệt của các nền văn minh khác để làm giàu thêm cho kho tàng lịch sủ vì Thế Giới Sử luôn là phần quan trọng của bộ môn lịch sử.

Tu sĩ mà “làm chính trị” là chuyện đần độn.

Nhà sử học mà làm chính trị là chuyện độn đần.

Tu sĩ vẫn có thể “làm chính trị”, song không bao giờ được phép bảo là Kinh Phật hay Kinh Thánh dạy là phải chống chế độ cộng sản, chống chính phủ, chống…Formosa. Đó là lý do các giám mục và tổng giám mục Đức Quốc Xã “làm chính trị” ủng hộ tàn sát Dân Do Thái mà không bị trừng trị vì đơn giản các giám mục/tổng giám mục ấy nào có chống chế độ Quốc Xã, chống chính phủ Quốc Xã, chống công ty Ý Mussolini mần ăn với Quốc Xã, mà trái lại đã tỏ lòng yêu nước yêu chế độ yêu lãnh tụ cực kỳ cực điểm và cực đỉnh. Việt Nam là quốc gia duy nhất của nhân loại dám để yên cho bọn tu sĩ chống đối chế độ, chống đối Hiến Pháp, chống đối chính phủ; trong khi thế giới văn minh chỉ cho phép tu sĩ chống một cá nhân bất kỳ của chính phủ. Linh mục Mỹ chỉ biểu tình chống đích danh Donald Trump đối với  đích danh một đạo luật cụ thể như quyền phá thai chẳng hạn vì có dính dáng đến giáo huấn của tôn giáo, chứ chẳng có thằng tu sĩ ngu nào dám chống Hiến Pháp Hoa Kỳ và Chính Phủ Hoa Kỳ để nhận lấy các đòn trừng trị khủng khiếp của FBI nơi chốn ngục tù.

Nhà sử học có thể “làm chính trị” nhưng không bao giờ được phép bảo là chính phủ phải …”công nhận” thể chế này quốc gia nọ cũng như bỏ chữ này dùng chữ kia để “lấy lại Hoàng Sa” với lý do Sử nó dạy thế rành rành trong sách sử. Theo chuẩn chất của Âu Mỹ, khi “làm chính trị” thì bất kỳ ai kể cả “nhà sử học” đều phải bỏ nghề, bỏ luôn tòa soạn tạp chí gì đó mà mình làm chủ, bỏ luôn các hợp đồng soạn sách sử để không mang tiếng dựa hơi chính trị kiếm thu nhập cá nhân, đồng thời để không phạm phải điều tối kỵ rằng lời phát biểu về chính trị của ta một nhà sử học đương nhiên phải là lịch sử quốc gia.

Dùng kinh kệ để làm cầu thang chính trị gây loạn quốc gia là bọn tu sĩ đần độn dám khinh nhờn luật pháp quốc gia.

Dùng chức năng biên soạn sách sử để làm cầu thang chính trị gây loạn quốc gia là bọn “nhà sử học” đần độn dám khinh lờn luật pháp quốc gia.

Các thiền sư đã vung đao chém bay biết bao đầu của giặc Tàu và hết lòng phò tá chế độ nước nhà giúp Việt Nam có những triều đại hoàng kim. Các linh mục đã hỗ trợ Ngô Đinh Diệm chém rơi biết bao đầu của “bọn thân Cộng” mà tuyệt đại đa số không là tín đồ Đạo Chúa, nhưng không để hết lòng phò tá chế độ mà để thực thi mệnh lệnh của vị Hồng Y tại Hoa Kỳ nên Ngô Đình Diệm bị giết cũng không sao và Việt Nam Cộng Hòa bị mất về tay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng không sao tuốt.

Thế nên, các bậc chân tu đạo hạnh và các sử gia thực thụ trong lịch sử quốc gia không bất kỳ ai “làm chính trị” nhờ vậy mà thiên hạ còn có người lương thiện và kho tàng văn hóa nước nhà còn có các tác phẩm kinh kệ hay lịch sử vĩ đại cho hậu thế.

D- Đệ Tứ Đại Đần: Rắn Đầu Biếng Học

Và cuối cùng, song lại là điều quan trọng nhất là bọn “nhà sử học đần” đã (a) không tìm đọc tất cả các lời giáo huấn của tác giả bài viết này về Sử và tư cách “nhà sử học” như có liệt kê ở phần tham khảo dưới đây, và (b) không biết rằng tất cả các vấn đề về Việt Sử và Thế Giới Sử nhất thiết phải tham khảo ý kiến của và trình các bản thảo sách về môn Sử cho tác giả bài viết này hiệu đính trước khi xuất bản.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Tứ Đại Ngu  05-8-2014

Thế Nào Là Sử Gia  05-02-2014

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Sử  31-5-2016

Trình Độ Thạc Sĩ – Tiến Sĩ Việt Nam  30-12-2015

Ngụy Quyền 20-8-2017

Hoàng Sa (Hội Chứng Hoàng Sa) 28-7-2014

Hoàng Sa  30-3-2016

Tết Mậu Thân 1968  28-01-2014

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ 24-3-2014

Làm Chính Trị & Làm Loạn  12-01-2017

Bọn Con Nít Làm Chính Trị  06-3-2017

Dấu Gạch Nối: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến  25-10-2015

Ngụy Quyền

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-8-2017

Nguy Quyen

Theo khẩn báo của các học trò, tôi biết thông tin có một tên tiến sĩ chức sắc gì đó đã trả lời phỏng vấn ngoài hành lang của một hội nghị gì đó có liên quan đến việc phát hành bộ sách lịch sử gì đó của bậc trung học, và lời phát biểu của tên tiến sĩ này về “ngụy quân, ngụy quyền” tất nhiên đã nhanh chóng cung cấp thời cơ cho mấy tên chống Việt gì đó tận dụng để hê lên tiếng kêu lạc lõng gì đó về chuyện Việt hiện nay vì quá đói nghèo phải thay đổi cách gọi trân trọng Việt Nam Cộng Hòa nhằm ngắm nghía túi tiền gì đó của Việt Kiểu.

Nhận thấy tên tiến sĩ do Nhà Nước Cộng Sản đài thọ chi phí ăn học bằng tiền thuế của dân (?), được Nhà Nước Cộng Sản xây sẵn viện này viện nọ ghế nọ ghế kia ô tô này ô tô nọ bằng tiền thuế của dân (?), được Nhà Nước Cộng Sản tiếp tục giao cho cơ hội sử dụng kinh phí dồi dào từ tiền thuế của dân để tham gia vô số các đai cuộc cải cách giáo dục cải cách sách giáo khoa (?); nhưng luôn đáp đền Nhà Nước và nhân dân bằng hạ sách giống như các bậc anh tài Phạm Thanh Bình, Giang Kim Đạt, Trịnh Xuân Thanh, v.v., tức vừa làm tiền bạc Nhà Nước hóa bùn (!) vừa tạo điều kiện cho bọn chống Việt ném bùn vào mặt Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ, và đất nước (!);

Tôi xin nói rõ như sau về “ngụy quân” và “ngụy quyền” mà không bất kỳ ai trên toàn thế giới có biết về ngôn ngữ tiếng Việt có thể tranh biện chõi lại được.

1) Miệt Thị Dân Tộc: Như đã viết trong bài Sát Tàu đăng trên blog Chống Trung Quốc antichina.blog.com của tôi và sau này được đăng lại trên blog wordpress này, ethnophaulism là dạng thức ngôn ngữ mang tính khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường một giống dân, thí dụ người Việt gọi giặc Mông Cổ là “Thát”; người Sài Gòn gọi người Trung Quốc là “Chệt”, “Chiệc”, hay “Tàu”; người Việt gọi người Mỹ là “Mẽo”; người Việt gọi người Cambodia là “Miên”; người Mỹ gọi người Tàu là “Chink” hay “Chinaman”; người New Zealand gọi người Úc là “Ozzie”; người Âu gọi người Mỹ là “Yankee”; người Cambodia gọi người Việt là “Duồn”, v.v.

2) Miệt Thị Cá Biệt: Còn không trên bình diện “dân tộc” mà chỉ trong phạm vi một tập thể, một nhóm người, một tổ chức, một cá nhân, thì hình thức khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường được gọi là linguistic impoliteness hoặc derogatory coinages.

Việt Nam Cộng Hòa Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa là những từ ngữ “formal” tức chính danh chính thức trang trọng trang nghiêm, do chính Việt Nam Cộng Hòa tự đặt cho chính mình để sử dụng toàn cầu

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt NamChiến Sĩ Giải Phóng Quân là những từ ngữ “formal” tức chính danh chính thức trang trọng trang nghiêm, do chính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tự đặt cho chính mình để sử dụng toàn cầu.

Để tỏ sự khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường đối phương, Việt Nam Cộng Hòa chế ra từ “Việt Cộng” để gọi các Chiến Sĩ Giải Phóng Quân, và lấy ý nghĩa tiếng Anh mà phe Mỹ dùng (North Vietnam) để gọi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là “Bắc Việt” cho ngắn ngủn nhằm bôi bỏ mấy từ ngữ lớn lối về dân chủ và cộng hòa. Như vậy, “Việt Cộng” và “Bắc Việt” không phải là những từ mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sử dụng để tự gọi chính mình.

Đáp lại, để tỏ ý khinh ghét khinh rẻ khinh khi khinh bỉ khinh miệt khinh thường đối phương, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chế ra từ “Ngụy Quân” để gọi các binh sĩ  Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, và đã “hoàn toàn trên cơ” khi đã không lấy ý nghĩa tiếng Anh mà phe Mỹ dùng (South Vietnam) để gọi Việt Nam Cộng Hòa là “Nam Việt” cho ngắn ngủn mà cũng để không phải công nhận đó là một quốc gia nên chế ra từ “Ngụy Quyền” như nhà cầm quyền giả trá giả tạo. Như vậy, “Ngụy Quân” và “Ngụy Quyền” không phải là những từ mà Việt Nam Cộng Hòa sử dụng để tự gọi chính mình.

Khi đã không là từ formal thì dứt khoát không được sử dụng trong sử sách, trong xã luận báo chí chính thống, trong công hàm ngoại giao, và trong tất cả các văn bản pháp quy, các công văn chính phủ. Nếu sử dụng thì buộc phải in nghiêng hay in giữa cặp dấu ngoặc kép.

Như tác giả bài viết này đã bao lần lên tiếng về cái sai của toàn bộ Văn Phạm Tiếng Việt kể từ mốc sau Giải Phóng 1975 đến nay, tiếng Việt đã không những bỏ mất dấu gạch nối mà còn trở thành ngôn ngữ quái lạ không phân biệt ranh giới Formal và Informal khiến ngay trong Nghị Định Chính Phủ và Thông Tư Liên Bộ sử dụng từ ngữ thậm chí kém đẳng cấp hơn cả informal là từ tiếng lóng như “găm hàng” chẳng hạn, chính những cái sai này đã dẫn đến việc vô tư biên soạn sách giáo khoa lịch sử có sử dụng các từ ngữ ác cảm phi chính quy và rất bình dân như “ngụy quân” và “ngụy quyền”.

Vì vậy, việc thay “ngụy quyền” bằng “chính quyền” và “ngụy quân” bằng “quân đội Sài Gòn” chỉ đơn giản là một động tác thuần túy sửa lỗi chính tả (nguyên tắc hàn lâm: không được phép dùng từ bình dân trong các sách giáo khoa hàn lâm), hoàn toàn không phải vì mấy cái lý do quỷ quái điên rồ xuẩn ngốc của nào là xóa bỏ hận thù, hòa hợp dân tộc, hay xét lại hoặc công nhận uy thế gì cả để mà trả lời phỏng vấn nhằm nêu cái “chính nghĩa quốc gia” láo xạo nào cả.

Một khi chỉ là sửa lỗi chính tả, thì cớ gì phóng viên lại quá ngu không biết nên phỏng vấn, và cớ gì tiến sĩ lại quá ngu không biết nên trả lời để rồi cùng vầy đoàn trở thành học trò mẫu giáo tuốt, chả biết gì sất về Tiếng Việt, để rồi tạo cớ cho bọn chống Việt tru tréo ăn nói quàng xiêng về cái quái gì đó gọi là “chực chờ kiều hối” thế kia?

Hỡi ơi, Đảng Cộng Sản Việt Nam sao cứ mãi dùng tiền thuế của dân gieo trồng toàn những cây đại thụ từ toàn hạt giống lép đầy lổ sâu mọt để chúng vươn to cao rồi tự ngã đè lên đầu Đảng thế này!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Nghị-sí Quốc-hội Khóa XIII

Tham khảo:

Sát Tàu: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/07/sat-tau-5/

Formal & Informal: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Dấu Gạch Nối: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Các bài đọc thêm về ngôn ngữ (xếp theo thứ tự thời gian trước-sau):

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.

Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”

“Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa”

Biển Đông Có Phải Là East Sea?

Chủ Tịch – Già – Cu Dơ Nhét Xốp

Hà Hồ

Tranh Giành Ngôn Từ

Sadim Ơi Là Sadim

Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Nhà Độc Địa

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Thế Nào Là “Từ Chương”

Bọn Con Nít Làm Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

06-3-2017

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng Âu Mỹ thì “làm chính trị” nghĩa là làm nghị sĩ hoặc làm quan chức cao cấp trong chính phủ, nghĩa là người ta “làm chính trị” chỉ để phục vụ chính cái thể chế chính trị, cái chế độ hiện hữu của đất nước mình, bảo vệ hiến pháp với toàn bộ hệ thống luật pháp vận hành của nó. Kỳ dư, tất cả những ai lăng xăng hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, đều là đang thực hiện quyền tự do ngôn luận mà người công dân nào cũng có, chứ hoàn toàn không phải là “làm chính trị”. Và nếu các hành động hành vi hô hào dân chủ, hò hét nhân quyền, hò la phản biện xã hội, lại nhằm mục đích chống phá thể chế chính trị nước nhà, kích động bạo lực, sử dụng bạo lực, gây ra phá hoại an ninh trật tự, lật đổ chế độ hiện hữu thì đó dứt khoát là “làm loạn” nên nhất thiết phải bị pháp luật trừng trị theo đúng thông lệ quốc tế Mỹ Âu. Chính phủ nào không phân biệt được sự khác biệt này nên không dám sử dụng bạo lực để trấn áp đàn áp bức áp tất cả các hành động hành vi “làm loạn” là chính phủ đáng vất sọt rác, không biết noi gương sáng trị quốc của chính phủ Hoa Kỳ.

Không phải không cần thiết khi phải nhắc lại ở đây – nội dung đã lập đi lập lại nhiều lần trên blog này –  rằng theo ngữ nghĩa từ vựng của tác giả bài viết này đã nêu rất rõ trong bài Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ thì “trẻ trung” hoàn toàn không dính dáng gì đến “tuổi trẻ”, “trẻ tuổi” nghĩa là thời gian để “làm người lớn” còn dài hơn nhiều so với những “người lớn” đã cao tuổi, và “trẻ nít” là cái phong cách tồi tệ nhất của người trẻ tuổi và người cao tuổi.

Quốc Hội Khóa XIII có mấy lão nghị sĩ con nít, kẻ thì thách Thủ Tướng có dám từ chức không, kẻ thì yêu cầu Thủ Tướng báo cáo công khai cụ thể trước Quốc Hội kế sách chống lại  Trung Quốc, kẻ thì bảo các nước trên thế giới “biểu tình” rất đàng hoàng nên Việt Nam cũng sẽ “biểu tình” đàng hoàng, kẻ thì phán như đinh đóng cột rằng “biểu tình” phát xuất từ Chicago, kẻ thì ngu đần không biết ý nghĩa của từ ngữ “ốc đảo” nên lớn tiếng tại Quốc Hội cho nó là hoang đảo, v.v. Đây là thí dụ rõ nét nhất về “bọn con nít làm chính trị”.

Để chuẩn bị nhân lực cho đội ngũ “làm chính trị”, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phát triển đảng viên, rèn luyện đảng viên, giáo dục đảng viên quán triệt các nghị quyết, đường lối, chủ trương, v.v., của Đảng. Song, như tác giả bài viết này đã từng nêu ra rất nhiều năm trước là Đảng đã bỏ lơ việc (a) giáo dục nhân cách con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho tư cách đảng viên vì đảng viên trước hết phải là con người, và (b) giáo dục đạo đức con người vốn phải làm tiền đề mang tính chủ đạo cho đạo đức cách mạng vì đạo đức cách mạng chỉ có nơi con người có đạo đức con người cao nhất. Các đảng viên ở các địa phương làm lãnh đạo Đảng hoặc lãnh đạo chính quyền (hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, các Sở Ban Ngành) là nguồn nhân lực Đảng chuẩn bị đưa ra “làm chính trị”. Do có sự lơ là đã nêu trên, một số đảng viên cấp cao đã không hề có chút tư duy nào về tư cách người lớn, tư cách bậc trưởng thượng, tư cách bậc thủ trưởng, và tư cách đảng viên, nên hành xử như con nít.

Đi ô tô tư ở nơi trấn nhậm thì muốn phải là Lexus và phải có bảng số xanh để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải trốn biền biệt trộn bên trong bột giấy của tờ truy nã toàn cầu khổ A4 hay khổ Letter của Interpol, mất luôn cơ hội trở thành Bộ Trưởng Công Thương trẻ tuổi tài cao của nhiệm kỳ Quốc Hội XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-11-41-am

Đi ngoạn cảnh chốn hoa viên mà trong tay phải cầm cành mai đào bề thế để rồi bị lộ nguyên hình đứa con nít phải ra sức thanh minh mà không đủ trí hóa để biết rằng (a) ngay cả khi đó là cành cây tự gãy do nó “tự sướng” thật thì đó cũng là tài sản của vườn hoa, như bên New Zealand du khách vào các nhà vườn hái táo hái lê tự do rồi xách xô ra tính tiền nhưng nếu lượm trái rơi đầy trên mặt đất để ăn thì bị đuổi ra khỏi vườn ngay lập tức vì đó là ăn cắp; rằng (b) nữ chức sắc mà cầm cành hoa chụp hình như nữ sinh tiểu học thì rõ là không có tác phong làm lãnh đạo; và rằng (c) đảng viên chức sắc mà không biết thù trong giặc ngoài luôn rình rập nhất cử nhất động của mình để khai thác tấn công thì thật là đáng thương cho đảng viên con nít và đáng quan ngại cho sự tồn tại của Đảng. Đã có đứa con nít ngu xuẩn nghe lời người lạ cầm cái khăn chụp vào mặt một người lạ khác ở Malaysia để rồi nay chờ đợi bản án tử hình treo cổ sắp tuyên. Sẽ có đứa con nít ngu xuẩn khác cầm dùm hành lý của một bà cụ nào đó ở phi trường Bangkok để rồi sẽ chịu án tử hình vì đó là va li bạch phiến. Vừa có một đứa con nít ngu xuẩn cầm cành hoa mai đào vật chứng phạm tội của người khác bẻ dúi vào tay. Một đảng viên không được phép là con nít, và hãy tống cổ ra khỏi Đảng những đứa con nít!

screen-shot-03-06-17-at-08-26-pm

Lãnh đạo một Ban Chỉ Đạo mà chỉ hiểu nghĩa đen của “trẻ hóa” nên đưa một đứa con nít “quá trẻ” chưa hề có kỳ công kỳ tích nào vào Vụ Kinh Tế ngồi trên đầu thiên hạ để lo đại cuộc phát triển kinh tế cả Miền và cả thành phố lớn, lờ đi sự thật là cái thành phố lớn ấy đang nhếch nhác lôi thôi lếch thếch với bao dự án địa ốc nham nhở dở dang mà cư dân chỉ gồm bò cái bò đực và những bóng đen thực tập sử dụng ống chích và kim tiêm.

screen-shot-03-06-17-at-11-46-am

Lãnh đạo ngân hàng mà chỉ lo vận dụng các chiêu thức của các bậc tiền nhiệm ồ ạt đổ tiền nhét chất đầy nghẹt đầy nhóc đầy tràn trong nhà mình để rồi khi bị phát hiện mất một núi tiền và một đồi vàng thì nếu không kịp có tên trên bảng truy nã toàn cầu của Interpol thì cũng ra đứng trước tòa nói rằng tội là của người khác, rằng bản thân vô tội, rằng hãy tha cho các nhân viên vì họ chẳng xơ múi gì, rằng xin không bỏ tù để bản thân ở ngoài xã hội làm lụng kiếm tiền khắc phục hậu quả.

Lãnh đạo đảng ở địa phương thì ngây thơ như con nít vô tư nhận ô tô đắt tiền do doanh nghiệp tặng để đi cho sướng đôi mông cao quý của cấp lãnh đạo, mà không biết rằng đó không thể không dấy lên sự ngờ vực ắt luôn có về sự thiên vị, có qua có lại, dành cho doanh nghiệp biết điều, để rồi bị cha mẹ – tức Thủ Tướng – mắng quở dạy cho bài học cực kỳ sơ đẳng là phải trả lại doanh nghiệp, mất luôn cơ hội được Đảng đưa ra “làm chính trị” kỳ Quốc Hội Khóa XV (2021-2026).

screen-shot-03-06-17-at-08-44-pm

Và còn bao sự hoặc tày trời hoặc ngu xuẩn hoặc cả hai của đám đảng viên con nít  có ít nhất một bằng thạc sĩ và một bằng tiến sĩ gây ra!

Cũng do cái đạo làm người được mặc định là do cha mẹ mỗi người phải chịu trách nhiệm trước tổ tông và dân tộc tự dạy dỗ con cái, nên khi Đảng chỉ lo phụ trách về “chính trị” thì đảng viên nào có đã được mẹ cha dạy dỗ thì đó là ngôi sao ngời sáng của Đảng, còn đảng viên nào không được cha mẹ dạy dỗ – mà tiếng bình dân informal gọi là “mất dạy” – thì đó là kẻ sẽ làm Đảng phải bỏ ra vài thập kỷ truy lùng trên toàn thế giới. Đây là cái lỗ hổng “giáo dục” mà tác giả bài viết này đã luôn ngậm ngùi rằng đại cuộc nước nhà rồi sẽ suy vi.

Cũng do tự tin vào cái mặc định trên, cũng như tự tin vào tay nghề giáo dục “chính trị” của mình, Đảng đã ra sức đào tạo đội ngũ nhà báo hồng thắm lý luận chính trị cao cấp, và nghiệp vụ chuyên sâu cấp cao. Tuy nhiên, cũng như tác giả bài này đã bao lần nêu lên trong nhiều bài viết, đã có lỗ hổng rộng banh toát hoát trong ngôn ngữ ngôn phong tiếng Việt: trong khi các ngôn ngữ Âu Mỹ có nào là dạng thức phân định rõ ràng của ngôn ngữ thông thường informal, ngôn ngữ trang trọng lịch lãm formal, ngôn ngữ nói bình dân colloquial, ngôn ngữ từ lóng của giới tội phạm hay xó chợ đầu đường slang, ngôn ngữ văn học văn hóa literary, ngôn ngữ báo chí language journalism, ngôn ngữ khoa học hàn lâm academic scientific terms, v.v. và v.v., thì tiếng Việt vì chiến tranh đã trở thành phế tích hoang tàn cỏ dại.

Các biên tập viên báo hình, báo in, báo mạng, thản nhiên dùng từ “nhí” thay vì “thiếu niên”, “ngáo đá” thay vì “lậm ma túy”, “tự sướng” thay vì “tự chụp”, “phượt” thay vì “dã ngoại đường trường”, v.v và v.v, mà không biết rằng (a) đối với Âu Mỹ thì ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ mang phong cách cầu kỳ đặc thù được đào tạo rất riêng, với những chuẩn mực rất riêng tuy thoát thai từ trên nền tảng chung của formal, mà ngay cả khi buộc phải dùng – hay phải nói – một tiếng lóng thì luôn phải để trong ngoặc kép hoặc chỉ viết chữ cái đầu tiên còn các chữ cái tiếp theo thì dùng ký hiệu hoặc tắt phần âm thanh hay ghép một tiếng bíp vào miệng người nói để xóa sự phát âm của một từ phản cảm, nếu không muốn bị các bậc phụ huynh vừa tẩy chay chương trình vừa kiện ra tòa; và rằng (b) những gì mà “giới tinh hoa báo chí” Việt Nam dùng thì đương nhiên học sinh Việt Nam có quyền “noi gương” để rồi làm hỏng bét cả văn hóa văn học ngôn từ của các “tinh hoa trí thức” tương lai.

Vì vậy, với sự hòa âm điền dã của những đứa con nít “làm chính trị” và những nhà báo con nít đã quá quen thuộc với việc phỏng vấn những đứa con nít “làm chính trị” ấy, mới đây đã có một phóng viên con nít đã gọi một vị Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân một Quận ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng cụm từ “soái ca” mà không biết rằng vị Phó Chủ Tịch Quận ấy là một “người lớn” xứng đáng đứng vào hàng ngũ những người “làm chính trị” của nhiệm kỳ 2021-2026, hoàn toàn không phải là hạng người mà ai muốn dùng loại từ ngữ “tiếng lóng”, “đầu đường xó chợ”, gán ghép vào ông thì cứ gán.

screen-shot-03-06-17-at-08-46-pm

Chỉ có cha mẹ mới dạy được con cái liêm khiết và liêm chính, dũng tâm và hùng tâm, ái quốc và ái nhân, khôn ngoan và khôn khéo; đơn giản vì tất cả các đức tính ấy của con người chỉ được nẩy mầm vun quén từ tuổi ấu thơ, trong thời gian dài bên cạnh mẹ cha, với bài học từ bản thân cha mẹ, và lời giáo huấn mưa dầm của mẹ cha. (Mẹ cha cũng đồng nghĩa với người bảo hộ tốt đẹp – nếu một người vì họa tai không được sống với đấng sinh thành tốt đẹp).

Đảng chính trị dù bất kỳ đâu trên thế giới cũng không bao giờ đào tạo ra đảng viên liêm khiết, liêm chính, dũng tâm, hùng tâm, ái quốc, ái nhân, khôn ngoan, khôn khéo. Vì vậy, Đảng cần ra khỏi tháp ngà, vi hành vào nhân dân, chiêu dụ những con người tốt đẹp hội đủ ngần ấy thứ đức tính từ cha mẹ của họ để thỉnh mời vào Đảng, giáo dục họ về “chính trị”, rèn luyện đào tạo họ về “trị chính”, để họ trở thành những chính khách “làm chính trị”, mà không là “con nít làm chính trị.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nguồn tham khảo các nội dung nhắc đến trong bài:

Chất Lượng Nghị Sĩ Việt Nam  18-01-2017

Làm Chính Trị & Làm Loạn   12-01-2017

Nền Tặc Chủ Hoa Kỳ: Demopiracy  30-12-2016

Vi Phạm Quyền Tự Do Cá Nhân  27-12-2016

Giới Tinh Hoa Chính Trị Việt Nam Sẽ Phải Thay Đổi Năm 2021  23-11-2016

Chìa Khóa Của Cường Thịnh    05-11-2016

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông  20-11-2015

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ  12-9-2014

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật  06-10-2014

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt.  04-12-2012

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt  18-6-2010

Nhà Độc Địa

Hoàng Hữu Phước, MIB

05-12-2016

A) Chống Cộng:

Như đã nêu rõ trong bài Chống Cộng, trên toàn thế giới tư bản hùng mạnh Âu Mỹ đã không còn sử dụng từ “chống Cộng” tức anti-communism hay anti-communist vì các lý do đơn giản như:

1) Trong triết học Âu Mỹ suốt hai thiên niên kỷ nay chưa hề có bất kỳ triết thuyết nào mang tên anti-communism cả;

2) Trong xã hội Âu Mỹ hiện đại từ ngữ anti-terrorism tức “chống chủ nghĩa khủng bố” xuất hiện từ sự truy tìm từ ngữ thích hợp hơn cho thực tế Âu Mỹ muốn các thần dân cùng chư hầu của mình đừng nhớ gì thêm đến “chủ nghĩa cộng sản” vì

a- Cái chủ nghĩa ấy không còn bất kỳ “ông trùm” nào đáng sợ nữa do Liên Xô đã biến mất tiêu mất tích, Tàu thì trơ vơ đơn độc cuối trời mây phiêu du lãng đãng do làm gì có thứ “cộng sản” mất dạy mất nết hư thân vong thân đã tự chuyển hóa tự diễn biến thành “chủ nghĩa cộng của tao” tức commu-egoism mà bản thân nó đã mạnh mẽ phủ nhận “chủ nghĩa cộng sản” rồi thay thế bằng “chủ nghĩa lông lá tả pí lù” gọi tắt là “chủ nghĩa lông thú” mà theo tiếng Hán là “Chủ Nghĩa Mao” tức Maoism, Cu thì chỉ là cảm tình viên Cộng sản xuất phát từ lòng ái quốc đặc thù kiên cường bất khuất trước cường bạo cường quyền Mỹ, còn Việt thì theo “tư tưởng Hồ Chí Minh” tức “Ho Chi Minh’s Thought” (chứ không phải “Chủ nghĩa Hồ” hoặc “Chủ Nghĩa Mác-Hồ” tức Ho-Chi-Minhism/Marxism Ho-Chi-Minhism) mà tư tưởng này đặt nền móng trên nền tảng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (dĩ bất biến = Luật 1 = Việt Nam phải và luôn là trên hết; ứng vạn biến = Luật 2 = áp dụng mọi thứ tốt nhất của bất kỳ ai trong toàn thiên hạ để phục vụ cho Luật 1) chứ chẳng giáo điều quỳ đầu thờ lạy riêng một thứ “chủ nghĩa” nào trừ “chủ nghia yêu nước khôn ngoan kiểu Việt” tức Viet-styled Anti-Extremist Patriotism hoặc đơn giản hơn là Viet-styled Smart Nationalism còn gọi theo thời thượng của WTO và TPP mà Hoa Kỳ khăng khăng yêu cầu tiên quyết mới chịu đặt bút ký hiệp định thì là Viet©Nationalism tức Chủ Nghĩa Dân Tộc Thuộc Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Của Việt Nam..

b- Xã hội tư bản đã phát triển hùng mạnh từ các đúc rút kinh nghiệm của chủ nghĩa cộng sản, đến độ nhiều nước Tây Âu tự hào có phúc lợi xã hội lý tưởng mô hình cộng sản chủ nghĩa mà chưa hề có hoặc sẽ không bao giờ có quốc gia nào tôn thờ chủ nghĩa cộng sản dựng xây được tương tự, còn “chủ nghĩa xã hội” trở thành có nội hàm tốt đẹp đến độ nhiều chính khách Âu Tây kể cả ứng cử viên Tổng Thống Mỹ 2016 Bernie Sander của Đảng Dân Chủ cũng tự hào bản thân mình là một “socialist”; do vậy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành từ đồng nghĩa của chủ nghĩa yêu nước tốt đẹp.

c- Âu Mỹ giờ đây đi vào thực tế cụ thể chứ không còn mãi mê miệt mài “đấu tranh ý thức hệ”, nên chỉ có Chống Nga, Chống Tàu, Chống Iran, Chống Syria, Chống Venezuela, Chống Cuba, Chống IS, Chống Tuốt Luốt, v.v., tức chống mấy thứ làm Mỹ xiểng liểng chứ không còn “Chống Cộng” mơ hồ hương khói.

Do đó, như một thứ đồ ve chai phế thải, “chống Cộng” đã bị vất bỏ, không còn được sử dụng trên phạm vi toàn cầu bởi các thế lực tư bản quân-chính-kinh-tài hùng mạnh.

B) Nhà Độc Tài:

Như đã nêu rõ trong bài về Fidel Castro, trên toàn thế giới tư bản hùng mạnh Âu Mỹ đã thường có sự ban phát thoải mái đến độ phát ban phát sốt phát mẫn phát ngứa phát rồ về từ ngữ “nhà độc tài” khiến bản thân từ ấy hoàn toàn mất nghĩa một cách mất nết đầy mất dạy.

Fidel cấm dân chúng của chính nước mình theo Mỹ, từ đó suy ra Fidel là “nhà độc tài khao khát máu”.

Kennedy cấm Fidel và nước Cuba theo Liên Xô, từ đó suy ra Kennedy là “nhà tự do dân chủ chân chính khao khát hòa bình”.

Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Pak Chung Hee, Ferdinant Marcos, Suharto, Saddam Hussein, Muamar Gaddafi theo Mỹ nên không bao giờ truyền thông Mỹ dán chữ “nhà độc tài” vào trước tên mẹ đẻ của họ mà gọi họ là “nhà chí sĩ”, “nhà cách mạng”, “nhà giải phóng”.

Ngô Đình Diệm, Saddam Hussein, Muamar Gaddafi tự nhiên thay đổi biến thành chống Mỹ nên đương nhiên truyền thông Mỹ dùng băng keo hai mặt dán chữ “nhà độc tài” ịn ngay trước tên mẹ đẻ của họ ngay sau khi tiễn họ…về cõi vĩnh hằng.

Barack Obama dùng hai tay cung kính bắt tay Muamar Gaddafi để tỏ sự trọng thị nên Gaddafi là lãnh tụ cách mạng Hồi Giáo sáng giá nhất Trung Đông.

Barack Obama gật đầu nháy mắt ra hiệu cho Hillary Clinton xuống tay sát hại Muamar Gaddafi nên ngay lập tức trước tên của Gaddafi xuất hiện “từ lạ”: nhà độc tài, mở màn cho nhiều “tàu lạ” xuất hiện ở Biển Đông.

Bọn mất dạy mất nết mất nhân tính Cu Kiều Lưu Vong và các Kiều Ăn Theo hùa nhau gọi Fidel Castro là “nhà độc tài” khiến tất cả các lãnh đạo Âu Mỹ khó chịu vì họ tin một tỷ phần trăm rằng:

1) Đã là lãnh đạo thì dù của quốc gia hay của doanh nghiệp hoặc của gia đình họ tộc cũng đều phải độc tài vì ngay cả nguyên tắc dân chủ của “thiểu số phục tùng đa số” bản thân nó cũng là độc tài về bản chất và/hay nội hàm;

2) Ngay cả lãnh đạo tôn giáo như của Thiên Chúa Giáo La Mã cũng độc tài do đã tổ chức Tôn Giáo Pháp Đình đưa lên giàn hỏa thiêu sống những nhà khoa học cùng vô số những ai theo tà đạo tức đạo nào không phải Đạo Chúa, thậm chí sử dụng các quân đoàn Thập Tự Chinh tiến hành các cuộc Thánh Chiến đẫm máu bạo tàn suốt từ Thế Kỷ XI đến Thế kỷ XVI xâm lăng tàn sát cướp bóc tàn phá các nước Hồi Giáo và các nước theo đạo “lạ” khiến tạo nên mối căm thù căm hận căm hờn căm giận không bao giờ nguôi ngoai nơi các nước này, làm di họa cho toàn thế giới đến tận ngày nay;

3) Bản thân từ “nhà độc tài” đã mất đi ý nghĩa ban đầu và nay có nội hàm đủ cho một sự ngưỡng mộ, nên họ bắt đầu loại bỏ từ “nhà độc tài” dictator để sử dụng từ “tên bạo chúa” tyrant trên truyền thông chính thống của họ, mà khởi sự là tập tành gọi Fidel Castro bằng danh xưng ghê sợ ấy;

4) Chỉ có cá nhân mới là “nhà độc tài” nên kiểu gọi “độc tài đảng trị” của Việt Kiều làm các chính trị gia Hoa Kỳ (và các chính khách Âu Tây) nổi giận vì bảo thế chẳng khác gì chưởi cha thể chế chính trị Mỹ vì Mỹ có lưỡng đảng (hay dù các nước Tây Âu có gọi là “đa đảng” đi nữa) nhưng ứng cử viên đảng nào lên làm tổng thống thì đương nhiên chỉ một mình đảng đó nắm quyền trị quốc tuyệt đối, làm gì có chuyện mỗi đảng cử một người ra làm “đồng tổng thống” trong cùng một lúc nên lẽ nào họ cũng bị ô danh thành “độc tài đảng trị” sao cơ chứ; và

5- Chỉ có truyền thông chính thống Âu Mỹ mới có quyền xài chữ “nhà độc tài”, chẳng hạn đưa tin lộn xộn ngôn từ như “nhà giải phóng Nelson Mandela ôm hôn khen ngợi các nhà độc tài Fidel Castro và Hugo Chavez” hoặc mới đây nhất là phang luôn giòng giật tít “Tên Độc Tài Palestine Ra Lịnh Treo Cờ Rủ Để Tang Castro” chẳng qua vì vị tổng thống dân cử Mahmoud Abbas của Nhà Nước Palestine dám tự tiện tự do tự ý tự động tổ chức quốc tang cho Fidel chọc giận Hoa Kỳ.

dictator

C) Nhà Độc Địa:

Từ các lý do trên, cũng như trước ý chỉ cùng chiếu chỉ của các đức kim thượng Âu Mỹ vạn tuế vạn vạn tuế, các “Kiều” như Cu Kiều, Hàn Kiều, Nga Kiều, Ấn Kiều. Tàu Kiều, và Củ Kiệu Kiều, v.v., sẽ phải không được tùy tiện xâm hại đến quyền sở hữu trí tuệ của truyền thông chính thống Huê Kỳ đối với từ ngữ “nhà độc tài” dictator.

Tuy nhiên, từ “tên bạo chúa” tyrant như kiểu dùng của truyền thông Vương Quốc Đại Anh để gọi Fidel Castro thì lại đầy sơ hở vì phải vĩ đại kinh hồn cỡ như Nero tức Nerō Claudius Caesar Augustus Germanicus của La Mã hoặc Ivan IV Vasilyevich tức Ivan Kinh Hoàng của Nga mới là bạo chúa, chứ cái ông Fidel Castro hiền như bụt, chỉ biết vừa hút xì gà pập pập phà khói suốt ngày đêm, vừa xây dựng hòn đảo Cuba bé tí tẹo tèo teo thành một vệ thành vững chắc mà Mỹ không thể làm sụp đổ chế độ suốt hơn nửa thế kỷ cấm vận kinh tế, vừa suốt đời xàng qua xàng lại núp né đến 638 cuộc ám sát của CIA, chưa kể cái nước Cuba ấy của ông thì nhỏ xíu xìu xiu, thì sao mà ban cho ông ta cái danh xưng “bạo chúa” được cơ chứ!

Còn nếu dùng chữ “tên quái thú” monster thì e Donald Trump sẽ chưởi ỏm lên vì ông ta đang định đổi tên chiếc xe tổng thống “dã thú” beast thành “quái thú” monster.

Phát sinh từ sự lấn cấn giữa hai thái cực: vừa muốn “đì sát ván”, “đì tới nơi tới chốn”, “đì sói trán” Fidel Castro cùng những vị anh-hùng-mã-thượng nào chống Mỹ nên muốn cho các đấng đó bị thượng-mã-phong, không muốn tôn vinh kẻ bị “đì” lên hàng ngũ “bạo chúa”, lại vừa muốn không chọc giận các chủ nhân truyền thông siêu cường Âu Mỹ, các “Kiều” như Cu Kiều, Hàn Kiều, Nga Kiều, Ấn Kiều. Tàu Kiều, và Củ Kiệu Kiều, v.v., ắt sẽ phải chế ra từ “nhà độc địa”, vừa có “độc” vừa có “địa” nghĩa là đì sát ván, cho ở dưới đất chứ ngăn cấm lên trời.

Vậy là từ nay, những anh hùng lãnh đạo nào chống Mỹ sẽ bị xem ngang hàng với hạng thấp kém lè tè, không được phép gọi là Nhà Độc Tài vốn dành riêng cho tất cả các lãnh đạo Âu Mỹ hiện đại trên toàn thế giới, mà cũng không được phép gọi là Tên Bạo Chúa vốn dành riêng cho những tay sừng sỏ cổ-trung-cận đại có khả năng chiếm đoạt các quốc gia trên các châu lục;

Mà phải được gọi là “Nhà Độc Địa”;

Mà tiếng Anh do tác giả bài này tư vấn giúp là “The Satanist” vậy.

Song, nếu phe tôn giáo lập luận rằng Satan có khi là Chúa (trên thực tế thì các giáo phái  ở Âu Mỹ ngờ vực về tư cách của Jesus Christ nên thường gọi Satan là Anti-Christ tức “không phải Christ”  nghĩa là trong hai vị Christ và Không-Christ vĩ đại ngang cơ quyền lực thống trị ngang hàng và quyền phép mạnh y như nhau ấy thì chưa rõ vị nào mới là “Chúa” thật sự) nên khi gọi Fidel Castro là “Quỷ Vương” hay “Quỷ Satan” tức “Nhà Độc Địa” có khi lại bị hớ nếu sau này vào Ngày Tận Thế hóa ra Satan mới xuất hiện là “Chúa” cứu độ chúng sinh còn Jesus Christ lại là “kẻ mạo danh Chúa”, thì ô hô ôi thôi kẻ bỉ nhân họ Lăng Xăng tên Gà Tần Thuốc Bắc gọi tắt là Lăng Tần đành phải bó tay lui về tệ xá chui vào hang đá chốn cố quận thâm sơn cùng cốc không dám bon chen chốn tháp ngà đề xuất thêm bất cứ tên tiếng Anh nào khác cho Nhà Độc Địa vậy.

Lời khuyên của nhà lung tung học Lăng Tần, do đó, là: hãy gọi ông Fidel Castro là Nhà Lãnh Đạo, vì sẽ không bao giờ sai, chẳng bao giờ hớ, và chớ đời nào trật lấc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 21-10-2015. Chống Cộng

Hoàng Hữu Phước. 18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

Hoàng Hữu Phước. 30-11-2016. Fidel Castro

Hoàng Hữu Phước. 11-9-2016. Quỳ Gối Hay Quỳ Đầu

Lời Khuyên Dành Cho Các Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh Và Lê Quý Vương

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-11-2016

screen-shot-11-18-16-at-11-43-am

Trước thực tế không bao giờ có bất kỳ ai có thể chối cãi là những cái gọi là tục ngữ và ca dao Việt Nam đều được gọi là “Văn Chương Bình Dân” do (a) truyền khẩu, (b) không có tên tác giả, (c) không đặt yếu tố nội dung mỹ từ và hàn lâm lên hàng đầu nên ít có giá trị vững vàng hay chính xác, (d) không có giá trị văn học, và (d) một số – dù ít – không có giá trị gì nếu tham khảo tác phẩm tổng hợp của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc sẽ thấy không phải không có những thứ ví von bỡn cợt và thô tục cũng được gom hết vào “kho tàng” ấy;

Trước thực tế là các lãnh đạo các đại chiến dịch của cách mạng Việt Nam từ nghiên cứu sa bàn đến đề ra chiến lược và chiến thuật cùng phân công nhân sự, tổ chức hậu cần, đều là những bậc không phải là quân nhân chuyên nghiệp như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v.v., trong khi không bất kỳ tướng lĩnh dạn dày chiến đấu chuyên nghiệp nào có thể viết ra tác phẩm văn học tầm cỡ như Ngục Trung Nhật Ký của Hồ Chí Minh; và

Trước thức tế là trong vài năm qua đã có vài tưỡng lĩnh Việt Nam khi phát biểu đã viện dẫn thêm thắt vào nội dung phát biểu của mình những tục ngữ hoàn toàn sai;

Tôi mạo muội khuyên các tướng lĩnh Việt Nam phải tuyệt đối cẩn trọng không nên động vào cái gọi là “kho tàng văn chương bình dân” của Việt Nam.

A- Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, đã cực kỳ sơ xuất khi phát biểu trong tình hình đang có sự căng thảng ở Biển Đông rằng “chúng ta là cây ngay không sợ chết đứng”.

Xin thưa Thượng Tướng:

1) Các tướng lĩnh không được phép chết, bất kể chết đứng, chết ngồi, hay chết nằm, vì các vị phải sống để lãnh đạo quân đội giết sạch quân xâm lược.

2) Các tướng lĩnh không được phép vì “không sợ chết đứng” mà đứng yên ngạo nghễ để quân thù xâm chiếm nước nhà và giết hại chính mình cùng quân binh của mình.

3) Thành ngữ “cây ngay không sợ chết đứng” vốn chỉ dùng cho những ai (a) mang thân phận “bị cáo” trước vành móng ngựa, (b) trước sự phán xét của kẻ khác – tất nhiên là kẻ xấu, và (c) trong tình huống bản thân chịu bó tay vì không thể tự biện hộ biện minh để tự cứu mình, nên lẽ nào tướng lĩnh Việt Nam ở vị trí kẻ tội đồ và nhũn mềm cứng họng đớ lưỡi trước quân thù?

Tài năng cao nhất và nhiệm vụ duy nhất của quân đội là buộc quân xâm lược mọi rợ nào còn sống đều phải thốt câu “cây ngay không sợ chết đứng” khi chúng đứng xếp hàng ngang trước họng súng của đội hành quyết vẫn còn cố bào chữa rằng chúng không xâm lược Việt Nam, chứ không phải tướng lĩnh Việt Nam đứng vào vị trí ấy rồi kiêu hãnh nói vào mặt quân xâm lược rằng ta đây là “cây ngay không sợ chết đứng”.

B- Thượng Tướng Lê Quý Vương, Thứ Trưởng Bộ Công An, đã cực kỳ sơ xuất khi phát biểu rằng luật pháp Việt Nam nhân đạo “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”.

Xin thưa Thượng Tướng:

1) Luật pháp đúng nghĩa của siêu cường là luật pháp nghiêm khắc. Luật pháp đúng nghĩa của tiểu quốc khiếp sợ là luật pháp nghiêm minh. Và luật pháp đúng nghĩa của tiểu thuyết khoa học giả tưởng về siêu cường là luật pháp nhân đạo.

2) Thành ngữ “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại” chỉ có nghĩa duy nhất là: kiên quyết truy sát cho bằng được đồng chí nào đã phản bội, nhưng tha mạng cho kẻ thù tìm đến xin đầu hàng. Trịnh Xuân Thanh là kẻ tội đồ bắt buộc phải chịu tội trước pháp luật. Sự đầu thú – không phải đầu hàng – kèm với khắc phục triệt  để mọi tổn thất bằng cách nộp cho Nhà Nước toàn bộ tài sản của Trịnh Xuân Thanh cùng tài sản của gia quyến của y mà do y tạo dựng giúp sẽ được xem xét như sau: nếu luật pháp quy định khung hình phạt cho tội ấy là từ 50 năm đến chung thân thì y sẽ được kết án 50 năm. “Không đánh” Trinh Xuân Thanh sẽ là sự vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam! Trịnh Xuân Thanh đã “chạy đi”, nhưng sự đầu thú – nếu có – của Trịnh Xuân Thanh không phải là sự “chạy lại” mà chỉ là để hưởng mức thấp nhất có thể được của khung hình phạt chính xác nhất của luật pháp Việt Nam.

3) Vì vậy, các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam – chủ lực gồm Quân Đội và Công An – nhất thiết phải nằm lòng nội dung đầy đủ rằng: “thành ngữ “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại” chỉ có nghĩa duy nhất là: “phải” kiên quyết truy sát cho bằng được đồng chí nào đã phản bội, “có thể” tha mạng cho kẻ thù tìm đến xin đầu hàng, và “có thể” tha mạng cho “đồng chí” nào phản bội quay về xin nhận tội và chịu tội.

Mỹ không bao giờ tha mạng cho cựu nhân viên NSA và CIA Edward Snowden ngay cả nếu Snowden chịu rời nước Nga để nộp mình cho CIA. Luật pháp Hoa Kỳ chỉ có một hành xử duy nhất đối với tội phản quốc vốn là tội danh duy nhất mà Hiến Pháp Hoa Kỳ có định nghĩa chi tiết qua Điều III.3 và luật áp dụng USC, mà sự “cứu vớt” thoát án tử hình chỉ bằng cách áp dụng Luật Gián Điệp 1917 mà thôi.

Không bao giờ kẻ gây họa cho nhân dân, làm nhục cho thể chế chính trị nước nhà, hủy phá tiến trình xây dựng kinh tế đất nước, sau khi chà đạp luật pháp trốn ra nước ngoài lại đầu thú để sẽ không bị “đánh” hoặc bị “đánh” vuốt ve.

Không bao giờ kẻ phá hoại làm nổ nhà máy điện nguyên tử – nếu có nhà máy ấy ở Việt Nam – làm thương vong hàng trăm ngàn người dân, khi ra đầu thú sẽ được xem như “người chạy lại” để sẽ không bị “đánh” hoặc bị “đánh” vuốt ve.

Tài năng cao nhất và nhiệm vụ duy nhất của ngành công an trong vụ Trịnh Xuân Thanh là túm tóc, bẻ quặt tay, trói ghịt y lại, trùm vải đen lên đầu, xích cùm giải y về Việt Nam chịu tội, chứ không phải ngồi yên đem mồi nhữ tôn vinh y thành “người chạy lại” và khoan hồng “không đánh” để mong chờ thằng dơ bẩn mất dạy ấy ra đầu thú.

Nói tóm lại, các tướng lĩnh cần (a) cực kỳ cẩn trọng trong các phát ngôn, và (b) không bao giờ viện dẫn bất kỳ tục ngũ / ca dao nào của cái gọi là “kho tàng văn chương bình dân” của Việt Nam vào trong các phát biểu đó.

Đó là yêu cầu của thuật hùng biện đẳng cấp cao: hãy tránh xa mọi thứ bình dân.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 26-10-2013. Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Hoàng Hữu Phước. 18-01-2016 Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ

Thư Gởi Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Thừa Thiên – Huế

Hoàng Hữu Phước, MIB

09-8-2016

Hue

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 8 năm 2016

 

Kính gởi Đại Tá Lê Quốc Hùng, Giám Đốc Sở Công An Tỉnh Thừa Thiên – Huế

 

Bản sao kính gởi:

– Bộ Trưởng Bộ Công An Tô Lâm, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Nghị Sĩ  Quốc Hội Khóa XIV

– Hòa Thượng Tiến Sĩ Thích Chơn Thiện, Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIV

 

Kính thưa Ông Giám Đốc:

 

V/v.  Việc in ấn bản đồ của Công ty Villa Louise Hue Resort

 

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Nghị Sĩ Quốc Hội Việt Nam Khóa XIII, kính lời chào trân trọng đến Ông và kính trình bày cùng Ông nội dung sau:

Tôi có nhận được lời kêu cứu và kêu oan của công dân Dương Thị Hồng, quê quán Bắc Giang, trợ lý của Ông Michel Scharwitzel, Giám đốc Công ty Villa Louise Hue Resort.

Công dân Dương Thị Hồng cho biết đã bị Ông Michel Scharwitzel gây áp lực khiến phải thôi việc, rằng Cô đã bị ông này đổ tội oan, và rằng việc điều tra của Phòng An Ninh Kinh Tế Công An Tỉnh Thừa Thiên – Huế nhằm xác minh làm rõ sự phạm tội của Cô là không đúng.

Nếu cho rằng thông tin cùng cách dùng từ ngữ trong các bản tin tường thuật sự việc trên báo chí là chính xác, thì tôi xin khẳng định sự việc đã bị xử lý hoàn toàn sai, vì

Tên gọi Biển Đông là South China Sea là do giới bản đồ quốc tế đặt; do đó cái sai duy nhất của Ông Michel Scharwitze là viết thiếu chữ South. Đã là tên riêng thì không được phép dịch sang ngôn ngữ khác; do đó, South China Sea không được phép tự động dịch sang tiếng Việt thành Biển Nam Trung Hoa. Tương tự, ta đặt tên tiếng Việt là Biển Đông thì không được phép tự động dịch sang tiếng Anh thành East Sea (xin vui lòng xem bài viết tôi đăng ngày 17-8-2012 như đính kèm theo thư này).

(Tương tự, trong bài viết đã dẫn ở trên tôi cũng chứng minh rằng nếu ở Đà Nẳng có gọi Bãi Biển Đà Nẳng là China Beach thì cũng không sai vì đó là tên tiếng lóng do quân viễn chinh Mỹ dùng để gọi bãi biển Đà Nẳng).

Trong hoàn cảnh ở Việt Nam báo chí chỉ đơn giản đưa tin mà không có nhà báo nào có đủ trình độ hiểu biết sâu sắc các vấn đề có liên quan để hoặc có thể đặt vấn đề giúp cơ quan chức năng xử lý đúng vụ việc nhằm không di họa cho công dân bị luận tội oan sai, hoặc đủ sức khiến người phạm tội phải tâm phục khẩu phục trước luật pháp quốc gia, tôi xin qua thư này kính làm rõ các hành vi sau:

1) Ông Michel Scharwitze là người duy nhất phải chịu trách nhiệm về việc phát hành các tấm bản đồ – nếu thực sự có vi phạm cụ thể pháp luật quốc gia và quy định của địa phương.

2) Cô Dương Thị Hồng hoàn toàn không vi phạm bất kỳ điều cụ thể nào của luật pháp quốc gia và quy định của địa phương – dù cho Cô có tư vấn khuyên Ông nên dùng hoặc không có tư vấn cho Ông Michel Scharwitze về việc không nên sử dụng từ China Sea trên bản đồ. Chưa kể, theo các tư liệu tôi đã nêu trong bài viết đã dẫn ở trên, việc sử dụng những từ ngữ như thế là chính xác đối với thế giới. Khi ta đấu tranh với tòa án quốc tế – nếu có – về Biển Đông của chúng ta, chúng ta phải luôn dùng từ South China Sea tại pháp đình. Khi muốn cuốn hút du khách Mỹ nhất là các cựu binh tham chiến ở Việt Nam cùng gia đình của họ, Đà Nẳng nếu muốn dùng từ China Beach hoàn toàn không sai vì đó là tên gọi do chính lực lượng viễn chinh Hoa Kỳ sử dụng trước đây tại Việt Nam Cộng Hòa.

3) Từ điểm 2 nêu trên, chỉ có thể nói rằng do tình hình tế nhị của Việt Nam trong tranh chấp ở Biển Đông, điều khôn ngoan là nên tránh việc sử dụng từ “China” do dễ làm người Việt khác do chưa rõ nguồn cơn sẽ chống đối, còn bọn chống Việt ở hải ngoại có cớ vu vạ.

4) Từ điểm 3 nêu trên, nếu đã không có điều luật nào quy định rằng “cấm việc sử dụng từ China do từ ấy có nghĩa là Trung Quốc” thì Ông Michel Scharwitze vô tội. Và nếu ông ấy vô tội, Công An Thừa Thiên – Huế chỉ có quyền khuyến nghị ông ấy nên chủ động thu hồi và thay thế các bản đồ ấy để giúp ông ấy tránh nguy cơ tạo nên ác cảm từ những khách hàng người Việt của ông ấy cũng như từ sự công kích của báo chí trên cả nước.

5) Từ điểm 4 nêu trên, công dân Dương Thị Hồng có quyền (a) kiện ông Michel Scharwitze ra tòa án lao động đối với việc gây căng thẳng, đổ lỗi, xử ép, khiến cô phải nghỉ việc cho một lỗi chưa chắc là do cô gây ra cũng như chắc chắn không nằm trong các phạm vi có thể dẫn đến hình thức phải thôi việc, (b) yêu cầu Công An Thừa Thiên – Huế chấm dứt việc tiến hành điều tra xác minh việc “phạm tội” của cô, và (c) yêu cầu cơ quan Công An làm rõ với báo chí về việc này để công dân Dương Thị Hồng không bị phong tỏa các đường sinh nhai chính đáng kiếm tìm việc làm trong danh dự của công dân này.

 

Kính mong Ông Giám Đốc quan tâm đến sự việc trên và nhanh chóng chỉ đạo can thiệp cho công dân Dương Thị Hồng.

Trong điều kiện phức tạp của nước nhà, khi cần sự hỗ trợ nếu có vụ việc liên quan đến người nước ngoài xảy ra trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên – Huế, xin Ông Giám Đốc vui lòng liên hệ với tôi để tôi có thể giúp sức trên cơ sở tự nguyện. Chỉ cần Ông Giám Đốc cho tôi biết số điện thoại của cán bộ được phân công liên lạc với tôi – vì tôi không bao giờ trả lời cuộc gọi từ bất kỳ ai không có sẵn trong danh bạ điện thoại cá nhân của tôi.

Kính đề nghị Ông khuyến khích cán bộ chiến sĩ thuộc quyền thường xuyên đọc các bài viết của tôi tại blog cá nhân của tôi để nắm bắt những thông tin cần thiết có thể có lợi trong thi hành công vụ của ngành.

Kính chúc Ông Giám Đốc và gia quyến sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Kính biết ơn và trân trọng kính chào.

Hoàng Hữu Phước

Nghị Sĩ Quốc Hội Khóa XIII

Địa chỉ thư tín: MYA BizCorp 399B Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Email công ty: hoanghuuphuoc@myabiz.biz

Web công ty: www.myabiz.biz

Blog cá nhân: https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Hồ sơ đính kèm in từ: 

“Biển Đông” có phải là “East Sea” tại  Biển Đông Có Phải Là East Sea?  

“Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa” tại  “Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa”

Văn Tế Tướng Tàu La Viện

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 5 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 21 giờ

La Vien

Hôm nay nhân kỷ niệm 140 năm ngày Nguyễn Khuyến viết bài Văn Tế Ngạc Nhi tức tế quan nhớn của Pháp tên Marie Joseph Francois Garnier còn gọi tắt là Francis Garnier bị tử trận ở trận Cầu Giấy, Hà Nội, trước tiên tôi xin ghi lại nguyên văn bài văn tế của Tam Nguyên Yên Đỗ, và sau đó noi gương tiền nhân để viết bài văn tế tên thiếu tướng Tàu La Viện, kẻ đang sủa ăng ẳng về Biển Đông:

Văn Tế Ngạc Nhi

Tác giả: Quế Sơn Nguyễn Khuyến

Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.

Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.

Văn Tế La Viện

Tác giả: Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

Than ôi!

Thân mang hàm quan tướng

Tưởng an nhàn office thật sướng thân

Ngày qua ngày gom giấy cho mụ vợ bán ve chai

Có ngờ đâu một phút sa cơ vội bỏ kiếp đất bờ

Thân chìm nổi dật dờ thây cá rỉa.

 

Nhớ linh xưa:

Học sủa nhặng đua đòi thằng Mã Viện

Ẳng ẳng rằng tao cũng Viện vậy, thua ai?

Nước Nam kia tao sẽ quánh tựa chẻ tre

Lôi hết gái cháu chắt chút của Hai Bà về hưởng thú!

Mồm gấu gấu như La Thông thời tảo Bắc

Tay múa cào nhái La Quán ấy thằng Trung

Sử của Tàu chưa có đoạn trị Nam

La ta quyết: Viện này nay chấp bút!

 

Nhưng hỡi ôi!

Ngu dốt đặc nào đọc ra chữ “Nhất”

Đếch có mà biết sách sử có ghi chi

Chỉ xem tuồng ba xạo đánh đông tây

Với Nhân Quý, Cáp Tô Văn, toàn bá láp!

Ối cha ui! Ối mẹ ui! Giờ lỡ đụng cháu con Bà Nhị Trắc

Rời lưng voi, cưỡi trùng trùng lớp lớp súp-ma-rin

Nhấn Liêu Ninh đít cọ đáy Biển Đông

Lôi theo xác Viện La về trùng phùng Viện Mã

Khốn nạn thân Ông

Khốn khổ thân Ông

Khốn kiếp thân Ông

Khốn đốn thân Ông

Khốn khó thân Ông

 

Lăng Tần ta nay:

Tâm khuôn phò xã tắc nước Nam

Trí diệt tiêu bây giặc Tàu ché đỏ

Nhưng tuân ý muôn dân đem bày chút cỗ

Gồm Nờ Một Hát Năm: gà toi một chú, vịt lảo đảo một nàng

Sữa mê-la-mai: Sanlu bột mịn đại bổ béo hai thùng

Dưa hấu nổ: to đùng đùng ba trái

Móng trâu bò bốn năm chiếc xí quách gặm chơi

Rượu nước Nhiêu Lộc pha cồn chín mươi chữ sáu bình

La Viện ông sống có khôn thác có thiêng

(Mà dù có đếch khôn cộng với đếch thiêng, cũng)

Hãy chịu khó lội về đây phàn xực.

Ôi La Viện ơi là La Viện!

Ta vì phải học theo Nước Nam Truyện Cổ

Buộc mắng Ông cho tiêu tan tình tội của Ông

Nén hương trầm xin đốt cắm hũ chao

Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!

Thượng hưởng!

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1:

– office: văn phòng, cơ quan

– quánh: tiếng bình dân Nam Bộ, đồng nghĩa với “đánh”

– trị Nam: ý nói mấy tên họ La như La Thông (quyển La Thông Tảo Bắc) cũng là hạng vô danh tiểu tốt chẳng được dân Tàu xem trọng nên chẳng ai viết về y, còn La Quán Trung cũng là đứa họ La với La Viện thì cũng chỉ rặn ra được mấy quyển sách sử thể loại giải trí trường thiên chứ chẳng tham gia viết cái gì liên quan đến phía Nam vì toàn bộ lịch sử 5000 năm lập quốc của Tàu thì chỉ toàn đớn nhục ê chề khi đụng đến nước Nam, nên ngay cả có thời kỳ đô hộ nước Nam cả ngàn năm mà Tàu cũng chết khiếp không dám viết hay làm phim cổ trang về thời kỳ “ngàn năm” ấy. Tàu chỉ dám làm hai việc có dính tới nước Nam, đó là cách nay 30 năm sản xuất quả địa cầu vẽ nước Tàu dài tới…Mũi Cà Mau, và cách nay 3 ngày sản xuất tấm bản đồ ghi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Xem ra, Tàu vẫn sợ chết khiếp khi nghĩ đến nước Nam ta.

– Nhân Quý và Cáp Tô Văn: Tiết Nhân Quý (quyển Tiết Nhân Quý Chinh Đông), còn Cáp Tô Văn là thủ lĩnh Đại Hàn xứ sở kim chi, đối tượng của sự xâm lược do Nhân Quý tiến hành

– súp-ma-rin: tức submarine (tàu ngầm)

– Liêu Ninh: hàng không mẫu hạm của Tàu

– Nờ Một Hát Năm: tức H5N1, bịnh cúm gia cầm

– mê-la-mai: sữa melemin đặc sản Tàu, do hãng Sanlu sản xuất nhằm giết trẻ em … Trung Quốc, bảo đảm độc quyền, không đụng hàng trên toàn thế giới

– Nhiêu Lộc: nguồn nước tinh khiết độ đạm cực cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt dành riêng cho giặc Tàu xâm lược

– phàn xực: tức “xực phàn”, tức là … xực, tiếng lóng của Việt Nam gọi hành động “ăn uống”

– Sư Cha mày! Tổ Cha mày! Tổ Mẹ mày! La Viện!: đây là lời kết rất hiền hòa do hậu sinh “Nhất Thạc Bàn Cờ” Lăng Tần không dám sử dụng từ ngữ ngang tầm “Đù cha mẹ nó!” của bề trên là Cụ “Tam Nguyên Yên Đỗ” Nguyễn Khuyến. (ghi chú thêm số1: Nhất Thạc là…Thạc sĩ mới có một lần, và là dân cư Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn; ghi chú thêm số 2: kiểu ngôn từ “Đù cha mẹ nó!” là kiểu đặc biệt dành cho bất kỳ bọn xâm lược nào đụng đến nước Nam, vì vậy cần được trau giồi, học hỏi, phát huy, tăng cường sử dụng trong văn học để chứng minh con cháu Việt ai cũng muốn giỏi như Trạng Nguyên Ba Lần Nguyễn Khuyến)

Ghi chú 2: Bài trên đăng ngày 14-01-2013 tức vào đầu năm thứ ba của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

Ngưu Ngữ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài viết số 3 đăng cùng ngày 26-6-2016, lúc 18g

Trong kho tàng Tiếng Việt ta, từ Hán-Việt dược dùng đáp ứng những nhu cầu sử dụng trang trọng, quý phái, hoặc tế nhị, v.v, thí dụ: hồng quân (thay vì … quân đỏ), tổng thống (thay vì…ông nắm giữ tất tần tật), thủy điện (thay vì điện nước), quốc lộ (thay vì đường chính chạy suốt đất nước), v.v., và chỉ bị gát qua một bên nếu ý nghĩa dễ gây nhầm lẫn (Hội Chữ Thập Đỏ, thay cho Hội Hồng Thập Tự vốn dễ nhập nhằng với Thập Tự trong Thập Tự Chinh có liên quan đến đạo Chúa).

Từ xưa, hễ liên quan đến vua thì người ta dùng chữ “long” với ý nghĩa “rồng”, linh vật tối thượng, tiêu biểu cho quyền uy tột đỉnh của muôn loài, từ đó có long nhan (mặt vua), long xa (xe của vua), long ân (ơn vua ban tặng), long trượng (gậy vua ban tặng), long thể (mình đầu tay chân của vua), long tu (râu vua), long bào (áo vua), long sàng (giường vua), v.v. Tất nhiên, long nhãn không phải là … mắt vua, và long đong không phải là bàn cân vua, long ốc không phải là … hang ổ của vua, long não không phải là…óc vua.

Thế nhưng, chủ nhân của Tiếng Hán là Trung Quốc đã có công khai khái niệm mới, theo đó mới quý hơn rồng, nhất là sau khi tiếp thu văn hóa Phương Tây, biết họ xem rồng là quái vật thường bị Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần Michael đâm trường thương giết chết, còn phim ảnh Holywood tạo nên rồng nhiều đầu, hễ đứt đầu nào thì nơi ấy mọc ra hai đầu khác, trông kinh khiếp quá, nên mới chủ trương thay đổi ngôn từ, ra vẻ ta thuộc dân tộc thuần nông luôn xem trọng con nên mới có vụ đường lưỡi bò lấn chiếm Biển Đông.

Người Việt ta thường hay lịch sự, biết tôn trọng người, cái gì không phải của ta thì chả thèm tranh cải, học câu vật phi nghĩa bất thủ (đồ bậy bạ thì quyết không giữ lấy), nên ắt cũng nên thay đổi ngôn từ Hán-Việt của ta để từ nay khi diễn tuồng tích Tàu thì xưng hô như sau mới hợp thời đại mới của Trung Quốc, kẽo họ chê bai chúng ta quá kém tiếng Tàu:

Ngưu nhan: tức mặt bò (Tiếng Tàu gọi Ngưu chung cho trâu ), nghĩa là mặt vua Tàu

Ngưu thể: đầu mình chân tay bò, nghĩa là cả người vua Tàu

Ngưu xa: xe bò, nghĩa là xe chở vua Tàu

Ngưu trượng: cây roi bò, chắc để vua Tàu dùng khi cưỡi bò

Ngưu bào: áo bò (làm bằng da bò, không phải áo vải jean) của vua Tàu

Ngưu tu: râu của bò, tức râu vua Tàu

Ngưu sàng: giường của bò tức của vua Tàu

Ngưu ân: ơn do bò tức vua Tàu ban tặng

từ đó, ta sẽ được nghe các câu nói thật chuẩn, thí dụ như khi một tì nữ được vua Tàu hôn hít sẽ nói: “Kính tạ Ngưu Ân đã cho tiện nữ nhìn thấy Ngưu Nhan, được nằm kề Ngưu Thể, trên Ngưu Sàng đầy nhóc Ngưu Bào, được sờ Ngưu Mông và được biết vị mùi Ngưu…Lưỡi.”

Đúng là ngôn ngữ Tàu cũng có các biến thiên để trở thành sinh ngữ uy trấn toàn cầu vậy.

Tiếng Tàu nay không còn là Hoa Ngữ hay Trung Văn mà được cách tân thời thượng gọi là Ngưu Ngữ, tiếng bình dân gọi là Tiếng Bò.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài viết trên được đăng lần đầu tiên trên blog.com ngày 02-9-2011 tức sau kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Siêu Nhân và Tồi Nhân

Điểm Giống Nhau và Khác Nhau

Superman vs Bottom-Rate Man

Hoàng Hữu Phước, MIB

22-6-2016

Trên Trái Đất của Thái Dương Hệ này trong vũ trụ bao la kia thuộc Dải Ngân Hà đó, có hai quốc gia giống nhau như đúc nhưng đồng thời cách nhau một trời một vực vì một ở trên đỉnh cao chót vót hào quang còn một lại ở tận đáy sâu thăm thẳm bần cùng: đó là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, mà ở đây vì lý do tiết kiệm chữ nghĩa – vì tiết kiệm là quốc sách – sẽ gọi tắt là Mỹ với Tàu. Thế thì điểm giống nhau y hệt là ở chỗ nào cơ chứ?

Mỹ là siêu cường miên viễn. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Mỹ. Tức thật. Ngay cả đồng minh như Anh như Pháp cũng chống Mỹ, xạo xạo hữu hảo ngoài mặt chứ chơi xỏ được là chơi ngay. Bỏ tiền tỷ tỷ đô để diệt bao chế độ rồi ủng hộ dựng xây bao chế độ mới, để rồi vài chục năm sau các chế độ ấy bị sụp đổ vì toàn bọn độc tài gia đình trị khét tiếng từ el-Haj Mohammed Suharto của Indonesia, Park Chung-hee của Đại Hàn Dân Quốc, Muhammad Hosni El Mubarak của Ai Cập, v.v. bị ghét bỏ bởi dân chúng của họ; hoặc có chế độ trở mặt phản phúc như Ngô Đình Diệm của Việt Nam để Mỹ phải gạt lệ cá sấu cho phép sát hại diệt tiêu; hay chế độ Nguyễn Văn Thiệu chơi xỏ một mặt lấy ma túy từ Tam Giác Vàng giết lần mòn binh sĩ Mỹ, một mặt làm bể kế hoạch rút quân trong danh dự của Mỹ bằng cách phá Hiệp Định Paris, một mặt trước khi đào tẩu đã khóc bù lu bù loa trên TV công khai mắng nhiếc Mỹ hèn hạ bỏ rơi đồng minh, v.v. và v.v.; khiến người Mỹ không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Chúa Trời bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, Holywood đẻ ra nhân vật Superman cứu nguy nhân loại, được loài người xưng tụng anh hùng, đẹp trai hết biết, mình mẩy đầy sơ với múi, hùng mạnh vô song, cứ như là thiên sứ. Người Việt ta gọi anh ấy là Siêu Nhân. Những thứ tương cận với Siêu Nhân thuộc giống đực còn có Người Dơi, Người Nhện, Thần Sấm (Thor), Người Cao Su, Người Điện Quang, và Người …Xanh Lè (Hulk), vân vân và vân vân, và để xứng đôi vừa lứa với các đấng anh hùng ấy, Holywood rặn đẻ thêm giống cái gồm các nàng Nữ Siêu Nhân, Nữ Người Dơi, v.v và v.v; biến nước Mỹ thành nơi duy nhất trên thế gian này mà các thiên sứ uy dũng từ thượng giới đều tập trung về tất. Tuy người dân khắp nơi trên thế giới vẫn chống Mỹ, họ sẵn sàng bỏ tiền túi ra để chầu chực chờ xem các phim ấy, khiến nước Mỹ cũng được an ủi rằng văn hóa của ta lấn át văn hóa của họ, làm bạn Pháp mày ê mặt ủ chịu trận te tua.

Tàu là siêu cường mới nổi. Vậy mà ở đâu người ta cũng chống Tàu. Tức thật. Ngay cả các nước đại siêu cường phải chú mục há hốc mồm nhỏ nước miếng ràn rụa hai bên mép lỏ mắt nhìn trân trân túi tiền đô nặng trĩu của Tàu, ve vãn Tàu bỏ tiền ra cứu độ chúng sinh qua cơn sóng gió mà tiếng hàn lâm gọi là suy thoái kinh tế toàn cầu. Vậy mà tiền thì chúng nhận, mà mồm vẫn không ngưng mắng tổ chửi tiên. Thế mới tức chứ lị. Ngay cả gia tài văn học Tàu có mấy bộ sách bấy lâu nay khoe là kỳ quan thiên cổ cũng bị một gã nọ tên gọi Lăng Tần ở cái tiểu quốc gì gì ấy mắng cho là đồ bá láp, gọi các anh hùng Lương Sơn Bạc là bọn cướp cạn bán bánh bao nhân thịt người mới tức chớ! Thế là Tàu ta do không có Tàulywood như Holywood nên vén áo khoe bắp thịt tay, tụt quần khoe bắp thịt chân, dùng sức cơ bắp quẫy đạp tung tóe nước Biển Đông như để dằn mặt toàn vùng Đông Nam Á rằng ấy ao ta, lấn đất Ấn Độ như để chứng minh kinh Phật tự có trên đất Tàu chứ đâu phải do con khỉ con heo quảy gánh vác về. Bỏ tiền mua hàng không mẫu hạm của Ukraine để bị cười vô mặt là sắm thứ thổ tả tơi tả tả tơi. Làm gì cũng bị cười chê, khiến Tàu không cam tâm, ngẩng mặt lên trời cao mà than sao Ngọc Hoàng Thượng Đế bất công đến thế, đã cố hết sức sao chẳng đời nào được tiếng anh hùng! Thế là vừa đi tìm cái mà nhà phân tâm học cùng thời với Sigmund Freud là Alfred Adler gọi là “kom-păng-sa-si-ông” tức “compensation” tức “sự bù trừ” mà tiếng bình dân của Việt Nam gọi là …“tự sướng” lấp liếm cái câm-pơ-léc-xơ đờ in-phe-ri-ô-ri-tê tức inferiority complex tức mặc cảm tự ti, vừa tức quá hóa khùng, đói quá hóa dại, Tàu ta bèn rao bán hàng trong nhà người khác, gọi thầu khai thác dầu hỏa mấy lô thềm lục địa của Việt Nam, khiến thế gian lần này được phen cười lớn, rúng động Thiên Cung, rung rinh Thủy Giới, khiến Thượng Đế Ngọc Hoàng phải cúi xuống mà xem, bật cười văng nước mắt nước mũi thành mưa to gió lớn ngập lụt Bắc Kinh; Long Vương Đại Hải ngóc đầu lên nghía, té cười đập mình xuống nước, gây sóng thần ghê gớm, mở miệng mắng “Tổ Cha Mi” bị nước biển tràn vào làm sặc họng, tạo thành âm thanh lạ hoắc mà người đời nghe lộn thành…tsunami.

Thế đấy. Mỹ và Tàu giống y nhau ở chỗ cả hai bị thiên hạ ghét bỏ.

Và thế đấy. Mỹ và Tàu khác nhau ở chỗ Mỹ hốt bạc và văn hóa vang danh hoàn vũ, còn Tàu mất tiền và ô danh toàn thế giới.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tiện Nhân.

Thế mới biết đã có Siêu Nhân, tất có Tồi Nhân.

Và do tất cả các từ điển tiếng Anh trên toàn thế giới đều không có từ phản nghĩa của “super” tức “siêu” của siêu nhân superman; và do cái sở học của Trung Hoa đã đổ hết về Việt Nam nên Hoàng Hữu Phước tôi đây sáng chế ra chữ tiếng Anh “bottom-rate man” (có thể áp dụng cách tạo khác của 17 cách tạo tính từ để cho ra “bottom-rated man” hay “bottom-ranked man” hoặc “good-for-nothing wretched” tức … “đồ vất đi” thì cũng được) để có Tiện-Tồi-Bết-Bát-Vất-Đi-Nhân làm từ phản nghĩa cho Siêu Nhân vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: Bài trên được đăng lần đầu ngày 24-7-2012 tức vào năm thứ nhì của nhiệm kỳ Quốc Hội Khóa XIII của nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Tham khảo:

Đả Đảo Xi Jinping! 01-12-2015

Sát Tàu  07-7-2014

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình  2011

Đả Đảo Bọn Giặc Trung Quốc! 30-12-2015

Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì J 18-6-2014

Dương Khiết Trì Run Sợ  22-6-2014

Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải  30-8-2014

Tàu Hứa Không Xâm Lược Các Nước Láng Giềng  19-10-2015

Ngộ Số

Hoàng Hữu Phước, MIB

21-6-2016

Trong bài viết Sự Thật Về Võ Thuật và Y Thuật Tàu, tôi có viết về những phát hiện của tôi lúc lên tám lên mười về bản chất của các “anh hùng nghĩa hiệp”, các môn phái, và các “thần y” Tàu qua những quyển truyện kiếm hiệp và dã sử Tàu.

Cũng qua những quyển sách tổ xạo đó, tôi vừa không hiểu tại sao các tác giả truyện kiếm hiệp Tàu lại tự bôi tro trát trấu lên dân tộc mình, vừa lấy làm lạ khi đọc đến những đoạn về các trang kiếm khách nghĩa dũng Tàu mỗi khi dừng bước nghĩ chân bên bờ suối là cởi áo (và quần) ra để bắt chấy rận, khiến tôi không thể không buộc phải hiểu như sau:

1) Tổ tiên người Tàu ắt ít tắm (do truyện kiếm hiệp Tàu hay tả cảnh tuyết lạnh giá băng, từ đó suy ra họ ít tắm rửa), lại lột da thú phơi khô để khoác lên người giữ ấm, khiến người đọc truyện rất dễ liên tưởng đến một chuỗi những tĩnh từ kinh hãi của … đầy ghét, hôi hám, mốc meo, lác liếc, dơ dáy, bẩn thỉu, v.v.

2) Truyện kiếm hiệp Tàu hay có cảnh huynh huynh muội muội nam nam nữ nữ cùng môn phái đi chu du khắp chốn võ lâm, ăn chung món (đùi thịt nướng), nốc chung bầu (rượu), ngủ chung lều, đắp chung chăn (da lạc đà), nhưng cực kỳ đoan chính đức hạnh không bao giờ có chuyện sờ mó dục tình dan díu với nhau; ngỡ đâu do Ông Khổng Khâu dạy đời thành công, hóa ra tại bị vì bởi lý do như đã kể trong số 1 ở trên khiến họ gần trong gang tấc mà thành quan san vì ợ hơi liên tục và mạnh ai nấy bịt mũi mà ngủ.

3) Cũng vì các kiếm khách thường xuyên bắt chấy rận nên có thói quen hay đếm số xem thành tích hôm nay bắt được mấy con và cho vào mồm cắn nhai mấy con; mà phàm kẻ cắm đầu học như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ chữ” tức là “cuồng chữ” tức là hóa bịnh tâm thần mở miệng lảm nhảm toàn là ngữ với từ rời rạc không đâu vào đâu, nên đấng cắm đầu đếm chấy rận như điên như dại thế nào cũng có ngày “ngộ số” tức là “cuồng số” tức là hóa rồ mở miệng là lảm nhảm toàn số, mặc định rằng nếu không có số thì không thành gì sất, không sống được, không phải anh hùng, khiến sau vài ngàn năm tiến hóa biến thành gien trỗi, và hậu duệ Tàu ngày nay mở miệng mà không có số quyết không thành văn vẻ.

Cái “ngộ số” ấy được thể hiện như sau:

Đối với các pho dã sử hoặc kiếm hiệp thì Tàu luôn cố nhét số vô, chẳng hạn Thập Tam (13) Thái Bảo, Thập Tứ (14) Nữ Anh Hào, Thất (7) Hiệp Ngũ (5) Nghĩa, Thập Bát (18) Liên Hoàn Cước, Tứ (4) Thư Ngũ (5) Kinh, Ngũ (5) Hổ Bình Tây, v.v., thậm chí chỉ có một ngón tay trỏ xỉa vô mặt người ta vậy mà cũng phải cố hê thành con số gọi là Nhất (1) Dương Chỉ, mới thấy cái “ngộ số” kiểu Tàu trên đời có một không hai.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Nga thì Tàu có 16 chữ vàng: “Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời”.

Đối với quan hệ hữu hảo cùng Việt thì Tàu có 16 chữ vàng: “Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.”

Hữu nghị thì là hữu nghị, cớ gì phải chờ ở sát vách làm “láng giềng” mới hữu nghị, nên rõ ràng là Tàu bị bí. Với Nga thì cái “hữu nghị” ấy kèm theo “muôn đời” nên ắt có số đếm hẳn hoi (muôn = 10.000 đời), còn với Việt thì Tàu thấy không có số đếm, e vừa bất công với Việt vừa tổn hại uy danh Tàu (“ngộ thích số lắm đa” viết tắt thành…“ngộ số”) nên Tàu mới đẻ ra Ngũ Long tức 5 con rồng tức 5 đại cơ quan chiếm lĩnh toàn bộ Biển Đông cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để tỏ tình thương mến thương.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ để chữa chứng nghiện hút thuốc người ta cho người nghiện hút những điếu thuốc không có hoặc có ít nicotin, tức chung quy cũng là hút thuốc; thì để chữa chứng ngộ số người ta cũng cho người Tàu mấy con số để chữa bịnh, bởi vậy mà có vụ Bát (8) Quốc Liên Quân Chiếm Bắc Kinh dạy cho người Tàu một bài học về số 8, khiến Từ Hy Thái Hậu phải lăn lê bò toài chuồn khỏi Tử Cấm Thành, dẫn đến sự cáo chung của triều đại phong kiến Tàu.

Cái oái oăm cho Tàu là ở chỗ ngôn ngữ Tàu dỡ ẹc nên phim Tàu thua phim Hàn vì tiếng Hàn đầy âm điệu bổng trầm nũng na nũng nịu, đặc biệt tiếng Tàu thua xa tiếng Việt nên tiếng Hán Việt hay hơn tiếng Tàu, và ngoài bài học về số 8 mà Tàu đã nhận từ… Bát (8) Quốc khiến nước Tàu bại trận, họ cũng sẽ bị ngôn ngữ Việt (nhất là tiếng Việt miền Nam) làm cho xiểng liểng vì Ngũ Long đọc y chang Ngủ Long, tức là 5 con rồng biến thành 1 con rồng mà lại là rồng nằm ngủ khò thì khác gì con giun đất làm món ăn cho gà mái Việt, báo trước 5 đại cơ quan ấy thân sớm chìm đáy nước Biển Đông.

Vì chứng bịnh “Ngộ Số” do chính tôi phát hiện nhờ đọc truyện kiếm hiệp Tàu nên biết nó xuất phát từ tổ tiên Tàu di truyền đến hậu duệ Tàu, nên theo phép hàn lâm phương Tây đối với các vấn đề học thuật hàn lâm, tôi thấy mình có quyền đặt tên cho chứng bịnh thuần Tàu ấy để nhân loại sử dụng chung. Theo kiểu Tây, khi phát hiện vi trùng mới, người ta lấy tên nhà y học phát hiện để đặt luôn cho vi trùng ấy. Nhưng Tàu tệ hại hơn vi khuẩn vi trùng nên tôi chẳng dại gì lấy tên mình đặt cho chứng ngộ số của Tàu mà phải chế tạo từ mới. Do tiếng Anh có hai tiếp vĩ ngữ tức đuôi từ để chỉ bịnh thần kinh là phobiamania, với phobia nhẹ hơn và mania trầm trọng hơn, nên dân phương Tây quái đản có mấy chứng kỳ kỳ cục cục như có nhiều người tự nhiên khiếp sợ số 4 thì gọi là bị chứng tetraphobia, sợ số 13 thì gọi chứng ấy là triskaidekaphobia, còn sợ hãi số 666 thì gọi là chứng bịnh hexakosioihexekontahexaphobia, v.v., trong khi chứng “ngộ số” của Tàu thì còn hơn cả bịnh, do dám bày ra cả Ngũ Long để “quản lý” Hoàng Sa, Trường Sa, và Biển Đông, nên tôi sẽ đặt tên cho “Ngộ Số” là … sinonumerobadaboummania là tổ hợp của Tàu+Số+Nổ+Bịnh tức chứng bịnh luôn nổ về số của Tàu vậy.

Ngộ thay ngộ thay.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên đã được đăng trên blog.com ngày 27-6-2012

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Việt Văn

Bài Viết Sẻ Chia Cùng Giáo Viên Môn Văn Học

Hoàng Hữu Phước, MIB

30-5-2016

Nhân “lời khuyên” dành cho cô giáo môn Văn có bằng cấp thạc sĩ, tôi xin đăng lại bài viết sau đã post trên Emotino năm 2011. Kính mời bạn đọc tham khảo.

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-11-11

hoawcjNhân có bạn hỏi tôi về bài thơ tếu về Trung Quốc đăng trong bài viết “Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino” post trên Emotino tháng 10 vừa qua, vì sao thỉnh thoảng thấy tôi chêm thơ tôi viết kiểu Đường của Tàu mà không là lục bát của Việt (tôi đáp vì tôi không “cảm nhận” được cái hay của lục bát và vì tôi thích Đường luật ở chỗ nó buộc ta phải chỉ trong ngần ấy câu với 8 dòng mỗi dòng 7 chữ phải nói kỳ hết những điều muốn nói – tức là “cô đọng hình thức và súc tích nội dung), tôi chợt nhớ đến một chủ đề đã lâu chưa có thời gian để viết: đó là vấn đề giỏi môn Việt Văn của học sinh. Cần nói rõ là sau ngày giải phóng, cách bỏ những từ của Sài Gòn như Việt Văn (đổi thành Văn), bỏ các phân loại Cổ Văn và Kim Văn, nhưng chêm vào mấy cách dùng từ chế biến kỳ lạ như “thể loại văn bản” thay thế “văn xuôi”, lấy mấy bài báo làm đoạn văn đọc thêm trong các sách giáo khoa Văn trong khi bản thân các vài báo vừa không là thể loại văn xuôi của văn học vừa không đạt yêu cầu sau thời gian vài chục năm để có giá trị văn học vừa là một thể loại riêng cho cấp đại học, v.v., là những việc làm hoàn toàn sai của ngành giáo dục. Vì vậy, tôi trong bài này vẫn ghi rõ ràng rành mạch là Việt Văn để phân biệt với môn Anh Văn hoặc Pháp Văn hay Hoa Văn, v.v.,  (đang được gọi bình dân hóa là môn Tiếng Anh, vì người ta lẽ ra nên tiếp tục dùng các nhóm từ như: nói tiếng Anh, viết tiếng Anh, học Anh Văn).

Trước hết, như đã nói ở nhiều bài viết rằng tôi có thói quen trữ lưu những bút tích của Thầy Cô và người thân (tức người trong gia đình và …người yêu), do ảnh hưởng của Ba Má tôi, nhất là Má tôi luôn qu‎ý trọng các tờ giấy có chữ Tàu vì cho rằng đó là chữ thánh hiền, không tôn trọng chữ thì làm sao tạo lập sự nghiệp được từ chữ, nên ắt Chị Hai Hoàng Thị Ngọc Sương của tôi đang sống bên Mỹ cũng không ngờ là tôi vẫn còn giữ các báu vật của Chị (tức những “thành tích biểu”, bằng danh dự toàn niên 7 năm trung học, và bút tích của các Thầy Cô của Chị mà Chị trao lại cho tôi giữ hộ trước khi cùng chồng lên đường sang Mỹ cách nay 20 năm) nên hôm nay có thể post “người thật, việc thật, đồ thật” mẫu giấy bài tập sau của Chị, mà tôi muốn mời bạn lưu ý đến lời phê của Thầy giáo (hay Cô giáo) trước khi cho điểm 18/20 (trước 1975 ở Sài Gòn áp dụng thang điểm cao nhất là 20):

Bài làm của Hoàng Thị Ngọc Sương, Lớp 11C10

Ngày Thứ ba, 16-11-1971

Bài thơ Thất Ngôn Bát Cú, Đường Luật, Luật Trắc, Vần Bằng

Nắng Hè

   Nhớ những ngày xưa buổi nắng hè

   Ra ngồi chơi ở bóng cây me

   Rung rinh lá rụng đầy sân cỏ

   Xào xạc chim bay khắp rặng tre

   Thấp thoáng bóng dừa in dưới nước

   Xa xa vịt ngỗng chạy le te

   Mây chiều vương vấn bên đồi núi

   Lẳng lặng ngồi nghe trẻ hát vè.

 

Lời bình của Thầy (hay Cô):

   Ý đượm tình quê quá dịu dàng

   Nghe hồn dân tộc đã mang mang

   Chừ muôn kiếp trước còn mơ tưởng

   Thoáng một làn hương rất ngỡ ngàng

Wordpress_Học Sinh Việt Nam Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Ý nghĩa toát lên từ trang giấy ố vàng trên gồm:

1) Thầy Cô dạy Việt Văn: luôn chứng tỏ bản thân mình không những cũng là (hoặc có tài ngang bằng) các nhà văn, nhà thơ mà còn có những rung động và xúc động trước những áng văn thơ, ngay cả khi đó là sáng tác non nớt của học trò. Việc dạy về thơ, cho bài tập về nhà làm để học sinh sáng tác (chủ yếu muốn học trò phải bộc lộ cho bằng được cái “riêng” của học trò theo sự “thăng hoa” của riêng học trò, từ đó phát triển tính tự chủ, tự lập, sáng tạo trong học tập, tức là khởi điểm cho tính cách nghiên cứu sau này) theo đúng niêm luật, rồi chấm điểm với kiểu viết lời bình bằng một khổ thơ theo kiểu 7 chữ cứ như phân nửa dỡ dang của một bài Đường Luật khác, với nội dung tùy theo bài tập sáng tác của mỗi học trò đem lại người chấm những cảm xúc nào, khiến mỗi học sinh có được các tác phẩm thật hay của Thầy Cô, thêm thán phục Thầy Cô, từ đó thêm yêu môn Việt Văn và thêm giỏi Việt Văn.

2) Học trò học Việt Văn: luôn học Việt Văn như học tất cả các môn học khác, nghĩa là với sự yêu thích, bất kể mục tiêu nhắm đến của cuộc đời phía trước có là Đại học Văn Khoa hay Đại học Y Khoa, chỉ bởi vì Việt Văn là tâm hồn, Việt Văn là con người, Việt Văn là trí hóa, Việt Văn là nền tảng cho sự tiếp cận và tiếp thu mọi tri thức khác, và Việt Văn là phương tiện diễn đạt cốt lõi của các khoa học khác, kể cả các ngoại ngữ khác. Đó là đặc điểm về Việt Văn mà học trò nếu nắm bắt được ắt không thể không thành công khi ra đời đối mặt với cuộc tìm kế sinh nhai, nẽo sinh tồn, và đường sinh sống.

3) Sách giáo khoa môn Việt Văn: Thế nhưng, không phải đơn giản cứ nói học trò “nắm bắt” là cứ tự mà “nắm bắt”, muốn “nắm” gì thì nắm, muốn “bắt” gì thì bắt, vì tất cả tùy thuộc vào chương trình dạy, cách dạy, và bản thân người dạy – tức Thầy Cô giáo môn Việt Văn.

Nếu thực sự hiểu giá trị của và xem trọng chính trị, người ta đã không đem nội dung chính trị vào chương trình Việt Văn quá sớm. Tư tưởng chính trị dành cho những bộ óc trưởng thành hoặc cận trưởng thành, vì thế nên dành lồng chính trị – tức các tác phẩm sáng tác trong thời kỳ chiến tranh bởi lực lượng cách mạng Việt Nam – vào chương trình Việt Văn của các lớp 11, 12.

Ở cấp trung học cơ sở, nên để học trò chạm đến duy chỉ những áng văn thơ trác tuyệt và mang tính kế thừa trước trước sau sau, nghĩa là nếu thơ (tức văn vần) thì tiến dần dần từ những tác phẩm khuyết danh hay hữu danh của người xưa, từ khuôn phép như Nguyễn Công Trứ “phải có danh gì với núi sông”, đến tác phẩm của người không xưa, khoái hoạt, như Trần Tế Xương, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, v.v.; còn nếu là văn (tức văn xuôi) thì vẫn y như vậy, nghĩa là bắt đầu bằng những trích đoạn từ các tác phẩm từ thời Pháp Thuộc đến thời cận đại, bao gồm cả Khái Hưng, Thạch Lam, Nhất Linh, v.v. Sử dụng tài liệu học và tham khảo theo cách này để học trò bị cuốn hút bởi cái đẹp của văn phong, cái vững của tình tiết, và cái thần của diễn tả nội tâm cùng phong cảnh, dù cho đó là nền cũ lâu đài bóng Tịch Dương, hay Thằng Nỡm đang chạy tung tăng nhặt lá bàng, hay hai tai và đuôi vắt chéo lên mông màu xanh lá mạ. Và qua sự giảng dạy điêu luyện của Thầy Cô cùng sự bắt đầu các buổi trần thuyết mà tiếng Việt hiện đại gọi là thuyết trình, học trò càng thêm “tâm phục khẩu phục” với Việt Văn, thích thú Việt Văn, hình thành nhân cách con người từ Việt Văn từ rất sớm, và càng thêm yêu nước.

Nếu để học trò thấy Thầy Cô như cái máy dạy theo giáo án, nghĩa là nếu Thầy Cô có nghỉ phép và giao cho Thầy Cô khác dạy thế, thì nội dung dạy giống y nhau, thời lượng các bước lên lớp y nhau, cùng nhau không có bài văn bài thơ mẫu của Thầy Cô, và cùng nhau sử dụng bài mẫu trong sách giáo khoa giống nhau cấp độ toàn quốc, thì vẫn sẽ có những học trò giỏi Việt Văn theo điểm số có thể đi thi viết những bài văn đoạt giải này giải nọ nhưng thiếu nét riêng của sự vượt ra ngoài chiếc hộp tư duy và chưa chắc trong cuộc sống thực đã có thể viết được một lá thư cho Cha, một đơn khiếu nại giúp Mẹ, hay một đơn xin việc xuẩt sắc, và một bức thư tình đầy chất văn học, văn hóa, nhân văn, nhân bản tầm nhân loại, nói gì đến việc trở thành những nhà văn lớn ngấp nghé giải Nobel Văn Chương. Chưa kể, không phải tất cả các học sinh đều giỏi Việt Văn như nhau, cứ như đã rèn xong thủ pháp cho chính mình cho cuộc đời trước mặt bản thân sắp lao vào, cũng như cho nhân cách của từng em.

Văn là người.

Văn là nhân cách.

Văn là trình độ.

Văn là tất cả.

Vì vậy, học Việt Văn đúng cách, người ta làm việc đúng cách, nghiên cứu khoa học đúng cách, thể hiện tình yêu đúng cách dù cho đối tượng là một người hay cả một quốc gia. Cá tính mỗi người mỗi khác, tự thân bùng nổ hoặc tự thân lặng trầm, tự thân thế tục hay tự thân hướng thượng, mà mỗi người có quyền tự do thể hiện cho riêng mình; song tất cả nếu đã lớn lên từ Việt Văn đúng cách thì cách hành sử sẽ như nhau khi đối với tha nhân.

Dạy Việt Văn đúng cách sẽ làm những công dân tương lai của xã hội làm việc đúng cách, nghĩa là nếu Thầy Cô dạy Việt Văn có thực tài của một nhà thơ nhà văn, Thầy Cô dạy Toán có thực tài của một nhà toán học (qua các bài nghiên cứu thường xuyên trên các tạp chí chuyên đề), thì Dược sĩ tương lai cũng sẽ thực sự là những dược sĩ (có những công trình nghiên cứu vang dội về thuốc trị bệnh), cứ thế mà cả dân tộc tiến nhanh đúng hướng sánh vai với hào kiệt năm châu.

Vấn đề là Thầy Cô dạy Việt Văn có được phép (và đủ tầm) để dạy Việt Văn đúng cách hơn và người học trò học Việt Văn có được cho phép đễ học Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một bác sĩ giỏi, tận tâm, giữ trọn lời thề y học, ta có thể sẽ nhận ra dáng dấp một học trò xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn, từ những Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một công nhân vệ sinh quét dọn rác tươm tất, lịch sự với mọi người, ta có thể hiểu đó là một học sinh xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn dù cuộc đời đã không được thuận lợi dễ dàng để có thể đi trọn đường học vấn.

Hãy nhìn một người bình thường dừng xe ở vạch trắng khi đèn đỏ trời đang mưa lưu lượng xe không đông và bóng dáng cảnh sát thì không thấy, ta có thể hiểu đó là hiện thân của một học sinh ngày xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn một học sinh cá biệt, bùng nổ, lúc trưởng thành trở nên người nghiêm túc, có lý tưởng, có trách nhiệm, có lòng yêu nước chân chính, và vì cộng đồng, tha nhân, ta có thể biết ngay đó là từ thành quả của việc học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Hãy nhìn những doanh nhân biết trọng danh dự quốc gia, biết gìn chữ tín, và biết vì lợi ích của người dân, vươn cao thoát được sự khinh miệt của thế nhân thủ cựu, ta có thể hiểu đó là hiện thân của những học sinh ngày xưa đã học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Cứ nhìn một quan chức tuy không cai được thuốc lá, không cai được rượu, nhưng vẫn luôn nói « Không ! »  với hối lộ, tham ô, nhũng nhiễu, quan liêu, hạch sách dân lành, ta có thể biết vị quan ấy là học sinh xưa đã được học Việt Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Khi đọc những nội dung email hay tin nhắn nghiêm túc chỉnh chu trang trọng từ những người lạ hay những người chào hàng, ta có thể biết người lạ ấy là những học sinh xưa đã được học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Và khi đọc báo thấy tin về những chiến sĩ sống nhiều chục năm ngồi tắm nước ngọt trong thau để tái dùng nước tắm ấy cho việc khác trên nhà giàn trơ trọi giữa biển khơi để minh định chủ quyền vùng lãnh hải quốc gia, ta có thể hiểu đó là những học sinh xưa đã được học Việt Văn đúng cách hơn từ Thầy Cô dạy Việt Văn đúng cách hơn.

Học sinh đã giỏi hơn về môn Việt Văn? Vâng, kết quả điểm số cao môn Việt Văn của những năm học khiến ta có thể tạm hài lòng rằng các em sẽ không thi rớt môn Việt Văn, không gây ra sự cố bẽ bàng đớn đau vô phương cứu chữa như đối với môn Sử.

Song, ta có thể yên tâm nhiều hơn nếu nhân cách các em đã thực sự bừng sáng rõ nét nhờ Việt Văn. Mà đó là trọng trách duy nhất của những thầy giáo cô giáo môn Việt Văn đúng nghĩa thực sự tài hoa.

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo thêm :

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Khiêm Tốn

Đại Học

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Biển Đông Có Phải Là East Sea?

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-5-2016

Trong vài năm trở lại đây, từ khi Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông, có nhiều người phản đối việc sử dụng từ South China Sea trong tiếng Anh để gọi Biển Đông, khiến trên tất cả các chuyến bay của Việt Nam màn hình trên máy bay cho hành khách theo dõi bản đồ hành trình đều thấy Biển Đông có tiếng Anh bị sửa thành East Sea. Đây là một việc làm không đúng.

Như đã nêu trong nhiều bài viết của tôi trên các blog trong hơn 10 năm qua, tôi luôn khẳng định rằng trong thế giới hàn lâm thế giới thì tên riêng hoàn toàn không mang ý nghĩa từ vựng thực tế, đồng thời việc dịch tên riêng tiếng nước khác ra tiếng nước mình không bao giờ là việc làm nghiêm túc, trừ phi đó chỉ là chú giải để cho biết cơ sở hoặc ý nghĩa đại khái cho việc tạo nên cái tên nào đó. Gọi nước Côte d’Ivoire là Bờ Biển Ngà là cách gọi sai của Việt Nam, vì thế giới không gọi Việt Nam là Viet South hay South Viet bao giờ. Sở dĩ có tên tiếng Anh của Côte d’Ivoire là Ivory Coast đơn giản bởi vì chính Côte d’Ivoire chọn thêm cái tên ấy bằng cách dịch nó ra tiếng Anh – đó là đặc quyền của riêng chỉ Côte d’Ivoire. Còn nước khác chỉ có quyền đặt tên khác cho Côte d’Ivoire để phục vụ riêng cho dân của chính nước mình, thí dụ Việt Nam có quyền gọi United States of America là Mỹ hay Hoa Kỳ dù “cờ” Mỹ không có hình “hoa”, Germany là Đức dù Germany chẳng dính gì đến “đạo đức”, Spain là Tây Ban Nha dù hai từ này chẳng quan hệ gì với nhau, và Côte d’Ivoire thì có thể mượn tên của một sản phẩm dược của Việt Nam là … Cốt Thoái Vương ắt cũng không là lựa chọn kém tuyệt vậy.

Các thí dụ sau nhằm làm rõ hơn lý luận:

1) Indochina có hai cách gọi ở Việt Nam là Bán Đảo Ấn Trung (với ý nghĩa Indo là Ấn Độ và China tà Trung Quốc) và Đông Dương (chẳng dính dáng gì đến tiếng Anh Indochina). Indochina do giới địa dư bản đồ hàng hải hàn lâm Âu Châu từ xưa đã đặt cho vùng đất mà họ cho là nằm giữa hai nước lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Điều này chẳng bao giờ trở thành cái cớ để Ấn Độ tuyên bố phân nửa Đông Dương thuộc về Ấn Độ, còn Trung Quốc tuyên bố phân nửa còn lại thuộc Trung Quốc chỉ vì có tên nước mình trong đó để mà dân Việt Nam do sợ quá mà phải sửa Indochina thí dụ như thành…East Ocean chảng hạn thì thế giới Atlas không hiểu gì cả và chẳng biết nó ở đâu.

2) White Swan (nghĩa đen tiếng Việt: Thiên Nga Trắng) là tên tiếng Anh do người Nga gọi máy bay ném bom chiến lược siêu thanh khổng lồ Tupolev Tu-160 do chính họ chế tạo ra ấy vì nó đẹp kiêu sa lộng lẫy, song Mỹ và Khối NATO gọi nó là Blackjack ắt vì nó tàng hình không thể nhận diện trên màn radar tối đen và để phục vụ mục đích không dại gì dùng tên mỹ miều làm PR cho vũ khí chiến lược đáng gờm ấy của đối phương. Các từ tiếng Anh như White Swan hay Blackjack không phải là do dịch thuật hoặc mang ý nghĩa từ vựng nào dính dáng đến cái tên gốc tiếng Nga Tupolev cả.

3) Blow Room (nghĩa đen tiếng Việt: Phòng Thổi) được gọi là Máy Bông tại các nhà máy dệt ở Việt Nam, và không vì gọi nó là Máy Bông mà Việt Nam lại có quyền gọi nó bằng tiếng Anh là Cotton Machine (vì không phải do Việt Nam phát Minh ra máy công đoạn này trong dây chuyền kéo sợi của ngành dệt thế giới) để chẳng ai trên thế giới này hiểu cả. Chưa kể các máy khác trong nhà máy dệt còn mang những tên gọi tiếng Việt như Máy Cuộn Cúi chẳng hạn thì người ta cần phải xem catalogue để biết tiếng Anh thực sự của chúng ra sao để mà đặt mua phụ tùng chứ không thể cố dịch nghĩa của Máy Cuộn Cúi ra tiếng Anh được.

4) Fiery Cross Reef là một “đảo đá” ở quần đảo Trường Sa được đặt tên theo tên chiếc thương thuyền Fiery Cross buôn trà của Anh Quốc bị đắm ngày 04-3-1860, và do đại úy J.W.Reed của chiến hạm HMS Rifleman thuộc Hải Quân Hoàng Gia Anh khi tắp vào tiến hành khảo sát “đảo đá” năm 1867 đã phát hiện xác tàu Fiery Cross tại đấy. Việt Nam gọi đó là Đá Chữ Thập. Trung Quốc gọi là Yongshu Island. Đài Loan gọi là Yongshu Reef. Philippines gọi là Kagitingan Reef. Thế giới hàng hải gọi là Fiery Cross Reef. Tên Đá Chữ Thập. Yongshu Island, Yongshu Reef, và Kagitingan Reef đều không là dịch thuật từ tên tiếng Anh Fiery Cross Reef. Và do Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, và Philippines đều tuyên bố chủ quyền của “đảo đá” này, khi tranh chấp phải sử dụng tên Fiery Cross Reef. Nếu Việt Nam bảo Đá Chữ Thập là của ta, tên tiếng Việt của ta là quan trọng bậc nhất, từ đó ta tự động dịch ra tiếng Anh thành Cross Rock chẳng hạn thì ta thua ngay lập tức vì ta đòi chủ quyền của một Cross Rock nào đó trên hành tinh nào đó của thái dương hệ nào đó trong thiên hà nào đó thuộc vũ trụ nào đó chứ không phải đang đòi chủ quyền trên Fiery Cross Reef tại Biển Đông.

Tóm lại, giới đồ bản hàn lâm thế giới có gọi một nhóm đảo của Việt Nam là Paracel Islands thì Việt Nam cứ dùng từ Hoàng Sa trong nội bộ Việt Nam, nhưng đừng dại dột cố dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh giả dụ như Yellow Sand chẳng hạn, vì nếu gọi như thế Trung Quốc sẽ bảo rằng nó là chủ Paracel Islands chứ nó có biết Yellow Sand là cái quái gì đâu mà Việt Nam bảo nó lấn chiếm, và rằng Việt Nam nói mình là chủ của đảo ấy sao lại không biết tên tiếng Anh của nó trên Atlas thế giới. Đưa vụ việc ra tòa án quốc tế mà không dùng tiếng Anh của giới bản đồ hàn lâm thì thua ngay lập tức.

Tương tự, giới đồ bản hàn lâm thế giới gọi một nhóm đảo khác của Việt Nam là Spratly  Islands thì Việt Nam cứ dùng từ Trường Sa trong nội bộ Việt Nam, đừng dại dột cố dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh giả dụ như Long Sand vì nếu gọi như thế Trung Quốc sẽ bảo rằng nó là chủ Spratly Islands chứ nó có biết Long Sand là cái quái gì đâu mà Việt Nam bảo nó lấn chiếm, và rằng Việt Nam nói mình là chủ của đảo ấy sao lại không biết tên tiếng Anh của nó trên Atlas thế giới. Đưa vụ việc ra tòa án quốc tế mà không dùng tiếng Anh của giới bản đồ hàn lâm thì thua ngay lập tức.

Và cũng tương tự, giới đồ bản hàn lâm thế giới gọi vùng biển giữa Việt Nam và Philippines là South China Sea (nghĩa đen tiếng Việt: Biển Hoa Nam) thì Việt Nam cứ dùng từ Biển Đông trong nội bộ Việt Nam, đừng cố đặt tên tiếng Anh bằng cách dịch từ tiếng Việt sang thành East Sea vì nếu gọi như thế Trung Quốc sẽ bảo rằng nó là chủ South China Sea, còn Việt Nam đang đòi chủ quyền của East Sea tức biển ở chỗ khác, nên không hiểu tại sao Việt Nam bảo nó lấn chiếm, và rằng Việt Nam nói mình là chủ Biển Đông sao lại không biết tên tiếng Anh của nó trên Atlas thế giới, và nếu Việt Nam nói mình là chủ East Sea thì hãy đi mà gây lộn với Nhật Bản để đòi lại East Sea. Đưa vụ việc ra tòa án quốc tế mà không dùng tiếng Anh của giới bản đồ hàn lâm thì thua ngay lập tức.

Tôi khẳng định: việc các máy bay của Việt Nam dùng East Sea để làm tiếng Anh cho Biển Đông là hoàn toàn sai.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài viết này bổ sung lý luận và thí dụ cho bài Biển Đông” Hay “Biển Nam Trung Hoa

Để Việt Nam Trở Thành Cường Quốc

Bài 1: Cẩm Nang Khởi Nghiệp

Hoàng Hữu Phước, Hoàng Hữu Phước, MIB

Việt Nam đang phải đương đầu với bốn vấn nạn triền miên gồm (a) nhiều người dân vẫn cho rằng Việt Nam có là cường quốc hay không thì đó là trách nhiệm và bổn phận của chỉ riêng chính phủ – mà ở Việt Nam quy tất cả đổ tất cả về cho “chế độ” và/hay Đảng Cộng Sản, nếu đạt được gì đấy thì dù Ngân Hàng Thế Giới có đánh giá cao vẫn trề môi chê “chả thấm vào đâu”,

 CNKH1

còn nếu chưa đạt gì đấy thì nói tại “độc tài Đảng trị”; (b) giới trẻ tức công dân hiện tại và là nguồn lực tương lai của đất nước vẫn luôn tự cho minh cái quyền đứng trên cương vị, tư thế, tư cách, và phong cách người ngoài cuộc khi đánh giá cao và thần phục các phát triển vượt bậc về kinh tế của nước ngoài; (c) các sự thật lịch sử thế giới hiển nhiên ngồn ngộn đầy ắp thông tin vẫn không được màng đến – hoặc vô tâm hoặc cố ý – bởi các đối tượng nêu trong mục a và b ở trên; và (d) gần như giới trẻ luôn cho rằng “khởi nghiệp” chính là “mở doanh nghiệp và làm chủ doanh nghiệp”.

Với kinh nghiệm của người đã luôn làm sáng tỏ bản chất sự việc của nào là “đa đảng”, “dân chủ”, “tự do”, “tuyệt thực”, “tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”, hay “nhân quyền”, hoặc “biểu tình”, v.v., khiến không gian mạng trong và ngoài nước đã giảm hẳn các giật tít câu view vớ vẩn chỉ nhằm công kích nền dân chủ và thể chế chính trị của Việt Nam, tác giả bài viết này hôm nay làm sáng tỏ các nội hàm liên quan đến khởi nghiệp và cường quốc như một “cẩm nang kiến quốc” dành cho công dân, theo các mục lục sau:

 CNKQ2

mà bài viết sau là bài số 1 :

Cẩm Nang Khởi Nghiệp

1- Khởi Nghiệp Lành Mạnh Nguyên Thủy

Từ ngàn xưa trên thế giới cho đến trước khi từ ngữ ‘‘start up” du nhập vào Việt Nam ở dạng distorted tức méo mó thì khởi nghiệp đã luôn là hơi thở lành mạnh của con người dù là người Việt hay người của phần còn lại của thế giới. “Hơi Thở” vì khởi nghiệp là việc hết sức bình thường, hết sức tự nhiên; còn “lành mạnh” vì chỉ có người chẳng may vì khuyết tật nặng, hoặc do hoàn cảnh chiến tranh, hoặc vì bị tù đày, mới khó thể “khởi nghiệp”, trong khi kẻ chây lười sống bám ký sinh trùng mới không thèm “khởi nghiệp”.

Khởi nghiệp dựa vào ước mơ, năng khiếu, năng lực, thời cơ. Khởi nghiệp là bắt đầu môt sự nghiệp. Chính vì vậy mà có người theo đuổi sự nghiệp một nhà giáo, một nhà văn, một nhà thơ, một người theo binh nghiệp để làm một quân nhân, một nhà chăn nuôi, một nhà trồng trọt, v.v., thậm chí một nhà tu hành cũng theo một khởi nghiệp cho một duyên nghiệp cứu độ chúng sinh. Từ ý thức khởi nghiệp này, xã hội trở nên lành mạnh vì không gì tuyệt diệu bằng đa số con người được sống và làm việc theo đam mê riêng, ước mơ riêng, năng khiếu riêng, năng lực riêng, và hòan cảnh thời cơ riêng của mình, khiến xã hội phát triển đa ngành nghề để dù là người chiến sĩ, nhà giáo, hay nhà văn – hoặc thậm chí như người kiểm tra bảo trì đường ray xe lửa mà phóng sự truyền hình VTV mới đây cho biết đã chọn nghề vì ước mơ từ nhỏ lúc chăn trâu đã thán phục nhìn những con tàu dũng mãnh vững chắc băng ngang đồng ruộng quá uy nghi – thì ai cũng an vui với chức nghiệp của mình. Một nữ danh ca lừng danh của Mỹ đã làm vợ một anh da đen khi thấy anh chàng này đu bám sau xe rác vừa nhảy xuống lấy rác quẳng lên sau xe vừa ca hát nhảy múa yêu đời. Cả hai đều thấy “sự nghiệp” của bản thân họ là cao quý. Lòng tự trọng là thứ vật phẩm cao quý nhất cộng với nếp sống tích cực, yêu đời, yêu quý công việc mình cho là đáng làm để phục vụ công ích, nên dù là cha của siêu sao bóng đá bầu dục nhà nghề Mỹ NFL Richard Sherman của đội Seattle Seahawks, ông Kevin Sherman vẫn hàng ngày thức dậy lúc 3 giờ 45 sáng lái xe đi lấy rác trên đường phố Los Angeles và thậm chí làm cả ngày cuối tuần để kiếm thêm ít tiền ngoài giờ dù con trai ông xin ông hãy cho con ông báo hiếu đón ông về an hưởng cuộc sống xa xỉ xa hoa. Hay như những nhà tu hành theo phân công của giáo hội đã ra hành đạo tại các đảo xa của tổ quốc Việt Nam luôn phải đối mặt với thiếu thốn vật chất cùng hiểm nguy của thiên nhiên và hiểm họa của chiến tranh. Tất cả mọi sự tốt đẹp này đều đến từ lòng tốt hướng thiện ngay từ ngày đầu nghĩ đến khởi nghiệp.

2- Khởi Nghiệp Tâm Bệnh Phong Trào

Với tâm bệnh “sĩ” của nhiều người Việt, khi chương trình MBA tức Master of Business Administration thâm nhập vào các trường đại học Việt Nam, người ta chọn đặt một cái tên cho thật kêu thành “chương trình Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh” và các trường thi nhau mở các khoa “cử nhân quản trị kinh doanh” chứ dứt khoát không chấp nhận danh xưng đúng hơn là “quản trị công việc”, khiến hầu như sinh viên nào cũng mơ mơ màng màng đến việc học xong sẽ làm quản lý doanh nghiệp, làm “sếp” doanh nghiệp, cứ như thể thiên hạ có tiền thì hãy mở công ty để ta đây đến làm giám đốc vậy, mà không biết rằng đó chỉ là ngành học về quản lý công việc trong thời đại mới cho một cuộc mưu sinh ngập đầy tính cạnh tranh khốc liệt, nghĩa là những gì liên quan đến cuộc sống của lương-tiền-cơm-áo nhất thiết phải được biết đến. Một nhân viên hay một giáo viên hoặc một người quản lý một “cây xăng” đều cần phải qua “business administration” để biết qua về hoạt động ngân hàng, về tiếp thị, về nhân sự, về chứng khoán, về kế toán, về thuế má, luật pháp kinh doanh, v.v., đơn giản vì ở xã hội Âu Mỹ ai mà không mua chứng khoán, không sợ nhất là các sai sót về thuế thu nhập cá nhân, không tự lo cho quyền lợi phúc lợi của mình như một người lao động, và không quan tâm đến luật pháp kinh doanh để hiểu biết rõ nhất về nơi mình làm việc để còn tự bảo vệ mình, v.v. và v.v. Tất nhiên, với sự hiểu biết như vậy, người bán xăng ở một “cây xăng” được thuê để một mình vừa bán xăng vừa phụ trách cửa hàng tiện ích bán hàng hóa cho khách mua xăng, nghĩa là phải biết về công việc tồn kho, thu ngân, kết toán, v.v. và v.v. mà chương trình “quản trị công việc” cung cấp đủ đầy các kiến thức chung ấy. Cũng tất nhiên, với sự hiểu biết ấy, người ta nếu muốn vẫn có thể tự mình lo toan cho một cơ sở kinh doanh riêng mà “trẻ em” Việt Nam sính dùng từ “doanh nghiệp” cho thêm phần hiển hách vì lẽ nào học 4 năm cử nhân đại học để ra đứng bán xăng!

Tương tự, đến khi thuật ngữ “start up” du nhập Việt Nam thì ai cũng gọi đó là “khởi nghiệp” vì cùng chứng bịnh “sĩ”, nhưng với ý nghĩa mới hoàn toàn chật chội: khởi đầu một doanh nghiệp! Thế là từ sự “khởi đầu một sự nghiệp” đa dạng và phong phú, thực tế, nhân văn, “start up” đã bị Việt Hóa co cụm lại thành “khởi đầu một doanh nghiệp”, khiến thay vì khởi nghiệp lẽ ra là điều dẫn dắt đúng đắn luôn có nơi chốn học đường dành cho lớp người tương lai của đất nước lại méo mó thành việc khẳng định mặc định rằng ai đi học xong mà không mở công ty thì chẳng thể gọi là có khởi nghiệp. Như tôi đã bao lần kêu gọi trong vô vọng là bạn trẻ hỡi hãy học tiếng Anh cho thực sự ra hồn đi, người ta lẽ ra nên dùng từ chính xác là “business startup” (hoặc business start up, hay entrepreneur startup) nếu muốn nói về việc bắt đầu một doanh nghiệp tức “start your own business” chứ đừng nói tắt là “khởi nghiệp” vì sai bét.

Startup company, startup business, startup hay start-up hoặc startup entrepreneurship đều có nghĩa là một cơ sở kinh doanh mới thành lập dưới dạng một công ty, một mô hình đối tác tạm thời. Nhưng khởi nghiệp trong tiếng Việt hoàn toàn không phải startup company, startup business, startup hay start-up của tiếng Anh, vì khởi nghiệp là từ dùng chung cho tất các trường hợp nghề nghiệp khác nhau chứ không cứ chỉ có mở doanh nghiệp!

Những kẻ không biết gì về ngôn ngữ Việt và tiếng Anh đã góp phần không những hủy phá ý nghĩa cao vời của khởi nghiệp mà còn làm lệch lạc định hướng nghề nghiệp lành mạnh của giới trẻ Việt Nam.

3- Quốc Gia Khởi Nghiệp

Một bằng chứng khác cho thấy sự sử dụng sai từ “start up” ở Việt Nam: tác phẩm Start-up Nation: The Story of Israel’s Economic Miracle của Dan Senorr và Saul Singer viết năm 2009 về sự phát triển kinh tế thần kỳ của Israel sau 60 năm lập quốc. Tác phẩm được tạp chí New York Times và Wall Street Journal xếp hạng thứ 5 những quyển bán chạy nhất thế giới năm 2010 này nói về “quốc gia khởi nghiệp” (start-up nation), từ đó có thể liên tưởng đến mẫu câu “doanh nghiệp khởi nghiệp” (start-up business) trong tiếng Việt chứ không chỉ ngắn gọn là “khởi nghiệp”.

4- Việt Nam Khởi Nghiệp

Từ các nội dung trên, tiến trình Việt Nam Khởi Nghiệp tức Start-up Vietnam theo ý nghĩa và công thức tạo từ của Start-up Nation để hy vọng có sự phát triển kinh tế thần kỳ như Israel, nhất thiết đòi hỏi

a) Các trường đại học Việt Nam cùng sinh viên phải hiểu rõ và đúng về cá nhân khởi nghiệp, về doanh nghiệp khởi nghiệp, và về Quốc gia khởi nghiệp, theo đó cá nhân khởi nghiệp là việc bắt đầu một sự nghiệp mà hoài bảo, ước mơ, năng lực, năng khiếu, v.v., đã trở thành kim chỉ nam hay một thứ xung lực và động lực mà trên hết là từ nền tảng của lòng cao thượng tổng hợp của vị tha, vì nước, vì dân, vì nét đẹp của nghề nghiệp, mà mọi người trên thế gian này từ ngàn xưa đã đều biết đến; doanh nghiệp khởi nghiệp là những gì cần và đủ nên có để một cơ sở kinh doanh nên được thành lập để người chủ có thể tồn tại, phát triển, đối phó xử lý khi phải phá sản; còn quốc gia khởi nghiệp là khi một quốc gia bắt đầu tiến trình kiến quốc sau thời gian lập quốc, sau thời gian thống nhất đất nước, hay sau thời gian khó khăn dẫm chân tại chỗ đã đề ra được phương hướng và kế hoạch dài hơi để phát triển đất nước.

b) Chính phủ phải có cơ chế quy định không cho phép sự tự do sử dụng từ ngữ trên các phương tiện truyền thông đại chúng trước khi các từ ngữ được thẩm định bởi cơ quan chức năng. Việc Việt Nam hoàn toàn không có khái niệm và phân định cụ thể giữa “formal” và “informal” (tức giữa “trang trọng” và “bình dân”) như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới là cái sai của các nhà ngôn ngữ hoc Việt Nam mà tôi đã luôn lập đi lập lại trên các blog, cũng như không lưu ý đến các rạch ròi mang tính luật pháp như trong tất cả các ngoại ngữ Âu Mỹ chính của thế giới đẫn đến các nguy cơ nhãn tiền như:

– học sinh và sinh viên khó thể bảo đảm viết lách tiếng Việt đúng đắn về ngôn phong

– học sinh và sinh viên bị tác động lệch tâm của sự sử dụng từ “khởi nghiệp” tự tung tự tác trong xã hội khiến các nỗ lực hướng nghiệp bị thất bại khi “sự nghiệp” không còn quan trọng mà chỉ có “mở doanh nghiệp” mới là điều duy nhất

– cơ quan như công an chẳng hạn mới đây đã bị cho là vi phạm pháp luật do dùng từ “trưng dụng” trong trưng dụng phương tiện đi lại hoặc truyền tin để phục vụ công tác, đơn giản chỉ vì đã không liên hệ đến tiếng Anh[*] để nhận ra một điều rằng nhất thiết phải tạo từ mới vì yêu cầu phức tạp của luật pháp.

c) Việt Nam cần hiểu ró rằng không thể có Việt Nam khởi nghiệp nếu nguồn nhân lực khởi nghiệp Việt Nam không hiểu biết gì đến các nội dung trên, khiến môi trường nghề nghiệp hỗn loạn, thiếu hụt, bát nháo, đẩy xa hơn ngoài tầm với tiến trình khởi nghiệp Việt Nam để khó kỳ vọng có được một Việt Nam khởi nghiệp sau 50 năm nữa.

Kỳ sau: Bài 2 Cẩm Nang Kiến Quốc Việt Nam: Hão Huyền Singapore

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: [1] Trong khi tiếng Anh có nhiều từ ngữ khác nhau để sử dụng như các động từ to confiscate, to requisition, to appropriate, to commandeer, to expropriate, to sequester, to sequestrate, v.v. tùy vào các đặc điểm của các hành động khác nhau trong hoàn cảnh khác nhau như sung công, sung dụng, tịch thu, trưng dụng, trưng thu, v.v. (chẳng hạn động từ commandeer được dùng trong trường hợp cảnh sát Mỹ chặn lấy xe của công dân để rượt bắt đối tượng phạm pháp), thì ở Việt Nam chỉ dùng mỗi một chữ “trưng dụng” nên nếu nội hàm “trưng dụng” đã lỡ được dùng trong một đạo luật cụ thể trước đó thì đương nhiên việc sử dụng từ “trưng dụng” trong thông tư của Bộ Công An khiến Bộ này “vi phạm pháp luật”. Điểm này sẽ được bàn kỹ hơn trong một bài viết khác sau.

Tham khảo:

1- Về “Đa đảng”:

18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không? https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

18-5-2014: Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề “Đa Đảng”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/18/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-ve-cu-huy-ha-vu-va-van-de-da-dang-ngay-20-4-2011/

2- Về “Dân chủ, Tự do”:

24-3-2014. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

3- Về “Tuyệt thực”:

02-7-2013. Tuyệt Thực. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/02/tuyet-thuc/

4- Về “Tội ác Cộng quân trong biến cố Tết Mậu Thân”:

28-01-2014: Tết Mậu Thân 1968. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/01/28/tet-mau-than-1968/

5- Về “Nhân quyền”:

25-10-2014: Nhân Quyền Và Phẩm Giá. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/25/nhan-quyen-va-pham-gia/

6- Về “Biểu tình”:

14-4-2015: Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Vấn Đề Pháp Luật Của “Luật Biểu Tình”. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/04/14/nghi%CC%A3-si%CC%83-hoang-hu%CC%83u-phuoc-noi-ve-lua%CC%A3t-bie%CC%89u-tinh-2/

7- Về “Nhân tài” Việt Nam:

20-4-2014: Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

07-3-2014: Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

02-10-2014: Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

22-02-2015: Lời Khuyên Dành Cho Du Học Sinh Việt Nam. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2015/02/22/loi-khuyen-danh-cho-du-hoc-sinh-viet-nam/

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Tham Luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc 18/6/2010

Hoàng Hữu Phước, MIB

 Giaothoa2GiaothoaGiaothoa1Giaothoa3

Tóm Tắt Nội Dung

“Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt” là một vấn đề mang tính quan điểm được nói đến nhiều thời gian dài. Song, hoàn cảnh mới khiến nhất thiết phải có những phân tích mới, nhận định và nhận diện mới trên nền ngôn ngữ học trong môi trường giao thoa văn hóa và toàn cầu hóa.

Từ các nội dung chuyên biệt của bộ môn Lexicology tiếng Anh, tham luận này nhằm phân tích có so sánh để nhận diện tiếng Việt như một ngôn ngữ sống với đầy đủ các thành tố của sự bền vững, đào thải, cộng sinh, cộng hưởng, đa dạng thức, đa sắc màu, và phát triển. Với thực tế tiếng Việt còn non trẻ cộng với thực tế chiến tranh đã không cho phép có sự phát triển bài bản, tham luận đồng thời đề xuất hai chuẩn mực về phong cách formal như trong các ngôn ngữ khác và tái lập dấu gạch nối thuần Việt như biện pháp khả thi, khả dụng, định vị sự trong sáng của tiếng Việt.

Cuối cùng, truyền thông đại chúng giữ vai trò quyết định trong sự thành công của sự giữ gìn này.

Summary

The preservation of the clarity and the adaptability of the Vietnamese language has been a point of perspectival concept for years. However, new situations ignite the need for new and appropriate analysis, evaluation, and definition of that phrasing on the basis of linguistics and within a cross-culture and globalized environmental perspective.

With reference to the specific contents and scopes of study of English Lexicology, the essay is to analyze then shed lights to the acknowledgement of Vietnamese as a “living language” with full constituent elements of say stability, up-gradation, degradation, co-existence, assimilation, variety, and development. In view of the fact that the present-day Vietnamese language has been used only from the end of the Nineteenth century and the country immersed in wars until its reunification in end April 1975 with no scopes for proper lingual study and development, the essay further provides two proposals of (a) the application of formal and informal usage, and (b) the re-application of the Viet-styled hyphen, considering these among the best possible and feasible tools of positioning the clarity of Vietnamese.

Last but not least, the mass media is considered to play the decisive role in the success of the effort for the above-mentioned preservation.

I- Dẫn Nhập: Bản Chất của Bản Sắc

Bản sắc là những tính chất mang nét đặc trưng, và khi nói đến thời đại toàn cầu hóa, bản sắc dân tộc tức National Identity được đưa lên hàng đầu của tất cả các sự quan tâm và quan ngại, tình thế trước là khi muốn khai thác cái ưu việt, trong khi tình huống sau là do nguy cơ đánh mất bản sắc từ những lấn lướt mang yếu tố ngoại lai. Nếu bản sắc dân tộc bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các yếu tố lịch sử, văn hóa, chính trị, tập tục, tư tưởng, v.v., mang tính kế thừa truyền thống và/hay đương đại qua thẩm thấu có hay không có chọn lọc, thì ngôn ngữ được sử dụng trên nền và thể hiện rõ nét nhất cái bản sắc ấy. Nét nổi bật nhất của bản sắc dân tộc Việt Nam hay được đề cập đến là sự cởi mở, thân thiện, yêu chuộng hòa bình, ham học hỏi, cần cù lao động, không cực đoan, và ý nhị thâm thúy; trong khi bản chất xã hội của ngôn ngữ luôn là yếu tố quan trọng định tính, định lượng và định vị chính ngôn ngữ ấy trong tiến trình phát triển và giao thoa ngôn ngữ và văn hóa. Do đó, bản chất của bản sắc văn hóa dân tộc của ngôn ngữ tiếng Việt là nhằm nêu bật các nét đặc trưng; trong đó, nói về sự giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt qua nhóm từ tiếng Anh hay được dùng tại Việt Nam là “the preservation of the clarity and the purity of the Vietnamese” sẽ lệch tâm vì “purity” hướng đến sự “thuần khiết” hay “thuần Việt” vốn không là bản chất của bản sắc Việt và trái ngược với tiến trình giao thoa ngôn ngữ và văn hóa không thể đão ngược của xu thế toàn cầu hóa mà Việt Nam với bản sắc dân tộc đặc thù hoàn toàn tương thích và hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị mà sức sống mới của tiếng Việt có thể truyền tải được.

II- Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt – Anh

Không nhất thiết phải đợi đến khi phát sinh khái niệm lẫn thực tiễn về toàn cầu hóa mới có các nhận diện về sự giao thoa của các nền văn hóa và các ngôn ngữ. Những nghiên cứu về ngôn ngữ Anh của các tác giả như Felix, True, và Otto (1897) hay Bloomfield (1914), v.v., cho thấy mức độ tiếp nhận hàng chục ngàn từ ngữ từ 46 nhóm ngôn ngữ khác trên thế giới vào tiếng Anh, như một khẳng định không phải duy chỉ sự xâm chiếm thuộc địa mà còn phải tính đến sự phát triển của ngôn ngữ đã như tàng cây tự thân ngày càng mạnh khỏe sống động thành một thứ “sinh ngữ” – theo nghĩa đen – vươn ra bao trùm tất cả. Tương tự, các nghiên cứu về Tiếng Việt cũng cho thấy cơ sở hình thành của chính lớp từ thuần Việt cũng đến từ các gốc Nam Á và Tày Thái, chứng minh đã có những tương ứng và quan hệ phức tạp trong nhiều bộ phận hay nhiều nhóm ngay của lớp từ thuần Việt với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng, như Mường, Tày Thái, Bru-Vân Kiều, Non-Khmer, và Indonesia, v.v. (Chữ, Nghiệu, và Phiến. 1997). Ngoài ra, một bộ phận quan trọng các từ ngữ gốc Ấn-Âu du nhập vào Tiếng Việt thành từ ngoại lai khi Việt Nam bị Pháp chiếm đóng, sau đó là tiếng Anh và tiếng Nga cùng nhiều xuất xứ khác đã được dùng rộng rãi như trong các lĩnh vực thực phẩm, y học, trang phục, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, và kỹ thuật; đặc biệt, trong tất cả các ngôn ngữ có sự giao thoa với tiếng Việt, tiếng Anh tuy có sự thâm nhập trễ hơn, ít hơn, nhưng lấn át hơn về truyền thông đại chúng nhất là trong thời hiện đại của kỹ thuật số và phát triển công nghệ thông tin. Trên cơ sở thực tế ở Việt Nam tiếng Anh đã và đang trở thành ngoại ngữ của đa số người dân, sự nghiên cứu sâu về ngữ pháp tiếng Anh cũng sẽ có giá trị trong tương quan so sánh, phát hiện tương đồng, tận dụng bổ sung các khiếm khuyết, để hoàn thiện hệ thống ngữ pháp tiếng Việt.

III. Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

A) Luận Về “Sự Trong Sáng”

Trước khi nói đến “sự trong sáng” của Tiếng Việt, nhất thiết phải xác định tài sản của Tiếng Việt cả hiện hữu nội tại và tiềm tàng vun quén, chẳng hạn bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – cấu tạo từ, nghĩa từ, cụm từ, quan hệ đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa, biến đổi từ vựng trong triệt tiêu/thêm mới/tăng nghĩa, từ cổ, từ du nhập gốc Hán/Ấn-Âu so với từ thuần Việt, thuật ngữ, phương ngữ, từ nghiệp vụ, từ lóng, từ mới, từ văn khẩu ngữ, từ văn viết (Chữ, Nghiệu, và Phiến, 1997), cả ngôn ngữ cử chỉ và cú pháp (Bloomfield, 1914, 4, 167). Như vậy, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt đồng nghĩa với việc giữ gìn toàn bộ những gì thuộc tài sản kho tàng Tiếng Việt cùng với khả năng phát triển luôn đi kèm các yếu tố sinh lợi cũng như đào thải của một ngôn ngữ đang sống và đang được đầu tư nghiêm túc để sống mạnh và lan tỏa, chứ không phải chỉ là việc máy móc giáo điều tập trung duy chỉ vào từ thuần Việt vốn tự thân không hình thành ngôn ngữ Việt. Thêm vào đó, sự trong sáng của Tiếng Việt không có nghĩa là phải cố gắng vận dụng từ Tiếng Việt trong những trường hợp không cần thiết, thậm chí tầm thường hóa Tiếng Việt, xóa nhòa ranh giới formal/informal, tức văn bác học/bình dân, hay văn viết/văn nói vốn luôn luôn có ở bất kỳ ngôn ngữ “sống” nào trên thế giới.

Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trong một chừng mực mang tính ngôn ngữ học đầy đủ nhất, do vậy, còn có nghĩa đón nhận có chọn lọc những từ nước ngoài sẵn có đưa vào vận dụng làm giàu kho tàng từ vựng nước nhà.

B) Các Xâm Hại Kho Tàng Ngôn Ngữ Việt      

1-   Vấn Nạn “Bế Quan”

Do những tác động của lịch sử, tiếng Việt được hình thành không trên cơ sở sau đó có được đủ các nghiên cứu hàn lâm với các nghiên cứu do các học giả Pháp thực hiện từ xưa không nhằm phục vụ người Việt, và do các trường đại học Việt Nam hiện nay xây dựng qua các giáo trình không nhằm phục vụ nền giáo dục nói chung của Việt Nam mà riêng dành cho phân khoa ngôn ngữ hay xuất bản dành cho số ít các độc giả tự do. Tất cả tạo nên cách ứng xử không có cơ sở khoa học đối với những khía cạnh khác nhau của ngôn từ, chẳng hạn qua việc cho phép sử dụng tiếp tục tên Hán Việt của chỉ một số quốc gia, chấm dứt sử dụng tên Hán Việt của số còn lại (Bảng 1)

 Giaothoa4

Trong khi đó, tên các quốc gia sau buộc phải dùng dưới dạng Việt hóa phiên âm không theo một căn bản ngoại ngữ được chọn lọc đồng bộ, thí dụ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, mà một số lại theo sự phát âm của chính quốc (Bảng 2).

 Giaothoa5

2-   Vấn Đề “Xả Cảng”

Đối nghịch với cách hoặc tiếp tục dùng từ Hán Việt sẵn có từ xưa hoặc kiểu Việt Hóa phiên âm để gọi tên các quốc gia, còn có loại dịch thuật Pháp-Việt hoặc Anh-Việt, điển hình là nước Bờ Biển Ngà, vốn được đặt theo nghĩa dịch thuật sát từng từ một của tên Ivory Coast của tiếng Anh hay Côte D’Ivoire của Pháp ngữ.

Ngoài ra, đã có sự buông lơi trong chuẩn mực ngôn ngữ khiến không còn sự phân định minh bạch giữa từ ngữ formal với informal và sự tự do sử dụng tràn lan trên các phương tiện truyền thông đại chúng với những từ lóng thuần Việt như “dế” (điện thoại di động) hoặc từ lóng tiếng Anh như “cool” và “hot”, v.v.

3-   Tình Trạng “Trộn Lẫn”

Với những thí dụ chỉ riêng tên các quốc gia thì việc bỏ những từ Hán Việt đã làm vơi đi kho tàng từ ngữ tiếng Việt trong khi việc chế ra các tên theo kiểu Việt hóa phiên âm lại không làm giàu thêm kho tàng từ vựng đó. Cùng với kiểu dịch thuật – vốn tối kỵ theo văn hóa phương Tây đối với tên riêng – thì đã không có một phương pháp thống nhất trong gọi tên các quốc gia, khiến tiếng Việt yếu đi sức kết dính để có sự trong sáng của ngôn ngữ thông qua các công thức chính thức, chính quy, hợp l‎ý, và hiệu quả.

C) Những Biện Pháp Làm Trong Sáng Ngôn Ngữ Việt

1- Hoàn Thiện Từ Vựng Học Tiếng Việt Theo Bài Bản Lexicology Tiếng Anh

Trong khi bộ môn từ vựng học tiếng Việt đã được xây dựng tại một số trường đại học ở Việt Nam, các công trình hoặc giáo trình vẫn mang nặng tính chuyên biệt, riêng biệt, và theo định hướng thuần túy hàn lâm kiểu các công trình nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù do các nhà ngôn ngữ học trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản là các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nhằm chuyên sâu một khía cạnh nhỏ của những vấn đề ngôn ngữ nhằm xây dựng hệ thống l‎ý thuyết mới để diễn giải một mô hình nhận diện mới cho những thực thể ngôn ngữ ; trong khi các tài liệu viết về từ vựng học ở Việt Nam đa số dựa theo các chuẩn nội dung của từ vựng học tiếng Anh để nghiên cứu tiếng Việt theo đúng từng mặt một, như định nghĩa từ, cách tạo lập từ, ngữ nghĩa của từ, các dạng thái đồng âm/đồng nghĩa/trái nghĩa của từ, từ vay mượn, vấn đề biến đổi hình thức và ngữ nghĩa của từ, các nhóm từ tượng thanh/tượng hình, v.v., và có thêm vài chuẩn đặc trưng của tiếng Việt như từ láy, thậm chí cả tu từ. Vấn đề tồn tại là các tài liệu đều dàn trải với rất nhiều chi tiết minh họa nhưng vẫn còn khoảng cách xa với sự phong phú vì thiếu tính hệ thống khoa học, hệ thống l‎ý thuyết, và hệ thống các công thức áp dụng. Ngoài ra, sự trong sáng của tiếng Việt khó thể được bảo vệ nếu những nội dung này không được (a) viết lại có tham khảo và/hay mô phỏng hệ thống mạch lạc của từ vựng học tiếng Anh và (b) phổ cập trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Việc dựa theo nội dung của từ vựng học tiếng Anh phát sinh từ thực tế việc biên soạn sách giáo khoa từ vựng học chưa là thế mạnh kinh nghiệm của các học giả Việt Nam, đồng thời sự tương đồng ở đa số các hiện tượng ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Anh còn giúp người Việt nắm vững tiếng Việt hơn, sử dụng tiếng Việt bài bản hơn, và củng cố thay vì quên tiếng Việt qua quá trình học tập tiếng Anh.

2- Hoàn Thiện Ngữ Pháp Tiếng Việt Theo Bài Bản Ngữ Pháp Tiếng Anh

Tương tự, ngữ pháp tiếng Anh cũng nên được dùng làm chuẩn để biên soạn mới ngữ pháp tiếng Việt. Câu sau đây của tiếng Việt sẽ bị người Việt học tiếng Anh liên tưởng đến phân tích theo ngữ pháp tiếng Anh và viết sai sang tiếng Anh, còn người nước ngoài học tiếng Việt lại cho rằng tiếng Việt không phân định rõ mệnh đề chính-phụ:

“Cho dù nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng khá cao, trung bình 7,56% từ năm 1991 đến năm 2008, nhưng ngày càng có nhiều chuyên gia kinh tế đề nghị xem lại chất lượng và mô hình tăng trưởng.”(Mạnh Quân, 2010).

Phân tích theo tiếng Anh cho thấy mệnh đề từ “cho dù” đến “năm 2008” là mệnh đề adverbial clause of concession bổ nghĩa cho mệnh đề chính (main clause) theo sau nó để hình thành một câu phức tạp (complex sentence) ; nhưng mệnh đề theo sau lại bắt đầu bằng liên từ “nhưng” nên trong tiếng Anh lại là mệnh đề độc lập (independent clause) cần thiết để tạo nên một câu kép (compound sentence). Như vậy toàn câu tiếng Việt trên sai văn phạm đối với người Việt giỏi tiếng Anh, và người Việt giỏi ngữ pháp tiếng Anh sẽ quen viết hoặc nói câu tiếng Việt trên không có chữ “nhưng”, khiến câu tiếng Việt trở nên đúng tiếng Việt hơn, chuyên nghiệp hơn trên bình diện ngữ pháp học của ngay cả tiếng Việt.

Việc người Việt không viết hay nói tiếng Việt đúng ngữ pháp là do sách giáo khoa về ngữ pháp tiếng Việt đã khởi thủy được các giáo sĩ soạn sơ khai trên nền ngữ pháp của tiếng Pháp, sau này được người Việt hệ thống hóa không trên một nền độc lập rõ nét hay theo một cơ sở tương đồng với hoặc như các ngôn ngữ khác. Việc chọn hệ thống ngữ pháp tiếng Anh làm cơ sở để thực hiện biên soạn đổi mới nội dung ngữ pháp tiếng Việt do cũng có chung mục đích, hiệu quả và tiện dụng như đối với đề xuất về lexicology.

3- Xây Dựng Ranh Giới Formal & Informal

Hiện nay ranh giới giữa các hình thức formal/informal, tức văn bác học/bình dân, hay văn viết/văn nói, gần như không còn rõ nét, với sự sử dụng từ ngữ phi chuẩn như “găm hàng” vốn là từ lóng thiếu sự trong sáng tu từ lẫn từ vựng ngữ nghĩa hoặc từ văn nói bình dân ngay trong bản Dự Thảo Thông Tư của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị Định số 170/2003/NĐ-CP của Chính Phủ về Pháp Lệnh Giá; hoặc từ “cú hích” không thuộc từ ngữ báo chí chuyên biệt trong bài viết nhận định về kinh tế (Tâm và Thuận, 2010). Khi không còn những lằn ranh nghiêm khắc và nghiêm túc này của ngôn ngữ, tiếng Việt sẽ không còn mạch lạc, thiếu hẳn sự bảo vệ tối cần thiết trên các tuyến giao thông từ vựng; chưa kể chính ranh giới này phân định rõ nét tính văn hóa đặc thù song tương đồng và tương thích với các ngôn ngữ khác trên đường hội nhập của Việt Nam và giao thoa văn hóa Việt Nam với văn hóa ngôn từ của các nền văn hóa khác.

4- Tái Lập Dấu Gạch Nối

     a) Vấn Đề Lịch Sử:

Người dân Việt dù là bậc thức giả uyên thâm, hoặc hoài cổ, hoặc theo Tây học, hay là dân thường, đều xem việc chuộng dùng tiếng nước ngoài và nỗ lực của Nhà Nước trong giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là hai khía cạnh không hoàn toàn tách biệt mà thuộc một phạm trù cần có một giải pháp chung.

Khi nói về sự trong sáng của tiếng Việt, vấn đề không chỉ là phân tích đối với nội dung của yêu cầu trong sáng trong ngôn ngữ như kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” vì việc “cõng cái chữ lên ngàn, vác cái chữ ra nương” là chuyện bình thường trong xóa nạn mù chữ cho người dân chứ không là một kỳ công. Duy chỉ có việc làm cho tiếng Việt được hệ thống hóa chặt chẽ, khoa học, rõ ràng, phân minh, và phổ cập, theo cách tận dụng và vận dụng những công cụ ngôn ngữ chữ viết đã có vào thực tế áp dụng và sử dụng. Và “dấu gạch nối” vốn đã bị ngưng sử dụng ngay sau ngày 30/4/1975 chính là căn bản mang tính giềng mối vững chắc của ngôn ngữ Việt, hoàn toàn thích hợp đối với yêu cầu nhận diện ngôn từ của các tiện nghi điện tử kỹ thuật số ngày nay. Dấu gạch nối này hoàn toàn khác với dấu sử dụng như trong cụm từ “Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu”, mà tên gọi nên là “dấu liên kết” hoặc một tên gọi nào khác để không lẫn với “dấu gạch nối” của tiếng Việt trước 1975.

     b) Giá Trị Thời Đại:

Dấu gạch nối đặc biệt giữ cho tiếng Việt được trong sáng đó là dấu nối các chữ của cùng một từ lại với nhau. Do đặc điểm của tiếng Tây là đa âm và tiếng Việt là đơn âm, dấu gạch nối trở thành công cụ biến tiếng Việt dễ được nhận diện ngang hàng với tiếng Anh hay Pháp, v.v. (Bảng 3).

 Giaothoa6

Máy dịch qua công cụ dấu gạch nối có thể nhận diện ngay “anh-hùng” là một từ duy nhất của tiếng Việt cũng như nhận diện ngay “counterrevolutionary” là một từ duy nhất khác của tiếng Anh. Nhưng nếu là “anh hùng” thì đương nhiên máy dịch sẽ trước hết xem đó là một cụm gồm hai từ riêng rẻ rồi võ đoán cho ra bao điều khiến nhiễu thông tin (Bảng 4).

Đó là chưa kể tên của người Việt đã không còn thuận lợi khi chuyển sang tiếng Anh: thí dụ đối với những yêu cầu ghi tên họ không cần ghi chữ lót, thì Hoàng-Hữu-Phước vẫn là Hoang-Huu- Phuoc trong tiếng Anh, hoặc Hoàng Hữu-Phước sẽ thành Huu-Phuoc Hoang và được gọi là Mr Huu-Phuoc; trong khi với việc loại bỏ dấu gạch nối, Hoàng Hữu Phước sẽ chỉ là Phuoc Hoang, loại bỏ hẵn chữ Hữu. Đặc biệt với tên có hơn ba chữ thì rõ ràng sẽ gặp bất lợi, chẳng hạn Trần Hoàng Việt Nam Quốc, nếu là Trần Hoàng Việt-Nam-Quốc với Trần là họ, Hoàng là từ lót, và Việt-Nam-Quốc là tên gọi (hoặc Trần-Hoàng Việt-Nam-Quốc, với Trần-Hoàng là họ, không có tên lót), thì việc chuyển sang Tiếng Anh sẽ là Viet-Nam-Quoc Hoang Tran hay Viet-Nam-Quoc Hoang-Tran, giúp lưu giữ giá trị tu từ ngữ nghĩa của tên gọi gốc mang tính tự hào gia tộc đặc thù và tâm l‎ý tình cảm thay vì biến thành giản lược tự nhiên thành Quoc Tran và loại bỏ hoàn toàn những ba từ còn lại. Ngoài ra, còn điểm tương đồng là rất nhiều tên gọi của người Âu Mỹ có sự tồn tại của dấu gạch nối như dấu tích của thế gia vọng tộc như các họ tộc Anstruther-Gough-Calthorpe, Cave-Browne-Cave, Elliot-Murray-Kynynmound, Heathcote-Drummond-Willoughby, Vane-Tempest-Stewart, hay Hepburn-Stuart-Forbes-Tresfusis, v.v . trong đó, có đến từ ba đến bốn từ kết nối lại thành Họ, và phải thêm tên cùng chữ lót – có khi lại là cụm từ có gạch nối khác – để cho ra tên đầy đủ thật dài, thí dụ như Nancy Jane Marie Heathcote-Drummond-Willoughby, nữ Nam Tước đời thứ 28 của dòng họ Heathcote-Drummond-Willoughby, hay Edward Montagu Stuart Granville Montagu-Stuart-Wortley-Mackenzie, Bá Tước Thứ Nhất Vùng Wharncliffe Vương quốc Anh thế kỷ XIX.

Do dấu gạch nối liên kết những phần của một từ chung duy nhất đã không còn được sử dụng, tiếng Việt ngày nay chỉ còn là những từ rời rạc được gom lại thành câu với chỉ riêng người Việt hiểu nghĩa, còn du học sinh nước ngoài phải gần như thuộc lòng các cụm từ thân quen, khó đạt trình độ sáng tác thơ văn tiếng Việt – trong khi nhiều người Việt sáng tác thơ văn tiếng Anh hay Pháp thật dễ dàng, còn tất cả các bộ óc điện tử trên thế giới không sao diễn dịch đúng văn bản tiếng Việt ra ngôn ngữ khác (Bảng 5 ) .

 Giaothoa8

     c) Phát Triển Tiếng Việt Toàn Cầu:

Trong khi Hoa Văn sánh vai cùng các tiếng Anh, Ả Rập, Nga, Pháp và Tây Ban Nha thành sáu ngôn ngữ chính thức được sử dụng tại Liên Hiệp Quốc, tiếng Việt vẫn khó thể có được vị trí xứng đáng hơn hiện nay, dù số lượng sinh viên nước ngoài và người nước ngoài học tiếng Việt có gia tăng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có thể biến tiếng Việt ngày càng được nhiều người học hơn, học nhanh hơn, học với sự sáng tạo và tầm sử dụng rộng hơn và chủ động hơn, để phát triển tiếng Việt trên toàn thế giới trong hệ thống khoa học, chuẩn hóa, tương thích với các công cụ thời kỹ thuật số nếu đầu tư xây dựng lại hệ thống ngữ pháp, hệ thống từ vựng, và sử dụng lại những công cụ ngôn ngữ hữu hiệu như dấu gạch nối “thuần Việt” của tiếng Việt.

5- Vai Trò Của Truyền Thông Chính Quy

Trong thời đại ngày nay, truyền thông đại chúng giữ vai trò tối quan trọng không những trong những vấn đề bình thường như truyền tải thông tin, cập nhật kiến thức, phát triển kinh doanh qua giới thiệu sản phẩm và quảng cáo, mà còn ở ảnh hưởng tác động sâu mạnh và nhanh chóng đến con người đối với văn hóa và ngôn từ. Sự dễ dãi và/hoặc tùy tiện của khâu biên tập của các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ làm xuống cấp tiếng Việt, không làm đúng “chức năng” giáo dục, tạo ra những vấn nạn quảng cáo (Phước, 2009), và không làm gì để hưởng ứng lời kêu gọi “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của chính phủ. Cần có cơ chế minh định việc sử dụng ngôn từ của các cơ quan và phương tiện truyền thông đại chúng phải phù hợp trên cơ sở lexicology, formal, và ngữ pháp chuẩn.

IV. Kết Luận:

Chủ trương đúng dắn của Nhà Nước cùng sự tập trung nghiên cứu sâu-rộng của giới học giả về giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt chỉ có thể phát huy tác dụng, mang tính hiệu quả cao qua các công cụ truyền thông – nhưng không dưới dạng những phát biểu hàn lâm, những đúc kết nghiên cứu, những giới thiệu công trình ngôn ngữ học, những chương trình phát sóng phỏng vấn các học giả, các bài báo chuyên đề ngôn ngữ, mà chính là ở ngay cách dùng từ trong từng tiết mục thông tin và quảng cáo – trên báo chí và truyền thanh/truyền hình – đặc biệt trong tất cả các chương trình “gameshow” hay các tiết mục có đông khán giả. Sự giáo dục công dân về giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt nhất thiết phải thông qua (a) những hiểu biết mới diễn giải thêm và bổ sung phong phú hóa khái niệm gốc thay vì biến Tiếng Việt thành “tử ngữ” với sự chấm dứt mọi diễn giải đa chiều về phát biểu của lãnh tụ quốc gia, (b) sự sử dụng ngôn từ của tất cả các giáo viên và tất cả các lãnh đạo ở tất cả các cấp – những người mà công việc đòi hỏi phải thường xuyên nói chuyện trước đông người – phải ở mức độ cẩn trọng cao có dựa theo tiêu chí văn phạm có thể chọn lọc từ những tương đồng trong văn phạm một thứ tiếng chuẩn khác như Tiếng Anh, và (c) những biện pháp hành chính nghiêm ngặt nhằm uốn nắn tiến đến hạn chế tối đa và triệt tiêu cụ thể các manh nha xâm hại sự phát triển lành mạnh của Tiếng Việt có định hướng rõ nét về hội nhập, theo đó người Việt nắm vững tiếng nước ngoài và người nước ngoài học Tiếng Việt thuận lợi hơn, giúp Tiếng Việt thành một sinh ngữ bài bản đối với người Việt và phần còn lại của nhân loại.

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

Bloomfield, Leonard. 1914. An Introduction to the Study of Language. London: G.Bell and Sons.

Chữ, Mai Ngọc, Vũ Đức Nghiệu, và Hoàng Trọng Phiến. 1997. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục.

Jespersen, Otto. Nd. A Modern Englsih Grammar on Historical Principles. London: George Allen and Unwin Ltd.

Jespersen, Otto. 1918. Chapters on English. London: George Allen and Unwin Ltd.

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17900

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Luận Về Sự Thăng Thiên Trong Quảng Cáo Giới Thiệu Sản Phẩm. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18305

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Nào Phải Đâu Chỉ Là Chuyện “Nóng Trong Người”: Vấn Nạn Văn Hóa Trong Quảng Cáo. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=17873

Phước, Hoàng Hữu, 2009. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18336

Phước, Hoàng Hữu. 2009. Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Ít Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18206

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Phản Biện. http://www.emotino.com/m.php?u=hoanghuuphuoc&p=18392

Quân, Mạnh. Năm Hạn Chế Trong Tăng Trưởng. Báo Sài Gòn Tiếp Thị, số 34 ngày 29-3-2010. Mục Góc Nhìn, trang 4-5.

Tâm, Trần N. và Quang Thuận. Bất Ổn Tiêu Thụ Nông Sản: Phải Xây Dựng Vùng Nguyên Liệu Tập Trung. Báo Thanh Niên, Số 85 (5207), ngày 26-3-2010, trang 6.

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tình Yêu

Các Loại Tình Yêu – Tôi Và Những Cuộc Tình

Hoàng Hữu Phước, MIB

20-01-2016

Có lần tôi viết blog rằng các bạn nên trau giồi tiếng Anh cho khá để có thể biến nguồn tư liệu của Wikipedia thành kho tàng kiến thức khổng lồ cho riêng bạn. Song, tại sao phải là tiếng Anh trong khi Wikipedia có cả phần tiếng Việt? Phải là tiếng Anh vì nếu Wikipedia cứ có mỗi 10.000 tài liệu cực kỳ dồi dào thông tin thì có ai đó là người Việt (không phải người nước ngoài giỏi tiếng Việt) tham gia “dịch” sang tiếng Việt võn vẹn 01 tài liệu chắc để nhận thù lao vài xu của Wikipedia, mà các “công trình dịch” này (a) hoặc ngắn ngủn dăm ba đoạn của nguyên tác tiếng Anh, (b) hoặc né không dám “dịch” các tài liệu hàn lâm học thuật hay khoa học, (c) hoặc gặp các tài liệu liên quan đến chính trị là lập tức “sáng tạo” toàn những ý tứ giải thích để chống lại ý thức hệ cộng sản mà ác tâm là chỉa vào Nhà nước Việt Nam cùng thể chế chính trị Việt Nam trong khi nguyên tác tiếng Anh rất công tâm thuần học thuyết hàn lâm không hề viết thế, và (d) hoặc gặp những tài liệu chung chung thì be ra, tán ra, theo hiểu biết nông cạn của cá nhân mình chứ không dịch từ nguyên bản.

Mới đây tình cờ tôi xem thử bản tiếng Việt về “tình yêu” trên Wikipedia thì hết hồn nhận thấy “nó” thuộc loại “be tán” chứ không phải là bản dịch nghiêm túc từ nguyên bản tiếng Anh về Love, khi kẻ ấy “be tán” ra nào là Tình Yêu Nước, tình yêu này nọ, thậm chí còn khủng khiếp dịch Unrequited LoveThất Tình, trong khi cái gọi là Tình Yêu Nước là Lòng Ái Quốc chứ không dính dáng gì đến Love, còn Unrequited Love có thể dẫn đến Thất Tình chứ bản thân nó không phải Thất Tình. Hơn 30 năm trước, tôi đã dạy sinh viên của tôi về các loại Love chính trong tiếng Anh, nay xin lập lại như sau – kèm với những chuyện tình có thật của tôi để minh họa – để giúp các bạn hiểu rõ hơn chứ các bạn sinh viên sẽ không bao giờ có thể học tập gì được nơi phần tiếng Việt của Wikipedia vĩ đại cả đâu, cũng như sẽ không có bất kỳ giảng viên Anh văn nào dù là người Việt hay người nước ngoài có thể giải thích tường tận và chính xác tương tự.

Các Loại Tình Yêu

Dù về phương diện ngôn ngữ thì Love của tiếng Anh thua kém các từ tương đương trong tiếng Việt, do người ta nói anh love em, anh love mẹ, anh love cà rem, anh love cà ri, v.v., còn tiếng Việt thì anh yêu em, anh thương em, anh yêu cha mẹ, anh thương cha mẹ, anh thích cà rem, anh khoái cà ri, v.v., trong đó thậm chí chữ thương lại dễ…thương hơn chữ yêu. Ở đây xin nói về tình yêu trai gái theo ý tứ chính quy từ ngàn xưa dành cho hai người khác phái chứ không vì cái gọi là “phân biệt đối xử”, và theo đúng tài liệu về Love của Wikipedia tiếng Anh.

1) Unrequited Love:

Đây là tình yêu đơn phương (tức one-sided love) khi bạn yêu một người mà không được đáp lại. Nếu sự đáp lại sở dĩ không có là do bạn yêu mà không dám tỏ nên đối tượng không biết để đáp hoặc không đáp, thì Unrequited Love sẽ được dịch thành thầm thương trộm nhớ, hoặc tình yêu thầm lặng. Nếu sự thầm lặng này làm bạn ưu sầu, khổ đau, héo úa, mà tất cả do bạn tự chuốc lấy thì có thể bạn sẽ tương tư tức lovesick. Nếu sự thầm lặng này không làm bạn héo hon vì bạn là người bản lĩnh thì xem như bạn có một mối tình đẹp thuần khiết để nhớ trong đời. Còn nếu bạn tỏ tình mà người ấy không đáp lại, khiến bạn khổ sầu héo hắt thì lúc ấy bạn có thể xem như mình thất tình tức lovelorn (chứ không phải được yêu rồi bị….”đá” mới là thất tình đâu bạn ạ, mà là “tình phụ” hay “phụ tình”, mà ngữ này thì tiếng Anh không có, vì Âu Mỹ cứ theo hợp đồng hôn nhân để “love” rồi “hết love” trong pháp luật).

2) Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Đây là từ thường được dịch thành Mối Tình Đầu, nhưng nếu bạn trên 18 tuổi mới có mối tình đầu tiên thì đó gọi là First Love chứ không phải Puppy Love, vì Puppy Love là khi bạn yêu ai lúc bạn còn ở tuổi ấu thơ hay tuổi thiếu niên hoặc vị thành niên. Puppy là “cún con” nên không dành cho loại..bẹc-giê.

3) Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Bài viết này như đã nói rõ ở trên là về tình yêu trai gái, do đó Platonic Love là tình yêu cao thượng khi cả hai không dụng mưu hoặc không để cuốn theo đòi hỏi tình dục trước ngày cưới, nghĩa là không để vấn đề tình dục xen vào như điều kiện tiên quyết nằng nặc phải có trong quan hệ gọi là “tình yêu” của hai người.

4) Compassionate Love: Tình Yêu Trắc Ẩn

Khi tình yêu được một người dành cho một người khác xuất phát từ lòng vị tha hay sự trắc ẩn, chỉ quan tâm đến việc làm điều tốt hơn cho người ấy, thì đó là compassionate love. Có thể liên tưởng đến những cuộc hôn nhân mà một trong hai người là người chịu thiệt thòi do yếu thế hoặc vì khuyết tật.

5) Conjugal Love: Tình Yêu Chung Thủy

Khi hai người yêu nhau và trở thành vợ chồng gắn bó keo sơn với nhau đến trọn đời thì đó là conjugal love, với ý nghĩa “tình yêu” là đẹp và cao trọng. Cảm xúc nhất thời, hoặc ngắn hạn, không thể được gọi là “tình yêu” tức tiền đề cho một tình yêu keo sơn gắn bó. Báo chí thường đưa tin diễn viên này chia tay người mẫu kia sau 9 năm yêu nhau mà lẽ ra họ nên viết chính xác là: sau 9 năm chung sống với nhau. Đã là tình yêu thì chỉ luôn hướng đến chuyện lâu dài mà chỉ có sự ngang trái bất ngờ ngoài ý muốn của cả hai mới khiến không thành ước nguyện song tình yêu vẫn còn trong tâm khảm nhung nhớ đến trọn đời.

6) Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Tình yêu sét đánh (tiếng Pháp gọi là coup de foudre) là tình yêu bùng phát ngay từ cái nhìn đầu tiên với người lạ mặt. Đã là sét đánh thì cực kỳ dữ dội, cực kỳ chấn động, cực kỳ dài lâu, cực kỳ lãng mạn. Đã là sét đánh thì ngoài thực tế đời sống không ai có thể sống sót, vì vậy trong “tình yêu” mà bạn cứ gặp ai cũng yêu ngay từ cái nhìn đầu nghĩa là bị sét đánh đi đánh lại vô số lần thì thứ tình cảm của bạn không thể gọi đó là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên tức tình yêu sét đánh mà cũng không thể nói đó là “tình yêu” bất kỳ mà là một kiểu lệch lạc cần sự giúp đỡ của bác sĩ phân tâm do bạn đã bị sét đánh đen thui tóc dựng đứng và bốc khói.

7) Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Star-Crossed Love do chính tôi đặt ra (bạn không thể thấy có trong tự điển bất kỳ) từ nhóm chữ Star-Crossed Lovers của William Shakespeare gọi đôi tình nhân Romeo và Juliet. Đây là loại tình yêu có thể xảy ra không ít trong xã hội Việt Nam do sự can thiệp của mẹ cha vì vấn đề tôn giáo hoặc gia thế.

Ngoài ra, còn những thứ “Love” khác xin được kể ra sau đây, không với dụng ý xem đó là những loại “tình yêu”, mà chỉ đơn giản muốn nói rằng từ “Love” đã rất yếu kém và được sử dụng quá thoải mái vô tư cho những phạm trù khó thể gọi là “tình yêu”:

1) Free Love: Tình Yêu Không Giá Thú

Đây là thứ “love” theo trào lưu Âu Mỹ, theo đó nam nữ sống với nhau không muốn có sự ràng buộc về hôn thú, không bị bó buộc bởi các quy định kế hoạch hóa gia đình, và thậm chí cả hai đều có quyền tự do ngoại tình với bất kỳ ai khác trong thời gian chung sống với nhau, kể cả theo kiểu đăng báo kiếm “đối tác” để đổi vợ đổi chồng vài ngày để thay đổi không khí.

2) Infatuated Love: Tình Yêu Cuồng Si

Cái tên cuồng si ắt cho bạn biết sự si dại, mê cuồng, đắm đuối ghê gớm của ngôn từ nên ắt bạn cũng hiểu là thứ tình yêu này khó thể là lành mạnh vì nó khống chế toàn bộ hành vi của con người, dễ dẫn đến các hành vi manh động, dữ dội, và do đó ắt chỉ có thể thấy trong miêu tả các nhân vật trong các quyển tiểu thuyết. Do “tình yêu” thì mang ý nghĩa tốt đẹp, trong khi “love” được dùng thoải mái trong tiếng Anh nên Infatuated Love tốt nhất nên chỉ dịch thành sự si mê cuồng dại một người khác phái, chứ yêu đương gì mà giống mafia như thế thì rõ ràng không thể nào là yêu mà chỉ là sự ra tay chiếm đoạt, sở hữu mà thôi.

3) Love Triangle:

Tình Tay Ba (còn gọi là Romance Triangle hay Romantic Love Triangle tức “love” lãng mạn…tam giác), mà nếu trên cơ sở Phim Hàn Quốc hàng trăm tập thì hoặc gồm hai anh yêu một cô, hoặc hai cô yêu một anh. Thật ra thì đây là cách gọi chơi cho vui vì dù cho trên thực tế có sự cố “tay ba” như vậy thì cũng chỉ có hai người yêu nhau thôi, chứ nếu một anh yêu hai cô hoặc một cô yêu hai anh thì không gọi là tình tay ba mà phải gọi là tình khùng chạy vì hai cô sẽ bỏ chạy cùng với hai anh kia cũng đang bỏ chạy.

4) Obsessive Love: Tình Chiếm Đoạt

Đây cũng là thí dụ về sự kém cỏi của từ Love trong tiếng Anh, vì Obsessive Love nói về một cảm xúc mang tính bịnh lý tâm thần, hỗn loạn nhân cách, nơi người thèm khát chiếm đoạt một người khác phái cho bằng được mà không chấp nhận bị thất bại hay bị khước từ kể cả để thỏa mãn tình dục. Do Obsessive Love tồn tại trong tiếng Anh nên cực chẳng đã được nêu lên trong bài viết này chứ bản thân tính cách ấy không thể gọi là “tình yêu”.

5) Unconditional Love: Tình Yêu Thần Tượng

Unconditional love tức Tình Yêu Vô Điều Kiện có thể được hiểu như một thứ “love” phát sinh từ lòng vị tha thương người, hoặc từ một thứ “love” tuyệt đối, mà người có thứ “love” này dâng tặng tất tần tật cho đối tượng mình xem như thần tượng mà không đòi hỏi bất kỳ điều kiện hay sự đền đáp tương xứng nào, vì xem tình yêu mình dành cho người mình yêu mới là duy nhất quan trọng với cuộc đời mình. Loại “love” này cũng không được xem như lành mạnh vì có thể có lấn cấn vấn đề tâm lý bất bình thường hoặc trẻ dại nơi người hiến tặng, trừ phi đó là tính cách cao thượng nơi những nữ tu, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì “love” cũng không phải là “love” vì không phải là “tình yêu trai gái”.

Tôi Và Những Cuộc Tình

Tất nhiên, tôi sẽ không nói gì về 5 loại tình yêu khác thường không phải tình yêu mà chỉ là Love. Trong 7 loại tình yêu bình thường thì tôi đã có những trải nghiệm tình yêu chính như kể dưới đây. Dù tôi và những người con gái ấy nay ai cũng đã trên 50 tuổi, có những trường hợp tôi sẽ không nêu tên thật do những vấn đề tế nhị khác – chứ toàn bộ sự thật tôi đều đã “khôn ngoan” kể hết cho vợ tôi từ trước ngày cưới như đã ghi trong bài blog khác.

1) Tôi và Unrequited Love:

Dù tôi luôn được nhiều nữ sinh (tôi từ lớp 1 đến lớp 10 học ở các lớp nam sinh, và lớp 11 trở lên mới học lớp nam nữ học chung) mến thương gởi thư tỏ tình trước, tôi khi vào đại học vẫn có những tình yêu thầm lặngtình yêu đơn phương do những năm đầu sau giải phóng ai cũng “thủ thế”: Thầy Cô không nói chuyện với học trò vì sợ “lỡ lời” và vì giữ an toàn chờ ngày vượt biên, còn sinh viên thì không trò chuyện với nhau cũng do sợ “lỡ lời” và cũng vì giữ an toàn cho bản thân chờ ngày vượt biển. Tôi yêu say đắm Nguyễn Thị Hồng Loan ở Khoa Pháp Văn, một cô gái đẹp xinh, trầm lặng, khỏe mạnh, quý phái, và sáng tác bài thơ tiếng Anh tựa đề Bạch Hồng Riêng Tặng Hồng Loan The Rhododendrons for Hong Loan trao tặng nàng. Song, nàng lặng thinh không trả lời, nhìn tôi với ánh nhìn buồn bã, để rồi vài tuần sau nàng biến mất. Cứ vài tháng tôi vờ dọ hỏi các sinh viên Khoa Pháp về Hồng Loan nhưng chẳng ai biết gì, và tôi chỉ mong Loan không là nạn nhân của hải tặc ngoài biển khơi. Rồi khi trong hội trường giờ học Lịch Sử Đảng, tôi nhận được nụ cười tuyệt đẹp của một búp bê tên Lệ Thủy cũng của Khoa Pháp, tôi xao xuyến ngồi sau nàng hai dãy bàn vẽ tranh nàng, cô gái xinh đẹp có mái tóc ngắn chạm vai, rồi nhờ các bạn chuyển lên để tôi lại được nàng quay lại tặng tôi thêm một nụ cười đẹp tuyệt não nùng. Vài bạn hỏi tôi sao hôm trước làm bài thơ Autumnal Dew tức Sương Thu Dành Tặng Nguyễn Thị Thu Sương ở Khoa Anh trong giờ Kinh Tế Chính Trị Mác-Lê Nin trong khi Sương tóc dài tuyệt đẹp lại không vẽ nay lại vẽ mái tóc ngắn của Thủy, thì tôi trả lời do không làm thơ tiếng Pháp được nên vẽ tranh. Và rồi Lệ Thủy lại biến mất theo làn sóng vượt biên mà không ai nhận được tin tức gì sau đó. Tôi yêu Hồng Loan vì nét đẹp quý phái nghiêm trang. Tôi yêu Lệ Thủy vì nét đẹp thanh tú quyến rũ hơn tranh vẽ của nàng nhất là nụ cười Liêu Trai đẹp hơn cả nụ cười bừng sáng của Catherine Jeta-Jones. Gọi là tình yêu đơn phương thầm thương trộm nhớ hoặc tình yêu thầm lặng của tôi vì tôi chưa từng tỏ tình bằng lời nói mà chỉ qua một bài thơ và một bức tranh gởi tặng thay lời muốn nói. Tất nhiên, sự thầm lặng này không làm tôi héo hon héo hắt héo úa, mà xem như tôi đã có hai lần cảm nhận được sự thương yêu mình dành cho hai người con gái vào hai thời điểm khác nhau thật thuần khiết để mãi nhớ trong đời.

Love (2)Autumnal Dew

2) Tôi và Puppy Love: Tình Yêu Thơ Trẻ

Do đây là từ của văn hóa Âu Mỹ, nhưng vì tôi đã trải qua, cũng xin kể lại vào năm học lớp 4 tiểu học (lúc ấy gọi là “lớp nhì”) tôi có thương cô bé Lê Thị Cẩm Hà học lớp 3. Cẩm Hà ở gần nhà tôi nên khi chúng tôi đi bộ đến trường Phan Đình Phùng (nay vẫn là trường Phan Đình Phùng ở Quận 3), tôi cứ mãi ngắm nhìn cô bé trắng mũm mĩm có đôi môi hồng dễ thương ấy. Gọi là “Love” vì khi đi học về là tôi nằm ôm chiếc gối ôm, nghĩ đến chuyện ngày sau sẽ cưới Cẩm Hà làm vợ. Khi biết chuyện tôi thương nàng (qua cái nhìn say đắm say mê của tôi), “bé” Cẩm Hà cứ gặp tôi trên đường là bẽn lẽn, gò má thêm ửng hồng, nụ cười thêm e ấp, còn những ngày không đi học thì hay đứng nép bên cửa nhìn tôi đắm đuối tương tự. Rồi vài năm sau, gia đình Cẩm Hà dọn về Miền Tây nên “đôi trẻ” không còn dịp gặp nhau mỗi ngày trên đường đi học. Vài chục năm sau, có người hàng xóm thuật cho Má tôi nghe chuyện Cẩm Hà lấy chồng và sống rất cơ cực ở miền quê. Lúc ấy – và cho đến tận bây giờ – tôi vẫn còn nhớ đến ánh mắt long lanh, đôi môi hồng, nụ cười thật đẹp và gương mặt sang trọng nghiêm nghị của cô bé Cẩm Hà của ngày xa xưa ấy.

3) Tôi và Platonic Love: Tình Yêu Cao Thượng

Tôi có thể nói rằng giáo dục gia phong và tinh thần trách nhiệm đã cho tôi sự tự hào để bảo rằng tất cả những tình yêu đã đến với tôi đều là Platonic Love.

4) Tôi và Love at First Sight: Tình Yêu Sét Đánh

Đinh Thị Mai Trâm có thể là tình yêu sét đánh (tiếng Pháp hay dùng là coup de foudre) bùng phát bùng nổ ngay từ cái nhìn đầu tiên của tôi. Là lớp trưởng lớp 9 ở trường Nguyễn Bá Tòng, mỗi khi chào cờ tại sân trường, tôi phải luôn đứng đầu hàng ngũ của lớp nam sinh của tôi. Và trong rừng nữ sinh áo dài trắng đứng đối diện, một hôm tôi chợt tình cờ nhìn thấy Mai Trâm cũng đứng đầu hàng ngũ lớp 9 nữ sinh của nàng ngay trước mặt tôi. Từ hôm đó, tôi mất ăn mất ngủ, luôn có hình ảnh Mai Trâm trong ý nghĩ, ước mơ, nhung nhớ. Nhưng tuy sét đánh làm tôi chấn động, tôi vẫn không nghĩ đến việc tỏ tình vì rất sợ các linh mục mà chúng tôi gọi là “hiệp sĩ áo đen” với cây roi mây đầy chất khủng bố bạo hành trẻ em. Rồi một hôm nọ, một bé gái ở học khu tiểu học đã chạy qua học khu nam sinh để trao tôi một phong thư màu xanh biển, vừa nói “của chị kia kêu em đưa cho anh” vừa chỉ tay về Mai Trâm đang nhìn tôi cười bẻn lẻn bên kia hàng rào kẽm gai điện tử MacNamara phân chia học khu nam sinh và học khu nữ sinh. Nàng nói rằng nàng rất mến thương tôi vì tôi là lớp trưởng gương mẫu toàn trường mà lớp của nàng cùng các lớp khác hạ quyết tâm sẽ tranh nhau làm quen cho bằng được, nhưng vì tôi nghiêm quá nên dù nàng không là lớp trưởng vẫn cố dàn xếp cho lớp trưởng mượn các tiểu thuyết của Quỳnh Dao để được nhường chỗ đứng đầu hàng mà tôi cũng cứ như linh hồn tượng đá chẳng chịu nhìn nàng trong nhiều tháng, nay nàng thấy tôi đã chịu nhìn nàng với bộ tịch ngất ngây như say rượu dáng đứng loạng choạng như đang động đất, hơi thở dập dồn, không cất tiếng hát quốc ca hào hùng dậy sấm như mọi lần khác, và không nghe cả lời của linh mục Phạm Minh Công đang xướng tên tôi xuất sắc, nên nàng yên tâm tôi có trái tim đang thổn thức để tự tin gởi thư tỏ tình cho tôi để dứt điểm ghi bàn toàn trường. Tôi hơi đoảng nên sau này mới biết hóa ra lớp tôi gọi nàng là hoa khôi và họ cũng cùng các lớp nam sinh khác quyết tâm tranh nhau làm quen với nàng cho bằng được với bao chàng công tử chạy xe Cady lạng qua lạng lại trên đường nàng đi bộ đến trường. Thảo nào vừa nhìn thấy nàng tôi đã bị sét quất trúng làm bốc khói khét lẹt, nên đến nay vẫn còn nhớ như in gương mặt tuyệt đẹp của nàng (và do vẫn đang còn giữ một bức ảnh học sinh của nàng), bàn tay thon mịn ấm áp của nàng mà tôi đã nâng niu hôn trong tối Giáng Sinh ở sân trường, và đôi môi của nàng vì nàng là người con gái đầu tiên tôi hôn trong đời mỗi khi hẹn hò tại vườn Tao Đàn ngồi trên thảm cỏ nói chuyện tương lai chồng vợ, cùng nhau đặt tên trước thật đẹp thật văn hoa cho các đứa con của ngày sau gồm 6 gái 6 trai dù chúng tôi chỉ mới học lớp 9. Nếu như tình yêu thời tiểu học của tôi với Cẩm Hà là Puppy Love thì tình yêu của tôi với Mai Trâm thời trung học cũng là Puppy Love vì chúng tôi còn ở tuổi thiếu niên của thời niên thiếu. Nàng thuộc gia đình công giáo người Bắc di cư, với Bố của nàng là bác sĩ quân y Hoa Kỳ, nhưng nàng yêu tôi là kẻ ngoại đạo, thậm chí khi tôi bịnh nàng lập tức đòi Bố kê toa mua thuốc và nhờ linh mục làm phép lên sợi dây chuyền thánh giá đem đến cho tôi. Đến khi lên lớp 11 tôi phải thôi học trường Nguyễn Bá Tòng ở Gia Định do nhà trường không mở được lớp Ban C (thiên hạ sợ chuyên khoa ngoại ngữ và triết học) để chuyển qua Tân Việt ở Quận 3, nàng vẫn mỗi trưa chạy xe Honda PC từ đường Chi Lăng đến chờ đợi tôi ngoài cổng vì sợ tôi có bạn gái mới ở Tân Việt, vậy mà tôi vẫn lâm vào tình huống của Phim truyện Hàn Quốc khi tin lời một cô bạn học chung lớp với Mai Trâm tự nhiên một hôm đến tìm tôi tỉ tê với tôi những chuyện tệ hại của Mai Trâm sau khi tôi chuyển trường – chỉ vì cô bạn tên Tuyết này là dân công giáo nên tôi tin không thể nói điêu ngoa – nên đã giận dữ cắt đứt quan hệ với Mai Trâm, cố tình chấp nhận ngay tình cảm của một nữ sinh khác ở Tân Việt tên B.K.H. Rồi tôi “dạy học” tại Tân Việt khi giải phóng đến lúc tôi đã học xong lớp 12 tú tài (do giáo viên tan rã bỏ đi mất khiến cán bộ giải phóng là Anh Ba Châu tiếp quản Quận 3 nhờ tôi giúp dạy Anh Văn cho mấy lớp đàn em để giữ trường, giữ lớp, giữ học sinh cho cách mạng), sau đó đậu vào đại học năm 1976. Có lần đang nắm tay N.T.K.K. nữ sinh Đại Học Văn Khoa tuyệt đẹp với mái tóc dài đến dưới thắt lưng học cùng lớp Anh Văn với tôi đi bộ trên đường Lê Duẩn, tôi thấy một cô gái chạy xe lên ngoáy đầu lại nhìn, thậm chí còn quay xe lại để nhìn tôi thêm một lần nữa. Đó là Mai Trâm và cũng là lần cuối tôi gặp nàng. Giá như không đang nắm tay đi cùng N.T.K.K., tôi đã chạy theo xe Mai Trâm để xin nàng tha lỗi, cho tôi được cùng nàng hoàn tất bức tranh gia đình đã phác thảo từ lớp 9. Đinh Thị Mai Trâm là người con gái tôi mãi yêu và ánh mắt u buồn của nàng trong bức ảnh tôi còn cất giữ cứ làm tôi lo lắng, mong sao cuộc đời của nàng an bình, an vui, an nhàn, không lận đận khổ đau như Lê Thị Cẩm Hà. Và giá như nàng biết tôi nhớ thương nàng biết bao.

Love (1)

5) Tôi và Star-Crossed Love: Tình Yêu Ngang Trái

Mỵ là nữ sinh đã khóc khi thấy tôi vì cứu người mà bị công an do tin lời vu cáo mà quất một báng súng vào gáy làm tôi té đập mặt xuống đất quần áo lấm lem bị giải đi giơ hai tay lên trời vào giam ở Phòng Giáo Viên, câu truyện mà tôi đã kể trong một bài blog gần đây. Xin chỉ tạm gọi nàng là Mỵ (vì trong bài thơ tiếng Việt Hiên Mi tặng nàng tôi có ví von đôi hàng mi của nàng cong dài mà tôi áp đầu vào ngực nàng để núp dưới hàng mi ấy chở che như mái hiên, và để mộng mỵ về hạnh phúc gia đình), thay vì ghi ra tên của nàng. Mỵ hôm ấy mặc áo dài trắng, đứng khóc suốt ngoài cửa sổ phòng “tạm giam”, làm tôi xúc động, sau đó làm một bài thơ tiếng Anh tặng nàng, và thậm chí viết tặng nàng cả một thi tập sau đó. Chúng tôi yêu nhau, và gia đình hai bên đều đánh giá cao chàng rể tương lai cùng cô dâu tương lai. Thế rồi toàn bộ đại gia đình của nàng được bảo lãnh xuất ngoại nhờ có một người chị ở nước ngoài làm vợ một quan chức ngoại giao Phương Tây khiến thủ tục giấy tờ can thiệp với Chính phủ Việt Nam được ưu tiên giải quyết nhanh cấp kỳ. Vì tôi không chịu nghe theo lời gia đình nàng làm hôn thú để nàng sẽ bảo lãnh tôi “qua bển” nên chúng tôi phải chia tay, và nơi Sân bay Tân Sơn Nhất đông nghẹt người tôi và nàng hôn nhau quấn quýt không rời, nước mắt ràn rụa, mặc cho cha nàng và các anh chị thúc giục nàng vào phòng cách ly. Nhiều lần tôi nhận được giấy báo của bưu điện và tôi ra đúng theo lịch hẹn, để chờ đến phiên kết nối được đường truyền để vào ô nói chuyện điện thoại với Mỵ do Mỵ đăng ký từ nước ấy. Để rồi khi tôi trở ra quầy để ký xác nhận thời gian điện đàm bao nhiêu chục phút để bưu điện thành phố tính tiền “bên bển”, cô thu ngân hỏi “anh có sao không vì em thấy anh với chị chỉ khóc mà không nói gì cả”, lúc ấy tôi mới biết là ở trong ô kính kín đáo ấy mình nói gì bưu điện cũng nghe hết! Cô gái tên Mỵ ấy đã làm việc rất tốt ở hải ngoại, ắt do đã có thời gian làm học trò của tôi vì Mỵ thuộc Khoa Nga Văn, nên khi đã yêu nhau, mỗi tối khi đã dạy xong ở các trung tâm lúc 21 giờ, tôi đến dạy kèm Mỵ tiếng Anh và dạy xong đến 23 giờ là chúng tôi ngồi hôn nhau suốt cả nửa tiếng đồng hồ, không nói lời nào vì đã nói quá nhiều tiếng Anh trong hai tiếng đồng hồ, tôi mới đạp xe về chong đèn soạn bài cho cả ngày mai dạy tiếp, khiến đấy là điều tôi nhớ nhất về Mỵ yêu quý và trong trắng ngây thơ của tôi trong cuộc tình ngang trái.

Love

Hien Mi

Trước đây trên blog Emotino tôi có đăng bài “Chuyện Tình Tự Kể” viết về lúc tôi học lớp 12 ở Tân Việt trước 1975 có thương một nữ sinh tên N.T.H. Ngày nọ, cùng đạp xe song song với nàng đến thăm nhà nàng ở con đường sau này gọi là Cách Mạng Tháng 8, tôi thấy có treo hình đen trắng thật to anh của nàng là một sĩ quan cao cấp (vì có cầm gậy chỉ huy) chụp chung với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đồng thời tôi thấy một phụ nữ gầy gò mặc áo nâu sồng ẩn sau rèm cửa đứng nhìn tôi. Nàng cho biết đó là Mẹ của nàng. Mẹ xuống tóc đi tu sau khi đi thăm Cha của nàng ở tiền đồn về, do kinh hoàng thấy Cha của nàng hễ hành quân bắt được Việt Cộng nào là lôi về cho mổ bụng rồi đem vất ruột gan lên nóc trại khiến cả trại bốc mùi hôi thối nồng nặc. Mẹ nàng sợ “con gái hưởng đức cha” mà cha ở ác quá nên bà đi tu để nguyện xin bớt tội cho chồng và cầu xin chút đức cho đứa con gái út ngoan hiền xinh như thiên thần của bà. Nghe xong, tôi vì kinh sợ đã từ bỏ ý định tiến xa hơn với người con gái ấy. Ắt nàng không hiểu vì sao sự không gian dối của nàng lại khiến nàng phải gánh chịu thiệt thòi từ tôi như vậy. Tôi thì không xem đó là cuộc tình ngang trái vì tôi định hôm ấy đến nhà nàng sẽ nói nàng biết tôi yêu thương nàng đến dường nào sau một thời gian im lặng dành cho nàng những chăm sóc ân cần; mà do đã chưa thốt ra, chưa thể gọi đó là tình yêu để mà ngang trái. Tôi đã viết lời kết rằng tôi không mong nàng đọc được bài viết ấy của tôi vì tôi cứ bị ám ảnh bởi niềm tin rằng nàng ắt đã theo mẹ bình lặng quy y nơi cửa Phật vì tội ác của người cha.

 IM000125.JPG

Trên đây là những “tình yêu” chính mà tôi chọn lựa cho tương hợp với các tên gọi các loại “love” chủ yếu của tiếng Anh. Tất cả những nhân vật trên đều được vợ tôi hoặc đã nghe kể về hoặc chính vợ tôi làm nhân chứng do đã học chung với tôi ở đại học và dạy chung với tôi sau khi tốt nghiệp, thậm chí có khi còn chọc ghẹo tôi mỗi khi có những cô gái ấy chờ đợi tôi ở cổng trường hoặc khi thấy tôi đạp xe song song với “người ta” được “người ta” nhí nhảnh chồm qua đút ăn ô mai ngoài đường ngoài sá. Song, khi nói về vợ tôi, tôi muốn nêu sự khác biệt giữa “love” và “tình yêu” vì “love” thuần túy mô tả thực tế thực dụng, trong khi “tình yêu” nhiều khi đượm tính nghĩa tình nghĩa ơn sâu đậm, do đó “tình yêu” của tôi dành cho vợ tôi khó được diễn tả tương hợp với bất kỳ loại “love” nào đã kể ở trên theo tinh thần ngôn ngữ Anh và thực tế đời sống Anh Mỹ. Vợ tôi đã chứng kiến những năm dài “đoan chính” của tôi tại Đại Học Văn Khoa, từng là “cánh chim đưa thư” của tôi gởi tặng những bài thơ tiếng Anh cho bạn học chung lớp của nàng và những bạn học của nàng tại các khoa khác, sau đó thậm chí chứng kiến những cuộc tình của tôi với các nữ sinh của lớp tôi chủ nhiệm, của lớp nàng chủ nhiệm và của lớp thuộc giáo viên chủ nhiệm khác. Đó là khía cạnh “luôn luôn thấu hiểu” nơi nàng. Còn khi nàng đơn độc “hoa lạc giữa rừng gươm” đấu tranh chống lại cường quyền để bảo vệ tôi khi tôi bị xử bức, bị đình chỉ công tác phải đi quét rác tại Khoa Ngoại Ngữ, bị bôi nhọ, bị vu khống, để rồi chính nàng bị vạ lây, bị tước hết các danh hiệu “thi đua” hay “dạy giỏi”, bị tước bỏ khỏi danh sách cùng tôi du học thạc sĩ Anh văn ở Úc, nhưng vẫn điềm nhiên cười khẩy rồi mỗi khi trên đường dạy thêm vì kế sinh nhai vẫn đến thăm tôi, động viên với câu nói giản đơn giản dị mang chiều hướng tâm linh rằng “ở hiền như anh sẽ gặp lành”, rằng “Trời Phật biết hết về anh mà, lo gì”, rằng “em cũng bị xử bức như anh, có sao đâu”, rằng vân vân và vân vân. Và khi nàng và tôi nên nghĩa vợ chồng với sự thương phục ủng hộ giúp đỡ thật cao nơi cha và mẹ của nàng (trừ câu nói nhẹ nhàng của mẹ nàng rằng mẹ rất lo lắng vì “nó cứng đầu không chịu luồn cúi ai thì khó ngóc đầu lên lắm con ơi”) thì tôi vẫn chưa thấy tiếng Anh có loại “love” nào thích hợp mang cả nội hàm bao trọn ý của nghĩa tình, nghĩa ơn của tôi đối với nghĩa cử nghĩa vụ nghĩa khí cùng sự hiểu biết, hiểu thấu, phục nết phục tài và sẵn sàng…phục vụ của nàng. Khi nào sáng tạo ra từ ngữ “love” thích hợp, tôi sẽ phổ biến tiếp trên blog này.

Tôi tin rằng các bạn sinh viên từ nay có thể gọi tên những cuộc tình của mình thật đúng khi viết hồi ký những ngày xưa năm cũ đầy ắp những yêu thương nồng cháy của đời mình.

Thương chúc các bạn có những tình yêu thật đẹp, thật bền vững, hữu thủy hữu chung đúng nghĩa keo sơn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo;

Hoàng Hữu Phước. 09-12-2015. Đám Cưới

Hoàng Hữu Phước. 18-12-2015. Tôi Dạy Vợ

Hoàng Hữu Phước. 09-10-2014. Bài Thơ Về Đinh Thị Mai Trâm: Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng. https://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/09/tho-cung-ban-huu-tren-khong-gian-mang/

Chính Trị

Hoàng Hữu Phước, MIB

14-01-2016

Ở Việt Nam luôn có sự khó khăn đối với ý nghĩa từ vựng của các từ ngữ hàn lâm do có khoảng cách quá lớn giữa từ đề xuất tiếng Việt cho từ gốc tiếng nước ngoài – mà ở đây xin nói quy về tiếng Anh để tránh sự miên man tản mạn qua các ngôn ngữ khác – với bản thân ý nghĩa thực sự của từ tiếng nước ngoài ấy. Một vài thí dụ như Democracy có nghĩa chính là về một thể chế theo đó người dân có quyền bỏ phiếu của mình để bầu các nhà lãnh đạo đất nước, trong khi từ dịch thuật thành Dân Chủ ở tiếng Việt lại dễ khiến tập trung vào nghĩa người dân làm chủ; còn FreedomLiberty có sự phân biệt rõ ràng khi Freedom là nguyên tắc hình thành nước Hoa Kỳ với ý nghĩa không có vua chúa và giới quý tộc còn Liberty mang luôn ý nghĩa người dân có quyền tối thượng sở hữu mọi thứ của cải trong đó có nô lệ mà đến năm 1866 người da màu mới có Freedom còn phụ nữ Mỹ phải đợi đến thế kỷ XX vào năm 1920 mới được quyền này, khiến Liberty mang nghĩa Freedom được giới hạn bởi các quyền luật định mà do đó không ai được lạm dụng, trong khi từ dịch thuật thành Tự Do ở tiếng Việt cho cả hai từ FreedomLiberty lại không tài nào nêu bật được ý nghĩa tinh tế này và do đó lại chỉ đơn thuần là từ nhập nhằng luôn bị lạm dụng để mang ý nghĩa chõi lại với cộng sản mà họ gán ghép ý nghĩa “độc tài” vốn sai bét, chẳng dính dáng gì đến FreedomLiberty nhất là chẳng ai rõ cái Freedom Liberty của nhóm chống cộng có kèm quyền tự do chiếm hữu nô lệ và tự do chà đạp nữ quyền hay không.

Tương tự, có sự khác biệt giữa PoliticsChính Trị mà đa số người Việt chưa thông hiểu. Vì vậy, mỗi khi có ai đó phỏng vấn tôi mà câu hỏi có liên quan đến phạm trù hàn lâm ngữ nghĩa thì tôi luôn tùy vào đối tượng đặt câu hỏi để có câu trả lời thích hợp. Chẳng hạn khi tôi tự ra ứng cử năm 2011 ngoài những người đã gởi tôi tin nhắn động viên như:

Kính chào Ông. Tôi đã đọc rất nhiều bài viết của Ông trên trang Emotino, blog và từ đó tôi bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chính trị. Những bài viết của Ông rất hay, ý nghĩa và luận bàn sâu sắc về những vấn đề của đất nước. Tôi muốn gửi tới Ông sự kính trọng về tài, đức, tâm của Ông. Chúc Ông và gia đình Ông sức khỏe để Ông và những người như Ông sẽ là luồng sinh khí mới cho đất nước cùng Ông Vương Đình Huệ và Trương Tấn Sang. Trân trọng.

 Chnh Tri

thì cũng có người nêu câu hỏi:

Chào Ông anh! Ông anh có thể cho biết vì sao Ông anh quan tâm đến chính trị và muốn làm chính trị từ bao giờ không?

và tôi đã trả lời bằng email như sau (có post trên Emotino ngày 17-10-2011)

****

Kính chào Ông Anh/Bà Chị.

Chính trị là điều mọi người đang sống với tư cách đầy đủ một công dân thực thụ đều quan tâm, có ý thức hay từ trong vô thức. Đây là một sự thật mà nhiều bạn không biết đó thôi. Thường thấy ở nước mình có nhiều người tụ năm tụ ba trà dư tửu hậu nói đủ thứ trên đời về các yếu kém của “mấy ông” Nhà nước, “mấy ông” Chính phủ, nhưng khi có ai nói chỏi lại, khen “mấy ông” Cộng sản Việt Nam là hầu như ai cũng phát âm cùng một câu có ngữ nghĩa “thôi tui không thích nghe chính trị.” Như vậy với một bộ phận người dư thời gian, chính trị chỉ có một nghĩa duy nhất là nói cái gì đó, phân tích cái gì đó, tổng hợp cái gì đó từ các nguồn tin không “thân Cộng”. Và bạn thấy đấy: họ quan tâm đến chính trị đó chứ, dù có mở miệng nói không thích chính trị.

Tôi cho rằng khi bạn là một công dân thực thụ của một nước, bạn đương nhiên quan tâm đến chính trị. Công dân thực thụ là người có lao động – tất nhiên khi điều kiện sức khỏe và tuổi tác cho phép – đóng góp xây dựng đất nước, vì có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, cộng đồng, nên luôn biết phần đóng thuế thu nhập của mình ra sao, theo các điều luật nào, cũng như thực hiện quyền bầu cử lựa chọn nghị sĩ, theo dõi giá xăng dầu, tăng trưởng kinh tế hay giảm phát, tình hình đối ngoại của nước nhà, v.v., ra sao, mà tất cả đều liên quan đến thể chế và sự sinh tồn chính trị của quốc gia. Công dân không thực thụ là người tuy có quốc tịch, có chứng minh nhân dân, không quan tâm đến việc làm hay làm việc vì có nguồn cung cấp sự sống từ sự lao động của người thân, có rất nhiều thời gian đóng góp những lời rỉ tai dè bỉu chê bai hay tung tin đồn nhảm, và họ tất nhiên quan tâm đến chính trị một cách cực kỳ khủng khiếp. Như vậy ai cũng quan tâm đến chính trị, và tôi không thể là một ngoại lệ. Tôi quan tâm đến chính trị từ nhỏ, vì tôi…lớn trước tuổi, và vì tôi bị chinh phục bởi câu nói của một tổng thống Mỹ rằng bạn đừng hỏi tổ quốc đã cho bạn những gì mà hãy tự hỏi bạn đã làm được những gì cho tổ quốc. Đó là chưa kể tôi quan tâm đến chính trị từ nhỏ vì…thời Việt Nam Cộng Hòa tự nhiên ra rả mỗi ngày tuyên truyền chiến tranh chính trị hay tâm lý chiến về Cộng sản Bắc Việt xấu xa, về đặc công Việt Cộng tàn ác, về đồng minh Hoa Kỳ hùng mạnh, về Sư đoàn Mãnh Hổ Hàn Quốc tinh nhuệ, về chiến công của đoàn oanh tạc cơ Skyraider đánh sập tất cả các cầu ở sông ngòi Miền Bắc và bắn hạ tất cả các chiến đấu cơ MIG của Cộng sản Bắc Việt mà không bị tổn hại bất kỳ trừ Phạm Phú Quốc người được Pham Duy tung hê trong bài ca mang tên “Huyền sử ca một người mang tên Quốc” mà sau này mới rõ sở dĩ không có Skyraider nào bị bắn hạ mà chỉ có máy bay Mỹ rơi như sung rụng là vì Skyraider của Việt Nam Cộng Hòa mới bay qua khỏi vĩ tuyến 17 là trút hết bom xuống đồng trống rồi quay trở lại ngay vì sợ cao xạ Hà Nội còn phi công Quốc thì không ai dám nêu chi tiết vì sao thành…huyền sử ca và “bị” ở ngoài Bắc hay lúc vẫn còn trên bầu trời trong Nam, về “đại thắng” Đường 9 Nam Lào vẻ vang rút về một cách vội vã đầy nghi vấn, về Sư Đoàn Dù anh dũng bận rộn đi giải cứu hết tiền đồn này đến tiền đồn nọ đang thi nhau rơi vào tay Cộng quân, về truyền đơn Việt Cộng bay hơn lá mùa thu, về vụ bắt sinh viên phản chiến Huỳnh Tấn Mẫm về Tổng Nha Cảnh Sát đánh cho bể hàm gảy hết răng cửa, về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ở Cục R, về việc Ủy Ban Ngân Sách Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua khoản viện trợ dồi dào cho Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, về thương vong lớn của Cộng quân mỗi ngày có đến vài chục ngàn người bị quân đội Cộng Hòa loại khỏi vòng chiến khiến người nghe tưởng chỉ cần một năm là Bắc Việt hết sạch 7 triệu quân, về chiến công đánh bắt tàu Việt Cộng chở vũ khí ở Vũng Rô rồi ắt do gom hết vũ khí thu được trên chiến trường khắp nước về chụp hình khoe chiến công nên bị phóng viên Mỹ đặt câu hỏi ngắc ngứ đầy khủng khiếp rằng chỉ có một tàu nhỏ xíu như thế mà chở ngần ấy vũ khí vậy thì hàng ngàn chiếc khác đi trót lọt ắt đã đưa vào Miền Nam đủ cho mỗi người tối thiểu một khẩu trung liên, về nhà thầu Mỹ RMK xây dựng cơ sở hạ tầng hạ đất sập tầng bị chộ là Rên Mặc Kệ, về Sài Gòn Thủy Cục CEE chuyên cấp nước tịt vòi nhỏ tỏn tỏn nên bị chộ thành Sở Chảy Êm Êm, về việc vừa mới có tin sắp tăng lương là giá thị trường tăng trước gấp ba lần, về việc Linh Mục Thanh chống chính phủ Thiệu-Kỳ tham nhũng, về việc hai nhà báo Pháp bj cảnh sát đánh bể mặt vì dám treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trên bức tượng Biệt Động Quân quay mông về Hạ Nghị Viện, về việc Đệ nhất Phu nhân Nguyễn Văn Thiệu chủ trì khai mạc Đại Nhạc Hội Trẻ ở Sở Thú nên ma cô đỉ điếm chen vô bán dâm như thú nằm làm tình tại chỗ lềnh khênh trên cỏ ngoài trời nắng sáng trưng giữa tiếng vỗ tay reo hò của “giới trẻ yêu nhạc” và tiếng thét gào ầm ỉ của ban nhạc Chó Dại “The Mad Dogs”, về việc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tin thầy bói nên bắt con gái ruột phải hy sinh đi mổ bụng lôi thai nhi là cháu nội của Tổng giám đốc Air Vietnam Nguyễn Tấn Trung ra dù mới mang bầu có năm hay sáu tháng để xả xui hầu không bị… Việt Cộng đánh bại, v.v., khiến ý đồ “chính trị” bị nhét nằm trong nội dung thông tin thượng vàng hạ cám tự nhiên được cung cấp cho mọi người ở mọi lứa tuổi thuộc mọi giới tính và ở mọi tôn giáo, để ai cũng tự nhiên biết tình hình chính trị nước nhà một cách tự nhiên, rồi thành nhà chính trị…bẩm sinh.

Về vấn đề “muốn làm chính trị”, tôi e là ý nghĩ của riêng tôi lại khác khi nhiều người phỏng vấn tôi hỏi tôi nghĩ gì khi nay đã là một chính khách. Tôi không nghĩ đến việc “làm chính trị”. Tôi chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước. Tôi không là chính khách. Tôi chỉ là một đại biểu dân cử. Người lính vào quân đội để phục vụ tổ quốc suốt đời vì một lý tưởng chính trị. Người đầy bản lĩnh và có trình độ cực cao vào ngành giáo dục để phục vụ tổ quốc suốt đời vì một lý tưởng chính trị. Người đáp ứng yêu cầu luật định, có thể thu xếp thời gian, và đặc biệt là được cử tri lựa chọn để vào Quốc hội làm “nghị sĩ” thực hiện các phần việc theo những chức năng luật định cũng để phục vụ tổ quốc suốt nhiệm kỳ vì một lý tưởng chính trị. Đơn giản là thế chứ tôi không cho là tôi đang “làm chính trị”. Thế nên tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi của bạn theo cách rất thật lòng của tôi như thế. Đơn giản tôi là một công dân thực thụ của Việt Nam, đang cố gắng để mình đừng thua kém quá xa những người lính cùng bao người dân khác đang thầm lặng hy sinh cho đất nước này.

Ngoài ra, bạn cũng rõ là tôi ở ngưỡng cửa “hưu trí” và ở ngoài Đảng nên rõ ràng việc tôi ra ứng cử vào thời điểm này không phải để tôi làm một bộ trưởng hay thứ trưởng để có thể gọi là “theo đuổi một tham vọng chính trị” hay “làm chính trị” gì cả. Chưa kể tôi chỉ định ra ứng cử một lần này vì tôi nhận định Khóa Quốc Hội này sẽ có nhiều việc hệ trọng mà tôi có thể góp sức hóa giải. Tất cả để chứng tỏ tôi hoàn toàn minh bạch, trong sáng, để người dân biết rõ về cái tâm phục vụ đất nước và dân tộc của tôi, cũng như để những kẻ thù của chế độ không thể bôi nhọ được cái tâm ấy của tôi.

Trân trọng.

****

Câu trả lời tôi rất muốn nói đầy đủ nhất lại chưa hề được nêu lên do ý tứ hàn lâm của ngôn từ Politics trong tiếng Anh và Chính Trị của tiếng Việt lại như sau:

PoliticsChính Trị giống nhau ở chỗ cả hai luôn tồn tại trong đời sống mỗi một con người, song ý nghĩ của người Việt không đầy đủ bằng.

Người Việt ắt biết câu “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nhưng ắt chỉ có thể giải thích nôm na rằng “đấng nam nhi” nhất thiết phải theo tuần tự bốn bước gồm đại khái rằng trước hết phải làm sao cho bản thân có đạo đức tốt đẹp, kế đến phải xây dựng gia đình mình sao cho có đạo đức tốt đẹp, để rồi trên cơ sở đó mà ra giúp vua trị quốc, nhờ vậy mà khiến thiên hạ thái bình, với hàm ý bước thứ ba và thứ tư là “làm chính trị”, thậm chí có người còn cho là chính ta đây phải làm “tổng thống” tức làm vua chúa để trị quốcbình thiên hạ, khiến hủy phá hoàn toàn ý nghĩa của Freedom, Liberty Democracy vì mấy thứ này tối kỵ “thiên tử”. Thật ra, theo ý nghĩa của Politics thì tu thân là chính trị, tề gia là chính trị, trị quốc là chính trị, và bình thiên hạ là chính trị, chưa kể Politics hiện hữu nơi mọi người ở mọi nơi chứ không phải chỉ ở đấng nam nhi và ở chốn “triều đình”. Politics mang nghĩa chính là thuật gây ảnh hưởng hay tác động đến số đông, đến tập thể, đến cộng đồng.

Tu thân trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – đạo đức con người, kiến thức, học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng quản trị “mềm”, v.v., tất cả là Politics để gây tác động đến giới chủ nhân trên bước đường tìm việc cho một kế sinh nhai và phát triển bản thân trong hay từ công việc đó.

Tề gia trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – xây dựng được nếp sống văn hóa mới trong gia đình, duy trì và phát triển những nền tảng đạo đức gia phong trong sự hiếu thuận, hòa thuận, truyền thống tốt đẹp của gia đình mà trong đó mọi thành viên đều đạt tất cả các nội dung trên của tu thân, từ đó gây ảnh hưởng hay tác động đến khu phố, cộng đồng dân cư, để hình thành sự tốt đẹp chung ngoài xã hội. Đó chính là Politics.

Trị quốc trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – việc làm cán bộ, công chức, v.v., để làm “đầy tớ của nhân dân”, phục vụ người dân, trên cơ sở của sự tu thân tức đã có đủ đức tài, và trên cở sở của tề gia tức không bao giờ trở thành tội phạm ghê tởm của tham nhũng, hối lộ, từ đó gây ảnh hưởng hay tác động đến lòng tin của nhân dân vào Chính Phủ, vào Nhà Nước, từ đó tin vào Đảng, hình thành sự tốt đẹp chung trên bình diện quốc thể, quốc gia. Đó chính là Politics.

Bình thiên hạ trong thời hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – việc làm cho đất nước hùng mạnh hùng cường dù ở cương vị công chức, quản lý doanh nghiệp, hay bất kỳ công việc nào khác trên cơ sở của các nội dung tu thân, tề giatrị quốc ở trên, để đất nước bước vào các trận địa chiến lược đa phương khu vực hay thế giới như Cộng Đồng ASEAN, WTO, hay TPP, v.v., với tư thế được kính trọng, từ đó giúp sự an ninh chính trị của đất nước được bảo vệ tốt hơn, duy trì dài lâu nền hòa bình thịnh trị của nước nhà để toàn khu vực tránh được các hiểm họa chiến tranh. Đó chính là Politics. Bình thiên hạ không phải là công việc của Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tóm lại, khái niệm tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ khi áp dụng cho bản thân từng người trong xã hội làm tốt nhất bổn phận của mình hầu đem lại các tác động và ảnh hưởng tích cực cho bản thân, cho gia đình, cho cơ quan nơi làm việc, cho cộng đồng chung thì chính là Informal Politics tức một thứ everyday politics gắn với cuộc sống hàng ngày mọi lúc mọi nơi với mọi người.

Còn khi lệch lạc với tư tưởng tàn dư thiên tử của Trung Quốc, xem trị quốcbình thiên hạ là việc riêng chỉ của các đấng quân vương thì thiên hạ ắt muốn nói đến những thứ khác của Politics như State Politics tức Formal Politics tức là thứ Chính Trị của các “chính khách” lãnh đạo quốc gia của một “Đảng Chính Trị” nào đó. Chưa kể tổ chức này tổ chức nọ cũng là một thứ Global Politics Chính Trị Toàn Cầu như Liên Hợp Quốc hoặc NATO (vì dù NATO là Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương nhưng cũng kết nạp Thổ Nhĩ Kỳ làn thành viên chính thức dù nước này không có dính với biển Đại Tây Dương, thậm chí nhận luôn nhiều nước xa lắc xa lơ như Thái Lan vào làm thành viên không chính thức).

Thế là dù có nhận ra hay không thì bất kỳ ai, từ cháu học sinh học “tư tưởng chính trị” ở trường, bà nội trợ quan tâm đến giá cả vàng bạc đô la thịt cá xăng dầu điện nước phí giao thông đường bộ, kẻ rỗi việc chuyên tìm đọc tin giật gân bôi nhọ lãnh đạo Đảng, người chê bai nước nhà vẫn thua kém Nhật Hàn, vị luật sư tâm thần đòi làm Bộ Trưởng Bô Thông Tin & Truyền Thông, đứa thậm thà thậm thụt hoặc qua Thái Lan họp để cho ra Tia Sét (Chấn) hoặc in các sứ điệp vì nước vì dân để gởi spam tức thư rác đến những người không xin nhận, kể cả người tuyên bố không muốn nghe chuyện chính trị, v.v., cũng đều quan tâm đến chính trị và … làm chính trị.

Thế nên, nếu bạn là người biết ngoại ngữ, tôi sẽ trả lời rằng tôi quan tâm đến việc làm chính trị từ lúc ấu thơ, vì mọi người ai mà không như thế. Còn nếu bạn là người khác, tôi sẽ nói rằng tôi có làm chính trị đâu, vì tôi đâu phải trưởng bộ, trưởng vụ, trưởng cục gì đâu?

Từ Chính Trị của tiếng Việt, do đó không đủ sức truyền tải được nội hàm sâu sắc và phong phú bao trùm của Politics.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 24-3-2014. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Vấn Nạn Yếu Kém Tiếng Anh Ở Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-01-2016

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua từ ngày giải phóng 30-4-1975, thế mà thiên hạ vẫn cứ nói về trình độ yếu kém tiếng Anh của lực lượng lao động Việt Nam dù đã bao phen cải cách giáo dục. Như tôi đã khẳng định với sinh viên của tôi cách nay hơn 30 năm rằng cách dạy và học ở Việt Nam hoàn toàn sai do không biết đâu là ưu thế sẵn có của người Việt nên sẽ mãi mãi không thể nào có chuyện người Việt Nam sẽ giỏi tiếng Anh, và rằng các sinh viên của tôi muốn giỏi tiếng Anh – kể cả muốn giỏi tiếng Anh hơn tôi – hãy áp dụng phương pháp của tôi. Bảy chứng bịnh trầm kha ở Việt Nam rất rõ nét như sau:

1) Rập khuôn bài bản nước ngoài chú trọng đến khâu nói, trong khi không hiểu gì về các cái khuôn ấy, nên dù có thay đổi tăng cường xoành xoạch, lớp có trang bị wifi, máy vi tính, overhead projector, micro, phục vụ việc dạy và học tiếng Anh thì chẳng học sinh nào “giỏi” được tiếng Anh.

2) Sử dụng sai người theo cách từ chương: giao một người phụ trách ban khảo thí tiếng Anh ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ vì đó là một nữ tiến sĩ dạy đại học để rồi đề thi Tú Tài môn tiếng Anh mà các câu hỏi lại phải ghi bằng tiếng Việt ở các tiêu đề (thí dụ: “hãy điền vào chỗ trống một trong các từ cho sẵn ở a, b, c, và d”; hoặc “hãy dịch đoạn sau đây ra tiếng Anh”) còn Báo Tuổi Trẻ thịnh trọng đăng bài của nữ tiến sĩ ấy dạy cách học giỏi tiếng Anh bằng cách hãy vào trang web nọ để kiểm tra từ vựng.

3) Dạy tiếng Anh mà khư khư tự ái dân tộc nên sách tiếng Anh phải do người Việt của cách mạng soạn nên giáo trình thuộc cấp thấp, không như thời Việt Nam Cộng Hòa sử dụng bộ English for Today của Nhà xuất bản McGraw Hills của Hoa Kỳ rất đạt yêu cầu dạy và học.

4) Dạy tiếng Anh ở trung học mà cứ khư khư phải nhét cho bằng được tinh hoa Việt Nam nên nay thì soạn sách giáo khoa tiếng Anh có mời một người nước ngoài tham gia biên soạn chung với bốn người Việt Nam, in ấn màu sắc công phu, nhưng khi học trò tôi đưa tôi xem qua sách tiếng Anh cải cách ấy mà các em đang phải dạy thì tôi nói ngay với các em là sách chỉ đáng ở trong sọt rác do có bài “Phở”. Tôi bảo các em rằng đó là sự ngu xuẩn của người soạn vì (a) “phở” không là cái thá gì của tiếng Anh để viết về nó, và (b) thầy giáo cô giáo bị đặt vào vị thế nguy hiểm khi dạy do sẽ lúng túng cà lăm nếu học sinh cắc cớ yêu cầu thầy cô nói và viết bài luận mẫu về bánh xèo, bánh cóng, bánh cuốn, bánh canh cua, bún bò Huế, bò nướng lá lốt, v.v.

5) Phí tiền của để tạo các chương trình “dạy tiếng Anh” trên tivi VTV Hà Nội do một thạc sĩ (MA) tên Hùng học ở Anh Quốc về phụ trách, nhưng ông Hùng MA này luôn luôn ngồi thừ ra trước máy thu hình, giọng nói buồn ngủ, tiến hành dạy ca mấy bài hát tiếng Anh cho bốn nữ sinh mà bốn cô bé này cũng ngồi thừ như mông bị ngấm keo vạn năng hiệu Con Voi dính khắng vào mặt ghế – nghĩa là không thấy cái sinh động hoạt bát hoạt náo của cả “thầy” và “trò”.

6) Toàn bộ các chức sắc phụ trách môn học tiếng Anh trung học ở Việt Nam đều sai bét do không hiểu được tầm quan trọng của viết tiếng Anh và văn phạm tiếng Anh trong tương hỗ tương tác với nói tiếng Anh.

7) Các trường đại học ở Việt Nam đã dùng sai người trong đội ngũ giảng huấn tiếng Anh, khiến sinh viên tốt nghiệp ngay cả của chuyên khoa tiếng Anh cũng không thể đạt yêu cầu về Tiếng Anh. Một nhân viên của tôi ở CIMMCO International thuộc lớp đàn em của tôi ở Khoa Anh Văn Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh sang định cư ở Mỹ, lấy bằng thạc sĩ toán học, dạy học ở nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ (chủ yếu ở Texas và California), sang dạy cả ở Canada, sau 20 năm ở hải ngoại nay mới hồi hương trở về định cư ở Việt Nam, có về thăm trường xưa (nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn), và đã nổi giận đùng đùng xin gặp lãnh đạo trường để chất vấn vì sao toàn bộ lãnh đạo Khoa Anh lại là thạc sĩ / tiến sĩ ngành “giảng dạy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai” ở Philippines vì như thế thì số người này cách chi có trình độ để dạy văn chương Anh, văn chương Mỹ, v.v., là các môn cao cấp của ngôn ngữ Anh. Tất nhiên, không lãnh đạo nào ưa thích các câu hỏi đó do không có câu trả lời, và em Việt Kiều Mỹ này đến thăm tôi để nói lên bức xúc của em, tức giận của em trước sự xuống cấp của trình độ dạy và học ở đại học từng lừng danh ấy mà em tự hào là lớp đàn em xứng đáng của tôi, đồng thời trách tôi sao làm nghị sĩ mà thờ ơ để cho cớ sự đó xảy ra cho tiền đồ tiếng Anh của Việt Nam. Thấy em có cái trực tính của nhà chuyên nghiệp Âu Mỹ, tôi phải giải thích với em rõ (a) tôi đâu có quyền hạn gì đối với ngành giáo dục, (b) tôi ngoài Đảng nên có đóng góp ý kiến cũng chẳng quan chức nào của ngành quan tâm, và (c) chẳng đại học nào dại dột mời tôi đến giúp do các giáo sư Anh Văn ở đấy không muốn vừa bị tôi vạch mặt chỉ tên là dạy sai dạy dỏm dạy tầm bậy tầm bạ vừa bị tôi thu hút hết sinh viên của họ, thậm chí cái trường Cao Đẳng Sư Phạm nay là Đại Học Sài Gòn cũng bỏ luôn vài môn sau khi làm tôi phải thôi việc do không ai dạy nổi nên sinh viên đâu được học các phân môn đặc thù ấy để có đẳng cấp tiếng Anh như kỳ vọng của các nhà tuyển dụng và của xã hội.

Tôi từng định viết trên Emotino một loạt 7 bài theo yêu cầu của một số giáo viên Anh Văn ở Hà Nội (ưa thích các bài viết tiếng Anh của tôi trên Aspiration và Emotino) và Thành phố Hồ Chí Minh (học trò cũ của tôi), gồm các tựa đề soạn sẵn như:

– Bài 1: Chuẩn bị hành quân: Ngoảnh nhìn chân lý, Vất bỏ hoang đường

– Bài 2: Chuẩn bị hành quân: She Don’t và You Is

– Bài 3: Vào trận: Quy trình duy nhất đúng để học giỏi một ngoại ngữ

– Bài 4: Vào trận: Tiếng Anh Formal

– Bài 5: Vào trận: Nói giỏi tiếng Anh

– Bài 6: Cắm cờ chiến dịch: Sa trường

– Bài 7: Bí kíp trận mạc

Tuy nhiên, sau khi đăng được hai bài thì xảy ra sự việc bọn đạo tặc chui vào Emotino xóa bài của tôi vì tôi chưởi mắng Đài BBC, đồng thời bày đặt viết liung tung bằng tiếng Việt chê bai trình độ tiếng Anh của tôi sau khi đã gởi hàng trăm tin nhắn đe dọa ném lựu đạn vào văn phòng tôi, khiến tôi nổi giận không viết thêm, đồng thời từ bỏ Emotino, tự lập ra blog mới. Nay xin đăng lại hai bài ấy để qua đó các bạn có thể sơ lược nắm được hành trạng tư duy của tôi đối với việc làm thế nào học tiếng Anh thực sự giỏi ở Việt Nam.

Để Học Giỏi Tiếng Anh

Bài 1

Chuẩn Bị Hành Quân: Ngoảnh Nhìn Chân Lý, Vất Bỏ Hoang Đường

Hoàng Hữu Phước, MIB

KHÚC DẠO ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu của rất nhiều người (học trò, đồng nghiệp, phụ huynh, nhân viên, và bạn hữu) trong vài chục năm qua – ngay cả trước khi có internet và Emotino – về cách học giỏi tiếng Anh, sau thời gian suy nghĩ đắn đo vì rằng nếu viết “thật” thì hóa ra tôi ở vị trí cao để bài xích, phản bác tất cả mọi điều đã và đang áp dụng ở Việt Nam do những chức sắc cao nhất về Tiếng Anh đề xuất và thực hiện; mà nếu làm lơ, viện cớ bận rộn để tránh né việc viết lách về chủ đề này thì chỉ sợ tuy được một hay hai bậc thầy trong thiên hạ tắc lưỡi cảm thông ngậm ngùi đồng cảm thương cho thân phận thất thời thất thế của mình không đất dụng võ phục vụ sự nghiệp giáo dục nước nhà, nhưng lại bị đa số sẽ cho rằng mình dấu nghề y như cung cách tổ tiên bọn Tàu luôn dấu bớt tuyệt chiêu vì sợ học trò làm đảo chính chiếm môn phái hay dành mối khách hàng khiến võ nghệ bọn Tàu dần bị triệt tiêu (bị phương Tây đánh chiếm dễ dàng chỉ với một cái phất tay, chỉ còn một tên dở hơi là Lý Tiểu Long chạy tóe khói sang Mỹ trốn) còn Đông Y bọn Tàu thì bây giờ toàn thuốc gây bá bịnh, tôi quyết định giữ lời hứa với loạt bài này để chứng minh mình là người Việt, có nghĩa là đương nhiên còn đủ tuyệt chiêu. Tất cả là sự thật, không gì khác hơn ngoài sự thật.

Đây là bài thứ nhất của loạt bài nói về cách học giỏi tiếng Anh. Muốn tiến tới mặt trận “giỏi tiếng Anh”, nhất thiết phải chuẩn bị quân trang, quân dụng, hậu cần, kể cả nghiên cứu sa bàn trận địa đối phương, công tác chính trị tư tưởng, và tâm lý chiến. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc cốt lõi là: Ngoảnh Nhìn Chân Lý & Vất Bỏ Hoang Đường, giống như tắm gội sạch sẽ tinh tươm trước một lễ nghi.

NGOẢNH NHÌN CHÂN LÝ & VẤT BỎ HOANG ĐƯỜNG

Đã là chân lý thì luôn đúng. Đã là ngoảnh nhìn thì ắt đã là quá khứ. Nhưng phải chăng chân lý đã không còn nên phải ngoảnh nhìn? Không phải vậy, ngoảnh nhìn vì đã ngộ nhận trong thời gian dài; ngoảnh nhìn để tôn vinh chân lý vì không thể tìm ra cái gì khác khi đã lao tới trước quá xa nên phải quay lại nơi xuất phát; và ngoảnh nhìn để thấy con đường lãng phí đã dẫn đến việc đến nay đã mấy chục năm sau giải phóng mà Việt Nam vẫn còn nói rằng học sinh Việt Nam không nói được Tiếng Anh. Đây là một tuyên bố hay nhận xét hoàn toàn sai, dựa trên các nhận xét phân tích sau về những hoang đường bấy lâu nay ấy và 8 Chân Lý đúc rút được:

1) Chỉ luôn mồm cho rằng học sinh Việt Nam không nói được tiếng Anh, sinh viên Việt Nam không nói được tiếng Anh, nhân viên Việt Nam không nói được tiếng Anh, vậy phải chăng muốn ám chỉ rằng học sinh Việt Nam viết giỏi tiếng Anh, sinh viên Việt Nam viết giỏi tiếng Anh, nhân viên Việt Nam viết giỏi tiếng Anh; và phải chăng muốn nói rằng học sinh Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh, sinh viên Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh, nhân viên Việt Nam dịch giỏi Anh-Việt/Việt Anh?

Hoàn toàn sai vì học sinh Việt Nam cũng không viết giỏi tiếng Anh, sinh viên Việt Nam không viết giỏi tiếng Anh, nhân viên Việt Nam không viết giỏi tiếng Anh; và học sinh Việt Nam cũng không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh, sinh viên Việt Nam không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh, đa số nhân viên Việt Nam không dịch giỏi Anh-Việt/Việt-Anh. Nhưng hai thế kỷ nay ở Việt Nam mãi than thở về chuyện học trò Việt không nói được tiếng Anh rồi đổ lỗi cho cái gọi là “từ chương” dù “từ chương” chẳng dính dáng gì đến việc “nói tiếng Anh” cả, vì viết tiếng Anh còn không được nừa là. Cái căn cơ của chứng bịnh hoang tưởng này bắt nguồn từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi những kẻ mông muội phương Tây đề ra cái gọi là “Direct Method” tức cách học tiếng Anh trực tiếp mà tôi ngay lúc còn nhỏ đã nhún vai xem thường, và khi nhà xuất bản McGraw Hill phát hành phiên bản mới của bộ English for Today vào cuối thập kỷ 1960 theo hướng gia tăng phần “nói” thì tôi đã khẳng định ngay với bạn học là ngày tàn của bộ sách ấy đã đến (hiện tôi còn giữ nguyên bộ English for Today nguyên thủy, và đã vất bỏ sọt rác bộ English for Today phiên bản mới sau ngày 30/4/1975).

Chân lý 1: Chúng ta cần phải đồng ý với nội dung rằng học sinh Việt Nam học kém tiếng Anh nói chung chứ không chỉ là “không nói được tiếng Anh”, và rằng học sinh Việt Nam sở dĩ không nói được tiếng Anh vì học sinh Việt Nam…không viết được tiếng Anh, không giỏi dịch thuật Anh-Việt/Việt-Anh, không có sách giáo khoa “đúng”, chứ hoàn toàn không tại bị vì bỡi Việt Nam không xem trọng thực hành nói tiếng Anh!

2) Nói sai về “từ chương”

Trong một bài viết khác, tôi sẽ nói thật rõ về “từ chương”, về việc đổ lỗi sai cho “từ chương”, hiểu sai về “học thuộc lòng”, và đề xuất nhầm về việc đả phá “từ chương”.

Trước tiên, cần phải làm rõ một điều là không nhất thiết phải ra nước ngoài mới học tốt một ngoại ngữ. Trước 1975 ở Miền Nam có vô số người du học ở Mỹ, nhưng chỉ một ít thực sự tài giỏi về tiếng Anh để trở thành các giáo sư hay giảng sư Anh văn (trước 1975 ở Việt Nam Cộng Hòa: danh từ “giáo sư” được dùng cho người dạy trung học, “giáo viên” dùng cho người dạy tiểu học, và “giảng sư” dành cho người dạy đại học, chính vì vậy nên nhà giáo rất tự hào và lấy làm danh dự với danh xưng ấy, trước đây luôn cố gắng tự sống tốt, tự dạy tốt, tự gương mẫu, tự thành đạt, tự thành công, tự chịu trách nhiệm về cuộc sống sinh nhai của bản thân và gia đình, khiến nhiều học trò bị hấp dẫn dấn thân theo nghề giáo), và chỉ cần được học các vị giảng sư này tại các trường đại học Việt Nam (không có trường đại học 100% vốn nước ngoài, chẳng có hình thức “liên kết đào tạo” với nước ngoài), sinh viên Việt Nam đã có thể tham gia các cuộc thi hùng biện tiếng Anh, đoạt học bổng du học Mỹ/Anh ngay (không như hiện nay có tình trạng du học nhưng phải bỏ ra khối tiền cả năm rèn lại tiếng Anh nếu đạt mới được học ở nước ngoài hay được cho … thiếu nợ nếu “liên kết” học…song ngữ ở Việt Nam). Từ sau 1975 Việt Nam có vô số người du học Âu Mỹ, và nhiều người trong số “vô số” này hoặc giữ chức vụ cao về Anh Văn trong các trường đại học ở Việt Nam hoặc giảng dạy Anh Văn tại các trường đại học ở Việt Nam, nhưng họ cho ra lò toàn những “sản phẩm” đầy tì vết, luôn có vấn đề như được thể hiện qua các nhận xét của nhà tuyển dụng nước ngoài là ứng viên có bằng cấp cử nhân Anh văn nhưng không nói được tiếng Anh.

Như vậy, chương trình học chắc chắn có bài tập, chắc chắn có thực tập, chắc chắn có thuyết trình (bằng chứng là hiện có sự sử dụng thường xuyên một cách đáng sợ công cụ PowerPoint© của sinh viên), được dạy bởi các thạc sĩ/tiến sĩ có bằng cấp của đại học nước ngoài, vậy thì có dính dáng gì đến “từ chương” đâu mà vẫn không đào tạo ra người “nói/viết được tiếng Anh” rồi đổ thừa cho “từ chương”?

Cái sai ở đây xuất phát từ trình độ người dạy, vì không phải cứ là tiến sĩ vật lý là tự động thành nhà bác học đào tạo được các nhà vật lý kiệt xuất, cứ là cử nhân thể dục thể thao là tự động thành nhà vô địch …đô lực sĩ quyền anh hạng nặng đào tạo được các tuyển thủ Việt Nam mà tất cả các câu lạc bộ Châu Âu phải đánh đấm nhau để giành chữ ký, và cứ là thạc sĩ/tiến sĩ Anh văn là tự động thành nhà giáo kiệt xuất có thể đào tạo những sinh viên giỏi tiếng Anh. Mặc định theo kiểu văn bằng như thế rồi trao trọng trách là đích thị “từ chương”, tất nhiên kết quả sẽ không bao giờ là như ý.

Chân lý 2:

Tóm lại, ở Việt Nam từ rất lâu đã không còn cách học “từ chương”.

Tóm lại, ở Việt Nam từ rất lâu đã không còn cách dạy “từ chương”.

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại cách bố trí/bổ nhiệm kiểu “từ chương” của Nhà nước và các cơ quan chức năng.

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại các hành vi “từ chương” của các giáo viên đối với học sinh/sinh viên (cho thực tập, cho thảo luận, cho thuyết trình, nhưng cho điểm theo cách tiêu cực tùy vào trọng lượng quà cáp từ phụ huynh hay sự biết điều của sinh viên đối với các gợi ý bóng gió không khó hiểu chút nào của thầy/cô).

Tóm lại, ở Việt Nam từ bấy lâu nay chỉ đang tồn tại tấm mộc có khắc chữ “từ chương” để những kẻ vô lương tâm, vô trách nhiệm, và vô hạnh được chở che, đỡ đạn trước các công kích của công luận và báo chí về thực trạng chất lượng đào tạo ở Việt Nam, trong đó có đào tạo về tiếng Anh.

3) Nói sai về “thực học”

Ở Mỹ, học sinh tất nhiên học tiếng Anh với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Anh, thương yêu ngôn ngữ Anh, thưởng thức ngôn ngữ Anh, sử dụng ngôn ngữ Anh thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ở Pháp, học sinh tất nhiên học tiếng Pháp với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Pháp, thương yêu ngôn ngữ Pháp, thưởng thức ngôn ngữ Pháp, sử dụng ngôn ngữ Pháp thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ở Việt Nam, học sinh tất nhiên học tiếng Việt với đầy đủ các môn văn chương, thơ ca, kim văn (văn học hiện đại), cổ văn (văn học cổ), kịch nghệ, luận văn, chính tả, văn phạm, v.v. Có học như vậy mới làm chủ ngôn ngữ Việt, thương yêu ngôn ngữ Việt, thưởng thức ngôn ngữ Việt, sử dụng ngôn ngữ Việt thật đầy đủ và hiệu quả trong đời sống/việc làm/thụ hưởng văn hóa cực kỳ phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tùy biến.

Ấy vậy mà khi nói về “học tiếng Anh”, những kẻ kém hiểu biết nhất ở Việt Nam lại lớn tiếng nhất trong hô hào cuộc “tổng nổi dậy” nhằm lật đổ các môn “văn phạm” và “luận văn” cứ như thể sẽ nói giỏi tiếng Anh ngay khi bỏ các môn “thực học” không-phải-nói này! Đây là việc hoàn toàn sai, như hậu quả nhãn tiền là dù họ đã nhiều chục năm qua tập trung cho “nói” thì học sinh/sinh viên Việt Nam vẫn không nói giỏi tiếng Anh. Nếu bị tiêm nhiễm ý nghĩ bậy bạ rằng văn phạm Anh văn giết chết khả năng nói tiếng Anh, thì học trò cứ tự nhiên đừng thèm học văn phạm tiếng Anh nữa, thầy/cô dạy văn phạm thì mặc thầy/cô, thầy/cô dạy viết thì mặc thầy/cô, rồi xem mình có nói giỏi tiếng Anh không.

Chân lý 3: Muốn giỏi “nói” tiếng Anh, học sinh/sinh viên phải học giỏi tất cả các nội dung nêu trên về tiếng Anh. Làm gì có chuyện học trò Mỹ học đủ thứ, còn học trò Việt Nam đi đường tắt, xem thường văn phạm, lại giỏi y như học trò Mỹ! Các giáo viên Việt Nam dạy tiếng Anh cần phải thấu hiểu điều cực kỳ căn bản này.

4) Nói sai về vai trò của “viết” trong tiếng Anh

Viết là thể hiện mức độ sâu sắc cao cấp thượng đẳng của tư duy con người. Từ khả năng viết, người ta có thể thu xếp để việc nói trở nên chỉnh chu, ngắn gọn súc tích hoặc dài đầy đủ như ý, tăng sức thuyết phục, gia cố biện luận, lèo lái phản biện, phù hợp hoàn cảnh bình dân hay cung đình, thích hợp nội dung chuyện phiếm hay đề tài nghiêm túc, v.v.

Giá trị của “viết giỏi” trong “thực học” còn ở chỗ mặc cho có các nội dung thuyết trình nhóm, thực tập thực tế, v.v, thì điểm số quan trọng của các chương trình thạc sĩ vẫn đến từ các bài viết nghiên cứu nhóm, bài viết nghiên cứu cá nhân, và bài thi viết.

Giá trị của “viết giỏi” trong “thực hành” còn ở chỗ chỉ những đơn xin việc được viết chỉnh chu, ngắn gọn súc tích hoặc dài đầy đủ như ý, tăng sức thuyết phục, phù hợp hoàn cảnh, thích hợp nội dung, v.v. mới được nhà tuyển dụng quan tâm, mời đến phỏng vấn mà tại buổi phỏng vấn đó ứng viên “nói giỏi” mới có cơ hội “nói giỏi”, nghĩa là “viết giỏi” quyết định số phận của “nói giỏi”; song, nhất thiết cần lưu ý rằng ứng viên có đơn xin việc “viết giỏi” nhưng không “nói giỏi” vẫn có cơ may trúng tuyển đối với các vị trí cao vì “viết giỏi” là điểm ưu việt cần có nơi các chức sắc cấp cao, những người luôn phải đối mặt với các yêu cầu hoạch định chiến lược, sách lược, kế hoạch, chỉ thị, và các báo cáo mật, nhạy cảm chỉ được soạn bởi và lưu hành trong nội bộ ban lãnh đạo.

Kinh nghiệm thực tế của người viết bài này đã luôn ở vị trí lãnh đạo ở các công ty nước ngoài nhờ biết xem trọng việc ưu tiên trau giồi viết tiếng Anh sao cho thật giỏi ngay từ nhỏ, cũng như việc viết giỏi ấy đã tác động thành công đến ban lãnh đạo ở nước ngoài trong việc nhiều lần “cứu nguy” nhân viên Việt Nam hoặc đã gây sức mạnh thuyết phục công ty mẹ sa thải gần chục lãnh đạo cấp cao – kể cà Tổng Giám Đốc và 3 Phó Tổng Giám Đốc tiêu cực – tất cả đều là người nước ngoài ở chi nhánh Việt Nam.

Chân lý 4: Viết tiếng Anh chính là một thể hiện trước, hoặc một chuẩn bị thích hợp cho nói tiếng Anh, chứ không là phần độc lập, đối chọi với nói tiếng Anh. Viết tiếng Anh giúp hoàn thiện nói tiếng Anh. Trong cả học tập cấp cao ở nước ngoài – dù đó là về ngôn ngữ Anh hay khoa học kỹ thuật hoặc kinh tế tài chính – thì viết tiếng Anh giỏi quyết định số phận của văn bằng. Người có hiểu biết, có thực sự học “cao”, luôn nhận thức được tầm quan trọng của viết giỏi tiếng Anh, cũng như hiểu rằng rất khó đạt đến trình độ viết giỏi chứ còn nói giỏi đâu phải là kỳ công.

5) Nói sai về… “nói” trong tiếng Anh

Nhiều người cho rằng “nói” là “nói” mà không chịu hiểu rằng “nói” phải gắn chặt vào nghĩa “nói cái gì, với ai, tại đâu, và với mục đích gì”.

Nếu nói để … “thoát hiểm” thì phi công Mỹ có tờ giấy ghi vài câu để khi bị bắn hạ trên vùng trời Miền Bắc Việt Nam sẽ dùng để nói với người dân Việt Nam như: “xin cho tôi ăn, xin giúp che dấu tôi, chính phủ Hoa Kỳ sẽ cứu tôi và đền ơn, v.v.”

Nếu nói để… “thoát hiểm” thì người Việt chỉ cần biết hỏi thăm đường sá, v.v.

Quá nhiều người không hiểu biết gì mới cho rằng văn viết khác văn nói, rằng văn nói đi vào đời sống còn văn viết ở trên trời, v.v. Tất nhiên có sự khác nhau vì khi viết người ta có nhiều thời gian hơn để trau chuốt lời văn, còn chỉ có người cực giỏi mới trong tích tắc trau chuốt lời nói kịp ngay trước khi bật ra âm thanh. Thật sai lầm khi cho rằng nói dễ hơn viết vì không bị ràng buộc bởi văn phạm. Thật sai lầm khi cho rằng dựng túp lều tranh dễ hơn xây tòa nhà chọc trời vì không bị ràng buộc bởi công thức thiết kế và quy định kiến trúc hay cấu trúc vật liệu. Khi không bị ràng buộc về văn phạm, đấy sẽ không là câu nói giữa các đại gia kinh tế hay các chính khách nguyên thủ tại Liên Hợp Quốc. Khi không bị ràng buộc bởi thiết kế, túp lều tranh không bao giờ là nơi cho hai quả tim vàng vì gió có thể thổi bay bất cứ lúc nào. Sự ràng buộc kỹ thuật văn phạm cực kỳ rõ nét khi đó là phát biểu của một luật sư, một giảng viên, hay một chính khách. Vì vậy, dựa vào mức độ văn phạm bạn đang sử dụng, người ta biết bạn ở đẳng cấp nào, thuộc giới chuyên môn nào, đang ở cộng đồng nào, và cũng biết ngay bạn sẽ đấu khẩu thắng hay thua.

Chân lý 5: Muốn nói giỏi hãy tìm đọc tác phẩm của những người…viết giỏi để có thêm thông tin, kiến thức, bổ sung chất lượng cho tài “nói giỏi” của mình. Đặc biệt lưu ý rằng “nói giỏi” tiếng Anh không đồng nghĩa với “hùng biện” tiếng Anh, vì hùng biện là năng khiếu bẩm sinh hoặc là kết quả rèn luyện thực tập hiệu quả nhằm luôn đạt thế thượng phong khi sử dụng khẩu ngữ hoặc văn viết, còn nói giỏi chỉ là sử dụng được ngôn ngữ ấy bằng khẩu ngữ và sử dụng đúng việc, đúng người, đúng chỗ, thường bị giới hạn về thời gian (đối tượng xua tay không muốn nghe tiếp hoặc quay mặt bỏ đi hoặc bảo gia nhân… “tiễn khách”).

6) Hoang đường huyễn hoặc về… “rửa chén” để “nói” giỏi tiếng Anh

Nhiều người du học Âu Mỹ về hay khoe rằng mình đã tích cực thực tập “nói” tiếng Anh bằng cách xin việc rửa chén ở các nhà hàng ở gần trường. Đây là điều hoang đường vì mục đích rửa chén là để kiếm tiền, only this and nothing more (chỉ có thế thôi chứ làm gì còn lý do nào khác). Điều dễ nhận ra là việc rửa chén xảy ra về đêm, giữa những người nghèo khổ – đa số là dân nhập cư Mễ hay Đông Âu – luôn sử dụng tiếng lóng, tiếng sai, tiếng tục, tiếng địa phương, giọng thổ ngữ, chưa kể làm việc tất bật làm gì có thời gian (và ai cho phép cà-khịa tại nơi làm việc) để nói chuyện phiếm hầu “thực tập” nói tiếng Anh để bị ông chủ tống cổ ra khỏi quán. Ngay cả khi làm những việc lao động tay chân khác thì cũng bảo đảm rằng khi về Việt Nam người ấy không thể dạy học trò nói giỏi tiếng Anh được với kiểu ăn nói quàng xiên của tầng lớp thấp ấy. Ngoài ra, việc trắng đêm rửa chén sẽ không bao giờ bảo đảm du học sinh có thể tỉnh táo, tinh anh, tiếp thu bài vở tuyệt hảo trong các tiết học buổi sáng-chiều, và kết quả học tập – dù có được văn bằng – cũng không bao giờ có đủ chất lượng để làm “thầy/cô” cho học sinh/sinh viên ở quê nhà. Đó là lý do chất lượng đào tạo tại Việt Nam luôn có vấn đề, mà đào tạo Anh văn không là một ngoại lệ.

Chân lý 6: Chất lượng nói (và viết) tiếng Anh chỉ có được qua sự tập trung học tập cao độ với người thực sự có trình độ giỏi, và nhất thiết tránh xa – chí ít là trong giai đoạn chưa học thành tài – những cộng đồng cư dân bản địa có văn hóa thấp, học thức thấp, hay cách sử dụng văn nói không chính quy để vốn từ, cách phát âm, và cách sử dụng cấu trúc câu trong văn nói không bị bình dân hóa, địa phương hóa, hay hạn hẹp hóa (mà chính người Mỹ “đẳng cấp” cũng xem thường), và bị hỏng hóa cả khẩu ngữ và phong cách.

7) Hoang Đường Về Giọng Mỹ Giọng Anh

Trong một bài viết trên báo Người Lao Động cách nay gần 20 năm (sẽ đăng lại sau khi…kiếm lại được) tôi có viết rằng không tồn tại trong đời sống thực cái gọi là nói tiếng Anh giọng Mỹ và nói tiếng Anh giọng Anh, và rằng bạn hãy nói tiếng Anh bằng giọng của bạn, với điều cần nhớ là người Việt có nhiều lợi thế hơn nhiều dân tộc khác ở Châu Á vì sắc điệu của tiếng Việt giúp người Việt nói tiếng Anh hay hơn hẳn phần còn lại của Châu Á. Ấn Độ dùng tiếng Anh làm quốc ngữ và vài trăm năm dưới sự đô hộ của Vương Quốc Anh cũng chỉ giúp họ viết báo hay hơn người Anh chứ họ vẫn nói tiếng Anh với giọng Ấn. Ông Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon nói tiếng Tiếng Anh với giọng Hàn. Các CEO công ty Đài Loan ở Việt Nam nói tiếng Anh với giọng Tàu. Các nhà tài phiệt người Hong Kong và Nhật Bản nói tiếng Anh rất tệ. Vì vậy, vấn đề là bạn là ai và tiếng Anh mà bạn nói đang truyền tải thông điệp gì, với mục đích gì, nhắm vào đối tượng nghe nào, chứ không phải có kiểu phát âm Mỹ hay Anh. Bất kỳ “giáo viên” Anh văn nào nói với bạn rằng sẽ dạy bạn nói giọng Mỹ hay Anh, bạn hãy tự tin nói với người đó rằng chính tôi nói họ có trình độ rất khả nghi về tiếng Anh.

Chân lý 7: Học sinh/sinh viên chỉ nên tập trung xây dựng bản thân thành người có kiến thức sâu rộng và học đủ giỏi tiếng Anh để hiểu người nói nói gì, người viết viết gì, và để người nghe hiểu mình nói gì hay viết gì. Chú mục xem ai đó nói giọng gì, hoặc luyện cho mình nói theo giọng gì chỉ tiết lộ mình là điệp viên của Việt Nam, hoặc khiến mình trở thành người duy nhất trên thế gian này làm điều vô bổ.

8) Hoang đường về việc muốn giỏi tiếng Anh phải học từ nhỏ

Điều hoang đường cuối cùng được nêu trong bài viết này (vì còn những 10 điểm khác, thiết nghĩ sẽ tốt hơn nếu để dành khi thuyết trình đầy đủ trước một hội nghị cấp quốc gia về chấn chỉnh việc dạy và học tiếng Anh hiệu quả cao cho người Việt ở Việt Nam) là khi cho rằng người ta sẽ học giỏi tiếng Anh hơn nếu được cha mẹ cho học tiếng Anh từ rất sớm, việc mà tôi đã có một bài viết dài phản bác trên báo Tuổi Trẻ cách nay 20 năm (sẽ đăng lại sau khi…kiếm lại được), với bằng chứng là sau 20 năm thì chẳng thấy các cháu bé “học tiếng Anh từ sớm” ấy có gì nổi đình nổi đám về tiếng Anh trong hay ngoài nước cả. Tất cả đều do trình độ tiếng Anh yếu kém của dịch giả người Việt khi dịch một tác phẩm của Noam Chomsky và của độc giả người Việt khi đọc nguyên tác hay bản dịch tiếng Việt ấy, mà sự thể là như sau:

Noam Chomsky là giáo sư tiến sĩ và nhà ngôn ngữ học người Mỹ. Ông đặc biệt ủng hộ chính nghĩa của nhà nước Cộng sản Việt Nam (và thậm chí dũng cảm đến thăm Hà Nội trong khi cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang ở giai đoạn khốc liệt, cũng như đứng đầu ủy ban các giáo sư tiến sĩ và phóng viên chiến trường Mỹ cùng bác sĩ quân y Mỹ vạch trần tội ác của Mỹ và quân đội Cộng Hòa trong cuộc thảm sát người dân Huế “đối lập” với Thiệu và phật tử Huế trong Tết Mậu Thân 1968 rồi đổ cho “Việt cộng”). Theo ông, người ta (tức người Mỹ) nên cho con mình (tức trẻ em Mỹ) học tập sớm để phát triển ngôn ngữ (tức tiếng Mỹ tức tiếng Anh) sớm, nắm bắt ngôn ngữ (tức tiếng Mỹ tức tiếng Anh) sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm. Thế mà nội dung dịch “người ta nên cho con mình học tiếng Anh sớm để phát triển tiếng Anh sớm, nắm bắt tiếng Anh sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm” thay vì phải hiểu như “người Việt nên cho con mình học tiếng Việt sớm để phát triển tiếng Việt sớm, nắm bắt tiếng Việt sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm”, hoặc “người ta nên cho con mình học tiếng mẹ đẻ sớm để phát triển tiếng mẹ đẻ sớm, nắm bắt tiếng mẹ đẻ sớm, từ đó phát triển trí tuệ sớm”, người ta nhao nhao lên rằng người Việt nên cho con em học tiếng Anh từ nhỏ để giỏi tiếng Anh. Đây là một điều sai hoàn toàn về phương diện khoa học và tinh thần nghiên cứu của Noah Chomsky! Những người Mỹ ở Trung Ương Cục Tình Báo Mỹ CIA nói tiếng Việt như gió, phải chăng đã học tiếng Việt từ năm lên 4 ở Mỹ? Alenxandre de Rhode soạn tự điển tiếng Việt ắt nhờ học tiếng Việt lúc lọt lòng mẹ và được đưa vào nhà thờ? Nội dung đơn giản chỉ là: thay vì chờ đợi lúc con đến tuổi đến trường theo luật định mới cho con học chữ, các bậc cha mẹ nên tích cực tập con nói chuyện, nói chuyện với con ngay từ lúc con còn nằm nôi (có nhà khoa học còn đề nghị cha mẹ nói chuyên với con qua…da bụng của người mẹ, lúc con còn là bào thai), và kể chuyện cho con, tập cho con nhận diện chữ cái, màu sắc từ trước khi con đến tuổi đến trường, vì rằng việc kích thích trí não của bé vào thời điểm này rất thích hợp giúp bé nhớ nhanh hơn, dễ hơn, tạo đà cho hoạt động học tập khi đến tuổi vào trường, chứ không khuyên cha mẹ cho con học “ngoại ngữ” từ trong bụng mẹ! Việc cha mẹ người Việt cho con học tiếng Anh từ nhỏ sẽ vướng phải các tai hại sau:

– Nhiễu loạn: (a) môi trường xung quanh nói toàn tiếng Việt đa số thời gian nên không thể “giỏi” tiếng Anh, (b) học tiếng Việt ở lớp thiểu số thời gian nên không thể “giỏi” tiếng Việt, còn (c) người dạy tiếng Anh ở nhà trẻ Việt Nam khó thể nào là người có trình độ cử nhân hay thạc sĩ Anh văn nên việc dạy sai là nguy cơ đương nhiên đối với hệ thống phát âm luyện tiếng của trẻ.

– Bất phân định: không thể hiểu được đâu là “tiếng mẹ đẻ” và đâu là “ngoại ngữ” vì không phải cứ sinh ra tại Việt Nam, có khai sinh Việt Nam thì đương nhiên “tiếng mẹ đẻ” là tiếng Việt Nam, đương nhiên “giỏi” tiếng Việt Nam. Khái niệm “tiếng mẹ đẻ” chỉ liên quan đến ngôn ngữ chính của một người, được người ấy học từ nhỏ, dùng từ nhỏ đến suốt cuộc đời mà không cần có văn bằng chứng chỉ về “tiếng mẹ đẻ”. Trong khi đó, “ngoại ngữ” là ngôn ngữ khác mà một người học thêm theo phương pháp thích hợp và chương trình bài bản, mà kết quả học tập không dựa theo chủ quan, nghĩa là có thể thành công (sử dụng nhuần nhuyễn, có văn bằng chứng chỉ chứng nhận), hoặc có thể thất bại do năng khiếu thiên về lĩnh vực khác. Một đưa bé Việt Nam ngay cả khi chỉ ở Việt Nam, học tiếng Anh từ nhỏ và chỉ học tiếng Anh, đến độ “giỏi” tiếng Anh thì có nghĩa đứa bé Việt Nam ấy có “tiếng mẹ đẻ” là tiếng Anh tức ngôn ngữ chính và tiếng Việt có khi trở thành “ngoại ngữ”, nhất thiết phải rời Việt Nam do khó thể đấu tranh sinh tồn trong môi trường sống tại Việt Nam.

Chân lý 8: Người Việt Nam càng trưởng thành càng dễ học giỏi tiếng Anh, viết giỏi tiếng Anh, nói giỏi tiếng Anh. “Trưởng thành” có nghĩa là có năng lực hành vi, năng lực trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tính tự chủ, sáng tạo, siêng năng, bản lĩnh, tự quyết, kiên trì và độc lập. Còn bị chi phối bởi ngoại cảnh, luôn cho mình là “teen”, không làm chủ được bản thân, dựa dẫm vào người khác, v.v. thì chỉ là đứa trẻ, và không thể học giỏi được tiếng Anh (hay bất kỳ ngoại ngữ nào), đó là chưa kể ngay cả tiếng Việt cũng chưa chắc sử dụng được hiệu quả cho cuộc sinh tồn và sinh nhai. Tiếng mẹ đẻ dành cho trẻ em; còn ngoại ngữ dành cho người không còn là trẻ nít.

ĐOẠN KẾT

Tóm lại, chân lý mà ta cần ngoảnh lại nhìn trước khi dấn bước vào tiến trình “nói giỏi tiếng Anh” là: không bao giờ có sự tách bạch độc lập giữa nói và viết. Viết càng giỏi thì nói càng có chất lượng tốt hơn. Khi một người được phong tước Hiệp Sĩ để được có chữ Sir ngay trước tên họ của mình, người đó được hướng dẫn các nghi lễ hành vi và lời nói khi vào hoàng cung Anh Quốc, lúc quỳ trước Nữ Hoàng để được người đặt lưỡi kiếm trên vai trái và vai phải. Người dân Mỹ xem phát biểu ứng khẩu của Tổng Thống Abraham Lincoln tại Gettysburgh là kiệt tác. Người dân Anh xem phát biểu của Nữ Hoàng Anh là mẫu mực của sự kiệt tác ngôn từ. Tiếng Việt bạn nói trực tiếp với Ông Trương Tấn Sang sẽ không là tiếng Việt bạn dùng trực tiếp với các bạn của bạn trong quán cà phê. Tiếng Anh khi bạn dùng “Mr President!” khiến người nghe nghĩ rằng bạn hoặc là người trình độ đang phỏng vấn Ông Obama hoặc bạn là nhân vật quan trọng được ở gần vị tổng thống ấy. Tiếng Anh khi bạn dùng “Ê President!” khiến người ta nghĩ rằng bạn đang réo một người hàng xóm tên President thường hay chỉ trích chê bai bạn. Vì thế, văn nói cũng là loại văn cần được bạn trau chuốt, học tập, thực hành nghiêm túc giống như điều tất cả những học sinh gia giáo của những gia đình giàu có qu‎ý phái tại các cường quốc Âu Mỹ đều làm, mà nếu cần thí dụ, bạn hãy theo dõi gameshow Người Tập Sự Của Donald Trump để nghe cậu con trai Don và cô con gái Ivanka của Trump ăn nói ra sao, tác phong khi nói ra sao, và để biết rằng chính Donald Trump mới là người giàu nhất thế giới vì chỉ có Trump mới có những đứa con tuyệt vời, đẳng cấp cao, chưa bị dính vào những scandal làm tổn hại thanh danh bản thân và uy danh người Bố. Hãy học theo những người như vậy, và bạn sẽ hiểu ra rằng chỉ có việc học hành nghiêm túc, kiến thức rộng, bạn mới giỏi tiếng Anh, và khi giỏi tiếng Anh, bạn viết giỏi tiếng Anh và không còn có tên trong danh sách những học sinh/sinh viên/nhân viên có bằng cử nhân Anh văn nhưng không nói được tiếng Anh.

Tiếng Anh như một “ngoại ngữ” là tiếng Anh dạy theo bài bản chuyên nghiệp, khoa học, đầy đủ, thực dụng cả về viết và nói, theo từng cấp độ, và có các loại sát hạch cho những người cần chứng chỉ, văn bằng, nhằm phục vụ việc mưu sinh hay đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.

Nếu bạn là người trưởng thành, hãy yên tâm nếu bạn muốn giỏi tiếng Anh như một “ngoại ngữ” theo cách lành mạnh, bình thường, khoa học, và nghiêm chỉnh.

Để Học Giỏi Tiếng Anh (Bài 2)

Chuẩn Bị Hành Quân: She Don’t, You Is, D’Passion, I and You, Th’ Universe, Emotino, Anh Văn Hoàng Tộc

KHÚC DẠO ĐẦU

Đây là bài thứ nhì của loạt bài nói về cách học giỏi tiếng Anh. Muốn tiến tới mặt trận “giỏi tiếng Anh”, nhất thiết phải chuẩn bị quân trang, quân dụng, hậu cần, kể cả nghiên cứu sa bàn trận địa đối phương, công tác chính trị tư tưởng, và tâm lý chiến. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc thứ nhì: học đẳng cấp cao của She don’tYou is để hiểu thấu đáo thế nào là chân giá trị của ngôn từ và ai có thẩm quyền tối cao đối với thứ ngôn ngữ đang thống trị thiên hạ.

D’PASSION EMOTINO

Cách nay vài năm được một bạn – rất tiếc tôi không thể nhớ tên – gởi email giới thiệu “phát hiện một trang web” lý thú tên Emotino vào thời điểm tôi chán ngấy cái anh Yahoo! 360 mà tôi đã báo trước sự suy tàn của nó qua một số bài viết, tôi vào xem và tuy mừng vì đó là trang web cực kỳ nghiêm túc của “những người trong cuộc” của giới kinh doanh, nhưng vẫn lo vì ở Yahoo!360 tôi chỉ viết toàn tiếng Anh nay vào Emotino mà viết tiếng Anh thì rất không an tâm vì tôi biết quá rõ có những người Việt Nam sẽ nhao nhao lên rằng tôi “khoe khoang” ngoại ngữ, mà nếu viết tiếng Việt thì chỉ giỏi văn chương thi phú thời còn học về Nguyễn Công Trứ, Lục Vân Tiên, hay Sãi Vãi, v.v., hồi xửa hồi xưa, chứ về các vấn đề học thuật mới tinh của thế kỷ XXI thì thật là run tay. Song, tôi bắt đầu tập viết tiếng Việt, nhờ vợ tôi hay nhân viên công ty tôi giúp sửa các dấu hỏi dấu ngã trước khi post lên Emotino. Vậy Emotino có dính gì đến bài nói về Học Tiếng Anh ở đây? Xin thưa, từ cái ngày đầu đến với Emotino và biết D’Passion lập nên Emotino, cho đến tận ngày hôm nay tôi chưa bao giờ gọi phone, gởi email hay tin nhắn bất kỳ để bảo Ông Chủ của Emotino và D’Passion rằng Emotino sai rồi vì phải là Emotion, và D’Passion sai rồi vì trong tiếng Pháp chữ De chỉ khi ở trước nguyên âm mới biến thành D’. Tôi không bảo hay hỏi hoặc mách vị chủ nhân ấy, vì tôi biết chỉ những người thật giỏi ngoại ngữ mới có hai quyền tối thượng là đặt ra từ mới và phá cách từ cũ. Chỉ cần nhìn chữ Emotino và D’Passion, tôi lặng thinh…trầm trồ thán phục. Tôi cũng có sáng tác một bài thơ tiếng Anh lúc còn ở đại học năm 1977, trong đó lập đi lập lại từ th’Universe, nay ngẫm lại thấy mình thậm chí còn táo bạo hơn cả chủ nhân D’Passion vì nhiều người sẽ bảo tiếng Anh làm quái gì có kiểu the trước nguyên âm được viết tắt thành th’.

Như vậy, phải chăng chăng ông chủ của D’Passion và ông Hoàng Hữu Phước viết sai chính tả lung tung, thua xa người mới học tiếng Anh hoặc đã học xong căn bản của tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

SHE DON’T YOU IS

Bất kỳ ai mới học tiếng Anh đều biết phần sơ đẳng nhất là chia động từ TO BE và TO DO, để biết luôn là She does not hay She doesn’t nghĩa là “nàng ấy đâu có (làm việc ấy)” và You are nghĩa là “ngươi là…” hay “ngài thì…”.

Thế nhưng:

1- Nữ ca sĩ LeToya Luckett trong album phát hành năm 2006 mang tên cô đã hát bài She Don’t theo thể loại R&B của hai nhạc sĩ nổi tiếng Walter Milsap and Candice Nelson, với phần điệp khúc thú vị:

     She don’t even touch you like this

     She don’t even kis you like this

     She don’t even treat you like I do

         Boy you know that

     She don’t even touch you like this

     She don’t even kis you like this

     She don’t even treat you like I do

         Boy you know that

2- Ban nhạc The Beatles lừng danh thì có bài She’s a Woman trong đó từ don’t được dùng cho ngôi thứ ba số ít:

     …My love don’t give me presents,

     I know that she’s no peasant.

     Only ever has to give me forever and forever;

     My love don’t give me presents.

     ………

     She don’t give boys the eye.

     She hates to see me cry.

     She is happy just to hear me

     Say that I will never leave her,

     She don’t give boys the eye…..

3- Trong khi đó ca sĩ nhạc rock huyền thoại Frank Zappa có album phát hành năm 1981 mang tên You Are What You Is cũng là tên một ca khúc thể loại pop rock trong album ấy, với lời ca rất dài mà chỉ trong một đoạn ngắn sau đã có những phá cách dữ dội như you is và thậm chí you am:

     ….. Do you know what you are?

     You are what you is

     You is what you am

     A cow don’t make ham…

   You ain’t what you’re not

     So see what you got

     You are what you is

     An’ that’s all it ‘tis

…….

Như vậy, phải chăng chăng các ca sĩ Anh và Mỹ lừng danh này thất học, không biết văn phạm, và thậm chí trình độ tiếng Anh thua xa người Việt mới học tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

I AND YOU

Trở lại phần bọn bị bịnh thần kinh chống đối tôi đã la toáng trên mạng rằng tôi sai tiếng Anh khi dùng I and You (chẳng hạn như tiêu đề các bài viết tiếng Anh của tôi trên Yahoo!360 như I and Dr Le Van Diem, I and Mr Nguyen Quang To, v.v.), một ca sĩ nổi tiếng khác là Lobo ắt cũng bị la toáng lên như thế do đã dám viết bài ca tuyệt diệu hàng đầu loại “top hit” mang tên Me and You and the Dog Named Boo (Anh và Em cùng Chú Cún Tên Boo) thay vì phải viết You and Me theo điều sơ đẳng mà con nít và bọn tâm thần ấy được dạy.

Như vậy, phải chăng chăng ca sĩ Mỹ lừng danh Lobo thất học, không biết văn phạm, và thậm chí trình độ tiếng Anh thua xa người Việt mới học tiếng Anh? Xin đọc hồi sau sẽ rõ.

ANH VĂN HOÀNG TỘC

Các bạn ắt biết tác phẩm điện ảnh gần đây mang tên The King’s Speech (Diễn Văn của Nhà Vua, hoặc Nhà Vua Cà Lăm ) đoạt nhiều giải thưởng lớn, nói về Vua George Đệ Lục của Anh Quốc thời Đệ Nhị Thế Chiến đã phải nỗ lực ra sao để khắc phục tật nói lắp của mình, từ đó có các hiệu triệu quốc dân đồng tâm hiệp lực chống Đức Quốc Xã. Tôi chưa xem phim The King’s Speech, nhưng lúc học lớp 12 năm 1974 tôi đã được đọc quyển The King’s English tức Tiếng Anh Hoàng Tộc của anh em nhà Fowler, dày 383 trang, ấn bản năm 1906 của Đại học Oxford, mua tại Nhà Sách Khai Trí, Sài Gòn, và đây là lý do vì sao tôi “cứng và vững” văn phạm và luận văn Anh hơn mọi người đồng trang lứa, vì khi tất cả các tác giả văn học vĩ đại của nước Anh, tất cả các báo và tạp chí lừng danh (còn tồn tại cho đến ngày nay hàng trăm năm tuổi) đều bị lôi ra vô số các trích đoạn để chứng minh các điểm sai về văn phạm, từ ngữ, ngôn phong, v.v., chẳng hạn như:

1) …Mrs. Downe Wright had not forgiven the indignity of her son having been refused by Mary…       FERRIER

2) …Hurried reading results in the learner forgetting half of what he reads, or in his forming vague conceptions….         SWEET

3) …As to the audience, we imagine that a large part of it, certainly all that part of it whose sympathies it was desired to enlist, …        TIMES

thì tôi đã được tiếp cận các câu văn vẻ tiêu biểu được chọn lọc, học được vô số điều từ các phê bình đẳng cấp cung đình, những điều mà tất cả các sách vở và thầy cô ở Việt Nam không hề (hoặc không thể) nói đến ở tầm cao tương tự.

(Ghi chú về ba câu tiếng Anh có “ngoại hình” rất cao cấp ở trên:

– Phê bình (luôn ngắn gọn, chỉ ghi tên gọi của lỗi, không giải thích) ghi trong sách The King’s English: Câu 1 và 2 sai ở sở hữu cách

– Tôi giải thích với sinh viên khi đem vốn liếng The King’s English của tôi ra dạy sinh viên: Chữ her son trong Câu 1 nếu là her son’s và chữ the learner trong câu 2 nếu là the learner’s mới đúng. Trong câu 1, đối tượng liên quan đến indignity là “cái việc” having been refused by Mary của her son, chứ không phải bản thân her son, nếu viết như S. Ferrier thì hóa ra having been refused by Mary không còn là “cái việc” tức là một danh từ/nhóm từ danh từ noun phrase mà trở thành một tính từ loại perfect participle. Còn ở câu 2 thì rất rõ vì xuất hiện yêu cầu đối xứng của tiêu chí parallelism khi viết văn: từ OR liên kết 2 phần cân xứng y như nhau, do đó, nếu vế sau OR có IN HIS với HIS ở sỡ hửu cách thì vế trước OR buộc phải có sở hữu cách nên phải là IN THE LEARNER’S. Còn câu 3 có phần sau phải viết lại thành whose sympathies were enlisted mới đúng tiếng Anh.

ĐOẠN KẾT

Các thi sĩ, nhạc sĩ có đặc quyền áp dụng các phá cách mà không cần giải thích, và những người hiểu biết không bao giờ đặt câu hỏi, càng chẳng bao giờ tung email không chỉ vì muốn khoe các phát hiện của mình mà có khi vì những lý do xấu khác, chẳng hạn như nhằm chê bai hay bôi nhọ đối thủ cạnh tranh.

Lý do của các phá cách như She don’t rất đơn giản: nhà thơ hay nhạc sĩ đều giống nhau ở điểm họ cần số lượng âm nhất định cho một khổ thơ hay một đoạn nhạc. Nếu ở một đoạn đặc thù chỉ còn trống chỗ cho 2 âm tiết thì She doesn’t đúng văn phạm nhưng có 3 âm tiết, và She don’t trở thành một giải pháp 2 âm tiết tuyệt hảo được các fan hâm mộ tán dương, khen ngợi, thần phục. The cow don’t (thay vì the cow doesn’t) cũng là trường hợp tương tự.

Lý do của You IsYou Am lại nhằm mục đích khác, có thể mang tính triết lý sâu sắc sâu xa, hoặc diễu cợt, hoặc “chơi chữ” của tác giả, chứ không vì giới hạn của số lượng âm tiết, chẳng hạn muốn hàm ý “anh chỉ là số ít, anh chỉ là cái tôi của anh”. Và cũng như việc không ai đến viện bảo tàng nghệ thuật đứng ngắm nhìn các bức họa kiệt tác lại mở miệng nói linh tinh hoặc hỏi lung tung – thậm chí ngay cả khi bức họa là một tấm giấy trắng khổ lớn như đang có tại một viện bảo tàng hình như ở New York nghe đâu được mua với giá vài trăm ngàn USD – độc giả và khán giả cũng sẽ thưởng thức các cái “sai cố tình” và tán thưởng vì đó là sự độc đáo độc quyền trong lĩnh vực nghệ thuật, mỹ thuật, chẳng khác nào tranh truyền thần và tranh trừu tượng đều vẽ về người phụ nữ nhưng theo cách khác nhau và giá tiền của tranh trừu tượng của Picasso luôn đắt hơn tranh truyền thần thời hiện đại.

Về I and You / Me and You thì rất đơn giản:

– Lobo muốn Me and YouYou đồng âm với Boo, nên khi hát Me and You and the Dog Named Boo sẽ tạo tác dụng ngữ âm hợp vận tuyệt hảo theo ngắt đoạn: Me and You…. and the Dog Named Boo.

– Tôi không kiếm tìm sụ hợp vận như Lobo mà chỉ thực hiện cái quyền sử dụng tiếng Anh cho mục đích của riêng tôi, người ở vị trí cao hơn tất cả mọi người ở Việt Nam (dù là người Việt Nam hay người nước ngoài làm việc ở Việt Nam) về tiếng Anh nên có cái đặc quyền này, và nếu văn phạm tiếng Anh chưa ai giải thích thì tôi sẽ lấy làm vinh dự giải thích rằng: khi tôi viết I and Professor Le Văn Diem, tức theo kiểu I and You, thì tôi ngụ ý rằng từ I trở thành nhân vật chính và duy nhất, với nhân vật You ở vị trí phụ trợ, biến chữ and mang ý tương tự của together with cho một tình huống tương tự của nhu cầu 1 âm tiết của and mà không là 4 âm tiết của together with hoặc thậm chí chỉ một từ with với chỉ một âm tiết tôi cũng không muốn sử dụng vì with thuộc âm vực lên cao rất chỏi với các âm trước và/hay sau nó, trong khi and lại là một trầm bình thanh, đáp ứng dụng ý vần điệu cho thơ ca hoặc âm điệu cho văn xuôi. Nói đơn giản hơn, bạn dùng đúng văn phạm tiếng Anh thí dụ như You and I will go to the market để nói lên một sự thật là cả hai cùng đi chợ, nhưng khi tôi viết I and you will go to the market, tôi muốn nói tôi buộc bạn là cấp dưới của tôi phải đi với tôi ra chợ và khi phát âm tôi sẽ nhấn mạnh chữ and you cùng với việc chỉ ngón tay vào bạn. Khi tôi viết Professor Le Van Diem and I, ý nghĩa sẽ là thực sự Thầy Diệm và tôi cùng nhau thực hiện một công việc gì đó, chẳng hạn cùng đóng góp tư liệu và hiệu đính cho giáo trình văn học Anh Mỹ cho Đại Học Boston. Nhưng khi tôi viết I and Mr Nguyen Quang To, tôi và Thầy Tô là hai cá nhân riêng biệt vì chỉ có tôi nói về Thầy chứ không phải cùng Thầy cùng nói về nhau.

Nói tóm lại, trước khi bắt đầu cuộc chinh phục tiếng Anh để nói giỏi tiếng Anh và viết giỏi tiếng Anh, bạn cần quan tâm đến những điều sau:

1- Đừng dùng tiếng Việt viết phê phán chất lượng tiếng Anh của tôi trong khi bản thân bạn chỉ mới nắm phần sơ đẳng của tiếng Anh. Muốn biết bạn đã vượt qua phần sơ đẳng hay chưa, khi “phát hiện” điều mà bạn cho là “kém” của tôi, bạn hãy viết một bức thư thật dài bằng tiếng Anh để gởi tôi, trong thư bạn nêu rõ điểm hay các điểm sai, đưa ra các dẫn chứng hàn lâm mà bạn có để chứng minh đó đúng là các điểm sai, và bạn đề nghị các sửa sai. Khi bạn nhận được thư cảm ơn của tôi – dù tôi rối rít cảm ơn bạn hay trình bày bạn rõ các dụng ý của tôi – bạn sẽ biết chắc chắn rằng bạn đã giỏi tiếng Anh.

2- Đừng bắt chước việc phá cách của các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, và những người giỏi tiếng Anh, vì đó là quyền lực của riêng họ. Bạn là người đi học, và bài làm của bạn phải đúng theo đáp án; thậm chí bạn có là giảng viên dạy tiếng Anh kiệt xuất, bạn cũng không có quyền phá cách. Phá cách là phạm vi privacy (riêng tư), ego (cái tôi), meditation (hành trạng tư duy), creation (sáng tạo), experience (trải nghiệm), và talent (tài năng) mà bạn chưa chắc đã có đủ.

3- Đừng bắt chước việc tạo từ của các thi sĩ, nhạc sĩ, văn sĩ, và những người giỏi tiếng Anh, vì đó là quyền lực của riêng họ. Bạn là người đi học, và bài làm của bạn phải đúng theo đáp án; thậm chí bạn có là giảng viên dạy tiếng Anh kiệt xuất, bạn cũng không có quyền tạo từ. Tạo từ là phạm vi privacy (riêng tư), ego (cái tôi), meditation (hành trạng tư duy), creation (sáng tạo), experience (trải nghiệm), và talent (tài năng). Tạo từ cũng là quyền của giới học thuật và truyền thông, chẳng hạn Liên Xô chê từ astronaut (phi hành gia) của Mỹ thuộc đẳng cấp thấp (vì astro có ngữ nguyên tiếng Ai Cập nghĩa là ngôi sao) nên chế ra từ mới cosmonaut (nhà du hành vũ trụ) cho “vĩ đại hơn (chơi chữ: tạo từ có cùng ngữ nguyên Ai Cập, nhưng cosmo nghĩa vũ trụ nên bao trùm hơn và rộng lớn vĩ đại hơn astro); hay vào những năm đầu sau Giải Phóng Miền Nam, các đài phát thanh tiếng Việt và tiếng Anh của Mỹ và Anh chế tạo ra từ mới tiếng Việt “thuyền nhân” và “boat people” gọi những người vượt biên, vì việc vượt biên không mang ý nghĩa chính trị do không có bằng chứng về các ngược đãi nên không thể dùng từ refugee tức người tỵ nạn đã dùng thời Thế Chiến II.

Khi bạn biết bạn đang ở bậc thang nào của tiếng Anh và biết giữ theo ba lời khuyên trên, xem như bạn đã chuẩn bị kỹ càng cho tư thế một chiến binh chinh phạt và chinh phục ngôn ngữ ấy vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời bạn tham khảo thêm:

Hoàng Hữu Phước. 25-11-2015. Thế Nào Là “Từ Chương”

Các bài cùng chủ đề tiếng Anh:

1) Hoàng Hữu Phước. 07-12-2011. Phường có đúng là Ward? http://www.emotino.com/bai-viet/19422/phuong-co-dung-la-ward

2) Hoàng Hữu Phước. 13-5-2011. Kinh Nghiệm Về Việc Học Ngoại Ngữ . http://www.emotino.com/bai-viet/19112/kinh-nghiem-ve-viec-hoc-ngoai-ngu

3) Hoàng Hữu Phước. 20-6-2011. Chia Sẻ Kinh Nghiệm Về “Học Giỏi” Tiếng Anh. http://www.emotino.com/bai-viet/19153/chia-se-kinh-nghiem-ve-hoc-gioi-tieng-anh

4) Hoàng Hữu Phước. 14-04-2011. Don’t Ever Talk Nonsense against vietnam, You Expatriate Businessmen. http://www.emotino.com/bai-viet/19087/dont-ever-talk-nonsense-against-vietnam-you-expatriate-businessmen

5) Hoàng Hữu Phước. 05-06-2010. Tips for Excellent Learners of Excellent English. http://www.emotino.com/bai-viet/18651/tips-for-excellent-learners-of-english

6) Hoàng Hữu Phước. 03-06-2010. The Three Important P’s in a Seven-Sentence Writing. http://www.emotino.com/bai-viet/18642/the-three-important-ps-in-a-sevensentence-writing

7) Hoàng Hữu Phước. 08-03-2010. Kịch: Thorns of Life. http://www.emotino.com/bai-viet/18458/kich-thorns-of-life

8) Hoàng Hữu Phước. 17-9-2008. Anh Văn Bằng A, B, C Hay Cử Nhân? http://www.emotino.com/bai-viet/17025/anh-van-bang-a-b-c-hay-cu-nhan

Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

Hoàng Hữu Phước, MIB

Có lẽ Sấm Trạng Trình là tác phẩm duy nhất thường được

– nhiều người Việt nhắc đến như một tiêu biểu đặc trưng Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong khi lẽ ra Cảm Hứng Thi, Khuê Tình, Hạ Cảnh, , và Ngụ Hứng mới là những kiệt tác đáng được đọc hơn; và

– nhiều Việt Kiều chống Cộng lạm dụng một cách mông muội để giải thích hùng hồn này nọ rồi chờ đợi mõi mòn đến bạc đầu từ kỷ này đến kỷ khác (mỗi kỷ bằng 12 năm) sự sụp đổ của Cộng sản Việt Nam dựa trên đoạn sấm:

…Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình …

thậm chí có kẻ còn sử dụng chiêu thức vừa ăn cướp vừa la làng để tự nhận mình là “anh hùng” có ngày được Phật Vương hô biến tiêu diệt Ma Vương (tức Cộng Sản) để “anh hùng” quay về Việt Nam vẻ vang vào cái năm Thân Dậu ấy, cứ như thể buôn lậu ma túy đã đời với trò lính kiểng lính ma rồi vứt bỏ vũ khí chạy tán loạn khỏi Việt Nam nhưng vì là “Cộng Hòa” nên đương nhiên tốt đẹp và Sấm Trạng Trình phán Phật Vương sẽ vì các “anh hùng” mà làm Việt Nam tự động sụp đổ chết như rạ để các “anh hùng” lũ lượt kéo về thống trị đất nước Việt Nam làm chỗ buôn lậu ma túy tiếp vậy.

Điều tôi nhận xét về Sấm Trạng Trình là:

– Đối Với Bản In: không rõ vì sao các bản in tôi tìm thấy được đều kỳ dị, đọc như mớ hổ lốn vừa nôm vừa na vừa Hán vừa ta trong suốt 485 dòng sấm, không thể tin đó là từ thần bút của Nguyễn Bỉnh Khiêm; hoặc nếu nguyên tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự tuyệt hảo về văn chương hàn lâm thi phú mà hiện không biết đang ở đâu, thì cái gọi là “bản dịch” cho tác phẩm mang tên Sấm Trạng Trình đã hàng trăm năm nay không là công trình nghiêm túc của người dịch có học thức.

 Sam Trang Trinh

– Đối Với Người Đọc: không rõ vì sao người Việt của rất nhiều thế hệ của rất nhiều thế kỷ đều chỉ quan tâm đến mỗi 4 dòng duy nhất của cả bài sấm nhiều trăm dòng nên có chung một ý nghĩ rằng những từ Hán Việt hiếm hoi trong bản dịch vừa nôm vừa na vừa Hán vừa ta là nói về các năm, như: năm Rồng (Long), năm Rắn (Xà), năm Ngựa (Mã), năm Dê (Dương), năm Khỉ (Thân), năm Gà (Dậu), v.v., để rồi bị hố liên tục, chờ tiếp chu kỳ một kỷ tức 12 năm tiếp theo, hy vọng cái “thái bình” mơ hồ nào đó sẽ đến.

Tôi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không “huỵch toẹt” gì cả trong những lời tiên đoán hay sấm truyền của Ông. Thí dụ rõ nhất là đối với giai thoại về “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân” tôi lại thấy nêu bật những ba điều gồm (a) câu cú cực chuẩn, văn vẻ, văn chương hàn lâm, đúng là lời của bậc tài hoa, chứ không hỗn độn loi choi như bản dịch Sấm, (b) ngụ ý xa vời để không phạm tội tiết lộ thiên cơ, và (c) không hề “bói” rằng triều đại nhà ấy chỉ cần vào ấy là tồn tại hàng vạn đời vì cái triều đại ấy đã thực hiện theo lời Trạng mà có tồn tại vạn đời đâu? Từ đó suy ra, Trạng nói về cái cao siêu hơn, chẳng hạn khẳng định rằng đất nước ta tồn tại muôn đời sau khi trãi rộng Nam Tiến vượt Hoành Sơn, nghĩa là Trạng “nhìn thấy” được sự mở mang bờ cõi về phương Nam của đất nước – với sự khai mào của cái người đã sai gia nhân tìm đến xin ý kiến của Trạng – chứ tầm cỡ như Trạng không thể bói sai, không làm kẻ vẽ đường cho một triều đại nào cả, nhất là khi lịch sử chứng minh số phận của cái triều đại ấy hoàn toàn không đúng như lời Trạng.

Ngoài ra, trên cơ sở của Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân, tôi tin tưởng tuyệt đối rằng với tài tiên tri thấu thị của một bậc kỳ tài, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ để lại mỗi bốn dòng thơ sấm truyền ngắn gọn tinh túy cho hậu thế chứ không bao giờ có cái tác phẩm kỳ quái diễn giải lung tung, câu cú hỗn độn, lăng nhăng lít nhít, phá niêm quậy luật, xằng bậy bậy xằng những mấy trăm câu như thế.

Dựa vào tất cả những nhận xét trên, tập trung vào duy chỉ bốn dòng sấm truyền đúng là từ tài ba của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi thấy kiểu diễn giải bám vào ý sơ đẳng (dịch từng chữ một) để nói Cuối Năm Rồng, Đầu Năm Rắn Có Chiến Tranh (Long Vĩ Xà Đầu Khởi Chiến Tranh) là không sâu sắc vì tầm cỡ của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ cần dùng một trong hai, tức hoặc Long Vĩ, hoặc Xà Đầu, chứ không dùng cả hai, nếu thực sự ám chỉ năm Rồng hay năm Rắn, vì cuối năm rồng tức là…đầu năm rắn rồi, nếu dùng cả hai hóa ra “nhà thơ” bị bí từ ngữ nên phải dùng trùng lặp hay sao! Ngoài ra, hầu như ai cũng diễn sai rằng “Đầu Năm Ngựa, Cuối Năm Dê” khi nói về “Mã Đề, Dương Cước” vì Đề là Móng, thì sao lại nói cứ như thể chỉ có chân trước của ngựa là có đóng móng để cho đó là “đầu năm”; và “cước” là chân, cớ sao lại cho rằng dê chỉ có chân sau để nói đến chuyện “cuối năm”?

Do đó, đoạn

…Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh

Can qua tứ xứ loạn đao binh

Mã đề Dương cước anh hùng tận

Thân Dậu niên lai kiến thái bình …

cần được hiểu như sau:

… Cái con quái thú đầu rắn đuôi rồng quậy phá

Khiến nơi nơi bất ổn vì phải dồn sức chống ngăn

Song, nếu ngựa mà xưng hùng xưng bá xuất chiêu đạp dê, sẽ bị dê đá bại

Dân ta cứ như chú gà nhỏ bé nhưng sẽ đường bệ gáy vang khi thấy rực sáng ánh dương

Diễn nghĩa thêm, có khi ta nghiệm được lời dặn sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:

“Hỡi con dân nước Việt, đừng sợ bất kỳ bọn siêu cường nào vỗ ngực xưng rồng (Thiên Tử) vì chúng chỉ giỏi hù dọa thôi do đuôi thì tuy giống rồng thật đấy, chứ bản mặt thì nhỏ xíu như mặt rắn nước; nếu chúng xưng hùng xưng bá tự cho mình đẹp đẽ như ngựa chiến lớn đùi to chân dài chà đạp chúng ta thì nước ta tuy nhỏ yếu như dê cũng sẽ tiêu diệt được chúng; và nước ta vẫn cứ thế: bản thân tuy như con gà nhỏ nhưng đẹp, đủ lông đủ cánh mà gáy vang vì muôn đời ánh sáng luôn chiếu rọi trên đất nước chúng ta”.

Do chỉ có Trung Quốc hay xưng mình là Thiên Tử, là rồng, nên đích thị là đối tượng được ám chỉ trong Sấm Trạng Trình. Như vậy, Trung Quốc đang là con quái vật mặt rắn bẹp lưỡi dài chẻ nhánh, có đuôi mọc gai giống đuôi rồng, chẳng khác gì hàng không mẫu hạm rĩ sét Varyag được phủ bằng lớp sơn cực đẹp chứa độc tố kẽm (còn sót lại sau sự thất bại sản xuất đồ chơi búp bê bán qua Mỹ) biến thành Thi Lang, chở vài chục chiến đấu cơ tàng hình Chengdu J-20 mà khoe là sẽ cho Raptor F-22 của Mỹ và Sukhoi PAK FA T-50 của Nga ngửi khói xịt phía sau để biết thế nào là lễ độ với mùi hôi Trung Quốc, được lái bởi bọn “giặc lái” hậu duệ bọn thảo khấu Lương Sơn Bạc chuyên gia bán bánh bao nhân thịt người (tức bọn cướp cạn lúc nào cũng tự xưng “anh hùng”), từ nhỏ được nuôi bằng sữa bột có pha melamine hiệu Sanlu. Nói tóm lại, cái con quái thú mình giun, đuôi rồng (long vĩ), đầu rắn (xà đầu) có tên Trung Quốc nếu tấn công Việt Nam (hình cong chữ S giống mình chú gà ngồi nghểnh cổ – tức là mình gà, còn gọi là thân gà, nếu toàn Hán Việt thành … Thân Dậu) sẽ bị Việt Nam đánh cho đại bại, hết kiếp xưng bá (bá chủ Biển Đông) xưng hùng (Anh Hùng…Xạ Điêu).

Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam, nói: “Nếu chiến tranh xảy ra, không bên nào chiến thắng.” Đó là ngôn phong vị tướng lĩnh làm công tác đối ngoại lịch lãm nhún nhường trước báo giới.

Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trình Tuyền Hầu nhà Mạc, để lại cho con dân anh dũng của nước Việt hào hùng một lời trấn an, đúng mực bậc tài hoa “thiên cơ bất khả lậu” gởi gắm trong câu sấm một khẳng định tuyệt vời: Nếu chiến tranh xảy ra, chỉ có Việt Nam chiến thắng. Đó là ngôn phong nhà giáo thiên tài nho nhã đối nội lịch lãm với hậu thế.

Công dân Hoàng Hữu Phước do tin rằng mình nghiệm ra và giải mã được lời trấn an của Trạng, nên trong đêm khuya thanh vắng ở Thủ Đô nghe tiếng gió rít mưa sa của cơn bão số 3, viết rằng: Mã đề dương cước anh hùng tận = Ngựa mà đạp Dê sẽ bị Dê đá trả khiến“anh hùng Lương Sơn Bạc”bị diệt vong = China Delenda Est = Sinās Delenda Est = Trung Quốc Phải Bị Tiêu Diệt! Đó là ngôn phong người học trò bình dân mon men văn luyện võ ôn, tập tành ráp nối dăm ba chữ Latinh và Hán Việt sơ đẳng khi nằm đối thoại với trần nhà.

Kính mong các tu sĩ chủng viện và các bậc túc nho rộng lòng chỉ giáo về vốn từ La Tinh và Hán Việt của hàn sĩ này. Xin đa tạ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú: bài trên được đăng lần đầu trên Emotino.com và Antichina.blog.com năm 2011

 

 

Sadim Ơi Là Sadim

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Bài viết đăng trên Emotino tháng 8 năm 2012)

Ắt các bạn ai cũng biết câu truyện thần thoại về Midas. Đó là vị vua tốt bụng, được một vị thần mến thương ban thưởng cho một lời ước, và vua Midas đã ước những gì ông chạm vào đều biến thành vàng. Lời ước ngay lập tức được thực thi, và tất cả những gì ông chạm đến đều biến thành vàng ròng nguyên chất, từ đóa hoa, bàn ghế, chú chó cưng, đến bà hoàng hậu nhân từ, ngay cả cô con gái bé nhỏ của ông cũng trở thành bức tượng công chúa tuyệt mỹ trong dáng dấp đáng yêu đang nũng nịu líu lo định kể ông nghe về chú chim họa mi ngậm lão ve sầu trong vườn thượng uyển mà cô bắt gặp buổi sáng định mạng ấy. Nhưng dù truyện kể có cho biết rằng ông vua đói khát khổ sở vì trong vương quốc của ông người hầu và người dân đều biến thành vàng và ông phải đi lang thang tìm thức ăn nào chưa biến thành vàng để ăn để uống song không thể nào tìm được vì ngay việc ông chắp tay sau lưng cúi gập mình xuống để ăn thì môi ông cũng biến thức ăn thành vàng ròng bốn số 9 phẩy bốn số 9, thì cái tên Midas của ông vẫn không vì vậy mà bị ô danh. Midas đã trở thành một thành ngữ trong tiếng Anh dùng cho những người có khả năng thiên phú biến những điều bình thường, dưới bình thường, tầm thường, hư hỏng, tệ hại, v.v., trở thành tuyệt diệu, cứ như người trở thành “tỷ phú đô-la” nhờ “làm ăn” trong ngành xử lý chất thải sinh hoạt của con người vậy.

Đối chọi với Midas là Sadim. Thật ra nếu các bạn có tìm đọc được truyện thần thoại về Sadim thì cũng cần biết đó là truyện chẳng có giá trị thần thoại gì hết mà chỉ là sản phẩm của một cá nhân hay một nhóm người có ý đồ truyền bá “tôn giáo mới” thuộc hệ Quỷ Satan. Đơn giản vì Sadim được người đời chế ra tên gọi như thế bằng cách viết ngược lại của chữ Midas, để ví von về kẻ chuyên làm hỏng mọi sự, sờ đến đâu là nát bét đến đấy. Như vậy Midas là người thành công mãi mãi, còn Sadim là kẻ thất bại triền miên.

Tất nhiên, viết bài này tôi không nhằm tiết lộ ông Tây bà Đầm nào đã gọi tôi là Midas vì đã đến giúp “tái cơ cấu” giải cứu được công ty dịch vụ tài chính của ông ấy bà ấy, mà tôi muốn kêu trời “Sadim ơi là Sadim!” sau khi thấy dường như ngành công nghệ giải trí ở Việt Nam ta có quá nhiều Sadim. Cái chương trình The Voice tuyệt diệu trên TV Mỹ làm tôi bỏ công ăn việc làm hai năm qua vào những ngày trình chiếu để theo dõi mê say, ngay lập tức biến thành scandal tệ hại khi nó được mấy tay truyền thông Việt mua bản quyền về dưới cái tên “Giọng Hát Việt” hay “Tiếng Hát Việt” gì gì ấy dù ở Việt Nam làm gì có “đối tượng phù hợp” với tôn chỉ của The Voice? Gameshow này của Mỹ cho thấy ban tổ chức đã rất kỳ công đi lùng kiếm khắp nước Mỹ (cần nhớ rằng chỉ mới một bang California thôi đã lớn hơn nước Việt Nam) để chọn mời những ca sĩ đường phố (sống du ca với chiếc đàn, và tiền kiếm được của ngày mai là con số bất định khiến các ca sĩ này không biết mai sẽ được ăn cái gì cho bữa trưa, nuốt cái gì cho bữa tối); những người “hồi gia” tức vừa mãn tù về với điạ phương và đang vui vẻ hát ca lúc lao động chân tay khuân vác hay quét rác đường phố; những nhân viên bán hàng, đầu bếp, v.v., có tài đàn ca hát xướng tại nơi làm việc phục vụ khách hàng, thậm chí tự viết ca khúc, v.v. Nói chung thì tuyệt đại đa số đều sử dụng nhạc cụ, đều hát hay vì có học thanh nhạc (ai mà lại không được học thanh nhạc và sử dụng nhạc cụ thành thạo từ nhỏ ở trường tiểu học và trung học cơ chứ), và đều có lợi thế trên nền âm nhạc phát triển đa dạng, phong phú, tuyệt diệu, uy trấn toàn cầu của âm nhạc Mỹ. Còn ban giám khảo thì khỏi nói, cả 4 vị đều là danh ca, mà đã là danh ca thì luôn luôn có ít nhất cùng lúc 7 điều sau: (a) danh tiếng toàn cầu với bao album thuộc loại dĩa kim cương hay bạch kim, (b) sáng tác rất nhiều ca khúc nổi tiếng toàn thế giới, (c) chính mình ca hát những ca khúc do mình sáng tác, (d) có ban nhạc riêng đi lưu diễn như cơm bữa ở nước ngoài kể cả tại các nước giàu ở Đông Nam Á như Mã Lai, (e) là bậc thầy của một thể loại nhạc cụ thể, (f) có sức khỏe như đô lực sĩ vì ca hát nhảy múa hừng hực trên sân khấu lưu diễn kể cả sân khấu The Voice, và (g)… sử dụng được nhiều loại nhạc cụ. Vậy mà họ – tức mấy ông mấy bà Việt Nam – vẫn bỏ tiền mua bản quyền để rước về Việt Nam, trong khi Việt Nam mà có ca sĩ đường phố ư? họ giỏi nhờ có trình độ được đào tạo bài bản từ nhỏ và thậm chí ở nhạc viện hàn lâm ư? họ biết…sử dụng nhạc cụ ư? họ..ư ư ư? Có ban giám khảo có cả 7 điều như ban giám khảo của The Voice ư? Thí sinh của American Idol có thể không sử dụng nhạc cụ nhưng thí sinh của The Voice thì thích sử dụng nhạc cụ và thích hát bài hát rất hay của chính mình để có thể được thực khách hay người đi đường chịu đứng lại lắng nghe rồi thưởng tiền mà! Sadim ơi là Sadim!

Kêu gào tên Sadim mà chỉ nêu scandal của “Giọng Hát Việt” hay “Tiếng Hát Việt” gì gì ấy thì e là cái ông Sadim ở Âu Mỹ không cam chịu, nên tôi đành kể thêm một gameshow khác để cho đức ngài Sadim phải tâm phục khẩu phục chuyện bị Lăng Tần lôi tên ra mà kêu với réo. Mấy năm trước, tôi cũng bỏ công ăn việc làm vào những ngày tivi Mỹ phát chương trình Are You Smarter than a 5th Grader? cực kỳ công phu tuyệt diệu. Để tổ chức chương trình này, ban tổ chức đã đi khắp nước Mỹ mở kỳ thi tuyển rầm rộ dài ngày dài tháng tại tất cả các tiểu bang để cuối cùng chọn ra 5 học sinh lớp 5 kiệt xuất cho gameshow này. Mỗi người lớn dự thi phải đáp ứng các yêu cầu như: phải là…người lớn, phải có danh phận đặc biệt chú trọng các vị hồi còn nhỏ đã là học sinh giỏi, lớn lên đã học giỏi (có kỳ tích học tập sẽ là một lợi thế), hiện có nghề nghiệp sự nghiệp thành đạt hẳn hoi (có bỏ tiền ra mở tổ chức từ thiện sẽ là một lợi thế), và được giới trẻ kính trọng noi gương (tất nhiên là không có noi theo … ca sĩ), v.v., để trả lời 10 câu hỏi lấy ra từ sách giáo khoa lớp 1 đến lớp 5, với giải thưởng 1 triệu đô-la Mỹ cho mỗi người thắng cuộc (mà chưa ai thắng được). Nếu câu hỏi nào không trả lời được sẽ được 1 trong 5 bé học sinh ấy trợ giúp, v.v. Tôi mê say theo dõi vì thấy các câu hỏi ấy ở đẳng cấp ra sao: học sinh lớp 1 đến lớp 5 Mỹ học ghê gớm và biết gớm ghê, từ tên và vị trí các chòm sao của môn Thiên Văn Học, đến các địa danh Thế Giới Sử, tên thủ đô các nước, và môn địa lý đòi hỏi các em phải biết sông nào của Mỹ dài bao nhiêu, nằm giữa các tiểu bang nào, qua các thị trấn nào, còn âm nhạc thì toàn là về các thiên tài nhạc cổ điển của thế giới, v.v. và v.v. Ở Việt Nam, họ – tức mấy ông mấy bà Việt Nam – vẫn bỏ tiền mua bản quyền để rước về Việt Nam, đến một vài trường nhà giàu để mời vài cháu thật tròn trịa (giàu mà lị!) ăn mặc thật đẹp (giàu mà lị!) ngồi hoành tráng bảnh chọe vào ghế lạnh (giàu mà lị!) để trợ giúp mấy người lớn đứng trên bục nóng mà đa số là ca sĩ (để câu khách xem đài mà lị!) luôn có cách ăn mặc không ai giống (để câu khách xem đài mà lị!), cách ăn nói cười cợt không giống ai (để câu khách xem đài mà lị!), và ắt là đa số không có cái quá khứ “hàn lâm” thời tiểu học như các cháu học trò Mỹ. Ấy là chưa kể cái “từ chương” trong các câu hỏi thật là khủng khiếp khi ban “hàn lâm” của chương trình Ai Giỏi Hơn Học Sinh Lớp 5 thích đẻ ra câu hàn lâm kiểu Việt “hãy điền từ còn thiếu vào chỗ trống trong câu ca dao sau đây” tức là xem trọng “học thuộc lòng” trong khi mồm oang oác chống “từ chương” (trong khi mấy học sinh trong gameshow Mỹ được phép viết sai chính tả thí dụ tên sông hay tên tiểu bang thiếu hay dư một chữ S cũng không sao miễn phát âm đúng là được), hoặc hỏi về những bài hát mới tinh của Việt Nam mà chúng sẽ làm cả thế giới kinh ngạc vì chỉ khi tuổi đời của các bài hát phải thật cao như trên 50 năm, chất lượng âm nhạc và ca từ phải ở chót vót, và danh tiếng thành công của bài hát phải thật ở tít trên trời mới được đưa vào làm câu hỏi giáo khoa cho gameshow. (Chương trình học thấp lè tè, vậy mà có kẻ đang hô hào đừng học 12 năm làm gì, 10 năm thôi!) Ối, Sadim ơi là Sadim!

Quảng cáo thì cũng có ông Sadim sờ vào đấy.

Làm phim thì cũng có ông Sadim mó vào đấy.

Làm gameshow thì cũng có ông Sadim vuốt vô đấy.

Ngay đến làm … chính sách giáo dục mà cũng đưa ông Sadim sờ cho một cái, mó cho một tí, vuốt cho một tị.

Sadim ơi là Sadim!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Chí Phèo

Hoàng Hữu Phước, MIB

Mỗi khi cần có bài viết làm phát pháo khuấy động đầu tiên cho một chuỗi loạt bài tràn ngập tiếp theo của các tác giả khác, ban biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị lúc chưa đình bản đều liên lạc nhờ tôi giúp cho một bài khai cuộc. Một trong những bài báo phục vụ mục đích này là bài Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước đăng ngày 10-9-2008. Nội dung bài này sẽ được đăng lại bên dưới, với ý chính là thay vì hô hào một cách vô lý rằng Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước, Việt Nam nên dùng khẩu hiệu Sản Xuất Hàng Hoá Chất Lượng Cao Cấp Là Yêu Nước, khởi đầu cho làn sóng tham gia đầy tích cực vào chủ đề này, dẫn đến việc Chính phủ cho biến mất luôn khẩu hiệu Dùng Hàng Việt Nam Là Yêu Nước trong các lời kêu gọi, và thay vào đó là một khẩu hiệu mới là Ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam sử dụng trên cả nước, nghĩa là cái trách nhiệm với tổ quốc vẫn cứ phải áp đặt duy chỉ trên vai người tiêu dùng, có thể vì các nhà sản xuất Việt Nam vẫn không đáp ứng được yêu cầu của tôi là sản xuất hàng hóa chất lượng cao để tỏ lòng yêu nước của họ.

Khi tôi nói về chất lượng cao cấp, tôi không những nói về những gì bất kỳ ai cũng biết về nội hàm luôn có của chất lượng cao cấp, mà còn ngụ ý bao gồm cả chất lượng cao cấp của các giá trị phi vật thể của hàng hóa tức thương hiệu, nhãn hiệu, hình thức bao bì, nội dung hướng dẫn sử dụng hoặc bảng ghi thành phần, v.v.

Vào thời Mỹ cấm vận Việt Nam, tôi (tại Công ty CIMMCO International) cung cấp cho các công ty điện tử quốc doanh lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tivi màu dạng CKD của Ấn Độ, kể cả tivi màu sử dụng bình ắc-quy cho vùng đồng bằng Sông Cửu Long và vùng sâu vùng xa lúc mà ngay ở Thành phố Hồ Chí Minh còn phải thường xuyên cúp điện. Tôi đã tranh luận gay gắt với các công ty điện tử Ấn Độ vì các thùng các-tông đựng tivi của họ cực kỳ kém chất lượng, mỏng mảnh, mềm nhũn, in ấn sơ sài. Họ đã ngạc nhiên và chống chế rằng người mua sẽ vất ngay thùng đựng nên sao lại phí tiền cho một thứ không cần thiết như thế, miễn tivi của họ là chất lượng tuyệt hảo. Tôi đã phải tuyên bố rằng các ông ấy đang mặc áo sơ mi tơ lụa cực kỳ sang trọng dù chất lượng giáo dục, chất lượng trí tuệ, và chất lượng quản lý kinh doanh của họ tuyệt hảo, và rằng tôi không thể mua hàng của họ nếu thùng các-tông không có chất lượng cao, in ấn bao bì không có chất lượng cao, và không có các miếng xốp trắng độn bên trong thùng để bảo vệ những tivi “chất lượng cao” giống như bao bì tivi của Nhật Bản. Tất nhiên, các nhà sản xuất tivi Ấn Độ phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tôi; sau đó tôi cung cấp hàng của họ cho các công ty lớn, trong đó có Viettronics Tân Bình của Thành phố Hồ Chí Minh.

Thế mà cách nay hai tuần tôi chưng hửng khi xem tivi một cuộc phỏng vấn doanh chủ một công ty sản xuất giày thể thao hình như mang tên Thái Dương. Vị này nói tiếng miền Nam, giới thiệu một rừng sản phẩm giày thể thao mà tôi thấy rất tinh xảo, rất mỹ thuật, từ mũ giày đến đế giày, từ phối màu đến kiểu dáng cho từng nhu cầu thể dục thể thao khác nhau, và cho nam hay nữ, trẻ con hay người lớn. Nhưng tôi không tin vào tai mình khi nghe ông nói với giọng đầy kiêu hãnh về một loại giày thể thao nam mang tên Chí Phèo. Tôi sẽ không bao giờ mua giày của cái công ty đã đặt tên cho sản phẩm mình là Giày Model Chí Phèo vì tôi khẳng định Chí Phèo không phải là từ ngữ chất lượng cao về ngữ nghĩa, tu từ, phát âm, ngữ nguyên, và đẳng cấp. Một tivi màu chất lượng cao không thể chứa trong một hộp giấy dành đựng sản phẩm thùng nhựa chứa rác. Một đôi giày chất lượng cao không thể được dán phủ lên trên bằng một nhãn hiệu hạ đẳng thiếu nghiêm túc và thiếu ngay cả sự khôn ngoan đối với những vấn đề nhạy cảm lẽ ra không thuộc lĩnh vực kinh doanh như sự kiêng kỵ của khách hàng tin dị đoan hay phong thủy đối với một cái tên khiến họ sẽ dứt khoát không mua.

Biết đến bao giờ nhà sản xuất ấy mới chịu hiểu ra rằng sự nghiêm túc cẩn trọng lựa chọn ngôn từ cũng là một yêu cầu cao cấp của sản xuất hàng hóa chất lượng cao cấp.

Xây cầu mà đặt tên là Cầu Dần Xây, bảo sao không bị nhạo báng là không biết đến bao giờ chiếc cầu ấy của Huyện Duyên Hải (nay là Huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh) mới xây xong vì cứ xây dần xây dần từ thập kỷ này sang thập kỷ khác.

Khi thực sự nâng niu đứa con của mình, không ai không chọn cho nó một cái tên tốt đẹp ngay cả trước khi nó lọt lòng mẹ. Khi thực sự nâng niu một đứa con tinh thần là một tác phẩm thơ văn, hay một đứa con vật chất là một sản phẩm thương mại, người ta không thể không chọn cho nó một cái tên tốt đẹp ngay cả trước khi nó ra lò.

Đó là một chân lý giản đơn.

Kinh Tế Việt Nam Cần Thay Đổi Khẩu Hiệu Yêu Nước

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Bài viết cho báo Saigon Tiếp Thị, số 105, ra ngày Thứ Tư 10/9/2008)

Lời Tòa Soạn: Xây dựng và phát triển thương hiệu không chỉ đơn thuần là chuyện của doanh nghiệp, khi bản thân doanh nghiệp là một thực thể tồn tại trong thị trường, có ảnh hưởng và chịu sự tác động của thị trường. Chính vì vậy, một trong những chức năng của thương hiệu là tạo ra động năng đòi hỏi sự thay đổi về cơ chế và lề luật nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Giới thiệu bài viết này như một gợi mở để suy nghĩ, phân tích về vai trò của doanh nghiệp trong đời sống thị trường

Hoàng Hữu Phước

Bấy lâu nay, ở Việt Nam hay dùng khẩu hiệu đại loại như “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” hoặc “Dùng hàng Việt Nam là yêu nước”. Những khẩu hiệu này đầy tính cực đoan. Kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu nếu nước nào cũng có khẩu hiệu tương tự, nghĩa là sẽ không xài hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam? Và tại sao chỉ hô hào, kêu gọi, và chuyển giao 100% trọng trách yêu nước cho chỉ người tiêu dùng?

Trong một thế giới toàn cầu hoá, các đối tác thương mại đều phải cố gắng sao cho mức nhập siêu và xuất siêu giữa từng cặp quốc gia có quan hệ song phương đều ở mức hợp lý nhất có thể được. Có bán thì phải có mua để sự thương thảo thêm tốt đẹp. Đã đến lúc phải có sự chuyển giao trọng trách yêu nước cho cộng đồng doanh nghiệp, những nơi mà thương hiệu đơn lẻ đang được nói đến nhiều, đầu tư rất nhiều, song chưa mang lại nhiều hiệu quả. Khẩu hiệu của thời đại mới ở Việt Nam phải là “Sản xuất hàng hoá chất lượng cao cấp là yêu nước”, vì sẽ là vô lý nếu doanh nghiệp quan tâm đến thương hiệu, bảo vệ thương hiệu, quản lý thương hiệu, lo toan nhiều đến bản quyền và nhượng quyền… mà không xem chính sự sản xuất ra hàng hoá chất lượng cực cao tại doanh nghiệp mình là thể hiện lòng yêu nước và gia cố cho sự bền vững và phát triển của thương hiệu. Cái đơn lẻ chỉ lo cho chính cái đơn lẻ ấy, và đó chính là lý do thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa thể vượt tầm quốc gia.

Vì vậy, “Sản xuất hàng hoá chất lượng cao cấp là yêu nước” cần phải là một slogan mới dưới sự tổ chức của Nhà nước. Hàng hoá chất lượng cao được sản xuất theo quy trình hợp lý để có tính cạnh tranh cao hơn, sẽ hấp dẫn các thị trường khác; và dù cho dân Việt Nam có sính mua hàng ngoại nhập đi chăng nữa (để giúp cân bằng cán cân mậu dịch song phương hay đa phương với các nước sản xuất khác) thì việc xuất khẩu được khối lượng lớn và liên tục hàng hoá của các doanh nghiệp mới chính là lòng yêu nước và là trách nhiệm cũng như vai trò thực sự, thực tế, và gần như là duy nhất của doanh nghiệp. Một khi không thể sản xuất hàng hoá chất lượng cao có tính cạnh tranh cao để chiếm lĩnh cho được thị trường thì chưa thể mạnh miệng nói đến vấn đề thương hiệu.

Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng cao cấp của Việt Nam”, “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp chỉ của chất lượng cao”, và “Sản xuất hàng hoá chất lượng cực cao là yêu nước” nên là những slogan mang tính chiến lược quốc gia nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đạt được giá trị thương hiệu đơn lẻ của họ trên con đường tắt.

Hàn Quốc có nhân vật Kim Sang Ok trong bộ phim nhiều tập Thương gia, người đã nhiều trăm năm trước tạo nên doanh giới đầu tiên của một môi trường xã hội vốn xem thương nhân thuộc hàng hạ đẳng. Nhờ vậy, Hàn Quốc ngày nay có doanh giới hùng mạnh vang danh khắp châu lục. Việt Nam không có nhân vật lịch sử nào tầm cỡ như Kim Sang Ok, người từ Hàn Quốc tìm đường bộ qua bao núi non hiểm trở đến tận Tràng An thiết lập và đẩy mạnh giao thương mua bán hai chiều với Trung Quốc, chiếm thị phần rất lớn ở Trung Quốc, đem lợi nhuận dồi dào về cho đất nước. Ông này không chỉ đóng thuế nhiều mà còn tự nguyện đóng góp thêm giúp triều đình củng cố quân đội đánh bại các thế lực ngoại xâm thời ấy.

Do đặc thù dân tộc tính, giới kinh doanh Việt Nam tuy thừa hưởng nhiều thuận lợi trong bối cảnh các nhà đầu tư và kinh doanh nước ngoài đổ xô vào Việt Nam; và trong thời toàn cầu hoá không còn những rào cản của địa lý và sự cấm vận, lại quen với cách hành xử quen thuộc là nêu khó khăn, chờ biện pháp giúp đỡ của Nhà nước; thay vì đề ra được một sách lược chi tiết của toàn doanh giới trình Chính phủ chấp thuận cho thực hiện. Chính vì vậy, một quyết sách, một chủ trương cần thiết mang tính đổi mới tư duy về “lòng yêu nước” cần được Nhà nước quan tâm quyết định. Chỉ có như vậy, thương hiệu mới được phát huy sức mạnh từ cả học thuật lẫn thực tiễn, đặc biệt trong môi trường nội địa hoá.

Không thể mong chờ đất nước lâm vào cảnh lạm phát, kinh tế suy thoái, để cho rằng đó là thời cơ lên ngôi của hàng hoá tốt và thương hiệu tốt. Cần nói với một tư duy mới rằng: hàng hoá sản xuất ra luôn có chất lượng cao, luôn có tính cạnh tranh cao, bảo đảm ngay cả khi nền kinh tế đất nước có lâm vào cảnh lạm phát hay suy thoái, doanh nghiệp vẫn trụ vững và có khả năng chủ động giúp nước nhà vượt qua khó khăn trong thời gian ngắn hơn.

Hoàng Hữu Phước

 Chi Pheo

http://www.sgtt.com.vn/Detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=40125&fld=HTMG/2008/0909/40125

http://cafef.vn/20080910114947295CA33/kinh-te-viet-nam-can-thay-doi-khau-hieu-yeu-nuoc.chn

Tranh Giành Ngôn Từ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Một

Trong xã hội có bao sự tranh giành và ngôn từ càng là lĩnh vực chứng kiến sự tranh đua khốc liệt, trước tiên là về thương hiệu đòi hỏi phải đăng ký tác quyền và độc quyền, tất cả thuộc vấn đề buộc phải có trong xã hội văn minh theo chuẩn quốc tế. Sau đó là về danh hiệu không đòi hỏi gì cả nên có kẻ thì xưng là diva dù hát ca khúc của người khác trong khi đứng không nổi phải ngồi bệt xuống sàn diễn, kẻ xưng nhà sử học dù chỉ là anh cử nhân không giảng dạy cơ hữu tại đâu cũng như chẳng trình làng tạp chí nghiên cứu sử học thế giới tức journal bất kỳ công trình nghiên cứu hàn lâm nào, kẻ tự xưng danh hài dù chỉ tấu hài ồn ào tía lia tía lịa vô duyên, kẻ vĩnh viễn bại trận đớn nhục ê chề trên đấu trường thể thao thế giới thì tự xưng đấu lăn xả vì màu cờ sắc áo, còn kẻ kinh doanh bất động sản thì rao bán trên tivi căn hộ chung cư cao tầng cho các nhà trí thức trẻ có bằng cấp từ hệ cao đẳng trở lên. Cái sự bát nháo ấy nói lên cái tự do. Mà tự do thì quý thật.

Hai

Trong bài viết Sài Gòn Thanh Lịch trên Emotino năm xửa năm xưa, tôi có kể lại chuyện lúc tôi thấy đèn đường chuyển sang màu vàng rồi đỏ đã ngừng xe đúng vạch ở ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa–Trần Quốc Toản trong một buổi chiều mùa hạ, hai phụ nữ son phấn lòe loẹt đèo nhau trên một chiếc HS chạy len lên để rẻ phải vô đường Trần Quốc Toản và khi lên ngang bên hông tôi đã quay sang hét lên giận dữ vào mặt tôi: “Ngừng xe ẩu vậy cha! Không biết chạy xe hả, Thằng Mù!” Còn vào một buổi tối mùa hè chạy xe trên đường Lý Chính Thắng sắp ra đến Hai Bà Trưng thì tôi bị một xe đạp từ trong hẻm lao ra húc làm tôi và cả hai thanh niên mình trần trùng trục đèo nhau trên chiếc xe đạp ấy cùng té lăn ra đường. Tôi tuy rách đầu gối nhưng thấy hai “cháu” nhăn nhó đớn đau nên đã nhanh miệng hỏi han: Có sao không? Xin lỗi nhe! chỉ để kịp nghe một “cháu” nói “ĐM, thằng cha này chạy ẩu mà biết điều xin lổi, chứ không thì tao đánh chết mẹ.” Hóa ra, “chạy ẩu” thuộc quyền phán quyết của kẻ “chạy ẩu”. Đây là thí dụ về sự giành quyền sở hữu ngôn từ của giới côn đồ dù nam hay nữ.

Ba

Khi hè nhau đào thoát khỏi Anh Quốc đổ bộ lên Tân Thế Giới dần dần hình thành nên nước Mỹ ngày nay, những kẻ cùng đường mạt lộ và tội phạm đã mừng quýnh vì được “tự do” không còn bị ràng buộc bởi pháp luật hà khắc của Vương Quốc Đại Anh, nên đã truyền lưu cái sự sướng ngất ngây ấy cho con cháu sau này chiếm quyền sở hữu hai chữ “tự do”, ngợi ca “tự do” đến độ hiến pháp cho người dân “tự do” sở hữu vũ khí xả láng khiến muốn mua ngay cả đại liên cũng cứ mua sắm “tự do”, rồi hình thành cái gọi là Thế Giới Tự Do quy tụ quanh mình những tiểu quốc đàn em mà danh từ nâng cấp gọi là phe đồng minh từ Úc Đại Lợi cho đến Việt Nam Cộng Hòa mà mình làm chủ soái. Thế nhưng, cái gọi là Thế Giới Tự Do đầy kiêu hãnh tự nhiên biến mất ngay cả trước khi có sự kiện tan rã của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa. Thế Giới Tự Do biến mất vì các tiểu quốc đàn em tại Châu Âu trở thành cường quốc kinh tế vừa tranh mua tranh bán tranh giành thị trường – kể cả thị trường vũ khí – vừa giở thói sừng cồ rống họng cải lẫy chống đối chủ soái, thậm chí sau khi Liên Xô biến thành nước Nga tư bản hùng cường thì hóa ra trong Thế Giới Tự Do xuất hiện kẻ thù truyền kiếp nên tốt nhất là Thế Giới Tự Do phải tự biến mất để khỏi có ai khác chen chân vào đứng chật chội bên trong. Chưa kể, chủ soái của Thế Giới Tự Do đang sống dở chết dở với cái “tự do” sở hữu súng ống từ súng lục cho đến tiểu liên, trung liên, đại liên trong dân chúng. Thế Giới Tự Do chỉ còn tồn tại trong các nhóm chống Việt muốn có một cơ sở để còn cái bám víu vào đấy mà tiếp tục ra rả rằng Việt Nam không có “tự do”. Đây là thí dụ về sự giành quyền sở hữu ngôn từ của những chính khách thủa sơ khai chưa đạt trình độ thâm thúy, khôn ngoan, thấu thị.

Bốn

Xuất hiện vươn lên từ trong lòng Thế Giới Tự Do, những nhà tư tưởng Mác-xít Lê-nin-nít khi nhận chân sự thật rằng từ “tự do” đã bị chiếm hữu nên nhanh tay dành lấy từ “dân chủ” mà Mỹ và đàn em tức đồng minh đã khinh suất bỏ quên. Thế là từ “dân chủ” xuất hiện trong tên gọi của một số quốc gia theo đường hướng thân cộng sản. Trong khi tự do mất hẳn ý nghĩa do các nhà nước Mỹ và Âu Tây ra sức giám sát và nghe lén điện thoại của công dân, do các nước này điên đầu với tự do sở hữu vũ khí, do các nước này vừa phất cao ngọn cờ tự do thương mại vừa sử dụng các chiêu trò bảo hộ mậu dịch để ngăn chặn tự do của các nước khác muốn tự do buôn bán tại nước mình, do có sự xuất hiện của những thế lực khủng khiếp tự do chống Mỹ, và do các nước tự do này tuyệt đối ngăn cấm dân chúng tự do phát triển tư tưởng cùng học thuyết Cộng sản; thì dân chủ luôn chiếm thế thượng phong, và ngay cả Mỹ cũng không dám đặt tên chính đảng của mình là Tự Do mà giành lấy tên Dân Chủ cho một trong hai chính đảng duy nhất của họ, đồng thời dân chủ luôn tồn tại như một lý tưởng nghiêm túc về chính trị tại tất cả các quốc gia bất kể theo chính thể nào trong khi tự do hoàn toàn kém về ưu thế trong không gian và môi trường chính trị thực tiễn do chưa bao giờ thuộc phạm trù chính trị. Đây là thí dụ về sự giành quyền sở hữu ngôn từ của những chính khách Cộng sản khôn khéo, khôn ngoan, thuộc đẳng cấp thượng thừa.

Số Khuyến Mãi

Thế giới của mạng xã hội vốn luôn là thứ thế giới thấp lè tè mà đa số cư dân thuộc hạng người ẩn danh ẩn núp thì cái sự lạm dụng ngôn từ cực kỳ hỗn loạn trong cả hai khâu chính là giành giật và gán ghép, tức ôm tất cả những từ hay ho để tự dâng tặng chính mình hay phe mình và dán những từ chẳng hay ho gì lên trán đối phương hoặc phe đối nghịch. Mà cái sự nhiễu nhương ấy nào có đáng gì để viết về dài hơn hoặc cho một số Năm nào đó.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Thế Nào Là “Khôi Hài” – Người Việt Chưa Hiểu Về “Sense of Humor”

Bài Viết Tặng Học Sinh, Sinh Viên, Nhân Viên, Và Những Người Có Học Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Khi một người luôn sống khắc khổ, ứng xử nghiêm túc, tư thế nghiêm trang, thể hiện nghiêm nghị trong công việc đối nội và đối ngoại,

Humor1 lúc chủ trì phiên họp toàn thể hàng tháng (Monthly Staff Meeting) tổ chức tại cơ quan sau giờ làm việc, từ 18g đến 20g, phát biểu báo cáo bằng tiếng Anh và luôn làm tất cả ban lãnh đạo cùng hàng trăm nhân viên dù là người Anh, người Canada, người Mỹ, người Hong Kong, người Singapore, người Malaysia hay người Việt đang mõi mệt sau 8 giờ lao động vẫn cùng cười to sảng khoái và luôn ngóng mong mau đến thời điểm có buổi họp toàn thể ở tháng tiếp theo

IM000766.JPG

Humor3

còn khi người đó có thể trò chuyện làm Tân Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh cười tươi rạng rở và vui vẻ thì tất nhiên không do người ấy diễu hề chọc cười kiểu Việt

 Humor4

Thì chúng ta tạm xem như người ấy có “a very good sense of humor” mà cái sự tạm hiểu ở tiếng Việt có nghĩa là “giỏi khiếu khôi hài”. Vậy nếu hiểu luôn luôn đúng thì sense of humor là gì? Tại sao Thánh Gandhi của Ấn Độ từng phán rằng nếu Ngài không có sense of humor thì lẽ ra Ngài đã tự tử từ lâu rồi, còn câu nói thường gặp ở Phương Tây nhằm đánh giá cao tầm quan trọng của sense of humor lại là các bộ dụng cụ cứu hộ cứu nguy nên có sẵn một sense of humor?

Có lẽ ý kiến của William James là xác đáng nhất, nói đúng bản chất sense of humor nhất, khi cho rằng khiếu khôi hài sense of humor cũng chính là common sense tức năng lực phổ biến có nơi đa số con người trong cảm nhận được và có đánh giá nhìn nhận chinh xác và logic đối với những vấn đề cụ thể được đồng thuận đương nhiên về tính hợp lý và mức độ an toàn chung của nó; và cả hai chỉ khác nhau ở chỗ chúng có tốc độ di chuyển không như nhau: sense of humor đơn giản là một thứ common sense đang nhảy múa hát ca vui vẻ mà thôi

Như vậy, ngôn ngữ Việt đã không thể nào có từ ngữ diễn đạt thích hợp sense of humorsense of humor hàm chứa tự thân cái common sense để biểu đạt cái common sense ấy trong tư thế đầy ắp sự hân hoan, yêu đời, ý nhị, sâu sắc, duyên dáng, ngập tràn tính giúp đỡ – chẳng khác nào vừa nói lên một sự thật ai cũng đồng tình vừa hát ca nhảy múa vui vẻ vậy – trong khi khiếu khôi hài của người Việt lại dựa chủ yếu trên sự tưởng tượng mà mục đích chỉ để chọc cười vô thưởng, vô phạt, vô lý, hoặc chỉ để bôi nhọ, kích bác, chế giễu, châm biếm, châm chọc, mà không ít các trường hợp xuất phát từ ác ý ác tâm hoặc một sự “bó tay”.

Có một Việt Kiều Canada từng hăng say kể rằng anh đến dự một cuộc phỏng vấn và được yêu cầu cười to rồi bị đánh giá chưa đạt yêu cầu, phải về luyện tiếp. Thế là anh ta trở đi trở lại nhiều lần trong những 3 năm liên tục mới được tuyển dụng và được cử sang làm việc cho chi nhánh ở Việt Nam. Và anh ta mỗi khi cười là tiếng hả hả vang dội khắp tầng lầu, rung rinh toàn bộ khung kính cửa sổ dán phản quang màu xanh lá của Diamond Plaza. Mọi nhân viên Việt Nam cho rằng anh ta ba xạo, dóc tổ. Còn tôi cho rằng nếu anh ta nói thật, đích thị anh ta hoặc kể chuyện hoang đường hoặc anh ta ngu khờ không biết mình bị chơi trác vì nhà tuyển dụng đuổi khéo anh ta nhưng vì anh ta kiên trì luyện cười trong ba năm nên nhà tuyển dụng đành phải ban cho anh một cơ hội để vào công ty làm công việc ở chi nhánh Việt Nam vốn đòi hỏi tính kiên trì cao độ (chứ không phải vào công ty để cười ha hả); nhưng nếu anh ta nói xạo nhằm để thiên hạ thấy anh ta thân thiện, vui tính, thì rất có thể anh ta có “sense of humor”; còn nếu anh ta đem chính mình ra nói với ngụ ý bản thân phải trầy da tróc vảy chịu đựng sự đòi hỏi quái đản của công ty mới có công việc này thì đích thị anh ta có “a very good sense of humor”. Thế “good sense of humor/humour” của tiếng Anh khác với “có khiếu khôi hài” ở tiếng Việt ra sao?

Rất nhiều người Việt cho rằng khôi hài là chọc cười thiên hạ, chẳng khác gì diễu hề, mà nội dung khôi hài truyền thống của đa số đàn ông người Việt toàn là có liên quan dến bộ phận sinh dục, đến đời sống tình dục, đến kinh nghiệm sắc dục, đến nữ đồng nghiệp nào đó; còn nhiều người khác thì chuyên sưu tầm những bài lục bát hay những thông tin bỡn cợt đầy mỉa mai nhạo báng chế độ Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo Việt Nam đăng đầy trên các trang mạng chùa của bọn chống Việt ở hải ngoại rồi khi đến giờ ăn trưa thì quây quần kể lể cười ha hả cho mau chóng tiêu cơm tiêu cá không cần phải súc miệng xỉa răng. Vậy thì khôi hài kiểu Việt thiên về tiêu cực, hạ thấp tư cách và tư thế người chủ sở hữu cái năng khiếu ấy. Nhiều học sinh, sinh viên, trước khi lên đường du học đã thu thập nhiều truyện tiếu lâm, và khi sinh hoạt tập thể đem kể lại bằng tiếng Anh cho các bạn học là người Mỹ người Anh để chứng tỏ ta có óc khôi hài; nhưng trăm lần như một chỉ làm cho các bạn này dù hiểu hết nội dung tiếng Anh vẫn không hiểu nó khôi hài ở chỗ nào trong khi người kể và các sinh viên Việt khác thì cười rũ rượi, rụa ràn nước mắt.

Đối với dân Âu Mỹ, sense of humor không để chọc cười vô duyên vô đạo mà trước hết để minh chứng bản thân có sức khỏe tâm thần tốt, lạc quan, yêu đời, khéo léo, vị tha – mà tất cả ngần thứ này hoặc chứng minh hoặc cho thấy tiềm tàng rõ nét nhất sự thành công của những ai có nó. Đặc điểm nổi trội của sense of humortự trào (tức tự cười bản thân mình, tức đem mình ra làm đối tượng cho sự khôi hài), sâu sắc ý nhị (tức làm người nghe phải suy gẫm và ghi nhớ), khéo léo (tức nhanh trí hóa giải vấn đề nghiêm trọng thành lợi thế bản thân), và vị tha (tức thấu hiểu hoàn cảnh khó xử của người khác để tham gia hóa giải hoặc cảm nhận được tính tích cực nơi và đồng thuận với cái sự tình người khác ấy muốn bày tỏ).

Mới đây trong chuyến thăm Mỹ của Đức Giáo Hoàng đã có hai giai thoại thí dụ về “sense of humor”. Khi thấy trong biển người chào đớn hai bên đường có một phụ nữ bế con và cháu bé mặc trang phục giống y hệt mình, Đức Giáo Hoàng đã nói với người phụ nữ ấy rằng “Bà đúng là có good sense of humor” minh chứng sự khôi hài là trong ý nghĩ, trong tư duy, thể hiện bằng sự chọn may trang phục giáo hoàng cho đứa bé, rất ý nhị, thanh lịch, dễ thương, chứ không để chọc cười hay qua thể hiện bằng lời nói kèm tiếng cười hả hả. Chính Đức Giáo Hoàng sở hữu sense of humor khi phán người dàn bà ấy có sense of humor. Còn tại một buổi họp bên lề ở Liên Hợp Quốc cùng thời gian với chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng Francis, một tổng thống ở Châu Âu đã “Kính thưa Tổng Thống (Mr. President)” khi bắt đầu hội đàm với Phó Tổng Thống Mỹ Biden. Khi mọi người cười ồ lên, vị tổng thống ở Châu Âu ấy nói ngay rằng “biết đâu sắp tới sẽ là như vậy?” khiến mọi người cười ồ lên lần thứ hai và lần này để tán thưởng tài ứng đối khôi hài nhanh trí của một người chủ nhân sense of humor.

Như vậy, bất kỳ ai khỏe mạnh về tinh thấn, yêu đời, vị tha, và có tài hùng biện đều có thể có sense of humor. Bất kỳ ai có khả năng kể chuyện tục tĩu để làm thiên hạ cười không thể xem như có khiếu khôi hài của sense of humor vì có khi sự tập trung nói về bộ phận sinh dục hay chuyện tình dục cho thấy có sự ám ảnh dục tình mang tính bịnh lý trong bộ môn khoa học Tâm Bịnh Lý Học do kẻ khôi hài có cuộc sống tình dục thất bại hoặc vì một ám ảnh dục tình từ thời thơ ấu mà không thể thỏa mãn được cho đến tận ngày nay – theo lý giải của bộ môn Phân Tâm Học – còn nếu sự tập trung diễu cợt về chế độ cộng sản hay các lãnh đạo cộng sản thì dứt khoát đó không là sense of humor mà đích thị là miệng lưỡi kẻ có ác tâm chống cộng muôn đời thất bại mà tiếng Anh gọi là eternal loser vì nếu thành công thì đã không đắng cay diễu cợt sau lưng như thế.

Như đã nói, sự hóm hỉnh tự trào về chính mình là một phần quan trọng của sense of humor.

 Humor5

Một thí dụ khác về sense of humor: khi có người tưởng là hay lắm nên dạy đời trên LinkedIn rằng “….Hảy nói ít thôi…Hãy thường xuyên cười to…” thì y đã nhận được lời dạy về sense of humor rằng “Nếu bạn nói ít mà thường xuyên cười to, bạn có thể bị cho là một tên đần. Nếu bạn được trời phú cho có một sense of humor, bạn phải lắng nghe nhiều hơn để hiểu cái humor của thiên hạ để bạn có thể cười to, và bạn cần nói nhiều hơn để đem humor đến cho thiên hạ để làm họ cười to.” Bản thân lời “dạy” đầy ý nhị này cũng cho thấy người “dạy” có một sense of humor.

Humor6

Bảng cắm trên đường cao tốc như sau là một thí dụ về sense of humor: “Nếu yêu Chúa Jesus thì hãy nhấn còi xe. Nếu muốn đi gặp Chúa Jesus thì hãy vừa lái xe vừa gởi tin nhắn.”

Humor7

Một minh chứng khác để thấy Âu Mỹ thực sự thể hiện khiếu khôi hài của mình ra sao nếu liên hệ tới tạp chí biếm họa Cú Đấm (Punch) lừng danh của Anh Quốc (khai trương năm 1841 và đình bản năm 2002 sau hơn 160 năm tồn tại, trước đà tấn công hơn vũ bảo của báo mạng) chuyên đăng toàn tranh humor về các chủ đề đối nội, đối ngoại, văn hóa, nghệ thuật, thời trang, xã hội, khoa học và công nghệ, qua các thí dụ sau, để biết họ khi khôi hài sẽ cười ha hả ồn ào hay chỉ là cười mĩm đầy ý nhị hoặc ngay cả không cười mà chỉ thấy trong lòng thoải mái khi xem tranh:

Tranh humor mang tiêu đề “tác động của đình công đối với nhà tư bản và với người lao động” của Punch:

 Humor8

hay như tranh humor sau của Punch trong Đệ Nhị Thế Chiến lúc Anh Quốc yêu cầu các xí nghiệp phải che đậy, ngụy trang cơ sở của mình để tránh bị oanh tạc bởi các chiến đấu cơ Đức Quốc Xã, thì nhà máy sản xuất sơn đã ngụy trang như thế này:

 Humor9

Bạn hãy so sánh các tranh trên với tất cả các tranh của Tuổi Trẻ Cười để thấy sự khác biệt hoàn toàn về “khôi hài”. Đây cũng là lý do tôi đã từng viết cách nay nhiều năm chê bai cái trần trụi của cách đặt tên của “Tuổi Trẻ Cười” do không sâu sắc ý nhị độc đáo như “Quả Thôi Sơn” của Anh hay “Cá Sấu” của Liên Xô, chẳng khác nào gọi trụi trần là Cửa Hàng Ăn Uống (thay vì nên là Nhà Hàng) hay Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn (thay vì nên là Đại Học Bà Huyện Thanh Quan) vậy.

Tóm lại, đã luôn có sự khác biệt giữa các ngôn ngữ khác nhau, Democracy được dịch là Dân Chủ, nhưng nội dung từ vựng của Dân Chủ nơi suy nghĩ của người Việt lại hoàn toàn xa rời Democracy, vì trong khi Democracy diễn giải như một hình thái người dân tham gia chính trị qua việc bỏ phiếu bầu người dại diện cho mình thay mình chăm lo việc quốc gia đại sự thì người Việt lại cho rằng dân phải làm chủ, từ đó phe nhóm Chống Việt nhao nhao công kích Việt Nam là “đảng trị”, bóp nghẹt “dân chủ” mà láu cá không nói gì đến Mỹ cũng “đảng trị” và nếu vậy thì cũng bóp nghẹt “dân chủ”, còn ai trẻ người non dạ trong nước cũng đòi trực tiếp làm chính trị để thực thi dân chủ mà không cần thông qua bầu cử theo hiến định và luật định. Tương tự, Humor (Humour) được dịch là Khôi Hài, nhưng nội dung và nội hàm của sự biểu đạt của humor lại khác với của khôi hài vì người Việt ta cho rằng khôi hài là tiếu lâm và chọc cười thiên hạ với thủ thuật dung tục hoặc dè bỉu. Trong khi đó, humor không để chọc cười, không để dè bỉu, thí dụ như tranh humor đã qua thủ thuật hội họa đẳng cấp cao cùng ý tứ ý nhị phục vụ sự suy gẫm và thưởng thức, hoàn toàn để lành mạnh hóa sự suy tư, giải tỏa căng thẳng, tạo môi trường giao hảo mang tính tích cực, xây dựng, đồng an vui, đồng cảm thụ rằng cuộc đời đáng sống biết bao, một khi tất cả những cái lẽ ra là vấn nạn đã được hóa giải sắc sâu, chuyên nghiệp, hình tượng hóa qua nét cọ của bậc tài hoa danh tiếng trên một ấn phẩm tiếng danh như Punch. Như thí dụ ở trên, đang trong Đệ Nhị Thế Chiến mà Punch vẫn xuất bản đều đặn, với cả bức tranh về nhà máy sơn đã sơn ngụy trang ra sao để tránh hỏa tiển V1, V2, cùng bom đạn của các oanh tạc cơ của Đức, biến hoàn cảnh thảm khốc của chiến tranh được vơi đi từ các tranh humor đó. (Và cũng lại là vấn đề ngôn ngữ khi người ta cho rằng đó là tranh humor thì Việt lại cho đó là biếm họa, mà biếmchâm biếm, nên tranh nào cũng chọt cái này, chọi cái kia, chõi cái nọ, không thể nào là tác phẩm sâu sắc được lưu trữ trong bảo tàng nghệ thuật của Anh Quốc cho toàn thế giới thưởng lãm như các tranh humor của Punch.

Như vậy, bạn hãy xem mình có đang yêu đời, có lòng tốt vị tha, có ý xây dựng, có tâm hỗ trợ, có định hướng cởi mở, có tài lan tỏa sự bừng sáng tích cực nơi những người chung quanh, và có năng lực ứng đối hùng biện để nhanh chóng hóa giải – thậm chí “mềm hóa” – hoàn cảnh từ bất lợi trở thành thuận lợi cho bạn (hoặc đỡ lời cho người khác) hay không. Nếu có, bạn đang sở hữu cái sense of humor, và nếu cái sense of humor của bạn nổi bật, biến hóa đầy tích cực, thì bạn ắt đang sở hữu very good sense of humor mà dân Âu Mỹ rất thán phục. Còn nếu không có cùng lúc tất cả những tính chất trên, trong khi bạn vẫn khẳng định bạn có khiếu khôi hài chọc cười thiên hạ thì bạn hãy lấy công tâm mà xem mình có đang (a) sử dụng sự dung tục về tình dục hay bộ phận sinh dục làm trò cười, (b) sử dụng trí nhớ để đọc lại những bài vè trên mạng có nội dung chống đối chế độ bôi nhọ lãnh đạo nhà nước hoặc lãnh đạo doanh nghiệp, phòng ban, cơ quan bạn đang công tác, hoặc (c) sử dụng tài riêng để sáng tác chính những bài vè có nội dung chống đối chế độ bôi nhọ lãnh đạo nhà nước hay không, vì nếu như vậy thì bạn đừng dại dột phát huy cái khiếu ấy bằng tiếng nước ngoài khi giao du với người nước ngoài, vì sự giáo dục hiệu quả của nước họ sẽ khiến họ rất giỏi ngoại giao, luôn cười to cười vui hưởng ứng bạn, nhưng bảo đảm đến 10.000% là họ xem bạn như một gã tâm thần hoặc bị ám ảnh dục tình, hoặc bị thất thời thất chí thất tình thất bại nên chua chát chua cay chua lè với xã hội và đất nước của chính mình. Có khi bạn chỉ có irony hay satire chứ bạn không có humor, vì irony thiên về châm chọc mĩa mai cay đắng còn satire lại thiên về châm chọc châm biếm bỡn cợt mĩa mai, mà cả hai đều mang tính dạy đời. Vì vậy, humor thuộc đẳng cấp cao của sự lành mạnh, hóa giải, hòa giải, hòa hợp, hòa thuận, hòa bình, an bình, thiện tâm.

Và nếu bạn hội đủ tất cả những tính chất phải có của excellent sense of humor tức tạm dịch là khiếu khôi hài bậc Thầy kiểu Tây, tôi và những người bạn nước ngoài của bạn sẽ hoàn toàn ngạc nhiên không thể nào tin được nếu bạn không thể là ngôi sao sáng trên đường đời.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hà Hồ

Bài Viết Dành Cho Học Sinh, Sinh Viên, Nhân Viên, và Những Người Nổi Tiếng (Celebrity) Có Học Tiếng Anh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Để tránh các hiểu lầm, tôi xin khẳng định rằng Hà Hồ là cái tên ngẫu nhiên tôi chọn từ một tên tưởng tượng của người Việt nào đó như Hồ Thị Hà hay Hồ Văn Hà để làm thí dụ việc người nữ hay nam này học đòi viết theo kiểu tên tiếng Anh thành Hà Hồ. Ngoài ra, tôi xin khẳng định rằng tôi không hề quan tâm hay biết đến bất kỳ ai là “celebrity” trong lĩnh vực công nghiệp giải trí ở Việt Nam vì đối với tôi chẳng ai đáng để tôi quan tâm đến cả. Do đó, đây là ý kiến thuần tiếng Anh dành cho người đẳng cấp cao thực sự.

Trước khi phân tích sâu hơn, tôi xin đặt vấn đề ngay – theo kiểu nói ngay phần kết luận của bài này – với các bạn là Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu luôn được báo chí Mỹ gọi là Nguyen Van Thieu chứ không bao giờ gọi là Thieu Nguyen. Tương tự, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được báo chí Mỹ gọi là Ho Chi Minh chứ không bao giờ gọi là Minh Ho, và Chủ tịch Trương Tấn Sang luôn được báo chí Mỹ gọi là Truong Tan Sang chứ không bao giờ gọi là Sang Truong. Vì vậy, nếu bạn thực sự là một celebrity của Việt Nam vươn ra thế giới và được thế giới kính trọng, bạn hãy cứ là Hồ Thị Hà tức Ho Thi Ha trong tiếng Anh, hoặc Hồ Văn Hà tức Ho Van Ha trong tiếng Anh.

Ngay từ còn là một thiếu nhi ở Sài Gòn, tôi đã nhận ra sự khác biệt này nên luôn luôn khẳng định bản thân sẽ luôn là Hoàng Hữu Phước chứ không bao giờ là Phước Hoàng. Tôi cũng đã khẳng định kiểu viết theo thứ tự ngày-tháng-năm của Việt Nam sẽ thống trị thế giới tiếng Anh, và đơn vị đo lường mét mà Việt Nam đang sử dụng sẽ lấn lướt các đơn vị đo lường hệ khác của Mỹ. Thực tế đã chứng minh tôi hoàn toàn đúng khi Microsoft sản xuất các phần mềm Window đều có các tùy chọn về ngày-tháng-năm thay vì mặc định cổ điển tháng-ngày-dấu phẩy-năm, còn tất cả các đại học lớn như ở Úc đều có đơn xin nhập học chừa các ô trống để ghi đúng theo thứ tự lần lượt trước sau là Họ-Chữ Lót-Tên thay vì mặc định cổ điển Tên-Chữ Lót-Họ.

Ngay cả nhân vật Việt Kiều Pháp tôi nhắc đến trong bài Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa khi in thiệp mời dự đám cưới cũng đã in tên mình là Phạm George cho đúng tinh thần tôn ti trật tự của văn hóa Việt luôn xem họ tộc là quan trọng nhất đối với dòng dõi thế gia vọng tộc của mình, còn khi ở Pháp giấy tờ có mang tên George Pham thì lại là việc khác.

Trừ phi những mặc định tự động của hạ tầng một trang mạng khi ghi nhận sự điền vào của Họ, Chữ Lót, và Tên rồi tự động cho ra tên chủ nhân tài khoản là Phươc Huu Hoang thì tôi buộc phải chấp nhận, tôi khi chủ động được sẽ luôn là Hoang Huu Phuoc hoạc hhphuoc. Một đặc điểm trầm kha của giới công nghệ thông tin (gọi tắt là IT) là rất yếu kém về ngôn ngữ con người nhất là không nắm vững các biến thiên của tên gọi của người Việt, và không có khả năng lường trước các xung đột nếu có các mặc định phi-Việt. Khi tôi làm việc cho một công ty đa quốc gia, lúc thấy IT tự động cấp cho tôi một địa chỉ email mang tên phuoc_hoang, tôi đã bảo mấy em lãnh đạo IT rằng cách đặt tên theo kiểu tiếng Anh như thế sẽ gây nhiều rắc rối khiến hủy phá toàn bộ chương trình hạ tầng đã thiết lập tự động, vì sẽ ra sao nếu ngoài Hoàng Hữu Phước còn có thể sẽ có Hoàng Văn Phước, Hoàng Đại Phước. Các em lãnh đạo IT đã trả lời rằng tại bị vì bởi đã không hề nghĩ sâu đến như thế khi viết phần mềm quản trị tự động cho hệ thống email. Sau đó tôi gởi một email loại bảo mật cho một nhân viên tên Nguyễn Kiều Trang tức gởi cho trang_nguyen, và hôm sau tôi nhận email của trang_nguyen cho hay Cô là một chuyên viên của tổng hành dinh ở Canada và không hiểu tôi muốn nói gì, nhưng đã một cách chuyên nghiệp xóa ngay email của tôi nên tôi hãy yên tâm. Nghĩa là IT ở Việt Nam sau đó phải cho cô Nguyễn Kiều Trang ở Việt Nam địa chỉ email “không giống ai” là nguyen_kieu_trang. Tương tự, IT ở Quốc Hội Việt Nam cũng yếu kém tương tự nên đã cấp địa chỉ email trên nền mặc định của công thức Tên Viết Nguyên_Họ Và Chữ Lót Viết Tắt nên địa chỉ email của Chủ tịch Nước tại Quốc Hội là sangtt, còn của tôi là phuochh, v.v. Rồi sự “trật rơ” như tôi đã cảnh báo xảy ra khi tôi gởi một email loại tối mật cực kỳ nhạy cảm có liên quan đến một tổng lãnh sự quán của một siêu cường cho Nghị sĩ Võ Thị Dung theo địa chỉ mặc định dungvt. Sau đó tôi mới biết email của tôi không đến nghị sĩ Võ Thị Dung vì dungvt là email của một cán bộ nào đó tên Vũ Tiến Dũng hay Võ Trí Dũng, và nghị sĩ Võ Thị Dung tự dưng được cấp một địa chỉ email “không giống ai” là vothidung. Vì vậy, tôi luôn cho rằng tôi hoàn toàn đúng khi nói IT nên đặt địa chỉ email của người Việt theo đúng thứ tự tên của họ trong chứng minh nhân dân. Chưa kể, sẽ ra sao nếu Trương Thị Ngọc Trân bị biến thành tran_truong rất dễ thành chủ đề cho sự cười nhạo của đồng nghiệp? Hoặc IT cấp địa chỉ email truongthingoctran hoặc “đàm phán” với Cô Trân này để cho ra địa chỉ ngắn hơn, tránh các sự cố cười cợt của đồng nghiệp như ttngoctran hay ttntran chẳng hạn. Khi tôi có toàn quyền tại công ty của tôi, tất cả các địa chỉ email của toàn bộ nhân sự của tôi đều mang đúng tên của họ theo chứng minh nhân dân, nên tôi là hoanghuuphuoc, viết dính liền, vì tôi xem kiểu hoang_huu_phuoc là kiểu chẳng ra chi, hoàn toàn thấp kém.

Nếu bạn nghĩ rằng sau này bạn có thể là một celebrity đình đám trên thế giới của ngành công nghiệp giải trí, bạn nên nghe lời khuyên của tôi để hoặc đừng hoán đổi vị trí tên của bạn hoặc cứ lấy một nghệ danh thuần Anh. Tôi chọn cho tôi bút hiệu Tannhauser Beowulf Thor cho các sáng tác thơ ca bằng tiếng Anh, nhưng tôi không bao giờ là Thor Hoàng hay Beowulf Hoàng.

Tôi phải là Hoàng Hữu Phước vì tôi biết rất rõ một điều rằng người Âu Mỹ không bao giờ tự động đổi vị trí tên của người Việt để tỏ lòng tôn kính người Việt. Và nếu họ gọi tôi là Phước Hoàng thì chẳng qua tại tôi ắt trong phút giây nào đó do ngu muội và trẻ con ắt đã tự gọi mình như thế, không chút lòng tự trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Cái Sai Của Văn Học Hiện Thực Phê Phán

Hoàng Hữu Phước, MIB

Sau ngày giải phóng 30-4-1975, ở tất cả các trường trung học bắt đầu dạy về cái gọi là văn học hiện thực phê phán. Chính sự việc ngẫu hứng này đã dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay.

Trong tất cả các ngôn ngữ Âu Tây thống trị học thuật triết học văn học hàn lâm của toàn nhân loại thì có hai thể loại văn là fiction và non-fiction, với nội dung lần lượt theo thứ tự trước sau là giả tưởng và phi giả tưởng, vốn được trình bày rõ trong các giáo trình cấp tiểu học ở các nước Âu Mỹ.

Fiction

Fiction tức giả tưởng bao gồm tiểu thuyết kể cả tiểu thuyết trinh thám/phiêu lưu/mạo hiểm/kinh dị/hài, truyện ngắn, kịch nghệ, thơ ca, truyện thần thoại, truyện ngụ ngôn, truyện thần tiên, truyện dã sử, truyện dân gian, truyện truyền thuyết, truyện tranh, kể cả chương trình phát thanh, truyền hình, phim truyện, v.v., tức tất cả những gì đa số là hư cấu, không phải là sự thật, được sáng tác từ sự thăng hoa ý tưởng của tác giả, ngay cả khi đó là tác phẩm văn học về một nhân vật lịch sử có thật, vì lời thoại của nhân vật ấy cùng các nhân vật khác với nhau trong tác phẩm đó hoàn toàn không do – hoặc không có gì làm bằng chứng là do – các nhân vật ấy đã từng thực sự thốt ra với nhau trong đời y hệt 100% như lời thoại, đúng từ dấu phẩy dấu chấm câu, chưa kể thí dụ người đóng vai Tần Thủy Hoàng có tên trên chứng minh nhân dân không phải là Tần Thủy Hoàng và có nghệ danh mà giới điện ảnh đều biết đến, tức hư cấu về con người đang diễn xuất, hư cấu về nơi chốn đóng phim thành nơi chốn lịch sử thực sự, và hư cấu về lời thoại.

Non-fiction

Trái lại, tác giả non-fiction không được để trí tưởng tượng của mình xen vào tác phẩm. Non-fiction bao gồm những tác phẩm khảo cứu về các đề tài khoa học, kỹ thuật, quân sự, kinh tế, triết học, sử học, v.v.; các tiểu luận hay luận án; niên lịch almanac; nhật ký và hồi ký; từ điển, bách khoa toàn thư, và bản đồ atlas; sách sử và sách giáo khoa; diễn văn; sổ tay cẩm nang; bài báo; kể cả bài phê bình một tác phẩm fiction hay một tác phẩm non-fiction khác, hay khi đó là công trình nghiên cứu về tiểu sử của một nhân vật có thật (biên khảo về tiểu sử của một nhân vật tức biography hay biên khảo về tiểu sử của chính mình do chính nhân vật ấy tự viết ra tức auto-biography đều là non-fiction), các bộ luật, và phim tài liệu, v.v. Tóm lại, khi một công trình viết lách không là tiểu thuyết, không có cốt truyện, không có các nhân vật, không có bắt đầu câu chuyện – diễn biến câu chuyện – kết thúc câu chuyện, không có nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, không cần đọc từ đầu đến cuối mới hiểu mà chỉ cần đọc đúng chương có chi tiết thông tin cần tham khảo hoặc đọc bất kỳ chương nào trước cũng được, và tất nhiên không phục vụ nhu cầu giải trí mà chỉ phục vụ nhu cầu cung cấp thông tin tham khảo (với dẫn chứng hình vẽ từ xa xưa hay hình chụp thời đại đã có máy ảnh, dẫn chứng ghi âm hay thu hình, và dẫn chứng nhiều nguồn tư liệu chính thức có thể kiểm chứng được) thì đó là non-fiction tức thuần dựa trên dữ kiện có thật hoặc mang tính thuyết phục để được tin là sự thật. Kinh kệ của các tôn giáo cũng được xem thuộc loại non-fiction nhưng không với hàm ý rằng tất cả là sự thật mà với hàm ý rằng rất đông người trên thế giới tin đó là sự thật.

Văn Học Hiện Thực Phê Phán Ở Việt Nam

Khi ở Việt Nam nêu lên tên gọi Văn Học Hiện Thực Phê Phán, điều này có nghĩa toàn bộ những người có trách nhiệm về văn học nước nhà đã không biết gì về sự phân biệt giữa fiction và nnon-fiction trong văn học. Khi đã là tiểu thuyết thì không bao giờ là hiện thực, mà đã không là hiện thực thì không thể có việc phê phán cái chẳng sai nào đó không có thật trong hiện thực ấy. Để phục vụ mục đích tuyên giáo, người ta thi nhau sáng tác và gọi đó là phê phán hiện thực; song, điều đáng ngạc nhiên là nếu một tồi tệ tiêu cực thực có trong xã hội thì nó phải bị pháp luật trừng trị thích đáng chứ không phải cứ tồn tại để làm bia nhắm bắn của phê phán, còn nếu đó là trí tưởng tượng thì sao lại bỏ công phê phán nó cứ như vung tay đấm mãi vào bột giặt siêu bọt, vào ảo ảnh hay ảnh ảo.

Khi sáng tạo ra tình huống xấu xa tiêu cực trong xã hội để phê phán, các tác giả đã tham gia ngụy tạo sự việc khiến không phát huy tác dụng phê phán nơi học sinh đối với các tiêu cực xấu xa có thực, chưa kể đã miêu tả cứ như thật và rất chi tiết về các xấu xa tiêu cực ấy, từ biển thủ công quỹ, từ mưu ma chước quỷ, từ ăn chơi trác táng, từ xài tiền như nước, từ hãm hại người ngay, đến cuộc sống xa hoa sa đọa dâm ô, khiến làm vấy bẩn tinh thần học sinh, lôi cuốn học sinh thiên về các tiêu cực đầy ma lực hấp dẫn ấy. Một khi hiện thực phê phán cứ mãi miệt mài phán phê hiện thực, học sinh dễ nhận ra và thần phục khả năng bất khả chiến bại của tiêu cực trước thực tế tiêu cực trong xã hội càng phát triển mạnh hơn theo đà tấn công của văn học hiện thực phê phán, và từ đó nhiều học sinh khi trưởng thành đã trở thành tiêu cực với sự an tâm rằng sẽ không bị pháp luật trừng trị cho những sai trái của mình.

Nền văn học hiện thực phê phán đã chưa từng đóng góp gì cho việc làm xã hội và đạo đức xã hội tốt hơn. Nền văn học hiện thực phê phán lẽ ra đã phát huy tác dụng nếu chỉ ở thể loại non-fiction, nghĩa là nói về người thật và việc thật, các phóng sự điều tra, các tư liệu điều nghiên tội phạm, lôi được những kẻ phạm tội cụ thể ra trước vành móng ngựa chịu sự xử án nghiêm minh hiệu quả của luật pháp. Nền văn học hiện thực phê phán mà dưới dạng fiction tức tiểu thuyết và phim truyện thì tự động biến thành trò hề vì đã là tiểu thuyết và phim truyện thì thuần túy hư cấu, không bao giờ là hiện thực theo chuẩn học thuật Âu Mỹ.

Khi nhà báo ở Việt Nam viết bài với bút danh mà không với tên trên chứng minh nhân dân thì cũng đã vô tình hàm ý rằng những bài báo của mình là tác phẩm fiction của trí tưởng tượng mà không nói về sự thật vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Vấn Nạn Ngôn Từ Trong Giới Truyền Thông

Nhí Tồi Tự Sướng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Một sự việc trước đây tôi đã nêu ra có liên quan đến bản tham luận của tôi tại Hội Nghị Quốc Gia về Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt, khi một gã tiến sĩ đang giảng dạy tại Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh đăng đàn kích bác tôi xúc phạm tiếng Việt trong khi y có bản tham luận không được chọn đăng trong kỷ yếu hội nghị cũng như không được mời lên thuyết trình về đề tài của y. Gã tiến sĩ đó tuyệt đối dốt ngoại ngữ nên không sao hiểu nổi dù tôi đề xuất chi li – và được Ban Tổ Chức hiểu, đánh giá cao, qua việc chọn đăng vào kỷ yếu – nên có sự làm cho tương thích giữa văn phạm tiếng Việt và văn phạm tiếng Anh nhằm giúp người Việt học tiếng Anh đẳng cấp cao hơn và chính xác hơn, đồng thời giúp người nước ngoài học tiếng Việt dễ hơn khiến tiếng Việt lan tỏa toàn thế giới. Tất nhiên với tư cách bậc trưởng thượng từ lúc mới lòng mẹ đến nay, tôi sau đó không đăng đàn phân bua làm chi như đàn gảy tai trâu mà phát biểu phản bác cái kiến nghị của y về việc nên đưa vào dạy tiếng Hoa từ cấp tiểu học trên toàn quốc, và tôi đã xổ nhiều câu đối Hán-Việt trong đó có những câu chẳng hạn như Thị Tại Môn Tiền Náo, Nguyệt Lai Môn Hạ Nhàn, hoặc sử liệu về Rút Ruột Vương Tam Phân Thiên Hạ, Chặt Đầu Tây Tứ Hải Thái Bình đủ để làm cả hội trường ngạc nhiên thích thú và thuyết phục về sự thật rằng tôi là một thạc sĩ kinh doanh quốc tế không thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học Tiếng Việt nhưng đã nắm vững cái ngành của gã tiến sĩ đó hơn là gã biết gì đó về lĩnh vực ngôn ngữ Anh của tôi, chứng minh cho cả hội trường thấy rằng qua tôi thật sự văn hóa Hán-Việt được thưởng lãm trong kho tàng văn học Việt Nam, nhưng không vì vậy mà đề xuất Nhà Nước đầu tư số tiền khổng lồ đào tạo giáo viên tiếng Hoa rồi áp đặt vào chương trình giáo dục tiểu học, loại bỏ tiếng Anh tiếng Pháp. Tiến sĩ chuyên ngành ngôn ngữ Việt mà còn có trình độ thấp kém như thế thì bảo sao ở Việt Nam cách chi không có vấn nạn ngôn từ trong giới truyền thông.

Trong các ngôn ngữ Âu Mỹ đang thống trị toàn cầu về học thuật hàn lâm thì luôn có nhiều loại từ được phân hạng trong tự điển của họ như hạng trang trọng, hạng bình dân, hạng cổ xưa, hạng văn nói, hạng thơ ca, hạng tiếng lóng, hạng tiếng bẩn, v.v. Đây là lý do có sự sử dụng thích hợp các hạng từ cho những ấn phẩm báo nói báo viết báo hình: chỉ có từ ngữ hạng trang trọng formal được sử dụng, còn phong cách thì thuộc thể loại báo chí nghĩa là phải đáp ứng cho đủ lượng chữ được hạn chế bởi số cột số trang. Trong khi đó, Việt Nam tại bị vì bởi chiến tranh nên đã hoàn toàn bỏ phế chuyên ngành văn phạm học tiếng Việt, bỏ mất dấu gạch nối đặc thù của tiếng Việt, bỏ luôn các phân hạng từ trong từ vựng tiếng Việt, dẫn đến việc sử dụng từ vô tội vạ, hoàn toàn sai, hoàn toàn bậy bạ trên tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng. Người ta vô tư phát những bản tin về những nghệ sĩ nhí, về sự lựa chọn không tồi khi một Đảng ở Mỹ đề nghị ứng cử viên tổng thống, về sự găm hàng, về đi phượt, về ngáo đá, về bật mí, về y xì, về gậy tự sướng, và về vô thiên lủng thứ, cứ như thể tất cả những từ lóng và hạ cấp đó đương nhiên là từ chính quy không cần sự sàng lọc của thời gian và của giới học thuật hàn lâm về ngôn ngữ để được phép sử dụng đại trà trong văn chính quy chính thức. Thậm chí có tờ báo còn đăng ý kiến của nhà học thật nào đó rằng nên bổ sung ngay các từ mới xuất hiện trong xã hội vào từ điển tiếng Việt, chẳng khác nào một anh đi thu gom rác y tế ở phường đề nghị cách vi phẫu thuật thần kinh vậy. Đọc những bài báo, xem những game show hay nghe những bản tin tức thời sự chính thống, học sinh Việt Nam sẽ tự nhiên xem bản thân mình cũng có quyền dùng các từ lóng đó trong bài luận văn của mình tại lớp, trong thư từ gởi ông bà cha mẹ, và trong đối thoại với nhau hoặc đối đáp với Chủ Tịch Nước. Đây là thảm họa.

Không ai nhận thức được rằng nghệ sĩ thiếu niên nhi đồng mới là từ được phép sử dụng chính quy trong học tập và truyền thông.

Không ai nhận thức được rằng quyết định của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp kéo pháo ra khỏi trận địa Điện Biên Phủ là một quyết định không tồi là nội dung chỉ được viết nên hay phát biểu bởi kẻ mất dạy.

Tương tự, chỉ cần những người công tác biên tập của các tòa soạn báo Việt Nam đọc báo chí đẳng cấp cao bằng tiếng Anh của giới tài phiệt truyền thông Âu Mỹ đang thống trị toàn thế giới là có thể nhận ra ngay rằng không bao giờ nhà báo của họ dùng những tiếng lóng kiểu như phượt, găm hàng, ngáo đá, bật mí, v.v. trong toàn bộ các bài viết dày cộm dồi dào tràn ngập trong báo và tạp chí tuyệt đẹp tuyệt mỹ tuyệt vời của họ như Time hay Newsweek.

Là tiến sĩ giảng dạy đại học mà dốt ngoại ngữ, hoặc học ngoại ngữ không đến nơi đến chốn cho tương xứng với trình độ tiến sĩ luôn đòi hỏi sự dày công nghiên cứu thường xuyên tư liệu tiếng nước ngoài, thì rõ là văn bằng tiến sĩ ắt do nhờ người khác thi hộ hoặc do Nhà Nước phát ban mới có.

Là nhà biên tập của giới truyền thông chính quy mà không biết có sự khác nhau giữa các hạng từ, không biết sử dụng hạng từ duy nhất thích hợp cho báo chí thời đại toàn cầu hóa nghĩa là phải vươn lên ngang tầm với người ta về đẳng cấp dùng từ, thì chẳng khác nào biến báo hình ngang đẳng cấp tiết mục tấu hài, biến báo chữ ngang đẳng cấp tờ rơi quảng cáo khu nhà thổ, biến báo mạng ngang đẳng cấp trang web khiêu dâm.

Hãy học ngoại ngữ Âu Mỹ rồi đem áp vào cách hành văn tiếng Việt cho chính xác tương hợp, vì rằng khi một vị lãnh đạo Việt đọc diễn văn rằng “Là tương lai của đất nước, tôi cho rằng thanh niên nên…” thì theo văn phạm Âu Mỹ, cụm từ “là tương lai của đất nước” chỉ bổ nghĩa cho chữ “tôi”, khiến câu nói tiếng Việt như thế sẽ biến thành câu tiếng Anh mang nghĩa khôi hài rằng “chính tôi là tương lai đất nước và chính tôi cho rằng…”; vì vậy nhất thiết phải viết lại câu phát biểu ấy thành “tôi cho rằng: là tương lai đất nước, thanh niên nên…” mới có sự chính xác tương hợp giữa văn phạm tiếng Việt và tiếng Anh. Khi áp văn phạm Âu Mỹ vào tiếng Việt để cho ra các khai niệm tương hợp về mệnh đề chính và mệnh đề phụ, truyền thông sẽ không còn đưa tin như “mặc dù đã…, tuy nhiên….” hoặc “dù…, nhưng…” mà người nước ngoài học tiếng Việt sẽ không tài nào hiểu được vì câu ấy có hai mệnh đề phụ hoặc một phụ một độc lập, không có mệnh đề chính, mà đã là phụ thì chúng bổ nghĩa cho cái gì, hoặc đã là độc lập thì chúng càng không nhận sự bổ nghĩa của cái gì, vì lẽ ra một khi đã dùng “mặc dù” thì mệnh đề theo sau trở thành mệnh đề chính nên không được phép tùy tiện có chữ “tuy nhiên” của mệnh đề độc lập, còn khi đã dùng “dù” bắt đầu một mệnh đề phụ thì “nhưng” lại bắt đầu một mệnh đề độc lập khiến tất cả trở thành những thứ rất tồi tệ về văn phạm mà tiếng Anh gọi là dangling modifiers tức những thứ lòng thòng lửng lơ chẳng dính đâu vào đâu cả.

Bảo vệ sự trong sáng kiểu gì mà thay cụm từ Hán-Việt đầy uy lực sử dụng công lộ thành cụm từ đầy sơ hở tham gia giao thông khiến tình trạng xe cộ chạy loạn xạ làm nhục quốc thể như hiện nay.

Bảo vệ sự trong sáng kiểu gì mà thay cụm từ Hán-Việt đầy hấp dẫn cao đẳng kỹ thuật cung cấp cho đời biết bao cán sự kỹ thuật tài ba bằng cụm từ cháo pha cơm cao đẳng nghề thấp kém khiến xã hội luôn thiếu những người mà sự bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt dìm xuống thành thợ.

Và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt kiểu gì mà thay thế từ thuần Việt đĩ  và từ Hán-Việt mại dâm vốn bao đời giúp đĩ cứ tự do hành nghề nhưng trong tư thế luôn cúi gầm mặt trong xã hội thành từ thuần Việt trang trọng trân trọng đầy tôn kính tôn vinh gái bán hoa khiến đĩ trở nên vinh diệu vác mặt lên trời đầy kiêu hãnh, trở thành phong cách sống của các nữ celebrity, thậm chí được các nhà sử học tự phong và các vị thạc sĩ tiến sĩ trên trời rơi xuống chụp lấy như đề tài quý báu để dồn trí tuệ tâm huyết lên báo chí kiến nghị lập khu nhạy cảm, nhằm biến mại dâm nữ thành một nghề chính thức chính quy cần phát triển nhân rộng trong cả nước, kể cả bên cạnh đền thờ Bà Triệu, Bà Trưng.

Hãy dừng ngay cái sự nhí phượt ngáo tồi hạ đẳng ấy rồi bắt đầu đi học ngoại ngữ Âu Mỹ để nhà biên tập báo chí không còn vô tình viết nên những cấu trúc lòng thòng hạ cấp để thực sự giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đúng theo tinh thần tinh hoa cao trọng nhất của ngôn từ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan tuyên giáo của Đảng Cộng Sản Việt Nam thực sự mong muốn ước muốn hằng muốn song nhiều chục năm nay chẳng mấy ai hiểu thấu hiểu rõ mà chỉ có hiểu lầm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước: Tham Luận: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Hoàng Hữu Phước: Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Hoàng Hữu Phước: Tham luận: Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

TH True Milk

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi vẫn nhớ như in cảm giác ngây ngất lạ kỳ khi đến thăm trang trại TH True Milk ở Nghệ An cách nay vài năm.

Ngây ngất vì cảnh đẹp Tây Phương không thể tưởng tượng lại có thể tồn tại ở Việt Nam: xanh rì cây cỏ đến tận chân trời theo những luống khổng lồ đa dạng cây trồng dùng làm lương thực dinh dưỡng được quy hoạch khéo léo bậc thầy tài hoa để tạo nên bức tranh 5D – tức 3D cộng với sự di động từ gió thoảng và sông chảy suối reo – tuyệt hảo của thiên nhiên. Cảnh đẹp thiên nhên do nhân tạo ấy không bị bất kỳ điểm chen phá nát của công trình nhà ở nào như luôn thấy ở khắp đất nước này. Dường như chỉ cần đến TH True Milk là quá đủ để cảm nhận được thế nào là cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú ở những xứ miền ôn đới Âu Tây.

Lạ kỳ vì tôi dị ứng với sự nóng nực. Khi tôi còn thơ ấu, Ba tôi luôn phải thức khuya để ngồi quạt cho tôi ngủ yên giấc. Còn khi tôi gánh vác việc nuôi cả đại gia đình, em gái tôi lẳng lặng ngồi quạt cho tôi ngủ yên giấc để có sức lên đường đi dạy học suốt trưa-chiều-tối. Còn khi lập gia đình ra ở riêng nhiều chục năm nay, nhà tôi suốt ngày chưa bao giờ để máy lạnh trên 160C, và hóa đơn tiền điện cứ như thể của nhà đại gia do tiêu thụ quá nhiều điện, cũng đặc biệt vì ngoài việc mở máy lạnh cả ngày, tôi còn chỉ cho nhà tôi xài bếp điện, lò điện, chứ không cho phép xài bếp gas vốn là thứ tôi cho rằng chỉ dành cho ai muốn hà tiện chứ không phải là thứ sang trọng vệ sinh an toàn gì sất. Ấy vậy mà đứng giữa khu trang trại TH True Milk cực kỳ nóng nực, cực kỳ ngột ngạt, cực kỳ khô hạn, tôi lại thấy mình vẫn có thể cảm nhận được sự ngất ngây trước cảnh quang thiên nhiên; trước lao động công nghiệp hiện đại tất bật của những cặp xe thu hoạch-xay nhuyễn và rót vào xe tải thùng hứng chạy sát bên; trước bãi phơi ủ bao la như núi những thứ thực phẩm vừa được thu hoạch ấy; v.v. tức tất cả những gì tôi khó thể miêu tả bằng tiếng Việt do không có đủ từ ngữ khác nhau cho những cảm xúc có cường độ tinh tế khác nhau như marveled.

Khi dùng bữa trưa, nhìn vị nữ chủ nhân của TH True Milk lâu lâu nhón lấy một tí xôi đậu, tôi cảm thấy như mình đang chiêm ngưỡng một điều kỳ bí với dấu hỏi to lớn: người phụ nữ nhỏ bé đó, người phụ nữ ăn uống khắc khổ có vẻ như kiêng khem đó, người phụ nữ không thuộc giới quyền lực Nhà Nước đó, lại chính là người đã dám cả gan thu gom vốn đầu tư tiên phong vào lĩnh vực trang trại bò sữa hiện đại mà tất cả các đại gia trong ngành dù có bầu sữa ngân sách căng cứng của Nhà Nước chu cấp nửa thế kỷ nay vẫn chưa ai có tầm nhìn và có gan nghĩ ra ngoài chiếc hộp như thế, đã vậy lại dám đâm đầu vào xứ miền khô hạn nghiệt ngã như Nghệ An xây dựng trang trại phải cần có hệ thống quạt mát cho bò!

Tôi là người khó tính. Vì khó tính, nhiều chục năm nay tôi không cho gia đình được tắp vào mua xăng của cây xăng nào không thuộc hãng Petrolimex sau khi ở Thành phố Hồ Chí Minh mấy chục năm trước phát hiện một hãng tầm cớ khác pha xăng chất lượng thấp hơn, lừa bịp người tiêu dùng.

Tôi là người khó tính. Vì khó tính, nhiều chục năm nay tôi chỉ mua quần áo của An Phước và cấm gia đình được mua quần áo của hãng xấu xa cực kỳ lớn kia của Nhà Nước, chẳng qua hãng xấu xa đó sau khi được Pierre Cardin cho độc quyền sản xuất nhượng quyền ở Việt Nam đã sử dụng thương hiệu và nguyên liệu của Pierre Cardin để sản xuất hàng nhái Pierre Cardin bán rẻ hơn, hốt bạc thu lợi bất chính. Khi Pierre Cardin phát hiện đã lịch sự cắt bỏ hợp đồng, lịch sự chuyển giao cho An Phước mà không túm cổ công ty xấu xa kia ra tòa để tránh cho Nhà Nước Việt Nam bị bẽ mặt. Tất nhiên, do giá An Phước cao, tôi buộc phải nói với học trò là tôi thích mặc áo sơ mi của Dệt Nha Trang để các em không phải tốn tiền nhiều mỗi khi Tết đến.

Tôi là người khó tính. Nhiều năm nay gia đình tôi chỉ dùng sản phẩm của TH True Milk, sau khi ở Thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm trước phát hiện một hãng nọ của Nhà Nước tầm cỡ quốc gia đã sản xuất sữa tươi bằng cách đem sữa bột pha với nước, tức công đoạn hoàn nguyên đầy gian xảo, lưu manh mạt hạng, vì (a) không ai trên thế giới làm cái quy trình quái gỡ đầy tốn kém gây tai hại cho hệ sinh thái cho nhân loại như thế, (b) sữa bột không thể còn đầy đủ chất dinh dưỡng tự nhiên như sữa tươi, (c) khi sữa bột được pha với nước để mang mặt nạ sữa tươi, không ai có thể biết sữa bột ấy có đã quá hạn sữ dụng hay chưa, (d) không ai trên thế gian lại có thể cho rằng sự lừa bịp khách hàng là đạo đức kinh doanh, và (e) không ai trên thế gian này lại có thể ngờ rằng sự lừa bịp khách hàng lại có thể được thực hiện bỡi một doanh nghiệp con cưng của Nhà nước. Sự khó tính của tôi không phải là tác nhân duy nhất, độc đoán. Trong khi tôi luôn khó tính thiên về…vĩ mô, vợ tôi lại rất quan tâm đến tính vi mô của vấn đề: dinh dưỡng tốt nhưng phải tiết kiệm. Sau khi bị một vố về chất lượng sản phẩm của cái hãng mà tôi khinh miệt, vợ tôi phải thừa nhận rằng sẽ từ nay về sau chỉ mua của TH True Milk bất kể phải chi nhiều tiền hơn, vừa để gia đình an toàn, vừa để giảm huyết áp do không phải bực mình đem bỏ thùng rác mấy hộp sữa mà chồng mình không cho đem đi khiếu nại rùm beng để giữ danh tiếng cho Nhà nước.

Hôm nay viết về TH True Milk, tôi như viết về sự thật mà nhiều người ắt cũng đã có thể nhận ra, do sự thật ấy đã thật sự do vị nữ chủ của TH True Milk đã đạt được, mà không cần sự tung hê mang tính phe nhóm nào cả. Khi nói về sự thành công của vị nữ chủ TH True Milk, người ta có thể khó quên cung cách cương nghị của người ấy cả trong quyết định đầu tư, quản lý đầu tư, quản lý rủi ro đầu tư, quản lý truyền thông, của người ấy.

Khi dám vươn lên hàng ngũ đại gia từ giới tư nhân lấn sân vào ngành chiến lược quốc gia mà quốc gia đã đổ biết bao vốn liếng vào vẫn không xây dựng được một thương hiệu sữa đúng nghĩa thực chất, nữ chủ TH True Milk trở thành đích ngắm bắn vô tội vạ của giới truyền thông về những điều chỉ có trong báo lá cải mạt hạng như vốn liếng chạy chọt từ thế lực chống lưng nào, như vì sao tổng vốn chia lên đầu đàn bò hóa ra mỗi con bò có giá khủng như thế ắt có tham nhũng chăng, v.v., thậm chí khi vị nữ chủ nhân TH True Milk phát biểu một sự thật 1000% là trang trại TH True Milk lớn nhất Việt Nam thì vị Chủ tịch Hiệp Hội Sữa Việt Nam đã trả lời dè bỉu với báo chí rằng TH True Milk chỉ như con tem dán trên mông bò. Mông Bò ư? Ông chủ tịch không phải có uẩn ức dục tình do dục tính từ ấu thơ đến nay vẫn chưa được thỏa mãn nên mồm miệng cứ phải nói về mông về vú ngay cả khi nói về vấn đề có liên quan đến một phụ nữ (theo phân tâm học của Signund Freud) đó sao? Ông chủ tịch không từng học hành đến nơi đến chốn nên mới ngu hơn ở chỗ không hiểu rằng chính ông đang ví von Việt Nam – hay ám chỉ toàn dân Việt Nam nào có uống sữa – là cái mông con bò ư? Ông chủ tịch không hiểu rằng khi nói trang trại TH True Milk đứng đầu Việt Nam, nữ chủ nhân của nó chỉ nói lên sự thật rằng trên bình diện quy mô trang thiết bị hiện đại nhất thế giới, dây chuyền khép kín từ nhập khẩu bò giống, lực lượng nhân sự kỹ thuật cao được thuê từ Israel, trồng trọt các loại cây đảm bảo nguồn cung ứng tập trung đồng nhất và đầy đủ chất dinh dưỡng nhất cho bò sữa, sản xuất thực phẩm cho bò sữa, chu kỳ vắt sữa hiện đại cho đàn bò có gắn chip điện tử theo dõi sản lượng, cho đến giám định phẩm chất và sản xuất sản phẩm sữa tươi cùng các sản phẩm từ sữa của chính trang trại TH True Milk, thì TH True Milk đúng là hàng đầu Việt Nam. Ông chủ tịch vội vàng trấn áp, hạ ngay phẩm giá của TH True Milk, ví nó nhỏ như con tem, vừa để giữ thể diện cho đại gia sữa nọ của nhà nước, vừa để khẳng định quyền lực duy nhất của ông tức Nhà Nước trong việc xếp hạng doanh nghiệp lợi ích nhóm.

Khi dám vươn lên hàng ngũ đại gia từ giới tư nhân lấn sân vào ngành chiến lược quốc gia mà quốc gia đã đổ biết bao vốn liếng vào vẫn không xây dựng được một thương hiệu sữa đúng nghĩa thực chất, nữ chủ TH True Milk đã sử dụng chiêu thức chỉ có nơi đại gia tư bản nước ngoài: không đôi co cải lý với Ông Chủ Tịch về chiếc ghế “hàng đầu Việt Nam” mà tiếp tục lặng lẽ vươn lên đoạt các giải thưởng danh giá tầm cỡ châu lục đầy vinh diệu, bỏ mặc cái “hàng đầu” ấy cho Hiệp Hội muốn ban phát cho ai thì cứ phát ban cho có việc để làm, tương xứng với tiền lương cao ngất nhận được của Nhà nước.

Khi vươn lên, người ta cần có cùng lúc cái tâm, cái trí, cái chí, và cái đức. Ngày nay, chỉ với một cái chí hoang đường nào đó thôi là người ta đã dám lao vào cái gọi là khởi nghiệp mà chẳng ai hiểu thấu ý nghĩa của nó, rồi vui vẻ rung đùi ngâm câu hữu chí cánh thành, có chí thì nên. Có cái trí để khi lựa chọn lĩnh vực là do bản thân có nhận thức đầy đủ và hoàn hảo về thị trường, về lĩnh vực, về bản thân, chứ không chạy theo đuôi ai. Có cái chí để có thể thực hiện những gì mà cái trí đã nghiền ngẫm phân tích và tổng kết. Có cái đức để luôn có đường ray vững chắc cho tiến trình thực hiện cái chí. Và có cái tâm để mọi thứ đều dưới quyền giám quản giám sát một vị thống soái. Ngay cả khi có cả bốn điều về tâm, trí, chí, đức, người ta vẫn còn khó thể thành công vì thiếu thời vận, thiếu sự may mắn, thiếu đội ngũ người tài dưới trướng, và thậm chí do bị vướng cái họa của “cộng nghiệp” theo thuyết Nhà Phật, huống hồ chỉ thấy thiên hạ làm được là cứ thế làm theo thì thành công ắt là do hồng đức hồng ân của tiên tổ.

Các bạn nam nữ hãy nghiên cứu về vị nữ chủ nhân TH True Milk nếu muốn có một case study thật sự nghiêm túc cho sự vươn lên của mình.

Một nghị sĩ chức sắc cao cấp của Hạ Viện Thái Lan hỏi ý kiến tôi về đối tác đầu tư cho ngành sữa tại Việt Nam, và tôi đã cho ra vài nhận xét nhưng không nói gì về TH True Milk vì tôi tạo dựng uy tín với nước ngoài chỉ trên cơ sở duy nhất: đã tư vấn là để giúp thực hiện được chứ không chỉ để nói chơi. Trước thực tế các tỷ phú đô-la Thái Lan muốn thâm nhập lấn quyền ngành sữa Việt Nam, và trước thực tế nữ chủ TH True Milk là một thực thể quyền năng đầy trí tuệ và cá tính, hai thực tế này sẽ không bao giờ có chỗ đứng chung.

Một giáo sư Mỹ nêu hai cái tên đại gia một thuộc ngành cà phê và một thuộc ngành sữa, hỏi ý kiến tôi để bổ sung cập nhật cho các case study của ông về thị trường kinh doanh Việt Nam. Tôi đã với tính thật thà thẳng thắn vốn luôn buộc phải có nơi bất kỳ ai thuộc giới hàn lâm ở các siêu cường văn hóa Âu Mỹ – mà tôi luôn cố học hỏi trau giồi để may ra có ngày được gia nhập – tôi khuyên ông hãy vất sọt rác hai cái tên nhàm chán đó đi và hãy dành công sức cho TH True Milk mà rất tiếc tôi chưa thể cung cấp thêm một cái tên nào khác thứ hai vì tôi vẫn chưa thấy có doanh nghiệp nào ở Việt Nam có thể nên được đưa vào case study cho các đại học quản trị kinh doanh thế giới cả.

Nữ chủ TH True Milk ắt không nhớ gì về vị khách tuy ăn trưa chung bàn ngày ấy ở Nghệ An nhưng không bắt chuyện gì với bà dù chỉ một câu xã giao mà cũng chẳng xin trao đổi danh thiếp với bà như bao kẻ thu thập danh thiếp thường làm. Nhưng mỗi ngày mỗi khi vợ tôi đưa tôi một hộp sữa TH True Milk là tôi lại nhớ đến bà trong buổi trưa hè nóng bức ấy ở Nghệ An.

Chính TH True Milk đã đưa đến Việt Nam một thực tế kinh doanh nghiêm túc:

– Một sản phẩm sữa tươi có chất lượng cao nhất phải đảm bảo đồng nhất và đồng bộ đến từ một trang trại cụ thể, từ một đàn bò cụ thể, có nguồn cung cấp lương thực cụ thể đúng quy chuẩn cho sữa của bò, có sự chăm sóc bài bản cho đàn bò sữa từ nhiệt độ môi trường chuồng trại đến nhạc nền phục vụ cho sức khỏe tinh thần của đàn bò sữa, có hệ thống thu sữa và sữa thu được tự động hóa trên cơ sỡ dữ liệu từ chip điện tử của mỗi con bò, và tất nhiên không thể không kể đến hệ thống hiện đại trong lưu trữ, bảo quản, sản xuất và phân phối;

– Sữa tươi không thể được đánh đồng có cùng chất lượng mặc nhiên dưới tên của một thương hiệu chung nếu như do thu mua từ mọi nông hộ “trên toàn quốc”, từ sữa của những con bò không rõ có được bảo vệ sức khỏe nghiêm ngặt, được nuôi bằng thực phẩm tự nhiên hay phản tự nhiên nào – như đã từng có phóng sự của VTV về những con bò ăn rác thải sinh hoạt – và có đựng trong những chiếc xô thiếc bên vệ đường chờ xe thu mua đến nhận hoặc đổ bỏ trắng xóa cả cánh đồng do đã ôi thiu khi xe thu mua không đến do giá nguyên liệu hạ – như đã từng có phóng sự của HTV về sự thật như thế; và

– Sản phẩm sữa tươi phải được gắn liền với một trang trại cụ thể; không thể nào có việc sữa thu mua trên phạm vi toàn quốc đưa về một nhà máy để chế biến rồi mang danh sản phẩm sữa tươi của một tập đoàn, và tên nhà máy sản xuất thuộc tập đoàn tất nhiên chẳng tự động mang ý nghĩa đó là tên của trang trại.

Rất khó để có được một khách hàng trung thành, nhất là đối với một sản phẩm không lấy giá hạ làm vũ khí cạnh tranh, cũng như nhất là khi vị khách hàng đó là người vừa không giàu có vừa cực kỳ khó tính về CSR – trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng mà đạo đức kinh doanh phải là nền tảng tối thượng cho mọi sự trọng vọng.

Tôi là khách hàng trung thành toàn tâm toàn ý và tâm phục khẩu phục của TH True Milk.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đại Học

University vs College

Hoàng Hữu Phước, MIB

Daihoc

Việt Nam hiện có quá nhiều trường đại học mang tên tiếng Anh có chữ university. Đại học tất nhiên có rất nhiều tiến sĩ và thạc sĩ, nhưng rõ ràng là tất cả các vị này dù có thực sự đi học ở nước ngoài – nhất là các nước Âu Mỹ – vẫn không biết hoặc cố tình không biết thế nào là university. Trong khi đó, các giáo viên Anh Văn hiện nay là sinh viên của tôi cách nay 30 năm vẫn nhớ sự bực tức của tôi trước sự yếu kém của những lãnh đạo ngành giáo dục trong sử dụng university một cách tùy tiện. Còn một nhà giáo thạc sĩ Việt Kiều than với tôi rằng ở Việt Nam làm lơ trước hồ sơ của anh vì cho rằng anh tốt nghiệp cao đẳng do các văn bằng của anh có những tờ ghi rõ ràng chữ college chứ không phải university.

Phân Tích University So Với Đại Học Ở Việt Nam

Tại Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có vài ba đại học university chẳng hạn như ở Sài Gòn chỉ có một university duy nhất là Viện Đại Học Sài Gòn Saigon University hay University of Saigon.

Tại Việt Nam Cộng Hòa có rất nhiều đại học faculty chẳng hạn như ở Sài Gòn có Đại Học Văn Khoa (Faculty of Letters), Đại Học Y Khoa, Đại Học Luật Khoa, Đại Học Bách Khoa, Đại Học Sư Phạm, v.v., tất cả đều dùng chữ faculty trong tên trường đại học bằng tiếng Anh của họ.

University không là nơi giảng dạy bất kỳ môn gì mà chỉ là nơi quản lý, tổ chức các trường đại học chuyên ngành gọi là đại học college (hay đại học faculty thời Việt Nam Cộng Hòa) do đó được gọi là Viện Đại Học.

University quản lý nhiều trường đại học chuyên ngành “đa ngành”. Thử tham khảo đại kháisơ lược về các trường đại học chuyên ngành mà chỉ một New York University của Mỹ thôi đã tổ chức, quản lý, cho đại khái và sơ lược chỉ mới 5 chuyên ngành như (a) Khoa học – Công nghệ – Kỹ thuật – Toán học – Nghiên cứu khoa học công nghệ, (b) Khoa học xã hội & nhân văn, (c) Giáo dục – Y tế, (d) Kinh doanh, và (e) Nghệ thuật – truyền thông, chúng ta đã thấy đại khái và sơ lược các ghi chú đại khái và sơ lược về các văn bằng từ cử nhân trở lên cho các ngành sau:

– Khoa học (21 chuyên ngành, từ Vật lý ứng dụng, Thiên văn học, Sinh hóa, Sinh vật, Vi sinh, Cổ sinh vật học, Hóa học, Môi trường, Di truyền, Ngôn ngữ, Thần kinh, Tâm lý, v.v.), Công nghệ (8 chuyên ngành, có cả Công nghệ thông tin, Nghệ thuật và thiết kế kỹ thuật số, công nghệ âm nhạc, v.v.), Kỹ thuật (13 chuyên ngành, như Kỹ thuật sinh hóa, Kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật vi tính, Kỹ thuật điện, Kỹ thuật cơ khí, Quản lý xây dựng, v.v.), Toán học (5 chuyên ngành, gồm Toán cao cấp, Toán tin, Thống kê, v.v.), và Nghiên Cứu Khoa Học-Công Nghệ (6 chuyên ngành, như Giáo dục Sinh-Hóa-Địa cầu-Vật lý, Lịch sử khoa học, Môi trường đô thị, Khoa học và xã hội, v.v.)

– Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, với Nhân văn (có 56 chuyên ngành, trong đó có Cổ đại, Văn minh cổ đại, Phi châu học, Lịch sử nghệ thuật, Điện ảnh, Văn chương, Văn chương Anh Mỹ, Nghiên cứu giáo dục, Pháp ngữ, Ngôn ngữ học Pháp, Ngôn ngữ học Đức, Ngôn ngữ học Ý, Giới tính, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Hồi giáo, Văn hóa – truyền thông, Viết văn, Đô thị, Bảo tàng – di sản văn hóa, Tôn giáo, Ngữ học Nga, v.v.,), và Khoa học xã hội (có 24 chuyên ngành, trong đó có Cổ sinh, Ngôn ngữ – cổ sinh, Tâm lý ứng dụng, Kinh tế, Giáo dục, Môi trường, Quan hệ quốc tế, Lịch sử, Luật, Chính trị, Chính sách công – chính sách xã hội, v.v.)

– Giáo dục & Y Tế, với Giáo dục (có 15 chuyên ngành, như Phát triển tâm lý thiếu niên – nhi đồng, Giáo dục đô thị, Giáo dục âm nhạc, Công tác xã hội, v.v,), và Y Tế (có 24 chuyên ngành, như Tâm lý ứng dụng, Sức khỏe tâm thần thiếu niên nhi đồng, Vệ sinh răng miệng, Nha khoa, Điều dưỡng, Dinh dưỡng – thực phẩm, Y tế công toàn cầu, v.v.)

– Kinh doanh (có 27 chuyên ngành, từ Kế toán, Định phí bảo hiểm, Kinh doanh & tài chính, Kinh doanh & kinh tế chính trị, Giải trí – truyền thông – công nghệ, Kinh doanh ngành giải trí – truyền thông – công nghệ, Quản trị công nghệ kinh doanh, Khởi nghiệp kinh doanh, Thời trang, Kinh doanh toàn cầu, Quàn trị khách sạn – du lịch, đến Marketing, Quản trị và tổ chức, Hệ thống thông tin, Kinh doanh âm nhạc, Địa ốc, Quản trị thể thao, v.v.)

– Nghệ thuật & Truyền thông, gồm Nghệ thuật (có 6 chuyên ngành, như Lịch sử nghệ thuật, Nghệ thuật hình ảnh, Nhiếp ảnh, v.v.), Kinh doanh nghệ thuật (có 3 chuyên ngành trong đó có Sản Xuất, v.v.), Khiêu vũ (2 chuyên ngành), Thiết kế – Kiến trúc – Quy hoạch đô thị (có 4 chuyên ngành), Nghệ thuật kỹ thuật số (có 6 chuyên ngành, trong đó có Thiết kế game), Kịch nghệ (có 6 chuyên ngành, trong đó có Sáng tác kịch bản, Văn học kịch nghệ, v.v.), Điện ảnh (có 3 chuyên ngành, trong đó có Phim ảnh và truyền hình, v.v.), Âm nhạc (có 8 chuyên ngành, từ Công nghệ âm nhạc, Đàn piano, đến Thanh nhạc và Dạy nhạc, v.v.), Viết (có 5 chuyên ngành, như Viết sáng tạo, Viết kịch, Viết truyền thông, v.v.), Truyền thông (có 17 chuyên ngành, từ Điện ảnh và truyền thông mới, đến Nghệ thuật truyền thông tương tác, Nghệ thuật studio, v.v.)

Chưa kể New York University còn chưa cho là bao nhiêu ngồn ngộn chuyên ngành trên đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập nghiên cứu của người dân nên còn lập ra trường đại học mang tên Galatin School of Invidualized Study để cung cấp các chương trình học theo những “môn học” mà cá nhân người học quan tâm nghiên cứu lấy văn bằng đại học và cao hơn nhưng xã hội chưa từng có nơi nào sẵn có để cung ứng như: giáo dục trong nhà tù, dân chủ đô thị, viết văn phong cách riêng, v.v. Tất cả cho thấy mới đại khái và sơ lược như trên về một đại học university thực thụ đã đủ chứng minh thế nào là một university đúng nghĩa: có nhiều trường đại học trực thuộc và bao trùm nhiều ngành khác nhau thuộc những lĩnh vực hoàn toàn khác nhau như kỹ thuật, công nghệ, vật lý, văn chương, âm nhạc, v.v.

Trở lại vấn đề chính sau khi nêu các đại khái và sơ lược trên, Việt Nam Cộng Hòa chọn chữ Faculty là do ảnh hưởng dài lâu của Pháp, trong khi tiếng Anh gọi đại học chuyên ngànhcollege. Thậm chí, đại học chuyên ngành sâu hơn của một đại học chuyên ngành college nhưng hoạt động có tầm cỡ danh tiếng y như college và độc lập trong quản lý cũng như chuyên môn, dù trực thuộc college theo chuyên ngành rộng, còn được gọi là department tức đại học chuyên ngành sâu hơn (người Việt dịch theo tự điển thành phân khoa hay ban là do tầm cỡ đại học Việt Nam quá bé nhỏ). Như vậy university (tức viện đại học) tổ chức và quản lý nhiều đại học chuyên ngành (tức college) của những lĩnh vực khác nhau. Chỉ ở university vĩ đại tầm cở hàng đầu thế giới như Oxford University hay Cambridge University của Anh Quốc không những có các đại học chuyên ngành college mà còn có luôn các đại học chuyên sâu lừng danh thế giới gọi là department hay hall, nghĩa là danh mục các trường đại học của đại học Cambridge chẳng hạn sẽ mang tên gọi college, department, và hall. Hiện Oxford University tổ chức và quản lý 43 trường đại học chuyên ngành trong đó có 36 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh college, 4 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh hall, 1 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh house, và 2 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ chớ chịu mang danh nào cả vì chỉ cần cái tên riêng của mình thôi là thế giới hàn lâm – trừ Việt Nam – phải tự động biết đến. Tương tự, Cambridge University tổ chức và quản lý 31 trường đại học chuyên ngành trong đó có 27 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh college, 3 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ mang danh hall, và 1 trường đại học chuyên ngành ngạo nghễ chớ chịu mang danh nào cả vì chỉ cần cái tên riêng của mình đã có từ năm 1284 thôi là thế giới hàn lâm – trừ Việt Nam – phải tự động biết đến.

Ở Việt Nam, Đại Học Bách Khoa dù tên mang nghĩa 100 khoa, và dù có hàng trăm ngành đi nữa thì chúng cũng chỉ ở chung một lĩnh vực duy nhất là kỹ thuật – công nghệ nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college cho chính xác, tức tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Ở Việt Nam, Đại Học Sư Phạm dù có hàng trăm ngành đi nữa thì cũng chỉ ở chung một lĩnh vực duy nhất là đào tạo giáo viên trung học nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college cho chính xác, tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Ở Việt Nam, Đại Học Y Dược dù có hàng trăm ngành đi nữa thì cũng chỉ ở chung một lĩnh vực duy nhất là đào tạo chuyên lĩnh vực chữa bệnh y tế y học y khoa nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college cho chính xác, tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Ở Việt Nam, tất cả các trường đại học đang tồn tại với chữ university trên bảng tên tiếng Anh của họ đều lại vừa (a) đang thực hiện giảng dạy vốn là việc chỉ của đại học chuyên ngành college/department/hall, vừa (b) không đang quản lý bất kỳ đại học chuyên ngành nào, mà chỉ có tổ chức các phân khoa department, nên lẽ ra không được phép dùng chữ university mà phải dùng chữ college tương đương với faculty mà Việt Nam Cộng Hòa đã dùng chính xác.

Cách nay 30 năm tôi đã dạy sinh viên rằng nếu các em nghe ai đó nói rằng anh ta/chị ta đang học ở Oxford University hay Cambridge University thì chắc chắn 1000% (một ngàn phần trăm) là anh ta/chị ta đang “nổ dóc” vì hai university ấy đâu có dạy gì đâu mà học, hoặc anh ta/chị ta thực sự đang học tại một trường dại học chuyên ngành college nào đó của Oxford University hay Cambridge University nhưng do cái tên của đại học chuyên ngành ấy vừa không có chữ Oxford hay Cambridge hoành tráng lại vừa có chữ college cấp thấp do Việt Nam gọi là cao đẳng có thể làm hạ cái phẩm giá du học cao sang của anh ta/chị ta, hoặc anh ta/chị ta học một ngành chẳng ai ở Việt Nam thèm học mà cũng có thể là đặc thù thuộc hạng…an ninh quốc phòng siêu bí mật quốc gia nên phải dấu biệt đi dưới tên gọi chung chung của Oxford University hay Cambridge University.

Hệ Quả University

Cái sai của các quan chức ngành giáo dục đại học hoặc chức sắc quản lý trường đại học ở Việt Nam là đã vì không biết tiếng Anh hoặc không học tiếng Anh đến nơi đến chốn, hoặc chưa từng đi học ở trường nước ngoài tầm cỡ quốc tế, hoặc chưa từng nghiên cứu tìm hiểu, hoặc chưa từng lắng nghe góp ý của người thực sự có hiểu biết, nên không hiểu rõ ý nghĩa của university, của college, của hệ thống tổ chức và quản lý university. Họ thậm chí không biết đến một sự thật là tính ngạo mạn là đức tính cao vời vợi luôn có ở đẳng cấp hàn lâm cao nhất, và chính tính ngạo mạn này đã hình thành trong tên gọi của trường đại học luật danh tiếng nhất thế giới Yale Law School của Mỹ, nơi đã không dùng university trong tên trường vì họ muốn khẳng định sự ngạo nghễ không thèm ôm đồm thêm bất kỳ lĩnh vực ngoại lai nào không phải là luật, và không dùng college trong tên trường vì họ muốn khẳng định sự ngạo nghể rằng họ không trực thuộc bất kỳ một university nào trên trái đất này cả. Đối với Yale, School mang nghĩa một dấu ấn trường đại học chuyên ngành bậc nhất hành tinh, ban phát bằng cấp thạc sĩ và tiến sĩ luật giá trị nhất thiên hà, và là nơi cung cấp cho Mỹ các vị tổng thống và các quan chánh án tòa án tối cao cũng như các giáo sư luật lừng danh hoàn vũ. Còn ở Việt Nam, university là lớn nhất, school chỉ là trường tiểu học hay trung học thấp lè tè.

Khi tiếp quản cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa sau ngày giải phóng 30-4-1975, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy trường Đại Học Sư Phạm Faculty of Pedagogy có hai bộ phận là Đại Học Sư Phạm Đệ Nhất Cấp và Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp (cái thì đào tạo giáo sư dạy trung học cấp 2 và cái thì đào tạo giáo sư dạy trung học cấp 3) nên chuyển bộ phận “cấp 2” băng qua bên kia đường tiếp quản cơ sở vật chất trường trung học Thiên Phước của người Hoa, biến bộ phận “cấp 3” ở lại thành Đại Học Sư Phạm University of Pedagogy và bộ phận qua Thiên Phước thành Cao Đẳng Sư Phạm Teachers Training College. Chính quyền đã đúng vì Pedagogy hoàn toàn sai do chỉ liên quan đến một môn họcsư phạm học, hoàn toàn không mang ý nghĩa đào tạo giáo viên vốn là ý nghĩa thực thụ của trường sư phạm trong tiếng Việt, nên teachers training (hoặc teacher’s training hoặc teacher training) theo kiểu tiếng Anh của người Mỹ là hoàn toàn chính xác để gọi Đại Học Sư Phạm. Tuy nhiên, chính quyền đã sai khi vừa duy trì từ Pedagogy cho bộ phận đại học “cấp 3” ở lại cũng như cho nó giữ nguyên tên “đại học” và cho dùng từ university, còn gọi bộ phận đại học “cấp 2” đã được chuyển đi là cao đẳng và dùng tiếng Anh college cho trường mới này, trong khi chữ college không có ý nghĩa cấp học thấp hơn đại học, và từ ngữ cao đẳng thời Việt Nam Cộng Hòa thường được dùng cho hệ thống trường kỹ thuật hay mỹ thuật mà thôi. Sự việc này đã hủy phá toàn bộ những nỗ lực đầu tư cho giáo dục ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì lý do sau:

– Trong khi ở Việt Nam Cộng Hòa học sinh thi vào Đại Học Sư Phạm chọn đệ nhất cấp hay đệ nhị cấp học trong 3 năm hay 4 năm đơn thuần chỉ vì hoàn cảnh hoặc sở thích có muốn mau chóng tốt nghiệp hay không để sớm có việc làm nuôi gia đình, chứ mọi người dù học hệ 3 năm hay 4 năm đều là cử nhân như nhau, lương bổng như nhau (thu nhập của giáo sư dạy cấp 3 sẽ cao hơn nhờ cấp 3 sẽ có thi tú tài, tạo điều kiện dạy luyện thi thêm ở các trường khác hay trung tâm khác), và ai cũng chăm chỉ công tác khác nhau trong phạm vi được đào tạo khác nhau của mình; thì ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam người theo học cao đẳng có mặc cảm tự ti, xem mình đẳng cấp cao tức cao đẳng mà hóa ra lại thấp kém so với đại học, nên đa số cố gắng về sau học thêm bổ túc để thăng hạng đại học, không phải vì lý tưởng vươn lên trong tri thức mà chỉ để nhanh chóng bỏ trường bỏ lớp đang dạy để sang trường trung học cấp 3 có danh hơn và có lương cao hơn, khiến đội ngũ ở lại của cấp 2 không thể có chất lượng giảng dạy tốt hơn do sự đổ xô ra đi ấy, khiến trường cấp 2 chỉ còn lại toàn sinh viên mới tốt nghiệp có năng lực chưa vững, chưa có nhiều kinh nghiệm, và khiến học sinh cấp 2 khó thể giỏi thật sự về học vấn đáp ứng yêu cầu của cấp 3, làm chất lượng học tuột dốc theo thời gian theo hiệu ứng domino.

– Cũng vì cái tên cao đẳng college mà học sinh trung học đổ xô thi vào đại học university khiến gây cơn khủng hoảng triền miên trong vất vả tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo Dục cũng như khiến ý nghĩa đại học chuyên ngành của college hoàn toàn biến mất, khiến ở Việt Nam cụm từ cao đẳng sư phạm tự nhiên mang nghĩa cấp dưới của và cấp thấp hơn đại học sư phạm.

– Một khi chữ college của hệ thống trường kỹ thuật bị tước đoạt để làm tiếng Anh cho từ cao đẳng, trường kỹ thuật bị đổi ngay thành Trường Cao Đẳng Nghề dường như để khẳng định (a) học chữ quan trọng hơn học kỹ thuật qua việc cao đẳng nghề tất nhiên là sự phân biệt đối xử để có khoảng cách với cao đẳng chữ dù cả hai cao này đều thấp, và (b) chuyện giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là chuyện dành riêng cho những gì thấp kém nên những từ Hán-Việt tiếp tục duy trì cho cấp cao còn chữ thuần Việt như Nghề thì quẳng cho kỹ thuật tầm tầm bậc trung, và chính những quan chức Giáo Dục của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tạo ra ThầyThợ cũng như sự nghiêng lệch trong trọng vọng về phía Thầy trong cách nghĩ của học sinh và phụ huynh học sinh, cùng sự sụp đổ của nguồn cung ứng nhân lực cho kế sách quốc gia của hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Trường Kỹ Thuật Cao Thắng và trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ của Sài Gòn trước 1975 là nơi học kỹ thuật đầy vinh dự tấp nập học sinh nào tự hào có năng khiếu cao về kỹ thuật mới được theo học sau những kỳ thi tuyển cực kỳ khó khăn. Trường Nghề XTrường Cao Đẳng Nghề Y nào đó của Thành phố Hồ Chí Minh, trái lại, chỉ là nơi mà học sinh vì nghèo vì yếu nên phải theo học không có chút tự hào vì được gom vào để học không qua thi tuyển, còn bản thân trường cũng không chút vinh dự với sự ế muộn vắng vẻ của nó. Trong một thư gởi Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục nhiều năm trước, tôi đã kiến nghị trong vô vọng về việc sửa đổi cách gọi tên trường Nghề cũng như các vấn đề đại học đã giải bày ở trên. Cụm từ “thừa thầy thiếu thợ” là do chính các quan chức Việt Nam chế ra, mặc nhiên xếp thợ ở hàng thấp kém, và mặc nhiên xếp bất kỳ ai không phải là thợ đều là thầy, trong khi cách gọi thầy như vậy là sai, vừa mang tính rơi rớt của thời Pháp thuộc, vừa biến anh thợ đại học (tức tốt nghiệp kỹ thuật ở Đại học Bách Khoa) thành thầy vừa biến anh thợ cao đẳng nghề thành thợ, nói chi đến anh thợ trung cấp nghề chắc ở vị trí thợ hạng hai như công dân hạng hai vậy.

Biến Thiên Ngôn Từ

Người Việt thật ra đã có quyền năng ghê gớm trong thay đổi và hạ thấp ý nghĩa ngôn từ tiếng Anh.

Từ những năm 1990 của thế kỷ trước, mỗi khi mua thuốc tại bất kỳ nhà thuốc tây nào, tôi đều xem kỹ tên nhà sản xuất, rồi từ chối mua tất cả các sản phẩm của “viện bào chế” như Calipharco hay Ampharco,v.v., và giải thích với người bán là tôi không mua thuốc của mấy công ty dược của Việt Kiều. Trước đó, do công ty nước ngoài của tôi cung cấp bulk drug (thuốc nguyên liệu như paracetamol trong thùng phuy để các công ty dược Việt Nam nhập về nén viên đóng vỉ) và thuốc thành phẩm cho thị trường Việt Nam thời cấm vận, vài công ty Việt Kiều Mỹ đã kiếm tôi, bàn chuyện sản xuất thuốc viên tại Ấn Độ, in bao bì tại Ấn Độ ghi dòng chữ Made in USA và lá cờ Mỹ, rồi tôi nhập về Việt Nam tha hồ kiếm lời. Tất nhiên tôi từ chối, và đem kinh nghiệm này để cảnh báo người thân về thuốc của Việt Kiều Mỹ. Cách nhận diện rất dễ: chỉ cần nhìn tên nhà sản xuất, vì chỉ có người Việt mới “nổ” bằng cách đặt tên mang danh tiểu bang Mỹ và dán lá cờ Mỹ, theo kiểu Calipharco là chữ viết tắt rất dễ hiểu của công ty dược (pharmaceutical company) của tiểu bang California, còn Ampharco là công ty dược của America Mỹ, mà mọi người Việt ở nước Việt hay nước khác đều áp dụng. Trong khi các công ty dược lừng danh của Âu Mỹ thì chẳng hề lấy tên của địa danh hay có chữ dược pharmaceutical và không bao giờ in lá cờ Mỹ lên sản phẩm thuốc của họ, thí dụ như “hãng” Kirkland hay Pfitzer của thuốc đa sinh tố Centrum lừng danh mà nhiều người Việt rất quen thuộc do thân nhân từ Mỹ gởi về. Tuy nhiên, sự lập lại hoài chữ Pharmaceutical của người Việt hải ngoại đã khiến gần như tất cả các công ty dược hạng nhỏ mới mở sau này ở Việt Nam và khu vực Á Châu đều dùng chữ PHARMA trong tên “hãng” của mình, khiến ngay cả thuốc Hàn Quốc nhập vào Việt Nam cũng do một phạc-ma nào đó của Hàn Quốc sản xuất, còn các lân bang trong ASEAN thì khỏi nói, cũng bị lây bịnh phạc-ma.

Phần phụ lục của từ điển Webster nặng chình chịch của Mỹ in khoảng năm 1960 cung cấp danh sách khoảng trăm đại học university và mấy chục ngàn đại học college. Nhưng từ khi người Việt xuất hiện nhiều ở Mỹ, và đặc biệt từ khi Việt Nam trở nên giàu có mà PhốBolsa TV của Mỹ khi phỏng vấn tôi đã nói kháy là “tư bản đỏ”, thì Mỹ và các nước Tây Âu phát hiện du học sinh giàu có của Việt Nam không chịu theo học các đại học lừng danh bất kỳ nếu các đại học này có chữ college. Muốn thì chiều, Mỹ và Tây Âu đột nhiên xuất hiện nhiều đại học university bé tí tẹo để giành giật học sinh Việt, từ đó hấp dẫn luôn học sinh các tiểu quốc giàu giống Việt Nam, khiến nhiều năm trước ở Việt Nam la làng tá hỏa tam tinh trên báo chí khi phát hiện một trường đại học university ở California đã lừa bịp biết bao du học sinh Việt Nam vì cái đại học university đó chỉ là một căn nhà trống trơn với hai cái bàn và ba chiếc ghế, không một bóng người bên trong, ngoài vài bóng người bên ngoài sau khi bay từ Việt Nam sang. Điều này cho thấy từ university ở Âu Mỹ đã mang thêm ý nghĩa của tự do kinh doanh: muốn mở university thì cứ mở, và university là bất kỳ cơ sở nào cho ra chương trình đào tạo không phải của trung học, còn văn bằng thì nếu muốn có giá trị phải đăng ký với cơ quan chức năng Mỹ, còn nếu không muốn do không thể đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt của cơ quan ấy thì cứ phát văn bằng cho sinh viên nước ngoài nào muốn có văn bằng Mỹ về làm vật trang sức hoặc dụng cụ thiên hạ.

Kết Luận

Như vậy, nếu dựa theo sự biến thiên kiểu degradation trong môn Lexicology tức hạ phẩm giá của ngôn từ, thì các trường đại học university ở Việt Nam vẫn có thể cứ yên tâm giữ ghịt lấy chữ university cho hấp dẫn học sinh trong nước.

Tuy nhiên, ắt du khách Âu Mỹ sẽ ngạc nhiên không hiểu vì sao ở Việt Nam có quá nhiều đại học quản lý mà chẳng có đại học giảng dạy.

Tất nhiên, ắt du khách Âu Mỹ sẽ ngạc nhiên không hiểu vì sao Thành phố Hồ Chí Minh có Đại học university Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn đồng thời có cả Đại học university Luật, vì lẽ ra Đại Học Luật phải trực thuộc Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn vì luật là một chuyên ngành riêng của khoa học xã hội & nhân văn, còn Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn phải trực thuộc Đại Học Sài Gòn vì đại học mang tên địa danh ở Âu Mỹ thường là ở cấp cao nhất về quản lý ở mỗi địa phương. Từ đó suy ra, Đại Học Sài Gòn ắt là university, Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn ắt là college, và Đại Học Luật ắt là department hay hall hay house. Nhưng điều ai cũng có thể thở phào nhẹ nhõm là: du khách chỉ lo đi ngoạn cảnh, ngắm người, chứ chẳng ai hơi đâu thắc mắc về sự kỳ lạ ở Việt Nam.

Đương nhiên, việc chẳng ai chịu học nghề, việc các university mà đa số nhỏ bé về tầm vóc tầm cỡ và uy thế cũng như cơ sở chẳng thể đào tạo nên những cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ thực sự có năng lực cao cho xã hội, cho đất nước, là chuyện riêng của Bộ Giáo Dục, miễn trường phải có chữ university để trên cơ sở đó thu nhận được nhiều người theo học, và cũng trên cơ sở đó mà tự do phong tước giáo sư cho phe nội bộ.

Tự nhiên cái sai thì hiển nhiên, mà việc sửa sai thì bất khả thi.

Nếu dị ứng với từ college do từ này đã bị Bộ Giáo Dục Việt Nam hạ phẩm giá, các trường có thể dùng từ khác, nhưng hãy vì lòng tự trọng hàn lâm mà bỏ chữ university, chẳng hạn Đại Học Bách Khoa có thể mang tên tiếng Anh Polytechnic Institute đầy danh giá.

Còn ai đó viện cớ ở California có rất nhiều university, thì xin thưa đó là cách dùng chữ chỉ để chứng tỏ mình trực thuộc Viện Đại Học California University of California (chẳng hạn như University of California, Berkerly; University of California, Irvine; University of California, Los Angeles; v.v.); trong khi Viện Đại Học Tiểu Bang California California State University thì thoáng hơn, đặt tên các trường đại học của mình có hoặc không có chữ university (chẳng hạn như California Maritime Academy, Humboldt State University, San Diego State University, v.v.). Cần lưu ý rằng khi Đại Học Bách Khoa California State Polytechnic University có chữ university đó chỉ là cách cho biết đại học bách khoa này trực thuộc California State University mà thôi chứ không phải đại học bách khoađẳng cấp university.

Cách tốt nhất cho các trường đại học sắp mở là đừng bao giờ đặt tên trần trụi kiểu Việt Nam (như: Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn, Luật, Kiến Trúc, Giao Thông, v.v.) mà nên theo cách đặt tên của những đại học danh tiếng nước ngoài (kiểu như đại học Kellogg hay Regent’s Park của Oxford University, và Churchill College hay Queen’s College của Cambridge University) để mang tên chẳng hạn Đại Học Mai Hắc Đế, Đại Học Thắng Lợi, v.v., để người nước ngoài khỏi ai thắc mắc tại sao Đại Học Luật lại không thuộc Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn.

Các bạn tốt nghiệp college ở Việt Nam hãy yên tâm, tự tin nộp đơn xin việc tại các công ty Âu Mỹ vì với họ: college tức là đại học chuyên ngành. Tuy nhiên, nếu công ty Âu Mỹ đó thuê một người Việt hay một người ASEAN làm sếp ở Việt Nam thì xem như các bạn sẽ phải chịu khó tìm cơ hội việc làm ở nơi khác vì các vị này giống y chang ở chỗ xem university mới là đại học.

Biết đâu được, nhờ cách dùng sai ở Việt Nam mà bạn tốn chỉ có 3 năm nhưng được các đại gia Âu Mỹ trọng vọng. Tất cả chỉ nhờ vào năng lực thật sự của bạn thôi, còn văn bằng luôn luôn là thứ yếu đối với những nhà tuyển dụng sừng sỏ của các công ty sừng sỏ Âu Mỹ như tôi đã từng viết trên báo Tuổi Trẻ những năm 1990 của thế kỷ trước vậy.

Lòng thành xin tỏ với trăng sao.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

1) Hoàng Hữu Phước. Tham Luận: Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học Và Các Biện Pháp Cách Tânhttps://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/04/nhung-phan-tich-moi-l%E2%80%8Ey-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan/

2) Lại Thu Trúc. 26-7-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII, http://hhphuoc.blog.com/?p=75 :

Video clip 1: “Tôi nghĩ nếu đứng ở nghị trường Quốc hội, sự đóng góp, giúp đỡ của mình sẽ có hiệu quả lớn hơn.”  http://www.youtube.com/watch?v=U_jolHcUMX4&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 2: “Hiến pháp nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất.”  http://www.youtube.com/watch?v=Mw6WFmZEKjk&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 3: “Luật biểu tình chỉ nên ra nếu như những luận điệu và những nhóm chống Cộng không còn tồn tại trên thế gian này.”  http://www.youtube.com/watch?v=jI2ybZHApM8&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 4: “Người ta đã ngụy tạo nên một chuyện khác, làm cho người nghe bực tức lên. Người ta nói rằng tôi nói người dân Việt Nam dân trí thấp. Và đó là lời vu khống. Tôi không bao giờ nói như vậy.”  http://www.youtube.com/watch?v=mHvO-Ge7mdQ&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 5: “Cho tới giờ phút này chỉ có Cộng Sản Việt Nam mới chặn đứng được Cộng Sản Trung Quốc”   http://www.youtube.com/watch?v=rRGAq4_ADd0&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 6: “Không người Việt Nam nào chịu khuất phục trước Trung Quốc cả.”   http://www.youtube.com/watch?v=wd5wRefkc30&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 7: “Khoảng cách giàu nghèo rất lớn, và sắp tới còn lớn nữa. Khoảng cách đó chứng tỏ con đường tự do hóa thương mại ở Việt Nam đã gần thành công.”   http://www.youtube.com/watch?v=vDVNrlZUf7w&feature=BFa&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg

Video clip 8: “Tôi rất muốn tự do báo chí theo kiểu tư nhân cũng được ra báo. Nhưng đồng thời tôi cũng phải thông cảm nếu như chính phủ vẫn chưa cho ra cái đó.”  http://www.youtube.com/watch?v=Q9rFRJpm2vk&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Video clip 9: “Những người chống Cộng viết blog ở nước ngoài họ dùng những chữ cực kỳ tục tĩu khi nói về Việt Nam. Tôi không chấp nhận điều đó!”  http://www.youtube.com/watch?v=nSc_G3YkRyQ&list=UU52g_5p69_Z1umoNSFviUNg&index=1&feature=plcp

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đổi mới tư duy là cụm từ vừa mang tính triết sử cao cấp của Việt Nam, vừa mang tính bình dân thấp cấp của Việt Nam thời hiện đại.

1– Triết sử cao trọng vì đổi mới tư duy liên quan – và chỉ liên quan – đến một biến chuyển từ giáo điều lý tưởng vĩ đại thuần tính chân lý của tư duy triết học đang ở vị trí thống lĩnh đúng đắn trỗi vượt tiến sang giai đoạn khó khăn hơn: đó là biến lý tưởng vĩ đại mang tính chân lý của tư duy triết học ấy trở thành thực tế hơn, thực tiễn hơn, thực chất hơn, thực hành hơn, thực thi hơn, thực dụng hơn.

Đổi mới tư duy chính là thí dụ điển hình nhất của sự áp dụng lời dạy minh triết nhất, tuyệt vời nhất, và mang tính cẩm nang bửu bối nhất của Hồ Chí Minh trong trị quốc: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Đổi mới tư duy hoàn toàn không phải là một cuộc kách mệnh lật đổ cái tư duy thấp kém nào đó trước đó.

Đổi mới tư duy hoàn toàn không là con đẻ thoát thai từ cái gọi là phản biện xã hội để phe Chống Việt xúc xiểm cái tư duy lạc hậu nào đó của ai đó vốn chưa từng ở kề cận về đẳng cấp với cái nền tảng tư duy đã tạo nên sức mạnh thần kỳ của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cả về quân sự, chính trị, kinh tế, và ngoại giao.

Đổi mới tư duy hoàn toàn không là cái cây xanh tươi vươn lên từ một đống phân.

2– Song, đổi mới tư duy lại là cụm từ bình dân thấp cấp do bị dùng thay thế cho cụm t từ “cách nghĩ”, và đặc biệt tệ hại do chuyên bị lạm dụng ngay cả bởi những vị tiến sĩ tai to mặt lớn chưa hề có phút giây nào làm nhà trí thức, và bởi báo chí, mà những dẫn chứng sau đây là sự minh họa rõ nét nhất.

Bất kỳ ai cũng có quyền có những ý tưởng nghiêm túc trái chiều, có quyền nghiên cứu theo ý tưởng nghiêm túc trái chiều, có quyền viết ra các khảo luận theo các ý tưởng nghiêm túc trái chiều, và có quyền đòi hỏi các ý kiến nghiêm túc trái chiều đó phải được tôn trọng. Đây là một thực tế tại Việt Nam và tại dăm ba cường quốc thực sự văn minh, dân chủ, tự do.

Tuy nhiên, chỉ vì hoặc tung hê tung hô phe do lợi ích nhóm, hoặc ngây ngô ngây thơ ngây dại không hiểu ý nghĩa của đổi mới tư duy, hoặc che dấu bản chất hai mang bội phản chỉ luôn kiếm tìm cơ hội để bài xích bài bác nhằm hủy phá sự thật về – cũng như làm người đọc dần quên đi sự vĩ đại của – tư duy chính trị Việt Nam, một vài con ngựa thành Troy trong giới “hàn lâm” hoặc có chức hoặc có quyền hoặc có danh tiếng dù chưa bao giờ vượt khỏi cánh cổng của cái viện hay cái trường mình công tác, đã cố tình phớt lờ năm chân lý hàn lâm tuyệt đối đúng trên toàn thế giới văn minh mà các học giả có-ăn-học đàng hoàng và có-giáo-dục đến nơi đến chốn áp dụng đối với “tư duy” sau:

(a) ý tưởng/ý nghĩ/ý định/ý đồ không phải là tư duy;

(b) ý tưởng nghiêm túc trái chiều luôn chỉ mang tính cá-nhân-một-người hay cá-nhân-một-nhóm-người theo nghĩa cá nhân là riêng biệt riêng rẻ riêng tư;

(c) ý tưởng nghiêm túc trái chiều đó phải được đa số ủng hộ qua các nghiên cứu khoa học bài bản của đa số ủng hộ này với tư liệu bổ sung của họ thật cụ thể, thật thuyết phục, mới được gọi là “ý tưởng mới” để được tham khảo – không những bởi nhiều người trong nước mà còn bởi các học giả ngoài nước có danh tiếng trong cùng lĩnh vực – như một vấn đề tư duy mới, vì nếu không sẽ đơn thuần mãi là ý kiến mới của cá nhân;

(d) đổi mới tư duy thuộc phạm trù triết học, triết thuyết, hay học thuyết; và

(e) đổi mới tư duy luôn luôn là sự biến chuyển từ giáo điều lý tưởng vĩ đại thuần tính chân lý của tư duy triết học đang ở vị trí thống lĩnh đúng đắn trỗi vượt tiến sang giai đoạn khó khăn hơn: đó là biến lý tưởng vĩ đại mang tính chân lý của tư duy triết học ấy trở thành thực tế hơn, thực tiễn hơn, thực chất hơn, thực hành hơn, thực thi hơn, thực dụng hơn; và do đó đổi mới tư duy hoàn toàn không hàm chứa bất kỳ ý nghĩa nào cho rằng tư duy đã và đang hiện hữu là sai, là quấy, là đáng bị vất bỏ.

Một ông giáo sư Sử không phải là nhà trí thức do chẳng trở thành tấm gương tác động đến sự phát triển môn Sử cũng như thất bại hoàn toàn trong việc tư vấn hiệu quả cho Chính phủ nâng cao được dù chỉ một cen-ti-mét vị trí quan trọng của môn Sử trong hệ thống giáo dục nước nhà (tôi đã nói rõ các tiêu chuẩn trong bài Thế Nào Là Nhà Trí Thức) nhưng khi viết một biên khảo nhằm kể lể công trạng vĩ đại của Nhà Nguyễn và Thời Nguyễn tức là một điểm nhỏ trong toàn bộ lịch sử Việt Nam lại tự phóng đại hoặc do phe nhóm hàn lâm phóng đại thành đổi mới tư duy lịch sử.

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy”

Đổi mới tư duy lịch sử ư? Tại sao chỉ có lịch sử? Thế sẽ có đổi mới tư duy y học để thảo luận tự do dân chủ rộng rãi toàn dân về vi phẫu thuật ư? Thế sẽ có đổi mới tư duy nguyên tử lực để thảo luận tự do dân chủ rộng rãi toàn dân về phương pháp nâng hàm lượng phóng xạ cho vũ khí nhiệt hạch ư? Không hiểu lịch sử là một khoa học hàn lâm của riêng chỉ những sử gia ư? Không hiểu y khoa là lĩnh vực nghiên cứu của riêng chỉ những nhà y học chuyên khoa ư? Không hiểu nguyên tử lực là lĩnh vực nghiên cứu của riêng chỉ những chuyên gia khoa học đặc thù – mà tên họ cùng địa chỉ cũng là bí mật quốc gia – không bao giờ được phép đem ra thảo luận tự do dân chủ rộng rãi toàn dân ư? Chỉ cần một chục cái ư như thế để liên tưởng hóa thì sẽ rõ mười mươi là cái kiểu kêu gào thảo luận tự do dân chủ rộng rãi chỉ chứng tỏ người/nhóm người kêu gào ấy không thể nào là nhà nghiên cứu Sử, học giả Sử, Sử gia, thậm chí không thể tin là người có bằng cấp tiến sĩ trong tay. Núp đằng sau tấm áo giáp tự do dân chủ rộng rãi trong lĩnh vực hàn lâm của mình là cung cách chỉ có nơi người không có năng lực chuyên môn từ trung bình đến xuất sắc, không có quá trình học tập nghiêm túc có kết quả từ trung bình đến xuất sắc, và cũng không có đạo đức nghề nghiệp từ trung bình đến xuất sắc nốt.

Đổi mới tư duy lịch sử ư? Khi đã nói đến lịch sử thì phải dính đến toàn bộ lịch sử Việt Nam chứ đâu phải chỉ triều đại Nhà Nguyễn; và như thế

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói vì Lý Thường Kiệt xâm lược Tống Quốc nên Tống mới đem quân đánh Việt để tự vệ, trừng phạt, và báo oán?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Vua Nam phạm tội ác diệt chủng do chiếm Chiêm Thành?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Nhà Trần phạm tội loạn luân và thất học vì không biết điều khoa học cơ bản của trùng huyết thống?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Cộng Sản Việt Nam có tội tày trời trong Cải Cách Ruộng Đất?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Tàu đã có công lao vĩ đại: đô hộ nước Nam, cử các quan Thái Thú đến dạy dân Nam làm ruộng nhờ đó mà thoát cái thân phận đu chuyền từ cành cây này sang cành cây nọ để hái quả?

– Liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói các cường quốc Pháp và Mỹ đã đến giúp nước Việt xuất hiện cái mà ngày nay tạo cớ cho một đổi mới tư duy khi hô hào kiến nghị xem làm đĩ là một nghề danh chính ngôn thuận đầy vinh diệu?

– Và liệu sự phản động (thực chất của phản biện điên rồ) này có rồi sẽ dẫn đến đổi mới tư duy lịch sử để nói Nguyễn Văn Thiệu đã lập đại công mà Cộng sản Việt Nam nhất thiết phải ghi ơn vì đã lấy tiền Mỹ đầu tư xây dựng Phi trường Tân Sơn Nhất và Cảng Sài Gòn để dâng các cơ sở hạ tầng tuyệt hảo này cho Cộng sản vào ngày 30-4-1975?

Những chi tiết anh/các anh nêu lên để kể công Nhà Nguyễn chỉ tương tự với sự điên rồ của kẻ kể tội Nhà Lê đã “tàn ác bất nhân” tru di tam tộc Nguyễn Trải mà thôi, thì có đáng gì để gọi là đổi mới tư duy!

Đổi mới tư duy lịch sử ư? Anh làm trong ngành Sử mà không biết chức năng nhiệm vụ của một nhà khoa học nghiên cứu lịch sử hay sao? Anh có chứng minh được là những tội lỗi của Nhà Nguyễn đối với dân tộc như đã bị vạch trần bấy lâu nay là sai, là ngụy tạo, không? Nếu anh không có những sữ liệu mới phát hiện được, vừa thẩm tra khoa học xong, để chứng minh các tội lỗi ấy là sai, thì xem như anh phải mặc nhiên công nhận các sử liệu về tội lỗi ấy là đúng. Kế đến, anh có các sữ liệu mới phát hiện được và đã qua thẩm tra khoa học xong về những công trạng của Nhà Nguyễn hay không? Nếu có, nghĩa là anh đã đưa ra ánh sáng các tình tiết phụ trợ về những công trạng ít ỏi của Nhà Nguyễn mà bấy lâu nay chưa có sử liệu để chứng minh, duy có anh qua dày công nghiên cứu tìm tòi mới phát hiện được như một công việc cực kỳ bình thường của bất kỳ nhà nghiên cứu lịch sử đúng nghĩa nào khác, chứ nào phải là kỳ tích hay chuyện đội đá vá trời có giá trị ghê gớm gì mà anh và phe nhóm của anh gọi đấy là đổi mới tư duy lịch sử! Hóa ra toàn bộ kho sử liệu tồn tại từ trước đến nay bị dẹp bỏ ngay khi anh biện luận về tư duy mới của anh, nghĩa là không cần tàng thư những sử liệu cụ thể gì sất. Thật không có tư cách của một nhà nghiên cứu Sử có học vị tiến sĩ, và cái sự anh được biết đến chả qua là nhờ có các bài viết ngợi ca của phe nhóm chứ không do các công trình nghiên cứu hàn lâm của anh đã thực thụ được chứng minh là đúng, phù hợp với các tư liệu lịch sử tại các viện bảo tàng và tàng thư trong và ngoài nước, cũng như các nghiên cứu về Việt Sử của các học giả quốc tế.

Bất kỳ triều đại nào cũng có những vấn đề để hoặc được ghi công hoặc bị hạch tội như được ghi trong sử sách; còn các nhà phê bình lịch sử sẽ tập trung nói nhiều về phần nào nổi bật nhất để chỉ kể công hoặc chỉ hạch tội, tức là hai cách để cung cấp bài học và cách nhìn cho các thế hệ sau này để hoặc tự hào phát huy hoặc hỗ thẹn tránh xa. Khi viết về Nhà Lý chẳng hạn, không bất kỳ sử gia nào ghi vào sử liệu cái “tội” bất kỳ nào cả, dù sự thật rõ mười mươi là tất cả các triều đại phong kiến đều gây ra thảm cảnh cho các gia đình người dân, làm tan nát bao cuộc tình nam nữ, vì các quan lại địa phương phải bắt gom tất cả gái đẹp để đưa về kinh thành dâng cho vua chúa hưởng lạc thú dâm tình hoặc để vua chúa làm quà tặng vua Tàu. Kiểu lịch sự đặt vấn đề chê trách rồi dùng từ “tuy nhiên” để lái qua ngợi ca là kiểu “ba phải” không giống ai, không ai giống, hiện hay được sử dụng mà người sử dụng hoặc không biết hoặc cố tình hủy phá xã hội, gây biến loạn trong tâm thức người dân, tạo nhập nhằng trong cách đánh giá, hoàn toàn không giống cung cách biện luận hàn lâm của thế giới văn minh. Các nhà phê bình – kể cả khi người phê bình là thường dân không thuộc giới học giả hàn lâm – đều nhận ra rằng tội của Nhà Nguyễn nổi bật hơn, trong khi công trạng thì đầy gượng ép, gán ghép. Ca ngợi cái công quá sức trừu tượng của Nhà Nguyễn dù cho nó luôn bị cái tội hết sức cụ thể che khuất, để xóa nhòa cái tội, làm quên đi cái tội, thì là sự bất công bất tài vô sĩ vô hạnh của kẻ làm điếm nhục môn Sử chứ sao là đấng có quyền ngạo mạn tự phong đổi mới tư duy lịch sử!

Một cá kiến (ý kiến cá nhân) hay tập kiến (ý kiến tập thể) cũng không bao giờ được gọi là đổi mới tư duy vì đó chỉ là đổi mới cái suy nghĩ của anh hay của các anh. Cái kiểu chế từ cá kiếntập kiến là cách chơi chữ của cá nhân tôi, không là đổi mới tư duy ngôn ngữ Việt. Anh hay các anh dùng đổi mới tư duy khi nói cách suy nghĩ của anh đúng, nghĩa là anh và các anh đã phạm cùng lúc ba trọng tội mà giới hàn lâm thực thụ trên thế giới và tại Việt Nam không bao giờ ngu xuẩn phạm phải:

(a) tước bỏ quyền lực tối thượng của độc giả và các học giả khác trong thẩm định giá trị ý kiến mới của anh/các anh trước khi ban cho ý kiến mới ấy của anh/các anh cái danh “tư duy”;

(b) anh/các anh dám cho rằng ý kiến của anh/các anh là tư duy nghĩa là mang tính hệ thống triết học danh chính ngôn thuận trong khi thế giới chẳng biết anh/các anh là những gã nào cũng như chẳng biết cái tư duy của anh/các anh ra sao cả; và

(c) anh/các anh ám chỉ hệ thống tư duy trước anh/các anh, khác anh/các anh, là sai, ngay cả khi hệ thống tư duy ấy đã làm nền tảng đại công định vị Việt Nam trên bản đồ địa-chính-kinh-tài (địa lý, chính trị, kinh tế, tài chính) toàn cầu, được thế giới kính trọng, nhờ đó Việt Nam có dư tiền chu cấp cho anh/các anh đi kiếm bằng cấp tiến sĩ tại những nước biết kính trọng Việt Nam ấy.

Không hiểu gì về nội hàm của đổi mới tư duy, lĩnh vực và phạm trù của đổi mới tư duy, những yêu cầu tiên đề phải có của đổi mới tư duy, dám đem đổi mới tư duy để tự đánh bóng bản thân hay phe nhóm, dám dùng đổi mới tư duy để áp đặt khống chế bất kỳ học giả nào khác không theo cùng hướng “nghiên cứu” của mình, v.v., thì rõ ràng có trình độ hàn lâm cực kỳ khả nghi, đáng ngờ, ắt chỉ dám chường mặt ra ở Việt Nam.

Một anh chàng đại quan có bằng cấp tiến sĩ được gọi là giáo sư nhưng không phải là nhà trí thức do chẳng trở thành tấm gương tác động đến sự phát triển cái môn mà anh ta đã tốt nghiệp, chẳng có công lao gì đem sở học phục vụ đất nước để qua đó nâng cao vị trí môn học của anh ta trong hệ thống giáo dục nước nhà, cũng dính cái tật sính dùng đổi mới tư duy để tự nâng anh ta lên hàng học giả hàn lâm.

Hội Chứng “Đổi Mới Tư Duy” (2)

Đổi mới tư duy quy hoạch ư? Nếu là người có thực tài thực tâm thì anh đã không như vài quan chức cộng sản cấp cao: đột biến tung võ mồm mạnh miệng góp ý – nhất là trả lời phỏng vấn của các đài nước ngoài nào chống Việt – phê này phán nọ, nói đó bảo kia, chỉ sau khi về hưu hay chỉ sau khi mất ghế, cứ như thể tại bận bịu việc nước việc dân nên đã không có thời gian góp ý chấn chỉnh sửa sai cho Bộ nọ Bộ kia, kể cả Bộ của mình, cứ để đất nước tầy huầy ra sao cũng mặc, để giữ ghế, còn góp ý để dân biết mình có trí tuệ, có trí hóa, có đẳng cấp…trí thức, thì để sau hẵn hay, cơm chưa nấu thì gạo hẵn còn, chẳng có gì phải gấp gáp cả!

Quy hoạch chỉ là một công tác bình thường luôn có nơi mọi thực thể kinh tế kinh doanh nào còn đang sống, với những quy trình quy củ quy định quy chế và quy luật. Vạn vật đều có những thay đổi cho tương hợp với môi trường hoặc bị diệt vong nếu sự tương hợp bất thành. Khi nói đổi mới tư duy quy hoạch, anh cựu đại quan làm thế giới hàn lâm liên tưởng đến loài voi ma-mút đã tuyệt chủng: hóa ra quy hoạch ở Việt Nam xơ cứng, không bao giờ đúc-rút kinh nghiệm để hoàn thiện hay sao mà khi có một ý kiến nêu lên thôi là đã mừng quýnh mừng quáng gọi ngay là đổi mới tư duy. Làm quái gì có tư duy trong quy hoạch để mà đổi mới, mà chỉ có sự suy nghĩ nhằm thay đổi một vài nội dung phương pháp quy hoạch hiện hành cho phù hợp với các yêu cầu mới, các phát sinh mới, các thời cơ mới.

Quy hoạch luôn phát huy tác dụng hoặc lâu hoặc không lâu, và luôn được thay đổi để hoàn thiện, cải tổ, sửa sai, qua đúc-rút (đúc kết và rút) kinh nghiệm. Không bao giờ chữ thay đổi có ý nghĩa thay thế cái bậy cái sai! Chỉ có đổi mới cách lập quy hoạch, không bao giờ có đổi mới tư duy quy hoạch trong thực tế đời sống kinh tế kinh doanh. CocaCola, Boeing, Rolex, Ford, hay Mercedes, v.v., trở thành những gã khổng lồ thống trị thế giới mà không cần có chứng chỉ quản lý chất lượng ISO! Thậm chí công ty sản xuất vũ khí chiến lược của Mỹ hay Nga hay bất kỳ nước nào chế tạo vũ khí cũng không bao giờ cho phép mấy công ty cấp chứng chỉ ISO được bén mảng bước qua hàng rào bảo vệ bí mật quốc phòng quốc gia của họ. Các công ty khác phải cầu cạnh ISO để mong chứng tỏ bản thân với khách hàng tiêu dùng bình thường tầm tầm bậc trung. Mỹ, Nga, Nhật, Hàn, Tàu là cường quốc mà không cần đến cái đồ chơi mang tên Balanced Scorecard. Và tất nhiên: không phải đi kiếm ISO là đổi mới tư duy quản trị, còn không cần ISO là tư duy lạc hậu.

Tóm lại, tư duy có ý nghĩa quan trọng và có tầm vóc trên bình diện rộng lớn. Cái gì cũng dùng cụm từ đổi mới tư duy là cách tầm thường hóa tư duy, lạm dụng tư duy, hoặc đơn giản hét cho thế giới hàn lâm biết bản thân mình không hiểu ý nghĩa của tư duy có thể do cả đời chưa bao giờ thực sự … tư duy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Hoàng Hữu Phước. 09-6-2014. Lại Trí Thức!

Hoàng Hữu Phước. 30-12-2014. Tư Duy Tích Cực 2015

Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Chẳng Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

(Bài đã đăng trên Emotino 19-10-2009)

Hoàng Hữu Phước, MIB

A1

A) Dẫn Nhập

Ai là người Việt cũng có thể nói về tiếng Việt – nói đúng có, nói sai có, nói vô tội vạ cũng có; được thốt nên bởi các bậc thức giả uyên thâm có, đấng theo Tây học có, vị nẽo cựu trào có, và thường dân ít học cũng có; nói vì hiểu biết có, bức xúc có, không hiểu biết có, và chẳng bức xúc cũng có. Song, điều nhiều người nói đến – vốn gây nhiều tranh cãi cùng khẩu chiến – là về vấn đề “sính” dùng từ Tây và vấn đề bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, vốn là hai vấn đề nổi cộm hoàn toàn tách biệt, mà chỉ những người Việt ít hiểu biết mới đánh đồng cho ở chung một dòng sông.

Khi nói về sự trong sáng của tiếng Việt, ít ai chịu phân tích xem sự trong sáng phải chăng chỉ như kiểu “đèn nhà ai nấy rạng” hay như đế quốc thực dân giong buồm xua quân đi giáo hóa xứ người cho thế gian biết thế nào là “đèn”, thế nào là “rạng”. Cõng cái chữ lên ngàn, vác cái chữ ra nương, ấy là cái đạo lý bình thường trong xóa mù văn hóa cho dân, như đèn nhà ai nấy sáng. Còn làm cho chữ nước nhà được nhiều châu lục biết đến, ấy lại là cái đạo đế vương cho nhân gian biết nước Nam này. Muốn cái đạo ấy nên, bản thân cái chữ phải phân minh, theo quy luật rõ ràng. Và lẽ ra tiếng Việt của thời kỹ thuật số thế kỷ XXI ắt đã có thể vươn ra thế giới chiếm ngôi vương đạo nếu một vũ khí tối thượng trong chính tả tiếng Việt ở miền Nam trước năm 1975 đã không bị triệt bỏ. Vũ khí ấy nếu tái sử dụng sẽ đáp ứng ngay yêu cầu dịch thuật điện tử, một cách để làm người nước ngoài học tiếng Việt nhanh hơn, và người Việt nắm các ngôn ngữ chính khác trên thế giới nhanh hơn.

B) Những Dẫn Chứng Từ Máy Dịch Việt-Anh Tự Động Của Google

Khi nói đến dịch thuật điện tử, người ta liên tưởng ngay đến các máy dịch thuật tự động của các đại gia truyền thông kỹ thuật số thời hiện đại như Google cùng rất nhiều những trang web cung ứng dịch vụ dịch thuật miễn phí khác. Nhưng những dẫn chứng sau đây cho thấy thật sự tiếng Việt đã khó lòng đủ “trong sáng” vì thiếu các mã khóa – tức vũ khí tối thượng của ngôn ngữ – để được nhận diện.

1- Thí dụ 1 và 2: vài câu giản dị trong bộ truyên Phong Thần:

A1aA1b

2- Thí dụ 3: đến các nội dung nghiêm túc, hàn lâm:

A1c

3- Thí dụ 4, 5 và 6:  các bài viết trên Emotino.com cũng nào tránh được vạ lây từ máy dịch thuật quá chuẩn xác của Google, thí dụ như bài Sài Gòn Thanh Lịch  và bài Đất Lành: Chim Đậu. Chim Đậu: Đất Có Còn Lành đều của Hoàng Hữu Phước:

A1dA1eA1f

C) Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Đại Số Thế Kỷ XXI

Nhưng điều gì đã cản trở khiến cho máy dịch thuật điện tử trên toàn cầu phải “bó tay” với tiếng Việt?  Đó là do sự vất bỏ dấu gạch nối luôn được dùng tại miền Nam trước ngày Giải Phóng hoàn toàn Miền Nam năm 1975 (tất nhiên, dấu gạch nối này không phải là dấu gạch nối kiểu dùng như trong cụm từ “Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu”.

1- Dấu Gạch Nối

Dấu gạch nối đặc biệt giữ cho tiếng Việt được trong sáng đó là dấu nối các chữ của cùng một từ lại với nhau. Do đặc điểm của tiếng Tây là đa âm và tiếng Việt là đơn âm, dấu gạch nối trở thành công cụ biến tiếng Việt dễ được nhận diện ngang hàng với tiếng Anh hay Pháp, v.v., chẳng hạn:

A1g

Máy dịch có thể qua công cụ dấu gạch nối có thể nhận diện ngay “anh-hùng” là một từ duy nhất của tiếng Việt cũng như nhận diện ngay “counterrevolutionary” là một từ duy nhất khác của tiếng Anh. Nhưng nếu là “anh hùng” thì đương nhiên máy dịch sẽ trước hết xem đó là một cụm gồm hai từ riêng rẻ rồi võ đoán cho ra bao điều khiến nhiễu thông tin, thí dụ như dưới đây:

A1h

Đó là chưa kể tên của người Việt đã không còn thuận lợi khi chuyển sang tiếng Anh: thí dụ đối với những yêu cầu ghi tên họ không cần ghi chữ lót, thì Hoàng-Hữu-Phước vẫn là Hoang-Huu-Phuoc trong tiếng Anh, hoặc Hoàng Hữu-Phước sẽ thành Huu-Phuoc Hoang và được gọi là Mr Huu-Phuoc; trong khi với việc loại bỏ dấu gạch nối, Hoàng Hữu Phước sẽ chỉ là Phuoc Hoang, loại bỏ hẵn chữ Hữu. Đặc biệt với tên có hơn ba chữ thì rõ ràng sẽ gặp bất lợi, chẳng hạn Trần Hoàng Việt Nam Quốc, nếu là Trần Hoàng Việt-Nam-Quốc với Trần là họ, Hoàng là từ lót, và Việt-Nam-Quốc là tên gọi, thì việc chuyển sang Tiếng Anh sẽ là Viet-Nam-Quoc Hoang Tran (hay Viet-Nam-Quoc Tran-Hoang với Trần-Hoàng là họ kép, không có tên lót), giúp lưu giữ giá trị tu từ ngữ nghĩa của tên gọi gốc mang tính tự hào gia tộc đặc thù và tâm l‎ý tình cảm thay vì biến thành giản lược tự nhiên thành Quoc Tran và loại bỏ hoàn toàn những ba từ còn lại. Ngoài ra, còn điểm tương đồng là rất nhiều tên gọi của người Âu Mỹ vẫn có sự tồn tại của dấu gạch nối làm dấu tích của thế gia vọng tộc như các họ tộc Anstruther-Gough-Calthorpe, Cave-Browne-Cave, Elliot-Murray-Kynynmound, Heathcote-Drummond-Willoughby, Vane-Tempest-Stewart, hay Hepburn-Stuart-Forbes-Tresfusis, v.v . trong đó, có đến từ ba đến bốn từ kết nối lại thành Họ, và phải thêm tên cùng chữ lót – có khi lại là cụm từ có gạch nối khác – để cho ra tên đầy đủ thật dài, thí dụ như Nancy Jane Marie Heathcote-Drummond-Willoughby, nữ Nam Tước đời thứ 28 của dòng họ Heathcote-Drummond-Willoughby, hay Edward Montagu Stuart Granville Montagu-Stuart-Wortley-Mackenzie, Bá Tước Thứ Nhất Vùng Wharncliffe Vương quốc Anh thế kỷ XIX.

Do dấu gạch nối liên kết những phần của một từ chung duy nhất đã không còn được sử dụng, tiếng Việt ngày nay chỉ còn là những từ rời rạc được gom lại thành câu mà chỉ riêng người Việt hiểu nghĩa, còn du học sinh nước ngoài phải gần như thuộc lòng các cụm từ thân quen, khó đạt trình độ sáng tác thơ văn tiếng Việt – trong khi nhiều người Việt sáng tác thơ văn tiếng Anh hay Pháp thật dễ dàng, còn tất cả các bộ óc điện tử trên thế giới không sao diễn dịch đúng văn bản tiếng Việt ra ngôn ngữ khác.

2- Vấn Nạn Một Số Phận

Tôi vẫn còn nhớ sự khó chịu và cảm giác bực dọc của Ba tôi, của Chị Hai tôi, và của tôi khi đọc số báo đầu tiên ở Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 lịch sử không thấy có các dấu gạch nối. Lúc ấy, tôi biết mình phải làm gì: tập viết không có dấu gạch nối kẻo có ngày phải ra khỏi trường đại học vì viết tiếng Việt không ai giống. Thủa ấy, làm gì có computer, làm gì có digital media. Tất cả đều chân phương như những gì các chữ cái bằng hợp kim của máy đánh chữ bập xuống trang giấy A4 ố vàng đầy cát bẩn của thời gian khổ dưới sự cấm vận tàn độc của Hoa Kỳ. Nhưng tôi đã nói với mấy đứa em rằng tiếng Việt sẽ hỗn loạn vì giềng mối gắn kết không còn. Ấy vậy mà sự thể lại y như vậy khi thời đại digital đến và tiếng Việt không thể tương hợp với các máy dịch thuật điện tử ngày nay.

Tất nhiên, khó có còn ai nhớ đến dấu gạch nối đã từng tồn tại như một thứ mật mã Da Vinci ngàn xưa đến ngày nay mới giải nguồn thánh tích, và cũng chẳng ai hay dấu gạch nối đã bị âm thầm nhưng nhanh chóng gạch bỏ khỏi đời sống ngôn ngữ Việt văn hoa. Trong sự sung sướng tột cùng của đa số trong ngày giải phóng, và trong sự hoảng loạn dày xéo nhau trong khiếp sợ của một thiểu số khác, cả hai thái cực quá mạnh mẽ đã làm tan biến đi sự lưu ý đến sự biến mất của một dấu gạch nối cỏn con như một insignificant nonentity – sự tồn tại vô nghĩa lý. Và cuộc sống vẫn tiếp diễn, chứng kiến bao đổi thay với những kỳ công và kỳ tích cả thế giới phải cúi chào trân trọng.

Song, trong tôi vẫn đau đáu một nỗi niềm vọng cổ về dấu gạch nối ngày xưa Hoàng Thị.

D) Phát Triển Tiếng Việt Toàn Cầu

Trên thế giới có nhiều người học tiếng Việt. Vào những năm 1960 ba tôi đi làm hay đem về cho tôi những quyển Thế Giới Tự Do của Mỹ in bằng tiếng Việt, và tôi đã đọc những bài viết về đông đảo sinh viên Mỹ theo học các lớp tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Miến Điện (tức Burma thủa ấy hay Myanmar ngày nay), v.v và v.v. để dễ kiếm việc trong ngành ngoại giao, an ninh tình báo, hay công tác hoặc giảng dạy ngoài nước. Họ học tại Mỹ – tất nhiên. Một sự khôn ngoan: đem tiếng họ sang chư hầu để gây ảnh hưởng văn hóa với tầng lớp trên trước ở nước sở tại, và học tiếng sở tại để nắm và kiểm soát những người còn lại thuộc tầng lớp không vói được đến tiện nghi văn hóa và ngôn ngữ mẫu quốc. Ngày nay còn nói như trên đã là lạc hậu vì toàn cầu hóa và suy thoái kinh tế mới là những vấn đề của ngày nay và mai sau. Việt Nam không thể như Trung Quốc biến chữ Tàu thành một trong những ngôn ngữ chính thức được dùng ở Liên Hợp Quốc bằng cách để dân có mặt đông đảo ở mọi ngóc ngách của hành tinh. Nhưng Việt Nam vẫn có thể biến tiếng Việt ngày càng được nhiều người học hơn, học nhanh hơn, học với sự sáng tạo và tầm sử dụng rộng hơn và chủ động hơn, để sử dụng chiến thuật “từ đồ dần dà” phát triển tiếng Việt trên toàn thế giới trong hệ thống khoa học, chuẩn hóa, tương thích với các công cụ thời kỹ thuật số.

E) Lời Kết

Dù cho dấu gạch nối có được khôi phục để đáp ứng yêu cầu của kỹ thuật số hay không, dấu gạch nối vẫn sẽ như một nét đẹp điểm tô từng cụm từ tiếng Việt, như một chân phương, thẳng ngay, đoàn kết, minh bạch, sắt son, sang cả như ngọc châu chạm trổ, và bình dị như vốn có. Mong sao sẽ được nhìn thấy dấu gạch nối thân quen đã hơn ba mươi năm trời xa cách.

Dấu gạch-nối ơi, ta trông-chờ mi đến mõi-mòn, da-diết, như trang quân-tử nơi sơn-trang đội thời-gian nhìn khách thế-nhân qua, đợi-chờ người lữ-thứ đem đến một tin vui của hân-hoan và hạnh-phúc từ thục-nữ thuyền-quyên chốn hoa-lệ kinh-thành.

Hoàng-Hữu-Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Thành-phố Hồ-Chí-Minh, Việt-Nam.

Tham khảo:

Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt . Tham luận của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc “Phát Triển và Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt Trong Thời Kỳ Hội Nhập Quốc Tế Hiện Nay”  tổ chức ngày 18/6/2010 tại Tp Hồ Chí Minh. Được post trên Emotino.com: http://www.emotino.com/bai-viet/18679/giao-thoa-ngon-ngu-vietanh-va-thuc-chat-van-de-giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet, và đăng lại tại blog hoanghuuphuocthamluan ngày 05-3-2013 ở http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com/2013/03/05/tham-lu%E1%BA%ACn-giao-thoa-ngon-ng%E1%BB%AF-vi%E1%BB%87t-anh-va-th%E1%BB%B1c-ch%E1%BA%A5t-v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-gi%E1%BB%AF-gin-s%E1%BB%B1-trong-sang-c%E1%BB%A7a-ti%E1%BA%BFng-vi%E1%BB%87t/